Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 08 tháng 06 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Huyện Hà Trung có gần 5.500 ha đất lâm nghiệp, trong đó: đất rừng sản xuất gần 3.500 ha, đất rừng phòng hộ hơn 1.700 ha và đất rừng đặc dụng (rừng sến quốc gia) gần 200 ha.
Hạt kiểm lâm huyện đã tham mưu cho UBND huyện và UBND các xã xây dựng phương án giữ vững ổn định rừng; xây dựng phương án tác chiến chữa cháy rừng theo phương châm “4 tại chỗ” tại các khu vực trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng trên diện tích 2.157 ha, tập trung ở các xã Hà Lâm, Hà Sơn, Hà Bình, Hà Ninh, Hà Phú, Hà Thái, Hà Lĩnh, Hà Đông, Hà Tân, Hà Tiến, Hà Lai...
Đồng thời, huyện đã xây dựng kế hoạch về huy động lực lượng, phương tiện hậu cần tham gia chữa cháy rừng, trong đó: Đội phản ứng nhanh 32 người, lực lượng cơ động 120 người; lực lượng xung kích ở cấp xã 1.265 người... phân công tổ chức trực cháy 24/24 giờ tại các địa bàn trọng điểm.
Thời điểm này đang có những đợt nắng nóng kéo dài, ban chỉ đạo phòng cháy, chữa cháy rừng huyện chỉ đạo hạt kiểm lâm, các xã củng cố trung đội dân quân cơ động mạnh, các tổ đội quần chúng  bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng; tổ đội thanh niên xung kích bảo vệ rừng; tăng cường công tác tuần tra, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các ổ lửa có nguy cơ xảy ra cháy rừng, phấn đấu không để cháy rừng xảy ra. (Báo Thanh Hóa 7/6) đầu trang(
Khoảng 13 giờ 30 ngày 6-6, khu rừng trồng đã thu hoạch và phát dọn tại địa bàn thôn Lộc Mỹ được người dân đốt xử lý thực bì gây cháy lan sang khu rừng bên cạnh. Ban Chỉ huy phòng cháy chữa cháy rừng xã Hòa Bắc đã điều động hơn 20 dân quân cùng bảo vệ rừng địa phương đến hiện trường, phối hợp với lực lượng tại chỗ của thôn Lộc Mỹ khống chế ngọn lửa đang cháy lan đến khu rừng tự nhiên của khu đồi cao đối diện đèo La Ngà. Do nắng nóng khô hanh, gió thổi mạnh, đến 18 giờ cùng ngày vẫn chưa khống chế được đám cháy.
Theo Phó Chủ tịch UBND xã Hòa Bắc Thái Hoài Nam, khu rừng đốt xử lý thực bì là của ông Vĩ, rộng hơn 7ha, đã được địa phương giao khoán trồng rừng. Việc đốt xử lý thực bì chiều 6-6 gây cháy lan do chủ rừng tùy tiện triển khai, chưa được sự cho phép của UBND xã. (Báo Đà Nẵng 7/6) đầu trang(
Theo thông báo từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau, kể từ ngày 1/6 rừng tràm U Minh Hạ chính thức mở cửa trở lại. Như vậy sau gần 6 tháng rừng bị đóng cửa để bảo vệ rừng trước nguy cơ cháy do hạn hán nay đã trở lại hoạt động bình thường.
Đặc biệt, Vườn quốc gia U Minh hạ với diện tích 8.500 ha cũng không còn nguy cơ cháy nên đã mở cửa trở lại và hoạt động bình thường. Các đội tình nguyện tham gia phòng chống cháy rừng với trên 500 người được giải tán. Người dân đã vào rừng sản xuất như lấy mật ong, khai thác lâm sản, trồng rừng, trồng hoa màu, cây ăn trái.
Cũng theo Chi cục Kiểm lâm, liên tục 10 ngày qua Cà Mau đã có mưa to trên diện rộng. Riêng lâm phần rừng tràm, bao gồm các huyện U Minh, Trần Văn Thời và Thới Bình có mưa to, nước đã ngập chân rừng, ngập mặt ruộng. (Chính Phủ 2/6; Tin Tức 3/6) đầu trang(
Chiều ngày 7/6, ông Trần Viết Phương, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT TP. Đà Nẵng cho biết, lực lượng chức năng vừa phát hiện thêm một vụ khai thác rừng trái phép trong phạm vi rừng đặc dụng Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà (quận Sơn Trà, Đà Nẵng).
Cuối tháng 4, qua tin báo của người dân về việc phát hiện một vụ vận chuyển gỗ bằng đường biển tại khu vực Bãi Bắc (bán đảo Sơn Trà), lãnh đạo quận Sơn Trà đã chỉ đạo Hạt kiểm lâm Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn cùng các đơn vị liên quan thành lập ngay đoàn công tác đi kiểm tra khu vực Trường Mai (thuộc tiểu khu 63, phường Thọ Quang).
Khu vực này thuộc khu du lịch sinh thái Nhất Lâm Thuỷ Trang Trà do ông Phạm Trường Mai (SN 1988, ngụ phường Thọ Quang, Sơn Trà) làm chủ. Tại hiện trường khai thác gỗ trái phép khu vực tiểu khu 63, phát hiện 16 cây có đường kính gốc từ 15-143cm.
Tổng khối lượng cây đứng là 63,4m3 thuộc gỗ thông thường nhóm V, VI và VII gồm các loài chò, nhội, dẻ, sồi, lim xẹt và lòng mang. Trong đó có 2 cây có khối lượng cây đứng tạm tính 12,3m3 nằm trong phạm vi đất rừng đặc dụng; số cây và khối lượng cây đứng còn lại nằm trong phạm vi đất sử dụng khác ngoài khu bảo tồn thuộc dự án khu du lịch Bãi Bắc mở rộng
Kiểm tra thêm trong nhà kho của cơ sở du lịch sinh thái của ông Trường Mai có 25 hộp gỗ xẻ các loại có khối lượng 3,027m3, có hồ sơ mua bán gỗ nhưng chưa xác định được chủng loại gỗ hiện có so với hoá đơn.
Qua làm việc, ông Mai thừa nhận đã tự ý khai thác tận thu số cây gỗ bị ngã đổ trong rừng do bị bão trong năm 2015 để sử dụng tại chỗ nhưng chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép, và mua số gỗ xẻ khối lượng 3,027m3 trên của các doanh nghiệp để làm bàn ghế phục vụ khách du lịch.
“Tuy nhiên, khi kiểm tra, quan sát hiện trường, phần lớn các gốc cây đã có tái sinh chồi mọc cao từ 20cm đến 50cm, chứng tỏ cây đã bị cắt hạ và trải qua một mùa sinh trưởng (1 năm)”, ông Phương thông tin.
Theo ông Phương, hiện, Sở đã chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm khẩn trương kiểm tra, điều tra và xác minh làm rõ vụ việc, xử lý theo đúng quy định của quy định của pháp luật báo cáo trước 15.6 tới.
Được biết, khu vực khai thác nằm trong phạm vi nhận khoán của ông Phạm Hùng Mạnh (hiện quân nhân Vùng 3 Hải quân) theo hợp đồng khoán 110/HĐGK ngày 19/8/1998, diện tích 18ha, do BQL Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà lập. Trước đó, trong tháng 2, tại khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, lực lượng chức năng cũng đã phát hiện hơn 2,3 ha rừng Sơn Trà đã bị chặt, đốt phá. Liên quan đến vụ việc, Hạt trưởng và Hạt phó Hạt kiểm lâm Sơn Trà đã bị kỷ luật cách chức, đồng thời xử lý kỷ luật hai cán bộ khác có liên quan. (Pháp Luật Việt Nam 8/6; Lao Động 7/6; Infonet 7/6) đầu trang(
Trong nhiều năm qua, nhiều diện tích rừng đặc dụng và rừng phòng hộ do Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt quản lý đã và đang bị xâm lấn nghiêm trọng. Dù ngành chức năng đã triển khai nhiều biện pháp, tuy nhiên tình trạng đốt, phá rừng làm nương rẫy của đồng bào người Mông vẫn tiếp diễn, chưa có dấu hiệu giảm.
Khi nắng chiều chưa khuất hẳn sau những dãy núi, trên con đường mòn độc đạo dẫn về bản Mường Lống, chúng tôi bắt gặp nhiều bà con người dân tộc Mông đi rẫy về. Trên những gương mặt sạm đen vì nắng, sau vẻ mệt mỏi của một ngày lao động mệt nhọc, dường như vẫn ẩn chứa một nỗi buồn nặng trĩu.
Thò Tồng Dê, dù mới sinh năm 1990 nhưng đã có tới 3 mặt con. Người đông, ruộng không có, Tồng Dê theo bà con trong bản sang Nậm Giải đốt rừng làm rẫy. Giờ chưa đến mùa thu hoạch, nhưng nghe tin chính quyền chỉ gia hạn trong 7 ngày nữa phải phá dỡ hết lán trại tạm nơi khu vực xâm canh, Tồng Dê lo lắng lắm. Vì sắp tới, 5 miệng ăn trong gia đình không có gì để sinh sống.
Cũng như Thò Tồng Dê, gia đình Và Chia Của, Thò Giống Mùa... cũng đang lo lắng trước thông tin này.
Để mục sở thị những cánh rừng bị các hộ xâm canh đốn trọc làm rẫy, dù được cảnh báo quãng đường đi rất gian khổ, vất vả nhưng chúng tôi vẫn quyết tâm vào rừng. Quả thật, không ngoa khi nói đường vào Nậm Giải như chỉ có ở trong phim. Hết qua những dốc núi dựng đứng lởm chởm đá, đường lại ngoằn nghèo, trơn trượt mà nếu tay lái không vững có thể văng cả người cả xe xuống vực sâu bất cứ lúc nào.
Lại có những đoạn cua khúc khuỷu liên tiếp khuất tầm nhìn, bởi những hòn đá tảng to tướng, tưởng như đầu gối có thể va côm cốp vào đá nếu người ngồi sau không co vội chân lên. Sau ba tiếng đồng hồ bò ì ạch bằng xe máy, chúng tôi cũng đã lên được tới lưng chừng đỉnh núi trong rừng đặc dụng thuộc địa bàn xã Nậm Giải.
Bỏ lại sau lưng những chiếc xe máy đang bốc khói khét lẹt vì nóng, chúng tôi tiếp tục leo dốc vào rừng. Chỉ sau 30 phút băng rừng, trước mắt chúng tôi đã hiện lên những diện tích rừng đặc dụng bị đốt, phá nham nhở.
Bên cạnh màu xanh bát ngát của những cánh rừng tự nhiên là những mảng rừng đã bị chặt hạ, thay vào đó là màu xanh của những chồi lúa rãy chỉ vừa mới lên mầm.
Đi vào sâu trong rừng, ngay tại khoảnh 3 tọa độ 104 của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, khu vực giáp ranh giữa hai xã Tri Lễ và Nậm Giải, những mảng rừng vừa mới bị đốt phá còn nguyên những cây gỗ to cháy dở. Nhiều thân cây lớn có đường kính 30- 40cm vẫn còn nằm lăn lóc giữa những đám lúa mới nảy mầm.
Do những diện tích rừng bị đốt phá chủ yếu nằm sâu tận trong rừng, trong khi đó, đường giao thông đi lại khó khăn nên rất khó để phát hiện. Bên cạnh đó, dường như chính quyền địa phương cũng như lực lượng chức năng không có biện pháp để ngăn chặn ngay từ đầu. Vì vậy, những cánh rừng đặc dụng ở khu vực này vẫn ngày đêm bị đốt, phá liên tục. Hầu hết, bà con đều dựng lán trại kiên cố để phục vụ cho việc sản xuất, chăn nuôi. Thậm chí, nhiều hộ đã dựng cả nhà sàn kê cột chắc chắn để ở ổn định lâu dài trong khu vực rừng cấm.
Gặp chúng tôi vừa lúc đi rẫy bẻ sắn về, bà  Xồng Giống Lào cho biết, gia đình bà ở bản Mường Lống, nhà chỉ có 3 người thôi nhưng nay cả 3 người đều vào ở hẳn đất Nậm Giải hơn hai năm nay để phát rừng làm rẫy, chứ ở ngoài bản thì chỉ có chết đói thôi.
Bà lo lắng nói: biết là vi phạm pháp luật vì sang đây phá rừng, nhưng xin cấp trên tạo điều kiện cho ta ở đến hết mùa, vì đã lỡ rồi nên khi thu hoạch xong ta sẽ trở về bản. Chứ bây giờ hoa màu ở bên ni cả, nếu chính quyền phá dỡ thì về cả nhà không có gì mà ăn. Ta biết nhà nước giao hạn 7 ngày phải dỡ lán trại nhưng ta xin thu hoạch xong thì ta sẽ về ngay, chấp hành đúng pháp luật...
Trao đổi với chúng tôi, ông Lê Thái Diệu - Phó giám đốc Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt nhận định: Bên cạnh việc thiếu đất sản xuất, thì nguyên nhân dẫn đến tình trạng hàng chục hộ đồng bào người Mông hồi cư từ Lào về sang xâm canh xâm cư, chặt phá rừng đặc dụng làm nương rẫy là do nhận thức của bà con còn hạn chế. Cùng với đó, do trình độ dân trí thấp, đời sống kinh tế khó khăn cũng đã dẫn tới việc đồng bào người Mông vi phạm pháp luật bảo vệ rừng...
Qua kiểm tra, rà soát, lực lượng chức năng đã phát hiện có 33 hộ thuộc 2 bản Huồi Xai và Mường Lống của xã Tri Lễ đã sang xâm lấn, phá rừng đặc dụng thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt với tổng diện tích hơn 30ha.
Trong số 33 hộ này, có 13 hộ đã vào xâm canh gần 10 năm nay tại khu vực rừng thuộc khoảnh 8 tọa độ 104, giáp ranh bản Mờ xã Châu Thôn. Điều đáng ngạc nhiên, đó là các hộ này đã dựng nhà sàn kiên cố ở quây quần như một bản mới trong khu vực rừng đặc dụng. Thế nhưng, số hộ này cũng chỉ mới được cơ quan chức năng phát hiện trong đợt tuyên truyền vừa mới đây.
Ông Lê Thái Diệu - Phó Giám đốc Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt cho biết rừng đã bị xâm canh từ lúc ban quản lý chưa thành lập, khi đó, khu vực nói trên thuộc sự quản lý của chính quyền địa phương. Đến giữa năm 2013, Ban mới được giao quản lý số diện tích này.
Theo ông Diệu, để xảy ra tình trạng xâm canh kéo dài trách nhiệm trước hết thuộc về chính quyền địa phương. Do đối tượng vi phạm là người đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống còn nhiều khó khăn nên chính quyền xã cũng không thể xử phạt nghiêm, xử lý chưa triệt để vì vậy thiếu tính răn đe, giáo dục và thuyết phục.
Điều đáng nói, trên thực tế, cũng có rất nhiều hộ gia đình vào đây phát rừng làm rẫy mới được hai đến ba năm nay, trong khi Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt cũng đã đi vào hoạt động được 3 năm nay.
Cũng có thông tin cho rằng những năm qua chính quyền thôn bản ở xã Nậm Giải đã thu tiền sản xuất của các hộ xâm canh, bình quân mỗi năm 2,5- 3 triệu đồng/hộ. Dư luận đặt câu hỏi, phải chăng đây cũng là một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến diện tích rừng bị xâm lấn không những giảm mà ngày càng có chiều hướng gia tăng?
Rõ ràng, dù trách nhiệm có thuộc về ai, song, chính sự quản lý hời hợt, lỏng lẻo, thiếu quyết liệt khiến những cánh rừng ở đây những năm qua vẫn ngày đêm đang tiếp tục bị chặt phá, xâm hại... (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Nghệ an 7/6) đầu trang(
Tin tức điều tra,, nhiều cây rừng lâu năm bị lâm tặc “xẻ thịt” trong vườn quốc gia Chư Yang Sin, khi vào cuộc điều tra chính quyền huyện Krông Bông bảo toàn.. gỗ mục nát. Chuyện khó tin!
Sau gần 3 tháng kể từ khi phóng viên báo điện tử Người Đưa tinthâm nhập vào sâu bên trong khu vực vườn quốc gia Chư Yang Sin thuộc địa bàn xã Cư Drăm, huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk ghi nhận cảnh nhiều cây rừng lâu năm bị lâm tặc nhẫn tâm ngang nhiên đốn hạ và phản ánh qua bài viết “Cận cảnh và đau đớn khi nhìn hàng chục cây rừng '4 người ôm' bị lâm tặc ‘xẻ thịt".
Để có sự phản biện thông tin khách quan 2 chiều, chúng tôi đã liên hệ rất nhiều lần với lực lượng quản lý rừng quốc gia Chư Yang Sin là các đơn vị kiểm lâm, thậm chí là lãnh đạo UBND huyện Krông Bông nhưng đều nhận được những phản hồi không tích cực.
Sau đó, báo Người Đưa tin tiếp tục thông tin bài viết ‘Đá bóng’ trách nhiệm vụ đốn hạ cây rừng ‘nhiều người ôm’. Khi ấy, lực lượng chức năng huyện mới xuất hiện trả lời và hứa sẽ thông tin sớm nhất trả lời báo chí khi có kết quả kiểm tra giữa các bên và ai làm sai thì sẽ chịu trách nhiệm trong việc khi đã để nhiều cây rừng bị đốn hạ.
Thế nhưng, nhóm PV phải tìm tới tận trụ sở UBND huyện một lần nữa để tìm câu trả lời thì mới nhận được công văn và các kết quả kiểm tra của lực lương chức năng nơi này.
Trao đổi với chúng tôi, bà Đinh Trần Thị Bích Nga - Chánh văn phòng UBND huyện cho biết: “Ngay sau buổi làm việc với PV trước đó, đồng chí Huỳnh Bài - Chủ tịch UBND huyện đã kí công văn 'khẩn' chỉ đạo, yêu cầu làm rõ vụ việc báo điện tử Người Đưa tin đã nêu”.
Cụ thể theo công văn số 554/UBND- VP, ngày 30/3, tức sau 9 ngàyNgười Đưa tin thông tin bài báo đầu tiên khởi đăng, UBND huyện đã chỉ đạo: Giao hạt kiểm lâm huyện chủ trì, phối hợp với Công an huyện Krông Bông, Vườn quốc gia Chư Yang Sin, UBND xã Cư Drăm, kiểm tra, xác minh địa điểm, số lượng gỗ rừng bị đốn hạ đồng thời làm rõ trách nhiệm của các đơn vị chủ rừng trong công tác quản lí, bảo vệ diện tích rừng được nhà nước giao quản lí. Báo cáo kết quả về UBND huyện xem xét, chỉ đạo trước ngày 5/4.
Nhưng tới ngày 12/4, hạt kiểm lâm huyện Krông Bông mới gửi báo cáo lên UBND huyện. Theo báo cáo số 17/BC –HKL do ông Y Te B. Kông, hạt trưởng hạt kiểm lâm đích thân ký.
Nội dung mà báo cáo của hạt kiểm lâm huyện Krông Bông cho thấy, sau khi nhận được chỉ đạo của UBND huyện hạt kiểm lâm thành lập đoàn kiểm tra vào hiện trường xác minh sự việc có kết luận như sau:Điểm bị mất rừng thuộc lô 5, khoảnh 4; lô 14 khoảnh 3, tiểu khu 1189 (xã Cư Drăm). Tại vị trí kiểm tra phát hiện 03 gốc cây ( 02 gốc Bạch Tùng, 01 gốc Dổi). Tại lô 14, khoảnh 3, tiểu khu 1189 có hai gốc Bạch Tùng đã khô, mục có đường kính 80 cm và 85 cm ước tính thời gian bị chặt từ 2-5 tháng (!?)
Ngoài ra, có 07 phách, dài 3,2m, rộng 55cm, dày 22cm có khối lượng 4, 188m3. 0,1 phách, dài 2,2m, rộng 0,48cm, dày 40cm khối lượng 0,422m3. Mặt khác, có 0,1 gốc Dổi đường kính 85cm, chiều cao 1m ước tính bị chặt khoảng 4-5 tháng trước. Tại lô 5, khoảnh 4, tiểu khu 1189 phát hiện 01 phách gỗ Bạch Tùng, dài 3,2m rộng 66cm, dày 15cm có khối lượng 0,316 m3. Tổng khối lượng gỗ bị lâm tặc đốn hạ (4,926m3).
Bất thường báo cáo của hạt kiểm lâm huyện này đã lộ rõ. Vì thời điểm PV báo Người Đưa tin thâm nhập điều tra đã ghi lại được cảnh rừng tan hoang, nhiều cây rừng bị đốn hạ xẻ thành nhiều miếng ván lớn được cất dấu kỹ càng. Thậm chí, chúng tôi còn ghi nhận được hình ảnh các lán trại bên các hang đá, ba lô, nguyên liệu xăng, dầu của lâm tặc để lại và những cây bị đốn hạ vẫn còn tươi rói, thơm mùi gỗ vừa mới được "xẻ".
Căn cứ báo cáo của hạt kiểm lâm huyện Krông Bông thì lực lượng này đã vào chính xác khu vực mà nhóm PV điều tra của báo Người Đưa tin, trực tiếp cận cảnh ghi hình hiện trường và xác minh rằng số gỗ bị đốn hạ trên thuộc địa bàn xã Cư Đrăm. Song, hạt kiểm lâm này đã trốn tránh trách nhiệm khi có báo cáo lên lãnh đạo huyện bằng cách "nói dối" là số gỗ bị lâm tặc "xẻ thịt" đã xảy ra từ lâu nên mục nát, không phải cây gỗ tươi mới!
Thực tế những gì mà nhóm PV điều tra ghi nhận được là hiện hữu tại hiện trường những gốc gỗ còn rất tươi mới, thậm chí trên các mặt gốc cây bị "xẻ thịt" còn vướng đọng rất nhiều mùn cưa. Nếu nói như báo cáo kiểm tra mà vị trưởng hạt kiểm lâm báo cáo, số gỗ trên đều bị chặt ít nhất là 5 tháng trước, vậy làm sao mùn cưa còn đọng lại được trên các thân gỗ mà không bị gió hoặc các tác động của môi trường làm mất dấu vết và thay vào đó là những cây nấm, rêu xanh đua nhau mọc, phủ lên thân và bề mặt gỗ bị xẻ?
Báo cáo số 17/BC –HKL của hạt kiểm lâm Krông Bông do ông hạt trưởng Y Te B. Kông đích thân ký không trung thực, có dấu hiệu lừa dối lãnh đạo huyện và nếu nói khác đi là trốn tránh trách nhiệm!
Khi PV Người Đưa tin đã đặt vấn đề này với vị phát ngôn của UBND huyện Krông Bông. Bà Nga phân trần rằng: “Có thể anh em họ đi kiểm tra nhưng đã đi sai địa điểm”.
Câu trả lời của vị chánh văn phòng này cho thấy có sự bạo biện và giúp sức, bao che cái sai của lực lượng kiểm lâm huyện Krông Bông. Hay nói cách khác hơn đó là sự tiếp sức sai phạm có hệ thống nhằm né tránh trách nhiệm của chính quyền huyện này đã không sát sao trong hoạt động kiểm tra giám sát đối với các đơn vị thuộc cấp của mình, hoặc "bảo kê" cho sai phạm, bỏ ngõ việc cho hạt kiểm lâm dễ dàng cho lâm tặc vào ăn nát của rừng, để rồi sau này phải "rưng rưng nước mắt" vì cái giá phải trả cho môi trường ?
Điều cần nói thêm, với lập luận khẳng định những cây gỗ hàng chục năm tuổi bị lâm tặc “xẻ thịt” đã mục nát thuộc địa bàn xã Cư Đrăm, hạt kiểm lâm huyện Krông Bông tiếp tục chối đẩy trách nhiệm của mình mà báo cáo của hạt này nói rằng, thì vấn đề đặt ra đơn vị nào phải chịu trách nhiệm?
Theo quyết định số 255/QĐ- UBND, ngày 27/1/2015 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc phê duyệt kết quả thực hiện việc kiểm kê rừng Đắk Lắk thì địa điểm khai thác gỗ trái phép tại lô 5, khoảng 4, lô 14, khoảnh 3, tiểu khu 1189 nằm trên lâm phần đã được giao cho UBND xã Cư Đrăm. Căn cứ điều 37 luật bảo vệ phát triển rừng năm 2004, trường hợp này trách nhiệm quản lí nhà nước thuộc về chủ tịch UBND xã Cư Đrăm, và một phần trách nhiệm thuộc về kiểm lâm địa bàn xã.
Trong khi, trách nhiệm của hạt kiểm lâm huyện chưa được làm rõ trong báo cáo, thì hạt kiểm lâm này sẵn sàng “quy kết”, đề nghị kiểm điểm xử lí trách nhiệm của chủ tịch UBND xã Cư Đrăm và kiểm lâm địa bàn xã để mất rừng trong khi họ (hạt kiểm lâm) chính là những người có trách nhiệm quản lý địa bàn và thuộc cấp của mình.
Khi để xảy ra chuyện chặt phá rừng bị báo chí phản ánh, hạt này xem như mình vô can và đùn đẩy trách nhiệm. Cũng như trước đó trả lời báo điện tử Người Đưa tin ở bài viết đầu tiên “Cận cảnh và đau đớn khi nhìn hàng chục cây rừng '4 người ôm' bị lâm tặc ‘xẻ thịt’. Ông Nguyễn Thanh Dũng, hạt phó hạt kiểm lâm huyện Krông Bông, khẳng định chắc nịch với chúng tôi rằng: “Căn cứ vào hình ảnh vừa xem tôi nhận định gỗ mà 'lâm tặc' đốn hạ đó là gỗ Dổi. Gỗ Dổi thuộc loại cổ thụ, kích thước lớn như thế thì chỉ có ở vườn quốc Chư Yang Sin. Khu vực rừng địa bàn chúng tôi quản lí làm gì có gỗ giổi cỡ vậy', nhưng sau đó đơn vị này lại phải thừa nhận chính vụ việc xảy ra trên địa bàn quản lý của mình.
Vậy việc hạt kiểm lâm Krông Bông đề nghị truy trách nhiệm đối với cấp dưới có phải là hành động chối tội. UBND huyện sẽ đưa ra hình thức kỷ luật nào, có đúng người đúng trách nhiệm như ông Huỳnh Bài - Chủ tịch UBND huyện Krông Bông khẳng định “sẽ truy cứu và xử lý không bao che đơn vị thiếu trách nhiệm để xảy ra sự việc”?
Với những gì mà hạt kiểm lâm huyện Krông Bông báo cáo, cần thiết phải có cuộc thanh kiểm tra theo chỉ đạo UBND tỉnh Đắk Lắk và sự giám sát từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì mai ra, rừng quốc gia Chư Yang Sin sẽ bớt "chảy máu" hơn! (Người Đưa Tin 8/6) đầu trang(
Ngày 7/6, UBND huyện Bắc Trà My (tỉnh Quảng Nam) cho biết, vừa có văn bản chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương lập hồ sơ, khởi tố vụ án hình sự và điều tra, xử lý nghiêm hành vi phá rừng tự nhiên và san ủi đường trái phép xảy ra tại thôn Dương Bình, xã Trà Dương, huyện Bắc Trà My.
Trước đó, ngày 19/5, Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Trà My đã phối hợp với các ngành chức năng của huyện gồm: Công an, Phòng TN-MT, chính quyền xã Trà Dương tiến hành kiểm tra tại khu vực rừng thôn Dương Bình là khu vực giáp ranh với xã Tiên An, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, thì phát hiện tại tiểu khu 764, thuộc địa phận thôn Dương Bình, diện tích rừng bị thiệt hại là 8.010 m2.
Tại hiện trường lực lượng liên ngành bắt quả tang Nguyễn Nho Khâm (29 tuổi), trú xã Tiên An, huyện Tiên Phước thực hiện hành vi san ủi trái phép khu rừng tự nhiên. Tại hiện trường cây gỗ bị hạ ngã toàn bộ, nằm ngổn ngang, trong đó có nhiều cây có đường kính từ 10 đến 30cm. Tổ công tác đã lập biên bản đối với ông Khâm và tạm giữ phương tiện chuyển về UBND xã Trà Dương để chờ xử lý.
Không chỉ có vậy, tuần tra dọc theo tuyến đường Quốc lộ 40B đoạn qua thị trấn Trà My, huyện Bắc Trà My lực lượng chức năng còn phát hiện và lập biên bản một vụ cất giữ gổ xẻ trái phép với khối lượng 1.119 mét khối.
Cùng ngày UBND tỉnh Quảng Nam cũng cho biết, vừa có văn bản chỉ đạo UBND huyện Bắc Trà My khẩn trương lập hồ sơ, khởi tố vụ án hình sự và điều tra, xử lý nghiêm hành vi phá rừng tự nhiên và san ủi đường trái phép tại địa chỉ nói trên; đồng thời, kiểm tra, làm rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm các tập thể, cá nhân thiếu trách nhiệm, lơ là, buông lỏng trong công tác quản lý bảo vệ rừng, quản lý địa bàn để xảy ra vụ việc san ủi đường trái phép, phá rừng trên địa bàn.
UBND tỉnh Quảng Nam cũng yêu cầu thủ trưởng các Sở, Ban, ngành liên quan và các địa phương tăng cường các biện pháp cấp bách trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Theo đó, tuần tra, truy quét và điều tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng; tham mưu tổ chức sơ kết, đánh giá việc thực hiện các Quy chế phối hợp trong công tác quản lý, bảo vệ rừng giữa các địa phương vùng giáp ranh và giữa các ngành chức năng của tỉnh. Công an tỉnh chỉ đạo Công an cấp huyện đẩy nhanh tiến độ điều tra, xử lý các vụ án hình sự về vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng tại các địa phương.
Điều đáng nói cho dù, UBND tỉnh Quảng Nam và các huyện luôn tổ chức truy quét, đẩy đuổi lâm tặc nhưng trên địa bàn các huyện miền núi luôn xảy ra tình trạng phá rừng mà đã nhiều lần báo Đại Đoàn Kết đã phản ánh. Nhưng xem ra tình trạng phá rừng vẫn luôn nóng. (Đại Đoàn Kết 8/6) đầu trang(
Sau loạt bài điều tra của báo Dân trí phanh phui vụ việc Công ty lâm nghiệp Sơn Động mở đường phá hơn 20 ha rừng tự nhiên, nhiều người dân tại đây phá rừng bị xử lý thì thêm việc gia đình chủ tịch thị trấn ngang nhiên phá bay hàng chục nghìn m2 rừng tự nhiến khiến dư luận xót xa đặt câu hỏi về trách nhiệm hệ thống chính quyền huyện Sơn Động.
Loạt bài điều tra của báo Dân trí về việc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơn Ðộng (Công ty Lâm nghiệp Sơn Động) lợi dụng việc được giao thực hiện dự án cải tạo rừng tự nhiên để nhập nhèm phá, bán hơn 20ha rừng trên địa bàn xã Bồng Am - Sơn Ðộng (Bắc Giang) đã từng khiến dư luận ngỡ ngàng. Tuy nhiên, điều khiến dư luận bức xúc hơn là đi kèm sai phạm nghiêm trọng thì trách nhiệm của hàng loạt cơ quan chức năng tỉnh này được "chốt" bằng hình thức nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm.
Cụ thể, UBND tỉnh Bắc Giang đã có quyết định số 1783/QĐ-UBND ngày 3/11/2014 do ông Bùi Ngọc Sơn - Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang ký kỷ luật đối với ông Chu Bá Nghĩa - Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Sơn Động với hình thức cảnh cáo. Lý do kỷ luật: chấp hành chưa nghiêm túc các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng, vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 khi chỉ đạo công ty cải tạo, khai thác và lấn chiếm ra ngoài diện tích được phê duyệt 48,4 ha.
Cùng với việc kỷ luật cá nhân ông Nghĩa, UBND tỉnh Bắc Giang cũng quyết định kỷ luật cả hội đồng thành viên của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Sơn Động với hình thức khiển trách.
Thời điểm đó, Chi cục kiểm lâm tỉnh Bắc Giang cùng với việc xác định, xử lý sai phạm nội bộ đã "mạnh dạn" đề nghị UBND tỉnh Bắc Giang xem xét trách nhiệm của chính quyền địa phương huyện Sơn Động và chính quyền cấp xã trong việc để xảy ra sai phạm tại Công ty lâm nghiệp Sơn Động.
Ngay sau sự việc công ty lâm nghiệp mở đường phá rừng nhận nhiều hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo thì đến lượt nhiều người dân tại huyện này liên tiếp nhận các án tù giam do phá rừng để canh tác.
Nạn phá rừng tại Sơn Động còn chưa kịp “nguội” thì đến lượt gia đình chủ tịch Thị trấn Thanh Sơn phá bay hàng chục nghìn m2 rừng tự nhiên một lần nữa khiến dư luận choáng váng. Như vậy tại “vựa rừng” của Bắc Giang này, ngoài người dân phá rừng thì công ty lâm nghiệp cũng phá rừng và cả lãnh đạo địa phương cũng tham gia phá rừng.
Hạt kiểm lâm Sơn Động đã kết luận gia đình ông Thắng - chủ tịch thị trấn Thanh Sơn phá rừng tự nhiên trái pháp luật là có cơ sở. Tuy nhiên, thủ phạm chính trong việc tổ chức phá rừng lại là con trai ông Thắng, tức Phạm Văn Cương (cán bộ tư pháp thị trấn). Tổng diện tích rừng bị phá là 26.056m2 xảy ra từ tháng 4/2014. Thời điểm phá rừng là năm 2014 khi ông Thắng đang giữ cương vị là Trưởng công an thị trấn Thanh Sơn.
Tuy nhiên, điều bất thường ở chỗ hàng chục nghìn m2 rừng bị phá gia đình lãnh đạo địa phương phá tan hoang nhưng trong suốt hơn 1 năm lực lượng kiểm lâm tại đây dường như đã bị “bịt mắt” khi không thể phá hiện. Sự việc chỉ vỡ lở khi một người dân liên tục làm đơn tố cáo. Và sau khi nhận được đơn thư của người dân, Hạt kiểm lâm Sơn Động mới bắt buộc phải lập đoàn kiểm tra xác minh kết luật sư việc phá rừng của gia đình chủ tịch thị trấn là đúng.
Trả lời PV Dân trí, ông Nguyễn Văn Hiệu - Hạt trưởng hạt kiểm lâm Sơn Động cho rằng vụ việc này không thể xử lý hình sự do diện tích rừng bị phá dưới 30.000m2 nên Hạt kiểm lâm Sơn Động không chuyển hồ sơ sang cơ quan công an mà chỉ có thể xử phạt hành chính lỗi vi phạm. “Thế nhưng khó là thời hiệu xử phạt hành chính chỉ trong 2 năm nên nếu xác định gia đình ông Thắng phá rừng trước đó hơn 2 năm cũng lại không thể xử phạt được”.
Tuy nhiên, sau loạt bài điều tra của báo Dân trí, ông Nguyễn Văn Hiệu cho biết cơ quan này đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc phá 26.000m2 rừng tự nhiên tại Sơn Động sang Công an huyện Sơn Động điều tra dấu hiệu tội phạm. Cơ quan này đã chính thức có Công văn số 18/HKL-TTPC gửi Công an huyện Sơn Động ngày 1/6/2016 với nội dung: Hạt kiểm lâm Sơn Động đã xác minh làm rõ đối tượng phá rừng là Phạm Văn Cương - cán bộ tư pháp thị trấn Thanh Sơn. Diện tích rừng bị phá là 26056m2 rừng tại lô a1 và lô e, khoảnh 3 xã Tuấn Mậu - Sơn Động (Bắc Giang). Hiện trạng rừng trước khi bị phá là rừng tự nhiên.
Dư luận đang đặt câu hỏi về trách nhiệm của lãnh đạo huyện Sơn Động trong trước tình trạng phá rừng tràn lan. Việc này đã được quy định rõ tại Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 8/2/2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, công việc và trách nhiệm của chính quyền cấp huyện được phân cấp và xác định rất rõ: "Tổ chức hoạt động có hiệu quả của các tổ đội quần chúng bảo vệ rừng với nòng cốt là lực lượng dân quân tự vệ; huy động các lực lượng trên địa bàn kịp thời ngăn chặn các hành vi phá rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng theo phương án bốn tại chỗ (chỉ huy, lực lượng, phương tiện, hậu cần); kịp thời báo cáo lên cấp trên đối với vụ việc khi vượt quá tầm kiểm soát của xã; giám sát hoạt động của các cơ sở chế biến gỗ, lâm sản theo quy định của pháp luật. Địa phương nào để xảy ra tình trạng phá rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng, giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp trái quy định pháp luật, cháy rừng nghiêm trọng, kéo dài mà trong phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của mình không có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời, triệt để, thì lãnh đạo địa phương đó phải kiểm điểm và bị xử lý trách nhiệm quản lý theo quy định của pháp luật".
Được biết, ông Trần Công Thắng hiện đang giữ cương vị Bí thư huyện ủy Sơn Động, ông Nguyễn Quang Ngạn đang giữ cương vị Chủ tịch UBND huyện Sơn Động. (Dân Trí 8/6) đầu trang(
Chính báo cáo số 60 ngày 22/5/2015 của Hạt Kiểm lâm huyện Lâm Hà (Lâm Đồng) đã thừa nhận: “Quá trình phát hiện và lập hồ sơ vi phạm ban đầu về hành vi phá rừng tại Lô a khoảnh 4 tiểu khu 253 của Ban quản lý rừng phòng hộ Lán Tranh thiếu chặt chẽ, không kịp thời và không đầy đủ theo quy định...”.
Trong đó có 5 đối tượng là người đồng bào dân tộc thiểu số cùng tham gia phá rừng tại lô a khoảnh 4 tiểu khu 253 nhưng không lập hồ sơ vi phạm, tự ý cho về, không xác định họ, tên, tuổi, nơi thường trú... từ đó gây khó khăn cho việc điều tra, xác định làm rõ đối tượng vi phạm.
Chính báo cáo do Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Lâm Hà, ông Đỗ Văn Thủy, ký đã ghi rõ: “Đây là vụ vi phạm phá rừng trái pháp luật, có nhiều tình tiết liên quan phức tạp như: vi phạm phá rừng với số đông người tham gia và một phần thiếu trách nhiệm của cán bộ Ban quản lý rừng phòng hộ Lán Tranh. Từ việc phát hiện ban đầu đến lúc lập hồ sơ vi phạm không đầy đủ, thiếu chặt chẽ nên chưa đủ cơ sở kết luận...”.
Vì chưa đủ cơ sở kết luận nên Hạt Kiểm lâm huyện Lâm Hà đã chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Lâm Hà điều tra, làm rõ. Sau đó, Công an huyện Lâm Hà đã “vội vàng” khởi tố vụ án, khởi tố bị can Phạm Văn Tài (ngụ tại xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng) về tội hủy hoại rừng. Sau đó, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã phê chuẩn, ra cáo trạng truy tố Tài về tội danh này rồi chuyển sang Tòa án. Ngày 3/6/2016, khi mở phiên tòa sơ thẩm, Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đã trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung.
Theo báo cáo của Ban quản lý bảo vệ rừng Phúc Thọ (nơi hiện trường xảy ra nghi án phá rừng), khoảng 14 giờ 30 ngày 24/4/2015, cán bộ nơi này đi kiểm tra rừng. Đến tại Lô a khoảnh 4 tiểu khu 253 thì phát hiện và bắt quả tang 6 người đang dùng dao phát thực hiện hành vi phá rừng trái pháp luật.
Cán bộ tập trung 6 người lại, thu toàn bộ tang vật dao phát và tiến hành làm việc tại hiện trường thì biết trong 6 người có 5 người là đồng bào dân tộc thiểu số, còn một người (Phạm Văn Tài) là người Kinh. Năm người dân tộc khai đi làm thuê cho Tài nên được thả về(?), còn cán bộ yêu cầu người chủ mưu về trạm làm việc. Sau khi giao lại Tài cho cán bộ Trần Trịnh Minh Đăng, nhóm cán bộ trên quay lại hiện trường đo đếm khối lượng, lập biên bản vi phạm.
Khoảng 17 giờ cùng ngày 24/4/2015, nhận được điện báo của ông Trần Trịnh Minh Đăng cho biết Tài đã bỏ chạy mang theo còng số 8 khi ông Đăng chuẩn bị đưa ra xe chở về Hạt kiểm lâm huyện Lâm Hà.
Thế nhưng, quyết định tạm giữ tang vật theo thủ tục hành chính của Hạt kiểm lâm huyện Lâm Hà lại “vênh” với báo cáo nêu trên. Đó là ngay tại Điều 1 quyết định ghi rõ “tạm giữ tang vật của ông (bà) chưa xác định được đối tượng”. Còn biên bản vi phạm hành chính cũng chính nơi này lập lại ghi “tiến hành lập biên bản với đối tượng bỏ chạy” và phần ghi “người vi phạm là đương sự bỏ trốn”. Điều này mâu thuẫn với chính văn bản của nơi này khi đã xác định Tài chủ mưu, đưa về trạm làm việc thì sao lại “chưa xác định được đối tượng”?.
Chưa hết, trong bản mô tả chi tiết số 05417 lập ngày 24/4/2015 của Ban quản lý rừng phòng hộ Lán Tranh lại xác định Phạm Văn Tài vi phạm nhưng phần chữ ký của Tài lại không có(?). Diện tích thiệt hại được xác định 5.800m2 rừng sản xuất, khối lượng lâm sản thiệt hại 5,57m3, trong đó khối lượng lâm sản lấy đi 2,65m3. Thế nhưng ai đã lấy đi 2,65m3 gỗ? lấy đi trong thời điểm nào? và chở đi bằng phương tiện gì? (trong khi bị bắt quả tang tại hiện trường) thì lại không hề được các cơ quan chức năng làm rõ...
Thật nghịch lý, mãi đến ngày 5/10/2015 (tức gần 5 tháng sau), Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Lâm Hà mới tiến hành xác định lại hiện trường thì kết quả xác định diện tích rừng bị chặt phá là 6.742m2 với con số thiệt hại về lâm sản hơn 119m3 (giá trị hơn 245 triệu đồng)…Như vậy, số liệu diện tích rừng bị chặt phá và số lượng m3 lâm sản bị thiệt hại đã liên tục “nhảy múa”!.
Còn theo bản kết luận điều tra ngày 22/12/2015 của Công an huyện Lâm Hà, vì chờ mãi ở trạm mà không thấy ai tới làm việc nên 17 giờ 30 cùng ngày (24/4/2015), trời vừa tạnh mưa Tài đã đi bộ về nhà. Về nhà không thấy ai, Tài ra nhà kho và dùng dao chẻ chiếc đũa thành chiếc lạt đưa vào răng còng số 8 để mở còng ra. Khi mở còng xong, Tài cất lại vào kho. Đến khi Hạt Kiểm lâm mời ra làm việc thì Tài đã mang còng trả lại.
Điều này logic với những lời khai của Tài tại cơ quan công an là hôm đó Tài chỉ vào rừng tìm hái hoa phong lan vì Tài vốn mê chơi phong lan. Khi đang tìm phong lan thì vô tình Tài thấy nhóm người dân tộc đang chặt cây, vì vậy Tài dừng lại để hỏi có hoa phong lan không thế rồi vô tình bị bắt chung với nhóm người dân tộc này chứ Tài không hề chủ mưu phá rừng.
Câu hỏi đặt ra: Tại sao Tài khai không phạm tội thì công an không tin lại quy kết cho tội hủy hoại rừng, còn 5 người dân tộc lại không bị khởi tố?. Tại sao bắt quả tang 6 người, chưa biết ai đúng ai sai đã ngay lập tức thả 5 người kia và chỉ kết tội có một mình Tài?.
Tại sao không tin lời khai của Tài mà vội vàng tin lời khai của 5 người dân tộc để khép Tài vào tội chủ mưu thuê 5 người dân tộc phá rừng?. Nếu thực sự Tài phạm tội và đã trốn được thì sao Tài lại không trốn luôn mà còn quay lại Hạt Kiểm lâm để làm gì và còn giao nộp còng số 8?...
Theo Luật sư Đỗ Văn Bảy (Đoàn Luật sư tỉnh Lâm Đồng) việc bắt giữ Tài là trái quy định pháp luật. Do khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ nên quá trình điều tra, xác minh của Kiểm lâm viên Hạt kiểm lâm, Điều tra viên Công an huyện Lâm Hà không đảm bảo tính khách quan, không toàn diện, có dấu hiệu làm sai lệch hồ sơ vụ án về hiện trường.
Điều này dẫn đến việc khởi tố, bắt giam, đề nghị truy tố, xét xử với Tài không có căn cứ, vi phạm nghiêm trọng Điều 10 Bộ luật Tố tụng Hình sự về “xác định sự thật của vụ án” và về thu thập, đánh giá chứng cứ. Toàn bộ quá trình điều tra, xác minh chỉ tập trung một số tình tiết, dấu hiệu với mục đích cố tình buộc tội Tài mà không quan tâm đến những lời khai, chứng cứ gỡ tội cho Tài. (Tài Nguyên Và Môi Trường 6/6) đầu trang(
Thời gian qua, nhiều người dân tại thôn Đồng An, xã Đồng Tiến, huyện Yên Thế, (Bắc Giang), đã tự ý vào rừng sản xuất chặt hạ, khiến nhiều diện tích rừng bị đốt phá. Do không được xử lý nghiêm, kịp thời, khiến tình hình an ninh trật tự tại địa phương trở nên rất phức tạp.
Theo phản ánh của Cty Lâm nghiệp Yên Thế, diện tích rừng của Cty đã bị nhiều người dân xâm hại nghiêm trọng để chiếm đất, lấn đất với quy mô lớn. Trước tình trạng rừng bị xâm hại ngày càng lớn, phía Cty đã ra sức thuyết phục, tuyên truyền, thế nhưng tình trạng người dân tự ý phá rừng vẫn chưa dừng lại.
Ông Hoàng Văn Chúc, Giám đốc Cty Lâm nghiệp Yên Thế cho biết: “Các lần trước chúng tôi tuyên truyền một số người nhận thức được nên không phá nữa, tuy nhiên ít ngày sau lại có thêm một số người dân mới tham gia phá rừng. Đây là hành vi phá hoại tài sản của Cty, nếu việc này không dừng lại chúng tôi sẽ kiến nghị cơ quan chức năng khởi tố hình sự”.
Theo ghi nhận của chúng tôi, tại khoảnh 7, khu Suối Cái, thôn Đồng An, xã Đồng Tiến, hàng loạt cây bạch đàn bị người dân chặt hạ ngổn ngang để chiếm đất. Theo ông Chúc, khi phát hiện ra các đối tượng phá rừng sản xuất của mình, Cty Lâm nghiệp Yên Thế đã báo cáo lên UBND huyện Yên Thế, Công an huyện, Hạt Kiểm lâm Yên Thế, UBND xã Đồng Tiến... để nhờ hỗ trợ, giúp đỡ, đấu tranh ngăn chặn người dân phá rừng.
Tuy nhiên, sự việc chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền, nhắc nhở. Để ngăn chặn người dân vào phá rừng, Cty phải cử bảo vệ lập lán nhiều ngày nay để trông coi 24/24h. Theo một bảo vệ của Cty Lâm nghiệp Yên Thế cho biết, vì là dân trong vùng, lại manh động nên khi phát hiện sự việc, chúng tôi chỉ tổ chức xua đuổi, không dám bắt bớ, hay dùng các biện pháp mạnh tay, chỉ cần xảy ra xô xát là họ lấy cớ để kích động thêm nhiều người dân phá rừng, xảy ra chuyện lớn ngay.
Ông Nguyễn Đình Vinh, kiểm lâm viên cho biết: “Chúng tôi phải vào ở, sinh hoạt tận lán với lực lượng bảo vệ Cty Lâm nghiệp Yên Thế, khi phát hiện người dân phá rừng chúng tôi đã tới để ngăn chặn, tuyên truyền, vận động họ không phá. Đến khi thấy nhiều đoàn vào kiểm tra, đấu tranh thì họ mới chịu rút khỏi”.
Theo ông Vinh, các đối tượng tham gia phá rừng đều là người trong xã Đồng Tiến, chúng tôi biết hết, tuy nhiên trước mắt sẽ tới tận nhà để tuyên truyền, động viên và giải thích cho họ rõ, nếu không chấp hành và ngừng ngay việc phá hoại rừng thì chúng tôi sẽ kiến nghị xử lý nghiêm.
Được biết từ đầu năm đến nay, trên địa bàn Yên Thế đã xảy ra rất nhiều vụ phá rừng sản xuất, tuy nhiên đây là vụ việc có quy mô lớn với một số người cầm đầu rất manh động. Sau khi nhận được báo cáo của Cty Lâm nghiệp Yên Thế và UBND xã Đồng Tiến, UBND huyện Yên Thế đã cử đoàn liên ngành về làm việc tại địa phương và kiểm tra thực địa. Chính quyền địa phương đã đến tận nhà người dân có trong Biên bản kiểm tra về việc phá rừng sản xuất của Cty Lâm nghiệp Yên Thế để tuyên truyền, nhắc nhở.
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Văn Mão, Chủ tịch UBND xã Đồng Tiến cho biết: Trước mắt chúng tôi tổ chức tuyên truyền cho người dân hiểu và họ hứa sẽ không tham gia phá hoại rừng sản xuất của doanh nghiệp. Do đó, địa phương quyết định không phạt vi phạm hành chính cũng như không kiến nghị khởi tố hình sự. Nhưng nếu người dân không dừng lại và vẫn tiếp tục chặt phá rừng, chúng tôi sẽ kiên quyết xử lý nghiêm, bởi có mạnh tay thì tình hình phá hoại rừng mới chấm dứt được.
Trước tình trạng rừng bị phá bởi một số người dân trong vùng, thế nhưng các cơ quan chức năng huyện Yên Thế vẫn chỉ dừng lại ở mức “tuyên truyền,  nhắc nhở” sẽ khiến cho nguồn tài nguyên rừng tiếp tục bị tàn phá, tình hình an ninh, trật tự cũng như chính sách, pháp luật của Nhà nước trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng sẽ không phát huy tác dụng. Để giải quyết vấn đề trên, các cơ quan chức năng cần nhanh chóng làm rõ tình trạng phá rừng và xử lý kịp thời, dứt điểm. (Dân Sinh 7/6) đầu trang(
Dọc ngang Tây Nguyên trên các quốc lộ thi thoảng mới nhìn thấy một cánh rừng như một ốc đảo giữa núi non trùng điệp và giữa bình nguyên lộng gió quanh năm.
Cả Tây Nguyên rộng mênh mang với bạt ngàn nương rẫy cà phê, hồ tiêu xen lẫn với các vạt rừng cao su. Lên tận miền thượng Easuop của Đắc Lắk còn bắt gặp những cánh đồng lúa nước thay cho các rừng khộp đặc thù của Tây Nguyên; hoặc các mặt hồ mênh mông của các công trình thủy điện.
Đúng là Tây Nguyên đã mang một diện mạo mới khi những cánh rừng đại ngàn nhường chỗ cho các công trình thủy điện, những rừng cao su, vườn cà phê, hồ tiêu và những cánh đồng lúa nước. Đặc biệt với các công trình thủy điện đã làm thay đổi sâu sắc nhất, tác động mạnh mẽ nhất đến đời sống, văn hóa, môi trường của Tây Nguyên.  Sẽ không sai khi nói Tây Nguyên là trung tâm thủy điện của cả nước; rằng, ở đây đã có một thời “nhà nhà làm thủy điện” theo cách “đổi rừng lấy điện”.
Hiện đã có hàng loạt các công trình thuỷ điện trên hệ thống sông Sêrêpốk, Sê San, Đồng Nai đưa vào sử dụng như nhà máy thuỷ điện Đray H'Linh (Đắc Lắc), IaLy, Sê San 3 (Gia Lai), Sêrêpốk 3 và Sêrêpốk 4 (Đắc Lắc, Đắc Nông); tổng công suất của các nhà máy thủy điện khu vực Tây Nguyên bằng 1/3 tổng công suất điện toàn quốc.
Đó có thể xem là lợi ích kinh tế lớn được đo đếm chính xác qua từng năm. Tuy nhiên cái giá phải trả cũng không hề nhỏ khi đổi rừng lấy điện; bởi thủy điện không chỉ làm thay đổi môi trường sống trong vùng dự án mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến vùng hạ du.
Rõ ràng là việc đầu tư xây dựng các công trình thủy điện ở Tây Nguyên không lường trước tác động môi trường đã gây nên sự xáo trộn môi trường sống do không phù hợp với qui luật tự nhiên. Và tất nhiên không loại trừ còn do một nhóm lợi ích nào đó hoặc do tầm nhìn hạn hẹp nên đã phá rừng làm thủy điện.
Ví dụ như tỉnh Đắk Lắk đồng ý cho Công ty CP Đầu tư xây dựng và Ứng dụng công nghệ mới - TECCO lập dự án nhà máy thủy điện Đrăng Phốk với công suất 28MW tại Vườn Quốc gia (VQG) Yok Đôn. Theo đó, diện tích rừng đặc dụng phải phá để làm dự án thủy điện này khoảng 63ha, trong đó diện tích rừng mất vĩnh viễn là 53ha, trải dài 9km dọc bờ sông Srêpốk . Nhiều chuyên gia đã đặt câu hỏi: Liệu có đáng để chúng ta đổi 53 ha rừng lấy một nhà máy thủy điện chỉ có công suất 28 MW không?
Nguyên nhân dẫn đến diện tích rừng Tây Nguyên giảm mạnh còn do việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất lâm nghiệp. Tình trạng phá rừng hiện nay vẫn diễn ra gay gắt, lâm tặc thì ngang nhiên vào rừng lấy gỗ, còn các cơ quan, chính quyền thì đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Rừng vẫn đứng “ngoài vòng trách nhiệm”của không ít cơ quan, cá nhân có trách nhiệm.
Việc khai phá rừng nghèo để trồng cao su mấy năm gần đây cũng là một vấn đề cần nhận diện thực chất. Đã có nhiều khảo sát, điều tra các dự án trồng cao su ở Tây Nguyên (sau này có có cả Tây Bắc) đều thống nhất rằng, mục đích trên văn bản là chuyển đổi trồng cao su nhưng thực tế đang bị lợi dụng để khai thác gỗ. Việc chuyển đổi rừng sang trồng cao su chủ yếu là chuyển rừng giàu, rừng nghèo chỉ chiếm 10-20%.
Diện tích trồng mới cao su cũng chiếm gần 80% là từ đất rừng tự nhiên. Hậu quả của việc phát triển ồ ạt cao su đã dẫn đến mất rừng, suy thoái môi trường. Cây cao su cũng không phải là cây đa mục tiêu, rừng cao su không có thảm thực vật nên không có hệ sinh thái rừng, do đó không có khả năng giữ nước mưa.
Núp bóng dưới các dự án trồng cao su, hàng chục ngàn ha rừng tự nhiên đã và đang bị biến thành vườn cao su. Nhiều doanh nghiệp được bật đèn xanh để "té nước theo mưa" nhanh chóng biến rừng giàu thành rừng nghèo làm cơ sở cho các dự án trồng cao su. Nhìn bên ngoài nhiều cánh rừng vẫn mang dáng dấp đại ngàn, nhưng bên trong rừng đã nhiều chỗ tan hoang, những loại gỗ quí đã bị khai thác, biến thành rừng rỗng ruột, nhiều khu vực dân phá trắng rừng làm nương rẫy. Đó là căn nguyên làm đất bị thoái hóa, hệ sinh thái suy giảm mạnh và nguy cơ gây ra lũ ống, lũ quét.
Theo số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp từ năm 2008-2014 diện tích rừng tự nhiên tại Tây nguyên mất hơn 358.700ha, bình quân mỗi năm mất hơn 51.200ha rừng . Độ che phủ rừng của Tây nguyên trong 10 năm qua giảm xuống còn 45,8% (nếu không tính diện tích cây cao su trên đất lâm nghiệp thì độ che phủ rừng chỉ còn 32,4%). T ính tổng số 30 năm qua, 1/3 diện tích rừng ở Tây Nguyên bị mất, với hơn 1,5 triệu ha, xóa đi những thảm thực vật và làm mất đi khả năng giữ nước của rừng.
Khi mà thương hiệu cà phê Buôn Mê Thuột nổi danh thì cũng là lúc vườn cà phê dần thay thế rừng già. Khi mà thương hiệu hồ tiêu Tây Nguyên xuất khẩu thì rừng càng teo tóp vì dân lấy đất trồng tiêu. Nhưng nghiêm trọng hơn là dân trồng tiêu dùng gỗ rừng làm trụ tiêu. Nhìn những vườn tiêu ở Tây Nguyên như thấy cả một rừng những cây gỗ to cắm làm trụ cho dây tiêu sinh trưởng mới thấy mức độ tàn phá rừng ngang nhiên và đã trở thành “chuyện thường ngày”.
Có thể nói những thập niên cuối thế kỷ trước, việc khai phá những cánh rừng thưa ở Tây nguyên để làm lúa nước, trồng ngô, sắn ... đã giải quyết được nhu cầu lương thực trước mắt của người dân. Tiếp theo là phong trào phá rừng trồng cà phê, hồ tiêu và sau này là cây cao su, đã tạo nên khí thế làm giàu chưa từng có ở Tây Nguyên.
Trước tình hình đó, vị lão tướng của đại ngàn Tây Nguyên Yblok Eban đã cảnh báo: “ Phá rừng khộp làm lúa nước, rồi phá rừng trồng cà phê, trồng cao su là sai rồi. Không có rừng, không giữ được nước, Tây Nguyên sẽ bị khô hạn, cái đói sẽ quay lại với đồng bào”.
Thực tế Tây Nguyên đã và đang bị khô hạn ngày càng khốc liệt, do biến đổi khí hậu gây nên thời tiết cực đoan. Nhưng nếu đặt vấn đề rằng, rừng Tây Nguyên không bị phá thì các dòng sông, con suối, hồ nước có cạn trơ đáy như hiện nay không?
Nhìn lại chiến lược dài hạn, dù bất kỳ lý do nào mà làm mất rừng thì cũng là đáng tiếc, sai lầm. Hậu quả không thể khắc phục ngày một ngày hai như mùa ngô, vụ lúa mà phải tính theo thời gian hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm. Điều đó cũng đồng nghĩa với môi trường sống bị ảnh hưởng lâu dài, cần các biện pháp khắc phục dài hạn và hạn chế mọi nguyên nhân dẫn đến mất thêm rừng. (Tin Tức 3/6) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, ở miền núi tuy chưa xảy ra vụ việc phá rừng nghiêm trọng, nhưng tài nguyên thiên nhiên vẫn tiếp tục bị xâm hại dưới nhiều hình thức.
Nhiều năm nay, vùng giáp ranh giữa địa bàn xã Phước Hiệp (Phước Sơn) với xã Hiệp Hòa (Hiệp Đức) nổi lên như “đại bản doanh” tàn sát rừng. Khu vực này được ngành nông nghiệp quy hoạch là rừng tự nhiên do UBND xã Phước Hiệp và Hạt Kiểm lâm huyện Phước Sơn quản lý, nhưng hàng trăm héc ta đã biến thành rừng sản xuất.
Lợi dụng sự lơ là của lực lượng chức năng, người dân địa phương lén lút triệt hạ gỗ rừng, rồi đốt cháy lấn chiếm đất trồng cây. Lâm tặc chỉ đem ra ngoài số gỗ quý có đường kính lớn, còn loại cây nhỏ đều được phóng lửa phi tang. Cơ quan chức năng huyện Phước Sơn nhìn nhận, tình trạng xâm lấn rừng tự nhiên mở rộng diện tích canh tác ở vùng giáp ranh giữa xã Phước Hiệp và Hiệp Hòa dai dẳng nhiều năm. Khi phát hiện thì nhiều cánh rừng đã bị đốt cháy sém, hoặc trồng keo con.
Thống kê của UBND xã Phước Hiệp cho thấy, từ năm 2008 đến nay có gần 40 trường hợp xâm canh trồng keo, cao su, bời lời tại các tiểu khu giáp ranh với Hiệp Đức như 645, 646, 653… với diện tích lên đến hàng trăm héc ta. Rừng tự nhiên khu vực rừng giáp ranh giữa Phước Hiệp với Hiệp Hòa bị xâm hại chủ yếu tại các khoảnh 2, 4, 5, 6 thuộc tiểu khu 653. Tuy nhiên, do xử lý thiếu triệt để nên tình trạng xâm hại rừng vẫn dai dẳng.
Cơ quan kiểm lâm tỉnh thống kê, từ năm 2015 đến nay, đơn vị xử lý hơn 120 vụ phá rừng trái phép, với tổng diện tích bị thiệt hại hơn 273ha, tập trung chủ yếu ở các huyện Bắc Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức, Phú Ninh, Phước Sơn. Nhiều đối tượng đầu nậu đất đã liên kết với người dân bản địa tàn phá, đốt rụi cánh rừng để lấy đất trồng keo và bán cho các đại gia lập trang trại.
Ngoài “điểm nóng” vùng giáp ranh, tình trạng phá rừng trọng điểm còn tập trung ở các diện tích rừng phòng hộ. Được giao quản lý diện tích khá lớn nhưng nhiều chủ rừng chưa quản lý tốt lâm phận, công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các hợp đồng khoán đối với diện tích rừng đã giao cho người dân quản lý bảo vệ theo chính sách chi trả môi trường rừng chưa thường xuyên nên còn xảy ra tình trạng phá rừng trên diện tích rừng đã nhận khoán bảo vệ.
Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh thuộc 2 huyện Phước Sơn và Nam Giang trên diện tích đất có rừng chiếm 62.000ha (hơn 82% diện tích khu bảo tồn) thường xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản và lâm sản trái phép. Theo Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, từ năm 2015 đến nay phát hiện hơn 100 vụ liên quan đến phá rừng, mở đường trái phép trong rừng đặc dụng.
Các đối tượng khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản theo kiểu tận diệt, gây biến dạng địa hình núi sông, mất cân bằng hệ sinh thái, để lại nhiều hệ lụy xấu về môi trường. Nhiều tọa độ khu bảo tồn là cái ruột trống rỗng, hình thành vô số thung lũng sâu trong rừng đặc dụng.
Thời gian qua, các Hạt Kiểm lâm Đông Giang, Đại Lộc, Nam Giang (Quảng Nam) và Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa (TP.Đà Nẵng) cùng ký kết quy ước phối hợp bảo vệ rừng vùng giáp ranh. Theo đó, lực lượng chức năng các địa phương giáp ranh đã thống nhất phương án cắm mốc lâm phận, nhằm làm rõ trách nhiệm của mỗi bên trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.  Từ năm  2015, các huyện Bắc Trà My, Nam Giang và Phước Sơn đã triển khai dự án bảo vệ và quản lý tổng hợp các hệ sinh thái rừng Quảng Nam.
Bước đầu các địa phương thực hiện rà soát quy hoạch sử dụng đất 4.850ha; xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng; thành lập và ban hành quy chế hoạt động các ban quản lý rừng cộng đồng thôn tại các xã vùng dự án. Còn tại huyện Tây Giang, chính quyền đã xác lập một cơ chế bảo vệ rừng lim nằm giáp ranh với huyện Nam Giang và ở ngay khu vực thượng nguồn các hồ thủy điện trên tuyến sông Bung. Đây là nơi xảy ra nhiều vụ phá rừng có tổ chức, quy mô lớn, thách thức lực lượng kiểm lâm. Từ thực trạng này, các ngành liên quan của địa phương vào tận cội rừng để kiểm tra, đánh số, lập hồ sơ về quần thể lim.
Ở Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, kiểm lâm kiểm soát chặt các hoạt động săn bắn, buôn bán động vật hoang dã trên địa bàn; phân loại các vùng bảo vệ rừng ưu tiên để có kế hoạch cụ thể bảo tồn sinh thái một cách hữu hiệu; nâng cao nhận thức, đẩy mạnh công tác tuyên truyền; đẩy nhanh tiến độ giao đất giao rừng để gắn quyền lợi, trách nhiệm quản lý bảo vệ rừng cho người dân.
Ông Phan Tuấn - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, nhiệm vụ từ nay đến cuối năm của ngành là tiếp tục thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 17/2015/CT-UBND ngày 18.8.2015 của UBND tỉnh về việc tăng cường biện pháp kiểm tra, xử lý các hành vi phá rừng, lấn, chiếm đất lâm nghiệp trái phép.
Giao trách nhiệm cụ thể cho các chủ rừng, gắn hoạt động kiểm tra, giám sát nhóm hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng theo chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, đồng thời triển khai truy quét địa bàn trọng điểm về phá rừng, khai thác lâm sản trái phép. “Phải gấp rút kiểm kê, kiểm soát rừng; điều chỉnh quy hoạch bảo vệ rừng đến năm 2020 cho phù hợp với thực tiễn từng địa phương” - ông Tuấn nói. (Báo Quảng Nam 6/6) đầu trang(
Với niềm tin “Bảo vệ rừng, rừng sẽ bao bọc, che chở và nuôi sống dân làng”, nên từ lâu, người Dao ở xã Dền Sáng, huyện Bát Xát đưa việc giữ rừng vào trong hương ước của thôn, bản, quy định rừng như thứ “tài sản chung” để giáo dục con cháu.
Nhờ có những bản hương ước, mà hôm nay, đến xã Dền Sáng, chúng ta thấy những cánh rừng già tràn ra tận ven tỉnh lộ, ôm trọn và bao bọc lấy các thôn, bản trên địa bàn xã.
Đó là điều đầu tiên khiến chúng tôi bất ngờ khi đến xã Dền Sáng để tìm hiểu những bản hương ước bảo vệ rừng của người Dao nơi đây. Theo lời kể của ông Vàng Duần Phù, Trưởng thôn Dền Sáng, đồng thời là thầy cúng rất am hiểu về tục giữ rừng của người Dao, thì mỗi thôn, bản ở đây đều có phong tục cúng rừng.
Lễ cúng rừng có thể diễn ra từ 1 - 2 lần trong năm (thường được tổ chức vào đầu năm âm lịch) tùy theo hương ước của từng thôn, bản, nhưng đều mang ý nghĩa là cầu cho mùa màng và cây cối trong rừng tươi tốt; con chim, con thú về rừng nhiều hơn; cầu cho mọi nhà bình an, mạnh khỏe, vật nuôi không dịch bệnh trong cả năm. Cũng thông qua lễ cúng rừng, người dân trong thôn sẽ bầu ra tổ bảo vệ rừng có 8 thành viên, bao gồm trưởng thôn, chủ và phó khu rừng cấm của thôn và 5 người đàn ông khỏe mạnh, năng động được bà con tín nhiệm.
Đây là lực lượng thường xuyên tuần rừng, phát hiện người vi phạm hương ước; đồng thời là những người làm nhiệm vụ “xung kích” khi xảy ra cháy rừng… Việc lập tổ bảo vệ rừng đã được thực hiện từ bao đời nay, đến giờ không ai còn nhớ qua bao nhiêu năm rồi.
Thành viên đứng đầu tổ bảo vệ rừng chính là người được dân bản bầu làm chủ rừng cấm, đó là người đàn ông có uy tín, khỏe mạnh. Chủ rừng cấm của thôn giữ vai trò quyết định, phân chia công việc và điều động các thành viên trong tổ tham gia các hoạt động tuần rừng, phạt vạ những thành viên trong thôn vi phạm hương ước theo quy định.
Những người được bầu làm chủ rừng sẽ giữ chức vụ quan trọng này trong nhiều năm (có thể từ 6 - 20 năm), cho đến khi họ không đủ sức khỏe hay không được bà con tín nhiệm nữa. Chủ rừng mới sẽ được bầu lại vào một dịp tổ chức lễ cúng rừng. Theo hương ước của thôn Dền Sáng đang thờ tại khu rừng cấm, thôn này có 19 người từng được bầu làm chủ rừng cấm, như vậy mô hình tổ bảo vệ rừng và hương ước giữ rừng của người Dao ở đây có thể đã xuất hiện tới vài trăm năm nay.
Một quy định trong hương ước bảo vệ rừng của người Dao nơi này mà hiếm nơi nào có được, đó là quy định rõ việc khai thác tài nguyên từ rừng, như lấy gỗ làm nhà, lấy củi đun nấu và lấy vầu tươi phục vụ sinh hoạt, sản xuất… Tuy nhiên, việc lấy gỗ làm nhà hiện nay không còn nữa bởi người dân ý thức được những việc làm này sẽ vi phạm pháp luật.
“Hương ước quy định, người dân trong thôn một năm chỉ được vào rừng lấy củi đun; lấy vầu làm hàng rào, chuồng trại chăn nuôi từ 2 - 3 lần, mỗi lần 2 - 3 ngày, tùy vào nhu cầu sử dụng của người dân trong thôn. Việc khai thác vào thời điểm nào do người dân bàn bạc và thống nhất trong lễ hội cúng rừng. Củi được khai thác phải khô, không được lấy cây còn tươi; ngoài những ngày quy định, ai tự ý làm trái sẽ bị cả làng phạt vạ rất nặng” - Trưởng thôn Trung Chải, Tẩn Sài Vảng cho biết.
Theo hương ước của thôn Dền Sáng và Trung Chải, ai vi phạm hương ước lần đầu dù chỉ là 1 bó củi, 1 cây măng… sẽ bị phạt 30 bát rượu, 30 bát gạo, 30 kg thịt lợn hơi; vi phạm lần 2 sẽ tăng lên gấp đôi, không cần biết số lượng; nếu vi phạm quá 3 lần sẽ bị dân làng xa lánh và không được tham gia các hoạt động chung của thôn. Những hiện vật bị phạt vạ sẽ được mang ra chế biến và đại diện của tất cả các hộ trong thôn đến ăn.
Nếu vụ việc có tính chất nghiêm trọng thì thôn, bản sẽ báo lên các cơ quan chức năng, như kiểm lâm, công an, chính quyền địa phương giải quyết theo quy định của pháp luật. Theo tìm hiểu của chúng tôi, không chỉ thôn Dền Sáng, Trung Chải mà tất cả các thôn, bản trên địa bàn xã Dền Sáng đều có quy định “phạt vạ” rất nặng đối với người vi phạm hương ước. Tuy nhiên, mức phạt có thể khác nhau giữa các thôn, bản và quy định này được áp dụng với tất cả những người từ nơi khác đến vi phạm trên địa bàn rừng của thôn.
“Đầu năm, dân làng vừa phạt vạ một người dân ở thôn Ngải Chồ, xã Dền Sáng 120 kg thịt lợn hơi, 120 bát gạo, 120 bát rượu vì người này nhiều lần vi phạm hương ước của thôn” - ông Phù cho biết.
Trao đổi với chúng tôi, ông Trần Văn Hùng, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Bát Xát cho biết: Thành tích giữ rừng của cộng đồng người Dao ở Dền Sáng rất đáng ghi nhận, bởi đã giúp lực lượng kiểm lâm và các cơ quan chức năng trong công tác bảo vệ rừng không chỉ ở xã mà còn trên địa bàn toàn huyện. Hương ước giữ rừng đạt hiệu quả vì được tất cả người dân trong những thôn đó đồng thuận. Từ hình thức giữ rừng ở xã Dền Sáng mà lực lượng kiểm lâm đã tham mưu cho các cấp, ngành nhân rộng mô hình tổ bảo vệ rừng.
Hiện nay, 220/239 thôn, bản trên địa bàn huyện Bát Xát (19 thôn còn lại không có rừng phòng hộ) đều có tổ bảo vệ rừng; 100% thôn, bản đều ký cam kết bảo vệ rừng. Độ che phủ rừng toàn huyện cũng được nâng lên đáng kể, từ 50,5% (năm 2013) lên 54,9% (năm 2016); trong đó, độ che phủ rừng của xã Dền Sáng tăng từ 60% (năm 2013) lên 68% (năm 2016), chỉ đứng sau xã Trung Lèng Hồ.
“Ý thức bảo vệ rừng của người dân ngày càng nâng cao và chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cùng sự nỗ lực của các cấp, ngành địa phương… đã góp phần giữ màu xanh cho huyện Bát Xát” - ông Hùng cho biết thêm.
Thiết nghĩ, nếu mỗi thôn, bản trên địa bàn tỉnh đều có hương ước bảo vệ rừng và người dân đều có ý thức tốt trong việc bảo vệ rừng như ở xã Dền Sáng thì những vạt rừng đã từng bị chặt phá, những đồi núi trọc sẽ nhanh thắm xanh trở lại. Và chúng ta sẽ được hưởng lợi nhiều hơn từ việc bảo vệ “lá phổi xanh” của chính mình. (Báo Lào Cai 5/6) đầu trang(
Hàng trăm tấn rác chất đống, tràn ngập trên nhiều bãi biển và rừng ngập mặn, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Đầu tháng 6 vừa qua, chúng tôi có mặt tại một bãi biển ở Côn Đảo. Rác tấp trắng cả bãi cát, nằm vắt vẻo trên các vách đá. Tại khu vực rừng ngập mặn của hòn Bảy Cạnh (hòn đảo nổi tiếng rùa biển lên đẻ trứng), rác theo thủy triều tiến sâu vào bên trong, vướng vào rễ cây và án ngự trên cành. Khi thủy triều rút, rác bị mắc kẹt trong rừng từ ngày này qua ngày khác.
Một cán bộ kiểm lâm tại hòn Bảy Cạnh cho biết nhiều bãi biển ở Côn Đảo ngập rác do theo dòng nước, rác từ các nơi tập trung hết về nơi đây. Khi thủy triều lên, rác tiến sâu vào rừng ngập mặn, mắc kẹt bởi rễ, cành cây không thể thoát ra ngoài. “Thu gom hôm nay nhưng chỉ tuần sau rác lại tập kết, không có cách gì khác ngoài việc sống chung với rác” - người này lo ngại.
Hằng năm, lượng rác thải từ đại dương tập trung về các bãi biển trên địa bàn huyện Côn Đảo với khối lượng khoảng 900 m3/năm. Trong đó, khoảng 100 m3 rác thải là dầu cặn.
Các khu vực tập trung rác đại dương nhiều nhất là bãi Bờ Đập, bãi Dương (hòn Bảy Cạnh); bãi Cát Lớn (hòn Bà); bãi Đầm Trầu, khu vực cuối tuyến bến Đầm, trước vịnh Côn Sơn; bãi Vong; bãi Suối Ớt (hòn Côn Sơn). Rác chủ yếu là vỏ chai nhựa, chai sứ, túi ni-lông, lưới đánh cá, giày dép, phao theo dòng nước trôi dạt về.
Tại các hòn khác, rác chỉ tập trung vào mùa gió chướng (gió Đông Bắc, từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau). Riêng ở hòn Bảy Cạnh, đến mùa gió chướng, rác dạt vào bãi Bờ Đập, rồi từ tháng 4 đến tháng 9 năm sau (gió Tây Nam) lại tấp vào bãi Cát Lớn. Chính vì vậy, hòn Bảy Cạnh luôn hứng chịu lượng rác lớn từ đại dương.
Ngoài rác từ đại dương, khối lượng rác sinh hoạt của người dân tại Côn Đảo cũng khá lớn (trung bình khoảng 15 m3/ngày).
UBND huyện Côn Đảo, Ban Quản lý Vườn Quốc gia Côn Đảo luôn cắt cử lực lượng tham gia thu gom rác, chi phí lên tới hàng trăm triệu đồng nhưng chỉ sau vài ngày, rác lại tràn ngập khắp nơi.
Tại huyện Côn Đảo, cách xử lý rác là đốt và… chất đống. Rác thải từ túi ni-lông, vỏ chai nhựa thì cho vào lò đốt; riêng rác thải bằng thủy tinh, hộp sắt thì được phân loại ra và chất thành từng đống cao.
Một công nhân xử lý rác tại bãi tập kết rác Côn Đảo cho biết trung bình mỗi ngày huyện Côn Đảo có 3 xe rác, mỗi xe tương đương 5 m3. Lượng rác tập trung nhiều nhất - lên đến 5 xe mỗi ngày - vào thứ hai và thứ năm, trong khi lò đốt chỉ có thể đốt được 1 xe rác/ngày nên rác cứ chất đống. Khi rác nhiều quá thì người ta sử dụng xe cẩu để san bằng nên diện tích tập kết rác ngày càng nới rộng.
Trao đổi với chúng tôi, ông Trần Hùng Tâm, Chánh Văn phòng UBND huyện Côn Đảo, cho biết ngoài rác thải của ngư dân trong và ngoài tỉnh, Côn Đảo là huyện nằm gần tuyến đường thủy quốc tế nên không tránh khỏi việc rác tập kết hết về đây. UBND huyện đã đề xuất nhiều phương án để xử lý rác thải nhưng hiện tại, cách xử lý duy nhất chỉ có thể là đốt. Với lượng rác quá lớn, huyện đề xuất trang bị thêm một máy đốt rác, một máy ép rác và đã được tỉnh chấp nhận. “Có thêm máy ép sẽ làm giảm không gian bãi tập kết rác, còn việc vận chuyển rác thải có thể tái chế về đất liền thì chi phí quá lớn” - ông Tâm băn khoăn.
Ông Tâm cũng thừa nhận việc đốt những loại rác như vỏ chai nhựa, túi ni-lông về lâu dài sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe của người dân trên đảo. “Nếu rác tích lũy từ năm này qua năm khác không được xử lý và ngày càng tăng khối lượng thì rất nguy hiểm, không tốt cho môi sinh, môi trường, ảnh hưởng đến các loại thủy sản nuôi trồng, phá vỡ hệ sinh thái rừng, biển. Trong khi đó, Côn Đảo lại là nơi có nhiều loại động, thực vật quý hiếm cần được bảo vệ và đang được định hướng phát triển du lịch sinh thái biển” - ông Tâm lo ngại. (Người Lao Động 7/6) đầu trang(
Từ trung tuần tháng 5 đến nay, trên địa bàn tỉnh Lai Châu tiếp tục xuất hiện đàn cò nhạn với số lượng lớn.
Đây là loài cò nằm trong danh mục "sách đỏ" Việt Nam cần được bảo tồn. Để đảm bảo an toàn cho đàn cò, cơ quan chức năng tỉnh Lai Châu đã chỉ đạo các địa phương tuyên truyền, vận động và nghiêm cấm người dân có các hành động xâm hại đến đàn cò.
Cánh đồng xã Bản Giang, Bản Hon, Nùng Nàng và Bình Lư, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu những ngày này đang là mùa nước đổ, do người dân đang tập trung cày ải đất chuẩn bị cho vụ mùa. Cùng với sự hối hả của bà con nông dân là số lượng đàn cò nhạn xuất hiện trên các cánh đồng. Tuy nhiên, đàn cò quanh quẩn bên các thửa ruộng, gần nơi đông người mà không hề sợ sệt.
Ông Vàng A Sùng, Trưởng bản Phan Chu Hoa, xã Nùng Nàng, huyện Tam Đường cho biết: Mấy ngày nay đàn cò nhạn xuất hiện ngày càng đông, có lúc tới vài trăm con. Đây không phải là đầu tiên loài cò này xuất hiện, mà năm nào vào thời gian này đàn cò cũng xuất hiện. Do được chính quyền và các cơ quan chức năng tuyên truyền nên bản đã xây dựng quy ước, hương ước để bảo vệ loài động vật hoang dã. Mọi hoạt động xâm hại như dùng bẫy, súng săn loài cò nhạn này đều bị nghiêm cấm và có các hình thức xử phạt.
“Đàn cò này xuất hiện khoảng 4 năm nay. Từ khi xuất hiện loài có này, huyện và xã đều chỉ đạo yêu cầu không được bẫy, bắn, săn bắt. Thời gian xuất hiện đàn cò là lúc bà con đang chuẩn bị làm đất, gieo cấy. Dưới ruộng rất nhiều ốc bươu vàng hại lúa, có đàn cò này chúng đi dọn sạch nên bà con thấy ích lợi của chúng và đều có ý thức bảo vệ. Buổi sáng, chúng hay xuất hiện để mò các loại ốc, đàn đông thì lên tới 200 con; đàn ít thì gần trăm con, trên các bãi của bản có tất cả 3 đàn” – ông Sùng nói.
Cũng theo người dân địa phương, loài cò này thường di trú về đây từ tháng 5 cho đến tháng 8 hàng năm. Thức ăn của loài cò chủ yếu là ốc bươu vàng nên khi loài cò này xuất hiện, chúng thường dọn sạch loài ốc bươu vàng hại lúa nên người dân hay gọi chúng là cò ốc.
Chính vì loài cò này có ích nên mặc dù chúng là loài chim di trú, nhưng đồng bào các dân tộc địa phương rất coi trọng công tác bảo vệ chúng.
Ngoài khu vực cánh đồng của bản Phan Chu Hoa, xã Nùng Nàng, huyện Tam Đường, hiện nay loài cò nhạn này còn tập trung khá nhiều ở khu vực cánh đồng xã Bản Giang, Bản Hon; cánh đồng Bình Lư của huyện Tam Đường, với số lượng nên tới hàng trăm cá thể.
Trước tình trạng đó, ông Phan Văn Quân, Trưởng phòng Pháp chế Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lai Châu cho biết, Chi cục đã có công văn yêu cầu các địa phương tăng cường công tác bảo vệ các loài động vật hoang dã, trong đó có loài cò nhạn. Khi phát hiện trường hợp vi phạm săn bắn loài cò hoặc các loại động vật hoang dã khác sẽ xử lý nghiêm.
Cò nhạn hay còn gọi là cò ốc, có tên khoa học là Anastomus oscitans, thuộc họ diệc, bộ hạc, cực kỳ quý hiếm trong sách đỏ Việt Nam. Chúng có nguồn gốc từ Thái Lan và khi vùng sinh sống, nơi tìm kiếm thức ăn bị thu hẹp thì chúng di cư tới vùng khác thuận lợi hơn và có mặt ở Mường Tè (Lai Châu) cách đây 4 năm.
Với sự nỗ lực bảo vệ loài cò nhạn quý hiếm, Lai Châu đang góp phần đảm bảo sự đang dạng sinh học, đặc biệt là những loài động vật quý hiếm trên thế giới, trong đó có Việt Nam. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 7/6) đầu trang(
Chiều 7/6, Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã dùng lưới bắt được con khỉ mặt đỏ từ khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà xuống khu dân cư thuộc phường Thọ Quang, quận Sơn Trà cắn một người già.
Thời gian gần đây, khỉ mặt đỏ, một loài khỉ thuộc nhóm quý hiếm, có tên trong danh sách đỏ cần được bảo tồn từ khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, liên tục xuống khu dân cư quậy phá, cắn người.
Lực lượng kiểm lâm thành phố Đà Nẵng đã nhiều lần bắt, thả về khu vực khỉ sinh sống. Rất may chưa có vụ nào làm người dân bị thương nặng.
Ông Nguyễn Đức Dũng, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn cho biết: “Thỉnh thoảng khỉ mặt đỏ xuống khu dân cư quậy phá, cắn người. Trước đây, Hạt Kiểm lâm đã xử lý mấy vụ; tăng cường lực lượng vây bắt, sau đó thả về khu vực của khỉ sinh sống theo quy định. Người dân khi phát hiện khỉ mặt đỏ nên báo cơ quan chức năng để cho lực lượng kiểm lâm bắt thả về môi trường tự nhiên, không ảnh hưởng đến tính mạng của người dân cũng như bảo tồn được loài này”. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 7/6) đầu trang(
Chiều 6/6, Chi cục Kiểm lâm tỉnh tổ chức thả 70 cá thể trăn đất khỏe mạnh, có trọng lượng dưới 1kg/con vào Vườn Quốc gia U Minh Hạ.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh vận động các cơ sở gây nuôi trăn trong tỉnh hỗ trợ. Việc thả động vật hoang dã vào môi trường tự nhiên góp phần quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học khu vực Vườn Quốc gia U Minh Hạ. Đây cũng là hoạt động thiết thực của đơn vị nhằm hưởng ứng ngày Môi trường thế giới năm 2016. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Cà Mau 7/6) đầu trang(
Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy và môi trường- Công an TX.Tân Châu cho biết: Lực lượng vừa bàn giao số lượng lớn động vật hoang dã quý hiếm cho Chi cục Kiểm lâm An Giang để thả về môi trường tự nhiên.
Khoảng 18 giờ ngày 31-5, tại khóm Long Hưng 1, phường Long Thạnh, các trinh sát Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy và môi trường- Công an thị xã chốt chặn, bắt quả tang Nguyễn Văn Tâm (sinh năm 1974, ngụ ấp Núi Két, xã Thới Sơn, Tịnh Biên) vận chuyển số lượng lớn động vật hoang dã quý hiếm, gồm: 180 con cu đất, 50 con cò, 27 con vạc và 12 con còng cọc.
Đây là loài động vật thuộc danh mục quý hiếm được ưu tiên bảo vệ. Tại cơ quan Điều tra, Tâm khai nhận, đã nhiều lần vận chuyển động vật hoang dã qua tuyến đường TX. Tân Châu (do một người chủ lạ mặt ở huyện Tịnh Biên thuê vận chuyển đến tỉnh Đồng Tháp). (Báo An Giang 8/6) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Trong nhũng năm qua, Sơn La đã đạt được những kết quả nhất định trong việc bảo vệ, phát triển rừng. Tuy nhiên, Sơn La cần nhiều sự hỗ trợ hơn nữa của các ngành, các cấp để nâng cao hiệu quả sử dụng Quỹ Dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Đó là chia sẻ của ông Lương Thái Hùng - Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Sơn la.
Ông cho biết, sau 5 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Sơn La đã tham mưu cho UBND tỉnh Sơn La phê duyệt và ban hành nhiều cơ chế như: Kế hoạch thực hiện chính sách DVMTR; kế hoạch tuyên truyền chính sách hàng năm, rà soát xác định chủ rừng, diện tích rừng để chi trả tiền DVMTR đúng đối tượng; thống kê, phê duyệt danh sách các đối tượng phải chi trả tiền DVMTR là 36 công ty thủy điện và 1 công ty cấp nước của tỉnh. Tổng nguồn tiền đã huy động thu ủy thác giai đoạn 2011 - 2015 là 559,732 tỷ đồng. Trong đó, nguồn thu ủy thác DVMTR từ thủy điện chiếm 99,63%; thu từ công ty nước sạch chiếm 0,37%.
Theo Nghị định số 99/2010/ NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ, UBND tỉnh Sơn La đã quy định: Trích lập 10% kinh phí cho công tác quản lý, 5% kinh phí dự phòng, 85% chi trả cho các chủ rừng.
Cụ thể, kinh phí quản lý 10% được trích từ nguồn thu thực tế hàng năm để chi cho các nhiệm vụ quản lý hành chính văn phòng theo cơ chế ủy thác, các hoạt động tiếp nhận tiền, thanh toán quyết toán, kiểm tra, giám sát, kiểm toán; hỗ trợ các hoạt động liên quan đến nghiệm thu, đánh giá rừng; các hoạt động kỹ thuật theo dõi chất lượng DVMTR; tổ chức tuyên truyền, phổ biến và triển khai chính sách, pháp luật; thử nghiệm và phổ biến, nhân rộng mô hình bảo vệ và phát triển, quản lý rừng bền vững; hỗ trợ kinh phí để chống chặt phá rừng và sản xuất, kinh doanh, vận chuyển lâm sản trái phép... Nguồn kinh phí dự phòng 5% được sử dụng để chi cho các chủ rừng trong trường hợp bị thiên tai, hoặc đơn giá chi trả năm sau thấp hơn năm trước.
Mức giải ngân chi trả hàng năm luôn đạt 98% - 99,5%. Cụ thể, sau khi trích trừ 5% và 10% theo tỷ lệ quy định, số tiền chi trả cho chủ rừng theo tỷ lệ 85% giai đoạn 2011-2015 là 496,368 tỷ đồng; số tiền thực tế đã chi trả là 494,195 tỷ đồng. Phương thức thực hiện là: Quỹ tỉnh trực tiếp chi trả cho các chủ rừng là tổ chức nhà nước; chi nhánh quỹ tại các huyện chi trả đến các chủ rừng là cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng thôn, bản...
Mặc dù đã đạt được một số kết quả nhưng hoạt động của quỹ vẫn tiềm ẩn nhiều khó khăn như: Ngoài nguồn thu từDVMTR, hiện quỹ chưa huy động được thêm từ các nguồn thu khác và chưa nhận được khoản hỗ trợ ban đầu từ ngân sách nhà nước theo quy định. Bên cạnh đó, số tiền còn nợ đọng của các công ty nhà máy thủy điện là trên 19 tỷ đồng.
Sau 5 năm thực hiện, chính sách cũng bị nhiều tác động về giá cả vật tư hàng hóa tăng, nhưng quy định về mức thu DVMTR chưa được quan tâm đúng mức. Hơn nữa, các loại dịch vụ cũng chưa được quy định mức thu nên chưa tạo được thêm nguồn thu cho các chủ rừng. Việc thực thi Nghị định 40/CP về xử phạt vi phạm về chính sách DVMTR cũng chưa có hướng dẫn cụ thể.
Do đó, đề nghị các bộ, ngành sớm trình Chính phủ ban hành, bổ sung, sửa đổi chính sách DVMTR, ban hành các mức thu theo quy định của Nghị định 99/CP, có văn bản hướng dẫn cụ thể để công tác bảo vệ và phát triển rừng thực thi thuận lợi và có hiệu quả. (Công Thương 6/6) đầu trang(
Ngày 7/6, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Minh Tiến chủ trì buổi làm việc với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về công tác bảo vệ, phát triển rừng 5 tháng đầu năm, phương hướng nhiệm vụ trong những tháng cuối năm 2016 và triển khai các nội dung chỉ đạo của tỉnh về lĩnh vực lâm nghiệp.
Trong 5 tháng đầu năm 2016, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng các huyện, thành phố tiến hành nghiệm thu, giải ngân và thực hiện phúc tra diện tích rừng lâm nghiệp xã hội năm 2015. Tổng diện tích rừng đạt tiêu chuẩn nghiệm thu là gần 34.739 ha, đạt 94% kế hoạch giao.
Trong đó, diện tích rừng tập trung từ 0,5 ha trở lên là gần 16.644 ha; Trồng cây phân tán là gần 19.659 nghìn cây. Đã thực hiện thanh toán trên 36 tỷ 269 triệu đồng, đạt 81,9% kế hoạch. Tổ chức phúc tra được 8 huyện, thành phố với tổng số 29 xã. Đồng thời, chú trọng hướng dẫn các địa phương tăng cường công tác bảo vệ rừng, quản lý lâm sản và phòng cháy chữa cháy rừng. Đã tổ chức cho 12.960 hộ gia đình ký cam kết bảo vệ rừng; củng cố 153 tổ, đội bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng với 1.224 người tham gia.
Tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra các khu vực trọng điểm thường xuyên xảy ra các hành vi khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật. Phát hiện 127 vụ vi phạm, giảm 31 vụ so với cùng kỳ năm 2015. Trong các tháng cuối năm 2016, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thônphấn đấu thực hiện đạt 100% các chỉ tiêu kế hoạch phát triển lâm nghiệp của UBND tỉnh giao.
Trồng mới 1.324 ha, trong đó rừng phòng hộ là 450ha, rừng sản xuất 874 ha. Triển khai dự án tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp tỉnh Hà Giang, giai đoạn 2016 – 2020.
Phát biểu tại buổi làm việc Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Minh Tiến đã chỉ ra những hạn chế, như: Tiến độ triển khai trồng rừng còn chậm; phương thức, cách làm chưa có nhiều đổi mới, thiếu đề xuất sáng kiến; cách tổ chức làm việc, tham mưu chưa đồng bộ, chưa toàn diện. Về nhiệm vụ trong thời gian tới, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Minh Tiến đề nghị: Sở Nông nghiệp tiến hành rà soát nhiệm vụ, chỉ tiêu trồng rừng trong năm 2016, tham mưu cho tỉnh những giải pháp thực hiện khả thi, quyết liệt.
Tham mưu cho tỉnh chỉ đạo các huyện, thành phố nhanh chóng nghiệm thu thanh quyết toán diện tích rừng trồng năm 2015; Đề xuất dự kiến trồng rừng cho từng năm từ 2017 đến 2020. Triển khai, đẩy mạnh áp dụng khoa học kỹ thuật vào khâu giống. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ hệ thống lĩnh vực lâm nghiệp.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Minh Tiến cũng đề nghị Văn phòng UBND tỉnh rà soát những kiến nghị của sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để tỉnh giải quyết. Thống nhất số liệu thống kê rừng trong toàn tỉnh và thực hiện đặt hàng với ngành về việc nhân giống trồng dược liệu dưới tán rừng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Hà Giang 7/6) đầu trang(
Như chúng tôi đã phản ánh vụ việc một số hộ dân trong thôn Ngọc Bình xã Bạch Ngọc huyện Vị Xuyên đã tự ý phát rừng cộng đồng để trồng rừng kinh tế. Điều này là trái với quy định song từ vụ việc trên nhìn rộng ra chúng ta có thể nhận thấy, hiện nay vẫn còn một diện tích lớn rừng cộng đồng nghèo kiệt song chưa được quy hoạch chuyển đổi sang trồng rừng kinh tế hoặc trồng bổ sung để phát huy hiệu quả
Bạch Ngọc là một xã vùng 3 của huyện Vị Xuyên, toàn xã có tổng diện tích tự nhiên trên 11.000ha. Thực hiện chủ trương đẩy mạnh trồng rừng kinh tế, trong năm 2015 và 5 tháng đầu năm 2016 toàn xã đã trồng mới gần 500ha rừng. Trong khi nhu cầu của người dân đang tăng cao, thì quỹ đất để trồng rừng kinh tế ngày càng thu hẹp.
Trong khi đó, hết năm 2015, toàn xã Bạch Ngọc vẫn còn trên 600ha rừng cộng đồng được giao cho chính quyền địa phương quản lý. Phần lớn trong số đó là rừng nghèo kiệt hay đồi núi trọc không phát huy hiệu quả và có thể chuyển đổi sang trồng rừng thay thế. Điều này đang mâu thuẫn với nhu cầu của nhân dân trong trồng và phát triển kinh tế rừng.
Theo tổng hợp của ngành Kiểm lâm, đến hết năm 2015, toàn huyện Vị Xuyên có trên 103.000ha rừng các loại. Trong đó diện tích rừng đặc dụng và rừng phòng hộ là trên 45.000ha; diện tích rừng lâm sinh do hộ gia đình và cá nhân quản lý là trên 17.800ha; diện tích rừng cộng đồng và rừng cho chính quyền các xã, thị trấn quản lý là trên 35.500ha.
Qua số liệu trên cho thấy diện tích rừng cộng đồng và rừng do chính quyền địa phương quản lý hiện nay còn rất lớn chiếm 34% tổng diện tích rừng của toàn huyện. Không phủ nhận hiệu quả của việc giao rừng song phần lớn diện tích rừng do chính quyền địa phương quản lý là rừng nghèo kiệt hay đồi núi trọc mà không được quy hoạch cho các hộ gia đình, nhóm hộ  trồng rừng bổ sung.
Cũng trong năm 2015, huyện Vị Xuyên thí điểm giao 1.800ha rừng cộng đồng về cho các hộ, nhóm hộ thôn Lùng Trang xã Linh Hồ quản lý. Qua đánh giá cho thấy rừng được bảo vệ tốt hơn, không những thế tại những khu vực rừng nghèo kiệt người dân còn chủ động trồng rừng bổ sung.
Như vậy giao rừng về cho các hộ dân, nhóm hộ không những góp phần cho rừng được bảo vệ mà còn nâng cao hiệu quả, giá trị kinh tế của rừng. Rõ ràng, đây không chỉ là câu chuyện riêng của huyện Vị Xuyên mà còn là thực trạng chung của nhiều địa phương khác. Do vậy để rừng được bảo vệ đồng thời nâng cao giá trị thì các cấp, các ngành cần đẩy mạnh công tác giao rừng về cho các hộ, nhóm hộ. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Hà Giang 6/6) đầu trang(
Ngày 5/6, báo Infonet thông tin, UBND TP Hạ Long (Quảng Ninh) cho biết, ông Phạm Hồng Hà, Chủ tịch UBND TP Hạ Long vừa có văn bản báo cáo Thành uỷ Hạ Long về việc xác minh thông tin và quản lý khai thác dịch vụ tại đảo Bái Đông.
UBND TP Hạ Long khẳng định, thành phố mới chỉ ký hợp đồng với doanh nghiệp để uỷ nhiệm phối hợp với Ban quản lý Vịnh Hạ Long bảo vệ đồng thời nghiên cứu, lập dự án trình cơ quan có thẩm quyền để đầu tư khai thác dịch vụ trên đảo này.
Tuy nhiên, lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo của Ban quản lý Vịnh Hạ Long và UBND TP Hạ Long, doanh nghiệp này tự ý xây dựng một nhà điều hành và các công trình liên quan... UBND TP Hạ Long đã yêu cầu cơ quan chức năng TP Hạ Long hoàn thiện các hồ sơ pháp lý xử lý vi phạm doanh nghiệp và cưỡng chế công trình xây dựng trái phép trên đảo này.
Để tìm câu trả lời cho sự việc trên, báo Đất Việt đã liên hệ với các lãnh đạo của thành phố Hạ Long, cũng như Ban quản lý vịnh Hạ Long. Tuy nhiên, dù đã liên lạc với nhiều người có trách nhiệm, phóng viên vẫn không nhận được câu trả lời.
Cụ thể, 16h chiều ngày 6/6, sau rất nhiều cuộc điện thoại, phóng viên báo Đất Việt đã liên hệ được với một lãnh đạo của thành phố, vị này cho hay, về vấn đề này phải liên hệ với ông Hồ Quang Huy, Phó Chủ tịch UBND Thành phố.
Đến 8h30 sáng ngày 7/6, khi phóng viên liên hệ với ông Hồ Quang Huy thì lại nhận được câu trả lời: "Về việc này người phát ngôn của thành phố là ông Hoàng Quang Hải - Phó Chủ tịch UBND TP, chỉ đạo trực tiếp là ông Phạm Hồng Hà - Chủ tịch UBND thành phố".
Ngay sau đó, đến 11h trưa ngày 7/6, phóng viên đã gọi cho ông Trịnh Đăng Thanh - Phó Giám đốc phụ trách điều hành Sở Du lịch Quảng Ninh, ông Thanh cho hay: "Thứ nhất, chức năng, nhiệm vụ là thuộc về TP Hạ Long, Ban quản lý vịnh Hạ Long, nơi đây quản lý trực tiếp. Thứ hai, về phía Sở Du lịch chúng tôi sẽ cập nhật thêm thông tin về vấn đề này. Chúng tôi cũng vừa mới thành lập Sở du lịch nên cần nắm lại thông tin".
Trong khi, nằm ở rìa phía nam Vịnh Hạ Long, Bái Đông là vùng biển đảo tiếp giáp với Bái Tử Long, là đảo nằm trong vùng lõi Di sản Thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, có giá trị cao về địa chất địa mạo và đa dạng sinh học. Hiện, đảo chưa đủ điều kiện để đón khách du lịch.
Ở đây có bãi tắm cát trắng tự nhiên, trải dài 340m. Và đặc biệt là có cảnh quan độc đáo của áng hình tròn tuyệt đẹp nằm giữa lòng núi. Đảo Bái Đông có diện tích khoảng 30ha, còn giữ nguyên vẻ hoang sơ. Từ phía ngoài quan sát, Bái Đông có hình dạng cánh cung, được che chắn bởi 2 dãy núi đá lớn, tạo nên vùng biển đảo phẳng lặng, êm đềm.
Từ lâu, Bái Đông đã được xác định là điểm đến trong tuyến điểm tham quan trên Vịnh Hạ Long và nằm trong vùng quy hoạch chi tiết bảo tồn Vịnh Hạ Long. Để ra Bái Đông, từ Cảng tàu Bãi Cháy hay Bến Đoan, phải cần di chuyển bằng tàu mất khoảng hơn 2 giờ đồng hồ. (Đất Việt 8/6) đầu trang(
Dù chưa được phép khai thác du lịch, nhưng Vườn Quốc gia Pù mát (đơn vị chủ quản thác Khe Kèm, thuộc huyện Con Cuông, Nghệ An) đứng ra thu phí môi trường với số tiền lên đến 20 triệu/ ngày.
Du khách vào tham quan tại thác Khe Kèm, thuộc địa phận huyện Con Cuông (Nghệ An) đều bị nhân viên Vườn Quốc gia Pù Mát (đơn vị chủ quản khai thác du lịch) ngoài thu tiền gửi xe cao hơn quy định, còn bị thu thêm phí môi trường nhưng không có biên lai, hóa đơn thu tiền.
Cụ thể, trong quá trình tác nghiệp, PV báo Người Đưa Tin nhận được thông tin từ khách du lịch phản ánh, tại thác Khe Kèm, thuộc huyện Con Cuông xảy ra tình trạng du khách bị nhân viên quản lý tại đây bắt nộp 10 nghìn đồng/người tiền phí môi trường nhưng không có biên lai.
Để làm rõ vấn đề trên, PV quyết định ‘làm chuyến du lịch’ vào khám phá thác Khe Kèm và mục sở thị hoạt động thu phí tại đây.
Một ngày đầu tháng 6, lúc này nhiệt độ ngoài trời lên tới hơn 40 độ C nhưng một người đàn ông đội mũ cối, trên ngực đeo thẻ ‘Ban quản lý’ vẫn nhiệt tình 'đội nắng' đứng trước cổng để thu tiền du khách vào thác.
Khi chúng tôi đi xe máy đến gần cổng vào thác thì bị người mặc trang phục của cán bộ kiểm lâm chặn lại và đòi thu 25 nghìn đồng. Thấy du khách thắc mắc người đàn ông này liền giải thích, trong đó có 5 nghìn tiền gửi xe máy và 20 nghìn còn lại chia đều cho hai đầu người gọi là phí môi trường.
Khi chúng tôi yêu cầu có vé hoặc biên lai thu tiền thì được nhân viên làm việc tại đây đưa cho một cái vé gửi xe do Vườn Quốc gia Pù Mát phát hành, không đề ngày tháng và không ghi số tiền. Ngoài ra, trên chiếc vé này không có con dấu hay bất kỳ dấu hiệu gì để chứng minh do một đơn vị có tư cách pháp nhân phát hành.
Ngay tại cổng chính, một người đàn ông khác mặc đồ dân sự, trên ngực đeo thẻ ‘Ban quản lý’ đang chặn một chiếc xe 24 chỗ từ thành phố Vinh lên tham quan để thu phí môi trường. Do đứng rất gần, nên PV quan sát thấy nhân viên soát vé đang yêu cầu lái xe hạ kính phía sau xuống nhìn vào trong đếm đầu người phục vụ cho việc thu phí môi trường thật chính xác.
Anh Nguyễn Văn T., chủ xe khách du lịch trú tại thành phố Vinh cho biết: “Do xe tôi chở 15 người nên khi vào cổng họ thu 160 nghìn, trong đó 150 nghìn tiền phí môi trường và 10 nghìn tiền gửi xe”. Sau khoảng 1 giờ đồng hồ thu phí, khi xe đã vãn hơn hai nhân viên làm việc tại đây cầm một xấp tiền với đủ các mệnh giá trên tay vào quán ngồi uống nước trao đổi to nhỏ với nhau.
“Tôi và bạn gái đi xe máy vào thác họ đòi thu 25 nghìn tiền phí môi trường và gửi xe nhưng không thấy đưa vé, mất công lên đây rôi nên đành đưa tiền cho họ để được vào chơi thác”, một thanh niên xin dấu tên cho biết.
Lúc này, PV đã tìm cách tiếp cận và qua trao đổi được biết, hai người đứng ra thu tiền của du khách là nhân viên Phòng Giáo dụcmôi trường và sinh thái thuộc Vườn Quốc gia Pù Mát.
Theo ghi nhận của PV, do đang vào dịp nắng nóng nên mới gần trưa đã có khoảng 30 chiếc xe ô tô và 40 xe máy, với hơn 150 khách vào thác tham quan, vãn cảnh. Nhân viên làm việc tại đây cho biết, ngày thường họ thu được 2 - 3 triệu đồng tiền phí môi trường và trông giữ xe, đặc biệt trong ngày lễ 30/4 và 1/5 có tới hơn 6 nghìn lượt khách vào thác.
Ông Trần Xuân Cường, Giám đốc Vườn Quốc gia Pù Mát cho biết trong ngày 30/4, Vườn Quốc gia này thu được 20 triệu đồng tiền phí, còn ngày 1/5 thì thu đến trưa, tuy nhiên vì khách đông quá nên sau đó mở cửa cho du khách vào tự do. (Người Đưa Tin 7/6) đầu trang(
Trước thực trạng biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt, việc khôi phục và trồng rừng ngập mặn ở các khu ngập nước ven biển là rất quan trọng. Tuy nhiên, hiện nay trên địa bàn tỉnh chưa có cơ sở cung cấp nguồn giống cây phục vụ trồng rừng ngập mặn ven biển.
Trước thực tế đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã nghiên cứu, rà soát các rừng ngập mặn trên địa bàn tỉnh và xác định cây đạt tiêu chuẩn chất lượng, đủ điều kiện thu hoạch giống phục vụ trồng rừng cửa sông, ven biển trên địa bàn tỉnh và các tỉnh khác cùng vùng sinh thái tương tự.
Căn cứ vào kết quả của hội đồng thẩm định nguồn giống cây trồng lâm nghiệp, Sở NN&PTNT đã cấp giấy chứng chỉ công nhận cho 35 cây, trong đó có 20 cây trang và 15 cây bần chua ở khu bãi bồi ven biển xã Đa Lộc (Hậu Lộc) đủ điều kiện thu hoạch giống phục vụ trồng rừng ngập mặn. Phòng NN&PTNT huyện Hậu Lộc có trách nhiệm quản lý, bảo vệ và khai thác nguồn giống đúng nội dung của chứng chỉ và các quy định hiện hành của Nhà nước.  (Báo Thanh Hóa 5/6) đầu trang(
Tiếp tục thực hiện phong trào trồng cây theo lời kêu gọi của Bác Hồ và thiết thực hưởng ứng Ngày Môi trường Thế giới, sáng 5-6, tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu ( huyện Xuyên Mộc), Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã tổ chức Lễ trồng cây “ Đời đời nhớ ơn Bác Hồ”. Đến dự lễ có ông Nguyễn Hồng Lĩnh, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh.
Tại lễ phát động trồng cây, thay mặt lãnh đạo tỉnh, ông Nguyễn Hồng Lĩnh, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh nhấn mạnh: Lễ trồng cây là việc làm thiết thực góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm trong mọi tầng lớp nhân dân về công tác bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường.
Để phong trào trồng cây năm 2016 và giai đoạn 2016-2020 đạt hiệu quả cao, Bí thư Tỉnh ủy yêu cầu các cấp, các ngành, các địa phương trong tỉnh tiếp tục tuyên truyền sâu rộng, từng bước thay đổi nhận thức, nâng cao ý thức trách nhiệm của các tập thể và từng cá nhân về mục đích ý nghĩa và lợi ích của việc trồng cây xanh để từ đó tích cực tham gia trồng cây bảo vệ môi trường, hưởng ứng phong trào trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” để tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu ngày càng xanh, sạch và đẹp hơn.
Đại tá Bùi Nam Đĩnh, Chính ủy Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu cũng cho biết : Lễ phát động trồng cây nhằm góp phần vận động nhân dân tích cực tham gia trồng cây, bảo vệ rừng, ngăn chặn, chấm dứt tình trạng đốt rừng khai thác rừng trái pháp luật, góp phần cải tạo môi trường, điều hòa khí hậu, nâng cao chất lượng cuộc sống, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế -xã hội. BĐBP cũng mong muốn góp sức của mình cùng với nhân dân phủ xanh môi trường trên địa bàn tỉnh.
Ngay sau lễ phát động, lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh cùng các sở, ban, ngành, các tổ chức đoàn thể các cấp, ngành, địa phương đã tham gia trồng 1.700 cây, gồm: gỏ đỏ, dầu, giáng hương ... trên diện tích hơn 3,2 héc-ta thuộc địa giới hành chính xã Bông Trang, thuộc lâm phần Khu bảo tồn Bình Châu - Phước Bửu.
Theo kế hoạch, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phấn đấu từ nay đến năm 2020, các đơn vị chủ rừng thực hiện trồng rừng mới khoảng 320 ha, trồng nâng cao chất lượng rừng 615ha, trồng khôi phục lại diện tích đất rừng bị lấn chiếm tại Khu bảo tồn Bình Châu - Phước Bửu 1.200ha và trồng lại rừng sản xuất sau khai thác hơn 1.600 ha.
Đồng thời, đẩy mạnh công tác trồng rừng phân tán và từng bước trồng rừng phục hồi hệ thống rừng ngập mặn ven biển, trong đó 2 địa phương Vũng Tàu và Bà Rịa trồng 200ha rừng ngập mặn. Các địa phương khác huy động mọi nguồn lực gồm các cơ quan, đoàn thể, hiệp hội, lực lượng vũ trang và nhân dân ra sức trồng khoảng 400.000 cây phân tán các loại nhằm góp phần nâng cao độ che phủ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn tỉnh. (Biên Phòng 5/6) đầu trang(
Triển khai kế hoạch trồng rừng năm 2016 huyện Lạc Sơn đã chỉ đạo các xã tổ chức đo đạc thiết kế chuẩn bị hiện trường trồng rừng, chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ rừng, phòng - chống cháy rừng.
Tổng số lượng cây giống gieo ươm 150,4 vạn cây, trong đó, 115 vạn cây keo, 32 vạn cây lát,  2,5 vạn cây trám, 0,9 vạn cây sấu. Trong dịp Tết trồng cây, toàn huyện đã trồng được 40.536 cây ăn quả, cây lâm nghiệp các loại. Đến hết tháng 5, toàn huyện đã trồng mới được 195 ha/800 ha, đạt 24,3% kế hoạch.
Công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn luôn được quan tâm quản lý không để xảy ra tình trạng chặt phá, buôn bán, vận chuyển gỗ trái phép, chăm sóc, bảo vệ vườn ươm cây giống, đảm bảo đủ cây giống phục vụ trồng rừng đạt và vượt kế hoạch trồng rừng năm 2016 đề ra.
Bên cạnh đó, tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn, không có điểm nóng về chặt phá, buôn bán, vận chuyển gỗ trái phép. Tiếp tục chăm sóc, bảo vệ vườn ươm cây giống, đảm bảo đủ cây giống phục vụ trồng rừng đạt và vượt kế hoạch đề ra. (Báo Hòa Bình 7/6) đầu trang(
Theo thống kê của Sở NN&PTNT, diện tích đất bãi ngập mặn toàn tỉnh tính đến năm 2014 là hơn 36.037ha, trong đó diện tích đất có rừng ngập mặn (RNM) hơn 21.140ha, còn lại là đất bãi ngập mặn khác không có rừng. RNM tập trung nhiều ở các địa phương như: Móng Cái, Tiên Yên, Quảng Yên, Vân Đồn...
Chất lượng RNM của tỉnh hiện còn tương đối thấp, loài cây chủ yếu là mắm biển với chiều cao trung bình dưới 1m, nên khả năng chắn sóng khi có bão còn hạn chế. Trong khi đó, nhiều diện tích RNM của tỉnh đang có xu hướng thu hẹp lại do nhiều nguyên nhân.
Vì vậy, việc trồng và bảo vệ RNM đang trở thành vấn đề cấp bách của các địa phương hiện nay nhằm tạo ra những “lá chắn xanh” giúp bảo vệ đê điều, đầm ao nuôi trồng thuỷ hải sản, giảm nhẹ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu...
Nhận thức được tầm quan trọng của RNM, trong những năm qua tỉnh đặc biệt quan tâm tới công tác bảo vệ và khôi phục RNM. Trong giai đoạn từ năm 1997-2008, tỉnh đã triển khai thực hiện các chương trình trồng và khôi phục RNM bằng các dự án: PAM 5325, Hội Chữ thập đỏ, Quỹ Nhi đồng Anh, Tổ chức trồng lại RNM Nhật Bản, đã trồng mới được hơn 2.300ha rừng các loại.
Từ năm 2008-2014, nhờ chương trình bảo vệ và phát triển rừng, tỉnh đã trồng mới được hơn 1.700ha với tổng kinh phí hơn 22,4 tỷ đồng. Giai đoạn 2015-2020, tỉnh đang triển khai 3 dự án bằng kinh phí của chương trình biến đổi khí hậu (SP-RCC) gồm: Dự án gây bồi, tạo bãi và trồng cây ngập mặn tại thôn 1, xã Hải Đông (TP Móng Cái), tổng kinh phí 27 tỷ đồng; Dự án nâng cấp đê Quan Lạn (huyện Vân Đồn) và trồng RNM, kinh phí 18 tỷ đồng; Dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, đặc dụng ven biển tỉnh giai đoạn 2015-2020, tổng mức đầu tư 92 tỷ đồng. Những dự án này sẽ góp phần quan trọng trong việc khôi phục và phát triển RNM của các địa phương...
TX Quảng Yên là một trong những địa phương có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế từ bãi triều và RNM. Hệ thống RNM ở Quảng Yên không chỉ là nơi nuôi dưỡng, sinh sản của nhiều loài hải sản cho giá trị kinh tế cao, mà còn góp phần quan trọng cố định đất bãi bồi; giảm nhẹ ảnh hưởng của sóng biển; bảo vệ an toàn cho các tuyến đê.
Khoảng những năm 80-90 của thế kỷ trước, do tình trạng chặt phá rừng lấy củi diễn ra triền miên, nên diện tích đất RNM tại địa phương bị suy giảm nghiêm trọng, khiến hệ thống đê điều ở khu vực Hà Nam và Hà Bắc thường xuyên bị đe doạ mỗi khi có bão đổ bộ. Nhận thấy RNM có vai trò quan trọng đối với việc bảo vệ đê điều và phát triển nuôi trồng thuỷ hải sản, nên những năm gần đây TX Quảng Yên đã tranh thủ sự hỗ trợ các dự án, trồng mới được nhiều diện tích RNM.
Từ năm 2012-2014, được sự hỗ trợ của chương trình bảo vệ và phát triển rừng, thị xã đã trồng mới được hơn 238ha RNM. Gần đây nhất tháng 6-2015, Dự án JICA (Nhật Bản) đã hỗ trợ địa phương trồng và bảo vệ hơn 6ha RNM tại phường Hà An. Cùng với việc trồng mới RNM, Quảng Yên tích cực tuyên truyền đến các hộ dân về việc bảo vệ RNM, nhờ đó tình trạng chặt phá RNM không còn tái diễn.
Ông Đặng Tiến Hải, Phó Chủ tịch UBND TX Quảng Yên, khẳng định: Thời gian gần đây, nhờ bảo vệ tốt RNM nên hệ thống đê điều của địa phương được đảm bảo an toàn hơn trước. Hệ thống RNM phát triển còn giúp môi trường sinh thái ven sông, biển phong phú các loài thuỷ sản sinh sống, tạo điều kiện cho nhiều hộ dân có thể khai thác, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản...
Ông Hoàng Công Đãng, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, cho biết: Thời gian tới, tỉnh tiếp tục triển khai chương trình bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2015-2020. Bên cạnh đó tăng cường các giải pháp và cơ chế chính sách như: Chính sách giao khoán, cho thuê đất rừng đến hộ gia đình theo Nghị định số 23/2006/NĐ-CP, trong đó ưu tiên giao khoán đất rừng cho người dân địa phương và cộng đồng dân cư; chính sách đầu tư theo Quyết định số 38/2005/QĐ-BNN của Bộ NN&PTNT và các chính sách được hưởng lợi của chủ rừng... nhằm bảo vệ RNM tốt hơn.
Tuy nhiên, trong quá trình khôi phục và phát triển RNM hiện nay, tỉnh cũng đang gặp không ít khó khăn, như: Lượng chất thải rắn, nước thải của các mỏ than đang khai thác chưa được xử lý thải trực tiếp ra biển làm ảnh hưởng tới môi trường sinh thái RNM; quá trình đô thị hoá lấn biển làm thu hẹp diện tích RNM; kinh phí cho việc quản lý và bảo vệ RNM còn thiếu; môi trường sống của RNM rất khắc nghiệt; chưa có cơ chế chính sách khuyến khích người dân tham gia bảo vệ và phát triển RNM... (Báo Quảng Ninh 6/6) đầu trang(
Trấn Yên (Yên Bái) có diện tích đất lâm nghiệp lớn. Những năm qua, huyện xác định kinh tế rừng là thành phần quan trọng trong ngành nông nghiệp.
Năm 2011, Đảng bộ huyện Trấn Yên đã ban hành Nghị quyết chuyên đề về trồng và chế biến gỗ rừng trồng. Với nhiều giải pháp, công tác phát triển kinh tế rừng của Trấn Yên đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Những vạt rừng trước kia chỉ có chè vè, lau lách, nay được thay bằng màu xanh bạt ngàn của keo, quế, bồ đề.
Bình quân mỗi năm toàn huyện trồng mới, trồng thay thế trên 2.500ha rừng các loại với cơ cấu giống cây trồng chủ yếu là keo lai, keo tai tượng, quế, tre Bát Độ,... Đến nay, Trấn Yên đã hình thành được vùng nguyên liệu cây nguyên liệu giấy gần 25.000ha, quế hơn 8.000ha, tre măng Bát Độ hơn 2.000ha.
Trong trồng rừng, nhân dân đã biết áp dụng tiến bộ kỹ thuật từ khâu trồng đúng mật độ, chăm sóc, bón phân cho cây trồng, do đó hiệu quả rừng trồng tăng rõ rệt. Đến nay, sản lượng khai thác gỗ rừng trồng của huyện đạt trên 85.000m3; sản lượng măng Bát Độ đạt gần 20.000 tấn, sản lượng khai thác vỏ quế khô đạt gần 3.000 tấn. Thu nhập từ rừng đã làm thay đổi hẳn cuộc sống của người dân, nhiều hộ khó khăn đã thoát nghèo, vươn lên làm giàu.
Năm 2015, nhân dân trên địa bàn huyện Trấn Yên đã trồng mới, trồng thay thế được trên 2.000ha rừng tập trung, đạt trên 111% kế hoạch năm và trồng được trên 1 triệu cây phân tán. Cùng với trồng rừng đại trà, năm nay, huyện Trấn Yên được tham gia dự án xây dựng mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn và chuyển hóa rừng cung cấp gỗ nhỏ sang gỗ lớn với quy mô 50ha tại các xã Việt Cường, Đào Thịnh, Hồng Ca, Nga Quán, Y Can.
Các hộ tham gia dự án trồng rừng thâm canh gỗ lớn được Nhà nước hỗ trợ giống keo lai, keo tai tượng và một phần phân bón. Các bước trồng đều được giám sát thực hiện đúng quy trình kỹ thuật, từ việc cấp cây giống, cách bón phân, chăm sóc cây.
Gia đình chị Phạm Thị Khuyên ở thôn Hồng Hà, xã Nga Quán là một trong những hộ tham gia mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn và chuyển hóa rừng cung cấp gỗ nhỏ sang gỗ lớn. Chị đã thuê lao động phá bỏ toàn bộ diện tích cọ, hóp của gia đình để trồng 3ha keo lai. Mặc dù chỉ được Nhà nước hỗ trợ một phần nhưng chị Khuyên hy vọng, 3ha rừng trồng trong năm 2015 sẽ cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với những diện tích rừng mà chị đã trồng trước đây không thâm canh.
Xã Đào Thịnh hiện có 700ha rừng kinh tế. Nhờ biết phát huy tiềm năng, lợi thế đó mà nhiều năm nay, rừng đã góp phần rất lớn vào công cuộc xóa đói giảm nghèo trên địa bàn. Nhờ rừng mà nhiều gia đình không chỉ thoát nghèo mà đang từng bước vươn lên có đời sống khá giàu với thu nhập từ 50 - 200 trăm triệu đồng/năm.
Năm 1987, gia đình ông Phạm Văn Kiệm đến lập nghiệp ở thôn 6, xã Đào Thịnh. Khi đó nơi này còn rất hoang vu, rậm rạp. Bằng sức lao động của mình, ông và gia đình cần mẫn khai hoang, biến đất sỏi thành rừng trồng quế, thành ao nuôi cá, thành ruộng cấy lúa. Không phụ công ông, sau nhiều năm chăm chỉ lao động với quyết tâm xóa nghèo, đến nay, gia đình ông Kiệm đã có gần 2ha quế, trong đó nhiều diện tích đã được thu hoạch bằng cách tỉa thưa. Trong số gần 2ha quế, ông có 1.000 cây quế 13 năm tuổi, trị giá trên 1 tỷ đồng tính theo giá tại thời điểm này.
Ông Kiệm cho biết: Trong trồng rừng, không có loại cây nào có giá trị kinh tế cao bằng quế. Vì vậy, gia đình ông đã đưa cây quế vào trồng ngay từ những ngày đầu khi mới đến Đào Thịnh lập nghiệp. Ngoài trồng rừng, ông còn có hơn 1ha chè, trong đó có 5 sào chè Bát Tiên. Ông Kiệm còn có 5 chiếc ao thả cá rộng khoảng 5 sào; nuôi thêm gà, vịt và ong lấy mật. Bình quân một năm tổng thu nhập của gia đình đạt khoảng 150 triệu đồng, trừ chi phí, lãi trên 100 triệu đồng.
Mô hình trồng rừng gỗ lớn là một trong những giải pháp tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng theo hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng và sản phẩm gỗ chế biến từ rừng trồng, tạo vùng nguyên liệu tập trung, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến đồ gỗ xuất khẩu, giảm dần nhập khẩu gỗ nguyên liệu và góp phần nâng cao thu nhập và đời sống cho người trồng rừng.
Đây là mô hình mới tại huyện Trấn Yên nhằm từng bước góp phần thay đổi tập quán trồng rừng của người dân, từ trồng rừng dựa vào điều kiện tự nhiên, sản xuất theo phương thức quảng canh sang sản xuất thâm canh, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, cải tạo rừng một cách bền vững và rút ngắn chu kỳ sản xuất.
Bên cạnh đó, dự án cũng tạo việc làm cho người dân địa phương, góp phần ổn định xã hội, nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn miền núi. (Kinh Tế Nông Thôn 3/6) đầu trang(
Trong điều kiện nguồn lực về vốn eo hẹp, các biện pháp xây dựng công trình kiên cố để ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng gần như không thể mang tính khả thi, thì trồng rừng chắn sóng gió được xem như biện pháp dễ dàng thực hiện. Tuy nhiên, tại các địa phương ven biển, do trông chờ vào dự án đầu tư nên diện tích rừng phủ xanh đến nay vẫn còn hạn chế.
Sau khi UBND tỉnh phê duyệt cho xã Tam Giang (Núi Thành) dự án bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn ven sông, bảo vệ các bờ đê, bờ kè khỏi bị xói lở bởi gió bão, ứng phó với biến đổi khí hậu, hiện trên địa bàn đã có gần 30ha rừng đước, bần dọc ven sông Trường Giang. Nằm ở nơi đầu sóng ngọn gió, các làng Đông Xuân, Đông An, Đông Bình và Đông Mỹ (Tam Giang) thường gánh chịu hậu quả nặng nề do thiên tai gây ra.
Hiện nay, rừng ngập mặn ở Tam Giang sinh trưởng, phát triển tốt theo quy trình “một năm trồng, 3 năm chăm sóc”, nhưng do khó khăn về nguồn vốn nên việc chăm sóc cũng thiếu thường xuyên. Theo chính quyền xã, địa phương còn gần 70ha diện tích cần được khôi phục trồng rừng nhưng không biết xoay xở nguồn vốn ở đâu. Từ trước đến nay việc phủ xanh rừng đều dựa vào kinh phí hỗ trợ dự án.
Ông Trương Đức Trí - Phó cục trưởng Cục Khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu cho rằng, việc triển khai trồng, phục hồi rừng ngập mặn góp phần ứng phó hiệu quả với tác động của biến đổi khí hậu, vừa tạo đê mềm chắn sóng, nước dâng, hạn chế xâm nhập mặn, đồng thời giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ hệ sinh thái ven biển. Mặt khác, nhờ có rừng ngập mặn nên nhiều loài thủy hải sản có giá trị kinh tế cao sinh trưởng và phát triển một cách tự nhiên.
“Rất tiếc công tác trồng rừng ngập mặn ven biển chưa được xã hội hóa, Quảng Nam cũng như nhiều địa phương khác còn phụ thuộc nhiều vào nguồn lực đầu tư của Trung ương chứ chưa thu hút người dân và doanh nghiệp trồng” - ông Trí đánh giá.
Trong khi nhiều địa phương trồng rừng ngập mặn theo dự án, thì tại thôn Tịch Tây (xã Tam Nghĩa, Núi Thành), 5 năm nay hàng chục hộ dân tự đứng ra phục hồi rừng dừa nước. Họ bỏ công trồng chỉ với suy nghĩ là để chặt lá bán cải thiện đời sống. Không ngờ giá trị mà lá dừa mang lại cho người dân không phải nhỏ. Ước tính mỗi năm người dân kiếm thu nhập từ 100 đến 200 triệu đồng/ha dừa nước.
Chính quyền xã Tam Nghĩa còn có ý tưởng phát triển du lịch sinh thái từ 30ha dừa nước còn nguyên vẹn ven sông. Ngoài diện tích dân trồng, chính quyền giao cho dân làng bảo vệ, quản lý. Ông Lê Minh Hưng - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT nhận xét, các dự án trồng rừng ven biển thí điểm đều rất hiệu quả và cần nhân rộng.
Cho nên địa phương cũng cần trích nguồn vốn trồng rừng phòng hộ ven biển mỗi năm, kết hợp với chính sách thu hút doanh nghiệp, người dân trồng rừng phát triển du lịch sinh thái làng quê. Được biết, chính quyền TP.Hội An đang xúc tiến, kêu gọi doanh nghiệp vào đầu tư trồng rừng ngập mặn tại xã Cẩm Thanh, với mục đích phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường bền vững. (Báo Quảng Nam 6/6) đầu trang(
Năm 2016, huyện Mường Ảng thực hiện thí điểm trồng mới 350ha rừng sản xuất tập trung tại 5 xã: Mường Đăng, Búng Lao, Ẳng Cang, Mường Lạn và Ẳng Tở. Để hoàn thành kế hoạch đề ra, huyện Mường Ảng đã có cách làm riêng, phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương và gắn trách nhiệm của người dân với việc chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng.
Trao đổi với phóng viên, ông Trần Thanh Hà, Bí thư Huyện ủy Mường Ảng cho biết: Một trong những nhiệm vụ quan trọng trong nghị quyết của Đảng bộ huyện Mường Ảng nhiệm kỳ 2016 – 2020 là xây dựng và thực hiện Đề án Phát triển rừng sản xuất nguyên liệu tập trung năm 2016 và định hướng đến năm 2020. Theo đó, để tạo việc làm cho người dân, nâng cao thu nhập và phủ xanh đất trống, đồi trọc, từng bước hướng tới phát triển lâm nghiệp bền vững, đảm bảo cho những người làm nghề rừng sống được bằng nghề, huyện Mường Ảng đã lập kế hoạch và giao chỉ tiêu trồng rừng cụ thể đến từng xã.
Trước mắt, huyện sẽ thực hiện trồng thí điểm tại 5 xã theo phương pháp trồng rừng “ngược” so với cách truyền thống. Nghĩa là, nếu trước đây các chương trình, dự án trồng rừng triển khai theo kiểu tỉnh giao chỉ tiêu về huyện, huyện giao chỉ tiêu đến xã, để người dân đăng ký và trồng được bao nhiêu thì báo cáo lại, thì năm nay điểm khác là sau khi tuyên truyền, vận động người dân thực hiện trồng rừng, từ năm thứ 1 đến năm thứ 4, huyện tổ chức nghiệm thu diện tích trồng rừng thực tế rồi mới báo cáo lên tỉnh kết quả.
Theo đồng chí Trần Thanh Hà, với tập quán chăn nuôi gia súc, gia cầm thả rông của người dân, rất nhiều diện tích rừng bị chết hoặc bị trâu, bò phá hoại, dẫn đến con số báo cáo lên tỉnh theo cách trồng rừng trước đây sẽ có sự chênh lệch so với số liệu thực tế. Còn theo phương thức mới, sau 4 năm khi cây bắt đầu khép tán mới thực sự là diện tích có rừng.
Muốn làm được vậy, huyện Mường Ảng đã chỉ đạo các cơ quan chức năng tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn bà con các bước. Để đảm bảo trồng rừng theo cách làm mới hiệu quả, 5 đồng chí trong Ban Thường vụ Huyện ủy được phân công trực tiếp theo dõi, chịu trách nhiệm các xã khác nhau. Trách nhiệm của UBND các xã cũng sẽ được giao đến nơi đến chốn, xã nào để xảy ra tình trạng cây chết do nguyên nhân chủ quan thì chủ tịch UBND xã đó phải chịu trách nhiệm trước huyện.
Để đẩy nhanh tiến độ trồng rừng năm 2016, huyện Mường Ảng đã phân công các lực lượng chuyên môn đến từng xã, bản để tuyên truyền, tập huấn cách thức trồng rừng cho bà con và tuyên truyền để bà con thấy được lợi ích của việc trồng rừng, trồng rừng là trồng cho chính mình chứ không phải trồng cho Nhà nước.
Bên cạnh đó, huyện đã cử lực lượng công an, dân quân xuống tận bản, nhà dân để giúp các hộ phát dọn thực bì, đào hố, chôn cây... Đến thời điểm này, công tác chuẩn bị cho trồng rừng đã được các tổ chức, hộ gia đình triển khai có hiệu quả.
Chiều ngày 12/4, chúng tôi đến bản Kéo, xã Ẳng Cang (huyện Mường Ảng), chứng kiến hàng trăm người dân được cán bộ chuyên môn huyện hướng dẫn cách phát dọn thực bì, đào hố để trồng rừng. Theo anh Lò Văn Thu, Trưởng bản Kéo, năm nay bản đăng ký trồng 40ha rừng, hiện tại có trên 90% diện tích đã được chuẩn bị sẵn sàng. Được cán bộ huyện, xã tuyên truyền, hướng dẫn nên gia đình tôi đăng ký 2ha. Trong bản cũng có rất nhiều hộ đăng ký theo.
Ông Lò Văn Chiến, Chủ tịch UBND xã Ẳng Cang cho biết: Ban đầu trong Đề án phát triển rừng sản xuất nguyên liệu tập trung năm 2016 của huyện Mường Ảng không có xã Ẳng Cang. Thế nhưng, người dân trong xã đã kiến nghị lên chính quyền xã và huyện “xin” được trồng rừng.
Với quyết tâm đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, Đảng bộ, chính quyền huyện Mường Ảng đang tiếp tục chỉ đạo UBND các xã tuyên truyền, vận động nhân dân khẩn trương phát dọn thực bì, làm đất đảm bảo tiến độ. Dự kiến đến tháng 6 sẽ tiến hành trồng. Với sự chung tay vào cuộc của các cấp ủy, chính quyền và các địa phương, tin chắc rằng công tác trồng rừng của huyện Mường Ảng trong năm 2016 sẽ đạt được kết quả như mong đợi. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Điện Biên 6/6) đầu trang(
Ngày 5.6, tại Khu Du lịch sinh thái Măng Đen, huyện Kon Plông, UBND tỉnh Kon Tum đã tổ chức lễ phát động trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” và hưởng ứng ngày Môi trường thế giới (5.6).
Ngay sau lễ phát động, các đại biểu đã tham gia trồng 2.140 cây xanh lưu niệm dọc tuyến đường từ Trung tâm thương mại huyện Kon Plông đi hồ Đăk Ke; khu vực Nghĩa trang huyện Kon Plông và khu vực quy hoạch phía Nam trung tâm hành chính huyện.
Trong những năm qua, tỉnh Kon Tum đã có nhiều chủ trương, giải pháp nhằm quản lý, bảo vệ và phát triển tốt vốn rừng trên địa bàn tỉnh, từ đó duy trì được và nâng cao độ che phủ của rừng lên hàng đầu cả nước; có nhiều hoạt động thiết thực góp phần nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu. (Văn Hóa 6/6) đầu trang(
Tranh thủ tiết trời vừa chớm mùa nắng nóng, những ngày này, các huyện Quỳ Châu, Quế Phong đang tích cực trồng rừng nguyên liệu.
Tại bản Nậm Xái xã Quang Phong (Quế Phong), bà con đang khẩn trương trồng rừng nguyên liệu. Ông Lô Văn Quyền ở bản Nậm Xái cho biết: Được cán bộ kỹ thuật của Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng, chúng tôi đã thực hiện xong khâu xử lý thực bì và tiến hành đào hố đến đâu, trồng rừng đến đó; hiện đã trồng được 4 ha rừng, chủ yếu giống keo ngoại hạt Úc (là giống cây lâu năm, nhằm tăng giá trị sản phẩm).
Theo ông Vi Thái Điệp - Chủ tịch UBND xã Quang Phong: Năm nay, xã Quang Phong trồng 270 ha rừng theo Dự án Bảo vệ phát triển rừng, trong đó người dân đăng ký trồng thêm 100 ha rừng nguyên liệu, để nâng tổng số rừng trồng năm nay lên 370 ha.
Diện tích trên lâu nay chủ yếu hoạt động canh tác nương rẫy truyền thống là tập quán canh tác lâu đời, hiệu quả kinh tế thấp mà còn gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái. Vì vậy, xã đã rà soát quy hoạch sản xuất nương rẫy để trồng keo là một hướng đi đúng, tạo sự ổn định trong sản xuất và hạn chế tối đa việc chặt phá rừng.
Việc trồng rừng tập trung song song với đường giao thông ở xã Quang Phong hiện nay khá thuận lợi, sẽ mở ra hướng phát triển kinh tế “đột phá” cho bà con nơi đây.
Tại bản Minh Tiến, xã Châu Hạnh (Quỳ Châu), ông Duy Quyền cho biết: Gia đình tôi đăng ký trồng 1,2 ha keo lai hạt ngoại. Hiện đã trồng được trên 60% diện tích. Dự tính khoảng 8 - 10 ngày nữa là sẽ trồng xong.
Nét mới năm nay là các gia đình cùng huy động nhân lực để giúp nhau đào hố trồng rừng, vì vậy, tiến độ trồng rừng nhanh hơn các năm khác. Trước đây chúng tôi trồng chay không bón phân, nay theo hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật chúng tôi bón 0,2kg phân vi sinh/gốc…
Năm 2016, kế hoạch huyện Quỳ Châu trồng 1.600 ha rừng nguyên liệu, trong đó Dự án 147 giao trồng 600 ha (diện tích còn lại 800 ha do nhân dân tự bỏ kinh phí trồng). Từ đầu tháng 4/2016, huyện đã triển khai trồng. Đến thời điểm này, toàn huyện đã trồng được trên 500 ha rừng, chủ yếu là keo lai dâm hom và keo hạt giống ngoại.
Các xã trồng rừng đạt trên 50% tiến độ bao gồm, Châu Bình, Châu Hạnh, Diên Lãm, Châu Nga. Vụ trồng rừng nguyên liệu sẽ kết thúc vào tháng 8/2016. Dự tính năm nay Quỳ Châu sẽ trồng rừng nguyên liệu vượt chỉ tiêu khoảng 200 ha, (tương đương 1.800 ha). (Báo Nghệ An 5/6) đầu trang(
Với điều kiện đất đai khá thuận lợi để phát triển kinh tế rừng, với các loại cây như: quế, bồ đề, keo lai, tre măng Bát độ…, rừng của huyện Trấn Yên đang góp phần quan trọng vào việc bảo vệ môi trường sinh thái, chống xói mòn đất, tạo nguồn nước ổn định cho sản xuất nông nghiệp. Kinh tế rừng còn góp phần tạo việc làm, thu nhập cho hàng ngàn lao động mỗi năm.
Những năm gần đây, công tác quản lý bảo vệ, trồng rừng mới trên địa bàn huyện Trấn Yên đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Hạt Kiểm lâm huyện, đã chủ động tham mưu với UBND huyện, chỉ đạo các xã, thị trấn về tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp, kiện toàn Ban Chỉ đạo Phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR).
Hàng năm, Hạt đã phối hợp với các xã, thôn bản, tổ chức trên 200 buổi tuyên truyền về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; xây dựng quy ước về quản lý bảo vệ rừng tới tất cả các thôn, bản; ký cam kết bảo vệ rừng cho gần 3.000 lượt hộ; phối hợp với các ngành chức năng trong việc ngăn chặn và xử lý nghiêm minh theo pháp luật những trường hợp xâm hại đến tài nguyên rừng. Huyện đã tập trung triển khai và hoàn thành Đề án giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2012 - 2015.
Hiện nay, toàn huyện có trên 51.700 ha rừng, trong đó diện tích kiểm kê trong quy hoạch là trên 46.500 ha, gồm rừng tự nhiên phòng hộ trên 8.600 ha; rừng sản xuất 37.869 ha. Nhiều xã có diện tích rừng trồng lớn như: Kiên Thành 2.831 ha, Hồng Ca 2.221 ha, Lương Thịnh 2.472 ha, Y Can 2.057 ha, Việt Cường 1.466 ha…
Qua kết quả kiểm kê rừng của huyện tháng 3/2016 cho thấy, tổng trữ lượng rừng của huyện đạt trên 2,6 triệu m3 . Để mở rộng diện tích rừng trồng, từ năm 2010 đến năm 2014, hàng năm, huyện chỉ đạo đưa vào trồng mới 1.400 ha rừng. Năm 2015, diện tích rừng trồng đạt 2.400 ha, trong đó 2.000 ha rừng trồng tập trung và 400 ha rừng phân tán. Năm 2016, phấn đấu hoàn thành trồng 2.700 ha, trong đó 2.400 ha là rừng tập trung và rừng phân tán và 300 ha tre măng Bát độ, góp phần nâng tỷ lệ che phủ rừng của huyện từ 68% năm 2010 lên 69,6% năm 2015.
Để tăng cường công tác quản lý và bảo vệ rừng, Hạt đã phối hợp với các xã, thị trấn tiến hành rà soát hiện trạng rừng, thiết lập hồ sơ dự toán thiết kế bảo vệ rừng, tiến hành giao khoán bảo vệ rừng tự nhiên phòng hộ ở 6 xã gồm: Hồng Ca, Kiên Thành, Việt Hồng, Vân Hội, Việt Cường, Cường Thịnh, giao cho 28 tổ bảo vệ. Rừng tự nhiên sản xuất, trên địa bàn 14 xã, giao cho 42 tổ bảo vệ.
Đồng chí Đỗ Văn Hùng - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện cho biết: “Cùng với thế mạnh của cây nguyên liệu giấy, huyện Trấn Yên còn có trên 1.700 ha tre măng Bát độ, được trồng trên địa bàn 18 xã, trong đó Kiên Thành, diện tích lớn nhất 721 ha, Hồng Ca 347 ha, Hưng Khánh 294 ha… Hàng năm, diện tích rừng đến tuổi khai thác trung bình đạt 1.500 ha, mang lại nguồn thu từ rừng gần 150 tỷ đồng/năm cho nhân dân. Để tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, Hạt còn phối hợp với các ngành chức năng, chính quyền các địa phương và nhân dân tiến hành xử lý các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Công tác PCCCR cũng đặc biệt được quan tâm, công cụ, phương tiện hàng năm được đầu tư như: máy thổi khí, máy cắt thực bì, kẻng báo động, máy bơm… Do làm tốt công tác quản lý và bảo vệ rừng nên nhiều năm trên địa bàn huyện không để xảy ra vụ cháy rừng lớn, hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra”.
Hiện nay, trên địa bàn huyện Trấn Yên, đang hình thành nhiều mô hình kinh tế trang trại VACR có diện tích trên 5 ha. Cơ sở sản xuất chế biến các nguyên liệu từ rừng cũng không ngừng gia tăng với gần 100 cơ sở sản xuất ván bóc, đũa xuất khẩu, gỗ bao bì, mộc dân dụng… Hàng năm, thu hút trên 3.000 lao động tham gia, với mức thu nhập từ 3,5 triệu đồng đến trên 7 triệu đồng/người/tháng.
Bên cạnh các ngành nghề thúc đẩy tiêu thụ các sản phẩm từ rừng, một số ngành nghề khác như cung ứng giống, dịch vụ kỹ thuật, cũng được mở rộng đến các xã, thôn bản. Phát triển mạnh kinh tế rừng, Trấn Yên sẽ gặt hái được nhiều thành công hơn nữa trong việc lấy rừng làm kinh tế mũi nhọn cho những năm tiếp theo. (Báo Yên Bái 7/6) đầu trang(
Để có một lượng gỗ có chứng chỉ nhiều hơn đáp ứng nhu cầu xuất khẩu trong thời gian tới, đồng thời nâng thu nhập của người dân thì con đường duy nhất là cần có chứng chỉ FSC.
Những ngày này, tại một số huyện, thị như Hàm Tân, La Gi... hầu như những diện tích vốn trồng cây ngắn ngày lâu nay, bây giờ đã nhường chỗ cho cây keo lai hom xuất hiện.  Rừng trồng giúp nhiều người có thu nhập cao, chỉ sau 4-6 năm trồng lại không tất bật lo lắng nhiều đến chuyện nước tưới.
Chỉ tính toán chừng ấy, các hộ dân đã quyết định xuống giống ngay khi trời có những cơn mưa đầu mùa. Đồng thời với trồng rừng, việc mua bán cây rừng cũng diễn ra nhộn nhịp, có nhiều thương lái đã chuyển từ mua nông sản sang mua cây rừng. Riêng vùng Tân Thắng, Thắng Hải (Hàm Tân) có 4 điểm kinh doanh cây rừng.
Hầu hết, rừng ở đây đến tuổi khai thác đều nằm khoảng 4-6 năm tuổi nên dù chăm có tốt đến đâu sản phẩm có được cũng chỉ dùng chủ yếu cho mục đích gỗ dăm, giá trị kinh tế thấp. Trong khi đó, gỗ xẻ làm nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất đồ nội/ngoại thất, loại khai thác từ cây rừng chất lượng cao thì đang thiếu nhiều. Với nguyên liệu để sản xuất sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu thì càng thiếu hơn, khi thị trường nước ngoài yêu cầu gỗ cần có chứng chỉ FSC.
Chứng chỉ FSC hiểu nôm na là chứng chỉ do Hội đồng quản trị Rừng Thế giới cấp.  Hiện tại, các đơn vị trồng rừng trong tỉnh đang trong giai đoạn xây dựng và thực hiện phương án quản lý rừng bền vững dựa trên các tiêu chí của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sát với tiêu chí FSC.
Sau khi thực hiện xong phương án này mới có thể tiến đến xây dựng và đề nghị cấp chứng chỉ FSC. Bởi thế, đến lúc này, ngành chức năng đã tổ chức hàng chục cuộc tập huấn về quản lý rừng bền vững, chứng chỉ rừng cho cán bộ lâm nghiệp, địa phương để thực hiện kế hoạch trên.
Một số người cho rằng, nếu có thể đồng thời đưa  những hộ dân trồng rừng vào, nâng ý thức trong trồng rừng chất lượng cao thì vấn đề quản lý rừng bền vững, cấp chứng chỉ rừng FSC sẽ đầy đủ hơn. Bởi tại Quảng Trị, mô hình chứng chỉ rừng nhóm hộ đã được thực hiện với sự hỗ trợ của 2 tổ chức quốc tế là WWF và  IKEA từ năm 2010 và hiện đang phát triển rất tốt. Các hộ dân được bán sản phẩm trực tiếp tới các nhà máy với tư cách là một hiệp hội mà không cần thông qua các thương lái trung gian, trong khi gỗ có chứng chỉ luôn có giá cao nên thu nhập của họ tăng gấp đôi.
Từ kết quả này và mong muốn của người dân ở nhiều tỉnh khác, tổ chức WWF đang trong tiến trình thảo luận với Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO) về định hướng hợp tác hỗ trợ cho mục tiêu này. Vì thế, đây là vấn đề không xa vời, bởi trong chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia của Việt Nam đã đặt mục tiêu đến năm 2020, sẽ có 30% diện tích rừng sản xuất trong số 4,48 triệu ha rừng trồng sẽ được cấp chứng chỉ. Nếu cố gắng, nông dân Bình Thuận cũng có thể được cấp chứng chỉ FSC cho rừng trồng của mình. (Báo Bình Thuận 4/6) đầu trang(
Ngành chế biến gỗ Việt Nam giờ đây trở thành một bộ phận không thể thiếu trong chuỗi cung ứng toàn cầu; là một trong những trung tâm chế biến gỗ lớn trên thế giới khi đứng đầu các nước Đông Nam Á và chỉ sau Trung Quốc ở châu Á; một trong ít ngành có tốc độ phát triển trên 2 con số liên tục trong nhiều năm. Nhưng trong bối cảnh hội nhập nếu không khắc phục kịp thời, những nguy cơ nhỏ có thể gây ra nhiều rủi ro lớn.
Chế biến gỗ là một trong ít ngành có sự phát triển đều đặn ngay cả thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới, tốc độ phát triển liên tục nhiều năm luôn ở mức 10% - 12%/năm. 5 tháng đầu năm 2016, việc xuất khẩu gỗ chế biến và các sản phẩm từ gỗ đạt 2,3 tỷ USD, tiếp tục tăng so với cùng kỳ, dù không nhiều. Trong khi năm 2015, tỷ lệ xuất siêu ngành này trên 4 tỷ USD trong tổng số 6,9 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu.
Trước đây, có giai đoạn xã hội xem việc phát triển ngành chế biến gỗ đồng nghĩa với việc tàn phá rừng, xâm hại thô bạo tài nguyên thiên nhiên để xuất khẩu thô (gỗ tròn), nhưng giờ đây chính ngành này là động lực để trồng rừng, phủ xanh đất trống và nuôi sống hàng triệu con người, khi mà việc nhập khẩu gỗ vào những thị trường lớn nhất của Việt Nam có những quy định ngày càng nghiêm ngặt về xuất xứ nguồn gốc nguyên liệu gỗ từ những sản phẩm được chế biến, như Đạo luật Lacey của Mỹ hay FLEGT của các nước EU.
Nhưng cùng với TPP và EVFTA (Hiệp định Thương mại tự do EU - Việt Nam), ngành chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ lại đối diện với nhiều rủi ro hơn. Tiến sĩ Tô Xuân Phúc, chuyên gia của nhóm xây dựng báo cáo “Rủi ro khi xuất khẩu đồ gỗ trong bối cảnh hội nhập TPP và EVFTA”, cho rằng hạn chế của doanh nghiệp (DN) chế biến gỗ là DN vừa và nhỏ, nhất là siêu nhỏ, chiếm tỷ lệ quá lớn.
Những DN chế biến gỗ khu vực năng động và phát triển nhất như vùng Đông Nam bộ (bao gồm TPHCM) và duyên hải Nam Trung bộ nắm bắt nhanh xu thế và những quy định mới của thị trường thế giới, kể các quy định về tính pháp lý nguồn gốc gỗ, nhưng vẫn còn một bộ phận không nhỏ thiếu hiểu biết về các yêu cầu mới của thị trường xuất khẩu. Điều này đồng nghĩa với việc DN đối mặt với rủi ro, nhất là rủi ro về pháp lý trước những quy định nghiêm ngặt như Lacey hay FLEGT.
Một DN xuất khẩu vi phạm sẽ tác động tiêu cực cho cả ngành xuất khẩu gỗ. Diễn biến mới nhất là Hà Lan, thành viên các nước EU, đã đưa Việt Nam vào danh sách kiểm soát như với sản phẩm đồ gỗ chế biến từ Trung Quốc và Ấn Độ. Bởi có DN sử dụng nguồn gốc gỗ từ Lào và Campuchia (trong các sản phẩm gỗ chế biến) mà tính pháp lý còn gây nhiều tranh cãi ở các nước nhập khẩu.
Ngay cả lao động giá rẻ ở Việt Nam ngày càng mất dần ưu thế, thậm chí có thể bị vi phạm nếu như có DN, nhất là các làng nghề sử dụng lao động trẻ em. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vượt qua những nước Đông Nam Á như Malaysia, Thái Lan, Singapore… không nhiều ý nghĩa khi năng suất lao động ngành chế biến gỗ còn thấp, dẫn đến khả năng cạnh tranh suy giảm, kèm theo công nghệ ở mức trung bình và trình độ quản lý chưa cao, lý giải vì sao giá trị gia tăng trên sản phẩm gỗ chế biến Việt Nam lại thấp nhất so với những nước xuất khẩu ở Đông Nam Á.
Bên cạnh một số hạn chế mang tính chất hệ thống như DN nhỏ, nhân công rẻ, giá trị gia tăng thấp, ngành chế biến gỗ còn gặp thách thức lớn hơn, đó là thiếu chính sách đồng bộ từ khâu trồng rừng đến xuất khẩu. Các khâu này vẫn tách rời, chưa có sự kết nối tạo thành chuỗi liên kết, do thiếu chính sách và cơ chế. Đó là hậu quả của một thời gian dài do bị “mặc định” là phá rừng nên ngành này phát triển chủ yếu là do sự vận động tự thân của từng DN, tự phát là chính, chưa có chiến lược phát triển bền vững.
Chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương, ông Huỳnh Quang Thanh cho rằng, thách thức của ngành này là nâng cao năng suất lao động, muốn vậy công nhân phải được đào tạo trước khi vào nhà máy, thay vì DN nhận vào rồi đào tạo. Nhà nước phải bắt tay vào làm. Nhưng điều ông Thanh lo ngại là khi TPP và hàng loạt FTA các nước và khối có hiệu lực tạo ưu thế xuất khẩu, DN những nước không hưởng quy chế này sẽ di chuyển nhà máy sang Việt Nam.
Thực tế này đang diễn ra, làm doanh thu xuất khẩu tăng đột biến, nếu kim ngạch mặt hàng nào đó hơn 10%/năm thì phía Mỹ nghĩ ngay đến hạn chế xuất khẩu, thông qua việc áp dụng hàng rào kỹ thuật hay chống bán phá giá.
Đồng tình với lo ngại này, theo ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TPHCM (HAWA), cộng đồng DN gỗ e ngại DN Trung Quốc phá thị trường. Khi các DN Trung Quốc phải chịu thuế chống bán phá giá rất cao tại thị trường Mỹ, để lách, DN Trung Quốc đã và đang đầu tư sang nhiều nước, nhất là ở Việt Nam.
Những DN này đưa hàng từ Trung Quốc vào Việt Nam, hoàn thiện vài khâu nhỏ, rồi xuất bán sang các thị trường TPP với danh nghĩa hàng Việt Nam để hưởng ưu đãi thuế từ các thị trường này. Khi làn sóng đầu tư ồ ạt vào ngành chế biến gỗ xảy ra, DN Việt Nam sẽ đối mặt với các vụ kiện chống bán phá giá một khi kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường Mỹ tăng nhanh.
Để ngành này phát triển bài bản, không để tự phát như thời gian qua, đòi hỏi cần có chiến lược và chính sách phù hợp như tạo điều kiện cho DN tiếp cận vốn vay trung hạn để thay đổi công nghệ mới, khuyến khích và tạo chuỗi liên kết giữa khâu trồng rừng, khai thác và chế biến gỗ.
Các khâu này thời gian qua chưa có sự hợp tác chặt để nâng cao giá trị từng khâu và khả năng cạnh tranh với sản phẩm nước ngoài nhờ giảm chi phí vận chuyển và giá thành chế biến, nên xảy ra tình trạng vùng nguyên liệu xuất khẩu ván dăm, khu vực chế biến lại nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài. (Sài Gòn Giải Phóng 6/6) đầu trang(
Nhiều “sở trường, sở đoản” của doanh nghiệp (DN) xuất khẩu gỗ Việt Nam đã được chỉ rõ tại Hội thảo “Rủi ro xuất khẩu đồ gỗ trong bối cảnh hội nhập TPP và EVFTA” vừa được tổ chức tại Hà Nội.
Báo cáo của Trung tậm hội nhập WTO thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đưa ra tại hội thảo cho thấy: Ngành gỗ Việt Nam đang “ăn nên, làm ra”. Đội ngũ DN tham gia đông đảo gồm 3.000 DN chế biến và 1.000 DN thương mại với trên 30 vạn lao động. Kim ngạch xuất khẩu năm 2015 đạt gần 7 tỷ USD. Bên cạnh đó, DN tư nhân chiếm trên 80%, trong khi DN FDI chỉ có 14% và 4% là DN nhà nước.
Tuy nhiên, không khó để nhận ra lao động ngành gỗ có tay nghề và năng suất lao động thấp, đang phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu (xấp xỉ 1,7 tỷ USD). Bên cạnh đó, công nghệ chế biến còn hạn chế trong khi giá trị sản phẩm gia tăng thấp.
Câu nói “giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam lên đến 7 tỷ đô nhưng chưa có một sản phẩm nào được dán mác Made in Việt Nam” của ông Nguyễn Tôn Quyền- Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam- dường như đã gói gọn “sở trường, sở đoản” của DN chế biến gỗ xuất khẩu Việt Nam.
Bên cạnh đó, thâm nhập thị trường luôn có các rủi ro và thị trường gỗ cũng không phải là ngoại lệ. Ông Tô Xuân Phúc- chuyên gia của nhóm nghiên cứu thuộc Trung tâm hội nhập WTO của VCCI- đã cung cấp số liệu điều tra về sự hiểu biết của DN tới một số quy định liên quan tới xuất khẩu gỗ gồm: Đạo luật Lacey của Hoa Kỳ; quy định gỗ của châu Âu; Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA/FLEGT); luật cấm gỗ bất hợp pháp của Úc.
Theo đó, qua điều tra 154 DN có hoạt động trong lĩnh vực chế biến gỗ cho thấy, 12,8% DN biết cả 4 quy định; 7,7% biết 3 trong 4 quy định; 23% biết 2 quy định; 28,3% biết 1 quy định và 28,2% không biết quy định nào.
Cũng theo số liệu do ông Tô Xuân Phúc cung cấp, trong số 39 DN đang trực tiếp xuất khẩu các sản phẩm gỗ sang thị trường Mỹ, số DN áp dụng quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế là 13, số DN không có chứng chỉ cho hệ thống quản lý và chất lượng là 26 (chiếm khoảng 67%). Tuy nhiên, những người trong cuộc lại cho rằng, các số liệu nói trên lại không phải là “chân dung” của lĩnh vực xuất khẩu gỗ.
Ông Nguyễn Tôn Quyền nhìn nhận, mặc dù Đạo luật Lacey chặt chẽ, tỉ mỉ, chi tiết nhưng đến thời điểm này có thể khẳng định, DN Việt Nam thực thi rất tốt, không hề có tình trạng lô hàng vi phạm, bị trả về. Điều này cho thấy, DN gỗ xuất khẩu hiểu rất rõ Đạo luật Lacey. Hơn thế, DN Việt Nam đã tham gia xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn như Mỹ, châu Âu đều được chấp nhận.
Dù vậy, vẫn có hai vấn đề đòi hỏi DN gỗ Việt Nam nếu không chủ động giải quyết sớm thì khó có thể tạo ra đột phá khi mà nhiều chỉ số trong chiến lực phát triển ngành lâm nghiệp Việt Nam đến năm 2020 đã lạc hậu.
Thứ nhất, cần nắm bắt được quy định của thị trường xuất khẩu liên quan đến chất lượng và tính hợp pháp của nguồn gỗ nguyên liệu đầu vào. Thứ hai, phải tương tác trực tiếp được với thị trường xuất khẩu thay vì chỉ tương tác với người mua như hiện nay. (Công Thương 4/6) đầu trang(
Các chuyên gia kinh tế cho biết ngành chế biến và xuất khẩu gỗ của nước ta những năm qua có thuận lợi nhờ nhân công giá rẻ nhưng bất lợi là công nghệ còn thấp.
Theo ông Huỳnh Quang Thanh, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương, sự cạnh tranh về giá, chất lượng sản phẩm đối với các đối thủ trong khu vực và Trung Quốc ngày càng gay gắt. Khi lợi thế nhân công giá rẻ không còn, doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu trong nước phải tăng năng suất lao động để cạnh tranh.
Điều này lại phụ thuộc vào đào tạo nguồn nhân lực, mà trong những năm qua vấn đề này còn nhiều bất cập, nhiều người ra trường không đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp.
“Ở các nước phát triển, chẳng hạn như Đức, có trường đào tạo nghề với thời gian thực hành lên đến 80% nên người lao động ra trường là làm việc được ngay. Nước ta muốn thay đổi bất cập này phải có sự hỗ trợ của Nhà nước”, ông Thanh cho biết. (Báo Bình Dương 6/6) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Bộ Kinh tế và Tài chính Campuchia thông báo từ 27.6 - 1.7 sẽ tổ chức bán đấu giá số gỗ khai thác trái phép do giới chức tịch thu từ những khu vực đất tô nhượng kinh tế tại tỉnh Mondulkiri, giáp với VN.
Cụ thể, theo tờ The Phnom Penh Post ngày 7.6, khoảng 60.000 m3 gỗ sẽ được bán với giá khởi điểm 12 triệu USD. Đây là số gỗ đốn trái phép bị tịch thu từ 7 công ty được giao đất tô nhượng kinh tế ở tỉnh Mondulkiri. Trong đó, Công ty Dainam của Trung Quốc có số gỗ bị tịch thu lớn nhất, gần 26.200 m3.
Theo The Phnom Penh Post, các công ty nước ngoài nói trên được chính quyền Campuchia giao nhượng đất để thực hiện các dự án kinh tế, chủ yếu là trồng cây cao su. Tuy nhiên, họ bị phát hiện lén khai thác gỗ sai quy định, khai khống diện tích cần khai hoang để đốn hạ gỗ vượt mức cho phép...
“Các cá nhân hoặc tổ chức hợp pháp, trừ những đối tượng từng phạm tội liên quan đến lâm nghiệp hoặc nợ nhà nước, đều có thể tham gia đấu giá”,The Phnom Penh Post dẫn lời Giám đốc Ban Đấu giá Suong Mengkea cho hay. Tuy nhiên, giới chức không nói rõ có cho phép người nước ngoài tham gia hay không.
Đây là đợt đấu giá gỗ lậu đầu tiên kể từ khi Thủ tướng Hun Sen ra lệnh thành lập đơn vị đặc nhiệm chống khai thác gỗ trái phép hồi tháng 1.2016. Đến nay, lực lượng này đã tịch thu 70.000 m3 gỗ lậu, gồm cả số gỗ sắp được bán đấu giá nói trên. (Thanh Niên 8/6) đầu trang(
Na Uy đã trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới cam kết không phá rừng. Đây được xem là chiến thắng quan trọng chống biến đổi khí hậu và nạn phá rừng trên toàn cầu.
Nghị viện Na Uy đã cam kết chính sách không chặt cây rừng sau khi Ủy ban Các thành viên nghị viện đưa ra những lời đề nghị về việc điều chỉnh các đạo luật, dẫn tới việc đưa Na Uy trở thành nước “không tiếp tay cho việc phá hoại rừng mưa nhiệt đới”.
Na Uy cũng đã gây quỹ ủng hộ những dự án bảo tồn rừng toàn cầu, kèm theo việc ủng hộ các chương trình bảo vệ các cộng đồng sống trong rừng. Ông Nils Hermann Ranum, người đứng đầu chính sách và người chỉ huy chiến dịch bảo vệ rừng tại Tổ chức Rừng mưa nhiệt đới Na Uy, đã tuyên bố: “Đây là một bước tiến dài trong cuộc chiến bảo vệ rừng mưa nhiệt đới. Nhiều năm vừa qua, rất nhiều công ty đã dừng việc sản xuất hàng hóa có liên quan đến việc tàn phá rừng.
Cho đến nay, điều ấy đã không được thực hiện đi kèm các cam kết từ chính phủ. Vì vậy, cam kết này là rất tích cực khi nhà nước Na Uy hiện nay đang đi theo hướng phù hợp khi thực hiện các nhu cầu mua sắm công".
Trong nhiều năm qua, Tổ chức Rừng mưa nhiệt đới Na Uy đã mở chiến dịch nhằm thuyết phục chính phủ thông qua dự luật giảm hoàn toàn tỷ lệ phá rừng xuống con số 0.
Vào năm 2014, Na Uy đã lập một tuyên bố liên kết giữa Đức và Anh tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về khí hậu ở New York, cam kết sẽ hỗ trợ những sản phẩm sản xuất không phụ thuộc vào việc phá rừng.
Trong một nghiên cứu cuối năm ngoái, việc sản xuất thịt bò, dầu cọ và gỗ của 7 nước ( gồm Argentina, Bolivia, Brazil, Paraguay, Indonesia, Malaysia, Papua New Guinea) từ năm 2000 đến năm 2011 đã chiếm 40% trong tổng số cây rừng nhiệt đới bị chặt và 44% tổng lượng khí carbon thải ra môi trường. (Trí Thức Và Công Luận 5/6) đầu trang(./.