|
Ngày 08 tháng 10 năm 2013
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Thời gian qua, nhờ làm tốt công tác tuyên truyền Luật Bảo vệ và Phát triển rừng tới người dân, nên những cánh rừng trên địa bàn Xã Huổi Lèng (huyện Mường Chà) thêm xanh tốt, tỷ lệ che phủ rừng đạt hơn 42%. Đặc biệt, khi được hưởng lợi từ chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), bà con càng tích cực khoanh nuôi, bảo vệ rừng hơn.
Ông Hạng Sáy Dua, Chủ tịch UBND xã Huổi Lèng cho biết: Người dân chủ yếu sống bằng nghề nông, lâm nghiệp, đời sống còn nhiều khó khăn nên việc được nhận tiền DVMTR sẽ giúp bà con có thêm thu nhập từ rừng chắc chắn sẽ giữ rừng tốt hơn. Với khoản tiền được nhận do Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên chi trả hằng năm không chỉ góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho bà con mà còn nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ rừng, giảm thiểu tình trạng lấn chiếm rừng làm nương, khai thác rừng trái phép. Hiện nay, người dân trong xã đang quản lý, bảo vệ rừng theo mô hình lâm nghiệp cộng đồng.
Để người dân hiểu về chính sách chi trả DVMTR, chính quyền địa phương tích cực phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Mường Chà, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến các hộ nhận khoanh nuôi, bảo vệ rừng. Từ đó giúp bà con nâng cao nhận thức và xác định vai trò, trách nhiệm của mình tham gia tuần tra, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hành vi xâm phạm trái phép hoặc gây hại đến rừng và đất rừng trên địa bàn.
Ông Hạng Nhìa Lồng, Trưởng bản Trung Dình, xã Huổi Lèng cho biết: Bản có 106 hộ nhận khoán bảo vệ 790ha rừng theo hình thức cộng đồng đủ điều kiện cung ứng chi trả tiền DVMTR. Ngoài số tiền chương trình Nhà nước hỗ trợ bảo vệ rừng, vừa qua bà con được nhận tiền chi trả DVMTR nên bà con phấn khởi lắm.
Để bảo vệ rừng, hằng năm, bước vào mùa hanh khô, bản cắt cử các hộ tham gia trực cháy cũng như tiến hành chữa cháy khi xảy ra cháy rừng ở khu vực nhận khoán và hỗ trợ các tổ, đội khác chữa cháy theo sự huy động của chính quyền địa phương... Nhờ triển khai chặt chẽ các bước tiến hành trong công tác giao khoán quản lý bảo vệ rừng, mà diện tích rừng của các hộ nhận giao khoán theo chính sách chi trả DVMTR không bị xâm hại.
Gia đình anh Hạng A Tùa, bản Trung Dình được nhận 1,6 triệu đồng tiền chi trả tiền DVMTR đợt 1 năm 2013. Anh Tùa phấn khởi cho biết: Tham gia nhận khoán bảo vệ rừng đầu nguồn, mình cùng các hộ trong bản thường xuyên có mặt tại khu vực rừng của gia đình để kiểm tra, nhằm kịp thời phát hiện và ngặn chặn những trường hợp xâm hại đến diện tích rừng. Số tiền được Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên chi trả sẽ giúp gia đình khắc phục phần nào khó khăn, nhất là trong những ngày giáp hạt.
Theo bà Đinh Thị Thu Hà, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên, chính sách chi trả DVMTR được kỳ vọng sẽ tạo bước ngoặt trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn toàn tỉnh. Bởi đây là nguồn lực quan trọng thúc đẩy thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng. Quỹ là đơn vị ủy thác thực hiện chi trả gián tiếp phí của bên sử dụng DVMTR tới bên cung ứng DVMTR, đảm bảo kịp thời, đầy đủ đúng quy trình.
Hiện nay, việc chi trả được áp dụng theo mức 350.000 đồng/ha/năm, chia ra làm 2 đợt, đợt 1 chi trả 70% số tiền được hưởng, đợt 2 sẽ chi trả nốt 30% vào cuối năm sau khi có kết quả nghiệm thu đánh giá chất lượng rừng, công tác quản lý bảo vệ của chính quyền địa phương và cơ quan chức năng. Việc chi trả phí DVMTR góp phần nâng cao ý thức của cộng đồng thôn bản, hộ gia đình trong việc quản lý, bảo vệ rừng.
Theo bà Hà thì, với việc triển khai chi trả phí DVMTR ở tỉnh ta nói chung và tại xã Huổi Lèng nói riêng đang được thực hiện, sẽ góp phần mang lại những chuyển biến tích cực trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Đây cũng là một cách chia sẻ lợi ích để triển khai tốt công tác quản lý, bảo vệ phát triển rừng bền vững. (Báo Điện Biên 7/10) đầu trang(
Theo Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng Quảng Nam giai đoạn 2011-2015, toàn tỉnh sẽ có 394km đường lâm nghiệp được xây mới, sửa chữa; Nhà nước sẽ giao 297.520ha đất lâm nghiệp cho các Ban Quản lý rừng, 60.720ha cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình; tiến hành lập thủ tục xin cấp chứng chỉ rừng đạt tiêu chuẩn quốc tế cho 130ha tại huyện Hiệp Đức.. (Hội nông dân VN 7/10) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Có thể nói cơn bão số 10 đi qua được xem như bản phản biện xác thực nhất cho tính hiệu quả và bền vững của mô hình phát triển cao su ào ạt ở miền Trung nói chung và Quảng Trị nói riêng thời gian qua.
Ngày 3/10, Sở NN-PTNT Quảng Trị xin khẩn cấp 2,5 tỷ đồng mua gần 5 tấn mỡ zenlin giúp bà con nông dân khắc phục kỹ thuật cho vườn cao su bằng cách bôi vào các vết gãy chống lở loét. Bão số 10 làm gãy đổ gần 10 ngàn ha cao su của Quảng Trị, nặng nhất ở huyện Vĩnh Linh, nhiều nông dân trồng cao su trở nên trắng tay.
Quảng Trị bắt đầu phát triển cao su tiểu điền từ 17 năm trước. Việc chọn cây trồng nào chủ lực là một câu chuyện đầy trăn trở của tỉnh Quảng Trị suốt cả thời gian dài. Đến năm 1996, tỉnh Quảng Trị có chủ trương cấp bù lãi suất vay ngân hàng cho bà con nông dân phát triển cao su tiểu điền. Chính sách này thực hiện tại huyện Vĩnh Linh từ 1996 đến năm 2003, một vài địa phương khác đến năm 2006.
Chủ trương này ra đời như một luồng sinh khi mới. Khắp nơi, nông dân đua nhau khai phá đất đồi hoang trồng cao su. Chỉ sau vài năm những đồi cỏ tranh đã được thay bằng màu xanh bạt ngàn của cây cao su. Không chỉ khai hoang đất mới, những diện tích đất canh tác đang được nông dân trồng các loại cây màu, cây công nghiệp ngắn, dài ngày khác cũng được chuyển sang trồng cao su.
Phải nói rằng, thời điểm trồng cao su ở Quảng Trị phát triển mạnh nhất bắt đầu từ cuối năm 1999, sau khi cơn lũ lịch sử năm ấy đã ngâm nước làm chết phần lớn diện tích hồ tiêu. Có lẽ vì vậy mà sau đó nông dân Quảng Trị chuyển hướng tập trung sang phát triển mạnh cao su. Đến nay, Quảng Trị trồng được 15 ngàn ha cao su, riêng huyện Vĩnh Linh trồng được 7.600 ha.
Còn diện tích cây hồ tiêu, một loại cây công nghiệp dài ngày khác phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu Quảng Trị, chỉ cầm chừng với diện tích khoảng 2.500 ha. Cơn bão số 10 đi qua đã phá hoại gần 2/3 diện tích cao su Quảng Trị. Trong khi đó diện tích hồ tiêu bị gãy đổ không đáng kể.
Các nhà kinh tế đã tính toán bình quân cây cao su ở huyện Vĩnh Linh có tuổi đời 12 đến 14 năm. Những chủ vườn cao su đã khai thác mủ trên diện tích này được từ 5 đến 7 năm. Với ngần ấy thời gian khai thác, nông dân huyện Vĩnh Linh đã gửi tiết kiệm được 556 tỷ đồng tại Agribank chi nhánh Vĩnh Linh. Số tiền này quá thuyết phục cho một mô hình trồng cao su để phát triển kinh tế hộ gia đình. Vì vậy, đời sống của người trồng cao su có nhiều cải thiện đáng mừng.
Song sau bão số 10, ông Lê Văn Hiền, Chủ tịch huyện Vĩnh Linh cho biết thiệt hại riêng 4.000 ha cao su trên địa bàn huyện bị gãy đổ đã lên gần 2.000 tỷ đồng. Như vậy thiệt hại gấp 3,5 lần số tiền bà con tích góp từ việc trồng cao su gửi ngân hàng.
Với nhiều nông dân, không chỉ Vĩnh Linh, mà các địa phương khác ở Quảng Trị, họ bắt đầu hoài nghi tập trung đất sản xuất trồng cao su có phải là hướng xóa nghèo bền vững hay là một canh bạc với thời tiết bất thường của miền Trung. Chị Trần Thị Hòa ở xã Vĩnh Nam, huyện Vĩnh Linh dọn dẹp vườn cây bị gãy đổ, băn khoăn cho biết có nên tiếp tục trồng cao su ở diện tích vườn đã bị gãy trên 70% nữa không hay quay trở lại trồng cây hồ tiêu?
Anh Nguyễn Văn Luyện ở xã Gio An, huyện Gio Linh, người có 10 ha cao su tiểu điền bị bão đánh te tua cho biết chi phí đầu tư ban đầu cho 1ha cao su trồng mới gồm tiền khai hoang đất 20 triệu đồng, cây giống 27,5 triệu đồng (mỗi cây giống 5 ngàn đồng), phân bón, công lao động tổng cộng khoảng 50 triệu đồng. Số tiền này chỉ bằng 1/4 so với đầu tư trồng mới 1 ha hồ tiêu. Tuy đầu tư vốn ít hơn nhưng anh Luyện rất băn khoăn có nên tiếp tục đầu tư vào cây cao su nữa không hay giữ nguyên hiện trạng đang có và trồng thêm loại cây công nghiệp khác.
Ông Hoàng Minh Thông, Giám đốc Agribank tỉnh Quảng Trị, nơi hơn mười năm nay đã đầu tư một dòng vốn lớn giúp nông dân Quảng Trị vay trồng cao su, cũng băn khoăn khi cho rằng trồng chuyên canh cây cao su trên một diện tích đất quá lớn giống như mang rủi ro đặt vào một giỏ, hỏng là bể luôn.
Hiện tại nông dân Quảng Trị đang vay nợ qua kênh của Agribank tỉnh Quảng Trị 155 tỷ đồng để trồng và chăm sóc cao su hàng năm. Ông Thông không sợ mất khoản tiền này. Mà đúng thật, nông dân dù trong hoàn cảnh nào cũng luôn tử tế, tốt bụng. Bà con có thể vì khó khăn mà trả tiền vay có chậm lại chứ không bao giờ “chạy làng” ngân hàng.
Để gỡ khó giúp nông dân trong lúc khó khăn này, ông Thông quyết định giãn nợ, kéo dài thời gian trả nợ cho bà con đã vay vốn phát triển cao su. Ông Thông cũng vừa kiến nghị Trung ương giúp Quảng Trị nguồn vốn dài hạn để đầu tư phục hồi lại nông nghiệp sau bão số 10. Còn phục hồi như thế nào phải đợi chủ trương lớn của tỉnh.
Mấy ngày này Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Quảng Trị, ông Trần Đức Nhu hết đi thăm, kiểm tra vườn cây lại gọi điện, gửi công văn đôn đốc các ngành, địa phương khẩn cấp giúp những hộ dân có diện tích cao su tiểu điền bị gãy đổ dọn dẹp vườn, hỗ trợ mỡ zenlin cho bà con bôi vào vết cạo chống lở loét, nhiễm nấm hồng và nhiều loại bệnh khác trên cây cao su. Đồng thời, khi trồng và chăm sóc, khai thác mủ phải đúng quy trình kỹ thuật để bảo vệ vườn cây phát triển bền vững.
Với chuyên môn phụ trách và tham mưu lĩnh vực trồng trọt của tỉnh, ông Nhu không phủ nhận giá trị kinh tế cây cao su mang lại cho nông dân Quảng Trị thời gian qua nhưng rất băn khoăn khi nhìn gần 10 ngàn ha cao su toàn tỉnh bị hư hại. Việc có nên trồng cao su trở lại trên những vườn cây bị gãy đổ từ 70% trở lên nữa không, ông Nhu cho đây là một dịp để tái cơ cấu lại cây trồng phù hợp nhất cho vùng đất Quảng Trị.
Cụ thể, có hai hướng, nếu trồng lại cao su thì tìm giống có tính kháng gió cao và chú ý đến kỹ thuật trồng. Song tốt nhất nên chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mà cây hồ tiêu là ưu tiên số một. Sẽ trồng dần từng năm cùng với xen canh các cây ngắn ngày như lạc, ngô cùng với trồng cỏ nuôi bò. (Nông Nghiệp Việt Nam 7/10) đầu trang(
Gỗ, sản phẩm gỗ và quặng kim loại, khoáng sản là hai nhóm hàng chính các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu từ Lào.
Theo số liệu thống kê của Hải quan Việt Nam, trong quan hệ trao đổi buôn bán hàng hóa với quốc gia láng giềng Lào, Việt Nam luôn ở trong tình trạng nhập siêu với mức thâm hụt khá cao.
9 tháng kể từ đầu năm 2013, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang quốc gia gần 7 triệu dân này là 329 triệu USD, tăng 12,3% so với kết quả thực hiện của cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó, tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ Lào vào Việt Nam đạt 394,6 triệu USD, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước.
Gỗ, sản phẩm gỗ và quặng kim loại, khoáng sản là hai nhóm hàng chính các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu từ Lào trong những năm qua, tính chung chiếm trên 80% tổng kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này.
Theo Tổng cục Hải quan, mặc dù tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Lào liên tục giữ ở mức cao trong những năm qua nhưng quy mô sản xuất sang thị trường tiềm năng này vẫn còn rất nhỏ bé. (VOV/Đất Việt 8/10) đầu trang(
Từ dự án Nông lâm kết hợp do Chính phủ Italy tài trợ thông qua Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO), gần 10 năm qua, dự án đã giúp 3.800 hộ cải tạo vườn nhà và vườn rừng theo định hướng thị trường, phát triển hệ thống dịch vụ khuyến nông-khuyến lâm.
Đồng thời dự án cũng đã giúp 6 xã Tiên Sơn, Tiên Cẩm, Tiên Hà, Tiên Phong, Tiên Thọ (huyện Tiên Phước) và Tam Lộc (huyện Phú Ninh) được hỗ trợ gần 30.000 cây giống lâm nghiệp, 34.700 cây ăn quả và hàng chục tấn phân bón.
Bên cạnh đó, hỗ trợ 5 loại hình nông lâm kết hợp như kinh tế hộ gia đình vườn nhà, kinh tế hộ gia đình vườn rừng, vườn ươm hộ gia đình, quỹ tiết kiệm và tín dụng theo nhóm hộ, doanh nghiệp nông lâm kết hợp nhóm hộ.
Dự án cũng đã hỗ trợ thành lập quỹ tiết kiệm ở 6 xã với mô hình tín dụng theo nhóm hộ, triển khai cho nông dân vay vốn quay vòng, giúp nhau cải thiện đời sống. (Chinhphu.vn 8/10) đầu trang(
Ngày 7/10, ông Lê Văn Sử, Giám đốc Sở NN&PTNT Cà Mau cho biết: Các doanh nghiệp, đơn vị và nhân dân trồng được 4.242 ha keo lai trên đất rừng U Minh hạ.
Năm 199, Bộ NN&PTNT bổ sung cây trồng trên đất rừng U Minh hạ là cây keo lai, nhiều doanh nghiệp và nhân dan trồng thử nghiệm cho kết quả cao, chu kỳ khai thác rút ngắn một nửa và giá trị kinh tế hơn 5 lần so với cây tràm bản địa. Rừng U Minh hạ 40.500 ha, diện tích có rừng 37.000 ha và hơn 3400 ha đất không có rừng. (Tiền Phong 8/10, tr2) đầu trang(
Trồng rừng phân tán là một trong những nhiệm vụ được UBND tỉnh Bắc Kạn khuyến khích các địa phương thực hiện trong các vụ trồng rừng hàng năm.
Nhiều diện tích là rừng phân tán được trồng tại các cơ quan, trường học, hè phố. Cơ cấu cây trồng rừng phân tán ở các trường học này chủ yếu là cây keo. Theo đánh giá của các địa phương, cây keo có nhiều ưu điểm như: không kén đất, lớn nhanh, không tốn nhiều công chăm sóc và không có các loại sâu bệnh gây hại nên phù hợp với việc trồng xung quanh trường học, công sở để tạo bóng mát, không khí trong lành. Bên cạnh đó cây lấy gỗ được trồng phân tán còn có nhiều ưu điểm như: cây đủ ánh sáng nên lớn nhanh; gần đường giao thông nên dễ khai thác, vận chuyển, nhờ đó có giá trị cao hơn.
Việc trồng rừng phân tán không chỉ nhằm mở rộng diện tích rừng trồng của địa phương mà còn nâng cao giá trị của các loại cây lấy gỗ.Vì vậy, trong vụ trồng rừng năm 2014, tỉnh tiếp tục khuyến khích các đơn vị đẩy mạnh thực hiện trồng rừng phân tán với kế hoạch tạm giao là gần 3.000ha. (Đài PT - TH Băc Kạn 8/10) đầu trang(
Từ nguồn vốn của Quỹ hộ trợ phát triển nông lâm nghiệp thuộc Dự án 3PAD, huyện Na Rì đã hỗ trợ cho gần 1.900 hộ gia đình vay.
Theo kế hoạch, năm 2013, Qũy hỗ trợ phát triển nông lâm nghiệp của huyện Na Rì được giao hơn 7,5 tỷ đồng để cho gần 1.900 hộ vay. Đến nay, cả 22 xã, thị trấn đều đã thực hiện giải ngân và hoàn thành thanh quyết toán lần 1 với tổng kinh phí hơn 7 tỷ đồng cho trên 1.500 hộ vay. Trong đó có hơn 680 hộ nghèo và trên 190 hộ cận nghèo.
Trong quá trình thực hiện, các cơ quan chuyên môn đã thường xuyên tiến hành kiểm tra hiệu quả sử dụng vốn vay tại các xã. Qua kiểm tra tại các hộ dân cho thấy bà con đều sử dụng vốn vay đúng mục đích và phát huy được hiệu quả. (Đài PT - TH Băc Kạn 7/10) đầu trang(
Mới đây, các nhà khoa học ở Viện Khảo cổ học đã nghiên cứu chiếc răng voi hóa thạch được phát hiện từ thời Pháp ở quận Hà Đông (Hà Nội).
Răng có kích thước khá lớn, nặng khoảng 0,42kg, cao 19cm, rộng 21cm, dày bản răng 5cm. Theo PGS, TS Trình Năng Chung, dựa vào những đặc điểm hình thái trên răng và so sánh với những tiêu bản đã được tìm thấy ở Thần Sa (Thái Nguyên) hoặc ở Hồng Lạc (Tuyên Quang) thì đây là chiếc răng hóa thạch của voi Châu Á, (Có chiều cao từ 2,5-4m, cân nặng từ 3.000 - 4.000kg).
Các nhà khoa học cho rằng, niên đại của răng voi hóa thạch này có tuổi khoảng cuối hậu kỳ Cánh tân (Pleistocene) từ 20.000-30.000 năm cách nay. Đây là trường hợp đầu tiên hóa thạch loài voi này được tìm thấy trên địa bàn Hà Nội. (Hà Nội Mới 8/10) đầu trang(
Những năm trở lại đây người dân Bắc Kạn đã không ngừng mở rộng diện tích trồng rừng, tạo việc làm, tăng thêm thu nhập, góp phần thay đổi diện mạo nông thôn trên địa bàn. Có được sự đổi thay này không thể không kể đến những đóng góp tích cực của những doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực chế biến lâm sản. Công ty cổ phần Sahabak là một trong những doanh nghiệp như thế.
Dù mới được thành lập từ tháng 9 năm 2009 nhưng những năm qua Công ty cổ phần Sahabak đã có những bước chuyển biến tích cực trong sản xuất kinh doanh. Năm 2011 nhà máy gỗ, ván thanh với công suất thiết kế 3.000m3 sản phẩm/ năm của công ty đã chính thức đi vào hoạt động. Đây có thể nói là một bước khởi đầu thuận lợi khi chỉ trong vòng 1 năm doanh thu từ nhà máy đã đạt trên 28 tỷ đồng, dự kiến trong năm 2013 con số này sẽ đạt 60 tỷ đồng.
Có nguồn nguyên liệu dồi dào, đầu ra ổn định cùng với không ngừng cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm đã tạo nên bước tiến vượt bậc trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Không chỉ tạo việc làm, tạo thu nhập hơn 3 triệu đồng/tháng cho trên 400 công nhân, hầu hết là người dân địa phương đang làm việc trực tiếp tại công ty mà nhờ việc tiêu thụ sản phẩm từ rừng của công ty nên hiện nay hàng nghìn hộ dân trên địa bàn tỉnh cũng đang có được cuộc sống đổi thay từ việc trồng rừng.
Với sản phẩm chính là thanh chi tiết đồ mộc, ván ghép thanh, ván dăm, hầu hết nguyên liệu nhà máy gỗ ván thanh sử dụng các là các loại gỗ keo có đủ tiêu chuẩn về kích thước, độ tuổi, chính vì vậy hiện nay công ty vẫn chưa tận dụng được hết nguồn nguyên liệu. Từ thực tế này dự án thành lập nhà máy sản xuất ván MDF với tổng mức đầu tư trên 1 nghìn tỷ đồng đã được khởi công xây dựng.
Dự kiến, nhà máy sẽ đi vào vận hành chạy thử trong quý IV năm 2015. Nhà máy sản xuất ván MDF đi vào hoạt động không chỉ tận dụng hết nguồn nguyên liệu phần cành, ngọn cây, phần gỗ thừa từ xưởng gỗ ván thanh mà còn tăng diện tích rừng khai thác lên khoảng 3000ha/năm.
Theo tính toán của công ty, khi 2 nhà máy cùng đi vào hoạt động sẽ tạo việc làm cho gần 3 nghìn lao động trồng, khai thác rừng và 600 công nhân sản xuất tại nhà máy, tạo thu nhập khoảng 200 tỷ đồng/năm cho người trồng rừng trên địa bàn tỉnh. Đồng thời tăng giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh Bắc Kạn khoảng 550 tỷ đồng/năm. Tuy nhiên, trước mắt công ty cũng sẽ gặp phải những khó khăn về nguồn nguyên liệu từ năm 2016 do toàn tỉnh chỉ có khoảng 3 nghìn ha keo đến tuổi khai thác trong khi 2 nhà máy sẽ cần đến 5 nghìn ha để vận hành sản xuất.
Ông Lê Viết Thắng, Giám đốc Công ty Cổ phần Sahabak cho biết: Để công ty hoạt động hiệu quả ổn định, công ty mong muốn các cấp chính quyền tạo điều kiện mở rộng thêm vùng nguyên liệu, vận động bà con trồng rừng… (Đài PT - TH Bắc Kạn 6/10) đầu trang(
Nhờ thực hiện tốt công tác tuyên truyền vận động, tăng cường tuần tra bảo vệ và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm nên từ đầu năm 2013 đến nay, ở Lâm Đồng chỉ xảy ra 1,543 vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng, giảm 15 vụ so với cùng kỳ năm 2012.
Trong đó, phá rừng gần 400 vụ, diện tích rừng bị xâm hại trên 90 ha, giảm 30ha. Trong tổng số vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng đã bị phát hiện, lập biên bản xử lý nêu trên, cơ quan chức năng đã xử lý 1.470 vụ, đạt 95%; trong số này có 1.433 vụ xử phạt hành chính , 37 vụ chuyển xử lý hình sự , tịch thu 432 phương tiện và trên 2000 m3 gỗ các loại, nộp ngân sách trên 11 tỷ đồng.
Để bảo vệ tài nguyên rừng, hạn chế các vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng; hiện nay ngành kiểm lâm đang phối hợp với các đơn vị chủ rừng, chính quyền các địa phương trong tỉnh đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động và xử lý nghiêm, xử lý kịp thời các vụ vi pháp luật bảo vệ và phát triển rừng. (Đài PT - TH Lâm Đồng 7/10) đầu trang(
Từ thông tin trên chí phản ánh về trường hợp anh Nguyễn Thanh Sang, ấp Tân Lợi (xã Tân Tuyến, Tri Tôn) nuôi thành công con vích quý hiếm, Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh kết hợp chính quyền địa phương đã đến tận nơi xem xét.
Qua kiểm tra, so sánh, đơn vị xác định đây là loài động vật quý hiếm thuộc họ rùa, giá trị rất cao, có tên trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới (nguy cơ tuyệt chủng cao), cần được bảo vệ nghiêm ngặt.
Sau khi nghe phân tích vận động, anh Sang đồng ý thả con vích về biển khơi ở TX. Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang) trong tình trạng khỏe mạnh. Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh đã hỗ trợ gia đình anh Sang tiền công nuôi và bảo vệ con vích. (Báo An Giang 6/10; Công An Nhân Dân 8/10) đầu trang(
Bằng nguồn vốn Nghị quyết 30a, Trạm Khuyến Nông khuyến lâm huyện Tu Mơ Rông đã tiến hành làm 2 mô hình trồng Sâm Ngọc Linh cho 14 hộ dân tại 3 xã với tổng số vốn 200 triệu đồng.
Hiện, Trạm đã tiến hành cấp 4000 cây Sâm Ngọc Linh giống cho 3 hộ ở thôn Kô Sia 2 xã Ngọc Lây; 5 hộ ở thôn Tân Ba, Đăk Sông xã Tê Xăng và 6 hộ ở thôn Ngọc La, Pu Tá xã Măng Ri với tổng diện tích 0,5 ha. Trạm đã hướng dẫn kỹ thuật, quy trình chăm sóc, bảo vệ cho các hộ thực hiện mô hình này. Sau này, khi mô hình thành công sẽ tiếp tục nhân ra diện rộng. Đây là việc làm rất ý nghĩa không những giúp phát triển diện tích Sâm Ngọc Linh trên địa bàn huyện mà còn hướng đi thoát nghèo cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn. (Kontum.gov.vn 7/10) đầu trang(
Cả người dân lẫn chủ rừng phòng hộ đầu nguồn Thạch Nham ở hai huyện Sơn Hà và Sơn Tây (Quảng Ngãi) đều phản đối sự xuất hiện của dự án thủy điện Sơn Trà 1 do làm mất trắng rừng phòng hộ.
Dự án thủy điện Sơn Trà 1 do Công ty CP 30-4 Quảng Ngãi làm chủ đầu tư, được tỉnh Quảng Ngãi cấp giấy chứng nhận đầu tư từ tháng 6-2010. Đến nay sau nhiều lần điều chỉnh, dự án còn công suất 42 MW, chiếm khoảng 95,4ha đất, trong đó rừng phòng hộ hơn 47ha.
Con đường từ xã Sơn Tân (huyện Sơn Tây) dẫn vào khu vực dự kiến làm lòng hồ thủy điện Sơn Trà 1 cheo leo, hiểm trở. Ông Đoàn Ngọc Thạch, trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Thạch Nham, cho biết rừng phòng hộ thuộc dự án này toàn những cây chò, gõ... loại cổ thụ. Nhiều cây to lừng lững, vài vòng tay người ôm không xuể.
Ông Thạch chỉ tay vào vạt rừng toàn cây cổ thụ trước mặt, ven con sông Xà Lò bức xúc: "Rừng tự nhiên, cổ thụ như vậy mà họ lại cho rằng rừng phòng hộ chủ yếu là rừng nhỏ, dây leo, độ che phủ thấp là không thuyết phục". Ông Thạch cho hay rừng phòng hộ Thạch Nham có trữ lượng gỗ 100-120 m3/ha, nếu làm thủy điện thì không dưới 5.600 m3 gỗ bị "xẻ thịt". Ông phân tích thêm 1ha rừng tự nhiên bằng 1ha rừng trồng trong 30 năm. Và hiện nay rừng phòng hộ đầu nguồn Thạch Nham không còn diện tích để trồng...
Ông Thạch thẳng thắn: "Đến giờ này chúng tôi vẫn giữ nguyên quan điểm không cho phép xây dựng thủy điện Sơn Trà 1. Ở đây tôi không sợ lâm tặc mà chỉ sợ dự án thủy điện được triển khai sẽ tàn phá hết rừng nguyên sinh".
Theo ông Thạch, diện tích rừng phòng hộ thực tế khi xây dựng thủy điện mất lớn hơn rất nhiều so với con số thiết kế. 47ha rừng phòng hộ bị mất như báo cáo chỉ là khu vực xây dựng lòng hồ, chưa tính các hạng mục khác.
Ông Thạch lo nếu mất rừng thì 63 hộ dân sống nhờ rừng (chăm sóc, bảo vệ rừng) sẽ bị lấy mất "nồi cơm" vì không có việc làm. Đó là chưa kể đến hơn 4km hạ lưu sông Xà Lò biến thành sông "chết" khi thủy điện chặn dòng. "Trước đó, khi họp với UBND tỉnh, tôi đã nói các anh (lãnh đạo tỉnh) phải lắng nghe, tôn trọng ý kiến của người dân, của địa phương, chủ rừng. Phải thấy được diện tích rừng bị mất và các hệ quả xã hội trước khi phê duyệt dự án".
Nhắc đến dự án nói trên, ông Nguyễn Văn Quân - phó chủ tịch UBND xã Sơn Kỳ (huyện Sơn Hà) - mệt mỏi nói khi nghe xây thủy điện, người dân rất lo. Họ lo ảnh hưởng đến môi trường, cạn kiệt nguồn nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất. Còn ông Đặng Ngọc Dũng, bí thư Huyện ủy Sơn Hà, cho rằng đến nay chủ đầu tư chưa thể hiện phương án trồng, tái tạo rừng và chưa có đánh giá tác động môi trường thì không thể triển khai dự án. Ông Dũng cũng trưng ra ba báo cáo trong năm 2013 của chính quyền huyện về dự án Sơn Trà 1. Tất cả đều nói "không" với thủy điện.
Theo ông Dũng, nếu thủy điện Sơn Trà 1 nằm ở thượng nguồn được xây dựng thì vào mùa khô, khi hồ thủy điện tích nước sẽ gây cạn kiệt ở hạ lưu. Khi đó, công trình thủy lợi Thạch Nham sẽ không đủ nước tưới cho hơn 52.000ha đất sản xuất ở đồng bằng. Ngược lại mùa lũ về, các hồ chứa đồng loạt xả nước ắt sẽ gây lũ chồng lũ cho huyện Sơn Hà.
"Chưa biết lợi ích thế nào nhưng mất rừng, thay đổi môi trường sinh thái, người dân bản địa và địa phương chịu hậu quả chứ tỉnh có chịu đâu. Huyện đã kiến nghị không triển khai dự án thủy điện Sơn Trà 1, đồng thời kiến nghị loại hết chín dự án thủy điện trên địa bàn chứ làm thủy điện mất nhiều hơn được" - ông Dũng tỏ rõ quan điểm.
Chiều 7-10, bà Đinh Thị Loan - phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi - cho biết sau khi có báo cáo của Sở Công thương cùng địa phương về dự án thủy điện Sơn Trà 1, vừa rồi UBND tỉnh đã tổ chức cuộc họp. Sau đó, chủ tịch tỉnh đã giao lại cho Sở Công thương cùng các ngành chức năng, địa phương xem xét cụ thể mọi vấn đề về dự án này. "Phải xem xét về số liệu rõ ràng, cụ thể, kiểm tra thực trạng dự án...
Sau đó Sở Công thương sẽ báo cáo lại với UBND tỉnh để ra quyết định. Bây giờ, thủy điện có nhiều vấn đề ảnh hưởng, tỉnh phải tính cho kỹ, phải kiểm tra lại hết toàn bộ. Mình phải nghe từ nhiều phía chứ không thể quyết ngay được. Giờ tỉnh phải cân nhắc mọi liên quan đến dự án thủy điện này..." - bà Loan nói. (Tuổi Trẻ 8/10) đầu trang(
Ngày 6/10, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau tổ chức đoàn công tác mời các cô, chú là cán bộ hưu trí của tỉnh đi về rừng tràm U Minh hạ để tham quan mô hình trồng rừng thâm canh và tham quan nhà máy chế biến gỗ Cà Mau.
Các cô, chú đã đến tham quan hiện trường trồng rừng tràm và keo lai theo hình thức kê líp tại các khu vực rừng do Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp U Minh hạ và các đơn vị thuê đất trồng. Đến thời điểm này, trên lâm phần rừng tràm đã có trên 4.440 ha rừng keo lai được trồng theo hình thức kê líp. Nhiều hộ dân và các doanh nghiệp thuê đất đưa cây keo lai vào trồng trên đất rừng U Minh hạ đã mở ra hướng trồng rừng gắn với chế biến lâm sản xuất khẩu và kinh doanh rừng có hiệu quả. Cây tràm bản địa vẫn được tiếp tục trồng song song với cây keo lai trên đất rừng U Minh hạ.
Chu kỳ khai thác của cây keo lai ngắn hơn cây tràm, sản lượng và lợi nhuận thu được cao hơn gấp 5 lần. Sau khoảng 5 năm trồng keo lai cho trữ lượng gỗ từ 250 đến 300 m3/ha, giá bán cũng từ 180 đến 200 triệu đồng/ha. Gỗ keo lai làm nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất giấy, ván dăm, ván nhân tạo và làm hàng mỹ nghệ xuất khẩu hiện đang được khách hàng trong và ngoài nước ưa chuộng. Gỗ keo lai đang dần thay thế được gỗ từ rừng tự nhiên vốn đã cạn kiệt.
Tuy nhiên việc đầu tư trồng keo lai cần phải đầu tư lớn, khoảng 30 triệu đồng/ha. Các doanh nghiệp thuê đất và người dân đang khó khăn về vốn để mở rộng diện tích trồng keo lai. Trong khi đó nguồn vốn vay ưu đãi sản xuất từ các ngân hàng người dân và doanh nghiệp chưa được tiếp cận nhiều. (Đài PT - TH Cà Mau 7/10) đầu trang(
Sau khi lực lượng Kiểm lâm được củng cố, kiện toàn lại, công tác phối hợp giữa các ngành, các cấp được tăng cường, tình hình vi phạm trong thời gian gần đây ở huyện Khánh Sơn đã giảm rõ rệt. Tuy nhiên, công tác bảo vệ rừng vẫn là cuộc chiến lâu dài, đòi hỏi sự nỗ lực, giúp sức của người dân và chính quyền địa phương.
Từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm huyện đã phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính 47 vụ vi phạm, giảm 11 vụ so với cùng kỳ năm 2012. Nguyên nhân số vụ vi phạm giảm là do lực lượng Kiểm lâm đã tăng cường tuyên truyền Luật bảo vệ và phát triển rừng đến người dân, vận động các đối tượng tham gia phá rừng chuyển đổi nghề nghiệp; xử lý nghiêm các cán bộ có dấu hiệu sai phạm trong thực thi nhiệm vụ. Nhưng quan trọng nhất là lãnh đạo các địa phương đã nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong hoạt động bảo vệ rừng.
Ông Tạ Quốc Phong – Phó Chủ tịch UBND xã Thành Sơn - huyện Khánh Sơn chia sẻ: "Anh em lực lượng luôn sẵn sàng trong mọi tình huống, khi có tin báo là đi tuần tra, nhiều lúc trong đêm cũng đi, luôn cơ động và thường xuyên kiểm tra tại nhiều khu vực".
Tuy nhiên, do đời sống đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây còn khó khăn, thiếu đất sản xuất, tỷ lệ thất nghiệp cao, sức hút từ lợi nhuận khai thác lâm sản rất lớn. Trong khi đó, công tác quản lý rừng ở một vài địa phương chưa thực sự quyết liệt nên một số bà con vẫn tham gia phá rừng. Đây là bài toán nan giải đối với ngành chức năng ở đây.
Ông Bùi Đức Luyến – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Khánh Sơn cho biết: "Thời gian đến, chúng tôi sẽ tăng cường xuống địa bàn, và cơ động để tăng cường kiểm tra, nhằm giảm thấp nhất tình trạng phá rừng".
Xác định giữ rừng là cuộc chiến lâu dài và gian nan, lực lượng kiểm lâm Khánh Sơn đang cố gắng thực hiện tốt mục tiêu ba giảm: "Giảm diện tích rừng bị cháy, bị phá; giảm số vụ vi phạm; giảm sai sót trong các hoạt động nghiệp vụ". Dù có thực hiện giải pháp nào để hoàn thành mục tiêu này thì quan trọng nhất vẫn là sự vào cuộc cả hệ thống chính trị thì rừng mới có cơ hội được bảo vệ… (Đài PT - TH Khánh Hòa 8/10) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, diện tích rừng bị thiệt hại là hơn 1.552 ha, trong đó nguyên nhan do cháy rừng chiếm 884,9ha, còn lại là diện tích rừng bị phá.
Riêng tháng 9 đã xảy ra 965 vụ vi phạm các quy định về bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, trong đó có 48 vụ phá rừng, 98 vụ khai thác rừng trái phép, 503 vụ vận chuyển, buôn bán lâm sản…Các cơ quan chức năng đã xử lý 955 vụ, trong đó xử lý hình sự 14 vụ, còn lại xử phạt hành chính, thu 709m3 gỗ các loại, nộp ngân sách 11 tỷ đồng.
Bộ NN&PTNT yêu cầu các tỉnh có rừng, nhất là các khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ chủ động phòng chống, chữa cháy rừng; hoàn thiện xây dựng kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng trung hạn 2014 - 2015; thực hiện dự án khuyên lâm và các dự án về bảo tồn loài voi. (Hà Nội Mới 7/10) đầu trang(
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Nghệ An, 9 tháng đầu năm 2013, tình hình mua, bán, khai thác, vận chuyển lâm sản, động vật trái phép trên địa bàn tỉnh diễn ra khá phức tạp, số vụ vi phạm có chiều hướng gia tăng so với cùng kỳ năm 2012.
Đáng báo động là tình trạng khai thác mua bán vận chuyển lâm sản trái phép. Cụ thể, từ đầu năm 2013 đến nay, qua công tác tuần tra, kiểm soát, các cơ quan chức năng đã kiểm tra, xử lý 912 vụ trong đó: Phá rừng trái phép 3 vụ; vi phạm về khai thác gỗ và lâm sản khác: 8 vụ; vi phạm công tác phòng cháy chữa cháy rừng 2 vụ; vi phạm quy định về quản lý bảo vệ động vật hoang dã 22 vụ; Mua, bán, vận chuyển lâm sản trái phép 678 vụ; Vi phạm quy định về chế biến gỗ và lâm sản khác: 82 vụ; vi phạm khác 107 vụ.
Công tác phòng cháy chữa cháy rừng, tính đến nay toàn tỉnh xảy ra 19 vụ cháy rừng với tổng diện tích 26,06 ha, trong đó diện tích rừng 10,88 ha, diện tích chưa có rừng:15,18 ha. (Công An Nghệ An 7/10) đầu trang(
Theo thống kê của các cơ quan chuyên môn, hiện diện tích đất rừng chưa giao cho các tổ chức, cá nhân mà vẫn do các địa phương quản lý trên địa bàn toàn tỉnh là trên 83.500ha. Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh Quảng Ninh, thời gian qua các địa phương đã đẩy mạnh việc giao diện tích đất này cho dân để sản xuất, tuy nhiên, đến hết tháng 9 vừa qua, kết quả đạt được chưa cao, trong đó không ít địa phương trong quá trình triển khai gặp nhiều bất cập, tồn tại.
Hoành Bồ và Ba Chẽ là hai địa phương sớm triển khai và đã đạt được một số kết quả nhất định trong việc giao đất, giao rừng, thì đến nay vẫn chưa có bước tiến nào đáng kể hơn. Cụ thể, nếu như thời điểm cách đây 3 tháng, trong khi các địa phương khác còn đang trong giai đoạn xác định diện tích thì Hoành Bồ và Ba Chẽ đã xây dựng được phương án và tiến hành giao đất rừng cho người dân.
Trong đó, riêng huyện Ba Chẽ đã giao được hơn 600ha đất rừng cho khoảng hơn 100 hộ gia đình. Huyện Hoành Bồ cũng đã giao đất cho nhiều hộ dân ở xã Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Thống Nhất; đồng thời tiếp nhận nhiều đơn xin đăng ký nhận đất rừng khác của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn. Tuy nhiên, sau đó mọi việc dường như chững lại, đến nay hai địa phương trên hầu như không giao thêm được diện tích rừng cho dân. Riêng huyện Hoành Bồ còn diễn ra tình trạng một số hộ dân đã được giao đất rừng xin trả lại diện tích đã nhận.
Thực tế tại huyện Hoành Bồ thời gian qua có một số hộ dân được giao đất rừng tự nhiên để khoanh nuôi bảo vệ ở xã Bằng Cả đã xin trả lại diện tích đã nhận với lý do khó khăn trong việc đầu tư chăm sóc rừng. Ngoài ra nhiều hộ dân ở các thôn Tân Lập, Bằng Anh, Hang Trăn, Đất Đỏ, Khe Đông... của 3 xã Quảng La, Bằng Cả, Tân Dân cũng đề nghị chuyển mục đích sử dụng từ rừng tự nhiên sang rừng sản xuất, bởi việc khoanh nuôi bảo vệ không có hiệu quả kinh tế.
Ông Nguyễn Xuân Hải, Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hoành Bồ cho biết: “Hoành Bồ có trên 11.000ha đất rừng đang do địa phương quản lý, trong đó diện tích có khả năng trồng rừng chiếm quá nửa. Theo kế hoạch, năm nay huyện cố gắng giao khoảng 1.500ha đất rừng cho dân, đây đều là những diện tích thuận lợi nhất thế nhưng đến thời điểm này số người đăng ký rất thấp. Với tình hình này nhiều khả năng mục tiêu giao đất, giao rừng nói trên khó mà đạt được”.
Có thể nói việc giao đất, giao rừng ở Hoành Bồ và Ba Chẽ thời gian qua chưa có tiến triển nào lớn, song dù sao cũng đã đạt được kết quả ban đầu. Đáng nói là kết quả của hoạt động này ở các địa phương còn lại “bi đát” hơn. Hầu hết các địa phương đến thời điểm này vẫn đang trong quá trình rà soát, xác định vị trí, diện tích, hiện trạng rừng, loại rừng theo thực tế, diện tích có khả năng trồng rừng. Một số thì lại chưa xác định được nhu cầu thực sự của các hộ dân về giao đất, giao rừng, dẫn đến bất cập trong việc giao diện tích, loại rừng cho các hộ dân một cách phù hợp, ảnh hưởng đến mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng, chưa biến rừng trở thành kênh phát triển kinh tế hiệu quả cho người dân.
Có thể nói khó khăn lớn nhất hiện nay là nhu cầu nhận đất rừng của người dân để sản xuất còn thấp, kể cả nhu cầu khoanh nuôi bảo vệ trên diện tích rừng tự nhiên hay trồng rừng trên đất trống đồi núi trọc.
Nguyên nhân bởi hầu hết diện tích đất rừng này đều xa dân cư, không thuận lợi về đường giao thông, chất đất xấu, còn rừng tự nhiên thì nghèo kiệt. Bởi vậy nếu trồng mới thì cây cũng phát triển chậm, chi phí đầu tư cao dẫn đến ít lãi hoặc không có lãi; còn nhận khoanh nuôi, bảo vệ rừng tự nhiên thì nguồn thu duy nhất là tận dụng lâm sản phụ cũng không được bao nhiêu. Trong khi đó chu kỳ đánh giá hiện trạng rừng tự nhiên dài, từ 5 đến 7 năm mới xác định được hiệu quả rừng để làm cơ sở chuyển đổi loại rừng có lợi cho dân.
Chị Đặng Thị Như, thôn 2, xã Thống Nhất cho biết: “Nếu mà nhận đất rừng vừa xa vừa xấu như hiện nay về sản xuất thì chắc chắn người dân không có hiệu quả kinh tế. Bởi thời gian đầu tư dài, ngoài bỏ công cũng cần phải có vốn để mua cây giống, vật tư chăm sóc cây... trong khi đó giá gỗ lại xuống, nhất là gỗ keo nguyên liệu. Bởi vậy nên chúng tôi biết là huyện đang vận động dân nhận đất rừng nhưng chúng tôi chưa thật sự muốn tham gia... Đấy là chưa nói khi nhận đất rừng người dân phải tự bỏ kinh phí làm trích lục thửa đất, khoản này cũng không nhỏ”. (Báo Quảng Ninh 8/10) đầu trang(
Gần đây, trên các tuyến đường của thủ đô như: Lê Đức Thọ, Hoàng Hoa Thám, đại lộ Thăng Long có rất nhiều người bán chim trời ở bên lề đường. Những loài chim được bán ở đây là: Cò, cuốc, sáo, cu rừng với giá 50.000 - 100.000 đồng/con.
Theo Nghị định 99/2009 ban hành ngày 2.11.2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản quy định rõ người có hành vi săn, bắn, bẫy, bắt; nuôi nhốt; giết động vật rừng trái pháp luật; vận chuyển lâm sản trái pháp luật hay mua, bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái quy định của Nhà nước có thể bị phạt với mức cao nhất lên đến 500 triệu đồng. (Lao Động 8/10) đầu trang(
Ngày 4/10 thông tin từ Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Kon Tum cho biết, vườn ươm cây sâm giống ở xã Măng Ri, huyện Tu Mơ Rông của Trung tâm Giống sâm Ngọc Linh (thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đăk Tô) đang xuất hiện bệnh thối củ sâm khiến hơn 8ha sâm Ngọc Linh của đơn vị này đứng trước nguy cơ bị dịch.
Hiện, Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh đã tiến hành kiểm tra, lấy mẫu phẩm gửi giám định để xác định nguyên nhân bệnh; đồng thời hướng dẫn các biện pháp trước mắt xử lý tạm thời sâu hại trên cây sâm Ngọc Linh trong khi chờ giám định. Hai địa bàn huyện Đăk Glei và Tu Mơ Rông (nhất là Tu Mơ Rông) của tỉnh Kon Tum được coi là “vùng rốn” của cây sâm Ngọc Linh quý hiếm, có giá trị kinh tế rất cao (vài chục triệu đồng/kg).
Kon Tum đang phấn đấu đến năm 2020 sẽ hình thành vùng chuyên canh với diện tích khoảng 1.000ha sâm Ngọc Linh, góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững cho người dân địa phương nơi đây. (Công An Nhân Dân 5/10) đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Ở huyện Thống Nhất (Đồng Nai) xuất hiện tình trạng người dân sử dụng bẫy kết hợp với máy phát tiếng chim hót của chom sẻ, có tính tận diệt cao. (Nhân Dân 7/10, tr7) đầu trang(
Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Trị cho biết, 9 tháng đầu năm, đã bắt giữ và 357 vụ vi phạm lâm luật, trong đó chủ yếu là các hành vi về vận chuyển, mua bán, kinh doanh, cất giữ, chế biến lâm sản trái phép, xử lý tịch thu 687,207m3 gỗ các loại, 1.140,3 kg động vật rừng, 110kg trầm và 12 máy cưa xăng. (Pháp Luật Việt Nam 8/1, tr2) đầu trang(
Ngày 3-10, Chi cục Hải quan cảng Hải Phòng KV3 đã phối hợp với Đội Kiểm soát Hải quan Hải Phòng, Trung tâm máy soi container kiểm tra lô hàng tạm nhập tái xuất "Vỏ ốc biển đã qua sơ chế" của Chi nhánh Công ty TNHH một thành viên thương mại dịch vụ và xuất nhập khẩu Hải Phòng tại Quảng Ninh, phát hiện hơn 2 tấn ngà voi và mai đồi mồi được cất giấu trong các bao chứa vỏ ốc.
Hiện Cục Hải quan Hải Phòng đã mời cơ quan giám định chuyên ngành tiến hành giám định để xác định chủng loại, tên loài của lô hàng trên. (Hải Quan 7/10) đầu trang(
Theo ông Mai Xuân Bảo, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Ðắk R’lấp thì đơn vị cùng cơ quan chức năng đã hoàn tất kết quả giám định 279 sản phẩm da động vật rừng mới được bắt giữ, trong đó có hơn 100 sản phẩm động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm IB).
Theo đó, vào ngày 11/9, Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp cùng Cục Cảnh sát môi trường (Bộ Công an), Phòng Cảnh sát môi trường (Công an tỉnh), Công an huyện Ðắk R’lấp bất ngờ kiểm tra nhà ông Phạm Công Nhân (SN 1967), ở thôn 9, xã Kiến Thành và phát hiện 238 sản phẩm da động vật rừng; trong đó 201 sản phẩm đã lấy phần nội tạng và đang trong quá trình xử lý thuốc, 37 sản phẩm đã được nhồi bông.
Kiểm tra nhà ông Lê Trường Sơn (SN 1971, ở cùng địa chỉ trên), cơ quan chức năng cũng phát hiện 41 sản phẩm da động vật rừng; trong đó có 17 sản phẩm đã lấy phần nội tạng và đang xử lý thuốc, còn lại 24 sản phẩm được nhồi bông.
Xét thấy tính chất, mức độ vi phạm nghiêm trọng trong việc mua bán, cất giữ động vật rừng, gồm nhiều sản phẩm động vật rừng nguy cấp, quý hiếm như: mèo rừng, rái cá, gà lôi hồng tía, voọc vá chân đen… nên Hạt Kiểm lâm huyện đã chuyển hồ sơ để cơ quan chức năng xử lý và đề xuất khởi tố vụ án. (Báo Đăk Nông 4/10) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Sâu trong dãy núi ở phía đông bắc Trung Quốc, các nhà khoa học đang tìm cách bảo tồn loài hổ Amur, loài động vật thuộc họ mèo lớn nhất thế giới, đang có nguy cơ tuyệt chủng. Nguyên nhân quan trọng khiến loài động vật này giảm số lượng là đói ăn và đang được các nhà bảo tồn giải quyết bằng cách thả hươu vào rừng để làm thức ăn cho những “chú mèo” khổng lồ này.
Hổ Amur, hay còn gọi là hổ Siberia, có tên khoa học là Panthera tigris altaica, nay chỉ còn khoảng 20 con trong môi trường tự nhiên. Trung Quốc từng là nơi có nhiều loài hổ sinh sống nhưng hiện nay, câu nói “nơi nào có núi, nơi đó có hổ” đã trở thành chuyện dĩ vãng.
Theo các nhà bảo tồn, sự xuất hiện ngày càng nhiều của con người, tình trạng chặt phá rừng, nạn săn bắn hổ để lấy các bộ phận dùng trong bài thuốc cổ truyền và thiếu động vật làm mồi là những lý do khiến dân số loài hổ giảm mạnh. Ông Rohit Singh thuộc Quỹ bảo vệ thiên nhiên hoang dã (WWF) cho biết: Số lượng con mồi cho hổ ở Trung Quốc rất thấp so với các nước khác.
Chính vì thế, WWF đã có một dự án nhằm tăng số lượng hươu ở Khu bảo tồn Thiên nhiên Quốc gia Wangqing ở tỉnh Cát Lâm để cho các “chúa sơn lâm” có cái “lót dạ” và tiếp tục sinh sôi.
Năm 2012, có 37 con hươu bị thả vào khu vực bảo tồn này làm mồi cho hổ. Con số này tương đương số hươu làm mồi cho hổ trong tháng 8/2013. Tuy nhiên, chừng đấy hươu chưa “bõ bèn” gì với loài vật nổi tiếng ăn khỏe này. Mỗi năm, một con hổ cần săn được 50 con hươu hoặc lợn rừng để tồn tại. Do đó, cần gấp 10 lượng mồi như thế.
Sau khi thả hươu vào rừng, các nhà bảo tồn phải đảm bảo rằng những con mồi này không bị thợ săn hạ gục, rằng chúng có khu vực để sinh sôi và môi trường sống của chúng không bị xâm hại.
Khu bảo tồn Wangqing là một phần của hành lang liên kết giữa loài hổ Amur ở Trung Quốc với hổ ở Nga. Hành lang này rất quan trọng đối với các “chúa sơn lâm”. Do đó, chính quyền Trung Quốc đã thực hiện nhiều biện pháp để giảm khai thác gỗ trong khu vực nhằm bảo tồn hổ. Các biện pháp gồm tạo nguồn thu nhập khác thay thế cho khai thác rừng như khai thác cá, nấm...
Nỗ lực bảo tồn hổ là vô cùng quan trọng trong bối cảnh số lượng hổ hoang dã trên toàn thế giới chỉ còn khoảng 2.700 đến 3.200 con, giảm mạnh so với con số 100.000 cách đây một thế kỷ. Còn ở Trung Quốc, hổ và báo ở khu vực đông bắc hiện giờ hiếm đến mức khó mà bắt gặp chúng.
Trong những năm 1970, số lượng hổ Amur ở Trung Quốc và Nga tương đương nhau, khoảng 150 con. Tuy nhiên, dân số hổ ở Nga tăng nhờ được bảo vệ tốt. Theo ông Joe Walston, giám đốc châu Á của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Hoang dã (WCS), nếu không nhờ Nga thì giờ Trung Quốc cũng không còn hổ trong tự nhiên nữa.
Trong những năm 1940, do nạn săn bắn bừa bãi mà hổ Amur đứng trên bờ vực tuyệt chủng khi chỉ còn hơn 40 con trong tự nhiên. Loài này được cứu khi Nga trở thành nước đầu tiên trên thế giới có quy chế bảo vệ toàn diện. Nhờ đó, đến những năm 1980, lượng hổ Amur đã tăng lên khoảng 500 con.
Vì thế, Trung Quốc cần phải xây dựng mô hình bảo tồn tốt. Điều quan trọng là Trung Quốc phải tránh các dự án cơ sở hạ tầng lớn gây phân chia và phá vỡ môi trường sống của hổ.
Bảo tồn loài hổ vì loài vật này quan trọng với sinh thái là lý do không phải bàn cãi. Còn theo ông Singh thuộc WWF, có một lý do nữa cũng khiến con người phải ra sức bảo vệ “chúa sơn lâm” là vì đó là một loài vật rất đẹp và “có sức lôi cuốn” nên không thể đánh mất khỏi tự nhiên. (Tin Tức 7/10) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||