Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 07 tháng 10 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Sau khi phát hiện lượng lớn lâm sản (gỗ) khai thác trái phép giấu tại khu vực khe Nấm (xã Quế Lâm, huyện Nông Sơn), 4-9 Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam đã phân công lực lượng phối hợp với huyện Nông Sơn kiểm tra, xử lý.
4-8/9, cơ quan chức năng kiểm tra hiện trường, thống kê số lâm sản khai thác trái phép tại vùng giáp ranh xã Phước Hòa (huyện Phước Sơn) với xã Quế Lâm thuộc các tiểu khu 640, 642, 644, 645, giấu tại khe Nấm, khe Mây (xã Quế Lâm) gồm 257 hộp gỗ xẻ (51,391m3) từ nhóm I đến nhóm VII.
18-9, Hạt Kiểm lâm Nông Sơn khởi tố vụ án, hiện đã chuyển qua công an huyện. Cùng ngày, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam - Nguyễn Đức Hải cũng đã đến huyện chỉ đạo nhanh chóng làm rõ đối tượng khai thác gỗ trái phép, xử lý nghiêm minh. Trong hai ngày 19 và 20-9, Cục Kiểm lâm cũng cử đoàn công tác vào Nông Sơn kiểm tra, chỉ đạo phối hợp cơ quan chức năng sớm đưa vụ việc ra ánh sáng.
2-10, trao đổi với PV, ông Phan Tuấn - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam - cho biết, do địa hình phức tạp, lượng gỗ lớn nên đến nay mới thu gom đưa ra khỏi rừng hơn 30m3, hiện đang tập trung lực lượng tiếp tục vận chuyển số còn lại. Theo ông, rừng Nà Lau tình hình phức tạp, rừng tự nhiên chưa giao cho dân mà xã đang quản lý, do lực lượng tuần tra mỏng nên lâm tặc đã lợi dụng vào khai thác. Chúng tập kết sẵn, chờ mùa mưa lợi dụng nước sông suối lên vận chuyển về xuôi.
Trước đó, 1-10 ông Tuấn cũng làm việc với Công an và Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn liên quan đến tiến trình xử lý vụ án. Công an huyện cho biết đang cử điều tra viên có kinh nghiệm làm rõ, quyết tâm khởi tố bị can trong tháng này.
Qua tìm hiểu, đầu nậu bỏ tiền thuê thợ lên rừng tìm gỗ, thấy cây nào lớn, có giá trị liền xẻ phách, tập kết thành bãi, đánh dấu chờ cơ hội thuê dân địa phương vận chuyển về xuôi tiêu thụ.
Sau khi đốn hạ, xẻ từ 600 ngàn đến 2 triệu đồng/khối/tùy giá trị, sau đó thuê vận chuyển 200-400 ngàn đồng/phách, về chân núi tập kết thì giá đã tăng lên 4-5 lần; từ đây, chúng có thể chuyển theo đường suối về Quế Lâm hoặc kết bè thả sông Thu Bồn xuôi đồng bằng (Điện Bàn, Hội An, Đà Nẵng...). Nếu trót lọt, giá đội lên gấp hàng chục lần, như gỗ gõ mật 30-50 triệu đồng/m3, dổi hương 15-20 triệu/m3, chò nâu 8-14 triệu/m3...
Lợi nhuận kếch xù như thế nên các đầu nậu sẵn sàng khai thác trái phép, thêm sự tiếp tay của người dân và việc buông lỏng quản lí của địa phương cùng một số cơ quan chức năng khiến các đối tượng ngày càng lộng hành.
Rất mong tỉnh Quảng Nam sớm làm sáng tỏ vụ việc, đưa các đối tượng ra trước vành móng ngựa để răn đe những kẻ phá rừng. Qua đây, cơ quan chức năng cũng rút thêm bài học kinh nghiệm trong việc phối hợp, tham gia quản lý, bảo vệ rừng. (Công An TPHCM 6/10) đầu trang(
Trong 9 tháng, toàn tỉnh Bắc Kạn xảy ra 523 vụ vi phạm quy định về quản lý và bảo vệ rừng, tăng hơn 70 vụ so với cùng kỳ năm 2013.
Cơ quan chức năng đã thu giữ hơn 430 m3 gỗ quy tròn các loại và một số phương tiện vi phạm khác. Tổng thu nộp ngân sách trên 7,1 tỷ đồng. Trong đó, các vụ vi phạm có số lượng lớn nhất là về mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép với trên 230 vụ, cất giữ lâm sản trái phép trên 140 vụ, khai thác rừng trái phép là hơn 50 vụ, còn lại là các vi phạm khác.
Một tín hiệu đáng mừng là mặc dù số vụ vi phạm xảy ra nhiều hơn nhưng số lượng gỗ tịch thu các loại đã giảm được gần 130m3, gỗ quý hiếm giảm được hơn 20m3 so với cùng kỳ năm 2013.
Thời gian qua, công tác quản lý, bảo vệ rừng được quan tâm thực hiện sâu sát. Chi cục Kiểm lâm chỉ đạo Hạt kiểm lâm các huyện, thị xã, các Ban Quản lý rừng đặc dụng và cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn đã tăng cường thời gian xuống cơ sở, bám nắm địa bàn được phân công, nhằm phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và Phát triển rừng ngay tại cơ sở. (Đài PTTH Bắc Kạn 5/10) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Bù Đăng đã bàn giao 14 động vật hoang dã về Vườn quốc gia Cát Tiên (Lâm Đồng), gồm: 1 chồn hương, 2 khỉ, 1 mèo rừng, 1 dồi hương và 9 con dúi.
Đây là số động vật được bắt giữ của 2 đối tượng cất giấu, buôn bán trái phép tại thôn 12, xã Thống Nhất.
Sau khi kiểm tra sức khỏe, một số con thú bị thương được giữ lại chăm sóc, còn lại thả về thế giới tự nhiên nhằm bảo tồn và phát triển.
Hoạt động kiểm tra, truy quét được Hạt Kiểm lâm Bù Đăng và các đơn vị thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên thường xuyên phối hợp thực hiện nhằm bảo vệ và phát triển rừng, giữ gìn và bảo tồn động vật hoang dã. (Báo Bình Phước 5/10) đầu trang(
5/10, Phòng CSĐT tội phạm về TTQLKT&CV Công an TP Hồ Chí Minh (PC46) có thông báo truy tìm Nguyễn Chí Quân (SN 1991, ĐKTT: Thôn 13, xã Đăk We, huyện Đắk RLấp, tỉnh Đắk Nông) do có hành vi vận chuyển trái phép 37,343m3 gỗ.
Lúc 14h ngày 15/5/2013, Hạt Kiểm lâm Củ Chi – TP Hồ Chí Minh nhận được tin báo từ cơ sở có xe tải vận chuyển gỗ trái pháp luật về TP Hồ Chí Minh để tiêu thụ. Qua trinh sát, theo dõi, cơ quan chức năng xác định xe ôtô tải hiệu Hyundai BKS: 60N-4492, trên xe có 15,783m3 gỗ dầu tròn nhóm IV không có nguồn gốc hợp pháp đang vận chuyển đến xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi (tỉnh lộ 15).
Qua kiểm tra, Hạt Kiểm lâm Củ Chi yêu cầu ông Nguyễn Chí Quân xuất trình hồ sơ nguồn gốc lâm sản nhưng ông Quân không xuất trình được mà trả lời là chở thuê cho người khác rồi bỏ đi.
Đến 14h30, Hạt Kiểm lâm phối hợp Công an huyện và Công an xã Tân Thạnh Đông hỗ trợ đưa tang vật về khuôn viên UBND huyện tạm giữ chờ xử lý. Ngày 20/5/2013, ông Quân đến Hạt Kiểm lâm làm việc và thừa nhận số gỗ trên là của mình. Còn phương tiện vận chuyển là xe thuê.
Để làm rõ vụ việc, cơ quan điều tra đã nhiều lần mời Quân đến làm việc nhưng Quân không tới. (Công An Nhân Dân 6/20, tr5; Sài Gòn Giải Phóng 7/10, tr4) đầu trang(
6-10, nhiều người dân tập trung tại nhà anh Đào Đức Đại (27 tuổi, ở phường Tự An, TP Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk) để xem cây nấm linh chi nặng 220kg.
“Ngày 1-10, mẹ vợ tôi ở Nông trường 717, huyện Ea Kar, Đắk Lắk báo tin người dân đi núi bắt gặp một cây nấm khổng lồ và muốn bán lại. Tôi cùng một số người đến tận nơi mua lại với giá 200 triệu đồng rồi đào và đưa về nhà” - anh Đại kể.
Theo anh Đại, cây nấm có chiều dài 1,7m, rộng 1,2m, cao 0,6m, nặng hơn 220kg và “đã hàng ngàn năm tuổi”.
Sau khi đưa cây nấm linh chi về, nhiều người dân khắp nơi tìm đến xem. Có người ngỏ ý muốn mua lại nhưng anh Đại chưa bán.
“Hiện tôi đang chờ thẩm định về giá trị, niên đại cây nấm linh chi này để đăng ký xác lập vào sách kỷ lục Việt Nam” - anh Đại nói. (Tuổi Trẻ 7/10; Lao Động 7/10, tr7) đầu trang(
Do diễn biến bất lợi của thời tiết, gần 1 tháng qua, hơn 120ha  trên tổng số 1100 ha rừng thông của nhân dân xã  Kỳ Lạc, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh phải ngừng khai thác nhựa, do dịch sâu róm bùng phát và phá hoại.
Hầu hết diện tích thông ở đây đều bị sâu róm ăn trụi lá, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây. Trong đó nhiều diện tích có nguy cơ bị chết do sâu róm ăn trụi lá thông. Mật độ sâu róm từ 100-200 con/cây.
Trước tình hình dịch sâu róm bùng phát và gây hại trên diện rộng, các đơn vị chủ rừng, chính quyền địa phương,  nhân dân ở xã Kỳ Lạc, huyện Kỳ Anh đang tích cực triển khai các biện pháp phòng trừ. Tuy nhiên do cây thông quá cao, việc phun thuốc phòng trừ gặp rất nhiều khó khăn nên các đơn vị chủ yếu dập dịch bằng biện pháp thủ công để bảo vệ diện tích thông của mình.
Được biết ngoài giá  trị cải tạo môi sinh môi trường, thông là loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao từ việc khai thác nhựa, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho hàng trăm lao động trên địa bàn xã Kỳ Lạc, huyện Kỳ Anh. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 6/10) đầu trang(
9 tháng qua, lực lượng chức năng Quảng Nam đã xử lý 660 vụ xâm hại rừng xảy ra tại các địa bàn trọng điểm như Đông Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Bắc Trà My,...
Theo đó, hơn 900m3 gỗ các loại bị tịch thu, 53,4ha rừng bị tàn phá, cơ quan chức năng khởi tố hình sự đến 10 vụ án. Tuy nhiên, so với cùng kỳ của năm 2013 thì đã giảm 293 vụ vi phạm rừng (giảm bằng 69,3%).
Thời gian qua, việc “đóng cửa” rừng được tuân thủ nghiêm ngặt, trách nhiệm quản lý lâm phận đã được giao về cho địa phương và chủ rừng rõ ràng hơn. Chỉ trong thời gian ngắn, các địa phương miền núi đã thành lập 204 tổ bảo vệ rừng tại 26 xã trọng điểm; quy hoạch các khu bảo tồn thiên nhiên với tổng diện tích 133.722ha.
Ngoài việc tiếp tục đưa kiểm lâm về cơ sở, ráo riết siết chặt công tác quản lý địa bàn, thì việc nâng cao vai trò trách nhiệm của các chủ rừng, phối hợp với chính quyền địa phương đã góp phần xử lý có hiệu quả tình trạng xâm hại, lấn chiếm trái phép đất rừng. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 6/10) đầu trang(
Với những cồn cát hoang sơ chạy dọc theo bờ biển xen lẫn các rừng cây bản địa đã tạo nên giá trị về cảnh quan môi trường sinh thái đối với Vịnh Lăng Cô – được vinh danh là “Vịnh đẹp thế giới" của tỉnh Thừa Thiên Huế.
Mặc dù vậy, tình trạng khai thác tài nguyên thiên nhiên trái phép đã ảnh hưởng rất lớn đến việc gìn giữ và phát huy giá trị trên. Vào thời điểm này, bắt đầu mùa trồng rừng nên nạn khai thác đất cát, lấn chiếm cây rừng phòng hộ để trồng rừng kinh tế tái diễn trên diện rộng với mức độ nóng bỏng, phức tạp.
Hiện trạng từ việc thu hoạch cây rừng, đốt thực bì để tái trồng rừng của các chủ rừng thuộc địa bàn thôn Phú Hải 2 – xã Lộc Vĩnh – huyện Phú Lộc. Lợi dụng công việc này, có những hộ dân đã khai phá, đốt cháy nhiều cây rừng ở khu vực rừng phòng hộ cận kề.
Cùng với hành vi này thì việc đốn hạ cây rừng để làm chất đốt, lấn chiếm đất  làm cho  rừng Dẻ với diện tích hơn 250 ha đang được khoanh vùng bảo vệ dần bị thu hẹp. Ngoài rừng Dẻ ở xã Lộc Vĩnh bị xâm hại, nhiều cây rừng phòng hộ dọc theo bờ biển của Vịnh Lăng Cô thuộc thị trấn Lăng Cô –huyện Phú Lộc  cũng bị khai phá trái phép.
Cùng với cây rừng thì nạn khai thác cát dọc theo bờ biển của Vịnh Lăng Cô đang diễn ra phức tạp. Nhiều cồn cát đã bị cày  xới, biến dạng không còn nguyên hiện trạng. Nghiêm trọng nhất là ở khu vực của các dự án phát triển du lịch nghỉ dưỡng đang gặp khó khăn. Khâu quản lý bảo vệ tài nguyên nơi đây  hầu như buông lỏng.
Nhằm chấn chỉnh thực trạng trên, đơn vị chủ quản là Ban quản lý Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô đã phối hợp chính quyền địa phương tổ chức nhiều đợt kiểm tra, xử lý. Tuy nhiên, với  thực trạng  như hiện nay  cho thấy công tác này vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập.
Những cánh rừng phòng hộ trên cát được xem  như “Lá phổi xanh “ góp phần cải tạo  môi trường, ứng phó với thiên tai  của Vịnh Lăng Cô. Trình trạng khai thác cát và cây rừng trái phép như hiện nay đã làm cho chức năng trên dần thuyên giảm  trong khi mùa mưa bão đang đến gần. (VTV Huế 5/10) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Bà Phạm Thị Hồng Huyền (Hải Phòng) phản ánh về những vướng mắc trong thủ tục mở trang trại nuôi chim le le.
Theo Chi cục Kiểm lâm Hải Phòng, bà không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận do không có giấy phép kinh doanh động vật hoang dã thông thường và chim le le cũng không có trong danh mục động vật hoang dã thông thường.
Bà Huyền cho rằng trả lời của Chi cục Kiểm lâm chưa thỏa đáng, hiện nay một số địa phương vẫn cho phép người dân nuôi loài động vật này với mục đích sinh sản và thương mại. Bà Huyền hỏi, để được phép lập trang trại nuôi chim le le, bà cần thực hiện những thủ tục gì và cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết?
Vấn đề bà Huyền hỏi, Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời như sau:
Bà Huyền không nêu rõ tên khoa học của loài chim le le. Tuy nhiên, danh mục các loài động vật Việt Nam ghi nhận có 4 loài chim le le là le cổ đen (Podicep nigricollis), le hôi (Tachybaptus ruficollis), le khoang cổ (Nettapus coromandelianus), le nâu (Dendrocygna javanica).
Cả 4 loài chim le le này đều không quy định trong danh mục các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về việc quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; và danh mục động vật rừng thông thường ban hành kèm theo Thông tư số 47/2012/TT-BNNPTNT ngày 25/9/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường.
Do vậy, việc nuôi các loài chim le le này không phải đăng ký với cơ quan kiểm lâm theo quy định tại Nghị định số 98/2011/NĐ-CP ngày 26/10/2011 của Chính phủ quy định về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về nông nghiệp và Thông tư số 47/2012/TT-BNNPTNT nêu trên. (Chính Phủ 6/10) đầu trang(
Thời gian tới, cần tập trung triển khai hoàn thành chỉ tiêu phát triển rừng năm 2014, trong đó chú trọng việc bảo vệ và phát triển rừng ven biển, rừng phòng hộ, đặc dụng, kết hợp tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp theo hướng bền vững.
Đó là nhiệm vụ được Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nhấn mạnh khi chủ trì cuộc họp Ban Chỉ đạo Nhà nước đánh giá kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020, sáng 6/10 tại Trụ sở Chính phủ.
Sau cuộc họp đầu năm của Ban Chỉ đạo, trong 9 tháng qua, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng có những chuyển biến tích cực trên tất cả các mặt, từ bảo vệ rừng; phòng cháy, chữa cháy rừng; mua bán, vận chuyển và chế biến lâm sản; quản lý động vật hoang dã; chuyển đổi mục đích sử dụng rừng…
Diện tích khoán bảo vệ rừng đạt hơn 5,4 triệu ha, vượt 18% kế hoạch, số vụ vi phạm giảm 10%, diện tích rừng bị xâm hại giảm hơn 20%.
Về phát triển rừng, cả nước trồng được 151.117 ha rừng tập trung, đạt 73% kế hoạch, chăm sóc đạt 129% kế hoạch. Thu tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng đạt 796,2 tỷ đồng, trồng rừng thay thế đạt 3.243 ha.
Đáng chú ý, xét về đóng góp GDP, ngành Lâm nghiệp đã có những thay đổi rất tích cực trong thời gian qua, nếu như trước đây khai thác, sản xuất chế biến lâm sản chỉ đạt mức tăng trưởng khoảng 1%/năm, thì 2 năm qua đều tăng xấp xỉ 6%, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng chung của lĩnh vực nông lâm nghiệp.
Bên cạnh những kết quả nói trên, Ban Chỉ đạo cũng chỉ ra những điểm còn tồn tại của kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng như trồng rừng phòng hộ, đặc dụng đạt thấp, trồng rừng thay thế diện tích chuyển đổi sang mục đích khác cũng chưa đạt kế hoạch, số vụ cháy rừng có xu hướng tăng lên, diện tích rừng bị cháy tăng 711,2 ha so với cùng kỳ năm trước.
Trước tình hình này, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu Ban Chỉ đạo tiếp tục đôn đốc các địa phương thấy rõ và tập trung khắc phục các hạn chế, các tồn tại để hoàn thành chỉ tiêu nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng năm 2014, trong đó chú trọng việc bảo vệ và phát triển rừng ven biển, rừng phòng hộ, đặc dụng, kết hợp tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp theo hướng bền vững.
Ghi nhận những kết quả đáng khích lệ thời gian qua, Phó Thủ tướng lưu ý các thành viên tiếp tục chỉ đạo sát các biện pháp triển khai Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về đề án về rừng tự nhiên; triển khai Đề án kiện toàn tổ chức, chức năng bộ máy kiểm lâm; tổ chức các đoàn đi kiểm tra ở một số địa phương, khu vực “nóng” về công tác rừng; bảo vệ, phòng chống cháy rừng mùa khô...
Theo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2015, Ban Chỉ đạo thống nhất mục tiêu tiếp tục quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng hiệu quả, bền vững diện tích rừng hiện có và quỹ đất được quy hoạch cho phát triển lâm nghiệp để tăng độ che phủ rừng lên 42%, tăng 0,5% so với mục tiêu năm 2014.
Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết đã xây dựng Đề án bảo vệ, phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2014-2920 với quy mô phủ 29 tỉnh ven biển, diện tích 387.043 ha rừng.
Phó Thủ tướng nêu rõ, rừng ngập mặn ven biển được coi là một loại rừng xung yếu trong bài toán thích ứng với tình trạng BĐKH, nước biển dâng, vì vậy đề án cần đưa ra các mô hình bảo vệ, phát triển rừng ven biển một cách hiệu quả, khả thi hơn.
Đặc biệt là việc phân bổ nguồn vốn cho đề án đảm bảo tính mục tiêu, lồng ghép với các chương trình mục tiêu, dự án tài trợ cùng triển khai. Cùng với việc xây dựng một số cơ chế riêng cho các loại rừng quan trọng, ngành Lâm nghiệp cũng cần xây dựng một chương trình mục tiêu phát triển bền vững. (Chính Phủ 6/10) đầu trang(
Tòa quy kết các bị cáo bán gỗ không đúng đối tượng trong khi họ chỉ dựa vào xác nhận của các địa phương và họ không có nhiệm vụ phải xác minh các đối tượng này có đúng hay không.
Sau khi Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Đà Nẵng xử phạt các bị cáo nguyên là giám đốc, phó giám đốc, kế toán, phòng kế hoạch… của Công ty Công nghiệp Rừng Tây Nguyên (CNRTN) ở TP Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), tám bị cáo đã có đơn kêu oan tập thể vì cho rằng họ không phạm tội như quy buộc của hai cấp tòa.
Đây là vụ án kỳ lạ vì Cơ quan CSĐT của Bộ Công an phải mất bốn năm để điều tra, VKS nhiều lần thay đổi cáo trạng và ngay từ giai đoạn điều tra, các bị cáo đã kêu oan, bị cáo chủ mưu thì bị tâm thần.
Theo bản án phúc thẩm, cuối năm 1997, bão số 5 gây thiệt hại lớn cho các tỉnh phía Nam và duyên hải miền Trung nên Chính phủ giao Bộ NN&PTNT cung ứng gỗ tròn tự nhiên cho các tỉnh khắc phục hậu quả cơn bão (để đóng, sửa tàu đánh bắt xa bờ).
Công ty CNRTN là một trong các doanh nghiệp được giao nhiệm vụ này. Từ năm 1998 đến 2006, Công ty CNRTN thông qua Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam (Vinafor) đề nghị Bộ NN&PTNT báo cáo Thủ tướng cho chủ trương thu mua, vận chuyển gỗ tròn cung ứng cho các địa phương.
Trong vòng chín năm, Công ty CNRTN đã được giao thu mua hơn 215.000 m3 gỗ tròn các loại tại các lâm trường của các tỉnh Tây Nguyên để thực hiện chương trình trên.
Tuy nhiên, những cán bộ của Công ty CNRTN đã không thực hiện việc mua, cung ứng gỗ theo quy định mà mua về bán cho 209 cá nhân, doanh nghiệp không phải là đối tượng được thụ hưởng mua gỗ theo chương trình của Chính phủ, thu chênh lệch hơn 12,5 tỉ đồng. Việc bán gỗ sai đối tượng gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Từ đó, tám bị cáo bị kết tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ với mức án từ bốn đến 10 năm tù. Theo các bị cáo, hàng loạt vấn đề của vụ án chưa được làm sáng tỏ và căn cứ buộc tội khiên cưỡng.
Trước hết, ngay sau khi có chủ trương của Chính phủ, công ty và Bộ NN&PTNT đã có công văn gửi nhiều tỉnh, thành, thông báo rộng rãi việc mua bán gỗ này. Để thực hiện nhiệm vụ, công ty đã phải đi vay tiền của ngân hàng (hơn 52 tỉ đồng) để mua gỗ đứng của các lâm trường, tổ chức khai thác và bán lại cho những đơn vị theo chương trình của Chính phủ.
Khi các đơn vị mua gỗ, công ty căn cứ vào hồ sơ, giấy xác nhận của các địa phương. Việc tòa cho là công ty bán gỗ sai đối tượng chẳng khác nào buộc công ty phải có trách nhiệm đi giám sát việc sử dụng gỗ các đơn vị mua gỗ, điều này là không đúng.
Cạnh đó, khi thực hiện việc mua bán gỗ, dựa trên xác nhận của địa phương, công ty lập đầy đủ hợp đồng mua bán; thu chi rõ ràng chứ không phải mua bán khống để hưởng chênh lệch như cáo buộc của tòa.
Theo các bị cáo, khi công ty mua gỗ của các lâm trường, công ty phải mua theo giá thị trường và bán lại theo giá thị trường chứ không hề được mua theo giá chỉ định. Công ty phải đi vay tiền để thực hiện nhiệm vụ này nên việc mua bán có lãi là bình thường.
Số tiền hơn 12 tỉ đồng thu được từ hoạt động này không ai tư túi mà được hạch toán đầy đủ vào tài khoản của công ty, tức thuộc về Nhà nước mà không hề trích lập quỹ khen thưởng, phúc lợi hay quỹ nào khác của công ty.
“Chúng tôi vừa thực hiện nhiệm vụ, vừa hoạt động kinh doanh và phải đi vay tiền để thực hiện chương trình trên nên kinh doanh có lãi là điều bình thường. Chẳng lẽ doanh nghiệp phải kinh doanh lỗ hoặc hòa vốn mới là thực hiện đúng nhiệm vụ?” - một bị cáo nguyên là phó giám đốc công ty trình bày trong đơn.
Chưa hết, trong vụ án, ông Võ Hồng Huỳnh, chủ tịch HĐQT công ty, được xác định là người chủ mưu. Tuy nhiên, ông Huỳnh bị tâm thần (teo não) từ năm 2007 và được tạm đình chỉ nhưng các cơ quan tố tụng dựa vào lời khai của người bị bệnh để buộc tội các đồng phạm là chưa thuyết phục.
Theo một nguồn tin, hiện tòa án và VKS Tối cao đang xem xét yêu cầu xin kháng nghị giám đốc thẩm của các bị cáo. Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin khi vụ án có diễn tiến mới. (Pháp Luật TPHCM 6/10) đầu trang(
Theo báo cáo mới nhất của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh nghệ An: Tính đến hết tháng 9/2014, tỉnh mới chỉ giải ngân được gần 29,2 tỷ đồng trong tổng số trên 107 tỷ đồng đã thu được từ DVMTR, nghĩa là chưa được 30%...
Theo số liệu của Quỹ bảo vệ & Phát triển rừng Nghệ An, đến nay Quỹ mới ký hợp đồng ủy thác với 7 cơ sở sử dụng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là đơn vị sản xuất điện, bao gồm: Nhà máy Thủy điện Bản Vẽ, Bản Cánh, Nậm Mô, Khe Bố, Bản Cốc, Sao Va, Hủa Na; riêng thủy điện Cửa Đạt do Quỹ Bảo vệ & Phát triển rừng Trung ương ký.
Các cơ sở sử dụng DVMTR khác đã ký hợp đồng ủy thác với Quỹ gồm 4 cơ sở (đều là cơ sở sản xuất nước sạch), bao gồm Công ty TNHH cấp nước Thái Hòa, Quỳnh Lưu, Đô Lương và Cửa Lò với tổng số tiền chưa tới 41 triệu đồng. Riêng một đơn vị sản xuất nước lớn nhất tỉnh là Công ty TNHH MTV cấp nước Nghệ An hiện vẫn chưa thu được đồng nào.
Được biết, số tiền thu từ các cơ sở sản xuất điện là trên 99 tỷ đồng; trong đó truy thu năm 2011 là trên 22,6 tỷ đồng; thu năm 2012 là trên 20 tỷ đồng; năm 2013 là gần 41 tỷ đồng; năm 2014 là trên 16 tỷ đồng. Tiền lãi suất gửi ngân hàng từ khi thành lập Quỹ đến nay là trên 5,5 tỷ đồng; thu từ các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng là trên 1,5 tỷ đồng.
Tuy số tiền đã thu được tổng cộng trên 107 tỷ đồng nhưng tính đến hết tháng 9/2014, Quỹ bảo vệ & Phát triển rừng tỉnh Nghệ An mới chỉ giải ngân lũy kế tiền DVMTR và hỗ trợ các dự án từ nguồn thu theo Nghị định số 05/2008/NĐ-CP gần 29,2 tỷ đồng.
Trong tổng số đó, việc chi tạm ứng tiền DVMTR lưu vực thủy điện Bản Vẽ các năm 2012, 2013 cho 3 chủ rừng là tổ chức gồm Ban quản lý RPH Kỳ Sơn; Tương Dương và Tổng đội thanh niên xung phong 8 số tiền trên 17,2 tỷ đồng.
Chi tạm ứng tiền DVMTR lưu vực thủy điện Hủa Na và Cửa Đạt năm 2014 cho Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt là trên 6,4 tỷ đồng. Số tiền chi rà soát các lưu vực thủy điện là trên 1,84 tỷ đồng; chi quản lý Quỹ tỉnh là trên 2,56 tỷ đồng.
Ngoài ra, Quỹ còn sử dụng số tiền 107 tỷ đồng để chi hỗ trợ các dự án trồng rừng sản xuất, trồng cây phân tán theo Quyết định số 5318/QĐ-UBND ngày 08/11/2013 của UBND tỉnh Nghệ An với số tiền gần 1,2 tỷ đồng.
Theo lãnh đạo của Quỹ bảo vệ & Phát triển rừng tỉnh Nghệ An, sở dĩ chỉ mới giải ngân được chưa đến 30% số tiền đã thu được là do đang chờ hoàn thiện hồ sơ, thủ tục để giải ngân.
Cụ thể là phần diện tích còn lại một phần đang trình cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt kết quả rà soát lưu vực, hồ sơ thiết kế giao khoán; phần do chưa lập hồ sơ thiết kế giao khoán bảo vệ rừng, chưa có danh sách đối tượng cung ứng DVMTR được cấp có thẩm quyền phê duyệt và các hồ sơ, thủ tục theo quy định nên chưa có cơ sở giải ngân.
Qua tìm hiểu thực tế, được biết, công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện tại một số địa bàn huyện, xã chưa thật sự quyết liệt; chưa hoàn thành việc rà soát để xác định cụ thể ranh giới, diện tích rừng đến từng chủ rừng, chủ quản lý, do đó chưa thể có căn cứ để chi trả đầy đủ cho các chủ rừng và hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng.
Khó khăn lớn nhất hiện nay là do chưa xác định xong danh sách các chủ rừng, diện tích rừng trong lưu vực thủy điện để cấp có thẩm quyền phê duyệt, xác nhận. Đặc biệt là phần diện tích do UBND xã, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn quản lý.
Trong khi đó diện tích đã có hồ sơ giao khoán, chủ rừng đã tạm ứng tiền DVMTR năm 2012 và 2013, song chưa hoàn tất đầy đủ các hồ sơ, thủ tục để thanh toán tiền. Đến nay, diện tích đã có hồ sơ phê duyệt mới chỉ đạt gần 90.000ha/315.000ha (chỉ đạt khoảng trên 28%) so với diện tích rừng được chi trả trên toàn tỉnh.
Ngoài ra, một số đơn vị sử dụng DVMTR chưa nộp tiền dịch vụ môi trường rừng đầy đủ, chưa kịp thời, nợ đọng tiền dịch vụ môi trường rừng còn kéo dài (Ví dụ như Công ty thủy điện Hủa Na còn nợ khoảng 10 tỷ đồng tiền DVMTR...). Đặc biệt là nợ đọng của các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ có công suất dưới 30MW nhưng chưa có chế tài xử lý.
Hơn nữa, trên địa bàn tỉnh Nghệ An có một số nhà máy như Thủy điện Sao Va có công suất nhỏ nhưng lưu vực, diện tích rừng lớn nên đơn giá chi trả DVMTR quá thấp, chỉ đạt khoảng 10 nghìn đồng/ha dẫn tới khó khăn trong công tác giao khoán bảo vệ rừng và tổ chức bảo vệ rừng.
Đặc biệt, cán bộ Quỹ bảo vệ & phát triển rừng còn có tâm lý e ngại làm sai, sợ sai do chưa hiểu rõ nhiều quy định liên quan đến việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện giải ngân chậm nguồn DVMTR. (Tài Nguyên & Môi Trường 6/10) đầu trang(
3/10, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên tổ chức chi trả gần 2 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) năm 2013 cho chủ rừng trên địa bàn xã Mường Pồn (huyện Điện Biên).
Năm 2013, xã Mường Pồn có hơn 3.848ha rừng thuộc lưu vực sông Đà được chi trả DVMTR do 28 chủ rừng quản lý. Trong đó, 10 chủ rừng là cộng đồng thôn bản và 18 hộ gia đình.
Đơn giá được tính chi trả 495.600 đồng/ha (bao gồm cả tiền lãi năm 2011 và 2012). Bà Đinh Thị Thu Hà, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên cho biết: Trong năm 2013, xã Mường Pồn đã chú trọng tuyên truyền pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là chính sách chi trả DVMTR nên người dân ý thức được việc bảo vệ rừng để hưởng lợi nên rừng được bảo vệ tốt.
Vì vậy, đơn giá chi trả năm 2013 cao hơn so với năm 2011 – 2012. (Báo Điện Biên Phủ 6/10) đầu trang(
UBND tỉnh đã có Thông báo số 1350/TB-VP ngày 23/9/2014 về ý kiến kết luận của ông Nguyễn Hữu Hải-Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh tại Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trên địa bàn.
Ông Nguyễn Hữu Hải-Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh  kết luận như sau:
UBND tỉnh biểu dương những nỗ lực, phấn đấu với tinh thần trách nhiệm cao của tất cả các ngành, các cấp, các đơn vị chủ rừng trong thời gian qua, đã góp phần đem lại những thành quả bước đầu đáng trân trọng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn những tồn tại, yếu kém như: Tình trạng xâm hại tài nguyên rừng vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi, một số diện tích rừng khoán quản lý  bảo vệ rừng còn bị phát làm nương rẫy, khai thác trái phép; Qũy bảo vệ và phát triển rừng và các ngành còn lúng túng trong công tác tham mưu cho UBND tỉnh, nhất là việc sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng các năm từ 2011 đến 2014 chậm, chưa sát với thực tế; chậm trễ trong công tác giải ngân; công tác nghiệm thu khoa học, số liệu chưa chính xác, phải điều chỉnh nhiều lần, chưa đảm bảo thời gian quy định. Để chấn chỉnh tình trạnh trên,
Ông yêu cầu Sở Công thương chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT, Qũy Bảo vệ và Phát triển rừng tham mưu UBND tỉnh kiến nghị Bộ Công thương xem xét xử lý đối với các cơ sở sản xuất thủy điện không chấp hành nộp tiền dịch vụ môi trường rừng.
Qũy Bảo vệ và Phát triển rừng khẩn trương thanh toán bổ sung tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2013; cấp ứng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2014 theo Kế hoạch được UBND tỉnh phê duyệt cho các chủ rừng; Phối hợp với các cấp chính quyền địa phương, chủ rừng, lực lượng kiểm lâm làm tốt công tác giám sát, đánh giá số lượng, chất lượng theo quy định; Tăng cường công tác giám sát, đánh giá các tác động của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đến đời sống xã hội, người bảo vệ rừng ( các thay đổi về diện mạo thôn làng, tập quán canh tác, sinh hoạt, ý thức trách nhiệm của cộng đồng với rừng,…).
Các thay đổi trong hoạt động quản lý nhà nước về rừng của UBND xã, sự phối hợp trong công tác tuyên truyền, vận động bà con tích cực tham gia bảo vệ rừng; xử lý các hành vi xâm hại  rừng trên địa bàn; Phối hợp với các Sở, ban, ngành liên quan, UBND các huyện, thành phố và các cơ quan thông tấn, báo chí tăng cường công tác tuyên truyền đến người dân, cộng đồng dân cư, toàn xã hội về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của rừng đối với đời sống xã hội, giá trị lợi ích to lớn từ dịch vụ sinh thái rừng.
Các đơn vị chủ rừng: Tăng cường khoán quản lý bảo vệ rừng cho hộ gia đình, cộng đồng dân cư ( mỗi chủ rừng căn cứ năng lực của đơn vị, xác định quy mô, vùng trọng điểm, gần khu dân cư, dễ xâm hại để khoán cho hộ gia đình, cộng đồng dân cư quản lý bảo vệ); Thực hiện nghiêm túc các quy định về xác định số tiền để chi trả cho hộ nhận khoán theo quy định tại Nghị định 99/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ và Thông tư số 80/2012/TT-BNNPTNT ngày 23/11/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về xác định tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng; Lập và trình duyệt dự toán tiền chi trả chi trả dịch vụ môi trường rừng theo quy định hiện hành ( đặc biệt là nguồn thu 2011, 2012) và những năm tiếp theo.
Các cấp chính quyền địa phương tăng cường chỉ đạo, giám sát chặt chẽ tình hình triển khai chính sách chi trả DVMTR tại cơ sở. Báo cáo UBND tỉnh kịp thời các thắc mắc, phản ánh ( nếu có) của người dân trong quá trình triển khai chính sách.
Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan lập Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2015 và các năm sau theo hướng ưu tiên bố trí nguồn vốn ngân sách đầu tư cho các đơn vị tại các địa bàn chưa được hưởng các chính sách khác (chi trả dịch vụ môi trường rừng, Chương trình 30A…); Thẩm định, phê duyệt ( hoặc tham mưu cấp có thẩm quyền phê duyệt) hồ sơ, dự án khoán quản lý bảo vệ rừng từ nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng theo quy định hiện hành. Đối với các hồ sơ đã phê duyệt nhưng đơn giá chưa phù hợp cần xem xét, điều chỉnh theo quy định.
Đề nghị các tổ chức đoàn thể, các già làng, trưởng thôn phát huy vai trò, trách nhiệm trong công tác giám sát thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, phản biện xã hội. (Kontum.gov.vn 6/10) đầu trang(
Theo Đoàn giám sát thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), đã đến nhiều khu rừng dọc tuyến đường tuần tra biên giới và nhiều vùng rừng giáp với các thôn, làng đồng bào dân tộc đang sinh sống ở xã Đăk Long, huyện Đăk Glei.
Mặc dù nương rẫy giáp với rừng tự nhiên, nhưng rừng ở đây được bảo vệ tốt, không thấy có dấu hiệu của việc phát đốt và khai thác rừng trái phép. Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ Đăk Long (Đăk Glei) Lương Văn Phường khẳng định, những năm trước đây do có một bộ phận rừng không được giao khoán cho dân nên người dân thường lén lút phát rừng làm nương rẫy và khai thác gỗ trái phép.
Tài nguyên rừng ở địa phương có nơi, có lúc bị suy kiệt nghiêm trọng. Trước thực trạng đó, UBND tỉnh đã ban hành nhiều chính sách như Quyết định 1264/QĐ-UBND ngày 18/11/2011 về việc phê duyệt phương án tổng quan giao rừng, cho thuê rừng tỉnh Kon Tum giai đoạn 2009-2012; Quyết định 23/2011/QĐ-UBND ngày 29/8/2011 về việc phê duyệt đề án phát triển lâm nghiệp bền vững tỉnh Kon Tum giai đoạn 2011-2015 và đặc biệt là Đề án triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR),  Ban Quản lý rừng phòng hộ Đăk Long đã đẩy mạnh việc giao khoán rừng cho dân.
Không tính những năm trước, riêng năm 2013, Ban đã giao khoán 12.000 ha rừng phòng hộ cho 468 hộ dân quản lý, bảo vệ với số tiền trên 2,5 tỷ đồng (năm 2013). Tính ra, bình quân mỗi hộ nhận khoán trên 25 ha với số tiền thu được khoảng 5 triệu đồng.
Người dân nhận khoán thấy được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình nên không phát rừng làm nương rẫy và khai thác gỗ trái phép như trước. Số tiền này mặc dầu chưa nhiều, nhưng đảm bảo giải quyết được những nhu cầu thiết yếu và tạo điều kiện cho dân vươn lên xây dựng cuộc sống.
Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR còn nhiều vướng mắc. Theo Ban Quản lý rừng phòng hộ Đăk Long, trên cơ sở diện tích rừng cung ứng dịch vụ, từ năm 2011-2013, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) chi trả cho đơn vị là 10,28 tỷ đồng, nhưng số tiền này hiện vẫn chưa thể giải ngân hết được.
Nguyên nhân, năm 2011 Ban thực hiện Quyết định số 573/QĐ-UBND ngày 28/6/2011 của UBND tỉnh “Về việc giao chỉ tiêu kế hoạch thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng năm 2011” giao khoán 5.000 ha cho 211 hộ với số tiền 250 triệu đồng; năm 2012 thực hiện Quyết định số 284/QĐ-UBND ngày 30/3/2012 của UBND tỉnh “về việc giao chỉ tiêu kế hoạch thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng năm 2012” giao khoán 3.431 ha cho 140 hộ với số tiền 686 triệu đồng đã được thanh toán hàng năm cho các hộ nhận khoán, do đó đơn vị không thanh toán lần hai từ tiền DVMTR.
Trong khi đó, hướng dẫn sử dụng tiền DVMTR của liên ngành chậm nên Ban hiện còn hơn 4,5 tỷ đồng DVMTR chưa giải ngân.
Để giải quyết một phần những khó khăn này và góp phần tạo việc làm, nâng cao đời sống cho người lao động đơn vị và người dân trong vùng, Ban Quản lý rừng phòng hộ Đăk Long đề nghị cấp trên cho phép chủ rừng là Ban quản lý rừng phòng hộ được được ưu tiên tổ chức thực hiện các công trình lâm sinh (trồng rừng, chăm sóc rừng, tự chủ gieo ươm và thực hiện dịch vụ cây giống lâm nghiệp) đảm bảo đủ tư cách pháp nhân, không thông qua đấu thầu, chỉ định thầu như các công trình xây dựng khác. (Kontum.gov.vn 6/10) đầu trang(
Trong 9 tháng, huyện Na Rỳ đã phê duyệt gần 70 hồ sơ khai thác lâm sản. Trong số đó, cấp huyện phê duyệt hơn 40 hồ sơ, gồm hơn 30 hồ sơ khai thác gỗ tận dụng trong quá trình thực hiện các biện pháp lâm sinh; 13 hồ sơ khai thác tận thu, tận dụng gỗ rừng tự nhiên.
Cấp xã phê duyệt trên 20 hồ sơ khai thác gỗ rừng trồng với hơn 200 m3 gỗ; ngoai gỗ, người dân còn khai thác các loại lâm sản ngoài gỗ, tre nứa được gần 200 tấn và 16 vạn lá dong.
Đối với 140 gỗ keo nguyên liệu giấy được người dân tự đầu tư trồng từ năm 2002 – 2004 tại 10 xã trên địa bàn huyện hiện nay đã khai thác được gần 8.000 m3 gỗ, diện tích còn lại đang tiếp tục được người dân khai thác và tiêu thụ tự do. (Đài PTTH Bắc Kạn 5/10) đầu trang(
Hiệp định đối tác tự nguyện thực thi Lâm luật, Quản trị rừng và Thương mại lâm sản giữa Việt Nam và EU dự kiến sẽ được ký kết trong tháng 10 này.
Gỗ và sản phẩm gỗ đang là một trong những nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam,  đóng góp hơn 4% vào tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa cả nước. Sản phẩm gỗ chiếm hơn 70% tổng giá trị xuất khẩu của ngành.
Đồ gỗ xuất khẩu chủ yếu vào thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Liên minh châu Âu (EU), Hàn Quốc; trong đó Hoa Kỳ và EU là 2 thị trường tiêu thụ sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam. Đây cũng là hai thị trường có quy định rất nghiêm ngặt về sản phẩm gỗ nhập khẩu. Theo các doanh nghiệp trong ngành, để đảm bảo sản phẩm gỗ được nhập khẩu vào các thị trường này, nguồn nguyên liệu gỗ hợp pháp là yếu tố quan trọng hàng đầu.
Đầu tháng 8, Việt Nam và EU đã tuyên bố khởi động đàm phán chính thức về Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA) trong chương trình hành động Tăng cường thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (FLEGT - Forest Law Enforcement, Governance and Trade). Nhiều ý kiến cho rằng, FLEGT vừa là thách thức, vừa mở ra cơ hội cho sản phẩm gỗ Việt thâm nhập sâu rộng hơn vào thị trường EU.
Theo kế hoạch dự kiến trong tháng 10 này, FLEGT – VPA sẽ được ký kết kỳ vọng sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam rộng cửa hơn để tiếp cận các thị trường còn lại trong EU, mở rộng thị phần.
Tuy nhiên, theo VCCI, kết quả khảo sát mới đây cho thấy chỉ có 57% số DN hiểu biết về FLEGT-VPA, 75% số DN chưa biết các nội dung chủ yếu của FLEGT-VPA. 73% số DN khảo sát đang xuất khẩu các sản phẩm gỗ sang EU, chiếm 51% thị phần xuất khẩu ở thị trường này. Do vậy, đứng ngoài FLEGT đồng nghĩa với việc nhiều lợi ích thương mại sẽ bị gạt bỏ, và khả năng tiếp cận thị trường EU gồm 27 quốc gia thành viên ắt hẳn sẽ gặp nhiều khó khăn, trở ngại.
FLEGT-VPA là hiệp định thương mại song phương ký giữa EU với đối tác quốc gia xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ. Theo đó:
Một, đối tác quốc gia cam kết phải đảm bảo về nguồn gốc của gỗ xuất khẩu - chỉ xuất khẩu vào EU gỗ và các sản phẩm gỗ hợp pháp. Hợp pháp được hiểu là sản phẩm tuân thủ từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng đảm bảo những tiêu chí về các mặt xã hội (gỗ trồng trên đất đang có xung đột là gỗ không hợp pháp), môi trường (các thành phần tham gia trong chuỗi sản xuất phải tuân thủ yêu cầu về môi trường), kinh tế (người khai thác, vận chuyển phải tham gia đầy đủ các yêu cầu về thuế, phí).
Hai, quốc gia đối tác thiết lập hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp để xác minh và cấp phép FLEGT cho gỗ và sản phẩm gỗ sẽ xuất khẩu vào EU.
Ba, một cơ quan giám sát độc lập sẽ được hai bên nhất trí làm nhiệm vụ giám sát hệ thống này và cấp phép FLEGT sau khi Hiệp định ký kết.
Cuối cùng, theo FLEGT, các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ sẽ chỉ xin cấp giấy phép nếu sản phẩm gỗ xuất khẩu nằm trong danh sách 115 mặt hàng gỗ xuất khẩu; trường hợp sản phẩm gỗ xuất khẩu không nằm trong danh sách 115 mặt hàng gỗ xuất khẩu được quy định trong FLEGT, doanh nghiệp xuất khẩu gỗ vào EU sẽ thực hiện trách nhiệm giải trình nguồn gốc gỗ như đã thực hiện giải trình từ tháng 3/2014 khi thực thi theo Quy chế gỗ của EU (EUTR 995/2010).
Thách thức lớn nhất, căn bản nhất của FLEGT – VPA là “gỗ hợp pháp”. Điều này làm thay đổi thói quen sản xuất, kinh doanh gỗ của doanh nghiệp, làng nghề gỗ của Việt Nam. Việc tuân thủ các quy định về môi trường, kinh tế chắc chắn sẽ làm phát sinh thêm chi phí từ đầu chuỗi đến cuối chuỗi giá trị sản xuất gỗ.
Hiện Việt Nam đang phải nhập khẩu một lượng lớn gỗ từ Lào, Campuchia, Malaysia, châu Phi để sản xuất đồ gỗ phục vụ xuất khẩu. Vì vậy, việc kiểm soát nguồn gốc gỗ là không đơn giản.
Mặc dù Hội đồng châu Âu (EC) và Tổ chức hợp tác quốc tế Thụy Điển (SIDA) tài trợ 2,6 triệu euro cho dự án “Tiếp cận chung tới tiến trình VPA tại Việt Nam và Lào”, thực hiện trong 4 năm từ 2014 – 2018 nhằm góp phần đưa ngành công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu phát triển bền vững, phù hợp với quy định của EU về tính hợp pháp của gỗ, có trách nhiệm với xã hội và bền vững về môi trường.
Nhưng phần lớn doanh nghiệp sản xuất gỗ xuất khẩu đều là doanh nghiệp nhỏ do vậy với quy mô của chương trình, các doanh nghiệp nhỏ không dễ để vươn tới các quy định về gỗ hợp pháp trong một sớm một chiều.
Tuy nhiên, nhìn lại lịch sử phát triển của ngành, sản phẩm gỗ của Việt Nam ngày càng đáp ứng những yêu cầu khắt khe nhất của thị trường quốc tế như: Chứng chỉ rừng và quản lí rừng bền vững (FSC), Chứng chỉ hệ thống chuỗi hành trình sản phẩm (CoC), Luật Lacey của Hoa Kỳ áp dụng cho đồ gỗ nhập khẩu vào Hoa Kỳ. Bằng chứng là xuất khẩu đồ gỗ vào thị trường Hoa Kỳ vẫn tăng trưởng 2 con số.
Dẫn lời ông Hà Công Tuấn, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẳng định: “Không phải bây giờ chúng ta mới nhận thấy sự biến đổi của thị trường theo hướng quản lý bền vững mà từ tháng 4/2010 chúng ta đã phải thích ứng với Đạo luật Lacey của Hoa kỳ. Cho đến nay, lượng gỗ chúng ta xuất khẩu vào Hoa Kỳ và EU vẫn tiếp tục tăng và hiện chưa có doanh nghiệp nào của ta bị phía bạn phát hiện vi phạm pháp luật của nước họ”.
Hẳn nhiên, phần lớn các doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu của thị trường Hoa Kỳ là doanh nghiệp có quy mô, tiếng tăm trong ngành, nhưng sau Đạo luật Lacey, chắc chắn các doanh nghiệp đã có sự chuẩn bị cho tương lai phát triển bền vững không chỉ ở Hoa Kỳ, EU, mà ở những thị trường lớn, khó tính khác. (CafeF 7/10) đầu trang(
Mới đây, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp UBND huyện Tân Châu tổ chức đối thoại với các hộ dân cất nhà, chòi trái phép trên đất lâm nghiệp thuộc địa bàn xã Tân Hòa.
Thực hiện Quyết định số 875 của UBND tỉnh về giải quyết tình trạng bao, lấn chiếm và sử dụng đất lâm nghiệp không đúng mục đích trên địa bàn tỉnh, trong những năm qua, song song với công tác xử lý tình trạng bao chiếm và sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích, huyện Tân Châu đã tiến hành khảo sát, thống kê, phân loại các đối tượng cất nhà, chòi trái phép trên đất quy hoạch lâm nghiệp để có giải pháp xử lý hoặc di dời dứt điểm.
Xã Tân Hòa là một trong những địa phương có số hộ cất nhà trái phép trên đất lâm nghiệp (Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng) nhiều nhất của huyện Tân Châu với hơn 460 hộ, tập trung ở 3 ấp Suối Bà Chiêm, Con Trăn và Cây Khế, trong đó có 172 hộ thuộc diện ổn định tại chỗ đã được Ban Quản lý khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng tiến hành ký hợp đồng giao khoán; 289 hộ thuộc diện di dời ra khỏi đất lâm nghiệp, trong số này có gần 190 hộ được hỗ trợ tiền di dời và đất ở.
Mới đây, ngày 4.10, Sở Nông nghiệp - Phát triển Nông thôn và UBND huyện Tân Châu đã có buổi đối thoại với các hộ dân cất nhà, chòi trên đất lâm nghiệp thuộc diện phải di dời ra khỏi đất lâm nghiệp trên địa bàn xã Tân Hòa.
Hiện tại, xã Tân Hòa đã tiến hành công khai phương án di dời tại các ấp và đã gửi thông báo di dời đến các hộ dân. Một số hộ đã tự di dời. Tuy nhiên, do phải tập trung thực hiện nhiều việc cùng một lúc nên tiến độ triển khai công tác xử lý nhà, chòi cất trái phép trên đất lâm nghiệp chậm hơn nhiều so với công tác xử lý tình trạng bao chiếm.
Sau khi lắng nghe các ý kiến của các hộ dân và tìm hiểu cuộc sống hiện tại của bà con, lãnh đạo Sở NN-PTNT cùng UBND huyện Tân Châu đã giải thích cho bà con hiểu về tầm quan trọng của việc bảo vệ rừng nói chung và rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Dầu Tiếng nói riêng; đồng thời giải trình một số ý kiến và ghi nhận các ý kiến còn lại để chuyển đến các cấp có thẩm quyền xem xét để sớm trả lời cho bà con. (Báo Tây Ninh 6/10) đầu trang(
Đến cuối năm 2013, tổng diện tích đất lâm nghiệp ở 5 tỉnh Tây Nguyên có 3.244.176ha. Theo đó, đất rừng đặc dụng: 496.200ha (chiếm 15,3%); đất rừng phòng hộ: 638.779ha (chiếm 19,69%); đất rừng sản xuất: 2.109.196ha (chiếm 65,01%). Trong đó, tổng diện tích đất có rừng: 2.875.426ha, chiếm 88,63%.
Diện tích rừng và đất lâm nghiệp trong vùng được giao cho 56 công ty lâm nghiệp nhà nước (998.523ha), 53 ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ (951.192ha), 14 BQL rừng đặc dụng (503.988ha); diện tích còn lại được giao cho các hộ gia đình (38.996ha), cộng đồng dân cư (20.189ha), các đơn vị lực lượng vũ trang (126.561ha), các tổ chức khác (3.643ha) và UBND cấp xã (703.237ha).
Trong những năm qua, nhận thức về rừng được nâng cao, hệ thống pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng ngày càng được hoàn thiện; chế độ chính sách lâm nghiệp, nhất là chính sách về đa dạng hóa các thành phần kinh tế trong lâm nghiệp, giao đất, giao rừng, khoán QLBVR và quyền hưởng lợi từ rừng được ban hành và bước đầu đi vào cuộc sống.
Vai trò trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng của các cấp, các ngành và chính quyền địa phương được nâng cao hơn, các tổ chức xã hội đã có những nỗ lực tham gia vào công tác bảo vệ và phát triển rừng... Tuy nhiên, công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế chưa được giải quyết.
Bất cập lớn nhất trong công tác QLBV rừng là việc phân chia lợi ích từ việc giữ rừng cho các lực lượng tham gia QLBV rừng và người dân sống gần rừng. Thực tế cho thấy, các lực lượng tham gia QLBV rừng cùng QLBV các đối tượng rừng như nhau, thậm chí cùng làm công việc như nhau nhưng quyền hạn và chế độ chính sách đãi ngộ khác nhau.
Đó là: lực lượng kiểm lâm của tỉnh khác với kiểm lâm thuộc các BQL Vườn Quốc gia; lực lượng QLBVR ở Vườn Quốc gia trực thuộc Bộ NN&PTNT khác với các Vườn Quốc gia, Khu Bảo tồn thiên nhiên do tỉnh quản lý; ở các BQL rừng phòng hộ do tỉnh quản lý khác với các BQL do huyện quản lý.
Các đơn vị QLBV rừng tự nhiên thuộc các doanh nghiệp, đơn vị lâm nghiệp nhà nước thì được ngân sách cấp kinh phí, các doanh nghiệp QLBV rừng tự nhiên trong phạm vi các dự án trồng cao su và dự án nông nghiệp không được cấp kinh phí từ nguồn ngân sách, doanh nghiệp phải tự chi trả. Các hộ gia đình và cộng đồng nhận khoán QLBV rừng thuộc các lưu vực thuỷ điện được chi trả công QLBV (từ Quỹ dịch vụ môi trường rừng) cao hơn so với các đối tượng nhận khoán QLBV rừng thuộc các dự án khác và rừng do tỉnh chi trả công...
Cơ chế hưởng lợi từ rừng còn nhiều bất cập, chưa bảo đảm thu nhập để thu hút các thành phần kinh tế, các tổ chức, cá nhân và nhân dân tham gia vào công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng (giá rừng trồng thấp, chu kỳ dài: 5-7 năm, lợi nhuận thu được ít: 40-60 triệu đồng/ha/chu kỳ, định mức hỗ trợ trong giao khoán bảo vệ rừng/ha thấp: từ 100-300 ngàn đồng/ha…).
Người dân sống gần rừng không có lợi ích gì từ việc giữ rừng trong khi nhu cầu mở rộng đất sản xuất để phát triển kinh tế, nhu cầu về gỗ, củi và các sản phẩm từ rừng phục vụ cho đời sống ngày càng lớn nhưng không được thừa nhận nên không có giải pháp để đáp ứng, không có các nguồn cung thay thế.
Để bảo đảm nhu cầu, người dân tự đáp ứng bằng các nguồn cung bất hợp pháp, tạo nên lợi nhuận quá lớn, kích thích lâm tặc ngày càng sử dụng các hình thức tinh vi xảo quyệt để xâm hại rừng thu lợi bất chính... Mô hình các đơn vị QLBV và kinh doanh nghề rừng chưa ổn định. Các chủ rừng chịu trách nhiệm rất lớn nhưng các điều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ rất hạn chế, chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ.
Ngoài ra, còn có những bất cập khác như: Biên chế lực lượng bảo vệ rừng, đặc biệt là lực lượng kiểm lâm còn mỏng và thiếu so với quy định; kinh phí trồng rừng (NSNN) khó khăn, suất đầu tư thuộc chương trình bảo vệ và phát triển rừng từ nguồn vốn Trung ương rất thấp (15 triệu đồng/ha) không đáp ứng yêu cầu (40-50 triệu đồng/ha); UBND cấp xã được giao quản lý diện tích rừng rất lớn (703 ngàn ha) nhưng không được giao kinh phí và cũng không có cơ chế hữu hiệu để quản lý, trách nhiệm chưa rõ ràng...
Đặc biệt, phần lớn các công ty TNHH MTV lâm nghiệp chưa có thay đổi cơ bản về cơ chế quản lý, nội dung và phương thức hoạt động; không đủ năng lực tài chính, không có đủ quyền tự chủ trong tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh; phụ thuộc quá nhiều vào việc khai thác gỗ rừng tự nhiên.
Từ năm 2014, phải tạm dừng khai thác nhưng không được cấp đủ kinh phí QLBVR nên nhiều công ty không có kinh phí để trả lương cho CBCNV, thực hiện việc giao khoán và triển khai công tác QLBV trên diện tích được giao, để rừng bị mất... Công tác phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm với các cơ quan chức năng liên quan chưa đồng bộ, kịp thời, còn hoạt động theo vụ việc.
Sự phối kết hợp giữa các ngành chức năng trong điều tra, đấu tranh, xử lý với những hành vi chống người thi hành công vụ, mua bán, vận chuyển gỗ, phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp chưa nghiêm, chưa kịp thời dẫn đến tình trạng các đối tượng vi phạm coi thường pháp luật, giảm tính răn đe, giáo dục trong nhân dân và sự nghiêm minh của pháp luật.
Thực tế cũng cho thấy, việc quản lý, theo dõi diễn biến rừng của Bộ NN & PTNT cũng như ở các địa phương còn nhiều yếu kém. Số liệu báo cáo của Bộ NN & PTNT, Cục Kiểm lâm, Sở NN&PTNT và Cục Thống kê các tỉnh không thống nhất, còn chênh lệch quá lớn; chưa phản ánh đúng thực tế diễn biến rừng trên thực địa và trên bản đồ của từng địa phương.
Năm 2013, tỉnh Đăk Nông đã đưa ra ngoài quy hoạch 3 loại rừng khoảng 63 ngàn ha đất lâm nghiệp mà người dân lấn chiếm và đang canh tác ổn định từ nhiều năm trước, hiện tại, vẫn còn khoảng 35 ngàn ha khác người dân đã canh tác nhưng chưa được rà soát, điều chỉnh. (Báo Lâm Đồng 6/10) đầu trang(
2/10, Tòa án nhân dân tỉnh đưa ra xét xử sơ thẩm đối với Đỗ Văn Hùng (SN 1963), trú tại phường 4, quận 8, TP. Hồ Chí Minh) về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Theo cáo trạng, năm 2012, Đỗ Văn Hùng đã gặp một số người dân rồi đưa ra thông tin gian dối rằng mình đã được UBND huyện Đắk G’long cấp 140.794m2 đất tại tiểu khu 1727, thuộc thôn 7, xã Đắk Ha để trồng cao su,  bảo vệ và phát triển rừng, nhưng do không đủ năng lực, điều kiện nên đang muốn bán, sang nhượng lại cho người khác.
Ngày 17/10/2012, anh Nguyễn Hữu Tuấn (trú tại TP. Hồ Chí Minh) đã đồng ý mua lô dất của Đỗ Văn Hùng với giá 2,1 tỷ đồng. Sau khi thỏa thuận và mua lô đất trên, anh Nguyễn Hữu Tuấn tiến hành xây dựng nhà trên diện tích lô cao su tại tiểu khu 1727 thì bị anh Nguyễn Tuấn Anh (SN1970, trú tại thôn 2, xã Đắk Ha) ngăn cản không cho xây, với lý do lô đất trên là của Xí nghiệp lâm nghiệp Đắk Ha đã chuyển giao lại toàn bộ quyền sử dụng cho Nguyễn Tuấn Anh, không phải là đất của Đỗ Văn Hùng.
Biết đất của Hùng giao không đúng với vị trí trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh Tuấn đã nhiều lần yêu cầu Đỗ Văn Hùng trả lại tiền nhưng Hùng cố tình trốn tránh, không chịu trả nên anh Tuấn đã làm đơn tố cáo Hùng gửi đến cơ quan chức năng… Căn cứ hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX tuyên phạt Đỗ Văn Hùng 13 năm tù giam. (Báo Đắc Nông 6/10) đầu trang(
Báo Thanh tra nhận được đơn của Cty TNHH Hoàng Khang Thịnh (Cty Hoàng Khang Thịnh) kiến nghị xem xét lại các bài “Khiếu nại (KN) chiếm đất rừng và phá hoại tài sản tại Đắk Nông: Doanh nghiệp vừa phá phách vừa la làng” và “Viết tiếp KN chiếm rừng và phá hoại tài sản tại Đắk Nông: Cơ quan Công an cần nhanh chóng vào cuộc”.
Cty Hoàng Khang Thịnh cho rằng, báo chí đã tiếp tay cho người dân thưa kiện, làm thiệt hại cho Cty và làm mất uy tín cho UBND tỉnh Đắk Nông. Tuy nhiên, đối chiếu với những tài liệu của UBND tỉnh Đắk Nông và thực tế diễn ra, kiến nghị này là không có cơ sở.
18/7/2014, Báo Thanh tra đã có bài“KN chiếm đất rừng và phá hoại tài sản tại Đắk Nông: Doanh nghiệp vừa phá phách vừa la làng” phản ánh: Nhiều năm nay, bà Thị Loan tại xã Đắk Ngo, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông đã gửi đơn đến các cơ quan chức năng, KN, tố cáo (TC) “Cty Hoàng Khang Thịnh do ông Hoàng Đình Trung làm Giám đốc cố tình chiếm giữ 20ha đất rừng và hủy hoại tài sản hoa màu trên đất” của gia đình bà khai phá.
Về vấn đề này, Đơn kiến nghị của Cty Hoàng Khang Thịnh cho rằng: “Căn cứ Biên bản xác minh Bản đồ hiện trạng năm 2005 trên diện tích 21,2ha, 3 hộ đang tranh chấp là rừng, Biên bản xác minh và Bản đồ hiện trạng năm 2007, tại tọa độ này có 2,5ha đất trống tại Biên bản xác minh và Biên bản kiểm tra số 40/BB ngày 8/4/2010 của Đoàn 12 tỉnh, đất 3 Thị Loan DT 2.5ha trong đó 1,8ha trồng điều, 7 sào đất trống không có đất của Thị Bếp, Thị Kê”.
Tuy nhiên, tại Văn bản số 1395/BC ngày 4/12/2012 của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) báo cáo UBND tỉnh Đắk Nông thể hiện: “Diện tích đất tranh chấp là 20ha của bà Thị Loan và Thị Kê, Thị Bếp thuộc khoảnh 12 tiểu khu 1525 và khoảnh 1 tiểu khu 1538. Toàn bộ diện tích tuy không có giấy tờ hợp pháp, nhưng đã được các hộ khai hoang từ năm 1999 và trồng điều xen mỳ từ năm 2003.
Trong 20ha đất xâm canh của gia đình bà Loan, có 3ha nằm trong quy hoạch giải tỏa nhưng Đoàn 12 chưa giải tỏa, còn 17ha không nằm trong quy hoạch giải tỏa. Sự việc xảy ra ngày 19/8/2011 do ông Hoàng Đình Trung đưa người đến đốt nhà, chặt cây điều và hủy hoại mỳ của bà Loan, ông Trung vừa làm Giám đốc Cty Khang Thịnh vừa là Giám đốc Cty Hoàng Thiên, người của Hoàng Thiên cũng là người của Khang Thịnh do ông Trung điều hành.
Việc Cty Khang Thịnh tự ý trồng các loại cây khác trên đất đã trồng rừng, Cty Lâm nghiệp Quảng Tín đã có văn bản báo cáo UBND tỉnh và đã lập Biên bản đình chỉ đối với Cty Khang Thịnh”.
Đơn kiến nghị của Cty Hoàng Khang Thịnh lý giải “nguyên nhân 3 hộ thưa kiện vượt cấp kéo dài là theo kết quả xác minh và Bản đồ hiện trạng năm 2007 diện tích 20ha trên có 17,5ha là rừng nhưng ông Mai Minh Tân chống lại xem thường kết quả thẩm định của Sở NN&PTNT tại Kết luận số 411/KL ngày 2/5/2013 do ông Tân khẳng định 3 hộ Thị Loan, Thị Bếp, Thị Kê khai hoang năm 1999.
Trong biên bản bàn giao cho Cty ghi rõ chặt sạch, đốt sạch, ủi sạch 100%, ông Tân lại khẳng định Cty tự giải tỏa, kích động người dân là đất của Cty Hoàng Khang Thịnh đã bị chấm dứt hợp đồng, xúi người dân nếu có bức xúc cứ làm đơn TC đòi lại đất. Khi bị chúng tôi làm đơn TC ông Tân biết kết quả xác minh sai nên hướng dẫn một số hộ dân chuyển đổi tọa độ vị trí xâm canh qua chỗ khác sau đó viết đơn TC để ông Tân đi xác minh lại rồi vu khống cho Cty đốt nhà và phá hoa màu của người dân ngoài vùng giải tỏa của Đoàn 12”.
Tuy nhiên, tại Kết luận số 411/KL ngày 2/5/2013 Sở NN&PTNT gửi UBND tỉnh Đắk Nông thể hiện: “Đơn của Cty Hoàng Khang Thịnh TC bà Thị Rây (trong đó có bà Thị Loan) tổ chức đông người đòi chiếm 20ha đất tại khoảnh 12 tiểu khu 1525 của Cty đã trồng 1 năm và hủy hoại 0,48ha keo và 0,31ha mỳ là không có cơ sở.
Việc bà Loan gửi đơn lên UBND tỉnh Đắk Nông TC Cty Khang Thịnh chặt phá điều, đốt phá nhà rẫy và hủy hoại cây mỳ là đúng. Cty Khang Thịnh cho rằng khi giải tỏa Cty Quảng Tín đã bàn giao cho Cty trồng rừng vào tháng 7/2011 là sai, bởi trong 20ha đất chỉ có 2ha nằm trong giải tỏa nhưng Đoàn 12 không cưỡng chế khu vực này.
Đề nghị UBND tỉnh yêu cầu Cty Hoàng Khang Thịnh bồi thường thiệt hại do hành vi tự ý đốt phá nhà cửa, chặt điều và phá mỳ của gia đình bà Loan. Đồng thời, chỉ đạo Cty Lâm nghiệp Quảng Tín giao khoán đất rừng theo Nghị định 135/CP của Chính phủ đối với 20ha đất cho bà Loan và các hộ đã canh tác trước đây hiện đang bị Cty Hoàng Khang Thịnh chiếm giữ”.
22/7/2014, Báo Thanh tra tiếp tục có bài “Viết tiếp KN chiếm rừng và phá hoại tài sản tại Đắk Nông: Cơ quan Công an cần nhanh chóng vào cuộc” phản ánh: Ngày 4/5/2013 UBND tỉnh Đắk Nông đã ban hành Văn bản 1849/NC chỉ đạo: “Công an tỉnh khẩn trương thực hiện điều tra xác minh, xử lý nghiêm việc Cty Hoàng Khang Thịnh đốt phá nhà, chặt phá cây điều và mỳ, tự ý tổ chức trồng rừng trên đất của các hộ Thị Loan, Thị Kê, Thị Bếp và bồi thường thiệt hại tài sản trên đất đã đốt và chặt phá.
Giao UBND huyện Tuy Đức chủ trì, phối hợp với Cty Lâm nghiệp Quảng Tín và UBND xã Đắk Ngo tổ chức họp với Cty Hoàng Khang Thịnh và 3 hộ dân nêu trên để giải quyết dứt điểm việc Cty Hoàng Khang Thịnh đốt phá nhà, chặt phá cây và tự ý tổ chức trồng rừng trên đất, bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất của các hộ dân. Yêu cầu Cty Hoàng Khang Thịnh trả lại toàn bộ 20ha đất cho 3 hộ, thực hiện đúng chỉ đạo của UBND tỉnh về việc giải quyết đất xâm canh của người dân trong vùng dự án”.
Vậy nhưng, đơn kiến nghị của Cty Hoàng Khang Thịnh cho rằng: “Thực hiện Công văn 2692/UBND ngày 2/7/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông về việc thực hiện Thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc về giải quyết các vụ việc KN, TC phức tạp, tồn đọng kéo dài.
Tình hình phức tạp trên có thể khẳng định sai một li đi một dặm vậy mà nhà báo Trúc Lâm đã đăng bài vu khống cho Cty chiếm đất hủy hoại hoa màu của người dân, các hộ dân trên đã in 2 bài báo rải khắp nơi và kéo lên UBND tỉnh TC đòi Cty trả lại đất và đền bù thiệt hại, làm thiệt hại tài chính và uy tín rất lớn cho Cty Hoàng Khang Thịnh, làm mất uy tín Cho UBND tỉnh Đắk Nông.
Nay Cty kính đề nghị Báo Thanh tra xem xét điều tra xác minh làm rõ vụ việc đăng bài, đồng thời giải oan cho Cty Hoàng Khang Thịnh, ngăn chặn xâm canh đất rừng trái phép để giảm bớt làn sóng thưa kiện vượt cấp làm mất an ninh trật tự trên địa bàn”.
Trên thực tế, ngày 23/7/2014, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông đã có Văn bản số 3085/UBND gửi Giám đốc Công an tỉnh nêu rõ: “Trong thời gian qua, việc giải quyết KN, TC của các hộ dân trên địa bàn xã Đắk Ngo liên quan đến Cty Hoàng Khang Thịnh, Cty Hoàng Thiên tự ý chặt phá cây trồng, nhà cửa của các hộ dân, UBND tỉnh đã có rất nhiều văn bản chỉ đạo Công an tỉnh điều tra, xử lý nghiêm theo quy định pháp luật nhưng đến nay chưa nhận được báo cáo.
Công dân tiếp tục gửi đơn KN đến Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh, tập trung ra Trụ sở Tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước KN gây mất an ninh trật tự. UBND tỉnh phê bình Công an tỉnh chậm thực hiện các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh dẫn đến việc KN của công dân kéo dài, phức tạp.
Đồng thời, yêu cầu Giám đốc Công an tỉnh khẩn trương chỉ đạo điều tra làm rõ việc các hộ dân KN Cty Hoàng Khang Thịnh, Cty Hoàng Thiên tự ý chặt phá cây trồng, nhà cửa của các hộ dân nằm ngoài diện tích đất cưỡng chế, báo cáo kết quả cho Chủ tịch UBND tỉnh”.
Như vậy, loạt bài “KN chiếm rừng và phá hoại tài sản tại Đắk Nông” là hoàn toàn có cơ sở. Báo Thanh tra nêu các văn bản UBND tỉnh Đắk Nông chỉ đạo các cơ quan chức năng và Công an tỉnh xử lý vụ việc, là thể hiện sự đồng tình trong giải quyết của UBND tỉnh, không “làm mất uy tín cho UBND tỉnh Đắk Nông” như đơn của ông Hoàng Đình Trung, Giám đốc Cty Hoàng Khang Thịnh “đánh bùn sang ao” vụ việc. (Thanh Tra 4/10) đầu trang(
Tại tỉnh Khánh Hòa, chỉ trong vòng 1 tháng, cả trăm ha đất rừng sản xuất của Ban quản lý rừng phòng hộ Ninh Hòa đã bị nhiều hộ dân ở Buôn Lác, Buôn Sim thuộc xã Ninh Tây, thị xã Ninh Hòa chiếm dụng trái phép.
Mặc dù nhiều lần chính quyền đã tìm giải pháp tháo gỡ tình trạng này, nhưng đến nay vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại, điều đó cũng đồng nghĩa số phận của hàng trăm ha đất rừng còn lại sẽ tiếp tục bị đe dọa.
Tình trạng người dân chiếm đất bắt đầu xuất hiện vào cuối tháng 8. Khi đó, toàn bộ 219 ha rừng keo của BQL tại xã Ninh Tây vừa được thu hoạch xong. Trong quá trình BQL rừng tiến hành dọn thực bì để chuẩn bị vào vụ trồng rừng tiếp theo, thì nhiều hộ dân trong xã đã ngang nhiên lên chiếm đất.
Bà con cho rằng: đây là diện tích đất rẫy của ông bà làm từ trước, nên nay lấy lại để canh tác. Lãnh đạo BQL rừng phòng hộ đã nhiều lần giải thích với bà con đây là đất trồng rừng của nhà nước, nhưng tất cả đều không nhận sự hợp tác từ các hộ dân này.
Ông Nguyễn Công Hà, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa cho biết: “Đất này được tỉnh giao từ năm 1976, khi thành lập từ lâm trường Khánh Ninh. Sau khi rà soát thì tỉnh giao cho BQL có quyết định và cấp giấy quyền sử dụng đất. Việc bà con nói là đất của bà con là không đúng”.
Tình trạng chiếm đất rừng như một làn sóng lan nhanh. Ban đầu chỉ có vài hộ, nhưng kể từ đầu tháng 9, số hộ tham gia chiếm đất đã tăng nhanh, khiến cho tình hình trở nên mất kiểm soát.
Tính đến ngày 29-9, BQL rừng phòng hộ thống kê được 53 hộ dân đến chiếm đất. Với số hộ tham gia chiếm đất ngày càng nhiều, phải chăng đồng bào dân tộc thiếu số ở Ninh Tây đang thiếu đất sản xuất?
Tuy nhiên, qua nhiều lần rà soát cho thấy: trong số hộ tham gia chiếm đất, chỉ có 8 hộ cận nghèo, còn lại là các hộ có cuộc sống trung bình và khá; không có hộ nào thiếu đất sản xuất.
“Sau khi rà soát chỉ có 36 đồng bào nghèo thiếu đất sản xuất, chúng tôi cùng UBND thị xã xin ý kiến để cấp diện tích đất, hiện nay đang đền bù và sẽ giải quyết hết”. Bà Trần Thị Cúc, Trưởng phòng Dân tộc, UBND thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa cho hay.
Sau khi sự việc xảy ra, các ban ngành cùng với chính quyền địa phương đã tích cực tuyên truyền, vận động người dân phải tuân thủ các quy định của pháp luật; song mọi nổ lực vẫn chưa đạt được kết quả. Hiện BQL rừng đang hết sức lo lắng vì với số diện tích đất mà bà con chiếm giữ, đơn vị không thể tiến hành trồng rừng theo kế hoạch, do đó thiệt hại sẽ lên đến hàng tỷ đồng. Đây chưa phải là con số cuối cùng, vì tình trạng chiếm đất rừng hiện nay chưa có dấu hiệu dừng lại.
Bên cạnh đó, ông Nguyễn Công Hà, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Ninh Hòa cảnh báo: “ Tình hình này không giải quyết, năm sau sẽ diễn biến tiếp tục, đề nghị thị xã kiên quyết xử lý”.
Chưa bao giờ tình trạng xâm chiếm đất rừng ở Ninh Tây lại trở nên phức tạp như lúc này. Đã đến lúc ngoài việc tuyên truyền vận động bà con tự giác chấp hành, tỉnh Khánh Hòa cần giải quyết theo quy định của pháp luật. Bởi nếu tình trạng này không chấm dứt, rất nhiều diện tích rừng phòng hộ và rừng nguyên sinh liền kề cũng sẽ bị chiếm mất, hệ lụy về sau sẽ rất khôn lường. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 6/10) đầu trang(
Là tỉnh có 91 km đê biển, hơn 300 km đê sông với 3 huyện ven biển là Giao Thuỷ, Hải Hậu và Nghĩa Hưng, Nam Định được xác định là một trong những tỉnh trọng điểm thiên tai trong các mùa mưa bão.
Đặc biệt địa bàn có 4 con sông lớn chảy qua là sông Hồng, sông Đào, sông Đáy và sông Ninh Cơ là những vùng có nguy cơ cao và thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai.
Với những bất lợi trên, Nam Định được chọn là một trong 10 tỉnh nằm trong hoạt động của Dự án “Trồng rừng ngập mặn - Giảm thiểu rủi ro thảm họa”. Đây là dự án phối hợp giữa Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản và Hiệp Hội Chữ thập đỏ Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, được triển khai từ đầu tháng 4/2011.
Sau hơn 3 năm hoạt động, Dự án đã đem lại hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở, người dân 3 huyện ven biển tỉnh Nam Định trong việc sẵn sàng ứng phó với biến đổi khí hậu, ảnh hưởng của thiên tai, thảm họa; phát huy vai trò của cán bộ, hội viên và tình nguyện viên chữ thập đỏ về công tác phòng ngừa, ứng phó thảm họa.
Ngay từ những ngày đầu khởi động dự án, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Nam Định đã tập trung thực hiện các hoạt động như tổ chức tập huấn, tuyên truyền trực tiếp và gián tiếp cho hơn 91.000 người về giảm thiểu rủi ro, thảm họa và thích nghi với biến đổi khí hậu; kiến thức quản lý, phát triển tình nguyện viên, phòng ngừa ứng phó thảm họa, sơ cấp cứu, cứu hộ cứu nạn; diễn tập cứu hộ, cứu nạn trong tình huống khẩn cấp.
Đồng thời đầu tư một số trang thiết bị cơ bản phục vụ công tác ứng phó thiên tai, thảm họa, góp phần nâng cao nhận thức của chính quyền và người dân về công tác phòng ngừa, ứng phó và giảm thiểu rủi ro, thảm họa, giúp cộng đồng được an toàn hơn.
Trên địa bàn huyện Giao Thủy, Hội Chữ thập đỏ tỉnh phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện làm tốt công tác chăm sóc và bảo vệ hơn 625 ha rừng tại 4 xã Giao An, Giao Xuân, Giao Lạc, Giao Phong và thị trấn Quất Lâm. Hiện tại, rừng phát triển tốt, không có hiện tượng sâu bệnh và chặt phá rừng. 5 đội quản lý và bảo vệ rừng tại các xã, thị trấn trên được tập huấn và cung cấp trang thiết bị cơ bản phục vụ tốt cho hoạt động tuần tra, không để xảy ra tình trạng chặt phá và xâm hại rừng ngập mặn.
Ngoài ra, Hội Chữ thập đỏ tỉnh cũng triển khai và tiếp tục duy trì, phát triển các tiểu dự án giảm thiểu rủi ro thảm họa, như: Hệ thống cầu dân sinh của xã Hải Chính, hệ thống cảnh báo sớm thiên tai ở xã Hải Lý, hệ thống loa truyền thanh ở xã Hải Triều, hệ thống thoát nước 1.500m tại khu dân cư và nuôi trồng thuỷ sản xã Hải Châu (huyện Hải Hậu), công trình vuốt dốc đê đường giao thông xã Giao An, công trình nhà vệ sinh chợ trung tâm xã Giao Xuân và công trình cống thoát nước khu dân sinh xã Bạch Long (huyện Giao Thủy).
Để nâng cao khả năng của cộng đồng trong việc chuẩn bị và ứng phó một cách hiệu quả, góp phần giảm nhẹ rủi ro, thiệt hại có thể xảy ra khi có thiên tai, thảm họa tại địa phương, Ban quản lý dự án Hội Chữ thập đỏ tỉnh Nam Định đã hướng dẫn và phối hợp với Hội Chữ thập đỏ tại các cơ sở thành lập 2 đội ứng phó nhanh cấp cộng đồng với hơn 50 thành viên của 2 xã Nghĩa Thắng (huyện Nghĩa Hưng) và xã Hải Chính (huyện Hải Hậu).
Sau khi được thành lập, các thành viên của đội ứng phó được tập huấn về kiến thức, kỹ năng phòng ngừa, ứng phó thảm họa, giảm nhẹ rủi ro, tìm kiếm cứu nạn, sơ cấp cứu và thực hành diễn tập sơ cấp cứu, cứu hộ, cứu nạn.
Để đảm bảo cho đội ứng phó nhanh cấp cộng đồng hoạt động tốt khi có những tình huống khẩn cấp xảy ra, Ban quản lý dự án tỉnh Hội đã cấp trang thiết bị đạt tiêu chuẩn phục vụ hoạt động như mũ chữ thập đỏ, ao phao cứu sinh, túi sơ cấp cứu, đồ dùng cứu thương, đèn pin, áo mưa, loa pin cầm tay...
Trong khuôn khổ các hoạt động của Dự án, Hội chữ thập đỏ tỉnh Nam Định đã khảo sát, thẩm định và hỗ trợ nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm thiên tai cho thị trấn Rạng Đông (huyện Nghĩa Hưng) lắp mới 4 cụm loa, xây dựng 2 bản tin cảnh báo sớm thiên tai, thảm họa nhằm phục vụ việc cảnh báo sớm, giúp người dân thị trấn nắm bắt thông tin, góp phần giảm nhẹ những rủi ro, thiệt hại khi xảy ra thiên tai, thảm họa tại địa phương.
Ông Phạm Minh Phương, Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ tỉnh Nam Định cho biết: Thời gian tới, Ban quản lý Dự án “Trồng rừng ngập mặn - giảm thiểu rủi ro” tỉnh Nam Định tập trung sớm hoàn thiện và đưa vào sử dụng các hệ thống cơ sở vật chất hỗ trợ địa phương trong hoạt động phòng ngừa, ứng phó thảm họa.
Đồng thời tổ chức các lớp tập huấn về phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro và biến đổi khí hậu cho giáo viên, học sinh tiểu học tại xã Nghĩa Thắng và thị trấn Rạng Đông (huyện Nghĩa Hưng). (Tài Nguyên & Môi Trường 2/6; Bưu Điện VN 6/10, tr14) đầu trang(
Với mục tiêu phát triển rừng bền vững, góp phần đưa độ che phủ lên trên 52%, năm 2015 tỉnh Thanh Hóa phấn đấu trồng 10.000ha rừng.
Trong đó, trồng rừng phòng hộ đặc dụng 400ha; rừng sản xuất 9.600ha với tổng nguồn vốn khoảng 115,8 tỷ đồng. (Nông Nghiệp Việt Nam 6/10, tr2) đầu trang(
Những năm gần đây, huyện Hà Quảng quan tâm tuyên truyền, vận động nhân dân đẩy mạnh phát triển kinh tế rừng, góp phần bảo vệ, duy trì môi trường sinh thái, nâng độ che phủ rừng trên địa bàn.
Hà Quảng hiện có 21.368 ha đất có rừng và 15.686 ha đất chưa có rừng, tiềm năng phát triển kinh tế từ rừng là rất lớn. Để thực hiện có hiệu quả công tác phát triển kinh tế rừng, Ban quản lý Dự án Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) huyện Hà Quảng đã xây dựng kế hoạch chương trình phát triển rừng từng năm và cả giai đoạn; phối hợp chặt chẽ với các cấp, ngành, chính quyền địa phương tổ chức thực hiện công tác quản lý BV&PTR.
Cấp ủy, chính quyền các xã, thị trấn tổ chức triển khai, quán triệt kế hoạch phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến 2020 cho mọi người dân trên địa bàn với mục tiêu phát triển kinh tế rừng nhằm khai thác tiềm năng thế mạnh của địa phương, góp phần vào phát triển KT - XH của huyện.
Ban quản lý Dự án BV&PTR huyện cử cán bộ xuống các xã, xóm triển khai, xây dựng kế hoạch tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia đăng ký trồng rừng. Do làm tốt công tác tuyên truyền, vận động cùng sự phối hợp tích cực của chính quyền xã, xóm, người dân tích cực trong công tác phát triển rừng.
Khó khăn lớn nhất ảnh hưởng đến công tác trồng rừng của Hà Quảng là đa số diện tích đất có khả năng trồng rừng trong quy hoạch thiết kế đều nằm ở các xóm vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện kinh tế của người dân còn khó khăn, tâm lý của bà con là phải lo sản xuất đủ lương thực bảo đảm đời sống, chưa thực sự quan tâm đến trồng rừng.
Mặt khác hiện nay, để trồng rừng mới cần tiến hành công tác xử lý thực bì toàn bộ các loại rừng nghèo kiệt, việc này đòi hỏi phải có vốn đầu tư, người dân không thể tự thực hiện.
Trước tình trạng trên, năm 2013, UBND huyện Hà Quảng thí điểm giao cho UBND thị trấn Xuân Hòa chỉ đạo xóm Khuổi Pàng ký hợp đồng với Doanh nghiệp tư nhân xây dựng Thành Phương tiến hành cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt tại xóm Khuổi Pàng, thị trấn Xuân Hòa sang trồng rừng sản xuất. Thực hiện chủ trương này, doanh nghiệp đã tiến hành ký hợp đồng với xóm Khuổi Pàng tiến hành khai thác gỗ, cải tạo 20,5 ha rừng cộng đồng nghèo kiệt để trồng keo.
Ông Hoàng Văn Đạo, Phó Giám đốc Doanh nghiệp tư nhân xây dựng Thành Phương chia sẻ: Sau khi ký hợp đồng với xóm Khuổi Pàng cải tạo rừng nghèo kiệt, trồng rừng sản xuất, doanh nghiệp làm thủ tục, hồ sơ thiết kế kỹ thuật cải tạo rừng. Tiến hành khảo sát, điều tra, xác định trạng thái và diện tích lô rừng cải tạo.
Trên cơ sở kết quả điều tra, khảo sát xác định tại hiện trường, xác định đối tượng, diện tích rừng đưa vào cải tạo, tiến hành phân chia các khoảnh, thành lô theo quy định; căn cứ theo địa hình, mở đường giao thông vào khu rừng thuận tiện cho việc quản lý, bảo vệ sản phẩm.
Cử cán bộ kỹ thuật xuống hiện trường cùng nhân dân tiến hành xử lý thực bì, dọn vệ sinh lô trồng rừng sau khai thác. Nếu lô rừng có nhiều cành nhánh và lớp bì dày thì gom thành đống và đốt có kiểm soát, đảm bảo không làm ảnh hưởng đến vùng đệm, dòng chảy khe suối và hệ động thực vật xung quanh.
Hướng dẫn nhân dân đào hố trồng đúng kỹ thuật. Hiện mô hình 20,5 ha keo do đơn vị triển khai trồng thí điểm tại rừng cộng đồng xóm Khuổi Pàng từ tháng 6/2013 đến nay tỷ lệ sống trên 95%, cây sinh trưởng, phát triển tốt.
Ông Lý Triệu Minh, Bí thư chi bộ xóm Khuổi Pàng cho biết: Năm 2013, xóm đã ký hợp đồng với Doanh nghiệp tư nhân xây dựng Thành Phương cải tạo 20,5 ha rừng cộng đồng nghèo kiệt của xóm để trồng rừng sản xuất. Bà con được doanh nghiệp hỗ trợ cây giống, phân bón, tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng, đầu tư mở đường vào rừng và hợp đồng bao tiêu toàn bộ sản phẩm nên rất phấn khởi.
Qua triển khai mô hình thí điểm, sau 1 năm thấy cây sinh trưởng, phát triển tốt, thấy mô hình rừng cộng đồng của xóm phát huy hiệu quả, bà con trong xóm đã đăng ký mở rộng diện tích. Từ hơn 20 ha thí điểm ban đầu, đến nay, cả xóm đã trồng được 37,9 ha rừng keo. Hiện nay, bà con vẫn tiếp tục đăng ký thực hiện chuyển đổi rừng nghèo kiệt để mở rộng diện tích trồng rừng sản xuất.
Từ mô hình thí điểm triển khai tại xóm Khuổi Pàng, phong trào trồng rừng của Hà Quảng phát triển khá mạnh, diện tích trồng rừng năm sau cao hơn năm trước. Năm 2013, toàn huyện trồng rừng mới được 61,5 ha, trong đó, 47 ha rừng sản xuất, 14,5 ha rừng phòng hộ. 9 tháng năm 2014, toàn huyện đã trồng rừng được 71,8 ha, trong đó, 56,4 ha rừng sản xuất, vượt 17% kế hoạch và 15,4 ha rừng phòng hộ, đạt 13% kế hoạch.
Với những kết quả đã đạt được trong những năm qua, huyện Hà Quảng đang tiếp tục chỉ đạo các cơ quan chuyên môn và UBND các xã, thị trấn tuyên truyền, vận động nhân dân đẩy mạnh công tác BV&PTR, cải tạo chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang trồng rừng sản xuất. Phấn đấu trong năm 2015, toàn huyện trồng mới 75 ha rừng, trong đó, 15 ha rừng phòng hộ, 60 ha rừng sản xuất.
Được biết hiện nay, huyện đang phối hợp với Công ty TNHH Diễn Xuân triển khai thí điểm trồng 7 ha sưa đỏ. Doanh nghiệp đã triển khai mô hình vườn ươm trên 3 vạn cây sưa đỏ tại xóm Yên Luật, thị trấn Xuân Hòa. Doanh nghiệp cung cấp cây giống, phân bón, chuyển giao khoa học kỹ thuật, trồng, chăm sóc, bao tiêu sản phẩm.
Với cây sưa đỏ, nếu trồng và chăm sóc đúng kỹ thuật sau 7 năm lõi gỗ đạt 5 - 7 cm, giá bán 3 - 5 triệu đồng/cây. Triển khai mô hình trồng sưa đỏ thành công sẽ là hướng đi mới cho bà con Hà Quảng không chỉ xóa đói, giảm nghèo mà có thể làm giàu từ kinh tế rừng. (Báo Cao Bằng 5/10) đầu trang(
Theo quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2009 - 2020, rừng trồng phòng hộ toàn tỉnh đến năm 2015 có khoảng 13.808 ha và đến năm 2020 có khoảng 13.919 ha ổn định lâu dài. Về cơ cấu cây trồng, các cây trồng chính được xác định là trám, sao đen, dầu rái, huỷnh, sến,… và keo, mây các loại...
Trên thực tế, cơ cấu cây trồng phòng hộ liên tục những năm gần đây chủ yếu là trồng keo thuần loại hoặc keo xen cây bản địa sao đen, dầu rái,… cây mây dường như chưa được quan tâm trong trồng rừng phòng hộ của các ban quản lý rừng. Với cơ cấu trên đã hình thành nhiều khu rừng trồng phòng hộ thuần loại keo, và tất nhiên trong khoảng tối đa 10 năm phải khai thác để trồng lại, vô hình trung khu vực đó là rừng sản xuất cho dù quy hoạch là phòng hộ.
Đối với những khu rừng phòng hộ keo xen cây bản địa, tính từ năm 1994 đến nay, rất hiếm có những khu rừng trồng cây bản địa tương đối thành công như ở Bắc Hải Vân, còn lại hầu hết chưa thể xem là thành rừng. Như vậy, xét về cơ cấu cây trồng đã có “vấn đề”.
Đến nay, hầu như chưa có công trình nghiên cứu chính thức nào về hiệu quả trồng các cây bản địa nói trên tạo rừng phòng hộ để có thể đưa ra các kết luận nên hay không nên đầu tư. Việc trồng rừng phòng hộ vẫn tiếp tục thực hiện với cơ cấu cây trồng nói trên như một kiểu “xưa bày nay làm” dù hiệu quả chưa thể khẳng định.
Nếu tiếp tục theo “lối mòn” này, liệu đến năm 2020, tỉnh ta có thể có gần 14.000 ha rừng trồng đáp ứng yêu cầu phòng hộ như tiêu chí và theo quy hoạch? Thật khó để có câu trả lời trọn vẹn từ chính những người làm lâm nghiệp tâm huyết. Chúng ta thử cùng nhau xem xét, tìm kiếm cách nhìn mới từ những kinh nghiệm có sẵn để có lối thoát cho vấn đề này.
Chính sách hiện hành quy định từng bước phát triển rừng trồng phòng hộ bằng cơ cấu các loại cây rừng đa tác dụng có thể duy trì rừng lâu dài nhưng vẫn có thể tận dụng các sản phẩm khác như nhựa, mủ, quả…., chọn cây trồng có khả năng chống chịu tác hại của thiên tai, ngoại cảnh như có bộ rễ sâu, rộng để giữ đất, thân rắn chắc để chống chịu gió bão và tán lá phát triển rộng, rậm vừa ngăn chặn hạn chế dòng chảy khi mưa lớn và góp phần hạn chế xói mòn đất.
Thử nhìn lại hệ thống cơ cấu cây trồng trên đất lâm nghiệp đã trồng thành công phù hợp với thổ nhưỡng và khí hậu trong thời gian qua trên địa bàn tỉnh để xem xét, chọn cây trồng phòng hộ phù hợp với các tiêu chí nói trên. Chúng ta sẽ rất dễ dàng nhận thấy một số cây trồng thích hợp; trong đó, đáng lưu ý là cây thông nhựa.
Thông nhựa đã được trồng thành công và là cây trồng chủ lực của ngành lâm nghiệp liên tục từ năm 1976 đến năm 2003. Cây sinh trưởng và phát triển tốt, khả năng chống chịu gió bão, sâu bệnh, lửa rừng và giữ đất rất tốt. Hàng ngàn ha đã từng bị các trận dịch sâu róm hoành hành; bị lửa rừng uy hiếp; song thật kỳ lạ về sức sống mãnh liệt của nó; trong khi nhiều cây trồng rừng khác trong hoàn cảnh đó dẫn đến chết cả khu rừng thì trái lại, cây thông nhựa vẫn chịu đựng được và phục hồi lại rừng, tiếp tục phát triển.
Thông nhựa là một loài cây bản địa của Thừa Thiên Huế, sinh trưởng và phát triển tốt trên các đất rừng có lập địa xấu, trơ sỏi đá, chua, dốc. Cây tái sinh tự nhiên cao, vòng đời kéo dài cả trăm năm; khả năng chích nhựa 50 - 60 năm; có thể trồng thuần loài hoặc hỗn giao với cây trồng khác như các mô hình sẵn có. Việc gieo ươm, trồng, chăm sóc và bảo vệ cũng như tổ chức khai thác nhựa, không chỉ công nhân mà cả nông dân đã có nhiều kinh nghiệm có thể kế thừa và phát huy.
Có thể khẳng định rừng trồng thông nhựa đã đáp ứng cả chức năng kinh tế và phòng hộ. Tuy nhiên, không hiểu vì lý do gì trong quy hoạch trồng rừng phòng hộ, cây thông nhựa đã bị loại khỏi danh sách(?). Mười năm trở lại đây, hầu như không có nơi nào trồng thông nhựa; thậm chí nhiều nơi còn thanh lý để chuyển sang trồng keo.
Từ chỗ, toàn tỉnh có khoảng 12 ngàn ha rừng thông nhựa, đến nay chỉ còn khoảng 3 ngàn ha. Nếu cho rằng thông nhựa sinh trưởng chậm, vậy thì các cây bản địa hiện đang trồng phòng hộ, cây nào sinh trưởng nhanh hơn”?
Về mặt đầu tư, suất đầu tư hiện hành theo chính sách của tỉnh khoảng 22 -24 triệu đồng/ ha và đầu tư của Dự án JICA khoảng 34 -35 triệu đồng/ ha (vốn vay), suất đầu tư khá cao như vậy nhưng các chủ rừng phòng hộ vẫn “kêu” không đáp ứng nhu cầu vốn. Tuy nhiên, với suất đầu tư này, hoàn toàn có thể tạo các khu rừng phòng hộ Thông nhựa đạt hiệu quả cao.
Trong bối cảnh chưa thể xác định cơ cấu cây trồng rừng phòng hộ thì việc trở lại trồng những cây “truyền thống” đã chứng minh thành công là hướng tiếp cận mới rất đáng xem xét khi tổ chức trồng rừng phòng hộ.
Đã đến lúc phải “trả lại” vị trí chủ lực hàng đầu của cây thông nhựa trong hệ thống cây trồng rừng phòng hộ, để sớm có kế hoạch khôi phục và phát triển. Thực tiễn đã rõ, vấn đề còn lại là quyết tâm của những người làm quản lý lâm nghiệp. (Báo Thừa Thiên Huế 4/10) đầu trang(
Gần đây, người dân ở xã A Xing, huyện Hướng Hóa (Quảng Trị) nhiều lần phản ánh: Từ đầu năm 2013 đến nay, các hộ tham gia trồng rừng thay thế nương rẫy không còn được cấp phát gạo như trước. PV đã đến địa phương để tìm hiểu rõ sự việc.
Năm 2011, UBND tỉnh phê duyệt dự án đầu tư trồng rừng phòng hộ trên đất nương rẫy cho đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2011 – 2015. Mục tiêu của dự án là trồng rừng thay thế diện tích nương rẫy canh tác kém để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất; giải quyết việc làm cho người lao động; đảm bảo 100% hộ gia đình có lương thực để sinh sống; nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số; góp phần bảo vệ và phát triển rừng, cải thiện môi trường sinh thái. Dự án được triển khai tại một số xã thuộc hai huyện Hướng Hóa và Đakrông.
Sau khi nhận được chủ trương, gần 150 hộ dân tại các thôn Kỳ Rỹ, Tăng Quan và Cu Rông (xã A Xing) đã đăng ký trồng rừng thay thế nương rẫy. Trong quá trình tham gia dự án, người dân địa phương rất vui mừng khi nhận được gạo hỗ trợ theo định kỳ 2 lần/năm với số lượng 15 kg/khẩu/gia đình. Số gạo này đã giúp nhiều hộ có hoàn cảnh khó khăn ổn định cuộc sống ở thời điểm rừng chưa đến giai đoạn khai thác.
Ông Kôn Khuyết (trú tại thôn Tăng Quan) cho biết: “Vì đông con lại không có vốn làm ăn, gia đình tôi thường lâm vào cảnh thiếu ăn. Từ ngày trồng hơn 3 ha keo lai thay thế nương rẫy và được hỗ trợ gạo định kỳ, tôi cảm thấy yên tâm hơn. Cuộc sống cũng vơi đi phần nào vất vả”.
Tuy nhiên, từ đầu năm 2013 đến nay, các hộ dân ở xã A Xing rất lo lắng khi không nhận được hỗ trợ gạo như thời gian trước. Trong khi đó, rừng vẫn chưa đến thời kỳ thu hoạch nên cuộc sống bà con gặp khá nhiều khó khăn.
Anh Hồ Văn Thiêm (trú tại thôn Kỳ Rỹ) chia sẻ: “Gia đình tôi trồng 3 ha rừng thay thế nương rẫy. Những năm trước đều nhận gạo hỗ trợ theo định kỳ nhưng không hiểu sao giờ không còn được hỗ trợ nữa. Cũng giống như tôi, nhiều hộ dân trong thôn tham gia trồng rừng đang rất lo lắng”.
Chung nỗi trăn trở như anh Thiêm, ông Hồ Văn Cách (trú tại thôn Kỳ Rỹ) cho biết: “Đất nương rẫy của nhà tôi giờ đã chuyển sang trồng rừng rồi. Gia đình tôi chỉ sống dựa vào rừng thôi. Giờ còn quá ít đất sản xuất, trong khi rừng thì chưa đến thời điểm thu hoạch nên gia đình tôi thiếu thốn đủ bề”.
Từ thực tế trên, một số hộ dân có dấu hiệu bỏ bê việc chăm sóc rừng trồng. Bên cạnh đó, một vài gia đình định quay lại làm nương rẫy hoặc bán rừng non với giá rẻ. Người dân cũng đã nhiều lần phản ánh, kiến nghị với chính quyền địa phương và các cơ quan, ban ngành chức năng bày tỏ mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ gạo.
Trao đổi với PV về vấn đề này, ông Lê Văn Thành, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Hướng Hóa cho biết, dự án đầu tư trồng rừng phòng hộ trên đất nương rẫy được triển khai tại ba xã của huyện Hướng Hóa gồm: Thuận, Hướng Lộc và A Xing. Thời gian qua, được sự phân công của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, Hạt Kiểm lâm huyện Hướng Hóa đã tham gia chỉ đạo người dân trồng rừng và triển khai nhiều hoạt động liên quan, trong đó có cấp phát gạo hỗ trợ cho hộ tham gia dự án.
Tuy nhiên, căn cứ theo Quyết định số 1395A/QĐ-UBND của UBND tỉnh, dự án đầu tư trồng rừng phòng hộ trên đất nương rẫy cho đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2011 - 2015 chỉ cấp kinh phí hỗ trợ gạo đến hết năm 2012, từ thời điểm này trở về sau người tham gia dự án không được cấp gạo nữa.
Sở dĩ người dân chưa hiểu ngọn ngành quy định này và có ý kiến phản ánh là do cán bộ kiểm lâm địa bàn chưa thông tin kịp thời, cụ thể cho bà con mặc dù đã nhận được sự phân công của lãnh đạo Hạt Kiểm lâm.
Ông Lê Văn Thành bày tỏ mong muốn người dân xã A Xing khắc phục khó khăn trước mắt và tích cực bảo vệ diện tích rừng trồng thay thế nương rẫy để sau này có cơ hội thu được lợi nhuận cao. Về phần mình, Hạt Kiểm lâm huyện sẽ tích cực tuyên truyền, vận động giúp người dân địa phương hiểu rõ hơn về chủ trương của dự án. (Báo Quảng Trị 6/10) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Giấc mơ chiếm ưu thế trong cuộc chiến chống săn giết lậu động vật hoang dã ở châu phi đang tiến gần đến hiện thực nhờ vào sự tiến bộ nhanh chóng trong công nghệ máy bay không người lái (UAV) hay drone.
Ol Pejeta Conservancy - khu bảo tồn đời sống hoang dã của Kenya bảo vệ các loài tê giác trắng và đen - đang hợp tác với Công ty công nghệ Airware (Mỹ), chuyên thiết kế sản xuất các hệ thống lái tự động cho drone để phục vụ công việc bảo vệ khoa bảo tồn.
Nhân viên kiểm lâm điều khiển máy bay không người lái (drone) bằng 2 laptop - một, hiển thị bản đồ đường bay của drone trên không trung và laptop thứ 2 thể hiện góc quan sát của drone qua camera độ phân giải cao.
Với sải cánh chưa đến 1 mét, drone bay được ở độ cao hơn 150 mét. Các camera ghi hình nhiệt giúp drone có thể bay trong đêm tối và cho phép nhân viên điều khiển phân biệt rõ ràng hình dáng của những con vật. Họ thậm chí có thể nhìn thấy thân mình đồ sộ của con voi thay đổi nhiệt độ khi nó dùng vòi hút nước.
Robert Breare, lãnh đạo chiến lược và đổi mới của Kenya Wildlife Service, cho biết những chiếc drone chỉ nhằm hỗ trợ - hơn là thay thế - chó nghiệp vụ và các đội kiểm lâm vũ trang sử dụng công nghệ định vị toàn cầu GPS.
Săn giết voi để lấy ngà và tê giác để lấy sừng là hoạt động kinh doanh tội phạm trị giá hàng triệu USD, với nhu cầu đặc biệt cao ở châu Á. Hoạt động phi pháp này đang đe dọa ngành du lịch  của các nước châu Phi.
Crawford Allan, người phát ngôn cho Dự án công nghệ chống tội phạm của Quỹ Quốc tế bảo tồn thiên nhiên hoang dã (WWF), báo cáo: "Công viên Quốc gia Kruger Nam Phi là vùng đất của bọn săn giết lậu. Trong khu vực luôn có mặt 12 băng nhóm tội phạm hoạt động. Nó giống như một vùng chiến sự".
Còn Breare cho biết: "Với 1kg sừng tê giác, bọn tội phạm bán được khoảng 60.000 USD, trong khi một mẫu hoàn hảo có thể có giá đến 250.000 USD. An ninh là phần ưu tiên hàng đầu trong ngân sách hoạt động của chúng tôi. Tuy nhiên, phần đông các chuyên gia nhận định, công nghệ drone chưa phải là giải pháp hoàn hảo nhất. Bởi vì, như Breare giải thích: "Drone không được vũ trang. Hơn nữa, việc phát hiện bóng dáng của một tên săn lậu trong công viên rộng lớn là điều hết sức khó khăn, cho dù có sử dụng camera ghi hình vào ban đêm".
Jonathan Downey, Giám đốc điều hành Airware, cũng thừa nhận việc phát triển một thân máy bay vừa nhẹ vừa đủ mạnh mẽ phù hợp với môi trường châu Phi vẫn còn là thách thức phía trước, nhất là khi giá thành là cả một vấn đề cho nhiều khu bảo tồn.
Trong khi "bộ não" của drone nặng chỉ 100g, bộ năng lượng để vận hành trong các sứ mạng giám sát kéo dài đòi hỏi nặng nề hơn, nghĩa là thân máy bay phải to hơn và do đó giá thành cũng đắt hơn nhiều. Những chiếc drone nhỏ, rẻ tiền hơn với bộ năng lượng sử dụng được trong 30 đến 90 phút, trong khi đó các khu bảo tồn "thực sự cần những chiếc drone có khả năng bay liên tục trong 6 đến 8 giờ", Breare cho biết.
Aerial Information Platform (bao gồm các hệ thống phân tích dữ liệu trên nền đám mây và lái tự động) của Aieware có giá từ 50.000 đến 70.000 USD khi xuất hiện trên thị trường vào cuối năm 2014 - theo quảng cáo của Jonathan Downey.
Những chiếc drone tầm xa kỹ thuật cao có thể có giá hơn 250.000 USD. Ngoài ra, còn cần phải phát triển phần mềm tự động dò các loài động vật khác nhau và đếm số lượng. Trên khu vực đồng bằng ở châu Phi vào giữa đêm đen, bọn săn trộm sẽ trở nên vô hình ở khoảng cách 100 mét. Do đó, những chiếc drone phóng bằng tay được trang bị hệ thống nhìn ban đêm sẽ trở nên hữu dụng - theo Scott Williams, người sáng lập và là Giám đốc Cơ quan Bảo vệ Khu bảo tồn (RPA), công ty tư vấn công nghệ phi lợi nhuận.
Nhưng khi bọn săn trộm được định vị, các nhân viên kiểm lâm cũng sẽ gặp nguy hiểm trong việc bắt giữ vì chúng được trang bị vũ khí đầy đủ. Khoảng 1.000 nhân viên kiểm lâm bị giết chết trong 10 năm qua khi cố gắng bảo vệ đời sống hoang dã. Do đó, RPA đang thử nghiệm tích hợp hàng loạt các công nghệ cho Khu bảo tồn Amakhala ở tỉnh Eastern Cape, Nam Phi.
Scott Williams cho biết: “Chúng tôi đã phát triển loại thẻ theo dõi tích hợp công nghệ xác định tần số vô tuyến (RFID) và gắn trên thân những con thú, nhân viên kiểm lâm, xe cộ, vũ khí và cây cối. Chúng tôi cho lập 3 tháp lớn để thu nhận tín hiệu từ các thẻ theo dõi và tạo ra một loại không gian mạng. Drone chỉ là một lớp của củ hành mà chưa phải là giải pháp toàn bộ".
Dự án công nghệ chống tội phạm của WWF cũng đang cố gắng sử dụng giải pháp công nghệ cho các khu bảo tồn đời sống hoang dã sau khi nhận được khoản tiền tài trợ 5 triệu USD từ người khổng lồ Google.
Crawford Allan, quan chức WWF, nói rõ: "Điều đầu tiên cần thiết trên mặt đất là đội ngũ nhân viên kiểm lâm được huấn luyện có bài bản, được trang bị tốt để phản ứng nhanh đối với dữ liệu thu được. Các hệ thống khác - như là gắn thẻ theo dõi động vật - được sử dụng kết hợp với công nghệ drone".
WWF, cũng như RPA, tin rằng sự liên kết mọi thiết bị cảm biến và camera trên không và trên mặt đất với mạng radio an toàn là yếu tố mấu chốt trong cuộc chiến chống tội phạm săn giết lậu động vật hoang dã. Cũng như việc phát hiện, săn lùng và răn đe những kẻ săn bắt lậu, những chiếc drone cũng đóng góp một vai trò bảo tồn quan trọng.
Scott Williams tin rằng những chiếc drone tầm xa được trang bị nhiều hệ thống cảm biến và camera sẽ có ích trong công tác giám sát, thu thập dữ liệu và kiểm soát các khu bảo tồn động và thực vật hoang dã. (Công An Nhân Dân 7/10) đầu trang(
Các nhân viên của Vườn quốc gia Tsavo ở Kenya đã kịp thời cứu một chú voi đực lớn thoát khỏi "lưỡi hái tử thần".
Chú voi trên đã bị những kẻ săn trộm bắn mũi tên độc vào chân. Chú voi đã tỏ ra rất đau đớn sau khi bị bắn vào chân.
Những nhân viên y tế đã được chở bằng trực thăng tới hiện trường để giải cứu chú voi. Sau khi được tiêm thuốc trị độc và một liều kháng sinh mạnh, chú voi đã qua cơn nguy kịch.
Nạn săn bắn voi đang trở nên ngày càng nghiêm trọng. Mỗi năm ở châu Phi có hàng vạn con voi bị giết. Lợi nhuận khổng lồ từ những cặp ngà voi là nguyên nhân chính khiến những kẻ săn trộm không từ mọi thủ đoạn để giết chết các con voi. (VietnamPlus 7/10) đầu trang(
Giới chức Costa Rica cho hay, Maciej Oskroba, 31 tuổi, người Đức vừa bị bắt giữ khi cố gắng buôn lậu hơn 400 con vật bò sát giấu trong các hộp nhựa đựng thức ăn. Đây được coi là vụ buôn lậu động vật hoang dã qua đường hàng không lớn nhất trong lịch sử nước này.
Qua hệ thống camera và máy quét tại sân bay, nhân viên an ninh đã phát hiện nghi vấn trong túi hành lý ký gửi của hành khách có tên là Maciej Oskroba, quốc tịch Đức. Tiến hành kiểm tra, an ninh sân bay đã phát hiện 184 con ếch, 42 con thằn lằn, 9 con rắn và 203 con nòng nọc đặt trong hộp nhựa dưới túi hành lý ký gửi đến châu Âu. Ngay lập tức, Maciej Oskroba bị bắt giữ.
Oskroba đang trên đường đến Panama trong lộ trình đến Dusseldorf, Đức. Cảnh sát nghi ngờ rằng, Oskroba có kế hoạch buôn bán các loài động vật bò sát và lưỡng cư. “Trong 20 năm làm việc tại sân bay, đây là trường hợp buôn bán động vật hoang dã lớn nhất mà chúng tôi được biết”, ông Carlos Viquez, Giám đốc an ninh sân bay quốc tế Costa Rica cho biết. “Chúng tôi đang nỗ lực để ngăn chặn việc buôn lậu động vật từ những cánh rừng nhiệt đới”.
Việc buôn bán các loài động vật bất hợp pháp từ lâu đã trở thành một vấn đề rất “nóng” ở Costa Rica. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, chỉ riêng trong năm 2013, chính quyền Costa Rica đã thu giữ 239 con chim, 82 con vật bò sát và động vật có vú từ 159 trạm kiểm soát ở khu vực biên giới và nhà riêng của những đối tượng nghi vấn.
Mặc dù từ năm 2012, luật pháp Costa Rica đã quy định buôn bán động vật là hành vi phạm tội và tăng hình phạt với hành vi này. Tuy nhiên, hình phạt nghiêm khắc hiếm khi được áp dụng. Theo quy định, Oskroba có thể phải đối mặt với hình phạt tiền hoặc phạt tù nhưng sau đó, các nhà chức trách quyết định trục xuất Oskroba về Đức.
Buôn bán động vật hoang dã được coi là lĩnh vực thương mại bất hợp pháp lớn thứ tư trên thế giới. Thị trường chợ đen buôn bán động vật bất hợp pháp rất sôi động. Theo ước tính của Liên hợp quốc, số tiền từ việc buôn bán bất hợp pháp này có giá dao động từ 7 tỷ USD đến 23 tỷ USD mỗi năm.
“Lợi nhuận là lý do khiến nạn buôn bán động vật hoang dã có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Costa Rica chỉ là một trong rất nhiều cửa ngõ buôn lậu động vật trên thế giới. Các loài động vật mà người nước ngoài buôn lậu rất đa dạng, có khi là cả chim ruồi và ếch mắt đỏ. Động vật quý hiếm như mèo rừng của Costa Rica bị bắt, buôn lậu và giết chết để lấy da. Năm ngoái, chúng tôi cũng phát hiện một người đàn ông cố gắng giấu một số con chim ruồi trong thùng gỗ”.
Theo ông Rafael Gutierrez, một quan chức của cơ quan bảo tồn thiên nhiên Costa Rica (SINAC) thì động vật ở vùng nhiệt đới có thể bán được với giá cao ở thị trường nước ngoài. “Một số loài rắn và ếch có thể được đẩy giá lên đến 1.500 USD/con ở châu Âu”, ông Gutierrez nói. “Bộ sưu tập” của Oskroba có thể đáng giá nhiều ngàn USD tại châu Âu - nơi mà các cửa hàng bán vật nuôi luôn có những lời quảng cáo rất ấn tượng trên website của mình. Một chú ếch nhỏ cũng có thể bán với giá 50 USD”.
Chuyên gia các Trung tâm bảo vệ thiên nhiên cho biết, sau phá hủy môi trường sống, buôn bán động vật là mối đe dọa lớn thứ hai dẫn đến sự tuyệt chủng của nhiều loại động vật. “Buôn bán động vật là cơn ác mộng đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học”, một chuyên gia của Liên hợp quốc nhận định.
Một thực trạng cũng rất đáng báo động là ý thức của người dân với việc bảo tồn đa dạng sinh học. Nhiều người thả vào tự nhiên những vật nuôi không rõ nguồn gốc và chính trong môi trường tự nhiên, vật nuôi đã tấn công các loài động vật bản địa.
“Chúng tôi thường xuyên thấy mọi người đưa các động vật lạ từ bãi biển hoặc rừng về nhà nuôi như thú cưng. Khi những con vật bị bệnh, nhiều người mang chúng đến trung tâm bảo tồn thiên nhiên nhưng đôi khi họ bỏ chúng tại một nơi  nào đó trong thành phố. Không được chăm sóc và chữa trị kịp thời, nhiều động vật quý hiếm đã chết. Chính điều này cũng ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến việc bảo tồn đa dạng sinh học”, ông Carlos Gomez nói. (An Ninh Thủ Đô 5/10, tr18) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng