Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 09 tháng 10 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Theo ông Kiều Tư Giang - Chi cục trưởng Chi cục Phát triển lâm nghiệp, Phó giám đốc Quỹ bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) Yên Bái, trên cơ sở hợp đồng ủy thác chi trả đã ký, đến nay, hầu hết các nhà máy thủy điện nằm trên địa giới hành chính liên tỉnh đã thực hiện đầy đủ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Quỹ đã chi trả cho các chủ rừng, các ban quản lý rừng, cộng đồng thôn, bản theo đúng quy định.
Năm 2012, tổng số thu ủy thác thông qua Quỹ BV& PTR tỉnh Yên Bái là 23,5 tỷ đồng. Tổng số chi là 21,3 tỷ đồng, số tiền chi trả trực tiếp cho các chủ rừng trên 18,7 tỷ đồng với trên 23.959 hộ dân và các tổ chức, doanh nghiệp và chủ rừng theo đơn giá tại Quyết định 178/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc điều chỉnh kế hoạch thu chi tiền DVMTR năm 2012 trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Tuy nhiên, còn một vài đơn vị sản xuất điện vẫn chưa thực hiện nộp đủ số phí phải thực hiện với số tiền hàng tỷ đồng gây khó khăn trong chi trả cho các chủ rừng.
Phí DVMTR là trách nhiệm của các bên sử dụng DVMTR, do đó, các cơ sở sản xuất thủy điện và nước sạch phải đề cao trách nhiệm thu và nộp đủ số tiền chi trả DVMTR theo quy định, theo cam kết trong hợp đồng ủy thác với Quỹ BV&PTR tỉnh. Các bên sử dụng DVMTR cần nhanh chóng và có giải pháp tích cực với bên mua điện giải quyết tồn tại để thanh toán và chuyển đủ số tiền DVMTR theo quy định để thực hiện chi trả cho các chủ rừng theo kế hoạch chi trả được UBND tỉnh phê duyệt.
Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất cần nghiêm túc thực hiện kê khai, nộp tiền chi trả DVMTR hàng quý theo thời gian quy định của chính sách và chuyển tiền trả từng quý theo quy định tại Thông tư liên tịch số 62 và hợp đồng ủy thác đã ký với Quỹ BV&PTR. (Báo Yên Bái 8/10) đầu trang(
Tính đến thời điểm hiện tại, bà con đồng bào dân tộc huyện Mường Lát (Thanh Hóa) đã được nhận 300 tấn gạo của Chính phủ hỗ trợ cho chương trình trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng sản xuất.
Theo kế hoạch, tổng số gạo hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số huyện Mường Lát để trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng là 3.000 tấn/năm. Đến hết năm 2013, đồng bào sẽ tiếp tục được nhận 2.700 tấn gạo. Đây là chương trình hỗ trợ gạo của Chính phủ cho đồng bào dân tộc huyện Mường Lát để thay thế cho việc sản xuất nương rẫy từ tháng 9/2013 đến năm 2018.
Theo đó, bà con dân tộc khi tự nguyện trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng sản xuất thay thế nương rẫy trong thời gian chưa tự túc được lương thực (giai đoạn 2013 - 2018) sẽ được hỗ trợ thêm 10 ki-lô-gam gạo/khẩu/tháng.
Ngoài ra, bà con vẫn được nhận tiền công khi trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng theo quy định. Thời gian hỗ trợ gạo bắt đầu từ khi ngừng canh tác nương rẫy để chuyển sang trồng rừng sản xuất đến khi có thu nhập thay thế, nhưng tối đa không quá 6 năm. Trong năm 2013, nếu hộ dân nào đã tự nguyện trồng rừng sản xuất thay thế nương rẫy thì báo với UBND xã, để nhận gạo hỗ trợ từ nay đến hết năm. Gạo hỗ trợ sẽ được cấp vào ngày 15 hàng tháng tại ủy ban nhân dân các xã.
Tính đến tháng 9 năm 2013, toàn huyện Mường Lát đã trồng được 3.900 héc-ta rừng sản xuất đạt 97% kế hoạch, tỷ lệ sống của các loại cây đạt 90%. Mường Lát là huyện có đông bà con người dân tộc và là huyện nghèo nhất tỉnh Thanh Hóa. Đây cũng là huyện duy nhất của tỉnh còn diện tích đất trống, đồi trọc với 15.000 héc-ta. (Công Thương 8/10) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Hàng chục năm nay, anh Trương Cảm, thôn Phú Thạch, xã Lộc Trì, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã theo dõi, bảo vệ nhiều loài chim ở vườn quốc gia Bạch Mã, ngoài ra, anh còn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, cả khu rừng quốc gia rộng lớn được bảo vệ và ngày càng xanh tươi. Tất cả nhờ vào biệt tài “có một không hai” của anh: “Nói” được ngôn ngữ của hơn 200 loài chim.
Anh Cảm kể rằng từ nhỏ đã vào rừng làm rẫy nên thân thuộc với cuộc sống hoang dã. Thích nghe chim hót từ nhỏ nên anh thường tập hót theo, lâu ngày thành thói quen có thể “hót” theo như chim, có thể “điểm danh” từng loài chim qua tiếng hót.
Tuy nhiên, để hiểu được “tiếng” các loài chim là vô cùng khó khăn. Bởi, chỉ riêng một giống chim đã có đến hàng chục giọng hót khác nhau như: tiếng chim đực, chim cái, tiếng gọi bầy đi ăn, tiếng báo kẻ địch, tiếng gọi tình nhân… Ngoài ra, phải tinh ý lắm mới nhận thấy được: Tiếng chim gọi nhau đi ăn thường gấp gáp, nhanh, kéo dài từng quãng. Khi có kẻ địch tiếng chim trở nên thất thanh, kêu theo từng nhóm, vừa kêu vừa bay nháo nhác nhằm báo cho đồng loại biết”.
Để hót được tiếng chim như thật, ngoài việc điều chỉnh được âm lượng của giọng, người tập hót còn phải có đam mê thực sự và kiên trì . Theo anh, không thể “ngày một ngày hai” mà hót được như chim, trước hết phải tìm hiểu kĩ tập tục sinh hoạt của từng loài chim, chú ý lắng nghe và hót theo là phương pháp tập luyện hiệu quả nhất. Với niềm đam mê này, hiện nay anh đã có cả một gia tài, với khả năng hiểu và bắt chước được tiếng hót của hơn 200 loài chim trong tổng số 358 loài chim sinh sống tại vườn quốc gia Bạch Mã. Người ta gọi anh là “vua chim” quả không sai.
Được giao nhiệm vụ canh giữ rừng quốc gia Bạch Mã, với diện tích 37.487 ha, trải dài trên 3 huyện: Huyện Phú Lộc và huyên Nam Đông thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế và huyện Đông Giang thuộc tỉnh Quảng Nam, anh Cảm luôn nỗ lực, vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Thế nhưng, với lực lưởng mỏng, chỉ có khoảng 10 người thì khó lòng mà canh giữ được một diện tích rừng rất lớn nơi đây. Không đủ người để canh tác mọi lúc, mọi nơi thì làm sao có thể bảo vệ rừng? Câu hỏi đó luôn làm anh trăn trở.
Anh Cảm nói: “Bạch Mã là tất cả”. Chính vì vậy, bằng mọi giá anh phải giữ rừng mãi xanh. Từ suy nghĩ đó “vua chim” Trương Cảm đã mạnh dạn đổi mới công tác tuần tra, bảo vệ rừng của trạm – “tuần tra theo tiếng chim”. Lúc đầu nhiều người thắc mắc bởi công việc có vẻ “kì quặc” của anh nhưng khi đã rõ chuyện thì ai nấy đều trầm trồ thán phục về hiệu quả.
Tuần tra theo tiếng chim có nghĩa, mỗi lần đi tuần đến đâu chỉ cần hót “nhái” tiếng chim sống ở đó, nếu có tiếng chim trả lời chứng tỏ rừng bình yên, không có lâm tặc. Chính vì vậy mà anh luôn nhắc nhở mọi người trong trạm chú ý tìm hiểu những đặc tính loài và tiếng hót của các loài chim sống ở các khu vực khác nhau trong rừng, từ đó nhận biết được những dấu hiệu lạ, báo động những xâm hại bất lợi đến rừng – nơi sinh sống của các loài chim. Khi tuần tra, nếu phát hiện những khu vực có nghi vấn anh sẽ cho lực lượng mai phục, tăng cường tuần tra, chuẩn bị mọi lực lượng và trang thiết bị cần thiết để ứng phó kịp thời nếu xảy ra tình trạng xâm hại rừng.
Tâm huyết với công việc giữ rừng, Trạm trưởng Trương Cảm đã tận tình bày vẽ, hướng dẫn các anh em trong đội tập hót tiếng chim để áp dụng “phương pháp” mới vào công tác tuần tra, bảo vệ rừng. Ai cũng nghĩ tập hót tiếng chim chỉ để cho vui, nhưng không phải vậy, nắm bắt được tập tính từng loài chim sẽ rất có ích trong công tác bảo vệ rừng. Đảm bảo hiệu quả công việc trong hoàn cảnh hạn chế nhân lực như hiện nay. (Tài Nguyên&Môi Trường 8/10) đầu trang(
3/10, Công an xã Lê Ninh (Kinh Môn) phát hiện rừng phòng hộ thuộc thôn Lê Xá bị cháy.
Do ở trên núi cao, không có nước nên phải dùng biện pháp tạo đường băng để cắt đám cháy. Sau gần 2 giờ, đám cháy đã được dập tắt. Diện tích cháy khoảng 0,7 ha, thuộc rừng phòng hộ do gia đình ông Trần Văn Bột và ông Ngô Doãn Thạo quản lý. Thiệt hại ước khoảng 40 triệu đồng. Các hộ dân ở đây đều trồng cây thông, bạch đàn và keo, bên dưới cỏ dại mọc. Nguyên nhân vụ cháy đang được cơ quan chức năng điều tra, làm rõ.
Xã Lê Ninh có 259,8 ha rừng, trong đó 233,3 ha rừng phòng hộ, còn lại là rừng sản xuất. (Báo Hải Dương 5/10) đầu trang(
Mô hình kinh tế đồi rừng của gia đình anh Kiều Xuân Tuyên ở khu 5, xã Chính Công, huyện Hạ Hòa mỗi năm cho thu nhập hơn 200 triệu đồng.
Sinh năm 1978, sau khi học xong cấp III anh Tuyên đã rời quê hương đi làm công nhân tại Hà Nội với mong muốn thoát ly gia đình và tự lập cuộc sống riêng. Sau 5 năm đi làm ăn xa anh thấy không hiệu quả. Năm 2003 anh trở về gia đình và bắt tay vào làm kinh tế đồi rừng.
Với 30 ha đồi rừng gia đình anh Tuyên đã được nhận khoán và mua lại của bà con xung quanh. Gia đình anh trồng hơn 60.000 gốc keo lai. Mỗi năm 2 vụ anh thuê 200 công phát cỏ, tỉa cành, chăm sóc và trồng mới. Mỗi công anh trả từ 120.000 đền 140.000 đồng. Cứ 6 – 9 năm thu hoạch một lần. Mỗi năm thu trung bình 4 ha rừng trị giá 180 triệu đồng. Anh cứ thu hoạch đến đâu lại trồng mới vào đến đó. Anh nói: Trồng rừng mấy năm nay không cần lo đầu ra cho sản phẩm vì có rất nhiều xưởng gỗ tại địa phương và các xã lân cận, họ đến tận nơi thu mua và tự vận chuyển mang về.
Anh Tuyên chia sẻ: “Được Nhà nước tạo điều kiện giao đất giao rừng cho hộ gia đình trong vòng 50 năm nên mình có điều kiện phát triển kinh tế. Sau 10 năm phát triển do sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, sự tạo điều kiện giúp đỡ của chính quyền địa phương và toàn thể gia đình nên đời sống tạm ổn, mình phấn đấu để bằng chúng bằng bạn để cảm thấy được an ủi phần nào so với ngày xưa khó khăn.”
Đến nay, sau 10 năm làm kinh tế đồi rừng anh đã cơ bản trả xong hết nợ nần. Cùng với phát triển kinh tế trồng rừng anh còn trồng 0,5 ha chè, mỗi năm thu 9 tấn chè búp tươi trị giá hơn 30 triệu đồng. Anh đã đầu tư mua máy phun thuốc, máy cắt chè cách đây 4 năm trị giá hơn 13 triệu đồng. Lúa 1 mẫu thu 1,2 tấn mỗi năm cùng đủ ăn và chăn nuôi. Anh cũng đã mua được máy cày, máy bừa từ năm 2005. Cùng với trồng trọt gia đình anh còn nuôi từ 50 – 100 con gà phục vụ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Như vậy trừ đi mọi chi phí mỗi năm gia đình anh thu về hơn 200 triệu đồng.
Ông Lê Văn Hữu – Phó Chủ tịch UBND xã Chính Công – Hạ Hòa cho biết: “Chúng tôi đánh giá mô hình kinh tế của gia đình anh Kiều Xuân Tuyên là mô hình có hiệu quả nhất. Gia đình anh lúc đầu có khó khăn nhưng anh dám nghĩ dám làm đầu tư vay vốn Nhà nước để thực hiện dự á phát triển rừng. Trong quá trình phát triển đó thì nâng cao thu nhập gia đình là chính, và giải quyết được một số lao động ở địa phương có công ăn việc làm cùng với anh để phát triển kinh tế đồi rừng”. (Hội Nông dân VN 7/10) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Bảo vệ và phục hồi tài nguyên rừng đang là nhiệm vụ trọng tâm ở mọi cấp, mọi ngành. Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu cấp thiết đặt ra là quản lý hiệu quả để phát triển rừng bền vững.
Chủ trương về giao đất, giao rừng (GĐGR) của Đảng đã hình thành từ rất sớm, ngay từ năm 1983 với Chỉ thị 29 ngày 12/11/1983 về việc đẩy mạnh GĐGR. Tuy nhiên, thực tế mới tập trung giao cho các tổ chức của nhà nước, chưa thực hiện giao cho các hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng. Tới những năm 90, Đảng và Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều chính sách nhằm thực hiện chủ trương này và đạt những thành tựu rất đáng kể, nhất là trong lĩnh vực giao đất và rừng sản xuất, chuyển từ lâm nghiệp nhà nước sang lâm nghiệp xã hội.
Đánh giá về những tác động tích cực của chính sách trên, ông Trần Mạnh Long - Cục Kiểm lâm, Tổng Cục Lâm nghiệp cho biết, chính sách GĐGR đã có những tác động tích cực. Đây là bước chuyển căn bản trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, làm cho rừng có chủ thực sự, gắn quyền lợi với trách nhiệm, tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc miền núi bảo vệ được rừng, yên tâm quản lý đầu tư phát triển rừng trên diện tích rừng được giao.
Việc làm này cũng góp phần nâng cao tư duy kinh tế cho các chủ hộ gia đình, có thêm nguồn lực mới để gắn đất đai với lao động và phát triển kinh tế hộ gia đình. Bên cạnh đó, thực hiện các chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở đã làm giảm bớt những khó khăn cho các hộ gia đình nghèo là người dân tộc, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho các hộ gia đình sinh sống trên địa bàn được GĐGR, góp phần cải thiện đời sống của người dân.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần được giải quyết triệt để nhằm phục vụ công tác quản lý, phát triển rừng một cách bền vững. Về vấn đề này, trao đổi với phóng viên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Tô Đình Mai - Trung tâm Môi trường và phát triển cộng đồng chỉ rõ, để GĐGR hiệu quả, góp phần thiết thực vào quản lý và phát triển rừng bền vững, nhất thiết phải tăng cường quản lý nhà nước về đất và rừng theo đúng pháp luật.
Đất đai là nền tảng, rừng là tài sản, do đó, phải giao rừng rõ ràng. Thêm vào đó, cần coi trọng các biện pháp khoa học - công nghệ để nâng cao năng suất cây trồng; đồng thời, cụ thể hóa chủ trương “kiên quyết bảo vệ rừng tự nhiên” thành những giải pháp khoa học - công nghệ rõ ràng, không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu “quyết tâm và kiên quyết” và cũng không chỉ áp dụng biện pháp “Cấm/Đóng cửa rừng” với Cho – mở cửa rừng”. Bên cạnh đó, cần coi trọng biện pháp quy hoạch sử dụng đất và rừng có sự tham gia của đông đảo người dân. Đặc biệt, cần rõ ràng, minh bạch trong thực hiện quyền sử dụng đất lâm nghiệp, duy trì một thị trường gỗ, lâm sản ổn định; triển khai rộng rãi hệ thống khuyến nông, khuyến lâm theo hướng nông - lâm kết hợp để phát huy hiệu quả của chính sách GĐGR.
Chỉ ra một số bất cập về hệ thống pháp luật liên quan tới chính sách GĐGR và bảo vệ, phát triển rừng bền vững, bà Lê Thị Diên -Khoa Lâm nghiệp, Đại học Nông lâm Huế nêu rõ, các luật liên quan tới chính sách GĐGR còn nhiều nội dung chưa phù hợp với nhau. Một số nội dung quy định không phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Bản thân quá trình thực hiện chính sách GĐGR trong thực tiễn cũng nảy sinh nhiều vấn đề nhưng chưa được pháp luật điều chỉnh.
Thậm chí, một số vấn đề đã được đề cập ở các văn bản dưới luật nhưng lại không được đề cập trong luật. Điều này cho thấy, muốn chính sách GĐGR phát huy hiệu quả, cần thống nhất những nội dung liên quan giữa các luật; cần sửa đổi các điều khoản trong các luật chưa phù hợp với thực tế cũng như bổ sung các điều khoản điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong tiến trình thực hiện chính sách, nhưng chưa được đề cập tới trong luật.
Cũng liên quan tới vấn đề chính sách pháp luật về GĐGR, Hạt trưởng hạt kiểm lâm Nam Đồng (Thừa Thiên - Huế) Mai Văn Tâm đề xuất, cơ sở xác định hưởng lợi cho hộ gia đình, cá nhân được giao rừng theo Quyết định 178/2001 không còn phù hợp với các quy định trong Quyết định 186/2006/ ban hành quy chế quản lý rừng, Thông tư số 35/2011 hướng dẫn thực hiện khai thác, tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ. Do đó, cần sớm ban hành văn bản quyền hưởng lợi cho chủ thể nhận rừng được giao rừng, đất lâm nghiệp. Căn cứ tình hình địa phương, UBND tỉnh trên cơ sở các văn bản hướng dẫn thực hiện của Chính phủ, Bộ, ngành có văn bản hướng dẫn cụ thể.
Trên cơ sở kinh nghiệm từ việc triển khai dự án tại xã Đồng Thắng, huyện Đình Lập (tỉnh Lạng Sơn), Quản lý chương trình dự án vùng Đình Lập (Lạng Sơn) Nguyễn Bá Thẩm cho rằng, cần tạo ra sự phối hợp chặt chẽ, trách nhiệm giữa các cơ quan chức năng trong suốt quá trình GĐGR; xác lập các giải pháp và lộ trình để giải quyết dứt điểm các vướng mắc liên quan đến công tác GĐGR, ranh giới, chủ sở hữu, chồng lấn...
Cũng theo ông Nguyễn Bá Thẩm, để giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng, quản lý đất và tài sản trên đất lâm nghiệp, cần tìm hiểu nguồn gốc sử dụng đất, đất sản xuất hay đất rừng linh thiếng để giao cho phù hợp; tôn trọng luật tục truyền thống của từng dân tộc, thực hiện đúng các điều luật hiện hành liên quan; cần có sự phối, kết hợp với chính quyền địa phương, thôn, bản và có sự thống nhất của các chủ sử dụng đất. Người dân được trực tiếp tham gia vào tất cả các khâu trong quá trình GĐGR ...
Ông Lê Văn Lân - Trung tâm Phát triển nông thôn miền Trung cho rằng, phải thực hiện xây dựng quy ước quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của người dân và sự nhất trí, ủng hộ của chính quyền địa phương; sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan GĐGR...
Theo ông Lê Văn Lân, cần nâng cao năng lực cho người dân trong việc tiếp cận nguồn thông tin GĐGR bằng các biện pháp như: Tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn, tuyên truyền chính sách tới tận cơ sở, thôn, xã, xóm; tăng cường sự tham gia của người dân trong tiến trình GĐGR, đưa họ thật sự trở thành chủ thể chính trong quá trình thực thi giao đất, giao rừng. Từ đó, người dân có thể tự đánh giá được các vấn đề liên quan đến rừng như: Trữ lượng rừng hiện có, biện pháp phát triển những khu rừng nghèo ...
Ngoài ra, cũng cần phải nâng cao năng lực cho cán bộ chuyên trách ở địa phương. Đây là nhân tố then chốt giúp đẩy nhanh tiến độ GĐGR. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các vùng, miền có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống.
Bên cạnh đó, cần có chính sách cho thương mại hóa về khai thác trữ lượng gỗ tăng thêm (đối với rừng có trữ lượng cao); tạo điều kiện GR gắn liền với GĐ để quản lý, bảo vệ và sử dụng. Đối với rừng nghèo kiệt sau khi giao, cần có ngân sách hỗ trợ phát triển trồng rừng đối với đất trống liền kề. Cũng cần lưu ý rằng, GR gắn liền với GĐ lâm nghiệp có cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho cộng đồng dân cư thôn, bản là cơ sở cho việc công nhận về mặt pháp lý và từ đó, mở ra cơ hội để cộng đồng tham gia tích cực vào việc sử dụng và quản lý rừng bền vững.
Trong các giải pháp quản lý, phát triển rừng bền vững, thực tiễn cũng ghi nhận mô hình rừng cộng đồng được quản lý với những phương thức phù hợp với tập quán truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số miền núi, xây dựng và củng cố tính đoàn kết trong cộng đồng, phát huy được các kiến thức bản địa...
Trong mô hình này, quản lý rừng được thực hiện bằng những quy chế, hương ước do chính người dân xây dựng dựa trên những nguồn lực của họ nên có hiệu quả cao mà lại không tốn kém. Ngoài ra, thông qua đó, bảo đảm nhu cầu tối thiểu về lâm sản của người dân mà Nhà nước không phải đầu tư quản lý và bảo vệ, bảo đảm tính công bằng trong chia sẻ lợi ích hợp lý, bảo đảm sự đoàn kết, góp phần ổn định xã hội. (Cpv.org.vn 8/10) đầu trang(
Từ năm 1996, Dự án trồng rừng ngập mặn của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam do Hội Chữ thập đỏ Đan Mạch và Hội chữ thập đỏ Nhật Bản tài trợ, đã trồng mới được hơn 10.000ha rừng ngập mặn tại 8 tỉnh ven biển miền Bắc, góp phần bảo vệ môi trường, phòng chống gió bão mà còn giải quyết nhiều khó khăn về kinh tế và xã hội của địa phương.
Để có kết luận một cách khách quan và khoa học về “Trồng rừng ngập mặn sẽ đem lại những lợi ích gì đối với môi trường và đời sống xã hội của người dân ven biển?”, nhóm các nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên - Môi trường (CRES) do Phó Giáo sư Tiến sĩ Mai Sĩ Tuấn làm Chủ nhiệm, tiến hành điều tra đánh giá hiệu quả của Dự án trồng rừng ngập mặn tại 2 huyện là Nga Sơn (Thanh Hóa) và Diễn Châu (Nghệ An).
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy từ năm 1998 đến năm 2003, rừng ngập mặn được trồng mới và phục hồi tại 2 huyện Nga Sơn và Diễn Châu tổng cộng 720ha, đã che chắn và bảo vệ hiệu quả cho gần 20km đê biển của 2 huyện này. Rừng ngập mặn trồng sau 2-5 năm có nền đáy được nâng cao từ 20-40cm/năm; các đặc điểm lý-hóa của đất thay đổi cơ bản; năng suất lượng rơi của rừng từ 199,32g-585,12g/m2/năm là nguồn thức ăn cho nhiều loài thủy sinh vật. Thành phần các loài động vật, nhất là động vật đáy tăng lên nhanh chóng sau khi rừng được phục hồi.
Diện tích rừng ngập mặn được trồng mới với tác dụng bồi cao nền đất, đã hình thành nên một “bức tường xanh” vững chắc bảo vệ đê biển. Nhờ đó qua các mùa bão lũ, triều cường, các đoạn đê biển có rừng ngập mặn che chắn ở Nga Sơn và Diễn Châu đều không bị sạt lở, góp phần phòng ngừa thảm họa thiên nhiên. Chân đê còn được bồi tụ thêm đất giúp cho đê ngày càng vững chắc hơn, giảm đáng kể chi phí tu bổ đê điều hàng năm, bảo vệ tốt cuộc sống của người dân nơi vùng thương xuyên bị đe dọa bởi thiên tai.
Nhóm điều tra nghiên cứu cũng đã khảo sát được 26 loài thực vật trong 22 chi thuộc 15 họ tìm thấy trong rừng ngập mặn của 2 xã Nga Tân, Nga Thủy thuộc huyện Nga Sơn. Trong đó nhóm cây ngập mặn thực sự có 8 loài thuộc 8 chi, 7 họ thực vật. Tuy thực vật ở Nga Sơn, Diễn Châu chỉ chiếm khoảng 31% tổng số loài thực vật ngập mặn ở Việt Nam, nhưng số lượng cá thể của rừng ngập mặn ở đây rất cao so với nơi khác.Quần xã thực vật ngập mặn tuy mới hồi phục trong vòng vài năm, những đã phát huy vai trò tích cực trong cải tạo môi trường và bảo vệ bờ biển.
Mặc dù thành phần loài không nhiều, song vai trò của hệ thực vật rừng ngập mặn lại rất lớn. Cụ thể nhóm các cây làm thức ăn gia súc chiếm tới 65,4%, tiếp đến là nhóm cây sử dụng làm dược liệu chiếm 42,2%. Tỷ lệ nhóm cây cho gỗ, củi và bảo vệ môi trường chiếm tỷ lệ ngang nhau.
Tuy chỉ chiếm tỷ lệ 23,1%, nhưng nhóm các loài cây cho ong lấy mật đóng vai trò quan trọng trong triển vọng phát triển kinh tế của địa phương. Phần lớn rừng trồng được chọn phổ biến là loài trang và bần chua. Nhưng nhờ đặc điểm ra hoa khá đồng loạt trong thời gian trên 1 tháng, lại có số lượng lớn nên lượng mật ong thu về khá lớn và tập trung trong thời gian khoảng 1 đến 1,5 tháng.
Sau khi rừng được phục hồi, nhìn chung thành phần động vật đáy ở trong rừng ngập mặn tại Nga Sơn và Diễn Châu phong phú, đa dạng hơn về thành phần loài và nhiều hơn về số lượng cá thể hơn hẳn ở ngoài rừng.
Trong đó có tới 76 loài động vật đáy thuộc 51 giống, 30 họ, 4 lớp. Lớp giáp xác có 38 loài; thân mềm chân bụng 18 loài; thân mềm 2 mảnh vỏ 16 loài. Có nhiều loài nhất là họ cua cát với 13 loài, tiếp đến là họ cua vuông 9 loài, những họ khác có từ 1-4 loài và có cả những giống loài sống ở vùng nước lợ. Các loài phân bố rộng như ốc dạ, cua vái trời, loài hến ưa nước ngọt...thể hiện tính đa dạng sinh học cao và là nguồn hải sản quý cho người dân địa phương.
Nhờ nguồn lợi thủy sản gia tăng từ việc hình thành nên những cánh rừng ngập mặn, thu nhập của của người dân trong vùng thụ hưởng Dự án được cải thiện đáng kể, nhất là phụ nữ và trẻ em. Theo kết quả điều tra, mỗi xã trung bình có đến 70 hộ thường xuyên đánh bắt cá, tôm, cua bằng cách thả đăng, lưới. Những hộ này có thể thu nhập khoảng 6 triệu đồng/năm; còn những hộ đánh bắt không thường xuyên, chỉ hoạt động trong mùa cua giống thì trung bình cũng thu về 700.000 đồng đến 2 triệu đồng/hộ/năm.
Trong số những người tham gia đánh bắt cua, cá trong rừng ngập mặn chủ yếu là nữ giới, sau đó là học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông. Do vậy từ khi có rừng hải sản phong phú hơn, phụ nữ ở các vùng này có thêm việc làm và việc kiếm tiền cũng dễ dàng hơn trước.
Mặt khác, dự án trồng rừng ngập mặn tác động trực tiếp đến mức sống của các hội viên Hội chữ thập đỏ địa phương, thông qua việc trồng và bảo vệ rừng làm tăng kinh phí hoạt động và thu hút thêm nhiều hội viên. Mặc dù kinh tế của các hộ gia đình vùng rừng ngập mặn ở Nga Sơn, Diễn Châu vẫn còn nghèo, nhưng chi tiêu trong mỗi hộ cho việc học hành và mua quần áo chiếm tới 10-15% tổng thu, những chi tiêu này là từ nguồn thu nhập đánh bắt hải sản trong rừng ngập mặn.
Với 75-80% số dân sống gần rừng ngập mặn ở Nga Sơn và Diễn Châu tham gia vào các hoạt động đánh bắt hải sản trong rừng vào kỳ nông nhàn. Nguồn tài nguyên rừng ngập mặn cung cấp thêm việc làm, thu nhập đáng kể, góp phần giảm số lao động phải “ly hương” để tìm việc làm tại các thành phố. Vì vậy, từ người dân đến cán bộ lãnh đạo xã, huyện đều nhận thấy rất rõ vai trò to lớn của rừng ngập mặn trong phòng chống thiên tai, bảo tồn đa dạng sinh học và giải quyết kinh tế-xã hội vùng ven biển hiện nay. (Tài Nguyên&Môi Trường 8/10) đầu trang(
Theo ông Đinh Văn Khiết, Phó Chủ tịch tỉnh Đắk Lắk, hiện nay, tỉnh Đắk Lắk đã thống nhất phương án chuyển đổi bảy Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp thành các Ban quản lý rừng nhằm tạo điều kiện cho các đơn vị này quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả hơn.
Bảy Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp được chuyển đổi, gồm Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên lâm nghiệp Chư M’Lanh, Rừng Xanh, Ea H’mơ, Ya Lốp (nằm trên địa bàn huyện Ea Súp), Ea Wy, Thuần Mẫn (Ea H’Leo) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Lắk (huyện Lắk), quản lý tổng diện tích rừng và đất rừng trên 91.289 ha, với trên 220 lao động.
Cũng theo ông Đinh Văn Khiết, các Công ty này do không đủ năng lực xây dựng các phương án sản xuất kinh doanh, sản xuất kinh doanh thua lỗ kéo dài, không có nguồn để trả tiền lương cho người lao động.
Thậm chí, có doanh nghiệp nợ lương cán bộ, người lao động kéo dài từ 5-6 tháng liền, có lãnh đạo đơn vị xin nghỉ việc... Nghiêm trọng hơn, các công ty đều buông lỏng công tác quản lý bảo vệ rừng để mặc cho người dân lấn chiếm đất rừng, khai thác gỗ trái phép làm cho rừng, đất rừng trên địa bàn ngày càng thu hẹp.
Điển hình là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Chư M’Lanh (Ea Súp) được giao quản lý hơn 14.720ha rừng, đất rừng nhưng do buông lỏng công tác quản lý nên đến nay đã có trên 6.000ha đất rừng bị người dân lấn chiếm để trồng hoa màu và cây cao su….
Hiện tỉnh Đắk Lắk đang chỉ đạo các đơn vị chức năng tiến hành kiểm tra, rà soát lại thực trạng rừng, đất rừng, lập phương án sắp xếp, chuyển đổi thành Ban quản lý rừng cụ thể cho từng đơn vị.
Tỉnh cũng đặc biệt quan tâm giải quyết các chế độ chính sách hợp tình, hợp lý cho người lao động ở các đơn vị trước và sau khi chuyển đổi; kiên quyết thu hồi một số diện tích đất rừng mà các hộ gia đình khai thác, lấn chiếm đất rừng trái phép; thậm chí, không bồi thường hoa màu trên đất. (VietnamPlus.vn 8/10) đầu trang(
Theo Sở NN&PTNT tỉnh Hậu Giang, nhờ làm tốt công tác quy hoạch, bảo tồn nên môi trường sống ở Hậu Giang được cải thiện, dần trở lại phong cảnh hoang dã, thu hút nhiều loài chim quý hiếm nằm trong diện bảo tồn, Sách đỏ, về sinh sống, sinh sản ngày một nhiều.
Theo kết quả khảo sát của Chi cục Kiểm lâm và chuyên gia Viện sinh học nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh tại khu vực Vườn Chim trong Trung tâm nông nghiệp Mùa Xuân (Phụng Hiệp, Hậu Giang), tính từ tháng 8/2011 đến nay, hơn 30 loài đã về sinh sống trú ngụ với tổng đàn khoảng 3.500 đến 4.000 cá thể; trong đó, có ba loài quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam là chim cổ rắn (Anhingar melanogaster), cò nhạn (Ardea oscitans) và giang sen (Tantalus leucocephalus).
Năm 2012, tỉnh phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất Trung tâm nông nghiệp Mùa Xuân Hậu Giang với tổng diện tích hơn 1.400ha, trong đó đất rừng để làm khu bảo tồn động vật quý hiếm vườn chim 61,87ha trên tổng diện tích tự nhiên của vườn chim khoảng 92,62ha. Hậu Giang có khoảng 5.100ha đất lâm nghiệp; trong đó, diện tích có rừng khoảng 2.500ha, chủ yếu là rừng trồng đạt tỷ lệ che phủ 1,2%.
Thảm, hệ thực vật của vùng đất ngập nước Hậu Giang rất đa dạng, nhưng do đất được khai thác đã lâu để trồng lúa, cây ăn trái hoặc làm đất thổ cư nên các loài thuộc hệ sinh thái nông nghiệp đã thuần dưỡng phát triển nhất. Qua thống kê, hệ động vật có 71 loài động vật cạn, 135 loài chim. Động vật nội đồng gồm rất nhiều loài từ cá đến bò sát, lưỡng cư tập trung trong đồng ruộng, kênh rạch, đặc biệt là dưới chân rừng...
Cũng theo Sở NN&PTNT Hậu Giang, với việc phát hiện tổ và chim con của các loài quý hiếm, Vườn Chim Mùa Xuân đang có xu hướng phát triển trong thời gian tới, do đó tỉnh cần quan tâm bảo vệ đặc biệt để bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên này. (VietnamPlus.vn 9/10) đầu trang(
Trong bối cảnh các mặt hàng xuất khẩu khác đang có dấu hiệu chững lại, ngành sản xuất đồ gỗ lại đang đón nhận nhiều tín hiệu lạc quan qua sự gia tăng từ các đơn hàng.
Dù hội chợ triển lãm chỉ diễn ra trong 4 ngày (từ 3-6/10) tại Trung tâm triển lãm Tân Bình, TP.HCM, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn kỳ vọng hội chợ lần này sẽ tiếp tục là cơ hội tốt để cho ngành công nghiệp đồ gỗ Việt Nam có thể tìm kiếm thêm đơn hàng, mở rộng thị trường mới.
Năm nay, Công ty Nguyễn Thanh tiếp tục thuê 3 mặt bằng tại vị trí trung tâm của hội chợ để giới thiệu sản phẩm. Khác với mọi năm, cách bài trí, sản phẩm, mẫu mã lần này đều có sự đổi mới. Tông màu sậm thể hiện mùa thu ở châu Âu được doanh nghiệp đặc biệt quan tâm vì ngoài các thị trường trong khu vực Asean thì châu Âu vẫn là thị trường mà doanh nghiệp mong muốn hướng tới.
Từ tháng 9 đến tháng 12 được xem là mùa vụ chính của ngành xuất khẩu đồ gỗ trong năm nhằm phục vụ thị trường Noel và Tết Dương lịch tại các quốc gia trên thế giới. Nếu như thời điểm này năm ngoái khi tham gia hội chợ, doanh thu xuất khẩu của Nguyễn Thanh đạt 5 triệu USD thì năm nay dự kiến sẽ đạt 8 triệu USD và có thể sẽ tăng hơn nữa.
Ông Nguyễn Thanh Bình, Giám đốc Công ty Nguyễn Thanh cho biết: “Ngay trong ngày đầu tiên, việc có hợp đồng là chưa, nhưng bắt đầu sau đó khách hàng biết đến mình nhiều hơn. Qua các kỳ triển lãm, đơn hàng đều tăng, hy vọng năm nay cũng vậy”.
Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ Hawa cho biết, khoảng 30% các đơn hàng năm nay nghiêng về đồ gỗ nội thất trong nhà, trong khi đó thế mạnh của các doanh nghiệp Việt Nam là các sản phẩm đồ gỗ ngoài trời. Hawa nhận định xu thế này sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới, do đó việc đầu tư công nghệ, thiết kế mẫu mã, màu sắc... là điều mà doanh nghiệp chế biến gỗ cần sớm có sự điều chỉnh hợp lý để không bỏ lỡ đơn hàng.
Dù chưa phải là thế mạnh, nhưng với những sản phẩm đưa ra để chào hàng với các khách hàng mới tại hội chợ như giường, tủ, sofa, bàn ăn... với nhiều màu sắc chủ đạo như màu trầm dành cho mùa thu ở châu Âu, màu sáng, vui tươi dành cho mùa xuân ở châu Á cho thấy sự đầu tư nghiêm túc nhằm đón cơ hội từ các thị trường của cộng đồng doanh nghiệp Việt. (VietnamPlus.vn 9/10) đầu trang(
Qua nhiều công trình nghiên cứu, dự án thử nghiệm, nhân giống, nuôi trồng và bước đầu sản xuất đã cho thấy nhiều cây dược liệu quý hiếm của vùng đất Lâm Đồng có thể đưa vào sản xuất quy mô lớn.
Theo đánh giá của tiến sỹ Trần Công Luận, Trung tâm Sâm và Dược liệu Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Lâm Đồng là một trong những địa phương có nguồn tài nguyên dược liệu vô cùng phong phú.
Một số cây thuốc có thể đáp ứng nhu cầu dược liệu giàu hoạt chất triển vọng ở Lâm Đồng như thông đỏ, sâm Ngọc Linh, đảng sâm, sa nhân tím, xuyên tâm liên, thiên niên kiện, pơ mu, quế bạc, đinh lăng, dương cam túc, thanh hao hoa vàng…
Là tỉnh miền núi Nam Tây Nguyên, tỉnh Lâm Đồng có nguồn tài nguyên thực vật độc đáo và đa dạng, phong phú, là nguyên liệu cho ngành dược liệu với nhiều loại cây rừng, cây thuốc, rau, hoa… có giá trị về mặt y học và cả giá trị kinh tế.
Theo kết quả điều tra, đánh giá nguồn tài nguyên dược liệu tỉnh Lâm Đồng của Trung tâm Sâm và Dược liệu TPHCM, tỉnh đã ghi nhận được 2.170 loài. Trong đó có nhiều cây dược liệu, loài quý hiếm, loài đặc hữu như thông đỏ (phân bố tại khu vực hẻm núi ở các huyện Lạc Dương, Đơn Dương, Đức Trọng và Đà Lạt), đảng sâm (ở Lạc Dương, Đơn Dương, Đà Lạt), thiên niên kiện (ở Bảo Lộc, Đức Trọng, Di Linh), sa nhân (ở Bảo Lộc, Di Linh, Đạ Huoai), thổ phục linh (ở hầu hết các huyện), sa nhân tím, hoa trà mi, thông 2 lá dẹt, thông 5 lá, nắp ấm Trung bộ, Hoàng liên ô rô, nữ lang, chè dây….
Nhiều loài có trữ lượng khá lớn, có thể khai thác phục vụ cho y học cổ truyền. Đặc biệt, trong vài năm gần đây, cây sâm Ngọc Linh, dù không phải cây bản địa của Lâm Đồng nhưng sinh thái Đà Lạt, công nghệ nhân giống và kỹ thuật trồng cho phép sản xuất quy mô hàng hóa.
Tiến sỹ Phạm S, Phó Chủ tịch tỉnh Lâm Đồng cho rằng, tỉnh Lâm Đồng nói chung và Đà Lạt nói riêng cần khai thác tiềm năng từ lĩnh vực y tế, đặc biệt là thế mạnh về cây dược liệu.
Theo ông, Đà Lạt cần thu hút các dự án trồng cây dược liệu quý hiếm mà các nơi khác không có điều kiện sinh thái phù hợp và không phải là cây bản địa, do đó khi Đà Lạt phát triển trồng các cây dược liệu quý hiếm sẽ là là nơi sản xuất, cung cấp nguồn nguyên liệu dược liệu quý, với sản phẩm đa và có giá trị kinh tế cao.
Cũng theo tiến sỹ Phạm S, tỉnh cũng cần tập trung vào các cây dược liệu quý hiếm như cây thông đỏ được coi là loại dược liệu quý, dùng trị nhiều bệnh, đặc biệt lá và vỏ cây có thể tách chiết các hoạt chất để điều chế thuốc chữa ung thư, nhu cầu hiện nay và giá trị trên thế giới ngày càng cao.
Cùng với đó là các cây sâm Ngọc Linh, đảng sâm, cây thất diệp nhất chi hoa, cây chè dược liệu Thiên Kim Trà, cây kim cương, cây thạch tùng răng cưa. Hoạt chất của các loại cây dược liệu này dùng sản xuất các chế phẩm chữa các bệnh về hen suyễn, phù nề, ung nhọt, mỡ trong máu, điều trị khối u, cao huyết áp, suy thận di tinh, đau lưng, phong thấp, tiêu đờm, giải độc, giải nhiệt… giúp tăng cường sức khỏe, bổ ngũ tạng, khí huyết lưu thông, an thần…
Những cây dược liệu quý hiếm này có thể trồng và sản xuất quy mô lớn ở Đà Lạt và các vùng phụ cận như Lạc Dương, Đơn Dương và Đức Trọng. (VietnamPlus.vn 8/10) đầu trang(
Trung tâm Phát triển sâm Ngọc Linh và dược liệu Quảng Nam, trực thuộc Sở Y tế tỉnh Quảng Nam, có tên giao dịch quốc tế là “Ngoc Linh Gingsen Center of Quang Nam” vừa được UBND tỉnh ban hành quyết định thành lập hôm 7/10/2013.
Trung tâm Phát triển sâm Ngọc Linh và dược liệu Quảng Nam là đơn vị sự nghiệp công lập, chịu sự quản lý trực tiếp và toàn diện của Sở Y tế, có trụ sở đặt tại TP.Tam Kỳ. Trung tâm có chức năng tham mưu Giám đốc Sở Y tế xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch bảo tồn, phát triển, nghiên cứu khoa học, cung ứng giống và sản xuất các mặt hàng đặc hữu từ sâm Ngọc Linh và các loại dược liệu quý khác.
Nhiệm vụ của trung tâm là tổ chức các hoạt động chăm sóc, nuôi trồng, bảo vệ, mở rộng vườn sâm hiện có tại Trại Dược liệu Trà Linh; đảm bảo phát triển nhanh về số lượng, chất lượng cây sâm Ngọc Linh để tạo vùng nguyên liệu ổn định cho việc sản xuất các sản phẩm đặc hữu có giá trị cao; cung ứng giống và các nguyên liệu từ sâm cho nhân dân và các tổ chức có nhu cầu.
Trung tâm còn có nhiệm vụ nghiên cứu các loại cây dược liệu quý khác có tiềm năng để quy hoạch, tổ chức nuôi trồng tạo nguồn dược liệu có giá trị phục vụ sản xuất thuốc và thực phẩm chức năng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đồng thời nghiên cứu và tham gia nghiên cứu khoa học, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về nuôi trồng, chăm sóc, thu hoạch dược liệu, sản xuất sản phẩm từ dược liệu; phối hợp với các đơn vị khoa học về dược liệu, dược phẩm tham gia thực hiện các đề tài nghiên cứu về sâm Ngọc Linh và dược liệu quý... (Báo Quảng Nam 9/10) đầu trang(
Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đơn Dương hiện đang quản lý 22.049,4ha rừng và đất lâm nghiệp, phân bố dọc theo các xã, thị trấn từ thị trấn Dran đến xã Tu Tra theo Quyết định số 450/2008 của UBND tỉnh Lâm Đồng, trong đó rừng phòng hộ là 2.886,05ha, rừng sản xuất 19.163,35ha.
Thực hiện mục tiêu phấn đấu hoàn thành kế hoạch đề ra, ngay từ đầu năm 2013, đơn vị chủ động triển khai công tác một cách quyết liệt. Chỉ đạo các phòng ban tham mưu và các phân trường phối hợp với các xã, thị trấn và lực lượng nhận khoán bảo vệ rừng thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng. Trong đó, vốn ngân sách tỉnh có 89ha, vốn hỗ trợ từ dự án Flitch, trồng dặm 61,50ha. Các loại cây được trồng gồm: gáo trắng, trôm, keo lá tràm,thông ba lá...
Tính đến thời điểm hiện nay, tổng diện tích giao khoán của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đơn Dương là 15.370,99ha với 522 hộ nhận khoán. Diện tích giao khoán theo vốn ngân sách tỉnh là 9.267,81ha/228 hộ nhận khoán với số tiền 200.000 đồng/ha/năm, vốn dịch vụ môi trường rừng 6.103,18ha /294 hộ nhận khoán với số tiền 400.000 đồng/ha/năm.
Ngoài ra, Công ty còn làm tốt công tác bảo vệ rừng, phát hiện, lập biên bản 17 vụ vi phạm lâm luật, chuyển Hạt Kiểm lâm huyện Đơn Dương 16 vụ, lưu hồ sơ theo dõi 1 vụ. Ngoài ra, còn phát hiện 1 vụ khai thác khoáng sản trái phép; 38 vụ lấn chiếm, phá rừng trái pháp luật... (Kinh tế Nông thôn 7/10) đầu trang(
Ban Quản lý rừng phòng hộ Như Xuân hiện đang quản lý, sử dụng 5.040 ha rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Để công tác quản lý, sử dụng diện tích rừng ngày một hiệu quả, cùng với việc chăm sóc, bảo vệ rừng đã có, ban quản lý luôn quan tâm đến công tác trồng rừng, nhằm vừa tạo việc làm, thu nhập cho người dân trong khu vực, đồng thời giữ cho rừng ngày một xanh tốt.
Để cây trồng đạt chất lượng, ban quản lý tìm mua các loại giống cây thích hợp với khí hậu, thổ nhưỡng, độ dốc của đồi rừng; phối hợp với các đơn vị chức năng tập huấn, hướng dẫn cho các chủ hộ nhận khoán kỹ thuật gieo ươm, trồng, chăm sóc để cây sống, sinh trưởng tốt.
Trong những năm đầu cây trồng chưa khép tán, ban quản lý vận động các hộ trồng rừng thực hiện nông – lâm kết hợp, trồng các loại cây ngắn ngày như: ngô, sắn, rau, đậu. Từ năm 2007 đến nay, Ban Quản lý rừng phòng hộ Như Xuân đã chỉ đạo, giao khoán cho cán bộ, công nhân, đơn vị và các hộ trong vùng dự án trồng được gần 1.300 ha rừng. (Báo Thanh Hóa 8/10) đầu trang(
Theo quy hoạch phát triển cao su cả nước được Thủ tướng phê duyệt năm 2009, đến năm 2020, diện tích cao su ổn định 800.000ha, trong đó vùng Tây Nguyên 280.000ha và Tây Bắc 50.000ha. Tuy nhiên, đến cuối năm 2012, diện tích cao su của cả nước đã lên đến 915.000ha và vẫn đang tiếp tục mở rộng khiến rừng tự nhiên đang dần bị thu hẹp. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến mất rừng và suy thoái môi trường.
Tại hội thảo “Chuyển đổi rừng sang trồng cao su: Cơ hội và thách thức” do Tổ chức Forest Trends và Tropenbos International tại Việt Nam tổ chức mới đây, ông Triệu Văn Hùng, Giám đốc Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam cho biết, trong những năm qua, việc chuyển đổi đất rừng sang trồng cây cao su đã diễn ra rộng khắp ở nhiều vùng và địa phương. Thực tế, diện tích trồng cao su đã vượt xa quy hoạch của Chính phủ.
Cụ thể, chiến lược phát triển cao su đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt, 56% diện tích trồng cao su của Tây Nguyên được lấy từ rừng nghèo kiệt, còn lại là từ đất nông nghiệp của hộ gia đình. Tuy nhiên, theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, có đến 79% diện tích được mở rộng trồng cây cao su tại Tây Nguyên là diện tích rừng tự nhiên chuyển đổi sang. Điều đáng quan tâm là không phải toàn bộ diện tích này là rừng nghèo kiệt, vì có gần 400.000m³ gỗ tận thu được từ việc chuyển đổi 700.000ha rừng tự nhiên sang đất trồng cao su.
Phân tích tác động của việc mở rộng diện tích trồng cao su tại Việt Nam trong những năm gần đây, đặc biệt tập trung vào hai vùng có tốc độ mở rộng diện tích nhanh nhất là Tây Nguyên và Tây Bắc, báo cáo phát triển cao su và bảo vệ rừng ở Việt Nam của tổ chức Tropenbos International và tổ chức Forest Trends chỉ ra rằng, việc mở rộng diện tích trồng cao su đã có tác động rất lớn đến tài nguyên rừng.
Cũng theo báo cáo này, diện tích trồng mới cao su phát triển mạnh trên diện tích đất rừng tự nhiên tại Tây Nguyên ngoài nguyên nhân do quá trình thực hiện chuyển đổi rừng sang trồng cao su bị lạm dụng, mà còn do các công ty cao su buông lỏng quản lý, giao rừng không theo quy định của chính quyền một số địa phương. Không chỉ ở Tây Nguyên mà tại Tây Bắc, việc mở rộng rừng cao su cũng đã và đang làm mất đi những diện tích rừng tự nhiên do cộng đồng trực tiếp quản lý.
Thực tế phát triển cây cao su ở Tây Bắc và nhất là ở Tây Nguyên vừa qua cho thấy, hiện trạng phát triển cao su đang bộc lộ nhiều vấn đề liên quan đến quản trị rừng tại địa phương. Chính phủ cũng đã xác định rằng việc chuyển đổi rừng sang trồng cây công nghiệp, bao gồm cả cây cao su, được xác định là một trong 5 nguyên nhân gây mất rừng và suy thoái rừng tại Việt Nam.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn, chỉ trong 8 năm, từ 2005 - 2012, khu vực Tây Nguyên đã mất hơn 200.000ha rừng tự nhiên, bình quân mỗi năm mất 25.700ha rừng. Trong đó, diện tích rừng chuyển đổi sang trồng cây cao su chiếm 46,7%.
Theo Tổ chức Forest Trend, Việt Nam đang tham gia Sáng kiến giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng (REDD+); Tăng cường thực thi luật lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản (FLEGT). Thực hiện các cam kết này đòi hỏi phải thiết kế và vận hành các cơ chế nhằm giải quyết các nguyên nhân gây mất rừng và suy thoái rừng, bao gồm cả nguyên nhân chuyển đổi rừng sang trồng cao su, hiệu quả.
Để làm được điều này đòi hỏi cần phải tăng cường công tác kiểm tra giám sát đối với quá trình thẩm định dự án và thực hiện dự án chuyển đổi rừng. Các công ty được cấp phép chuyển đất rừng sang đất trồng cao su không chỉ phải tuân thủ các quy định về đánh giá tác động môi trường mà còn phải tham vấn rộng rãi với cộng đồng địa phương. (Sài Gòn Giải Phóng 8/10) đầu trang(
Vợ chồng chị Hà Thị Tuấn, thôn Mới, xã Quang Yên, huyện Sông Lô đã đầu tư thu mua gỗ nguyên liệu, cung cấp cho thị trường gỗ xây dựng và sản xuất giấy. Sau một thời gian, nhận thấy sản xuất chế biến gỗ có thị trường tiêu thụ tốt, chị đầu tư mua 2 xe tải phục vụ vận chuyển, bình quân thu nhập những năm đầu đạt 70-80 triệu đồng/năm.
Không dừng ở đó, chị tiếp tục học kỏi thêm kinh nghiệm sản xuất chế biến gỗ ở một số nơi và tìm kiếm thêm thị trường tiêu thụ. Với nguồn nguyên liệu sẵn có của các hộ dân trong xã và các vùng lân cận, vợ chồng chị quyết định mở thêm xưởng chế biến gỗ. Mỗi năm xưởng chế biến từ 4000 - 5000 tấn gỗ nguyên liệu, xuất khẩu sang cả Trung Quốc.
Không chỉ mạnh dạn làm giàu cho gia đình, vợ chồng chị còn giúp đỡ người dân địa phương bằng việc tạo việc làm ổn định cho 30-35 công nhân lao động với thu nhập 2,5 triệu đồng/người/tháng. (Vinhphuc.gov.vn 8/10) đầu trang(
Đã gần 10 năm qua, sau khi nhường hàng ngàn héc-ta đất lâm nghiệp và đất vườn, nhà ở cho dự án hồ Tả Trạch để chuyển về sống tại các khu tái định cư (TĐC), cho đến nay, hàng trăm hộ dân ở xã Dương Hòa, thị xã Hương Thủy và xã Bình Thành, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế, vẫn chưa có đất sản xuất...
Tháng 12/2001, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế phê duyệt kế hoạch đền bù, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ TĐC dự án hồ Tả Trạch cho 855 hộ dân, với tổng kinh phí trên 143 tỷ đồng (dự án được điều chỉnh vào tháng 6/2006). Tuy nhiên, do thiếu vốn nên tỉnh chỉ đền bù đất ở, đất nông nghiệp và tài sản trên đất. Riêng phần đất lâm nghiệp được thực hiện theo chủ trương “đất đổi đất”.
“Vì cái chủ trương ni mà giờ cuộc sống gia đình tui rơi vào cảnh khốn khổ, phải đi làm thuê cho các chủ rừng khác để kiếm ăn từng ngày đó chú”, ông Lê Đức Thảo (52 tuổi), ở khu TĐC Khe Sòng, xã Dương Hòa, lắc đầu buồn bã.
Gia đình ông Thảo vốn là chủ của một rừng tràm 5 héc-ta. Năm 2004, sau khi nhận quyết định di dời do nằm trong phần đất của dự án hồ Tả Trạch, vợ chồng ông Thảo bán rừng tràm 4 năm tuổi của mình với giá 40 triệu đồng, rồi chuyển về khu TĐC Khe Sòng ở. Khi chuyển đi, hộ ông Thảo nhận tiền đền bù đất ở và tài sản trên đất nông nghiệp; còn đất lâm nghiệp theo chủ trương “đất đổi đất”, nhưng đợi cả gần chục năm nay chẳng thấy. “Vì thế mà vợ chồng tui phải đi phát hoang, trồng rừng thuê…”, ông Thảo bày tỏ bức xúc.
Cũng như ông Thảo, trường hợp của ông Phan Từ Phong, ở thôn Hộ (xã Dương Hòa) cũng đắng cay không kém. Trong căn nhà cấp 4 nằm heo hút giữa ngọn đồi, ông Phong thẫn thờ tâm sự: “Phải mất gần 3 năm trời, vợ chồng tui đổ bao công sức, mồ hôi mới khai phá được gần 4.000m2 đất để trồng rừng và hoa màu. Năm 2010, gia đình tui bàn giao hết số đất này cho dự án hồ Tả Trạch với mức đền bù 78 triệu nhưng đến nay, tiền vẫn chưa được nhận mà đất cũng chẳng có để sản xuất”...
Theo tìm hiểu, đất lâm nghiệp của các hộ dân ở xã Dương Hòa được quy đổi sau khi chuyển về khu TĐC như sau: Hộ có trên 7 khẩu sẽ được cấp 2 héc-ta đất rừng; từ 4 đến 6 khẩu được cấp 1,5 héc-ta; 1 đến 3 khẩu là 1 héc-ta. Tuy nhiên, theo ông Lê Sinh, Bí thư chi bộ khu TĐC Khe Sòng: “Diện tích đất đền bù đã ít lại còn rất cằn cỗi, nhiều đá sỏi nên không thể sản xuất được, trồng cây chi cũng chết”.
Ông Trương Văn Huy, Trưởng khu TĐC Khe Sòng nói rằng, toàn thôn có 73 hộ, với 278 khẩu nhưng giờ phần lớn các hộ dân đều phải đi làm thuê vì không có đất sản xuất.
Ông Phạm Thành Nghĩa, cán bộ địa chính xã Dương Hòa cho biết thêm: “Sau nhiều lần kiến nghị, yêu cầu thì đến nay, số tiền đền bù đất lâm nghiệp của 46 hộ dân trong xã là 1 tỷ 800 triệu đồng vẫn chưa được chi trả. Phần đất đền bù cũng rất hạn chế”. Trong khi đó, hàng trăm hộ dân ở xã Bình Thành, thị xã Hương Trà, cũng đang trong cảnh khó khăn vì thiếu đất sản xuất sau khi được di dời từ dự án hồ Tả Trạch về các khu TĐC.
Đằng sau những ngôi nhà khang trang ở các khu TĐC thuộc dự án hồ Tả Trạch là vấn đề nan giải thiếu đất sản xuất cho người dân.
“Sau nhiều năm chuyển về khu TĐC, bà con đã có nhà cửa ổn định. Tuy nhiên, lo lắng nhất vẫn là việc thiếu đất lâm nghiệp khi mỗi hộ chỉ được cấp từ 0,6 đến 0,7 héc-ta đất ở và sản xuất. Vì diện tích đất sản xuất bị thiếu quá trầm trọng nên chuyện tái nghèo ở các khu TĐC là rất cao khi phần lớn bà con phải đi làm thuê để kiếm sống. Người dân đã nhiều lần kiến nghị cấp trên xem xét, thu hồi đất từ các lâm trường để cấp cho dân nhưng vẫn chưa được giải quyết”, ông Nguyễn Trung Nhân, Phó Chủ tịch UBND xã Bình Thành thừa nhận...
Qua thống kê được biết, tính đến thời điểm hiện tại, tỉnh Thừa Thiên-Huế vẫn còn nợ người dân ở các khu TĐC của các xã Dương Hòa, Bình Thành, Xuân Lộc (huyện Phú Lộc)… khoảng 1.025 héc-ta đất rừng, ước tính khoảng 65 tỷ đồng.
Về vấn đề này, ông Võ Quang Vinh - Giám đốc Ban Đầu tư và xây dựng NN&PTNT, thuộc Sở NN&PTNT tỉnh Thừa Thiên - Huế, cho biết: “Hiện không thể lấy đất từ các lâm trường để cấp đất cho bà con vì phần quỹ đất này đã cạn kiệt. Về phía tỉnh cũng đang cố gắng huy động các nguồn vốn để hỗ trợ tiền thay đất đồng thời tìm các giải pháp để giúp cải thiện cuộc sống của người dân ở các khu TĐC…” (Công An Nhân Dân 8/10) đầu trang(
“Nhà báo về nhanh đi, họ phá hết rừng thông trên núi Phước Tượng rồi. Đến chiều nay, khu rừng thông ở quê em sẽ trụi”. Một người dân trong vùng bức xúc cầu cứu nhà báo chứng kiến vụ tàn phá rừng thông ở núi Phước Tượng, xã Lộc Trì (Phú Lộc) cuối tháng 9 vừa qua.
Trong vai người đi mua gỗ, PV có mặt tại hiện trường chứng kiến hàng trăm gốc thông từ 20-30 cm bị đốn hạ ngổn ngang còn ứa nhựa tươi mà xót xa. Cả “đội quân” ngang nhiên mở đường, đưa xe đến tận nơi đốn hạ thông có tuổi đời trên 25 năm như đi thu hoạch lúa chín cuối vụ. Được biết, rừng thông trên lưng đèo Phước Tượng được trồng từ năm 1986 theo dự án PAM, nhằm tạo cảnh quan, chống xói, bảo vệ môi trường và đã giao cho người dân thôn Phước Tượng quản lý, bảo vệ từ năm 2009.
Anh Nguyễn Văn K., một thanh niên ở Phước Tượng, nói: “Tôi được biết rừng này là rừng cấm, bởi qua nhiều cuộc tiếp xúc cử tri, chính lời Bí thư Huyện ủy Phú Lộc - Hoàng Văn Giải khuyến cáo, không một ai tùy tiện khai phá, mọi người dân trong vùng phải chăm lo, bảo vệ rừng thông trên đèo Phước Tượng”.
Chứng kiến khu rừng thông bị phá, PV thông tin với ông Lưu Bình Mỹ - Trưởng thôn Phước Tượng. Ông Mỹ lúc này đang ngồi nhâm nhi cà phê trong quán nhỏ ở bên chân núi Phước Tượng nói: “Tui không biết”. Khi liên lạc với Chủ tịch UBND xã Lộc Trì, Trần Xuân Diệu, vị này vẫn trong tâm trạng bình thản, chẳng sốt ruột: “Họ đang đốn hạ vài cây thông để giải phóng mặt bằng thi công đường vào hầm đường bộ Phước Tượng”.
Vụ phá rừng thông trên núi Phước Tượng không phải là trường hợp cá biệt. Giữa tháng 8 vừa qua, ở thôn Thanh Tân, xã Phong Sơn, huyện Phong Điền đã diễn ra vụ phá rừng tương tự. Hàng loạt cây cổ thụ to lớn nằm phạm vi 156 ha đã giao cho cộng đồng thôn quản lý, bảo vệ từ năm 2011 đã bị lâm tặc tàn phá, cưa thành những súc gỗ dài 2-3m.
Tại hiện trường, việc phá rừng diễn ra trong thời gian dài, lâm tặc đã mở đường, đưa xe vào vận chuyển gỗ nằm ngay bên cạnh những khu vực rừng trồng kinh tế, hàng ngày đông người dân ra vào, thế nhưng chẳng gặp phải sự trở ngại nào từ thôn, xã và lực lượng kiểm lâm. Điều đáng nói, từ vị trí khu rừng bị tàn phá theo một con đường chưa đến 2 cây số là trụ sở UBND xã và cách đó không xa là trạm kiểm lâm Phong Sơn, thuộc hạt kiểm lâm Phong Điền - lực lượng cùng ăn cùng ở với rừng vẫn không hay.
Ông Nguyễn Bá Nam, Phó Chủ tịch UBND xã Phong Sơn nói: “Thực trạng phá rừng ở thôn Thanh Tân là do một phần thiếu trách nhiệm của chính quyền địa phương. Chúng tôi sẽ phối hợp với cơ quan chức năng điều tra, xử lý nghiêm những đối tượng vi phạm”.
Còn ông Mai Chiến, Trưởng Hạt Kiểm lâm Phong Điền, thừa nhận: “Đây là bài học kinh nghiệm cho cá nhân tôi, người đứng đầu có trách nhiệm trong kiểm lâm Phong Điền và cũng như các anh em trong đơn vị. Riêng trạm kiểm lâm Phong Sơn, nơi đã xảy ra sự việc, chúng tôi kiểm điểm gắt gao các nhân viên đã để lâm tặc vào phá rừng”.
Để xảy ra tình trạng chặt phá rừng ở Phước Tượng, Lộc Trì hay ở Thanh Tân, Phong Sơn chủ yếu công tác quản lý, bảo vệ rừng của cộng đồng, chính quyền địa phương và đơn vị chức năng đã buông lỏng, thờ ơ và đùn đẩy trách nhiệm nhau. Mỗi đơn vị, cá nhân tự hỏi lâm tặc trong hai vụ phá rừng trên là ai, đối tượng nào đã hiên ngang, công khai như vậy? (Báo TT- Huế 9/10) đầu trang(
Tình trạng phá rừng ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn (Lào Cai) vẫn đang diễn ra và còn phức tạp hơn kể từ khi “ông trùm pơmu”, Nguyễn Văn Xuyên bị bắt.
Khi Nhà nước còn cho phép tổ chức, doanh nghiệp khai thác rừng tự nhiên tại huyện Văn Bàn. Dưới vỏ bọc vững chắc là Chủ nhiệm Hợp tác xã Ngọc Lợi, xã Liêm Phú, huyện Văn Bàn - Nguyễn Văn Xuyên đã mở một xưởng mộc lớn ngay giáp bìa rừng tại xã Liêm Phú, để thu gom và buôn bán gỗ pơmu. Số gỗ này được Xuyên đứng ra thu mua chủ yếu là của người dân, chỉ số ít là mua thanh lý của UBND huyện và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Văn Bàn, rồi sau đó bán ra thị trường.
Một thời gian, khi Khi tỉnh Lào Cai có chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên, nguồn hàng vì thế mà khan hiếm, hoạt động vận chuyển, tàng trữ gỗ pơmu gặp khó khăn. Nguyễn Văn Xuyên đã kịp thời lập một “biệt xưởng” tại xã Liêm Phú mà bỏ hẳn xưởng mộc giáp bìa rừng. Để “che mắt thiên hạ”, Xuyên cho dựng lên một trại chăn nuôi lợn nổi giữa ao cá trước cửa “biệt xưởng”.
Trong quá trình vận chuyển gỗ, Xuyên tỏ ra rất tinh vi. Không có giấy phép khai thác gỗ rừng tự nhiên, Xuyên trang bị “bảo bối” bằng các hợp đồng thanh lý gỗ của tổ chức hợp pháp để lấy cớ. Với mánh khóe hoạt động gian xảo, Xuyên đã vận chuyển bán ra thị trường một khối lượng gỗ lớn, nhưng sau một thời gian hoạt động y đã bị cơ quan Công an tỉnh Lào Cai bắt giữ.
Hơn 1 tháng sau khi “ông trùm gỗ pơ mu” đưa tay vào còng số 8, cơ quan công an đã khởi tố 2 bị can có liên quan là cán bộ Hạt Kiểm lâm Văn Bàn, cùng với đó là một số người có liên quan bị xử lý, như Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện bị đình chỉ công tác đến lần thứ 2 để phục vụ công tác điều tra vụ án.
Tuy nhiên, sau khi phía hạ huyện, địa bàn hoạt động trước đây của “ông trùm pơmu” Nguyễn Văn Xuyên nay đã có vẻ yên ắng hơn, thì phía thượng huyện thuộc các tiểu khu giáp ranh với xã Minh Lương, Nậm Xây, Nậm Xé và huyện Than Uyên (Lai Châu), Mù Cang Chải (Yên Bái) tình trạng khai thác rừng trái phép lại đang có dấu hiệu “nóng” lên.
Hoạt động “rút ruột trái phép” Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn buộc chính quyền địa phương, Ban quản lý Khu Bảo tồn phải thừa nhận, khi trận lũ lớn ngày 5/9 đã phơi bày một phần thực trạng này. Rất nhiều gỗ quí theo nước lũ trôi xuống hạ lưu suối Nậm Mu, khu bãi bồi các cánh đồng thuộc xã Minh Lương, Nậm Xé và chất ngổn ngang trên các con suối bắt nguồn từ vùng lõi của Khu Bảo tồn. Người dân địa phương nô nức đi thu lượm gỗ tròn, gỗ vuông “từ trên trời rơi xuống”, có nhóm lượm được cả chục m³ gỗ quí như pơmu, giổi, thông… Đây là số gỗ đã bị đốn hạ trái phép trên rừng tự nhiên nhưng chưa kịp chuyển về thì bị mưa lũ “bóc mẽ”.
Hai ngày sau cơn lũ (7/9) , trên co suối Nậm Mu chảy qua địa phận xã Nậm Xé được xem như là "đại công trường", tiếng cưa máy rền vang, hàng trăm người dân đang thu “chiến lợi phẩm của rừng ban tặng”, mọi phương tiện được huy động để chuyển về các thôn, bản.
Mặc dù, trước đó, ngày 6/9, Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn, Hạt Kiểm lâm huyện Văn Bàn và chính quyền xã Nậm Xé đã phong tỏa một đoạn suối Nậm Mu để triển khai thu hồi số gỗ trôi từ rừng xuống. Nhân lực mỏng, trong khi người dân mót gỗ đông, nhưng tổng khối lượng gỗ mà các lực lượng thu gom được vẫn lên tới hơn 22 m3, hầu hết số gỗ này đều từ nhóm 1 - 7.
Tuy nhiên, trước tình trạng khai thác gỗ trái phép trên, ông Vũ Đình Duyền, Trưởng Ban quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn vẫn chưa có câu trả lời thích đáng.
Hiện, các cơ quan chức năng của tỉnh Lào Cai đang phối hợp tiến hành điều tra nhằm ngăn cản, xử lý triệt để tình trạng khai thác, buôn bán lâm sản trái phép tại Văn Bàn. (Đời Sống&Pháp Luật 8/10) đầu trang(
CA huyện Như Xuân, Thanh Hóa vẫn đang tích cực điều tra vụ phá gần 10 ha rừng tại xã Xuân Hòa, thì phía Chi cục kiểm lâm (KL) tỉnh Thanh Hóa đã thi hành kỷ luật và luân chuyển hàng loạt cán bộ kiểm lâm khác.
Theo đó, trong vòng tháng 5-2013, người dân phát hiện tại khu vực khoảnh I, tiểu khu 6A32, thuộc địa bàn xã Xuân Hòa, huyện Như Xuân, Thanh Hóa đã xảy ra hiện tượng trên dưới 10 ha rừng bị tàn phá.
Qua xác minh điều tra, phía KL Như Xuân đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc trên tới cơ quan CA huyện Như Xuân để tiến hành điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Tuy nhiên, trong quá trình cơ quan CA huyện Như Xuân đang điều tra và hoàn thiện hồ sơ để xử lý các đối tượng có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vụ phá hàng chục ha rừng, thì mới đây Chi cục KL tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành xét và kỷ luật nhiều cán bộ KL của Hạt KL huyện Như Xuân, Thanh Hóa.
Được biết, sau việc thi hành kỷ luật đối với chỉ huy đơn vị và các cán bộ KL phụ trách địa bàn, phía Chi cục KL tỉnh Thanh Hóa cũng tiến hành luân chuyển nhiều cán bộ KL khác của đơn vị này.
Được biết, thời gian qua trên địa bàn huyện Như Xuân liên tiếp xảy ra những vụ việc phá rừng quy mô lớn, thu giữ hàng trăm mét khối gỗ các loại, điều này đồng nghĩa với hàng trăm ha rừng nguyên sinh bị tàn phá, gây một hệ lụy đối với đời sống người dân, tác động xấu tới môi trường.
Trước đây một đơn vị Công an đóng trên địa bàn này chỉ “sơ suất” để lâm tặc cưa mất dăm cây gỗ cũng bị phạt tới mười bảy triệu đồng. Trong khi đó, hiện tượng phá rừng tràn lan mà Trưởng Ban chỉ đạo 12 của huyện này vẫn chưa bị phía UBND tỉnh Thanh Hóa nhắc nhở!?.
Tương tự vụ việc phá rừng ở huyện Như Xuân vào trung tuần tháng 7-2013, mới đây, cơ quan CA Thanh Hóa đã bắt giam một đối tượng là công dân huyện Nghĩa Đàn đã tới khu vực sông Chàng, Như Xuân phá rừng và tiếp tục điều tra những cán bộ bảo vệ rừng của Ban QLBV rừng phòng hộ Sông Chàng có tiếp tay cho lâm tặc phá rừng? (Pháp Luật&Xã Hội 9/10) đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
NXD biết chuyện người dân xã Ba (H. Đông Giang, Quảng Nam) đang phá rừng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà- Núi Chúa (H. Hòa Vang, Đà Nẵng) không?
- Thật không đó?
- Chuyện thật 100%.
- Răng?
- Số là ở quê Hai Dốc Kiền có 7 lao động được một người tên Ca (nghe đâu ở H. Hòa Vang) thuê vào Tiểu khu (TK) 54 (nằm trên địa bàn thôn Phú Túc, xã Hòa Phú, H. Hòa Vang) khai thác gỗ trái phép. Sáng, họ đùm cơm đi từ làng Phú Son (xã Ba) qua vùng giáp ranh khai thác gỗ. Chiều, họ dùng trâu kéo ra, rồi tập kết ở cuối thôn Dốc Kiền (xã Ba) chờ vận chuyển.
Để xác minh thông tin do Hai Dốc Kiền cung cấp, NXD cùng một số người dân tìm đường vào TK 54 do Hạt Kiểm lâm Bà Nà- Núi Chúa quản lý để "mục sở thị". Quả thật, nhiều gốc cây hàng chục năm tuổi đã bị "lâm tặc" triệt hạ, nhiều vạt rừng mòn nhẵn thành đường do kéo gỗ tạo nên, còn vỏ chai đựng xăng chạy máy cưa lốc nằm lăn lóc...
Với những gì ghi nhận được tại hiện trường, NXD nghĩ, ngoài việc công tác phối hợp quản lý, bảo vệ rừng giữa 2 địa phương Đà Nẵng và Quảng Nam chưa được chặt chẽ, chủ rừng còn thiếu trách nhiệm kiểm tra, bảo vệ lâm phận của mình. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương cũng chưa thực sự phát huy, coi công tác quản lý bảo vệ rừng chủ yếu là của chủ rừng và lực lượng kiểm lâm nên tình trạng "chảy máu" rừng ở địa phương này vẫn xảy ra. (Công An Đà Nẵng 8/10) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Với số lượng các vụ buôn lậu ngà voi (hàng hóa vi phạm Công ước CITES) đang gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây, có hai vấn đề đặt ra là: Các Chính phủ quản lý số hàng tịch thu này như thế nào và cần làm gì với số hàng bị thu giữ?
Ngày 30-4-2013, Hải quan Hồng Kông (Trung Quốc) đã bắt giữ 113 kg ngà voi với trị giá ước tính trên thị trường chợ đen lên đến 3 triệu Đô la Hồng Kông (tương đương 386.000 Đô la Mỹ). Chuyến hàng vận chuyển qua đường hàng không và có nguồn gốc từ Burundi. Tuy nhiên, từ lâu Burundi đã không còn voi và được biết đến như là nơi lưu giữ một số lượng lớn ngà voi, vì thế có khả năng là số ngà voi bị thu giữ ‘rò rỉ” từ đây.
Burundi không phải là quốc gia duy nhất gặp khó khăn trong việc lưu giữ ngà voi khi số hàng này thường xuyên bị lấy trộm và bán trái phép ra ngoài thị trường. Các quốc gia và vùng lãnh thổ ở châu Á khác cũng tiến hành các vụ bắt giữ ngà voi như Hồng Kông (Trung Quốc), Malaysia, Thái Lan và Việt Nam, hay như các quốc gia khác ở châu Phi- nơi nạn săn bắn trộm diễn ra thường xuyên, cũng phải đối mặt với khó khăn tương tự.
Tại Hồng Kông, sau khi bị thu giữ, số ngà voi được lưu giữ trong các kho đặt dưới sự quản lý của Cục Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Bảo tồn với sự canh gác của lực lượng bảo vệ và có camera giám sát. Tuy nhiên, khả năng bảo vệ hàng hóa bị thu giữ tùy thuộc rất nhiều vào từng quốc gia.
Theo đánh giá của đại diện TRAFFIC tại Hội nghị lần thứ 6 của các bên tham gia Công ước CITES tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 3-2013, các biện pháp bảo vệ sản phẩm làm từ các loài quý hiếm cần được bảo vệ theo Công ước này vẫn chưa được quan tâm thích đáng. Các quốc gia chưa có quy trình điều tra, thu thập chứng cứ phù hợp để truy tìm nguồn gốc của số hàng hóa buôn lậu, đồng thời các biện pháp bảo vệ chưa được quan tâm đúng mức.
Theo Ban Thư ký CITES, hàng năm, tại châu Phi có một lượng lớn hàng hóa tịch thu biến mất khỏi kho chứa. Từ năm 2010, Zambia đã mất khoảng 3 tấn ngà voi và dường như số hàng này đã bị tuồn ra thị trường chợ đen. Trong khi đó, vào tháng 2-2012, các cơ quan chức năng của Mozambique đã thông báo 266 mảnh ngà voi, với trọng lượng gần 1 tấn đã biến mất khỏi kho hàng ở thủ đô Maputo.
Cơ quan chức năng nghi vấn số hàng này có thể được tuồn sang Thái Lan hoặc Philippines. Điều quan trọng là những vụ việc nhu vậy cần được thông báo rộng rãi để cảnh báo các quốc gia khác có biện pháp ngăn chặn những vụ việc tương tự xảy ra nhất là thực thi Liêm chính Hải quan để ngăn chặn hành vi tiếp tay cho buôn lậu.
Các quốc gia đang tìm kiếm sự hỗ trợ và tư vấn về quản lý rủi ro trong lĩnh vực kiểm soát hải quan có thể tham khảo tài liệu Hướng dẫn thực hành kiểm soát hải quan (COPES) bằng 5 thứ tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Serbi và Ả rập do Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) ấn hành.
Tài liệu nêu rõ nếu cơ quan Hải quan thực hiện các biện pháp kiểm soát chặt chẽ, với sự hợp tác hiệu quả trong và ngoài nước, kết hợp với kiểm toán nội bộ (kiểm tra liêm chính) thì nguy cơ về rủi ro liêm chính sẽ không có cơ hội phát sinh. Mới đây, tài liệu này đã được bổ sung với hướng dẫn về quản lý hàng hóa bị thu giữ và bảo đảm an toàn cho nhân viên Hải quan trong quá trình kiểm soát và ngăn chặn hành vi phạm tội.
Để xác định hàng hóa có thuộc Công ước CITES và được lấy từ kho giữ hàng vi phạm do cơ quan chức năng quản lý hay không, các cơ quan chính phủ cần công khai thông tin về hàng hóa bị bắt giữ. Hiện nay, theo quy định của Công ước quốc tế, các quốc gia chỉ phải cung cấp thông tin về trọng lượng hàng hóa bị thu giữ, nhưng những thông tin như số lượng của từng loại hiện vật, trọng lượng của từng hiện vật… sẽ giúp cơ quan Hải quan dễ dàng xác định tuổi, giới tính của loài động vật bị giết và đối chiếu với cơ sở dữ liệu về hàng hóa thu giữ.
Đối với mặt hàng ngà voi, việc phân tích gen cho phép xác định nguồn gốc của ngà voi. Trong phiên làm việc đầu năm 2013, các đại biểu tham dự Hội nghị của CITES nhất trí rằng các bên liên quan khi thực hiện bắt giữ một số lượng ngà voi nhất định (có thể từ 500 kg trở lên) cần lưu giữ mẫu vật trong 90 ngày và nếu có thể, sẽ lưu giữ mẫu vật trong 24 tháng đối với những vụ bắt giữ số lượng lớn. CITES cũng khuyến nghị các bên tham gia tăng cường hệ thống phân tích để xác định nguồn gốc, tuổi của các loài là tang vật thu giữ nhằm giúp đỡ quá trình điều tra, phá vỡ các đường dây tội phạm.
Để giảm bớt chi phí của việc lưu giữ hàng hóa vi phạm, một số quốc gia đã lựa chọn giải pháp hủy tang vật (như đốt hoặc nghiền hàng hóa vi phạm). Giải pháp này cũng nhận được sự đồng thuận của các tổ chức môi trường và bảo tồn thiên nhiên quốc tế.
Hiện nay, nhóm 8 quốc gia bao gồm Trung Quốc, Kenya, Malaysia, Philippines, Tanzania, Thái Lan, Uganda và Việt Nam đang được CITES đánh giá là những điểm nóng của buôn lậu ngà voi và cần có những biện pháp cụ thể để giảm bớt tình hình buôn lậu ngà voi trong vòng 12 tháng tới đây. (Hải Quan 8/10) đầu trang(
Số lượng các loài động vật sinh sống trên Trái Đất đang giảm nhanh, đặc biệt là động vật có vú khi hiện có khoảng 1/5 các loài động vật đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Đây là cảnh báo của giới chuyên gia đưa ra ngày 4-10 nhân Ngày thế giới bảo vệ động vật.
Quỹ bảo vệ động vật quốc tế, cho biết các loài động vật như tê giác, voi, hổ đang đứng trước nguy cơ bi tuyệt chủng̣. Trên thế giới chỉ còn lại 2.700 con hổ. Ở vùng Viễn Đông của Nga hiện có gần 400 con hổ Amur.
Ngoài ra, ở khu vực này còn có loài báo hoa mai tuyệt đẹp, nhưng nay cũng chỉ còn khoảng 30-40 con. Linh dương Saiga 20 năm trước đây đã có khoảng 2 triệu con thì nay cũng bị giảm mạnh. Trên lãnh thổ Nga hiện có đàn linh dương Saiga từ 3.000-5.000 con, trong tổng số 180.000 con trên toàn thế giới. Số lượng gấu Bắc Cực và hải mã sống ở biển Laptev cũng đang giảm dần.
Tính đa dạng của thế giới động vật bị giảm nhanh chủ yếu là do tác động của con người. Hiện tượng biến đổi khí hậu làmTrái Đất ấm lên đã dẫn đến kết quả làm tuyệt chủng một số loài động vật. Hơn nữa, nạn phá rừng và giết hại động vật hoang dã đang hoành hành khắp nơi trên thế giới cũng góp phần không nhỏ khiến số lượng động vật giảm mạnh. (Tuổi Trẻ 8/10) đầu trang(
Hải quan Hồng Kông (Trung Quốc) vừa phá vỡ một đường dây buôn lậu ngà voi có quy mô lớn vào nước này, phát hiện 3 lô hàng chứa 189 chiếc ngà voi (nặng khoảng 769 kg) giấu trong 3 container 20 feet. Đây là lần thứ 3 mà Hải quan Hồng Kông bắt trong 3 tháng gần đây.
Các container được khai báo là đậu tương đến từ Bờ Biển Ngà (Tây Phi) qua Malaysia vào ngày 14 và 19-9-2013. Trên thị trường chợ đen trị giá của lô hàng ngà voi này khoảng 11,5 triệu đô la Hồng Kông.
Hải quan Hồng Kông cho biết các container đã được chọn ra để kiểm tra X-quang vì họ nghi ngờ những lô hàng đậu tương này bởi nó rất hiếm khi được nhập khẩu từ Bờ Biển Ngà.
Sau khi kiểm tra các container, lực lượng Hải quan đã tìm thấy các ngà voi nguyên chiếc và một số mảnh vụn được bọc trong các túi vải và túi nylon giấu tận trong cùng của container, ẩn dưới các túi đậu tương. Một số ngà được tìm thấy đo được chiều dài hơn hai mét.
Hải quan Hồng Kông nghi ngờ một tổ chức buôn lậu quốc tế đã đứng đằng sau ba lô hàng trên vì người gửi hàng là như nhau. Thay vì một lô hàng, những kẻ buôn lậu đã giấu vào 3 lô hàng trên các tàu khác nhau nhằm tránh sự phát hiện của Hải quan. Đây là lần đầu tiên Hải quan Hồng Kông phát hiện ngà voi được nhập lậu từ Bờ Biển Ngà và Hồng Kông sẽ là điểm trung chuyển cho một quốc gia nào đó ở châu Á.
Hải quan Hồng Kông đã ngăn chặn hai lô hàng ngà voi với tổng khối lượng 4,4 tấn trong tháng 7 và 8. Trước đó họ cũng đã bắt giữ 1,3 tấn ngà nhập lậu trong tháng 1.
Năm 2012, Hải quan Hồng Kông cũng đã chặn 3 lô hàng với tổng số 5,1 tấn ngà ngà voi bất hợp pháp. (Hải Quan 5/10) đầu trang(
Các nhà khoa học vừa phát hiện con thằn lằn Pinocchio với chiếc mũi dài được cho là đã tuyệt chủng cách đây 50 năm tại một khu rừng sương mù ở Ecuador.
Ông Alejandro Arteaga, người đồng sáng lập công ty giáo dục và du lịch sinh thái Tropical Herping, cho biết một nhóm các nhiếp ảnh gia và các nhà nghiên cứu đã tìm thấy loài thằn lằn Pinocchino sau ba năm năm tìm kiếm.
Khi được phát hiện, con thằn lằn Pinocchio đực đang bám vào cành cây một đoạn rừng sương mù hoang sơ ở tây bắc Ecuado. Họ đã tiếp tục theo dõi và chụp ảnh con thằn lằn suốt đêm, LiveScience cho hay.
Ông Alejandro và các đồng nghiệp của mình rất quyết tâm tìm kiếm thằn lằn Pinocchio vì đây là con thằn lằn cuối cùng họ cần có để hoàn thành cuốn sách "Những loài bò sát và lưỡng cư ở Mindo" do nhóm nghiên cứu thiện hiện.
Thằn lằn Pinocchio là một loài thằn lằn nhỏ được đặt tên theo cậu bé người gỗ Pinocchio. Chúng được phát hiện lần đầu vào năm 1953, tuy nhiên trong khoảng thời gian từ năm 1960 đến năm 2005 thì không còn thấy nữa. Phần mũi kéo dài của Pinocchio đực là một đặc điểm dễ nhận dạng của loài thằn lằn này, giúp nó lựa chọn bạn tình phù hợp.
Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) cho biết, thằn lằn Pinocchio đang trong tình trạng nguy cấp và chỉ được tìm thấy tại bốn địa điểm trên khắp thế giới. Điều này cho thấy thằn lằn Pinocchio có phạm vi sinh sống nhỏ nhất so với bất kỳ loài thằn lằn nào trên thế giới. (Vnexpress.net 9/10) đầu trang(
Một bức ảnh cho thấy 6 trong số 22 con cá voi hoa tiêu vây dài ngày hôm 7/10 trôi dạt vào bãi biển Manon Beach ở La Coruna, Galicia, Tây Ban Nha.
Mười một con cá voi trong số này đã chết khi dạt vào bờ biển và những con còn lại đã chết sau đó, bất chấp những nỗ lực cứu hộ của cảnh sát, các nhà bảo vệ môi trường và các nhà nghiên cứu động vật có vú ở Galicia.
Cá voi hoa tiêu vây dài là loài động động vật có tính gia đình và cộng đồng rất cao và chúng thậm chí sống rất thân thiện với loài cá heo mũi to. Tuy nhiên, các nhà chức trách Tây Ban Nha chưa biết nguyên nhân tại sao một số lượng lớn cá heo bị cùng lao lên bờ biển.
Một số nhà sinh vật học đã đưa ra giả thuyết rằng nếu một con cá voi đầu đàn bị ốm và dạt vào bãi biển, những con cá voi khác trong nhóm sẽ bơi theo bởi vì cấu trúc xã hội của loài này và chúng cũng bị mắc cạn theo.
La Coruna là một địa điểm hấp dẫn khách du lịch ở Tây Ban Nha. Các công ty du lịch địa phương thường cung cấp những tour xem cá voi trên biển cho những du khách tới tham quan khu vực này. (Người Đưa Tin 8/10) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa