|
Ngày 09 tháng 10 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Theo thông tin từ Cục Kiểm lâm (Tổng cục Lâm nghiệp), hiện nguy cơ cháy rừng đã xuất hiện trở lạo ở một số địa phương.
Cụ thể diện tích rừng ở các tỉnh: Bắc Kạn, Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc đang ở nguy cơ cháy cấp 4-cấp nguy hiểm.
Vì vậy Ban chỉ đạo Nhà nước về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 yêu cầu UBND các cấp và chủ rừng thuộc các địa phương trên thực hiện ngay những biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng. (Quân Đội Nhân Dân 9/10, tr4) đầu trang(
Việc dự án (DA) Thủy điện Sơn Trà 1 (xã Sơn Kỳ, huyện Sơn Hà, Quảng Ngãi) được cấp thẩm quyền tỉnh Quảng Ngãi cho phép triển khai khảo sát thiết kế, không chỉ gây lo lắng cho người dân, mà chính quyền các cấp của địa phương này cũng như ngồi trên lửa.
DA Thủy điện Sơn Trà 1 do Công ty cổ phần 30.4 làm chủ đầu tư, được UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư vào tháng 6.2010 và được điều chỉnh vào tháng 6.2012. DA được đặt ở thượng nguồn sông Xà Lò, có công suất lắp máy là 42MW, dung tích hồ chứa gần 5,5 triệu m3.
Theo kết quả kiểm tra thực tế của chính quyền Sơn Hà, ngoài diện tích mất vĩnh viễn khi xây dựng thủy điện này là 38,59ha (chưa tính diện tích xây dựng các tuyến đường phục vụ xây dựng công trình, đường điện 220kV dẫn về Trạm Sơn Hà) thì điều lo sợ nhất là khoảng 3.000ha rừng phòng hộ đầu nguồn Thạch Nham nằm trong khu vực này sẽ trở thành "miếng mồi" ngon cho lâm tặc khi dự án triển khai.
Theo ông Phùng Tô Long - Chánh Văn phòng UBND huyện Sơn Hà, diện tích rừng phòng hộ trên lâu nay do bị con sông Xà Lò ngăn cách với phần giáp ranh huyện Kon Plông (tỉnh Kon Tum) nên vẫn bình yên. Thế nhưng, khi DA Thủy điện Sơn Trà 1 được triển khai thì đường giao thông sẽ được mở đến tận bìa rừng, rồi chuyện dùng thuyền băng qua con sông này để vào rừng phòng hộ trở nên quá dễ dàng.
Với trữ lượng gỗ được đánh giá từ 100 - 120m3/ha, có tuổi đời hàng trăm năm phơi ra trước mắt như vậy chẳng khác nào đưa “mỡ đến miệng mèo” lâm tặc. Còn nhớ cách đây chưa lâu, khi con đường Di Lăng (huyện Sơn Hà) - Trà Trung (huyện Sơn Tây) thi công, hàng ngàn cây gỗ quý nằm dọc tuyến đường này đã bị lâm tặc đốn hạ trái phép.
Cùng với hàng ngàn ha rừng phòng hộ đầu nguồn bị đe dọa là hậu họa ngập lụt trong mùa mưa lũ. Ông Đặng Ngọc Dũng - Bí thư Huyện ủy Sơn Hà cho biết: Nằm ở khu vực hạ lưu của con sông Xà Lò có 10/14 xã của huyện Sơn Hà, thời gian qua, hàng chục ngàn hộ dân nơi đây rất khổ sở vì chuyện ngập lụt, chạy lũ.
Chỉ trong vòng 4 năm nay, 2 lần xảy ra lũ lớn làm cho hàng ngàn hộ dân Sơn Hà bị thiệt hại nặng về người và tài sản. Vừa qua, với việc hoàn thành 2 DA nằm phía trên đầu nguồn là hồ chứa thủy lợi Nước Trong và công trình Thủy điện Đăkrinh đã làm cho người dân nơi đây càng lo sợ hơn.
Nếu DA Thuỷ điện Sơn Trà 1 được xây dựng thì vào mùa khô các hồ tích nước sẽ gây cạn kiệt nguồn nước vùng hạ lưu, còn đến mùa lũ về, các hồ chứa đồng loạt xả nước thì hậu quả gây ra không chỉ cho người dân Sơn Hà mà nhiều huyện đồng bằng phía dưới sẽ không thể lường hết được.
“Đại diện cho 71.000 dân huyện Sơn Hà, tôi khẩn thiết kiến nghị lãnh đạo tỉnh tổ chức lấy ý kiến của người dân về chủ trương xây dựng các DA thủy điện, trong đó có DA Thuỷ điện Sơn Trà 1” - ông Dũng nói.
Được biết, đã nhiều lần, lãnh đạo UBND và Huyện ủy Sơn Hà đã có văn bản, trực tiếp trình bày trước lãnh đạo của tỉnh, với nội dung kiến nghị loại bỏ khỏi quy hoạch và không xây dựng bất kỳ thủy điện nào thêm trên địa bàn huyện này.
Ông Đặng Ngọc Dũng cho biết thêm: “Trong hồ sơ DA Thuỷ điện Sơn Trà 1, chủ đầu tư không có báo cáo đánh giá tác động môi trường được cơ quan thẩm quyền phê duyệt, cũng không cho biết trách nhiệm của chủ đầu tư khi rừng phòng hộ bị mất, việc trồng lại rừng theo quy định của Chính phủ cũng không được thể hiện trong dự án…”. (Nông Thôn Ngày Nay 9/10, tr6) đầu trang(
Rừng thông ba lá nằm dọc theo hai bên đường Hồ Chí Minh (Quốc lộ 14 cũ) đoạn qua huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk, có vai trò vừa là rừng phòng hộ vừa là cảnh quan môi trường, nhưng đến nay rừng thông này cơ bản đã bị “xóa sổ" gây nhiều bức xúc trong dư luận.
Theo đại diện Ủy ban Nhân dân huyện Krông Búk, rừng thông ba lá này trước đây do Liên hiệp Lâm-nông-công nghiệp Ea Súp đầu tư vốn và trồng từ những năm 1980, dọc theo hai bên đường Hồ Chí Minh, kéo dài từ huyện Krông Búk (cũ) đến huyện Ea H’Leo, với tổng diện tích trên 2.047ha.
Trước đây, diện tích rừng thông ba lá này phát triển tốt làm nhiệm vụ là rừng phòng hộ cho lưu vực hồ Ea Súp ở phía Tây, lưu vực sông Ba ở phía Đông và đã đưa vào khai thác nhựa thông.
Tuy nhiên, sau khi Liên hiệp Lâm-nông-công nghiệp Ea Súp, Ban Quản lý rừng phòng hộ Quốc lộ 14 giải thể, rừng thông này được giao về cho các địa phương Krông Búk, Ea H’Leo, thị xã Buôn Hồ quản lý, trong đó diện tích rừng thông tập trung nhiều nhất là ở huyện Krông Búk.
Do các địa phương này một thời gian dài buông lỏng quản lý nên diện tích rừng thông đã bị người dân ồ ạt chặt phá, lấn chiếm trái phép làm khu dân cư, khu sản xuất càphê hay gieo trồng các loại cây ngắn ngày. Thậm chí, có thời điểm, hàng trăm hộ gia đình đồng bào dân tộc Êđê ở các buôn Mùi 1, buôn Mùi 2, buôn Mùi 3 của xã Cư Né (huyện Krông Búk) tập trung sử dụng cưa máy, cưa tay, rìu chặt phá rừng thông để lấn chiếm đất lâm nghiệp trái pháp luật.
Mặt khác, đồng bào còn lén lút sử dụng dao, rựa ken (cắt sạch một đoạn vỏ cây chung quanh gốc) để cây thông chết khô dần, sau đó đốt hoặc làm cho cây tự ngã để lấy đất sản xuất nông nghiệp hoặc làm khu dân cư.
Theo ông Y Thanh, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Cư Né, việc phá rừng thông ở đây không chỉ có đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, đồng bào Kinh mà còn có một số cơ quan, ban ngành trên địa bàn huyện.
Cụ thể, đồng bào Kinh, đồng bào dân tộc Êđê phá rừng thông trái phép để xây dựng nhà ở, làm khu sản xuất, còn các cơ quan ban ngành thì xây dựng trụ sở. Do vậy, hiện nay, diện tích rừng thông ba lá này chỉ còn vài chục hécta, nằm rải rác ở các huyện Krông Búk và Ea H’Leo. (VietnamPlus 8/10) đầu trang(
Hàng chục ha rừng phòng hộ bị chặt phá. Hàng trăm hộ dân ven biển xã Kỳ Phương, huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh) đã cố gắng để ngăn cản việc chặt phá rừng phi lao hàng trăm năm tuổi. Nhưng rút cuộc, bãi phi lao xanh ngút ngàn vẫn bị chặt trắng.
Chẳng biết từ bao giờ, Hà Tĩnh rộ lên phong trào nuôi tôm trên cát. Người người, nhà nhà thi nhau đổ tiền vào đầu tư vào nuôi tôm. Người ta đồn thổi: tôm có thể giúp ngư dân nơi đây thoát nghèo.
Vậy là, viễn cảnh một ngày không xa, người dân khúc ruột miền Trung khắc nghiệt với đặc sản là mưa bão sẽ đổi đời. Ai cũng mong vào điều đó, dù biết rằng, trước đây, con tôm đã từng khiến nhiều gia đình tán gia bại sản.
Bởi, cách đây hơn chục năm, khoảng tầm năm 2000, đã từng có một dự án nuôi tôm bị phá sản. Ngày đó, tỉnh Hà Tĩnh đã huy động tất cả trí lực, vật lực để thực hiện cho “cuộc cách mạng” trong nông nghiệp này.
Ban đầu, người dân Kỳ Nam không đồng tình với dự án này vì họ buộc phải giao hết ruộng cho dự án, đồng thời phải góp vào cùng Nhà nước 9 tỉ đồng (trong dự toán 18 tỉ đồng) để thực hiện dự án. Thế nhưng, Kỳ Nam vốn là xã nghèo nhất tỉnh với 70% hộ thuộc diện nghèo thì dân lấy đâu số tiền lớn như thế để góp vốn cùng Nhà nước?
Sau đó, một giải pháp khả thi được thực hiện là cho Công ty tư vấn Việt Anh đầu tư làm, với số vốn dự toán đến 33 tỉ đồng, thời hạn thuê đất 13 năm. Công ty này sẽ đền bù 54% giá trị sản lượng thóc thu được trên diện tích dự án cho nông dân vào thời điểm tháng sáu hằng năm (với thỏa thuận 220kg thóc/sào (500m2/mùa), còn lại 46% do dân phải chịu vì đó là chi phí mà người dân đằng nào cũng phải bỏ ra cho gieo trồng lúa hằng năm.
Đồng thời, 150 nông dân sẽ được Công ty Việt Anh nhận vào làm công nhân nuôi tôm. Mặc dù tiền đền bù như thế không bằng tiền thu được từ trồng lúa, nhưng người dân nơi đây vẫn còn hi vọng vào tương lai không xa.
Thế là từ năm 2001, 400 hộ nông dân (chiếm 80% số hộ) trong xã hăng hái giao hẳn 90ha ruộng (trong gần 200ha ruộng toàn xã) cho dự án nuôi tôm công nghiệp Kỳ Nam. Họ mong muốn được đổi đời qua dự án này. Rút cuộc, dự án này bị phá sản hoàn toàn như nhiều dự án từng triển khai rầm rộ ở Hà Tĩnh giai đoạn đó.
Hàng chục ha đất 2 lúa bị thu hồi để thực hiện cho siêu dự án này bị nhiễm mặn, không thể tiếp tục sản xuất, đất đai bỏ hoang từ khi dự án phá sản đến nay. Người dân thấy đất hoang hóa mà xót xa, cay đắng.
Còn chuyện mới đây, Hà Tĩnh lại triển khai một dự án nuôi tôm với quy mô đồ sộ hơn nhiều. Tổng diện tích để thực hiện dự án này lên đến 158ha (40ha ở thôn Ba Đồng, xã Kỳ Phương và 114ha ở xã Kỳ Nam); đơn vị triển khai dự án là công ty TNHH Grobest.
Để thực hiện dự án này, doanh nghiệp đã tiến hành chặt phá hàng chục ha rừng phi lao phòng hộ ven biển có tuổi đời hàng chục năm. Những hàng phi lao qua nắng, qua mưa, ưỡn tấm thân già cỗi để che chắn cho người dân những ngày mưa bão bị đốn hạ. Chỉ trong phút chốc, bãi phi lao ngút ngàn bị chặt trắng.
Người dân nơi đây kể rằng, mới sáng sớm, đã thấy máy móc ầm ầm kéo đến. Chưa hiểu đầu đuôi thế nào bởi chưa từng nghe đến việc tỉnh sẽ đồng ý chặt phá toàn bộ rừng phòng hộ thì đã thấy mấy gã lực lưỡng, lê lưỡi cưa sáng loáng đến bên từng gốc phi lao già nua.
Tiếng lưỡi cưa rít lên từng đợt. Những gốc phi lao cổ thụ đổ rạp xuống. Dân xót, lê lết chạy đến bên những gốc cây chưa bị đốn hạ. Có cụ già còn chạy đến, ôm lấy thân cây, mặc cho lưỡi cưa sáng loáng xèn xẹt kế bên.
Cũng đúng, với người dân nơi đây, rừng phi lao hàng trăm năm tuổi chính là lá chắn để bảo vệ tính mạng cho họ những ngày mưa bão. Những ngày bão nổi, những gốc phi lao xù xì đã chở che cho dân làng. Sau bão, rừng phi lao xác xơ. Có cây gãy ngang, nhựa ứa ra vón cục màu hồng như máu.
77 tuổi, chồng mất, cụ Hoàng Thị Quèn sống với 3 người con. Cụ bảo rằng, nhà cụ trước ở trong khu vực khu kinh tế Vũng Áng. Sau khi đất đai bị thu hồi để thực hiện cho dự án Fomusa, cụ được phân một lô đất ở thôn Ba Đồng.
Số tiền đền bù dù ít ỏi, nhưng cụ vẫn cố xây một căn nhà cấp 4 nho nhỏ để chui ra chui vào. Trong vườn, cụ trồng một ít hành tăm, để đến mùa mang ra chợ bán.
Mảnh đất của cụ, chỉ cách bãi biển hơn trăm mét. Trước mắt là dãy phi lao um tùm. Thế rồi một sáng, người ta đến chặt sạch. Bãi phi lao đổ rạp xuống. Cả một khu rừng phi lao trơ lại gốc.
Cụ Quèn kể rằng, từ lúc cụ được sinh ra, đã thấy rừng phi lao này rồi. Người dân nơi đây, chẳng ai bảo ai, mỗi năm lại tổ chức trồng thêm cây mới. Một phần để thay thế những cây bị gió bão quật ngã, một phần để phủ trống đồi.
Ngày qua ngày, năm qua năm, rừng phi lao cứ thế, âm thầm bảo vệ đời sống cho bà con. Quý cây như mạng sống, dân cử hẳn một đội ra để canh giữ những gốc phi lao như bảo vệ một lá bùa hộ mệnh.
Dẫn chúng tôi ra bãi đất trước kia là rừng phi lao, chị Hoàng Thị Anh, một người dân thôn Ba Đồng buồn bã: “Mấy hôm nay, gió lớn, cát bay ràn rạt vào nhà. Mâm cơm dọn sẵn, chưa kịp ăn đã đầy cát. Ngày mai, chẳng biết sẽ ra sao nữa”.
PV dõi theo cánh tay mà chị Anh chỉ, phía đó, những chiếc máy xúc vẫn lầm lũi đào những cái hồ sâu hoắm; kế bên nữa là những hồ nuôi tôm sắp vào vụ thu hoạch. Chỗ đó, trước là bãi phi lao tít tắp.
Bí thư chị bộ thôn Ba Đồng, Lê Mạnh Hà thở hắt: “Họ muốn chặt là chặt, muốn phá là phá, chẳng thông báo gì cho dân biết cả. Dân ở đây, toàn là dân tái định cư. Sở dĩ chúng tôi chọn chỗ này là vì mùa mưa bão còn có rừng phi lao chắn gió. Giờ chặt hết rồi, mùa mưa bão sắp tới, dân biết sống ra sao”.
Chẳng ai có thể trả lời cụ Quèn, chị Anh; cũng chẳng ai có thể trả lời được câu hỏi của Bí thư thôn Ba Đồng. Chỉ biết, mùa mưa bão đang đến gần. Người dân nơi cái doi đất này lại phải gồng mình để chống chọi với cơn cuồng nộ của thiên nhiên. Chẳng ai biết, sinh mạng của họ thế nào trong những ngày bão nổi. (Đời Sống & Pháp Luật 8/10) đầu trang(
Rùng đặc dụng đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần gìn giữ và phát triển nguồn tài nguyên rừng quốc gia.
Vì vậy, "Quy hoạch Bảo tồn và phát triển bền vững khu rừng đặc dụng Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội đến năm 2020" được UBND TP Hà Nội phê duyệt được coi là giải pháp tối ưu nhằm gìn giữ và phát huy những giá trị lâu bền của nguồn tài nguyên vô giá này.
Với mục tiêu chính là bảo tồn, phát triển, sử dụng bền vững tài nguyên rừng, tạo tiền đề phát triển du lịch sinh thái, quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững khu rừng đặc dụng tập trung hoàn thành nhiều nhiệm vụ mang tính cấp thiết và lâu dài. Trong đó, ưu tiên bảo tồn nguồn tài nguyên rừng, đa dạng sinh học, các hệ sinh thái rừng, nâng cao chất lượng và tỷ lệ che phủ của khu rừng Hương Sơn đến năm 2020 đạt 49,7%.
Qua nghiên cứu cho thấy, việc xây dựng và phát triển bền vững rừng đặc dụng không chỉ đảm bảo các tiêu chí về phân loại hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam mà còn mang lại hiệu quả về kinh tế - xã hội, đặc biệt, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân.
Giám đốc Ban Quản lý (BQL) rừng đặc dụng Hương Sơn Nguyễn Duy Giáp cho biết: "Không chỉ nguồn tài nguyên thiên nhiên được bảo vệ, giá trị về lịch sử văn hoá được bảo tồn mà ý thức của người dân trong gìn giữ, bảo vệ giá trị nguồn tài nguyên rừng cũng được nâng cao".
Theo quy hoạch, BQL rừng đặc dụng Hương Sơn sẽ thực hiện khối lượng công việc lớn như khoanh nuôi phục hồi rừng, xây dựng mô hình nâng cấp rừng trồng, cây đặc sản, cây phân tán... Đồng thời, hỗ trợ các hoạt động sản xuất, dịch vụ của cộng đồng dân cư đang sinh sống trong khu rừng đặc dụng Hương Sơn. Cùng với đó, tiến hành nghiên cứu khoa học về xây dựng và phát triển vườn thực vật, vườn ươm cây giống lâm nghiệp, vườn hoa lan các loại....
Theo số liệu thống kê của BQL, khu rừng đặc dụng Hương Sơn có tổng diện tích 3.760ha (bao gồm cả 4 xã vùng đệm: Hương Sơn, Hùng Tiến, An Tiến, An Phú). Do đó, việc quy hoạch các phân khu chính là sợi dây kết nối chuỗi liên kết kinh tế xanh bền vững. Các phân khu gồm: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái và phân khu dịch vụ hành chính.
Bảo tồn và phát triển khu rừng đặc dụng còn góp phần không nhỏ vào việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị quần thể di tích thắng cảnh Hương Sơn. Theo quy hoạch, khu rừng đặc dụng được bảo vệ có tổng diện tích 3.596ha, bao gồm: 3.379ha rừng tự nhiên, 217ha rừng trồng.
Trong đó, bảo tồn 68 loài cây đặc hữu, quý hiếm, quản lý bảo tồn 100ha, khoanh nuôi phát triển rừng bình quân 119ha/năm (thực hiện 5 năm), nâng cấp rừng trồng, cây đặc sản bình quân 20ha/năm (thực hiện trong 2 năm 2014 và 2015), trồng phân tán 7.000 cây, bình quân 1.000 cây/năm.
Bên cạnh đó, BQL sẽ phối hợp với các ban, ngành chức năng xây dựng các tuyến du lịch sinh thái "mở" nhằm khai thác tối đa mặt nước tự nhiên của các dòng suối, hồ như suối Yến, suối Long Vân, hồ Hương Tích, hồ Thung Cấm, hồ Đầu Voi.
Tuy nhiên, phải coi nhiệm vụ quản lý bảo vệ và phát triển rừng gắn với phát triển kinh tế địa phương làm trọng tâm. Như vậy, mới đạt được hiệu quả trong cả hai lĩnh vực lễ hội tâm linh và du lịch sinh thái.
Để hoàn thành các mục tiêu quy hoạch, bên cạnh sử dụng hiệu quả nguồn vốn của TP, BQL sẽ chủ động huy động nguồn vốn xã hội hóa và nguồn vốn từ nước ngoài kết hợp với đầu tư có trọng tâm, trọng điểm. (Kinh Tế & Đô Thị Số Đặc Biệt 10/10, tr59) đầu trang(
Trong 9 tháng qua, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã phối hợp với các địa phương tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật hơn 390 đợt và thu hút 3.560 lượt người tham gia.
Cùng với tuyên truyền chính sách, pháp luật, vai trò và tầm quan trọng của rừng đối với sự phát triển bền vững... Chi cục Kiểm lâm còn kiểm tra thường xuyên gần 400 tổ chức và cá nhân nhận hợp đồng khoán khai thác và bảo vệ rừng. Đồng thời, kết hợp với lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng tỉnh, chính quyền địa phương tổ chức tuần tra quản lý bảo vệ rừng, kiểm soát lâm sản hơn 1.000 đợt.
Qua kiểm tra, phát hiện 43 vụ vi phạm về xâm hại rừng. Trong đó, gây thiệt hại 1.779m2 rừng trồng, 13m2 rừng mắm, 1.805m2 đất rừng. Chi cục Kiểm lâm đã phạt tiền hơn 84 triệu đồng, tịch thu 0,5m3 gỗ đước và 1.461kg sâm đất, bán phát mãi nộp ngân sách hơn 28 triệu đồng.
Ngoài ra, đơn vị chức năng còn tổ chức hơn 60 lượt tuần tra bảo vệ rừng vườn chim Bạc Liêu, khu Canh Điền (huyện Đông Hải)... (Báo Bạc Liêu 6/10) đầu trang(
Theo Hạt kiểm lâm huyện Tuy An cho biết: Trong 09 tháng, cùng với việc tập trung tuyên truyền cho nhân dân và các hộ có rừng trồng, thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ phát triển rừng và phòng chống cháy rừng.
Hạt kiểm lâm huyện Tuy An còn phối hợp với các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương các cấp, tăng cường lực lượng tổ chức nhiều đợt truy quét, kiểm tra trong và ngoài rừng; đồng thời, tiếp tục tăng cường các biện pháp cấp bách ngăn chặn tình hình chặt phá, đốt rừng, khai thác rừng trái phép, nhất là các đối tượng khai thác và vận chuyển gỗ trắc trái phép tại các địa bàn rừng giáp ranh, các khu vực rừng trọng điểm. Đ
ồng thời thường xuyên kiểm tra, kiểm soát tại các điểm thu mua, chế biến và cưa xẻ gỗ trên địa bàn để xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm “Luật bảo vệ và phát triển rừng”. Nhờ đó tình hình vi phạm lâm luật có chiều hướng giảm so cùng kỳ năm trước.
Tính trong 09 tháng, toàn huyện xảy ra 11 vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng, giảm 01 vụ so cùng kỳ năm trước. Ngành chức năng đã tịch thu 16,744 m3 gỗ các loại từ N1-8; 720 Kg than hầm; 01 máy cưa tay; 01 xe máy. Phạt tiền nộp vào Kho bạc nhà nước trên 229,7 triệu đồng.
Từ nay đến cuối năm 2014, Hạt kiểm lâm huyện Tuy An tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho các chủ rừng trồng và các địa phương có rừng trọng điểm, rừng phòng hộ đầu nguồn, triển khai kế hoạch truy quét trong rừng nhiều ngày tại các địa bàn trọng điểm, các khu vực rừng giáp ranh là: An Xuân, An Lĩnh và An Thọ, tiêu huỷ các lán trại, lò hầm than và các đối tượng khai thác rừng trái phép.
Tăng cường công tác tuần tra kiểm tra, kiểm soát việc mua bán, vận chuyển, khai thác lâm sản trái phép trên các tuyến đường, các vùng trọng điểm trên địa bàn huyện và kiểm tra toàn bộ các cơ sở cưa xẻ gỗ, các điểm mua bán lâm sản trên địa bàn quản lý nhằm hạn chế tình trạng chặt phá rừng, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép trên địa bàn huyện. (Phuyen.gov.vn 7/10) đầu trang(
Nhờ triển khai đồng bộ và hiệu quả công tác bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng nên những năm qua, nguồn tài nguyên rừng ở Chợ Mới được bảo vệ và phát huy tác dụng tích cực cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Chợ Mới hiện có hơn 46.000ha rừng, trong đó rừng trồng chiếm khoảng 30% diện tích, còn lại chủ yếu là rừng tự nhiên phân bố đồng đều tại 16 xã, thị trấn. Diện tích rừng hỗn giao, tự nhiên tập trung chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa. Khu vực các xã Yên Hân, Yên Cư, Bình Văn, Mai Lạp và Tân Sơn có độ che phủ thấp nên ít xảy ra cháy.
Khu vực còn lại như Quảng Chu, Như Cố, Thanh Bình, Cao Kỳ, Hòa Mục có diện tích rừng trồng lớn, nhiều cây bụi nên nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao. Những năm gần đây, cùng với việc đẩy mạnh phát triển nghề trồng rừng, công tác phòng chống chữa cháy rừng (PCCCR) được huyện đặc biệt quan tâm.
Mùa khô năm 2012-2013, toàn huyện xảy ra 10 điểm cháy. Ngay khi phát hiện, chủ rừng và các tổ đội PCCCR đã tổ chức chữa cháy kịp thời theo phương châm 4 tại chỗ, vì vậy không có điểm cháy nào phát tán rộng thành vụ cháy rừng lớn. Từ đầu năm 2014 đến nay chưa có vụ cháy rừng nào xảy ra trên địa bàn huyện.
Chuẩn bị bước vào mùa khô năm 2014, ngoài việc thực hiện tốt các phương án phòng cháy, chữa cháy rừng của ngành kiểm lâm, huyện còn thành lập các tổ phòng cháy, chữa cháy rừng nhằm tăng cường thêm lực lượng để phối hợp với dân quân, công an, kiểm lâm địa bàn triển khai các biện pháp bảo vệ rừng.
Hiện tại huyện đã thành lập, kiện toàn và củng cố lại 18 ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong BVR&PCCCR từ cấp huyện đến cấp xã, đồng thời phân công trách nhiệm cụ thể cho các thành viên; củng cố lại 161 tổ, đội PCCCR tại chỗ ở các thôn bản, tổ phố; phân công lực lượng PCCCR từ cấp huyện đến cấp xã trực 24/24h trong 6 tháng mùa khô nhằm nhanh chóng tiếp nhận thông tin và ứng phó kịp thời khi xảy cháy. Huyện cũng hợp đồng với 10 xã trọng điểm có nguy cơ cháy cao trong mùa khô đảm bảo hạn chế thấp nhất các vụ cháy rừng xảy ra.
Ông Phạm Minh Tuyến- Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Chợ Mới cho biết: Thực hiện công tác phòng chống cháy rừng trong mùa khô năm 2014, huyện đã tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa 3 lực lượng là kiểm lâm, công an, quân đội về công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR, có kế hoạch kiểm tra phương án PCCCR của Ban Chỉ huy các xã, thị trấn nhằm bổ sung phương án PCCCR ở các đơn vị sao cho phù hợp với đặc điểm của mỗi vùng; phân công kiểm lâm viên thường xuyên kiểm tra, theo dõi, giám sát các hoạt động có liên quan đến công tác bảo vệ rừng và PCCCR tại cơ sở.
Khi có cháy rừng xảy ra, các đơn vị chuẩn bị các điều kiện thực hiện tốt phương châm 4 tại chỗ: Lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, chỉ huy tại chỗ và hậu cần tại chỗ. Huyện cũng chỉ đạo các Ban Chỉ huy PCCCR tăng cường kiểm tra, đôn đốc các đơn vị, chủ rừng thực hiện tốt các phương án bảo vệ rừng trên diện tích được giao, nhất là yêu cầu các gia đình khi chuẩn bị hiện trường cho vụ trồng rừng mới cần nghiêm túc thực hiện đúng quy trình xử lý thực bì tránh tình trạng để rừng cháy lan sang khu vực rừng tự nhiên và rừng trồng khác.
Công tác tuyên truyền được tiếp tục đẩy mạnh dưới nhiều hình thức trong cộng đồng dân cư, các cơ quan, trường học trên địa bàn để mọi người nhận thức rõ công tác PCCCR góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Huyện đã tổ chức ký cam kết không vi phạm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng với các hộ dân sinh sống gần khu vực rừng.
Với nhiều nỗ lực trong công tác trồng rừng và bảo vệ rừng, hiện nay, huyện Chợ Mới có diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng khá lớn, khoảng 80% số dân chủ yếu sống vào nghề nông lâm nghiệp và gắn bó với rừng. Khó khăn trong công tác PCCCR trên địa bàn huyện hiện nay là một số công trình, biển báo PCCCR đã bị hỏng và xuống cấp; kinh phí để phục vụ cho hoạt động PCCCR còn thấp, trang thiết bị PCCCR thô sơ, nhiều khi có cháy xảy ra, các đơn vị phải huy động phương tiện trong dân vì vậy hiệu quả chưa cao.
Nhằm triển khai công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô một cách năng động và đầy sáng tạo huyện, cùng với sự nhiệt tình của mỗi Thành viên trong tổ phòng cháy, chữa cháy rừng đã góp phần hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Đồng thời phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác PCCCR, huyện Chợ Mới đang tích cực triển khai đồng bộ nhiều biện pháp nhằm hạn chế thấp nhất các vụ cháy rừng xảy ra, giúp bảo vệ rừng trồng, rừng phòng hộ trên địa bàn huyện. (Báo Bắc Kạn 8/10) đầu trang(
Theo đó, từ đầu năm đến nay, ngành chức năng huyện đã phát hiện 113 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tăng 40 vụ so với cùng kỳ năm 2013.
Huyện đã tiến hành tịch thu 263,8 m3 gỗ các loại, 2.700 kg cành, nhánh, gốc, rể trắc; 3 xe ô tô; 55 xe máy; 8 cưa xăng, tổng số tiền thu từ xử phạt hành chính và bán lâm sản, phương tiện tịch thu từ đầu năm đến nay hơn 4,3 tỷ đồng.
Hiện ngành chức năng huyện đã xử lý vi phạm hành chính 94 vụ; khởi tố hình sự 3 vụ và xử lý vi phạm 2 cơ sở gia công hàng mộc dân dụng vi phạm về chế biến gỗ.
Bên cạnh đó, huyện đã hoàn thành công tác kiểm kê rừng, qua đó, tổng diện tích đất rừng gần 125 ngàn ha, trong đó rừng tự nhiên hơn 122 ngàn ha; rừng trồng hơn 2 ngàn ha.
Qua công tác kiểm kê, đã xác định diện tích người dân sản xuất nông nhiệp ổn định, lâu dài trên đất lâm nghiệp là 3.345 ngàn ha và có 1.632 ngàn ha đất sản xuất nông nghiệp do các đơn vị chủ rừng quản lý, rất khó để tiến hành thu hồi.
Hiện huyện đã và đang đề nghị chuyển diện tích này về địa phương quản lý đẻ giải quyết đất sản xuất cho dân. (Báo Gia Lai 8/10) đầu trang(
Trong 9 tháng qua, Hạt kiểm lâm Phú Lương đã hoàn thành tốt nhiệm vụ; trật tự trong công tác quản lý bảo vệ rừng được giữ vững; công tác trồng rừng vượt so với kế hoạch đã đề ra.
Ngay từ đầu năm, Hạt kiểm lâm Phú Lương đã chỉ đạo kiểm lâm địa bàn phối hợp với với Ban lâm nghiệp các xã cử cán bộ kỹ thuật xuống hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các hộ gia đình thực hiện trồng rừng theo đúng kỹ thuật; tiến hành kiểm tra thường xuyên diện tích khoán bảo vệ rừng đối với 3 tổ chức nhận khoán năm 2014.
Qua kiểm tra gần 804 ha rừng, 100% diện tích rừng không bị xâm hại hoặc bị thay đổi hiện trạng; tiến độ giải ngân vốn các dự án bảo vệ và phát triển rừng đạt trên 2.400 triệu đồng, bằng gần 86% kế hoạch.
Trong tháng 9, Hạt đã xử lý 2 vụ, tịch thu lâm sản và phương tiện, nộp ngân sách Nhà nước trên 5 triệu đồng. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật luôn được Hạt quan tâm, tăng cường qua đó đã nâng cao nhận thức, nhất là người dân vùng cao.
Những tháng còn lại của năm 2014, Hạt kiểm lâm Phú Lương tiếp tục triển khai kế hoạch thiết kế ngoại nghiệp dự án trồng rừng năm 2015; tiếp nhận hạt giống phục vụ công tác trồng rừng; tiếp tục truy quét các đối tượng, các khu vực trọng điểm tập kết, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép; kiểm tra việc quản lý, khai thác nuôi nhốt động vật hoang dã; triển khai chăm sóc rừng lần 2 và triển khai phương án PCCC rừng mùa khô 2014 – 2015. (Đài PTTH Thái Nguyên 8/10) đầu trang(
9 tháng năm 2014, Hạt Kiểm lâm Quan Hóa và Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hu đã phát hiện, xử lý 48 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Trong đó, có 8 vụ vô chủ trong khâu lưu thông (đối tượng bỏ lại tang vật, phương tiện) và 40 vụ có chủ, gồm: 29 vụ mua bán, cất giữ lâm sản trái pháp luật; 2 vụ khai thác rừng trái phép; 2 vụ vi phạm các quy định về thủ tục hành chính; 7 vụ vận chuyển lâm sản trái phép.
Tịch thu 4,776 m3 gỗ tròn; 17,66 m3 gỗ xẻ các loại; 1.152 kg gỗ có hình thù phức tạp, không đo được thể tích; 11,5 kg thịt động vật hoang dã; 1 xe mô tô. Tổng tiền thu nộp ngân sách Nhà nước là 261 triệu đồng (trong đó số tiền phạt là 232 triệu đồng; tiền thanh lý tang vật vi phạm 29 triệu đồng). (Báo Thanh Hóa 8/10) đầu trang(
Hà Nội đẹp vì nhiều cây xanh, vì ít nhà cao vượt khỏi tán cây, và nhiều đầm hồ… Những công thự, biệt thự không vượt quá 5 tầng hài hòa bên nhau cùng um tùm cây cổ thụ đã định hình một phong cách kiến trúc mang tính lịch sử.
Không gian Hà Nội ấy nếu thiếu vắng cây xanh cùng phố cổ và phố cũ sẽ tan biến, nhòe nhạt. Nhưng đó là Hà Nội của 36 phố phường 70 nghìn dân ngày cũ. Từ đó đến nay, một đô thị hơn 7 triệu dân, có lẽ không thể chỉ mở rộng đường, xây thêm nhiều nhà.
Nhất là những dãy nhà, chung cư vô hồn nặng màu sắc thực dụng cứ "nở phồng ra, rộp lên” ven đô. Chúng cơ bản giống nhau bởi được đúc theo cùng một cách. Cùng quá thiếu cây xanh, vườn hoa, đầm nước.
Năm 1954 Hà Nội có khoảng 16 ngàn cây bóng mát thì nay trên 70 ngàn cây chủ yếu là xà cừ, bàng, sấu, phượng, bằng lăng tím, muồng, sữa... Những cây sao, cây cơm nguội, cây sưa, vàng anh… đặc trưng Hà Nội không nhiều. Tính theo tiêu chuẩn đô thị xanh mỗi người phải có 10m2 cây xanh thì hiện Hà Nội chỉ đạt có 2m2/người.
Các kiến trúc sư, nhà nghiên cứu gọi đó là sự "khập khễnh”, nghĩa là đô thị hóa khiên cưỡng, diện tích nhà cao tầng và cây xanh quá lệch chuẩn. Chủ đầu tư nhiều nơi ngôn ngữ dân dã gọi là treo đầu dê bán thịt chó, khi khoe mô hình chung cư ăm ắp cây xanh vườn hoa mà dân đến ở chỉ có vài cọng cỏ. Chưa kể các dự án bất động sản bỏ hoang lấy đâu ra chi phí trồng cây và duy tu? Món nợ với cây xanh còn đó.
Sự đơn điệu về kiến trúc, vắng mặt cây xanh hoa lá đó chỉ là hệ quả của lối sống hướng tới một cuộc sống vật chất và tinh thần đơn điệu giống nhau. Nằm trong bản chất và cách thức người ta quan niệm về hạnh phúc. Đô thị hiện đại có lẽ phải được quan niệm và quy hoạch một cách khác, tổ chức lại một cách sống khác, mà sự hình thành của tính cách con người đô thị phụ thuộc vào đó.
Những con phố lâu đời nhất ở Hà Nội đều có những loài cây của riêng mình. Sự hòa quyện của mỗi hàng cây, góc phố tạo nên một giai điệu cây xanh rất riêng. Song cũng như TP.HCM, Hà Nội đang chứng kiến cảnh hạ gục cây xanh ngay trong nội đô cho các mục tiêu phát triển. Cây cổ thụ trên đường Láng và tới đây sẽ là dãy cây cổ thụ cạnh công viên Thủ Lệ bị chặt hạ dành đất thi công các tuyến đường sắt trên cao.
Xót xa, ồn ào, bất lực! Dường như ở đâu người ta cũng hiểu giá trị của những vẻ đẹp tinh thần, nhưng rồi ở đâu con người cũng bị những nhu cầu vật chất chi phối. Có, mà như không có ai kiểm soát chất lượng đô thị, cây xanh chịu sức ép của dân số ngày càng lớn.
Ngay các căn nhà mặt phố cũng tha hồ hành hạ, bức tử cây xanh nếu nó vướng víu cản trở sự làm ăn. Và khi không dừng lại đắn đo giữa lợi ích trước mắt và rộng dài, thì chọn "thí mạng cây” quá dễ. Đổ nước sôi, bôi dầu mỡ, đóng đinh, treo biển hiệu, đổ a xít vào gốc…, trong khi các tuyến Khâm Thiên, Hàng Đào, Hàng Ngang... lại chẳng còn hè phố để trồng cây.
Tại một hội thảo đầu tháng 10 này nhân Hà Nội 60 năm xây dựng và phát triển, ông Lê Sỹ Dũng, Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH Một thành viên Công viên vườn thú Hà Nội bảo, có một cây xanh cho bóng mát phải mất hơn chục năm, nhưng kẻ phá hoại chưa bị xử lý thích đáng, "Chính quyền địa phương cần vào cuộc. Những ai cố tình xâm hại cây có thể xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự”.
Không phải chỉ đến bây giờ những "thương nhớ cây xanh” mới xuất hiện. Vào năm ngoái, họa sĩ Đỗ Phấn, cây bút chuyên viết về Hà Nội, trong tản mạn đặc sắc "Nhớ về cây” đưa ra một bức tranh Hà Nội khá khác thường. Một tổng thể cây cối êm đềm toàn cây là cây mà lộng lẫy sang trọng, và nặng nỗi "tương tư”.
Đó là những buổi sáng mùa đông mịt mờ hơi sương run rẩy trên từng nhánh hao gầy hàng cây cơm nguội cuối đường Yên Phụ, ông viết. Là hàng cây sao thẳng tắp chọc trời phố Lò Đúc làm cho con phố lúc nào cũng mang một thứ ánh sáng như rạng đông kỳ ảo.
Những gốc sấu già nua sần sùi u cục trên đường Phan Đình Phùng, Trần Hưng Đạo. Những cây me già rỗng ruột phong phanh mưa nắng đầu đường Bà Triệu, Lê Thái Tổ. Vài cây sưa đơm hoa trắng trời cữ tháng giêng ở vườn hoa Cổ Tân cạnh Nhà hát lớn…
Khi Hà Nội hy sinh cây cổ thụ ở trung tâm nhiều hơn cho mục tiêu phát triển, nét đặc tả cây Hà Nội của Đỗ Phấn càng làm ta muốn khóc. Với Đỗ Phấn, cây Hà Nội không giống với bất cứ đâu trên đất nước. Những gốc cây mang đầy thương tích. Hình như nó đại diện cho cây xanh cả nước đã và đang chịu đựng sức tàn phá của con người. Tìm một cây bàng lành lặn trong phố bây giờ là điều không thể.
Không gian Hà Nội đang bị bê tông hóa cả nội đô và ven đô. Ngay việc trồng lại cây cối sau bão to giông lốc lớn không thể chỉ cho kín chỗ cũ là xong. Nhìn nhận việc quản lý cây xanh một cách chuyên nghiệp, KTS Trần Huy Ánh (Hội KTS Việt Nam) cho rằng Hà Nội cần có một định chế quản lý tài sản công cộng, có sự tham gia giám sát của xã hội. Kiến trúc sư hay chuyên gia cây xanh đều có cơ hội tham góp một cách tích cực nhất.
Cây cối thì có sinh ra, phát triển và đổi thay. Cây có tuổi, có hồn… Và mỗi người cũng vậy, cần lắm những khoảng xanh tâm hồn trong trẻo hồn nhiên như cây lá. Tiếc là trẻ con bây giờ ít được chơi với cây, hiểu về cây, khi cha mẹ quá ít thì giờ.
Song chỉ khi mọi công dân biết sống lương thiện và yêu cây xanh, đủ để trân trọng bảo vệ nó, cây xanh mới không chỉ là cây xanh mà còn là cái gì khác nữa, cao vời hơn, thẳm sâu hơn, phương cách riêng của văn hóa Hà Nội cả ngàn năm. (Đại Đoàn Kết 9/10, tr7) đầu trang(
Đa dạng sinh học là một trong những chỉ số quan trọng nhất của trạng thái môi trường, tuy nhiên, hầu hết các báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) rất ít chú ý đến tác động tiềm tàng của dự án đến đa dạng sinh học.
Theo các chuyên gia môi trường, phần lớn các dự án không có sự cân nhắc thích hợp về đa dạng sinh học khi lựa chọn vị trí thực hiện dự án. Việc xem xét các phương án lựa chọn vị trí dự án được coi là vấn đề bất cập nhất trong quy trình thẩm định dự án đầu tư ở nước ta hiện nay.
Các dự án được chấp thuận địa điểm trước khi nghiên cứu ĐTM và báo cáo đầu tư. Kéo theo đó, các vấn đề nhạy cảm với môi trường, bao gồm đánh giá khả năng chịu tải môi trường và tính đặc thù của hệ sinh thái trong khu vực dự kiến triển khai dự án thường bị bỏ qua, và ĐTM thực chất chỉ cố gắng giảm thiểu mà không thể ngăn ngừa các tác động tiêu cực, thậm chí trong nhiều trường hợp đây là nhiệm vụ bất khả thi.
Ngoài ra, các báo cáo ĐTM hiện nay chứa rất ít thông tin, dữ liệu về hiện trạng đa dạng sinh học cũng như về phương thức sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học. Đa phần chỉ tập trung vào các hệ sinh thái cần được bảo vệ mà không chú ý đến các hệ sinh thái không được ưu tiên bảo vệ. Điều này dẫn đến một số nhận định sai lệch về cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học đặc thù cho từng khu vực.
Hiện Việt Nam đã ban hành một số văn bản pháp quy liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học như: Luật Bảo vệ Môi trường 2005, Nghị định số 29 và Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT; Luật Đa dạng sinh học 2008 và Nghị định số 65/2010/ND-CP; Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004, Nghị định số 117/2010/ND-CP và Thông tư số 78/2011/TT-BNNPTNT; Luật Thủy sản 2003 và Nghị định số 27/2005/ND-CP.
Trong các văn bản pháp pháp quy nêu trên, đa dạng sinh học được coi là một nội dung của môi trường tự nhiên, có tiềm năng chịu tác động từ các hoạt động phát triển, vì vậy tác động đến đa dạng sinh học cần được đánh giá và cần đưa ra các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực trong quy trình đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) hoặc ĐTM tương tự như các thành phần môi trường tự nhiên khác.
Mặc dù cũng quy định các nguyên tắc chung về bảo vệ đa dạng sinh học, song các văn bản lại không quy định cụ thể về các nội dung đánh giá tác động đa dạng sinh học và nhất là không đề cập đến việc cần thiết xây dựng các tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ thị đa dạng sinh học quốc gia để so sánh khi đánh giá. Các dự án tiềm ẩn tác động đến đa dạng sinh học tuy đã được đưa vào danh mục phải thực hiện ĐTM nhưng lại không có quy định cần lưu ý đến các loại tác động, quy mô tác động.
Việt Nam xếp ở vị trí thứ 16 về đa dạng sinh học trên toàn thế giới, đồng thời được xem là một trong 12 trung tâm giống cây trồng và trung tâm thuần hóa vật nuôi nổi tiếng thế giới. Mức độ đa dạng sinh học của hệ cây trồng ở Việt Nam khá cao.
Việc phát triển hàng loạt các công trình thủy điện nhỏ mà không chú ý đến tác động tổng hợp về kinh tế - xã hội và môi trường, đã dẫn đến những tiêu cực về bảo toàn bền vững tài nguyên rừng và đa dạng sinh học. Trước hết là sự xâm chiếm, phá hoại diện tích rừng tự nhiên rất lớn.
Chẳng hạn như tỉnh Lâm Đồng xây dựng 25 công trình thủy điện vừa và nhỏ, đã làm mất tới 15.000 ha rừng tự nhiên để làm hồ chứa, kênh dẫn, đường giao thông và lưới truyền tải điện. Còn ở tỉnh Bình Định, chỉ tính tổng 3 nhà máy thủy điện là Trà Xom, Vĩnh Sơn 2 và Vĩnh Sơn 3 đã hủy hoại 1.300 ha rừng tự nhiên.
Nhiều hồ chứa thủy điện khi đưa vào hoạt động mặc dù đều xây dựng phương án vận hành, song trên thực tế vận hành không tốt. Các thủy điện trên cùng một lưu vực sông cũng không có phương án vận hành mang tính hệ thống, dẫn đến việc thay đổi, thậm chí làm đảo ngược chỗ đổ dòng chảy cả trong mùa cạn và mùa lũ, gây ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái ở hạ lưu các dòng sông.
Thực tế thẩm định các dự án phát triển trong thời gian qua, đặc biệt là các dự án thủy điện, khai khoáng, phát triển cảng biển... cho thấy, cần sớm đưa quy định về lồng ghép bảo tồn đa dạng sinh học trong quy trình ĐTM, ĐMC vào các luật liên quan. Việc lồng ghép này là một cách tiếp cận tổng thể và toàn diện để xem xét tác động của các dự án phát triển đến hệ động thực vật và dịch vụ hệ sinh thái, cũng như các mối quan hệ giữa chúng.
Điều này sẽ hỗ trợ giảm thiểu tối đa tác động đến đa dạng sinh học của các dự án phát triển, đảm bảo dự án phát triển được tích hợp với cân nhắc bảo tồn đa dạng sinh học và phù hợp về mặt pháp lý, cũng như cung cấp và chia sẻ công bằng những lợi ích phát sinh từ việc sử dụng đa dạng sinh học. (Tài Nguyên & Môi Trường 8/10, tr6) đầu trang(
Xã Ta Ma (huyện Tuần Giáo) có 5.412ha rừng, chủ yếu là rừng tự nhiên. Trong những năm qua, rừng không những cung cấp gỗ và các loại lâm sản phụ mà còn giúp người dân có thêm thu nhập, đặc biệt là khi triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Bởi vậy, cấp ủy, chính quyền và người dân xã Ta Ma luôn chú trọng bảo vệ, phát triển và phòng cháy chữa cháy rừng.
Ông Giàng A Dua, Chủ tịch UBND xã Ta Ma cho biết: Là xã thuần nông, thu nhập chủ yếu của người dân Ta Ma từ cây ngô. Song mấy năm gần đây giá ngô thấp nên cuộc sống gặp nhiều khó khăn. Từ năm 2011 đến nay, người dân có thêm nguồn thu nhập từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, góp phần cải thiện cuộc sống. Tính đến nay, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên đã chi trả hơn 3 tỷ đồng cho chủ rừng là cộng đồng thôn, bản trên địa bàn.
Thực tế cho thấy, để thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng thì ý thức của người dân là yếu tố quan trọng nhất. Do đó, công tác tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức và gắn trách nhiệm bảo vệ rừng được chính quyền xã chú trọng thực hiện.
Xã luôn phối hợp chặt chẽ với lực lượng kiểm lâm địa bàn xây dựng các phương án cụ thể để quản lý, bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng; lồng ghép tuyên truyền về chính sách, pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng cho người dân trong các cuộc họp bản; thành lập các tổ bảo vệ rừng tại các thôn, bản tuần tra, kiểm tra, kiểm soát rừng.
Trong 3 năm gần đây, trên địa bàn xã Ta Ma không xảy ra cháy rừng, hạn chế tình trạng người dân phá rừng làm nương. Bên cạnh đó, người dân đã tích cực trồng mới 27ha rừng.
Ông Vàng A Chứ, Trưởng bản Háng Chua (xã Ta Ma) cho biết: Trước đây, chúng tôi bảo vệ rừng với mục đích lấy gỗ làm nhà, thu hoạch các loại lâm sản phụ phục vụ đời sống. Vài năm gần đây, được hưởng lợi từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng nên bà con trong bản đều ý thức, trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng.
100% hộ trong bản thực hiện nghiêm Quy ước, hương ước bảo vệ rừng, không phá rừng làm nương; tình trạng chặt cây tươi làm củi cơ bản chấm dứt. Đặc biệt là không còn tình trạng khai thác gỗ bừa bãi, thay vào đó khi có nhu cầu chính đáng bà con đều làm đơn xin đề nghị với bản, UBND xã nếu được chính quyền địa phương nhất trí mới được khai thác.
Do đặc thù của địa hình vùng cao, nên với Ta Ma việc bảo vệ rừng đồng nghĩa với việc bảo vệ nguồn nước sinh hoạt và sản xuất. Vào mùa khô toàn xã có 6/7 bản rơi vào tình trạng thiếu nước nghiêm trọng, nhiều diện tích có thể khai hoang sản xuất lúa ruộng nhưng vì thiếu nước phải chuyển sang trồng ngô. Hiện xã có 27ha lúa ruộng, trong đó chỉ có 6ha lúa gieo cấy được 2 vụ.
Tuy nhiên, thời gian gần đây, người dân các xã Quài Nưa, Tỏa Tình và xã Mường Giàng (huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La) sang khai thác trộm gỗ nghiến dạng thớt ở các khu vực rừng đầu nguồn, dẫn đến nguồn nước vốn đã khan hiếm nay càng thêm cạn kiệt. Do địa bàn rộng, lực lượng kiểm lâm mỏng, các đối tượng hoạt động rất manh động nên xã gặp khó khăn trong công tác ngăn chặn, bảo vệ rừng.
Để thực hiện tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng, góp phần khắc phục tình trạng thiếu nước sản xuất và sinh hoạt, cải thiện môi trường sống, chính quyền và người dân xã Ta Ma mong muốn các cơ quan chức năng huyện Tuần Giáo bổ sung lực lượng kiểm lâm cho địa bàn và có biện pháp chấm dứt tình trạng khai thác trộm gỗ nghiến dạng thớt đảm bảo nguồn lợi cho người dân. (Báo Điện Biên Phủ 8/10) đầu trang(
Kết thúc quý III/2014, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thông Bình Thuận đã triển khai 4 cuộc thanh tra hành chính. Kết quả, đã chấn chỉnh các đơn vị khắc phục một số thiếu sót trong công tác quản lý bảo vệ rừng và sử dụng đất lâm nghiệp…
Thanh tra Sở cũng đã phát hiện 646 vụ vi phạm về lâm nghiệp, lập hồ sơ xử lý 605 vụ việc. Trong đó, xử phạt vi phạm hành chính 600 vụ, xử lý hình sự 5 vụ; tiến hành lập hồ sơ và xử phạt vi phạm hành chính hơn 4.256 tỷ đồng. (Thanh Tra 7/10) đầu trang(
Được đánh giá là vùng đa dạng sinh học với những loài động thực vật đặc hữu chỉ đứng sau Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, khu vực rừng Động Châu-khe Nước Trong có gần 20.000ha (thuộc xã Kim Thủy, huyện Lệ Thủy), được ví như một mái nhà xanh chở che cho hàng vạn cư dân sinh sống ở lưu vực sông Kiến Giang và Long Đại.
Gánh trên vai sứ mệnh quan trọng đó, nên việc bảo tồn đa dạng sinh học ở nơi đây đang được các ban, ngành chức năng và người dân chăm chút từng ngày. Động Châu-khe Nước Trong là khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn trọng yếu ở phía tây Nam huyện Lệ Thủy. Giá trị về đa dạng sinh học, cũng như tầm quan trọng của khu vực này trong việc phòng hộ môi trường từ lâu đã được chính quyền các cấp, người dân địa phương ghi nhận và đầu tư bảo vệ.
Từ năm 2008, UBND tỉnh đã có chủ trương về phương án tăng cường quản lý bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn, đồng thời nhận thấy giá trị đa dạng sinh học ở khu vực này nên đã có đề án chuyển rừng phòng hộ khe Nước Trong thành khu bảo tồn thiên nhiên. Theo đó, đề án nâng hạng khu vực rừng khe Nước Trong thành rừng đặc dụng đã được Bộ Nông nghiệp-PTNT chuẩn y.
Và gần đây nhất, trong quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, khe Nước Trong vinh dự được quy hoạch thành lập Khu bảo tồn (khu dự trữ thiên nhiên) trong phân kỳ từ nay đến 2020.
Ông Phạm Hồng Thái, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp-PTNT kiêm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh tâm sự, mặc dù UBND tỉnh và các ban, ngành liên quan rất ủng hộ, nhưng do chưa có đủ nguồn lực tài chính cần thiết để hỗ trợ cho khu bảo tồn, trong khi đó, lực lượng bảo vệ rừng còn quá mỏng, cùng với thói quen của bà con lâu nay sống dựa vào sản vật của rừng, nên tài nguyên rừng ở khu vực Động Châu-khe Nước Trong sẽ tiếp tục suy giảm là điều hiện hữu.
Ngoài ra, trong bối cảnh suy thoái môi trường, tài nguyên rừng và đa dạng sinh học ở khu vực miền Trung, sự tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết diễn biến phức tạp khó lường nên việc bảo tồn đa dạng sinh học, duy trì và tăng cường khả năng phòng hộ của rừng Động Châu-khe Nước Trong lại càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Chính vì vậy, UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp-PTNT, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tìm kiếm giải pháp nhanh chóng nâng cấp công tác quản lý, bảo vệ rừng tại khu vực này cho xứng tầm với các giá trị đa dạng sinh học quan trọng hiện có, trong khi vẫn tích cực theo đuổi định hướng lâu dài là thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên khe Nước Trong.
Qua tìm hiểu được biết, khi được Bộ Nông nghiệp-PTNT đồng ý với đề xuất của Chi cục Kiểm lâm tỉnh về việc thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên khe Nước Trong, Chi cục đã triển khai nhiều phương án để bảo vệ đa dạng sinh học ở khu vực này.
Tuy nhiên, do gặp rất nhiều khó khăn nên Chi cục đã phối hợp với Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên Việt (thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam) tìm kiếm giải pháp nhằm tăng cường công tác bảo vệ, để xứng tầm với giá trị đa dạng sinh học độc đáo của khu vực khe Nước Trong.
Đó là, mô hình hợp tác công-tư để quản lý và bảo vệ lâu dài cho khe Nước Trong theo nguyên tắc như một khu bảo tồn thiên nhiên trên thực tế, trong khi vẫn tiếp tục vận động để được chính thức thiết lập thành một Khu bảo tồn thiên nhiên.
Ông Phạm Văn Bút, Trưởng phòng Quản lý, bảo vệ rừng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, khu vực rừng Động Châu-khe Nước Trong ở phía tây Nam tỉnh Quảng Bình còn lưu giữ được một diện tích rừng ẩm thường xanh trên đất thấp ít bị tác động ở khu vực miền Trung. Hiện khu vực này có diện tích gần 20.000ha, thuộc vùng sinh thái Bắc Trung bộ (trong đó, dự án sẽ tiến hành thuê 800ha thuộc tiểu khu 528).
Đây là một phần của dải rừng đất thấp (khoảng 120.000ha) kéo dài từ Lâm trường Trường Sơn ở phía Bắc (thuộc huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình) đến Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa (tỉnh Quảng Trị) ở phía Nam. Nơi đây có một khu hệ động thực vật cực kỳ phong phú, với khá lớn sinh cảnh vùng đất thấp đã được Tổ chức Bảo tồn chim quốc tế xác định là một vùng chim quan trọng trong vùng chim đặc hữu đất thấp miền Trung. Đồng thời được Tổ chức bảo tồn quốc tế xác định là vùng đa dạng sinh học trọng điểm trong hành lang đa dạng sinh học nối giữa Việt Nam và Lào.
Khu bảo tồn thiên nhiên (đề xuất) khe Nước Trong có sinh cảnh rừng thích hợp cho hai loài đang bị đe dọa ở mức độ rất nguy cấp là sao la-loài thú móng guốc được phát hiện năm 1992, và gà lôi lam mào trắng, loài chim đặc hữu chỉ có ở miền Trung, lần cuối cùng được ghi nhận ngoài thiên nhiên là năm 2000.
Bên cạnh đó, các loài bị đe dọa, đặc hữu hoặc quý hiếm khác ghi nhận được ở khe Nước Trong cho đến thời điểm năm 2012, bao gồm: trĩ sao, khướu đầu xám, khướu mỏ dài, chích chạch má xám, mang lớn, mang Trường Sơn, thỏ vằn, vượn đen má trắng, chà vá chân nâu, voọc Hà Tĩnh, ếch cây Trường Sơn... đã cho thấy giá trị đa dạng sinh học đặc biệt ở khu vực này.
Một cán bộ của Ban quan lý rừng phòng hộ Động Châu đơn vị tham gia dự án bảo vệ đa dạng sinh học và tăng cường các dịch vụ sinh thái của rừng Động Châu-khe Nước Trong cho hay, mục đích thuê môi trường rừng với diện tích 800ha thuộc tiểu khu 528 để quản lý theo mô hình “khu rừng hy vọng” đã được một số nước trên thế giới thực hiện.
Nghĩa là kết hợp giữa nghiên cứu khoa học với bảo tồn; khu rừng được bảo vệ theo mô hình rừng đặc dụng, đồng thời hỗ trợ các hoạt động tăng cường bảo vệ rừng và ngăn chặn hiện tượng bẫy bắt động vật hoang dã, trên toàn bộ diện tích rừng trong khu vực.
Sau khi thống nhất các điều khoản thuê diện tích rừng nói trên, các bên liên quan sẽ tổ chức tìm kiếm và nghiên cứu các loài động, thực vật hoang dã quý hiếm để phục vụ công tác bảo tồn, đặc biệt là loài gà lôi lam mào trắng và sao la.
Để phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, các ngành liên quan sẽ tiến hành đặt bẫy ảnh tự động ghi lại hình ảnh các loài động vật có trong khu vực; điều tra, khảo sát, giám sát biến động của các loài động, thực vật ngoài thực địa, theo dõi về số lượng loài và số lượng cá thể của loài để có biện pháp bảo tồn phù hợp (hiện ở rừng Động Châu-khe Nước Trong có 987 loài thực vật, 76 loài thú, 161 loài chim, 61 loài bò sát và ếch nhái).
Ngoài ra, dự án sẽ hỗ trợ Ban quản lý rừng phòng hộ Động Châu trang thiết bị, tập huấn nghiệp vụ, kinh phí phục vụ tăng cường tuần tra, quản lý, bảo vệ rừng, tuyên truyền phổ biến pháp luật bảo vệ rừng trong khu vực. Đặc biệt, khi dự án này vận hành, các bên liên quan sẽ tiếp tục kêu gọi và thực hiện các mô hình để phát triển sinh kế cho người dân trong khu vực, nhằm giảm áp lực vào rừng như: trồng mây dưới tán rừng, trồng trọt, chăn nuôi...
Bảo tồn đa dạng sinh học là một việc làm cấp thiết hiện nay và phù hợp với thông lệ quốc tế, nhằm gìn giữ cho các thế hệ mai sau những giá trị về hệ sinh thái động, thực vật đang có nguy cơ bị ảnh hưởng do biến đổi khí hậu. Giữa màu xanh bạt ngàn của núi rừng đang và sẽ được cộng đồng chung tay bảo vệ, tin tưởng rằng Động Châu-khe Nước Trong sẽ mãi là lá phổi xanh chăm lo môi trường sống cho người dân. (Báo Quảng Bình 8/10) đầu trang(
Nhằm bảo tồn tính đa dạng sinh học của rừng tự nhiên, trong những năm qua,Vườn quốc gia Bến En đã đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, gieo ươm và phục hồi sinh thái rừng.
Tranh thủ nguồn hỗ trợ từ các chương trình, dự án của tổ chức trong nước và quốc tế để triển khai chương trình nghiên cứu, phục hồi và bảo tồn hệ động thực vật trong rừng, Vườn Quốc gia Bến En đã thực hiện thành công hàng chục đề tài nghiên cứu khoa học như đề tài nghiên cứu phục hồi rừng sau khai thác nương rẫy, nghiên cứu kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc quý, nghiên cứu bảo tồn một số loài linh trưởng, bảo tồn và phát triển loài Lim xanh, Bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái núi đất đai thấp khu vực Bắc Trung Bộ...
Tạo điều kiện để Vườn Quốc gia Bến En lập được danh mục các loài thực vật, động vật, cây dược liệu, nghiên cứu các giải pháp nhằm bảo tồn, phát triển nguồn gien quý và các tài nguyên động thực vật phổ biến trong rừng.
Ông Phạm Văn Hùng- Phó GĐ Vườn Quốc gia Bến En cho biết: Hiện nay, ngoài giải pháp tăng cường công tác kiểm tra, xử lý vi phạm; Vườn Quốc gia Bến En cũng đang tích cực tìm ra những đề tài, đề án nghiên cứu, bảo tồn và phát triển những loài gien quý hiếm. Theo ông Hùng, điều qua trọng nhất để quản lý và bảo vệ rừng bền vững là ý thức tham gia bảo vệ rừng của cả cộng đồng.
Hiện nay các quần thể cây đặc hữu như Lim xanh, Vù hương trên cơ sở hỗ trợ của các dự án, cán bộ kỹ thuật của vườn đã lặn lội nhiều ngày trong rừng để điều tra khảo sát thực trạng quần thể thực vật, thu nhập các mẫu tiêu bản, xác định đặt tính phân bố, đặc tính sinh học của các loại cây này trên cơ sở đó tiến hành nghiên cứu, gieo ươm và trồng bổ sung.
Anh Lê Văn Dũng – Cán bộ vườn quốc gia Bến En cho biết: Xác định khả năng gieo giống tự nhiên của cây Lim xanh không còn, đơn vị phải tập trung vào nghiên cứu quá trình tạo giống cây con tại vườn ươm, đồng thời nghiên cứu quá trình phát triển của cây trong giai đoạn vườn ươm, trong giai đoạn rừng trồng. Thông qua đó nghiên cứu quá trình tái trong sinh tự nhiên của cây.
Tính đến nay, Ban quản lý Vườn Quốc gia Bến En đã triển khai trồng bổ sung được trên 30 ha cây Lim xanh ở tất cả các khu vực rừng tự nhiên. Diện tích Lim xanh trồng phục hồi này đang phát triển tương đối tốt. Đơn vị cũng đang tiếp tục triển khai nghiên cứu gieo ươm và tiếp tục trồng bổ sung cây Vù hương vào rừng, góp phần từng bước phục hồi hệ sinh thái và cảnh quan vốn có của Vườn Quốc gia Bến En.
Thực hiện chương trình 661 của Chính phủ, trong gian đoạn từ 2006- 2014, Vườn Quốc gia Bến En đã trồng mới được gần 100 ha rừng trong đó chủ yếu là cây bản địa được trồng tại phân khu phục hồi sinh thái của Vườn.
Ngoài ra đơn vị cũng đã thực hiện khoanh nuôi tái sinh tự nhiên với tổng diện tích đạt trên 12 nghìn ha. Kết quả của công tác nghiên cứu, phục hồi và phát triển rừng đã góp phần vào việc nâng cao độ che phủ rừng, đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng rừng và đa dạng sinh học nơi đây. (Đài PTTH Thanh Hóa 7/10) đầu trang(
Mới đây, Huyện ủy Lâm Hà đã ban hành Kế hoạch số 85/KH-HU về việc “Chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”.
Theo đó, mục tiêu tổng quát của địa phương là “Phấn đấu đến năm 2020 huyện Lâm Hà về cơ bản chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai, giảm nhẹ phát thải nhà kính; quản lý chặt chẽ tài nguyên, khai thác sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững.
Kiềm chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường nhằm đảm bảo chất lượng môi trường sống, duy trì cân bằng sinh thái, hướng tới nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường...”.
Cũng trong kế hoạch nói trên, phần đánh giá công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường có nêu rõ: “Đối với Lâm Hà, nguy cơ mất tài nguyên, ô nhiễm môi trường dẫn đến biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện đó là: cháy rừng, việc vi phạm lâm luật, khai thác lâm sản trái phép, chặt phá rừng, lấn chiếm đất rừng làm đất nông nghiệp, khai thác tài nguyên...”.
Phần ghi nhận những cố gắng, văn bản cho biết là “Nhận thức về biến đổi khí hậu của các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp và nhân dân địa phương có nhiều chuyển biến tích cực. Năng lực phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai được nâng cao, từng bước thích ứng với biến đổi khí hậu...”.
Tuy nhiên, sẽ phải giật mình khi biết rằng, nhờ tăng cường kiểm tra, giám sát để ngăn chặn, xử lý kịp thời những trường hợp chặt phá, lấn chiếm đất rừng... nên Lâm Hà “duy trì độ che phủ rừng trong toàn huyện đạt 28%”. 28% trong tổng số 92.977ha đất tự nhiên của Lâm Hà là một con số quá thấp. Nếu so sánh với tỷ lệ độ che phủ rừng cả tỉnh trên 60% thì tỷ lệ 28% của Lâm Hà quả là điều đáng để suy ngẫm.
Về hạn chế, huyện Lâm Hà thẳng thắn thừa nhận: “Công tác lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt nhưng tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép còn diễn biến phức tạp, chưa phát hiện xử lý kịp thời, triệt để; chỉ tiêu trồng mới rừng, độ che phủ rừng không đạt kế hoạch...”.
Lâm Hà đặt ra mục tiêu: Nâng độ che phủ của rừng đạt 38% vào năm 2020; thực hiện trồng rừng theo phương thức nông lâm kết hợp đạt diện tích khoảng 5.000ha; bảo vệ tốt diện tích rừng hiện còn, bao gồm cả rừng tự nhiên và rừng trồng.
Tỷ lệ 38% không phải là “lý tưởng” nhưng dẫu sao thì tỷ lệ từ 28% hiện tại tăng lên 38% vào năm 2020 như mức phấn đấu của huyện Lâm Hà cũng là một cố gắng rất đáng ghi nhận! (Báo Lâm Đồng 8/10) đầu trang(
Nhiều loài thực vật mới, lạ chưa từng xuất hiện vừa được công bố tại khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Xuân Liên, huyện miền núi Thường Xuân (Thanh Hóa) ngày 8-10.
Theo cán bộ khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, trong quá điều tra, lập danh mục khu hệ động thực vật rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên này, các nhà khoa học phát hiện nhiều loài thực vật mới tại đây.
Trong đó có một loài thực vật mới, chưa từng được ghi nhận trên thế giới, được các nhà khoa học đặt tên là Aristolochia xuanlienensis, thuộc họ Nam mộc hương (Aristolochiaceae), được đặt tên theo địa điểm thu mẫu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên.
Sau một thời gian nghiên cứu, các nhà khoa học đi đến kết luận các mẫu vật của loài thực vật mới phát hiện này chính là loài mới cho thế giới, thuộc chi Nam mộc hương (Aristolochia).
Hiện các mẫu chuẩn của loài thực vật mới này đang được lưu giữ tại phòng tiêu bản thực vật của Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật Việt Nam, kèm theo mẫu cho nghiên cứu sinh học phân tử.
Bên cạnh đó, trong quá trình điều tra sự đa dạng sinh học nhiều tháng qua, các nhà khoa học cũng phát hiện ba loài thực vật chưa từng được ghi nhận tại Việt Nam gồm: Lữ đằng đứng (tên khoa học là Lindernia megaphylla P.C), Thủy thảo trắng (Kailarsenia lineata R.Br) và Song quả lá bắc tím (Didymocarpus pupureobracteatus Smith).
Việc phát hiện loài thực vật mới có ý nghĩa quan trọng trong việc bổ sung tính đa dạng sinh học của Việt Nam và trên thế giới. (Tuổi Trẻ 9/10) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
8/10, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình tổ chức Lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành lập (9/10/1974-9/10/2014) và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì do Nhà nước trao tặng.
Trong 40 xây dựng và trưởng thành, lực lượng Kiểm lâm Quảng Bình đã không ngừng lớn mạnh và có nhiều đóng góp cho cho sự nghiệp phát triển KT-XH ở địa phương. Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình luôn chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương làm tốt công tác quản lý bảo vệ hơn 481.480 ha tự nhiên và 74.000 ha rừng trồng, góp phần nâng độ che phủ của rừng tại địa phương lên hơn 70%, đứng đầu toàn quốc.
Ngoài ra, lực lượng Kiểm lâm Quảng Bình tích cực thực hiện các dự án trồng rừng, phát triển kinh tế giúp người dân miền núi, vùng sâu vùng xa nâng cao đời sống.
Cũng trong dịp này, nhiều cá nhân trong lực lượng Kiểm lâm Quảng Bình có thành tích xuất sắc đã được nhận phần thưởng do Đảng, Nhà nước và tỉnh Quảng Bình trao tặng. Ông Pham Hồng Thái, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT kiêm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình được trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba. (Nông Nghiệp Việt Nam 9/10, tr13; Nhân Dân 9/10, tr2) đầu trang(
Để giảm thiểu những thiệt hại do thiên tai gây ra, trong năm 2015, Chính phủ Việt Nam sẽ dành ít nhất 3.000 tỷ cho ứng phó với biến đổi khí hậu, tập trung vào các dự án trồng rừng ven biển và rừng phòng hộ để hạn chế tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Đây là một trong những thông tin quan trọng, vừa được Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đưa ra chiều 8/10, tại cuộc họp giữa Ủy ban quốc gia về biến đổi khí hậu tổ chức cuộc họp với các nhà tài trợ chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu và các đối tác phát triển tại Việt Nam.
Phát biểu khai mạc phiên họp, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải khẳng định, trong những năm qua, Việt Nam đã và đang hết sức nỗ lực để cùng cộng đồng quốc tế tìm ra các giải pháp ứng phó và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu. Nhiều cơ chế, chính sách đã được xây dựng và ban hành để phục vụ cho công tác ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam trong quy mô dài hạn.
Tuy nhiên, trên thực tế, đầu tư của xã hội cho công tác ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam vẫn nhỏ. Chính vì thế, để thực hiện mục tiêu của chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu, Việt Nam rất cần sự đầu tư, hỗ trợ lớn hơn nữa của cộng đồng quốc tế.
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cũng cho biết, Chương trình Hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu được đề xuất từ năm 2009 và bắt đầu được thực hiện vào năm 2010. Đến nay, chương trình đã xây dựng trên 200 chương trình hành động chính sách và nhận được khoảng 1 tỷ USD vốn tài trợ.
“Đây là nguồn vốn vô cùng quan trọng để Việt Nam thực hiện các dự án ứng phó với biến đổi khí hậu như: trồng rừng ven biển và rừng phòng hộ, xây dựng các công trình ứng phó với nước biển dâng tại những vùng dễ bị tác động,” Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nhấn mạnh.
Tại cuộc họp, các đối tác của Chương trình Hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu cũng đánh giá rất cao Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu và Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh mà các bộ, ngành và các địa phương đang thực hiện...
Trước đó, tại phiên họp thứ 32 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa diễn ra sáng 8/10, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường Phan Xuân Dũng cho biết, biến đổi khí hậu đang là tác nhân làm cho nền nhiệt độ trung bình tăng, ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, làm tăng khả năng phát triển sâu bệnh, gia tăng sức ép lên con người…
Dự báo vào năm 2030, nếu không có giải pháp ứng phó quyết liệt thì khoảng 45% diện tích của khu vực này sẽ bị nhiễm mặn cục độ và gây thiệt hại về nông nghiệp nghiêm trọng do lũ lụt và ngập úng, thiệt hại ước tính sẽ khoảng 17 tỷ USD.
Cũng tại phiên họp này, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà cho biết, để giảm tránh những thiệt hại do thiên tai gây ra, Việt Nam cần rất nhiều tiền cho ứng phó với biến đổi khí hậu.
Theo tổng hợp, chỉ riêng xây dựng đê biển đã có 29 tỉnh đề nghị 63 dự án với kinh phí khoảng 50 nghìn tỷ đồng. Chính phủ đã lượng hóa được nhu cầu đến 2020. Theo đó, các dự án thích ứng (đê, kè…) cỡ khoảng 17.000 tỷ, kèm theo đó là các dự án về rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn thì kinh phí dự báo vào khoảng 1,7 tỷ USD. (VietnamPlus 8/10) đầu trang(
Trước vướng mắc của một số đơn vị hải quan địa phương khi làm thủ tục hải quan XK đồ gỗ cao cấp có nguồn gốc NK, Cục Giám sát quản lý về hải quan-TCHQ cho biết, khi XK các sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ, đồ gỗ cao cấp là lâm sản sau chế biến thì ngoài hồ sơ hải quan theo yêu cầu, DN sẽ phải xuất trình thêm hồ sơ lâm sản sau chế biến gỗ NK.
Trước đó, Cục Kiểm lâm-Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã giải thích, các sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ, đồ gỗ cao cấp đều là lâm sản sau chế biến. Khi XK các sản phẩm này, DN cần xuất trình hồ sơ lâm sản hợp pháp theo quy định tại Điều 17 Thông tư 01/2012/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản.
Như vậy, ngoài hồ sơ hải quan theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Thông tư 128/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính (thủ tục hải quan truyền thống) hoặc Điều 8 Thông tư 196/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính (thủ tục hải quan điện tử), DN phải xuất trình thêm hồ sơ lâm sản sau chế biến gỗ NK.
Cụ thể, khoản 2 Điều 17 Mục 2 Chương II Thông tư số 01/TT-BNNPTNT hướng dẫn: Hồ sơ lâm sản sau chế biến từ gỗ NK, gỗ sau xử lý tịch thu của cơ sở chế biến, kinh doanh lâm sản chấp hành tốt các quy định của Nhà nước gồm: Hóa đơn bán hàng theo quy định của Bộ Tài chính, kèm theo bảng kê lâm sản.
Hồ sơ lâm sản sau chế biến từ gỗ NK, gỗ sau xử lý tịch thu của cơ sở chế biến, kinh doanh lâm sản có vi phạm các quy định của Nhà nước về hồ sơ lâm sản hoặc chấp hành chưa đầy đủ các quy định của Nhà nước gồm: Hóa đơn bán hàng theo quy định của Bộ Tài chính, kèm theo bảng kê lâm sản có xác nhận của cơ quan Kiểm lâm sở tại. (Hải Quan 9/10) đầu trang(
Sau hơn 3 năm triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Lào Cai đã thu được gần 30 tỷ đồng từ chính sách này.
Từ ngày thực hiện giao khoán bảo vệ rừng có dịch vụ chi trả, công tác bảo vệ rừng đã đi vào nền nếp và quy củ hơn, nhân dân và chính quyền địa phương đã hợp tác chặt chẽ với cơ quan chức năng bảo vệ rừng, chủ động tố cáo và đấu tranh có hiệu quả, đẩy lùi tình trạng phá rừng diễn ra từ nhiều năm qua.
Dịch vụ môi trường rừng đã có tác động rất lớn đến việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Chỉ trong 2 năm chính sách này được triển khai, diện tích rừng của Lào Cai đã tăng thêm hơn 9.410 ha, tổng số vụ vi phạm giảm từ 238 vụ năm 2012, xuống còn 127 vụ năm 2013. (Nông Thôn Ngày Nay 9/10, tr13) đầu trang(
8-10, đồng bào dân tộc thiểu số và các tổ chức ở huyện vùng cao Bát Xát, Lào Cai đã được nhận số tiền 744 triệu đồng từ Quỹ bảo vệ và phát triển rừng, theo Nghị định số 99 của Chính phủ về chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Điều này tạo nên sự gắn bó, trách nhiệm giữa các nhà máy thủy điện và người dân trồng và bảo vệ rừng, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số ở địa phương.
Tại trụ sở UBND xã Mường Hum, huyện Bát Xát (Lào Cai), Quỹ bảo vệ và phát triển rừng (BVPTR) Lào Cai, Hạt kiểm lâm huyện Bát Xát đã thực hiện chi trả số tiền nêu trên cho 886 hộ gia đình và bảy tổ chức là UBND các xã Dền Sáng, Mường Hum, Trung Lèng Hồ, Sảng Ma Sáo, Ý Tý, Dền Thàng Nậm Pung và một số hộ gia đình thuộc lưu vực thủy điện Cốc San Hạ, Vạn Hồ.
Việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng được thực hiện nhanh, gọn, bảo đảm đúng đối tượng được hưởng lợi và an toàn. Đồng bào các dân tộc thiểu số rất phấn khởi vì kết quả bảo vệ và phát triển rừng của mình được các nhà máy thủy điện ghi nhận và thanh toán đúng theo quy định.
Tại huyện Bát Xát hiện có 10 nhà máy thủy điện đang hoạt động, với tổng công suất 107MW. Các nhà máy này đang sử dụng nguồn nước để phát điện, từ 25 nghìn héc-ta rừng của hộ gia đình và tổ chức trên địa bàn.
Được biết, từ khi thành lập đến nay, Quĩ BVPTR Lào Cai đã thu được 35 tỷ đồng từ các nhà máy thủy điện, nhà máy nước và đơn vị hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh, đã chi trả 12 tỷ đồng cho hơn 10 nghìn hộ gia đình và hàng trăm tổ chức có rừng.
Tuy nhiên, đến nay vẫn còn một số nhà máy thủy điện chây ỳ, chưa nộp tiền dịch vụ môi trường rừng theo quy định, với số tiền hàng tỷ đồng, như nhà máy thủy điện Mường Hum, nhà máy thủy điện Nậm Hô… (Nhân Dân 9/10) đầu trang(
Tiếp tục với vấn đề áp dụng thu phí dịch vụ môi trường rừng tại Lào Cai mà Du lịch đã phản ánh liên tiếp trong các số báo gần đây, PV đã ghi nhận những ý kiến trao đổi của cơ quan chức năng và hiệp hội nghề nghiệp.
Bà Lê Mai Khanh - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Khách sạn Việt Nam cho biết: Sa Pa là vùng sâu, vùng xa, các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú tại khu vực đó vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Lượng khách đến đó chưa nhiều.
Chính vì vậy, nhà nước cần có những chính sách khuyến khích để phát triển du lịch. Việc áp dụng thu phí dịch vụ môi trường rừng trên giá vé tham quan sẽ kiểm soát số lượng khách dễ dàng hơn.
Hiệp hội Khách sạn cũng phản đối việc áp dụng thu trên tổng doanh thu vì mức thu như vậy sẽ rất lớn và bất hợp lý đối với các doanh nghiệp. Để có được một khách sạn thì các đơn vị phải đầu tư rất nhiều cơ sở vật chất. Để thu hồi được vốn đầu tư bỏ ra ban đầu cũng là cả một quá trình.
Bởi vì, Sa Pa có khí hậu khắc nghiệt cho nên cơ sở vật chất xuống cấp nhanh, nguồn kinh phí để tái đầu tư rất lớn trong đó có việc bảo quản và thay thế cơ sở vật chất hư hỏng và đầu tư, đào tạo cho nguồn nhân lực thì chất lượng phục vụ mới đảm bảo. Để đảm bảo được hạng sao đã được công nhận thì các đơn vị kinh doanh phải tái đầu tư về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực thường xuyên.
Để hoàn lại được các nguồn vốn đó không phải trong ngày một ngày hai. Vậy mà họ lại phải chịu thêm một cái đặc thù là khoản thu phí dịch vụ môi trường rừng bằng 1,5% trên tổng doanh thu là không hợp lý.
Còn TS Trần Hữu Sơn - Giám đốc Sở VHTTDL Lào Cai: Theo nghiên cứu của tôi, nếu áp đặt mức thu dịch vụ môi trường rừng sẽ là gánh nặng cho các doanh nghiệp du lịch.
Hiện nay, Sở VHTTDL Lào Cai đang nghiên cứu học hỏi cách thức và hình thức thu của các tỉnh bạn như thế nào để có hình thức cụ thể nên áp dụng tại Lào Cai và để phân loại cái gì là trực tiếp và cái gì là gián tiếp hưởng lợi từ rừng thì sẽ thu các mức phí khác nhau.
Nếu đánh đồng tất cả cùng một mức thu sẽ gây mất bình đẳng. Mấu chốt nhất hiện nay là phải phân loại các doanh nghiệp du lịch. Các đơn vị nào liên quan đến rừng thực sự thì thu ra sao, doanh nghiệp nào không liên quan thì không thu hoặc là giảm lệ phí thu.
Theo cá nhân tôi nên thu trên mức lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ hợp lí hơn. So với tất cả các loại hình khác, kinh doanh du lịch nói là có lãi nhưng thực tế kinh doanh du lịch lại là kinh doanh của xã hội, cả một xã hội đều được hưởng lợi từ du lịch từ bà bán xôi nướng, cho đến ông xe ôm, cho đến người lái tàu, taxi, cho đến khách sạn nhà hàng.
Mà khách sạn nhà hàng chỉ là khâu cuối cùng, lữ hành chỉ là một phần. Cho nên hiệu quả lớn nhất của nó là giải quyết công ăn việc làm cho toàn xã hội. Hiệu quả thứ hai là phân phối kinh tế góp phần xóa đói giảm nghèo rất nhanh. Vì vậy, kinh doanh du lịch cũng rất khó nên cũng rất cần phải khuyến khích vì đây là loại hình để xóa đói giảm nghèo do vậy nên có những chính sách mềm dẻo.
Sở VHTTDL Lào Cai đang tiến hành nghiên cứu thu dịch vụ môi trường rừng có hợp lý hay không sau đó sẽ có kiến nghị chính thức tới các cấp có thẩm quyền để xem xét lại chính sách đó sao cho phù hợp hoặc mức thu như thế nào cho đúng?
Qua đó có thể sẽ kiến nghị sửa đổi chính sách. Thu phí là chính sách của nhà nước, cấp dưới phải thực hiện nhưng cấp dưới cũng có quyền kiến nghị lên là nên làm theo hình thức nào để hài hòa vừa đúng chính sách nhà nước nhưng đồng thời doanh nghiệp cũng có lợi ích trong kinh doanh du lịch. (Du Lịch VN 8/10) đầu trang(
Sau 2 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, tỉnh Gia Lai đã nâng cao công tác quản lý rừng, tăng diện tích che phủ rừng và cải thiện đáng kể thu nhập cho người dân nhận khoán bảo vệ rừng mà chủ yếu trong đó là người đồng bào dân tộc thiểu số.
Thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo nghị định số 99/2010 của Chính phủ, tỉnh đã thành lập, vận hành Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cùng hệ thống chi trả. Hằng năm, Hội đồng quản lý quỹ tổ chức họp đánh giá hoạt động của quỹ, bàn bạc ra nghị quyết, rà soát nhiệm vụ của Ban điều hành, đôn đốc tham mưu và giám sát quá trình triển khai chính sách.
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) ở Gia Lai được triển khai thực hiện từ tháng 8/2012. Diện tích đất lâm nghiệp có rừng chiếm gần 65% và diện tích rừng cung ứng DVMTR là 495ha. Với đặc điểm địa hình và nguồn tài nguyên rừng lớn, Gia Lai là tỉnh có nhiều tiềm năng về thủy điện.
Trên địa bàn tỉnh có tổng số 38 nhà máy thủy điện (trong đó có 6 nhà máy thủy điện liên tỉnh) và 2 nhà máy sản xuất nước sạch của Công ty TNHH MTV Cấp nước Gia Lai. Ngoài ra, môi trường rừng Gia Lai còn có tiềm năng về du lịch sinh thái với thiên nhiên hùng vĩ ở Vườn quốc gia Kon Ka Kinh, Kon Chư Răng...
Với mức chi trả 20 đồng/1 kwh điện thương phẩm, cơ sở sản xuất thủy điện phải chi trả tiền dịch vụ bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi đắp lòng hồ, sông, suối. Với mức giá 4000 đồng/m3 nước thương phẩm, nhà máy nước phải trả tiền dịch vụ điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội.
Tính đến tháng 9/2014, tỉnh Gia Lai đã triển khai thực hiện thu tiền DVMTR được 2 năm, tổng thu của hai loại dịch vụ khoảng 200 tỷ đồng. Nhìn chung, hầu hết các công ty thủy điện và công ty cấp nước sinh hoạt đều thực hiện đúng thời gian chi trả. Tuy nhiên, vẫn còn một số đơn vị viện nhiều lý do để dây dưa, kéo dài, nợ lại tiền chi trả như Nhà máy thủy điện Ri Ninh 2 (thuộc Công ty CP thủy điện Cần Đơn) với số nợ là 1,1 tỷ đồng và Công ty CP thủy điện Đắc Đoa với số nợ hơn 100 triều đồng...
Ông Nguyễn Xuân Thưởng, Phó Giám đốc Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cho biết, nguồn thu từ DVMTR chủ yếu tập trung cho công tác quản lý, bảo vệ rừng. Ngoài ra, quỹ chi thanh toán cho 37 chủ rừng là tổ chức Nhà nước, 90 ủy ban xã, 7 cộng đồng dân cư.
Ông Thưởng cho biết thêm, từ khi triển khai thực hiện thu phí, ngoài việc rừng được quản lý, bảo vệ tốt hơn, diện tích che phủ rừng được nâng cao, quan trọng hơn đó cải thiện đời sống cho hộ nhận khoán bảo vệ rừng và cộng đồng dân cư thôn buôn, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số.
Như vậy, phí DVMTR vừa làm giảm gánh nặng cho việc chi trả tiền bảo vệ quản lý rừng của ngân sách Nhà nước, vừa góp phần tăng thu nhập bình quân cho người dân nhận khoán bảo vệ rừng.
Qua 2 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR, bên cạnh mặt tích cực cũng xuất hiện nhiều tồn tại. Hạn chế nổi lên là mức chi trả tiền DVMTR chưa phù hợp với biến động tăng giá điện tiêu dùng, công tác tuyên truyền đến các đối tượng còn hạn chế, chênh lệch đơn giá gây ảnh hưởng đến ý thức của người dân.
Mặt khác, hiện nay nhiều doanh nghiệp lấy lý do sản xuất kinh doanh khó khăn hoặc tạm ngừng hoạt động nên không nộp tiền DVMTR, Khi triển khai thực hiện chính sách chưa có biện pháp xử lý, quy định chế tài đối với đơn vị chưa kí hợp đồng ủy thác, chậm hoặc không nộp tiền theo hợp đồng đã ký...
Với những kinh nghiệm có được sau 2 năm tiến hành triển khai chính sách chi trả DVMTR, hi vọng chính sách này sẽ phát huy nhiều tác dụng hơn nữa, góp phần bảo vệ tài nguyên quốc gia, nâng cao thu nhập và từng bước cải thiện đời sống hộ nhận khoán bảo vệ rừng. (Tài Nguyên & Môi Trường 7/10, tr6) đầu trang(
Sau hơn 3 năm thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ trên địa bàn tỉnh Lai Châu, chính sách này đã và đang tạo sự chuyển biến tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân lao động. Cũng nhờ triển khai chính sách này, tỉnh đã thu được nhiều kinh nghiệm quý báu.
Bản Gia Khâu I, xã Nậm Loỏng, TP.Lai Châu, tỉnh Lai Châu là bản có đại đa số đồng bào dân tộc H’Mông sinh sống, ngành nghề chủ yếu là sản xuất nông nghiệp nên đời sống còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên, đời sống của đồng bào nơi đây khá lên rất nhiều từ khi tỉnh áp dụng chính sách chi trả môi trường rừng mà Chính phủ đem lại cho đồng bào vùng sâu vùng xa.
Ông Sùng A Trang, người dân của bản Gia Khâu I vui vẻ cho biết: Nhà ông trước đây vất vả lắm. Quanh năm đốt nương làm rẫy, nuôi lợn, nuôi bò… mà vẫn không đủ nuôi 7 miệng ăn. Từ năm 2013, Chính phủ giao cho gia đình ông nhận bảo vệ 66,35ha rừng với mức được chi trả 426.800đ/ha.
“Gia đình tôi cũng như nhiều hộ khác trong bản tích cực bảo vệ rừng, không chặt cây lấy củi và không phải đốt nương làm rẫy như nhiều năm trước. Bây giờ dù không còn đốt nương, phá rừng như trước nhưng người H’Mông bản Gia Khâu vẫn đủ cải ăn lại còn có tiền để giành nữa đấy” – ông Sùng A Trang không giấu nổi niềm vui.
Cũng với số tiền được chi trả như gia đình ông Sùng A Trang vào năm 2013, gia đình ông Sùng A Vư được nhận khoán bảo vệ 43,196 ha rừng, ông Má A Sình nhận bảo vệ rừng với diện tích 33,31 ha... và còn hàng trăm hộ dân người H’Mông bản Gia Khâu đã thoát nghèo từ chính sách quan trọng này của Chỉnh phủ.
Theo báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tỉnh Lai Châu thì từ nguồn dịch vụ môi trường rừng, thu nhập của các chủ rừng, hộ nhận khoán đã được tăng lên đáng kể, đời sống của đại bộ phận nhân dân được cải thiện.
Ngoài ra, chính sách này còn giúp nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ và phát triển rừng. Từ đó, nhiều bản đã xây dựng hương ước, quy ước bảo vệ rừng. Đặc biệt, UBND xã Mường Mô có văn bản gửi Phòng Lao động – TBXH, huyện Mường Tè không nhận trợ cấp gạo cứu đói năm 2012 vì đã có tiền bảo vệ rừng để mua lương thực.
Từ khi thực hiện chính sách này, Chính quyền các cấp ở Lai Châu đã yên tâm hơn khi rừng được giao đến từng chủ hộ. Đặc biệt, số vụ cháy rừng và diện tích rừng bị thiệt hại do cháy cũng giảm rõ rệt, số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng trong năm 2013 giảm 15 vụ so với năm 2011. Trên địa bàn tỉnh không có tụ điểm lớn về phá rừng.
Ông Nguyễn Hữu Hiện, cán bộ Hạt Kiểm lâm TP. Lai Châu cho biết: “Qua thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, cái được lớn nhất là nâng cao nhận thức của người dân trong bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là đồng bào dân tộc. Nhờ đó, lực lượng kiểm lâm các đơn vị nói chung và Hạt Kiểm lâm thành phố nói riêng dễ dàng hơn trong việc xử lý các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng”.
Trao đổi với phóng viên báo TN&MT, ông Nguyễn Trọng Lịch, Giám đốc Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lai Châu cho biết: Để việc chi trả đúng đối tượng, đúng diện tích thì công tác rà soát xác định chủ rừng, diện tích được chi trả tiền DVMTR và lập hồ sơ quản lý là rất quan trọng. Hiện nay, việc xác định chủ rừng và diện tích được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh Lai Châu được cơ quan chuyên môn tổ chức rà soát hàng năm.
Bên cạnh công tác kê khai, rà soát xác định diện tích ranh giới rừng phải chính xác, đúng đối tượng thì công tác tuyên truyền, vận động cũng cần phải thực hiện thường xuyên, liên tục bằng nhiều hình thức phong phú đa dạng, hiệu quả nhất là các bản vùng sâu vùng xa...
“Có thể nói hiệu quả thiết thực của CSCTDVMTR đã, đang và sẽ là tiền đề cho người dân Lai Châu tiếp tục phát triển nguồn lợi từ rừng để góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo nguồn lực vững chắc cho phát triển lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh”. - ông Nguyễn Trọng Lịch nói. (Tài Nguyên & Môi Trường 8/10) đầu trang(
Rừng phòng hộ không chỉ bảo vệ nguồn nước, hạn chế thiên tai mà còn góp phần bảo vệ môi trường. Vì vậy, trồng mới rừng phòng hộ là một trong những nội dung quan trọng của Chương trình Bảo vệ và Phát triển rừng bền vững trên địa bàn tỉnh.
Tuy nhiên, do nhiều vướng mắc, bất cập nên mùa trồng rừng năm 2014 kết thúc hơn 1 tháng nhưng diện tích trồng mới rất khiêm tốn so với kế hoạch giao (hơn 30%).
Năm 2014, toàn tỉnh có 3 đơn vị được giao nhiệm vụ trồng rừng phòng hộ tập trung, đó là: Ban Quản lý Dự án rừng phòng hộ huyện Điện Biên, Ban Quản lý Dự án rừng phòng hộ huyện Mường Chà và Ban Quản lý Dự án rừng phòng hộ huyện Tuần Giáo với tổng diện tích 296ha.
Trong đó, ban quản lý dự án rừng phòng hộ của huyện Điện Biên và Mường Chà đảm nhiệm kế hoạch nhiều nhất, mỗi ban trồng 100ha, còn lại Ban Quản lý Dự án rừng phòng hộ huyện Tuần Giáo trồng 96ha. Tuy nhiên, đến thời điểm này, duy nhất chỉ có Ban Quản lý Dự án rừng phòng hộ huyện Tuần Giáo trồng 101,2ha, vượt kế hoạch giao 5,2ha. Còn lại 2 ban của huyện Điện Biên và Mường Chà kế hoạch trồng mới rừng phòng hộ vẫn còn nằm… trên giấy!
Là đơn vị duy nhất hoàn thành vượt kế hoạch trồng mới rừng phòng hộ năm 2014, ông Nguyễn Duy Minh, Phó Giám đốc phụ trách Ban Quản lý Dự án rừng phòng hộ huyện Tuần Giáo cho biết: Đảm bảo kế hoạch trồng rừng, Ban đã chủ động gieo ươm trên 200.000 cây thông từ hơn 1 năm trước.
Theo đó, 100% thông giống đưa vào trồng vụ này đều sau ươm 18 tháng, chiều cao từ 50cm trở lên. Cùng với đó, Ban đã cử cán bộ xuống từng địa bàn vận động nhân dân đăng ký trồng rừng, xác định diện tích, loại đất đưa vào trồng. Trên cơ sở kế hoạch giao, toàn bộ diện tích trồng mới, Ban tập trung trồng tại xã Quài Tở để thuận lợi cho việc bảo vệ, chăm sóc về sau.
Tuy nhiên, quá trình vận động nhân dân trồng rừng gặp không ít khó khăn, bởi thời điểm bắt đầu trồng rừng, Ban chưa nhận được quyết định phân bổ vốn mà chỉ có kế hoạch giao khối lượng từ cuối năm 2013. Song nhờ làm tốt việc vận động, nên người dân tích cực tham gia trồng mới. Vì vậy, sau gần 2 tháng bắt tay vào trồng, toàn bộ diện tích trồng mới đã hoàn thành trước ngày 20/6 với tổng diện tích 101,2ha.
Ông Nguyễn Duy Minh tâm sự: “Quyết tâm trồng rừng thì vận động nhân dân làm vậy thôi, chứ thực lòng chúng tôi vừa làm vừa… run. Vì trong trường hợp không được phân bổ vốn năm 2014 thì Ban cũng chưa biết lấy tiền đâu để trả cho người trồng rừng theo quy định”.
Theo bà Đặng Thị Thu Hiền, Phó phụ trách Chi cục Lâm nghiệp, mùa trồng rừng trên địa bàn tỉnh bắt đầu từ cuối tháng 5 và thường kết thúc vào cuối tháng 7. Tuy nhiên, trồng rừng là cả quy trình phải chuẩn bị đất, cây giống, đặc biệt là đối với cây giống phải gieo ươm trước đó ít nhất nửa năm, thậm chí có loại phải gieo ươm trước 1,5 năm mới đủ tiêu chuẩn đưa vào trồng.
Đơn cử, đối với thông - loại cây chủ lực trồng rừng phòng hộ, trong điều kiện khí hậu thời tiết khắc nghiệt ở tỉnh ta thì sau ươm 18 tháng mới đảm bảo để đưa vào trồng. Dù Chi cục rất tích cực chỉ đạo, đôn đốc các ban quản lý dự án rừng phòng hộ được giao kế hoạch trồng mới vận động nhân dân trồng rừng, lập hồ sơ thiết kế đảm bảo đúng địa điểm, đối tượng đất quy hoạch rừng phòng hộ.
Nhưng trên thực tế, kế hoạch giao vốn trồng rừng tập trung của Chương trình Bảo vệ và Phát triển rừng bền vững năm 2014 do Trung ương phân bổ chậm, nên công tác trồng mới gặp khó khăn.
Lật tìm văn bản, quyết định giao vốn thực hiện trong cả tập hồ sơ dày cộp liên quan đến công tác trồng rừng, bà Hiền phân tích: Theo Quyết định số 522 của UBND tỉnh về việc phân bổ chi tiết kế hoạch vốn Chương trình Bảo vệ và Phát triển rừng bền vững năm 2014 ngày 11/7, tức là quyết định được ban hành khi mùa trồng rừng đã bắt đầu hơn 1 tháng dẫn đến các đơn vị không có cơ sở để thực hiện công tác trồng mới, khi mà đơn vị không hoàn thành kế hoạch giao Chi cục cũng không thể xử lý!
Bà Đặng Thị Thu Hiền lý giải, có vốn thì các ban quản lý dự án rừng phòng hộ mới chủ động được kế hoạch gieo ươm cây giống hoặc ký hợp đồng với các đơn vị sản xuất cây giống. Và khi được giao vốn thì các ban cũng mới đủ cơ sở để vận động nhân dân trồng rừng, vì không thể chỉ hô hào vận động… suông, trong khi đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.
Cũng theo Quyết định 522 của UBND tỉnh, năm 2014 hạng mục trồng rừng phòng hộ được phân bổ hơn 2,45 tỷ đồng nhưng do giao muộn sẽ dẫn đến nghịch lý tiền có nhưng… khó tiêu, trong khi trồng rừng phòng hộ là nhiệm vụ cần được quan tâm hàng đầu thì lại không thể thực hiện. (Đài PTTH Điện Biên 6/10) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, huyện Thạch An trồng được 182 ha rừng tập trung, đạt 84,6% kế hoạch.
Trong đó, 42 ha rừng phòng hộ, 135 ha rừng sản xuất; 5 ha rừng trồng lại sau khai thác; chăm sóc 75 ha rừng trồng phòng hộ.
Hiện nay, huyện Thạch An đang chỉ đạo các xã tiếp tục trồng rừng, phấn đấu hoàn thành theo kế hoạch đã đề ra; tăng cường công tác quản lý bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng. (Báo Cao Bằng 7/10) đầu trang(
Diện tích rừng trồng mới cả nước 9 tháng đạt 165,1 nghìn ha, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng 11,9 nghìn ha; trồng mới rừng sản xuất 153,2 nghìn ha. Riêng Dak Lak, các đơn vị đã triển khai trồng được 3.044 ha, so với cùng kỳ năm 2013 vượt 1.123 ha, đạt 64,97% kế hoạch, trong đó trồng rừng sản xuất 3.001 ha; rừng phòng hộ, đặc dụng 43 ha; trồng cây phân tán 533.448 cây/670.220 cây. (Báo Đắc Lắc 8/10) đầu trang(
Chủ trương của Nhà nước về thu hồi đất của các công ty nông, lâm nghiệp (trước đây là đất của các nông, lâm trường quốc doanh) sử dụng kém hiệu quả, giao cho các địa phương quản lý là chủ trương có ý nghĩa quan trọng để phát huy hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai.
Với những nơi điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, người dân thiếu đất sản xuất thì chủ trương này càng có ý nghĩa thiết thực. Tại tỉnh Phú Thọ đã thu hồi trên 19.000ha đất của 12 đơn vị sử dụng đất nông, lâm nghiệp. Với số lượng đất tương đối lớn, tìm giải pháp để sử dụng hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đất sau thu hồi là điều các cấp, các ngành đang cần quan tâm.
Hiện tại, diện tích đất đã thu hồi của các đơn vị sử dụng đất đã giao cho UBND các huyện quản lý để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và một số địa phương đã giao cho tổ chức và cá nhân theo Thông báo số 22/TB-UBND ngày 18-3-2010 của UBND tỉnh về việc giải quyết những tồn tại trong quản lý, sử dụng đất của các đơn vị sử dụng đất nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Qua kết quả thống kê hiện trạng sử dụng đất đai của các công ty nông, lâm nghiệp trước khi thu hồi mới thấy thực tế diện tích các công ty không thực hiện sản xuất, kinh doanh; đất xảy ra tranh chấp, lấn chiếm với nhân dân địa phương là tương đối lớn.
Cụ thể, tại Công ty lâm nghiệp A Mai được giao quản lý, sử dụng trên 1.600ha nhưng thực tế chỉ sử dụng được 775ha (đạt 47,2%); Công ty lâm nghiệp Yên Lập được giao quản lý, sử dụng trên 3.300ha nhưng chỉ sử dụng được 1.800ha (đạt gần 55%); Công ty lâm nghiệp Tam Sơn được giao quản lý gần 11.000ha nhưng thực tế chỉ sử dụng trên 4.100ha (đạt 38%)… và một số công ty lâm nghiệp, nhà máy, xí nghiệp chè khác cũng trong tình trạng tương tự. Con số này nói lên thực trạng hiệu quả sử dụng đất của các công ty nông, lâm nghiệp trước đây đạt thấp, diện tích đất sử dụng chỉ đạt trên dưới 50%.
Với 19.000ha đất thu hồi, để rà soát, xử lý dứt điểm những tồn tại trong quản lý sử dụng đất, tiến hành đo đạc, cắm mốc tại thực địa, có phương án xử lý sau thu hồi là không đơn giản. Và trong quá trình quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ các công ty nông, lâm nghiệp có nhiều tồn tại như: Công tác quản lý, sử dụng đất còn lỏng lẻo dẫn đến tình trạng tranh chấp, lấn chiếm, cấp trùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) với nhân dân địa phương.
Hầu hết các đơn vị sử dụng đất nông, lâm nghiệp có ranh giới không xác định được rõ ràng, chưa cắm được mốc giới cụ thể tại thực địa nên gây ra tranh chấp, vướng mắc với người dân. Các công ty nông, lâm nghiệp còn xảy ra tình trạng tự giao đất cho các hộ gia đình công nhân làm nhà ở. Nhìn chung, việc sử dụng đất của các đơn vị trên còn nhiều bất hợp lý, diện tích đất chưa sử dụng lớn; tình trạng lấn chiếm, tranh chấp với nhân dân địa phương xảy ra từ lâu với diện tích lớn nhưng chưa được giải quyết dứt điểm.
Việc tự ý chuyển mục đích, giao đất ở trái thẩm quyền còn xảy ra ở hầu hết các công ty nông, lâm nghiệp. Mặt khác, khi giao đất cho các công ty nông, lâm nghiệp trước đây không thực hiện việc giải phóng mặt bằng nên thực tế đất của các công ty nông, lâm nghiệp vẫn do các hộ dân địa phương sử dụng.
Trong khi diện tích đất của các công ty nông, lâm nghiệp không sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả chiếm phần lớn thì việc thu hồi phần diện tích này, giao cho địa phương quản lý là việc làm cần thiết. Tuy nhiên, nếu không làm quyết liệt và không có các giải pháp hỗ trợ tích cực cho người dân thì sau khi rà soát, bóc tách giao lại hàng nghìn ha đất cho các địa phương quản lý, sử dụng sẽ rất khó mang lại hiệu quả bởi nhiều lý do.
Để sử dụng hiệu quả đất sau thu hồi, về phía cơ quan chuyên môn trực tiếp là Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND các huyện đã có nhiều giải pháp. Trước hết, để quản lý đất đai các nông, lâm trường một cách chặt chẽ, khoa học, Sở Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo các đơn vị tư vấn tiến hành xác định ranh giới, cắm mốc, đo đạc mốc và đường ranh giới sử dụng đất của các công ty nông, lâm nghiệp phân bố trên địa bàn các xã, thị trấn thuộc huyện Tân Sơn, Thanh Sơn, Yên Lập, Hạ Hòa, Đoan Hùng, Tam Nông và Cẩm Khê.
Để sử dụng hợp lý diện tích đất đã thu hồi, Sở đã kiến nghị với UBND tỉnh phương án xử lý diện tích đất sau thu hồi theo đúng quy định của pháp luật và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân. Cụ thể, với diện tích đất các hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng và đã được cấp GCN thì tiếp tục được sử dụng theo GCN đã được cấp.
Với trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng nhưng chưa được cấp GCN với diện tích đất ở, đất vườn ao nếu không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì được cấp GCN theo quy định. Với diện tích đất trồng cây hàng năm, cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản thì xét giao đất cho các hộ đang sử dụng theo bình quân định mức giao đất đã giao cho các hộ gia đình cá nhân theo Nghị định 64/CP tại địa phương.
Phần diện tích vượt mức bình quân, giao cho UBND huyện thu hồi để xét giao đất cho các hộ gia đình, cá nhân là cán bộ, nhân viên không còn làm việc ở nông, lâm trường do thực hiện việc sắp xếp, đổi mới nông trường, lâm trường và đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nông dân đang sinh sống tại địa phương hiện không có hoặc thiếu đất sản xuất theo bình quân diện tích đất đã giao cho các hộ dân tại địa phương. Diện tích còn lại bổ sung vào quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã nơi có đất.
Các huyện cũng đang tiến hành rà soát và xử lý đất đã thu hồi theo phương án nêu trên nhằm sử dụng hiệu quả, hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân trong canh tác, sản xuất.
Ông Nguyễn Thành Trung - Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tân Sơn cho biết: “Tân Sơn có trên 10.000ha đất thu hồi từ các công ty nông, lâm nghiệp. Huyện đang tiến hành rà soát và phân ra từng loại để giải quyết theo đúng quy định của pháp luật. Quan điểm của huyện là giải quyết đúng đối tượng, ưu tiên cho những hộ khó khăn, thiếu đất sản xuất. Và những vướng mắc, tranh chấp giữa công ty nông, lâm nghiệp với người dân sẽ giải quyết dứt điểm để người dân yên tâm sản xuất”.
Cùng với Tân Sơn huyện Yên Lập hiện đã rà soát gần 4.900ha đất thu hồi và giải quyết diện tích đất này theo đúng quy định của Luật Đất đai. Với trên 700ha đất cấp trùng GCN, UBND huyện đang chỉ đạo các xã rà soát, đối chiếu diện tích, lập hồ sơ địa chính, cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất cho các hộ theo dự án đo đạc bản đồ trên địa bàn huyện.
Ông Nguyễn Quốc Tuấn - Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện cho biết: “Đến thời điểm này chúng tôi đã rà soát diện tích đất đã thu hồi, căn cứ vào số liệu đã đối soát chi tiết trên bản đồ địa chính và hiện trạng sử dụng trên quỹ đất thu hồi, huyện đã có hướng giải quyết nhằm đảm bảo tối đa quyền lợi cho người dân và đối tượng đang sử dụng đất. Việc thu hồi và giải quyết hợp lý đất thu hồi đã tạo ra sự đồng thuận nhất trí chung giữa các tổ chức sử dụng đất và chính quyền cơ sở trong biện pháp giải quyết cụ thể và được nhân dân đồng tình ủng hộ”.
Việc thu hồi số diện tích đất sử dụng kém hiệu quả từ các công ty nông, lâm nghiệp giao cho địa phương quản lý đã bước đầu góp phần phát triển sản xuất; phù hợp với điều kiện thực tế, năng lực sản xuất kinh doanh của các tổ chức sử dụng đất.
Tuy nhiên, để đất sau thu hồi phát huy hiệu quả, các cấp, các ngành cần sát sao hơn nữa trong quản lý, giám sát, tránh tình trạng đất bỏ hoang hoặc xảy ra tình trạng tái lấn chiếm, khiếu kiện kéo dài như trước đây. (Báo Phú Thọ 8/10) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Những người yêu động vật đang tỏ ra hết sức tức giận khi biết một công viên động vật hoang dã tại Zurich, Thụy Sĩ đã ngang nhiên phục vụ thịt động vật ở nhà hàng trong công viên.
Công viên động vật hoang dã Langenberg đã đưa món thịt nai vào trong thực đơn tại nhà hàng "Langenberg và Sihl" nằm trong khuôn viên của vườn thú.
"Đây là trò đùa trong ngày cá tháng Tư chăng" - một vị khách du lịch tỏ ra hết sức sửng sốt.
Bà Ruth Widmer, Chủ tịch hiệp hội bảo vệ động vật địa phương cho biết, bà đã thực sự bị sốc và lo lắng cho số phận của những loài động vật tại công viên.
Martin Kilchenmann, phát ngôn viên của công viên cho biết, những vị khách của nhà hàng "Langenberg và Sihl" có thể tiêu thụ thịt của các loài động vật hoang dã. Tuy nhiên, theo ông Kilchenmann, công viên này vẫn tuân thủ "chu kỳ tự nhiên" của các loài động vật ở đây.
Theo báo cáo của trang Der Landbote, trong năm 2012, 49 con hươu và 10 con lợn rừng đã bị bắn chết trong công viên. (VietnamPlus 8/10) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||