|
Ngày 07 tháng 06 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Mục thông tin nhanh qua đường dây nóng báo Nhân Dân cho biết: Nhiều diện tích rừng phòng hộ, khu vực đồi Yên Ngựa, xã Ninh Sơn (thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa) đang bị chặt phá, khai thác trái phép. (Nhân Dân 5/6) đầu trang(
Chiều 3/6, Chi cục Kiểm lâm tỉnh tổ chức hội nghị ký kết kế hoạch phối hợp công tác giữa Chi cục Kiểm lâm với các đơn vị trực thuộc Công an tỉnh Cà Mau trong lĩnh vực bảo vệ, phát triển rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Theo đó, kế hoạch phối hợp với 4 phòng chức năng có liên quan của Công an tỉnh gồm: Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Phòng Cảnh sát giao thông đường thủy; Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ và Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường.
Việc ký kết kế hoạch này nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, hỗ trợ và phối hợp chặt chẽ với nhau để ngăn chặn các vụ chặt phá rừng, vận chuyển, mua bán, kinh doanh trái phép lâm sản, nuôi nhốt, săn bắt trái phép các loài động vật hoang dã quý hiếm và thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn toàn tỉnh. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Cà Mau 4/6) đầu trang(
Biến rừng phòng hộ thành rừng sản xuất, đấy là thực trạng đã được xác nhận tại nhiều diện tích rừng phòng hộ tự nhiên xung yếu ở huyện Hương Khê – Hà Tĩnh. Dù đã có những nỗ lực ngăn chặn nhưng tình trạng xâm lấn trái phép vẫn tiếp tục diễn ra.
Bất chấp nắng nóng tới gần 40 độ C, những khoảnh rừng lên tới cả nghìn m2 vẫn bị người dân đốt phá nham nhở. Dấu vết từ hiện trường cho thấy vụ cháy xảy ra từ cách đây trên dưới chục ngày. Đáng nói đây là diện tích thuộc rừng phòng hộ xung yếu tại tiểu khu 251A giáp ranh giữa 2 xã Phúc Trạch và Hương Lâm huyện Hương Khê.
Những vụ đốt rừng, chặt phá rừng ngay trên chính các khu rừng phòng hộ được người dân địa phương xác nhận là xảy ra thường xuyên và với mục đích là để trồng rừng nguyên liệu. Điều này giải thích vì sao trên những triền rừng phòng hộ trải dài từ Hương Trạch sang Phúc Trạch xuất hiện rất nhiều lô khoảnh bị đốn hạ gần như hoàn toàn để thay thế cho những cây trồng mới, mà phổ biến nhất là keo lá tràm.
Những người dân xin được dấu tên chỉ ra rất nhiều diện tích tại các tiểu khu 251A, 251B, 275… thuộc rừng phòng hộ đã bị xâm lấn trái phép để biến thành rừng sản xuất. Hạt Kiểm lâm huyện Hương Khê và Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Ngàn Sâu cũng thừa nhận có khoảng 171 ha bị lấn chiếm trái phép nhưng theo giải thích thì đấy là do…lịch sử để lại.
Ông Nguyễn Kim Hùng, Trưởng BQL Rừng Phòng hộ Sông Ngàn Sâu – Hà Tĩnh cho hay, tại tiểu khu 213 địa bàn xã Phúc Trạch trước đây cho thành lập Làng thanh niên lập nghiêp. Năm 2012 họ rút khỏi dự án, thiết kế trồng rừng chưa bài bản tạo điều kiện cho dân mở mang diện tích.
Không phủ nhận đã có những sự lỏng lẻo trong quản lý đất rừng của một giai đoạn chuyển giao như cách giải thích của ông Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Ngàn Sâu nhưng ngay cả khi được chấn chỉnh thì nhiều diện tích rừng phòng hộ vẫn tiếp tục bị xâm lấn. Vết tích của những trảng rừng mới bị chặt hạ, đốt phát trong một vài năm gần đây là điều khó có thể biện minh.
Và ngay vào thời điểm chúng tôi thực hiện phóng sự này thì những cột khói vẫn đang tiếp tục bốc lên từ rừng phòng hộ sông Ngàn Sâu, ẩn chứa bên trong rất nhiều điều đáng phải suy nghĩ về sự an nguy của rừng. (ANTV 6/6) đầu trang(
Quần thể rừng lim xã Lăng Thành, huyện Yên Thành là một trong những rừng lim cổ thụ hiếm hoi còn sót lại giữa vùng đồng bằng của tỉnh Nghệ An.
Người dân gọi lim bằng “cụ”, coi các “cụ” như báu vật của làng, truyền đời này sang đời khác. Ấy vậy mà chỉ trong thời gian ngắn Nhưng hàng ngày, các “cụ” đã bị đốn hạ không thương tiếc; diện tích rừng lim đặc dụng này đang co hẹp lại bởi tình trạng chặt, phá lim để canh tác trồng cây lâm nghiệp khác như keo, chàm…
Cách đây vài năm, khi về đây, tôi đã không khỏi sửng sốt khi ngó thấy bạt ngàn lim mọc trên đồi, lim trong vườn nhà dân, lim sinh con đàn cháu đống, to lớn, mạnh khỏe, kiêu hãnh.
Một cụ già từng nói với: “Chẳng thể hình dung nổi điều gì sẽ xảy ra nếu rừng lim Lăng Thành bỗng nhiên biến mất! Dân làng đã đếm từng gốc cổ thụ, đã lớn lên, thân thuộc với rừng cây. Chúng tôi giữ rừng lim như giữ báu vật, như giữ lịch sử, văn hóa của quê hương”.
Quần thể rừng lim xã Lăng Thành thuộc quy hoạch rừng đặc dụng huyện Yên Thành có diện tích 106 ha, trải dài từ xóm 1 đến xóm 8 của xã này, có tuổi thọ hàng trăm năm, với nhiều cây lim lớn đường kính vài người ôm không xuể. Thế mà gần đây khi quay trở lại Lăng Thành, ngôi nhà của các cụ lim đang co hẹp lại bởi tình trạng chặt, phá lim để canh tác trồng cây lâm nghiệp khác.
Có mặt tại khu vực Rú Chùa (thuộc xóm 3, xã Lăng Thành) một diện tích lớn rừng lim bị đốt nhẵn. Trên diện tích đó một số lượng cây keo tràm đã được trồng bén rễ, xanh tốt.
Tiếp tục đi sang sườn đồi bên kia thì cảnh tượng càng xót xa hơn: những “cụ” lim bị chặt nham nhở, cành lá xơ xác. Một số gốc lim có đường kính khoảng 30cm bị cắt đến tận gốc bằng cưa máy. Xung quanh nhiều cây gỗ loại khác có đường kính từ 30 đến hơn 60cm cũng đã bị cắt tận gốc.
Những gốc cây bị cắt được che đậy sơ sài bằng những cành, lá cây được chặt xuống còn thân đã được chuyển đi. Lần theo vành đai khu rừng đặc dụng này, nhiều diện tích rừng lim khác của xã Lăng Thành cũng bị đốt và dấu xích máy xúc đào xới.
Làm việc với ông Hoàng Danh Thọ, chủ tịch UBND xã Lăng Thành, ông Thọ thừa nhận ngoài khu vực Rú Chùa vừa được phát hiện thì có 120 hộ dân trong tổng số 130 hộ dân được cấp đất trong khu vực rừng lim đặc dụng của xã này đã phát quanh trồng xen cây keo nguyên liệu. Trong đó, có nhiều hộ gia đình đã trồng keo nguyên liệu và thu hoạch được đến vụ thứ 3.
Tuy nhiên, số lượng rừng đặc dụng đã bị người dân xâm canh trồng cây keo nguyên liệu là bao nhiêu thì ông Thọ không nắm được. Việc xử lý các hộ vi phạm cũng chưa được thực hiện. Theo lý giải của ông Thọ, việc bảo vệ rừng lim đặc dụng tại địa phương này gặp khó khăn vì diện tích rừng đặc dụng này đã được UBND huyện Yên Thành cấp quyền sử dụng đất 50 năm cho 130 hộ từ năm 2001.
Cùng với đó kinh phí để bảo vệ rừng lim đặc dụng này không có. Để bảo vệ rừng lim, hàng năm xã Lăng Thành phải trích 11 triệu đồng từ nguồn kinh phí địa phương để trả công cho lực lượng bảo vệ.
Trao đổi về sự việc trên, ông Nguyễn Văn Dương, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Yên Thành khẳng định: Rừng đặc dụng là không được khai thác, xâm hại. Nhưng khi được phóng viên báo tin rừng lim đặc dụng tại xã Lăng Thành đang bị xâm hại thì ông Dương thừa nhận chưa biết sự việc trên.
Ông Dương cũng cho biết cuối năm cuối năm 2015 huyện có đi kiểm tra thì không phát hiện việc xâm hại của người dân đến rừng đặc dụng!? Trong khi đó, nhiều hộ dân tại Lăng Thành đã trồng keo, tràm và cho thu hoạch.
Ông Nguyễn Trọng Thực, Hạt trưởng hạt kiểm Lâm Yên Thành chia sẻ, để bảo vệ rừng lim đặc dụng này hạt kiểm lâm này cũng thường xuyên cử cán bộ xuống địa bàn tuyên truyền, theo dõi. Nhất là sau hiện tượng xâm hại vừa qua Hạt kiểm lâm huyện cũng cán bộ Chi cục kiểm lâm tỉnh cũng đã xuống kiếm tra, đánh giá.
Nhưng ông Thực cũng bày tỏ quan ngại: “Việc người dân trồng cây xen chỉ là để có nguồn thu nhập bởi đất rừng đó đã được giao quyền sử dụng đất cho người dân. Tuy nhiên, cũng không loại trừ một số người lợi dụng vào việc này xâm hại đến số lim trong khu vực rừng đặc dụng”.
Còn theo ông Phan Tiến Sỹ, Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ Yên Thành cho biết: “Thời gian qua có nhiều hộ dân có trồng xen cây keo nguyên liệu trên diện tích gia đình được cấp quyền sử dụng đất. Sau khi nghe phản ánh, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện đã đi kiểm tra và cũng có phát hiện một vài hộ dân có chặt cành xâm hại đến một số cây lim”.
Tuy nhiên, cho đến tận lúc này, số lim bị chặt phá đi về đâu? Việc xử lý các hộ vi phạm như thế nào? Và ai là người chịu trách nhiệm cho rừng lim hàng trăm năm tuổi bị tàn phá thì vẫn chưa có câu trả lời. (Giáo Dục Và Thời Đại 6/6) đầu trang(
Thực hiện Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ”, UBND tỉnh Bình Thuận đã ban hành Kế hoạch số 5907/KH-UBND ngày 19/12/2011 về việc tổ chức thực hiện Chỉ thị số 1685/TTg, chỉ đạo các sở, ngành, địa phương triển khai thực hiện và đến nay đã đạt được nhiều kết quả tương đối khá.
Đến cuối tháng 1/2012, các sở, ban, ngành cấp tỉnh và 10/10 huyện, thị xã, thành phố đã xây dựng kế hoạch và tổ chức quán triệt triển khai thực hiện toàn diện các nội dung Chỉ thị số 1685/CT-TTg và Kế hoạch số 5907/KH-UBND cho cán bộ chủ chốt và lãnh đạo UBND các xã, phường, thị trấn.
Định kỳ các cấp, các ngành đều tổ chức sơ kết đánh giá những việc đã làm được, những nội dung còn tồn tại, hạn chế, trên cơ sở đó rút kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo, điều hành giải quyết các công việc, đề ra giải pháp triển khai trong thời gian tới, xác định rõ trách nhiệm của từng đơn vị, bộ phận, cá nhân và thường xuyên phối hợp chặt chẽ để thực hiện đạt hiệu quả.
Riêng ngành nông nghiệp đã chỉ đạo cho 9 hạt kiểm lâm cấp huyện và đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng tỉnh, 18 ban quản lý rừng phòng hộ, khu bảo tồn thiên nhiên, 4 công ty lâm nghiệp tổ chức hội nghị toàn đơn vị và 295 hộ nhận khoán bảo vệ rừng tham gia, do thủ trưởng đơn vị trực tiếp quán triệt, triển khai.
Đồng thời chỉ đạo các hạt kiểm lâm tham mưu cho UBND cấp huyện nắm danh sách và tổ chức quán triệt cho 220 người là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, chủ hộ, cá nhân được Nhà nước giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn.
Qua gần 5 năm thực hiện Chỉ thị số 1685/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tính từ tháng 1/2012 đến tháng 3/2016, tổng số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng được phát hiện và xử lý tại Bình Thuận là 4.005 vụ, trong đó xử lý hành chính 3.923 vụ, khởi tố hình sự 82 vụ.
Tình trạng phá rừng chủ yếu xảy ra ở các khu vực rừng tự nhiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống và vùng giáp ranh với tỉnh Lâm Đồng với mục đích lấy đất sản xuất các loài cây nông nghiệp ngắn ngày và cây công nghiệp như cà phê, chè, cao su... và sang nhượng trái pháp luật. Đối tượng trực tiếp thực hiện hầu hết là đồng bào dân tộc thiểu số địa phương và dân giáp ranh của tỉnh Lâm Đồng. Qua thống kê, tổng số vụ phá rừng là 203 vụ; diện tích rừng bị phá 54,76 ha (cụ thể năm 2012 là 36,39 ha; năm 2013 là 9,63 ha, năm 2014 là 3,35 ha và năm 2015 là 5,39 ha).
Riêng về tình hình vận chuyển gỗ trái pháp luật diễn biến rất phức tạp dưới hình thức chủ yếu là các loại xe ô tô, hoán cải, xe mô tô độ, tự chế… Ngoài ra tại vùng giáp ranh với huyện Đạ Hoai, tỉnh Lâm Đồng, vào mùa mưa một số nơi lâm tặc còn lợi dụng mực nước và dòng chảy của sông, suối để vận chuyển gỗ bằng bè và ghe thuyền.
UBND tỉnh Bình Thuận đã chỉ đạo lực lượng kiểm lâm tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát ngăn chặn tình trạng khai thác, mua bán, vận chuyển gỗ trái pháp luật, trong đó tập trung cho khu vực giáp ranh giữa tỉnh Bình Thuận với tỉnh Lâm Đồng và những vùng trọng điểm trong nội tỉnh.
Đồng thời phối hợp chặt chẽ cùng các ngành liên quan, chính quyền địa phương tăng cường quản lý, kiểm tra hoạt động chế biến lâm sản trên địa bàn tỉnh. Từ năm 2012 đến 2015, đã phát hiện và xử lý 1.389 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật; 1.671 vụ tàng trữ, cất giấu lâm sản; 85 vụ vi phạm quy định về chế biến gỗ…; tịch thu 4.487,82 m3 gỗ các loại, 7 ô tô, 33 xe do trâu bò kéo, 857 mô tô và 1 thuyền.
Việc chống người thi hành công vụ, chủ yếu xảy ra giữa các đối tượng di cư tự do với lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách của các đơn vị chủ rừng, có lúc nổi lên gay gắt và diễn ra khá phức tạp. Các đối tượng phá rừng lợi dụng số đông, sử dụng hung khí, có trường hợp sử dụng súng tự chế tấn công gây thương tích cho lực lượng thi hành công vụ. Sau khi tiếp nhận thông tin các vụ việc xảy ra, UBND tỉnh đã kịp thời chỉ đạo lực lượng liên ngành như công an, quân đội, kiểm lâm khẩn trương điều tra, xác minh, xử lý theo quy định pháp luật.
Từ năm 2012 – 2015, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 49 vụ chống người thi hành công vụ trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng. Qua xác minh, điều tra, đã truy tố xét xử 8 vụ với 25 bị cáo (mức án từ 4 tháng đến 7 năm tù giam cho 23 bị cáo và 6 tháng tù cho hưởng án treo 2 bị cáo); xử lý hành chính 7 vụ; các vụ còn lại qua điều tra chưa đến mức xử lý nên đã nhắc nhở, yêu cầu chấp hành nghiêm quy định của pháp luật.
Hiện nay, UBND tỉnh Bình Thuận đang tiếp tục chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND các huyện, thị xã và các ngành, đơn vị liên quan tích cực đẩy mạnh thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ theo Chỉ thị số 1685/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và theo Kế hoạch số 5907/KH ngày 19/12/2011 của UBND tỉnh. (Báo Bình Thuận 6/6) đầu trang(
Các đối tượng lợi dụng Dự án trồng cam sành để phát phá, lấn chiếm nhiều hecta rừng. Gỗ, tre.., bị đốn hạ ngổn ngang, đợi khô sẽ đốt cháy hàng loạt
Rất đông người dân sinh sống ở huyện Hàm Yên (Tuyên Quang) cùng có chung phản ánh tới Tòa soạn Phapluatplus.vn về tình trạng hàng trăm hecta rừng bảo tồn, rừng đầu nguồn lần lượt bị "hô biến" trong vài năm trở lại đây.
Sáng 3/6/2016, phóng viên Phapluatplus.vn đã có mặt tại địa bàn xã Minh Dân để ghi nhận tình hình thực tế. Chẳng phải đi đâu xa, chỉ cần đứng ngay gần trụ sở UBND xã này đã có thể quan sát thấy cả một dãy đồi núi nham nhở dấu vết của "lâm tặc". Nhiều cánh rừng bị xâm hại nghiêm trọng.
"Lâm tặc" luồn dưới những tán cây to để phát phá, đợi khô sẽ đốt cháy rụi hàng loạt, rồi sau đó mang cây cam trồng vào để hợp thức hóa. Lý do mất rừng đơn giản là như vậy. Trao đổi với phóng viên Phapluatplus.vn, ông Nguyễn Bá Lệ - Chủ tịch UBND xã Minh Dân cho biết: "Trên địa bàn xã không có rừng đặc dụng mà phần lớn là rừng phòng hộ và sản xuất. Từ ngày có Dự án trồng cam sành của tỉnh, người dân trong xã thường xuyên len lỏi trong rừng để phát phá. Việc lấn chiếm đất rừng để trồng cam là có thật!".
Ông Lệ khẳng định thêm: "Cụ thể ngày 30/4 vừa qua, ngay phía sau trụ sở Ủy ban, nhiều đối tượng cũng tổ chức chặt phá, chúng còn cử người theo dõi các hoạt động của các cán bộ xã. Nếu có động, chúng báo cho đội khai thác bỏ chạy ngay. Tại khu vực Gò Mèo (xã Minh Dân) cũng có hơn 1ha rừng bị triệt hạ. Thời điểm hiện tại, đã bắt được một đối tượng và cơ quan chức năng đang lập hồ sơ để xử lý".
Trước đề nghị được xem Dự án trồng cam sành Hàm Yên mà xã đang thực hiện, ông Lệ lắc đầu từ chối với lý do "không có, đề án đó là của tỉnh".
Trong suốt buổi làm việc, vị Chủ tịch xã luôn nêu ra những khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ rừng: Lực lượng kiểm lâm và cán bộ xã quá mỏng; vốn dự phòng chỉ có 39 triệu đồng không đủ chia cho anh em tuần rừng, cùng đó, những đối tượng phá rừng lại rất manh động xảo quyệt.
"Bị xử lý mạnh tay thì những đối tượng này tỏ thái độ hằn học bất hợp tác, đã có trường hợp đe dọa kiểm lâm và lực lượng tuần rừng" - Chủ tịch UBND xã Minh Dân ngao ngán cho biết. Ông Lệ tiết lộ thêm: "Riêng năm 2014, đã có hơn 7ha bị phát phá, lấn chiếm. Từ năm 2015 đến nay thì đang cho anh em kiểm lâm đi kiểm tra để thống kê nên chưa có con số cụ thể".
Sau khi được xem hình ảnh phóng viên ghi nhận khoảnh rừng mới bị xâm hại, ông Lệ khẳng định ngay đó là khu Gò Mèo thuộc xã Minh Dân. Hiện UBND xã đang phối hợp với lực lượng kiểm lâm trong địa bàn tiếp tục mật phục khu vực này để bắt giữ đối tượng phá rừng.
Qua điện thoại, ông Phạm Tú - một đại diện phía Kiểm lâm huyện Hàm Yên cũng cho Phapluatplus.vn biết, toàn bộ những khu rừng đứng dưới đường nhìn thấy đều là rừng sản xuất, được người dân trồng xen kẽ cam vào từ trước đó. Những diện tích này được khoanh vùng theo Dự án cam sành Hàm Yên của tỉnh.
Ngay khi phóng viên tiếp tục hỏi về các địa danh và chủng loại rừng bị xâm hại, vị cán bộ này vội vàng kêu bận và nhanh chóng... tắt phụt điện thoại .
Thực tế nhiều hecta rừng trên địa bàn xã Minh Dân (huyện Hàm Yên Tỉnh tuyên Quang) bị "hô biến" và đang biến mất dần theo tháng ngày là có thật, đã xảy ra qua nhiều năm trở lại đây. Những kẻ không quản ngày đêm, bất chấp mọi thủ đoạn để tàn phá rừng giờ đây lại đang mặc nhiên khoác cho mình danh nghĩa "làm dự án trồng cam" để tiếp tục phá rừng.
Rất tiếc, câu hỏi về trách nhiệm quản lý của chính quyền và các cơ quan hữu quan tại tỉnh Tuyên Quang trước thực trạng đáng lo ngại này hiện vẫn còn đang bị bỏ ngỏ. (Pháp Luật + 6/6) đầu trang(
Ngày 5.6, ông Bùi Tiến Dũng, Phó Chủ tịch UBND huyện An Lão, cho biết: Thời gian qua, tình hình phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp vùng đầu hồ Sông Vố diễn biến phức tạp, nhất là vùng giáp ranh giữa xã An Trung và thị trấn An Lão.
Trước thực trạng này, UBND huyện đã thống nhất chủ trương để Hạt Kiểm lâm huyện An Lão tổ chức chốt chặn, tuần tra và kiểm soát lâm sản ở khu vực rừng đầu nguồn hồ Sông Vố từ ngày 30.5 đến hết ngày 30.8.2016.
Tổ công tác bao gồm lực lượng của Ban quản lý rừng phòng hộ An Lão, UBND thị trấn An Lão và UBND xã An Trung. Tổ công tác có nhiệm vụ phát hiện, ngăn chặn và xử lý kiên quyết các trường hợp vi phạm Luật Bảo vệ - phát triển rừng. (Báo Bình Định 5/6) đầu trang(
Lợi dụng việc nạo vét lòng hồ chống hạn nhiều đối tượng đã đào bới gốc thủy tùng, ảnh hưởng đến bảo tồn phát triển quần thể thực vật quý hiếm này
Trước đó, giữa tháng tư vừa qua, UBND huyện Ea H’leo đã có chủ trương cho phép Công ty Cổ phần Phát triển Nông nghiệp Việt Mỹ nạo vét lòng hồ Ea Ral để chống hạn, qua đó công ty thu gom bùn để bù đắp chi phí nạo vét lòng hồ.
Tuy nhiên trong quá trình khai thác bùn, nhiều gốc thông nước (hay còn gọi là thủy tùng, thuộc nhóm 1A) đã lộ ra, khiến nhiều đối tượng lợi dụng đào bới, trục vớt loại gỗ quý hiếm này, gây ảnh hưởng đến công tác quản lý, bảo vệ và phát triển quần thể thông nước.
Trong mấy ngày qua, Hạt Kiểm lâm huyện Ea H’leo đã thu giữ hơn 7 mét khối gốc thủy tùng. Trước tình hình đó, chính quyền địa phương đã chỉ đạo chấm dứt việc nạo vét lòng hồ Ea Ral.
Ông Y Thắng Ê Ban, Phó chủ tịch UBND huyện Ea H’leo cho biết: “Sau khi có tình trạng múc được gốc lên thì người dân ồ ạt tới lấy gốc bán để trục lợi cá nhân, thì từ đó chúng tôi có công văn chỉ đạo là ngăn chặn không cho vét lòng hồ nữa để bảo vệ số gốc thủy tùng và những cây thủy tùng ven lòng hồ.
Chúng tôi cũng có công văn chỉ đạo yêu cầu công ty cổ phần phát triển nông nghiệp Việt Mỹ ngừng mọi hoạt động vét lòng hồ, thu dọn máy móc và không dược hoạt động ở lòng hồ nữa”.
Hồ Ea Ral rộng hơn 12 ha, nằm trong vùng quy hoạch Khu Bảo tồn loài sinh cảnh thông của tỉnh Đắc Lắc. Hiện khu bảo tồn này còn 270 cây thủy tùng có giá trị về kinh tế, khoa học, được xếp vào loại thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cần được ưu tiên bảo vệ. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 6/6) đầu trang(
Gần đây, những vụ vận chuyển gỗ lậu bằng đường sông ở khu vực giáp ranh hai tỉnh Phú Yên và Gia Lai có chiều hướng gia tăng và khó ngăn chặn.
Phía thượng nguồn dòng sông Krông Năng là hơn 5.000ha rừng phòng hộ đầu nguồn của Gia Lai. Đây cũng là địa bàn tập trung khai thác gỗ trái phép của lâm tặc. Không đi bằng đường bộ, gỗ khai thác trái phép được chuyển xuống hạ nguồn bằng đường sông.
Theo Trạm trưởng Trạm kiểm lâm xã Krông Năng, việc ngăn chặn vận chuyển gỗ lậu bằng đường sông rất khó bởi "trước đây phải thuê đò của dân để đi nhưng dân sợ lâm tặc trả thù nên không hợp tác. Giờ có xuồng nhưng xuồng nhỏ, ghe của lâm tặc lại lớn nên khó tiếp cận".
Địa bàn giáp ranh giữa ba tỉnh Phú Yên, Gia Lai và Đăk Lăk là khu vực có diện tích rừng phòng hộ, rừng tự nhiên khá lớn ở khu vực Tây Nguyên, chưa kể diện tích rừng trồng. Do đó, nơi đây trở thành khu vực phức tạp về nạn khai thác, vận chuyển gỗ lậu.
Vì gỗ khai thác trái phép hiện được vận chuyển chính bằng đường sông nên việc thành lập một Ban quản lý rừng gồm 5 xã giáp ranh với Phú Yên và Đăk Lăk đã được tỉnh Gia Lai tính đến. Tuy nhiên, về lâu dài ngăn chặn nạn vận chuyển gỗ lậu rất cần sự phối hợp đồng bộ của tất cả các địa phương có rừng. (Đài Truyền Hình Việt Nam 6/6) đầu trang(
Thiếu đất sản xuất, đối mặt với đói nghèo, bất đắc dĩ người dân phải phá rừng làm rẫy, lấn chiếm đất của các lâm trường.
Thực trạng đáng báo động đã và đang xảy ra tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nhiều năm qua. Tìm lời giải cho bài toán, giúp nhân dân ổn định cuộc sống, cần một sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt từ nhiều cấp bộ, ngành, địa phương...
Hơn 10 năm nhường đất để xây dựng thủy điện An Khê – Ka Nak thượng nguồn sông Ba, cũng là ngần ấy thời gian gần 100 hộ dân làng Groi, thị trấn Kbang, tỉnh Gia Lai nói riêng, hàng trăm hộ dân khác vùng hạ du sông Ba nói chung đang “khát” đất sản xuất. Đời sống nhân dân đối mặt chồng chất khó khăn.
Hơn 3ha rẫy sản xuất ổn định bao đời nay của gia đình ông Grươm, dân tộc Ba Na ngày ấy nay đã ngập trong lòng hồ Ka Nak. Đổi lại, BQL thủy điện 7 - Tập đoàn điện lực Việt Nam cam kết sẽ đền bù thỏa đáng, đồng thời cùng chính quyền tính toán bố trí đất sản xuất cho gia đình ông, song đến nay ông vẫn chưa nhận được đúng những gì như cam kết.
Thiếu đất, đời sống gia đình ông quanh năm đối mặt với cảnh đói nghèo, chạy ăn từng bữa. “Bà con mình nhận được một phần tiền đền bù hoa màu của thủy điện đã tiêu hết rồi. Giờ đất rẫy không còn, đời sống khó khăn lắm. Tranh thủ mùa nước rút, bà con phải trở về rẫy cũ trồng ít ngô, đậu nhưng vẫn không đủ ăn. Bà con chỉ mong chính quyền các cấp tạo điều kiện chuyển dân đi chỗ khác có đất sản xuất để ổn định, chứ sống tạm bợ thế này, cái đói cứ bu bám hoài” - ông Grươm bộc bạch.
Không chỉ ông Grươm, hàng trăm hộ dân làng Groi và các bản làng khác của huyện Kbang, Iapa, Phú Thiện nhiều năm qua ai cũng mong mỏi có một ngày điều đó sẽ được thực hiện, nhưng chưa đâu vào đâu.
Ông Hồ Trung Hưng – Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân H. Kbang, tỉnh Gia Lai tỏ ra bức xúc không kém người dân. Ông Hưng cho rằng, đây là hậu quả của việc thực hiện chính sách đền bù, hỗ trợ, tái định canh, định cư chưa đảm bảo quyền và lợi ích cho người bị thu hồi đất. Rất nhiều nơi của H. Kbang và những huyện lân cận nhường đất sản xuất cho thủy điện, rồi người dân phải đối mặt với thực trạng thiếu đất sản xuất nhiều năm qua.
“Từ khi dự án thủy điện An Khê – Ka Nak nút cống hồ chứa từ tháng 9-2010, hiện nay đã phát điện nhưng có khoảng 140ha đất sản xuất phải bố trí cho nhân dân vùng hạ du sông Ba chưa tìm ra nguồn để giải quyết, trong đó có hơn 90 hộ dân làng Groi. Bà con bức xúc, huyện cũng vậy, xong chưa thể tìm ra giải pháp gì hữu hiệu” – ông Hưng nói.
Bên cạnh câu chuyện thủy điện, việc chuyển đổi rừng nghèo cũng dẫn đến thực trạng người dân thiếu đất sản xuất. Theo đánh giá của Ban chỉ đạo Tây Nguyên và các địa phương thì, lâu nay đất và rừng giao cho tư nhân, cho thuê 50-70-90 năm thì... mua như lấy, bán như cho! Trong khi đó, người dân tại chỗ cần đất thì không có đất sản xuất. Cứ có ai ở đâu đó tới xin đất thì được thuê, trở thành ông chủ, còn người dân thì đi làm thuê, nhưng doanh nghiệp cũng chỉ nhận nhỏ giọt những người có kinh nghiệm...
Theo thống kê của Ban chỉ đạo Tây Nguyên, toàn vùng hiện còn khoảng hơn 30.000 hộ dân, chủ yếu là vùng đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất với tổng diện tích trên dưới 20.000ha, trong đó nóng nhất là Gia Lai với gần 10.000 hộ... Từ câu chuyện “khát” đất sản xuất, những hệ lụy tất yếu đã xảy ra. Trong thời gian chờ được giải quyết đất sản xuất hợp pháp, bà con nhiều nơi đã có hành động bất đắc dĩ phá rừng phòng hộ, rừng thuộc các đơn vị nhà nước quản lý để lấy đất canh tác. Như huyện Iapa, Kbang, An Khê (Gia Lai), nhiều người đã vào rừng phòng hộ Chư Mố phát rừng làm rẫy.
Ông Ksor Ban, xã Chư Mố cho biết, vì đói nghèo, thiếu đất sản xuất, bà con không còn cách nào khác là vào rừng phòng hộ phát rừng làm rẫy. Biết là vi phạm, nhưng bà con trong khi chờ Nhà nước cấp đất sản xuất ổn định không thể ngồi yên nhịn đói. Khi có đất rồi, bà con sẽ tự nguyện trả lại đất rừng đã lấn chiếm ngay lập tức. Trong khi đó, tại H. Krông Bông, tỉnh Đắc Lắc, thực trạng người dân đua nhau đi phá rừng làm rẫy cũng đang rất phức tạp.
Anh Y Phối, dân tộc Ê Đê, buôn Hàng Năm, xã Yang Mao, H. Krông Bông cho rằng, do cơ chế hưởng lợi cho cộng đồng không cụ thể, nên không khuyến khích được người dân nêu cao tinh thần trách nhiệm. Nhiều hộ tham gia quản lý bảo vệ rừng, nhưng vì đói nghèo, thiếu đất sản xuất, họ đã tham gia lấn đất rừng của một số lâm trường để phát rừng làm rẫy, trồng lúa...
Theo ghi nhận của chúng tôi, trong khi bà con dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên đang thiếu đất sản xuất, thì việc đã chuyển đổi hàng chục ngàn héc-ta rừng nghèo trong vùng cũng chưa giải quyết được cho người dân, vì phần lớn diện tích đã chuyển đổi bằng nhiều cách nào đó đều thuộc về doanh nghiệp. Thêm vào đó, việc giải quyết công ăn việc làm cho người dân cũng chưa được quan tâm.
Ông Trần Việt Hùng, Phó trưởng Ban Thường trực Ban chỉ đạo Tây Nguyên đề nghị UBND tỉnh Gia Lai rà soát lại để giải quyết những tồn tại, đảm bảo chủ trương chuyển đổi rừng nghèo của Chính phủ đạt các mục tiêu đề ra là phục vụ tạo sinh kế, phát triển đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương.
Theo ông Hùng, việc chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su ở Gia Lai chưa đi đúng hướng. Vì theo chủ trương của Chính Phủ, mục tiêu chính của chuyển đổi rừng nghèo là để phục vụ tạo sinh kế và tăng thu nhập của người dân, đặc biệt là người dân bản địa. Tuy nhiên, việc chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su ở Gia Lai nói riêng, các tỉnh Tây Nguyên nói chung hiện nay mới chủ yếu phục vụ lợi ích của các doanh nghiệp.
Để tạo quỹ đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, thuận tiện trong quản lý và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhiều năm qua, một số địa phương đã đề xuất các giải pháp hợp thức hóa đất bà con đã khai phá, lấn chiếm từ đất rừng hoặc chuyển đổi đất rừng cho bà con.
Tuy nhiên, việc này gặp nhiều vướng mắc do phải có sự phối hợp của nhiều bộ ngành. Theo chúng tôi, trong khi hàng chục ngàn hộ dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên đang chờ được cấp đất sản xuất, cần thiết có sự vào cuộc tích cực của các bộ, ngành và chính quyền các cấp.
Ban chỉ đạo Tây Nguyên cho hay, trong chuyến công tác đến Tây Nguyên trước khi kết thúc nhiệm kỳ, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang từng rất trăn trở về chuyện đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây thiếu đất sản xuất. Đồng chí nhấn mạnh rằng: Thực trạng người Tây Nguyên thiếu đất sản xuất là nghe không được, khó có thể chấp nhận được, nhất là nhân dân bản địa đã gắn bó với Tây Nguyên bao đời nay.
Đồng chí Trương Tấn Sang yêu cầu các ngành, các địa phương phải kiểm kê lại đất đai, tìm mọi cách, tính mọi cách để bà con vốn là hộ làm nông phải có đủ đất sản xuất, ổn định cuộc sống. Bên cạnh đó, cần vận động bà con không bán đất, phải giữ đất, tránh tình trạng nhiều người lợi dụng lúc bà con khó khăn, bỏ tiền ra gom mua đất của bà con, đồng thời cần phải tạo điều kiện để bà con được tiếp cận với các nguồn vốn ưu đãi đầu tư cho việc thâm canh, phát triển sản xuất. (Công An TP.Đà Nẵng 6/6) đầu trang(
Bạch Long Vỹ là một huyện đảo thuộc thành phố Hải Phòng, nằm trên hòn đảo cùng tên với diện tích khoảng 2,5km2 khi có thủy triều lên và khoảng 4km2 khi thủy triều xuống.
Với vị trí địa chính trị có tầm quan trọng chiến lược, đảo Bạch Long Vĩ được xác định là một trong những đảo tiền tiêu trên Vịnh Bắc Bộ.
Trong những năm gần đây, việc phát triển kinh tế biển đã góp phần nâng cao thu nhập cho ngư dân. Nhưng việc khai thác các nguồn lợi biển quá mức đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái và suy giảm nhiều loài sinh cảnh biển, gây tác động đến nguồn sinh kế của cộng đồng ngư dân tại đây.
Theo đánh giá của phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, khu hệ sinh vật khu vực quanh đảo Bạch Long Vĩ phát triển tương đối phong phú, dựa trên sự tồn tại của hệ sinh thái rạn san hô được đánh giá là một trong những vùng rạn san hô tốt nhất ở vùng biển phía Bắc Việt Nam.
Các rạn san hô quanh đảo bạch Long Vỹ cung cấp nơi sinh cư và nơi kiếm ăn cho các loài động, thực vật biển, là điều kiện duy trì và phát triển nguồn lợi sinh vật biển cho đảo Bạch Long Vĩ nói riêng và khu vực Vịnh Bắc Bộ nói chung.
Với vai trò, vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế biển, đảo Bạch Long Vĩ được đánh giá là một trong những vùng biển ở Việt Nam có mức độ đa dạng sinh học cao, hệ sinh thái rạn san hô phong phú và nhiều loài động thực vật quý hiếm.
Đặc biệt nhất ở đây là hệ sinh thái rạn đá-san hô, hệ sinh thái quan trọng trong vùng biển ven đảo Bạch Long Vĩ đã được điều tra tương đối đầy đủ. Hệ sinh thái san hô phân bố hầu khắp bốn xung quanh đảo với mức độ khác nhau về thành phần loài và độ phủ.
Sâu hơn nữa là đáy bùn cát, nơi có nhiều san hô mềm và cỏ biển phân bố nhưng chưa được điều tra kỹ. Diện tích phân bố ước tính khoảng 5km2, phạm vi vươn xuống sâu từ 0m đến khoảng 25m nhờ có độ trong của nước cao, có chỗ vươn xa tới 1.500m. Thành phần loài của khu hệ động thực vật trên vùng rạn rất phong phú và đa dạng.
Cho đến nay, đã thống kê được 94 loài san hô thuộc 27 giống, 12 họ. Về phân bố thành phần loài và độ phủ, rạn ở phía Tây Bắc đảo có số lượng loài cao hơn, 81 loài, độ phủ đạt tới 94% bề mặt đáy ở vùng sát bờ. Số lượng loài và độ phủ giảm dần về hai phía quanh đảo, thấp nhất là phía Nam đảo mới ghi nhận được 16 loài, độ phủ chỉ đạt 2,6%.
Ngoài san hô, các nhóm sinh vật khác như rong cỏ biển đã ghi nhận được 65 loài rong và 1 loài cỏ biển; động vật đáy 125 loài. Trong số này nhiều loài có giá trị kinh tế quan trọng, đặc biệt là loài bào ngư, sản lượng có năm đạt tới 50 tấn, nhưng do khai thác quá mức và liên tục nên sản lượng giảm xuống còn vài tấn trong những năm gần đây.
Một số nhóm sinh vật khác sống trôi nổi trong tầng nước phía trên rạn cũng đã được nghiên cứu và thống kê như thực vật phù du với 227 loài; động vật phù du 110 loài, thuộc về 5 ngành, 5 lớp, 13 bộ, 33 họ và 53 giống; nguồn giống tôm, trứng cá-cá con với 14 nhóm họ tôm và 8 họ cá bột; cá biển 451 loài, trong đó có 58 loài cá san hô.
Có 17 loài thực vật ngập mặn thuộc nhóm chịu mặn, nhóm nội địa và nhóm gia nhập, trong đó hai nhóm sau có số loài là 6, nhóm đầu tiên có số loài là 5 như các họ mắm, họ đước, họ cỏ gà, họ rau muống biển.
Thực vật ngập mặn ở Bạch Long Vĩ chỉ phân bố ở vùng triều cao và trên triều. Vùng đáy cát phía Nam đảo chủ yếu có rau muống biển và cỏ gà, trên nền sỏi đá phía Tây có dứa dại, xương rồng và cỏ lào. Nhưng đến năm 2009, diện tích rừng ngập mặn trên đã bị mất do xói lở, chỉ còn lác đác vài cây.
Động vật đáy với 125 loài động vật đáy ở vùng nước quanh đảo Bạch Long Vĩ, nhóm thân mềm chiếm ưu thế tuyệt đối trong cấu trúc hệ động vật đáy (95 loài thuộc 37 họ, chiếm 76,0% tổng số loài). Tiếp đến là giáp xác: 16 loài thuộc 6 họ, chiếm 12,8%; da gai 8 loài, 5 họ chiếm 6,4%. Cuối cùng là giun đốt, 6 loài, thuộc 5 họ, chiếm 4,8%.
Nguồn lợi sinh vật phù du ở khu vực này khá phong phú với 227 loài thực vật phù du và 110 loài động vật phù du đã được phát hiện. Số lượng loài động vật phù du cao nhất đã được phát hiện ở đây là khoảng 110 loài, thuộc về 5 ngành, 5 lớp, 13 bộ, 33 họ và 56 giống, bằng khoảng 60,5% so với toàn Vịnh Bắc Bộ.
Ngư dân trên đảo cho biết vùng nước quanh Bạch Long Vĩ thỉnh thoảng có rùa biển lên các bãi cát đẻ trứng với số lượng không nhiều (khoảng 1-2 cá thể/năm). Ngoài ra cá heo đôi lúc cũng bị mắc lưới của ngư dân hoặc chết và trôi dạt vào bờ.
Tuy đảo Bạch Long Vĩ rất nhỏ nhưng lại có nhiều tiềm năng lớn. Đó là chế biến, dịch vụ hậu cần nghề cá, bảo tồn biển và phát triển nuôi trồng hải sản, tương lai không xa là phát triển du lịch, dịch vụ dầu khí, hàng hải, cứu hộ, cứu nạn... Tuy vậy, sau 16 năm xây dựng và phát triển huyện đảo đã bộc lộ nhiều vấn đề bất cập, ảnh hưởng lớn đến môi trường và bảo tồn biển khu vực huyện đảo này.
Về chế biến, hiện chỉ có một xưởng sản xuất bột cá công suất 80 tấn/ngày nhưng đã gây bức xúc lớn trên địa bàn do hôi thối, rác bẩn và nước thải. Trung bình mỗi năm có từ 300-1.000 tàu thuyền vào neo đậu trong âu cảng và khu vực ven bờ gây ô nhiễm nặng cho khu vực.
Do chưa quản lý tốt và chưa có cơ chế đủ mạnh, nêu hầu hết các tàu, thuyền thường xả rác và nước thải, dầu thải trực tiếp xuống lòng âu và ven bờ đảo. Tình trạng dùng chất nổ khai thác thủy sản chưa được ngăn chặn triệt để, khu bảo vệ nguồn lợi 6m nước thường xuyên có nhiều lao động dùng thiết bị lặn khai thác bào ngư vào ban đêm. Hiện tượng tàu thu mua của địa phương khác đến khai thác san hô đen vẫn diễn ra, nếu không có biện pháp quản lý tốt sẽ gây hại cho các rạn san hô quanh đảo.
Cho đến nay huyện đảo chưa có được một đội tàu đánh bắt và khai thác hải sản chuyên dụng. Tiềm năng mặt nước để phục vụ phát triển nuôi trồng thuỷ sản cũng còn bỏ ngỏ, chưa được quan tâm, định hướng và có quy hoạch rõ ràng.
Nghề cá của ngư dân trên đảo chưa được tổ chức hợp lý, chưa đủ khả năng đóng thuyền lớn vươn khơi mà đánh bắt ven bờ, hiệu quả thấp. Chỉ 8 hộ có thuyền máy với 12 máy, tổng công suất 78CV (mỗi máy từ 6-15CV). Khoảng 20 hộ còn lại chỉ sắm được thuyền nan nhỏ đánh bắt hải sản sát ven đảo, bán hàng rong trong âu tàu.
Thạc sỹ Trần Thị Thúy Nga, Trường Cao đẳng Kinh tế và Thương mại cho rằng sóng bão là một trong những tai biến môi trường có tính rủi ro cao nhất đối với khu vực đảo Bạch Long Vĩ, do nằm xa đất liền và thường là điểm đầu tiên chịu tác động của bão khi chúng di chuyển vào Vịnh Bắc Bộ. Chính vì vậy, việc trồng lại rừng trên đảo là một trong những ưu tiên cần làm để chống xói lở đất.
Giải pháp đầu tiên là trồng các cây thân gỗ, cây lâu năm để phủ xanh diện tích đồi trọc. Đối với việc phát triển trồng rừng phòng hộ ven biển cần tiến hành trồng đa loài và theo tầng nhằm hạn chế tối đa tác động của sóng biển vào đường bờ. Một số khu vực có rạn san hô đã bị phá hủy do các hoạt động đánh bắt hủy diệt trước đây cũng cần trồng phục hồi, nhằm mở rộng các rạn san hô tự nhiên - bức tường thành chắn sóng cho đảo, đồng thời duy trì và phát triển được tính đa dạng sinh học cho vùng biển, đảo.
Các nguồn thải do các hoạt động phát triển trên đảo và hoạt động của tàu, thuyền đánh cá, các rủi ro về sự cố tràn dầu, khai thác quá mức... cũng cần sớm được quản lý thông qua việc nâng cao quản lý chuyên ngành.
Đi đôi với việc tăng cường công tác nghiên cứu khoa học trong phạm vi Khu bảo tồn biển của đảo Bạch Long Vĩ, nhằm phát hiện ra các bãi giống, bãi đẻ của các loài hải sản từ đó có thể đề ra các biện pháp quản lý hữu hiệu hơn, cần ưu tiên triển khai các nghiên cứu mang tính hỗ trợ kỹ thuật như hoàn thiện, hoặc xây dựng các quy trình công nghệ phục vụ cho việc nuôi trồng thủy sản các loài quý hiếm, các loài có giá trị kinh tế cao như bào ngư, tôm hùm, hải sâm...; nghiên cứu các biện pháp phục hồi các hệ sinh thái đặc trưng như san hô, nhằm phục vụ công tác bảo tồn; từng bước xây dựng các mô hình phát triển du lịch sinh thái ít gây hại tới môi trường, thông qua việc sớm quy hoạch các hoạt động du lịch và tuyến, điểm du lịch biển phù hợp.
Giải pháp về tài chính, thu hút các dự án đầu từ vào đảo Bạch Long Vĩ theo nguyên tắc ít sử dụng tài nguyên thiên nhiên tại chỗ nhất, công nghệ tiên tiến, không làm ô nhiễm đến môi trường của đảo.
Theo nguyên tắc này cần ưu tiên phát triển các dự án phát triển các loại hình du lịch sinh thái, lấy công tác bảo tồn và sự phát triển hài hòa giữa con người và tự nhiên làm thước đo cho các hoạt động của dự án; giảm thiểu sức ép khai thác đến môi trường tự nhiên quanh đảo thông qua việc áp dụng hàng loạt các biện pháp như đào tạo, chuyển đổi nghề mới cho các cộng đồng dân cư địa phương, cho vay vốn để phát triển kinh tế hộ gia đình, thu hút người dân địa phương tham gia các hoạt động du lịch và bảo vệ môi trường, tăng thu nhập cho người dân trên đảo; đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho công tác bảo tồn (trích một phần từ phí tham quan du lịch sinh thái, đóng góp từ các tổ chức phi chính phủ) và tiến hành từng bước xã hội hóa công tác bảo tồn.
Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng nên xúc tiến việc tham gia các mạng lưới, tổ chức quốc tế về bảo tồn tự nhiên nhằm quảng bá hình ảnh của đảo Bạch Long Vĩ ra thế giới, để thu hút khách du lịch, trao đổi học hỏi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin tư liệu, học tập và đào tạo cán bộ nhằm nâng cao nghiệp vụ và năng lực quản lý.
Mặt khác, tìm cơ hội và thu hút các dự án đầu tư vào bảo vệ tự nhiên, phát triển kinh tế-xã hội và đầu tư bảo vệ, phát triển các giá trị của đảo; hỗ trợ cộng đồng phát triển kinh tế, chuyển đổi ngành nghề hoặc phát triển ngành nghề mới đảm bảo cuộc sống, giảm sức ép tới môi trường và khả năng tổn hại tới khu bảo tồn biển Bạch Long Vĩ. (Vietnam + 5/6) đầu trang(
Tuy mới thành lập nhưng Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật Hoàng Liên (Sa Pa, Lào Cai) đã nỗ lực khắc phục khó khăn về cơ sở vật chất và nhân lực.
Thời gian qua, trung tâm đã cứu hộ, bảo tồn và phát triển được nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm, góp phần bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học ở Vườn quốc gia Hoàng Liên và khu vực Tây Bắc.
Chúng tôi đến Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật Hoàng Liên, nằm trong một thung lũng, trên độ cao hơn 1.000 m so với mực nước biển, bên đỉnh Phan-xi-păng hùng vĩ. Hoàng Ngọc Phong, cán bộ thú y của trung tâm còn rất trẻ, đang khám sức khỏe và kiểm tra chế độ ăn của ba cá thể cu li (lớn và nhỏ), đây là loài động vật hoang dã quý hiếm, có tên trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới, được bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định tại Nghị định 32/2006/NĐ-CP của chính phủ.
Anh Phong cho biết, những cá thể cu li này là do cơ quan kiểm lâm các địa phương và người dân bàn giao, hiến tặng cho trung tâm trong tình trạng suy giảm thể chất, thậm chí bị thương. Với trách nhiệm được giao và tình cảm yêu quý động vật, cán bộ và nhân viên tại đây đã cứu sống và nuôi dưỡng, chăm sóc những con cu li bé nhỏ, hiền lành, nhút nhát, hiện chúng đang sinh trưởng bình thường.
Được thành lập từ tháng 7-2014, trung tâm có nhiệm vụ cứu hộ, tái thả động vật hoang dã quý hiếm và lưu trữ, bảo tồn nguồn gien các loài sinh vật quý hiếm, nguy cấp, có nguy cơ tuyệt chủng. Trung tâm nằm cách xa thị trấn Sa Pa, ở trên núi cao, khí hậu khắc nghiệt, có 18 cán bộ, nhân viên. Bên cạnh việc cứu hộ động vật, thực vật quý hiếm, trung tâm còn được giao làm nhiệm vụ canh giữ, bảo vệ hơn 30 ha rừng đặc dụng của Vườn quốc gia (VQG) Hoàng Liên. Trong hai năm qua, trung tâm đã tiếp nhận 58 vụ, cứu hộ và bảo tồn 107 cá thể động vật hoang dã, thuộc 33 loài.
Sau một thời gian được cứu chữa, chăm sóc, các cá thể động vật như: gấu ngựa, cầy vòi, mèo rừng, cu li, đại bàng hoàng đế, gà lôi trắng, diều hoa… đều khỏe mạnh, sinh trưởng tốt. Nhất là cá thể gấu ngựa, do một người dân ở thành phố Lào Cai giao tặng trong tình trạng bị lấy mật liên tục cho nên suy kiệt đến mức không thể đi nổi, nhờ được chăm sóc tốt đã hồi phục, sau hơn một năm đã tăng trưởng thêm 25 kg.
Không chỉ cứu hộ, trung tâm còn bảo tồn, nhân giống thành công một cá thể khỉ mặt đỏ bằng cách ghép đôi từ hai cá thể khỉ bố mẹ, do cơ quan chức năng thu giữ từ ngoài xã hội bàn giao cho trung tâm. Bên cạnh việc đầu tư của Nhà nước, trung tâm còn mở rộng liên kết với Hội động vật Luân Đôn (Anh) và Bảo tàng quốc gia Ô-xtrây-li-a về nghiên cứu bò sát, lưỡng cư.
Qua hai năm hợp tác, trung tâm đã tổ chức điều tra phân bố, tình trạng sinh thái loài rùa đầu to tại VQG Hoàng Liên, từ độ cao 1.300 m trở xuống ; điều tra loài lưỡng cư và phát hiện thêm cá thể thuộc hai loài đặc hữu là Cóc núi Sterling và Cóc mày, tại khu vực đai cao 2.800 m của VQG Hoàng Liên; tập huấn về kỹ năng điều tra thực địa và chăn nuôi rùa, động vật lưỡng cư cho cán bộ VQG Hoàng Liên…
Vườn quốc gia Hoàng Liên rộng hơn 28.509 ha, thuộc địa phận hai tỉnh Lào Cai và Lai Châu, được phân chia làm ba phân khu, gồm: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt; phân khu phục hồi sinh thái; phân khu hành chính dịch vụ. Vườn có địa hình bị chia cắt mạnh, khá đa dạng và phức tạp, bao gồm chủ yếu là núi cao và trung bình, nhiều đỉnh núi cao hơn 2.000 m, cao nhất là đỉnh Phan-xi-păng cao 3.143 m.
VQG Hoàng Liên được Tổ chức Bảo tồn đa dạng sinh học ASEAN công nhận là Vườn di sản ASEAN từ năm 2006. Tại đây hiện có 555 loài động vật có xương sống trên cạn, trong đó 96 loài thú; 346 loài chim; 63 loài bò sát và lưỡng thể 50 loài, đặc biệt có loài ếch gai rất hiếm vừa được phát hiện.
Trong đó, có những loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam như cu li, rùa đầu to, ếch cây, khỉ mặt đỏ, gấu ngựa... Ngoài ra, VQG Hoàng Liên còn có nhiều loài côn trùng và loài bướm đẹp không những có giá trị bảo tồn mà còn có giá trị tham quan du lịch và thẩm mỹ.
Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, cán bộ và nhân viên trung tâm luôn xác định rõ chức trách của mình, đồng thời xây dựng lòng yêu nghề, tình cảm yêu quý động vật hoang dã, quý trọng thiên nhiên. Mỗi người một việc, ai cũng gắng sức làm tốt công việc chuyên môn của mình, đoàn kết gắn bó, phát huy hết khả năng chuyên môn để bảo vệ động vật hoang dã hiệu quả nhất. Không chỉ cứu hộ, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật ở VQG Hoàng Liên, trung tâm còn “vươn” ra cả khu vực Tây Bắc.
Giám đốc trung tâm Lương Văn Hào kể câu chuyện kỹ sư lâm sinh Nguyễn Thành Chung một mình vượt quãng đường hơn 300 km trong mùa đông giá rét, bằng xe máy đến tỉnh Sơn La cứu hộ một cá thể rùa quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng rất cao, do người dân đi rừng bắt được. Cán bộ của Trung tâm còn “lặn lội” về Yên Bái để cứu hộ hai cá thể khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides) là loài động vật nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IIB Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ, được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam và thế giới.
Khó khăn nhất trong công tác bảo tồn, phát triển đa dạng sinh học tại VQG Hoàng Liên hiện nay là quy chế của trung ương và tỉnh về cứu hộ, bảo tồn động vật chưa hoàn thiện, đầy đủ; chưa phân định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của các đơn vị, cá nhân tham gia trực tiếp vào công việc cứu hộ, bảo tồn và phát triển động vật-thực vật, giải quyết ngay các mâu thuẫn trong quá trình tiếp nhận, xử lý và lưu giữ, tái thả giữa các đơn vị hành pháp và chuyên môn.
Mặt khác, tốc độ tăng trưởng du lịch rất cao tại Sa Pa tác động mạnh đến môi trường sống của động vật hoang dã tại đây theo chiều hướng gây hại. Đây là những vấn đề cần được các cấp, các ngành quan tâm, khắc phục để nâng cao chất lượng, hiệu quả bảo vệ và phát triển sự đa dạng sinh học ở VQG Hoàng Liên và khu vực Tây Bắc. (Nhân Dân 5/6) đầu trang(
Ngày 5.6 là ngày Môi trường thế giới. Chủ đề của ngày môi trường thế giới năm nay là “Tiếng gọi thiên nhiên và hành động của chúng ta”.
Vâng! Một thông điệp rất cụ thể đã được đưa ra nhằm kêu gọi chúng ta hãy thực hiện những hành động thiết thực để bảo vệ môi trường sống. Lúc này, câu hỏi được nhiều người đặt ra là mỗi người cần phải làm gì để bảo vệ môi trường sống? Trả lời cho câu hỏi này phóng viên của Đài PT - TH Gia Lai có cuộc phỏng vấn bà Nguyễn Thị Kim Hương, Trưởng phòng Quản lý Bảo vệ rừng và Bảo tồn thiên nhiên thuộc Chi Cục kiểm lâm Gia Lai.
Bà cho biết, đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loài sinh vật trong hệ sinh thái tự nhiên. Đối với Gia Lai chủ yếu là hệ sinh thái rừng, tức là đa dạng sinh học về rừng. Chính vì vậy, trong thời gian qua do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino, thời tiết diễn biến phức tạp, nắng nóng khô hạn kéo dài, nguy cơ cháy rừng rất cao.
Thời gian qua, trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã xảy ra 7 điểm cháy thực bì dưới tán rừng. Nhưng nhờ sự tuần tra, phát hiện, tổ chức cứu chữa, dập tắt kịp thời, nên không để xảy ra cháy rừng. Tuy nhiên vẫn bị ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây rừng, làm ảnh hưởng đến sự sống của một số loài sinh vật dưới tán rừng, làm suy giảm đa dạng sinh học về rừng.
Đồng thời, ảnh hưởng của hiện tượng El Nino, khô hạn kéo dài gây thiếu nước trầm trọng của các dòng suối và mạch nước ngầm làm ảnh hưởng đến chu trình sinh học của hệ sinh thái rừng. Tại tỉnh ta chưa thấy biểu hiện rõ rệt điều đó, nhưng một minh chứng cụ thể là tại Đăk Lăk, voi rừng do thiếu nước, môi trường sống bị phá vỡ nên đã rời khỏi rừng, tìm vào khu vực dân cư.
Đa dạng sinh học về rừng có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với đời sống, kinh tế, xã hội, điều này đã được các nhà khoa học khẳng định nhưng nhận thức của người dân, đặc biệt là người dân sinh sống gần rừng, liền rừng về đa dạng sinh học rừng còn rất hạn chế.
Đồng thời, các ngành, các cấp chưa quan tâm đúng mức đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Chính vì vậy sự phối kết hợp giữa các ngành, cac cấp trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học chưa đồng bộ, thiếu chặt chẽ, đặc biệt lầ địa phương cấp xã còn coi đây là nhiệm vụ của kiểm lâm. Vấn đề nữa là hiện diện tích rừng tại Gia Lai khá lớn với trệ 632.000 ha, phân bố rải rác, trải rộng trên địa bàn của toàn tỉnh.
Trong khi đó lực lượng kiểm lâm của tỉnh quá mỏng, một kiểm lâm phải quản lý trên 3.000ha rừng. Bên cạnh đó, sự gia tăng dân số và di dân tự do gây áp lực vào rừng như: Lấn chiếm đất rừng để sản xuất, du canh nương rẫy…Đó là những vấn đề đang đặt ra đối với công tác đa dạng sinh học của tỉnh ta nói riêng, cả nước và thế giới nói chung.
Để công tác bảo vệ rừng ngày càng tốt hơn, thời gian tới ngành kiểm lâm Gia Lai sẽ chủ động xây dựng kế hoạch các chương trình, dự án về bảo tồn đa dạng sinh học, phòng cháy chữa cháy rừng như: Kế hoạch bảo vệ phát triển rừng giai đoạn 2015-2020; Chương trình trồng rừng, làm giàu rừng, xúc tiến sinh thái rừng; Dự án nâng cao năng lực phòng cháy chữa cháy rừng giai đoạn 2016-2020; Đề án kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực cho lực lượng kiểm lâm Gia Lai giai đoạn 2014-2020…
Đồng thời, thực hiện các hoạt động tuyên truyền về bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn thiên nhiên đến các đối tượng học sinh, người dân, đặc biệt là người dân sống gần rừng để nâng cao nhận thức về đa dạng sinh học, bảo tồn tài nguyên rừng, tích cực tham gia bảo vệ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học. Đó là những chương trình, hành động cụ thể của ngành kiểm lâm Gia Lai để công tác bảo vệ rừng ngày càng tốt hơn. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Gia Lai 4/6) đầu trang(
Theo kết quả thống kê, hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa có khoảng 4.005 loài động, thực vật, thuộc 599 họ, bao gồm 2.713 loài thực vật và 1.292 loài động vật.
Hưởng ứng Ngày Môi trường Thế giới năm 2016 với chủ đề “Tiếng gọi thiên nhiên và hành động của chúng ta”, ngày 4/6, tại Vườn Quốc gia Bến En (huyện Như Thanh, Thanh Hóa) Sở TN&MT tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Vườn Quốc Gia Bến En đã tổ chức Hội thảo Kiểm soát buôn bán trái phép động vật hoang dã.
Đến dự có đại diện Cục Bảo tồn đa dạng sinh học, đại diện lãnh đạo Sở TN&MT tỉnh Thanh Hóa cùng đại diện lãnh đạo các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, Chi cục kiểm lâm, Hạt kiểm lâm và đại diện các Vườn Quốc gia trên địa bàn.
Theo kết quả thống kê, hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa có khoảng 4.005 loài động, thực vật thuộc 599 họ, bao gồm 2.713 loài thực vật và 1.292 loài động vật. Hiện, tại các rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh ngoài tính đa dạng về gen, đa dạng về các hệ sinh thái còn là nơi lưu giữ nhiều loài động, thực vật quý hiếm có tên trong sách Đỏ Việt Nam và thế giới.
Điển hình như quần thể Pơ mu, Sa mu hàng nghìn năm tuổi với diện tích trên 2.000 ha tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, các quần thể Thông pà cò, Dẻ tùng sọc hẹp, Dẻ tùng vân nam…
Mặc dù, nguồn tài nguyên của tỉnh Thanh Hóa rất phong phú và đa dạng, nhưng hiện chưa được quản lý, khai thác một cách có hiệu quả và bền vững dẫn đến suy giảm và suy thoái nghiêm trọng.
Nguyên nhân gây tổn thất đa dạng sinh học và suy giảm chất lượng ở một số hệ sinh thái điển hình tại tỉnh Thanh Hóa không nằm ngoài các nguyên nhân chung gây tổn thất đa dạng sinh học toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng.
Đó là, do sự thay đổi trong thành phần hệ sinh thái, sự xâm hại của các loài ngoại lai có thể phá vỡ cân bằng sinh thái và làm suy giảm quần thể động, thực vật, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu vẫn là do các hoạt động của con người, cụ thể như: phá rừng quá mức, săn bắn trái phép, xây dựng các công trình thủy điện, khai thác gỗ…
Buổi hội thảo hướng đến mục tiêu truyền tải thông điệp của Ngày Môi trường thế giới năm nay, hướng con người tới các hành vi sống thân thiện với môi trường, giảm thiểu áp lực ngày càng gia tăng đối với các hệ sinh thái tự nhiên của trái đất.
Qua đó, huy động sự nỗ lực của toàn thể cộng đồng, trong việc ngăn chặn tình trạng buôn bán trái phép động vật hoang dã đã và đang làm suy kiệt tài nguyên đa dạng sinh học, đe dọa sự sống còn của các loài động, thực vật.
Cũng tại hội thảo, các đại biểu đã nghe đại diện Cục Bảo tồn đa dạng sinh học phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật; công ước quốc tế có liên quan về bảo tồn các loài động vật hoang dã.
Đồng thời thảo luận nhiều nội dung liên quan đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ động vật hoang dã như: Tình trạng buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã tại Việt Nam và các giải pháp tăng cường thực thi pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã; công tác quản lý nhà nước về gây nuôi và bảo tồn động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh; một số giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát buôn bán động vật hoang dã tại Vườn Quốc gia Bến En; chia sẻ kinh nghiệm về những nỗ lực trong công tác tìm kiếm, phát hiện và bảo tồn loài Voọc xám Đông Dương, ở Khu bảo tồn Xuân Liên... (Dân Sinh 4/6; Nhân Dân 4/6) đầu trang(
Việt Nam xếp thứ 16 trên thế giới về mức độ đa dạng của tài nguyên sinh vật và là một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học (ĐDSH) phong phú nhất thế giới với hơn 49.200 loài động thực vật. Tuy nhiên đến nay, 882 loài động thực vật đang bị đe dọa ở nhiều cấp độ và được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam.
Đây là thông tin được đưa ra tại Hội thảo “Vai trò của Hội Cựu chiến binh Việt Nam trong bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ các loài nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam” diễn ra sáng 4-6 tại Lào Cai, một hoạt động trong “Tháng hành động vì môi trường” hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới.
Theo các đại biểu tham dự Hội thảo, ĐDSH là cơ sở bảo đảm an ninh lương thực; duy trì nguồn gen vật nuôi, cây trồng; cung cấp các vật liệu cho xây dựng và các nguồn nhiên liệu, dược liệu; đồng thời tạo nên các cảnh quan thiên nhiên và là cội nguồn của nhiều phong tục, tập quán tốt đẹp của người dân Việt Nam; các hệ sinh thái còn có ý nghĩa bảo vệ tài nguyên đất và nước, điều hòa khí hậu, giảm nhẹ tác hại do ô nhiễm và thiên tai.
Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN và MT) Võ Tuấn Nhân nhấn mạnh vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, cụ thể ở đây là hội cựu chiến binh, trong các hoạt động nhằm thay đổi nhận thức, hành vi, khuyến khích người dân và toàn xã hội tham gia bảo vệ các loài động vật hoang dã (ĐVHD), không sử dụng, tiêu thụ sản phẩm từ ĐVHD trái phép.
“Hội thảo ngày hôm nay một lần nữa khẳng định vai trò, trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn, gìn giữ đa dạng sinh học của Việt Nam, hướng tới việc khai thác, sử dụng bền vững đa dạng sinh học, góp phần đưa hình ảnh Việt Nam trở thành một quốc gia xanh, môi trường xanh đến bạn bè quốc tế”, Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân cho biết.
Cũng tại Hội thảo, các đại biểu đã trao đổi, thảo luận và đưa ra các giải pháp cụ thể như: Tăng cường hợp tác chặt chẽ giữa các bên liên quan nhằm lồng ghép, lan tỏa thông điệp về bảo tồn ĐDSH và bảo vệ các loài nguy cấp, quý, hiếm; Xây dựng và triển khai các hoạt động tuyên truyền về bảo tồn ĐDSH và bảo vệ ĐVHD, khuyến khích cộng đồng không buôn bán, sử dụng các sản phẩm từ các loài ĐVHD nguy cấp; Giới thiệu các mô hình về bảo vệ môi trường, bản tổn và khai thác bền vững tài nguyên thiên nhiên, hệ sinh thái mang tính bản địa của các địa phương. (Nhân Dân 4/6) đầu trang(
Bộ Tài nguyên và Môi trường xác định, Chủ đề của ngày môi trường Thế giới (5/6) năm 2016 là “Tiếng gọi của thiên nhiên và hành động của chúng ta”, với mục tiêu nhằm khuyến khích mọi người quan tâm, bảo vệ tất cả các loài động thực vật đang bị đe dọa và có những hành động để bảo vệ chúng. Một trong những tiếng gọi ấy là bảo vệ động vật hoang dã, ngăn chặt việc săn bắt, vận chuyển, buôn bán động vật hoang dã.
Ông Nguyễn Văn Dương, Chi cục trưởng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: Động vật hoang dã ngoài các giá trị về thực phẩm và hàng hóa thì nhiều loài còn được sử dụng để làm vật thí nghiệm và sản suất ra những loại vaccin dùng trong việc phòng trừ bệnh cho con người; là nguồn nguyên liệu di truyền quý giá dùng để cải tiến nòi giống vật nuôi hiện có, để nâng cao sản lượng thu hoạch trong sản xuất nông - lâm; là thành phần chủ yếu của hệ sinh thái và có vai trò rất quan trọng trong sự điều hòa các chu trình vật chất và năng lượng của quả đất; có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải trí và du lịch của con người sau thời gian làm việc mệt mỏi.
Tuy nhiên, tình trạng săn bắt trộm, vận chuyển buôn bán động vật hoang dã, đã và đang làm suy kiệt nguồn đa dạng sinh học quý giá và đe dọa sự sống còn của các giống loài quý hiếm như voi, tê giác, hổ... cũng như nhiều loại động, thực vật khác; tạo nên một làn sóng phản đối dữ dội trên toàn thế giới.
Ninh Bình vốn là tỉnh có 3 vùng sinh thái rõ rệt: Miền núi, đồng bằng và ven biển; lại là nơi được coi như cửa ngõ ra Bắc vào Nam... nên công tác ngăn chặn săn bắt, vận chuyển, buôn bán động vật hoang dã luôn được chú trọng, quan tâm.
Chi cục Kiểm lâm đã thường xuyên, liên tục triển khai tuyên truyền phổ biến các văn bản liên quan đến việc quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm đến tận cơ sở.
Đặc biệt thường xuyên tuyên truyền Chỉ thị số 01/2009/CT-UBND ngày 14/4/2009 của UNBD tỉnh Ninh Bình về việc tăng cường công tác quản lý, bảo vệ chim hoang dã; Quyết định số 14/2010/QĐ-UBND ngày 28/6/2010 của UBND tỉnh về quản lý, bảo vệ các loài chim hoang dã bằng nhiều hình thức như: tuyên truyền lưu động, phát thanh, phóng sự truyền hình, tờ rơi, trên đài truyền thanh ba cấp.
Tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra, ngăn chặn việc săn bắt, vận chuyển, buôn bán động vật hoang dã. Từ năm 2015 đến nay, đã xử lý 17 vụ vi phạm về buôn bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã; trong đó có: 3 vụ phối hợp với phòng cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về chức vụ và kinh tế; cảnh sát giao thông công an tỉnh Ninh Bình.
Tịch thu : 541,6 kg rắn các loại; 87,4 kg mai, yếm rùa các loại; 98 cá thể Vạc rạ đông lạnh; 665 cá thể Chim hoang dã. Chuyển giao cho Trung tâm cứu hộ bảo tồn và phát triển sinh vật (Vườn quốc gia Cúc Phương): 4 cá thể Tê tê Java, 27 cá thể Rùa đầu to, 1 cá thể Baba gai. Thả về tự nhiên tại khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long 20 cá thể Rắn hổ mang chúa; khu bảo tồn Sao La – tỉnh Thừa thiên Huế 9 cá thể Tê tê Java.
Vận động các hộ gia đình nuôi trái phép 3 cá thể Khỉ, tự nguyện giao nộp cho cơ quan chức năng để chuyển giao cho trung tâm cứu hộ bảo tồn và phát triển sinh vật ( Vườn quốc gia Cúc Phương).
Trong những năm gần đây, việc đăng ký gây nuôi động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh Ninh Bình có xu hướng giảm. Tính đến thời điểm hiện tại trên địa bàn toàn tỉnh có 1 trại và 439 cơ sở nuôi, với tổng số 75 loài/14.106 cá thể động vật hoang dã.
Chi cục đã thường xuyên đôn đốc, chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các trại nuôi, cơ sở gây nuôi động vật hoang dã trên địa bàn toàn tỉnh, đặc biệt là những tụ điểm săn bắn, bẫy bắt, kinh doanh, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép các loài động vật hoang dã và các sản phẩm của chúng.
Tổ chức thu hồi Giấy chứng nhận cơ sở gây nuôi động vật hoang dã đối với những tổ chức, hộ gia đình và cá nhân không còn gây nuôi các loài động vật hoang dã.
Chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng và chính quyền các địa phương tổ chức kiểm tra các cơ sở gây nuôi động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh, phát hiện và xử lý kịp thời những hành vi vi phạm các quy định trong hoạt động nuôi nhốt động vật hoang dã, mặt khác tuyên truyền, hướng dẫn các cơ sở, trại nuôi thực hiện đúng các quy định của nhà nước về quản lý động vật hoang dã.
Ông Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cũng cho biết: Mới đây, Chính phủ đã có quyết định phê duyệt dự án công viên động vật hoang dã với quy mô trên 1000 ha được xây dựng trên địa bàn xã Kỳ Phú, huyện Nho Quan.
Việc hình thành Công viên động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh ngoài ý nghĩa về bảo tồn nguồn gen động vật hoang dã quý hiếm, đa dạng các loài động vật quý hiếm trên địa bàn... thì đây còn là địa điểm giáo dục cộng đồng kết hợp với du lịch sinh thái hấp dẫn và cũng là nơi cứu hộ các loài động vật hoang dã.
Công trình đã và đang được đầu tư xây dựng các hạng mục, cơ sở hạ tầng một cách khẩn trương để sớm đưa công viên vào hoạt động phục vụ cộng đồng. (Báo Ninh Bình 4/6) đầu trang(
Ngày 3/6, Ban Quản lý Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai phối hợp với Hội Văn học - nghệ thuật tỉnh Đồng Nai tổ chức Trại sáng tác văn học - nghệ thuật, với chủ đề “Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai - nơi gặp gỡ giữa con người và thiên nhiên”. Trại sáng tác thu hút gần 50 hội viên của Hội Văn học - nghệ thuật tỉnh Đồng Nai và Liên hiệp các Hội Văn học - nghệ thuật TP HCM tham gia.
Đến với Trại sáng tác, các tác giả được tham quan các địa điểm, như: Di tích căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Di tích căn cứ Khu ủy miền Đông Nam bộ, Trung tâm sinh thái - văn hóa - lịch sử Chiến khu Đ, Nhà dài dân tộc Chơro, hồ Trị An, Vườn quốc gia Cát Tiên, Nhà máy thủy điện Trị An; nghe lãnh đạo tỉnh Đồng Nai giới thiệu về giá trị văn hóa lịch sử của Đồng Nai.
Đây là hoạt động hướng đến Festival rừng 2016, tôn vinh những giá trị đặc trưng của Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai về tài nguyên rừng, về văn hóa, thông qua việc giới thiệu các tác phẩm văn học, nghệ thuật, đồng thời phê phán những hành vi xấu xâm hại đến rừng, xây dựng tình cảm đối với thiên nhiên, chung tay bảo vệ rừng và phát triển Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai. (Đại Đoàn Kết 3/6) đầu trang(
Với hàng trăm loài động vật như: Hổ Đông Dương, báo gấm, beo lửa, cầy vằn, báo hoa mai, voi, gà lôi lam đuôi trắng..., kết hợp với khu vui chơi thiếu nhi có nhiều trò chơi hấp dẫn, từ nhiều năm nay, Vườn thú Hà Nội (Công viên Thủ Lệ) là địa chỉ quen thuộc không chỉ của các em thiếu nhi, mà cả người dân Thủ đô vào dịp cuối tuần.
Đây cũng là nơi khách du lịch trong và ngoài nước vẫn ghé thăm khi họ đến Thủ đô. Theo số liệu thống kê, trung bình mỗi năm nơi đây đón khoảng 2 triệu lượt người ghé thăm.
Thế nhưng, gần đây, đến Vườn thú Hà Nội, du khách không khỏi phiền lòng về những hành vi, việc làm thiếu văn hóa của một số người. Họ phớt lờ biển cấm, tự ý cho thú ăn, đi bộ vào trong khu vực trồng cỏ, thậm chí còn nằm ra bãi cỏ để chụp ảnh. Những hành vi này không chỉ gây mất mỹ quan chung mà còn tiềm ẩn nguy cơ bị thú dữ cắn.... Ngoài ra, hằng ngày còn có rất nhiều người thản nhiên ngồi câu cá dọc bờ hồ (xem ảnh), bất chấp gần đó có lắp đặt các biển cấm câu cá.
Những bất cập nêu trên đang diễn ra hằng ngày, rất mong Ban Quản lý Vườn thú Hà Nội tăng cường tuyên truyền, nhắc nhở du khách chấp hành nghiêm quy định chung; đồng thời có biện pháp xử lý những đối tượng cố tình vi phạm. (Quân Đội Nhân Dân 5/6) đầu trang(
Trong vòng chưa đầy 2 tháng (19.3- 4.5.2016), 10 con rùa biển quý hiếm nằm trong Sách Đỏ Việt Nam được quy định cấm đánh bắt, vận chuyển, buôn bán, đã được các chiến sĩ Đồn Biên phòng Bình Hải kịp thời cứu sống, thả về với biển khơi.
Gần một tháng đã qua, thiếu tá Ngô Doãn Tú - Phó Đồn trưởng Đồn Biên phòng Bình Hải vẫn còn cảm giác vui sướng khi những con rùa biển quý hiếm được tự tay mình thả về biển. Anh chia sẻ: Hôm ấy, sau khi chứng kiến những con rùa biển vẫy vùng dưới biển khơi ai cũng thấy phấn khởi. Bởi những loại rùa quý hiếm này có nguy cơ tuyệt chủng rất cao, số lượng không còn nhiều. Vì vậy, chúng tôi càng thấy trách nhiệm của mình trong việc ngăn chặn tình trạng khai thác, buôn bán những loại động vật quý hiếm này.
Được biết, ngày 4.5 vừa qua, trong lúc tuần tra tại địa bàn xã Bình Châu (Bình Sơn), tổ tuần tra của thiếu tá Ngô Doãn Tú phát hiện một nhóm người tụ tập tại bờ biển thuộc thôn Châu Thuận Biển, tiến hành kiểm tra thì tổ công tác thu giữ 6 con rùa biển trong tình trạng yếu sức, trong đó có 5 con vích, 1 con đồi mồi, tổng trọng lượng 45kg.
Qua đối chiếu tài liệu thì những cá thể được thu giữ là loại rùa quý hiếm nằm trong danh mục các loài có nguy cơ tuyệt chủng bị cấm đánh bắt, mua bán. Ngay sau đó, các chiến sĩ biên phòng đã lập biên bản thu giữ, đồng thời báo Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Ngay trong ngày hôm đó, các đơn vị liên quan đã thả 6 con rùa biển về với môi trường tự nhiên.
Trước đó, ngày 19.3, cũng tại bờ biển xã Bình Hải, tổ tuần tra Phòng chống tội phạm, Đồn Biên phòng Bình Hải, cùng với Công an địa phương phát hiện, bắt giữ ông Phạm Chăm (sinh năm1961) ở thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu (Bình Sơn) đang vận chuyển 4 cá thể rùa biển còn sống (1 cá thể đồi mồi và 3 cá thể vích). Tổ công tác lập biên bản thu giữ và báo cáo với cơ quan chức năng khẩn trương thả các cá thể rùa xuống biển. Sau đó, Đồn đã xử phạt hành chính người vi phạm 4,5 triệu đồng.
Trung tá Võ Đức – Đồn trưởng Đồn Biên phòng Bình Hải cho biết: Thời gian qua, đơn vị thường xuyên phối hợp với chính quyền các địa phương ở địa bàn quản lý thường xuyên tuyên truyền cho ngư dân về bảo vệ môi trường bằng nhiều hình thức, trong đó cấm đánh bắt các loại động vật quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng cao và pháp luật cấm khai thác, mua bán, vận chuyển...
Tuy nhiên, vẫn còn ngư dân len lút khai thác, buôn bán vì hám lợi. Trong khi đó, địa bàn quản lý rộng, lực lượng mỏng nên công tác tuần tra chưa được thường xuyên. Tuy vậy, chúng tôi luôn quyết tâm, góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác, vận chuyển, mua bán trái phép các loại động vật có nguy cơ tuyệt chủng cao.
Ông Phùng Đình Toàn - Phó Chi cục trưởng Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh, chia sẻ: Với 10 cá thể rùa được Bộ đội biên phòng thu giữ và thả về biển kịp thời trong thời gian qua là rất đáng ghi nhận. Các anh đã thể hiện được trách nhiệm cao đối với việc bảo vệ các loài động vật quý hiếm nói riêng, bảo vệ môi trường biển nói chung. (Báo Quảng Ngãi 5/6) đầu trang(
Ngày 6.6, tổ công tác liên ngành của Chi cục Kiểm lâm vườn Sóc Trăng và Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Sóc Trăng đã tiếp nhận 2 cá thể họ rùa da từ ông Trần Thực Nghiệm – Giám đốc Cty TNHH MTV Gia Huy ở số 179 Phú Lợi, phường 2, TP.Sóc Trăng. Nhận diện của cán bộ chuyên ngành cho thấy - đây là 2 cá thể Vích (Tráng Bông), 1 cá thể có trọng lượng 675g, 1 cá thể 660g, có tên trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới, có nguy cơ tuyệt chủng cao, cần được bảo vệ nghiêm ngặt.
Ông Trần Thực Nghiệm cho biết – 2 cá thể vích này do ông tình cờ mua lại từ một ngư dân đem đi bán dạo ở khu vực Kinh Ba (huyện Trần Đề). Ông đã mua lại với giá 500.000 đồng và đem về nuôi dưỡng hơn 1 tháng nay. Khi biết đây là loài có tên trong sách đỏ Việt Nam, có nguy cơ tuyệt chủng nên ông đã liên hệ với cơ quan chức năng để bàn giao.
Sau khi lập biên bản tiếp nhận, kiểm tra tình trạng sức khoẻ, tổ công tác liên ngành nhận thấy tình trạng của 2 cá thể vích tốt, hoạt động bơi lặn nhanh nhẹn nên đã quyết định tiến hành thả về môi trường tự nhiên ngay trong buổi sáng tại vùng cửa biển Trần Đề. Đây là lần thứ 2 cơ quan chức năng tỉnh Sóc Trăng tiếp nhận loài Vích (Tráng Bông) và thả về môi trường tự nhiên.
Trong 5 loài rùa biển có ở nước ta thì đã có 4 loài đó là (rùa da, vích, đồi mồi, đồi mồi dứa) - được các nhà khoa học liệt kê vào trong danh mục những loài động vật biển quý cần được bảo vệ giữ gìn trong quyển tuyển tập “Sách đỏ Việt Nam”. (Lao Động 6/6) đầu trang(
Hôm 6/6, TAND TP.HCM mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và tuyên phạt Võ Tá Dung, sinh năm 1962 tại Hà Tĩnh 18 tháng tù; Trần Thị Tiến, sinh năm 1966 tại TP.HCM 1 năm tù treo; Nguyễn Văn Huấn, sinh năm 1975 và Võ Tá Dũng, sinh năm 1989, cùng ngụ tại Hà Tĩnh, cùng 5 tháng 11 ngày tù (bằng thời gian tạm giam) về tội “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”.
Theo cáo trạng, ngày 26/12/2015 tại trước số nhà 4A2, quốc lộ 1A, phường Tân Hưng Thuận, Quận 12, tổ công tác thuộc phòng Cảnh sát môi trường - CA TP.HCM bắt quả tang Nguyễn Văn Huấn, Võ Tá Dung, đi trên xe máy chở 3 cá thể tê tê Java Manis Javannica thuộc danh mục động vật quý hiếm, có tổng trọng lượng 19 kg từ Quận Tân Bình về nơi tàng trữ tại Bình Dương cất giấu chờ tiêu thụ.
Khoảng đầu tháng 9/2015, Dung gặp Dũng và Huấn, thỏa thuận vận chuyển thuê động vật hoang dã cho Dung với số tiền 3 triệu đồng/tháng/người và mỗi chuyến hàng Dung sẽ trả thêm cho Dũng và Huấn 250 ngàn/người, Huấn và Dũng đồng ý.
Khoảng 8 giờ ngày 26/12/2015, Dung đưa cho Huấn 45,7 triệu đồng nói Huấn và Dũng tới nhà người phụ nữ tên Tiến ở tại số nhà 477/46 Kinh Dương Vương, Phường An Lạc, quận Bình Tân để nhận tê tê.
Khi Huấn và Dũng đang vận chuyển tê tê trên đường về tới quận 12 thì bị bắt quả tang. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Võ Tá Dung ở Bình Dương, cơ quan điều tra phát hiện 8 cá thể tê tê khác. (Tiền Phong 6/6; Pháp Luật TP.HCM 6/6; Người Lao Động 6/6) đầu trang(
Gây nuôi động vật hoang dã ngoài tác dụng gián tiếp bảo vệ nguồn lợi thiên nhiên mà còn góp phần xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phục vụ thí nghiệm, nghiên cứu khoa học… Tuy nhiên, việc gây nuôi động vật hoang dã tại Thanh Hóa còn gặp phải nhiều khó khăn.
Thanh Hóa là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ được thiên nhiên ưu đãi cho nguồn tài nguyên rừng phong phú, đa dạng trong đó có tài nguyên động vật hoãng dã. Cấp ủy, chính quyền các cấp trong tỉnh đã triển khai nhiều biện pháp quản lý, bảo tồn nguồn tài nguyên động vật hoãng dã, trong đó bên cạnh việc triển khai biện pháp bảo vệ tại chỗ các hệ sinh thái, nơi cư trú của các loài trong môi trường tự nhiên của chúng thông qua việc thành lập 2 Vương Quốc gia, 3 Khu Bảo tồn thiên nhiên, 2 Khu Bảo tồn loài thì các ngành, các cấp trên địa bàn tỉnh luôn quan tâm, hỗ trợ tạo mọi điều kiện cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình thực hiện biện pháp bảo tồn chuyển vị.
Ông Kiều Văn Lực – Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa cho biết: Đến hết năm 2013 trên địa bàn tỉnh có 968 trang trại, cơ sở đang nuôi sinh trưởng, nuôi sinh sản 19 loài động vật hoang dã với 21.610 cá thể (12 loài động vật hoang dã quý hiếm với 13.833 cá thể), 7 loài động vật hoang dã thông thường với 7.768 cá thể thì đến nay trên địa bàn tỉnh chỉ còn 370 trang trại, nuôi sinh trưởng, sinh sản 17 loài động vật hoang dã với 22.394 cá thể (132 cơ sở nuôi động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm với 19.231 cá thể) như: Rắn hổ mang 17.530 cá thể, rùa câm 1.285 cá thể, hổ 11 cá thể, gấu ngựa 5 cá thể, cá sấu nước ngọt 135 cá thể… So với năm 2013 giảm 598 cơ sở nuôi, trại nuôi nhưng tăng 793 cá thể động vật hoang dã các loại.
Đến nay, công tác quản lý các trại nuôi, cơ sở nuôi động vật hoang dã trên địa bàn từng bước đi vào nề nếp, đã chủ động kiểm soát phòng ngừa, ngăn chặn và loại trừ việc khai thác, kinh doanh tiêu thụ các loài động vật hoang dã quý hiếm, nguy cấp trái phép, tăng cường hỗ trợ, thúc đẩy việc chăn nuôi, nhân giống các loài động vật hoang dã có giá trị kinh tế để đem lại thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, quy mô gây nuôi động vật hoang dã tại Thanh Hóa phần lớn là quy mô nhỏ lẻ, tự phát ở quy mô hộ gia đình, tận dụng thức ăn thừa, chưa có quy hoạch vùng nuôi phù hợp.
Nguồn giống của các cơ sở chủ yếu là do các hộ tự thực hiện thông qua mua, bán trao đổi giữa các hộ gây nuôi, nhiều khi xảy ra hiện tượng cận huyết hoặc lai tạp với các phân loài khác làm phát sinh bệnh tật di truyền, giảm sức sống và khả năng sinh sản ở các thế hệ kế tiếp. Do gây nuôi tự phát nên kỹ thuật chăn nuôi chủ yếu theo kinh nghiệm, không có tính khoa học nên các cá thể được chăn nuôi sinh trưởng, phát triển chậm hoặc không có điều kiện vay vốn để mở rộng quy mô chăn nuôi.
Đồng thời công tác phòng trừ dịch bệnh, phát triển đàn nuôi còn nhiều hạn chế, yếu kém cũng là nhân tố khiến việc gây nuôi gặp nhiều khó khăn. Chính sách đầu tư trong gây nuôi động vật hoang dã chỉ mới dừng lại ở tập trung vào giải quyết công tác quản lý. Ngoài ra, thị trường chưa được phát triển, chưa được vươn xa thậm chí nhiều loài nuôi không tìm được đầu ra.
Cũng theo ông Kiều Văn Lực, để việc quản lý, bảo tồn và phát triển gây nuôi động vật hoang dã có hiệu quả cần phải quan tâm, chú trọng một số giải pháp như: Chấp hành quy định của pháp luật trong hoạt động gây nuôi, tạo môi trường thuận lợi, có chính sách hợp lý để hỗ trợ các trại nuôi, cơ sở nuôi phát triển. Quy hoạch vùng nuôi động vật hoang dã quy mô hộ gia đình, tìm kiếm thị trường tiêu thụ đặc biệt là xuất khẩu.
Phát huy lợi thế, lựa chọn loài nuôi, tạo ra các sản phẩm có tính cạnh tranh cao, nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội để phát triển một nền chăn nuôi bền vững. Đồng thời, phát huy tối đa tiềm năng về điều kiện tự nhiên, nguồn lao động và kinh nghiệm nuôi động vật hoang dã, chú trọng các loài nuôi lợi thế, chuyển từ gây nuôi phân tán mang tính tận dụng quy mô nhỏ sang gây nuôi sản xuất hàng hóa với quy mô phù hợp với điều kiện kinh tế, kỹ thuật và nhu cầu tiêu thụ, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật đặc biệt là công tác giống, thức ăn chăn nuôi, công tác thú ý… để đẩy mạnh năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao. (Tài Nguyên Và Môi Trường 6/6) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Sáng 6.6, dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Minh Tiến, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh - Chủ tịch Hội đồng Quản lý (HĐQL) Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng (Quỹ), Quỹ tổ chức sơ kết công tác 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm. Dự hội nghị có đại diện lãnh đạo các sở, ngành thành viên HĐQL Quỹ…
Báo cáo sơ kết công tác 6 tháng đầu năm của HĐQL Quỹ nêu: Tổng diện tích giao khoán bảo vệ rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) 6 tháng đầu năm đạt trên 275 nghìn ha. Trong đó, diện tích của các chủ rừng tổ chức Nhà nước trên 35,4 nghìn ha; diện tích rừng khoán các gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, thông qua các Ban quản lý (BQL) Dự án Bảo vệ phát triển rừng (BVPTR) cấp huyện, thành phố gần 240 nghìn ha…
Công tác bảo vệ rừng (BVR) được các huyện, thành phố quan tâm, chỉ đạo tốt, nhiều thôn thành lập các tổ, đội BVR chuyên trách, thường xuyên có kế hoạch tuần tra, bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng, do vậy đã hạn chế thấp nhất tình trạng phát nương làm rẫy và cháy rừng.
6 tháng đầu năm, tổng số tiền các đơn vị sử dụng DVMTR ủy thác trên 10,3 tỷ đồng, gồm truy thu năm 2015 trên 5,7 tỷ đồng, thu kế hoạch năm 2016 trên 4,5 tỷ đồng. Tổng kinh phí hoạt động Ban điều hành Quỹ chi trong 6 tháng đạt trên 35,7 tỷ đồng, trong đó phân bổ cho các huyện, thành phố trên 35 tỷ đồng; chi hoạt động thường xuyên gần 570 triệu đồng.
Dự kiến tổng nguồn thu trong 6 tháng cuối năm trên 33,5 tỷ đồng, gồm thu tiền DVMTR trên 25,6 tỷ đồng, thu tiền trồng rừng thay thế trên 7,8 tỷ đồng. Bên cạnh một số tổ chức, cá nhân có sử dụng DVMTR thực hiện đúng nghĩa vụ, còn một số chủ nhà máy thủy điện chưa chấp hành nghiêm, dẫn đến công tác chi trả tiền cho cá nhân, tổ chức cung ứng dịch vụ gặp nhiều khó khăn.
Sau khi nghe ý kiến của các thành viên HĐQL Quỹ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Minh Tiến nhấn mạnh: Trong 6 tháng đầu năm, hoạt động của Quỹ đã đi vào nề nếp, có hiệu quả; công tác thu, chi tiền DVMTR có nhiều chuyển biến tích cực.
Trong thời gian tới, cần đánh giá kỹ nguyên nhân 2 chủ nhà máy thủy điện cố tình không thực hiện nghĩa vụ ủy thác chi trả DVMTR, từ đó đề xuất hướng giải quyết kịp thời; việc sử dụng tiền DVMTR cho các mục đích như đầu tư, phát triển hạ tầng cần phải có sự thống nhất cao của người dân trong thôn, bản; các huyện cần chấn chỉnh công tác lãnh, chỉ đạo việc sử dụng tiền chi trả DVMTR; rà soát lại công tác trồng rừng thay thế thời gian qua; trong tháng 7 sẽ bàn giao toàn bộ việc chi trả tiền DVMTR từ BQL BVPTR các huyện sang Hạt Kiểm lâm… (Báo Hà Giang 6/6) đầu trang(
Trước tình hình biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội và đời sống người dân, Chính phủ đã và đang triển khai nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp về tài chính, bao gồm chính sách tín dụng “xanh”.
Chương trình tín dụng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (NSVSMTNT) của Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH) là một trong những kênh tín dụng “xanh”, mang lại hiệu quả thiết thực cho công tác bảo vệ môi trường, cải thiện môi sinh, nâng cao chất lượng cuộc sống cho cư dân vùng nông thôn.
Bên cạnh đó, NHCSXH cũng đang cho vay theo chương trình Dự án phát triển Lâm nghiệp được triển khai tại 6 tỉnh là: Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Thanh Hóa, Nghệ An.
Đến hết tháng 4/2016, tổng dư nợ cho vay phát triển lâm nghiệp đạt hơn 516 tỷ đồng với gần 17 nghìn khách hàng còn dư nợ. Riêng trong 4 tháng đầu năm 2016, doanh số cho vay của chương trình đạt gần 11 tỷ đồng, doanh số thu nợ đạt hơn 30 tỷ đồng với 242 lượt khách hàng vay vốn. Nguồn vốn đến nay đã giúp phủ kín trên 70 nghìn ha rừng trồng sản xuất.
Chương trình đã góp phần cải thiện đời sống KT-XH của người dân trong vùng dự án, xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động, tạo nguồn thu nhập và phát triển kinh tế hộ gia đình. Bảo vệ môi trường tăng độ che phủ rừng thông qua hoạt động trồng rừng đã cải thiện đáng kể chất lượng đất và chống xói mòn rửa trôi, cải thiện môi trường sống và làm giảm bớt các ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động nông nghiệp và chống biến đổi khí hậu.
Dự án đã có những tác động lớn về mặt chính sách trong chiến lược phát triển rừng trồng quốc gia đến năm 2020. Thông qua những chính sách hỗ trợ cho các tổ chức, hộ gia đình vay vốn tín dụng trồng rừng với lãi suất ưu đãi dự án đã khuyến khích việc kinh doanh phát triển rừng góp phần phát triển ngành lâm nghiệp của đất nước.
Theo đánh giá của ông Phạm Ngọc Trình - Bí thư huyện ủy huyện Phù Cát (Bình Định): "Nhờ làm tốt công tác tín dụng chính sách nên đã góp phần chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông thôn, giảm tỷ lệ hộ nghèo một cách bền vững, đặc biệt còn làm bà đỡ xây dựng những mô hình, những điển hình làm giàu ngay trên vùng đất cát, bạc màu. Đáng kể nhất là việc nông dân xã Cát Hiệp đã sử dụng vốn vay ưu đãi vào thực hiện dự án phát triển ngành lâm nghiệp do Ngân hàng Thế giới (WB3) tài trợ, trồng rừng nguyên liệu giấy, phủ xanh đất trống, đồi trọc.
Qua đây, có thể thấy rõ chính sách tín dụng “xanh” đang là “điểm tựa” vững chắc, vì sức khỏe của cộng đồng, cải thiện môi trường sống, trồng rừng bền vững góp phần bảo tồn thiên nhiên và phát triển sinh kế cho người dân hướng nền kinh tế tới mục tiêu tăng trưởng xanh. (Pháp Luật Việt Nam 7/6) đầu trang(
Trong một động thái gây nhiều bất ngờ, Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) và Công ty Cổ phần Him Lam – cổ đông sáng lập chủ chốt của ngân hàng vừa cam kết dành trên 11.000 tỉ đồng để phát triển cây mắc ca trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
Thông tin từ Sở NNPTNT tỉnh Lâm Đồng ngày 6.6 cho hay, Công ty Cổ phần Him Lam vừa cam kết đầu tư 1.000 tỉ đồng phát triển cây mắc ca tại tỉnh Lâm Đồng, tập trung phát triển vùng nguyên liệu và xây dựng nhà máy chế biến hạt mắc ca tại Lâm Đồng.
Him Lam theo đó có trách nhiệm phối hợp với Sở NNPTNT tỉnh Lâm Đồng xây dựng các quy trình kỹ thuật, chăm sóc cây mắc ca, đồng thời lên kế hoạch tập huấn, chuyển giao kỹ thuật, tổ chức thu mua, sản xuất, tiêu thụ, cùng kết hợp với Hiệp hội Mắc ca Việt Nam trong các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu mắc ca ở thị trường trong nước và quốc tế.
Phía LienVietPostBank sẽ cung cấp gói tín dụng ưu đãi trị giá 10.000 tỉ đồng để hỗ trợ nông dân trồng mắc ca, các tổ chức – doanh nghiệp thu mua, chế biến sản phẩm mắc ca tại tỉnh Lâm Đồng, đồng thời phối hợp với các tổ chức bảo hiểm xây dựng phương án bảo hiểm nông nghiệp đối với cây mắc ca.
UBND tỉnh Lâm Đồng theo đó cam kết sẽ chỉ đạo các đơn vị chức năng xây dựng và sớm ban hành Quy trình kỹ thuật về việc trồng, chăm sóc, thu hoạch mắc ca và tổ chức truyền thông, tập huấn kỹ thuật cho người nông dân, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi về đất đai cho nông dân, nhà đầu tư cũng như chính sách để Công ty Cổ phần Him Lam và LienVietPostBank đầu tư và triển khai gói tín dụng 10.000 tỉ đồng phát triển mắc ca.
Theo các đánh giá, Lâm Đồng là tỉnh có điều kiện thiên nhiên ưu đãi để trồng mắc ca và cũng sớm ban hành quy hoạch chính thức về phát triển cây mắc ca.
Trước đó trong 2 ngày 28 và 29.5.2016, Hiệp hội Mắc ca Việt Nam tiến hành khảo sát thực trạng trồng mắc ca tại tỉnh Điện Biên và Sơn La. Ngay tại buổi khảo sát, nhận thấy tiềm năng phát triển mắc ca tại một số nơi thuộc tỉnh Điện Biên và Sơn La, ông Dương Công Minh - Chủ tịch Hiệp hội Mắc ca Việt Nam - cam kết hỗ trợ phát triển mắc ca tại 2 tỉnh Tây Bắc này. (Lao Động 6/6; Vietnam + 6/6) đầu trang(
Đoàn các chuyên gia, nhà khoa học thuộc Hiệp hội Mắc ca Việt Nam mới đây đã có chuyến khảo sát về tình hình trồng cây mắc ca tại tỉnh Sơn La.
Tại đợt khảo sát này, ông Dương Công Minh- Chủ tịch Hiệp hội cam kết sẽ hỗ trợ các các hộ trồng mắc ca ở Sơn La quy hoạch lại vườn trồng đúng tiêu chuẩn, hướng dẫn quy trình kỹ thuật chăm sóc, thu hoạch, chế biến...
Dẫn đoàn cán bộ của Hiệp hội Mắc ca Việt Nam vào thăm vườn, chị Hà Thị Trang, một hộ dân đang trồng mắc ca ở phường Chiềng Xinh, TP.Sơn La cho biết, đây là vườn mắc ca được trồng từ năm 2000, thuộc dự án khảo nghiệm của tỉnh Sơn La.
Chị Trang cho biết: “Bắt đầu từ năm thứ 10, khoảng 150 cây mắc ca trên diện tích 3.000m2 của tôi cho thu hoạch rất đều đặn, bình quân mỗi cây thu được khoảng 30kg quả/vụ, có một số cây cá biệt đạt 120kg quả/vụ. Giá quả mắc ca tươi trong những năm qua dao động từ 150.000 -200.000 đồng/kg. Từ năm 2010 đến nay, tôi thu hoạch khoảng 4 tấn quả mỗi vụ, cho thu hoạch vài trăm triệu đồng mỗi năm, chi phí chăm sóc vườn mắc ca không lớn, chỉ khoảng 5%, chủ yếu là tiền thuê người trông nom vườn cây”.
Quan sát vườn mắc ca của gia đình chị Trang, Giáo sư Hoàng Hòe – Phó Chủ tịch Hiệp hội Mắc ca Việt Nam đánh giá: “Vườn mắc ca này phát triển rất tốt và nếu có một số điều chỉnh trong quy trình chăm sóc, vườn mắc ca này có thể tăng năng suất được 30% nữa, cụ thể cần tỉa đi 20% số cành để tăng lượng ánh sáng chiếu vào để nuôi dưỡng cây phát triển, hạn chế sâu bệnh, tỷ lệ rụng quả sẽ giảm đi vì lúc đó cây được quang hợp nhiều hơn, khỏe hơn”.
Tại TP.Sơn La, hiện có khá nhiều mô hình trồng mắc ca đã định hình và cho thu hoạch đều đặn như chị Trang. Chúng tôi đến thăm vườn mắc ca của Trung tâm Giáo dục lao động tỉnh Sơn La tại phường Chiềng Xinh. Vườn mắc ca của Trung tâm có 201 cây mắc ca trồng xen cùng 3.000 cây cà phê. Đây là một trong những mô hình trồng mắc ca thành công ở Sơn La.
Chị Ngô Thị Hậu, phụ trách nông nghiệp của trung tâm cho biết: “Năm 2015, vườn mắc ca cho thu hoạch xấp xỉ 1,8 tấn quả tươi, có cây cho 35kg quả/vụ, còn trung bình mỗi cây cho 20kg quả/vụ. trung tâm đang tập trung đẩy mạnh nhân giống, phát triển 4 dòng mắc ca được Bộ NNPTNT công nhận là: OC, 246, 816, 846. Hiện nay trung tâm có 5 vạn cây giống, trong đó có 5.000 cây ghép, số cây cây đã ghép được các học viên thực hiện, tỷ lệ thành công lên tới 80%”.
Trong đợt khảo sát này, vườn mắc ca của ông Đường Văn Thông, xã Hua La, TP.Sơn La được Hiệp hội Mắc ca Việt Nam đánh giá cao nhất. Vườn mắc ca có 235 cây được trồng xen với cà phê từ năm 2003, với diện tích 3ha. Sau 10 năm vườn mắc ca này cho thu hoạch đều đặn trung bình mỗi cây thu được 30kg quả tươi, cá biệt có những cây cho 70kg quả.
Chủ vườn Đường Văn Thông chia sẻ: “Sau hơn 13 năm trồng mắc ca, tôi nhận thấy cây mắc ca rất phù hợp với thổ nhưỡng và khí hậu ở đây. Người dân rất hào hứng với loại cây này vì không cần chăm sóc nhiều cây cũng phát triển tốt. Tuy nhiên, về mặt tâm lý cũng có một số người dân băn khoăn vì trồng mắc ca phải đến năm thứ 4 mới cho thu hoạch, và người dân không có vốn để đầu tư cho cây mắc ca. Vì vậy tôi nghĩ rằng nếu Nhà nước, các bộ ngành quan tâm khuyến khích hỗ trợ, người dân sẽ yên tâm trồng mắc ca hơn”.
Ông Lò Minh Hùng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La cho biết: “Tỉnh Sơn La khuyến khích các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế cùng các hộ nông dân tham gia trồng, chế biến, tiêu thụ các sản phẩm từ cây mắc ca, đồng thời có chính sách hỗ trợ phát triển cây mắc ca đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân và doanh nghiệp”.
Cây mắc ca được đưa vào trồng tại tỉnh Sơn La từ năm 2000 theo dự án trồng khảo nghiệm. Đến nay, sau gần 16 năm triển khai tổng diện tích cây mắc ca tại địa phương này đã trên 100ha trồng trên địa bàn các huyện Vân Hồ, Mộc Châu, Mai Sơn, Thuận Châu và TP.Sơn La.
Theo đánh giá của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Sơn La, một số mô hình trồng cây mắc ca đã định hình, cho sản lượng quả tương đối cao. Đây là loại cây trồng bổ sung để khai thác tiềm năng đất đai, khí hậu của tỉnh từng bước tăng thêm việc làm, thu nhập cho người dân...
Trước khó khăn về vốn của người trồng mắc ca ở Sơn La, ông Dương Công Minh cho biết: “Hiệp hội sẽ tư vấn, hỗ trợ và làm trọng tài cho các hội viên, nông dân trồng mắc ca ở Sơn La nói riêng và ở các địa phương trồng mắc ca nói chung. Chúng tôi sẽ vào cuộc ngay lập tức để hỗ trợ giúp các các hộ trồng mắc ca ở Sơn La quy hoạch lại vườn trồng đúng tiêu chuẩn, hướng dẫn quy trình kỹ thuật chăm sóc, thu hoạch, chế biến”.
Về nhu cầu vốn, ông Minh cho biết, Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt sẵn sàng hỗ trợ vốn để các hộ trồng mắc ca yên tâm đầu tư sản xuất.
Theo quy hoạch đã được Bộ NNPTNT ban hành, từ nay đến năm 2020, diện tích trồng mắc ca cả nước chỉ giới hạn ở ngưỡng dưới 9.940ha, trong đó chỉ có gần 2.400ha trồng tập trung, có nghĩa là từ nay đến năm 2020, diện tích trồng mới cây mắc ca gần như không được tăng thêm.
Lý giải điều này, Bộ NNPTNT cho rằng, Bộ đã tham vấn rất nhiều đơn vị trong nước cũng như tổ chức nhiều hội nghị, từ đó mới khẳng định được quy mô làm sao bước đầu phát triển theo hướng bền vững, có hiệu quả nhất. Khảo sát của Bộ NNPTNT cũng cho thấy, tại nhiều địa phương hiện chưa có doanh nghiệp nào cam kết bao tiêu đầu ra, cung ứng vốn để người nông dân yên tâm trồng cây mắc ca. (Dân Việt 6/6) đầu trang(
Từ năm 2015 đến nay với sự quyết liệt của chính quyền địa phương các cấp từ tỉnh xuống từng thôn bản, trên 40.000ha rừng kinh tế đã được trồng.
Nhiều địa phương, ngoài việc vận động nhân dân trồng rừng, đã mạnh dạn giao khoán, cho mượn những diện tích đất rừng cộng đồng kém hiệu quả hay là đồi núi trọc cho nhân dân trồng rừng. Điều này là phù hợp với chủ trương của chính quyền địa phương và nguyện vọng của nhân dân. Tuy nhiên trong quá trình triển khai cũng còn một số hộ chưa hiểu rõ vấn đề; do đó các cấp, các ngành cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động hơn nữa.
Trong thời gian qua, Đài PT-TH Hà Giang đã nhận được đơn của một số hộ dân trong thôn Ngọc Bình xã Bạch Ngọc phản ánh vụ việc có một số gia đình trong thôn thực hiện phát rừng cộng đồng để trồng rừng kinh tế. Điều này sẽ làm ảnh hưởng một phần đến rừng đầu nguồn và bãi chăn thả của nhân dân đồng thời nếu không có biện pháp cụ thể sẽ làm nảy sinh mâu thuẫn trong nhân dân.
Để hiểu rõ hơn vấn đề này, nhóm phóng viên thời sự chúng tôi đã xuống tìm hiểu thực tế tại thôn Ngọc Bình và có buổi làm việc với đại diện của chính quyền địa phương. Tại buổi làm việc, các bên đều khẳng định việc một số hộ dân trong thôn Ngọc Bình từ đầu năm 2016 đến nay có vào phát rừng cộng đồng để trồng rừng kinh tế là có thật với diện tích là 1,2ha; đến nay vụ việc trên đã được chính quyền xã, ngành chức năng của huyện phát hiện và nghiêm cấm hành vi tái diễn.
Cũng tại buổi làm việc, đại diện chính quyền xã Bạch Ngọc cho biết: Thôn Ngọc Bình nói riêng và xã Bạch Ngọc nói chung diện tích rừng cộng đồng hiện nay còn gần 600ha phân bố xen kẽ với đất lâm sinh do nhân dân quản lý. Do đó huyện Vị Xuyên đã yêu cầu Hạt Kiểm lâm và chính quyền các xã, thống kê đầy đủ diện tích rừng cồng đồng còn lại; đánh giá, quy hoạch những vùng có thể trồng rừng kinh tế sau đó giao cho hộ, nhóm hộ hoặc các tập thể để trồng rừng.
Trong đó diện tích rừng cộng đồng của thôn Ngọc Bình đã bị phát cũng nằm trong quy hoạch trồng rừng của huyện vì đây là khu vực rừng nghèo kiệt. Thực hiện chủ trương của huyện, xã Bạch Ngọc đã giao cho thôn Ngọc Bình họp nhân dân lấy ý kiến về việc giao một phần diện tích rừng cộng đồng cho các hộ, nhóm hộ để trồng rừng kinh tế. Tại buổi họp thôn phần đa các ý kiến đều đồng tình giao một phần rừng cộng đồng cho các hộ chưa có đất lâm sinh mượn để trồng rừng kinh tế; tuy nhiên cũng có một số hộ không tán thành.
Trong lúc huyện, xã và thôn đang tiếp tục tuyên truyền cho nhân dân hiểu rõ thì một số hộ dân đã tự ý lên phát rừng cồng đồng. Như vậy có thể nhận thấy, việc một số hộ dân trong thôn Ngọc Bình thực hiện phát rừng cộng đồng để trồng rừng kinh tế khi chưa có sự thống nhất trong thôn, xã là trái với quy định.
Song nhìn lại vụ việc trên, chúng ta có thể nhận thấy: Việc để hàng trăm ha rừng cộng đồng nghèo kiệt hay đồi trọc lãng phí như hiện nay là một điều đáng tiếc, do đó cùng với việc quy hoạch, phân vùng cụ thể để trồng rừng thì các cấp, các ngành của huyện Vị Xuyên cũng cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân hiểu rõ chủ trương từ đó giao một phần diện tích rừng cộng đồng cho các hộ, nhóm hộ hay các tập thể để trồng rừng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Hà Giang 4/6) đầu trang(
Năm 2008, đội đồng quản lý rừng ngập mặn ven biển đầu tiên trong tỉnh Sóc Trăng được thành lập tại ấp Âu Thọ B, xã Vĩnh hải, thị xã Vĩnh Châu.
Đây là nội dung chính trong việc đồng quản lý rừng thuộc dự án "Quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên ven biển tỉnh Sóc Trăng", trước đây là do tổ chức Hợp tác Kỹ thuật của Cộng hòa Liên Bang Đức GIZ tài trợ, từ sau năm 2007 do tỉnh quản lý.
Theo đó, đội đồng quản lý rừng có quyền sử dụng tài nguyên thiên nhiên đồng thời có trách nhiệm quản lý bền vững tài nguyên. Gần 10 năm, từ ngày thành lập, nhờ phương châm "Bảo vệ rừng là bảo vệ nguồn sống của mình", cuộc sống dưới tán rừng của hơn 300 thành viên Đội đồng quản lý và bà con trong ấp Âu Thọ B đã dần ổn định, diện tích các cánh rừng ngày một dày hơn.
Ông Thạch Soal, Trưởng Đội ĐQL rừng ấp Âu Thọ B, cho biết: “Tôi thấy trồng rừng ngập mặn đem lại rất nhiều lợi ích cho bà con sống ở vùng ven biển. Có rừng thì có thêm nhiều sinh vật biển đến sinh sống và chúng tôi có thể khai thác để ổn định kinh tế gia đình. Có rừng bảo vệ, người dân sống ven biển cũng an tâm hơn khi có triều cường, mưa bão”.
Đội chia làm 6 Tổ thay phiên canh gác và phân rừng thành nhiều khu để dễ quản lý. Trong đó khu rừng đước phòng hộ ven biển và khu rừng có nhiều loại cây rậm rạp bên trong có thể cung cấp tài nguyên cho con người, được các Tổ quản lý thay phiên trực gác liên tục, không để người dân khai thác trái phép. Tại các khu rừng phục hồi và khu bãi bồi, mỗi khi được các dự án chương trình của tỉnh hỗ trợ, toàn bộ thành viên đều có mặt đầy đủ, vận động thêm bà con xung quanh tham gia trồng mới và gia cố lại cây con, đảm bảo trên 90% cây rừng trồng xuống sống được.
Nhờ đó hơn 3.500 ha rừng ngập mặn ven biển Vĩnh Châu ngày càng phát triển bền vững, các cây con lớn khỏe, tăng cường thêm bề rộng đai rừng, để ngăn sóng biển và che chở cho các loài sinh vật biển. Anh Thạch Bun Thol, thành viên đội ĐQL rừng ấp Âu Thọ B, xã Vĩnh Hải, cho biết: “Rừng là lá chắn rất là quan trọng trong bảo vệ hệ thống đê biển. Nếu không có rừng thì cho dù đê biển được làm bằng bê tông chắc cỡ nào cũng bị sóng đánh trôi. Nếu có rừng che chắn sẽ tránh bị tràn đê, vỡ đê rất nhiều. Từ đó người dân ven biển luôn ý thức bảo vệ và tham gia cùng chính quyền phát triển rừng nhiều hơn nữa”.
Tháng 5/2015, được sự cho phép của địa phương và hỗ trợ hơn 60 triệu đồng từ dự án GIZ, đội ĐQL rừng mua ốc len giống về thả trên 2,5ha rừng ven vùng đệm. Hiện nay mỗi ngày bà con có thể bắt được 20 – 30 kg ốc, giá mỗi kg trên 50 ngàn đồng, tạo thêm nguồn thu nhập cho bà con. Một phần lợi nhuận thu được, đội giữ lại làm nguồn quỹ hỗ trợ cho những hộ có hoàn cảnh khó khăn trong ấp.
Do mô hình ổn định, cuộc sống người dân gắn liền với phát triển rừng khá hiệu quả, nên năm 2013, tỉnh thành lập thêm 2 đội đồng quản lý rừng nữa tại ấp Mỏ Ó, xã Trung Bình, huyện Trần Đề và ấp Võ Thành Văn, xã An Thạnh Nam, huyện Cù Lao Dung và từng bước nhân rộng mô hình ra các địa phương còn lại.
Lúc sinh thời, trong bất cứ hoàn cảnh nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng gắn cuộc sống của mình với thiên nhiên, môi trường. Chính vì vậy, Người luôn căn dặn cán bộ và nhân dân phải biết trồng cây gây rừng và bảo vệ môi trường. Việc làm của Đội đồng quản lý rừng ấp Âu Thọ B gần 10 năm qua chính là làm theo lời Bác dạy, góp phần duy trì màu xanh cho cuộc sống. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sóc Trăng 3/6) đầu trang(
Cách đây 26 năm, theo tiếng gọi của Đảng, nhiều hộ dân ở miền quê Thái Bình đã đi khai hoang, phát triển vùng kinh tế mới ở thôn Nà Ngà, xã Đại Sảo (Chợ Đồn). Sẵn bản tính cần cù, chịu khó, những hộ đồng bào “người xuôi” này đã thoát nghèo, có cuộc sống khá giả phần nhiều từ kinh tế rừng.
Dọc theo tuyến đường Đại Sảo - Bình Trung là những vạt rừng mỡ, quế xum xuê xanh biếc, có cả lứa mới trồng và cây đã đến kỳ khai thác. Ban đầu trồng nhỏ lẻ, thấy cây quế phù hợp hơn nên bà con đã tự tìm mua giống về trồng.Khi đã có kinh nghiệm, bà con Nà Ngà tự ươm cây giống. Bởi vậy, nhiều năm nay việc ươm giống không chỉ để gia đình trồng mà nhiều hộ đã ươm giống quế để bán, mỗi cây quế giống có giá 1.000 đồng, có hộ ươm được 4-5 vạn cây, đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho gia đình.
Thấy cây quế thu nhập cao, thị trường tiêu thụ ổn định, người dân địa phương khác cũng đến tìm mua cây giống. Nguồn giống quế bà con ươm không đủ cung ứng nhu cầu, cứ như vậy, hiện nay, cây quế đã và đang được phát triển nhân rộng trên địa bàn huyện Chợ Đồn, nhiều hộ dân không chỉ ở xã Đại Sảo, các xã khác cũng thoát nghèo từ trồng quế.
Theo bà con, trồng quế đem lại lợi nhuận cao, ngoài sản phẩm chính từ vỏ quế còn có thể tận dụng được cành, lá chiết xuất tinh dầu, thân cây to có thể dùng trong xây dựng. Quế là cây trồng ít sâu bệnh, không tốn nhiều công chăm sóc. Quế từ 8 - 10 năm tuổi trở lên là cho khai thác, 1ha quế đã có thể cho thu nhập hàng trăm triệu đồng. Giá vỏ quế dao động từ 8.000-10.000 đồng/kg tươi, có thời điểm thị trường thu mua với giá 15.000-16.000 đồng/kg...
Diện tích rừng quế được nhân rộng, giá cả ổn định, cuộc sống của người dân Nà Ngà ngày càng chuyển biến đi lên. Đến năm 2014, toàn thôn Nà Ngà không còn hộ nghèo, tính theo chuẩn nghèo đa chiều hiện nay chỉ còn 11 hộ nghèo, chủ yếu là những hộ ít đất hoặc mất sức lao động... Kinh tế rừng đã và đang tạo đà cho Nà Ngà cuộc sống ngày càng đầy đủ, vươn lên làm giàu.
Là một trong những hộ tiên phong trồng quế ở Nà Ngà, gia đình ông Phạm Công Duần đã có cuộc sống khá giả nhờ phát triển kinh tế rừng. Ông Duần cho biết: Việc phát triển kinh tế từ cây quế của thôn Nà Ngà được như ngày hôm nay cung phải trải qua không ít khó khăn. Riêng bản thân ông Duần đã từng cầm đơn lên xã, lên huyện đấu tranh để được bỏ cây mỡ, chuyển sang trồng quế có thu nhập cao hơn.
Khi hiệu quả của cây quế đã được minh chứng, không chỉ Đại Sảo mà nhiều xã trong huyện Chợ Đồn, cả người dân và chính quyền đều quan tâm phát triển cây quế… Cây quế đã giúp gia đình ông thoát nghèo, làm được nhà kiên cố, khang trang. Với giá cả ổn định như hiện nay, gần chục héc-ta rừng quế có giá trị hàng tỷ đồng sẽ giúp đời sống gia đình ông Duần ngày càng sung túc. Ở Nà Ngà, nhiều hộ cũng khá lên từ trồng rừng, chủ yếu là trồng quế.
Không chỉ đi đầu phát triển kinh tế rừng để xóa nghèo, ông Phạm Công Duần còn tự nguyện bỏ nhiều buổi công để đến các hộ gia đình có diện tích rừng trồng gần nhau để góp tiền, ngày công, hiến đất đầu tư làm đường vào khu rừng đi lại dễ dàng hơn. Sau khi đã được các hộ đồng ý, ông Duần đã cùng mọi người trong nhóm cùng thống nhất: Một là, hộ có rừng ở xa hơn đóng góp ít hơn hộ gần đường; hộ đã có sản phẩm được khai thác đóng góp nhiều hơn hộ rừng mới trồng chưa có sản phẩm...
Thế là tuyến đường được xây dựng thành công, không ai thắc mắc điều gì. Giờ đây, xe ô tô tải có thể vào tận cửa rừng để chở nông - lâm sản ra. Làm được tuyến đường này, riêng gia đình ông Duần đã tình nguyện chặt nhiều cây quế; riêng tiền thuê xe, thuê người san ủi chi phí trên 35 triệu đồng.
Ông Nông Văn Thiệp, trưởng thôn Nà Ngà cho biết: Với người nông dân Nà Ngà, trồng cây gì, hay nuôi con gì, chỉ cần có một hộ làm trước, thấy có thu nhập tốt là nhiều hộ khác sẽ học hỏi để làm theo. Vì thế những khu đồikhoảng 10 năm về trước chỉ toàn cỏ dại, lau lách, giờ đây là rừng quế đã phủ xanh khép tán.
Kinh tế rừng đã cho người dân thôn Nà Ngà có tiền chi phí sinh hoạt hằng ngày, con em được đi học, nhiều hộ bán gỗ làm được nhà đẹp. Bình quân mỗi hộ sở hữu ít nhất từ 1ha rừng trở lên, hộ nhiều thì có hàng chục héc-ta. Chỉ tính riêng từ năm 2001 đến nay, toàn thôn đã trồng mới được hàng trăm héc-ta rừng quế, mỡ...
Phong trào phát triển kinh tế rừng ở Nà Ngà là như vậy, còn phong trào làm đường vào khu sản xuất chỉ mới thực hiện từ năm 2014-2015, nhưng đến nay, toàn thôn Nà Ngà đã làm được 9 nhánh đường vào khu sản xuất, chiếm tỷ lệ khoảng trên 90%. Phát triển kinh tế từ rừng đã đem lại cuộc sống người dân thôn Nà Ngà ngày càng ấm no. Hiện nay đã có đơn vị doanh nghiệp vào khảo sát, đặt vấn đề xây dựng nhà máy chiết xuất tinh dầu quế. Nếu thành công, người dân trong thôn nói riêng, huyện Chợ Đồn nói chung sẽ có thêm cơ hội phát triển cây quế làm giầu từ kinh tế rừng...
Những vạt rừng quế, rừng mỡ xanh tốt đã và đang tiếp cho Nà Ngà một sức sống tràn đầy. Từ sự khát khao làm giàu, người dân Nà Ngà đã thành công trên con đường làm kinh tế rừng. Đời sống mọi mặt được nâng cao, Nà Ngà đang góp phần thực hiện các tiêu chí trong thực hiện xây dựng nông thôn mới. (Công An Bắc Kạn 3/6) đầu trang(
Ngày 5/6, UBND TP Hạ Long (Quảng Ninh) cho biết, ông Phạm Hồng Hà, Chủ tịch UBND TP Hạ Long vừa có văn bản báo cáo Thành uỷ Hạ Long về việc xác minh thông tin và quản lý khai thác dịch vụ tại đảo Bái Đông trên Vịnh Hạ Long.
Trước đó có thông tin về việc một doanh nghiệp khai thác dịch vụ du lịch tại hòn đảo này là Công ty TNHH Lê Hoàng Trường Sa. Tuy nhiên, UBND TP Hạ Long khẳng định, do đảo Bái Đông là đảo nằm trong vùng lõi Di sản Thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, có giá trị cao về địa chất địa mạo và đa dạng sinh học nên hiện tại mới đang báo báo UBND tỉnh Quảng Ninh thẩm định để công bố là địa điểm du lịch. Hiện, đảo chưa đủ điều kiện để đón khách du lịch.
Liên quan tới việc tới thông tin về doanh nghiệp, UBND TP Hạ Long khẳng định, Thành phố mới chỉ ký hợp đồng với doanh nghiệp để uỷ nhiệm phối hợp với Ban quản lý Vịnh Hạ Long bảo vệ đồng thời nghiên cứu, lập dự án trình cơ quan có thẩm quyền để đầu tư khai thác dịch vụ trên đảo này. Tuy nhiên, lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo của Ban quản lý Vịnh Hạ Long và UBND TP Hạ Long, doanh nghiệp này tự ý xây dựng một nhà điều hành và các công trình liên quan...
UBND TP Hạ Long đã yêu cầu cơ quan chức năng TP Hạ Long hoàn thiện các hồ sơ pháp lý xử lý vi phạm doanh nghiệp và cưỡng chế công trình xây dựng trái phép trên đảo này. Đảo Bái Đông là vùng biển đảo nằm trong vùng lõi di sản Vịnh Hạ Long, có bãi tắm cát trắng tự nhiên, trải dài 340 m. Và đặc biệt là có cảnh quan độc đáo qua vòm núi hình tròn tuyệt đẹp nằm giữa lòng núi.
Đảo Bái Đông có diện tích khoảng 30ha, còn giữ nguyên vẻ hoang sơ. Từ phía ngoài quan sát, Bái Đông có hình dạng cánh cung, được che chắn bởi 2 dãy núi đá lớn, tạo nên vùng biển đảo phẳng lặng, êm đềm. Để ra Bái Đông, từ Cảng tàu Bãi Cháy hay Bến Đoan, phải cần di chuyển bằng tàu mất khoảng hơn 2 giờ đồng hồ. (Infonet 5/6) đầu trang(
Những năm qua, hàng chục dự án đầu tư phát triển nông, lâm nghiệp và du lịch sinh thái trên đất lâm nghiệp đã được triển khai. Tuy nhiên, việc quản lý các dự án này lại chưa có sự phân định rõ ràng giữa các sở, ngành.
Trước đây, các dự án trồng rừng chủ yếu sử dụng vốn từ ngân sách Nhà nước. Việc chăm sóc, bảo vệ rừng là trách nhiệm của ngành Nông nghiệp. Theo thời gian, một hình thái quản lý bảo vệ rừng, đất rừng mới đã xuất hiện và tỏ ra ưu việt, đó là việc giao đất lâm nghiệp, giao rừng cho tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác.
Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, hiện nay, toàn tỉnh có 42 dự án đầu tư phát triển nông lâm nghiệp, du lịch sinh thái, thủy lợi và thủy điện. Trong đó, có 19 dự án đầu tư trên đất lâm nghiệp. Trong 19 dự án này có 7 dự án đầu tư trên đất lâm nghiệp có rừng tự nhiên, đây chủ yếu là các dự án được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, thuê rừng để triển khai mô hình du lịch sinh thái dưới tán rừng.
Chẳng hạn như Dự án Công viên du lịch Yang Bay - Hocho ở huyện Khánh Vĩnh của Tổng Công ty Khánh Việt, UBND tỉnh đã giao gần 600ha đất, bao gồm đất lâm nghiệp, nông nghiệp, đất chưa sử dụng. Trong đó, có hơn 480ha rừng (bao gồm cả rừng sản xuất và rừng phòng hộ) được duyệt giữ lại để bảo vệ, khoanh nuôi. Chủ dự án chỉ đầu tư xây dựng khu du lịch sinh thái trong khoảng diện tích hơn 100ha còn lại.
Hay dự án Khu du lịch sinh thái Ba Hồ ở thị xã Ninh Hòa. Tại đây, chủ dự án đã thuê gần 28ha rừng tự nhiên có chức năng là rừng phòng hộ, đầu tư xây dựng 14 bungalow, 2 nhà hàng, 1 cầu vượt suối và một số công trình phụ trợ khác. Tất cả các công trình này đều nằm dưới tán rừng, nằm trong dự án được cấp phép.
Đối với 12 dự án đầu tư trên đất lâm nghiệp không có rừng tự nhiên, đây chủ yếu là các dự án trồng rừng sản xuất kết hợp kinh tế trang trại. Tiêu biểu cho dạng dự án này phải kể đến Dự án Trồng rừng sản xuất và chăm sóc rừng Mỹ Hằng ở huyện Cam Lâm với tổng diện tích hơn 226ha. Trong đó, có 156,5ha đất lâm nghiệp vốn là diện tích đất trống, đồi núi trọc đã được doanh nghiệp này phủ kín keo lai, làm đường lâm sinh, ranh cản lửa và rừng đang phát triển tốt.
Tuy nhiên, việc phân định các dự án một cách rành mạch, cụ thể là điều không dễ dàng, bởi có nhiều dự án được đầu tư một phần trên đất lâm nghiệp, một phần không thuộc đất lâm nghiệp. Có những dự án chỉ đơn thuần là trồng rừng sản xuất, nhưng cũng có không ít dự án là sự kết hợp cả trồng rừng, bảo vệ rừng nguyên sinh, đầu tư xây dựng hạ tầng.
Chính vì sự đa dạng, nhiều hình thái trong các dự án đầu tư trên đất lâm nghiệp, nên trong cuộc họp với sở, ngành liên quan đến việc quản lý các dự án đầu tư trên đất lâm nghiệp mới đây, đồng chí Lê Đức Vinh - Chủ tịch UBND tỉnh đã đặt ra nhiều câu hỏi cho các sở, ngành, đó là: đơn vị nào quản lý các dự án này, quản lý như thế nào, đơn vị nào kiểm tra, các chủ đầu tư có thực hiện đúng theo giấy phép được duyệt hay không?
Đó là chưa kể trên thực tế có những dự án đã được phê duyệt hàng chục năm nay nhưng chưa triển khai, những dự án đã và đang triển khai nhưng chưa có sự kiểm soát chặt chẽ từ các đơn vị quản lý.
Lãnh đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) cho rằng: Theo Luật Đầu tư năm 2005, không phải tất cả các dự án đầu tư Sở KH-ĐT đều là đơn vị nắm và quản lý. Bởi có những dự án thuộc sở chuyên ngành tham mưu UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư. Nói cách khác, Luật Đầu tư năm 2005 quy định các dự án có vốn đầu tư trên 300 tỷ đồng hoặc ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì Sở KH-ĐT mới là đơn vị tham mưu, còn các dự án khác do ngành dọc tham mưu.
Riêng 19 dự án trên đất lâm nghiệp, Sở KH-ĐT chỉ tham mưu đối với một số ít dự án hội đủ 1 trong 2 yếu tố kể trên, phần còn lại thuộc các sở, ngành khác. Khi Luật Đầu tư năm 2014 có hiệu lực từ ngày 1-7-2015, Sở KH-ĐT tham mưu UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án Nhà nước cho thuê đất, giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
Theo quy định, nhiệm vụ quản lý đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, còn quản lý rừng lại thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT), trong khi các dự án đầu tư thuộc chức năng quản lý của Sở KH-ĐT. Bởi vậy, một khi các dự án đã được cấp giấy phép đầu tư, đơn vị nào chịu trách nhiệm quản lý dự án đó là vấn đề được đặt ra.
Theo đồng chí Lê Đức Vinh, UBND tỉnh cũng như các sở, ngành luôn khuyến khích các dự án trồng rừng. Những năm qua, điều kiện thời tiết khắc nghiệt càng đòi hỏi diện tích rừng phải được bảo vệ, tăng lên nhằm hạn chế tối đa những tác động xấu từ nắng hạn, mưa lũ. Tuy nhiên, hoạt động giám sát các dự án này đang bộc lộ những kẽ hở, chưa đồng bộ và chặt chẽ.
Vì vậy, bên cạnh sự khuyến khích đầu tư vào các dự án trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, du lịch sinh thái dưới tán rừng, trong thời gian đến, các ngành chức năng cần tăng cường hơn nữa hoạt động kiểm tra, kiểm soát, quản lý; trong đó, có sự phân công trách nhiệm rõ ràng theo từng ngành, từng địa phương.
Theo báo cáo của Sở NN-PTNT, qua kiểm tra các dự án triển khai trên đất lâm nghiệp, các chủ đầu tư đều thực hiện tốt việc bảo vệ các khu vực rừng thuộc diện giữ lại. Đa số các dự án trồng rừng đều đã được triển khai, diện tích rừng trồng vì thế luôn tăng theo từng năm.
Tuy vậy, vẫn còn không ít dự án chưa triển khai hoặc triển khai chậm so với tiến độ. Ngoài ra, hoạt động quản lý đối với các dự án này chưa thật sự đi vào chiều sâu. Vì vậy, khi có sự phân định rạch ròi trách nhiệm, công tác quản lý sẽ hiệu quả và chặt chẽ hơn. (Báo Khánh Hòa 6/6) đầu trang(
UBND tỉnh Bình Phước đã gia hạn thời gian thanh tra giải quyết đơn khiếu nại của gần 40 hộ dân ngụ ấp Bình Thắng, xã An Bình, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
Theo đó, trước đề nghị của Trưởng đoàn thanh tra 201/QĐ-UBND, ông Huỳnh Anh Minh, phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước đã ký Quyết định số 1156/QĐ-UBND gia hạn về thời gian thanh tra. Thời gian gia hạn 15 ngày, kể từ ngày 2/5/2016. “Do vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều cấp nên cần thêm thời gian xác minh”, quyết định nêu.
Trước đó, ngày 25/1/2016 ông Trần Ngọc Trai, phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước đã ký Quyết định số 201/QĐ-UBND về việc thành lập đoàn thanh tra giải quyết đơn khiếu nại của bà Ung Thị Thủy và các hộ dân ngụ tại ấp Bình Thắng.
Theo nội dung thanh tra về quá trình giải quyết đơn khiếu nại của bà Thủy và 35 hộ dân còn lại. Khiếu nại cho rằng một số công văn, quyết định, giấy phép của các cơ quan chức năng tỉnh Bình Phước ban hành gây ảnh hưởng quyền lợi của bà Thủy và các hộ dân đang thực hiện hợp đồng giao khoán, khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng và bảo vệ rừng trong vùng dự án chuyển đổi giao cho Công ty Thiện Đức thuê trồng cao su.
Khiếu nại khẳng định quá trình thanh lý rừng trồng chưa đúng quy định tại quyết định số 43/QĐ-UBND ngày 17/9/2009 về việc thanh lý rừng trồng theo chương trình 327. Đồng thời yêu cầu sau khi thanh lý rừng trồng thì đất rừng trồng phải được giao lại cho người dân sản xuất. Rừng tự nhiên thanh lý thì phải bố trí tái định canh để ổn định cuộc sống cho nhân dân.
Liên quan đến vụ việc tháng 11/2014 UBND tỉnh Bình Phước ban hành Quyết định số 2536/QĐ-UBND về việc thành lập tổ xử lý các vướng mắc đối với 82,9ha rừng trồng Giá tỵ tại Nông lâm trường Tân Lập.
Nhiệm vụ của tổ xử lý nhằm rà soát toàn bộ hồ sơ, quá trình thực hiện của các hộ dân nhận khoán 82ha rừng trồng Giá tỵ tại Nông lâm trường Tân Lập. Đồng thời kiểm chứng các nội dung kiến nghị của các hộ dân, từ đó xây dựng chính sách phù hợp để đảm bảo lợi ích hợp pháp của các hộ dân.
Theo tìm hiểu, đầu những năm 1990, Chính phủ triển khai dự án phủ xanh đất trống, đồi núi trọc theo Chương trình 327. Năm 1995, Lâm trường Phú Bình (tỉnh Sông Bé cũ) ký hợp đồng giao khoán quản lý bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng trồng và chăm sóc bảo vệ rừng trồng trên diện tích 1.915ha rừng tự nhiên cho 41 hộ dân.
Trong số diện tích này có hơn 80ha để trồng rừng Giá tỵ. Hợp đồng được ký trong vòng 50 năm (1995 - 2045). Năm 1997 tỉnh Sông Bé được tách thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước. Do đó diện tích đất và hồ sơ 41 hộ nhận khoán được giao đơn vị mới là Ban quản lý rừng kinh tế Tân Lập (nay là Nông trường Tân Lập thuộc Công ty cao su Bình Phước).
Năm 2005, khi ký lại sổ giao khoán Nông trường Tân Lập chỉ ký cho 17 hộ, đẩy 24 hộ còn lại ra rìa. Tháng 10/2010, Công ty cao su Bình Phước tiến hành cưa hạ 20ha rừng Giá tỵ xanh tốt khiến người dân phản ứng. Công an can thiệp nên vụ việc dừng lại.
Sau đó, Công ty cao su Bình Phước dựa vào biên bản thanh lý hợp đồng “khống” để định giá bồi thường “rẻ như bèo”, 130 ngàn/cây Giá tỵ để “bóp cổ” những người dân nghèo. Không chỉ làm trò “ảo thuật” với giá gỗ, 18 hộ dân có nguy cơ mất trắng công sức.
Trao đổi với chúng tôi, bà Thủy nghẹn ngào: “Mồ hôi và công sức của bà con chúng tôi đã đổ xuống để khu rừng Giá tỵ xanh tốt. Vậy mà họ ngang nhiên “bức tử” rồi đẩy nhiều hộ dân ra rìa. Chúng tôi ủng hộ chủ trương chuyển sang trồng cao su của tỉnh nhưng hãy để chúng tôi khai thác hết gỗ rồi trồng cao su. Không có đất canh tác, người dân chúng tôi lâm vào cảnh khốn cùng”.
Hiện đoàn thanh tra đang khẩn trương vào cuộc khiến vụ việc bắt đầu nóng lên sau một thời gian dài có phần im lặng. (Tầm Nhìn 6/6) đầu trang(
Ngày 5.6, Công an TP.Vũng Tàu (Bà Rịa-Vũng Tàu) cho biết đã ra thông báo truy tìm Nguyễn Văn Sỹ (33 tuổi, ngụ 396A Nguyễn An Ninh, P.8, TP.Vũng Tàu) để điều tra, làm rõ hành vi vi phạm các quy định về sử dụng đất đai.
Theo thông tin ban đầu, ông P.Q.D (ngụ P.3, TP.Vũng Tàu) nhận khoán trồng rừng theo Chương trình 327 tại khu vực hẻm 227 Lưu Chí Hiếu (P.10, TP.Vũng Tàu) với diện tích 7.284 m2. Vào khoảng cuối năm 2010, ông D. ủy quyền cho Sỹ để trả đất rừng lại cho nhà nước. Tuy nhiên, sau đó Sỹ đã phân ra thành nhiều lô đất và bán cho 7 người dân để xây dựng nhà trái phép.
Theo người dân cung cấp cho cơ quan công an, Sỹ đã bán 7 lô đất có tổng diện tích hơn 3.000 m2, thu hơn 1,2 tỉ đồng. Trong thời gian Công an TP.Vũng Tàu điều tra vụ việc thì Sỹ không có mặt ở địa phương.
Đây là khu vực mà Báo Thanh Niên nhiều lần phản ánh tình trạng đất rừng trên địa bàn P.10, TP.Vũng Tàu bị "đầu nậu" chiếm dụng, phân lô bán nền xây dựng trái phép gây mất an ninh trật tự. (Thanh Niên 6/6) đầu trang(
Thời gian qua, nhiều công ty lâm nghiệp ở tỉnh Đắk Nông giao đất tràn lan cho những cá nhân không thuộc diện được giao đất. Có cán bộ cũng được “ưu tiên” giao hàng chục hécta đất rừng để trồng cây công nghiệp.
Đắk Nông hiện có 14 công ty lâm nghiệp, được giao quản lý hơn 160.000ha rừng và đất rừng. Nhưng phần lớn các công ty này đang hoạt động không hiệu quả, để mất quá nhiều diện tích rừng và đất rừng, giao đất rừng tràn lan cho nhiều cá nhân không thuộc diện được nhận đất. Đứng đầu về những sai phạm này là Công ty TNHH Gia Nghĩa.
Công ty TNHH Gia Nghĩa được tỉnh Đắk Nông giao quản lý hơn 24.000ha rừng và đất rừng, thuộc lâm phần huyện Đắk Glong và thị xã Gia Nghĩa. Từ năm 2009 - 2014, công ty đã ký hợp đồng giao khoán rừng sản xuất cho 147 hộ dân theo Nghị định 135/2005/NĐ-CP của Chính phủ với diện tích hơn 1.100ha.
Theo kết luận của Thanh tra tỉnh Đắk Nông, việc giao khoán của công ty chưa đúng đối tượng theo quy định, chưa ưu tiên giải quyết đất cho các hộ là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Trong 147 hộ được giao khoán đất rừng, chỉ có 2 hộ là đồng bào dân tộc tại chỗ và có 27 hộ được giao đất không cư trú hợp pháp trên địa bàn xã, huyện nơi có đất của bên giao khoán. Còn đơn nhận giao khoán phần lớn không có xác nhận của chính quyền địa phương, không có cơ sở để xác định đối tượng giao khoán nhưng vẫn được nhận đất giao khoán.
Qua xác minh 90 hộ nhận khoán, Thanh tra tỉnh Đắk Nông phát hiện có 21 hộ không có hộ khẩu thường trú (như đã khai trong hồ sơ nhận khoán), nhưng vẫn được giao khoán hơn 83ha đất rừng. Trong đó có hộ ông Lê Văn Dân vẫn được nhận giao khoán 3,4ha đất rừng, ông này đã xâm canh trồng cây nông nghiệp.
Còn hộ ông Hoàng Đại Cường được giao khoán 2 lần với diện tích 25ha và hộ bà Nguyễn Thị Thương cũng được giao khoán 2 lần với diện tích 8,9ha. Không những thế, công ty còn giao khoán hơn 204ha đất rừng cho 67 hộ chưa có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất, kinh doanh được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Theo giải trình Công ty TNHH Gia Nghĩa, do áp lực phải trồng lại rừng ngay trên diện tích rừng bị phá theo chỉ đạo của UBND tỉnh Đắk Nông, nên đơn vị đã bỏ qua thủ tục lập dự án khi thực hiện giao khoán?
Vào năm 2007, Công ty Lâm nghiệp Đắk Song (nay đổi tên là Công ty TNHH MTV Thuận Tân - PV) ký hai hợp đồng kinh tế trái quy định giao 16,7ha đất rừng tại xã Thuận Hà (huyện Đắk Song) cho ông Trần Văn Dương (cán bộ Công an huyện Đắk Song) trồng rừng, chăm sóc, quản lý và bảo vệ rừng.
Sau khi bàn giao đất, Công ty Lâm nghiệp Đắk Song còn “ưu ái” cung cấp toàn bộ giống, cây trồng như: Xoan, keo, muồng… để ông Dương trồng cây trên đất rừng. Trong thời gian phát thực bì trồng cây, nhiều hộ dân địa phương đã có tranh chấp đất rừng với ông Dương. Ngoài ra, ông Dương còn lấn chiếm sang vị trí khác được giao khoán để trồng cây công nghiệp. Đến cuối năm 2011, UBND huyện Đắk Song thu hồi 6ha của ông Dương để thực hiện dự án ổn định dân di cư tự do và “ưu ái” bồi thường cho ông Dương 740 triệu đồng.
Theo kết luận tại quyết định số 234/2015/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đắk Nông, việc Công ty Lâm nghiệp Đắk Song (cũ) ký hợp đồng cho ông Dương đã vi phạm Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 của Hội đồng Nhà nước và Nghị định số 135/2005/NĐ-CP của Chính phủ.
Theo đó, việc Công ty Lâm nghiệp Đắk Song ký hợp đồng cho ông Dương nhận giao khoán trong khi ông này đang là cán bộ Công an huyện Đắk Song, không trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và không có hộ khẩu nơi có đất là không đúng đối tượng.
Theo quy định tại Điều 2, Nghị định 135/2005/NĐ-CP và Mục I, Phần I, Thông tư số 102/2006/TT-BNN của Bộ NN&PTNT, quy định đối tượng nhận giao khoán là các hộ gia đình có hộ khẩu tại nơi có đất, ưu tiên cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, hộ đồng bào dân tộc thiểu số thuộc diện nghèo, đời sống khó khăn.
Qua xác minh 90 hộ nhận khoán, Thanh tra tỉnh Đắk Nông phát hiện có 21 hộ không có hộ khẩu thường trú (như đã khai trong hồ sơ nhận khoán), nhưng vẫn được giao khoán hơn 83ha đất rừng. (Tiền Phong 6/6) đầu trang(
Phá hàng nghìn mét vuông rừng sản xuất để lập xưởng sản xuất gỗ dăm trái phép, Cty TNHH Minh Long (xã Trường Lâm, Tĩnh Gia, Thanh Hóa) coi như không có… chính quyền xã. Trong khi đó dường như lãnh đạo UBND huyện Tĩnh Gia lại làm ngơ.
Sau khi Sở KH&ĐT tỉnh Thanh Hóa có báo cáo khẳng định nhiều sai phạm trong sản xuất gỗ dăm trên địa bàn tỉnh, đặc biệt điểm nóng băm dăm trái phép tại huyện Tĩnh Gia, tình hình hoạt động của các xưởng băm dăm trái phép trên địa bàn huyện Tĩnh Gia vẫn không hề suy giảm.
Theo ghi nhận của phóng viên, nổi lên trên địa bàn xã Trường Lâm, huyện Tĩnh Gia là xưởng sản xuất gỗ dăm không phép của Cty Minh Long. Ngày 7.10.2015, UBND xã Trường Lâm có văn bản số 56 thông báo về việc đình chỉ sản xuất gỗ dăm không phép của Cty Minh Long do ông Trần Ngọc Thịnh làm giám đốc, nhưng Cty Minh Long vẫn phớt lờ tiếp tục hoạt động. Buộc UBND xã Trường Lâm ngày 16.10.2015 phải có báo cáo số 55/BC-UBND gửi đến UBND huyện Tĩnh Gia.
Báo cáo 55 nêu rõ: Ngày 7.10.2015, UBND xã Trường Lâm đã ra thông báo số 56/TB-UBND yêu cầu ông Trần Ngọc Thịnh dừng ngay việc sản xuất gỗ dăm, nhưng ông Trần Ngọc Thịnh vẫn không chấp hành mà vẫn tiến hành tổ chức sản xuất, đồng thời cũng không khắc phục các tồn tại… ảnh hưởng đến sinh hoạt và gây bức xúc trong nhân dân… Với chức năng thẩm quyền ở cơ sở còn có hạn, vậy UBND xã Trường Lâm báo cáo UBND huyện Tĩnh Gia xem xét kiểm tra và giải quyết theo thẩm quyền.
Trong khi UBND huyện Tĩnh Gia chưa có động tĩnh gì thì Cty TM Minh Long lại chuyển cơ sở sang một vị trí khác vẫn tại thôn Hòa Lâm xã Trường Lâm. Tại đây, Cty TM Minh Long đã san phẳng khoảng 5.000m2 đất rừng sản xuất để làm xưởng băm dăm trái phép đến nay.
Trong khi chính quyền xã Trường Lâm dường như bất lực thì những báo cáo của UBND xã lên huyện lại không được UBND huyện Tĩnh Gia hồi đáp.
Để làm rõ hoạt động sản xuất gỗ dăm không phép của Cty TM Minh Long, điều ngạc nhiên là ông Nguyễn Tiến Dũng - Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia lại tiếp tục đá quả bóng trách nhiệm sang Ban Quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn.
Còn Ban Quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn mới đây nhất ngày 1.6 đã ra văn bản gửi UBND huyện Tĩnh Gia khẳng định: “Để chấm dứt tình trạng sản xuất gỗ dăm trái phép trên địa bàn Khu kinh tế Nghi Sơn, Ban đề nghị UBND huyện Tĩnh Gia căn cứ chức năng, nhiệm vụ theo quy định, tiến hành kiểm tra và có biện pháp xử lý triệt để đối với các cơ sở chế biến dăm gỗ trái phép”.
Cũng theo văn bản này, Ban quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn cho biết đã phát hiện 5 cơ sở chế biến gỗ dăm trái phép, cụ thể tại mặt bằng khu dịch vụ dầu khí tổng hợp, cảng Nghi Sơn có 2 doanh nghiệp hoạt động trái phép là Cty TNHH thương mại và đầu tư Nghi Sơn và Cty CP Sinh Lộc Phát. Các doanh nghiệp này hoạt động từ năm 2013, trong quá trình kiểm tra Ban đã phát hiện và yêu cầu dừng hoạt động và thông báo cho chính quyền địa phương biết để xử lý. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có biện pháp để giải quyết triệt để, đến nay các công ty này vẫn tiếp tục hoạt động.
Ngoài ra, BQL Khu kinh tế Nghi Sơn còn phát hiện thêm 3 cơ sở gỗ dăm trái phép khác gồm: Cty TNHH Thành Tiến hoạt động tại xã Hải Thưởng, Cty TNHH Minh Long và Cty TNHH Việt Trung hoạt động tại xã Trường Lâm huyện Tĩnh Gia. Các công ty này đều thuê đất của các hộ dân để hoạt động và đến nay cũng chưa có biện pháp xử lý của cấp có thẩm quyền.
Để giải quyết triệt để tình trạng lập xưởng sản xuất gỗ dăm không phép tràn lan, được biết ngày 11.5, UBND tỉnh Thanh Hóa đã triệu tập cuộc họp với các sở ngành liên quan: Sở TN&MT, Sở KH&ĐT, Sở NN&PTNT, Ban quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn cùng UBND các huyện.
Chủ trì cuộc họp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Đức Quyền đã khẳng định, tình trạng hoạt động trái phép, không phép của các nhà máy gỗ dăm đã làm phá vỡ quy hoạch sản xuất lâm nghiệp của tỉnh, thất thoát trong hoạt động thu thuế của Nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập của người trồng rừng...
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Đức Quyền khẳng định: "Trong thời gian tới, tỉnh yêu cầu cần chấn chỉnh hoạt động, xử lý triệt để các cơ sở băm dăm gỗ trái phép trên địa bàn tỉnh, đóng cửa các cơ sở băm dăm gỗ chưa được cấp có thẩm quyền chấp thuận".
Lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa cũng giao Sở NN&PTNT khẩn trương hoàn thành quy hoạch vùng nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh đến năm 2020; sau khi giải tỏa các cơ sở hoạt động trái phép, tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp vào đầu tư lĩnh vực dăm gỗ.
Giao Sở KH&ĐT, Sở Công thương tăng cường quản lý hoạt động các doanh nghiệp sau đầu tư về mặt quy mô, công nghệ; xúc tiến thu hút các nhà đầu tư có năng lực. Đối với UBND các huyện có cơ sở sản xuất, chế biến dăm gỗ cần quản lý chặt chẽ nguồn nguyên liệu, chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh nếu để tình trạng hoạt động trái phép tiếp tục diễn ra.
Rõ ràng đã đến lúc UBND tỉnh Thanh Hóa cần làm rõ trách nhiệm của chính quyền cấp huyện mới hy vọng chấm dứt được nạn băm gỗ dăm lậu tràn lan. (Lao Động 5/6) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Ngày 2/6, giới chức Mỹ thông báo lệnh cấm gần như hoàn toàn đối với việc buôn bán ngà voi châu Phi, hoàn thiện nỗ lực trong nhiều năm đẩy mạnh cuộc chiến chống nạn săn bắt trộm đang đe dọa loài động vật này.
Cơ quan Bảo tồn động vật hoang dã Mỹ (FWS) cho biết quy định mới sẽ có hiệu lực từ ngày 6/6 tới, theo đó cấm gần như hoàn toàn mọi hoạt động xuất-nhập khẩu, mua bán ngà voi và các sản phẩm chế tạo từ ngà voi.
Tuy nhiên, quy định mới cũng được ban hành cùng với một loạt quy định miễn thuế, gồm những đồ cổ ít nhất 100 năm tuổi, các loại nhạc cụ, đồ nội thất và súng ngắn được trang trí ngà voi với trọng lượng ngà voi tối đa là 200 gram.
Các nhà hoạt động bảo vệ động vật hoang dã tại Mỹ và quốc tế đã hoan nghênh quy định mới của Mỹ này, coi đây là bước đi thiết thực và hiệu quả giúp bảo vệ loài voi.
Quy định mới cấm buôn bán ngà voi được coi là biện pháp hỗ trợ cho sắc lệnh của chính quyền Tổng thống Barack Obama ban hành năm 2013 nhằm đẩy mạnh cuộc chiến chống buôn bán các sản phẩm từ động vật hoang dã bị săn bắn trộm, kéo theo nguy cơ tuyệt chủng các loại động vật quý hiếm.
Theo thống kê, mỗi năm tại châu Phi có khoảng 35.000 con voi bị giết. Số voi sống trong môi trường tự nhiên hiện còn khoảng 450.000 con.
Buôn bán ngà voi diến biến sôi động nhất tại châu Á và Trung Đông do nhu cầu cao, nơi mà ngà voi và sừng tê giác được sử dụng cho những phương thuốc truyền thống và đồ trang trí nội thất.
Trung Quốc cũng cam kết ban hành lệnh cấm buôn bán ngà voi trong nước và trong tháng Ba vừa qua đã ban hành một lệnh cấm rộng rãi việc nhập khẩu đối với mặt hàng này. (Vietnam + 3/6) đầu trang(
Nhà chức trách Thái Lan phát hiện hàng chục xác hổ trong ngôi chùa Hổ nổi tiếng, hé lộ đường dây buôn bán động vật hoang dã quy mô trong khu vực.
Một tuần trước khi vụ bê bối bị phanh phui, du khách phải trả khoảng 20 USD cho mỗi lần thăm chùa Wat Pha Luang Ta Bua tức chùa Hổ nằm ở tỉnh Kanchanaburi, phía tây thủ đô Bangkok, Thái Lan. Tại đây, du khách có cơ hội nhìn ngắm chúa sơn lâm sống gần gũi, thân thiện bên cạnh con người. Du khách sẽ mất thêm 30 USD nếu muốn cho hổ con ăn hoặc chụp ảnh chung với những con hổ trưởng thành.
Tuy nhiên, khu danh thắng nổi tiếng hàng đầu của Thái Lan đã bị đóng cửa. Nhà chức trách phát hiện xác hàng chục con hổ được bảo quản trong tại đây làm dấy lên nghi ngờ về một đường dây buôn bán động vật hoang dã quy mô bắt nguồn từ chùa Hổ. Những con hổ được đưa khỏi chùa và có thể mãi mãi không trở lại.
Sau một thập kỷ bị cáo buộc ngược đãi, buôn bán và nuôi nhốt động vật hoang dã bất hợp pháp, chùa Hổ bị hơn 1.000 cảnh sát và binh sĩ quân đội đột kích, phanh phui bê bối làm chấn động thế giới. Đích đến của các hoạt động buôn bán hổ ở Thái Lan là Trung Quốc, một thị trường không bao giờ được thỏa mãn.
Theo Guardian, các thống kê cho thấy số lượng hổ trong tự nhiên đang giảm nghiêm trọng. Kết quả nghiên cứu của Cơ quan Điều tra Môi trường Anh (EIA) cho thấy số hổ hoang dã hiện nay chỉ còn 3.200 cá thể, so với 100.000 cá thể năm 1900.
Trong khi đó, các cơ quan điều tra môi trường cho biết có 5.000 con hổ sống trong điều kiện nuôi nhốt ở Trung Quốc và 1.450 con sống trong chuồng ở Thái Lan. Các nước châu Á đều có những chuồng nuôi nhốt hổ trong các vườn thú công lập và tư nhân.
Debbie Banks làm việc cho EIA tại Trung Quốc. Banks cho biết, trong thập kỷ qua, nuôi hổ trở thành ngành công nghiệp bùng nổ nhanh chóng và sinh lợi lớn ở quốc gia đông dân nhất thế giới. Chúng thường núp dưới danh nghĩa các trung tâm bảo tồn. Tại Trung Quốc, hổ được coi là vị thuốc quý, khiến chúng bị đẩy tới bên bờ vực tuyệt chủng.
Banks nhận định: “Những cơ sở nuôi nhốt giữ những cá thể hổ đã chết trong tủ đá. Cuộc đột kích vào chùa Hổ, Thái Lan hé lộ hoạt động buôn bán động vật hoãng dã lan tới khu vực Đông Nam Á. Nó cũng cho thấy nhiều cái gọi là khu bảo tồn và trang trại bí mật bán xác hổ vì chúng rất có giá trị trên thị trường chợ đen".
Những trang trại hổ phi pháp đang phát triển mạnh về số lượng và quy mô nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ xương và các bộ phận khác của hổ. Tuy nhiên, các hoạt động phi pháp núp dưới vỏ bọc vô cùng nhân văn – bảo tồn loài động vật đang bị đẩy tới sát mép vực tuyệt chủng. Và sau đó, những con hổ trong môi trường nuôi nhốt không bao giờ được trả lại tự nhiên như những gì họ đã cam kết.
Theo thỏa thuận quốc tế năm 2007, không được phép nuôi hổ phục vụ mục đích thương mại. Các trại nuôi hổ cần được dỡ bỏ. Tuy nhiên, điều ngược lại đang xảy ra. Những trang trại hổ mọc lên nhiều và phát triển mạnh, các hoạt động buôn bán hổ gia tăng trong khi nhu cầu của con người với hổ hoang dã đang cao chưa từng có.
Thống kê năm 2014, nhà chức trách thu giữ ngày càng nhiều hổ còn sống và xác của chúng. Số lượng này tăng gấp rưỡi trong vòng 14 năm qua. Nhiều dấu hiệu cho thấy phần lớn trong số chúng là các cá thể bị nuôi nhốt. Sự lỏng lẻo tại biên giới Thái Lan, Myanmar, Lào và Trung Quốc khiến các hoạt động buôn bán hổ và các động vật hoang dã khác phát triển mạnh bất chấp lệnh cấm quy mô toàn cầu.
Ngay khi xác hổ tới Trung Quốc, giá trị của chúng tăng mạnh. Lợi nhuận khổng lồ khiến những kẻ buôn lậu phớt lờ lệnh cấm trong khi tác dụng dược phẩm của các chế phẩm từ hổ khiến nó được săn lùng ở Trung Quốc. Năm 1993, Trung Quốc cấm sử dụng xương hổ làm cao nhưng mặt hàng này tiếp tục được lưu hành và trở thành món hàng thể hiện đẳng cấp và sự giàu có của người mua.
Tại Trung Quốc, da một con hổ nuôi nhốt có giá 60.000 USD trong khi rượu cốt hổ giá 500 USD/chai. Xương hổ có giá trị tương đương với vàng trong khi một bát súp pín hổ có giá tới 300 USD. Quý ông Trung Quốc rất ưa chuộng loại súp này vì chúng được cho làm tăng cường bản lĩnh đàn ông.
Chỉ còn khoảng 50 con hổ tự nhiên ở Trung Quốc nhưng hai trại nuôi hổ lớn và các trại nuôi hổ nhỏ hơn đang nhốt trái phép khoảng 5.000 cá thể hổ. Một số quốc gia lập luận nuôi hổ là cách hiệu quả để giảm đe dọa lên hổ tự nhiên. Tuy nhiên, Quỹ bảo tồn thiên nhiên Thế giới cho rằng nuôi nhốt chỉ làm tăng nhu cầu của người sử dụng. (Zing News 5/6) đầu trang(
Hải quan Hồng Kông vừa ngăn chặn thành công một vụ buôn lậu gần nửa tấn sản phẩm động vật nguy cấp bằng tàu cao tốc tại bờ biển Lau Fau Shan.
Qua hoạt động tuần tra, lực lượng Hải quan Hồng Kông đã phát hiện và theo dõi một nhóm người đang vận chuyển một số lượng lớn hàng hóa nghi vấn lên một tàu cao tốc tại bờ biển Lau Fau Shan.
Tiến hành kiểm tra, Hải quan đã tìm thấy 5 thùng vảy tê tê, có trọng lượng khoảng 130 kg và 15 túi lông thú vật nặng khoảng 310 kg của một loài động vật nguy cấp không có giấy tờ hợp pháp trên chiếc tàu này. Trị giá tang vật khoảng 2 triệu HKD đã bị thu giữ để nhà chức trách tiến hành điều tra.
Theo Pháp lệnh bảo vệ động vật và thực vật của các loài nguy cấp, bất kỳ cá nhân, tổ chức phạm tội xuất khẩu một loài nguy cấp mà không có giấy phép, phải chịu phạt tiền tối đa là 5 triệu HKD và bị phạt hai năm tù. Hải quan Hồng Kông cho biết, sẽ tiếp tục thực thi nghiêm ngặt để chống lại các hoạt động buôn lậu trên biển. (Hải Quan 5/6) đầu trang(./.
|
|||