|
Ngày 06 tháng 10 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Ông K.L. ở tỉnh Đắk Lắk tự bỏ tiền sắm thiết bị ghi lại hình ảnh phá rừng, khai thác gỗ lậu để gửi đến các cơ quan chức năng và báo chí. Từ những chứng cứ ông K.L. thu được, nhiều vụ phá rừng, khai thác gỗ lậu được phanh phui.
Giữa rừng. Tiếng máy cưa vang khi rè rè, lúc chát chúa. Lần theo đường mòn trong rừng đến tiếng máy cưa thì thấy ba người đàn ông lê cưa hạ những cây gỗ to bằng hai người ôm.
Những thân cây cao ngút ngã xuống, “thợ cưa” cắt cành, để lại những thân cây dài ngoằng nằm giữa rừng. Ngay sau đó, chiếc máy cày chạy đến cột chiếc xích to bằng cánh tay vào khúc gỗ kéo đi.
“Mấy cây vừa hạ xuống có phong lan không chú?” - một người đàn ông bước tới hỏi những người vừa hạ cây. “Có phong lan tôi tìm mấy cái về treo cho đẹp”. Nói rồi, người đàn ông đi xung quanh những cây gỗ bị hạ để “tìm phong lan”.
Và trong clip của “người tìm phong lan” quay lại những khoảng rừng bị phá, những gốc cây bị máy cưa cắt ngang, tiếng máy cưa cắt cây, cảnh xe máy cày kéo gỗ...Clip hiện thời gian quay là ngày 21-3-2014.
“Những đoạn clip quay được tôi đều gửi cho các báo đài để làm tư liệu. Ngoài ra, tôi cũng cung cấp cho các cơ quan chức năng để xử lý nạn phá rừng” - ông L. nói.
Từ những chứng cứ ông L. cung cấp đầu năm 2014, cơ quan chức năng đã xử lý hình sự hành vi nhận 10 triệu đồng hối lộ của đối tượng chở gỗ trái phép đối với một xã đội phó.
Trong những vụ ông K.L. quay cảnh khai thác gỗ lậu, có thể nói “ngoạn mục” nhất là câu chuyện mới đây về cây gỗ cà te thuộc nhóm gỗ quý hiếm.
19-9, người dân báo với ông K.L. có một cây cà te (thuộc nhóm 2a) bị hạ trong rừng. “Lập tức tôi có mặt tại hiện trường” - ông K.L. kể lại.
Tuy nhiên, khi ông đến thì nhóm người cưa gỗ đã trốn khỏi hiện trường, mang theo ba khúc gỗ quý. Sáng hôm sau, ông K.L. báo cho lực lượng kiểm lâm và công an kinh tế đến làm rõ sự việc. Công an thu gom gỗ tang vật (gần 4m3) bàn giao cho hạt kiểm lâm huyện.
Quyết định tìm manh mối nhóm người cắt hạ cây gỗ trên, nhiều ngày theo dõi, ông K.L. phát hiện chiếc xe tải chở ba lóng gỗ. Âm thầm bấm máy ghi hình, ông hỏi tài xế và tài xế thừa nhận có chở ba lóng gỗ cà te về TP Buôn Ma Thuột.
Dựa vào lời kể của tài xế, sau nhiều ngày phân tích thông tin, trưa 30-9 ông K.L. phát hiện số gỗ này nằm tại một ngôi nhà trên đường Nguyễn Trung Trực, TP Buôn Ma Thuột.
Đóng vai người mua gỗ, ông K.L. vào xem thấy đúng số gỗ bị tẩu tán trước đó bèn báo cho kiểm lâm TP Buôn Ma Thuột lập biên bản, thu giữ ba lóng gỗ quý.
Chiều 1-10, ông Y Ngọc - hạt trưởng Hạt kiểm lâm TP Buôn Ma Thuột - cho biết đang xác minh chủ của ba lóng gỗ quý hiếm nói trên và làm rõ vụ việc... Tất cả sự việc từ khi hạ cây gỗ, trao đổi với tài xế, đóng vai người đi mua gỗ, kiểm lâm vào thu giữ gỗ, lập biên bản..., ông K.L. đều ghi hình và trao cho cơ quan chức năng.
Để phục vụ “công việc”, ông K.L. bỏ ra gần 20 triệu đồng mua các thiết bị ghi âm, ghi hình bí mật để thu thập chứng cứ. Tiếp đó, ông tìm số điện thoại của các cán bộ trong cơ quan chức năng các tỉnh, huyện để báo tin khi cần thiết. (Tuổi Trẻ 6/10) đầu trang(
Ngành chức năng tỉnh Ninh Thuận đang mở chiến dịch quy mô lớn để triệt phá "đội quân" xe máy độ chế để chở gỗ lậu trên địa bàn hai huyện miền núi Ninh Sơn và Bác Ái.
Liên tục trong thời gian qua, trên các tuyến đường liên thôn và quốc lộ (QL) 27, 27B, đoạn qua địa bàn các xã Ma Nới, Hòa Sơn, Quảng Sơn, Lương Sơn và thị trấn Tân Sơn, H.Ninh Sơn (Ninh Thuận) thường xuyên xuất hiện những tốp xe máy chở gỗ lậu gây kinh hoàng cho người đi đường. Những hung thần này phóng bạt mạng, chở những súc gỗ dài 2 - 3 m, chiếm hết lòng đường, sẵn sàng tông chết bất cứ ai cản đường.
Có mặt ở 3 khu vực được xem là điểm nóng vận chuyển gỗ thường xuyên ra vào, PV tận mắt chứng kiến sự nghênh ngang của những người này.
Khuya 4.10, tại khu vực ngã ba Ninh Bình, thị trấn Tân Sơn (giao nhau giữa QL 27 và QL 27B), từng chiếc xe máy chở gỗ băng qua ngã ba, chạy về QL 27 theo hướng Lâm Đồng - Ninh Thuận. Người điều khiển xe máy không hề đội mũ bảo hiểm, phía sau mỗi xe chở từ 1 - 2 phách gỗ hộp nằm ngang, chạy vun vút vượt qua người đi đường trong đêm tối. Trên đường số 6 đoạn qua địa bàn xã Hòa Sơn và QL 27 đoạn qua xã Quảng Sơn, cũng cùng một kịch bản tương tự.
Xe máy chở gỗ đều qua “độ” nên phân khối lớn, sườn xe được hàn thêm nhiều thanh sắt và 4 phuộc nhún ở phía sau, nâng lên tổng cộng 6 phuộc nhún để chịu lực. Mỗi xe có thể vận chuyển từ 0,3 m3 đến 1 m3 gỗ, chạy với tốc độ trên 60 km/giờ. Người dân địa phương gọi phương tiện này là “hung thần” vì thường xuyên gây tai nạn giao thông cho người đi đường.
Ông L.V.T, ở thôn Tân Lập 2, xã Lương Sơn, H.Ninh Sơn, cho biết thường đi bộ tập thể dục vào buổi sáng sớm và chứng kiến xe máy độ chất đầy gỗ dài phía sau, chiếm gần hết lòng đường, lưu thông trên QL 27B đoạn từ H.Bác Ái về H.Ninh Sơn. Nhiều xe có cả “phụ lơ” ngồi trên phách gỗ để canh đường. Khi phát hiện cơ quan chức năng, chúng thường chạy vào những con đường tắt để tẩu thoát.
Ông Nguyễn Văn Phương (56 tuổi, ngụ thị trấn Tân Sơn) đau đớn kể lại vụ tai nạn do bọn “hung thần” gây ra, làm con ông là Nguyễn Xuân Đông (26 tuổi) tử vong: “Khoảng 20 giờ ngày 8.12.2013, Đông đi xe máy lưu thông trên QL 27B, đến gần phía đối diện Hạt Kiểm lâm Ninh Sơn, thì bị phách gỗ dài phía sau xe của một lâm tặc va vào người; Đông ngã xuống đường, tử vong tại chỗ. Bọn lâm tặc này có khác gì bọn sát nhân. Cơ quan chức năng cần có biện pháp mạnh tay không để bọn chúng lộng hành”.
Ông Nguyễn Thành Huân, tài xế xe chạy tuyến Ninh Thuận - Đà Lạt, biết rõ đoạn đường đi qua khu vực từ xã Quảng Sơn đến thị trấn Tân Sơn thường có xe máy chở gỗ chạy tốc độ cao. Tuy đã đề phòng nhưng vào khoảng 3 giờ ngày 20.10.2013, khi đến ngã ba Ninh Bình thì xe khách của ông Huân bị xe máy chở gỗ lao vun vút vào đầu xe, khiến ông không kịp trở tay. Chỉ trong chốc lát có khoảng 10 người chạy đến tẩu tán tang vật và hùa vào đánh ông Huân một trận nhừ tử.
Không những xe máy “độ” lộng hành ở QL đoạn đi qua địa bàn xã Quảng Sơn và thị trấn Tân Sơn, mà ngay trên các tuyến đường liên thôn ở các xã trên vẫn rầm rộ không kém. Mỗi khi nghe tiếng máy gầm rú từ xa, người đi đường phải tấp vào lề hoặc nhảy xuống ruộng để tránh. Người dân địa phương cho biết, nhiều lần phản ảnh lên các cơ quan chức năng về tình trạng bất an này nhưng đến nay vẫn không thuyên giảm.
Theo ông Phùng Trí Thành, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Ninh Sơn, các đối tượng vận chuyển gỗ bằng xe máy rất liều lĩnh, sẵn sàng chống người thi hành công vụ. Khi phát hiện, lực lượng kiểm lâm không thể rượt đuổi vì sợ gây tai nạn cho người đi đường. “Ở ngay đối diện của đơn vị cũng xảy ra 2 vụ tai nạn giao thông do lâm tặc dùng xe máy chở gỗ phóng nhanh trong đêm tối”, ông Thành nói.
Thượng úy Phạm Văn Thao, Phó đội trưởng Đội Cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động - Công an H.Ninh Sơn, cho biết hầu hết loại xe máy của người chở gỗ lậu không có giấy tờ, rất khó quản lý. Đội thường xuyên tổ chức tuần tra, phát hiện nhưng đối tượng không thực hiện hiệu lệnh dừng xe mà phóng chạy bạt mạng.
Ông Trịnh Minh Hoàng, Phó giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Ninh Thuận, kiêm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, nhìn nhận tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ lậu bằng xe máy xảy ra thường xuyên trên khu vực hai huyện miền núi Ninh Sơn và Bác Ái thuộc lâm phần của hai Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Ninh Sơn và Tân Tiến quản lý.
Theo ông Hoàng, do địa hình rộng, hệ thống giao thông đi lại phức tạp, trong khi đó lực lượng truy quét có hạn nên chưa thể ngăn chặn triệt để hành vi lén lút khai thác, vận chuyển gỗ trái phép. “Ngoài lực lượng kiểm lâm, chúng tôi đang phối hợp với lực lượng công an, quân đội thành lập tổ truy quét cơ động, truy bắt triệt để các loại xe máy của lâm tặc ra vào cửa rừng”, ông Hoàng cho biết.
Theo ông Trịnh Minh Hoàng, ngoài nguyên nhân khách quan, như lực lượng quản lý rừng mỏng; phương tiện trang thiết bị còn thiếu; chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng bảo vệ rừng chưa rõ ràng... còn do một số bộ phận cán bộ, viên chức của đơn vị giữ rừng có dấu hiệu tiêu cực, cấu kết, móc ngoặc hoặc quen mặt làm ngơ nên hiệu quả truy quét, chống phá rừng không cao.
Để chấn chỉnh tình trạng này, từ đầu tháng 7 đến nay, đơn vị tổ chức 278 đợt truy quét ngay tại cửa rừng, bắt giữ 116 xe máy độ chở gỗ lậu, thu giữ 21 máy cưa gỗ cầm tay, 2 khẩu súng tự chế và hơn 20 m3 gỗ các loại. (Thanh Niên 6/10) đầu trang(
Hàng chục ha rừng phòng hộ bị chặt phá. Hàng trăm hộ dân ven biển xã Kỳ Phương (Kỳ Anh, Hà Tĩnh) đã cố gắng để ngăn cản việc chặt phá rừng phi lao hàng trăm năm tuổi. Nhưng rút cuộc, bãi phi lao xanh ngút ngàn vẫn bị chặt trắng.
Chẳng biết từ bao giờ, Hà Tĩnh rộ lên phong trào nuôi tôm trên cát. Người người, nhà nhà thi nhau đổ tiền vào đầu tư vào nuôi tôm. Người ta đồn thổi: tôm có thể giúp ngư dân nơi đây thoát nghèo.
Vậy là, viễn cảnh một ngày không xa, người dân khúc ruột miền Trung khắc nghiệt với đặc sản là mưa bão sẽ đổi đời. Ai cũng mong vào điều đó, dù biết rằng, trước đây, con tôm đã từng khiến nhiều gia đình tán gia bại sản.
Bởi cách đây hơn chục năm, khoảng tầm năm 2000, đã từng có một dự án nuôi tôm bị phá sản. Ngày đó, tỉnh Hà Tĩnh đã huy động tất cả trí lực, vật lực để thực hiện cho “cuộc cách mạng” trong nông nghiệp này.
Hơn 90 ha đất nông nghiệp, trong đó có cả đất 2 lúa ở xã Kỳ Nam bị thu hồi để thực hiện cho dự án nuôi tôm Việt – Anh.
Ban đầu người dân Kỳ Nam không đồng tình với dự án này vì họ buộc phải giao hết ruộng cho dự án, đồng thời phải góp vào cùng Nhà nước 9 tỉ đồng (trong dự toán 18 tỉ đồng) để thực hiện dự án.
Thế nhưng, Kỳ Nam vốn là xã nghèo nhất tỉnh với 70% hộ thuộc diện nghèo thì dân lấy đâu số tiền lớn như thế để góp vốn cùng Nhà nước ?
Sau đó, một giải pháp khả thi được thực hiện là cho Công ty tư vấn Việt Anh đầu tư làm, với số vốn dự toán đến 33 tỉ đồng, thời hạn thuê đất 13 năm. Công ty này sẽ đền bù 54% giá trị sản lượng thóc thu được trên diện tích dự án cho nông dân vào thời điểm tháng sáu hằng năm (với thỏa thuận 220kg thóc/sào (500m2/mùa), còn lại 46% do dân phải chịu vì đó là chi phí mà người dân đằng nào cũng phải bỏ ra cho gieo trồng lúa hằng năm.
Đồng thời, 150 nông dân sẽ được Công ty Việt Anh nhận vào làm công nhân nuôi tôm. Mặc dù tiền đền bù như thế không bằng tiền thu được từ trồng lúa, nhưng người dân nơi đây vẫn còn hi vọng vào tương lai không xa.
Thế là từ năm 2001, 400 hộ nông dân (chiếm 80% số hộ) trong xã hăng hái giao hẳn 90ha ruộng (trong gần 200ha ruộng toàn xã) cho dự án nuôi tôm công nghiệp Kỳ Nam. Họ mong muốn được đổi đời qua dự án này.
Rút cuộc, dự án này bị phá sản hoàn toàn như nhiều dự án từng triển khai rầm rộ ở Hà Tĩnh giai đoạn đó. Hàng chục ha đất 2 lúa bị thu hồi để thực hiện cho siêu dự án này bị nhiễm mặn, không thể tiếp tục sản xuất, đất đai bỏ hoang từ khi dự án phá sản đến nay. Người dân thấy đất hoang hóa mà xót xa, cay đắng. Nhưng đó là chuyện đã rồi của hơn chục năm về trước!
Còn chuyện mới đây, Hà Tĩnh lại triển khai một dự án nuôi tôm với quy mô đồ sộ hơn nhiều. Tổng diện tích để thực hiện dự án này lên đến 158 ha (40ha ở thôn Ba Đồng, xã Kỳ Phương và 114ha ở xã Kỳ Nam); đơn vị triển khai dự án là công ty TNHH Grobest.
Để thực hiện dự án này, doanh nghiệp đã tiến hành chặt phá hàng chục ha rừng phi lao phòng hộ ven biển có tuổi đời hàng chục năm. Những hàng phi lao qua nắng, qua mưa, ưỡn tấm thân già cỗi để che chắn cho người dân những ngày mưa bão bị đốn hạ. Chỉ trong phút chốc, bãi phi lao ngút ngàn bị chặt trắng.
Người dân nơi đây kể rằng, mới sáng sớm, đã thấy máy móc ầm ầm kéo đến. Chưa hiểu đầu đuôi thế nào bởi chưa từng nghe đến việc tỉnh sẽ đồng ý chặt phá toàn bộ rừng phòng hộ thì đã thấy mấy gã lực lưỡng, lê lưỡi cưa sáng loáng đến bên từng gốc phi lao già nua.
Tiếng lưỡi cưa rít lên từng đợt. Những gốc phi lao cổ thụ đổ rạp xuống. Dân xót, lê lết chạy đến bên những gốc cây chưa bị đốn hạ. Có cụ già còn chạy đến, ôm lấy thân cây, mặc cho lưỡi cưa sáng loáng xèn xẹt kế bên.
Cũng đúng, với người dân nơi đây, rừng phi lao hàng trăm năm tuổi chính là lá chắn để bảo vệ tính mạng cho họ những ngày mưa bão. Những ngày bão nổi, những gốc phi lao xù xì đã chở che cho dân làng. Sau bão, rừng phi lao xác xơ. Có cây gãy ngang, nhựa ứa ra vón cục màu hồng như máu.
77 tuổi, chồng mất, cụ Hoàng Thị Quèn sống với 3 người con. Cụ bảo rằng, nhà cụ trước ở trong khu vực khu kinh tế Vũng Áng. Sau khi đất đai bị thu hồi để thực hiện cho dự án Fomusa, cụ được phân một lô đất ở thôn Ba Đồng.
Số tiền đền bù dù ít ỏi, nhưng cụ vẫn cố xây một căn nhà cấp 4 nho nhỏ để chui ra chui vào. Trong vườn, cụ trồng một ít hành tăm, để đến mùa mang ra chợ bán.
Mảnh đất của cụ, chỉ cách bãi biển hơn trăm mét. Trước mắt là dãy phi lao um tùm. Thế rồi một sáng, người ta đến chặt sạch. Bãi phi lao đổ rạp xuống. Cả một khu rừng phi lao trơ lại gốc.
Cụ Quèn kể rằng, từ lúc cụ được sinh ra, đã thấy rừng phi lao này rồi. Người dân nơi đây, chẳng ai bảo ai, mỗi năm lại tổ chức trồng thêm cây mới. Một phần để thay thế những cây bị gió bão quật ngã, một phần để phủ trống đồi.
Ngày qua ngày, năm qua năm, rừng phi lao cứ thế, âm thầm bảo vệ đời sống cho bà con. Quý cây như mạng sống, dân cử hẳn một đội ra để canh giữ những gốc phi lao như bảo vệ một lá bùa hộ mệnh.
Dẫn PV ra bãi đất trước kia là rừng phi lao, chị Hoàng Thị Anh – một người dân thôn Ba Đồng buồn bã: “Mấy hôm nay, gió lớn, cát bay ràn rạt vào nhà. Mâm cơm dọn sẵn, chưa kịp ăn đã đầy cát. Ngày mai, chẳng biết sẽ ra sao nữa”.
PV dõi theo cánh tay mà chị Anh chỉ, phía đó, những chiếc máy xúc vẫn lầm lũi đào những cái hồ sâu hoắm; kế bên nữa là những hồ nuôi tôm sắp vào vụ thu hoạch. Chỗ đó, trước là bãi phi lao tít tắp.
Bí thư chị bộ thôn Ba Đồng – Lê Mạnh Hà thở hắt: “Họ muốn chặt là chặt, muốn phá là phá, chẳng thông báo gì cho dân biết cả. Dân ở đây, toàn là dân tái định cư. Sở dĩ chúng tôi chọn chỗ này là vì mùa mưa bão còn có rừng phi lao chắn gió. Giờ chặt hết rồi, mùa mưa bão sắp tới, dân biết sống ra sao".
Chẳng ai có thể trả lời cụ Quèn, chị Anh; cũng chẳng ai có thể trả lời được câu hỏi của Bí thư thôn Ba Đồng. Chỉ biết, mùa mưa bão đang đến gần. Người dân nơi cái doi đất này lại phải gồng mình để chống chọi với cơn cuồng nộ của thiên nhiên. Chẳng ai biết, sinh mạng của họ thế nào trong những ngày bão nổi. (VietnamNet 6/10) đầu trang(
Khu vực rừng đầu nguồn xã Duy Sơn (Duy Xuyên) gần đây luôn tái diễn tình trạng đốt rừng để trồng rừng và trở thành “lãnh địa nóng”, không thể “làm nguội” được trong một sớm một chiều...
Mặc bộ đồ bạc màu, tay cầm rựa, theo sau người thợ sơn tràng, PV bí mật thâm nhập rừng đầu nguồn Duy Sơn nhằm tìm hiểu về tình trạng phá rừng nơi đây. Từ đầu dốc Động Bông vào bìa rừng Đồng Lớn, Hố Lội là đồi keo hơn một năm tuổi và các loại cây khác vừa tái sinh.
Tiến sâu vào rừng, thấy ngổn ngang cây gỗ với đường kính 20 - 50cm bị chặt ngang đốt cháy sém. Anh C. - một người dân địa phương biết rõ chủ nhân của từng khoảnh rừng; thậm chí anh còn biết danh tính các cán bộ xã có rừng ở đây.
Theo anh C. mấy năm nay vì tranh giành đất rừng, giữa cán bộ xã và người dân có rừng ở Đồng Lớn thường xảy ra xung đột về lợi ích. Phần lớn diện tích “đất rừng khủng” ở Đồng Lớn đều đã được thiết kế trồng rừng theo các chương trình PAM 1780, 4304, dự án JBIC trước đây và sau này là 661.
Tuy nhiên, rừng trồng với chức năng phòng hộ kém hiệu quả, triển khai tràn lan, trong khi khâu kiểm tra, quản lý rất lỏng lẻo nên người dân, kể cả một số cán bộ đã lợi dụng lấn chiếm trồng rừng. “Những khoảnh rừng hỗn giao giữa cây sao đen và keo, nhiều người không thương tiếc lén lút đốt trắng để phi tang hiện trường. Dọn thực bì xong, đến mùa họ lên canh tác. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp dân trồng cây dưới tán rừng đã bị chính quyền phá nhổ ngay” - anh C. tiết lộ.
Từ năm 2004, thông qua nguồn vốn vay của Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (dự án JBIC) địa phương đã trồng hơn 600ha tại khu vực rừng đầu nguồn Duy Sơn. Trong đó, tại khu vực Đá An trồng xen kẽ giữa cây sao đen và keo hơn 196ha; còn lại là trồng mỗi loại sao đen.
Trước đây, theo thiết kế, người dân trồng 2 hàng cây keo phải xen vào 1 hàng sao đen. Khi khai thác, người trồng chỉ được hưởng phần cây keo, tuyệt đối giữ lại rừng sao đen làm “lá chắn” phòng hộ. Thế nhưng, tại Đồng Lớn, rừng sao đen đã bị xóa sổ nhiều năm nay, chỉ còn mọc rải rác.
Những quả đồi bát úp với trùng điệp rừng cây tự nhiên giờ đã bị thay thế bằng những cây keo với mật độ dày đặc. Để chiếm đất sản xuất một cách nhanh nhất, nhiều đối tượng táo bạo đốt trắng rừng, vì vậy mà nhiều vạt rừng phủ xanh bỗng chốc cháy đen.
Nhiều trường hợp lén lút đốt rừng, nhưng cũng có nhóm hộ liều lĩnh công khai hủy hoại luôn cả rừng dự án JBIC. Điển hình tháng 9 vừa qua, lực lượng chức năng và chính quyền địa phương đã phát hiện nhóm hộ bà Lương Thị Mỹ (thôn Kiệu Châu, xã Duy Sơn) đã tự ý xử lý thực bì và đốt cháy toàn bộ 15,9ha cây bản địa và rừng phòng hộ. Vụ việc này đang được các ngành chức năng vào cuộc xử lý.
Rừng đầu nguồn xã Duy Sơn thuộc địa phận thôn Chánh Lộc trước đây có nhiều dự án phủ xanh đất trống đồi trọc. Riêng tại khu vực Đồng Lớn, chủ rừng gồm Cơ quan Quân sự huyện Duy Xuyên, Văn phòng UBND huyện, Văn phòng Huyện ủy Duy Xuyên và người dân địa phương.
Gần đây, lượng đơn thư, khiếu nại lên chính quyền chất chồng từ việc tranh chấp đất rừng. Phức tạp đến nỗi nhiều vụ phải đưa ra tòa phân xử. Điều đáng nói, chính quyền địa phương buông lỏng công tác quản lý nên nơi đây đã trở thành “điểm nóng” lấn chiếm đất rừng dai dẳng.
Người dân có nhu cầu về đất trồng rừng, trong khi nhiều cán bộ huyện, xã có đất rừng được giao lại không canh tác thường xuyên, quản lý không chặt. Hậu quả là, người dân lợi dụng lấn chiếm. Mặt khác, dự án trồng rừng kém hiệu quả nên tạo điều kiện cho nhiều người đứng ra trồng rừng, trong đó có nhiều cán bộ địa phương. Tại nhiều vạt rừng Đồng Lớn, Hố Lội, nhiều cán bộ xã có rừng.
Theo nguồn tin của PV, phần lớn cán bộ sở hữu đất rừng đều không dám ra mặt, chỉ để cho người thân trực tiếp tham gia với tư cách hợp pháp. Chẳng hạn như đất rừng của vợ ông Trần Văn Khiêm (nguyên Bí thư Đảng ủy xã Duy Sơn, nguyên Phó Chủ tịch Hội Nông dân huyện Duy Xuyên, nay đã nghỉ hưu), người thân của Trưởng Công an xã, Phó Trưởng Công an xã…
Chỉ có Bí thư Đảng ủy xã Trần Văn Đồng là danh chính ngôn thuận sở hữu 12ha rừng tham gia trồng từ năm 1996. Thấy cán bộ thuê người vào phát rừng, lần lượt sở hữu những “miếng rừng ngon”, người dân cũng làm theo, hễ có cơ hội là tranh thủ phát trồng rừng trái phép.
Nhiều người dân bức xúc cho rằng, chính quyền sở tại đã “phân biệt đối xử” khi cấp bìa đỏ, tại các lô đất trồng rừng liền kề, có hộ, nhóm hộ được cấp bìa đỏ, nhưng cũng không ít trường hợp bị từ chối.
Theo cán bộ địa chính xã, đến nay địa phương cấp 627 bìa đỏ cho 433 hộ có đất sản xuất lâm nghiệp theo tỷ lệ bản đồ 1/10.000. Bí thư Đảng ủy xã Duy Sơn Trần Văn Đồng giải thích rằng, đất rừng ở đầu dốc Động Bông vào Đồng Lớn đều không xét cấp bìa đỏ được do nằm ở khu vực đầu nguồn.
Trước đây, có một đơn vị đến đo đạc, kiểm tra từng hộ có đất trồng rừng cụ thể nhưng khi tỉnh chủ trương rà soát 3 loại rừng nên khu vực đầu nguồn đã không cấp bìa đỏ được. Nhưng người dân thì cho rằng, đất đã được cán bộ đến đo đạc nên ngộ nhận là… của mình.
Ông Đồng cũng thừa nhận cán bộ địa phương có phát đất trồng rừng, nhưng chỉ là rừng phân tán. “Tình trạng người dân lấn đất trồng rừng vô cùng phức tạp, địa phương rất lúng túng giải quyết. Cả xã có hơn 5.000ha đất rừng nhưng chỉ bố trí 2 cán bộ lâm nghiệp và phòng cháy chữa cháy rừng, quản sao nổi” - ông Đồng nói. Còn ông Phạm Đắc Hùng - cán bộ lâm nghiệp xã lắc đầu: “Chúng tôi bất lực trước nạn xâm lấn đất rừng trái phép. Khu vực Đồng Lớn, cả cán bộ và người dân đều trồng rừng. Tranh chấp, kiện tụng liên quan đến rừng cứ kéo dài liên miên”.
Nếu các cơ quan chức năng của huyện Duy Xuyên và chính quyền xã Duy Sơn không có biện pháp quyết liệt, thì những cánh rừng phòng hộ đầu nguồn sẽ bị tàn phá càng nghiêm trọng hơn. (Báo Quảng Nam 3/10) đầu trang(
Có trên 150.000ha rừng tự nhiên, với trữ lượng gỗ khoảng 11 triệu m3. Với quan điểm phải giữ rừng bằng mọi cách, do đó, cách đây 3 tháng, tỉnh Ninh Thuận đã quyết định thành lập các tổ liên ngành gồm 5 lực lượng để làm công tác tuần tra, kiểm soát, chốt chặn 24/24 ở những vùng được xác định là trọng điểm của nạn phá rừng.
Kết quả, sau 3 tháng thực hiện các tổ liên ngành ở Ninh Thuận đã không chỉ đẩy lùi được tình trạng khai thác lâm sản trái phép vốn đã nóng từ lâu nay mà đây còn được xem là mô hình giữ rừng mang tính bền vững trước việc Chính Phủ chỉ đạo thực hiện đóng cửa rừng từ năm 2014. Ghi nhận của phóng viên thời sự.
Chốt chặn được đặt ngay sát cửa rừng, nơi chỉ duy nhất có một con đường lưu thông được bằng xe máy và xe cơ giới. Mỗi chốt chặn luôn được bố trí 10 người canh giữ 24/24 giờ, trong đó gồm lực lượng Kiểm lâm, Quân sự, Cán bộ quản lý bảo vệ rừng của Công ty lâm nghiệp cùng 2 bộ phận của lực lượng công an là cảnh sát giao thông và cảnh sát cơ động hình sự được trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ đủ mạnh để giữ rừng.
Bất kể là ai, bất kể là loại phương tiện nào khi vào hay ra khỏi rừng qua trạm kiểm soát này đều được kiểm tra một cách chặt chẽ. Những chiếc xe mô tô dù không chuyên chở lâm sản trái phép nhưng là xe độ chế cũng sẽ bị thu giữ.
Ông Lê Quang Dụng, Giám đốc Công ty TNHH – MTV lâm nghiệp Ninh Sơn, Ninh Thuận cho biết, “cái lực lượng này vừa được trang bị vũ khí vừa trang bị công cụ hỗ trợ rất là mạnh do đó cái lực lượng này đã ngăn chặn gần như triệt để cái xe độ chế mà trước đây lực lượng của đơn vị không làm được cái vấn đề này”.
Trên cơ sở quản lý chặt địa bàn kết hợp thường xuyên tuần tra, truy quét, kết quả sau 3 tháng hoạt động, 3 tổ quản lý bảo vệ rừng liên ngành được đặt tại xã Ma Nới của huyện Ninh Sơn và xã Phước Hòa của huyện Bác Ái đã phát hiện, bắt giữ 140 vụ khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, thu giữ hơn 22m3 gỗ từ nhóm 1 đến nhóm 7; 21 cưa xăng, 116 xe mô tô độ chế. Qua đó, từng bước ngăn chặn tận gốc tình trạng phá rừng, được người dân cùng chính quyền địa phương hết sức ủng hộ.
Ông Pi Năng Banh, Xã Ma Mới, huyện Ninh Sơn, Ninh Thuận cho biết, “trước đây chưa có trạm nó phá rừng ồ ạt, cây Căm Liên rồi cây Căm Se rồi đủ thứ, khi mà trạm ở đây bây giờ là giảm hết rồi, nó phát huy chỗ đó, tôi cũng mong muốn chỗ đó, phát huy chỗ đó.
Ông Nghiêm Văn Vinh, Chủ tịch UBND xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, Ninh Thuận cho biết, “việc khai thác vận chuyển gỗ trái phép đi qua địa bàn của xã phải nói giảm rất là đáng kể, gần 98%, số còn lại rải rác phía ngoài thì rất ít, cái việc đó thì góp phần cho địa phương bớt cái nhọc nhằn trong công tác quản lý bảo vệ rừng”.
Theo quy chế, các tổ liên ngành quản lý bảo vệ rừng ở Ninh Thuận hoạt động theo hình thức luân phiên, thay thế lực lượng 1 tuần một lần đối với công an, quân sự; 1 tháng và 3 tháng đối với lực lượng kiểm lâm và cán bộ Công ty lâm nghiệp.
Về cơ chế tài chính, tỉnh Ninh Thuận đã cho phép các Công ty lâm nghiệp tự hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh từ nguồn xử phạt, bán lâm sản cùng phương tiện tịch thu được để hỗ trợ ngoài lương 120.000 đồng/ người/ ngày cho lực lượng liên ngành, thay cho nguồn ngân sách nhà nước.
Cách làm này, không chỉ giúp người trực tiếp tham gia giữ rừng an tâm đối với công việc của mình mà còn là cơ sở để phòng ngừa hiện tượng tiêu cực trong công tác quản lý bảo vệ rừng.
Giải quyết được vấn đề chế độ cho người làm nhiệm vụ giữ rừng, nhất là sự phối hợp giữa các lực lượng, cũng có nghĩa mô hình giữ rừng 5 trong 1 tại Ninh Thuận đã giải quyết được cái khó của thông tư liên tịch 01 giữa Bộ công an và Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn quy định về trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách.
Ông Trịnh Minh Hoàng, Phó giám đốc Sở NN – PTNT , Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Ninh Thuận cho biết, “đối với thông tư hướng dẫn hiện nay là cái lực lượng làm công tác quản lý bảo vệ rừng của các lâm trường, ban quản lý rừng không còn cho sử dụng công cụ hỗ trợ, cho lên cái việc thành lập 3 tổ liên ngành, có lực lượng công an, quân đội thì hết sức cần thiết để đảm bảo cái lực lượng đủ mạnh, đủ năng lực để khống chế và chấn áp các đối tượng phá rừng và khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép vì đối với các đối tượng này là cái việc chống trả và chống người thi hành công vụ hết sức phức tạp”.
Từ mô hình giữ rừng 5 trong 1 ở Ninh Thuận cho thấy: giữ rừng không phải là chuyện không làm được, chỉ cần có sự quyết tâm và chung sức của các ngành, sự đầu tư tập trung, có trọng điểm.
Mấy tháng nay, những chiếc xe độ chế chở gỗ qua làng đã không còn lộng hành như trước. Cuộc sống người dân các khu làng ven rừng đã bình yên hơn. Sự bình yên đó đến từ những cánh rừng đang được canh giữ ngày đêm. (VTV9 3/10) đầu trang(
Từng là địa bàn nóng về tình trạng cháy rừng, phá rừng làm nương và khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, với sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền cơ sở và đồng lòng của người dân, 10 năm qua tình trạng trên ở bản Thái Hưng, xã Mường Sang (Mộc Châu) không còn, rừng đã xanh trở lại.
Theo lời những người cao tuổi trong bản thì Thái Hưng được thành lập năm 1963, người dân đều là dưới xuôi lên khai hoang. Để mở rộng đất sản xuất, việc phát rừng, đốt rừng làm nương lấy chất đốt phục vụ sinh hoạt, sấy nông sản đã tàn phá không ít diện tích rừng .
Ông Nguyễn Văn Cường, Chủ tịch UBND xã và cũng là người sinh ra lớn lên tại bản Thái Hưng kể: Thế hệ chúng tôi từ bé đã cùng người lớn vào rừng lấy củi để làm chất đốt. Nhà nào cũng có vài đống củi khô dự trữ bên trái nhà hay dựng hẳn một nhà kho để chứa củi.
Hơn chục năm về trước, không chỉ bản Thái Hưng mà cả xã Mường Sang còn là điểm nóng về tình trạng cháy rừng do đốt nương, xâm lấn đất rừng lấy đất sản xuất và khai thác lâm sản trái phép. Vào mùa nắng nóng nơi đây thường xuyên xảy ra tình trạng cháy rừng do đốt nương. Do vậy, việc đánh kẻng thông báo cháy rừng mỗi khi có cháy không là điều lạ với người dân trong bản.
Được biết trong 10 năm trở lại đây, nhờ nỗ lực tuyên truyền, vận động với sự vào cuộc của cả hệ thống từ xã đến bản và từng hộ dân thì rừng nơi đây mới dần được phục hồi. Trong thời gian này xã và bản đã tổ chức giao đất giao rừng tới các hộ, cộng đồng và lồng ghép các quy định quản lý, bảo vệ rừng cùng chế tài xử lý vi phạm vào hương ước của bản.
Theo ông Nguyễn Hữu Ngọc, Trưởng bản Thái Hưng, khi rừng đã có chủ thì ý thức bảo vệ rừng cũng theo đó được nâng lên. Ngoài việc nâng cao nhận thức người dân trong việc giữ rừng, bản còn thay đổi được thói quen dựa vào rừng để lấy chất đốt. Ngoài ra, bản thành lập được Tổ PCCCR gồm 21 người, chia làm 4 nhóm phụ trách từng khu vực, thường xuyên tuần tra, kiểm soát việc ra vào rừng đã góp phần nâng cao được ý thức bảo vệ rừng của người dân nơi đây.
Cùng với đó là việc họp dân thống nhất cao và có ký cam kết về xây dựng các nội dung của hương ước. Thời điểm năm 2000, rừng nơi đây chỉ còn 141 ha, vẫn còn hiện tượng khai thác lâm sản trái phép, đồi trọc nhiều thì nay không còn tình trạng đốt nương, xâm lấn đất rừng, khai thác lâm sản và diện tích rừng đã được phục hồi tái sinh lên gần 300 ha.
Cùng với những hoạt động trên, bản Thái Hưng còn phát huy vai trò của đảng viên đối với công tác bảo vệ rừng. Theo đó, các nhóm bảo vệ rừng đều được chi bộ phân công, giao trách nhiệm cho các đảng viên phụ trách. Đồng thời, chi bộ ra nghị quyết chuyên đề về công tác quản lý, bảo vệ rừng. Nếu đảng viên phụ trách nhóm nào để xảy ra việc vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định.
Ông Vũ Đình Trưởng, Bí thư chi bộ bản Thái Hưng nói: Sau khi ra nghị quyết chuyên đề, chi bộ đã phân công đảng viên phụ trách từng khu vực có rừng và chịu trách nhiệm chỉ đạo các nhóm bảo vệ rừng. Nếu khu vực nào có hiện tượng xâm lấn đất rừng, thì trước tiên đảng viên phải chịu trách nhiệm và phải tổ chức đoàn xuống tuyên truyền, vận động và kịp thời báo cáo với cấp trên để kịp thời giải quyết. Quy định chặt chẽ nên 5 năm qua chưa phải đưa đảng viên hay trường hợp nào ra nhắc nhở về công tác quản lý bảo vệ rừng...
Có thể thấy việc quản lý bảo vệ rừng không phải là khó nếu có sự vào cuộc thực sự của cấp ủy, chính quyền tại các cơ sở. Trong đó, đặc biệt chú ý tới việc phát huy vai trò của cán bộ, đảng viên trong tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia.
Nhờ cách làm này, Thái Hưng từ một địa bàn nóng về rừng, diện tích rừng mất dần hằng năm thì nay đã trở thành một trong những địa bàn tiêu biểu trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. (Báo Sơn La 3/10) đầu trang(
Đó là ý kiến của ông Lê Thanh Tịnh - Giám đốc Ban quản lý, kiêm Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (Vườn) về việc TAND tỉnh Quảng Bình phán quyết khó hiểu trong vụ Trưởng Trạm y tế vận chuyển thịt sơn dương...
Ông Lê Thanh Tịnh cho biết: Việc TAND tỉnh Quảng Bình tuyên hủy quyết định xử phạt của Hạt Kiểm lâm (HKL) Vườn đối với hành vi vi phạm lâm luật của ông Toàn có nhiều điểm bất hợp lý, chưa thỏa đáng và làm nản lòng những người thực sự muốn bảo vệ tài nguyên rừng.
Lực lượng Kiểm lâm (KL) của Vườn hầu hết đều có trình độ chuyên môn từ trung cấp kiểm lâm hoặc lâm nghiệp trở lên. Hàng năm, HKL Vườn đã phối hợp với các cơ quan như Trường Đại học Lâm nghiệp, Chi cục KL tỉnh Quảng Bình, Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội - Công an tỉnh, các tổ chức bảo tồn thiên nhiên... tổ chức các khóa tập huấn, đào tạo, nâng cao nghiệp vụ cho lực lượng KL Vườn các mặt như: nhận dạng, kiểm định các loài động, thực vật và các sản phẩm động vật hoang dã của Việt Nam nói chung và tại Vườn nói riêng; kỹ năng giám sát đa dạng sinh học; quy trình, thủ tục xử lý vi phạm hành chính, ngăn chặn nạn buôn bán động vật hoang dã; kỹ năng tuần tra bảo vệ rừng; sử dụng vũ khí và công cụ hỗ trợ...
Về năng lực của lực lượng KL trong việc xác định lâm sản đối với vụ việc này là đảm bảo. Việc HKL Vườn ra quyết định xử phạt ông Toàn là đúng thẩm quyền. Cụ thể, lực lượng KL có quyền kiểm tra, phát hiện và xử lý các vụ việc vi phạm pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng, quản lý lâm sản theo thẩm quyền, được áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành vi vi phạm hành chính (VPHC) theo quy định của pháp luật.
Theo quy định của Luật Xử lý VPHC và Nghị định 157/2013/NĐ-CP thì KL viên khi thực thi công vụ có trách nhiệm phát hiện hành vi vi phạm về lâm luật và có quyền lập biên bản VPHC mà không đòi hỏi phải có chứng chỉ giám định chuyên ngành như tòa kết luận.
Việc bắt buộc phải có chứng chỉ giám định chuyên ngành chỉ xảy ra trong hoạt động giám định tư pháp (lập biên bản vi phạm hành chính không là thủ tục của hoạt động giám định tư pháp). Xin nói thêm rằng, toàn lực lượng KL của Quảng Bình hiện chỉ có duy nhất một người ở Chi cục KL tỉnh có chứng chỉ giám định chuyên ngành lâm nghiệp. Mà thực tế, các vụ VPHC trong lâm luật xảy ra ở Quảng Bình hầu hết đều do các KL viên lập biên bản và họ không có chứng chỉ giám định chuyên ngành.
Người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt VPHC trong vụ việc của ông Toàn không cần trưng cầu giám định vì theo Khoản 1 Điều 59 Luật Xử lý VPHC thì “trong quá trình xem xét, ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt có thể trưng cầu giám định”, nên đây là quy định tùy nghi chứ không bắt buộc.
Hơn nữa, chính ông Toàn cũng đã thừa nhận hành vi vận chuyển thịt sơn dương trái phép của mình bằng việc ký vào biên bản nên càng không cần thiết phải niêm phong tang vật và trưng cầu giám định. Việc trưng cầu giám định chỉ bắt buộc khi ông Toàn cho rằng miếng thịt đó không phải là thịt sơn dương hoặc người có thẩm quyền xử phạt nghi ngờ đó không phải là thịt sơn dương.
Nếu theo căn cứ của tòa thì mẫu biên bản VPHC và quyết định xử phạt VPHC mà HKL Vườn đã áp dụng đối với vụ việc của ông Toàn là sai. Nhưng tại thời điểm đó, không riêng gì KL của Vườn mà toàn lực lượng KL Việt Nam đều sử dụng mẫu ấn chỉ của Cục Kiểm lâm (đơn vị duy nhất theo Nghị định số 119/2006/NĐ-CP được giao quyền thống nhất quản lý, ấn hành các loại ấn chỉ xử lý VPHC trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản) ban hành kèm theo Nghị định 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009.
Nếu tòa cho rằng, các mẫu văn bản của HKL sử dụng để lập hồ sơ xử phạt HC đối với ông Toàn không có hiệu lực pháp lý thì xin được hỏi lại tòa: Cả nước sẽ có hàng ngàn, hàng vạn quyết định xử phạt VPHC về lâm luật tương tự như vậy cũng không có hiệu lực pháp lý hay sao? Mẫu ấn chỉ nào cũng chỉ là hình thức, có thể thay đổi được còn bản chất vụ việc mới là điều quan trọng và mang tính quyết định. Vì vậy, ngày 4/9/2014, HKL Vườn đã có đơn kháng cáo đề nghị xem xét lại vụ việc theo trình tự phúc thẩm.
Quảng Bình có mức độ che phủ rừng cao nhất cả nước, cũng là địa phương có mức độ đa dạng sinh học đứng hàng đầu. Riêng Vườn là nơi trú ngụ của nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm, có nguy cơ tuyệt diệt. Bảo vệ rừng là một nhiệm vụ hết sức khó khăn, phức tạp, lâu dài và đòi hỏi phải có sự chung tay, góp sức, đồng tâm hiệp lực của các cấp ngành, toàn xã hội.
Nhưng phán quyết thiếu hợp lý của TAND tỉnh Quảng Bình có thể trở thành một tiền lệ xấu không chỉ đối với công tác bảo vệ tài nguyên rừng, thực thi lâm luật mà còn với cả hoạt động thực thi pháp luật nói chung. Công tác quản lý, bảo vệ rừng ở Quảng Bình vốn đã gặp nhiều khó khăn lại càng phức tạp hơn.
Như đã thông tin, ông Nguyễn Văn Toàn (SN 1970), quê xã Trung Trạch, huyện Bố Trạch (Quảng Bình), là Trạm trưởng Trạm Y tế xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch vận chuyển 4kg thịt sơn dương trong địa phận Vườn và bị HKL vườn này xử phạt hành chính. Nhưng ngày 21/8 vừa qua, TAND tỉnh Quảng Bình đã mở phiên sơ thẩm tuyên hủy quyết định xử phạt của Vườn này. (Pháp Luật VN 4/10) đầu trang(
Sáng 5-10, ông Nguyễn Nhĩ, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm Lâm Gia Lai cho biết, Đội Kiểm lâm Cơ động số 3 của tỉnh Gia Lai vừa phát hiện, tiến hành kiểm tra và tạm giữ xe ô tô tải BKS 77H-0095 vì chở hàng trăm lóng gỗ hương, trong khi lái xe không xuất trình đủ các giấy tờ liên quan.
Để điều tra và làm rõ nguồn gốc số gỗ trên, đội Kiểm lâm Cơ động số 3 đã mời lái xe đưa toàn bộ số gỗ và phương tiện về trụ sở để làm việc. Được biết, chiếc xe ô tô chở gỗ lậu trên di chuyển trên Quốc lộ 25 theo hướng từ tỉnh Phú Yên về TP Pleicu, tỉnh Gia Lai, khi qua địa bàn huyện Phú Thiện thì bị phát hiện, kiểm tra và tạm giữ. (Quân Đội Nhân Dân 5/10; Báo Gia Lai 3/10) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Hiệp Đức (Quảng Nam) ngày 5.10 cho biết, qua công tác tuần tra, đã phát hiện tại tiểu khu 529 thuộc thôn 1, xã Phước Trà (giáp với thôn 5 xã Trà Đốc, huyện Bắc Trà My) một bãi cất giấu gỗ lậu với số lượng lớn.
Qua đo đếm, có đến 55 hộp gỗ, với tổng khối lượng 17,3m3, đều cùng loại gỗ chò, thuộc nhóm VI. Lực lượng kiểm lâm đã lập biên bản tạm giữ toàn bộ số gỗ trên, và đã tiến hành thu gom vận chuyển toàn bộ số gỗ này về Hạt để điều tra vụ việc. (Lao Động 6/10; Công An TP Đà Nẵng 4/10; Công An Nhân Dân 4/10, tr7) đầu trang(
Khi mà nguồn gỗ quý đang ngày càng ít đi bởi sự khai thác, tàn phá của lâm tặc trong từng khoảnh rừng, thì việc tại xã Krong (huyện Kbang) vẫn còn 300 trăm cây gỗ Giáng hương với đường kính lớn nhất lên đến 1,6 mét thì giữ rừng-hay chính xác hơn là giữ những cây Giáng hương cổ thụ trở nên là một việc vô cùng khó khăn, gian khổ và hiểm nguy đối với những con người ngày đêm gác rừng.
Vượt hơn 4 km đường mòn để đến thăm những khoảnh rừng có nhiều cây gỗ giáng hương cổ thụ, nơi mà cán bộ Công ty TNHH một thành viên Lâm trường Krông Pa (lâm trường) đang ngày đêm bám rừng, ra sức bảo vệ. Con đường ngoằn ngoèo, bề ngang chỉ hơn một gang tay, đất đá lởm chởm và liên tục bị chia cắt bởi những ổ trâu, ổ voi như thách thức sự liều mình của cả người điều khiển xe máy đến người ngồi đằng sau. Khó đi là vậy, nguy hiểm là thế nhưng: "Sơ xuất một lúc là lâm tặc triệt hạ cây rừng, dù đó là hương hay bằng lăng" anh Nguyễn Thành Vinh-Trưởng phòng Kỹ thuật của lâm trường chia sẻ.
Gần 1 giờ đồng hồ đường rừng, lần đầu tiên được tận mắt thấy những cây gỗ giáng hương cổ thụ. Theo anh Vinh cho biết thì giáng hương có tên khoa học là Pterocarpus macrocarpus, là một loài cây họ đậu, một loài cây bản địa của vùng Đông Nam Á, Đông Bắc Ấn Độ, Lào, Thái Lan, Việt Nam, Campuchia.
Ở Việt Nam, chúng được phân bố ở vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Cây Giáng hương quả to có chiều cao trung bình từ 10 mét đến 30 mét, đường kính thân cây có thể lên đến 1,7 mét. Ngoài tên gọi là Giáng hương ra, chúng còn được gọi là: giáng hương quả to, giáng hương căm-pôt, giáng hương chân, song lã. Gỗ Giáng hương quả to được xếp vào nhóm I vì khá đẹp, có mùi thơm nhẹ, cứng, vân hoa đẹp, ít nứt nẻ, không bị mối mọt.
Trước kia, rừng Kbang có rất nhiều loại gỗ quý, đầu tiên phải kể đến Huỳnh đàn hay còn gọi là gỗ Sưa, tiếp đến là gỗ Trắc. Nhưng hiện tại đã không còn tồn tại hai loại gỗ nói trên, nếu còn chỉ là những cây chưa đủ để khai thác. Giờ đến lượt cây gỗ Giáng hương, do lợi nhuận cao mà lâm tặc trong và ngoài tỉnh luôn tìm mọi cách lén lút xâm nhập hoặc xúi giục thanh niên địa phương khai thác và vận chuyển trái phép ra khỏi địa bàn.
Có thời điểm nóng, lâm tặc đã triệt hạ, chặt phá cùng lúc 27 cây gỗ giáng hương cổ thụ. Chính vì vậy gỗ giáng hương hiện chỉ còn phân bố lốm đốm theo kiểu da báo trên 30 khoảnh của 7 tiểu khu thuộc địa bàn các xã Krong, Đak Krong, Sơn Lang. Trên suốt chặng đường đi sâu vào rừng, anh Vinh cứ nằng nặc đưa chúng tôi đến thăm lán, xem nơi ăn chốn ở của các anh em ở đây như thế nào nhưng thật ra anh muốn chia sẻ một niềm vui khác, đó là việc anh em trực giữ rừng sắp có nhà để ở.
Dù đó chỉ mới là một mảnh đất trống và vài miếng gỗ được tập kết ở đây, nhưng ai nấy đều vui như thể ngôi nhà ấy đã hoàn thành từ bao giờ. Tiếp lời đồng nghiệp, anh Lô Đình Hồ-cán bộ lâm trường phụ trách khu vực “trọng điểm” này, chia sẻ thêm: Hiện tại anh cùng 1 đồng nghiệp khác canh giữ Giáng hương ở đây chưa có chỗ để ở, một số các anh phải ngủ nhờ lán của người dân tộc thiểu số dựng lên để canh rẫy.
Ngoài công việc giữ rừng các anh còn kiêm luôn cả việc “giữ rẫy” bất đắc dĩ, tuy vậy được cái là có chỗ chui ra chui vào và nghỉ ngơi sau mỗi lần đi kiểm tra, nếu không chỉ còn cách ngủ võng. Với phương châm giữ rừng tận gốc nên anh em phải thế.
300 cây Giáng hương được phân bố theo kiểu da báo trên 30 khoảnh thuộc 7 tiểu khu nên việc giữ để không mất một cây nào là chuyên gian nan đối với lực lượng chức năng ở đây vì hiện lực lượng này quá mỏng, chỉ 14 người nhưng phụ trách đến 2 trạm gác cửa rừng và 6 khu vực trọng điểm có gỗ hương trên tổng diện tích hơn 8.428 ha.
Chưa kể, cán bộ lâm trường trong tay không tấc sắt, mỗi chốt chặn chỉ được trang 1 bị bình xịt hơi cay và gậy cao su, trong khi lâm tặc luôn ở thế đông người, dao rựa luôn sẵn, thậm chí có cả súng. Theo các anh: “lâm tặc canh mình chứ mình làm gì mà canh nổi chúng, cứ nhằm vào các ngày nghỉ lễ, giờ ăn cơm hay những khi trời mưa tầm tã lúc 1-2 giờ sáng là chúng hành động, nên dù có cắm chốt đến đâu thì cây hương vẫn rất dễ mất”.
Đó là chưa kể đến những thủ đoạn hết sức tinh vi của bọn lâm tặc. Do mỗi khi đốn hạ cây thường gây ra tiếng động lớn do cây gãy đổ phát ra, vì thế chúng đã “phát minh” ra cách xẻ từng hộp gỗ trên thân cây mà cây không ngã, cứ thế “róc thịt” dần những cây gỗ hương. Với từng mảng gỗ vuông vức được xẻ ra trên cây thẳng đứng, chúng dễ dàng gùi hay di chuyển bằng xe máy độ chế...
Để đối phó với việc tuần tra, kiểm soát của lực lượng bảo vệ rừng, bọn lâm tặc còn sáng chế ra một kiểu “giảm thanh” cho tiếng nổ của cưa máy. Đó là một ống nhựa được nối dài thêm vào nơi phát ra tiếng động của cưa máy (pô) rồi cắm đầu ống kia xuống nước hoặc đào lỗ sâu dưới đất rồi cho đầu ống này xuống, càng sâu càng tốt. Do vậy, cán bộ lâm trường phải đến rất gần mới có thể phát hiện ra được.
Chỉ vào gốc hương có đường kính hơn 1,6 mét đã mất đi 2 mảng gỗ lớn, anh Vinh cho biết: Chỉ cần chúng tôi đến muộn hơn 10 phút là cây hương cổ thụ lớn nhất khu rừng này đã không còn. Đưa tay gỡ chiếc mũ cối đang đội trên đầu, anh Vinh còn chỉ cho chúng tôi xem vết thương hãy còn rất mới. Đó là hậu quả của một lần anh đối mặt với lâm tặc.
Anh Vinh kể: Sau khi xịt hơi cay và khống chế được một tên trong nhóm lâm tặc thì tên này xin được rửa mặt cho bớt cay mắt. Thế nhưng chính vì lòng thương người mà anh bị tên này dùng đá ném trúng đầu, phải cấp cứu với vết may 8 mũi trên đầu. Còn anh Lô Đình Hồ thì khác, anh không nhớ nổi số lần bị chúng vây hãm hăm dọa, chỉ nhớ đến lần gần đây nhất là anh bị tẩn một trận đến mức phải nhập viện.
Vậy nhưng số cây gỗ hương cổ thụ bị mất lại tỷ lệ nghịch với việc ngăn chặn, xử lý đối tượng vi phạm, số vụ lâm tặc bị bắt, bị khởi tố chỉ đếm trên đầu ngón tay, bởi “khi lực lượng ứng phó đến nơi thì chúng đã kịp thời cao bay xa chạy...”- anh Vinh bức xúc. Một cán bộ lâm trường cũng không ngần ngại chia sẻ, nếu giá gỗ hương bằng giá gỗ sưa, chắc chắn những cây gỗ hương này không còn tồn tại ở đây.
Chiều dần xuống mà những cây chuyện vẫn còn rất dài. Nhìn làn khói bay lên giữa khu rừng vắng trong chiều nhạt nắng, nồi cơm được bắc trên mấy hòn đá chông chênh, tạm bợ, con cá khô ươm giòn trong ánh lửa cạnh những nụ cười bỗng thấy các anh như các chiến sĩ trong những trận đánh năm xưa.
Chỉ khác một điều đây chỉ là một cuộc chiến giữ rừng, nhưng mức độ khốc liệt, nguy hiểm cũng chẳng hề thua kém. Một câu nói của một chàng tân binh vừa mới gia nhập vào đội quân giữ rừng cứ ám ảnh chúng tôi trong suốt chuyến đi này: “Chắc hết tuần này em xin nghỉ, công việc như vầy em không kham nổi". (Báo Gia Lai 2/10) đầu trang(
Vừa qua, đoàn đại biểu Việt Nam với sự tham gia của Phó Cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan Việt Nam; Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên Việt Nam (ENV); đặc biệt là ca sĩ nổi tiếng Hồng Nhung… đã sang thăm và làm việc tại Nam Phi 10 ngày nhằm cùng điều tra, thị sát, tổ chức hội thảo, họp báo, cùng lên tiếng đanh thép bảo vệ loài tê giác trước thảm họa bị săn trộm, cắt sừng phục vụ các thị trường nóng ở Châu Á.
Với những nỗ lực đầy hiệu quả của mình, đây là lần thứ 2 liên tiếp, phóng viên Báo Lao Động được mời tham gia hoạt động này. Sau những chuyến bay dài, chưa kể thời gian quá cảnh chờ đợi ở Hồng Kông, riêng ngồi trên bầu trời đã gần 20 tiếng đồng hồ, không thể nói là không mệt mỏi, ca sĩ Hồng Nhung đã bị cuốn ngay theo những câu chuyện đau lòng mà loài tê giác của nhân loại đang phải đối mặt.
Nam Phi đang sở hữu khoảng 80% số lượng cá thể tê giác của thế giới. Hiện nay, mỗi ngày trôi qua, đều đặn, có ít nhất 3 con tê giác bị giết để lấy sừng phục vụ nhu cầu mù quáng và nhẫn tâm ở các thị trường Châu Á, trong đó có Việt Nam. Đây cũng chính là lý do mà bên cạnh nỗ lực bảo tồn ở hiện trường tê giác đang sinh sống, nhân loại tiến bộ đã hướng tới việc nâng cao nhận thức cho “thị trường cuối cùng” của các sản phẩm lấy từ việc giết chết con tê giác như nước ta.
Liên tiếp các đoàn đại biểu cán bộ, văn nghệ sỹ, những người nổi tiếng trong giới showbiz, học sinh… từ Việt Nam đã được mời sang Nam Phi. Và bây giờ là ca sĩ Hồng Nhung. Chứng kiến vẻ đẹp của các loài muông thú trong đó có tê giác, ở trạng thái hoàn toàn tự nhiên của chúng ở Vườn Quốc gia Kruger, VQG lớn nhất Nam Phi, lớn hàng đầu trên thế giới, ca sĩ Hồng Nhung đã phải thốt lên: “Thiên nhiên hoang dã quá đẹp. Chúng tôi đã đi bộ xuyên rừng, trong cái lạnh buốt đầu, trong nắng nóng hầm hập, để chứng kiến từng đàn tê giác vui đùa. Cả tê giác con lẫn tê giác bố mẹ. Xung quanh là sư tử, báo, hươu, nai, ngựa vằn…
Các bạn Nam Phi bảo, tê giác là loài vật khổng lồ đến từ thời tiền sử, nó hầu như không có đối thủ trong tự nhiên”. Vị tướng phụ trách cao nhất của lực lượng kiểm lâm và an ninh của VQG Kruger đã xúc động nắm tay từng người trong đoàn chúng tôi: “Tôi biết ơn lắm. Quý vị là những người bạn mới của tê giác Châu Phi, trong cuộc chiến đầy súng đạn, đầy mồ hôi và máu để bảo vệ chúng này”.
Thế rồi, phía bạn cung cấp cho đoàn đại biểu Việt Nam 6 người “toàn quyền sử dụng” 2 máy bay trực thăng dã chiến để thị sát rừng Kruger rộng 2 triệu hécta. Phi công ở đây rất thân thiện và hy vọng vào “những người bạn mới của tê giác đến từ Việt Nam”, thậm chí họ còn lượn vè vè cho trực thăng nọ bay lên đầu trực thăng kia để gã nhà báo như tôi có một góc máy: Tiền cảnh là trực thăng đang bay, phía dưới là các loài muông thú. Hồng Nhung thả sức “tự sướng” với thiên nhiên và các loài động vật tuyệt đẹp.
Đột nhiên, thật hãi hùng: Hậu cảnh của cú bấm máy đó của tôi là xác một con tê giác khổng lồ nằm bên bờ suối. Hạ cánh khẩn cấp. Ca sĩ Hồng Nhung đến, sừng và dương vật con tê giác khổng lồ đã bị cắt đi, máu mủ vẫn nổ lép bép rồi ròng ròng chảy ra trên cát suối. Máu của loài vật vô tội bắn đỏ gấu quần và đôi giày vải của Hồng Nhung. Ca sĩ thổn thức: “Các nhà khoa học đã chứng minh, sử dụng sừng tê giác để mài ra uống, thì có khác gì gặm móng tay móng chân của chính mình, có khác gì gặm sừng bò.
Vậy mà không hiểu sao tê giác vẫn bị giết tàn độc đến vậy! Tôi thấy trách nhiệm đè nặng lên vai mình, tôi muốn có nhiều cơ hội hơn để nói với người hâm mộ của mình rằng: Hãy nói không với các sản phẩm từ sừng tê giác. Nó không thể là thứ khẳng định đẳng cấp hay là thần dược đối với bạn được”. Hồng Nhung bảo, suýt nữa thì cô bật khóc thành tiếng, khi chứng kiến tội ác khủng khiếp trong rừng Châu Phi như thế.
Trong cuộc họp báo tại thành phố lớn nhất Châu Phi Johannasburg sau đó, đang nói tiếng Anh làu làu, chợt Hồng Nhung dừng lại nói một câu tiếng Việt: “Mắt không thấy thì lòng không đau”.
Rồi cô nói tiếp bằng tiếng Anh: “Người Việt Nam chúng tôi có câu nguyên văn như thế, dịch ra tiếng Anh là thế này… (…). Nếu không chứng kiến tê giác bị giết khủng khiếp tại hiện trường, nếu không mắc những đêm sau đó mất ngủ vì ám ảnh như tôi, thì có lẽ ít ai hiểu được tâm trạng của tôi lúc này. Chuyến đi khép lại sau chuyến bay dài về Việt Nam ngày mai, đó cũng là lúc mà các chuỗi các hoạt động hướng tới nỗ lực bảo vệ loài tê giác cho nhân loại tiến bộ được bắt đầu”. (Lao Động 4/10) đầu trang(
4.10, theo Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa, từ tháng 9.2012 đến nay, tại các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia trên địa bàn Thanh Hóa, các nhà khoa học đã phát hiện thêm hàng chục loài động thực vật có tên trong sách đỏ thế giới.
Đó là một phần kết quả của dự án “Điều tra, lập danh lục hệ động, thực vật rừng tại các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia trên địa bàn Thanh Hóa” do Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa phối hợp với các đối tác tổ chức thực hiện.
Cũng theo Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa, các nhà khoa học thuộc dự án đã phát hiện thêm tổng cộng gần 1.000 loài động vật, thực vật quý hiếm.
Cụ thể, tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên (huyện Thường Xuân) đã ghi nhận thêm thông tin của 402 loài thực vật, 25 loài thú, 56 loài chim, 14 loài bò sát, 17 loài lưỡng cư.
Các nhà khoa học cũng ghi nhận thêm 20 loài cá, 98 loài côn trùng, 13 loài thú tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (huyện Bá Thước); 18 loài lưỡng cư, 25 loài bò sát, 25 loài chim, 14 loài thú tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu (huyện Quan Hóa).
Trong khi đó, tại Vườn quốc gia Bến En (huyện Như Thanh), các nhà khoa học phát hiện thêm 90 loài thực vật, 30 loài lớp cá, 215 loài côn trùng, 16 loài chim, 11 loài thú, 16 loài lưỡng cư và 13 loài bò sát… (Thanh Niên 5/10) đầu trang(
Thời gian qua, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (LHH) đã phối hợp với Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam, Tổng Cục lâm nghiệp tổ chức 2 hội thảo nhằm tăng cường sự tham gia của các tổ chức trong hệ thống LHH trong việc truyền thông về bảo vệ ĐVHD.
Để phát huy hơn nữa vai trò của các tổ chức trong hệ thống LHH trong công tác truyền thông bảo vệ ĐVHD, LHH có công văn đề nghị, các tổ chức trong hệ thống LHH thông qua mạng lưới của mình, tăng cường lồng ghép nội dung truyền thông về bảo vệ ĐVHD vào các chương trình, chiến dịch truyền thông của đơn vị mình.
Tăng cường thông tin, phối hợp với CITES trong các hoạt động bảo vệ động, thực vật hoang dã, bảo vệ đa dạng sinh học... (Khoa Học & Đời Sống 3/10, tr4) đầu trang(
Tràm Chim là tên gọi dân gian của Vườn quốc gia Tràm Chim - khu Ramsar thứ 2.000 của thế giới - rộng 7.612ha toạ lạc trên địa bàn huyện Tam Nông (Đồng Tháp).
Với nỗ lực bảo tồn của các nhà quản lý, nhà khoa học…, nơi đây được xem là hình ảnh thu nhỏ của Đồng Tháp Mười ngày xưa. Vì vậy Tràm Chim được mệnh danh là thủ phủ của loài chim nước bởi sự đa dạng và phong phú giống loài.
Các nhà khoa học đã ghi nhận được 89 loài thuộc 21 họ, 9 bộ, chiếm 19,73% so với tổng số loài chim phân bố ở vùng Nam Bộ, 10,88% so với tổng số loài chim của Việt Nam.
Trong số đó có đến hơn 22,47% là các loài chim quý hiếm, bị đe dọa tuyệt chủng, có ý nghĩa bảo tồn đối với khu vực và thế giới. Đúng như tên gọi, vào thời điểm ĐBSCL bước vào mùa nước nổi (tháng 8 - 11 hằng năm), các loài chim nước tụ hội về Tràm Chim để săn tìm thức ăn và sinh sản… (Lao Động 4/10, tr9) đầu trang(
Vừa qua, loài chim quý hiếm Niệc mỏ vằn (Rhyticeros undulatus ticehursti), đã trưởng thành nặng 1,5kg, được anh Quản Trọng Hoàng ở TP.Hồ Chí Minh giao cho tổ chức Bảo vệ động vật hoang dã WAR.
WAR cho biết, đây là lần đầu tiên có người dân TP.HCM cứu hộ Niệc mỏ vằn. Do bị nuôi nhốt lâu ngày trong điều kiện chật hẹp, nên chú chim này rất yếu, khớp chân bị sưng, lông đuôi và lông cánh đã bị mất hoàn toàn, chim không thể bay được.
Ngay sau đó, WAR đã chuyển ngay chú chim Niệc mỏ vằn này đến trạm cứu hộ Động vật hoang dã Củ Chi để chăm sóc, trị thương.
Theo bà Đỗ Thị Thanh Huyền, trưởng dự án Giáo dục WAR, hiện nay, sức khỏe chim đã phục hồi tốt. Chim có thể bay được một khoảng ngắn, lông đuôi và lông cánh đã bắt đầu mọc lại.
Niệc mỏ vằn thuộc họ Hồng hoàng, gặp ở Việt Nam, Mianma, Thái Lan, Malaysia; sống định cư ở rừng xanh, trong các cùng đồi núi, thung lũng có độ cao từ 1000 – 1500m, và rừng ngập mặn.
Niệc mỏ vằn là loài động vật quý hiếm, số lượng cá thể ngoài tự nhiên bị suy giảm mạnh do bị mất nơi sống và bị săn bắt trái phép. Theo sách đỏ Việt Nam, Niệc mỏ vằn bị đe dọa tuyệt chủng ở mức sẽ nguy cấp (VU). (Một Thế Giới 4/10) đầu trang(
Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã (ĐVHD) Hà Nội cho biết, trong tháng 9, Trung tâm tiếp nhận 7 vụ với 186 cá thể ĐVHD.
Trong đó, có 4 cá thể khỉ, 170 cá thể chim chào mào, 9 cá thể rắn hổ chúa và một cá thể culi nhỏ. Đặc biệt, có 2 cá thể trăn đất do người dân hiến tặng.
Bên cạnh đó, Trung tâm tiến hành điều trị một số bệnh viêm đường tiêu hóa, viêm đường hô hấp, viêm mắt, nấm rụng lông, tổn thương ngoại khoa cho các cá thể mắc bệnh. Dự kiến, trong tháng 10, Trung tâm sẽ thả 175 cá thể ĐVHD về môi trường tự nhiên tại khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử. (Kinh Tế & Đô Thị 3/10, tr10) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, hàng loạt vụ ngà voi nhập lậu qua đường hàng không đã bị cơ quan Hải quan phát hiện, ngăn chặn kịp thời. Theo nhận định của cơ quan Hải quan, đường hàng không đang là “điểm nóng” về vận chuyển mặt hàng này.
Lô hàng 59 khúc ngà voi được phát hiện trong lô hàng hạt điều nhập khẩu mới đây cho thấy hành vi liều lĩnh của các đối tượng vận chuyển. Theo các cán bộ Hải quan, lô hàng này được nhập khẩu từ châu Phi về Việt Nam từ đầu tháng 9 -2014. Qua theo dõi, cơ quan Hải quan phát hiện trên vận đơn lô hàng thể hiện hàng hóa nhập khẩu là hạt điều khô; tên người gửi là C.F, người nhận là Công ty V.T.T.H.
Trước khi được vận chuyển về sân bay Tân Sơn Nhất, lô hàng này đã được vận chuyển qua nhiều nước. Do địa chỉ người gửi và người nhận ghi chung chung, không rõ ràng, nên sau thời gian gần 1 tháng, chủ hàng vẫn không đến làm thủ tục nhận hàng.
Ngày 22-9, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất phối hợp với lực lượng kiểm soát Hải quan của Cục Hải quan TP.HCM và Tổng cục Hải quan thực hiện quyết định khám xét lô hàng trên.
Kết quả kiểm tra thực tế cho thấy có 59 khúc ngà voi được quấn giấy bạc cất giấu rất tinh vi trong thùng hạt điều với tổng trọng lượng hơn 40 kg, trị giá lô hàng ước tính hơn 2,4 tỷ đồng. Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất hiện đang tạm giữ lô hàng trên để điều tra làm rõ.
Cũng với thủ đoạn trên, trong tháng 6-2014, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất phối hợp với các lực lượng chống buôn lậu của Cục Hải quan TP.HCM và Tổng cục Hải quan đã bắt giữ 2 lô hàng ngà voi trên 200 kg vận chuyển trái phép qua đường hàng không. Trong đó, lô thứ nhất gồm 90,6 kg được vận chuyển trên chuyến bay QR966 từ Doha. Trên vận đơn thể hiện người gửi là Công ty L.J.J, người nhận là Công ty T.L.O.
Đáng chú ý, tên hàng hóa khai báo trên các chứng từ vận chuyển là thực phẩm nhằm đánh lạc hướng các cơ quan chức năng tại cửa khẩu. Qua nghiên cứu hồ sơ lô hàng, phát hiện có nhiều dấu hiệu nghi vấn, Cục Hải quan TP.HCM đã phối hợp với Cục Điều tra chống buôn lậu - Tổng cục Hải quan thực hiện lệnh khám xét lô hàng trên.
Kết quả kiểm tra thực tế cho thấy, có 39 chiếc ngà voi và 100 sản phẩm thủ công mỹ nghệ sản xuất từ ngà voi, với tổng trọng lượng hơn 90kg được cất giấu rất tinh vi. Trị giá lô hàng ước tính hơn 4 tỷ đồng.
Trước đó, ngày 10-6, Cục Hải quan TP.HCM đã phối hợp với Cục Điều tra chống buôn lậu thực hiện lệnh khám xét lô hàng được nhập khẩu từ Nigeria qua Doha (Qatar) về sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất. Hàng hóa trong lô hàng này thể hiện là đồ dùng cá nhân. Kết quả khám xét thực tế cho thấy, lô hàng chứa 77 cái ngà voi (trọng lượng 110kg), được quấn giấy bạc cất giấu lẫn trong một số đồ dùng cá nhân, trị giá ước tính khoảng 4,4 tỷ đồng.
Tính từ đầu năm 2014 đến nay, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã phát hiện và bắt giữ 6 vụ vận chuyển trái phép ngà voi với trọng lượng hơn 300 kg, trị giá ước tính hơn 18 tỷ đồng. Trong đó, phần nhiều là hàng vô chủ, nên không xử lý được các đối tượng vi phạm.
Theo một cán bộ Hải quan, các lô hàng ngà voi nhập khẩu trái phép qua đường hàng không, ngoài việc đóng gói, cất giấu tinh vi, các đối tượng còn thể hiện sự ma mãnh trong việc thể hiện thông tin trên các chứng từ vận chuyển hàng không. Cả 3 lô hàng được phát hiện nêu trên, trên vận đơn đều thể hiện tên người gửi và người nhận bằng cách viết tắt, địa chỉ không rõ ràng, thậm chí không có địa chỉ nhằm chối bỏ trách nhiệm khi bị cơ quan chức năng phát hiện.
Đặc biệt, phần thông tin hàng hóa, các đối tượng khai báo là thực phẩm và đồ dùng cá nhân, rất dễ đánh lạc hướng cơ quan chức năng. Tuy nhiên, qua công tác điều tra nắm tình hình, cơ quan Hải quan đã phát hiện có nhiều dấu hiệu bất thường từ các lô hàng này nên thực hiện quyết định khám xét phương tiện, đồ vật đối với cả 3 lô hàng và đã phát hiện một lượng ngà voi cất giấu trong lô hàng này.
Không chỉ vận chuyển số lượng lớn ngà voi qua đường hàng không, trong thời gian qua, Cục Hải quan TP.HCM còn phát hiện việc vận chuyển ngà voi qua đường bưu phẩm, bưu kiện chuyển phát nhanh. Ngày 1-8, Chi cục Hải quan Chuyển phát nhanh phát hiện nghi vấn từ lô hàng quà biếu thuộc tuyến trọng điểm từ Pháp gửi về TP.HCM qua đường chuyển phát nhanh cho người nhận ngụ tại đường Lý Thường Kiệt- Thành phố Đà Nẵng, nên đã tiến hành kiểm tra trọng điểm. Kết quả phát hiện trong lô hàng quà biếu chứa 14,6 kg ngà voi châu Phi, nhưng sau nhiều lần gửi thư mời, chủ hàng vẫn “biệt tăm”!
Ngà voi là mặt hàng thuộc danh sách các loài động vật hoang dã thuộc diện quản lý theo công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp ban hành kèm Thông tư 40/2013/TT-BMMPTNT ngày 5-9-2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Quyết định số 11/2013/QĐ-TTg ngày 24-1-2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc cấm xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán mẫu vật một số loài động vật hoang dã.
Chính vì thế, các đối tượng tìm mọi cách ngụy trang để vận chuyển vào Việt Nam, nhưng đã bị cơ quan Hải quan ngăn chặn kịp thời. (Hải Quan 30/9, tr6) đầu trang(
3/10, tại TP Đà Lạt, Tiến sĩ Phạm S - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng được trao bằng xác lập kỷ lục Việt Nam "Nhà khoa học được bảo hộ sở hữu trí tuệ giống cây trồng, nguồn gen thực vật quý hiếm trong và ngoài nước nhiều nhất".
15 năm qua, Tiến sĩ Phạm S đã nghiên cứu, bảo tồn và phát triển hơn 40 giống cây trồng, nguồn gen thực vật quý hiếm, tiêu biểu là thông đỏ, đảng sâm, dưỡng trí nhân, thiên kim trà, thất diệp nhất chi hoa…
Nhà khoa học này đã sưu tầm, di thực một số cây lạ, nguồn gen quý hiếm từ nước ngoài về Việt Nam. (Tiền Phong 4/10, tr10) đầu trang(
9 tháng năm 2014, Khu bảo tồn thiên nhiên Phước Bửu và Hạt Kiểm lâm huyện Xuyên Mộc đã tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra rừng, phát hiện 154 vụ việc vi phạm qui định về quản lý và bảo vệ rừng.
Trong đó, Hạt kiểm đã lâm thụ lý giải quyết 44 vụ vi phạm các qui định chung về quản lý bảo vệ rừng như: khai thác, vận chuyển, buôn bán và cất giữ lâm sản trái qui định pháp luật; đồng thời ra quyết định tịch thu tang vật vi phạm đối với những trường hợp xâm hại tài nguyên rừng.
Hiện nay, Hạt Kiểm lâm huyện Xuyên Mộc đang triển khai tổ chức mạng lưới kiểm lâm địa bàn xuống các xã tiếp giáp rừng tự nhiên để tổ chức thông tin tuyên truyền về các qui định bảo vệ rừng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng phá rừng ở các địa phương. (Đài PTTH Bà Rịa – Vũng Tàu 1/10) đầu trang(
Trong 9 tháng qua, các lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh đã phối hợp với chính quyền địa phương các ngành chức năng tổ chức trên 360 đợt truy quét tại các khu vực trọng điểm, vùng rừng giáp ranh với 4.300 lượt người tham gia.
Phát hiện 873 vụ vi phạm về lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng; trong đó gần 800 vụ vi phạm về lĩnh vực khai thác, mua bán và vận chuyển lâm sản trái phép.
Các lực lượng đã tiến hành xử lý 840 vụ việc, tăng 28% so với cùng kỳ; tịch thu 143 xe máy độ chế, gần 470m³ gỗ các loại và nhiều tang vật, phương tiện khác; thu nộp ngân sách hơn 4,4 tỷ đồng. (Báo Ninh Thuận 3/10) đầu trang(
Trong 9 tháng, trên địa bàn toàn tỉnh đã ghi nhận, xử lý 745 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, trong đó phá rừng trái phép 28 vụ; khai thác rừng 43 vụ; mua bán, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép 646 vụ…
Tuy vậy, theo đánh giá của Chi cục kiểm lâm tỉnh Gia Lai, tổng số vụ vi phạm đã giảm 120 vụ so với thời điểm cùng kỳ.
Để giảm được số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng nói trên, trong 9 tháng qua các hạt kiểm lâm, đội cơ động, ban quản lý rừng tại các địa phương đã tích cực tuyên truyền, phổ biến pháp luật bảo vệ rừng tại các thôn, làng, cộng đồng dân cư với trên 150 đợt nhằm giúp người dân hiểu.
Đồng thời trên 10 ngàn hộ dân sống gần rừng đã thực hiện việc ký cam kết về an toàn lửa rừng, không mua bán, săn bắn, khai thác các động vật, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm.
Riêng với các cơ sở kinh doanh, chế biến gỗ trên địa bàn, Chi cục đã tiến hành thực hiện nghiêm theo Thông tư 01 và 42 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản đảm bảo hoạt động công khai, minh bạch, ngăn ngừa hành vi lợi dụng để hợp thức hóa nguồn gốc lâm sản bất hợp pháp.
Song song với công tác phối hợp tuyên truyền, Chi cục Kiểm lâm tỉnh tích cực theo dõi diễn biến trong công tác quản lý bảo vệ rừng, chủ động tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo, thành lập các đoàn công tác để tổ chức kiểm tra, ngăn chặn các vụ khai thác rừng, phá rừng trái pháp luật như ngăn chặn tình trạng khai thác gỗ hương tại Công ty Lâm nghiệp Krông Pa (KBang); thu mua, khai thác, sử dụng củi rừng tự nhiên làm chất đốt sấy thuốc lá tại Krông Pa, Ia Pa, Ayun Pa, hay tình trạng buôn gỗ lậu qua biên giới tại các huyện Ia Grai, Chư Prông, Đức Cơ…
Nói về hoạt động quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn trong 9 tháng qua, Ông Nguyễn Nhĩ-Chi Cục trưởng, Chi Cục Kiểm lâm tỉnh cho rằng: Tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép có giảm 120 vụ so với thời điểm năm 2013, nhưng số vụ vi phạm trên địa bàn toàn tỉnh vẫn ở mức cao, dù ngành chức năng thường xuyên tăng cường các đội kiểm lâm cơ động, đoàn liên ngành phối hợp cùng Hạt Kiểm lâm tại các địa phương để ra sức tuyên truyền, ngăn chặn.
Điểm hạn chế ở đây chính là công tác tuyên truyền, vận động toàn dân chưa mang lại hiệu quả cao, một phần là do chưa có sự vào cuộc của hệ thống chính trị ở cơ sở; hiệu quả trong công tác chuyên môn còn thấp, rừng vẫn bị xâm hại nhưng các vụ việc được phát hiện, xử lý chủ yếu còn ở khâu mua bán, vận chuyển, sử dụng; sự vào cuộc của các cấp chính quyền cơ sở chưa thật sự quyết tâm.
Lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm cũng thừa nhận rằng: “Một số vụ việc phức tạp, chưa được xử lý triệt để, vẫn còn biểu hiện ngại va chạm, xử lý thiếu kiên quyết… từ đó tạo nên tiền lệ xấu trong việc chấp hành pháp luật bảo vệ rừng; một số cán bộ, công chức trong lực lượng bảo vệ rừng còn thiếu trách nhiệm, thậm chí bao che, tiếp tay cho lâm tặc nên còn sở hở để các đối tượng làm ăn phi pháp lợi dụng thực hiện hành vi vi phạm”.
Nhằm hạn chế đến mức thấp nhất cũng như phát huy hiệu quả trong công tác quản lý bảo vệ rừng, khắc phục hạn chế, yếu kém, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm huyện, thị xã, ban quản lý rừng chủ động tham mưu UBND các cấp xây dựng kế hoạch phối hợp triển khai công tác QLBVR, PCCCR và quản lý, giám sát chặt chẽ việc đưa phương tiện, công cụ cơ giới vào rừng; bố trí lực lượng tăng cường về tuyến huyện, xã.
Tổ chức tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn các hành vi vi phạm từ cơ sở, trong đó chú trọng các địa bàn còn nhiều tài nguyên động, thực vật rừng; rà soát các cơ sở chế biến gỗ đảm bảo theo đúng quy hoạch của tỉnh và quản lý tốt nguồn gốc lâm sản tại các cơ sở theo hướng dẫn. (Báo Gia Lai 1/10) đầu trang(
UBND thị xã Phúc Yên vừa tổ chức hội nghị tổng kết công tác phòng cháy, chữa cháy rừng và bảo vệ rừng mùa khô năm 2013 - 2014, triển khai nhiệm vụ mùa khô năm 2014 - 2015.
Do tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, tình hình khô hanh kéo dài nên mùa khô năm 2013 - 2014 trên địa bàn thị xã đã xảy ra 11 điểm phát lửa trong rừng, trong đó có 4 điểm phát lửa cháy lan thành 4 vụ cháy rừng với tổng diện tích cháy 20,3 ha và diện tích thiệt hại 13,7 ha (loài cây chủ yếu là Thông và Keo).
Tất cả các đám cháy được phát hiện sớm, kịp thời huy động lực lượng, phương tiện khống chế, dập tắt đám cháy. So với cùng kỳ mùa khô năm 2012-2013: giảm 3 vụ cháy, diện tích cháy giảm 1,3 ha, diện tích có rừng thiệt hại giảm 2,1 ha.
Trong những năm qua, Hạt Kiểm lâm Phúc Yên luôn thực hiện tốt việc phân vùng trọng điểm cháy trên phạm vi toàn thị xã. Tổng diện tích rừng có nguy cơ cháy cao khoảng 2.390,0 ha (tập trung chủ yếu khu Lập Đinh: 750 ha, khu Thanh Cao: 380 ha, khu Đồng Trầm: 300 ha, Trung tâm KH lâm nghiệp Đông Bắc Bộ: 960 ha); đối tượng chủ yếu là rừng trồng thuần loài; rừng tự nhiên loài cây chủ yếu là Giang, Nứa và rừng đang phục hồi.
Cùng với việc phân vùng các trọng điểm cháy, về mùa khô duy trì đều đặn thông tin dự báo và cảnh báo nguy cơ cháy rừng cứ 10 ngày/1lần, 3lần/1 tháng trên những địa bàn có rừng và các chủ rừng nhằm chủ động thực hiện công tác PCCCR, BVR theo phân vùng trọng điểm cháy được xác định.
Công tác xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ PCCCR luôn được quan tâm, Dự án nâng cao năng lực PCCCR cấp tỉnh đã đầu tư xây dựng 3 nhà gác rừng tại Đồng Câu, Thanh Cao, Lập Đinh.
Hạt Kiểm lâm Phúc Yên phối hợp với Chi cục kiểm lâm tổ chức 2 lớp tập huấn về công tác PCCCR, BVR cho 147 người tham gia là lực lượng quân đội, dân quân tự vệ và tổ đội xung kích chữa cháy rừng gồm 2 hội nghị họp cấp thôn bàn về PCCCR, BVR với 138 người dự; phát 3.000 tờ tuyên truyền về PCCCR, BVR tới các chủ rừng, nhân dân, các em học sinh tại các thôn, bản và trường học trên địa bàn xã Ngọc Thanh; phối hợp với Phòng Cảnh sát PC&CC khu vực Phúc Yên và Bình Xuyên tổ chức hội nghị bàn giải pháp và ký cam kết về công tác phòng cháy chữa cháy rừng. Số chủ rừng đã ký cam kết là 45 (có 5 tổ chức).
Mùa khô năm 2014 - 2015, Hạt Kiểm lâm Phúc Yên đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng, PCCCR tới mọi tầng lớp nhân dân, tập trung vào các khu vực trọng điểm hay xảy ra cháy rừng (thôn Thanh Cao và Lập Đinh, xã Ngọc Thanh). Tổ chức, kiện toàn lại lực lượng xung kích tại địa phương, huy động được tối đa lực lượng tại chỗ khi có cháy rừng xảy ra.
Khi có tình huống cháy rừng xảy ra phải nhanh chóng triển khai lực lượng, phương tiện dụng cụ hiện có tổ chức dập lửa kiên quyết không để cháy lan rộng, cháy lớn; công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn thị xã phấn đấu theo mục tiêu 3 giảm “Giảm diện tích rừng bị chặt phá, bị cháy, giảm tụ điểm buôn bán lâm sản trái phép, giảm số vụ vi phạm pháp luật về rừng”. (Báo Vĩnh Phúc 3/10) đầu trang(
Huyện Kon Plông đang tiến hành trồng 160ha rừng thông trên các khoảnh rừng dọc theo quốc lộ 24, bị người dân phá đi để trồng hoa màu các loại. (Thanh Niên 5/10, tr3) đầu trang(
Ngoại trừ vụ phá rừng quy mô lớn vừa xảy ra ở khu vực giáp ranh giữa xã Quế Lâm (huyện Nông Sơn) với xã Phước Hòa (huyện Phước Sơn) và khu vực rừng đầu nguồn Duy Sơn (Duy Xuyên), thì số vụ xâm hại rừng trên địa bàn tỉnh đã giảm mạnh.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, 9 tháng, ngành phát hiện, xử lý 660 vụ vi phạm liên quan đến xâm hại rừng xảy ra ở các địa bàn trọng điểm như Đông Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Bắc Trà My, Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, các khu rừng phòng hộ Phú Ninh, Nam Sông Bung...
Theo đó, hơn 900m3 gỗ các loại bị tịch thu, 53,4ha rừng bị tàn phá, cơ quan chức năng khởi tố hình sự đến 10 vụ án. Tuy nhiên, so với cùng kỳ của năm 2013 thì đã giảm 293 vụ vi phạm rừng (giảm bằng 69,3%). Phòng Quản lý – bảo vệ rừng (Chi cục Kiểm lâm tỉnh) khẳng định, con số trên là đáng tin cậy.
Bởi, việc “đóng cửa” rừng được tuân thủ nghiêm ngặt, trách nhiệm quản lý lâm phận đã được giao về cho địa phương và chủ rừng rõ ràng hơn. Mô hình quản lý, bảo vệ rừng bước đầu đem lại hiệu quả, cùng với đó là hàng loạt cơ chế, chính sách của Trung ương và tỉnh đầu tư cho công tác bảo vệ rừng bền vững.
Các dự án, chương trình, kế hoạch hành động bảo vệ “vành đai xanh”, bảo tồn đa dạng sinh học đã triển khai đồng bộ tại miền núi. Điểm sáng là người dân đã thay đổi nhận thức về bảo vệ rừng theo chiều hướng tích cực. Chỉ thời gian ngắn, các địa phương miền núi đã thành lập 204 tổ bảo vệ rừng tại 26 xã trọng điểm; quy hoạch các khu bảo tồn thiên nhiên với tổng diện tích 133.722ha, bao gồm các khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, Sao la, Ngọc Linh, Voi Nông Sơn…
Đặc biệt, chính quyền hai huyện giáp ranh Phước Sơn, Nam Giang đã có hợp tác kiểm soát chặt chẽ các hoạt động săn bắn, buôn bán động vật hoang dã; phân loại các vùng rừng ưu tiên để có kế hoạch bảo tồn sinh thái một cách hữu hiệu.
Trong khi đó, nằm trong kế hoạch dự án bảo vệ và phát triển rừng, các hạt kiểm lâm, ban quản lý rừng thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tham mưu thiết kế trồng rừng đúng tiến độ.
Trong 9 tháng, các ban quản lý rừng phủ xanh gần 1.000ha rừng trồng sản xuất và phòng hộ. Cạnh đó, ngành kiểm lâm còn đôn đốc một số đơn vị trực thuộc như Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, Hạt Kiểm lâm Phước Sơn thực hiện trồng 70ha rừng thay thế ở những diện tích được chuyển mục đích sử dụng làm mất rừng.
Theo ông Phan Tuấn – Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, ngoài việc tiếp tục cài cắm kiểm lâm ở cơ sở, ngành ráo riết siết chặt công tác quản lý địa bàn, nâng cao vai trò trách nhiệm của các chủ rừng, phối hợp với chính quyền địa phương xử lý dứt điểm các vụ xâm hại, lấn chiếm trái phép đất rừng.
Trong tháng 9.2014, UBND tỉnh phê duyệt phương án kiểm kê rừng với mục đích xác định chính xác toàn bộ diện tích rừng, trữ lượng rừng, diện tích đất chưa có rừng theo trạng thái rừng, nguồn gốc rừng và mục đích sử dụng của từng chủ rừng, từng đơn vị hành chính và đơn vị quản lý rừng để phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Thiết lập được hồ sơ quản lý rừng; xây dựng cơ sở dữ liệu kiểm kê rừng gồm cả bản đồ và số liệu, cả dạng số và dạng bản giấy theo tiêu chí và tiêu chuẩn thống nhất để phục vụ theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp hàng năm. (Báo Quảng Nam 3/10) đầu trang(
Đảo cò tại Khu du lịch sinh thái Đảo Cò, xã Chi Lăng Nam (Thanh Miện - Hải Dương) là mảnh đất được thiên nhiên trời phú phong cảnh hữu tình.
Đặc biệt là sự hiện diện của hàng chục nghìn cánh cò, vạc đã giúp nơi này trở thành điểm đến lý tưởng của vùng đồng bằng Hải Dương. Nhưng nhiều năm qua, nạn “cò tặc” tấn công. Rất nhiều cò vạc bị bắt thịt. May thay, có một người hết lòng và có “mưu” bảo vệ đàn cò khổng lồ này.
Người giỏi việc bảo vệ cò là ông Lê Văn Huy - Trưởng BQL Khu Du lịch sinh thái (DLST) Đảo Cò, là người con của quê hương Chi Lăng Nam. Ông cũng nguyên là Trưởng Công an xã Chi Lăng Nam, người góp phần làm nên bình yên thôn xóm nơi đây.
Ông Huy cho biết, không ít lần ông cùng các cựu chiến binh trong xã phải giằng co với những kẻ hám lợi muốn bắt cò làm thịt hoặc bán cho các nhà hàng. Và biết bao lần, cuộc chiến ấy diễn ra trong đêm tối mà người nghe kể sẽ không khỏi ngộp thở. Có lẽ một lần chỉ với hai người mà bắt trói được 11 “cò tặc” là lần đáng nhớ nhất.
Ông Huy cho biết, một buổi chiều, ông nghe lỏm được đám thanh niên bàn nhau sẽ dùng điện thoại liên lạc và bố trí người để nhảy xuống hồ, bơi ra đảo bắt cò, vạc. Tất cả điện thoại sẽ được bọc vào túi ni lông bơi dưới nước để không ướt và dùng tin nhắn báo cho nhau.
Hễ thấy động thì cứ tụt xuống bèo mà trú ẩn, bảo đảm không ai tìm ra. Ông Huy cũng nắm được thông tin, nhóm thanh niên này sẽ bài bố hai người ngồi xe máy ở bên bờ chính dọc sân đình để đợi. “Đấy là chúng nó bàn với nhau thế, tôi nghe thấy chúng tính toán kế hoạch rất kỹ lưỡng. Chúng nó tính toán cả đường đi khi bắt cò cho vào bao tải thì vận chuyển kiểu gì”, ông Huy cho hay.
Nắm bắt được âm mưu hại cò nên ông Huy cũng tính toán bài bố anh em vây bắt. Chỉ cần ít người thôi nhưng hiệu quả, không dễ bị lộ. Và chiều đó, sau khi thu dọn xong thì ông Huy bảo ông Thiết ra nhà để xe lấy xe, cũng nổ máy đi về. Sau đó gửi xe nhà dân và hai người quay lại, bảo đảm bí mật để đám thanh niên không hay biết.
Ông Huy kể sự việc: “Tôi không ngồi ở dưới đất, mà tôi nằm lên mái tôn của lán bán quán cạnh bờ hồ. Nhưng chỉ nằm được một lúc thì người đau ê ẩm, vì mặt của nó không bằng phẳng. Hơn nữa, tôn mỏng, khi trở mình thì nó phát ra tiếng kêu. Tôi cố để không trở mình. Nhưng rồi tự nhủ, rằng cứ nằm thế này không ổn. Tôi may mắn tìm được mảnh gỗ đặt gần đó, nên đã kéo lên mái tôn lót chỗ nằm. Tôi chờ đến chừng 8 giờ tối thì bọn “cò tặc” mới ra quân.
Chúng nó cởi truồng hết rồi lội xuống nước. Như kế hoạch, chúng để hai thằng lởn vởn đi xe máy bên ngoài chờ tín hiệu, còn phải đến hơn 10 thằng cởi truồng lội nước tiến về phía đảo. Chúng tôi đã thấy chúng dùng bao tải để đựng cò. Chừng 40 phút thì chúng lại bơi vào bờ. Tôi lẻn xuống áp sát bờ, nhưng nghĩ rằng chỉ có hai người, tôi với đồng chí Thiết cầm gậy thì không ổn. Nếu không thận trọng thì chúng chạy hết”.
Ông Huy đã chờ đến khi 9 “cò tặc” lên và đưa bao tải đựng cò cho hai tên trên bờ. Một số vẫn còn bên dưới hồ chuẩn bị làm mẻ khác. Ông Huy cầm gậy vụt một tên vừa trao chiếc bao tải và hô: “Không được bắn. Khi nào có lệnh mới được bắn”. Tiếp đó ông hét lên: “Chúng mày đứng im, thằng nào chạy sẽ bị bắn”.
Nhóm thanh niên, tất cả 11 người nghĩ ông Huy có quân mai phục, có súng nên chỉ nghe vậy thôi đã rợn người. Ông Huy nghĩ lúc đó, các đối tượng “ngại”, vì sợ đội ông có súng thật, chẳng may chạy thì sẽ dính đạn. Lúc này, ông Thiết vẫn đứng chặn ngoài cổng.
Ông Huy tiếp tục vờ nói với ra bên ngoài: “Chưa đánh vội, nếu chúng nó chạy thì cho chúng ăn đòn ngay tức khắc”. Vậy mà 11 “cò tặc” đứng im. Một số đối tượng đang trốn dưới nước cũng không dám manh động. Ông Thiết đứng bên trong thấy ông Huy hô to thì bấm đèn pin rọi ra.
Ông Huy liền ra hiệu cho ông Thiết chạy ra, trói từng tên. Lúc đó không có dây, ông Thiết cởi dây thừng của những con thuyền dưới hồ để trói từng người. Ông thủ đền tên là Cải lúc đó cũng thấy ồn ào, rọi đèn pin ra, càng làm cho bọn trộm tưởng đông người mai phục nên không dám phản ứng.
Vậy là chỉ có hai người đã bắt trói được 11 kẻ trộm cò. Trói xong, ông Huy mới gọi điện thoại cho mọi người đến. Bọn chúng ngớ người ra. Phải 15 phút sau mấy ông công an xã mới xuống đến hiện trường.
Theo tìm hiểu, trước đây, ông Huy từng là bộ đội. Xuất ngũ trở về địa phương, tham gia công tác xã hội rồi được thu nhận vào làm việc trong tổ an ninh xã, sau đó làm công an, rồi tiếp đó được đề bạt làm Trưởng Công an xã Chi Lăng Nam. Không chỉ là người góp phần giữ gìn bảo vệ bình yên thôn xóm mà trong xã có “nguồn tài nguyên” chính là đảo cò và những khu đầm đẹp mắt.
Nhưng đảo cò cùng những khu đầm cá lại là điểm thu hút sự chú ý của kẻ trộm. Kẻ thì nhằm vào ăn trộm cá, kẻ thì lẻn ra đảo bắt trộm cò. Ông Huy là người có nhiều sáng kiến trong việc chống trộm cắp cũng như có cách riêng để có thể một mình mà bắt cùng một lúc vài tên trộm khiến cho những kẻ bị bắt, bị trói mắt tròn mắt dẹt đồng thời phải mất một hồi lâu mới hiểu ra chuyện mình bị lừa.
Ông Huy còn cho biết thêm, cấp trên giao công việc quản lý cho ông cũng chỉ giao bằng miệng chứ chẳng có văn bản nào, cũng chẳng có đồng tiền công. “Vậy không phải bất quy tắc là gì. Cứ thế này làm sao mà khu phát triển được”, ông Huy thở dài. Dẫn tôi thăm một vòng hồ, ông Huy khẳng định: “Tôi không có quyền lợi, nhưng để bừa phứa thì không được. Tôi phải làm để điều tiết anh em cho nó hài hòa, để anh em khỏi đánh cãi nhau, phải để giữ gìn văn hóa, để các đối tác cùng hài hòa, bình yên, phát triển. Trước tôi làm trưởng công an xã, năm 2012, tôi về nghỉ hưu và ra đây cùng bà con bảo vệ cò. Cũng có nhiều người tâm huyết như tôi”.
Theo tìm hiểu, dịp đầu tháng 6/2014 cũng có vài đối tượng dùng súng đột nhập vào đảo để bắn cò. Hai đối tượng đã bị bắt đó là Hồ Văn Chỉnh (SN 1964) và Đoàn Văn Thành (SN 1995). Chỉ trong nháy mắt, hai đối tượng đã hạ sát 5 con hạc đen, loài chim mới đến đảo cò.
Công an xã Chi Lăng Nam được thông báo và đã bố trí, bắt quả tang hai đối tượng. Tang vật thu giữ tại chỗ gồm hai khẩu súng săn bắn đạn hoa cải. Cả Chỉnh và Thành đều ở xã Gia Xuyên, huyện Gia Lộc (Hải Dương).
Ông Lê Văn Thiết, một người cũng tận tâm bảo vệ cò cho hay: “Có mưu bắt bọn cò tặc thì chúng tôi mới đủ tự tin. Bảo vệ là trách nhiệm và nghĩa vụ của người dân chúng tôi”.
Chung tâm sự ấy, ông Đào Quang Thắng, người hết lòng yêu thương đàn cò, vạc cho hay: “Ông Huy có nhiều mẹo hay lắm. Một mình ông ấy còn bắt gọn bốn kẻ kéo lưới trộm, đến khi đưa về ủy ban xã thì bọn họ mới ớ người ra là chỉ có mỗi mình ông Huy. Nhiều nơi người ta cho khai thác cò bừa bãi. Nhưng ở đây thì không, chúng tôi hết lòng bảo vệ. Nhưng chỉ thiếu cơ chế để bảo vệ thôi anh ạ”.
Cơ chế đó là gì? Trước hết là sự quan tâm của các cấp chính quyền, đồng thời sớm có những phương án kè bờ, trồng mới cây, khuyến khích và ghi công những người dám dấn thân bảo vệ đảo cò. Sau đó là những chính sách đầu tư cho phát triển du lịch, bởi dự án quy hoạch đã có từ năm 2009, nhưng đến nay phần lớn vẫn... nằm trên giấy! (Sức Khỏe & Đời Sống 5/10, tr4) đầu trang(
2/10, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình, Hạt Kiểm lâm thành phố Đồng Hới và chính quyền địa phương đã tiến hành tuyên truyền, ký cam kết không kinh doanh, buôn bán, giết mổ và trưng bày quảng cáo các mẫu vật, sản phẩm động vật rừng trái phép tại địa bàn thành phố Đồng Hới.
Tại 13 cơ sở kinh doanh nhà hàng, quán ăn trên địa bàn thành phố Đồng Hới, Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình, Hạt Kiểm lâm Đồng Hới đã phổ biến về giá trị, tầm quan trọng của các loại động vật trong tự nhiên; Các văn bản quy phạm pháp luật và những quy định về quản lí động vật rừng của cơ quan chức năng và chính quyền địa phương.
Bên cạnh việc kiểm tra các nhà hàng, cơ sở kinh doanh, đoàn cũng đã kết hợp tuyên truyền, phát tờ rơi, dán tranh cổ động và ký cam kết giữa Hạt Kiểm lâm thành phố Đồng Hới, chính quyền địa phương và chủ nhà hàng, quán ăn về nội dung không kinh doanh, buôn bán, giết mổ và trưng bày quảng cáo các mẫu vật, sản phẩm động vật rừng trái phép; Hợp tác với cán bộ kiểm lâm và cơ quan chức năng, chính quyền địa phương trong công tác quản lí động vật rừng.
Hoạt động nằm trong kế hoạch tổ chức chiến dịch ngăn chặn và ký cam kết không kinh doanh, buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp động vật hoang dã và sản phẩm của chúng tại 3 huyện thuộc vùng đệm Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng và thành phố Đồng Hới. (Đài PTTH Quảng Bình 2/10) đầu trang(
Theo thống kê của các cơ quan chức năng, hiện có rất nhiều sản phẩm từ động vật hoang dã (ĐVHD) như ngà voi, hổ, tê giác… đang được tiêu thụ trên thị trường. Đây cũng là mối quan tâm lớn của các cơ quan quản lý, cũng như các tổ chức bảo tồn đa dạng sinh học trong việc bảo vệ các loài ĐVHD trong thời gian qua.
Theo thống kê của Cục Kiểm lâm năm 2013, có 25 tấn động vật hoang dã bị tịch thu tương đương với khoảng 13.400 cá thể. Chỉ tính đến hết tháng 3/2014, có khoảng 5,5 tấn động vật hoang dã bị tịch thu. Các loài này thường là động vật quý hiếm như tê tê, hổ, ngà voi…
Đây chỉ là con số về số lượng bị tịch thu, nếu tính được số lượng động vật quý hiếm bị buôn bán thì con số chắc chắn còn lớn hơn thế. Đơn cử, hiện nay số lượng gấu bị nuôi nhốt trong trang trại theo con số thống kê không chính thức thì có khoảng 2000 cá thể, trong khi đó chỉ còn khoảng 100 cá thể gấu ngoài tự nhiên, hổ chỉ còn khoảng 10- 20 cá thể… Chính vì thế rất cần những hoạt động bảo vệ động vật hoang dã hiện nay.
Khảo sát mới nhất của Viện Xã hội học vừa qua cho thấy, việc sử dụng và tiêu thụ sản phẩm ĐVHD là hiện tượng tương đối phổ biến trong nhóm tuổi từ 20 - 69 trong khu vực đô thị Hà Nội. Theo đó, tỷ lệ người trả lời đã từng sử dụng các loại thực phẩm, làm thuốc và đồ trang trí từ động vật hoang dã tương ứng 69%, 67% và gần 12%.
Nghiên cứu cũng chỉ ra việc tiêu thụ các sản phẩm từ ĐVHD đã trở nên bình dân hơn, chứ không còn để thể hiện “đẳng cấp”, địa vị xã hội. Người làm việc trong khu vực nhà nước, liên doanh là 2 trong số các nhóm có xác suất sử dụng các sản phẩm từ động vật hoang dã nhất. Tuy vậy, những người kinh doanh, buôn bán nhỏ và người cao tuổi, nghỉ hưu lại chiếm tỷ lệ lớn nhất trong nhóm đã sử dụng sản phẩm động vật hoang dã.
Đặc biệt, trong số những người đã sử dụng thực phẩm từ ĐVHD, có 64% nói rằng họ sử dụng vì được mời, hoặc được cho, biếu. Trên 34% người trả lời nói do “mới lạ” chính là lý do họ sử dụng, chỉ có 8% tin rằng những thực phẩm này là thực phẩm bổ dưỡng cho sức khỏe.
Chỉ có một tỷ lệ nhỏ nói họ sử dụng các loại thực phẩm từ động vật hoang dã là để chữa bệnh, hay vì nó là “mốt thời thượng”. Đối với sản phẩm thuốc, “mục tiêu chữa bệnh”, “bồi bổ sức khỏe”, “do được biếu, được mời” là 3 lý do chính của việc sử dụng loại sản phẩm này. Tương ứng với 71%, 27% và 21%.
Đánh giá về tình trạng trên, ông Nguyễn Thế Đồng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường cho biết, mặc dù phần lớn người được hỏi đều nhận thấy nhu cầu cấp thiết phải bảo vệ các loài ĐVHD nguy cấp khỏi nguy cơ tuyệt chủng nhưng nhận thức của họ vẫn thấp về mối liên quan giữa việc mua, sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ ĐVHD và các tác động trực tiếp cũng như hậu quả mà nó gây ra đối với các quần thể ĐVHD trong tự nhiên.
Do đó, cần phải có trách nhiệm thúc đẩy các nỗ lực làm giảm nhu cầu sử dụng sản phẩm có nguồn gốc từ ĐVHD thông qua việc tuyên truyền về các hệ lụy từ việc tiêu thụ trái phép và không bền vững các loài ĐVHD và khuyến khích sử dụng các sản phẩm thay thế nhằm bảo vệ các loài ĐVHD trong tự nhiên.
Theo Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV), tại Việt Nam, kiểm lâm thường là lực lượng trực tiếp tại hiện trường tham gia bảo vệ ĐVHD, nhưng lực lượng này vừa mỏng, vừa quyền lực có hạn khiến việc bảo tồn các ĐVHD quý hiếm ngày càng khó khăn.
Bởi vậy, chính quyền địa phương, công an và kiểm lâm cần phối hợp truy quét các điểm nóng và xử lý nghiêm các vụ vi phạm về ĐVHD. Các cơ quan bảo vệ pháp luật ở các địa phương cũng cần điều tra, đưa ra truy tố, xét xử nghiêm các vụ vi phạm về ĐVHD để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng răn đe, ngăn ngừa tội phạm.
Để khuyến khích cộng đồng cùng tham gia vào bảo vệ ĐVHD, bà Nguyễn Thị Phương Dung, Phó Giám đốc ENV cho biết, đến nay, ENV đã tiếp nhận được 7.500 vụ vi phạm, trong đó rất nhiều vi phạm là do người dân thông báo. ENV luôn ưu tiên việc bảo mật thông tin cá nhân của người báo tin lên hàng đầu. Khi tiếp nhận thông báo vi phạm về ĐVHD từ người dân, ENV sẽ kiểm tra độ chính xác của thông tin và chuyển giao cho các cơ quan chức năng chuyên trách như Kiểm lâm, Cảnh sát môi trường, Công an.
Bà Nguyễn Thị Phương Dung cũng cho biết, vừa qua ENV cũng kêu gọi cộng đồng ứng dụng phần mềm "ENV – SOS Động vật hoang dã” trên điện thoại thông minh. Ứng dụng này giúp người dân thông báo vi phạm về ĐVHD một cách dễ dàng, nhanh chóng và chính xác. Chỉ vài phút sử dụng ứng dụng này, người dân đã có thể cập nhật những thông tin chính xác nhất cho các cơ quan chức năng về vi phạm ĐVHD mà họ chứng kiến.
Với phần mềm này, toàn bộ thông tin, ảnh và địa điểm nơi vụ việc xảy ra được định vị bằng GPS sẽ ngay lập tức được gửi tới phòng Bảo vệ ĐVHD của ENV. Sau đó, ENV sẽ chuyển giao vụ việc tới các cơ quan chức năng địa phương, giúp các cơ quan chức năng xử lý, phản hồi lại tin báo của người dân một cách nhanh chóng và hiệu quả. (Đảng Cộng Sản 1/10) đầu trang(
Tổ chức Bảo vệ động vật hoang dã WAR mới đây vừa công bố thêm một loài hoa Cẩm cù mới, có tên là Cẩm cù vân nam (Hoya yuennanensis). Đây là một loài hoa có mùi thơm quyến rũ như Chocolate vậy.
Trong chuyến khảo sát đa dạng sinh học hồi tháng 5/2014 tại vườn Quốc gia Bidoup-Núi Bà, nhóm khảo sát gồm các chuyên gia của Tổ chức WAR đa phát hiện loài Cẩm cù này ở độ cao 1600m, với nhiều chùm hoa hình sao, nhiều đốm tím và có mùi thơm quyến rũ.
Đây là lần đầu tiên Cẩm cù vân nam được ghi nhận phân bố tại Việt Nam. Trước đây loài này được coi là đặc hữu của Vân Nam– Trung Quốc. Với phát hiện này, Việt Nam hiện nay có 27 loài Cẩm cù đã được ghi nhận.
Quá trình thu mẫu và định danh được thực hiện bởi Phạm Đoàn Quốc Vương (chuyên gia bảo tồn của tổ chức WAR), với sự hỗ trợ thông tin của Giáo sư Leonid V. Averyanov (Viện thực vật Komarov, Nga) và anh Phạm Văn Thế (viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Việt Nam). (Một Thế Giới 3/10) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Rừng cộng đồng đã tồn tại như là một phần của truyền thống địa phương. Nó gắn các lợi ích của người dân với tín ngưỡng tâm linh và tôn giáo của cộng đồng và đóng một vai trò quan trọng trong đời sống và văn hóa của các nhóm dân tộc thiểu số miền núi.
Để thúc đẩy lợi ích của cộng đồng và vai trò của họ trong sự bền vững của rừng, nhà nước Việt Nam đã và đang giao rừng cho cộng đồng quản lý và sử dụng lâu dài từ những năm 1990.
Đã có một số mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng thực hiện ở các khu vực khác nhau với sự hỗ trợ của Chính phủ Việt Nam và các tổ chức quốc tế và đã đạt được những thành tựu quan trọng.
Trong bối cảnh ngành lâm nghiệp hiện đang đứng trước những cơ hội đổi mới và hội nhập, GĐGR có tiềm năng lớn trong việc kiến tạo những thay đổi cho ngành thông qua việc đổi mới các công ty lâm nghiệp và tăng cường sự tiếp cận của người dân đối với đất và rừng. Bên cạnh đó, phát huy những ưu điểm của hình thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng cũng có tiềm năng tạo ra những thay đổi quan trọng trong quản trị rừng hiện tại.
Kỳ vọng thay đổi hình thức quản lý lâm nghiệp Nhà nước theo hướng hiệu quả hơn, chuyển đổi từ hình thức quản lý lâm nghiệp Nhà nước với trọng tâm là các công ty lâm nghiệp (CTLN) sang hình thức quản lý lấy hộ gia đình và cộng đồng làm trung tâm.
Để thực hiện điều này đòi hỏi cần có những bước đột phá trong cải cách thể chế lâm nghiệp và đất đai, nhằm dịch chuyển đất đai từ các CTLN, đất do xã đang quản lý sang các hộ và cộng đồng. Bên cạnh đó cần phải có những cam kết mạnh mẽ cả ở Trung ương và địa phương và phân bổ nguồn lực cần thiết để đảm bảo những chính sách mới được thực thi hiệu quả và đồng bộ ở các cấp.
Từ năm 2011 đến nay, với sự tài trợ của Viện Rosa Luxemburg Stiftung vùng Đông Nam châu Á, Trung tâm C&E và các đối tác địa phương ở Thừa Thiên Huế và Quảng Nam đã thực hiện dự án thí điểm “Quản lý bền vững rừng tự nhiên thông qua nâng cao nhận thức và xây dựng năng lực để sử dụng quyền và địa vị pháp lý của cộng đồng dân tộc thiểu số đối với rừng tự nhiên ở miền Trung Việt Nam”.
Thí điểm cho thấy một mô hình quản lý bền vững rừng hiệu quả có thể hỗ trợ cộng đồng địa phương trong việc thực hiện đầy đủ các quyền và duy trì cuộc sống và văn hóa của họ và có thể được nhân rộng đến các khu vực lớn rừng tự nhiên nơi có tỷ lệ hộ nghèo cao trong các dân tộc thiểu số trong khu vực.
Để hỗ trợ các hộ và cộng đồng sử dụng đất một cách hiệu quả, tạo động lực cho hộ và cộng đồng phát triển và bảo vệ nguồn tài nguyên rừng đồng thời góp phần hỗ trợ quá trình đổi mới và hội nhập của ngành Lâm nghiệp tốt hơn, Trung tâm Phát triển Sáng kiến Cộng đồng và Môi trường (C&E) phối hợp với Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam (VUSTA) và Tổng cục Lâm nghiệp tổ chức Hội thảo “Chia sẻ kinh nghiệm về sử dụng quyền và trách nhiệm của cộng đồng dân tộc thiểu số trong quản lý rừng tự nhiên”, dự kiến 24/10 tại thành phố Hà Nội. Hội thảo do Viện Rosa Luxemburg Đức, văn phòng vùng Đông Nam châu Á tài trợ. (Con Người & Thiên Nhiên 3/10) đầu trang(
Việc buông lỏng quản lý trong công tác cho thuê đất lâm nghiệp ở Đác Nông đang khiến hàng chục nghìn ha đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trái phép, đất rừng bị tàn phá, phát sinh tranh chấp và kiện cáo. UBND tỉnh cần sớm vào cuộc chấn chỉnh tình trạng này.
Theo UBND tỉnh Đác Nông, tính đến thời điểm hiện nay trên địa bàn tỉnh đã có 48 tổ chức, đơn vị được tỉnh giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp thực hiện 49 dự án đầu tư sản xuất nông-lâm nghiệp, trong đó có 48 dự án của 47 đơn vị thuê đất, một dự án của một đơn vị được giao đất với tổng diện tích đất lâm nghiệp đã giao và cho thuê là hơn 51 nghìn ha, bao gồm cho thuê đất 40.740 ha và giao rừng 9.417,24 ha.
Ngoài ra, các đơn vị, doanh nghiệp trong tỉnh còn thực hiện 21 hợp đồng liên doanh, liên kết với diện tích hơn 6.000 ha; đồng thời tổ chức ký kết 339 hợp đồng giao khoán quản lý, bảo vệ rừng theo Nghị định 135/2005/NĐ-CP cho 367 hộ dân với tổng diện tích giao khoán là hơn 4.000 ha…
Qua kiểm tra, rà soát mới đây của các ngành chức năng của tỉnh đã phát hiện nhiều đơn vị, doanh nghiệp được Nhà nước cho thuê đất, giao rừng đã buông lỏng quản lý dẫn đến diện tích rừng tự nhiên bị chặt phá với diện tích lớn; tình trạng người dân xâm canh, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép với diện tích lên đến hàng chục nghìn ha nhưng các chủ rừng, đơn vị được giao quản lý, bảo vệ rừng, sử dụng đất lâm nghiệp không quản lý được và chưa có giải pháp khắc phục gây tổn thất lớn đến tài nguyên và ảnh hưởng nghiêm trọng môi trường sinh thái.
Một số đơn vị triển khai các hạng mục dự án chậm tiến độ hoặc không triển khai và triển khai không đúng quyết định phê duyệt của dự án; thậm chí các cá nhân, hộ gia đình tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất không đúng quy định, lấn chiếm đất, tự ý chuyển mục đích sử dụng đất trái phép…
Trên cơ sở kiểm tra, rà soát, các ngành chức năng đã tham mưu cho UBND tỉnh Đác Nông ra quyết định thu hồi 13 dự án đầu tư sản xuất nông-lâm nghiệp, trong đó tám dự án bị thu hồi toàn bộ và năm dự án bị thu hồi một phần với diện tích thu hồi là hơn 9.000 ha. UBNB tỉnh cũng chỉ đạo các đơn vị thanh lý 14 hợp đồng liên doanh, liên kết sai quy định, không hiệu quả với diện tích hơn 4.387 ha.
Ngoài việc các đơn vị, doanh nghiệp được giao đất, giao rừng đã buông lỏng quản lý dẫn đến diện tích lớn rừng tự nhiên bị chặt phá, các ngành chức năng của tỉnh còn phát hiện 1.653 vụ lấn chiếm đất lâm nghiệp với diện tích 2.681 ha và 127 vụ tự ý chuyển đổi mục đích trái phép với diện tích 28 ha, trong đó các cơ quan có thẩm quyền chỉ mới xử phạt vi phạm hành chính 16 vụ.
Bên cạnh đó, trong thời gian từ ngày 1-1-2004 đến này 31-12-2013, các ngành chức năng trên địa bàn tỉnh đã nhận được 3.607 đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến tranh chấp đất đai, trong đó đã giải quyết được 3.578 đơn thư.
Theo đánh giá của UBND tỉnh Đác Nông, tồn tại, hạn chế lớn nhất trong công tác quản lý rừng, đất lâm nghiệp là hiện tượng buông lỏng quản lý trong công tác kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn của các cơ quan chức năng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn. Bên cạnh đó, chính quyền cơ sở chưa nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong công tác quản lý, bảo vệ rừng; công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành, các địa phương thiếu chặt chẽ, không đồng bộ trong việc giao đất, giao rừng.
Công tác thẩm định dự án của các cơ quan chuyên môn chưa chặt chẽ, không căn cứ hiện trạng rừng, đất lâm nghiệp trong thực tế mà chỉ căn cứ số liệu thống kê do chủ dự án lập.
Trong khi đó, các doanh nghiệp không có năng lực tài chính, chuyên môn, nhân lực nên khi được Nhà nước cho thuê đất, giao rừng không triển khai dự án dẫn đến rừng bị chặt phá, lấn chiếm, xảy ra tranh chấp, thậm chí có doanh nghiệp thế chấp dự án để vay ngân hàng lấy tiền sử dụng cho mục đích khác.
Điển hình là năm 2006, UBND tỉnh Đác Nông có quyết định cho Công ty CP Chế biến lâm sản và xuất khẩu Thăng Long (gọi tắt là Công ty Thăng Long có trụ sở tại phường Ea Tam, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đác Lắc) thuê 516 ha đất rừng để thực hiện dự án bảo vệ phát triển rừng và trồng rừng nguyên liệu trên địa bàn xã Trường Xuân, huyện Đác Song.
Sau khi thuê đất, Công ty Thăng Long đã không triển khai thực hiện dự án, không xây dựng phương án quản lý bảo vệ rừng, cải tạo rừng tự nhiên, trồng rừng nguyên liệu, mà buông lỏng công tác quản lý bảo vệ rừng... dẫn đến hàng trăm ha rừng bị mất trắng, xóa sổ hoàn toàn.
Theo kết quả xác minh của Phòng Cảnh sát môi trường Công an tỉnh Đác Nông vào cuối tháng 7 vừa qua, đã có tới 400 ha rừng tại Tiểu khu 1678, thuộc địa phận huyện Đác Song do Công ty Thăng Long thuê đã bị xóa sổ hoàn toàn…
Thêm vào đó là việc ban hành các cơ chế, chính sách hưởng lợi từ việc giao đất, giao rừng đối với doanh nghiệp thực hiện dự án quản lý, bảo vệ và phát triển rừng cũng như trách nhiệm của các doanh nghiệp còn nhiều bất cập. Ngoài ra, công tác quản lý rừng, đất lâm nghiệp của các chủ rừng còn nhiều yếu kém.
Ngay cả các ngành chủ quản, chính quyền địa phương cũng còn nhiều yếu kém, tắc trách, buông lỏng quản lý trong việc giao rừng và giữ rừng. Thực trạng tồn tại hiện nay là các công ty lâm nghiệp được giao đất, giao rừng và giữ rừng chủ yếu là trên giấy chứ chưa giao theo thực tế ngoài thực địa. Nhiều diện tích người dân đã sử dụng ổn định , trồng cây công nghiệp dài ngày từ nhiều năm nay nhưng trên bản đồ hiện trạng khi giao đất, giao rừng, để quản lý vẫn thể hiện đất có rừng.
Mặt khác, thời gian qua ngoài việc dân di cư tự do từ các tỉnh, thành phố ồ ạt kéo đến đến Đác Nông làm ăn, sinh sống, tạo áp lực lớn về đất ở, đất sản xuất là do giá các loại nông sản tăng cao dẫn đến một số đối tượng kéo nhau đi phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, sau đó chuyển nhượng lại cho các hộ dân để thu lợi bất chính.
Người dân địa phương nghe tin các dự án nông-lâm nghiệp có chủ trương hoặc thông tin về vị trí dự án trên phần diện tích rừng nghèo chuyển đổi sang trồng một số loại cây công nghiệp đã cố tình vào khu vực dự án để phá rừng canh tác nhằm được bồi thường thiệt hại về cây trồng và được hỗ trợ về công khai phá.
Một số nơi, các tổ chức, cá nhân lợi dụng mối quan hệ với các công ty lâm nghiệp đã ký hợp đồng giao khoán đất lâm nghiệp để cùng thực hiện dự án. Tuy nhiên, nhiều trường hợp sau khi ký hợp đồng các đối tượng không chịu đầu tư mà chỉ chờ thời cơ để chuyển nhượng hợp đồng trái phép cho người khác để kiếm lời.
Đặc biệt, một số đơn vị mới được UBND tỉnh đồng ý chủ trương cho thực hiện dự án trồng rừng và cây công nghiệp nhưng đã tự ý đến bao chiếm đất, đuổi các hộ dân đang sử dụng đất để thực hiện dự án, trong khi các đơn vị này chưa thỏa thuận với các hộ dân và chưa được UBND tỉnh ban hành quyết định cho thuê đất…
Trước tình trạng trên, UBND tỉnh Đác Nông cần sớm vào cuộc chấn chỉnh tình trạng buông lỏng quản lý rừng và đất lâm nghiệp như lâu nay. (Nhân Dân 4/10) đầu trang(
Theo Ban Chi đạo Tây Nguyên, khu vực Tây Nguyên hiện có 7 mô hình quản lý rừng bền vững, trong đó các dự án quốc tế hỗ trợ ba mô hình, còn lại là các địa phương chủ động triển khai.
Các mô hình có tổng diện tích tự nhiên đang được thí điểm gồm 119.185 ha. Trong các mô hình quản lý rừng bền vững, Công ty Lâm nghiệp Đắk Tô là đơn vị đầu tiên của Việt Nam đã được cấp Chứng chỉ gỗ có kiểm soát và đang hoàn thiện để cấp Chứng chỉ quản lý rừng bền vững quốc tế FSC cho 16.100 ha rừng tự nhiên là rừng sản xuất cho giai đoạn 2011 - 2016.
Các mô hình quản lý rừng bền vững cơ bản đã hạn chế được tình trạng xung đột giữa người dân và doanh nghiệp, rừng được quản lý tốt hơn, tình trạng khai thác và xâm lấn trái phép giảm. Các chủ rừng chủ động được một số hoạt động bảo đảm nguồn thu từ khai thác rừng để cân đối cho bảo vệ và phát triển rừng.
Hiệu quả kinh doanh, thu nhập của người dân từng bước tăng cao (bình quân 20% năm); một số cơ sở hạ tầng như: trường học, nhà văn hóa... được xây dựng. Tạo việc làm, thu hút được lao động tại chỗ là đồng bào DTTS. (Tin Tức 2-8/10, tr7) đầu trang(
Thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo Nghị định 99 năm 2010 của Chính phủ, Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé (gọi tắt là Ban quản lý) đã tiến hành giao khoán cho 49 nhóm hộ, đơn vị với tổng số 1.558 hộ, nhận khoán trên 25.546ha rừng, còn lại Ban Quản lý tự tổ chức lực lượng bảo vệ hơn 5.664ha.
Để công tác quản lý, bảo vệ rừng hiệu quả, ngay từ đầu năm 2014, Ban quản lý đã phối hợp với chính quyền các xã, cơ quan đóng trên địa bàn tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; phòng cháy chữa cháy rừng, bảo tồn đa dạng sinh học cho 4.977 người.
Đồng thời, hướng dẫn nhóm nhận khoán thành lập, xây dựng quy chế hoạt động của 38 ban quản lý rừng cộng đồng. Sau khi ký hợp đồng nhận khoán với Ban quản lý, các nhóm hộ nhận khoán đã tổ chức 242 cuộc tuần tra khu rừng được giao khoán với 2.474 lượt người tham gia.
Trong đó, xã Sín Thầu 490 lượt người, xã Leng Su Sìn 513 lượt người; Chung Chải 463 lượt người; Nậm Kè 400 lượt người và trên 600 lượt người ở xã Mường Nhé. Qua tuần tra đã phát hiện ngăn chặn kịp thời tác động tiêu cực vào rừng khu bảo tồn, do đó diện tích rừng khu bảo tồn được bảo vệ tốt, thuận lợi cho cây rừng sinh trưởng, phát triển.
Từ đầu năm đến nay, các nhóm nhận khoán đã phát hiện 1 vụ vi phạm khai thác rừng trái phép tại tiểu khu 178, khoảnh 10 (xã Nậm Kè), Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé đã ra quyết định tịch thu 0,571m3 gỗ Pơ mu, nhóm IIA, gỗ xẻ và 1 cưa xăng đã qua sử dụng sung công quỹ Nhà nước.
Tạo thuận lợi cho người nhận khoán bảo vệ rừng tăng thu nhập, trang trải cuộc sống, đến nay, Ban Quản lý đã ứng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2013 cho 34/49 nhóm hộ nhận khoán với tổng số tiền hơn 3,9 tỷ đồng.
Đó là động lực để người nhận khoán trách nhiệm hơn trong việc tham gia bảo vệ rừng. Từ năm 2013 đến nay, đã giảm số vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, rừng được bảo vệ tốt phát huy hiệu quả phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái. (Báo Điện Biên Phủ 3/10) đầu trang(
Tại hội nghị trực tuyến sơ kết 3 năm thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24.9.2010 của Chính phủ, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã nhìn nhận chính sách đã tạo nguồn tài chính ổn định, giảm áp lực cho ngân sách, góp phần bảo vệ môi trường bền vững.
Theo Tổng cục Lâm nghiệp (thuộc Bộ NN&PTNT), qua 3 năm (2011 - 2013), tổng diện tích rừng trong các lưu vực có cung ứng DVMTR trên cả nước khoảng 4,1 triệu héc ta, các địa phương đã giải ngân gần 1.400 tỷ đồng cho các chủ rừng nhận giao khoán bảo vệ 2,8 - 3,3 triệu héc ta rừng trên tổng số gần 14 triệu héc ta rừng của cả nước (chiếm 20 - 27%).
Từ tiền hỗ trợ, người dân nhiệt tình tham gia bảo vệ rừng. Tín hiệu lạc quan là từ khi triển khai chính sách này, cùng với chủ trương “đóng cửa” rừng nên tổng diện tích rừng bị phá năm 2013 giảm gần 60% so với thời điểm năm 2010. Mức thu nhập bình quân trong cả nước của mỗi hộ nhận khoán bảo vệ rừng từ DVMTR trên dưới 2 triệu đồng/năm.
Một số nơi, đơn giá chi vượt khung giá hỗ trợ của ngân sách nhà nước, cao nhất là 450 nghìn đồng/ha/năm. Các tỉnh có mức thu nhập bình quân của gia đình cao như tỉnh Lâm Đồng trên 8 triệu đồng/hộ/năm, Bình Phước 7,2 triệu đồng, Kon Tum 5,7 triệu đồng, Quảng Nam mỗi hộ nhận bình quân 2 triệu đồng/năm. Các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên, nơi có nhiều nhà máy thủy điện đang hoạt động khẳng định, chính sách đã giải quyết khó khăn về kinh phí hoạt động cho các chủ rừng, tạo nguồn tài chính bền vững, giảm áp lực chi ngân sách.
Từ năm 2013, Chính phủ chủ trương tạm dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên, dẫn đến một số chủ rừng, công ty lâm nghiệp không còn nguồn thu từ khai thác rừng thì nguồn tiền DVMTR giúp cho các đơn vị khôi phục sản xuất, hỗ trợ công tác bảo vệ rừng hiệu quả.
Từ năm 2011 đến hết tháng 8.2014, tiền DVMTR đã chi trả cho 43 công ty ở khu vực Tây Nguyên với 195,5 tỷ đồng. Nếu như nguồn ngân sách nhà nước đáp ứng khoảng 29% tổng mức đầu tư cho ngành lâm nghiệp thì trong 2 năm gần đây nguồn DVMTR đạt bình quân 1.100 tỷ đồng/năm (chiếm tỷ trọng 22,3% nguồn kinh phí đầu tư cho toàn ngành lâm nghiệp).
Tại Quảng Nam, tốc độ che phủ rừng đạt theo kế hoạch chính là nhờ nguồn DVMTR. Đột phá lớn nhất của chính sách, theo Sở NN&PTNT là ngoài việc tài nguyên rừng bất khả xâm phạm, người dân còn thoát nghèo bền vững, mạnh dạn đầu tư các mô hình phát triển chăn nuôi, trồng trọt dưới tán rừng tự nhiên. Phương châm lấy rừng nuôi rừng được cụ thể hóa.
Ở Quảng Nam, thực tế trong thời gian qua, tình trạng phá rừng quy mô lớn tập trung vào khu vực rừng phòng hộ Phú Ninh, Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, rừng đặc dụng ở đầu nguồn thủy điện… Chủ rừng là các ban quản lý, nông lâm trường nắm giữ diện tích lớn trong khi năng lực quản lý, bảo vệ còn hạn chế nên dễ bị “chảy máu” tài nguyên.
Thành công của DVMTR là giao khoán bảo vệ rừng lâu dài cho nhóm hộ; người dân được hưởng lợi là lực lượng đông đúc “gác cổng rừng”; các hành vi xâm hại rừng được phát hiện, xử lý kịp thời. Kết quả nghiệm thu rừng trong phạm vi chi trả DVMTR cho thấy, tình trạng khai thác lâm sản, phát rừng làm nương rẫy… giảm mạnh. Đặc biệt, trước “cơn sốt” giá ươi vừa qua ở các huyện miền núi của tỉnh, các hộ nhận khoán là lực lượng chủ lực truy đuổi, ngăn chặn các đối tượng triệt hạ vô tội vạ sản vật rừng.
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nhấn mạnh, DVMTR đã chuyển biến mạnh ở các địa phương miền núi, bảo vệ môi trường sinh thái, giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu. Phó Thủ tướng cho rằng, sắp đến cần thay đổi nhận thức của người sử dụng dịch vụ rừng, coi việc chi trả DVMTR là nghĩa vụ tài chính bắt buộc để góp phần bảo vệ, phát triển “lá phổi xanh”.
Các chủ rừng trực tiếp hưởng lợi phải nâng cao vai trò trách nhiệm. Do vậy, các địa phương cần có biện pháp kiên quyết hơn nữa trong rà soát, xác định rừng, chủ rừng, đối tượng sử dụng dịch vụ rừng cần chi trả, tăng cường cơ chế giám sát, đánh giá và chế tài xử phạt.
Về nhiệm vụ sắp đến, Chính phủ yêu cầu Bộ Công Thương chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam rà soát các hợp đồng chi trả DVMTR đã ký, có biện pháp với những dự án thủy điện nhỏ chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định, nhất là xử lý nghiêm dự án cố tình chậm “trả nợ rừng”. (Báo Quảng Nam 3/10) đầu trang(
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, sau ba năm thực hiện đã thu được nhiều kết quả quan trọng, góp phần trong việc bảo vệ rừng, nâng cao thu nhập cho các tổ chức, cá nhân, cải thiện hiệu quả môi trường rừng, môi trường nước...
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có những hạn chế cần tiếp tục khắc phục trong thời gian tới, trong đó có việc áp dụng mức phí đối với các doanh nghiệp phải chi trả loại dịch vụ này hiện còn nhiều bất cập.
Mức tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng theo quy định từ giai đoạn thí điểm năm 2008 đến nay đã hơn 5 năm, nhưng vẫn áp dụng mức chi trả 40 đồng/m 3 nước sinh hoạt và 20 đồng/kW điện thương phẩm đối với các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ môi trường rừng.
Trong khi đó, giá điện và nước sinh hoạt luôn tăng hằng năm, đến nay giá điện đã tăng 1,6 lần, giá nước tăng gần gấp hai lần. Việc không tăng mức chi trả dịch vụ môi trường rừng khi giá điện, nước tăng đã làm ảnh hưởng đến mức thu nhập và quyền lợi chính đáng của các tổ chức, cá nhân nhận khoán bảo vệ rừng.
Do đó, để bảo đảm quyền lợi cho người dân, đề nghị Chính phủ điều chỉnh mức thu tiền dịch vụ môi trường rừng của các cơ sở sản xuất điện, sản xuất nước cho phù hợp với việc điều chỉnh theo tỷ lệ tăng giá điện, nước sinh hoạt hằng năm.
Bên cạnh đó, để tránh gây thiệt thòi cho người bảo vệ rừng, đề nghị các cơ quan có trách nhiệm sớm đưa các dịch vụ khác như: hấp thụ và thu giữ các-bon rừng và dịch vụ cung ứng bãi đẻ, con giống, môi trường tự nhiên phục vụ phát triển thủy sản... là những loại dịch vụ sử dụng môi trường rừng theo quy định của Chính phủ vào diện phải chi trả tiền để nâng cao thu nhập cho cộng đồng, góp phần bảo vệ và phát triển rừng bền vững. (Nhân Dân 4/10) đầu trang(
Ðể huy động nguồn lực xã hội cho bảo vệ và phát triển rừng, góp phần cải thiện sinh kế cho người làm nghề rừng ở khu vực miền núi, ngày 24-9-2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định 99/2010/NÐ-CP.
Theo đó, các nhà máy thủy điện sử dụng nguồn nước thô tại các dòng sông (Ðồng Nai, Sông Bé và Sài Gòn, thuộc lưu vực tỉnh Bình Phước) phải trả phí môi trường rừng cho Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BV và PTR) Việt Nam. Tuy nhiên, có thủy điện từ năm 2011 đến nay còn nợ hàng chục tỷ đồng phí môi trường rừng.
Báo cáo của Quỹ BV và PTR Bình Phước cho thấy, tổng số tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) phải thu và truy thu từ năm 2011 đến 2013 của các nhà máy thủy điện trên địa bàn là gần 35,5 tỷ đồng. Ðó là chưa tính năm 2014, với khoảng 20 tỷ đồng.
Tuy nhiên, đến nay nguồn thu phí môi trường rừng mới đạt 11,2 tỷ đồng, không đủ chi trả cho các chủ rừng là 12,8 tỷ đồng. Lý do hụt nguồn thu là vì nhiều nhà máy thủy điện như: Công ty cổ phần Thủy điện Thác Mơ, Công ty cổ phần thủy điện Srok Phu Miêng IDICO, Thủy điện Bù Cà Mau, thủy điện Ðắk U và một số công ty sử dụng nguồn nước sạch, nhưng chưa đóng phí của các năm 2011-2012 và 2013 đã nâng số tiền nợ đọng Quỹ này lên tới hàng chục tỷ đồng. Số nợ khá lớn đã gây khó khăn không nhỏ cho hoạt động của Quỹ, nhất là việc chi trả kịp thời cho các chủ rừng.
Trước tình hình đó, tháng 4-2014, UBND tỉnh Bình Phước đã có Quyết định số 736 thành lập đoàn kiểm tra các cơ sở sản xuất thủy điện trên địa bàn chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền DVMTR theo Nghị định 99 của Chính phủ. Theo các Biên bản làm việc của đoàn kiểm tra với đại diện các nhà máy thủy điện như: Thác Mơ, Srok Phu Miêng, Bù Cà Mau và Ðắk U thì các đơn vị này đều thống nhất và hứa sẽ chuyển trả phí môi trường rừng cho Quỹ BV và PTR Việt Nam, để quỹ này điều tiết cho Bình Phước thanh toán cho các chủ rừng. Thế nhưng, từ khi cam kết đến nay đã gần sáu tháng, mới chỉ có Thủy điện Thác Mơ thực hiện nghiêm chỉnh là trả hết nợ đọng từ năm 2011 đến 2013.
Riêng năm 2014, nhà máy này đã trả hết quý hai, với số tiền hơn bảy tỷ đồng. Thủy điện Srok Phu Miêng cũng đã thanh toán cho Quỹ BV và PTR các năm 2011 và 2012 là 6,8 tỷ đồng, còn lại năm 2013 và từ năm 2014 đến nay thì đơn vị "xin khất nợ" đến tháng 11-2014 sẽ trả đầy đủ. Còn lại hai nhà máy thủy điện Bù Cà Mau và Ðắk U, với số nợ hơn 1,2 tỷ đồng đến nay vẫn chưa thanh toán, như đã cam kết với đoàn thanh tra liên ngành của Bình Phước.
Theo Quỹ BV và PTR tỉnh Bình Phước, trên địa bàn tỉnh hiện có 19 đơn vị chủ rừng được thụ hưởng tiền DVMTR. Các đơn vị chủ rừng này được Nhà nước giao rừng để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, với tổng diện tích cung cấp DVMTR là 68.789 ha. Các đơn vị phải đóng tiền DVMTR bao gồm bốn đơn vị sản xuất thủy điện và các đơn vị sản xuất, cung ứng nước sạch, kinh doanh dịch vụ du lịch.
Lý giải việc chậm trả tiền phí môi trường rừng cho Quỹ BV và PTR, đại diện Công ty cổ phần Thủy điện Srok Phu Miêng IDICO, ông Nguyễn Văn Dinh cho biết, hiện nay công ty gặp khó khăn về việc chi trả vốn vay cho ngân hàng. Khi vào mùa mưa, lượng điện thương phẩm bán ra đạt hết công suất, công ty sẽ thanh toán số tiền còn nợ qua các năm, chậm nhất đến tháng 11-2014 sẽ thanh toán hết tiền DVMTR.
Các nhà máy thủy điện khác cũng than khó khăn về nguồn tiền, nên xin trả dần. Tuy nhiên, theo văn bản mà Tập đoàn Ðiện lực Việt Nam (EVN) gửi Quỹ BV và PTR Việt Nam và các nhà máy thủy điện, thì đơn vị này đã thanh toán đầy đủ tiền điện của các năm 2011-2012 và 2013 cho các công ty cổ phần thủy điện. Do vậy, EVN yêu cầu các công ty thủy điện khẩn trương chi trả phí DVMTR còn nợ đọng và thực hiện đúng quy định chi trả phí DVMTR các năm tiếp theo cho Quỹ BV và PTR Việt Nam và các tỉnh được ủy thác thu.
Trao đổi về các giải pháp thực hiện trong thời gian tới, Giám đốc Quỹ BV và PTR tỉnh Bình Phước Trần Văn Lộc cho biết, chi trả tiền DVMTR là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp khi sử dụng cả nguồn nước và lưu vực sông. Thực tế mức phí hiện áp dụng đối với các cơ sở sản xuất thủy điện là quá nhỏ. Nếu cứ chây ỳ không đóng, hoặc nợ đọng kéo dài thì Nhà nước cần có biện pháp chế tài xử lý.
Trước mắt Quỹ sẽ đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính sách chi trả DVMTR nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp về chính sách. Tăng cường công tác vận động các công ty thực hiện nghiêm các điều khoản trong Nghị định số 99 của Chính phủ. Ðồng thời, phối hợp các đơn vị liên quan tổ chức thẩm định các chương trình, dự án, phi dự án để hỗ trợ đầu tư khi có nguồn vốn thu được. Tổ chức kiểm tra, nghiệm thu, giám sát các đối tượng cung ứng DVMTR theo đúng quy định và thực hiện việc chi trả DVMTR đến các chủ rừng.
Ðể bảo đảm thu đủ, thu đúng tiến độ, mới đây Chính phủ đã yêu cầu Bộ Công thương chỉ đạo Tập đoàn Ðiện lực Việt Nam và các công ty thủy điện rà soát, ký kết lại các hợp đồng mua bán điện có tiền dịch vụ môi trường trong cơ cấu giá điện; kiểm tra chặt các nhà máy thủy điện nhỏ chây ỳ, không chịu nộp tiền DVMTR cho các Quỹ BV và PTR và hướng dẫn thực hiện nghiêm theo quy định.
Tuy nhiên, về lâu dài các cơ quan chức năng cần có biện pháp đủ mạnh để các doanh nghiệp làm thủy điện, sử dụng nguồn nước chấp hành nghiêm Nghị định 99 của Chính phủ. Quỹ BV và PTR Việt Nam cũng cần rà soát lại diện tích, ranh giới và hiện trạng rừng để làm căn cứ trả tiền DVMTR cho các chủ rừng.
Thực hiện ký hợp đồng ủy thác chi trả tiền DVMTR với các địa phương có rừng, có nguồn nước làm thủy điện và xem xét chi trả DVMTR cho cả diện tích rừng không nằm trong lâm phần. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sớm nghiên cứu xây dựng các biện pháp chế tài xử lý vi phạm đối với các đơn vị không nộp hoặc chậm nộp tiền DVMTR theo quy định.
Tiếp tục triển khai các quy định tại Nghị định 99, thu thêm hai dịch vụ là hấp thụ, lưu giữ các-bon và cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn, con giống sử dụng nguồn nước từ rừng tự nhiên trong nuôi trồng thủy sản. (Nhân Dân 4/10) đầu trang(
Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh vừa phối hợp với cán bộ kiểm lâm địa bàn, chính quyền sở tại tổ chức lắp đặt 25 biển báo khu vực được chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo Nghị định 99 năm 2010 của Chính phủ tại xã Mường Pồn (huyện Điện Biên) và các khu rừng dọc theo Quốc lộ 6 thuộc địa phận huyện Mường Chà.
Tại xã Mường Pồn, Quỹ lắp đặt 5 biển báo; số còn lại lắp đặt tại xã Mường Mươn, Na Sang, thị trấn Mường Chà, Sa Lông và xã Mường Tùng (huyện Mường Chà).
Việc lắp đặt biển báo chi trả DVMTR giúp người dân trên địa bàn biết khu vực rừng được hưởng dịch vụ; thuận lợi cho chính quyền địa phương cũng như cơ quan chức năng kiểm tra, nghiệm thu, đánh giá chất lượng rừng. (Báo Điện Biên Phủ 3/10) đầu trang(
Ông Hà Văn Điệt, chi hội trưởng chi hội ND Tổ Luộc 1, thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa (Tuyên Quang) vốn là kỹ sư lâm sinh công tác trong ngành lâm nghiệp Tuyên Quang.
Năm 2003 về nghỉ hưu, ông Điệt đã xây dựng mô hình ươm giống cây lâm nghiệp, cây cảnh để phát triển kinh tế gia đình và tham gia Hội ND.
Cùng với bán cây giống, ông nhiệt tình hướng dẫn bà con kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cảnh, cây lâm nghiệp. Vườn ươm của ông còn trực tiếp tạo việc làm cho 40 lao động với mức thu nhập từ 2,5-3 triệu đồng/người/tháng.
Gia đình ông Điệt cũng là điển hình trong công tác từ thiện xã hội, hiến đất, ủng hộ xây dựng các công trình xây dựng nông thôn mới. Ngoài ra, ông còn xây dựng quỹ 40 triệu đồng cho các hộ hội viên, ND nghèo vay luân phiên để giải quyết khó khăn, vươn lên trong cuộc sống… (Nông Thôn Ngày Nay 5/10) đầu trang(
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là mô hình “lấy rừng nuôi rừng” đang mang lại hiệu quả rõ nét ở Lâm Đồng.
Lâm Đồng cùng với Sơn La được Chính phủ chọn thí điểm chính sách chi trả DVMTR giai đoạn (2008-2010). Chủ trương “lấy rừng nuôi rừng” bắt đầu phát huy hiệu quả từ năm 2011, khi Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực.
Việc giao rừng cho tổ chức, cá nhân quản lý bảo vệ được đẩy mạnh; các doanh nghiệp trực tiếp sử dụng DVMTR phải trả tiền. Theo Tổng cục Lâm nghiệp, cả nước hiện có khoảng 4,1 triệu ha rừng được áp dụng chính sách này với tổng số tiền chi trả hằng năm trên 800 tỷ đồng.
Riêng tỉnh Lâm Đồng, có gần 333.000 ha rừng được giao khoán bảo vệ cho hơn 15 ngàn hộ gia đình, trong đó hộ đồng bào dân tộc ít người chiếm 80%; bên cạnh đó có 36 đơn vị, doanh nghiệp sử dụng DVMTR ký kết hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR. Số tiền thu được từ các doanh nghiệp trong 3 năm (2011-2013) đạt trên 360,3 tỉ đồng, và đã chi cho các hộ hơn 331,6 tỉ đồng.
Theo Sở NN-PTNT Lâm Đồng, trong 36 đơn vị ủy thác tiền chi trả DVMTR có 14 đơn vị sản xuất thủy điện, 10 đơn vị sản xuất nước sạch, 12 đơn vị kinh doanh du lịch.
Hiện nay, các nguồn thu trực tiếp từ rừng ngày càng ít đi, nhất là sau khi Chính phủ có chủ trương hạn chế khai thác gỗ rừng, thì chính sách chi trả DVMTR được xem là giải pháp thiết thực để bảo vệ rừng, “lấy rừng nuôi rừng”. Với mức giá khoán từ 300.000-400.000 đồng/ha/năm và diện tích khoán trung bình từ 25-30ha/hộ đã nâng cao thu nhập lên 8,3-8,5 triệu đồng/năm cho hàng nghìn hộ gia đình, cải thiện đời sống cho các hộ đồng bào dân tộc ít người vùng sâu, góp phần xóa đói, giảm nghèo.
Ông Lê Văn Minh, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Lâm Đồng cho biết: “Người cung cấp DVMTR (bảo vệ rừng) nhận thức được việc bảo vệ rừng mang lại cho họ nguồn thu nhập xứng đáng với công sức họ bỏ ra, chứ không như trước đây xem như nguồn hỗ trợ của Nhà nước”.
Qua 3 năm thực hiện, chính sách chi trả DVMTR được xem là bước đột phá của ngành lâm nghiệp Việt Nam. Về mặt môi trường, chính sách đã giúp tăng khả năng cung cấp các giá trị từ rừng như điều tiết nguồn nước, chống lũ, lụt, bồi lắng lòng hồ, tạo cảnh quan du lịch, hạn chế tình trạng phá rừng, bảo vệ đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu…
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập, nhiều chủ rừng còn chiếm đất sản xuất, khai thác lâm sản trái phép, phá rừng; nhiều doanh nghiệp sử dụng DVMTR chây ì, không chịu đóng tiền chi trả DVMTR. Để chính sách "lấy rừng nuôi rừng" thực sự phát huy hiệu quả, cần tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát của Ban chỉ đạo thực hiện chính sách chi trả DVMTR, cần có chế tài xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm, bảo đảm tính công bằng, công khai trong giao khoán, chi trả, nhằm động viên cộng đồng dân cư tham gia quản lý, bảo vệ rừng.
Mặt khác, mức tiền chi trả DVMTR áp dụng từ năm 2008 là 40đ/m3 nước sinh hoạt, 20đ/Kwh điện thương phẩm trở nên lỗi thời khi giá điện tăng lên 1,6 lần, giá nước sinh hoạt hằng năm đều tăng. Thế nhưng mức chi trả DVMTR lai không tăng, ảnh hưởng đến thu nhập và quyền lợi chính đáng của các hộ nhận khoán bảo vệ rừng. (Thanh Niên 3/10) đầu trang(
3/10, dưới sự chứng kiến của Hội đồng Quản lý Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái, các chủ rừng là tổ chức, doanh nghiệp và chủ rừng không phải là doanh nghiệp nhưng được giao trách nhiệm quản lý đã cùng ký vào bản cam kết quản lý bảo vệ rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng năm 2014.
Theo đánh giá của Chi cục Lâm nghiệp, sau 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã tiến hành chi trả trên 51 tỷ đồng cho chủ rừng với diện tích trên 200 nghìn ha, đảm bảo đúng đối tượng.
Dưới sự chỉ đạo sát sao của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được thực hiện hiệu quả. Các cơ quan chức năng đã tích cực phối hợp với các tổ chức, đoàn thể thường xuyên tuyên truyền, vận động giúp người dân tiếp cận, nắm bắt chính sách mới của Nhà nước về công tác bảo vệ rừng.
Phát biểu tại Lễ ký kết, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hoàng Xuân Nguyên nhấn mạnh: Để chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tiếp tục phát huy được hiệu quả, trong thời gian tới, các chủ rừng cần thực hiện đúng cam kết, hướng dẫn người dân ký cam kết bảo vệ và phát triển rừng, xây dựng hương ước, quy ước bảo vệ rừng; tiếp tục chi trả và giám sát việc chi trả dịch vụ môi trường rừng đảm bảo sử dụng nguồn kinh phí đúng mục đích và hiệu quả. (Báo Yên Bái 3/10) đầu trang(
Sau khi Mỹ áp lệnh chống bán phá giá với mặt hàng đồ gỗ Trung Quốc, nhiều nhà máy chế biến đồ nội thất đã di chuyển sang VN.
Sự đổ bộ này của các DN FDI sẽ ngày càng tạo áp lực lên ngành công nghiệp chế biến gỗ của VN, vốn đang “điêu đứng” trước các đối thủ ngoại. Tuy nhiên, cơ hội cũng được mở ra...
Trong chặng đường trước mắt, ngành gỗ Việt đang có nhiều chuyển động với sự dịch chuyển của các nhà đầu tư ngoại, mang các nhà máy sản xuất đồ nội thất từ Trung Quốc sang VN. Ngành sẽ được lợi, hay phải đối phó với sự chuyển động này?
Có khá nhiều nhìn nhận khác nhau về làn sóng dịch chuyển nhà máy chế biến gỗ nội thất tới VN. Trên bình diện chung, cũng tương tự như ở nhiều lĩnh vực khác, việc ngành hàng có thêm nhiều nhà đầu tư ngoại luôn được đánh giá là một cơ hội lớn cho chính ngành hàng, khi nguồn vốn đổ vào đây sẽ tăng cao, ngành sẽ tận dụng được nhiều hơn nhân công lao động, có thể cải thiện và nâng công nghệ, cuối cùng là gia tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu.
Song đó là xét về mặt lí thuyết. Với ngành gỗ, đặc biệt là ngành gỗ chế biến nội thất, có đôi chút khác biệt. Bởi ngành gỗ Việt trước nay vốn vẫn đang bị ngự trị bởi các DN FDI. Có khoảng 65-70% giá trị kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ Việt thuộc về DN FDI cho dù họ chỉ chiếm 16% trong tổng số 3.000 DN gỗ tại VN. 30-35% còn lại thuộc về DN trong nước, trong đó chủ yếu DNNVV.
Nói một cách khác, DN FDI từ lâu đã nhìn thấy và khai thác tiềm năng của ngành xuất khẩu gỗ VN. Việc dịch chuyển các nhà máy chế biến gỗ nội thất sang VN hiện nay, chỉ là một sự tiếp tục để khai phá tiềm năng đó đến từng phân khúc ngách.
Như vậy, sẽ không còn chỉ là sự cạnh tranh giữa DN FDI và DN nội trên thị trường đại trà, mà sự cạnh tranh này sẽ từng quyết liệt tận sâu từng phân khúc. Đặc biệt, sự cạnh tranh dường như đang bất lợi cho DN nội, nhất là tại Mỹ, thị trường vừa áp lệnh chống bán phá giá đối với đồ gỗ Trung Quốc khiến các DN ngoại tìm hướng đến VN. Lưu ý Mỹ là thị trường nhập khẩu đồ gỗ lớn nhất của toàn thế giới và cũng là thị trường nhập khẩu đồ gỗ lớn nhất của VN.
Vào thị trường này, cho dù sản phẩm gỗ của DN FDI hay của DN Việt cũng đều sẽ gắn mác “made in Vietnam”, tuy nhiên, lợi thế chắc chắn sẽ vẫn nghiêng về DN FDI khi họ sở hữu công nghệ tốt, đầu tư máy móc hiện đại và đặc biệt chú trọng khâu thiết kế mẫu mã sản phẩm – yếu tố đòi hỏi khả năng nắm bắt gout thẩm mỹ của người tiêu dùng nước ngoài (gần như khác biệt với gout thẩm mỹ phương Đông) và khả năng định hình các xu hướng, trào lưu sử dụng nội thất đương đại…
Càng có nhiều DN FDI xuất hiện trên thị trường nội địa, trong khi việc liên kết giữa hai khối DN còn rời rạc thì cạnh tranh từ nguyên liệu sản phẩm, nhân công để ra thị trường theo đó sẽ càng là áp lực rất lớn cho hơn 2.000 DNNVV trong nước.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, trong khó khăn, vẫn xuất hiện cơ hội bởi ngành gỗ vốn có nhiều triển vọng lạc quan. Việc được đánh giá cao về tay nghề nhân công lao động (với chi phí rẻ) và khả năng tăng năng suất, sản lượng xuất khẩu cho các đơn hàng trong một thời gian ngắn cũng như khâu quản lí quy trình truy xuất nguồn gốc sản phẩm (tuân thủ đạo luật Lacey của Mỹ), với việc thuế suất xuất khẩu gỗ bằng 0% do VN đã kí kết nhiều Hiệp định thương mại ở các khu vực khác nhau, trong đó, mặt hàng gỗ đang hưởng nhiều ưu đãi về thuế quan khi xuất khẩu - Đây chính là yếu tố hấp dẫn và thu hút nhiều DN nước ngoài hướng vào thị trường xuất khẩu gỗ của VN.
Do đó, nhìn trên tổng quan, nếu ngành đón thêm được nhiều luồng vốn đầu tư mới, nhiều nhà máy chế biến gỗ nội thất mới, cơ hội lớn để nhắm vị trí mới trong top 5, từ vị trí xuất khẩu gỗ đứng thứ 6 trên trường quốc tế hiện nay, với gỗ Việt sẽ khá khả thi.
Theo ông Nguyễn Quốc Khanh - Chủ tịch Hiệp hội Chế biến Gỗ và Mỹ nghệ TP HCM, giải pháp quan trọng nhất là chính sách hỗ trợ tổng thể của Nhà nước về khuyến khích đầu tư vào ngành. Trong đó, việc tạo điều kiện cho DN tiếp cận tín dụng bao gồm cả tín dụng hỗ trợ đầu tư nguồn nguyên liệu và tạo quỹ đất để trồng rừng.
Cùng với đó, việc thí điểm xây dựng các khu công nghiệp tập trung của ngành cần sớm được thúc đẩy và được sự tích cực tham gia của các DN trong nước, tạo thành “chuỗi liên kết” theo từng khu để các DN có điều kiện giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm và nguyên vật liệu phụ trợ của nhau… hướng đến hỗ trợ các DN cùng nhau phát triển. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 5/10) đầu trang(
Phó Chủ tịch UBND TP.HCM cho phép sử dụng 36m3 gỗ dầu thu hồi được từ hàng cây dầu đã đốn hạ trên đường Lê Lợi, quận 1 để phục vụ công trình trùng tu, tôn tạo di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia chùa Giác Viên. (Tuổi Trẻ 4/10, tr3) đầu trang(
Qua 10 năm thực hiện Nghị quyết số 28 - NQ/TW ngày 16/6/2003 của Bộ Chính trị về việc "tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường Quốc doanh", đến nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện xong việc cổ phần hóa các công ty nông nghiệp, còn lĩnh vực lâm nghiệp có 08 đơn vị đã chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp.
Hiện nay các công ty TNHH MTV lâm nghiệp đang quản lý và sử dụng 62.072 ha rừng và đất rừng (trong đó rừng phòng hộ, đặc dụng 22.246,8 ha; rừng sản xuất 39.203,5 ha) với tổng số lao động đang làm việc thường xuyên là 635 người; bình quân 01 công ty TNHH 1TV lâm nghiệp có vốn chủ sở hữu 7.876 triệu đồng, doanh thu bình quân 50.312 triệu đồng/năm, lợi nhuận sau thuế bình quân 463 triệu đồng, thu nhập bình quân của người lao động 4,9 triệu đồng/người/tháng.
Các công ty TNHH MTV lâm nghiệp đã ổn định về mặt tổ chức, quản lý sử dụng rừng và đất rừng đúng mục đích có hiệu quả, thực hiện tốt nghĩa vụ với Nhà nước và người lao động, phát huy vai trò “bà đỡ” về các lĩnh vực hoạt động trong sản xuất lâm nghiệp tại địa phương.
Tuy nhiên việc quản lý đất lâm nghiệp trong thời gian qua còn nhiều hạn chế, nhất là việc theo dõi biến động đất lâm nghiệp. Đất lâm nghiệp được giao khi trả lại một số diện tích về cho địa phương quản lý để thực hiện các dự án khác và giao lại cho nhân dân nhưng chưa điều chỉnh lại quyết định giao đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được kịp thời theo quy định của luật đất đai và luật bảo vệ và phát triển rừng, dẫn đến việc quản lý hồ sơ và thực tế có sự khác biệt. Hiệu quả khai thác từ đất rừng chưa cao, còn có tư tưởng tận thu, thiếu chiến lược phát triển lâu dài, bền vững, nhất là trong việc làm giàu từ tài nguyên rừng và đất rừng…
Thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp và Quyết định số 686/QĐ-Ttg ngày 11/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chương trình, kế hoạch của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 30-NQ/TW, trên cơ sở đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình thực tế của các công ty TNHH MTV lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 30-NQ/TW.
Mục tiêu đặt ra là đến hết năm 2015 hoàn thành xong việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty TNHH MTV lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh theo hướng cổ phần hóa.
Để thực hiện mục tiêu trên, giải pháp đặt ra gồm: Tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc theo các nghị quyết, kết luận của Đảng về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước đến các ngành, các huyện, thị xã, thành phố, toàn bộ đảng viên và cán bộ công nhân viên trong các Công ty TNHH MTV lâm nghiệp nhằm thống nhất quan điểm, nhận thức và có hành động quyết liệt, cụ thể trong quá trình thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty TNHH MTV lâm nghiệp.
Tăng cường vai trò và sự giám sát, kiểm tra của đại diện chủ sở hữu Nhà nước, nhất là trong việc phê duyệt điều lệ, quyết định phương án chiến lược phát triển sản xuất, kinh doanh, quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại các công ty TNHH MTV lâm nghiệp.
Nâng cao vai trò và trách nhiệm của hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị và cấp ủy đảng của công ty; thực hiện việc chủ tịch hội đồng quản trị kiêm bí thư đảng ủy công ty.
Xây dựng lộ trình, kế hoạch thực hiện mục tiêu sắp xếp, cổ phần hóa các công ty TNHH MTV lâm nghiệp, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm từ nay đến hết năm 2015; nghiêm túc thực hiện quy định của pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước. Trong quá trình thực hiện, căn cứ vào tình hình thực tế xác định cụ thể tỷ lệ vốn Nhà nước nắm giữ.
Chỉ đạo các công ty TNHH MTV lâm nghiệp thuộc tỉnh tổ chức thực hiện: Rà soát, xác định lại nhiệm vụ, ngành nghề kinh doanh chính. Xây dựng chiến lược phát triển theo lộ trình cụ thể và tầm nhìn đến 2030, đồng thời phù hợp với chiến lược phát triển ngành, nhu cầu của thị trường, khả năng về vốn và năng lực trình độ quả lý.
Đề xuất mô hình tổ chức của các công ty TNHH MTV lâm nghiệp thuộc tỉnh, trên cơ sở xây dựng được tổ chức và bộ máy đủ mạnh để phát triển kinh tế và bảo vệ rừng nhằm khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh từ rừng gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường; nghiên cứu phương án thành lập công ty lâm nghiệp trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên nhằm gắn kết phát triển vùng nguyên liệu của công ty và của người dân trong vùng với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản và thị trường.
Xây dựng phương án sản xuất kinh doanh, phương án tài chính để triển khai thực hiện nhiệm vụ chính được giao và xử lý các tồn tại về tài chính trong quá trình sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động công ty.
Nâng cao năng lực quản trị công ty, áp dụng chế độ quản trị tiên tiến và thực hiện chế độ kiểm toán, kiểm tra, giám sát chặt chẽ, công khai và minh bạch.
Tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực quản lý của đội ngũ lãnh đạo, đặc biệt là lãnh đạo chủ chốt của các công ty TNHH 1TV lâm nghiệp; đề cao ý thức chấp hành chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật, kỷ cương của Chính phủ và của tỉnh về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty lâm nghiệp.
Đổi mới cơ chế quản lý, sử dụng đất, phấn đấu từ nay đến năm 2015 hoàn thành việc đo đạc, lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giao, cho thuê đất rừng; xử lý nghiêm minh theo pháp luật các trường hợp tranh chấp và lấn chiếm đất rừng.
Với chương trình hành động cụ thể, sự chỉ đạo sát sao đến cơ sở của Thường trực Tỉnh ủy, Quảng Ninh quyết tâm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ tái cơ cấu các công ty TNHH MTV lâm nghiệp, tạo sự chuyển biến căn bản về phương thức tổ chức quản lý và quản trị doanh nghiệp, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các công ty theo cơ chế thị trường và chuỗi giá trị hàng hóa, khai thác có hiệu quả rừng về kinh tế và môi trường. (Báo Quảng Ninh 2/10) đầu trang(
Triển khai Nghị quyết 30, ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty nông lâm nghiệp.
Cũng như ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại buổi làm việc với tỉnh Hà Giang về việc sắp xếp, quy tụ lại dân cư. UBND tỉnh Hà Giang đã ban hành Quyết định 961 ngày 22/5/2014 về việc thành lập Tổ công tác nhằm rà soát, đánh giá lại hiệu quả hoạt động của 3 Công ty lâm nghiệp trên địa bàn của tỉnh.
2/10, dưới sự chủ trì của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Minh Tiến – Tổ trưởng Tổ công tác, các thành viên Tổ công tác đã có buổi làm việc triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới. Dự buổi làm việc có đại diện Bộ Công thương, Tổng Công ty Giấy Việt Nam và lãnh đạo 2 huyện Bắc Quang, Quang Bình.
Thực tiễn hoạt động của 3 Công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh ta hiện nay là Công ty lâm nghiệp Cầu Ham, Công ty lâm nghiệp Ngòi Sảo và Công ty lâm nghiệp Vĩnh Hảo thuộc Tổng Công ty Giấy Việt Nam hiện nay gặp rất nhiều khó khăn. Cụ thể hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích còn thấp, thậm chí là lãng phí tài nguyên đất. Mô hình tổ chức hoạt động của 3 Công ty còn nhiều bất cập, tính tự chủ chưa cao.
Đời sống của công nhân, nông dân quanh vùng dự án chậm được đổi mới. Công tác quản lý hành chính của các địa phương gặp khó khăn, các tranh chấp về đất đai diễn ra phổ biến. Do đó mục tiêu của tỉnh Hà Giang và Bộ Công thương hướng đến là tổ chức lại sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế của 3 Công ty lâm nghiệp từ đó nâng cao mức sống người dân.
Theo rà soát tổng diện tích trước quy hoạch của 3 Công ty lâm nghiệp hiện nay là trên 10.218ha, diện tích sau quy hoạch còn lại là gần 7.755ha. Như vậy diện tích chưa quy hoạch sử dụng hoặc còn lãng phí của 3 Công ty hiện nay là 2.463ha. Đánh giá bước đầu cho thấy hiệu quả hoạt động trong 3 năm trở lại đây của các Công ty lâm nghiệp trên là rất thấp; hàng năm Tổng Công ty Giấy Việt Nam đều phải hỗ trợ giá cước vận chuyển nguyên liệu cho 3 Công ty; các khoản nợ đọng như Bảo hiểm xã hội của người lao động vẫn diễn ra.
Thảo luận tại buổi làm việc các đại biểu đã thẳng thắn đề nghị Tổng Công ty Giấy Việt Nam cần nêu rõ nhu cầu về diện tích, lượng nguyên liệu cũng như phương án sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty làm cơ sở để UBND tỉnh Hà Giang phê duyệt quy hoạch cho phù hợp với sự phát triển của địa phương.
Kiến nghị với Bộ Công thương, Tổng Công ty Giấy Việt Nam giao 3 Công ty lâm nghiệp Ngòi Sảo, Cầu Ham và Vĩnh Hảo về cho tỉnh quản lý để nâng cao hiệu quả kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý cho phù hợp. Đại diện 2 huyện Bắc Quang và Quang Bình kiến nghị UBND tỉnh sớm phê duyệt hồ sơ sau quy hoạch của 3 Công ty từ đó bàn giao lại diện tích đất chưa sử dụng cho chính quyền địa phương.
Thực hiện chủ trương của Chính phủ về Cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, theo đó từ 01/01/2015 Tổng Công ty Giấy Việt Nam sẽ được cổ phần hóa, do vậy Tổ công tác cũng đề nghị Tổng Công ty cần nêu rõ phương án và hình thức cổ phần hóa đối với 3 Công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
Phát biểu kết luận buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Minh Tiến – Tổ trưởng Tổ công tác khẳng định mục đích ra đời của Tổ công tác là nhằm đánh giá, rà soát lại hiệu quả hoạt động của 3 Công ty lâm nghiệp theo chủ trương của Bộ Công thương đồng thời phải phù hợp với yêu cầu phát triển của tỉnh Hà Giang.
Với quan điểm chỉ đạo xuyên suốt là chủ trương của Bộ Công thương và đề xuất của Tỉnh ủy Hà Giang nhằm tổ chức lại sản xuất của 3 Công ty lâm nghiệp có hiệu quả; Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Minh Tiến đề nghị: 3 Công ty lâm nghiệp cần lập Phương án tổ chức sản xuất sau đó trình lên Bộ Công thương và UBND tỉnh Hà Giang cho ý kiến bổ sung.
Trong đó Phương án sản xuất của 3 Công ty phải đảm bảo phù hợp với quy hoạch phát triển của địa phương cũng như Quy hoạch sử dụng đất của tỉnh và phương án sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty Giấy Việt Nam; sau đó sẽ trình UBND tỉnh hoặc Bộ Công thương phê duyệt.
Giao cho Sở Tài chính kiến nghị với Bộ Công thương đề nghị cho Cổ phần hóa độc lập 3 Công ty lâm nghiệp đồng thời có ràng buộc với cung cấp nguyên liệu cho Tổng công ty Giấy; cấp kinh phí bổ sung cho Sở TN&MT tiến hành đo đạc, rà soát diện tích đất của 3 công ty.
Đối với Sở TN&MT cần sớm hoàn thiện báo cáo của Tổ công tác để gửi về Bộ Công thương và Tỉnh ủy Hà Giang đồng thời tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức hội nghị thẩm định Phương án nâng cao hiệu quả hoạt động của 3 Công ty lâm nghiệp. (Hagiang.gov.vn 2/10) đầu trang(
Sau khi xem xét Báo cáo số 355/BC-SKHĐT ngày 23/9/2014 của Sở Kế hoạch và Đầu tư về kết quả xem xét chủ trương lập dự án đầu tư và phát triển giống cây trồng lâm nghiệp, UBND tỉnh có ý kiến như sau:
Đồng ý về chủ trương cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lập dự án đầu tư và phát triển giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2014 - 2020.
Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện lập, đăng ký dự án đầu tư; hàng năm tổng hợp, bố trí nguồn vốn để thực hiện dự án theo quy định.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương lập dự án đầu tư, gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định; trình phê duyệt để triển khai thực hiện. (Langson.gov.vn 3/10) đầu trang(
3/10, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Đình Sơn chủ trì buổi làm việc với các sở, ngành và địa phương liên quan để nghe báo cáo tiến độ, kết quả thực hiện công tác giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) lâm nghiệp, đất nông nghiệp và đất ở.
Theo báo cáo của ngành chức năng, đến nay, toàn tỉnh đã có 147/147 xã có rừng hoàn thành việc xây dựng và phê duyệt phương án giao đất, giao rừng, với tổng diện tích gần 56 nghìn ha, được giao cho trên 21.500 hộ gia đình và cộng đồng dân cư.
Về đo vẽ địa chính, đến nay đã có 138 xã ký hợp đồng với đơn vị tư vấn thực hiện giao đất, giao rừng; 9 xã còn lại đã tiến hành hợp đồng nguyên tắc và đang thực hiện đo vẽthực địa; 98 xã đã và đang thực hiện đo vẽ bản đồ địa chính, xác định đặc điểm khu rừng cho 14.180 hộ gia đình và tổ chức với diện tích 33.000 ha; tiến hành thẩm định hồ sơ cho 2.025 hộ với 4.116 ha, trong đó, đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho 910 hộ với 1.677 ha.
Về công tác đo vẽ bản đồ địa chính, cấp giấy CNQSDĐ ở, đất nông nghiệp, đến nay toàn tỉnh đã triển khai đo vẽ được 234/237 xã, phường, thị trấn, đạt 98,7%; đã nghiệm thu bản đồ giai đoạn 1 được 181/234 xã, đạt 77,3%, với tổng diện tích khoảng 175.100 ha.
Đến nay, toàn tỉnh đã giao 9.317 giấy CNQSDĐ cho người sử dụng đất do cấp sai thẩm quyền, trong đó có 3 huyện đã bàn giao đạt 100% gồm: Lộc Hà, Kỳ Anh và TP. Hà Tĩnh.
Riêng việc giao giấy chứng nhận đất nông nghiệp sau cấp đổi theo chỉ đạo của UBND tỉnh phải hoàn thành trước 30/9/2014, tuy nhiên đến nay chỉ có Can Lộc, Vũ Quang có tỷ lệ giao giấy đạt khá cao trên 80%; các huyện còn lại tỷ lệ đạt thấp, đặc biệt huyện Kỳ Anh chưa tiến hành giao giấy chứng nhận đất nông nghiệp.
Kết luận buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Đình Sơn chỉ ra một số nguyên nhân về việc giao đất, giao rừng chậm như: chính quyền cấp huyện chưa vào cuộc quyết liệt, công tác phối kết hợp giữa các cấp, ngành chưa chặt chẽ, năng lực của tư vấn còn yếu kém…
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Đình Sơn yêu cầu, thời gian tới, các địa phương, đơn vị huy động tổng lực tập trung rà soát các phần việc chưa làm được và những vướng mắc, từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể; tập trung giao đất, giao rừng đảm bảo đúng tiến độ, đúng quy trình, quy định của pháp luật.
Đặc biệt, các địa phương sau khi ký giấy CNQSDĐ, trong thời gian tối đa 1 tuần phải tổ chức trao cho người dân; quan tâm giải quyết một phần kinh phí thực hiện cho nhà tư vấn; hoàn chỉnh hồ sơ địa chính trong thời gian sớm nhất; giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị, ngành liên quan… (Camxuyen.gov.vn 3/10) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
4/10, hàng nghìn người dân Nam Phi tại 18 thành phố đã tham gia vào sự kiện diễu hành trên toàn cầu nhằm nâng cao hiểu biết về việc bảo vệ các loài voi, tê giác và sư tử.
Bộ trưởng Các vấn đề môi trường Nam Phi Edna Molewa đã dẫn đầu đoàn diễu hành tại thủ đô Pretoria. Bà Molewa kêu gọi người dân và đặc biệt là những cộng đồng xung quanh khu vực tê giác sinh sống tham gia vào cuộc chiến chống nạn săn bắt động vật hoang dã.
Ngoài Nam Phi, 36 quốc gia khác tại châu Phi và 134 nước trên thế giới cũng tham gia vào sự kiện "Diễu hành toàn cầu vì loài voi, tê giác và sư tử" này.
Nhà hoạt động Dex Kotze, nhà tổ chức sự kiện diễu hành tại Nam Phi cho biết sự kiện này đặc biệt nhằm vào 19 quốc gia bị liệt vào "danh sách đen" bởi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng của Liên hợp quốc.
Đây là những nước bị cho là chưa có những biện pháp mạnh mẽ chống lại nạn buôn lậu động vật hoang dã. Cuộc diễu hành gửi đi một thông điệp mạnh mẽ tới những quốc gia này rằng cần phải có sự thay đổi luật pháp để có thể áp đặt chế tài trừng phạt nghiêm khắc các hành động buôn lậu động vật hoang dã.
Theo ông Kotze, Chính phủ Nam Phi sẽ sửa đổi điều luật liên quan đến nạn sắn bắt tê giác và voi nhằm thực thi những biện pháp trừng phạt cứng rắn, trong đó có từ chối bảo lãnh cho những đối tượng tham gia vào buôn lậu động vật hoang dã.
Nam Phi, nơi sinh sống của hơn 80% tê giác trên thế giới, chịu thiệt hại nặng nề của nạn săn bắt trộm động vật hoang dã. Kể từ đầu năm đến nay, đã có 787 con tê giác biến mất mà chủ yếu ở Công viên Quốc gia Kruger.
Năm ngoái, đã có 1.004 con tê giác bị săn bắt tại Nam Phi. Ước tính, Nam Phi sẽ mất khoảng 1.200 đến 1.300 con tê giác trong năm nay. (VietnamPlus 4/10) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||