Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 09 tháng 06 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Nhiều năm qua, Công ty TNHH MTV LCN Long Đại đã thực hiện có hiệu quả công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), số vụ cháy rừng giảm nhiều so với trước. Sở dĩ đạt được kết quả đó là nhờ công ty thường xuyên chỉ đạo thực hiện các biện pháp PCCCR hiệu quả.
Công ty LCN Long Đại được nhà nước giao quản lý bảo vệ và cho thuê trên 91.727ha rừng và đất lâm nghiệp.
Trong đó rừng tự nhiên 71.078ha, rừng trồng 16.029 ha và 4.620 ha đất chưa có rừng. Số diện tích rừng trồng của công ty phân bố dọc tuyến đường Hồ Chí Minh, tỉnh lộ 2, tỉnh lộ 16. Các khu vực rừng của công ty thường là vùng có dân cư sinh sống, lưu lượng người và phương tiện đi ngang qua rừng khá lớn, tiềm ẩn nguy cơ gây cháy rừng rất cao.
Dự báo mùa khô năm nay đến sớm, nên từ sau Tết Bính Thân 2016, Công ty đã tổ chức ra quân thực hiện công tác PCCCR ở tất cả các lâm trường trên địa bàn.
Ngoài 176 cán bộ nhân viên chuyên làm công tác bảo vệ rừng, công ty tăng cường thêm 85 biên chế nữa để phục vụ PCCCR. Tại các đơn vị có diện tích rừng thông nhựa lớn như: Chi nhánh lâm trường rừng thông Bố Trạch, Lâm trường Kiến Giang, Lâm trường Đồng Hới, công ty bố trí đủ lực lượng canh gác ở những tiểu khu có rừng thông 24/24h.
Ông Phan Đình Linh, Giám đốc Công ty cho biết, xác định trong công tác PCCCR, vấn đề quan trọng nhất là lấy phòng làm chính nên trong phương án phòng cháy chữa cháy công ty luôn đặt công tác phòng cháy lên hàng đầu.
Công ty đã xây dựng chặt chẽ các nội quy, quy định về phòng cháy, phát dọn khu vực có nguy cơ cháy cao, xây dựng các phương án canh phòng, báo cháy khoa học, xử lý thực bì có kiểm soát trước mùa nắng nóng. Khó khăn nhất trong hoạt động phòng cháy chữa cháy rừng của công ty là địa bàn rộng lớn, địa hình hiểm trở lại có nhiều khu dân cư, đồng bào dân tộc xen kẽ trong rừng, nên việc PCCCR gặp nhiều trở ngại.
Đặc biệt, trong số diện tích rừng trồng có hơn 3.000 ha rừng thông nhựa và 11.000 ha rừng trồng keo tràm là những khu vực có tiềm ẩn nguy cơ cháy cao, nhất là sau cơn bão số 10 năm 2013 đã làm trên 50% diện tích  rừng bị gãy đổ tạo nên một lượng vật liệu cháy dưới tán rừng khá lớn. Rừng của công ty quản lý đan xen giữa rừng trồng của hộ dân nên tạo ra nhiều nguy cơ về cháy rừng trong mùa nắng nóng khi các hộ dân xử lý thực bì không kiểm soát được
Trong số các chi nhánh và đơn vị trực thuộc, thì Chi nhánh Lâm trường Đồng Hới là một trọng điểm của PCCCR. Tại chi nhánh này có 2.074 ha rừng, trong đó có 530ha thông nhựa, 732 ha cao su và gần 300 ha keo tràm có nguy cơ cao xảy ra cháy rừng.
Ông Đỗ Hữu Việt, Giám đốc Chi nhánh Lâm trường Đồng Hới cho biết, từ đầu tháng 4-2016 đến nay, đơn vị huy lực lượng bảo vệ rừng ở 4 phân trường, túc trực canh lửa 24/24h ở các tiểu khu có rừng thông  nhựa. Chi nhánh đã chỉ đạo công nhân và hộ nhận khoán rừng hoàn thành việc vệ sinh rừng, xử lý vật liệu cháy (thực bì) có kiểm soát trước mùa khô. Chi nhánh đã đầu tư làm 25km đường ranh cản lửa, tu bổ lại  4 chòi canh lửa cố định và 2 chòi canh lửa lưu động, trang bị đầy đủ các loại dụng cụ chữa cháy...
Trong thời kỳ cao điểm (từ tháng 4 đến tháng 9), chi nhánh luôn bố trí trực cháy 24/24h trong ngày, những ngày nghỉ lễ, tết cũng bố trí tối thiểu 50% trong tổng số lực lượng phòng chống cháy của đơn vị.
Công ty LCN Long Đại đã thành lập lực lượng PCCCR một cách có hệ thống từ công ty đến cơ sở. Tại công ty có Ban những vấn đề cấp bách về phòng cháy và chữa cháy rừng do một đồng chí phó Giám đốc công ty làm trưởng  ban, các đồng chí trưởng phòng, giám đốc các chi nhánh làm ban viên chịu trách nhiệm điều hành các hoạt động về PCCCR trong toàn công ty.
Tại các chi nhánh cũng có Ban những vấn đề cấp bách do đồng chí Giám đốc hoặc Phó giám đốc làm trưởng ban để điều hành hoạt động. Hàng năm, ban chịu trách nhiệm xây dựng phương án, xây dựng và ban hành các quy chế hoạt động cũng như lập dự trù kinh phí để đưa vào kế hoạch tài chính năm nhằm bảo đảm kinh phí hoạt động, nhờ vậy hoạt động của lực lượng PCCCR của công ty luôn bảo đảm vận hành thông suốt, kịp thời phát hiện và xử lý các điểm phát lửa không để lây lan ra diện rộng.
Các chi nhánh trong công ty cũng đã phối hợp với cơ quan cảnh sát phòng cháy chữa cháy (PC66) để tiến hành tập huấn cho lực lượng phòng chống cháy tại đơn vị, tiến hành diễn tập để làm quen với các tình huống có thể xảy ra. Hàng năm, khi tổ chức thi tay nghề cho công nhân, công ty đã đưa nội dung các văn bản pháp luật về PCCCR vào nội dung thi.
Hàng năm, các chi nhánh trong công ty đã tiến hành ký kết hợp đồng với 31 xã phường để phối hợp quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và phòng chống cháy nổ, phối hợp với các cơ quan trên địa bàn như Biên phòng, Quân đội (kể cả Công ty quốc phòng 79), Hạt Kiểm lâm để làm tốt công tác phòng chống cháy. Tổ chức tập huấn, hướng dẫn cho các hộ gia đình nhận khoán trồng rừng trong việc xử lý thực bì, nhất là thực bì sau khai thác đồng thời gắn trách nhiệm phòng cháy chữa cháy của hộ dân nhận khoán trong hợp đồng nhận khoán.
Trong 5 năm (từ 2011-2015), công ty chỉ có một vụ cháy thực bì gây cháy lan tại tiểu khu 358 thuộc Chi nhánh lâm trường Vĩnh Long vào năm 2012, với diện tích rừng bị cháy là 5,7 ha. Trong năm 2016, chưa có vụ cháy nào xảy ra, tuy nhiên cũng có một số điểm phát lửa và cháy thực bì đã được các chi nhánh huy động các lực lượng tại chỗ dập tắt kịp thời.
Tuy nhiên công tác phòng chống cháy rừng ở địa bàn do công ty quản lý còn gặp phải một số khó khăn. Đó là ý thức bảo vệ rừng của một bộ phận người dân chưa tốt, một số hộ dân khi xử lý đốt thực bì thiếu tuân thủ quy trình, quy phạm nên thường gây ra cháy rừng.
Khi cháy rừng việc huy động lực lượng chữa cháy tại chỗ thường gặp khó khăn vì người dân đi làm ăn phân tán, phương tiện chữa cháy thiếu. Trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng của chính quyền cấp xã một số nơi chưa cao, thiếu sự phối hợp với chủ rừng trong xử lý các vụ vi phạm... (Báo Quảng Bình 9/6) đầu trang(
Huyện Tuần Giáo có 71.000ha đất lâm nghiệp, trong đó diện tích đất có rừng khoảng 37.000ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt 32%.
Là một trong những huyện có diện tích rừng lớn, Tuần Giáo đã xây dựng kế hoạch, phương án cụ thể, chủ động trong công tác quản lý, bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR). Đặc biệt sau những vụ cháy rừng liên tiếp xảy ra đầu mùa khô năm 2016.
Xác định công tác quản lý, bảo vệ và PCCCR là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết, đầu mùa khô, huyện Tuần Giáo tăng cường công tác tuyên truyền, quán triệt và triển khai thực hiện các văn bản của UBND tỉnh, Chi cục Kiểm lâm tỉnh về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; phân công cán bộ kiểm tra, hướng dẫn người dân sản xuất trên nương đúng quy hoạch; phát, đốt, dọn thực bì đúng kỹ thuật, thực hiện các nội dung quy ước, hương ước về bảo vệ rừng ở cộng đồng và hộ gia đình.
Hạt Kiểm lâm huyện tăng cường kiểm lâm viên xuống xã, bản kiểm tra công tác PCCCR; tổ chức ký cam kết giữa các thôn, bản với lãnh đạo UBND các xã, thị trấn về công tác quản lý, bảo vệ và PCCCR. Kiểm lâm địa bàn hỗ trợ các xã, thị trấn xây dựng phương án PCCCR phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa bàn gắn với dự báo, diễn biến rừng hàng năm; phối hợp với UBND xã, thị trấn mở hội nghị PCCCR, tiến hành ký cam kết PCCCR đến từng hộ gia đình.
19/19 xã, thị trấn củng cố, kiện toàn ban chỉ huy các vấn đề cấp bách về quản lý, bảo vệ rừng và PCCCR. Hiện nay, toàn huyện có 223 tổ, đội xung kích, PCCCR ở các thôn, bản, tổ dân phố với 2.223 thành viên. Theo báo cáo của Hạt Kiểm lâm huyện Tuần Giáo, từ đầu mùa khô 2016 đến nay, kiểm lâm địa bàn đã tổ chức tuyên truyền Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, hướng dẫn diễn tập PCCCR cho 223/236 thôn, bản thuộc 19 xã, thị trấn với trên 11.000 lượt người tham gia.
Do ảnh hưởng của băng tuyết từ đầu năm gây chết, đổ gãy nhiều cây rừng nên mùa khô năm 2016, trên địa bàn huyện Tuần Giáo đã xảy ra 5 vụ cháy rừng với tổng diện tích là 581ha. Khi xảy ra cháy, lực lượng tham gia chữa cháy rừng không chỉ có lực lượng chức năng huyện, xã, thị trấn, kiểm lâm, công an, bộ đội mà còn có sự tham gia của hơn 1.100 người dân. Nhờ đó, đã làm giảm thiệt hại do cháy rừng gây ra, 100% diện tích rừng bị cháy đều có thể tự phục hồi được.
Ông Trần Xuân Ban, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Tuần Giáo cho biết: Việc chuẩn bị sẵn sàng nhân lực, phương tiện chữa cháy, tổ chức diễn tập các tình huống, từ đó chủ động xây dựng phương án chữa cháy đóng vai trò rất quan trọng. Những năm gần đây, bên cạnh thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của Hạt Kiểm lâm, Huyện ủy, UBND huyện Tuần Giáo luôn quan tâm, chú trọng công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Điển hình như: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã ban hành Nghị quyết Chuyên đề số 03, ngày 15/5/2013 về một số nhiệm vụ, giải pháp tăng cường quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Nhờ đó, công tác bảo vệ rừng được thực hiện quy củ, nghiêm túc và có tính hệ thống. Từ đó, người dân có ý thức, trách nhiệm cao hơn trong công tác bảo vệ rừng, không đốt rừng làm nương, số vụ vi phạm lâm luật giảm đáng kể.
Chủ động các phương án PCCCR, phương tiện và nhân lực chữa cháy từ thôn, bản đến xã đã góp phần xây dựng được “tuyến phòng ngự” gồm nhiều lớp ở cơ sở, giúp các xã kịp thời phát hiện đám cháy, để phối hợp và hỗ trợ chữa cháy kịp thời, không để lan rộng.
Mùa khô năm 2016, bản Hua Sát, xã Mường Khong xảy ra cháy rừng, xã Mường Thín đã huy động hơn 50 người dân 2 bản Thín A và Thín B với đầy đủ phương tiện chữa cháy giúp bản Hua Sát chữa cháy. Đó là tính chủ động trong PCCCR ở cơ sở mà huyện Tuần Giáo đã và đang thực hiện tốt. (Báo Điện Biên Phủ 8/6) đầu trang(
Hiện nay, đang vào giai đoạn cao điểm của mùa khô, nắng nóng kéo dài, nhiệt độ tăng cao nên nguy cơ xảy ra cháy rừng là rất lớn. Do đó, công tác phòng, chống cháy rừng luôn được Vườn quốc gia Tam Đảo đặc biệt quan tâm, chỉ đạo quyết liệt nhằm ngăn ngừa và hạn chế thấp nhất những thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Vườn quốc gia Tam Đảo có diện tích 34.995 ha, trải dài qua 3 tỉnh: Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tỉnh Tuyên Quang. Ngoài tính đa dạng sinh học cao, Vườn quốc gia Tam Đảo còn giữ vai trò điều hoà khí hậu, điều tiết nguồn nước, bảo vệ môi trường sống cho một phần đồng bằng Bắc bộ trong đó có Thủ đô Hà Nội.
Theo thông báo từ các Trạm Kiểm lâm của Vườn, tổng số diện tích rừng dễ cháy ở Vườn Quốc gia Tam Đảo là 5.465,5 ha, trong đó ở tỉnh Vĩnh Phúc là 2.976,0 ha phân bố ở 75 điểm tập trung ở các địa bàn có nguy cơ cháy cao như các xã: Minh Quang, Đạo Trù, Đại Đình, Hồ Sơn, Hợp Châu.
Để công tác PCCCR trên địa bàn Vườn đi vào hoạt động có hiệu quả, góp phần hạn chế nạn cháy rừng, bảo vệ phát triển bền vững tài nguyên rừng, giảm nhẹ thiên tai, ông Nguyễn Minh Tuấn, Phó Giám đốc Vườn quốc gia Tam Đảo cho biết: Hàng năm, Vườn quốc gia Tam Đảo đều xây dựng và triển khai cụ thể các phương án bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng.
Tăng cường tuần tra, canh gác ở những khu vực dễ xảy ra cháy rừng đồng thời chuẩn bị tốt những phương án chữa cháy nếu cháy rừng xảy ra. Lực lượng kiểm lâm túc trực tại các Trạm thường trực 24/24h có trách nhiệm phát hiện lửa rừng và báo cáo ngay về bộ phận thường trực phòng cháy, chữa cháy của Vườn. Trạm Kiểm lâm phối hợp Ban chỉ huy PCCCR của xã sở tại huy động lực lượng chữa cháy rừng. Nếu cần tăng cường lực lượng chữa cháy, ban chỉ huy PCCCR của Vườn huy động lực lượng tổ xung kích của đơn vị, báo cáo Ban chỉ huy PCCCR của huyện để huy động tiếp lực lượng nếu cần thiết.
Quy hoạch xây dựng các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng; hệ thống đường xá; hệ thống đường băng xanh, băng trắng cản lửa; hệ thống chòi canh lửa; hệ thống thông tin liên lạc phục vụ dự báo cháy rừng. Ứng dụng các biện pháp, phương tiện, công cụ PCCCR tiên tiến hiện đại như máy bơm nước, bình phun nước, máy thổi gió, dao phát và cành cây là chủ yếu và hiệu quả với địa hình ở Tam Đảo.
Tập huấn và diễn tập chữa cháy rừng là biện pháp nhằm nâng cao năng lực cho các lực lượng tham gia công tác PCCCR. Chủ động phối hợp với Kiểm lâm vùng I, Chi cục Kiểm lâm các tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và  Tuyên Quang xây dựng chương trình tập huấn cho tổ đội xung kích của Vườn và cộng đồng dân cư các xã vùng đệm về công tác PCCCR.
Phối hợp với các địa phương tổ chức diễn tập, phối hợp các lực lượng tham gia chữa cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ) nhằm trang bị kiến thức, kỹ thuật, chiến thuật về chữa cháy rừng để các lực lượng chủ động tham gia chữa cháy khi xảy ra cháy rừng. Đồng thời qua các đợt diễn tập các Ban chỉ huy rút ra những bài học kinh nghiệm về chỉ huy chữa cháy, huy động lực lượng phối hợp chữa cháy, hoàn thiện kế hoạch tác chiến, huy động lực lượng chữa cháy sát với tình hình thực tế tại địa phương.
Đối với những vùng có nguy cơ cháy cao, vào thời gian cao điểm, các hạt kiểm lâm địa phương phân công cán bộ trực 24/24 giờ để theo dõi, tiếp nhận thông tin cháy rừng; đồng thời chủ động về lực lượng và phương tiện để sẵn sàng ứng cứu khi có cháy rừng xảy ra.
Chuẩn bị sẵn sàng về dụng cụ, phương tiện, máy móc sẵn có để huy động tham gia chữa cháy rừng; đồng thời hàng năm có kế hoạch mua sắm bổ sung thêm dụng cụ, máy móc, phương tiện phục vụ cho công tác PCCCR đảm bảo số lượng đủ phục vụ công tác chữa cháy rừng hiệu quả.
Bên cạnh đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, ký cam kết bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; tăng cường tuần tra canh gác lửa rừng; đồng thời dự báo cấp cháy rừng nguy hiểm, trên cơ sở đó, các chủ rừng đã chủ động các biện pháp kịp thời với phương châm "4 tại chỗ" và 1 ứng cứu.
Bên cạnh những yếu tố thuận lợi, ông Nguyễn Minh Tuấn cũng cho biết thêm: Rừng ở Vườn quốc gia Tam Đảo có độ dốc lớn, thực bì dưới tán rừng dày, vật liệu cháy rừng rất đa dạng và phong phú, khi ở nhiệt độ cao rất dễ bắt lửa, nhất là các khu rừng trồng thông, và cỏ tranh dưới tán rừng. Mặt khác, hệ thống đường cứu hộ chưa hoàn thiện nên khi xảy ra cháy rừng, việc tiếp cận đám cháy rất khó khăn.
Trong khi đó, việc chữa cháy rừng chỉ áp dụng được các biện pháp chữa cháy thủ công, dụng cụ thô sơ, lấy sức người là chính, không triển khai được các biện pháp chữa cháy bằng các phương tiện hiện đại; ý thức của một bộ phân nhân dân chưa cao, khi xảy ra cháy rừng còn thờ ơ, trông chờ, ỷ lại vào các cơ quan nhà nước. Chính vì vậy, rừng Tam Đảo được xác định là một trong 6 trọng điểm cháy rừng quốc gia với tổng diện tích rừng dễ cháy 5.465,5ha. Đây là những thách thức và có nguy cơ tiểm ẩn dẫn đến cháy rừng.
Qua kết quả thống kê cho thấy, trong 5 năm trở lại đây, rừng tự nhiên của Vườn Quốc gia Tam Đảo không xảy ra cháy rừng; thường xảy ra cháy trên diện tích chủ yếu là các trảng cỏ, cây bụi có cây gỗ rải rác, một số diện tích rừng cây gỗ xen lẫn giang nứa, dưới tán rừng thông già và rừng non mới trồng. Thiệt hại về tài nguyên rừng không đáng kể, cháy chủ yếu là cành khô, lá rụng bên dưới rừng thông già và cỏ tranh.
Với sự chỉ đạo sâu sát của Tổng Cục lâm nghiệp và tỉnh, cùng với sự chủ động của mình, Vườn quốc gia Tam Đảo đang nỗ lực hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra, qua đó góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế -xã hội tỉnh. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Vĩnh Phúc 8/6) đầu trang(
Chiều 8/6, huyện Anh Sơn tổ chức diễn tập phòng chống cháy rừng 2016 tại xã Thọ Sơn. Tham gia cuộc diễn tập có 120 người là cán bộ nhân viên ban quản lý rừng phòng hộ, trạm kiểm lâm và nhân dân xã Thọ Sơn.
Tình huống giả định: tại cánh rừng thôn 1 xã Thọ Sơn, do sự bất cẩn của người dân trong khi làm nương rẫy đã gây ra cháy rừng, sau khi đám cháy bùng phát, có khả năng lây lan rộng. Trước tình hình đó thôn báo cáo với xã và xã đã báo cáo với lực lượng phòng chống cháy rừng của huyện. Sau một thời gian triển khai khẩn trương, nhanh chóng, cháy đã được dập tắt hoàn toàn.
Thông qua diễn tập nhằm tăng cường công tác tuyên truyền đến mỗi người dân hiểu rõ hơn về tác hại của cháy rừng, đồng thời nâng cao nhận thức của các cấp các ngành và mọi tầng lớp nhân dân trong việc chủ động phòng cháy chữa cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ. Đó là  lực lượng tại chỗ, dụng cụ phương tiện tại chỗ, chỉ huy tại chỗ và hậu cần tại chỗ. (Báo Nghệ An 8/6) đầu trang(
Không phải ngẫu nhiên, phiên tòa sơ thẩm vụ án “hủy hoại rừng”diễn ra vào ngày 3.6 vừa qua, tại TAND huyện Lâm Hà, đã buộc phải hoãn xét xử.
HĐXX đã trả hồ sơ, yêu cầu cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, bổ sung chứng cứ. Đây là lần thứ 2, cơ quan điều tra phải xác minh bổ sung, nhằm củng cố chứng cứ trong vụ án này. Tuy nhiên, có quá nhiều dấu hiệu bất thường xung quanh vụ án, dường như đặt các cơ quan luật pháp huyện Lâm Hà vào thế khó…
Như báo Lao Động số ra ngày 5.6 đưa tin, các cơ quan luật pháp ở huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, đã khởi tố, bắt tạm giam bị can Phạm Văn Tài (SN 1990, thường trú thôn 2, xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng) về tội “hủy hoại rừng”, theo điều 189 – Bộ Luật Hình sự.
Phạm Văn Tài đã bị bắt tạm giam hơn 7 tháng, song, qúa trình thực hiện tố tụng của các cơ quan liên quan đã cho thấy, có quá nhiều bất cập,  không đúng thực tế, xuất hiện nhiều mâu thuẫn giữa các lời khai và tài liệu trong vụ án. Trong đó, dễ thấy nhất là những con số luôn… nhảy múa, biến hóa qua các văn bản một cách vô căn cứ.
Trước hết, con số đương sự tham gia chặt hạ cây rừng mà tổ công tác Ban quản lý rừng phòng hộ Lán Tranh bắt quả tang lúc 14 giờ 30 ngày 24.4.2015. Ông Hoàng Như Thanh – cán bộ Ban chỉ huy quân sự huyện Lâm Hà – khai “bắt giữ 6 đối tượng; trong đó có 1 người kinh (tức Phạm Văn Tài)  và 5 người là đồng bào dân tộc”.Ông Nông Đức Hạnh – Trạm trưởng Trạm quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) xã Phúc Thọ - khai: “phát hiện bắt quả tang 6 người”. Tương tự, ông Trần Trịnh Minh Đăng – cán bộ tiểu khu – khai bắt quả tang 6 người.
Ông Hồ Nghĩa Nam – cán bộ Trạm QLBVR Phúc Thọ - lúc đầu khai “chúng tôi bắt quả tang 7 người…”, nhưng về sau lại khai chỉ có “ông Tài và 5 người đồng bào dân tộc”. Trong khi đó, quá trình xác minh vụ án, lời khai của những người dân tộc trực tiếp chặt phá rừng đều khai tổng cộng có 9 người tham gia (trong đó có Phạm Văn Tài và 8 người dân tộc).Và cuối cùng, con số này chốt lại tại các văn bản của cơ quan xử lý vụ việc cũng không thống nhất: Hạt Kiểm lâm Lâm Hà (6 người), Cơ quan CSĐT (8 người) và Viện KSND huyện Lâm Hà (9 người).
Vấn đề đặt ra, tại sao vụ vi phạm chặt phá rừng được bắt quả tang, nhưng tổ công tác lại không lập biên bản, không ghi nhận họ tên, tuổi, địa chỉ thường trú, lai lịch nhân thân… của những người vi phạm ? Hệ quả là sau này, con số thủ phạm phá rừng biến thiên… vô chừng. Liệu những cái tên mới bổ sung vào danh sách người phá rừng sau này, đúng là thủ phạm phá rừng, hay nhằm động cơ “hội đồng” đổ tội bằng được cho một người là Phạm Văn Tài ?
Về con số diện tích rừng, số lâm sản bị thiệt hại cũng hết sức… đa dạng! Tại “Bản mô tả chi tiết” số 05417/MTCT-VP, do Trạm QLBVR Phúc Thọ lập ngày 24.4.2015, thể hiện  diện tích rừng bị thiệt hại là 5.800 m2. Khối lượng lâm sản bị thiệt hại là 5,57 m3; trong đó, khối lượng gỗ tròn còn lại tại hiện trường là 2,92 m3 và khối lượng gỗ bị mất là 2,65 m3.
Sau này, khi Công an huyện Lâm Hà vào cuộc xác minh, những con số trên đã đột ngột tăng vọt. Cụ thể: Diện tích rừng bị thiệt hại là 6.742 m2, thiệt hại lâm sản 119,33 m3 và giá trị thiệt hại hơn 245,2 triệu đồng (?). Cáo trạng của Viện KSND huyện Lâm Hà thì giảm khối lượng lâm sản bị thiệt hại xuống còn 97,08 m3 và giá trị thiệt hại là 151,5 triệu đồng. Vậy đâu là con số phản ảnh đúng thực tế ?
Ngoài ra, con số thể hiện đường kính cây rừng tại hồ sơ vụ án, nhằm làm chứng cứ kết tội Phạm Văn Tài cưa, chặt hạ cây rừng cũng … biến hóa, giảm - tăng chóng mặt. Các đối tượng dân tộc khai, họ chỉ chặt những cây nhỏ từ 7 – 10 cm, Tài dùng cưa tay cưa cây khoảng 15 – 20 cm. Tuy nhiên, tại các biên bản xác định vị trí, khám nghiệm hiện trường, con số gốc cây bị đưa vào thuộc diện bị nhóm của Tài chặt hạ, ngoài những gốc cây có số đường kính trên, còn có những gốc cây mà đường kính lên tới 17 cm, 27cm, 45,5cm và thậm chí là 54cm.v.v…
Mặc dù cuối cùng, cáo trạng kết luận “Tài đã chỉ cho những người đồng bao dân tộc chặt hạ những cây rừng có đường kính khoảng từ 15cm đến 20cm, cao khoảng 6m, Tài cũng cầm cưa tay để cưa hạ cây rừng”; tuy nhiên, trong “Bảng tính khối lượng lâm sản thiệt hại…” (97,08m3) – chi tiết hết sức quan trọng để kết tội bị can “hủy hoại rừng” -  Ban quản lý rừng phòng hộ Lán Tranh lại đưa cả những cây rừng “khủng”, có đường kính vượt con số mà Viện KSND huyện Lâm Hà kết luận, gồm các loại cây có đường kính 25cm, 27cm và 45,5cm, với chiều dài không còn 6m mà tăng vọt lên 6,8m, 9,1m, 10,84m và 14,7m.
Chính những con số biến hóa theo chiều hướng tăng vọt này, không biết vô tình hay có chủ ý, người ta đã gia tăng khối lượng và giá trị lâm sản bị thiệt hại lên rất nhiều, để khép tội bị can Phạm Văn Tài vào khung “hủy hoại rừng”. Thế nhưng, sự xuất hiện những gốc cây “khủng”có đường kính 27 – 45,5cm lại cho thấy dấu hiệu bất thường, phi lý; bởi để chặt hạ những gốc cây ấy, thì cưa tay và dao phát cỏ là không thể chặt hạ được.v.v…
Vụ án “hủy hoại rừng” tưởng rằng đơn giản; thế nhưng, như Hạt Kiểm lâm Lâm Hà thừa nhận tại văn bản số 60/KL-TTPC, ngày 22.5.2015: “Quá trình phát hiện và lập hồ sơ vi phạm ban đầu về hành vi phá rừng… thiếu chặt chẽ, không kịp thời và đầy đủ theo quy định, trong đó có 5 đối tượng là đồng bào dân tộc…cùng tham gia…, nhưng không lập hồ sơ vi phạm, tự ý cho về, không xác định họ, tên, tuổi, nơi thường trú, từ đó gây khó khăn cho việc điều tra, xác định làm rõ đối tượng vi phạm”. (Lao Động 9/6) đầu trang(
UBND tỉnh Nghệ An vừa có công văn số 3800 ngày 2/6, yêu cầu huyện Yên Thành kiểm tra, xử lý sự việc báo Tiền Phong phản ánh.
Phó chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Đinh Viết Hồng có ý kiến: “Giao chủ tịch UBND huyện Yên Thành chỉ đạo các đơn vị  chức năng kiểm tra, xác minh sự việc, nếu đúng như báo nêu thì có biện pháp xử lý kịp thời”. Kết quả kiểm tra, xử lý báo cáo UBND tỉnh, trả lời báo Tiền Phongvà gửi Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở Thông tin và Truyền thông trước ngày 26/6/2016.
Báo Tiền Phong ngày 18/5/2016 có bài “Rừng Lim cổ thụ bị tàn phá ở Nghệ An”, phản ánh rừng lim tại xã Lăng Thành, huyện Yên Thành (Nghệ An) được xem là khu rừng đặc dụng hiếm hoi còn sót lại giữa vùng đồng bằng tỉnh Nghệ An. Gần đây xuất hiện nạn chặt, phá lim để canh tác trồng cây lâm nghiệp khác. Trong khi đó, chính quyền địa phương không hề có biện pháp để ngăn chặn, bảo vệ rừng cây lâu năm quý hiếm này. (Tiền Phong 9/6) đầu trang(
Liên quan đến vụ việc ông Phạm Văn Thắng - Chủ tịch thị trấn Thanh Sơn (Sơn Động - Bắc Giang) để cho con là Phạm Văn Cương - Cán bộ tư pháp thị trấn phá hơn 26.000m2 rừng tự nhiên, ông Nguyễn Văn Khái - Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang khẳng định đã giao Chi cục kiểm lâm kiểm tra, báo cáo sự việc trên quan điểm xử lý nghiêm, không bao che sai phạm.
Trao đổi với PV Dân trí, ông Nguyễn Văn Khái - Giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NNPTNT) tỉnh Bắc Giang cho biết đã nắm được thông tin sơ bộ sự việc gia đình ông Phạm Văn Thắng phá rừng tự nhiên. “Tôi đã giao Chi cục kiểm lâm tỉnh Bắc Giang lập đoàn thanh tra kiểm tra sự việc và báo cáo toàn bộ nội dung lên lãnh đạo Sở. Hành vi phá rừng tự nhiên là vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Quan điểm của chúng tôi là xử lý nghiêm, không bao che sai phạm bất kể là ai”, ông Khái khẳng định.
Về vụ việc phá rừng nghiêm trọng này, ông Khai cũng cho biết sau khi có báo cáo đầy đủ, chi tiết từ Chi cục kiểm lâm tỉnh Bắc Giang, Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang sẽ xem xét trách nhiệm của lực lượng kiểm lâm tại huyện Sơn Động.
Sau loạt bài điều tra của Báo Dân trí, Hạt kiểm lâm Sơn Động đã kết luận gia đình ông Thắng - chủ tịch thị trấn Thanh Sơn phá rừng tự nhiên trái pháp luật là có cơ sở. Tuy nhiên, thủ phạm chính trong việc tổ chức phá rừng lại là con trai ông Thắng, tức Phạm Văn Cương (cán bộ tư pháp thị trấn). Tổng diện tích rừng bị phá là 26.056m2 xảy ra từ tháng 4/2014. Thời điểm phá rừng là năm 2014 khi ông Thắng đang giữ cương vị là Trưởng công an thị trấn Thanh Sơn.
Tuy nhiên, điều bất thường ở chỗ hàng chục nghìn m2 rừng bị phá gia đình lãnh đạo địa phương phá tan hoang nhưng trong suốt hơn 1 năm lực lượng kiểm lâm tại đây dường như đã bị “bịt mắt” khi không thể phá hiện. Sự việc chỉ vỡ lở khi một người dân liên tục làm đơn tố cáo. Và sau khi nhận được đơn thư của người dân, Hạt kiểm lâm Sơn Động mới bắt buộc phải lập đoàn kiểm tra xác minh kết luật sư việc phá rừng của gia đình chủ tịch thị trấn là đúng.
Trao đổi với PV Dân trí, ông Nguyễn Văn Hiệu - Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Sơn Động cho biết cơ quan này đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc phá 26.000m2 rừng tự nhiên tại Sơn Động sang Công an huyện Sơn Động điều tra dấu hiệu tội phạm. Cơ quan này đã chính thức có Công văn số 18/HKL-TTPC gửi Công an huyện Sơn Động ngày 1/6/2016 cho biết: Hạt kiểm lâm Sơn Động đã xác minh làm rõ đối tượng phá rừng là Phạm Văn Cương - cán bộ tư pháp thị trấn Thanh Sơn. Diện tích rừng bị phá là 26056m2 rừng tại lô a1 và lô e, khoảnh 3 xã Tuấn Mậu - Sơn Động (Bắc Giang). Hiện trạng rừng trước khi bị phá là rừng tự nhiên.
Như vậy tại “vựa rừng” của Bắc Giang này, ngoài người dân phá rừng thì công ty lâm nghiệp cũng phá rừng và cả lãnh đạo địa phương cũng tham gia phá rừng.
Trao đổi với PV Dân trí, ông Nguyễn Văn Hiệu - Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Sơn Động cho biết cơ quan này đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc phá 26.000m2 rừng tự nhiên tại Sơn Động sang Công an huyện Sơn Động điều tra dấu hiệu tội phạm. Cơ quan này đã chính thức có Công văn số 18/HKL-TTPC gửi Công an huyện Sơn Động ngày 1/6/2016 cho biết: Hạt kiểm lâm Sơn Động đã xác minh làm rõ đối tượng phá rừng là Phạm Văn Cương - cán bộ tư pháp thị trấn Thanh Sơn. Diện tích rừng bị phá là 26056m2 rừng tại lô a1 và lô e, khoảnh 3 xã Tuấn Mậu - Sơn Động (Bắc Giang). Hiện trạng rừng trước khi bị phá là rừng tự nhiên.
Như vậy tại “vựa rừng” của Bắc Giang này, ngoài người dân phá rừng thì công ty lâm nghiệp cũng phá rừng và cả lãnh đạo địa phương cũng tham gia phá rừng.
Địa phương nào để xảy ra tình trạng phá rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng, giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp trái quy định pháp luật, cháy rừng nghiêm trọng, kéo dài mà trong phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của mình không có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời, triệt để, thì lãnh đạo địa phương đó phải kiểm điểm và bị xử lý trách nhiệm quản lý theo quy định của pháp luật".
Được biết, ông Trần Công Thắng hiện đang giữ cương vị Bí thư huyện ủy Sơn Động, ông Nguyễn Quang Ngạn đang giữ cương vị Chủ tịch UBND huyện Sơn Động. (Dân Trí 9/6) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, tình hình các vi phạm pháp luật liên rừng đã giảm đáng kể, tuy nhiên, ở một số địa phương vẫn đang còn xuất hiện những điểm nóng về tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái pháp luật.
Để từng bước lập lại trật tự về an ninh rừng, các lực lượng chức năng đã tăng cường tuần tra, truy quét mạnh ở những khu vực này.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong 5 tháng đầu năm 2016, đơn vị đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra, phát hiện và xử lý 652 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu 1.162 m3 gỗ các loại, 277 công cụ, phương tiện, máy móc; số tiền thu sau xử lý 13,7 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm 2015, thì số vụ vi phạm đã giảm 203 vụ (23,7%).Tuy nhiên, ở một số địa phương có diện tích rừng lớn tình trạng khai thác, vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép vẫn “nóng” như: huyện Buôn Đôn (162 vụ), huyện Ea H’leo (67 vụ), Ea Súp (64 vụ)…
Ngoài ra, tình hình phá rừng trái phép để lấn chiếm đất vẫn diễn biến phức tạp, theo thống kê chưa đầy đủ của các địa phương, trong 5 tháng diện tích rừng bị phá 52,2 ha. Để kịp thời chấn chỉnh việc quản lý, bảo vệ rừng ở các khu vực vốn là điểm nóng về khai thác, vận chuyển, buôn bán trái phép lâm sản, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tổ chức kiểm tra thực tế, họp bàn với các Hạt Kiểm lâm Buôn Đôn, Ea Súp, Ea H’leo, Krông Búk, Krông Năng và các đội Kiểm lâm Cơ động và Phòng cháy chữa cháy rừng (KLCĐ & PCCCR) số 1 và số 3 để triển khai tham mưu cho UBND các huyện thành lập các đoàn liên ngành, phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức truy quét các đối tượng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác, vận chuyển, buôn bán trái phép lâm sản.
Qua đó, các huyện đã thành lập đoàn liên ngành, đồng loạt ra quân tiến hành kiểm tra, truy quét các khu vực “nóng” về tình trạng vi phạm lâm luật. Chỉ trong tháng 5-2016, qua kiểm tra truy quét các đơn vị đã lập biên bản tạm giữ hơn 94,7 m3 gỗ và 19 phương tiện các loại.
Trong đó, tại địa bàn xã Cư Amung (huyện Ea H’leo), chốt liên ngành gồm Kiểm lâm huyện, UBND xã, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea Wy và Đội KLCĐ &PCCCR thu giữ được 22,7m3 ; tại địa bàn huyện Ea Súp, Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với Đội KLCĐ &PCCCR số 1 thu giữ 66,5 m3 gỗ; Hạt Kiểm lâm huyện Buôn Đôn đã thu giữ 5,5 m3 gỗ. Cùng với đó, các chủ rừng với trách nhiệm của mình cũng huy động tối đa lực lượng để tuần tra bảo vệ, truy quét lâm tặc trên diện tích rừng do mình quản lý.
Ông Y Sy H’Đơk, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, công tác QLBVR thời gian qua tuy đã được cải thiện nhưng vẫn đang còn nhiều khó khăn, bất cập dẫn đến rừng bị mất, đất rừng bị lấn chiếm.
Nguyên nhân do việc khai thác, buôn bán lâm sản trái phép mang lại lợi nhuận cao; hàng vạn hộ dân sống xung quanh rừng có điều kiện kinh tế khó khăn, thu nhập phụ thuộc nhiều vào rừng; nhiều Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp, Ban quản lý rừng và các chủ rừng khác thiếu lực lượng, phương tiện không đủ mạnh để trấn áp lâm tặc; một số chủ rừng thiếu kiểm tra, buông lỏng quản lý…
Cũng theo ông Y Sy, để lập lại trật tự trong công tác quản lý bảo vệ rừng thời gian tới, Chi cục Kiểm lâm tiếp tục chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tiến hành xác định các điểm nóng về phá rừng, khai thác lâm sản, các tuyến đường vận chuyển lâm sản trái phép để tổ chức truy quét, ngăn chặn, xử lý; các đơn vị chủ rừng tập trung phân loại các đối tượng phá rừng, lấn chiếm đất rừng để lập phương án cụ thể xử lý, giải tỏa, trồng phục hồi lại rừng; đề nghị Công an tỉnh chỉ đạo lực lượng ở các địa phương lập chuyên án xử lý các đối tượng lâm tặc, đầu nậu, phần tử dung túng, tiếp tay cho phá rừng, lấn chiếm đất rừng, mua bán sang nhượng đất rừng trái pháp luật… (Báo Đắk Lắk 7/6) đầu trang(
Người Cơtu ở miền núi Quảng Nam từ khi chào đời đã gắn bó với rừng, được rừng che chở. Rừng đã trở thành một phần máu thịt của họ. Vì vậy, chuyện những người như Pơ Loong Nai bất chấp nguy hiểm để bảo vệ rừng như là một điều tất yếu.
Pơ Loong Nai giả tiếng gọi chim rừng và diễn giải: “Tiếng nớ là từ xưa, không chỉ ba tôi mà mọi người cũng vậy. Phải tập, tập kêu tiếng chim, các loại chim. Kìa, chim đến rồi kìa.  Đó là tiếng con Nhồng, để kêu con Nhồng tới” - Pơ Loong Nai mở đầu câu chuyện về rừng với chúng tôi như thế.
Chắc chỉ có những người yêu rừng, gắn bó máu thịt với rừng như người đàn ông Cơ tu này, mới có thể thành thục từng tiếng kêu của các loài chim rừng.
Làng Pazích, xã ATing, huyện Đông Giang, có 72 hộ đồng bào Cơtu sinh sống, thì có đến 64 hộ đang tham gia quản lý bảo vệ rừng tại vườn quốc gia Bạch Mã. Pơ Loong Nai, 45 tuổi, là nhóm trưởng của một trong 4 nhóm bảo vệ rừng. Đều đặn hàng tuần, Pơ Loong Nai và các thành viên trong nhóm lại đi lên rừng.
Trong những chuyến đi như vậy, ông và dân làng đã phát hiện và ngăn chặn được nhiều vụ phá rừng từ lúc mới manh nha. Và một lần, anh đã trở thành nạn nhân của lâm tặc, đến mức thập tử nhất sinh.
Pơ Loong Nai Nhớ lại thời điểm kinh hoàng đó: "Nó chụp cổ, chụp tóc thế này, kề dao bảo cắt cổ thằng này trước. Nó chém. Tôi bật ngửa, xong, nó đánh người khác chạy hết. Tôi không biết gì nữa, bất tỉnh luôn vì chảy máu nhiều quá. Đến 4h sáng dân quân và con tôi vào khiêng, ai cũng bảo ông Nai bị lâm tặc chém chết. Đến 9h thì tôi về đến trạm y tế”.
Chuyện kể lại giản đơn, nhưng như lời bà con làng Pazích, đây là chuyện sinh tử của một con người. Chỉ có may mắn và bản năng sinh tồn hiếm thấy mới giúp  Pơ Loong Nai thoát khỏi cái chết. Pơ Loong An, con trai đầu của Pơ Loong Nai An, năm nay vừa tròn 20 tuổi, kể:  “Ba bị lâm tặc tấn công. 5h sáng bọn con vô rừng kiếm ba, vì mấy người kia chạy hết mà, còn mình ba trong rừng chớ mấy. Đưa ba xuống bệnh viện Đại Lộc, vì ba không còn sức nữa. Con và mẹ thay ba đi bảo vệ rừng”. Chị Clâu Chế Tiếp lời con trai: “Từ hồi ông bị thì tôi đi miết, tôi đi thay”.
Sau chuyến chết hụt đó, những tưởng người đàn ông Cơtu này nhụt chí, nhưng ông Pơ Loong Nai vẫn không bỏ rừng mà còn quyết tâm bảo vệ rừng bằng mọi giá. Thật may, trong cuộc chiến bảo vệ rừng, Pơ Loong Nai không hề đơn độc, ông nhận được sự giúp sức của nhiều người dân trong làng. Anh Clâu Lét là một trong những người luôn bên Pơ Loong Nai để giữ rừng: “Càng xảy ra vụ đó thì càng quyết tâm hơn nữa, bà con từ "sợ" là không nói được, đã  nhận là quyết tâm bảo vệ”.
Già  A Lăng Phương tự hào vì làng Pazích của ông có nhiều người yêu rừng và quyết tâm bảo vệ rừng. Với người Cơtu ở làng Pazích, rừng không chỉ là cây cối, muông thú đơn thuần, rừng như một phần máu thịt, tồn tại song hành với cuộc sống của bà con từ ngàn đời nay. Dấu ấn của rừng luôn hiển hiện và ăn sâu bám rễ vào đời sống, phong tục, nuôi dưỡng tính cách và duy trì bản sắc văn hóa của cộng đồng của người dân nơi đây. (VOV 4 7/6) đầu trang(
Trong lúc chờ đợi cơ chế bảo vệ rừng lim cổ thụ giáp ranh giữa 2 huyện Tây Giang và Nam Giang, lãnh đạo tỉnh Quảng Nam đã chỉ đạo cho ngành Kiểm lâm bằng mọi giá phải bảo vệ cho được rừng lim.
Tổ công tác gồm 8  kiểm lâm (thuộc Ban quản lý Rừng phòng hộ Bắc Sông Bung) ra đời từ đấy. 2 năm nay, họ thay phiên nhau ăn ngủ trên một chiếc thuyền nhỏ giữa lòng hồ thủy điện Sông Bung 4.
Rừng lim mà họ bảo vệ với mật độ dày và nhiều cây có đường kính 1,5 đến 2 mét được xem là quần thể rừng lim lớn nhất còn lại của Quảng Nam và là đích ngắm thường xuyên của "lâm tặc". Tổ trưởng Nguyễn Thành Long cho biết, chỉ cần lực lượng kiểm lâm rút lui khỏi điểm chốt chặn khoảng 1 tháng thì rừng lim coi như bị xóa sổ. "Khu vực rừng lim chủ yếu nằm ở thượng nguồn con suối Lăng, nếu lâm tặc đưa máy cưa vào đến nơi thì cây bị cưa hạ sẽ lao xuống suối. Từ đây gỗ sẽ dễ dàng theo đường thủy được đưa đi tiêu thụ"- anh Long cho biết.
Không thỏa hiệp được với cán bộ kiểm lâm chốt chặn rừng lim, nhiều đối tượng quay ra hù dọa. "Nhiều lần chúng nhắn tin vào số máy của tôi hù dọa này kia. Nhưng tôii và anh em vẫn kiên định lập trường"- Trạm trưởng Nguyễn Thành Long chia sẻ…
Chiều dần buông xuống lòng hồ, từng đôi vợ chồng ngư phủ chèo ghe vào đầu thượng nguồn Khe Lăng để hành nghề bủa lưới, thả câu bắt cá. Khi màn đêm dần xuống thì cũng là lúc gần 10 cán bộ kiểm lâm chen chúc nhau ngủ trên chiếc thuyền dài khoảng 10 mét, bề ngang tầm 2,5. Là khách trên thuyền, lạ chỗ ngủ nên suốt đêm tối cứ trằn trọc. Thuyền nhỏ chồng chềnh, mỗi lúc có người thức dậy vệ sinh, cả chiếc thuyền chồng chềnh qua lại thế là mọi người lại tỉnh giấc.
Việc bảo vệ rừng lim có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với Quảng Nam nói chung và H. Tây Giang nói riêng, do vậy khi con đường từ xã Zuôi mở qua xã Lăng (H. Tây Giang), khi phát tuyến, chạy ngang qua khu vực rừng lim, lãnh đạo H. Tây Giang đã kiến nghị UBND tỉnh Quảng Nam xem xét, dừng ngay dự án. Trao đổi với P.V Báo Công an TP Đà Nẵng, ông Bhling Mia, Chủ tịch UBND H.Tây Giang cho biết, tuyến đường giao thông nối xã Zuôih (H. Nam Giang) với xã Lăng (H. Tây Giang) được thực hiện từ năm 2012.
Tuyến đường này dài 32 km, đã làm xong giai đoạn 1 (dài 8 km) qua địa phận H. Nam Giang. Tuy nhiên, nếu tiếp tục triển khai giai đoạn 2 qua địa phận H. Tây Giang sẽ băng qua và ảnh hưởng đến cánh rừng lim. Do vậy, H. Tây Giang sẽ kiến nghị UBND tỉnh Quảng Nam điều chỉnh lại tuyến đường để đi theo hướng khác, không ảnh hưởng đến diện tích rừng lim.
"Ngoài ra, sắp tới đây huyện sẽ vận động nhân dân địa phương mở con đường lâm sinh vào rừng lim nhằm phục vụ cho công tác tuần tra, bảo vệ cánh rừng lim quý hiếm này"- ông Mia cho biết thêm.
Với quyết tâm bảo vệ rừng lim, ông Đinh Thanh Hồng, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Sông Bung quả quyết: "Nhiều lần lâm tặc lân la vào đây để xin mót những khúc gỗ lim mục, nhưng tôi chỉ đạo anh em tuyệt đối không cho. Không thể thỏa hiệp với lâm tặc được. Vì hôm nay họ lấy gỗ mục, ngày mai họ có thể tiến thêm vài bước để chặt cây tươi. Tôi thường nói anh em trong đơn vị cực đã cực rồi, khổ đã khổ rồi. Vậy nên không nên vì cái trước mắt mà đánh đổi cả sự nghiệp"- ông Hồng nói.
Xét thấy tầm quan trọng phải bảo vệ rừng lim này, đầu năm 2016, đích thân Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Trí Thanh cùng đoàn công tác của Sở NN&PTNT tỉnh đã vào đến rừng lim để khảo sát, lên phương án bảo vệ. Khi đến nơi, thấy cuộc sống, sinh hoạt của cán bộ tại đây quá khó khăn, ông Lê Trí Thanh hứa sẽ hỗ trợ kinh phí để tổ công tác dựng một túp lều để ở cố định trên đất liền…
Có thể thấy, dù cuộc sống lênh đênh sông nước, thiếu thốn trăm bề, nhưng với quyết tâm bảo vệ rừng, những cán bộ kiểm lâm nơi đây trong thời gian qua đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, việc làm của các anh rất đáng trân trọng. (Công An TP.Đà Nẵng 8/6) đầu trang(
Hà Nội có hơn 27.000ha rừng và đất lâm nghiệp, tuy diện tích không nhiều nhưng rừng có độ "nhạy cảm" cao. Ngoài cung cấp nguyên liệu, rừng còn có tác dụng phòng hộ bảo vệ môi trường, cải thiện điều kiện tiểu khí hậu, bảo vệ cảnh quan, phát triển du lịch sinh thái, tâm linh...
Nhận thức rõ tầm quan trọng này, việc giáo dục cho học sinh ngay từ khi ngồi ghế nhà trường về bảo vệ rừng (BVR) là hết sức quan trọng.
Nói về trách nhiệm BVR, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) Hà Nội Nguyễn Hiệp Thống nhấn mạnh, BVR là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, chính quyền địa phương các cấp, trong đó có ngành GD&ĐT. Những năm qua, nhiệm vụ này được triển khai ở các trường học tại xã có rừng, đã tác động lớn đến công tác BVR.
"Nếu hôm nay, các em học sinh có ý thức bảo vệ rừng, mai sau rừng sẽ tốt tươi. Không những vậy, ý thức bảo vệ rừng của các em còn lan tỏa đến gia đình và cộng đồng nơi các em sinh sống" - ông Thống chia sẻ.
Thầy Nguyễn Đình Tiến, Phó Hiệu trưởng Trường THPT Xuân Mai (Chương Mỹ) cho rằng: Rừng là một phần sự sống của người dân địa phương. Xung quanh Trường THPT Xuân Mai đều có rừng. Chính vì vậy, nhà trường xây dựng một giáo trình riêng với nhiều nội dung liên quan đến công tác quản lý BVR.
"Chúng tôi coi đây là việc làm thường xuyên. Nhờ vậy, ý thức của học sinh được nâng cao, tiếp tục tuyên truyền cho gia đình và cộng đồng. Từ đây, khu vực Xuân Mai đã hạn chế được những thiệt hại liên quan đến cháy rừng và hủy hoại tài nguyên rừng" - Phó Hiệu trưởng Nguyễn Đình Tiến cho biết thêm.
Hiện tình trạng chặt phá, khai thác trái phép rừng trên địa bàn thành phố hầu như không xảy ra. Qua đây cho thấy, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, ý thức về phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) trong cộng đồng dân cư chuyển biến tích cực. Đáng nói, công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho học sinh tại các địa phương có rừng về công tác BVR và PCCCR ngày càng thực chất, có sức lan tỏa rộng.
Theo Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hà Nội Lê Minh Tuyên, thông qua chương trình, thanh thiếu niên, học sinh các trường học được trang bị những kiến thức cơ bản và tạo điều kiện cho các em cơ hội tìm hiểu, khám phá về rừng, nguồn tài nguyên quý của địa phương. Từ đó, giáo dục các em có ý thức tự giác BVR, không chặt, đốt, phá rừng và săn bắt động vật hoang dã...
Theo kế hoạch phối hợp giữa hai sở GD&ĐT và NN&PTNT, trong năm 2016 sẽ tiếp tục triển khai tuyên truyền tại các xã có rừng ở huyện Chương Mỹ và Quốc Oai. Theo đó, công tác tuyên truyền hướng đến các đối tượng là cán bộ, giáo viên, học sinh 11 trường THCS và THPT tại các xã có rừng. Qua đây, giúp học sinh nâng cao nhận thức về BVR, hiểu rõ vai trò, tác dụng của rừng trong cuộc sống để từ đó hình thành ý thức tự giác BVR.
Ngoài ra, các nhà trường còn lồng ghép tuyên truyền BVR với các phương pháp dạy và học. Cũng trong năm 2016, Sở NN&PTNT phối hợp với Sở GD&ĐT phát động cuộc thi "Tìm hiểu về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng" để tạo không khí sôi nổi trong tìm hiểu về rừng cho giáo viên và học sinh. Ban tổ chức nhận bài thi từ tháng 4 đến tháng 8 và tổng kết trao thưởng vào tháng 11-2016.
Để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, Phó Hiệu trưởng Trường THPT Xuân Mai Nguyễn Đình Tiến cho biết, sẽ tập trung vào các chủ đề, chủ điểm cụ thể như vai trò, tầm quan trọng của rừng trong phát triển kinh tế và môi trường sống của con người; tác hại của việc khai thác, chặt phá, đốt rừng, nạn săn bắt và buôn bán động vật hoang dã; những quy định của Nhà nước về BVR và phát triển rừng; hành động của cộng đồng dân cư về BVR...
Cuộc thi cũng đặc biệt nhấn mạnh đến gương "người tốt, việc tốt", những điển hình tiên tiến trong công tác trồng, chăm sóc và BVR. Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Nguyễn Hiệp Thống đề nghị các trường và giáo viên trong công tác tuyên truyền về rừng tăng cường dẫn chứng các ví dụ cụ thể gắn với những vấn đề thời sự trong BVR để tác động mạnh vào trực quan của các em. Như vậy, công tác tuyên truyền sâu sát, hiệu quả hơn. (Hà Nội Mới 8/6) đầu trang(
Do có sự mâu thuẫn không thống nhất nên trước tiên, cơ quan điều tra cần phải tiến hành xác minh làm rõ những người được cho là lâm tặc có hành vi chống lại các cán bộ kiểm lâm đang thi hành công vụ hay không.
Xung quanh vụ việc, một cán bộ kiểm lâm của Hạt kiểm lâm H.Krông Pa, tỉnh Gia Lai đã nổ súng, làm cho một lâm tặc tử vong xảy ra vào đêm 2/6, dư luận vẫn băn khoăn về nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm lâm viên khi làm nhiệm vụ. PV Infonet có cuộc trao đổi với Luật sư Trương Quốc Hòe – Văn phòng luật sư Interla – Đoàn luật sư thành phố Hà Nội, để hiểu rõ hơn về quyền hạn được sử dụng vũ khí quân dụng của họ trong khi thi hành công vụ.
Luật sư Trương Quốc Hòe cho biết, trong trường hợp này, người dùng súng ở đây là các cán bộ kiểm lâm ở Hạt kiểm lâm H.Krông Pa, tỉnh Gia Lai, vì vậy những người này sẽ có quyền hạn được quy định theo Điều 12 Nghị định 119/2006/NĐ-CP về tổ chức hoạt động của kiểm lâm:
Theo đó, cán bộ sử dụng súng thuộc Hạt kiểm lâm H. Krông Pa có quyền sử dụng vũ khí quân dụng. Tuy nhiên, việc quản lý sử dụng vũ khí và tuần tra, kiểm soát của Hạt kiểm lâm huyện Krông Pa phải được thực hiện đúng quy định về việc giao vũ khí quân dụng và công cụ hỗ trợ phục vụ công tác. Cán bộ kiểm lâm phải có giấy chứng nhận sử dụng vũ khí do Công an tỉnh Gia Lai cấp. Theo thông tin báo chí đã đưa, Hạt kiểm lâm huyện đã có Quyết định số 92/QĐ-KL về việc giao vũ khí và công cụ hỗ trợ phục vụ công tác. Kiểm lâm Đinh Việt Hồng có giấy chứng nhận sử dụng vũ khí do Công an tỉnh Gia Lai cấp.
Trong vụ việc này, theo thông tin được biết, khi phát hiện có lâm tặc dùng thuyền chở gỗ xuôi trên dòng sông Krông Năng, lực lượng kiểm lâm đã dùng thuyền nhỏ để bám theo yêu cầu nhóm lâm tặc dừng lại để kiểm tra.
Tuy nhiên, nhóm lâm tặc không những không hợp tác mà còn dùng thuyền sắt đâm vào thuyền của kiểm lâm, lấy mã tấu, gậy, dao chém chặt tấn công 5 cán bộ kiểm lâm. Thấy lâm tặc hung hãn, kiểm lâm Đinh Xuân Hồng đã dùng súng bắn 5 phát chỉ thiên nhưng lâm tặc vẫn cứ tấn công vào thuyền nhỏ của nhóm kiểm lâm, làm 2 cán bộ là Phạm Văn Duy và Lê Văn Hóa bị thương.
Tuy nhiên, phía gia đình người tử vong và những người có mặt trên thuyền tại thời điểm cho biết họ không tấn công lực lượng kiểm lâm, khi kiểm lâm bắn 5 phát súng chỉ thiên thì họ chỉ cho thuyền bỏ chạy mà không dùng vũ lực chống trả lại.
Do có sự mâu thuẫn không thống nhất nên trước tiên cơ quan điều tra cần phải tiến hành xác minh làm rõ những người được cho là lâm tặc có hành vi chống lại các cán bộ kiểm lâm đang thi hành công vụ hay không? Nếu có thì ở mức độ nào? Sau khi bắn chỉ thiên thì hành động tấn công của những người trên thuyền trở gỗ có dừng lại hay không?
Nếu những người trên thuyền vẫn tiếp tục hành vi dùng mã tấu, đâm chém các cán bộ kiểm lâm gây nguy hiểm cho tính mạng, cán bộ Hồng có hành vi nổ súng vào thuyền để nhằm mục đích làm chìm thuyền không cho tẩu thoát thì hành vi nổ súng của cán bộ Hồng là đúng. Bên cạnh đó cơ quan điều tra cần phải xem xét dưới nhiều góc độ khác để có thể đưa ra kết luận chính xác về hành vi nổ súng của cán bộ kiểm lâm Hồng.
Trong vụ việc này cần phải xem xét đến trách nhiệm của cán bộ Hồng – là người nổ súng và những người trên thuyền chở gỗ chống trả lại cán bộ kiểm lâm. Đối với cán bộ kiểm lâm Hồng, để xem xét trách nhiệm của cán bộ đối với cái chết của ông Đông, trước tiên cần phải điều tra, xác định nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông Nguyễn Sơn Đông.
Bởi lẽ khi cán bộ Hồng nổ súng, viên đạn đã trúng vào đầu gối trái của ông Đông, sau đó ông đã được đưa đến bệnh viện và đã tử vong tại đây. Như vậy cần xác định nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của ông Đông có phải do phát đạn vào đầu gối trái của ông Đông không. Thứ hai, cần phải xác định hành vi nổ súng của cán bộ kiểm lâm Hồng có đúng với quy định pháp luật và được phép nổ súng hay không?
Đối với những người trên thuyền, vận chuyển gỗ lậu: Trong vụ việc này, những người trên thuyền đã có hành vi chống trả dùng vũ lực khiến cho các cán bộ kiểm lâm bị thương. Hành vi này đã có dấu hiệu của tội cố ý gây thương tích với tình tiết cản trở người thi hành công vụ theo Điều 104 BLHS. Cần phải giám định tỉ lệ thương tích của các cán bộ kiểm lâm để làm căn cứ xác định trách nhiệm của những người trên thuyền.
Ngoài ra, anh Nguyên (người cùng đi trên chiếc thuyền chở gỗ) cũng đã thừa nhận thuyền mua, vận chuyển gỗ lậu. Theo Điều 175 BLHS về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng:
Bên cạnh đó, cần phải xem xét về số lượng gỗ mà thuyền của anh Nguyên chuyên chở để xác định thiệt hại gây ra, xem xét xem những người trên thuyền đó đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về những hành vi vi phạm quy định về khai thác rừng, hoặc đã từng có án tích mà chưa được xóa án tích để xác đinh trách nhiệm của các cá nhân tham gia vận chuyển, mua gỗ lậu.
Bởi đây là những yếu tố để xác định anh Nguyên và những người khác trên thuyền có yếu tố cấu thành tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo Điều 175 BHS hay không. (Infonet 9/6) đầu trang(
9 cá thể động vật hoang dã quí hiếm gồm 5 cá thể vích, 3 cá thể khỉ đuôi dài và 1 cá thể culi đã được các lực lượng chức năng cùng trung tâm Giáo dục Thiên niên (ENV) giải cứu trong vòng 5 ngày từ 3-8.6
Trao đổi với PV Lao Động, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên cho biết mới đây nhất vào ngày 7.6, thêm 3 cá thể rùa biển được giải cứu. Cụ thể vào ngày 3.6 Trung tâm này nhận được thông tin kèm một hình ảnh từ khách du lịch về 3 cá thể rùa biển bị nuôi nhốt trong lòng một chiếc thuyền gỗ gần cầu Chà Và.
Mặc dù, vị trí chiếc thuyền này ở rất xa và khó xác định nhưng sau đó lực lượng chức năng đã xác minh được thông tin trên. Thông tin về 3 cá thể rùa biển, được xác nhận là loài vích quí hiếm và có tổng trọng lượng lên tới 70kg này sau đó đã được chuyển giao cho cơ quan Thanh tra thủy sản thành phố Vũng Tàu. Cho đến ngày 7.6, cả 3 cá thể rùa nói trên đã được thả về biển-môi trường sống vốn có của chúng.
Cũng trong ngày 7.6, các cơ quan chức năng TP Hồ Chí Minh đã giải cứu thành công 2 cá thể khỉ. Được biết, một tình nguyện viên ENV đã phát hiện ra một cá thể khỉ đuôi dài đang được vận chuyển bằng ô tô phía trước. Ngay sau đó tình nguyện viên này đã thông tin về trung tâm và các cơ quan chức năng. Ngay sau khi nhận được tin báo, Công an phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, TP HCM đã vào cuộc điều tra và phát hiện thêm một cá thể khỉ khác cũng đang được nuôi nhốt tại đây. Cả hai cá thể khỉ hiện đã được tịch thu và chuyển về Trung tâm cứu hộ Củ Chi trong ngày 7.6
Trước đó nhiều cá thể động vật hoang dã cũng đã được cơ quan chức năng phát hiện và trao trả về nơi bảo tồn hoặc môi trường sống vốn có của nó. Nguồn tin chủ yếu là chính những người dân đã thông tin kịp thời tới các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm liên quan. Cụ thể trong ngày 6.6, hai cá thể rùa biển quí hiếm đã được cơ quan chức năng giải cứu chỉ trong chưa đầy 24 giờ tại Hạ Long. Sau khi phát hiện 2 cá thể rùa này bị nuôi nhốt trong một nhà hàng, một người dân trong khu vực đã nhanh chóng thông tin cho ENV qua email.
Nhận định hai cá thể này thuộc loài vích quí hiếm bị đe dọa tuyệt chủng, Trung tâm này đã ngay lập tức chuyển giao thông tin cho cơ quan Cảnh sát Môi trường và Hạt kiểm lâm thành phố Hạ Long. Ngay tối cùng ngày, hai cá thể vích, với trọng lượng lần lượt là 10kg và 6kg, đã được cơ quan chức năng tịch thu và dự kiến sẽ được thả về biển trong một vài ngày tới.
Vào ngày 4.6, một tình nguyện viên T.N.K đã thuyết phục được người bạn của mình tự nguyện chuyển giao một cá thể culi về nơi bảo vệ động vật hoang dã. Trong ngày, đại diện Trung tâm cứu hộ Linh trưởng nguy cấp đã có mặt tại Hà Nội để đưa culi về Cúc Phương. Trước đó vào ngày 3.6, một cá thể khỉ đuôi dài cũng đã được thả tại Vườn Quốc gia Cát Tiên sau 2 tháng bị nuôi nhốt. (Lao Động 8/6) đầu trang(
Trên địa bàn khu vực biên giới nước ta hiện nay có 25 vườn quốc gia, 48 khu dự trữ thiên nhiên. T
uy không phải là lực lượng chuyên trách bảo vệ môi trường (BVMT) nhưng với vị trí, chức năng, nhiệm vụ của mình, các đơn vị BĐBP đã chủ động tham gia bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên (TNTN), đa dạng sinh học (ĐDSH), bảo vệ và phát triển rừng và bảo vệ các loại động vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ theo quy định của Luật Đa dạng sinh học năm 2008.
Trong những năm qua, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng về công tác BVMT trong quân đội, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP đã chỉ đạo BĐBP các tỉnh, thành phố, các đồn, trạm BP đóng quân trong vùng có vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên triển khai có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ rừng, TNTN và các hệ sinh thái, ĐDSH.
Các đơn vị thường xuyên tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ (CBCS) và nhân dân khu vực biên giới nắm vững pháp luật về BVMT, ĐDSH, nâng cao ý thức bảo vệ rừng và bảo vệ các loại động vật hoang dã, quý hiếm. Các đơn vị cũng rất chú trọng tuyên truyền cho nhân dân nắm rõ Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã, nguy cấp (CITES).
Qua các buổi họp dân, gặp mặt trực tiếp, CBCS thường xuyên vận động nhân dân "không săn bắt", "không mua bán", "không tiêu thụ" động vật hoang dã.
Bộ Tư lệnh BĐBP đã cấp phát 1.500 hình ảnh, tờ rơi về phương pháp nhận biết các loài thú hoang dã cần được bảo vệ khẩn cấp cho các đồn, trạm BP. Các đơn vị đã tham mưu hiệu quả cho cấp ủy, chính quyền các địa phương và phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác trong bảo vệ các vườn quốc gia, các khu dự trữ sinh quyển trên địa bàn khu vực biên giới.
Bên cạnh đó, các đồn, trạm BP thường xuyên tăng cường kiểm tra, kiểm soát xuất nhập cảnh ở các cửa khẩu biên giới đất liền, cảng biển, đấu tranh ngăn chặn, bắt giữ, xử phạt hành chính các đối tượng phạm tội, trong đó có tội phạm buôn bán động vật hoang dã, phá hủy ĐDSH...
Theo thống kê, từ năm 2011 đến 2015, BĐBP trực tiếp đấu tranh, thu giữ 876 súng săn các loại, 12.071 viên đạn, cùng hàng trăm ki-lô-gam vật liệu nổ được sử dụng cho mục đích săn bắt, hủy diệt động, thực vật quý hiếm. Ngoài ra, các đơn vị BĐBP còn bắt giữ 18.741kg động vật hoang dã, quý hiếm; 4.724,6kg ngà voi, 9,4kg sừng tê giác và 8.000kg sừng động vật khác...
Sau khi bắt giữ, các đơn vị BĐBP nhanh chóng phân loại, tổ chức bàn giao cho lực lượng Kiểm lâm xử lý số động vật hoang dã còn sống, số đã chết sẽ được tiêu hủy theo quy định của pháp luật. Đối với các sản phẩm từ động vật hoang dã trong danh mục cấm buôn bán như sừng tê giác, ngà voi, sau khi khởi tố vụ án hình sự các đơn vị đã bàn giao đối tượng, tang vật cho lực lượng Công an xử lý.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, thực trạng công tác bảo vệ  động vật hoang dã trên địa bàn khu vực biên giới của BĐBP còn nhiều khó khăn, bất cập. Đó là, công tác tuyên truyền tại một số cơ quan, đơn vị chưa được coi trọng, hoạt động kiểm tra, giám sát môi trường chưa được tiến hành thường xuyên.
Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa BĐBP với cơ quan chức năng, nhất là các Ban quản lý rừng, vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên còn nhiều hạn chế. Cán bộ chuyên trách về quản lý môi trường, quản lý khoa học, công nghệ ở Bộ Chỉ huy BĐBP các tỉnh, thành không có, trang thiết bị còn thiếu và chưa được tập huấn nghiệp vụ thường xuyên.
Thực tế, trên địa bàn khu vực biên giới, vấn đề môi trường đang có nhiều diễn biến rất phức tạp. Chất thải từ việc khai thác khoáng sản, tài nguyên của nước láng giềng xả ra không khí, môi trường nước sông, suối biên giới, các loại hàng hóa xuất nhập khẩu bị thải loại, xác động vật chết do tư thương bỏ lại trên biên giới đang làm ô nhiễm nhiều nơi, nhất là khu vực xung quanh các cửa khẩu biên giới.
Khu vực biên giới đang đứng trước thực trạng là nhiều vật nuôi, cây trồng, sinh vật có nguy cơ gây ra thảm họa môi trường sinh thái. Các loài thực vật, động vật hoang dã bị mua, bán, vận chuyển trái phép qua biên giới ngày càng diễn biến phức tạp, gia tăng về số lượng, chủng loại và phương thức hoạt động ngày càng tinh vi...
Trong khi biên giới rộng, nhiều đường mòn, lối mở, lực lượng BĐBP thì quá mỏng. Những nhân tố trên cùng với ý thức của người dân, sự vào cuộc của các cấp, ngành trong công tác BVMT trên các địa bàn biên giới còn nhiều hạn chế đặt ra thách thức không nhỏ đối với lực lượng BĐBP.
Đại tá Trương Thế Tuân, Phó Tham mưu trưởng BĐBP cho biết, để làm tốt nhiệm vụ BVMT, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm buôn bán động vật hoang dã, BĐBP tiếp tục tuyên truyền, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho CBCS và nhân dân trên khu vực biên giới.
Bên cạnh đó, BĐBP tiếp tục làm tốt công tác nắm tình hình, kịp thời tham mưu đề xuất với cơ quan chắc năng những vấn đề có liên quan đến bảo vệ môi trường ở địa bàn khu vực biên giới và nước láng giềng. Đồng thời phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chuyên trách của nước láng giềng đấu tranh ngăn chặn các hoạt động săn bắt, mua bán, vận chuyển, tiêu thụ trái phép động vật hoang dã cần được bảo vệ. (Biên Phòng 8/6) đầu trang(
Không phải ngẫu nhiên mà thông điệp của Ngày Môi trường Thế giới 5/6 do Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đưa ra năm nay là: Lắng nghe sự tồn vong của thiên nhiên hoang dã.
Với chủ đề “Tiếng gọi thiên nhiên và hành động của chúng ta”, Ngày Môi trường Thế giới năm 2016 tại Việt Nam với điểm nhấn là tập trung bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ động vật hoang dã để góp phần vào nỗ lực phát triển kinh tế bền vững và an sinh xã hội.
Theo UNEP, thời gian qua, dù những nỗ lực của các cơ quan chức năng và cộng đồng bảo vệ động vật hoang dã đã có một số thành công nhất định nhưng động, thực vật hoang dã vẫn có nguy cơ cao bị tuyệt chủng.
Ngày Môi trường Thế giới năm 2016 hướng tới ngăn chặn tình trạng buôn bán trái phép động vật hoang dã đã và đang làm suy kiệt tài nguyên đa dạng sinh học, đe dọa sự sống còn của các động vật trên thế giới, đồng thời gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh đến công dân toàn cầu về điểm giới hạn của hệ sinh thái trên trái đất, kêu gọi sự chung tay, huy động nỗ lực của toàn thể cộng đồng hiểu biết nhiều hơn và cần phải thay đổi thói quen, hành vi để giảm nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm từđộng, thực vật hoang dã.
Ngày Môi trường Thế giới năm nay còn là cơ hội để cả cộng đồng cùng đồng hành bảo vệ các loài động, thực vật hoang dã khỏi nguy cơ tuyệt chủng và bảo tồn, duy trì sự đa dạng sinh học cho thế hệ tương lai; thể hiện thái độ không khoan nhượng đối với hành vi buôn bán trái phép động, thực vật hoang dã qua từng lời nói và hành động để cùng nhau xây dựng hình ảnh một đất nước Việt Nam nói không với buôn bán và tiêu thụ trái phép động, thực vật hoang dã.
Nằm ở khu vực Bắc Trung Bộ, nơi có điều kiện tự nhiên và khí hậu tương đối khắc nghiệt nhưng tỉnh Quảng Trị vẫn nỗ lực giữ được vốn rừng tự nhiên trên 141.000 ha và rừng trồng trên 100.000 ha, nâng độ che phủ đạt 49,5% (năm 2015). Nhờ có vốn rừng phong phú, là một trong những địa phương có độ che phủ rừng cao trong khu vực, Quảng Trị được đánh giá là địa bàn có tính đa dạng sinh học cao, mang tầm quốc gia và khu vực, có nhiều loài động, thực vật quý hiếm trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới như gà lôi lam mào trắng, voọc Hà Tĩnh, sao la, mang lớn, thỏ vằn...
Chỉ tính riêng khu hệ động vật có xương sống trên cạn ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Đakrông đã thống kê được 333 loài (91 loài thú thuộc 28 họ, 10 bộ; 193 loài chim thuộc 43 họ, 15 bộ; 32 loài bò sát thuộc 13 họ, 2 bộ và 17 loài lưỡng cư thuộc 5 họ, 1 bộ). Trong đó có 79 loài quý hiếm chiếm 23,72% tổng số loài ghi nhận được trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 có 56 loài, chiếm 16,82% (thú 33 loài, chim 11 loài và bò sát 12 loài).
Hàng năm, Khu Bảo tồn thiên nhiên Đakrông đã xây dựng và thực hiện nhiều chuyên đề điều tra, giám sát đa dạng sinh học về các nhóm loài động thực vật như các loài trong bộ gà, các loài linh trưởng, các loài thực vật quý hiếm… Qua điều tra ghi nhận được 22 đàn vượn Trung Bộ, 5 loài gà (Gà lôi hồng tía, gà lôi trắng, trĩ sao, gà gô, gà tiền mặt vàng)…
Có một thực tế đáng báo động đang diễn ra từ hàng chục năm nay trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đó là hầu như năm nào, lực lượng chức năng cũng bắt giữ các vụ buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ trái phép động vật hoang dã, trong đó cá thể động vật hoang dã bị thu giữ nhiều nhất vẫn là kỳ đà, rùa, heo rừng, nai, nhím, khỉ mặt đỏ, khỉ lông vàng, tê tê, trăn, rắn… có cá thể đã chết, được ướp lạnh để đem đi tiêu thụ.
Theo thống kê sơ bộ, từ năm 2012 đến nay, lực lượng chức năng đã bắt giữ 135 vụ vi phạm, thu được 1.599 cá thể động vật hoang dã với trọng lượng 3.514,7 kg. Qua điều tra, các đối tượng khai nhận thu mua động vật hoang dã từ nhiều nguồn, sau đó vận chuyển để cung cấp cho các nhà hàng, quán nhậu.
Theo quan niệm của nhiều người, thực phẩm từ động vật hoang dã được xem là món khoái khẩu, thơm, ngon và bổ dưỡng hơn các loại gia súc, gia cầm nuôi nhốt, ăn thức ăn chế biến công nghiệp, là đặc sản mang tính vùng miền, được xem là vị thuốc khi ngâm rượu, thậm chí là món ăn mang màu sắc tâm linh, đem lại điều may mắn... nên luôn gây tò mò, hấp dẫn thực khách.
Mặc dù hành vi vi phạm về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm đã được quy định trong Bộ Luật hình sự với các chế tài nghiêm khắc, song thực tế, các hành vi xâm hại đến các loài động vật hoang dã vẫn diễn ra.
Nguyên nhân là do công tác bảo vệ chưa nghiêm, do ý thức của cộng đồng chưa tốt, đặc biệt, hiện nhu cầu tiêu thụ động vật hoang dã làm thực phẩm là rất lớn, đem lại lợi nhuận cao cho cả người săn bắt, buôn bán, chế biến nên các đối tượng bất chấp pháp luật vẫn mua bán, tiêu thụ động vật hoang dã với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt khiến cho việc thực thi pháp luật gặp nhiều khó khăn, đồng thời góp phần kích thích sự gia tăng săn bắt, tận diệt, dẫn đến tuyệt chủng các loài động vật hoang dã, quý hiếm.
Bên cạnh đó, diện tích rừng tự nhiên trong khu vực có xu hướng giảm, nạn buôn bán động vật hoang dã tiếp diễn không chỉ ở Việt Nam mà còn diễn ra ở nhiều quốc gia khác hình thành mạng lưới buôn bán động vật hoang dã xuyên biên giới, trong đó Quảng Trị là một trong những địa bàn được mạng lưới buôn bán phi pháp này nhắm đến.
Tỉnh Quảng Trị có tuyến đường xuyên Á nối Việt Nam - Lào - Thái Lan và Myanma qua hai Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, La Lay, cùng tuyến đường Hồ Chí Minh xuyên suốt dãy Trường Sơn, nhiều tuyến đường nội vùng được kết nối, thuận lợi cho việc giao lưu, buôn bán, trao đổi hàng hoá giữa Việt Nam và Lào. Chính yếu tố thuận lợi này cũng góp phần tạo cho Quảng Trị trở thành điểm trung chuyển buôn bán, vận chuyển trái pháp luật nhiều loài động vật hoang dã trong nội địa cũng như từ các nước Đông Nam Á sang các quốc gia khác.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác bảo tồn đa dạng sinh học, đặc biệt là bảo vệ, gìn giữ động vật hoang dã quý hiếm, tỉnh Quảng Trị đã giao cho các ngành liên quan triển khai các chương trình hành động nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ động, thực vật quý hiếm.
Cùng với việc thành lập 3 khu bảo tồn thiên nhiên với tổng diện tích 66.374 ha, tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ rừng nói chung và bảo vệ động, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm nói riêng.
Các ngành chức năng đã phối hợp với chính quyền các địa phương xây dựng phương án đấu tranh ngăn chặn tại chỗ và tổ chức kiểm tra, kiểm soát trên các tuyến giao thông, các tụ điểm mua bán động, thực vật hoang dã trái phép, tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ động, thực vật hoang dã, quý hiếm. Phối hợp với tỉnh Savannakhet (Lào) trong ngăn chặn tình trang buôn bán động, thực vật hoang dã quý hiếm trên tuyến biên giới từ Lào vào Việt Nam.
Tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là người dân ở miền núi, các khu rừng đặc dụng để người dân tích cực tham gia bảo vệ động, thực vật; không săn bắn, bắt, bẫy các loài động vật hoang dã quý hiếm; không làm ô nhiễm hoặc phá huỷ môi trường sống của động vật hoang dã. Những nỗ lực này đã góp phần hạn chế nạn khai thác, buôn bán, săn bắt, tiêu thụ trái phép động vật hoang dã, số vụ vi phạm giảm dần qua từng năm.
Để giảm thiểu tình trạng khai thác, buôn bán, săn bắt, tiêu thụ trái phép động vật hoang dã trên địa bàn, cần thay đổi nhận thức và hành vi của người sử dụng bằng các chiến dịch truyền thông đến nhiều tầng lớp nhân dân về việc chung tay bảo vệ động vật hoang dã, nói không với việc sử dụng, tiêu thụ thực phẩm từ động vật hoang dã. Các cơ quan chức năng cần đấu tranh quyết liệt, hiệu quả với hành vi khai thác, buôn bán, săn bắt, tiêu thụ trái phép động vật hoang dã, bảo tồn, duy trì đa dạng sinh học cho thế hệ tương lai. (Báo Quảng Trị 8/6) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Chủ tịch UBND tỉnh vừa ký ban hành Quy định thí điểm về mức thu, quản lý và sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn nước trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Theo đó, tỉnh Lào Cai sẽ thực hiện thu tiền dịch vụ môi trường rừng từ ngày 01/7/2016.
Mức thu tiền dịch vụ môi trường rừng đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn nước trên địa bàn tỉnh là 35 đồng/m3 nước khai thác. Số tiền thu trong kỳ bằng (=): Đơn giá (x) lượng nước đăng ký được cơ quan có thẩm quyền cấp phép (x) tỷ lệ huy động công suất so với công suất thiết kế của dự án.
Tiền dịch vụ môi trường rừng được quản lý, sử dụng như sau: Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng sử dụng 10% trên tổng số tiền ủy thác để chi cho các hoạt động quản lý theo quy định tại Thông tư số 85/2012/TT-BTC ngày 25/5/2012 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng.
Dành 5% để dự phòng trên tổng số tiền ủy thác chuyển về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh. Sử dụng 85% trên tổng số tiền ủy thác DVMTR chi cho các chủ rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng cho các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp; hỗ trợ thực hiện các chương trình dự án do UBND tỉnh phê duyệt bao gồm: Các dự án trồng rừng, trồng rừng cảnh quan; tuyên truyền, phổ biến và triển khai thực hiện chính sách pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; đào tạo nguồn nhân lực cho công tác Bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn các huyện, thành phố có cung ứng dịch vụ môi trường đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp.
Quy định nêu rõ, đối tượng áp dụng gồm: Các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn nước trên dịa bàn tỉnh Lào Cai và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép khai thác, sử dụng nguồn nước; đối tượng được nhận ủy thác tiền dịch vụ môi trường rừng là Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lào Cai; các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân có hoạt động liên quan đến quản lý, thực hiện chính sách dịch vụ môi trường rừng tại địa phương. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Lào Cai 8/6) đầu trang(
Ngày 8-6, đồng chí Nguyễn Văn Trình, Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì cuộc họp với Sở NN-PTNT, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp BR-VT, UBND huyện Xuyên Mộc xem xét tờ trình của Sở NN-PTNT đề nghị chuyển giao 322,29ha rừng gỗ lớn từ Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp BR-VT (gọi tắt là Công ty Lâm nghiệp BR-VT) cho UBND huyện Xuyên Mộc quản lý.
Công ty Lâm nghiệp BR-VT là DN Nhà nước có chức năng trồng, chăm sóc, quản lý, bảo vệ khai thác, kinh doanh rừng sản xuất. Từ những năm 1987-1988, Công ty đã trồng cây gỗ lớn trên diện tích 322,29ha nằm rải rác ở địa bàn các xã: Hòa Hội, Hòa Hiệp, Bông Trang, Bưng Riềng (thuộc huyện Xuyên Mộc).
Theo công văn số 329 ngày 2-3-2016 của Thủ tướng Chính phủ về phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới Công ty TNHH Lâm nghiệp BR-VT, Thủ tướng Chính phủ thống nhất phương án chuyển giao 322,29ha rừng gỗ lớn nói trên cho UBND huyện Xuyên Mộc quản lý, bảo vệ, duy trì, bảo tồn.
Trên cơ sở này, Sở NN-PTNT đề nghị UBND tỉnh cho phép Công ty Lâm nghiệp BR-VT chuyển giao 322,29ha rừng gỗ lớn tại các khu vực trên cho UBND huyện Xuyên Mộc quản lý, bảo vệ, duy trì, bảo tồn. Tuy nhiên, trong số 322,29ha rừng gỗ lớn này, có những phần diện tích “da beo”, nằm rải rác tại nhiều xã trên địa bàn huyện Xuyên Mộc nên việc quản lý sẽ gặp khó khăn.
Vì vậy, tại cuộc họp, đồng chí Nguyễn Văn Trình đồng ý cho Công ty Lâm nghiệp BR-VT chuyển giao trước 230ha rừng tập trung tại xã Hòa Hội cho UBND huyện Xuyên Mộc quản lý, phần diện tích rải rác còn lại sẽ bàn giao theo hình thức cuốn chiếu. Đồng chí Nguyễn Văn Trình chỉ đạo UBND huyện Xuyên Mộc lên phương án quản lý diện tích đất được giao trình UBND tỉnh xem xét. (Báo Bà Rịa - Vũng Tàu 8/6) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt điều chỉnh tăng diện tích Vườn quốc gia U Minh Hạ tỉnh Cà Mau.
Theo đó, tổng diện tích quy hoạch cho Vườn là 8.527,8 ha (tăng 241,8 ha so với diện tích thành lập tại Quyết định số 112/QĐ-TTg ngày 20/1/2006 của Thủ tướng Chính phủ), thuộc địa giới hành chính của 4 xã nằm trên 2 huyện của tỉnh Cà Mau bao gồm: Xã Khánh Bình Tây Bắc và xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời; xã Khánh An và xã Khánh Lâm, huyện U Minh.
Vườn quốc gia U Minh Hạ có 3 phân khu chức năng gồm: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt; phân khu phục hồi sinh thái; phân khu dịch vụ hành chính.
Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích 2.593,7 ha thuộc các Tiểu khu 1, 2, 3 và 4; chức năng chủ yếu là bảo vệ sự đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên và các giá trị sinh thái của rừng trên đất than bùn.
Phân khu phục hồi sinh thái có diện tích 5.190,5 ha thuộc các tiểu khu: 59, 61, 63, 69, 70, 72,73, 75 và 76; chức năng chủ yếu là nhằm khôi phục và phát triển hệ sinh thái rừng tràm ngập nước để bảo tồn, sử dụng bền vững tài nguyên rừng và cảnh quan thiên nhiên.
Phân khu dịch vụ hành chính có diện tích 743,6 ha thuộc các tiểu khu: 76, 77, 5, 6; chức năng là đảm bảo các hoạt động về quản lý hành chính như xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho Ban quản lý Vườn, các hoạt động du lịch sinh thái, các công trình phục vụ cho phòng cháy chữa cháy rừng.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Cà Mau chỉ đạo Vườn quốc gia U Minh Hạ thực hiện việc triển khai điều chỉnh diện tích ranh giới Vườn và các phân khu chức năng theo đúng quy định. (Chính Phủ 8/6) đầu trang(
Năm 2016, tỉnh Bắc Kạn có kế hoạch trồng rừng sau khai thác là 500ha, đây là những diện tích do người dân tự đầu tư để trồng. Tính đến hết tháng 5 diện tích người dân đã đầu tư để thiết đạt 650ha, vượt 30% kế hoạch.
Trong đó nhiều nhất là huyện Chợ Mới 200ha, Chợ Đồn 150ha, Bạch Thông và Na Rỳ mỗi huyện 100ha, Ngân Sơn 50ha. Ngay từ đầu năm, các địa phương đã tích cực tuyên truyền cho người dân về lợi ích, ý nghĩa trồng rừng, nhờ đó nhận thức của người dân về công tác trồng rừng và bảo vệ rừng đã được nâng lên đáng kể, dù không nằm trong diện những diện tích được hỗ trợ đầu tư trồng rừng nhưng nhiều hộ đã tự đăng ký trồng mới.
Cùng với đó Ban chỉ đạo trồng rừng các xã phối hợp với cán bộ Hạt kiểm lâm huyện, thành phố tiến hành rà soát các lô, khoảnh rừng còn trống, các diện tích rừng sản xuất vừa khai thác để trồng lại. Năm 2016 trong tổng số 7.000ha rừng trồng mới chỉ có 4.000ha trồng rừng chu kỳ đầu tiên được ngân sách nhà nước hỗ trợ. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 8/6) đầu trang(
Theo số liệu của Sở NN& PTNT, thực hiện kế hoạch trồng rừng năm nay, tính đến ngày 2/6, toàn tỉnh đã trồng được 4.696 ha rừng tập trung, tăng 1.042 ha so với kỳ trước và đạt 58,7% kế hoạch năm.
Theo đó, các địa phương đảm bảo tiến độ trồng rừng nhanh có huyện Kim Bôi trồng mới được 1.170 ha, Lạc Thuỷ 800 ha, Lạc Sơn gần 600 ha, Lương Sơn 510 ha, Đà Bắc gần 435 ha, Tân Lạc gần 300 ha.
Cùng với trồng mới, các huyện, thành phố trong tỉnh  tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và chăm sóc diện tích rừng trồng. Đặc biệt, lực lượng chức năng đảm bảo trực 24/24h để xử lý kịp thời, phát hiện, ngăn chặn, huy động nguồn nhân lực ứng cứu và tham gia chữa cháy theo phương châm  “4 tại chỗ”. (Báo Hòa Bình 8/6) đầu trang(
Nhằm hưởng ứng ngày Môi trường thế giới (5-6), Vườn Quốc gia Yok Don vừa phối hợp với Đoàn Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk trồng gần 100 cây xanh tại Vườn Quốc gia Yok Don.
Bên cạnh trồng rừng, còn có tới hơn 150 đoàn viên của nhiều đơn vị tham gia dọn vệ sinh môi trường dọc tuyến tỉnh lộ 1, thuộc địa bàn xã Krông Na, Ea Huar, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk.
Có mặt tại buổi lễ, ông Đỗ Quang Tùng (Giám đốc Vườn Quốc gia Yok Don) và ông Đặng Gia Duẩn (Phó Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk) mong rằng các cơ sở đoàn tiếp tục tăng cường hơn nữa những hoạt động giao lưu, phát huy vai trò xung kích của mình trong việc tuyên truyền, giáo dục về vai trò, ý nghĩa của việc trồng cây gắn với việc bảo vệ, phát triển rừng và việc làm sạch đường sá, dọn dẹp rác thải, bảo vệ cảnh quan môi trường.
Trước đó, ngày 19-5, nhân dịp kỷ niệm sinh nhật Bác và 43 năm ngày thành lập lực lượng kiểm lâm Việt Nam (21-5-1973 đến 21-5-2016), hơn 200 kiểm lâm của Vườn Quốc gia Yok Don cũng đã trồng hơn 400 cây xanh các loại (cây ăn quả, cây xanh bóng mát, các cây gỗ quý)… (Pháp Luật TP.HCM 8/6) đầu trang(
Ngày 31/5/2016, UBND tỉnh ban hành Công văn số 4196/UBND-NNMT, gửi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc Lập dự án trồng cao su trên đất trồng rừng sau khai thác.
UBND tỉnh nhận được Báo cáo số 19/BC-CT ngày 16/5/2016 của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lắk, về việc lập dự án đầu tư trồng cao su trên đất trồng rừng sau khai thác tại tiểu khu 1407, 1408 xã Đắk Nuê, huyện Lắk.
Theo đó UBND tỉnh giao sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét đề nghị của công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lắk tại Công văn nói trên, tham mưu UBND tỉnh giải quyết đảm bảo đúng quy định của pháp luật. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Đắk Lắk 7/6) đầu trang(
Sáng ngày 7/6, tại ấp Mỏ Ó, xã Trung Bình, huyện Trần Đề, đã diễn ra các hoạt động trồng rừng ngập mặn ven biển. Đây là năm thứ 5, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Sóc Trăng triển khai thực hiện dự án này.
Đây là năm thứ 5 dự án trồng rừng ngập mặn ven biển triển khai thực hiện tại xã Trung Bình, huyện Trần Đề, được sự tài trợ của công ty Premier Oil – Vương quốc Anh, thông qua cơ quan đại diện phía Nam của Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.
Tính chung trong 5 giai đoạn thực hiện, dự án đã có 85ha rừng bần được trồng mới, nâng diện tích rừng phòng hộ của huyện Trần Đề lên gần 760 ha, góp phần tạo lá chắn xanh cho vùng ven biển và phòng ngừa thiên tai.
Trong năm 2016, ngoài 20 ha rừng bần thuộc giai đoạn 5 của dự án, từ nguồn ngân sách địa phương, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Sóc Trăng sẽ trồng thêm 12,2 ha cây bần mới để khôi phục lại diện tích rừng bị thiệt hại trong năm 2015. Tổng chi phí thực hiện trồng rừng từ năm 2011 đến nay là gần 6,5 tỉ đồng.
Bên cạnh đó, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Sóc Trăng cũng triển khai nhiều biện pháp để chăm sóc và bảo vệ rừng bần non, để làm được điều này rất cần sự chung tay của các ngành chức năng, sự tham gia tích cực của các đơn vị có thẩm quyền, nhất là ý thức của người dân về lợi ích của việc trồng rừng, để cùng tạo lá chắn xanh bảo vệ môi trường sống. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sóc Trăng 7/6) đầu trang(
Thời điểm này đã bước vào vụ trồng rừng năm 2016, tuy nhiên, người dân huyện Ngân Sơn mới xử lý thực bì được hơn 340ha, chậm so với kế hoạch đề ra.
Năm 2016, huyện Ngân Sơn được giao chỉ tiêu trồng mới 870ha rừng, trên cơ sở đăng ký của người dân, đến thời điểm này, Ban quản lý dự án trồng rừng 147 huyện Ngân Sơn đã thiết kế được 800ha, đạt hơn 91% kế hoạch. Trong đó, rừng tự nhiên nghèo kiệt là gần 148ha, giảm hơn 80ha so với kế hoạch. Nguyên nhân là do các hộ gia đình xin cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt để trồng rừng nhưng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vì vậy không lập được hồ sơ cải tạo theo quy định.
Để công tác trồng rừng diễn ra theo đúng kế hoạch, hiện chính quyền các xã trên địa bàn huyện cũng đang tích cực vận động người dân xử lý thực bì, cuốc hố phục vụ cho trồng rừng. Bên cạnh đó, Ban quản lý dự án trồng rừng 147 của huyện cũng chỉ đạo chủ các vườn ươm thực hiện nghiêm kỹ thuật chăm sóc cây giống, nhất là trong điều kiện nắng nóng như những ngày vừa qua, đảm bảo đủ cây giống chất lượng cung cấp cho người dân. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 8/6) đầu trang(
Trồng rừng thay thế góp phần làm tăng độ che phủ của rừng, giảm tác động của biến đổi khí hậu và tạo sinh kế cho người dân.
Tuy nhiên đầu năm 2016, Gia Lai lại bị đánh giá là 1 trong 12 tỉnh chậm triển khai trồng rừng thay thế. Nguyên nhân là do việc nhận thức chưa đầy đủ của chủ dự án phải trồng rừng thay thế và công tác kiểm tra, giám sát của ngành chức năng , chính quyền địa phương còn thiếu kiên quyết.
Theo Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Gia Lai, tổng diện tích trồng rừng thay thế trên địa bàn tỉnh theo Thông tư số 24/TT-BNN&PTNT của Bộ Nông nghiệp và PTNT là 4.476,8 ha. Đây là diện tích chuyển đổi đất rừng sang làm thủy điện, khai thác khoáng sản, hay các dự án sử dụng mục đích công cộng (lòng hồ, kênh mương, trạm xá, trường học…)
Trong năm 2015, năm đầu tiên thực hiện việc trồng rừng thay thế, tỉnh Gia Lai phải trồng 1.045,49 ha. Trong đó, các chủ dự án tự tổ chức trồng 359,17 ha và diện tích do các đơn vị chủ rừng, UBND huyện trồng từ nguồn tiền trồng rừng thay thế các dự án nộp vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh là 686,32ha.
Việc kiểm tra quy trình trồng rừng và đánh giá chất lượng rừng trồng của các dự án có diện tích trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác được tiến hành thường xuyên. Tất cả các chủ dự án sau khi hoàn thành công tác trồng rừng trên diện tích đã được tỉnh phê duyệt, đều được ngành chức năng tổ chức nghiệm thu sau 4 năm trồng và chăm sóc. Sau đó mới giao lại cho chính quyền địa phương hoặc các chủ rừng quản lý, bảo vệ.
Ông Nguyễn Hồng Lâm – Trưởng phòng sử dụng, phát triển rừng – Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai cho biết: Theo kế hoạch năm 2015, thực tế triển khai trồng được 944,215 ha, đạt 90,3% kế hoạch. Còn 101,28 ha đất chuyển mục đích sử dụng sang làm thủy điện (gồm Thủy điện Tây Nguyên 48,78 ha và Thủy điện Đăk Ble 58,5 ha) chưa được trồng rừng thay thế và sẽ tiếp tục trồng trong năm 2016. Ngoài ra, vẫn còn 22 dự án khai thác khoáng sản trên địa bàn chưa thực hiện trồng rừng thay thế, với diện tích 139,50 ha.
Kế hoạch năm 2016, toàn tỉnh có 1053 ha đất rừng chuyển đổi sử dụng sang mục đích khác phải trồng rừng thay thế. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có diện tích nào được trồng.
“Nguyên nhân là do: Các chủ dự án không nghiêm túc thực hiện vì đã được cấp có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác, trước ngày Thông tư số 24/2013/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và PTNT, quy định về trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác có hiệu lực nên các chủ dự án có lý do chây ì, chậm trễ trong tiến hành trồng rừng thay thế; Nguồn vốn thuộc ngân sách thực hiện cho các dự án chuyển mục đích sử dụng rừng hiện tại vẫn chưa có gây khó khăn cho việc triển khai trồng rừng theo kế hoạch”, ông Nguyễn Hồng Lâm giải thích.
Bên cạnh đó, nhiều dự án khai thác khoáng sản chưa tuân thủ nghiêm túc việc trồng rừng phục hồi môi trường sau khi khai thác khoáng sản, chưa thực hiện theo hướng dẫn về trình tự, thủ tục lập hồ sơ thiết kế trồng, chăm sóc, nghiệm thu và bàn giao rừng sau khi khai thác khoáng sản, nên việc kiểm tra thực hiện trồng rừng thay thế gặp nhiều khó khăn. Qua đó, có thể thấy việc giám sát, xử lý các dự án chây ì trồng rừng thay thế của ngành chức năng địa phương vẫn còn chưa quyết liệt và hiệu quả, nên nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện tốt nghĩa vụ trồng rừng thay thế.
Rõ ràng, trồng rừng thay thế không những bù đắp lại diện tích rừng đã chuyển đổi sang mục đích khác, làm tăng độ che phủ của rừng, góp phần cải thiện môi trường sống, giảm tác hại của biến đổi khí hậu, mà còn tạo công ăn việc làm cho người dân, trong đó chủ yếu là người đồng bào dân tộc thiểu số.
Do đó, đẩy nhanh tiến độ trồng rừng thay thế là việc làm cần thiết, mang lại nhiều lợi ích. Ngành chức năng và chính quyền địa phương của tỉnh cần phải tăng cường tuyên truyền, phổ biến lợi ích mà rừng mang lại để nâng cao nhận thức bảo vệ, trồng rừng thay thế cho người dân và các doanh nghiệp sử dụng đất rừng. (Tài Nguyên Và Môi Trường 8/6) đầu trang(
Huyện An Lão vừa triển khai văn bản hướng dẫn của Sở NN&PTNT tỉnh Bình Định về thực hiện Thông tư số 27/2015/TT-NHNN ngày 15/12/2015 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam về cho vay trồng rừng sản xuất, phát triển chăn nuôi theo Nghị định số 75 của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020.
Theo đó, UBND các huyện chỉ đạo UBND các xã, thị trấn triển khai cho các hộ gia đình có liên quan biết về chính sách cho vay vốn ưu đãi tại các ngân hàng trên địa bàn huyện để trồng rừng sản xuất theo quy định tại khoản 1, Điều 8 Nghị định số 75/2015 của Chính phủ.
Đối tượng được vay vốn, là hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số, hộ gia đình người kinh nghèo đang sinh sống ổn định tại các xã có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn thuộc khu vực I, II, III có hoạt động trồng rừng sản xuất bằng cây lấy gỗ, cây lâm sản ngoài gỗ trên đất quy họach phát triển rừng được Nhà nước giao đất, trồng rừng sản xuất, phát triển chăn nuôi; Hồ sơ, thủ tục vay vốn do Ngân hàng chính sách xã hội và Ngân hàng NN&PTNT các huyện xây dựng theo quy định hiện hành . (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bình Định 7/6) đầu trang(
Chỉ còn vài tháng nữa là đến thời vụ trồng rừng, vì vậy hiện nay, các hộ sản xuất cây giống ở xã Sơn Long (huyện Sơn Hòa) đang tất bật chuẩn bị lứa cây giống đạt chuẩn để xuất bán cho các chủ trồng rừng.
Những năm gần đây, phong trào trồng rừng ở xã Sơn Long và các xã lân cận phát triển khá mạnh. Để đáp ứng nhu cầu cây giống cho người dân, nhiều vườn ươm đã ra đời, mở rộng và có sự đầu tư hơn so với những năm trước. Hiện trên địa bàn xã Sơn Long có 8 vườn ươm sản xuất cây giống lâm nghiệp theo phương pháp giâm hom với quy mô từ vài chục ngàn đến hàng trăm ngàn bầu cây xuất bán mỗi năm. Các giống cây chủ lực được sản xuất tại các vườn này là keo, bạch đàn…
Anh Nguyễn Văn Hồng (SN 1980, trú thôn Phong Hậu, xã Sơn Long) là một trong những người có vườn ươm lớn với diện tích 2ha và đi đầu trong việc ứng dụng kỹ thuật ươm giống tại địa phương. Anh Hồng cho biết: “Nhận thấy phong trào trồng rừng trên địa bàn xã đang phát triển mạnh, trong khi nguồn cung ứng cây giống còn hạn chế, người trồng rừng phải mua cây giống ở tỉnh Bình Định vừa xa lại không rõ nguồn gốc, nên năm 2015, tôi quyết định ươm thử 700.000 cây. Với giá bán trung bình 600 đồng/bầu cây, sau khi trừ chi phí mua vật tư, thuê nhân công lao động, gia đình tôi thu lãi trên 105 triệu đồng”.
Năm đầu mới làm, anh Hồng thuê một nhân viên từ Bình Định vào để hướng dẫn kỹ thuật ươm cây. Nhờ sự hướng dẫn của nhân viên này và tự học hỏi thêm kinh nghiệm, anh đã mạnh dạn mở rộng diện tích đất trồng giống cây mẹ nhằm nâng cao chất lượng của cây con.
Tương tự như gia đình anh Hồng, gia đình ông Nguyễn Văn Minh (SN 1968, trú thôn Suối Phèn, xã Sơn Long) cũng là một trong những điển hình về phát triển kinh tế từ nghề ươm cây giống. Năm 2015, do chưa có kinh nghiệm nên gia đình ông chỉ làm vườn ươm với diện tích khoảng 2.000m2. Thấy có hiệu quả, ông đã thuê thêm đất để mở rộng diện tích vườn ươm.
Ông Minh bộc bạch: “Nhờ mấy người em với cháu ở ngoài quê (huyện Tuy Phước, Bình Định), tôi đã học hỏi được nhiều kỹ thuật trong nghề ươm giống cây lâm nghiệp. Năm ngoái, tôi quyết định mở vườn ươm, cung ứng ra thị trường 300.000 cây giống, thu lãi 60 triệu đồng”. Đến nay, 2 vườn ươm có tổng diện tích hơn 6.000m2 cũng là nguồn thu nhập chính của gia đình ông Minh.
Với mục tiêu cung ứng ra thị trường những cây giống đảm bảo chất lượng, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, năm 2015, ông đã hoàn thiện các thủ tục và được cấp chứng chỉ vườn ươm. Ông còn mạnh dạn đầu tư hệ thống phun sương tự động vừa giúp tiết kiệm nước, vừa cung cấp đủ và đều nước cho cây phát triển.
Ngoài vườn ươm của ông Minh, anh Hồng, hiện nay, trên địa bàn xã Sơn Long còn có 6 vườn ươm lớn, nhỏ của các hộ tư nhân, cung ứng mỗi năm vài chục triệu cây giống lâm nghiệp các loại cho thị trường. Các vườn ươm này phục vụ nhu cầu trồng rừng của người dân các xã Sơn Xuân, Sơn Định, An Xuân (huyện Tuy An) và cả tỉnh Gia Lai.
Nghề ươm cây giống không chỉ mang lại thu nhập lớn cho các hộ gia đình mà còn tạo việc làm thường xuyên cho nhiều lao động địa phương với mức thu nhập từ 4-5 triệu đồng/người/tháng.
Chị Lê Thị Hiền (trú thôn Suối Phèn, xã Sơn Long) đang làm việc tại vườn ươm của ông Minh, cho hay: “Đây là việc làm theo thời vụ mang lại thu nhập cao. Công việc này bắt đầu từ tháng 5 - tháng 9 nên chúng tôi có thể chủ động thời gian làm việc. Hiện đa số các chủ vườn ươm thuê làm theo sản phẩm, mình làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít”. Theo ông Minh, vườn ươm cây giống của ông đang có thị trường tiêu thụ khá ổn định nên giải quyết việc làm thời vụ cho hơn 20 lao động.
Ông Nguyễn Văn Lợi, Chủ tịch UBND xã Sơn Long, cho biết: “Việc các cá nhân, hộ gia đình sản xuất giống và kinh doanh giống cây lâm nghiệp trên địa bàn xã đã cơ bản bảo đảm cung cấp giống cây lâm nghiệp, góp phần đẩy nhanh tốc độ trồng rừng của địa phương. Do đó, UBND xã luôn khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các vườn ươm cây giống mở rộng”. (Báo Phú Yên 8/6) đầu trang(
Cây xanh và hồ ở Hà Nội ngày càng ít nhường chỗ cho những khu đô thị, tòa nhà cao tầng nên những đợt nắng nóng lại trở nên nóng bức hơn.
Mấy ngày gần đây, Hà Nội bước vào đợt nắng kỉ lục với nền nhiệt dao động từ 36-38 ºC, có thời điểm trên 39 ºC, lại thêm hiệu ứng đô thị khiến mức nhiệt ngoài trời càng tăng cao.
Một trong những công cụ để điều hòa khí hậu là ao hồ và cây xanh. Tuy nhiên, hiện lượng cây xanh và ao hồ ở các thành phố lớn và cả khu vực nông thôn cũng ngày càng bị thu hẹp. Nguyên nhân do quá trình đô thị hóa nên nhiều cây xanh đã bị chặt, nhiều ao hồ san lấp.
Còn những ngôi nhà trong đô thị dường như hiếm thấy nhà nào có chỗ cho cây trồng, chỉ có một vài kiểng cây cảnh đơn lẻ bởi “đất hẹp, người đông” và ai cũng cố gắng tận dụng đất để xây nhà ở cho rộng hơn.
Sự phát triển quá nhanh của các đô thị trong thời điểm “tấc đất tấc vàng” khiến cho hầu hết các nhà đầu tư sao nhãng việc phải dành một diện tích đất nhất định để trồng cây xanh, tạo không gian mở...
Nhiều đô thị cải tạo, nâng cấp và mở rộng đường phố còn tùy tiện chặt hạ hàng loạt cây xanh, cây quý. Tại hầu hết các khu đô thị lớn, hệ thống công trình ngầm chưa được quy hoạch nên tình trạng đào lên, lấp xuống thường xuyên khiến hàng loạt cây trồng lâu năm bị ảnh hưởng dẫn đến chết, hoặc đổ hàng loạt khi gió bão.
Ông Phạm Ngọc Đăng, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam phân tích: Nắng nóng trên diện rộng do biến đổi khí hậu, gây ra hiện tượng thời tiết cực đoan. Việc nắng nóng cũng là quy luật chung của thời tiết, nhưng những nơi có cây xanh, ao hồ nhiều sẽ giảm đi được bức xạ nhiệt của mặt trời.
“Tuy nhiên, hiện ở Hà Nội lượng cây xanh và ao hồ còn rất ít, mặt đường và vỉa hè chủ yếu là bê tông nên nhiệt độ càng cao hơn”, ông Đăng nhận định.
Theo ông Đăng: Việc quy hoạch xây dựng nhà cửa quá chen chúc không quan tâm đến việc trồng cây xanh là nguyên nhân dẫn đến thời tiết ngày càng nắng nóng. Để giảm nhiệt độ do nắng nóng, mỗi gia đình phải tạo ra khoảng cây xanh trên nóc nhà, tường… hạn chế làm nhà bằng kính vì vật liệu này cách nhiệt kém.
Còn theo PGS. TS Nguyễn Duy Thịnh (Đại học Bách Khoa Hà Nội), nguyên nhân nắng nóng do thiên nhiên một phần, chủ yếu là do con người. “Tại các thành phố lớn cây xanh cũng bị chặt gần hết, ao hồ cũng bị thu hẹp nên khiến cho thời tiết càng trở nên nắng nóng. Mặc dù, hàng năm cũng có một lượng cây được trồng lại những cũng không được bao nhiêu so với số cây đã bị chặt”, TS Thịnh nhấn mạnh.
Theo đó, Bộ Tài nguyên- Môi trường và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần phối hợp để có phương án tạo ra một quỹ đất để trồng rừng và công cây xanh trong các khu đô thị, thành phố lớn.  “Vấn đề cơ bản muốn môi trường bền vững phải đầu tư nguồn lực bảo vệ rừng, trồng cây xanh”, PGS.TS Thịnh nhấn mạnh. (Hải Quan 7/6) đầu trang(
Nhờ được được giao đất, giao rừng 98% hộ đồng bào dân tộc Vân Kiều đã thoát cái đói nghèo đeo đẳng nhiều đời qua.
Hơn 100 hộ dân thuộc thôn Mới và thôn Cát, xã Hướng Sơn, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị vừa được công nhận quyền quản lý và bảo vệ rừng, hưởng lợi lâu dài và hợp pháp trên diện tích 600 ha rừng được giao.
Với quyết định giao đất, giao rừng này, xã Hướng Sơn đã có thêm 100 hộ dân (chia thành 32 nhóm hộ) thuộc thôn Mới và thôn Cát được công nhận quyền quản lý và bảo vệ rừng, hưởng lợi lâu dài và hợp pháp trên diện tích 600ha rừng được giao.
Đây là động lực để các hộ, nhóm hộ được giao đất giao rừng đầu tư vào công tác bảo vệ và phát triển rừng, sẵn sàng tham gia thí điểm chi trả REDD+ trong giai đoạn 2016 - 2020 và thị trường các-bon sau năm 2020.
Anh Võ Văn Sự, Hạt trưởng chi cục Kiểm lâm Quảng Trị cho biết: Sau một thời gian dài không quản ngại khó khăn, cán bộ Kiểm lâm cùng UBND xã Hướng Sơn và người dân đã tổ chức khảo sát, đánh giá giá nhu cầu, tuyên truyền về các lợi ích của việc nhận rừng bảo vệ và hưởng lợi.
Đến nay tại thôn Mới đã có 118 ha rừng được giao cho 26 hộ gia đình từ nguồn dự án, nâng tổng số diện tích rừng được giao lên 898ha, đạt 100% diện tích rừng tự nhiên được quy hoạch cho sản xuất tại thôn Mới. Tại thôn Cát, UBND xã Hướng Sơn đã giao 482ha rừng cho 25 nhóm hộ gia đình từ nguồn dự án, chiếm 50% diện tích rừng tự nhiên tại thôn Cát.
Với hoạt động điều tra đánh giá chất lượng rừng phục vụ cho việc lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng, đến nay đã có tổng cộng 1380 ha rừng của hai thôn Mới, Cát đã giao trước đây được điều tra bổ sung nhằm đánh giá chính xác hơn thực trạng chất lượng rừng của hai thôn.
Từ khi có dự án giao đất, giao rừng cho các hộ dân, bà con địa phương đã yên tâm sản xuất, ổn định cuộc sống. Trước kia, thu nhập bình quân mỗi hộ gia đình là 300.000 đồng/tháng thì nay đã tăng lên 500.000 đồng/tháng.
Là một trong số những hộ gia đình ở thôn Mới, xã Hướng Sơn, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị được giao đất, giao rừng, chị Hồ Thị Nhường rất phấn khởi và vui mừng. Kể từ khi được giao đất, giao rừng, chị Nhường và các hộ gia đình khác thường xuyên đi tuần tra rừng cũng như tham gia vào các lớp tập huấn chăm sóc, bảo vệ rừng.
Chị Nhường cho biết, khi được giao đất, giao rừng chị và các hộ gia đình khác sẽ được nhận lâm sản phụ từ rừng như mây tre, nứa, măng... Sau 5 năm chăm sóc và bảo vệ các hộ dân sẽ làm đơn và xin phép chính quyền cho khai thác rừng lấy gỗ làm nhà và phát triển kinh tế để thoát nghèo.
Nhận giao rừng để chăm sóc và quản lý từ đầu năm 2014, gia đình anh Hồ Văn Cực ở xã Hướng Sơn, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đã được hưởng những lợi ích nhất định. Anh Cực kể: “Trước kia, do diện tích ruộng canh tác ít, gia đình tôi phải đi làm thuê nhiều việc nặng nhọc để kiếm sống. Từ khi được giao rừng 10 ha rừng, gia đình đã được hưởng hơn 1 triệu đồng từ dịch vụ chi trả môi trường rừng. Nhờ số tiền này mà tôi có thể mua thêm giống cây trồng và lợn về chăn nuôi.”.
Việc giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình, nhóm hộ ở xã Hướng Sơn, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị là kết quả của việc xây dựng mô hình “Quản lý, bảo vệ rừng cho cộng đồng thôn Mới và thôn Cát xã Hướng Sơn, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị” trong khuôn khổ các hoạt động thuộc Dự án Hỗ trợ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam, với tổng ngân sách 841.345.000 VNĐ.
Theo ban quản lý dự án, việc xây dựng kế hoạch quản lý bảo vệ rừng bền vững cho hai thôn, Ban quản lý dự án tỉnh đã hỗ trợ xây dựng hai Quy ước bảo vệ rừng theo hướng dẫn tại Thông tư 70 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, hai Kế hoạch quản lý rừng cộng đồng, thành lập hai Ban quản lý rừng cộng đồng, thành lập và vận hành 7 tổ tuần tra bảo vệ rừng.
Với các kết quả đạt được, hai thôn trong xã sẽ có những bước chuẩn bị cần thiết để sẵn sàng thực hiện thí điểm REDD+ trong tương lai gần, cũng như giúp chính quyền tỉnh Quảng Trị có những kinh nghiệm quý báu trong triển khai hoạt động, tiến tới thực hiện REDD+. (Dân Trí 7/6) đầu trang(
Ngoài tiềm năng xuất khẩu lên đến 20 tỷ USD, gấp 3 lần kim ngạch hiện nay, Việt Nam còn được xem là điểm đến của xu hướng dịch chuyển trung tâm sản xuất đồ gỗ thế giới.
Theo Tổng cục Hải quan, năm 2015, xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam đạt mức 6,9 tỷ USD, tăng 10,7% so với năm 2014, đưa Việt Nam thành quốc gia xuất khẩu đồ gỗ lớn thứ 4 thế giới, sau Trung Quốc, Đức, Italy.
Hiện mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đã có mặt tại 37 quốc gia trên thế giới, trong đó đứng đầu là thị trường Mỹ, đạt 2,6 tỷ USD, chiếm 38,2% tổng kim ngạch.
Số liệu mới nhất từ Bộ Công Thương cho thấy, 5 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đã đạt 2,68 tỷ USD, tăng 2,08% so với cùng kỳ 2015. Với tốc độ tăng trưởng như hiện tại, dự báo kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong nửa đầu năm 2016 sẽ tăng 3,5% so với cùng kỳ năm ngoái.
Với tình hình khả quan của bất động sản Mỹ, khu vực châu Âu và Nhật Bản (3 thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam), Bộ Công Thương cho rằng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sẽ tăng trưởng khả quan hơn.
Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch thường trực Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TP HCM (Hawa) đánh giá, Việt Nam nổi lên là một quốc gia sản xuất đồ gỗ của thế giới nhờ nguồn nguyên liệu hợp pháp, có tay nghề sản xuất và nguồn nhân công rẻ... Dự kiến năm 2016, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt trên 7 tỷ USD.
Tuy nhiên, trong năm 2016, để đạt đến con số này, doanh nghiệp chế biến gỗ sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức. Theo ông Trần Việt Tiến, Giám đốc Công ty Lavanto Home Decor, ưu thế về lao động rẻ của Việt Nam sẽ mất dần so với nhiều nước khu vực như Philippines, Indonesia, Myanmar... Trong khi đó thiết bị và công nghệ chế biến gỗ của Việt Nam phần lớn vẫn còn cũ so với các nước châu Âu, Trung Quốc, khiến công suất chế biến chưa cao và trình độ quản trị thực sự chưa hiệu quả.
“Trong thời buổi hội nhập này tính cạnh tranh rất cao, không thể kỳ vọng phát triển bằng nhân công giá rẻ mà phải bằng chất xám để tạo những giá trị gia tăng”, ông Tiến cho hay.
Một vấn đề lớn mà ngành gỗ Việt Nam sắp phải đối mặt đó là sự dịch chuyển của nhiều nhà máy chế biến gỗ từ những nước không tham gia TPP hoặc chưa có Hiệp định thương mại tự do với EU sang Việt Nam, để hưởng những lợi thế của các hiệp định này mang lại.
“Cùng với niềm vui là xu hướng dịch chuyển những đơn hàng gia công từ các nước cho Trung Quốc đã chuyển sang Việt Nam, thì có cả những doanh nghiệp gỗ Trung Quốc sang đăng ký đầu tư tại Việt Nam”, ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hawa chia sẻ.
Số liệu từ Sở Kế hoạch Đầu tư Bình Dương cho thấy, số lượng doanh nghiệp gỗ từ “hàng xóm” tràn sang đang ở mức tăng đột biến. Cụ thể, chỉ trong 5 tháng đầu năm 2016, có đến gần 29 trên 100 dự án đầu tư mới nhà máy tại Bình Dương thuộc các doanh nghiệp Trung Quốc, Đài Loan với số vốn ban đầu hơn 82,4 triệu USD. Tính đến nay, số doanh nghiệp FDI từ Trung Quốc, Đài Loan đóng đô ở Bình Dương, một trong những “thủ phủ” của ngành gỗ Việt Nam, đã lên gần 900 doanh nghiệp, với tổng vốn đầu tư hơn 5,5 tỷ USD.
Theo ông Phú Hữu Minh, Phó giám đốc Sở Kế hoạch đầu tư Bình Dương, khoảng 90% doanh nghiệp FDI ở Bình Dương có đăng ký sản xuất, chế biến gỗ và công nghiệp phụ trợ cho ngành gỗ.
Rõ ràng, lượng doanh nghiệp lớn đến từ quốc gia đang giữ “ngôi vương” trong xuất khẩu chế biến gỗ, giàu kinh nghiệm, thực sự là một đe dọa lớn với doanh nghiệp bản địa. Tuy nhiên, việc trung tâm sản xuất đồ gỗ đang dịch chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam cũng cho thấy tiềm năng to lớn của đồ gỗ trong những năm tới.
“Đó cũng là cơ hội cho bất cứ doanh nhân nào, đặc biệt là những doanh nghiệp trong ngành. Chúng ta có đón nhận cơ hội hay để các công ty FDI tận dụng lợi thế của Việt Nam mới là điều quan trọng”, ông Tiến nhận định.
Trong bối cảnh khó chồng khó, đáng mừng là doanh nghiệp gỗ lại rất tích cực trong việc biến chuyển mô hình để thích ứng với nhu cầu mới. Trong đó, đầu tư cho thiết kế để thoát khỏi “lời nguyền gia công” là một điển hình.
Trong gần 7 tỷ USD xuất khẩu hàng gỗ và thủ công mỹ nghệ của Việt Nam, tỷ lệ những sản phẩm do chính các nhà thiết kế trong nước thiết kế chiếm chưa đến 20%. Ông Nguyễn Chánh Phương, Giám đốc Công ty Danh Mộc cho biết, Việt Nam có truyền thống sáng tạo cùng lực lượng lao động trẻ, chỉ thiếu định hướng dài hơi trong đào tạo thiết kế. Đây chính là chìa khóa mà nếu sử dụng tốt, có thể cởi trói cho ngành gỗ lên mức phát triển cao hơn. Doanh nghiệp trong ngành đã bắt đầu chú ý đến vấn đề này và chủ động đầu tư nhiều hơn cho khâu thiết kế. Theo tiết lộ từ phía Hawa, TP HCM sẽ rót kinh phí để Hawa có thể triển khai đào tạo đội ngũ sáng tạo trong ngành, việc mà lý ra các đơn vị giáo dục, đào tạo nghề phải đảm nhận. Công tác đào tạo sẽ được triển khai ngay trong năm nay.
Ở phía còn lại, các doanh nghiệp gỗ Việt Nam cũng đã bắt đầu ứng dụng, khai thác các tiện ích từ công nghệ để nâng cao năng lực sản xuất, tạo lợi thế cạnh tranh. Danh Mộc đầu tư phần mềm quản lý sản xuất để có thể đáp ứng những đặc trưng riêng của ngành gỗ; An Cường đầu tư dây chuyền thiết bị sản xuất tối tân để tăng năng suất, tiết kiệm nhiên liệu... Ông Trần Việt Tiến khẳng định: “Doanh nghiệp nào càng ứng dụng công nghệ nhiều thì nguồn lực doanh nghiệp đó sẽ càng mạnh”.
Theo số liệu từ Hiệp hội Gỗ - Lâm sản Việt Nam (VFA), năm 2000 cả nước mới chỉ có 741 doanh nghiệp chế biến gỗ lâm sản thì nay đã lên đến gần 4.000. Ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hawa phân tích, ngoài tốc độ tăng trưởng như vũ bão về số lượng doanh nghiệp, so với các ngành khác như dệt may, da giày, thuỷ sản, thì ngành gỗ sử dụng nguồn nhân công lao động ít nhưng lại có năng suất cao hơn.
Cụ thể, tỷ lệ lần lượt ở 3 ngành trên là 7.156 USD, 13.943 USD và 8.978 USD mỗi người, còn năng suất lao động đạt được của ngành gỗ tới 18.320 USD mỗi người một năm. Với tất cả những thuận lợi đang có, theo ông Khanh, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một nhà máy sản xuất đồ nội thất của thế giới, và khi đó 20 tỷ USD là con số mà ngành gỗ hoàn toàn có thể hướng tới vào năm 2025. (Dân Trí 8/6) đầu trang(
Ngày 7-6, Cục Quản lý cạnh tranh (VCA-bộ Công thương), cho biết DGAD vừa ban hành kết luận cuối cùng mức thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm gỗ tấm nhập khẩu từ Indonesia và Việt Nam.
DGAD kết luận “Ngành sản xuất nội địa Ấn Độ đã phải chịu thiệt hại đáng kể gây ra bởi sản phẩm nhập khẩu bán phá giá từ các nước bị điều tra nói trên”, nên biên độ phá giá dành cho doanh nghiệp VN ở mức 40-50%, kèm theo là mức thuế chống bán phá giá 63,99 USD/m3.
So với Indonesia, biên độ phá giá lẫn mức thuế áp cuối cùng của VN thấp hơn khá nhiều. Vụ việc được khởi xướng điều tra từ tháng 5-2015 do Công ty Greenply Industries Ltd và Công ty Mangalam Timber Products Ltd khởi kiện.
Ấn Độ cũng đã sang VN tiến hành thẩm tra tại chỗ các doanh nghiệp trong tháng 2-2016 và đưa đến kết luận cuối cùng nói trên. (Tuổi Trẻ 7/6) đầu trang(
Theo Tổng cục Lâm nghiệp, Việt Nam hiện có 4.000 doanh nghiệp (DN) chế biến và kinh doanh lâm sản. Trong đó, có 3.000 DN trực tiếp tham gia vào khâu chế biến, còn lại là các DN chuyên về kinh doanh thương mại đã tạo công ăn việc làm ổn định cho hơn 300 nghìn người lao động cùng với hàng triệu nông dân trồng rừng, các làng nghề truyền thống…
Nếu năm 2004, ngành gỗ mới tham gia câu lạc bộ xuất khẩu hơn 1 tỷ USD thì đến năm 2014, con số này đã tăng lên 6,2 tỷ USD và năm 2015 tiếp tục đạt mức tăng trưởng ấn tượng với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 6,9 tỷ USD, trong đó, xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 2,64 tỷ USD (chiếm 38% tổng kim ngạch xuất khẩu), EU đạt 739 triệu USD, Ô-xtrây-li-a đạt 157,3 triệu USD..., trở thành một trong sáu ngành hàng xuất khẩu chủ lực.
Việc Việt Nam tham gia các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) thế hệ mới như: TPP, EU – Việt Nam… đã giúp ngành gỗ có điều kiện mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu nhưng bên cạnh đó cũng phải đối diện với không ít rủi ro trước những yêu cầu khắt khe đến từ những đối tác, thị trường trong việc quy định về tính hợp pháp của gỗ nguyên liệu, quy chế hoạt động, điều chỉnh thông tin thị trường, các rủi ro về lao động, môi trường,…
Thống kê các mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam được xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong thời gian qua cho thấy, hiện tồn tại một số rủi ro liên quan tới tính hợp pháp của nguồn gỗ nguyên liệu được sử dụng trong một số sản phẩm. Cụ thể, năm 2015, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1.800 m3 gỗ tròn là gỗ căm xe, giá trị gần 1,2 triệu USD và 3.000 m3 gỗ xẻ là gỗ căm xe, tương đương giá trị 2 triệu USD, thế nhưng, đây là gỗ được nhập khẩu từ Cam-pu-chia và Lào và được khai thác từ những diện tích rừng chuyển đổi (sang cây công nghiệp) hoặc từ các dự án cơ sở hạ tầng như thủy điện, làm đường,…
Quá trình xin phép và thực hiện các dự án này thường liên quan đến một số vấn đề làm cho tính pháp lý của gỗ căm xe nhập khẩu vào Việt Nam có rất nhiều tranh cãi. Các DN của Việt Nam xuất khẩu sản phẩm gỗ căm xe sang Hoa Kỳ hiện đang đối mặt với rủi ro bởi Đạo luật Lacey quy định các hành vi vi phạm về thủ tục khai thác, cấp phép được coi là các hành vi bất hợp pháp.
Tương tự, tại EU, các sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu vào thị trường này như bàn, tủ, kệ, giường,… được làm từ gỗ nguyên liệu chính bao gồm keo, tràm (nội địa), thông, sồi (nhập khẩu) nhưng một số sản phẩm xuất khẩu chưa khai tên gỗ; hay đối với sản phẩm nội thất phòng ngủ được làm từ gỗ nguyên liệu chính được sử dụng bao gồm thông, sồi (nhập khẩu), keo tràm, cao-su (rừng tự nhiên).
Hiện khung pháp lý của Việt Nam đối với gỗ cao-su có nguồn gốc từ các khu vực rừng tự nhiên chuyển đổi chưa rõ ràng,… khiến các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam đứng trước nguy cơ vi phạm các quy định gỗ của châu Âu (EUTR), mà cụ thể là những đòi hỏi đáp ứng yêu cầu kỹ thuật liên quan nguồn gốc gỗ hợp pháp theo chương trình Thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (FLEGT).
Tiếp đến là những rủi ro khi sử dụng người lao động chưa đến tuổi lao động; không nắm bắt được thông tin hoặc thiếu thông tin về thị trường; các yêu cầu về chất lượng, mẫu mã sản phẩm; yêu cầu về tuân thủ lao động và môi trường; biến động tỷ giá…
Đánh giá về vấn đề trên, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vifores) Nguyễn Tôn Quyền khẳng định, việc thực hiện các cam kết FTA thế hệ mới sẽ không có nhiều tác động các DN, nhất là về thuế. Từ trước đến nay, các DN vẫn chấp hành tương đối tốt các quy định của các thị trường quốc tế, kể cả những thị trường khó tính như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản,… và bằng chứng cụ thể là hàng gỗ xuất khẩu của Việt Nam ngày càng tăng và khả năng đạt mốc 10 đến 11 tỷ USD ở thời gian không xa.
Tuy nhiên, hiện Việt Nam vẫn tồn tại những bất cập như chi phí đầu vào, chi phí vận tải và chi phí nhân công đang ngày càng tăng cao. Mặc dù nguồn gỗ trồng trong nước nhiều nhưng gỗ đáp ứng làm hàng xuất khẩu lại rất hạn chế, vì thế nguồn nguyên liệu vẫn phụ thuộc chủ yếu nhập khẩu (hằng năm nhập khẩu gần 5 triệu m3 gỗ quy tròn, chiếm hơn 1,7 tỷ USD, từ 70 đến 90 quốc gia với 150 đến 160 loại gỗ) khiến chi phí sản xuất cao, khó cạnh tranh với hàng ngoại nhập.
“Mặc dù chúng ta xuất khẩu gần 7 tỷ USD trong năm 2015 nhưng đến nay sức cạnh tranh của các DN rất yếu, năng suất lao động thấp, chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng, mẫu mã của nước ngoài cung cấp mà chưa có thiết kế, mẫu mã, nhãn hiệu riêng mang thương hiệu của Việt Nam”, ông Nguyễn Tôn Quyền cho biết.
Để giảm rủi ro và đẩy mạnh xuất khẩu gỗ trong thời gian tới, các chuyên gia cho rằng, các DN chế biến và xuất khẩu gỗ cần chủ động tham gia thị trường, tìm kiếm và tiếp cận thông tin, nhất là các quy định liên quan các yêu cầu mới của thị trường. Các tổ chức đại diện cho DN và các Hiệp hội gỗ cần cung cấp thông tin, định hướng thị trường, đưa ra cảnh báo sớm về các rủi ro DN.
Bên cạnh đó, Chính phủ cần có các cơ chế, chính sách hỗ trợ về vốn, cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh của DN thông qua các hoạt động nâng cao tay nghề, tăng chất lượng lao động cập nhật thông tin và khuyến khích áp dụng công nghệ mới trong chế biến và hệ thống quản lý hiện đại; có chiến lược khuyến khích chuyển đổi hình thức sản xuất kinh doanh theo hướng tạo sản phẩm có hàm lượng lao động chất lượng cao, công nghệ chế biến hiện đại và trình độ quản lý tiên tiến… nhằm tạo đòn bẩy để ngành gỗ Việt Nam phát triển bền vững. (Báo Lạng Sơn 8/6) đầu trang(
Các doanh nghiệp cho biết đang có sự dịch chuyển các đơn hàng từ Trung Quốc sang VN, đặc biệt từ thị trường Hoa Kỳ, ước tính tăng trưởng từ thị trường này là 30%.
Tại đại hội Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TP.HCM (HAWA) ngày 8-6, nhiều ý kiến cho rằng dù tình hình kinh tế trong nước và thế giới có nhiều khó khăn nhưng ngành thủ công mỹ nghệ và chế biến gỗ đang và sẽ phát triển mạnh thời gian tới, kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ như máy móc, thiết bị, cơ khí, sơn, keo...
Theo ông Huỳnh Văn Hạnh - phó chủ tịch thường trực HAWA, tình hình khả quan của thị trường bất động sản Hoa Kỳ, khu vực châu Âu và Nhật Bản - ba thị trường xuất khẩu lớn gỗ và sản phẩm gỗ của VN - đã giúp kim ngạch xuất khẩu ngành này 5 tháng đầu năm 2016 tăng 2,08% so với cùng kỳ năm 2015, đạt 2,68 tỉ USD và dự báo tăng 3,5% trong 6 tháng đầu năm.
Các doanh nghiệp cho biết đang có sự dịch chuyển các đơn hàng từ Trung Quốc sang VN, đặc biệt từ thị trường Hoa Kỳ, ước tính tăng trưởng từ thị trường này là 30%.
Ngoài lý do lợi thế nhân công giá rẻ, doanh nghiệp trong nước ngày càng tự chủ được nguyên liệu thì việc hội nhập quốc tế với hàng rào thuế quan dần được dỡ bỏ đã đưa VN thành địa điểm cực kỳ hấp dẫn đối với các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào ngành này. (Tuổi Trẻ 9/6) đầu trang(
Bảo vệ động, thực vật hoang dã cần sự chung tay của cộng đồng.
Cuối tuần qua, Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) TP.HCM phối hợp UBND quận 3 tổ chức lễ mít tinh hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới năm 2016. Chương trình có sự tham dự của đông đảo tình nguyện viên, đại diện cơ quan đoàn thể, các em học sinh và người dân.
Buôn bán trái phép động, thực vật hoang dã làm suy thoái nguồn đa dạng sinh học quý giá; đe dọa sự sống còn của các giống loài quý hiếm như voi, tê giác, hổ cũng như nhiều loài động, thực vật khác. Điều này gây áp lực ngày càng tăng đối với hệ sinh thái tự nhiên, làm suy yếu nền kinh tế, tính cộng đồng và an ninh của toàn cầu.
Chính vì thế, nhằm lan tỏa tinh thần đấu tranh bảo vệ các giống loài hoang dã, Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) đã chọn chủ đề cho Ngày Môi trường thế giới năm 2016 làTiếng gọi thiên nhiên và hành động của chúng ta nhằm hướng về cuộc chiến chống nạn buôn bán trái phép động, thực vật hoang dã.
Tại buổi lễ, ông Nguyễn Toàn Thắng, Giám đốc Sở TN&MT TP.HCM, cho biết Chính phủ đã có những nỗ lực lớn nhằm bảo tồn đa dạng sinh học như ban hành Luật Đa dạng sinh học năm 2008, Chiến lược quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học, quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia. Các chính sách này đã đánh dấu một mốc quan trọng cho việc bảo tồn, tạo cơ sở pháp lý cho sự tham gia của cộng đồng địa phương trong việc bảo tồn đa dạng sinh học.
Ông nói thêm: “Tôi mong rằng mỗi người dân chúng ta đều có thể góp phần làm thay đổi sâu sắc những vấn đề về môi trường bằng những hành động đơn giản và thiết thực như tăng diện tích cây xanh tại mỗi gia đình, các khu vực công cộng, tạo môi trường cư trú cho động vật. Không săn bắt, buôn bán và tiêu thụ các loài động, thực vật hoang dã trái phép. Kêu gọi mọi người cùng tham gia làm sạch đường phố, khu phố, khơi thông cống rãnh, thu gom và tái chế rác thải”. (Pháp Luật TP.HCM 8/6) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Cảnh sát Thái Lan sẽ kiểm tra hơn 30 vườn thú nuôi hổ trên khắp cả nước giữa lúc giới chức trách mở rộng điều tra hoạt động buôn lậu động vật hoang dã trái phép sau cuộc đột kích tại chùa Hổ Wat Pa Luang Ta Maha Bua.
Phó Cảnh sát trưởng Quốc gia Thái Lan Chalermkiat Sriworakhan cho biết các quan chức sẽ rà soát hơn 30 địa điểm nuôi giữ hổ và động vật hoang dã để kiểm tra xem liệu những nơi này có giấy phép hoạt động hợp pháp hay không.
Hôm 7-6 cảnh sát đã phát hiện 4 con hổ trong một khu vực rào chắn ở huyện Muang, tỉnh Kanchanaburi và tình nghi nơi này được sử dụng như một lò giết mổ của chùa Hổ. Cảnh sát, binh sĩ và các quan chức công viên quốc gia đã tìm kiếm ở khu vực số 222 tại Wang Dong và tìm thấy 4 con hổ từ 1-10 tuổi bị nhốt trong những chuồng riêng biệt.
Trong khu vực này còn có một số căn nhà, chuồng rỗng, tủ đông, dao, thực phẩm dự trữ cho hổ và thiết bị chuyên dụng trong quá trình vận chuyển hổ. Giới chức trách đang thẩm vấn những người giữ hổ khu vực này gồm Thawip Bualoi, 44 tuổi, và Charnchai Longloi, 48 tuổi. Cả hai cho biết những con hổ này thuộc về ông Thawat Khachornchaikul, 68 tuổi, cũng là chủ của khu phức hợp này. Theo họ, những con hổ này đã bị giam giữ ở đây trong một thập kỷ qua.
Ông Montree Paencharoen, phó chỉ huy bộ phận tài nguyên thiên nhiên và tội phạm môi trường, cho biết khu vực này có thể là nơi cung cấp cho hoạt động buôn lậu động vật hoang dã, đặc biệt là hổ. Đây cũng có thể là nơi trung chuyển và lò giết mổ. Các nhà điều tra cho rằng khu phức hợp nói trên có liên kết với chùa Hổ ở huyện Sai Yok. Cuộc kiểm tra ADN đang được tiến hành xem liệu 4 con hổ này có liên hệ với những con hổ khác hay không, bao gồm 3 con hổ mất tích ở chùa Hổ.
Trước đó, giới chức trách đã thu giữ những bản sao của hợp đồng mua bán hổ trong quá trình chuyển hổ khỏi chùa Hổ. Những thỏa thuận này có chữ ký của trụ trì chùa Hổ Phra Wisutthi Sarathera và thương nhân Lào, dấu hiệu chứng tỏ chùa Hổ có liên quan đến hoạt động buôn bán động vật hoang dã trái phép. Theo luật sư của chùa Hổ, trụ trì chùa này sẽ tổ chức họp báo vào ngày 9-6 để làm rõ các cáo buộc. (Người Lao Động 8/6) đầu trang(./.