Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 10 tháng 06 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ –SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Toàn bộ số cây trong rừng, dù to hay nhỏ, đều bị chặt và đốt thành tro bụi. Phá rừng đến đâu, người dân lại canh tác trên đất đến đó.
Trong tháng 4 và tháng 5, nhiều diện tích rừng phòng hộ tại tiểu khu 520, khu vực đèo Măng Đen, nơi giáp ranh giữa hai huyện Kon Plông và Kon Rẫy của tỉnh Kon Tum đã bị người dân chặt phá lấy đất làm nương rẫy.
Diện tích rừng bị chặt phá trải đều trên diện rộng tại 15 điểm, có nhiều điểm nằm sát quốc lộ 24 nhưng chính quyền và các ngành chức năng liên quan của huyện Kon Rẫy không hề biết. Đến khi đích thân Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum phát hiện và có ý kiến chỉ đạo thì chính quyền và các đơn vị liên quan mới vào cuộc điều tra xác minh.
Báo cáo của đoàn kiểm tra liên ngành đã khẳng định, diện tích rừng phòng hộ tại tiểu khu 520 thuộc lâm phần Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Kon Rẫy và Ủy ban nhân dân thị trấn Đăk Rve quản lý đã bị người dân chặt phá với diện tích gần 5,3 ha.
Sau khi phát đốt rừng, bà con tiến hành trồng mì và đất rừng đã trở thành đất nương rẫy của bà con. Nếu chính quyền và các ngành chức năng không có các biện pháp ngăn chặn phá rừng thì những cánh rừng sẽ sớm trở thành rẫy. (Đài Truyền Hình Việt Nam 9/6) đầu trang(
Gần đây, tại tỉnh Quảng Nam xảy ra nhiều vụ phá rừng, mất rừng và sai phạm nghiêm trọng trong bảo vệ rừng tại các ban quản lý rừng phòng hộ. Việc giao những cánh rừng nguyên sinh “màu mỡ” cho các ban quản lý, trong khi lại chồng chéo về cơ chế, buông lỏng về quản lý, bảo vệ rừng, đã dẫn đến hậu quả mất rừng.
Trong vài năm lại đây, phần lớn các vụ phá rừng trọng điểm đều xảy ra ở các lâm phận Ban Quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH), Sông Tranh, A Vương, Phú Ninh, Sông Thanh, Đắc Mi… Đặc biệt, mới đây, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Quảng Nam thực hiện lệnh bắt bị can đối với ông Nguyễn Cường - PGĐ phụ trách BQLRPH Đắc Mi (xã Phước Hiệp, huyện Phước Sơn) - về hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.
Theo kết quả điều tra ban đầu, ông Cường đã tự ý xử lý 45m3 gỗ từ nhóm III đến nhóm VII do đơn vị mình tạm giữ. Theo quy định, sau khi tạm giữ số gỗ trên, BQLRPH Đắc Mi phải chuyển cho các ngành chức năng để xử lý, nhưng ông Cường lại đem bán cho một số cá nhân và sử dụng làm nhà và trạm cho các bộ phận của ban. Toàn bộ số tiền bán gỗ ông Cường không nhập vào quỹ cơ quan mà tự ý tiêu xài cá nhân. Qua định giá, cơ quan chức năng xác định số gỗ trên có giá trị hơn 252 triệu đồng...
Đây không phải là trường hợp cá biệt. Cuối năm 2015, lực lượng chức năng đã phát hiện hàng loạt vụ phá rừng và cất giữ gỗ lậu với khối lượng lên đến hàng trăm mét khối tại RPH Sông Tranh (huyện Bắc Trà My). Đây là hậu quả của tình trạng phá rừng kéo dài và sự buông lỏng, thậm chí tiếp tay của cán bộ BQLRPH Sông Tranh.
Cụ thể, Đội QLBVR cơ động phát hiện hơn 14m3 gỗ lậu tại xã Trà Bui, nhưng ông Phan Văn Dự - Đội phó Đội QLBVR cơ động - yêu cầu các cán bộ trong đội không được báo cáo cho GĐ ban và Trạm trưởng Trạm bảo vệ rừng Trà Bui biết mà tự ý giải quyết vụ việc. Hiện ông Dự cùng 2 cán bộ ban bị đình chỉ công tác, Giám đốc BQLRPH Sông Tranh bị khiển trách, trong khi Công an huyện Bắc Trà My đang củng cố hồ sơ để làm rõ hành vi sai phạm của đơn vị, cá nhân liên quan.
Tương tự, cũng trong năm 2015, GĐ Sở NNPTNT tỉnh đã xử lý kỷ luật và luân chuyển công tác đối với Giám đốc BQL Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, kiêm Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sông Thanh vì để xảy ra phá rừng tại lâm phận quản lý. Hay việc để rừng giống A Sờ (xã Macooih, huyện Đông Giang) do BQLRPH đầu nguồn A Vương quản lý bị phá tan hoang, Phòng Cảnh sát Kinh tế công an tỉnh đã khởi tố vụ án về hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
Theo ông Phan Tuấn - Chi Cục trưởng kiểm lâm tỉnh - từ năm 2015 đến nay, đơn vị xử lý hơn 120 vụ phá rừng trái phép, với tổng diện tích bị thiệt hại hơn 273ha, nhiều điểm nóng tập trung ở các vùng rừng phòng hộ. Được giao quản lý diện tích khá lớn nhưng nhiều chủ rừng chưa quản lý tốt lâm phận, công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các hợp đồng khoán đối với diện tích rừng đã giao cho người dân quản lý bảo vệ theo chính sách chi trả môi trường rừng chưa thường xuyên nên còn xảy ra tình trạng phá rừng.
Việc một số cán bộ BQLRPH có dấu hiệu buông lỏng quản lý hoặc tiếp tay cho lâm tặc, cùng với sự chồng chéo trong cơ chế đã dẫn đến tình trạng rừng bị tàn phá. Theo ông Nguyễn Nhuần - Phó Chủ tịch UBND huyện Bắc Trà My - sự buông lỏng quản lý của BQLRPH Sông Tranh mới là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá rừng phức tạp ở xã Trà Bui.
“Bất cập ở chỗ, xảy ra phá rừng ở Trà Bui, lực lượng kiểm lâm địa phương cũng không thể đến đó xử lý được vì lâm phận thuộc chủ rừng quản lý. Rừng ở Trà Bui, Trà Giác rất “nóng”, nhưng chúng tôi không thể chỉ đạo hạt kiểm lâm huyện lên đó truy quét được do cơ chế quy định. Kiểm lâm mà không thể bắt gỗ trên địa bàn, thật là nghịch lý” - ông Nhuần nói.
Hiện tại Bắc Trà My có 3 lực lượng bảo vệ rừng là BQLRPH Sông Tranh, Hạt Kiểm lâm RPH Sông Tranh và Hạt Kiểm lâm Bắc Trà My. Nhưng sự chồng chéo quản lý đã thu hẹp vai trò, trách nhiệm của kiểm lâm. “Phải hợp nhất lực lượng bảo vệ rừng, tốt nhất là giải thể BQLRPH Sông Tranh, phân cấp về cho địa phương quản lý” - ông Nguyễn Nhuần kiến nghị.
Ông Huỳnh Tấn Đức - Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Quảng Nam cho rằng: “Để giải quyết sự chồng chéo trong cơ chế hoạt động, sở đang có đề án kiện toàn bộ máy các ban, đơn vị để quản lý bảo vệ rừng hiệu quả hơn. Thời gian đến, chúng tôi sẽ thống nhất các đầu mối quản lý về Chi cục Kiểm lâm và Lâm nghiệp, kiện toàn lại các ban, để hoạt động mạnh hơn, có lực lượng bán vũ trang, có công cụ chuyên trách để làm... Cùng với việc sắp xếp, kiện toàn các BQLRPH, sẽ có thêm hạt kiểm lâm trong mỗi ban”. (Lao Động 9/6) đầu trang(
Bất chấp nhiều người đã bỏ mạng, những kẻ đào vàng trái phép vẫn liều mình kéo đến các khu bảo tồn thiên nhiên để tìm kiếm cơ may đổi đời
Sau 4 ngày nỗ lực tìm kiếm, đến chiều 9-6, lực lượng cứu hộ tỉnh Thanh Hóa đã đưa thi thể 3 phu vàng gồm Khà Văn Huyền, Bùi Văn Mẫn (cùng ngụ tỉnh Hòa Bình) và Phạm Văn Dụng (ngụ tỉnh Thanh Hóa) ra khỏi hang Nước (thuộc hệ thống hang Kịt) ở xã Lũng Cao, huyện Bá Thước. Ba phu vàng này gặp nạn và tử vong trong hang do ngạt khí.
Đây không phải là lần đầu tiên phu vàng bỏ mạng ở khu vực hang Kịt. Vào cuối năm 2015, tại chính hang Nước, 4 người đang đào đãi vàng thì bọc nước lọc vàng bị vỡ. Nước chảy ngược xuống hang, vùi lấp 1 người.
“Các hang vàng thường rất sâu nên khi gặp nạn, nguy cơ sống sót không nhiều. Tôi từng tham gia đào vàng nhưng thấy nguy hiểm quá, lợi nhuận kiếm được ít mà ăn rừng nằm núi cả tháng trời, rừng thiêng, nước độc chẳng biết sống chết thế nào nên đã bỏ nghề” - ông Ngần Văn Thúa (ngụ xã Pù Bin, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình) nhớ lại.
Để vào được lãnh địa của “vàng tặc”, phóng viên phải mất gần nửa ngày đi bộ xuyên qua nhiều cánh rừng. Lối đi toàn đá tai mèo nhọn hoắt. Đây là hang nằm ở vị trí cao nhất trong vùng lõi Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông giáp với tỉnh Hòa Bình, giữa lưng chừng núi, bốn bề là rừng già và những dãy núi đá bao quanh.
Quanh khu vực hang Nước còn rất nhiều hang bị “vàng tặc” đào bới để lại nhiều hố sâu. Với mong muốn được đổi đời, có thời điểm, hàng trăm người đến từ các huyện Cẩm Thủy, Bá Thước (tỉnh Thanh Hóa) và tỉnh Hòa Bình, thậm chí tận Hà Nội, đốn hạ cây rừng mở lối tìm vàng bất chấp lệnh cấm của cơ quan chức năng.
Tình trạng tương tự cũng xảy ra tại khu vực 2 xã Cắm Muôn và Quang Phong, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An (nằm trong Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống), Khu Bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh (thuộc 2 huyện Phước Sơn và Nam Giang, tỉnh Quảng Nam). Đa dạng sinh học ở các khu bảo tồn này bị ảnh hưởng nghiêm trọng, môi trường bị ô nhiễm ở mức báo động.
Ông Lê Thế Sự, Giám đốc Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, cho hay mỗi tháng đều cử lực lượng 2 lần vào kiểm tra. Hôm 30-5, nhân viên khu bảo tồn cũng vào khu vực hang Nước nhưng không phát hiện gì. “Chắc những người này mới vào đi mót vàng, khai thác kiểu thủ công lén lút” - ông Sự nói.
Sau sự việc 3 người bỏ mạng trong hang Nước, Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông dự kiến trình cơ quan cấp trên cho phép nổ mìn lấp các cửa hang. Tuy nhiên, quy chế quản lý rừng đặc dụng không cho phép nổ mìn và tác động những gì gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái.
Ông Nguyễn Văn Dũng, Chủ tịch UBND huyện Bá Thước, cho biết huyện sẽ đề nghị cơ quan chức năng khảo sát lại các hang để tìm phương án xử lý, đồng thời yêu cầu chủ rừng là Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông tăng cường tuần tra, kiểm soát.
Trong khi đó, một cán bộ thuộc Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh cho hay trong năm 2015, lực lượng chức năng đã lập biên bản 94 vụ “vàng tặc” vi phạm, ra quyết định xử lý 89 vụ, thu nộp ngân sách nhà nước hơn 1,13 tỉ đồng.
Dù liên tục tuần tra, truy quét, phá hủy các phương tiện khai thác của các đối tượng xâm hại nhưng do lực lượng mỏng, địa bàn rộng trong khi “vàng tặc” rất manh động, hoạt động tinh vi nên công tác tuần tra, truy quét chưa hiệu quả.
Phóng viên Báo Người Lao Động cùng 1 người dân mới đây đã vào khu vực các hầm vàng khai thác trái phép trong khu rừng nguyên liệu giấy ở xã Đắk Kan, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. Theo người dẫn đường, tại Tiểu khu 180 có khoảng 7 hầm vàng, Tiểu khu 181 có hàng trăm hầm.
Ở Tiểu khu 180 (cách trụ sở UBND xã Đắk Kan khoảng 10 km) có một hầm vàng dài hàng chục mét đào sâu trong lòng đất. Cửa hầm rộng hơn 1 m và cao 2 m. Đi sâu vào khoảng 5 m, đường hầm chia ra thành nhiều ngóc ngách nhỏ hơn và chạy các ngả trong lòng đất. Người dẫn đường cho biết sở dĩ có nhiều ngóc ngách như vậy vì phải đào theo các vỉa đất có vàng. “Cứ vỉa đất có vàng chạy đi đâu thì họ đào tới đó, nhiều hầm chạy dài như địa đạo dưới lòng đất” - người dẫn đường nói.
Tại những hầm đào có địa chất mềm, “vàng tặc” dùng những cây gỗ để chống đỡ. Trong khi đó, các khu vực khác không có phương tiện gì, rất dễ sập trong mùa mưa lũ ở Tây Nguyên.
Theo ông Nguyễn Bá Huân, Chủ tịch UBND xã Đắk Kan, những đối tượng khai thác vàng từ các nơi khác tới chủ yếu làm lén lút, nhỏ lẻ nên rất khó phát hiện. Tình trạng này đã diễn ra từ lâu.
Mới đây, Ban Trồng rừng nguyên liệu giấy Ngọc Hồi (Công ty Nguyên liệu giấy Miền Nam) đã gửi báo cáo lên UBND huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum và các ngành chức năng về tình trạng khai thác đáng báo động này.
Ông Vũ Đình Sơn, Trưởng Ban Trồng rừng nguyên liệu giấy Ngọc Hồi, cho biết trong mùa mưa bão, việc người dân đào bới hang dễ gây hiện tượng sụt lún, ảnh hưởng đến rừng cây nguyên liệu. Những lần phát hiện người dân vào khai thác vàng, ban quản lý đều báo cho chính quyền địa phương xử lý.
“Sau khi chúng tôi báo tin và chính quyền xử lý, nhiều đối tượng biết được đã đe dọa, hành hung, đập phá đồ đạc của đơn vị tại các chòi canh” - ông Sơn bức xúc. (Người Lao Động 9/6) đầu trang(
5 tháng đầu năm 2016, lực lượng kiểm lâm Thanh Hóa đã phát hiện và xử lý hơn 280 vụ vi phạm hành chính về buôn bán, vận chuyển lâm sản và động vật hoang dã trái phép.
Trong đó, có 2 vụ vi phạm nghiêm trọng đã được chuyển khởi tố hình sự,1 vụ cất giữ trái phép động vật rừng nguy cấp quý hiếm tại huyện Thọ Xuân, 1 vụ vi phạm khai thác rừng trái phép tại xã Bát Mọt, huyện Thường Xuân.
Qua các vụ vi phạm, lực lượng kiểm lâm đã tịch thu hơn 301 m3 gỗ các loại; gần 8.400 kg cành, nhánh, gốc, rễ các loại thực vật quý hiếm; gần 160 kg động vật hoang dã; 126 kg sản phẩm từ động vật hoang dã; 110 kg quả dẻ; 900 kg nhựa thông; 1.000 kg măng nứa; 700 kg nứa cây; 44 kg cây mây... phối hợp với các ngành chức năng tham mưu đề xuất và tiến hành xử phạt vi phạm hành chính, nộp ngân sách Nhà nước tổng số tiền gần 3,35 tỷ đồng. (Công An Thanh Hóa 9/6) đầu trang(
Vi phạm tố tụng, cộng với không ít dấu hiệu bất bình thường xảy ra trong quá trình điều tra, xác minh; vụ án “hủy hoại rừng” ở huyện Lâm Hà đã khiến dư luận bức xúc trong suốt thời gian qua. Tuy nhiên đến nay, vụ án tiếp tục bị trả lại hồ sơ điều tra lại. Trong khi đó, bị can Phạm Văn Tài vẫn bị tạm giam đã hơn 7 tháng…
Ông Trần Trịnh Minh Đăng - cán bộ tiểu khu Ban quản lý rừng phòng hộ (QLRPH) Lán Tranh - khai: Sau khi bắt quả tang nhóm ông Phạm Văn Tài và 5 người dân tộc phá rừng bằng dao phát cỏ vào khoảng 14h30 ngày 24.4.2015, tại lô a, khoảnh 4, tiểu khu 253 rừng Lán Tranh. Ông Hồ Nghĩa Nam - nhân viên hợp đồng của Ban QLRPH Lán Tranh - còng tay ông Tài bằng còng số 8. Sau đó, ông Đăng và ông Nam áp giải ông Tài về trạm QLR Phúc Thọ, cách hiện trường khoảng 5km.
Sau khi đưa ông Tài về trạm, ông Nam trở lại hiện trường để cùng ông Nông Đức Hạnh - Trạm trưởng Trạm QLR Phúc Thọ - thống kê số lượng cây rừng bị chặt hạ. Ông Đăng có trách nhiệm canh giữ ông Tài đang bị còng tay, ngồi tại Trạm QLR Phúc Thọ.
Thế nhưng, thật kỳ lạ, tại “bản mô tả chi tiết” số 05417/MTCT-VP lập lúc 15h15 ngày 24.4.2015, ghi rõ 3 ông: Nông Đức Hạnh,Trần Trịnh Minh Đăng và Hồ Nghĩa Nam, đang có mặt tại hiện trường để kiểm tra rừng bị chặt phá (?) v.v… Thật phi lý, không thể trong cùng một thời điểm, tại 2 vị trí cách nhau 5km, ông Đăng vừa canh giữ ông Tài, vừa có mặt tại hiện trường… Như vậy, văn bản này có dấu hiệu bị làm giả.
Một chi tiết kỳ quặc khác, tại “bản mô tả chi tiết” trên cho biết có 5,57m3 gỗ bị thiệt hại; chỉ còn 2,92m3 tại hiện trường và 2,65m3…“đã mất” (?). Song ở đây, những kẻ chặt phá rừng hoàn toàn bằng dao phát cỏ, lại bị bắt quả tang, kẻ bị còng tay, số bỏ chạy, lớp được thả về tay không…, thì cách nào họ tẩu tán 2,65m3 gỗ, mà phía Trạm QLR Phúc Thọ dám kết luận “đã mất” 2,65m3 gỗ? Kiểm tra 2 văn bản: “Bản mô tả chi tiết số 05417” và “Báo cáo số 05417” - cùng ban hành ngày 24.4.2015, chúng tôi nhận thấy 2 văn bản đều do ông Nông Đức Hạnh lập.
Tuy nhiên, chữ viết không phải của ông Hạnh. Từ “Bản mô tả chi tiết” không đúng sự thật, ngày 15.5.2015, ông Hạnh và ông Ngô Sách Thọ - cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Lâm Hà, tiếp tục ký tên, soạn thảo “Biên bản vi phạm hành chính” số 003124/BB-VPHC đầy tréo ngoe. Theo đó, vào lúc 10h ngày 15.5.2015, ông Thọ và ông Hạnh tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông/bà “Đối tượng bỏ chạy”, vì đã có hành vi “phá rừng trái pháp luật”. Kết thúc biên bản, là chữ ký và tên ông Thọ - ông Hạnh, phần chữ ký, họ tên người vi phạm chỉ ghi “Đương sự bỏ trốn” (?!)…
Trong khi đó, ngày 22.5.2015, ông Đỗ Văn Thủy - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Lâm Hà - đã ban hành văn bản số 60/KL-TTPC, với nội dung thừa nhận: “Quá trình phát hiện và lập hồ sơ vi phạm ban đầu về hành vi phá rừng tại lô a, khoảng 4, tiểu khu 253 của cán bộ Ban QLRPH Lán Tranh là thiếu chặt chẽ, không kịp thời và đầy đủ theo quy định”.
Quá trình điều tra, Tài không thừa nhận hành vi cưa, chặt hạ, phát phá cây rừng và thuê người cưa, chặt cây rừng. Tài chỉ khai sáng ngày 24.4.2015, Tài một mình đi xe máy vô tiểu khu 253 để đi hái hoa lan rừng. Trong khi đi kiếm lan, Tài thấy một nhóm người đồng bào dân tộc đang dùng dao phát chặt cây rừng, thì Tài đến để hái lan. Khi Tài đang đứng cạnh bên, thì bị cán bộ quản lý, bảo vệ rừng bắt và còng tay…
Tuy nhiên, lời khai này của Tài đã bị cả … “núi” lời khai của 8 người dân tộc trút xuống tới tấp. Mặc dù chính họ là thủ phạm trực tiếp chặt phá rừng, nhưng biết không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, 8 người đồng thanh khai những lời khai đầy bất lợi cho bị can Tài.
Bắt quả tang tại hiện trường, tổ công tác không tìm thấy chiếc cưa tay như lời khai của những người dân tộc. Tương tự, trong ngày 2.12.2015, mỗi người trong nhóm cũng viết một đơn tạm gọi là “tố cáo” hành vi chủ mưu phá rừng của Tài, gửi Công an huyện Lâm Hà, cũng với một mẫu viết, có nội dung giống nhau y đúc, không sai lệch một con số…
Theo luật sư Đỗ Văn Bảy (Đoàn luật sư tỉnh Lâm Đồng): “ Để chứng minh “…Tài cũng có mặt và cũng tham gia cưa hạ cây rừng bằng cưa tay…”, nhưng thực tế, qua lời khai các đối tượng lại khẳng định Tài chạy xuống “tay cầm một con dao phát”… Cưa tay thì tìm không ra. Phải chăng hiện trường “da beo”, có nhiều cây to đã bị hủy hoại trước đó bằng “cưa tay” nên người ta nại ra “cưa tay” để hợp lý hóa hồ sơ, vu oan cho Tài ?”. (Lao Động 10/6) đầu trang(
Lực lượng CSGT Trạm quốc lộ 1A Quảng Xương (Thanh Hóa) vừa bắt xe ô tải đầu kéo chở khoảng 6,7 m3 gỗ không có giấy tờ hợp lệ.
Theo đó, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, trưa ngày 09/06 tại Km 360 quốc lộ 1A (thuộc địa phận xã Hải Lĩnh, Tĩnh Gia, Thanh Hóa), Tổ TTKS Trạm CSGT Quảng Xương, Công an Thanh Hóa do Trung tá Mai Văn Khiêm, Tổ trưởng, đã cho dừng xe ô tô tải đầu kéo BKS 51C-664.04 (BKS rơ moóc 79R-0245).
Qua kiểm tra phát hiện trên xe ô tô chở khoảng 6,7 m3 gỗ, lái xe ông Dương Văn Kết (SN 1978, ở Hướng Đạo, Tam Dương, Vĩnh Phúc) đã không xuất trình được giấy tờ hợp lệ, chứng minh nguồn gốc số gỗ nói trên.
Tài xế chỉ khai nhận được thuê chở số gỗ trên từ Quảng Bình ra Hà Nội. Trạm CSGT Quảng Xương đã lập biên bản bàn giao toàn bộ tang vật, phương tiện và người có liên quan cho cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật. (Lao Động Thủ Đô 10/6) đầu trang(
Bạn đọc Nông Ngọc Trường ở xã Liêm Thủy, huyện Na Ri, tỉnh Bắc Kạn phản ánh: Tình trạng khai thác gỗ nghiến trái phép tại xã Liêm Thủy vẫn diễn ra thường xuyên và phức tạp. (Quân Đội Nhân Dân 9/6) đầu trang(
Huyện Đắk Glong (Đắk Nông) có 4 xã gồm: Đắk Som, Đắk R’măng, Quảng Sơn và Quảng Hòa nằm giáp ranh với huyện Đam Rông (Lâm Đồng).
Để công tác quản lý, bảo vệ rừng và khai thác khoáng sản ở những khu vực này được diễn ra thuận lợi, thời gian qua, các ngành chức năng của hai địa phương đã có sự phối hợp trong việc trao đổi thông tin cũng như xử lý các vụ việc.
Theo ông Lê Quang Dần, Phó Chủ tịch UBND huyện thì Đắk Glong là địa phương có diện tích tiếp giáp với 4 huyện của tỉnh Lâm Đồng. Trong đó, đối với huyện Đam Rông thì trong thời gian qua, tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản, khoáng sản trái phép dọc phân giới hai địa phương diễn ra rất phức tạp. Đặc biệt, người dân của hai địa phương còn có sự xâm lấn qua lại về tài nguyên rừng và khoáng sản trong thời gian dài.
Để cùng quản lý tốt nguồn tài nguyên trên, hai địa phương, các xã cũng như các đơn vị chủ rừng vùng giáp ranh cũng đã có sự phối hợp để thực hiện nhiệm vụ thông qua những quy chế riêng… Trên thực tế, qua hoạt động phối hợp, ngành chức năng của hai địa phương đã từng bước chấn chỉnh được các hoạt động khai thác lâm sản, khoáng sản trái pháp luật, góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên vùng giáp ranh của mỗi huyện.
Các đối tượng khai thác trái phép cũng đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết của một bộ phận đồng bào Mông để gây cản trở, khó khăn cho công tác giải tỏa… Mặt khác, hiện nay, ở huyện Đắk Glong không chỉ có diện tích rừng sản xuất, rừng phòng hộ, mà còn có cả diện tích rừng đặc dụng nên công tác phối hợp trong việc quản lý, bảo vệ rừng ở những khu vực giáp ranh này là rất cần thiết…
Vì vậy, để nâng cao công tác chỉ đạo, lãnh đạo đồng bộ, nhịp nhàng trong việc ngăn chặn các hành vi xâm hại tài nguyên rừng và khai thác khoáng sản, mới đây, UBND hai huyện Đắk Glong và Đam Rông đã ký kết quy chế phối hợp quản lý, bảo vệ rừng và khai thác khoáng sản khu vực giáp ranh.
Theo đó, Hạt kiểm lâm hai huyện sẽ tăng cường phối hợp thực hiện chức năng tham mưu cho UBND huyện trong công tác quản lý nhà nước về lâm nghiệp ở vùng giáp ranh và tăng cường tuần tra để phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời những đối tượng có hành vi vi phạm luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Các ngành liên quan như: Kiểm lâm, tài nguyên & môi trường, chủ rừng và UBND các xã vùng giáp ranh phải xác định được cụ thể những khu vực trọng điểm về phá rừng, khai thác lâm sản, khoáng sản trái phép, những khu vực, địa điểm cất giấu lâm sản, khoáng sản trái phép trong khu dân cư để có kế hoạch triệt phá.
Bên cạnh đó, quy chế cũng đã nêu cao trách nhiệm của các địa phương cũng như các ngành liên quan trong việc phối hợp thực hiện công việc. Trong đó, chính quyền các xã ở vùng giáp ranh hai huyện phải chịu trách nhiệm khi để dân địa phương phá rừng và khai thác lâm sản, khoáng sản trái phép cũng như mua bán, cất giữ lâm sản, khoáng sản trái phép trong khu vực dân cư. Nếu tình trạng vận chuyển lâm sản trái phép trên đường thường xuyên hoặc trở thành điểm nóng mà không kịp thời ngăn chặn, xử lý thì lực lượng Kiểm lâm phải chịu trách nhiệm.
Trong quy chế cũng nêu rõ, việc trao đổi, xử lý thông tin giữa hai bên phải bảo đảm bí mật, kịp thời và chính xác; đồng thời, từng đơn vị, từng cấp, từng ngành định kỳ sẽ tổ chức giao ban để đánh giá, rút kinh nghiệm, giúp cho công tác phối hợp quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên ở những khu vực giáp ranh của hai địa phương ngày một tốt hơn. (Báo Đắk Nông 9/6) đầu trang(
Nằm kề bên di sản thế giới vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long thực sự là một kho báu sinh quyển giữa trùng khơi với hàng trăm đảo đá. Trong đó có Ba Mùn - hòn đảo hiện là khu bảo tồn động vật hoang dã tự nhiên lớn nhất vùng Đông Bắc nước ta.
Từ bến cảng Cái Rồng (Vân Đồn, Quảng Ninh), sau khoảng 45 phút lênh đênh trên chiếc xuồng cao tốc giữa vịnh Bái Tử Long trong xanh, chúng tôi mới tới Ba Mùn - hòn đảo được mệnh danh là thiên đường của các loài động vật hoang dã. Bước chân lên đảo giống như bước lên một thế giới khác, đầy hoang sơ, kỳ bí với những vách đá cheo leo, những tán rừng nguyên sinh phủ kín bao bọc muôn loài chim thú.
Ba Mùn nằm ở vùng lõi của vịnh Bái Tử Long và cũng là đảo phiến thạch duy nhất có rừng nguyên sinh. Đảo có diện tích khoảng 1800 hecta nhưng dài tới 20km, một mặt sóng biển tung bọt ầm ầm trắng bờ đá, một mặt lại phẳng lặng, êm ả. Nằm cách biệt giữa trùng khơi, Ba Mùn không hề có dân cư sinh sống, “thổ địa” duy nhất ở đây là các cán bộ kiểm lâm và đội cứu hộ động vật hoang dã thuộc Vườn quốc gia Bái Tử Long.
Theo chân các anh, chúng tôi mới hình dung ra hết lượng động thực vật phong phú trên “đảo thú” Ba Mùn. Vườn quốc gia Bái Tử Long có khoảng 2000 loài động thực vật, trong đó có 72 loài động vật và 32 loài thực vật trong Sách Đỏ Việt Nam thì Ba Mùn góp phần nhiều. Trên đảo có vô vàn các loài thực vật quý hiếm như đinh, lim, sến, táu, vàng hương, có những cây cổ thụ to 3, 4 người ôm. Còn động vật thì không thể đếm xuể, sơn dương, hươu, nai, khỉ, voọc, các loài chim biển, chim di cư, nhiều loài quý hiếm như trăn gấm, báo lửa, khỉ vàng, tê tê, tắc kè… Nhiều năm trước, các anh đi tuần rừng vẫn thường xuyên gặp lợn rừng, rồi nai, hoẵng đi kiếm ăn từng đàn.
Sau khi Vườn quốc gia Bái Tử Long được thành lập năm 2001, công tác bảo vệ động vật hoang dã tại Ba Mùn được quan tâm hơn trước. Năm 2010, một trung tâm cứu hộ động vật trên biển lớn nhất khu vực Đông Bắc cũng được đặt trên đảo. Trung tâm nay là đội cứu hộ thuộc Vườn quốc gia, các cán bộ trở thành “ông đỡ” chuyên chăm sóc, nuôi dưỡng các loài động vật hoang dã do lực lượng kiểm lâm tịch thu, cứu hộ được từ những vụ buôn bán trái phép.
Anh Phạm Ngọc Biên, cán bộ đội cứu hộ, người đã gắn bó 5 năm với đảo tận tình đưa khách đi tham quan nơi nuôi dưỡng các loài thú. Anh kể, khi mới tiếp nhận, phần lớn các con thú đều rất yếu, kiệt sức và hoảng sợ do bị nhốt lâu ngày, vận chuyển đường xa. Tùy từng loài các anh lại phải có cách chăm sóc riêng, không loài nào giống loài nào.
Anh Phạm Ngọc Biên cho biết: “Khỉ thì phải thường xuyên bơm nước cho uống, cho ăn các loại củ quả như khoai tây, bí xanh, bí đỏ, khoai lang. Rùa thì có loại ăn thịt và ăn rau. Trăn này thì mấy ngày cho ăn một con gà, nó tự bắt vì đặc biệt trăn không ăn thịt chết. Có con cho ăn phải đút từng miếng một. Như cho ăn diều hâu là vất vả nhất, phải thái từng lát mỏng đưa vào miêng để nó mổ. Nhiều con nguy hiểm chứ, anh em cũng bị khỉ cắn liên tục đấy”.
Ngoài chăm cho ăn, các anh còn điều trị các bệnh khác, rồi chăm sóc về tâm lý. “Đủ thứ việc như chăm con mọn”, anh Biên đùa. Sau khi phục hồi sức khoẻ và bản năng hoang dã, chúng sẽ được thả về với tự nhiên. Hàng năm, đội cứu hộ thành công hàng trăm cá thể thuộc nhiều loài động vật quý hiếm như vích, rùa, rắn hổ mang chúa, gấu ngựa, chồn, cáo, cầy hương, mèo rừng,... Có những con khỉ quấn người, đôi lúc vẫn về trạm quanh quẩn không rời.
Anh Biên cho biết thêm: “Công việc này đôi khi cũng vất vả, nó không như trong đất liền. Anh em cứu hộ kết hợp với trạm kiểm lâm tuần tra kiểm soát trong rừng để mình nghiên cứu động vật, xem các dấu chân dấu vết trong rừng. Mình vừa chăm sóc lại vừa kiểm kê xem rừng này có gì, kết hợp theo dõi thường xuyên”.
Cùng với lực lượng kiểm lâm bảo vệ sau cứu hộ, phần lớn động vật hoang dã thả về tự nhiên đều phục hồi tốt, tỷ lệ sống tới 80%, giúp đảo thú Ba Mùn ngày càng phong phú hơn về số lượng cá thể loài, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Bái Tử Long.
Ông Vũ Ngọc Thân, Phó Giám đốc Vườn quốc gia Bái Tử Long khẳng định: “Công tác quản lý bảo vệ của Vườn quốc gia Bái Tử Long được chúng tôi xác định rất rõ, đây là nhiệm vụ trọng tâm để bảo tồn, phát huy các giá trị đa dạng sinh học. Vì vậy trong năm qua công tác tuần tra bảo vệ được làm rất tốt, hạn chế việc xâm phạm từ bên ngoài vào khai thác tài nguyên thiên nhiên trong Vườn quốc gia. Toàn bộ tài nguyên thiên nhiên cũng như đa dạng sinh học được giữ gìn khá tốt”.
Nhiều năm gần đây, đến với Ba Mùn cũng như Vườn quốc gia Bái Tử Long không chỉ có các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu mà đã thu hút nhiều khách du lịch tới tham quan, trải nghiệm cuộc sống hoang dã. Tiềm năng du lịch của Ba Mùn vẫn đang chờ được khám phá, góp phần nâng cao giá trị của Vườn Quốc gia, Vườn Di sản ASEAN Bái Tử Long, một trong những nơi sinh quyển đa dạng và phong phú bậc nhất của Việt Nam. (VOV Giao Thông 9/6) đầu trang(
Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội (thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội) tại thôn Đồng Doi, xã Tiên Dược, huyện Sóc Sơn, được nhiều người ví như “bệnh viện” dành cho động vật hoang dã.
Với chức năng cứu hộ, bảo tồn, nhân nuôi sinh sản, tổ chức nghiên cứu khoa học, phục vụ tham quan, học tập... 20 năm qua, “bệnh viện” đã tiếp nhận cứu hộ tổng số 755 vụ với gần 100 loài, gồm 18.681 cá thể và 3.645kg rắn các loại.
Sau cứu hộ, trung tâm tổ chức thả về môi trường tự nhiên 106 đợt gồm 5.464 cá thể và 1.676kg rắn các loại vào các khu rừng đặc dụng, trong đó nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã ghi lại một số hoạt động tại “bệnh viện” đặc biệt này. (Quân Đội Nhân Dân 8/6) đầu trang(
Thời gian qua, Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật Hoàng Liên đã chăm sóc, nuôi dưỡng và thả về tự nhiên hàng trăm cá thể động vật, trong đó có những cá thể quý hiếm được ghi trong sách đỏ thế giới, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học trong vườn Quốc gia Hoàng Liên. (Truyền Hình Quốc Hội 9/6) đầu trang(
Tổ chức Động vật châu Á phối hợp cùng Trung ương Hội Đông Y Việt Nam phát động chương trình vận động Thay thế sử dụng mật gấu bằng 32 cây thuốc, vị thuốc đông y – năm 2016.
Chương trình được khởi động trong tháng 6 và kéo dài đến hết ngày 15/11, cuộc vận động năm nhằm kêu gọi sự ủng hộ và đồng thuận của các thầy thuốc, lương y, bác sĩ đông y trên toàn quốc cam kết không sử dụng, kê đơn thuốc chữa bệnh có sử dụng mật gấu và các sản phẩm từ gấu nhằm góp phần bảo tồn các loài gấu Việt Nam, đồng thời duy trì phát triển bền vững các cây thuốc nam của đất nước.
Cuộc vận động có hai hoạt động chính: Vận động hơn 65.000 thầy thuốc ký cam kết không sử dụng mật gấu trong ngành đông y theo mẫu và gửi phiếu về Trung ương hội đông y theo đơn vị tỉnh. Song song với hoạt động này, các thầy thuốc đông y được khuyến khích tham gia cuộc thi triển khai vườn thuốc mẫu và các sản phẩm đông y thay thế mật gấu.
Cuộc thi lựa chọn các thầy thuốc Đông y hiểu và tuân thủ luật pháp bảo vệ loài gấu Việt Nam, không sử dụng, kê đơn mật gấu và các sản phẩm từ gấu. Thầy thuốc kê đơn và áp dụng các bài thuốc với thành phần là 32 cây thuốc vị thuốc Đông y xuất hiện trong cuốn sách "Những cây thuốc, vị thuốc có tác dụng thay thế mật gấu" đã được Trung ương Hội Đông y và Tổ chức Động vật châu Á phát hành miễn phí. (Tài Nguyên Và Môi Trường 8/6; Pháp Luật TP.HCM 8/6) đầu trang(
Ngày 9-6, Cơ quan CSĐT - CATP Móng Cái (Quảng Ninh) cho biết đã tiếp nhận đối tượng và tang vật liên quan đến vụ vận chuyển động vật hoang dã bị Trạm Kiểm soát liên hợp Km15 - Bến tàu Dân Tiến - TP Móng Cái, Quảng Ninh phát hiện và bắt quả tang trước đó.
Vào khoảng 18h ngày 8-6, Tổ công tác liên ngành của Trạm Kiểm soát liên hợp Km15 - Bến tàu Dân Tiến trong khi làm nhiệm vụ phát hiện người đàn ông đi xe máy BKS: 14T9 - 0694 chạy hướng Móng Cái - Hạ Long có biểu hiện nghi vấn. Dừng xe kiểm tra, người này khai nhận là Nguyễn Hữu Tùng (SN 1983), trú tại khu 3, phường Hà An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh và số hàng đang chở trên xe máy là 32 chiếc chân, tay gấu đã bốc mùi hôi thối. Lực lượng chức năng đã đưa người và phương tiện cùng tang vật về trụ sở trạm kiểm soát để làm rõ.
Nguyễn Hữu Tùng khai nhận, 22h ngày 7-6, một người đàn ông Trung Quốc tên là A Ba gọi điện thoại cho Tùng hẹn gặp tại quán cà phê để thuê vận chuyển thịt động vật từ TP Móng Cái qua Trạm Kiểm soát liên hợp Km15 - Bến tàu Dân Tiến với giá 500.000 nghìn đồng/lượt và Tùng đã đồng ý. Khoảng 17h30 ngày 8-6, A Ba gọi điện thoại hẹn Tùng đến Km số 4, thuộc phường Hải Yên, TP Móng Cái và giao số hàng trên.  (An Ninh Thủ Đô 10/6; Hải Quan 9/6) đầu trang(
Với chủ đề “Tiếng gọi thiên nhiên và hành động của chúng ta”, Tháng hành động vì môi trường tại Việt Nam hướng tới việc kêu gọi cộng đồng cùng chung tay bảo vệ các loài động vật hoang dã, bảo tồn đa dạng sinh học và hệ sinh thái bền vững.
Mua bán trái phép động vật hoang dã đã trở thành một ngành thương mại với lợi nhuận tỷ đô la ở cấp toàn cầu. Hoạt động của tội phạm có tổ chức đang khiến nhiều loài rơi vào nguy cơ tuyệt chủng, đồng thời phá hủy tài nguyên thiên nhiên một cách tàn khốc chưa từng có trong lịch sử.
Theo báo cáo mới nhất của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) và INTERPOL, lợi nhuận thu được của tội phạm về môi trường đã tăng 26%, từ 70-213 tỉ đô la năm 2014 tăng lên 91-258 tỉ đô la ở thời điểm này.
Việt Nam đang từng bước thực hiện cam kết trong việc đấu tranh chống lại tội phạm mua bán, vận chuyển các loài động, thực vật hoang dã, trong đó có việc tăng cường bắt giữ các sản phẩm có nguồn gốc trái phép.
Từ năm 2010 đến năm 2015, cơ quan hải quan đã thu giữ khoảng 55.200kg tê tê, 18.000kg ngà voi và hơn 235kg sừng tê giác từ các lô hàng phi pháp. Vụ bắt giữ lớn nhất diễn ra ở cảng Tiên Sa (Đà Nẵng), thu giữ hơn 3 tấn ngà voi, 120kg sừng tê giác và 4 tấn vẩy tê tê được cất giấu trên 3 lô hàng.
Để từng bước ngăn chặn loại tội phạm này, Luật Hình sự 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2016 đã đưa ra mức xử phạt nghiêm khắc hơn. Cụ thể, mức phạt tiền tối đa lên tới 10-15 tỉ đồng, mức xử lí hình sự lên tới 10-15 năm tù. Đối với loài tê tê, nếu vận chuyển, mua bán với số lượng từ 1-6 cá thể sẽ có mức phạt từ 500 triệu đến 2 tỉ đồng hoặc phạt tù từ 1-5 năm.
Mức hình phạt tù tăng lên 5-10 năm với số lượng từ 7-10 cá thể và từ 10-15 năm với số lượng trên 10 cá thể. Tê tê là loài nguy cấp, quý hiếm, được ưu tiên bảo vệ theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP.
Việt Nam và Trung Quốc hiện là hai quốc gia tiêu thụ sừng tê giác lớn nhất thế giới. Trước nhu cầu ngày càng gia tăng, loài tê giác ở Nam Phi đang bị đe dọa nghiêm trọng. Số lượng tê giác bị giết hại mỗi năm vẫn không ngừng tăng lên.
Chỉ trong năm 2015 đã có gần 1.200 cá thể tê giác Nam Phi bị giết hại để lấy sừng, bán sang các nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Với tốc độ giết hại tê giác như hiện nay, dự đoán, đến năm 2020, loài tê giác sẽ tuyệt chủng. Tại Việt Nam, cá thể tê giác Java cuối cùng đã bị giết hại ở Vườn quốc gia Cát Tiên năm 2011.
Ông Nguyễn Việt Dũng – Giám đốc Trung tâm đào tạo và truyền thông môi trường (Bộ Tài nguyên – Môi trường) cho biết, Ngày Môi trường thế giới được phát động lần đầu tiên vào năm 1972. Kể từ đó, thế giới chọn ngày này là dịp để nâng cao nhận thức của mỗi người về tầm quan trọng của môi trường và trách nhiệm bảo vệ môi trường toàn cầu.
Năm nay, Ngày Môi trường thế giới tập trung vào cuộc chiến chống lại nạn buôn bán động thực vật hoang dã trái phép nhằm kêu gọi cộng đồng giảm thiểu tình trạng săn bắt, buôn bán, vận chuyển trái phép, đe dọa đa dạng sinh học; hướng tới các hành vi sống thân thiện với môi trường, giảm thiểu áp lực ngày càng gia tăng đối với các hệ sinh thái tự nhiên của trái đất.
Theo UNEP, thời gian qua, việc bảo vệ động vật hoang dã đã có một số thành công nhất định nhưng nhiều loài vẫn có nguy cơ cao bị tuyệt chủng. Nhân ngày môi trường thế giới, UNEP truyền đi thông điệp, rằng con người cần hiểu biết nhiều hơn và cần phải thay đổi thói quen, hành vi để giảm nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm từ động, thực vật hoang dã.
Việt Nam hưởng ứng sự kiện này bằng việc phát động “Tháng hành động vì môi trường” diễn ra trên toàn quốc với nhiều hoạt động lồng ghép thiết thực. Ngày 5-6 vừa qua, tại tỉnh Lào Cai, Bộ Tài nguyên – Môi trường đã tiến hành thả 82 cá thể động vật hoang dã về vườn quốc gia Hoàng Liên. Số cá thể này là tang vật thu giữ trong các đợt truy quét những đối tượng mua bán, vận chuyển trái phép.
Việt Nam là quốc gia được xếp hạng thứ 16 trên thế giới về mức độ đa dạng của tài nguyên sinh vật. Tuy nhiên, đa dạng sinh học tại Việt Nam đang bị suy giảm nghiêm trọng trước áp lực của gia tăng dân số, khai thác quá mức tài nguyên sinh vật và sự đánh đổi với ưu tiên phát triển kinh tế. (Công An Nhân Dân 9/6) đầu trang(
Có người cho rằng gia đình anh Thông sắp gặp may vì con trăn bò vào là một điềm lành, lại có người nói đó là một tai họa sắp giáng lên gia đình này.
Khi câu chuyện về trăn thần vẫn chưa hết “nóng” với người dân địa phương thì những tin đồn về đám người từng có ý định giết trăn đều lần lượt bị giáng họa. Sự xuất hiện của tin đồn càng khiến người dân tin con trăn này là “thần thánh” và có phần hoang mang, lo lắng…
Bên cạnh những câu chuyện lý giải về sự xuất hiện của con trăn lớn tại nhà anh Nguyễn Hữu Thông (SN 1975, thị trấn Phố Châu, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh), người dân nơi đây còn truyền tai nhau về kết cục của những người “dám” mạo phạm “trăn thần”.
Đó đều là những câu chuyện nhuốm màu tâm linh. Có thông tin cho rằng, nhóm bắt được con trăn lần đầu tiên gồm có 4 người. Những người này đã rao bán con trăn để làm thịt nấu cao. Một người dân ở xã bên đã mua con trăn này với giá 5 triệu đồng. Khi chuẩn bị làm thịt thì bỗng nhiên toàn bộ người trong nhà lăn ra ôm bụng đau quằn quại.
Biết gặp phải “trăn thần”, người này nhanh chóng mời thầy làm lễ thì gia đình khỏe lại bình thường. Sau đó, con trăn này được anh Quốc Anh mua và phóng sinh ở chùa. Sự việc chìm vào quên lãng suốt 5 tháng. Nay con trăn xuất hiện, đám người bắt được trăn lại được đưa ra bàn tán.
Là một trong những người tham gia gí điện vào con trăn lạ, anh Trần Quốc C. rơi vào vòng lao lý chỉ sau một ngày anh cùng nhóm bạn tìm cách bắt cho bằng được con trăn. Sau đó một ngày, anh S. tham gia cùng anh C. bắt trăn, đã phải chịu nỗi đau mất đi người thân của mình.
Bà Lê Thị Phương (SN 1937), một người dân địa phương kể: “Việc những người này gặp nạn đã xảy ra rồi nhưng ban đầu không ai để ý cả. Chỉ đến khi con trăn lại xuất hiện thêm lần nữa mọi người mới sực nhớ đến nhóm người từng bắt con trăn này giờ sống thế nào”.
Ngoài anh C. và anh S gặp tai ương, gia đình anh T. (một thành viên trong đám bắt trăn) đang yên ấm thì bất ngờ bố vợ của anh đổ bệnh. Người nhà đưa ông cụ đi chữa trị khắp nơi nhưng không đỡ.
Hiện tại, bố vợ anh T. bệnh ngày càng nặng hơn. “Ngoài mấy trường hợp trên ra thì có trường hợp anh N. cũng tham gia bắt con trăn đợt đó. Vừa rồi, anh N. đi phụ hồ không may bị xô vữa rơi trúng khiến anh này ngã xuống và bị bể xương chậu. Hiện tại, anh này đang phải nằm viện ở Hà Nội để điều trị đó”, bà Phương nói thêm.
Câu chuyện về nhóm người mạo phạm trăn thần nên bị “báo ứng” được người dân đồn thổi khắp nơi. Nhiều người không tin nhưng cũng có không ít người tin tưởng và cho đó là do “mạo phạm” thần linh.
Anh Dũng một người dân sống gần nhà anh Thông cho biết: “Không ai lý giải được vì sao con trăn xuất hiện, người dân chúng tôi chỉ biết tự giải thích đó là do thần thánh xuất hiện. Ban đầu, tôi cũng có chút lo lắng nhưng về sau thì quen dần nên không lo ngại mấy. Giờ chúng tôi chỉ mong con trăn được chữa trị lành vết thương để sớm được trả về môi trường tự nhiên. Bởi hiện nay, việc bảo vệ được một con trăn 'khủng' như vậy là quá hiếm”.
Có người cho rằng gia đình anh Thông sắp gặp may vì con trăn bò vào là một điềm lành. Lại có người nói đó là một tai họa sắp giáng lên gia đình này. Bên cạnh đó, không ít người lý giải là do con trăn đi lạc, lại bị thương nên khi bò đến chuồng bò nhà anh Thông thì nằm nghỉ…
Là chủ nhân của ngôi nhà được con trăn ghé vào, bản thân anh Thông không tin lắm những chuyện mê tín như người dân đồn thổi. Anh cũng cho rằng, không có người nào gặp đại họa như lời đồn đại cả. Có chăng chỉ có trường hợp ông N. đúng là đi phụ hồ bị xô vữa rơi đúng người khiến ông bị ngã dẫn đến vỡ xương chậu phải đi Hà Nội chữa trị là có thật. Nhưng đó là tai nạn nghề nghiệp và là sự trùng hợp.
Anh Thông cho biết: “Nếu nói chuyện báo oán, tôi tin là không có. Có chăng chỉ là sự trùng hợp khiến người dân bán tín, bán nghi mà đồn đoán này nọ làm dân tình xôn xao mà thôi. Với lại, nếu nói báo ân thì tôi nghĩ con trăn nên tìm về nhà anh Quốc, người đã mua và phóng sinh trăn để trả ơn chứ về nhà tôi làm gì. Tôi chỉ là người chở con trăn sau khi đã được anh Quốc mua về thôi mà”.
Một số người cùng quan điểm cho rằng đó chỉ là sự trùng hợp chứ không có chuyện báo ân, báo oán gì cả. Chỉ có trường hợp của ông N. thì làm sao có thể kết luận được là có hay không chuyện ma quỷ, thần thánh ở đây. Người dân đang tự huyễn hoặc để khiến mình hoang mang, lo lắng mà thôi.
Sư thầy Thích Tâm Phương, trụ trì chùa Nhiễu Long chia sẻ: “Chuyện báo ân, báo oán gì thì thầy không nắm rõ. Mà quan điểm của thầy thì không có chuyện đó, con trăn sống ở trên núi, không may nó đi lạc là chuyện thường tình. Người dân không nên tự mình tưởng tượng rồi khiến mình lo sợ thêm làm gì cả”.
Đúng 14h chiều ngày 2/6, xe của đội cứu hộ động vật hoang dã có mặt lập biên bản và đưa con trăn đi. Được biết, cá thể trăn được phát hiện ở trên thuộc loại trăn gấm, có tên khoa học là Pythonmolunis, thuộc nhóm 2B. Theo ông Lê Xuân Sơn (Phó giám đốc Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã), trước mắt con trăn này sẽ được chữa lành vết thương, chăm sóc theo chế độ đặc biệt để phục hồi sức khỏe nhanh nhất.
Sau đó, cá thể trăn này sẽ được thả về với tự nhiên. Việc đưa con trăn đi sớm khiến nhiều người tỏ ra tiếc nuối. Chị Dung (vợ anh Thông) tâm sự: “Nhà mình rất muốn để con trăn lại thêm mấy hôm nữa nhưng cán bộ trung tâm cứu hộ đã đến tận nhà vận động thì nhà mình cũng đồng ý bàn giao lại cho họ. Hi vọng con trăn  sẽ sớm được chữa lành vết thương và sớm được trở về với môi trường tự nhiên”.
Mấy ngày sau khi con trăn đã được đưa đi, nhịp sống thường nhật của người dân ở đây đã dần trở lại. Có chăng nhiều người thỉnh thoảng vẫn ghé qua nhà vợ chồng anh Thông để hỏi thăm xem có tung tích gì của con trăn không. Những lời đồn truyền miệng lâu dần cũng mất đi.
Ông Trần Quốc Hoàng (Phó chủ tịch UBND thị trấn Phố Châu) cho biết: “Sự xuất hiện của con trăn tại nhà dân trên địa phương là hết sức bình thường. Ngay sau khi nhận được tin báo, chúng tôi đã cho tập trung lực lượng xuống hiện trường để đảm bảo an ninh trật tự cũng như tránh những sự đồn đoán, mê tín dị đoan trong quần chúng nhân dân.
Hiện tại những lời đồn đó chỉ ở mức truyền miệng nhau không gây ảnh hưởng đến ai hay mất trật tự an ninh trên địa bàn nên chúng tôi không có biện pháp can thiệp nào cả. Nếu những lời đồn đó mà biến tướng gây hoang mang dư luận, khiến người dân hoảng sợ thì chúng tôi sẽ có biện pháp ngăn chặn ngay lập tức". (Tuổi Trẻ Và Đời Sống/ VTC News 10/6) đầu trang(
Bà Mai tâm sự “ở đời làm bao nhiêu tiền bạc đến lúc chết có mang theo được đâu”. Bằng suy nghĩ đơn giản đó, mỗi ngày bà gần như dành toàn bộ số tiền kiếm được đem mua thóc, gạo nuôi lũ chim trời.
Mỗi buổi chiều, du khách đến với khu du lịch Thảo Cầm Viên (TP.HCM) đều thích thú chứng kiến cảnh đàn chim trời đông đúc, thoải mái nhặt thóc, gạo được vãi sẵn ở bãi đất trống ngay cổng ra vào. Đàn chim với số lượng hàng trăm con gồm nhiều loài như sẻ, cu đất, bồ câu… tự do bay lượn, ríu rít gọi nhau tạo nên khung cảnh yên bình, thanh khiết khác hẳn nhịp sống vội vã bên ngoài.
Lúc lũ chim hết thức ăn, người ta lại thấy một bà già ốm yếu, dáng người khắc khổ trên tay mang lỉnh khỉnh thóc, gạo, cơm nguội, bánh mì… đến tiếp tế.
Bà con sống quanh Thảo Cầm Viên gọi cụ già là “mẹ của các loài chim”, người gần như dành trọn cuộc đời chăm sóc, bảo vệ “đàn con” hoang dã. Gần 30 năm mưu sinh ở góc công viên, là ngần ấy thời gian bà cụ tận tụy nuôi nấng lũ chim trời, góp phần tô thêm nét đẹp của vươn bách thú hơn 150 tuổi.
Người mẹ có ngàn “đứa con” đó tên thật là Hồng Thị Mai, SN 1956, ngụ đường Nguyễn Đình Chiểu, quận 3, TP.HCM. Bà Mai mưu sinh bằng nghề buôn bán đồ chơi trẻ em ở Thảo Cầm Viên từ thời con là thiếu nữ cho đến nay.
Bà kể, những ngày đầu mới buôn bán thường vắng khách, chỉ biết ngồi nhìn đàn chim trời bay lượn, líu lo ca hát. Sự gần gũi đó tạo cho bà và những người con tự nhiên một sợi dây gắn kết đặc biệt. Bà Mai buồn nhất là ngày trời mưa lớn đàn chim đói ăn run rẩy chui rúc trong tán cây trốn mưa. Bằng tình cảm hết sức tự nhiên bà Mai mang phần cơm nguội còn lại cho lũ chim sau khi mưa tạnh. Ban đầu đàn chim còn nhút nhát chỉ sà xuống nhặt hạt cơm rồi bay đi khiến bà Mai không giám đến gần. Ngày hôm sau, bà lại thấy đàn sẻ tìm đến đúng vị trí vãi cơm hôm qua kiếm ăn. Cụ bà tiếp tục mang thức ăn cho chúng. Kể từ những lần đầu tiên đó cho đến tận hôm nay chưa lúc nào bà Mai quên cho lũ con ăn.
Bây giờ, đàn chim trời ở Thảo Cầm Viên đã xem bà Mai như mẹ chúng. Cụ bà chia sẻ: “Trung bình mỗi ngày tôi mua hết 20 ngàn tiền thức ăn cho lũ chim. Không chỉ chim trời ở Thảo Cầm Viên, tôi còn cho nhiều đàn ở nơi khắc ăn nữa nên mới tốn kém thế.
Tôi chẳng phải là người giàu có, mỗi ngày buôn bán chỉ lời 30-40 ngàn, nhưng nghĩ đơn giản sống ở đời làm lụng, tích góp được thật nhiều tiền đến khi chết cũng không mang theo được. Tôi bỏ 20 ngàn mà có thể nuôi nấng, phát triển đàn chim trời đã hạnh phúc lắm rồi. Lũ chim cũng như con người thôi, chúng có tính mạng, cần được bảo vệ, tạo điều kiện phát triển. Nhìn môi trường sống của đàn chim đang bị tàn phá thậm tệ tôi buồn lắm”.
Tâm sự về cuộc đời mình bà Mai cho biết, bà lấy chồng từ năm ngoài 20 tuổi. Sau khi sinh được người con trai giữa 2 vợ chồng gặp nhiều mâu thuẫn dẫn đến ly dị. Bà Mai ôm người con về nhà mẹ đẻ vật lộn mưu sinh mà không đòi hỏi bất cứ trợ cấp nào từ chồng cũ. Cuộc sống khắc khổ, nghèo nàn nhưng bà luôn lạc quan, yêu đời. Hiện tại, con trai bà đã lập gia đình mua được nhà ở riêng. Anh làm tài xế xe ôm ở khu vực Thảo Cầm Viên, người vợ nối nghiệp mẹ chồng đi bán bong bóng cho trẻ em.
Trước đây thấy bà Mai khó khăn, cuộc sống thiếu trước hụt sau nhưng vẫn bỏ tiền ra mua thức ăn cho lũ chim nhiều bạn bè bảo “bà khùng, không có ăn còn lo chim chóc này nọ”. Nhưng bà Mai gạt ra ngoài tai tất cả, vẫn vui vẻ với thực tại. Bây giờ, biết bà xem lũ chim trời như con mình, nhiều người lại mang cơm nguội, bánh mì đến phụ giúp. Bà Mai cho biết, ở Thảo Cầm Viên, ngoài bà còn có một vị khách Tây vẫn thường đến cho chim ăn. Cùng có chung tình yêu động vật nên giữa ông khách nước ngoài giàu có và bà già bán hàng nghèo khổ khá thân thiệt với nhau.
Tại vị trí bà Mai ngồi bán hàng, chúng tôi thấy có 4 chiếc lồng, nhốt 4 chú sóc ngộ nghĩnh. Nhiều người hiếu kỳ tưởng bà Mai bán đến ngã giá mua nhưng đều bị cự tuyệt. Bà Mai giải thích: “ Khách hỏi mua đều bảo sẽ phóng sinh, giải thoát cho đàn sóc nhưng họ không biết làm thế có khác nào giết chúng. Bọn sóc đều bị gió bão đánh rơi tổ được tôi nhặt về nuôi khi vừa lọt lòng. Chúng được chăm bẵm, lo từng miếng ăn từ bé chỉ cần thả ra ngoài môi trường tự nhiên sẽ chết ngay vì không thể thích ứng”.
Đến lúc này tôi mới hiểu vì sao bà Mai kiên quyết giữ lại lũ sóc bên mình. Thật khâm phục cho tình cảm sâu sắc cụ bà nghèo khổ dành cho những loài động vật hoang dã, nó ngược lại hoàn toàn với hành động tàn phá, tận diệt động vật của không ít người trẻ hiện đại. (Phụ Nữ News 10/6) đầu trang(
Biết dơi diệt muỗi hữu hiệu, bác sĩ Hoài ở Đồng Nai phối hợp nông dân dựng chòi để thu phục động vật này. Còn phân của chúng được dùng bón cho cây trồng.
Xã Phú Lý (huyện Vĩnh Cửu) thuộc vùng sâu, vùng xa và được bao quanh bởi những cánh rừng. Trong nhiều năm, bệnh sốt rét, sốt xuất huyết từng là nỗi khiếp đảm của cư dân địa phương. Để chống lại những bệnh này, nhiều gia đình phải sử dụng hóa chất diệt trừ muỗi, ngăn chặn loài trung gian gây bệnh.
Do hiểu rõ mối nguy đến từ côn trùng, bác sĩ Hồ Văn Hoài, Phó giám đốc Trung tâm y tế huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai) tập trung nghiên cứu cách diệt. Nhiều phương thức được ông áp dụng nhưng hiệu quả không cao.
Năm 2014, trong lần đến thăm vườn cây người bạn cùng xã, vị bác sĩ được nông dân chia sẻ dự án thu phục dơi để tạo nguồn phân bón.
Bác sĩ Hoài nói: "Nghe bạn giới thiệu, tôi nghĩ ngay việc muỗi là món ăn khoái khẩu của dơi, có thể sử dụng loài này vào mục đích y tế. Cũng từ đó, tôi hùn vốn, góp công với bạn để cùng dựng chòi, thu phục động vật hoang dã này”. Ông cho biết thêm: “Nông dân thích lấy phân bón, còn tôi khoái cảnh dơi bay đi bắt muỗi”.
Chòi đầu tiên được dựng lên trong vườn quýt của nông dân Nguyễn Văn Sáu ở ấp 1 (xã Phú Lý). Công trình cao 12 m, rộng 6 m, dài 9 m được thiết kế trụ thép ở các góc, lợp mái tôn. Bên trong được đặt 2.000 lá thốt nốt khô làm chỗ cho dơi trú ngụ.
Theo bác sĩ, trên thị trường không ai bán dơi giống nên việc tạo đàn phụ thuộc vào tự nhiên. Người làm chòi phải khảo sát vị trí, chọn khu vực chúng thường xuyên bay qua hoặc những điểm có nhiều thức ăn.
“Sau khi dựng chòi ở những vị trí ‘đẹp’, dơi tự động đến làm tổ. Mỗi chòi có thể làm nơi trú ngụ của hàng nghìn con. Người sở hữu loài săn côn trùng này không phải bỏ công chăm sóc, không mất chi phí thức ăn. Tuy nhiên, việc dựng nơi trú ẩn tiêu tốn từ 80 - 100 triệu đồng”, phó giám đốc Trung tâm y tế huyện Vĩnh Cửu nói.
Theo ông Hoài, đây là động vật có vú, thường gọi là dơi chuột có tên khoa học Vespertilio, thuộc họ Vespertilionidae. Loài này sống theo đàn với số lượng lớn và chỉ ăn muỗi, bướm, rầy, thiêu thân... Chúng không phá hại cây trái của nhà nông như các loài dơi khác.
Một ngày, mỗi con có thể tiêu diệt 5.000 con muỗi và tỏa đi săn mồi cách xa nơi trú ẩn hàng chục km; góp phần quan trọng trong việc phòng bệnh Zika, sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não Nhật Bản... Động vật săn muỗi được xác định không thuộc loài trung gian truyền bệnh cho con người.
Từ khi các chòi dơi được dựng, người dân xã Phú Lý không phải sống trong cảnh muỗi “bao vây”. “Mùa mưa những năm trước, muỗi nhiều vô kể. Nhà nào cũng phải phun hóa chất, dùng hương độc để diệt trừ. Những biện pháp đó tốn tiền, ảnh hưởng sức khỏe nhưng muỗi vẫn không hết. 2 năm nay, từ vườn cây đến nhà cửa đều sạch sẽ”, bà Lê Thị Bích Em (50 tuổi, ngụ ấp 1, xã Phú Lý) nói.
Nguồn phân từ loài động vật này có hàm lượng lân lên đến 45%, đạm 35% và 6% kali, có lợi trong trồng trọt. Nguồn này tạo mùn cho đất, giúp cây tăng trưởng nhanh và nâng cao năng suất cây trồng.
Ông Nguyễn Văn Sáu cho biết: “2 chòi dơi đảm bảo nguồn phân bón quanh năm cho 12 ha cây ăn quả quả gia đình. Mỗi ngày, tôi thu gom 2 dạ (thùng nhựa loại 20 lít) chất thải của động vật này”. Ông Sáu cho biết thêm, năm 2015, nguồn phân dư thừa được ông bán với giá 250.000 đồng/dạ, thu lợi 200 triệu đồng.
Bà Nguyễn Thị Nga, Phó chủ tịch UBND xã Phú Lý cho biết: “Bác sĩ Hoài phối hợp cùng 2 gia đình dựng chòi dơi đầu tiên ở xã. Mô hình mang lợi ích lớn nên 8 hộ khác trong vùng cũng học hỏi để làm. Chòi được nông dân đặt trong rẫy, không gây tiếng ồn, không ảnh hưởng môi trường”.
Ông Huỳnh Minh Hoàn, Giám đốc Sở Y tế Đồng Nai cho biết, việc dùng dơi diệt muỗi là biện pháp tốt. Theo ghi nhận ban đầu, phương pháp này hợp lý và có thể chế ngự được các loại côn trùng gây hại trên diện rộng.
“Hiện tại, ngành y tế đang theo dõi tính hiệu quả. Vì mô hình mới nên chúng tôi chưa tổng hợp được các số liệu và báo cáo cụ thể. Đây sẽ là biện pháp hữu hiệu diệt muỗi, góp phần ngăn ngừa dịch bệnh”, bác sĩ Hoàn nói. (Zing News 9/6) đầu trang(
Giai đoạn 2 của chiến dịch “Bảo vệ tê giác hoang” được xây dựng dựa trên các hoạt động trong năm 2014 và 2015 khi 15.000 bạn trẻ các trường quốc tế tại TP HCM được giới thiệu về các cuộc khủng hoảng trong nạn săn trộm tê giác và được mời tham dự cuộc thi tê giác hoang dã.
Được lựa chọn từ hơn 1.500 bài thi, 22 bạn đã chiến thắng và giành được phần thưởng là một chuyến đi đến Nam Phi để trải nghiệm nhìn thấy tê giác trong thế giới hoang dã và tìm hiểu các vấn đề về việc bảo tồn và bảo vệ các cá thể hoang dã khác.
Sử dụng các nguyên tắc giáo dục thực tế, chiến dịch được khắc họa bằng những thông điệp và suy nghĩ của các đại sứ trẻ trên các áp phích, tờ rơi giáo dục và các tài liệu chiến lược khác đã được cung cấp và trưng bày xung quanh khuôn viên trường học. Không dừng lại ở đó, việc tham gia và tương tác với chiến dịch tê giác hoang dã còn được tuyên truyền thông qua các trang web, Facebook và Instagram.. (Người Lao Động 9/6) đầu trang(

QUẢN LÝ –SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Sáng 8.6, Hạt Kiểm lâm huyện Nông Sơn tổ chức hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) giai đoạn 2013 - 2015 trên địa bàn huyện.
Sau 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR, đến nay toàn huyện Nông Sơn có tổng diện tích giao khoán bảo vệ rừng được hưởng tiền DVMTR hơn 5.513ha với 32 nhóm hộ/305 hộ tham gia bảo vệ rừng có cung ứng DVMTR, trung bình mỗi hộ quản lý, bảo vệ 18,06ha rừng/năm.
Tổng số tiền chi trả DVMTR trong 3 năm là hơn 2,3 tỷ đồng. Tại hội nghị, các đại biểu đã thảo luận, trao đổi những khó khăn và kinh nghiệm thực tế trong quá trình chỉ đạo, tổ chức, thực hiện chính sách chi trả DVMTR. (Báo Quảng Nam 9/6) đầu trang(
Vừa qua, tại Hà Nội, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức Hội thảo về thúc đẩy quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng ở Việt Nam.
Hội thảo có sự tham gia của đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các Bộ, ngành liên quan, Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam, Tổng công ty Giấy Việt Nam và một số chương trình, dự án, tổ chức phi chính phủ có liên quan. Hội thảo còn có sự tham dự của ông Ben Gunneberg, Tổng giám đốc Chương trình chứng nhận chứng chỉ rừng Châu Âu (PEFC), đại diện FAO khu vực Châu Á.
Theo báo cáo tại Hội thảo, dù đã có nhiều cơ chế, chính sách về quản lý rừng bền vững, tuy nhiên, hiện nay trên cả nước mới có 2,9 % diện tích rừng trồng và 2,34% diện tích rừng tự nhiên là rừng sản xuất được cấp chứng chỉ rừng.
Nguyên nhân là do việc đánh giá cấp chứng chỉ rừng ở Việt Nam hiện nay phụ thuộc vào các chuyên gia quốc tế của tổ chức FSC ủy quyền với chi phí cao và không chủ động; chưa có bộ tiêu chuẩn quốc gia hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng; chưa có các tổ chức đánh giá và chứng nhận trong nước được công nhận; hạn chế về nguồn nhân lực và kỹ năng, hệ thống tổ chức chưa chuyên nghiệp.
Trong quá trình thực hiện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng, việc quản lý và sử dụng rừng phải đảm bảo hài hoà các lợi ích cả về kinh tế, xã hội và môi trường, cũng như việc đảm bảo tính minh bạch nguồn gốc xuất xứ, chuỗi hành trình sản phẩm phù hợp với các hiệp định quốc tế về thương mại gỗ và lâm sản cũng là những thách thức không nhỏ.
Từ nay đến năm 2020, ngành lâm nghiệp Việt Nam cũng đặt ra mục tiêu thúc đẩy nhanh quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng, bảo đảm sử dụng tài nguyên rừng bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học. Cụ thể, về hệ thống tổ chức, sẽ thiết lập hệ thống và mạng lưới về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng ở Việt Nam đủ sức để chủ động cho việc quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng phù hợp tiêu chuẩn quốc tế. Đến năm 2020, ít nhất 500 nghìn ha rừng sản xuất có phương án quản lý rừng bền vững được phê duyệt và cấp chứng chỉ rừng.
Các giải pháp đã được đưa ra tại hội thảo bao gồm: ban hành Bộ tiêu chuẩn quốc gia về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng hài hoà với tiêu chuẩn quốc tế phổ biến hiện hành; quy định về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục và nội dung đối với tổ chức đánh giá và cấp chứng chỉ rừng ở Việt Nam; các cơ chế chính sách nhằm thúc đẩy quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng.
Bên cạnh đó, các giải pháp khác cũng được đưa ra như: thành lập Hội đồng chứng chỉ rừng quốc gia thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; liên kết với các tổ chức chứng chỉ rừng quốc tế; nâng cao năng lực liên kết các chủ rừng để giảm chi phí đầu tư, liên kết các doanh nghiệp chế biến với chủ rừng trong quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng,… (Môi Trường Và Đời Sống 9/6) đầu trang(
Các tỉnh Điện Biên, Lâm Đồng, Quảng Bình, Cà Mau và Thanh Hóa đã phê duyệt Kế hoạch hành động REDD+ cấp tỉnh (PRAP) giai đoạn 2016 - 2020.
Ông Vũ Xuân Thôn, Trưởng ban Quản lý các dự án Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Giám đốc Dự án Hỗ trợ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ tại Việt Nam cho biết: Đến nay trên cả nước đã có năm tỉnh là Điện Biên, Lâm Đồng, Quảng Bình, Cà Mau và Thanh Hóa phê duyệt Kế hoạch hành động REDD+ cấp tỉnh (PRAP) giai đoạn 2016- 2020.
REDD+ là sáng kiến quốc tế nhằm giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực giảm mất rừng, giảm suy thoái rừng, bảo tồn trữ lượng các-bon rừng, quản lý rừng bền vững và nâng cao trữ lượng các-bon rừng.
Tùy theo tình hình tại địa phương, PRAP của các tỉnh bao gồm nhiều biện pháp can thiệp khác nhau nhằm thực hiện REDD+. Trong đó các biện pháp đều tập trung vào các hoạt động lập kế hoạch đa ngành và đưa ra các giải pháp cụ thể, nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư vào rừng để đáp ứng các yêu cầu của REDD+, Cải thiện sử dụng đất và đất rừng.
Các kế hoạch còn hỗ trợ cộng đồng địa phương và các công ty lâm nghiệp tham gia vào quá trình phát triển cảnh quan trên cơ sở quyền sử dụng rừng theo truyền thống và bảo vệ rừng bền vững. Bên cạnh đó là các hoạt động thúc đẩy các địa phương tăng cường quản trị rừng, bao gồm cải thiện pháp lý và tăng cường thực thi pháp luật trong sử dụng rừng và thương mại lâm sản.
Cũng theo ông Thôn, riêng trong tháng 6 này, dự kiến có thêm 3 tỉnh ban hành quyết định phê duyệt PRAP là Hà Tĩnh, Bắc Cạn và Lào Cai. Trong quý 3 và quý 4 dự kiến sẽ thêm các tỉnh Bình Thuận, Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình ... phê duyệt PRAP. Như vậy đến hết năm nay, dự kiến sẽ có 16 tỉnh ban hành Kế hoạch hành động REDD+ cấp tỉnh.
“Các dự án hầu như phải làm thí điểm và trong Kế hoạch hành động này tôi cho rằng chúng ta đặt vấn đề phải làm thí điểm mô hình từ cái gì. Trước hết làm giàu rừng, nâng cao trữ lượng rừng, năng suất rừng, giá trị rừng và các giải pháp kỹ thuật, các giải pháp về kinh tế.  Từ những mô hình thí điểm chúng ta rút ra quy trình, đưa ra chính sách để cho các chủ rừng được hưởng lợi từ rừng” - ông Vũ Xuân Thôn nói.
PRAP là một trong những hoạt động góp phần giảm phát thải khí nhà kính do mất rừng, suy thoái rừng, tăng cường trữ lượng các bon rừng, bảo tồn trữ lượng các bon rừng và quản lý rừng bền vững phù hợp với mục tiêu của Quyết định 799/QĐ-TTg ngày 27/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về REDD+ giai đoạn 2011 - 2020. Tính đến năm 2015, đã có 44 dự án được triển khai với tổng số vốn cam kết đạt  hơn 84 triệu USD, trong đó, 24 dự án đã kết thúc.
Dự án hỗ trợ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam được Quỹ Đối tác các-bon trong Lâm nghiệp tài trợ, ủy thác qua Ngân hàng Thế giới, với số vốn không hoàn lại 3,8 triệu USD thực hiện từ tháng 1/ 2013 đến tháng 11/2016 tại 3 tỉnh thí điểm là Quảng Bình, Quảng Trị và Đăk Nông. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 9/6; VnExpress 9/6) đầu trang(
Qua 5 năm (2011 - 2015) thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng (giai đoạn 2011 - 2015) với sự quyết liệt của chính quyền địa phương các cấp từ tỉnh xuống từng thôn, bản, trên 40.000ha rừng kinh tế đã được trồng.
Nhiều địa phương, ngoài việc vận động nhân dân trồng rừng, đã mạnh dạn giao khoán, cho mượn những diện tích đất rừng cộng đồng kém hiệu quả hay là đồi núi trọc cho nhân dân trồng rừng. Điều này phù hợp với chủ trương của chính quyền địa phương và nguyện vọng của nhân dân.
Rừng Hà Giang đã được đầu tư từ nhiều Chương trình, dự án của Trung ương, chủ yếu là Chương trình 327, Chương trình 661, Chương trình 135, Chương trình phục hồi và phát triển rừng tại 4 huyện vùng Cao nguyên đá... Nhờ đó, độ che phủ của rừng không ngừng được tăng lên từ 39,9% năm 2000, đến thời điểm cuối năm 2015 đạt trên 56,3%.
Bên cạnh đó, những định hướng trong công tác bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng của Hà Giang như: Chính sách giao rừng và đất rừng đến hộ và nhóm hộ gia đình, chính sách hỗ trợ lương thực cho các hộ trồng rừng, chính sách hỗ trợ chất đốt cho đồng bào vùng cao nguyên đá... đã góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Tình trạng đốt rừng làm nương rẫy đã cơ bản chấm dứt và các cánh rừng đã được bảo vệ tốt hơn.
Đến cuối năm 2015, trên địa bàn Hà Giang có trên 40 nghìn hécta rừng tự nhiên với trữ lượng lâm sản lớn và đa dạng về chủng loại đang được triển khai bảo vệ; trên 21,5 nghìn hécta rừng tái sinh được khoanh nuôi, phục hồi và phát triển; trên 1.600ha các loại cây bản địa như: Thông nhựa, bồ đề, xa mộc và khoảng 2.250ha cây công nghiệp và các loại cây dược liệu quý như: Đỗ trọng, thảo quả, xuyên khung...
Trên các cánh rừng tự nhiên, ngoài các loại gỗ quý hiếm như: Gỗ đinh, nghiến, kháo đá, thông đá, pơ mu... các cánh rừng của Hà Giang còn có nhiều loại cây nguyên liệu phục vụ cho sản xuất giấy như: Mỡ, tre, nứa và các loại song, mây phục vụ cho xuất khẩu. Đó cũng chính là cơ sở để hình thành nên các cơ sở sản xuất và chế biến lâm sản tại nhiều vùng trong tỉnh.
Để thúc đẩy công tác phát triển rừng, Hà Giang đã ưu tiên mở rộng và phát triển hệ thống đường giao thông tại các vùng quy hoạch phát triển rừng và các cánh rừng. Đây là cơ sở để phục vụ nhu cầu đi lại, chăm sóc, bảo vệ, tu bổ và khai thác các sản phẩm từ rừng với khối lượng ngày càng lớn.
Ngoài ra, do diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng còn khá lớn (vào khoảng trên 58.230ha), Hà Giang thực hiện chủ trương khuyến khích hộ và nhóm hộ, các doanh nghiệp đầu tư phát triển trồng rừng theo mô hình nông - lâm kết hợp, khuyến khích các cá nhân và tập thể phát triển và mở rộng mô hình kinh tế trang trại, nhất là trang trại trồng rừng cây nguyên liệu.
Theo ông Nguyễn Minh Tiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh - Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Hà Giang: Sau 15 năm phục hồi và phát triển rừng, độ che phủ của rừng trên địa bàn Hà Giang không ngừng được nâng lên; tài nguyên rừng ngày càng đa dạng về chủng loại, trữ lượng lâm sản ngày càng lớn. Điều đó đã góp phần quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng cũng như công cuộc xóa đói giảm nghèo đối với một tỉnh miền núi biên giới còn nhiều khó khăn nơi cực Bắc của Tổ quốc.
Tuy nhiên hiện tại vẫn còn nhiều khó khăn cần tháo gỡ đặc biệt trong vấn đề quản lý rừng cần có chủ trương và chính sách hợp lý cũng như việc tuyên truyền để người dân nhận rõ việc bảo vệ rừng. Trên địa bàn huyện Vị Xuyên nhiều hộ dân trong thôn Ngọc Bình, xã Bạch Ngọc phản ánh vụ việc có một số gia đình thôn thực hiện phát rừng cộng đồng để trồng rừng kinh tế.
Điều này sẽ làm ảnh hưởng một phần đến rừng đầu nguồn và bãi chăn thả của nhân dân đồng thời nếu không có biện pháp cụ thể sẽ làm nảy sinh mâu thuẫn trong nhân dân.
Đại diện của Hợp tác xã Ngàn Hoa - một trong số ít những HTX đầu tư chuyên sâu vào trồng rừng sản xuất, bảo vệ và phát triển rừng, anh Hoàng Đức Hải cho rằng việc một số hộ dân trong thôn Ngọc Bình từ đầu năm 2016 đến nay có vào phát rừng cộng đồng để trồng rừng kinh tế là có thật với diện tích là 1,2ha; nhưng vì chưa có sự quản lý chặt chẽ của chính quyền cũng như cơ chế, chính sách cho các chủ rừng để bảo vệ và giám sát chặt chẽ hơn nên một số hộ dân mới tự do phát rừng để làm kinh tế.
Vụ việc trên là ví dụ thực tế để chính quyền địa phương vào cuộc sát sao hơn nữa. Huyện Vị Xuyên đã yêu cầu Hạt Kiểm lâm và chính quyền các xã, thống kê đầy đủ diện tích rừng cộng đồng còn lại; đánh giá, quy hoạch những vùng có thể trồng rừng kinh tế sau đó giao cho hộ, nhóm hộ hoặc các tập thể để trồng rừng.
Việc để hàng trăm hécta rừng cộng đồng nghèo kiệt hay đồi trọc lãng phí như hiện nay là một điều đáng tiếc, do đó cùng với việc quy hoạch, phân vùng cụ thể để trồng rừng thì các cấp, các ngành của huyện Vị Xuyên cũng cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân hiểu rõ chủ trương từ đó giao một phần diện tích rừng cộng đồng cho các hộ, nhóm hộ hay các tập thể để trồng rừng.
Trồng rừng sản xuất là một lĩnh vực lâu dài cần thời gian và đầu tư bền vững, cũng theo ông Hải: Trồng cây lâm nghiệp không chỉ mất một vài năm mà rất nhiều năm, vì vậy đòi hỏi HTX phải thật sáng suốt trước khi quyết định trồng cây gì để mang lại lợi ích nhiều nhất cho HTX và xã hội. HTX còn phát triển được 2 cơ sở ươm cây giống, với hơn 80 vạn cây để phục vụ cho việc phát triển diện tích rừng sản xuất.
Ngoài ra, HTX còn tuyên truyền cho nhân dân trong vùng dự án hiểu biết về giá trị từ kinh tế rừng từ đó vận động bà con tham gia bảo vệ rừng, không thả rông gia súc phá hoại cây trồng.Vị Xuyên có tổng diện tích rừng tự nhiên gần 150 nghìn hécta, trong đó,  diện tích đất có rừng gần 79 nghìn hécta, rừng phòng hộ trên 28 nghìn hécta, rừng sản xuất trên 50 nghìn hécta.
Tiềm năng phát triển kinh tế lâm nghiệp của huyện hiện vẫn còn rất lớn, thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia. Nhưng HTX Ngàn Hoa vẫn là “điểm sáng” về đầu tư bền vững vào kinh tế rừng, góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy, phát triển và bảo vệ rừng trên địa bàn huyện. (Đại Biểu Nhân Dân 9/6) đầu trang(
Để bảo vệ và phát triển hệ thống rừng ngập mặn (RNM) thành “lá chắn xanh”, giảm nhẹ thiên tai…, Quảng Ninh đang triển khai nhiều biện pháp cấp bách.
Báo cáo sở NN&PTNT Quảng Ninh cho thấy, toàn tỉnh có hơn 21.Ị40ha RNM, tập trung nhiều ở các địa phương như: Móng Cái, Tiên Yên, Quảng Yên, Vân Đồn...
Tuy vậy, do nhận thức về vai trò của rừng ngập mặn của trong cộng đồng còn nhiều hạn chế dẫn đến việc san gạt đổ thải, chặt phá cây ngập mặn để lấy củi đốt, sản xuất than củi của người dân ven biển... khiến diện tích rừng ngập mặn ven biển Quảng Ninh suy giảm đáng kể.
Trước thực trạng đó, từ năm 2008 - 2014, Quảng Ninh đã chú trọng tới bảo vệ và phát triển rừng, nhờ đó, đã trồng mới được hơn 1.700ha với tổng kinh phí hơn 22,4 tỷ đồng.
Giai đoạn 2015 - 2020, Quảng Ninh đang triển khai 3 dự án bằng kinh phí của chương trình biến đổi khí hậu (SP-RCC) gồm: Dự án gây bồi, tạo bãi và trồng cây ngập mặn tại thôn 1, xã Hải Đông (TP Móng Cái), tổng kinh phí 27 tỷ đồng; Dự án nâng cấp đê Quan Lạn (huyện Vân Đồn) và trồng RNM, kinh phí 18 tỷ đồng; Dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, đặc dụng ven biển tỉnh giai đoạn 2015 - 2020, tổng mức đầu tư 92 tỷ đồng.
Những dự án này sẽ góp phần quan trọng trong việc khôi phục và phát triển RNM của các địa phương... Bên cạnh đó, thông qua các dự án: PAM 5325, Hội Chữ thập đỏ, Quỹ Nhi đồng Anh, tỉnh Quảng Ninh trồng mới được hơn 2.300ha rừng các loại.
Đặc biệt, tại Quảng Yên, một trong những địa phương có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế từ bãi triều và RNM nhưng do tình trạng chặt phá rừng lấy củi diễn ra triền miên, nên diện tích đất RNM bị suy giảm nghiêm trọng. Vì vậy, những năm gần đây Quảng Yên đã tranh thủ sự hỗ trợ các dự án, trồng mới được được hơn 238 ha RNM. Cùng với việc trồng mới RNM, Quảng Yên tích cực tuyên truyền đến các hộ dân về việc bảo vệ RNM, nhờ đó, tình trạng chặt phá RNM không còn tái diễn.
Ông Đặng Tiến Hải, Phó Chủ tịch UBND thị xã Quảng Yên khẳng định: Hiệu quả kinh tế và xã hội của thảm RNM ở Quảng Ninh nhiều năm gần đây được người dân đánh giá rất cao. Nhờ bảo vệ tốt RNM nên hệ thống đê điều của địa phương được đảm bảo an toàn hơn; đem lại nhiều nguồn thu từ nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản...
Tuy vậy, trong quá trình khôi phục và phát triển RNM hiện nay, Quảng Ninh cũng đang gặp không ít khó khăn như: Lượng chất thải rắn, nước thải của các mỏ than đang khai thác chưa được xử lý, nước sinh hoạt trong dân cư thải trực tiếp ra biển làm ảnh hưởng tới môi trường sinh thái RNM; quá trình đô thị hoá lấn biển làm thu hẹp diện tích RNM; kinh phí cho việc quản lý và bảo vệ RNM còn thiếu; môi trường sống của RNM rất khắc nghiệt; chưa có cơ chế chính sách khuyến khích người dân tham gia bảo vệ và phát triển RNM.
Để rừng ngập mặn trở thành lá chắn xanh, ông Hoàng Công Đãng, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Quảng Ninh cho biết: Thời gian tới, tỉnh tiếp tục triển khai Chương trình bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2015 - 2020.
Bên cạnh đó, tăng cường các giải pháp và cơ chế chính sách như: Chính sách giao khoán, cho thuê đất rừng đến hộ gia đình theo Nghị định số 23/2006/NĐ-CP, trong đó, ưu tiên giao khoán đất rừng cho người dân địa phương và cộng đồng dân cư; chính sách đầu tư theo Quyết định số 38/2005/QĐ BNN của Bộ NN&PTNT và các chính sách được hưởng lợi của chủ rừng... nhằm bảo vệ RNM tốt hơn. (Tài nguyên & Môi trường 9/6) đầu trang(
Sáng 9.6, huyện Tân Châu đã tổ chức bốc thăm và giao đất tái định cư tại thực địa cho các hộ dân thuộc diện phải di dời ra khỏi đất lâm nghiệp ở ấp Tân Thuận, xã Tân Hòa.
Theo Quyết định số 1111 ngày 9.5.2016 của UBND huyện Tân Châu phê duyệt phương án giao đất tái định cư cho các hộ dân phải di dời ra khỏi đất lâm nghiệp, được bố trí trong khu tái định cư ấp Tân Thuận, xã Tân Hòa.
Ông Lại Thành Lộc – Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tân Châu cho biết: Thực hiện chủ trương của UBND tỉnh Tây Ninh về vấn đề bảo quản đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện, UBND huyện Tân Châu tổ chức giao đất cho các hộ dân phải di dời ra khỏi đất lâm nghiệp ở khu tái định cư ấp Tân Thuận thuộc xã Tân Hòa, nhằm tạo điều kiện cho các hộ dân có cuộc sống ổn định, để các cháu thiếu nhi có điều kiện đến trường  thuận lợi hơn. (Báo TâyNinh 9/6) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, các đơn vị chủ rừng đã phát hiện lập hồ sơ vi phạm về hành vi lấn chiếm mới đất lâm nghiệp trái phép 28 vụ/24,19 ha.
Cụ thể, trên địa bàn huyện Bắc Bình 20 vụ/21,346 ha, Hàm Thuận Bắc 7 vụ/2,775 ha, Đức Linh 1  vụ/0,072 ha. Trong 20 vụ lấn chiếm đất tại huyện Bắc Bình, hiện đơn vị tiến hành kiểm tra, xác minh để quy chủ 17 trường hợp lấn chiếm đất tại tiểu khu 104 với diện tích 11,729 ha thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Cà Giây. (Báo Bình Thuận 9/6) đầu trang(
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ước giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ tháng 5 năm 2016 đạt 459 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ 5 tháng đầu năm 2016 đạt 2,56 tỷ USD, giảm 1,8% so với cùng kỳ năm 2015.
Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc - 3 thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2016 - chiếm 67,39% tổng giá trị xuất khẩu. Các thị trường có giá trị tăng là Hoa Kỳ (8,75%), Nhật Bản (5,87%), Hàn Quốc (15,31%), Anh (9,42%), Úc (2,61%) và Hà Lan (5,64%).
Trong khi đó, ước giá trị nhập khẩu tháng 5/2016 đạt 148 triệu USD, nâng giá trị nhập khẩu mặt hàng này 5 tháng đầu năm 2016 đạt 728 triệu USD, giảm 18,8% so với cùng kỳ năm 2015.
Thị trường nhập khẩu chính của mặt hàng này là Trung Quốc, chiếm 13,5% và tiếp tục gia tăng so với cùng kỳ năm 2015 (tăng khoảng 6,5%). Tiếp theo là thị trường Hoa Kỳ, chiếm tới 12,2% tổng giá trị nhập khẩu mặt hàng này và cũng tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2015.
Giá trị nhập khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của 2 thị trường Lào và Campuchia vẫn tiếp tục giảm mạnh. So với cùng kỳ năm 2015 giá trị nhập khẩu của Lào giảm 58,8% và của Campuchia giảm 47,6% . Bên cạnh đó, một số thị trường có giá trị tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2015 như Pháp (tăng 50,8%), Đức (tăng 35,8%). (Đảng Cộng Sản Việt Nam 9/6) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Nghiên cứu mới đã khẳng định rằng đa dạng sinh học có thể giúp cá ở các rạn san hô vượt qua được những tác động của tình trạng nóng lên toàn cầu.
Kết luận này được đưa ra bởi nhóm nghiên cứu do Mạng lưới giám sát biển Tennenbaum của Viện Smithsonian (Hoa Kỳ) chủ trì, mới được công bố trên Tạp chí của Viện hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ.
Các nhà nghiên cứu đã tiến hành phân tích dữ liệu từ hơn 4.500 mẫu cá tại các rạn san hô trên thế giới nhằm so sánh những tác động của đa dạng sinh học và các yếu tố môi trường khác lên sinh khối cá ở các rạn san hô trên toàn cầu. Kết quả cho thấy đa dạng sinh học, tính bằng số lượng của các loài (đa dạng loài) và sự đa dạng của các đặc tính (đa dạng chức năng) trong một hệ thống rạn san hô là một trong những yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến sinh khối cá, đứng thứ hai sau yếu tố nhiệt độ mặt biển.
Tác động trực tiếp của việc phát thải khí carbon là khiến bề mặt Trái Đất nóng lên, nhiều axit trong nước biển, gây ra hiện tượng tẩy trắng các rạn san hô trên thế giới. Trong một nghiên cứu công bố hồi tháng trước, các nhà khoa học cho hay 99 % các rạn san hô được khảo sát ở Great Barrier Reef (Úc) đã bị ảnh hưởng bởi hiện tượng tẩy trắng san hô. Hiện tượng tẩy trắng này cũng xảy ra đối với các rạn san hô tại các hòn đảo ở Thái Bình Dương, Hawaii, Vanuatu, American Samoa, Fiji và một số khu vực ở biển Caribbean, Florida Keys và Ấn Độ Dương.
Cũng theo một nghiên cứu khác công bố mới đây, hơn một phần tư các rạn san hô trên thế giới đang bị suy giảm do khai thác quá mức, chất thải bồi lắng và chịu các sức ép khác do con người gây ra như biến đổi khí hậu. Điều này dẫn đến sự suy giảm mạnh số lượng các loài cá tại các rạn san hô trên toàn thế giới, điều mà các nhà khoa học lo ngại từ lâu.
Nghiên cứu mới đã giúp giải đáp câu hỏi rằng liệu đa dạng sinh học có thể giúp chống lại các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, bảo vệ nguồn hải sản đang cung cấp sinh kế, lương thực cho hàng triệu người.
Ông Emmett Duffy, Giám đốc Mạng lưới Giám sát biển Tennenbaum, trưởng nhóm – đã cùng nhóm nghiên cứu đánh giá 11 yếu tố môi trường khác nhau để xác định những yếu tố này ảnh hưởng như thế nào tới tổng sinh khối cá và đá ở các rạn san hô trên toàn thế giới. Nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng sự phong phú các loài ảnh hưởng là yếu tố quan trọng thứ hai ảnh hưởng tới sinh khối cá ở các rạn san hô chỉ sau nhiệt độ.
Theo ông Duffy, nghiên cứu này đã cung cấp những bằng chứng cụ thể nhất cho thấy việc bảo tồn đa dạng sinh học biển sẽ mang lại lợi ích rất lớn cho con người cũng như các đại dương và sinh vật biển.
“Bảo tồn đa dạng sinh học không chỉ mang giá trị về mặt thẩm mỹ hay tinh thần, mà góp phần quan trọng vào việc bảo vệ sức khỏe của các hệ sinh thái cùng những dịch vụ mà các hệ sinh thái cung cấp cho con người, như hải sản chẳng hạn.” – Ông Duffy cho biết.
Mối liên hệ giữa nhiệt độ với sinh khối cá cũng rất phức tạp, nhiệt độ nước biển ấm hơn có xu hướng giúp gia tăng sinh khối cá nhưng sự biến động nhiệt độ lớn lại có tác động ngược lại.
Các nhà khoa học cũng nhận thấy đa dạng sinh học giúp cho quần thể cá có khả năng chống lại biến đổi khí hậu tốt hơn. Trong quần thể có rất ít loài cá, sinh khối có xu hướng gia tăng khi nhiệt độ nước biển ấm lên đến dưới 20 độ C; và đạt tới mức nhiệt độ này sinh khối cá rạn san hộ lại bắt đầu giảm. Nhưng các quần thể với số lượng loài cá lớn thì một số lượng lớn các loài vẫn ổn định ngay cả khi nhiệt độ tăng cao.
Ở cả hai quần thể cá tại các rạn san hô với độ đa dạng cao hay thấp đều sẽ sinh sản kém hiệu quả hơn khi có sự biến đổi về nhiệt độ, tuy nhiên, quần thể có độ đa dạng cao chỉ chịu tác động bằng một nửa quản thể còn lại.
Phát hiện của nhóm nghiên cứu cho thấy đa dạng sinh học có thể giúp các quần thể sống tại các rạn san hô chống lại các tác động của biến đổi khí hậu bằng việc giúp tăng khả năng sinh sản và sức chống chịu. (Môi Trường Và Đời Sống 10/6) đầu trang(
Theo Huffington Post, thông qua chính sách thu mua công của chính phủ, Na Uy cam kết cấm cửa triệt để tất cả sản phẩm có chuỗi cung ứng liên quan tới hoạt động phá rừng.
Ông Nils Hermann Ranum thuộc Tổ chức Rainforest Foundation Norway, đơn vị đã đóng vai trò rất lớn trong chiến dịch vận động kéo dài nhiều năm để có được kết quả này, cho biết: “Đây là một chiến thắng quan trọng trong cuộc chiến bảo vệ rừng nhiệt đới.
Trong vài năm qua, một số công ty đã cam kết ngừng thu mua các hàng hóa có thể liên quan tới việc phá rừng. Tuy nhiên tới nay, các chính phủ vẫn chưa có những cam kết tương tự. Vì thế thật vui mừng khi Na Uy đã trở thành quốc gia đầu tiên thực hiện điều này”.
Tại Hội nghị thượng đỉnh chống biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc ở New York năm 2014, Na Uy, Đức và Vương quốc Anh đã cam kết sẽ “thúc đẩy những cam kết quốc gia trong việc khuyến khích các chuỗi cung cấp không phá rừng” thông qua các chính sách thu mua công và tạo ra các nguồn cung cấp bền vững cho những sản phẩm như dầu cọ, đậu nành, thịt bò và gỗ.
Theo Liên Hiệp Quốc, các sản phẩm dầu cọ, đậu nành, thịt bò và gỗ được sản xuất tại 7 nước có tỉ lệ phá rừng cao gồm Argentina, Bolivia, Brazil, Paraguay, Indonesia, Malaysia và Papua New Guinea đã gây ra tới 40% trong tổng diện tích rừng nhiệt đới bị tàn phá toàn cầu và tạo ra 44% trong tổng lượng khí thải carbon trong thời gian 2000-2011.
Đây không phải lần đầu tiên Na Uy có động thái đột phá trong chiến dịch bảo vệ rừng. Năm 2008, Na Uy đã hỗ trợ Brazil, quốc gia quản lý tới 60% diện tích rừng Amazon, 1 tỉ USD để chống phá rừng.
Theo đó, tới năm 2015 quốc gia Nam Mỹ này đã giảm được tình trạng phá rừng tới 75%, cứu nguy khoảng 8.546.960ha rừng và giảm được 3,2 tỉ tấn khí CO2 thải vào khí quyển.
CNN cho rằng với tốc độ phá rừng như hiện nay, trong khoảng 100 năm nữa rừng sẽ biến mất trên toàn thế giới. (Tuổi Trẻ 10/6) đầu trang(./.