Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 08 tháng 10 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
UBND huyện Quan Sơn (Thanh Hóa) vừa có kết quả xác minh hành vi mạo chữ ký, lập hồ sơ giả để nhận tiền bảo vệ rừng sai quy định diễn ra tại Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Sông Lò.
Cụ thể, ông Vi Hồng Thấm - Chủ tịch UBND xã Sơn Hà (huyện Quan Sơn) trực tiếp ký thay danh sách các hộ nhận tiền khoán bảo vệ rừng (trong 3 năm từ năm 2010 đến 2012) với số tiền 292.320.000 đồng.
Ông Thấm và BQLRPH Sông Lò thống nhất trích 50% số tiền trên cho BQLRPH Sông Lò. Việc BQLRPH Sông Lò thu lại số tiền nêu trên để sử dụng vào mục đích khác là trái quy định hiện hành. Số tiền còn lại là hơn 146 triệu đồng, ông Thấm thừa nhận sử dụng vào mục đích cá nhân và mục đích khác sai quy định.
Trước đó, năm 2010, BQLRPH Sông Lò được tỉnh Thanh Hóa giao thực hiện Dự án 661 trên phần đất thuộc đơn vị của ban quản lý và thiết kế mở rộng thêm một phần diện tích 487,2 ha đất rừng do UBND xã Sơn Hà quản lý. Trong số 12 hộ dân có trong hồ sơ ký hợp đồng để thực hiện dự án này, cơ quan chức năng xác minh có 5 hộ dân không có sổ hộ khẩu trên địa bàn xã Sơn Hà.
Ngoài ra, những hộ dân sau khi ký trong hợp đồng không thấy lực lượng chức năng kiểm tra, hướng dẫn công tác khoán bảo vệ rừng và thực hiện các nội dung đã ký.
Càn cứ vào kết quả điều tra, xác minh, ngày 1/10/2014, UBND huyện Quan Sơn đã quyết định không đồng ý thanh quyết toán số tiền hơn 292 triệu đồng cho các hộ dân đã ký hợp đồng với BQLRPH Sông Lò vì BQLRPH Sông Lò và UBND xã Sơn Hà không bàn giao diện tích rừng phòng hộ cho các hộ dân quản lý và các hộ dân không thực hiện bảo vệ rừng.
Thu hồi hơn 146 triệu đồng từ ông Vi Hồng Thấm - Chủ tịch UBND xã Sơn Hà đã ký nhận, nộp vào ngân sách Nhà nước qua tài khoản tạm giữ chờ xử lý. Đồng thời, đề nghị Huyện ủy Quan Sơn, đơn vị liên quan xem xét, kiểm điểm và xử lỷ kỷ luật đối với ông Vi Hồng Thấm và những người có vi phạm.
UBND huyện Quan Sơn cũng đề nghị Sở NN&PTNT Thanh Hóa làm rõ trách nhiệm lãnh đạo và cán bộ có liên quan của BQLRPH Sông Lò kiểm điểm trách nhiệm và xem xét xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật. Thu hồi số tiền trích 50% cho BQLRPH Sông Lò nộp ngân sách Nhà nước theo quy định... (Tiền Phong 8/10, tr15) đầu trang(
Bảo vệ động vật hoang dã (ĐVHD) là hành động cấp thiết nhằm bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ tính đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường sống. Trước tình trạng buôn bán ĐVHD ngày càng tăng, Nhà nước đã ban hành các chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này.
Luật sư Nguyễn Đức Hoàng - Văn phòng luật sư PHANS cho biết: Khoản 2 Điều 12 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 quy định nghiêm cấm những hành vi săn, bắn, bắt, bẫy, nuôi nhốt, giết mổ động vật rừng trái phép. Đồng thời luật cũng quy định việc khai thác động vật rừng phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tuân theo các quy định của pháp luật về bảo tồn ĐVHD.
Việc kinh doanh, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh thực vật rừng, động vật rừng phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.
Nghiêm cấm các hành vi vận chuyển, chế biến, quảng cáo, kinh doanh, sử dụng, tiêu thụ, tàng trữ, xuất khẩu, nhập khẩu động vật rừng trái với quy định của pháp luật. Nghị định 157/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản đã thể hiện sự chế tài nghiêm khắc của Nhà nước ta trong việc bảo tồn nguồn tài nguyên ĐVHD đang dần bị cạn kiệt.
Điều 21 quy định: “Người có hành vi săn, bắn, bẫy, bắt, nuôi, nhốt, lấy dẫn xuất từ động vật rừng, giết động vật rừng trái quy định của pháp luật” không thuộc trường hợp pháp luật cho phép thì bị phạt tiền đến 500 triệu đồng. Bên cạnh đó, người có hành vi vi phạm trên có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả. Điều 22 quy định mức phạt tiền lên đến 500 triệu đồng đối với hành vi vận chuyển động vật rừng trái pháp luật.
Điều 23 quy định: Người có hành vi mua, bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh động vật rừng trái với các quy định pháp luật bị phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 500 triệu đồng. Hành vi vi phạm thủ tục hành chính trong việc mua, bán, vận chuyển, chế biến, kinh doanh, cất giữ động vật rừng và bộ phận của chúng do gây nuôi có nguồn gốc hợp pháp nhưng không chấp hành các quy định của pháp luật hiện hành thì bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 5 triệu đồng theo quy định tại Điều 24.
Ngoài ra, Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định: “Người nào săn bắt, giết, vận chuyển, nuôi, nhốt, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật đó” thì bị phạt tiền từ 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
Nếu phạm tội trong trường hợp có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cấm; săn bắt trong khu vực bị cấm hoặc vào thời gian bị cấm; gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm. (Sài Gòn Giải Phóng 8/10, tr4) đầu trang(
Trong ba tháng qua, Trạm cứu hộ động vật hoang dã (ĐVHD) Củ Chi -TP.HCM đã tiếp nhận và cứu hộ gần 1.500 cá thể ĐVHD quý hiếm.
Trong đó đã có 1.000 cá thể được trả về tự nhiên”, ngày 7-10, Tổ chức cứu hộ ĐVHD War cho biết.
Theo ông Nguyễn Vũ Khôi, Giám đốc Tổ chức War, đây là con số ĐVHD được cứu hộ đạt mức kỷ lục tại Trạm cứu hộ ĐVHD Củ Chi trong nhiều năm qua. Các loài ĐVHD được tiếp nhận (từ lực lượng cảnh sát môi trường - kiểm lâm và một số người dân tự nguyện giao nộp) gồm vượn đen má vàng, chà vá chân xám, gấu ngựa, mèo rừng, tê tê, rùa núi vàng, vẹt ngực đỏ…
Đặc biệt lần đầu tiên Trạm cứu hộ ĐVHD Củ Chi tiếp nhận và cứu hộ thành công một cá thể niệc mỏ vằn. Theo sách đỏ Việt Nam, đây là loài chim quý hiếm đang bị đe dọa tuyệt chủng ở mức nguy cấp. (Pháp Luật TPHCM 8/10) đầu trang(
7/10, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông cho biết đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và lệnh bắt tạm giam đối với Điểu Sinh (34 tuổi), trú tại xã Đắk Buk So, huyện Tuy Đức về hành vi hủy hoại rừng.
Theo kết quả điều tra và lời khai của đối tượng, để lấy đất sản xuất từ cuối năm 2012 đến đầu năm 2013 Điểu Sinh đã dùng dao phát và cưa xăng vào chặt phá 1,19ha rừng tại lô 6, khoảng 4 Tiểu khu 1489 do Nông lâm trường cao su Tuy Đức quản lý thuộc địa giới hành chính xã Quảng Tâm, huyện Tuy Đức. Tổng giá trị thiệt hại về lâm sản và môi trường ước tính gần 24 triệu đồng.
Vụ việc đang được Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức tiếp tục điều tra, làm rõ. (Công An Nhân Dân 7/10) đầu trang(
7/10, tin từ Văn phòng UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế cho biết, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Cao vừa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 50 triệu đồng đối với ông Đoàn Quang Viễn (SN 1971, trú tại TP. Huế) về hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật; đồng thời, tịch thu nhập kho Nhà nước toàn bộ số lâm sản là tang vật vi phạm gồm 28 phách gỗ gõ (nhóm IIA) với khối lượng 2,395 m3.
Trước đó, như đã đưa tin, lúc 5h sáng 4/9, tại đường 74 (thuộc địa phận xã A Roàng, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên – Huế), lực lượng Cảnh sát Môi trường Công an tỉnh Thừa Thiên – Huế đã bắt giữ xe ô tô tải BKS 75C – 00989 do tài xế Đoàn Quang Viễn điều khiển, chở 28 phách gỗ lậu.
28 phách gỗ nói trên không có dấu búa của Kiểm lâm. Tài xế Đoàn Quang Viễn cũng không xuất trình được giấy tờ, hồ sơ hợp lệ của 28 phách gỗ đang vận chuyển trên xe. (Giao Thông 7/10) đầu trang(
Được coi là khu vực nuôi thủy sản lớn nhất của cả nước, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long với hàng ngàn héc-ta đầm tôm đang cung cấp một lượng lớn thủy sản cho thị trường trong nước và cả xuất khẩu.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, nhiều khu vực nuôi tôm tự phát, không trong quy hoạch đã phá vỡ cấu trúc hệ sinh thái tự nhiên cũng như hủy hoại môi trường, đặc biệt là môi trường ven biển khiến nhiều loài thủy hải sản khác bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đáng nói, ngay cả cuộc sống của con người và sinh kế bền vững cũng có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng vì sự thay đổi hệ sinh thái này.
Theo nhiều báo cáo, tại khu vực vùng ven biển Tây kéo dài từ mũi Cà Mau qua các địa phương như Kiên Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, Tiền Giang… với chiều dài hàng ngàn cây số cùng hàng trăm cánh rừng ngập mặn là nơi có ý nghĩa cực lớn với môi trường hệ sinh thái trong vùng.
Nó được ví như một lá phổi xanh, một lá chắn thép để bảo vệ dải đất ven biển khỏi những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, của triều cường, xâm thực hay sóng biển.
Tuy nhiên, nơi đây cũng đồng thời là một khu vực không thể tốt hơn để những người nuôi tôm thực hiện các dự án mưu sinh của mình. Vì vậy, nhiều năm qua, hàng trăm héc-ta rừng ven biển đã bị biến thành những đầm tôm khiến hệ sinh thái môi trường nơi đây trở nên vô cùng bấp bênh, dễ tổn thương trước những tác động của môi trường xung quanh.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay có khoảng hơn 500 ngàn héc-ta diện tích mặt nước đầm nuôi tôm, chiếm tới 80% diện tích nuôi tôm của cả nước.
Trong số này có tới 1/2 diện tích nằm ở những khu vực ven biển. Có thể nói, với lợi nhuận khá cao, tôm đang được rất nhiều nông dân ở khu vực này chọn làm vật nuôi để phát triển kinh tế hộ gia đình. Tuy nhiên, mặt trái của nó là sự tàn phá môi trường, nhất là những khu vực nuôi tôm tự phát. Nó khiến cả một dải đất ven biển bị xé nát, băm nhỏ thành nhiều những đầm ao nhỏ mà không tuân theo bất cứ quy hoạch nào.
Theo những người nông dân ven biển Bình Đại (Bến Tre) thì cách đây khoảng hai chục năm, khu vực ven biển này đều là những cánh rừng ngập mặn xanh ngút ngàn. Tuy nhiên, khi con tôm dần được thị trường ưa chuộng, nhiều người vì lợi nhuận đã lén lút phá bỏ dần những cánh rừng với cây bần, cây đước, cây trang… từ muôn đời nay để biến chúng thành những vuông tôm.
Có thể nói, việc phá rừng thành những đầm tôm mới chỉ là bước đầu của việc tàn phá môi trường hệ sinh thái xung quanh. Nguy cơ tiếp theo của những đầm tôm mà người dân trong vùng phải đối mặt chính là việc nuôi tôm đã thải ra môi trường rất nhiều loại tạp chất, đặc biệt là hóa chất sử dụng để nạo vét đầm cũng như làm thức ăn, thuốc để nuôi tôm.
Theo đó, tại những khu vực đầm tôm thải nước ra, hầu hết đều không có loại sinh vật nào có thể sống được. Hơn nữa, với những người dân có kinh nghiệm thì những khu vực nuôi tôm được coi là vùng “trắng” về hệ động thực vật. Nghĩa là, ở những nơi ấy, hầu như không có bất cứ loài động thực vật nào có thể sinh sống được chứ đừng nói đến việc phát triển.
Chính vì thế, với vô vàn những đầm tôm đang chiếm lĩnh khu vực rừng ven biển ở khắp khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đang là nguyên nhân gây biến đổi môi trường hệ sinh thái ven biển nơi đây. Nó cũng chính là tác nhân gây lên sự mất cân bằng trong cấu trúc các loài thủy hải sản ven biển. Nghĩa là, từ một vùng có sự đa dạng về hệ động vật với hàng trăm những loài quý hiếm đến nay, ở đây gần như đã không còn loài sinh vật nào có thể sống được, ngoại trừ con tôm.
Điều này cũng hoàn toàn dễ hiểu bởi khi một phần lớn môi trường sống bị tiêu giảm, những loài động thực vật sinh sống dưới tán rừng ngập mặn sẽ không còn nơi cư trú, không còn thức ăn và điều kiện sinh sản, những nguyên nhân khiến chúng khó mà tồn tại được.
Cụ thể, theo nhiều chuyên gia môi trường, trước kia ở những cánh rừng ngập mặn ven biển có hàng chục loài cá, tôm, giáp xác hay thủy sinh vật cùng một số loài bò sát, lưỡng cư… thì ngày nay, cũng ở những khu vực ấy nhưng khi đầm tôm xuất hiện, những loài động vật trên hầu như đã không còn nữa do môi trường sống tự nhiên của chúng đã mất đi.
Điều này có thể trực tiếp hay gián tiếp đã gây ảnh hưởng tiêu cực lên sinh kế của hàng ngàn nông dân sinh sống ven biển. Theo đó, trước kia nhiều nông dân có thể săn bắt cua, cá hay mực ở những cánh rừng ngập mặn ven biển để mưu sinh thì ngày nay, khi môi trường tự nhiên biến đổi, những loài động vật đó đã không còn để người dân khai thác.
Không chỉ có vậy, hàng trăm những loài sinh vật biển sống bán cư ở rừng ngập mặn theo những con nước triều cũng di cư đi nơi khác. Đây được cho là nguyên nhân chính khiến nhiều khu vực nuôi tôm, người dân làm nghề khai thác thủy sản cảm thấy khó sống hơn ở những khu vực có rừng tự nhiên phát triển.
Theo Vụ Phát triển rừng, thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì trong vòng khoảng 40 năm qua, rừng phòng hộ ven biển nước ta đã bị mất tới 65% diện tích, trong đó khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ rừng bị tàn phá là khoảng 80%.
Nguyên nhân chủ yếu của việc tàn phá rừng ven biển khác với rừng đầu nguồn là do chất lượng gỗ ở đây không sử dụng được. Rừng bị tàn phá không phải vì lấy gỗ mà vì để lấy diện tích dành cho nuôi trồng thủy hải sản.
Thế nhưng, dù có bị tàn phá theo cách nào thì khi những cánh rừng ven biển, nơi được coi là lá phổi che chắn để ngăn sự xâm thực của nước biển, triều cường và những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu cũng không còn.
Chính điều này đã trực tiếp gây lên những ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống kinh tế xã hội trong vùng. Hàng ngàn hộ nông dân có thể bị mất nhà cửa, đất đai, bãi bồi bị nước cuốn đi do sự bảo vệ của rừng ngập mặn không còn.
Bài toán về sự cân bằng giữa phát triển kinh tế, về nguồn lợi do con tôm mang lại và những tác động tiêu cực đối với môi trường của đầm tôm đã nhiều lần được nói đến. Tuy nhiên, hầu hết những đánh giá về môi trường đều không được quan tâm đúng mức. Nghĩa là, đa phần nông dân nuôi tôm chỉ nhìn thấy những cái lợi ích ngay trước mắt, sau mỗi mùa vụ nuôi tôm chứ chưa xác định được những tác động tiêu cực của đầm tôm tới hệ sinh thái môi trường.
Chính vì vậy, ý thức tự giác bảo vệ môi trường thường không được người dân thực hiện trước những lựa chọn về mặt sinh kế. Ngoài ra, những chế tài và quản lý của chính quyền địa phương cũng chưa thực sự nhất quán, đồng bộ và các hình thức xử phạt vi phạm đủ mạnh để răn đe những vi phạm. Vì thế, những cánh rừng ngập mặn và môi trường ven biển ở khu vực này vẫn ngày ngày bị các đầm tôm xâm lấn.
Có thể nói, ở bất cứ khu vực nào, việc phát triển tự phát, không tuân theo những quy hoạch nhất định cũng gây lên những xáo trộn tiêu cực, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển lâu dài, bền vững của những khu dân cư trong vùng. Điều này cũng xảy ra ở hầu hết những khu đầm nuôi tôm trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long bởi ngoài đầm tôm, nhà cửa và những công trình kiến trúc phụ trợ khác của nông dân cũng khiến môi trường tự nhiên nơi đây bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Nó là tác nhân chính gây lên những mất cân bằng trong việc phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sống.  Ngoài ra, nó cũng phá vỡ những quy hoạch sẵn có của địa phương, tạo lên nhiều hệ lụy xấu về các vấn đề an sinh xã hội.
Vì vậy, ngoài việc tuyên truyền, hướng dẫn để người dân hiểu những tác động, ảnh hưởng tiêu cực của những khu vực nuôi tôm tự phát này, việc hình thành những quy chế ứng phó, xử phạt đủ để răn đe những hành vi vi phạm cũng rất cần thiết.
Nó chính là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, đất vùng ven biển và góp phần vào việc phát triển bền vững kinh tế của chính những người dân trong khu vực này. (Đời Sống & Pháp Luật 7/10) đầu trang(
Nhắc đến PGS.TS. Hà Đình Đức (giảng viên cao cấp Đại học Quốc gia Hà Nội), là nhắc đến một vị trí thức đặc biệt tâm huyết với Hà Nội, với rùa Hồ Gươm.
Chẳng thế mà ông là đồng tác giả của Giải thưởng Hồ Chí Minh về cụm công trình Động vật chí Việt Nam và Thực vật chí Việt Nam; Sách Đỏ và Danh lục Đỏ Việt Nam.
Ông cũng được UBND TP Hà Nội tặng danh hiệu Công dân Thủ đô ưu tú và vinh danh cùng với 6 nhà khoa học khác vì đóng góp lớn trong xây dựng Tủ sách “Thăng Long ngàn năm văn hiến”, chuẩn bị hồ sơ gửi UNESCO công nhận Hoàng Thành Thăng Long là Di sản thế giới. Với những biện pháp mạnh dạn, kịp thời, khoa học và hiệu quả trong việc bảo vệ "linh vật sống" của Thủ đô, ông và  các đồng sự đã được trao Giải thưởng Bùi Xuân Phái “Vì tình yêu Hà Nội”.
Những đóng góp của PGS.TS. Hà Đình Đức với Hà Nội thêm một lần được tôn vinh với danh hiệu “Trí thức tiêu biểu vì sự nghiệp phát triển Thủ đô” do Liên hiệp các Hội KHKT Hà Nội trao tặng, tổ chức tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám ngày 7-10.
Theo GS.TS. Vũ Hoan, Chủ tịch Liên hiệp các Hội KHKT Hà Nội, những người được vinh danh lần này là những trí thức giàu tâm huyết, có năng lực sáng tạo, có nhiều cống hiến và dũng cảm chấp nhận thử thách để đi đến thành công, đem lại hiệu quả thiết thực phục vụ sự nghiệp phát triển của Thủ đô và đất nước.
Có thể nói, PGS.TS. Hà Đình Đức là người dành cho Hà Nội nói chung, Hồ Gươm và rùa Hồ Gươm nói riêng, tình yêu sâu nặng như máu thịt trong ông. Suốt hơn 2 thập kỷ qua, ông dành trọn tâm huyết để tìm hiểu, nghiên cứu và có nhiều hành động thiết thực bảo vệ Hồ Gươm, bảo vệ rùa Hồ Gươm rất hiệu quả. Cũng bởi thế, từ lâu ông đã được mọi người yêu mến gọi với biệt danh “Giáo sư rùa”.
Đầu năm 1991, lần đầu tiên trông thấy rùa nổi trên mặt Hồ Gươm, ông đã cảm thấy niềm say mê với loài rùa quý này được đánh thức. Và rồi, ông bắt tay vào nghiên cứu cũng như hoạt động bảo vệ  rùa Hồ Gươm cùng khu vực Hồ Gươm. Ông đã có hàng loạt kiến nghị lên Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ, Bộ VHTT&DL, UBND TP Hà Nội để có các dự án nghiên cứu về địa lý, lịch sử, văn hóa, sinh thái và môi trường, cũng như có các biện pháp bảo vệ, để Hồ Gươm trở thành Di sản quốc gia.
Đến nay, PGS.TS. Hà Đình Đức đã có 6 công trình nghiên cứu cấp quốc gia về Hồ Gươm và trên 200 bài viết về rùa Hồ Gươm. Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam từng trao tặng kỷ lục “Người tìm hiểu nghiên cứu và có bài viết về rùa Hồ Gươm và Hồ Gươm nhiều nhất Việt Nam” cho ông. Với những nghiên cứu của mình, ông đã đưa ra luận điểm: Lê Lợi đã đem rùa từ Thanh Hóa ra thả ở hồ Lục Thủy (nay là Hồ Gươm).
Vì tư liệu xưa cho thấy, ở Vung Sung (sông Lương, Thanh Hóa) xưa có loài rùa to bằng chiếc chiếu đôi. Còn theo ông, rùa đá đội bia ở Vĩnh Lăng (Lam Kinh) cũng là loài rùa mai mềm giống tiêu bản rùa Hồ Gươm trưng bày trong đền Ngọc Sơn (Hà Nội), cũng giống loài rùa đang sinh sống tại Hồ Gươm. Mà loài rùa này không có gốc gác ở Thăng Long - Hà Nội. Vì thế, có thể khi Lê Lợi lên ngôi vua, đã cho thả loài rùa này ở Hồ Gươm.
Với tình yêu lớn với rùa Hồ Gươm, sau hơn 1 thập kỷ nghiên cứu, PGS.TS. Hà Đình Đức đã chứng minh và thuyết phục các nhà khoa học tin rằng, rùa Hồ Gươm là một loài rùa mới và cái tên khoa học là rùa Lê Lợi (Rafetus leloii) đã ra đời. Ông còn đề nghị có dự án nghiên cứu bảo vệ loài rùa quý Hồ Gươm, cũng như cần sự hợp tác quốc tế về vấn đề này. Với những kết quả nghiên cứu nhiều năm, ông đã báo động về sự xuất hiện của loài rùa tai đỏ ở Hồ Gươm vào 2004, để Hà Nội có những quyết sách phù hợp trong việc bảo vệ loài rùa quý ở đây.
Khi sự nghiệp nghiên cứu rùa Hồ Gươm mới bắt đầu, thì tâm huyết của ông đã lập tức bị thách thức với việc rục rịch triển khai Dự án nạo vét Hồ Gươm bằng cơ giới, với quy mô lớn, để đào 100.000m3 bùn đổ ra sông Hồng và bơm nước sông Hồng vào Hồ Gươm.
Nhận thấy ngay nguy cơ làm xáo trộn môi trường đang sống yên ổn xưa nay của loài rùa quý Hồ Gươm, thậm chí, còn đưa chúng tới chỗ diệt vong, PGS.TS. Hà Đình Đức lập tức gửi tờ trình lên cấp trên, nêu rõ tác hại của vấn đề này và đề xuất phương pháp nạo vét bằng biện pháp thủ công. Nhờ sự kiên quyết của ông, cuối cùng, Hà Nội đã tiến hành nạo vét Hồ Gươm theo cách ông đề xuất.
Với tư cách là nhà khoa học nghiên cứu về văn hóa, lịch sử Hà Nội, ông đã đóng góp nhiều cho sự phát triển của Thủ đô. Hơn 10 năm trước, khi dự án xây dựng tòa nhà 4 tầng làm Trung tâm Văn hóa Du lịch tại 16 Lê Thái Tổ, bên cạnh tượng vua Lê, ông đã gửi tờ trình lên Chủ tịch nước, Thủ tướng và Phó Thủ tướng Chính phủ, nêu rõ: “Nếu dự án trên thực hiện, sẽ không chỉ xúc phạm đến một Di tích lịch sử có giá trị hàng đầu ở khu vực Hồ Gươm mà còn phá vỡ cảnh quan vốn dĩ đã quen thuộc ở đây.” Với những bằng chứng văn hóa và lịch sử thuyết phục, ông đã góp phần để tòa nhà này phải dừng xây dựng, bảo vệ được khu Di tích tượng vua Lê.
PGS.TS. Hà Đình Đức còn tham gia với Hội Khoa học Lịch sử và Hội Kiến trúc sư Việt Nam ngăn chặn được việc xây Khách sạn Hà Nội vàng, vì công trình này xây trên địa điểm có ý nghĩa lịch sử, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm việc và cùng các thành viên Chính phủ Cách mạng đầu tiên ký vào bản Tuyên ngôn Độc lập. Hơn nữa, Thủ đô Hà Nội là nơi có tượng đài duy nhất và bia tưởng niệm duy nhất về hai danh nhân lớn của dân tộc ta là Lê Lợi và Nguyễn Du, nên không được phép xúc phạm những di tích đã được Nhà nước công nhận.
Những nghiên cứu thâm sâu về văn hóa, lịch sử đã làm cơ sở để ông đề xuất lấy ngày vua Lê đăng quang tại điện Kính Thiên (15/4 âm lịch) hàng năm làm ngày lễ hội của Hà Nội và đã được chấp nhận. Năm 2009, ông cũng đề xuất việc dựng Tháp “Hà Nội Km 0” tại khu vực Hồ Gươm bằng các loại đá quý trong cả nước. Chuẩn bị 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, ông cũng gửi tờ trình về việc đặt tên Đào Cam Mộc - người có công đầu tôn phù Lý Công Uẩn lên ngôi vua - cho một đường phố Hà Nội.
Trong sự nghiệp nghiên cứu về rùa Hồ Gươm, bảo vệ Hồ Gươm, PGS.TS. Hà Đình Đức luôn tràn đầy năng lượng với sự thôi thúc tự nhiên. Nhiều khi, dù không được cấp kinh phí, ông vẫn lăn lộn với công việc mà ông đã say mê.
Ông theo dõi từng vấn đề liên quan đến Hồ Gươm và rùa Hồ Gươm, để báo cáo và đề xuất những biện pháp kịp thời. Vì thế, ông đã ngăn chặn được việc đua thuyền rồng trên Hồ Gươm, bảo vệ khi rùa Hồ Gươm bị nhiều thương tích, báo động về mực nước Hồ Gươm đã cạn, để UBND thành phố kịp thời có các giải pháp.
Ông cũng có công lớn trong việc chuẩn bị hồ sơ tài liệu về văn hoá, lịch sử Hồ Gươm để đề nghị Bộ VHTT&DL công nhận Hồ Gươm và Khu vực Hồ Gươm là Khu Di tích Văn hóa Lịch sử Quốc gia. (Công An Nhân Dân 7/10) đầu trang(
11 nhà khoa học từng đoạt giải Nobel sẽ tham gia cuộc hội thảo 4 ngày ở Hong Kong (Trung Quốc) bắt đầu từ mai 8-10, đồng thời với tuần lễ công bố các giải Nobel 2014 tại Stockholms (Thụy Điển) và Oslo (Na Uy), gióng tiếng chuông cảnh báo về tình trạng Trái Đất đang bị con người khai thác quá mức, kêu gọi một cuộc cách mạng thay đổi thái độ của con người ứng xử với thiên nhiên.
Liên quan đến tình trạng nóng lên toàn cầu, rừng bị phá, đất đai bị xói mòn và chất lượng nguồn nước xuống cấp, khiến danh sách "các vết thương hành tinh” liên quan đến môi trường ngày càng nghiêm trọng, các nhà khoa học VN khẳng định cần có ngay các giải pháp cứu Trái Đất. Nghiên cứu và bảo tồn, phát triển các loài động, thực vật quý hiếm là một giải pháp ưu tiên.
Tháng 9 vừa qua, sau 2 năm triển khai Dự án "Điều tra, lập danh lục khu hệ động, thực vật rừng tại các khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Pù Hu, Xuân Liên và vườn quốc gia Bến En” tỉnh Thanh Hóa, các nhà khoa học đã phát hiện thêm gần 1.000 loài động, thực vật quý hiếm. Trong đó nhiều loài động, thực vật thuộc sách đỏ thế giới như loài mang Roosevelt, tắc kè chân vịt, rắn hổ đất nâu, thằn lằn tai lõm, dẻ tùng sọc trắng ...
Đặc biệt trong Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, các nhà khoa học thuộc Trung tâm Cress (Đại học Quốc gia Hà Nội) phối hợp với cán bộ Khu bảo tồn đã xác định được quần thể Mang Muntiacus rooseveltorum thuộc họ hươu nai (Cervidae) được coi là đã bị tuyệt chủng cách đây 84 năm, có khoảng 30 cá thể. Trước đó, một số hộ dân do không biết đã săn bắt loài Mang quý hiếm này nên việc tuyên truyền bảo vệ Mang quý hiếm đang được coi trọng.
Bến En được biết đến là một trong những vườn quốc gia đẹp nhất VN. Phát hiện này giúp cho việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học, nghiên cứu về các loài, chi, cá thể, bảo tồn nguồn gen quý hiếm. Ban quản lý rừng đặc dụng có cơ sở tiến hành đồng bộ các hoạt động bảo tồn thiên nhiên, nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng không bắt gặp trên 900 loài động, thực vật từng được ghi nhận tại các khu bảo tồn và vườn quốc gia kể trên.
Cũng liên quan tới cuộc cách mạng thay đổi thái độ của con người ứng xử với thiên nhiên, cuối tuần qua hàng nghìn người dân Nam Phi tại 18 thành phố đã tham gia sự kiện "Diễu hành toàn cầu vì loài voi, tê giác và sư tử”. 36 quốc gia khác tại châu Phi và 134 nước trên thế giới cũng tham gia vào sự kiện này.
Nam Phi là nơi sinh sống của hơn 80% tê giác trên thế giới song đang chịu thiệt hại nặng nề do nạn săn bắt trộm động vật hoang dã. Năm ngoái đã có 1.004 con tê giác bị săn bắt tại đây. Ước tính năm nay tại đây sẽ mất tiếp 1.200 đến 1.300 con tê giác nữa.
Theo ông Kotze, nhà tổ chức sự kiện trên, Chính phủ Nam Phi sẽ sửa đổi điều luật liên quan đến nạn sắn bắt tê giác và voi, thực thi những biện pháp trừng phạt cứng rắn trong đó có từ chối bảo lãnh cho những đối tượng tham gia vào buôn lậu động vật hoang dã. (Đại Đoàn Kết 7/10, tr13) đầu trang(
Nằm ở độ cao 1600m so với mặt nước biển, đỉnh núi thiêng Zi’Leng thuộc xã A Xan, huyện Tây Giang, Quảng Nam được bảo phủ với hơn 2.000 cây Pơ Mu cổ thụ.
Mỗi cây Pơ Mu có đường kính từ 2-2,5 m, cao trên 50m cho trữ lượng từ 8-10 m3 gỗ. Đây được xem là một trong những quần thể rừng Pơ Mu lớn nhất, có giá trị nhất khu vực Đông Nam Á.
Ngay sau khi giới thiệu rừng Pơ Mu với công luận, chính quyền huyện Tây Giang đang tập trung toàn lực để bảo vệ cánh rừng. Hiện huyện Tây Giang đã thành lập đội tự quản rừng Pơ Mu gồm 29 thành viên, bao gồm cả già làng, trưởng bản. Các thành viên sẽ luân phiên tuần tra, cắm chốt ngay trong rừng.
Cùng với công tác bảo vệ rừng, địa phương này đang từng bước hoàn thành hồ sơ đề nghị với Hội bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận rừng Pơ Mu Tây Giang là Di sản Việt Nam, đưa vào Sách đỏ để bảo vệ quản lý. (VTV 7/10) đầu trang(
Qua phản ảnh của người dân địa phương, những ngày đầu tháng 10, PV tìm về khu vực RPHĐN hồ Núi Một (địa bàn giáp ranh giữa huyện Vân Canh, Tây Sơn và thị xã An Nhơn) để tìm hiểu mức độ xâm hại mà những cánh rừng nơi đây đang phải đối mặt.
Ông Nguyễn Hữu Chiến, Chỉ huy phó Ban chỉ huy Quân sự xã Nhơn Tân (thị xã An Nhơn), chia sẻ: “Nhìn bên ngoài, những cánh rừng tại khu vực RPHĐN hồ Núi Một có vẻ “yên”, nhưng vào sâu bên trong thì khá “động”; các đối tượng lâm tặc thường xuyên lén lút vào rừng để khai thác gỗ, chiếm rừng, đặc biệt là khu vực rừng thuộc địa bàn huyện Vân Canh.
Do các đối tượng hoạt động lén lút nên việc truy quét tận gốc, bắt quả tang ngay tại địa điểm khai thác gặp không ít khó khăn. Hầu hết các vụ phát hiện, bắt giữ tang vật, phương tiện chỉ được ngành chức năng thực hiện khi các đối tượng đang vận chuyển gỗ bán thành phẩm đưa đi tiêu thụ”.
Còn theo thống kê của Trạm Kiểm lâm (KL) An Trường - Hạt KL thị xã Nhơn An: Từ đầu năm đến nay, qua công tác tuần tra, kiểm soát tại khu vực RPHĐN hồ Núi Một - thuộc địa bàn thôn Thọ Tân Bắc và Thọ Tân Nam (xã Nhơn Tân) - Trạm đã phát hiện 7 vụ vận chuyển lâm sản trái phép (trong đó có 3 vụ phát hiện vào tháng 9.2014); qua đó, thu giữ 1,145m3 gỗ (chủ yếu là gỗ Gụ Lau nhóm IIA) và 9 xe mô tô các loại.
Hầu hết các đối tượng vi phạm khi bị lực lượng tuần tra phát hiện đều vứt bỏ tang vật, phương tiện tại hiện trường để thoát thân. Việc bắt giữ tang vật, phương tiện chỉ là xử lý “phần ngọn”; các đối tượng lâm tặc sau khi thoát thân lại tiếp tục lén lút vào rừng để khai thác, chặt phá gỗ - đây mới chính là “phần gốc” cần ngăn chặn triệt để, nhưng dường như ngành chức năng chưa có biện pháp hữu hiệu để giải quyết.
Qua tìm hiểu, được biết: Sau khi triệt hạ thành công cây gỗ, để vận chuyển ra khỏi rừng và đưa đi tiêu thụ, lâm tặc chủ yếu đi theo các hướng: Từ hồ Núi Một ra địa bàn thôn Thọ Tân Bắc và Thọ Tân Nam; hướng từ hồ Núi Một qua địa bàn xã Vĩnh An, Tây Xuân (Tây Sơn); hướng từ hồ Núi Một qua địa bàn làng Canh Tiến, xã Canh Liên, rồi sau đó tìm cách vận chuyển về địa bàn thị trấn Vân Canh (Vân Canh).
Tùy vào thời điểm, tình hình mà đối tượng lâm tặc chọn hướng đi sao cho việc vận chuyển gỗ được an toàn; tránh “đụng mặt” với lực lượng chức năng. Với nhiều biện pháp đối phó tinh vi, lâm tặc đã “vượt ngoài tầm kiểm soát” của lực lượng chức năng.
Ông Nguyễn Văn Chiến, Trạm trưởng Trạm KL An Trường, khẳng định: “Hiện các cánh rừng thuộc RPHĐN hồ Núi Một nằm trên địa bàn thị xã An Nhơn không xảy ra tình trạng lâm tặc chặt phá, khai thác cây rừng; tại địa phương chỉ có tình trạng lâm tặc sử dụng đường đi từ hồ Núi Một qua thôn Thọ Tân Nam và Thọ Tân Bắc để vận chuyển lâm sản trái phép.
Trước thực trạng này, Trạm thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương và Trạm Quản lý, bảo vệ rừng hồ Núi Một - thuộc Ban Quản lý Rừng phòng hộ (BQLRPH) huyện Vân Canh tăng cường tuần tra, kiểm soát, mật phục để ngăn chặn, bắt giữ các đối tượng cùng tang vật, phương tiện. Thế nhưng, hầu hết các đối tượng khi bị phát hiện đều tìm cách “bỏ của chạy lấy người” nên khó truy cứu, xử lý triệt để”.
Trong khi đó, ông Đoàn Văn Tây, Giám đốc BQLRPH huyện Vân Canh, cho biết: “BQL thường xuyên phối hợp với các ngành chức năng của huyện Vân Canh và Tây Sơn lập trạm chốt chặn, kiểm tra tại khu vực giáp ranh giữa 2 địa phương để kiểm soát, truy quét cả bên trong, lẫn bên ngoài khu vực RPHĐN hồ Núi Một. Tuy nhiên, do địa bàn rộng, nhiều đường vận chuyển; các đối tượng lâm tặc hoạt động lén lút, tìm nhiều mánh khóe né tránh lực lượng chức năng.
Số vụ bị phát hiện, bắt giữ là còn ít so với thực trạng phá rừng hiện nay. Chúng tôi tiếp tục chỉ đạo Trạm Quản lý, bảo vệ rừng hồ Núi Một, cũng như phối hợp với lực lượng chức năng, các địa phương lân cận tăng cường kiểm soát, bảo vệ RPHĐN hồ Núi Một”.
Như vậy có thể thấy ra rằng, ngành chức năng và chính quyền địa phương vẫn chưa tìm ra giải pháp hữu hiệu để mang lại bình yên cho RPHĐN hồ Núi Một. (Báo Bình Định 6/10) đầu trang(
Cuối tháng 9, ĐĐ.Thích Thiện Quý, trụ trì chùa Tâm Thành (xã Phú Cường, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) đã tổ chức phóng sinh 100 kg rùa và hàng trăm kg rắn, lươn, ếch… các loại vào Vườn Quốc gia Tràm Chim.
Số rắn, rùa, lươn, ếch trên được các Phật tử mua từ những người săn bắt và người bán tại các chợ, trị giá hàng chục triệu đồng. Đây là lần thứ hai trong năm 2014, ĐĐ.Thiện Quý và các Phật tử thả động vật hoang dã vào Vườn Quốc gia Tràm Chim.
Theo Đại đức trụ trì, việc làm này với tinh thần từ bi nhà Phật, đồng thời mong muốn góp phần xây dựng ý thức bảo tồn quần thể các loài động vật hoang dã và một số loại động vật bản địa đang dần bị cạn kiệt và có một số loài đang có nguy cơ tuyệt chủng.
“Chỉ cần một hành động nhỏ là không săn bắt động vật hoang dã hay phóng sanh chúng là chung tay bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ các loài động vật hoang dã, lươn-ếch bản địa cho thiên nhiên được trong lành… để giữ gìn bền vững khu Ramsar-Vườn Quốc gia Tràm Chim”, ĐĐ.Thích Thiện Quý chia sẻ. (Giác Ngộ 6/10) đầu trang(
Huyện Hải Hà có hơn 51.000ha diện tích đất tự nhiên, trong đó diện tích đất rừng chiếm 68%. Thời gian qua do đẩy mạnh công tác tuyên truyền mà bà con nhân dân đã có ý thức hơn trong việc bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng đặc biệt là vào mùa hanh khô.
Trong năm 2014 huyện Hải Hà chưa để xảy ra vụ cháy rừng lớn nào trên địa bàn. Huyện đã chủ động triển khai phương án phòng, chống cháy rừng cho nhân dân, thành lập các tổ bảo vệ, tổ tuần tra gác lửa rừng tại các xã có nhiều diện tích rừng phòng hộ, rừng sản xuất như Quảng Sơn, Quảng Đức.
Hàng năm Hạt kiểm lâm Hải Hà đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động nhân dân tham gia tích cực vào công tác chăm sóc, bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng, ký cam kết với các hộ dân, các chủ rừng thực hiện nội quy, quy chế phòng cháy, chữa cháy rừng.
Ông Đinh Văn Lâm, ở bản Quảng Hợp, xã Quảng Thành, được giao chăm sóc và bảo vệ hơn 30 ha rừng cho biết: Chúng tôi bảo vệ rừng rất chặt chẽ, canh phòng 24/24h, không cho mọi người đi vào rừng săn bắn và sử dụng vật liệu dễ phát lửa dẫn đến cháy rừng.
Hạt kiểm lâm huyện Hải Hà thường xuyên yêu cầu các chủ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, đồng thời tổ chức lực lượng canh phòng đối với diện tích rừng phòng hộ đã được giao khoán.
“Chúng tôi cũng chủ động phối hợp với UBND các xã đẩy mạnh công tác tuyên truyền để các hộ dân chủ động triển khai các biện pháp phòng chống cháy rừng, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng cháy rừng xảy ra”. Ông Vũ Văn Mỳ - Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Hải Hà cho biết.
Hiện đang là thời điểm hanh khô nên nguy cơ xảy ra cháy rừng là rất lớn. Do vậy, các các cấp, các ngành đặc biệt là bà con nhân dân trên địa bàn huyện cần đề cao cảnh giác, chủ động trong công tác phòng chống cháy rừng, góp phần bảo vệ và thúc đẩy kinh tế rừng ngày càng phát triển. (Đài PTTH Quảng Ninh 7/10) đầu trang(
7.10, Phòng Y tế H.Tân Hưng (Long An) cho biết Trung tâm nghiên cứu chế biến lâm sản giấy và bột giấy (Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM) vừa có thông báo kết quả kiểm tra, phân tích mẫu gỗ gốc cây được thêu dệt là “gốc cây thần kỳ, trị bá bệnh” ở nhà vợ chồng ông Nguyễn Văn Nguyên (43 tuổi) và bà Nguyễn Thị Kim Hồng (40 tuổi, ngụ ấp Cà Dăm, xã Vĩnh Đại, H.Tân Hưng, Long An) là cây sấu tía.
Ngoài tên VN là sấu tía (hay sấu đỏ), thì cây này có tên khoa học là Sandoricum indicum, thuộc họ thực vật xoan (Meliaceae), nhóm gỗ 6 (VI/VIII). Theo tài liệu Tên cây rừng VN, đây là loại cây lấy gỗ, ăn được quả, hoa, lá... không phải cây làm thuốc.
Như Thanh Niên thông tin, cuối tháng 8.2014, ông Nguyên đào được ngoài ruộng một gốc cây lớn mang về để trong nhà. Một thời gian sau, bà Hồng cùng gia đình vạt gốc cây thành những miếng nhỏ, đem phơi nắng rồi ngâm rượu để bán cho nhiều người xoa bóp trị đau khớp, nhức mỏi, bệnh ngoài da...
Mỗi ngày, có hàng trăm người khắp nơi đến nhà bà Hồng mua trị bệnh, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, lan truyền mê tín dị đoan và đe dọa sức khỏe, tính mạng của nhiều người.
Vì thế, lực lượng chức năng đã lấy mẫu gỗ gốc cây để gửi đi phân tích, đồng thời lập biên bản và yêu cầu gia đình bà Hồng cam kết không được bán thuốc. (Thanh Niên 8/10) đầu trang(
7/10, ông Lê Khắc Hữu, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Kỳ Anh (tỉnh Hà Tĩnh) cho biết, Hạt kiểm lâm huyện Kỳ Anh phối hợp với các đơn vị chức năng cùng với nhân dân đã dập dịch sâu róm hại rừng thông trên địa bàn.
Hàng trăm hécta rừng thông tại huyện Kỳ Anh đã bị sâu róm gây hại trụị lá, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sinh trưởng, phát triển của thông, nhiều diện tích cháy lá và có nguy cơ chết do sâu gây hại.
Trước nguy cơ đó, Hạt kiểm lâm huyện Kỳ Anh phối hợp với Chi cục Bảo vệ thực vật Hà Tĩnh tiến hành phun thuốc diệt sâu róm, đồng thời vận động hàng trăm người dân dùng các biện pháp thủ công để bắt sâu, bắt nhộng.
Ông Lê Khắc Hữu cho biết, mặc dù việc phòng chống sâu róm hại rừng thông gặp rất khó khăn bởi địa hình phức tạp, cây thông cao, việc phun thuốc và bắt sâu, bắt nhộng rất khó, song đến nay đã cơ bản khống chế được dịch.
Dịch sâu róm bùng phát cách đây hơn một tháng chủ yếu gây hại trên diện tích thông đã cho nhựa ở xã Kỳ Lạc và xã Kỳ Phong huyện Kỳ Anh.
Theo thống kê của Hạt kiểm lâm huyện Kỳ Anh, có trên 140ha rừng thông đã khai thác bị sâu róm gây hại, trong đó có hơn 100ha thông ở tiểu khu 395, 402 đã giao cho các hộ dân xã Kỳ Lạc quản lý, khai thác và 40ha rừng thông ở tiểu khu 344 ở xã Kỳ Phong do Ban quản lý rừng phòng hộ nam Hà Tĩnh chăm sóc.
Sâu róm hại rừng thông có mật độ bình quân từ 100-150 con/cây có nơi lên đến 300 con/cây. Sâu róm đã ăn trụi lá rừng thông nên bà con nông dân phải ngừng khai thác nhựa để triển khai các biện pháp chống dịch. (VietnamPlus 7/10) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Một thành viên của tập đoàn Rừng Toàn cầu là Cty cổ phần Phát triển bền vững Bình Minh đã bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Cty Phát triển bền vững Bình Minh đăng ký lần đầu ngày 19/5/2012, khai số vốn điều lệ là 6.980 tỷ đồng, địa chỉ trụ sở chính tại 68 Phan Đình Phùng (phường Xương Huân, thành phố Nha Trang, Khánh Hòa), mở 12 văn phòng đại diện khắp trong Nam, ngoài Bắc.
Nhưng cũng như các thành viên khác của tập đoàn Rừng Toàn cầu, số vốn điều lệ của Cty này hầu như chỉ là vốn ảo. Ngày 7/10/2014, Phòng Đăng ký kinh doanh, Sở KH&ĐT tỉnh Khánh Hòa đã ra quyết định thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Cty Phát triển bền vững Bình Minh, yêu cầu trong vòng 6 tháng kể từ ngày 7/10, Cty này phải giải thể.
Trước đó, ngày 20/6, một thành viên khác của tập đoàn Rừng Toàn Cầu, có cùng địa chỉ trên là Cty cổ phần Đầu tư Xây dựng và Phát triển Hiển Vinh đã bị rút đăng ký. (Tiền Phong 8/10, tr2) đầu trang(
Nhân kỷ niệm 40 năm Ngày thành lực lượng Kiểm lâm Quảng Bình, phóng viên Báo Quảng Bình đã có cuộc phỏng vấn ông Phạm Hồng Thái, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình.
Ông Phạm Hồng Thái cho biết: Cách đây 40 năm, khi cuộc chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ vừa kết thúc, để nhanh chóng khôi phục và bảo vệ những cánh rừng bị bom đạn tàn phá, ngày 9-10-1974, Tổng cục Lâm nghiệp Việt Nam đã ký quyết định số 1369-QĐ về việc thành lập Chi cục Kiểm lâm nhân dân tỉnh Quảng Bình.
Ngay sau khi thành lập và trong suốt chặng đường bốn thập niên qua, lực lượng Kiểm lâm Quảng Bình không ngừng phấn đấu, từng bước xây dựng và trưởng thành, góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế- xã hội tỉnh nhà.
Đặc biệt, sau khi tỉnh Quảng Bình trở về địa giới cũ, đồng thời lực lượng Kiểm lâm Quảng Bình cũng được lập lại, bộ máy ban đầu của Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình được chọn lọc  từ các phòng Lâm nghiệp huyện, thị, biên chế gồm 7 hạt kiểm lâm và 1 đội kiểm lâm cơ động, số lượng 120 người.
Đến nay, đội ngũ cán bộ công chức kiểm lâm từ cơ quan Chi cục đến các hạt, trạm  đã được củng cố, không ngừng phát triển lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Biên chế của ngành gồm 297 cán bộ công chức, viên chức ở 10 đơn vị trực thuộc và 26 trạm kiểm lâm cửa rừng, cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Xuyên suốt hoạt động của lực lượng Kiểm lâm Quảng Bình qua các thời kỳ là, tập trung làm tốt nhiệm vụ chính trị được giao, QLBVR một cách bền vừng và hiệu quả. Đặc điểm địa hình tỉnh ta hẹp và dốc, có diện tích rừng tự nhiên lớn với khoảng 481.480 ha và 74.082 ha rừng trồng.
Địa hình có nhiều sông suối bắt nguồn từ dãy Trường Sơn và nhất là với nhiều tuyến giao thông dọc ngang rất thuận tiện cho việc khai thác, mua bán vận chuyển các loại lâm đặc sản từ rừng và động vật hoang dã từ rừng đi các nơi.
Xuất phát từ tình hình, đặc điểm nêu trên, lãnh đạo Chi cục luôn chủ động tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương về công tác QLBVR, phòng chống cháy rừng đồng thời xây dựng các phương án phù hợp để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao. Chi cục thường xuyên phối hợp chặt chẽ với lực lượng Công an, Quân sự, Bộ đội Biên phòng đẩy mạnh công tác bảo vệ rừng.
Ngoài những nhiệm vụ nêu trên, hàng năm lực lượng Kiểm lâm phối hợp Phòng Cảnh sát PCCC-CNCH Công an tỉnh, UBND các huyện, thành phố và chủ rừng tổ chức các cuộc diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng nhằm nâng cao hiệu quả các  phương án PCCCR ở các cấp. Tăng cường công tác tuyên truyền vận động bà con các thôn, làng, bản sống gần rừng và liền rừng thực hiện tốt nhiệm vụ QLBVR và PCCC.
Một trong những thành tích nổi bật của Kiểm lâm Quảng Bình là, thực hiện có hiệu quả Đề án tổ chức mạng lưới lâm nghiệp xã; đã đưa 97 cán bộ công chức kiểm lâm về địa bàn xã, từng bước hạn chế các hành vi phá hoại rừng ngay từ cơ sở. Lực lượng Kiểm lâm cơ sở đã chú trọng công tác kiểm tra, giám sát việc chuyển đổi đất rừng sang sử dụng vào mục đích khác, việc sử dụng rừng đối với các đơn vị, tổ chức cá nhân và hộ gia đình về khai thác, chế biến, trồng rừng và bảo vệ rừng. Phối hợp triển khai công tác giao đất, giao rừng theo Nghị định 02/CP của Chính phủ kịp thời hiệu quả...
Ngoài ra, lực lượng Kiểm lâm đã tích cực tham gia thực hiện các dự án trồng rừng như: Dự án 327, Dự án ADB, Dự án quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên miền trung, Dự án phân định và cắm mốc ranh giới sau qui hoạch 3 loại rừng... Những dự án nêu trên đều triển khai đến tận cơ sở, bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực cho các chủ rừng và cộng đồng dân cư, được nhân dân đồng tình, hưởng ứng thực hiện.
Chi cục luôn quán triệt cán bộ nhân viên trong ngành phải thường xuyên cảnh giác với các hiện tượng xâm hại rừng; nắm bắt tình hình, xác định các điểm phá rừng, khai thác gỗ trái phép trên địa bàn toàn tỉnh để có phương án, kế hoạch đối phó và tích cực phối hợp với chủ rừng và các lực lượng chức năng tổ chức truy quét các tụ điểm nói trên. Đẩy mạnh việc hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và thực thi pháp luật đối với các đơn vị chủ rừng, nhằm nâng cao năng lực, ý thức trách nhiệm BVR và tăng cường hỗ trợ các chủ rừng trong công tác BVR.
Mặt khác, tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến và giáo dục pháp luật về BVR tới người dân, đặc biệt là người dân sống gần rừng, xen kẽ với rừng và  tham mưu tốt cho cấp ủy, chính quyền các cấp, nhất là cấp cơ sở để nâng cao vai trò của chính quyền địa phương trong việc QLBVR.
Theo chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và PTNT, sắp tới sẽ đóng cửa rừng một cách nghiêm ngặt, nên áp lực về công tác QLBVR rất lớn. Trên tinh thần đó, chúng tôi sẽ  tổ chức chốt chặn các đầu mối giao thông huyết mạch trên các tuyến đường bộ, đường sông để ngăn chặn tình trạng vận chuyển lâm sản trái phép; tăng cường tuần tra, kiểm soát lâm sản và giám sát hoạt động của các cơ sở chế biến, kinh doanh lâm sản;  xử lý nghiêm các vụ vi phạm các quy định về quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản theo quy định của pháp luật.
Chi cục tích cực tham mưu cho Sở Nông nghiệp và PTNT và phối hợp với các địa phương đẩy mạnh công tác phát triển rừng, chuyển đổi cây trồng lâm nghiệp, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động ở nông thôn, tăng giá trị từ sản xuất lâm nghiệp và tăng thu nhập cho người dân từ nghề rừng chính đáng. Mục tiêu là hạn chế đáng kể tình trạng người dân vào rừng để khai thác trái phép các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khi nguồn tài nguyên này ngày càng có nguy cơ cạn kiệt.
Để làm tốt nhiệm vụ chính trị được giao, chúng tôi xác định cán bộ là khâu có ý nghĩa then chốt. Trên tinh thần đó, Chi cục sẽ tăng cường các đợt sinh hoạt chính trị trong đơn vị để giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; chấn chỉnh lề lối làm việc theo đúng quy định của pháp luật; rèn luyện và giữ gìn đạo đức, phẩm chất; thực hiện phong cách làm việc nghiêm túc, văn hóa ứng xử ở công sở và trong thi hành công vụ.
Tăng cường công tác quản lý cán bộ, đẩy mạnh công tác kiểm tra phát hiện và ngăn chặn, kịp thời xử lý kỷ luật những cán bộ, công chức, viên chức vi phạm các quy định của ngành như: sách nhiễu, nhận hối lộ, vi phạm các tệ nạn xã hội hoặc có hành vị tiêu cực khác...
Có được thành tích ngày hôm nay là kết quả của sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời sâu sát của cấp uỷ, chính quyền các cấp; sự  phối hợp, hỗ trợ có hiệu quả của các cơ quan, địa phương đơn vị đối với lực lượng Kiểm lâm.
Nhân dịp này, thông qua Báo Quảng Bình, thay mặt toàn thể cán bộ công chức viên chức trong ngành, xin chân thành cảm ơn sự lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ, phối hợp của các cấp, các ngành, địa phương đối với lực lượng kiểm lâm trong thời gian qua và mong tiếp tục nhận được sự quan tâm hơn nữa trong thời gian tới. (Báo Quảng Bình 7/10) đầu trang(
6-10/10, Tổng cục Lâm nghiệp phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã khai giảng lớp tập huấn về “Chương trình khuyến lâm cho cán bộ kiểm lâm” đến từ Chi cục kiểm lâm tỉnh và các Hạt Kiểm lâm huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, trong thời gian 5 ngày, các cán bộ kiểm lâm được bồi dưỡng những kiến thức về chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong lâm nghiệp; kiến thức cơ bản về quản lý giống cây trồng lâm nghiệp, chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn, trồng rừng gỗ lớn thâm canh và nghiệp vụ khuyến lâm…
Đây là chương trình đào tạo nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ kiểm lâm để thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp theo chủ trương của Chính phủ. (Báo Đắc Nông 6/10) đầu trang(
Đơn giản chỉ là chuyện mua, bán rừng trồng để khai thác giữa hai người làm ăn chung với 3 nông dân tay lấm chân bùn, nhưng sau đó xảy ra mâu thuẫn giữa hai người mua rừng với nhau mà thành… án.
Trải qua nhiều cấp và nhiều lần xét xử, cả hình sự lẫn dân sự, đến nay sau 5 năm, vụ án này vẫn chưa xét xử xong… Năm 2007, bà Đào Thị Hồng (thôn Đại An Khê, xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng, Quảng Trị) cùng với ông Hoàng Trọng Độ (xã Vĩnh Lâm, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị) có mối quan hệ làm ăn chung.
Hai người mua 10 ha rừng trồng để khai thác gỗ của nhóm hộ 3 nông dân, gồm các ông: Hồ Thanh Xuân, Lê Cương và Nguyễn Bặm (cùng trú xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng). Các bên đồng ý mua bán rừng này với giá 340 triệu đồng. Sau đó, ông Độ và bà Hồng đặt tiền cọc cho nhóm hộ trên 50 triệu đồng.
Đến ngày 31/12/2007, bà Hồng mang 250 triệu đồng trả tiếp cho nhóm hộ bán rừng. Số tiền này, theo như bà Hồng trình bày (có tài liệu chứng minh), thì bà đã vay của Ngân hàng NN&PTNT; lúc giao tiền cho các chủ rừng có cả ông Độ và bà Hồng. Tuy nhiên, khoảng thời gian sau đó, quan hệ giữa hai người không còn mặn nồng như trước.
Tháng 8/2009, ông Độ và nhóm hộ nêu trên xác lập giấy mua bán rừng, với sự xác nhận của UBND xã Hải Thượng, nhưng không có mặt bà Hồng, cũng như không có tên bà Hồng trong giấy mua bán rừng này. Khi biết sự việc, ngày 5/9/2009, bà Hồng đề nghị nhóm hộ bán rừng xác nhận đã bán rừng trên cho cả ông Độ và bà Hồng.
Nhóm hộ đã xác nhận cho bà Hồng, đồng thời nhiều lần thông báo cho ông Độ cùng tiến hành khai thác rừng trên với bà Hồng, để sớm trả lại đất cho bà con trồng rừng theo đúng cam kết. Nhưng ông Độ không hồi âm sự việc, nên nhóm hộ này đồng ý cho bà Hồng đứng ra làm thủ tục khai thác rừng.
Ngày 18/9/2009, bà Hồng cho chở 21m3 gỗ khai thác ở rừng trên ra khỏi cửa rừng thì bị Kiểm lâm tạm giữ do thiếu thủ tục là giấy vận chuyển gỗ. Ngay khi sự việc xảy ra, ông Độ đến trình báo tại Công an huyện Hải Lăng, nội dung bà Hồng đã khai thác trộm rừng trồng mà ông đã mua trước đó. Bà Hồng bị bắt tạm giam về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Năm 2010, TAND huyện Hải Lăng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án. HĐXX nhận định, tại thời điểm xảy ra vụ án, đang tồn tại hai văn bản xác định quyền sở hữu diện tích rừng kể trên (giấy bán rừng cho ông Độ và giấy xác nhận đã bán rừng cho cả ông Độ và bà Hồng).
Trong quá trình điều tra vụ án, cơ quan CSĐT Công an huyện Hải Lăng đã tiến hành các biện pháp xác minh quyền sở hữu rừng trên thuộc về ông Độ là không đúng thẩm quyền. Bởi theo Điều 25 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự thì tranh chấp về quyền sở hữu tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
VKSND huyện Hải Lăng truy tố bà Hồng về tội “Trộm cắp tài sản” là không có cơ sở. Do đó, TAND huyện Hải Lăng đã tuyên bà Hồng vô tội. Ngày 18/11/2010, TAND tỉnh Quảng Trị mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án trên, cũng tuyên bà Hồng vô tội. Bà Hồng sau đó được VKSND huyện Hải Lăng bồi thường thiệt hại gần 700 triệu đồng, do truy tố oan sai.
Đến đầu năm 2014, ông Hoàng Trọng Độ khởi kiện nhóm hộ 3 nông dân trên ra tòa về tranh chấp hợp đồng mua bán rừng. Trong đơn khởi kiện, ông Độ cho rằng tổng số tiền 300 triệu đồng qua hai lần trả cho nhóm hộ này là tiền của ông, chứ không phải tiền của bà Hồng. Ngày 17/4/2014, TAND tỉnh Quảng Trị mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án.
HĐXX nhận định, việc mua bán rừng bắt đầu từ ngày 25/12/2007, trong đó bên mua do cả ông Độ và bà Hồng cùng thực hiện. Nhưng riêng số tiền 250 triệu đồng trả lần 2 là tiền của bà Hồng. Các tài liệu ông Độ xuất trình không phù hợp với tình tiết, diễn biến vụ việc, vì vậy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Độ.
Mặc dù vậy, ý kiến của hai hội thẩm nhân dân thì ngược lại, cho rằng số tiền 250 triệu đồng là tiền của ông Độ trực tiếp trả cho nhóm hộ kể trên. Nhưng nhóm hộ này đã cho bà Hồng khai thác rừng, nên buộc họ phải trả lại tổng số tiền 300 triệu đồng qua hai lần nhận cho ông Độ. Căn cứ Khoản 2 Điều 236 Bộ Luật Tố tụng Dân sự về nghị án, kết quả biểu quyết 2/3 nên HĐXX chấp nhận theo đa số, tức buộc các ông Hồ Thanh Xuân, Nguyễn Bặm, Lê Cương phải trả lại số tiền 300 triệu đồng cho ông Độ (!?).
Gần 2 tuần sau kể từ khi tòa tuyên án, tất cả nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (bà Đào Thị Hồng), VKS đều có kháng cáo, kháng nghị bản án. Nhóm hộ nông dân trên đề nghị Tòa phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, bác đơn kiện của ông Độ, đồng thời xem xét việc 2 hội thẩm nhân dân thiếu khách quan trong xét xử vụ án này...
Ngày 17/7/2014, TAND Tối cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án. Trong quá trình xét hỏi, có nhiều tình tiết trong việc mua bán rừng, trả tiền và nhận tiền mua bán này… cần phải có điều kiện để xác minh làm rõ nên HĐXX đã tạm thời hoãn xét xử vụ án.
Sau gần hai tháng hoãn phiên tòa, ngày 4/9/2014, HĐXX TAND Tối cao tại Đà Nẵng đã tiếp tục phiên tòa và tuyên giữ nguyên bản án sơ thẩm, bác kháng cáo của nhóm hộ 3 nông dân Hồ Thanh Xuân, Nguyễn Bặm, Lê Cương, bà Đào Thị Hồng và kháng nghị của VKSND tỉnh Quảng Trị.
Tuy nhiên, đến nay vụ án vẫn chưa đến hồi kết thúc. Bởi vì, ngay sau phiên xử, TAND tỉnh Quảng Trị, nhóm hộ 3 nông dân trên và bà Đào Thị Hồng đã tiếp tục làm đơn kháng nghị, kháng cáo lên tòa án cấp trên để xử giám đốc thẩm lại vụ án. (Công An Nhân Dân 6/10) đầu trang(
Hơn 10 năm qua, 855 hộ dân phải di dời nhường đất cho dự án hồ chứa nước Tả Trạch (đầu nguồn sông Hương) vẫn chưa nhận được đất để sản xuất như thỏa thuận của chính quyền.
Năm 2003, khi triển khai xây dựng dự án hồ Tả Trạch, có 855 hộ dân vùng lòng hồ phải di dời đến bảy điểm tái định cư ở các xã Bình Thành (thị xã Hương Trà), Xuân Lộc, Lộc Bổn (huyện Phú Lộc).
Theo thỏa thuận, về nơi ở mới mỗi hộ dân sẽ được cấp tối thiểu 1ha đất để ở và làm vườn, riêng đất rừng sản xuất của dân đã thu hồi cho dự án sẽ được áp dụng hình thức “đất đổi đất”.
Thế nhưng hơn 10 năm trôi qua, người dân đã giao hơn 1.012ha đất cho dự án mà vẫn chưa được tỉnh cấp trả. Gần 200 hộ dân di dời được bố trí ở ba khu tái định cư gồm Hòa Bình, Hòa Thành và Bình Dương (xã Bình Thành) đang “khát” đất sản xuất.
Ông Nguyễn Đình Phòng, 80 tuổi, một hộ dân ở thôn Hòa Bình, cho biết phải làm thuê làm mướn đủ nghề vẫn không đủ sống.
“Gia đình tôi đã giao 6,3ha đất rừng cho dự án hồ Tả Trạch, nhưng khi chuyển đến nơi ở mới chỉ được cấp 1ha đất ở và làm vườn cho tám người. Ở giữa rừng mà không có đất sản xuất thì lấy chi mà sống?” - ông Phòng nói.
Nhiều hộ dân ở các khu tái định cư xã Bình Thành đã phải bỏ nhà, dắt nhau vào các tỉnh phía Nam làm ăn, làng xóm vắng hoe. Tại xã Lộc Bổn, 244 hộ dân bị di dời được bố trí vào bốn khu tái định cư ở thôn Bến Ván đều thiếu đất sản xuất, phần lớn thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo.
Các hộ dân ở các điểm tái định cư khác của dự án hồ Tả Trạch cũng rơi vào tình cảnh tương tự, đang “đỏ mắt” chờ chính quyền thực hiện lời hứa trả đất.
Ông Hoàng Ngọc Khanh, chánh văn phòng UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế, cho biết chủ trương “đất đổi đất” đã bị phá sản vì sau khi rà soát diện tích đất lâm nghiệp ở các lâm trường thì thấy quỹ đất không còn, tỉnh đã lên phương án bồi thường bằng tiền để trình Bộ Nông nghiệp - phát triển nông thôn (chủ đầu tư dự án hồ chứa nước Tả Trạch) và Chính phủ quyết định.
Ông Khanh lý giải việc chậm đền bù cho người dân là vì dự án hồ Tả Trạch liên tục điều chỉnh, tăng vốn đầu tư, trong khi trị giá bồi thường vượt ngoài khả năng chi trả của tỉnh.
Phương án bồi thường bằng tiền vừa được Chính phủ chấp thuận, bằng việc tách ra một dự án riêng, nằm trong dự án hồ Tả Trạch, hiện Bộ Kế hoạch - đầu tư đang thẩm định nguồn vốn.
Sau khi có nguồn vốn, UBND tỉnh sẽ tiến hành bồi thường, giá đền bù tính theo thời điểm hiện nay, vận dụng những chính sách có lợi nhất cho người dân.
Ngoài việc nhận tiền đền bù đất, người dân còn được hỗ trợ chuyển đổi nghề và đào tạo việc làm. “Hi vọng tiền đền bù sẽ đến với người dân trong năm 2015” - ông Khanh nói.
Ông Nguyễn Trung Nhân, phó chủ tịch UBND xã Bình Thành, cho rằng nông dân muốn sống phải có đất, nếu tỉnh trả nợ bằng tiền họ sẽ mua sắm, ăn tiêu hết, nghèo sẽ hoàn nghèo.
Theo ông Nhân, hiện các lâm trường đang chiếm hết 70% đất của xã, nhiều diện tích vẫn còn để trống, trong khi người dân của xã không có đất sản xuất phải đi làm thuê sống qua ngày.
Phương án tốt nhất giúp người dân thoát khỏi đói nghèo bền vững là tỉnh nên thu hồi đất của các lâm trường để trả cho người dân sản xuất. (Tuổi Trẻ 7/10) đầu trang(
Thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2014, mặc dù gặp nhiều khó khăn, do thời tiết xấu, vật tư phân bón cũng như cây giống tăng cao, nhưng công tác trồng rừng của tỉnh Yên Bái đã hoàn thành kế hoạch năm chỉ trong 9 tháng.
Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của tỉnh, Bộ NN&PTNT, Tổng cục Lâm nghiệp, đặc biệt là sự quan tâm sát sao của Sở NN&PTNT, cùng với sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, có hiệu quả của các cấp, các ngành trong quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh. Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Yên Bái đã đạt được kết quả đáng kế trong công tác trồng rừng, bảo vệ rừng 9 tháng.
Do làm tốt các khâu chuẩn bị cũng như kịp thời tháo gỡ khó khăn và ban hành cơ chế, chính sách phù hợp cùng với sự nỗ lực của Chi cục Lâm nghiệp và bà con nông dân, nhiều loại giống tiến bộ được đưa vào sử dụng, chất lượng, hiệu quả rừng nâng lên, tỷ lệ cây sống đạt cao.
Trong tổng số 14.030,8 ha rừng đã trồng, đạt 93,5% kế hoạch năm, trong đó, rừng trồng sản xuất tập trung 9.482,3 ha, bao gồm: Keo các loại 4.556,4 ha; quế 2.966,7 ha; bạch đàn 88,4 ha; bồ đề 959,4 ha; mỡ 51,4 ha; tre bát 23 ha; luồng 8,9 ha; cây lâm nghiệp khác 828,2 ha.
Rừng trồng phòng hộ: 1.200 ha đạt 100% kế hoạch năm. Cùng với việc trồng và phát triển rừng, công tác bảo vệ rừng cũng được chú trọng, đến thời điểm hiện nay, trên địa bàn toàn tỉnh đã tổ chức giao khoán bảo vệ và khoanh nuôi 209.790,7 ha rừng phòng hộ, đặc dụng vả rừng tự nhiên sản xuất, trong đó: Các Ban quản lý rừng phòng hộ, Ban quản lý rừng đặc dụng tổ chức giao khoán, bảo vệ và khoanh nuôi được 164.887,8 ha rừng phòng hộ, đặc dụng.
Ông Kiều Tư Giang, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp cho biết, để đạt được kết quả đó, từ cuối năm 2013 Chi cục đã cùng các huyện, thị, thành phố và các đơn vị liên quan tiến hành rà soát, thiết kế, chuẩn bị đất và xây dựng kế hoạch giao cụ thể đến các địa phương, nông lâm trường, chuẩn bị các loại cây giống tiến bộ, chất lượng tốt, năng suất cao, đáp ứng cơ bản đủ giống cho kế hoạch.
Mặc dù chưa hoàn thành kế hoạch năm trong 9 tháng, nhưng với kết quả đó cũng nói lên sự nỗ lực, cố gắng của cán bộ, nhân viên toàn Chi cục. Thành quả đó sẽ là cơ sở để thực hiện kế hoạch trong những tháng cuối năm 2014 và những năm tới, đưa nghề rừng ngày một phát triển, góp phần xóa đói giảm nghèo trong nông nghiệp - nông thôn. (Lao Động Xã Hội 7/10, tr16) đầu trang(
Sau 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24.9.2010 của Chính phủ, trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì đã và đang tạo sự chuyển biến tích cực về ý thức bảo vệ và phát triển rừng, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân vùng có rừng tại địa phương.
Là địa phương có vị trí đầu nguồn sông Chảy, do vậy công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp nguồn nước cho sinh hoạt, phục vụ sản xuất của nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái vùng đầu nguồn, điều tiết nguồn nước cho các công trình thủy điện...
Qua 3 năm triển khai, nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và nhân dân về công tác bảo vệ, phát triển rừng đã được nâng lên rõ rệt. Tỷ lệ che phủ rừng tiếp tục tăng lên, các vụ vi phạm liên quan đến rừng được hạn chế. Đây là những kết quả bước đầu nhưng rất tích cực, là tiền đề cho người trồng rừng, bảo vệ rừng yên tâm, có thu nhập ổn định từ rừng, góp phần quan trọng trong việc nâng cao thu nhập từ rừng cho người dân địa phương.
Ông Lèng Seo Seng, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ của huyện cho biết: Việc giao khoán rừng để chi trả DVMTR trên địa bàn huyện có ý nghĩa quan trọng đối với chủ trương quản lý rừng bền vững, làm cho rừng thật sự có chủ và người dân được hưởng lợi khi bảo vệ rừng.
Cụ thể, kinh phí chi trả DVMTR trong 3 năm được trên 2 tỷ đồng và được tái đầu tư cho trên 4 nghìn hộ đang quản lý, bảo vệ 26.379 ha diện tích rừng tại 23 xã, thị trấn của huyện. Qua đó, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các đối tượng được hưởng lợi từ rừng, hiệu quả quản lý, sử dụng và bảo vệ rừng được nâng lên.
Cũng theo anh Seng, người dân được hưởng lợi từ rừng nên ngày càng gắn bó với rừng hơn, song việc chi trả hiện nay còn quá thấp, bình quân mỗi hộ mới nhận được hơn 60 nghìn đồng/ha/năm, tuy số tiền không nhiều, nhưng đã góp phần giúp đỡ người dân có thêm chi phí để chăm sóc và bảo vệ rừng hiệu quả.
Theo kết quả nghiệm thu rừng năm 2013 của Ban quản lý rừng phòng hộ thì hầu hết diện tích rừng giao khoán được bảo vệ tốt; công tác kiểm tra, giám sát đảm bảo việc chi trả DVMTR đúng mục đích, có hiệu quả; việc thực hiện chi trả DVMTR không chỉ làm thay đổi nhận thức của người dân về rừng và tầm quan trọng, ý nghĩa của công tác bảo vệ, phát triển rừng mà còn làm tăng khả năng phòng hộ của rừng, điều hòa khí hậu, giữ và cung cấp nước cho các nhà máy thủy điện cũng như sinh hoạt, sản xuất của nhân dân...
Có thể nói, hiệu quả của chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, là tiền đề cho người dân có rừng tiếp tục phát triển các nguồn lợi từ rừng, qua đó góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao tỷ lệ che phủ rừng trên địa bàn huyện. (Báo Hà Giang 8/10) đầu trang(
Năm 2012, xã Chế Tạo (huyện Mù Cang Chải) có 17.414 ha rừng nằm trong diện được chính sách dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) chi trả với số tiền gần 5 tỷ đồng. Bình quân mỗi hộ gia đình nhận được 16,3 triệu đồng, hộ cao nhất được chi trả 30 triệu đồng.
Đối với người dân tại vùng đặc biệt khó khăn như Chế Tạo, đây là nguồn thu nhập lớn giúp đồng bào ổn định cuộc sống và bảo vệ những cánh rừng đại ngàn bền vững.
Là 1 trong 13 xã đặc biệt khó khăn của huyện Mù Cang Chải, được biết đến như vùng đất xa xôi nhất của tỉnh Yên Bái, cách đường quốc lộ 35 km. Chế Tạo có tổng diện tích tự nhiên 23.658 ha, trong đó diện tích rừng là 17.414 ha.
Toàn bộ diện tích rừng của xã nằm trong vùng quy hoạch rừng phòng hộ đầu nguồn sông Đà. Xã có 315 hộ dân với 2.085 nhân khẩu, đồng bào dân tộc Mông chiếm 99%, đời sống người dân trong xã vẫn gặp nhiều khó khăn.
Tuy nhiên, bằng nguồn lực đầu tư của Nhà nước cộng với sự cần cù, chịu khó trong lao động, sản xuất, người dân Chế Tạo cũng đã có thể tự túc một phần lương thực. Trước đây, người dân không có thói quen làm vụ đông xuân, một phần do tập quán canh tác, một phần do thiếu nước. Bằng nhiều hình thức vận động, tuyên truyền, giờ đây, mỗi năm, bà con đã trồng 30 ha sắn, 55 ha ngô, 6 ha rau mầu. Nhiều hộ mạnh dạn đầu tư trồng cỏ voi, phát triển chăn nuôi trâu, bò, đời sống người dân từng bước được nâng lên.
Thế nhưng, Chế Tạo chỉ thực sự đổi thay khi chính sách chi trả DVMTR được triển khai. Sau 2 năm thực hiện, người dân trong xã đã nhận thức đầy đủ về ý nghĩa cũng như mục đích của chính sách. Đây là nguồn thu nhập lớn, ổn định, bền vững, lâu dài.
Từ đó nhận thức, trách nhiệm bảo vệ rừng được nâng lên rõ rệt, bà con người Mông trong các thôn, bản giờ đã nhiệt tình hơn trong công tác trồng, chăm sóc rừng, tình trạng xâm lấn, chặt phá, cháy rừng đã từng bước được hạn chế. Thu nhập từ rừng đã giải quyết được một phần nhu cầu cuộc sống, cùng với sự đầu tư của Nhà nước xây dựng hệ thống điện, đường, trường, trạm, đời sống người dân ngày một ấm no.
Ông Giàng Pằng Tủa - Bí thư Đảng ủy xã Chế Tạo cho biết: “Trước đây chúng tôi vẫn loay hoay tìm cách để người dân sống cạnh rừng vừa có thu nhập ổn định vừa không xâm phạm vào rừng. Việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở xã đã đem lại cuộc sống mới cho người dân, căn bản giải quyết được bài toán thu nhập”.
Từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Chế Tạo và trên địa bàn tỉnh cho thấy, đơn giá cho mỗi ha rừng khá cao, như năm 2013, là 473,2 đồng/ha đối với lưu vực sông Đà và 21.100 đồng/ha đối với lưu vực sông Hồng, đó thực sự là một nguồn thu nhập đáng kể.
Chính sách chi trả DVMTR là một bước đột phá trong nhận thức và hành động của toàn xã hội về vai trò của rừng đối với đời sống con người. Chính sách đã quy định nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền lợi của người sử dụng và người cung cấp dịch vụ.
Như vậy, chính sách không chỉ góp phần nâng cao nhận thức xã hội về giá trị phòng hộ của rừng mà còn trực tiếp tạo thêm nguồn thu nhập, tạo việc làm ổn định cho người làm nghề rừng, góp phần xóa đói giảm nghèo không chỉ Chế Tạo mà còn nhiều địa phương khác. (Báo Yên Bái 7/10) đầu trang(
Ông Lâm Tùng Quế, Giám đốc Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Tp.HCM (Chi cục Kiểm lâm Tp.HCM), cho biết năm nay lượng đăng ký xin cấp giấy phép xuất khẩu cá sấu chính ngạch là hơn 22.000 con, tăng mạnh so với năm ngoái.
Tuy nhiên, ông Quế cũng cho biết lượng xuất có thể lớn hơn nhiều do đây chỉ đăng ký chính ngạch. Hiện các cơ quan chức năng chỉ khuyến cáo không nên đầu tư nuôi cá sấu ào ạt để tránh hiện tượng rớt giá chứ không thể can thiệp sâu.
Với giá thành đầu tư tăng cao như hiện nay, nếu giá cá sấu rớt thì thiệt hại sẽ rất lớn. (Thời Báo Kinh Doanh 7/10, tr5) đầu trang(
Trong 9 tháng, các địa phương, đơn vị tích cực khôi phục lại rừng trồng bị thiệt hại sau bão số 10-2013, đồng thời đẩy mạnh khai thác gỗ rừng trồng. Dự ước khối lượng gỗ khai thác trong tháng 9 đạt 16.000m3; 9 tháng đạt 157.300m3, bằng 97%  so với cùng kỳ.
Diện tích rừng tự nhiên được chăm sóc 15.000ha, tăng 3,4%, trồng cây phân tán 2.176 nghìn cây, tăng 3% so cùng kỳ. Địa phương khai thác sản lượng gỗ rừng trồng lớn là huyện Lệ Thuỷ với 55.000m3, Quảng Ninh 50.000m3, Bố Trạch 37.000m3...
Riêng sản lượng nhựa thông và mủ cao su khai thác trong 9 tháng giảm mạnh; trong đó nhựa thông khai thác đạt 2.250 tấn, giảm 38%, mủ cao su khai thác 3.632,4 tấn, bằng 62,6% so cùng kỳ. (Báo Quảng Bình 8/9) đầu trang(
Theo Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai, từ đầu năm đến nay, giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ gỗ của địa phương này đã đạt trên 600 triệu USD, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2013.
Các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ ở Đồng Nai cho biết, nhiều công ty đến thời điểm này đã nhận được đơn đặt hàng đến hết quý I năm 2015. Các sản phẩm đồ gỗ của Đồng Nai được xuất khẩu sang các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản, các quốc gia châu Âu.v.v… Một số các nước thuộc châu Mỹ Latinh, châu Phi cũng sang tìm hiểu và đặt hàng tại Đồng Nai.
Thời gian gần đây, nhiều nhà nhập khẩu sản phẩm từ gỗ lớn trên thế giới đã đến Việt Nam đặt hàng chứ không chọn Trung Quốc như trước. Việt Nam cũng đang có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc thu hút các nhà đầu tư đến liên kết sản xuất sản phẩm từ gỗ.
Ông Nguyễn Ngọc Tuấn, Phó chủ tịch Hiệp hội Xuất nhập khẩu Đồng Nai cho rằng, có sự dịch chuyển những đơn hàng lớn sản xuất các sản phẩm từ gỗ ở các nước lân cận vào Việt Nam, trong đó có Đồng Nai là để được hưởng các ưu đãi về thuế. Thời gian qua, Việt Nam đã ký nhiều hiệp định thương mại với nhiều nước và theo lộ trình thuế xuất nhập khẩu các mặt hàng giảm dần về 0%. Trong đó, mặt hàng gỗ đang hưởng nhiều ưu đãi về thuế quan khi xuất khẩu.
Tỉnh Đồng Nai cũng là một trong những địa phương có thế mạnh về ngành công nghiệp gỗ chế biến, bao gồm cả gỗ mỹ nghệ. Nghề gỗ mỹ nghệ ở Đồng Nai tập trung chủ yếu ở khu vực thành phố Biên Hòa, huyện Trảng Bom và huyện Xuân Lộc.
Đồng Nai cũng chú trọng phát huy năng lực chế biến của ngành sản xuất đồ gỗ, tiếp tục phát triển ngành chế biến hàng mộc và sản xuất đồ gỗ, phát huy tiềm năng các thành phần kinh tế, tận dụng nguồn nguyên liệu rừng trồng, đẩy mạnh xuất khẩu. Khuyến khích phát triển mạnh các cơ sở sản xuất, chế biến hàng mộc ở các khu vực nông thôn, các làng nghề truyền thống, tạo việc làm cho người lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Được biết, toàn tỉnh Đồng Nai hiện có hơn 600 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đồ gỗ và hàng thủ công mỹ nghệ với tổng doanh thu năm 2013 đạt 2 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu gần 1,5 tỷ USD, chiếm 27% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành gỗ cả nước. (Thời Báo Tài Chính VN 4/10) đầu trang(
Xã Thái Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình là xã miền núi, trước đây quanh năm suốt tháng người dân sống chỉ biết dựa vào việc khai thác gỗ lậu. Điều đáng nói, khi nhiều cánh rừng nguyên sinh, nhiều loại gỗ quý hiếm bị chặt hạ nhưng người dân vẫn quẩn quanh trong đói nghèo.
Từ chuyện cả làng làm lâm tặc, mấy năm lại đây người dân Thái Thủy quay sang trồng rừng. Nhà ít vài ha, nhiều nhà trong làng trồng trên 50 ha rừng. Từ đói nghèo, người dân nơi đây đã đổi đời giàu có. Cách làm ở Thái Thủy cần được nhân rộng đến nhiều địa phương khác trong cả nước.
Đến Thái Thủy khi trời đã đổ bóng, loanh quanh trong làng để tìm tư liệu viết bài. Cùng anh cán bộ đoàn xã, PV tìm đến nhà anh Trần Văn Trạng. Người từng được coi là lâm tặc khét tiếng nhất vùng miền tây huyện Lệ Thủy, Quảng Bình. Gặp PV, Trạng cười khà khà “Lâm tặc là tui đây chớ ai, trồng nhiều rừng cũng là tui đây chớ ai”. Người vạm vỡ như cây rừng, Trạng kể về quá khứ làm lâm tặc đầy màu sắc cuộc sống núi rừng.
Cách đây độ dăm năm, cả làng Thái Thủy làm lâm tặc. Thậm chí nhiều cán bộ xã cũng vào rừng đốn gỗ để bán. Vùng đất mở mắt ra đã thấy núi, không ruộng đồng canh tác, không sẵn đất chăn nuôi nên người dân chỉ biết bám vào rừng. Trạng và thanh niên làng thường mang theo gạo, cưa, rìu, đục vào rừng đốn gỗ hàng chục ngày trời rồi bán cho các trùm gỗ lậu mang về xuôi.
Rừng bị phá chỉ làm giàu cho các trùm gỗ, còn cuộc sống người dân Thái Thủy vẫn quẩn quanh trong đói nghèo. Trong rừng vì tranh nhau gỗ, không ít toán lâm tặc đã dùng gậy gộc, dao búa thanh toán nhau. Có nhiều người đi rừng gặp sốt rét chết giữa rừng già. Là đại ca lâm tặc khét tiếng, nhưng mỗi lần vào rừng Trần Văn Trạng vẫn luôn cảm thấy bất an, bởi Trạng cũng có thể bị các nhóm khác thanh toán bất cứ lúc nào. “Ăn của rừng rương nước mắt”, Trạng nghĩ vậy.
Trong một lần hiếm hoi ngồi xem ti vi nói về việc trồng rừng cho lợi nhuận cao. Trạng bật dậy, họ trồng được mình trồng được. Ngày vợ chồng Trạng tiến hành khai hoang trồng rừng, nhiều người làng bảo thằng Trạng điên rồi. Tay đào đất đá đến xạc cả máu, nhưng Trạng và vợ không nản chí. Từ tờ mờ sáng đến tối mịt anh vẫn quăng quật với cây trồng. Chỉ sau 5 năm năm, mồ hôi nước mắt đã không phụ công anh, 10 ha rừng keo, bạch đàn của anh cho thu hoạch với giá cao. Tiếp tục khai hoang đến nay Trần Văn Trạng đã trồng được gần 40 ha rừng…
Rời nhà anh Trần Văn Trạng PV tìm đến một “lâm tặc” khác là anh Phan Văn Tuấn, cũng như Trạng, Tuấn được xem là người bỏ con đường lâm tặc đầu tiên của Thái Thủy để trồng rừng. Từ đồng vốn ít ỏi ban đầu, đến nay  Phan Văn Tuấn đã trồng được gần 50 ha rừng, nuôi 4 đứa con ăn học, cháu đầu đã vào đại học.
Khi nói đến việc trồng rừng, anh Tuấn hồ hởi “đất quê mình nhiều, lúc trước do nhác và không nghĩ ra cách làm nên cứ vô rừng phá, cây chặt mãi cũng hết, đói nghèo lại hoàn đói nghèo. Giờ trồng rừng, cứ 5 năm năm thu hoạch một lần cho hàng trăm triệu đồng, rừng lại không bị phá nữa. Từ làm lâm lặc giờ chúng tôi quay sang trồng hàng chục ha rừng, vừa làm giàu vừa trả lại nợ cho rừng vậy”.
Những ngày về Thái Thủy, PV được biết, kỷ lục về phá rừng và trồng rừng có lẽ không nơi đây so được với vùng đất này. Cách đây độ mươi năm, mỗi năm lâm tặc là người làng này có thể triệt hạ cả hàng trăm ha rừng. Nhưng từ khi có chủ trương trồng rừng, làm giàu từ rừng, chỉ trong vòng 3 năm (từ 2008-2011), người dân Thái Thủy đã trồng được 3.145 ha rừng.
Với 1.104 hộ dân trên địa bàn, trung bình mỗi năm một hộ dân nơi đây trồng được hơn 3 ha rừng. Hiện có nhiều hồ đã trồng trên 50 ha rừng như hộ gia đình anh Nguyễn Văn Đồng, Lê Văn Thế, Võ Văn Xướng…
Nhờ trồng rừng, người dân Thái Thủy đã chăm lo cho con cái đến trường, xây dựng được nhà ở kiên cố, khang trang. Anh Lê Văn Dũng - Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Thái Thủy khẳng định “từ một xã miền núi nghèo khó, hầu như hàng năm người dân không đủ cơm ăn, đến nay nhờ trồng rừng nhiều hộ dân đã vươn lên làm giàu từ rừng, một số hộ mua được xe ô tô, xe cơ giới để phục vụ công tác trồng rừng”.
Anh Dũng cho biết thêm, việc cả làng làm lâm tặc rồi chuyển qua trồng rừng có công lớn của lực lượng Kiểm lâm. Trước đây, người dân đi phá rừng nhiều, Chi cục kiểm lâm Quảng Bình đã cắt cử kiểm lâm viên xuống ở tận từng thôn, xóm phân tích, động viên, rồi chỉ cho cách trồng rừng đưa lại hiệu quả kinh tế. Giờ nhân dân trồng rừng nhiều, lực lượng kiểm lâm lại phối hợp với nhân dân trên địa bàn để vừa bảo vệ rừng, vừa chống cháy cho rừng trồng.
Ông Lê Quang Năm-Chủ tịch UBND huyện Lệ Thủy cho rằng “Trong thời gian qua, ở một số tỉnh, thành ở miền Trung liên tục xảy ra việc kiểm lâm đánh trọng thương kiểm lâm, và rừng liên tục xảy ra cháy, nhưng ở Quảng Bình không hề xảy ra nhưng việc này dù Quảng Bình hiện là tỉnh nằm trong tốp đầu cả nước về độ che phủ rừng. Để đạt được hiệu quả đó, tôi nghĩ Quảng Bình đã tìm ra hướng đi riêng, lực lượng kiểm lâm đã sâu sát với địa bàn, gắn bó với người dân vùng rừng, cùng phối hợp với các cấp chính quyền giúp đỡ người dân chuyển đổi phát triển kinh tế, bỏ phá rừng quay sang trồng rừng làm giàu chính đáng”.
Hiện nhiều cánh rừng ở miền Trung, Tây Nguyên, Tây Bắc đang bị lâm tặc triệt hạ hàng ngày, kiểm lâm liên tục bị hành hung, thì bài học về việc từ bỏ phá rừng quay sang trồng rừng để làm giàu ở Thái Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình trở thành mô hình cần được nhân rộng. (Công An Nhân Dân 7/10) đầu trang(
Tính đến thời điểm này, huyện Bát Xát là địa phương đầu tiên hoàn thành kế hoạch trồng rừng trong năm nay.
Năm 2014, theo kế hoạch chỉ tiêu giao, huyện Bát Xát sẽ thực hiện trồng 750 ha rừng. Đến hết tháng 9, huyện Bát Xát đã trồng được 765,5 ha, vượt kế hoạch trên 15 ha, trong đó chủ yếu là trồng các giống cây lâm nghiệp: sơn tra, thông, mỡ, xoan ta…
Ngay từ đầu năm, UBND huyện Bát Xát đã tổ chức phân khai, giao kế hoạch đến từng xã. Ban Quản lý rừng phòng hộ đã làm tốt công tác tuyên truyền vận động, chuẩn bị đủ cây giống cho nhu cầu trồng rừng trên địa bàn huyện.
Đồng thời, tranh thủ thời tiết thuận lợi, chỉ đạo sát sao khung thời vụ trồng rừng đối với từng loại cây lâm nghiệp, cử cán bộ địa bàn hướng dẫn người dân trồng đúng kỹ thuật. (Báo Lào Cai 7/10) đầu trang(
Mới đây, chương trình “Vì cuộc sống tươi đẹp cùng Sơn Spec” đã đến An Giang. Chương trình được nhãn hàng Sơn Spec của Công ty 4 Oranges phối hợp với Tỉnh đoàn An Giang thực hiện.
Hơn 300 đoàn viên thanh niên tình nguyện tỉnh nhà đã đồng hành cùng đại sứ chương trình MC - diễn viên Quyền Linh tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường.
Nhiều hoạt động thiết thực như: Đạp xe diễu hành trên các tuyến đường trung tâm tỉnh, phát tờ rơi với nội dung các cách tiết kiệm điện, nước, túi sinh học thân thiện môi trường dùng thay túi ni lông ở chợ Long Xuyên, chợ Mỹ Bình; trồng cây xanh tại khu mới Trường ĐH An Giang nhằm giúp người dân nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, tiết kiệm điện, nước; sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên đúng cách.
Được biết, trong tháng 11, nhãn hàng Sơn Spec sẽ tiếp tục đồng hành cùng Tỉnh đoàn Cà Mau thực hiện chương trình này. (Người Lao Động 8/10, tr8) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Cơ quan quản lý môi trường quốc gia Singapore (NEA) cho hay vào lúc 19 giờ tối 6/10 chỉ số PSI dùng để đo mức độ ô nhiễm không khí tại Singapore đã chạm mốc 153, mức cao nhất trong năm 2014.
Theo phân loại của NEA, chỉ số PSI từ 101-200 được xem là có hại cho sức khỏe. Ngay lập tức, NEA đã khuyến cáo người dân tránh các hoạt động ngoài trời kéo dài. Người già, phụ nữ mang thai và trẻ em cần hạn chế tối thiểu các hoạt động như vậy, trong khi những người không khỏe hoặc có vấn đề về phổi và tim kinh niên cần tránh ra ngoài.
NEA cho hay tình trạng ô nhiễm không khí hôm 6/10 là do khói bụi do cháy rừng từ Sumatra, miền Trung Indonesia, bị gió Tây Nam thổi sang Singapore. Đến nay đã phát hiện 97 điểm cháy rừng ở Sumatra và 74 điểm ở Kalimantan.
NEA đã yêu cầu nhà chức trách Indonesia thực hiện ngay lập tức các biện pháp ngăn chặn tình trạng đốt rừng ở Sumatra và kịp thời cung cấp thông tin cập nhật tình hình. Tình trạng ô nhiễm khói bụi mới nhất tại Singapore xảy ra sau khi Luật ô nhiễm khói mù qua biên giới của nước này vừa chính thức có hiệu lực từ ngày 25/9.
Theo đó, hành vi phạm tội sẽ được cấu thành nếu chỉ số PSI của Singapore tăng từ 101 trở lên trong hơn 24 giờ liên tiếp. Đến 11 giờ trưa 7/9, chỉ số PSI đo được tại Singapore đã giảm xuống còn 68. Trước đó, chỉ số PSI cao nhất đo được từ đầu năm đến nay là 129 hồi tháng Chín.
Năm ngoái, chỉ số PSI đã ở mức cao kỉ lục 401 vào tháng Sáu, mức được xem là độc hại. (VietnamPlus 7/10) đầu trang(
Một vườn thú ở Nhật Bản đã gặp sự cố hy hữu trong nỗ lực nhằm nhân giống các cá thể linh cẩu. Sau bốn năm nhốt hai con linh cẩu chung chuồng họ mới nhận ra rằng cả hai đều là... con đực.
Các chuyên gia tại vườn thú Maruyama ở Sapporo, phía bắc Nhật Bản cho biết họ đã mua hai con linh cẩu này từ một vườn thú ở Hàn Quốc từ năm 2010. Hai con linh cẩu có tên là Kami và Kamutori.
Sau 4 năm trời không thấy bất cứ kết quả nào trong quá trình nhân giống, họ đã tiến hành xét nghiệm Kami (cá thể được cho là con cái) và bất ngờ phát hiện ra bộ phận sinh dục của giống đực.
"Chúng tôi đã cố gắng tạo điều kiện cho chúng ở gần nhau nhưng chúng thường cắn nhau chứ không bao giờ giao phối. Chúng tôi đã kiểm tra hình ảnh siêu âm, nội tiết tố và phát hiện ra cả hai cá thể đều là con đực. Chúng tôi sẽ mua một con linh cẩu cái trong thời gian tới", phát ngôn viên của vườn thú Maruyama cho hay.
Theo thông báo của vườn thú Maruyama, việc xác định giới tính của một con linh cẩu đốm rất khó khăn và đôi khi gây ra những tình huống hy hữu như trên.
Được biết, linh cẩu là loài thú hoang dã, song chúng lại thích sống gần môi trường sống của con người. Các nhà khoa học cho rằng, tổ tiên của linh cẩu đốm là loài linh cẩu vằn. Chúng tách ra từ loài linh cẩu vằn trong thời Pliocen, khoảng 1,8 triệu năm trước.
Linh cẩu săn mồi hung bạo và điêu luyện nhưng chúng lại thích thú với việc cướp con mồi từ các loài vật khác. Chính vì thế, chúng được coi là loài vật ăn thịt tham lam nhất hành tinh, khi vừa ăn tạp, ăn khỏe, lại có thói quen cướp mồi.
Tuy nhiên, chúng lại là biểu tượng cho sự đoàn kết. Nếu một con linh cẩu đốm đang đánh nhau với những con vật khác, chúng sẽ không quản tính mạng lao vào chiến đấu cứu đồng loại. Nếu con linh cẩu đốm cùng máu mủ, dù họ hàng xa, thì chúng sẽ càng chiến đấu quyết liệt hơn để bảo vệ nhau. (Đất Việt 5/10) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng