Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 08 tháng 09 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Sáng 7-9, UBND tỉnh Quảng Nam đã tổ chức họp với các sở, ngành liên quan cùng huyện Nam Giang để bàn về việc bảo vệ lâm sản và khoáng sản trên địa bàn huyện Nam Giang.
Ông Alăng Mai, Chủ tịch UBND huyện Nam Giang, cho rằng công tác quản lý rừng ở khu vực vành đai biên giới lâu nay có sự chồng chéo.
Khu vực xảy ra vụ phá rừng pơ mu tại xã La Dêê vừa qua do Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ Nam Sông Bung làm chủ rừng, nhưng kiểm lâm địa bàn lại là người của BQL Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, còn quản lý địa bàn là lực lượng Biên phòng.
Do vậy mà trách nhiệm của các đơn vị là không rõ ràng, khi xảy ra vụ phá rừng thì khó xử lý.
Ông Mai đề nghị đối với khu vực địa bàn các xã biên giới, UBND tỉnh Quảng Nam xem xét, thống nhất giao Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh chịu trách nhiệm quản lý bảo vệ rừng và khoáng sản, các ngành chức năng liên quan cùng với địa phương tham gia phối hợp.
Tại cuộc họp, đại điện Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam cũng như đại diện lãnh đạo một số Đồn Biên phòng trên địa bàn huyện Nam Giang đều đồng tình ủng hộ phương án giao cho lực lượng Biên phòng quản lý, làm chủ rừng ở khu vực vành đai biên giới.
Ông Đinh Văn Thu, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, cho biết tỉnh xác định Nam Giang là địa bàn đang nóng cả về lâm sản lẫn khoáng sản.
UBND tỉnh Quảng Nam thống nhất kiến nghị giao lực lượng Biên phòng vừa quản lý vừa là chủ rừng ở vành đai biên giới.
Ngoài ra, ông Thu cũng cho rằng để công tác giữ rừng mang lại hiệu quả cao hơn, các đơn vị, địa phương cần tăng cường trách nhiệm của nhóm hộ tham gia bảo vệ rừng và chủ rừng; thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa các lực lượng trong quản lý, bảo vệ rừng.
Bên cạnh đó, lực lượng Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam cần tính toán di chuyển các trạm barie vào sát cửa rừng nhằm bảo vệ rừng từ gốc; xây dựng, nâng cao ý thức để mỗi người dân như một kiểm lâm viên, một người bảo vệ rừng;
Được biết, tỉnh Quảng Nam có 142km đường biên tiếp giáp với các địa phương nước bạn Lào, trong đó riêng huyện Nam Giang có 78km đường biên. (Công An Nhân Dân 7/9, Nông Nghiệp Việt Nam 8/9, Tiền Phong 8/9) đầu trang(
Ngày 6-9, ông Nay Y Blung -chủ tịch UBND huyện Sơn Hòa (tỉnh Phú Yên) - cho biết vừa ký quyết định cách chức trưởng phòng tài nguyên - môi trường huyện này đối với ông Nguyễn Ngọc Tiến do có nhiều vi phạm nghiêm trọng.
Trước đó, Ban thường vụ tỉnh ủy Phú Yên cũng ban hành quyết định kỷ luật đối với ông Tiến. Theo đó, cách hết các chức vụ trong Đảng gồm huyện ủy viên, đảng ủy viên, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra Đảng ủy cơ quan chính quyền huyện Sơn Hòa, bí thư chi bộ Phòng tài nguyên - môi trường.
Theo hồ sơ, năm 2015 ông Tiến tham mưu UBND huyện Sơn Hòa lập thủ tục giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp sai quy định cho ba hộ gia đình ở xã Sơn Nguyên (huyện Sơn Hòa) với tổng diện tích 75ha tại tiểu khu 192 rừng Hòn Đác, khiến nhiều diện tích rừng bị tàn phá.
Trong thời gian từ năm 2012-2014, ông Tiến tham mưu UBND huyện Sơn Hòa xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản vi phạm quy định, chỉ đạo lập và ký khống các hợp đồng thuê canh giữ khoáng sản giữa Phòng tài nguyên - môi trường huyện với một số cán bộ xã để rút 49,4 triệu đồng từ ngân sách huyện lập quỹ riêng. (Tuổi Trẻ 7/9) đầu trang(
Nhận thấy việc dùng băng rôn, áp phích, tờ rơi để tuyên truyền ý thức, trách nhiệm bảo vệ, phát triển rừng cho người dân – nơi có rừng chưa mang lại hiệu quả cao, từ năm 2016, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum đã đổi mới phương pháp tuyên truyền bằng cách in lô gô, khẩu hiệu tuyên truyền lên bìa vở và phát đến các em học sinh tiểu học ở một số địa phương có cung ứng dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh.
Cách làm thiết thực này đã và đang nhận được sự quan tâm, chú ý của người dân và dần phát huy nhiều hiệu quả.
Không khí đầu năm học mới 2016 – 2017 tại Trường Tiểu học Tô Vĩnh Diện (xã Đăk Pxi, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum) cũng nhộn nhịp không kém gì các trường khác trên địa bàn, mặc dù nhiều học sinh của trường vẫn chưa có đầy đủ sách, vở để đến trường.
Thầy Trần Ngọc Tuấn – Hiệu trưởng của Trường cho biết: Gần 100% học sinh của trường là con em người đồng bào dân tộc thiểu số. Trong đó có đến 70% học sinh là hộ nghèo, hoàn cảnh khó khăn. Phần lớn các em đều không có điều kiện mua sách vở đầy đủ để đến trường, nên năm nào nhà trường cũng phải vận động các thầy cô giáo và xin hỗ trợ từ các đoàn thể, tổ chức để có kinh phí mua sách, vở, bút cho các em.
Năm nay, Trường Tiểu học Tô Vĩnh Diện được chọn làm nơi tổ chức chương trình truyền thông “Đồng hành cùng em đến trường” do Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum (Quỹ) thực hiện. Chương trình được tổ chức trong không khí vui tươi và được sự đón nhận của cả thầy cô và các em học sinh. Sau chương trình, các em sẽ được nhận những quyển vở mà Quỹ này trao tặng, đặc biệt trên những quyển vở có in nhiều lô gô, biểu ngữ tuyên truyền giúp các em nhận thức được trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ và phát triển rừng.
Theo đó, với những lô gô hình đơn giản thể hiện sự đa dạng sinh học của rừng, cùng với những thông điệp: “Vì tương lai xanh Việt Nam”, “Chi trả dịch vụ môi trường rừng là bảo vệ tài nguyên môi trường rừng”, “Chung tay bảo vệ rừng cho cuộc sống hôm nay và mai sau”, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng muốn tuyên truyền đến các em – thế hệ tương lai của đất nước ý thức trân trọng và giữ gìn nguồn tài nguyên rừng vốn có; giúp các em nhận thức được việc bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của mỗi chúng ta; kêu gọi các cấp chính quyền địa phương, các ngành, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội và tất cả đồng bào các dân tộc trong tỉnh bằng những hành động thiết thực của mình cùng nhau tham gia vào việc bảo vệ và phát triển rừng một cách bền vững.
Hào hứng, phấn khởi khi cầm trên tay những quyển vở mà Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng trao tặng, em Y Nhi – học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Tô Vĩnh Diện vui vẻ nói: “Em rất vui vì được nhận những quyển vở này, nó không những giúp em có đủ vở học trong năm học mà còn giúp em hiểu biết hơn về tầm quan trọng của rừng, từ đó có ý thức bảo vệ. Từ nay, nếu phát hiện người cưa, chặt cây rừng thì em sẽ cùng với mọi người ngăn chặn để giữ gìn tài nguyên rừng. Em hi vọng chương trình này sẽ tiếp tục được tổ chức tại Trường trong các năm học tiếp theo”.
Tại chương trình truyền thông, ông Hồ Thanh Hoàng – Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum chia sẻ: “Qua các thông điệp được truyền tải trên các bìa vở được phát cho các em học sinh, tôi mong rằng các bậc phụ huynh học sinh, các thầy cô giáo và các em học sinh sẽ hiểu thêm về trách nhiệm bảo vệ rừng của chúng ta, từ đó góp phần cùng Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng thực hiện tốt chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh”.
Rõ ràng chương trình “Đồng hành cùng em đến trường” là một chương trình truyền thông vô cùng ý nghĩa đối với các em học sinh, các thầy cô giáo và các bậc phụ huynh. Hi vọng với sự đón nhận và ủng hộ từ các em, chương trình sẽ phát huy hơn nữa những hiệu quả đạt được trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. (Tài Nguyên Và Môi Trường 7/9) đầu trang(
Sau 6 năm nhận dự án, chủ đầu tư gần như không triển khai. Hàng chục ha rừng tự nhiên trong dự án đứng trước nguy cơ bị xóa sổ. Người dân nghi vấn về việc rừng bị tàn phá do người của chủ đầu tư là Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Lâu Đài.
Năm 2010, UBND tỉnh Đăk Nông đã đồng ý cho Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Lâu Đài (trụ sở tại TP.HCM, gọi tắt là Công ty Lâu Đài), đầu tư xây dựng dự án du lịch sinh thái thác Lưu Ly (xã Nâm N’Jang, huyện Đăk Song). Theo đó, công ty này được giao gần 90ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó có hơn 65ha rừng tự nhiên. Công ty này cũng cam kết sẽ đầu tư hơn 100 tỷ đồng để xây dựng: nhà hàng dịch vụ, khu vui chơi giải trí, khách sạn, bãi tắm, hệ thống đường nội bộ, hệ thống phòng cháy chữa cháy…
Tuy nhiên đến nay, chủ đầu tư chỉ mới xây dựng được một khu nhà điều hành, một đoạn đường xuống thác và 3 nhà chòi lợp... lá dừa. Tại một báo cáo cách đây vài tháng, Sở VHTTDL Đăk Nông cho biết: “Công ty Lâu Đài mới chỉ xây dựng được một vài hạng mục nhỏ lẻ, nhưng lại xây dựng sơ sài, không đúng với thuyết minh thiết kế cơ sở và quy hoạch dự án đã được UBND tỉnh phê duyệt; chưa tổ chức được các dịch vụ để phục vụ du khách”.
Ông Bùi Quang Mích- Phó Giám đốc Sở VHTTDL, cho biết, tính từ năm 2014 đến nay, Sở VHTTDL đã hơn 10 lần gửi văn bản đôn đốc Công ty Lâu Đài đẩy nhanh tiến độ xây dựng dự án nhưng kết quả nhận được là một... bản cam kết “về việc đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng” của chủ đầu tư từ năm 2014.
Trong  khi khu vực đầu tư xây dựng dự án gần như không được tác động thì khu rừng giao cho Công ty Lâu Đài bảo vệ lại từng ngày bị tàn phá nghiêm trọng. Tại các lô 15, 17, 19, 20 (tiểu khu 1617) lô 15 (tiểu khu 1616) phóng viên ghi nhận có có hàng chục đường mòn, lối mở vào rừng. Tại hiện trường, hàng loạt cây gỗ lớn chỉ còn trơ lại gốc. Hiện trường cho thấy “lâm tặc” chẳng những hạ cây mà ngang nhiên xẻ gỗ giữa rừng. Nhiều diện tích rừng biến thành rẫy tiêu. Thậm chí ở cách trung tâm điều hành của Công ty Lâu Đài chừng vài trăm mét tình trạng phá rừng cũng xảy ra.
Trả lời về việc này, Phó Giám đốc Công ty Lâu Đài Phạm Thị Liên cho biết chưa thể khẳng định diện tích rừng bị tàn phá nằm trong dự án bởi ranh giới chưa được bàn giao cụ thể (?!).
Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Ngọc - nhân viên phụ trách quản lý dự án Khu du lịch sinh thái thác Lưu Ly (người được giao quản lý dự án) thừa nhận đơn vị có cho người vào rừng nhưng chỉ để khai thác củi khô... cho sạch rừng.
Theo ông Nguyễn Đình Dân- Hạt phó phụ trách Hạt Kiểm lâm huyện Đăk Song, nguyên nhân mất rừng tại dự án khu du lịch sinh thái thác Lưu Ly là do chủ đầu tư bỏ bê việc quản lý, bảo vệ rừng. Khi Hạt phát hiện rừng bị phá đã đề nghị  Công ty phối hợp xử lý nhưng phía Công ty không phản hồi. (Dân Việt 8/9) đầu trang(
UBND tỉnh vừa có văn bản chỉ đạo tăng cường hiệu quả hoạt động của lực lượng kiểm lâm trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban quản lý Vườn quốc gia Bù Gia Mập; các ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết, Lộc Ninh, Bù Đăng; các công ty TNHH MTV cao su Phước Long, Bình Phước, Sông Bé; Sở Tài nguyên và Môi trường, Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh, Công an tỉnh, UBND các huyện, thị xã, Chi cục kiểm lâm theo chức năng, nhiệm vụ và căn cứ các văn bản chỉ đạo, quy định có liên quan quyết liệt thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Chỉ thị số 1685 ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai thực hiện công tác chấn chỉnh tác phong thi hành công vụ của cán bộ, công chức kiểm lâm về chấp hành nghiêm túc các quy định: Mặc đồng phục, đeo cấp hiệu, phù hiệu; giao tiếp với tổ chức, công dân phải đúng mực, lịch sự; hoạt động kiểm tra phải thực hiện đúng trình tự, thủ tục của pháp luật; tổ chức kiểm tra, thanh tra nội bộ trong các đơn vị kiểm lâm; đồng thời tăng cường kiểm tra, thanh tra đột xuất về hoạt động và thực hiện chức trách nhiệm vụ của các đơn vị, cán bộ, công chức kiểm lâm.
UBND các huyện, thị xã phối hợp, hỗ trợ chủ rừng tăng cường kiểm tra, truy quét để phát hiện, ngăn chặn kịp thời hành vi lấn chiếm đất rừng, khai thác rừng trái phép; điều tra, xử lý nghiêm các đối tượng có hành vi chống người thi hành công vụ trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bình Phước 6/9) đầu trang(
Lãnh đạo UBND tỉnh Yên Bái vừa ký công văn về việc tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và hiệu quả hoạt động của lực lượng kiểm lâm.
Theo đó, để chấn chỉnh  hoạt động của lực lượng kiểm lâm và khắc phục những thiếu sót, yếu kém trong công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn, UBND tỉnh Yên Bái yêu cầu Sở Nông nghiệp chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tổ chức thực hiện nghiêm túc nhiều công việc liên quan. Cụ thể như chấn chỉnh tác phong làm việc của cán bộ công chức kiểm lâm khi thi hành nhiệm vụ.
Công chức kiểm lâm phải chấp hành nghiêm túc các quy định của ngành, mặc đồng phục, đeo cấp hiệu, biển hiệu,… khi làm việc và tiếp xúc với tổ chức, công dân phải đúng mực, lịch sự; thực hiện đúng trình tự, thủ tục pháp luật; không được đặt ra các yêu cầu ngoài quy định của pháp luật;
Sở Nông nghiệp cũng được giao chỉ đạo Chi cục kiểm lâm phối hợp với công an trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố và các đơn vị có liên quan tăng cường công tác kiểm tra, truy quét các “đầu nậu”. Các cơ quan chức năng xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật và những cơ quan, chủ rừng, đặc biệt là người có thẩm quyền nhưng thiếu trách nhiệm, có tiêu cực, để xảy ra tình trạng phá rừng...
UBND tỉnh Yên Bái cũng giao các sở ngành liên quan phối hợp kiểm tra, rà soát toàn bộ diện tích rừng bị phá, đất rừng bị lấn chiếm, sử dụng sai mục đích tại các công ty, doanh nghiệp.
Theo UBND tỉnh Yên Bái, trong những năm qua, một số cán bộ công chức kiểm lâm chưa làm tròn trách nhiệm, có biểu hiện tiêu cực, gây bức xúc trong dư luận. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện và xử lý 24 vụ khai thác, 59 vụ vận chuyển lâm sản, 44 vụ chế biến, cất giữ lâm sản trái phép. (Dân Việt 7/9) đầu trang(
Chủ tịch Hội Sinh vật cảnh tỉnh Long An - Nguyễn Văn Lộc vừa cho hay, ông đã gởi hồ sơ đăng ký cây Trôm Khánh Hậu là Cây di sản Quốc gia cho Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam tại Hà Nội (cơ quan xét, cấp bằng công nhận cây di sản Quốc gia).
Sau đây là một ít thông tin về cây Trôm Khánh Hậu, TP.Tân An - dựa theo tiêu chí cây di sản Quốc gia.
Thông tin chung: Tên địa phương: Cây Trôm Khánh Hậu, tên khoa học Sterculia foetida, thuộc họ thực vật (Sterculiaceae), tọa lạc tại cổng chùa Diêu Quang trên đường Lương Văn Chấn, phường Khánh Hậu, TP.Tân An.
Số đo cây do chuyên viên đo đạc Công ty Cổ phần Minh Long cung cấp: Chu vi thân cây cách mặt đất 1,3m: 8,5m. Đường kính tán cây: 32,5m.
Chiều cao cây: 25,5m. Chu vi gốc cây tiếp đất hơn 12m, có nhiều rễ nổi u, nổi cục như hình con rồng uốn khúc. Cây một thân, đứng thẳng. So với cây Trôm Gò Tháp (tỉnh Đồng Tháp) đã được cấp Bằng công nhận Cây di sản Quốc gia, cây Trôm Khánh Hậu có dáng uy nghi, hoành tráng, cành lá tươi tốt hơn.
Tuổi đời của cây: Theo cố nhà văn, nhà Nam bộ học - Sơn Nam khảo cứu, cây có trước khi dòng họ Nguyễn Huỳnh Đức đến sinh cơ lập nghiệp tại giồng Cai Yến xưa (phường Khánh Hậu nay) phải trên 50 năm.
Theo gia phả họ Nguyễn Huỳnh ở Khánh Hậu, cụ Huỳnh Công Châu (Châu Ngọc hầu) - ông nội và cụ Huỳnh Công Lương (Lương Thiện hầu) - thân phụ Tiền quân Kiến xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức đều làm quan dưới triều Lê Hiển Tông, đưa dòng họ đến lập nghiệp tại giồng Cai Yến vào năm 1731.
Như vậy, tính đến nay vừa tròn 285 năm, cộng trên 50 năm như nhà văn Sơn Nam viết, thì cây Trôm này xấp xỉ 350 năm tuổi.
Tuy nhiên, năm 2002, Đoàn Nhật Bản do GS.TS Sakurai Yumio (Trường Đại học Tokyo) làm Trưởng đoàn và Đoàn Viện KHXH TP.HCM do GS.TS Nguyễn Thế Nghĩa - Viện trưởng làm Trưởng đoàn (mỗi đoàn đều có nhiều giáo sư, tiến sĩ đến từ các viện và trường đại học trong nước và các nước: Nhật Bản, Úc, Canada,...) nghiên cứu đề tài “Làng xã Nam bộ, trường hợp xã Khánh Hậu, tỉnh Long An”.
GS.TS Sakurai Yumio có dùng khoan tay khoan thân cây Trôm để lấy dăm làm xét nghiệm tính tuổi cây. Sau đó, GS cho biết: Cây Trôm Khánh Hậu phải từ 450-500 năm tuổi.
Vậy có thể nói, cây Trôm Khánh Hậu là chứng tích sống của rừng nguyên sinh lâu đời ở đó, trước khi vùng đất giồng Cai Yến được người Việt đến khẩn hoang, lập làng. Khi còn là rừng thì có nhiều động vật hoang dã và thú dữ.
Bằng chứng ở đây vẫn còn ngôi mộ - dân gian gọi “mả Cọp” - tương truyền là nơi chôn cất những phần xác của nạn nhân bị cọp vồ ăn thịt còn sót lại.
Giá trị về mặt lịch sử-văn hóa: Theo nghiên cứu của cố nhà văn Sơn Nam, quan Khâm mạng Yến Vũ hầu từ Phú Yên vào đất Mô Xoài (vùng núi Dinh, gần TP.Bà Rịa ngày nay) trước Nguyễn Hữu Cảnh 40 năm.
Rất có thể vào dịp ấy, Cai cơ Yến có đến vùng giồng Cai Yến và yểm trợ lưu dân Việt tới khai khẩn đất Ba Giồng ở đây. Địa danh giồng Cai Yến ra đời từ đó.
Sự việc ấy xảy ra vào đời Hiền Vương lúc Trịnh - Nguyễn phân tranh đang hồi gay cấn. Sử sách chép, Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược - mở cõi đất phương Nam vào năm 1698, cách ngày nay 318 năm (1698-2016); Yến Vũ hầu vào giồng Cai Yến trước Nguyễn Hữu Cảnh 40 năm thì đến nay đã 358 năm, khi cây Trôm có trước đó lâu năm và đất giồng Cai Yến đã có cư dân Việt làm ruộng,...
Sách Lịch sử Đồng Tháp Mười (Võ Trần Nhã chủ biên, NXB TP.HCM-2003) viết về giồng Cai Yến thuộc đất Ba Giồng, nơi quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh từng tranh chấp nhau quyết liệt để giành nhân tài, vật lực.
Đây là 1 trong 3 cụm giồng: Cai Yến, Trâm Bầu, Qua Qua - trải từ phường Khánh Hậu, TP.Tân An qua huyện Châu Thành đến tận huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Giồng là đất gò cao, rộng và màu mỡ, nên “Lý đất giồng” có câu: “Trên đất giồng mình trồng khoai lang/ Trên đất giồng mình trồng dưa gang...”.
Giá trị về mặt văn hóa: Có nhiều đoàn trong nước và nước ngoài đến nghiên cứu về đất và người khi còn là làng/xã Khánh Hậu. Từ khi trở thành “phường”, Khánh Hậu chịu tác động của tiến trình đô thị hóa làm biến đổi nhiều nét xưa.
Hiện hữu, phường Khánh Hậu có 4 khu phố thì 2 khu, mỗi khu có 1 ngôi chùa lớn, 2 khu còn lại đều có thánh thất Cao Đài, đình thần, miếu, võ.
Đặc biệt, cách cây Trôm không xa lắm có Khu di tích Quốc gia lịch sử kiến trúc Lăng mộ, đền thờ Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức. Cách di tích này một quãng ngắn là tòa nhà “Phủ Minh đường”, kiểu nhà cổ lưu dấu tổ tiên Nguyễn Huỳnh Đức từ thời khẩn hoang, nay sửa chữa, có nhiều chi tiết “cách tân”.
Cách cây Trôm chừng 300m là khu đình Khánh Hậu cũng có từ thời khẩn hoang, về sau trùng tu, làm mới. Một số nhà cổ do bị hư hỏng đã phá bỏ, xây dựng lại hoặc sửa chữa, chắp vá giữa cũ và mới.
Nghiên cứu của TS. Phan Thị Yến Tuyết (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM - đoàn của GS.TS Nguyễn Thế Nghĩa) kết luận: “Nhìn chung, diện mạo tôn giáo, tín ngưỡng Khánh Hậu mang sắc thái Phật giáo và Cao Đài giáo trên cái nền làng xưa có đình cổ thông thường.
Trước đây, thiết chế văn hóa truyền thống của làng xã Nam bộ gồm có đình, chùa, miếu, võ, tạo thành một quần thể văn hóa của làng,...”, nhưng nét “làng truyền thống” Khánh Hậu nay biến đổi theo hướng hiện đại hóa,...
Tóm lại, việc đăng ký cây Trôm Khánh Hậu là Cây di sản Quốc gia bởi vì, đối chiếu với các tiêu chí quy định cho cây di sản Quốc gia, thì cây Trôm Khánh Hậu gồm đủ.
Việc công nhận cây di sản Quốc gia nhằm có chính sách bảo quản các giá trị tinh thần, vật chất của cây, bảo đảm sự sống lâu bền cho cây có tuổi đời hàng bao thế kỷ.
Ai đó nói, cây cối như một người bạn của con người, cùng sinh và cùng lớn lên. Với cây Trôm Khánh Hậu còn như một chứng nhân lịch sử, nó trở nên thiêng liêng với người dân sở tại.
Anh Thinh, nhà kế bên cây Trôm nói, từ mấy năm nay, người dân ở đây bảo nhau không được lấy mủ Trôm vì sợ ảnh hưởng sức khỏe của cây, dù mủ Trôm là dược liệu quý.
Mới đây, một cú sét đánh trúng phần ngọn của cây làm tróc một mảng vỏ và cháy sém một nhánh cây. Nhánh cây này đã khô, có thể rơi xuống đất bất cứ lúc nào. Mong ngành quản lý đô thị xử lý nhằm tránh nguy hiểm cho người đi đường, đồng thời có biện pháp chống sét cho cây.
Rất hy vọng, cây Trôm Khánh Hậu sớm được Nhà nước công nhận Cây di sản Quốc gia, để tỉnh Long An cũng có cây di sản Quốc gia như các tỉnh lân cận. (Báo Long An/ Báo Vĩnh Long 8/9) đầu trang(
Theo quy hoạch vừa được UBND tỉnh Cà Mau phê duyệt, gần 400 tỷ đồng là số vốn mà tỉnh này đầu tư để bảo tồn và phát triển bền vững Vườn Quốc gia U Minh Hạ đến năm 2020.
UBND tỉnh Cà Mau cho biết, việc quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Vườn Quốc gia U Minh Hạ nhằm bảo vệ tính đa dạng sinh học, cảnh quan môi trường sinh thái và sử dụng hợp lý giá trị tài nguyên rừng đến năm 2020.
Theo quy hoạch, Vườn Quốc gia U Minh Hạ thuộc địa bàn 4 xã nằm trên 2 huyện Trần Văn Thời (xã Khánh Bình Tây Bắc và Trần Hợi) và U Minh (xã Khánh An và Khánh Lâm). Tổng diện tích quy hoạch là 8.527,8ha, bao gồm: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt (2.593,7ha), phân khu phục hồi sinh thái (5.190,5ha) và phân khu dịch vụ hành chính (743,6ha).
Theo đó, tỉnh sẽ xây dựng khu hành chính mới và các công trình quản lý bảo vệ rừng như mốc ranh giới các phân khu chức năng, chòi canh lửa, nạo vét kênh, điều tiết nước, hệ thống lưới điện… Xây dựng khu du lịch sinh thái khoảng 1.318,5ha, với các công trình phục vụ nhu cầu tham quan, du lịch của du khách.
Bên cạnh đó, tỉnh cũng tiến hành một số hoạt động nghiên cứu khoa học trong rừng đặc dụng như mô hình phòng cháy, chữa cháy; Nghiên cứu diễn biến tài nguyên rừng, điều tra đa dạng sinh học; Xây dựng tiêu bản thực vật, danh mục động vật…
Các dự án ưu tiên trong quy hoạch gồm: Dự án đầu tư bảo vệ và phát triển Vườn Quốc gia U Minh Hạ; Dự án đầu tư phát triển du lịch sinh thái; Chương trình bảo tồn gen, bảo tồn các loài nguy cấp, quý, hiếm; Dự án phục hồi hệ sinh thái Vườn Quốc gia U Minh Hạ; Các dự án hợp tác quốc tế khác.
Theo quy hoạch, ước nhu cầu vốn đầu tư bảo vệ và phát triển Vườn Quốc gia U Minh Hạ đến năm 2020 là gần 400 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách Nhà nước trên 364 tỷ đồng, vốn ODA trên 14 tỷ đồng và vốn huy động khoảng 20 tỷ đồng.
Theo UBND tỉnh Cà Mau, một số giải pháp để thực hiện là tỉnh sẽ củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức và phát triển nguồn nhân lực về quản lý, bảo vệ để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ theo quy hoạch; Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật Nhà nước về bảo vệ, phát triển rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân; Đầu tư và huy động các nguồn lực hợp pháp khác để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ bảo tồn và phát triển bền vững Vườn Quốc gia U Minh Hạ đến năm 2020. (Dân Trí 7/9) đầu trang(
UBND huyện Duy Xuyên (Quảng Nam) vừa có quyết định thành lập Ban quản lý di sản văn hóa Mỹ Sơn (BQL DSVH Mỹ Sơn) trên cơ sở tổ chức lại bộ máy Ban quản lý di tích và du lịch Mỹ Sơn.
Theo đó, BQL DSVH Mỹ Sơn là đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc UBND huyện Duy Xuyên, có chức năng tham mưu giúp UBND huyện thực hiện trách nhiệm quản lý, bảo tồn, phát huy DSVHTG Mỹ Sơn, phát triển bảo tồn hệ sinh thái rừng đặc dụng, cảnh quan của di sản Mỹ Sơn theo quy định của pháp luật.
BQL DSVH Mỹ Sơn có những chức năng, nhiệm vụ chính như sau: Tổ chức quản lý, bảo vệ, xây dựng và khai thác bền vững khu DSVHTG Mỹ Sơn theo quy định. Bảo vệ và phát triển hệ sinh thái rừng thuộc địa bàn quản lý. Tổ chức nghiên cứu, lập hồ sơ khoa học, lưu trữ tư liệu về các giá trị văn hóa Mỹ Sơn. Nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, các dự án bảo tồn, tôn tạo, phục hồi các di tích trong khu vực di sản được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt,… (Văn Hóa 7/9) đầu trang(
Lô hàng 97kg ngà voi gồm 105 khúc này có số vận đơn 235.11281970 ngày 1-4-2016, được vận chuyển từ Congo về Việt Nam.
Thông tin trên vận đơn ghi tên người nhận là Hoàng Kim Ngọc, địa chỉ: Xã Yên Ninh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Tuy nhiên, người nhận hàng ghi trên vận đơn đã từ chối và khẳng định không liên quan đến lô hàng nói trên.
Ngoài 97kg ngà voi chưa có người nhận, nhiều lô hàng vận chuyển theo đường hàng không cũng chưa có chủ, đang tồn đọng tại sân bay quốc tế Nội Bài gồm có: 4 kiện hàng, trọng lượng 1.564kg, được vận chuyển từ Mebbourn (Anh) về Việt Nam trên vận đơn ngày 15-12-2015; 12 kiện hành lý từ Matxcova (Nga) đến Hà Nội ngày 20-4-2016.
Qua kiểm tra, cơ quan Hải quan phát hiện, bên trong các kiện hàng trên là sữa các loại. Theo Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài, các lô hàng trên được vận chuyển đến Việt Nam đều có tên người nhận, tuy nhiên những người này đều từ chối và khẳng định không liên quan đến những lô hàng nêu trên.
Trong trường hợp quá thời hạn 30 ngày kể từ ngày đăng thông báo, nếu không có tổ chức, cá nhân đến nhận, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài sẽ giải quyết theo quy định pháp luật; với các lô hàng sữa sẽ xử lý tịch thu; với lô hàng 97kg ngà voi sẽ bàn giao cho Cục Dự trữ quốc gia. (Công An Nhân Dân 7/9) đầu trang(
Các nhà bảo tồn cảnh báo nhiều loài hoang dã có thể ủ bệnh và lây sang người nuôi chúng bất cứ lúc nào.
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (WWF) Việt Nam vừa phát đi cảnh báo về thực trạng buôn bán động vật hoang dã làm thú nuôi trên thế giới và Việt Nam.
Tại Việt Nam, nuôi thú cưng từ các loài hoang dã quý hiếm như khỉ, cu li, chim, cú, tắc kè, rùa diễn ra phổ biến từ lâu. Chỉ vài trăm nghìn đồng người chơi có thể dễ dàng mua được đại bàng, cu li, rùa hộp quý hiếm ở một số khu chợ tại Hà Nội hoặc trên website. Việc mua bán này đều diễn ra công khai. Mới đây, Tổ chức động vật châu Á đã tiếp nhận một con gấu nuôi trái phép suốt 7 năm từ gia đình ở Nam Định. Họ nuôi khi gấu mới 1 kg với mục đích làm cảnh.
Theo các nhà bảo tồn, nhiều loài hoang dã có thể ủ bệnh và lây sang người nuôi chúng bất cứ lúc nào. Ví dụ, hầu hết các loài khỉ mang vi rút herpes B - gây chết người; rùa và một số loài bò sát mang vi khuẩn salmonella- gây bệnh truyền nhiễm đặc biệt cho trẻ em; vẹt và các loài chim khác cũng lây truyền một số bệnh cho người như cúm gia cầm.
Nếu thú nuôi trở thành gánh nặng, chủ nhân có thiên hướng thả về tự nhiên. Điều này rất nguy hiểm bởi chúng sẽ tiếp tục truyền bệnh cho người và loài bản địa.
Tại hội thảo về gây nuôi thương mại và buôn bán động vật hoang dã cuối tháng 7, tiến sĩ Lê Xuân Cảnh, nguyên Viện trưởng Viện Tài nguyên và Sinh vật đưa ra cảnh báo, động vật nuôi nhốt nguy cơ giảm khả năng đề kháng đối với một số bệnh nguy hại, các loài ký sinh trùng và cũng là mầm mống cho một số bệnh khác.
WWF kêu gọi mọi người cần thực hiện nhiều biện pháp nhằm bảo vệ động vật hoang dã, tránh nạn bị săn bắt làm thú cưng. (VnExpress 7/9) đầu trang(
Chiều 7/9, lực lượng kiểm lâm Lâm Đồng đã phát hiện đối tượng Huỳnh Minh Tiền ( sinh năm 1994, trú tại xã Phan Lâm, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận) đang vận chuyển 21 cá thể khỉ đuôi lợn được đựng trong từng túi lưới với tổng trọng lượng khoảng 35kg.
Đây là thông tin từ Hạt Kiểm lâm huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng cho biết sau khi đi tuần tra, kiểm soát rừng tại khoảnh 1, tiểu khu 726, xã Tam Bố, thuộc lâm phần do Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Tam Hiệp quản lý.
Hiện, tình trạng sức khỏe của 21 cá thể khỉ đã yếu. Cơ quan chức năng đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với Huỳnh Minh Tiền đối với hành vi vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ động vật rừng.
Đối tượng Huỳnh Minh Tiền đã thừa nhận hành vi săn bắt trái phép động vật hoang dã quý hiếm.Tiền khai nhận số cá thể này nếu không bị phát hiện, sẽ được vận chuyển về thành phố Phan Thiết bán để kiếm tiền.
Khỉ đuôi lợn có tên khoa học là Macaca leonina, là loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IIB theo quy định tại Nghị định 32/2006 của Chính phủ quy định về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
Hiện cơ quan chức năng đang tiếp tục xác minh, điều tra để xử lý theo quy định. (Vietnam + 7/9) đầu trang(
Tưởng rằng cáo Bắc Cực (hay còn gọi là cáo tuyết) chỉ có thể sống ở nơi có thời tiết khắc nhiệt băng giá, nhưng khá lạ khi hiện loài vật này đang được một số người nhân nuôi, bán phục vụ nhu cầu cho giới mê thú cưng ở Việt Nam.
Anh Phan Minh - chủ trại kinh doanh các loài thú cưng ở Bình Dương cho biết, hiện trang trại của anh đang nuôi cả chục loài khác nhau gồm các loài chim gà quý hiếm, trong đó có mặt hàng rất đặc biệt là cáo Bắc Cực (có tên khoa học là Vulpes lagopus).
"Hiện tôi đang nuôi hàng chục cá thể cáo Bắc Cực, đây chủ yếu là các cá thể được nhân giống thành công từ cáo bố mẹ được nhập về từ một công ty đầu mối trung gian ở Hà Lan” – anh Minh tiết lộ.
Anh Minh cho biết, các chú cáo Bắc Cực trên do được nuôi thuần hóa và được lai tạo qua nhiều thế hệ nên có thể sống được ở các môi trường đa dạng. Loài cáo này có thể sống được cả ở môi trường băng giá như Bắc Cực cũng như nơi có khí hậu nhiệt đới là Việt Nam.
Anh Minh cho biết thêm, ở ngoài đời thực tại Bắc Cực, loài cáo này vốn là thú ăn thịt và xác thối nhưng khi lai tạo về Việt Nam cáo lại được làm quen với các thức ăn công nghiệp dạng viên khô mà mọi người hay dùng cho chó, mèo ăn.
“Loài cáo này rất thuần, ngoan hiền nên người chơi có thể yên tâm mua nuôi chơi như các loài thú cưng như chó, mèo khác mà không lo sợ bị nguy hiểm và ảnh hưởng đến sức khỏe” – anh Minh khẳng định.
Hiện, trang trại của anh Minh đang bán độc quyền loài cáo Bắc Cực này tại Việt Nam với giá khá cao. Với những con cáo mới đẻ nuôi được vài tuần tuổi đến vài tháng tuổi được khoảng 3 – 4kg có giá từ 15 đến 20 triệu đồng/con. Còn đối với những con cáo trưởng thành (khoảng 1 – 2 tuổi tương đương với trên dưới 15kg) được anh Minh bán với giá trên 25 triệu đồng/con.
“Tôi mới kinh doanh được 2 năm nay, hàng cáo này rất hiếm, dù giá cao nhưng cũng có khá nhiều người mua nuôi. Đa phần ai có nhu cầu phải đặt trước từ vài tuần đến vài tháng mới có hàng” – anh Minh chia sẻ.
Trao đổi với phóng viên Dân Việt qua điện thoại, ông Trần Quang Phương – Cán bộ quản lý chương trình bảo tồn thú ăn thịt và tê tê thuộc Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn động vật hoang dã (một tổ chức phi lợi nhuận ở Việt Nam có trụ sở tại rừng quốc gia Cúc Phương, Ninh Bình) tỏ ra khá bất ngờ về thông tin này.
Ông Phương cho biết: Loài cáo này đã được liệt kê trong sách đỏ của IUCN (danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật trên thế giới) nhưng loài này không ghi nhận trong danh mục thuộc CITES quản lý (Công ước CITES hay còn gọi là công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (hiện cơ quan quản lý CITES đặt tại Tổng cục Lâm nghiệp thuộc Bộ NNPTNT).
Lý giải về việc cáo Bắc Cực có thể nuôi được ở Việt Nam, ông Phương cho rằng: Có những loài thú được tạo ra từ loài thuần chủng nên có thể nuôi được giống như vật nuôi cảnh bằng cách lai tạo với giống vật nuôi thông thường. Phương pháp ghép lai có thường là giữ lại 75% nguồn gen gốc còn 25% là một giống vật nuôi khác. Điều này giúp động vật có thể thích nghi với nhiều điều kiện sống khác nhau mà vẫn giữ được hình dáng hoang dã. Chính vì thế mà cáo Bắc Cực không chỉ nuôi được ở khí hậu Việt Nam mà còn ở nhiều vùng khí hậu khác cũng nuôi được.
Trả lời câu hỏi về việc người nuôi chơi loài này có ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng không, ông Phương khuyến cáo: “Vấn đề này phải quan tâm hơn vì đây là loài hoang dã hoặc dù là loài thuần chủng cũng không nên lơ là. Bởi mình cũng có rất nhiều bài học từ việc nuôi chó Phú Quốc, loài tấn công người rất nguy hiểm”.  (Dân Việt 8/9) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo kiểm điểm lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT trong việc phê duyệt hồ sơ thiết kế-dự toán nuôi dưỡng rừng sai quy định; xử lý trách nhiệm Chủ tịch UBND xã Ia Peng (huyện Phú Thiện), giám đốc công ty TNHH MTV lâm nghiệp Kông H’de trong việc lập hồ sơ khống để rút tiền dịch vụ môi trường rừngsử dụng không đúng mục đích…
Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai chỉ đạo tổ chức kiểm điểm lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT trong việc phê duyệt hồ sơ thiết kế-dự toán nuôi dưỡng 243,6ha rừng trồng do Ban quản lý rừng phòng hộ Ia Ly (BQLRPH) quản lý khi chưa có thành phần của Sở Nông nghiệp và PTNT tham gia nghiệm thu thành rừng. Kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân tham mưu đề xuất sai quy định.
Đồng thời, Chủ tịch UBND tỉnh cũng chỉ đạo UBND huyện Phú Thiện kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với Chủ tịch UBND xã Ia Peng trong việc lập hồ sơ khống để rút tiền dịch vụ môi trường rừng sử dụng không đúng mục đích. Kiểm điểm trách nhiệm Giám đốc công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Kông H’de (huyện Kông Chro) liên quan đến việc chi sai quy định 180 triệu đồng tiền dịch vụ môi trường rừng.
Chỉ đạo Cục Thuế tỉnh kiểm tra hồ sơ thanh toán các công trình lâm sinh của các đơn vị chủ rừng để truy thu, xử phạt đối với các cá nhân chưa thực hiện nghĩa vụ thuế (BQLRPH Bắc An Khê, BQLRPH Ia Ly). Giao Chánh Thanh tra tỉnh thu hồi số tiền sai phạm hơn 290,5 triệu đồng nộp ngân sách nhà nước.
Riêng đối với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh cần chấn chỉnh, rút kinh nghiệm trong việc quản lý, sử dụng các nguồn kinh phí. Trước đó, kết luận của Thanh tra tỉnh (về việc quản lý, sử dụng các nguồn kinh phí và thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng tại Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh) cho rằng, đơn vị này đã chi sai quy định đối với các khoản như: Chi hỗ trợ tiền ăn, tiền xăng xe cho các đại biểu tham dự tập huấn; tiền cước di động hàng tháng; hỗ trợ tiền trang phục; tiền ngủ cho cán bộ ôn thi cao học tại TP. Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, qua xem xét, đối chiếu với các quy định, Sở Tài chính có văn bản gửi UBND tỉnh khẳng định các khoản chi này là đúng quy định đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ 100% kinh phí hoạt động. Chỉ có khoản chi hỗ trợ tiền ăn, tiền xăng xe cho các đại biểu cấp xã tham dự tập huấn là chưa đúng quy định, đề nghị thu hồi. (Báo Gia Lai 7/9) đầu trang(
Để việc sắp xếp các công ty nông, lâm nghiệp thực sự hiệu quả, cần phải xử lý dứt điểm diện tích đất tranh chấp, lấn chiếm, khoán trắng, cho thuê - cho mượn trái pháp luật.
Sau 10 năm triển khai chính sách đổi mới nông trường và lâm trường quốc doanh, cả nước đã sắp xếp từ 185 nông trường, công ty nông nghiệp giảm xuống còn 145 công ty nông nghiệp, giảm được 40 đầu mối (không tính các công ty nông nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng).
Đối với lâm trường quốc doanh, sau rà soát đã giảm từ 256 lâm trường còn 148 công ty lâm nghiệp, thành lập 3 công ty cổ phần (chủ yếu sản xuất giống cây lâm nghiệp), thành lập mới 91 ban quản lý rừng phòng hộ, giải thể 14 lâm trường hoạt động yếu kém hoặc không cần thiết giữ lại.
Trong quá trình sắp xếp, các địa phương, đơn vị đã rà soát lại quỹ đất của nông, lâm trường. Các công ty nông, lâm nghiệp đã bước đầu thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong tổ chức sản xuất kinh doanh.
Một số công ty lâm nghiệp đã thực hiện phương án quản lý rừng bền vững và được các tổ chức quốc tế hỗ trợ để cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn quốc tế (FSC) như Công ty lâm nghiệp Đắc Tô (Kon Tum), Công ty lâm nghiệp Đại Thành (Đắk Nông), Công ty lâm nghiệp Hà Nừng (Gia Lai).
Bên cạnh đó, nhiều hình thức tổ chức mới được phát sinh như Công ty lâm nghiệp EaHleo (Đắk Lắk) thành lập 3 công ty cổ phần để trồng cao su trên cơ sở góp vốn bằng đất đai với một số doanh nghiệp tư nhân; Công ty lâm nghiệp Phước An cũng của tỉnh Đắk Lắk liên doanh với các doanh nghiệp tư nhân trồng cao su và trồng rừng...
Tuy nhiên, việc thực hiện sắp xếp, đổi mới nông, lâm trường quốc doanh theo Nghị quyết 28-NQ/TW của Bộ Chính trị đã bộc lộ các bất cập. Cụ thể: Mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của nhiều doanh nghiệp chưa phù hợp với yêu cầu đổi mới; chưa thu hút thêm lao động. Nhiều công ty chưa thực sự trở thành điểm tựa cho phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội trên địa bàn.
Một số địa phương chậm chuyển nông trường quốc doanh sang mô hình mới và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Số lượng công ty nông nghiệp được cổ phần hóa chưa nhiều.
Nhiều lâm trường chuyển đổi sang công ty lâm nghiệp nhưng chỉ là đổi tên, chưa có thay đổi căn bản về cơ chế quản lý, quản trị doanh nghiệp, nên chưa tạo điều kiện để công ty phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh, đặc biệt là công ty lâm nghiệp quản lý rừng sản xuất chủ yếu là rừng tự nhiên.
Về quản lý đất đai, một số công ty nông nghiệp, kể cả công ty đã cổ phần hoá chưa thực hiện việc rà soát trên thực địa, chưa hoàn chỉnh được hồ sơ để làm thủ tục giao đất, thuê đất, cấp mới, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
Nguyên nhân do cơ quan quản lý khi cổ phần hóa không xác định rõ chủ quản lý, sử dụng đất sản xuất và không lưu ý hướng dẫn giải quyết về đất đai. Chính quyền địa phương chưa thể hiện được vai trò quản lý nhà nước về đất đai, nhiều nơi phó mặc cho công ty tự quản lý và sử dụng.
Việc phối hợp trong công tác quản lý, sử dụng đất tại địa bàn cũng chưa tốt. Có trường hợp đất nông trường đang quản lý nhưng chính quyền giao cho các hộ di dân, tái định cư làm nhà ở, sản xuất đã dẫn đến phát sinh nhiều khiếu nại phức tạp và kéo dài.
Về tổ chức sử dụng đất, nhiều đơn vị chưa hoàn thành việc chuyển đổi khoán sử dụng đất sản xuất theo Nghị định 01/CP sang khoán theo Nghị định 135/2005/NĐ-CP. Một số đơn vị mới chỉ ký lại hợp đồng khoán mà chưa có đổi mới căn bản về cơ chế khoán, do vậy hiệu quả sử dụng đất đai, rừng, vườn cây chưa có chuyển biến rõ rệt, phát sinh nhiều vấn đề phức tạp trong quản lý sử dụng đất đai như tình trạng sang nhượng trái phép, chuyển mục đích sử dụng đất…
Đứng trước những tồn tại trên đây, để tiếp tục sắp xếp, đổi mới các công ty nông, lâm nghiệp góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp, phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, ngày 12/3/2014 Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Nghị quyết 30-NQ/TW và Nghị định số 118/2014/NĐ-CP về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp.
Đến thời điểm quý II/2016, hầu hết Phương án tổng thể sắp xếp công ty nông, lâm nghiệp của các địa phương, tập đoàn, tổng công ty đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Theo đó các công ty nông, lâm nghiệp sẽ được sắp xếp lại theo nhiều hình thức khác nhau như: duy trì doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, chuyển thành công ty cổ phần, chuyển thành công ty TNHH 2 thành viên trở lên, chuyển thành đơn vị sự nghiệp và giải thể những đơn vị yếu kém, không cần thiết giữ lại.
Song song với sắp xếp lại mô hình tổ chức, các đơn vị tiếp tục rà soát và dự kiến có khoảng 500 nghìn ha đất sẽ được tiếp tục chuyển giao về địa phương quản lý và tái phân bổ cho các đối tượng khác sử dụng; đồng thời giải quyết chế độ cho trên một vạn lao động dôi dư.
Tuy nhiên, để việc sắp xếp các công ty nông, lâm nghiệp thực sự hiệu quả, trước hết, phải xử lý dứt điểm diện tích đất tranh chấp, lấn chiếm, khoán trắng, cho thuê - cho mượn trái pháp luật.
Các công ty nông, lâm nghiệp phải chủ động rà soát, xây dựng phương án sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; quy hoạch, kế hoạch phát triển nông, lâm nghiệp của địa phương.
Phương án sử dụng đất của công ty nông, lâm nghiệp phải xác định rõ diện tích từng loại đất của công ty dự kiến giữ lại để sử dụng; diện tích phân bổ cho từng mục đích sử dụng phù hợp với nhiệm vụ được giao; phương án giải quyết các hợp đồng khoán còn thời hạn; biện pháp để bảo vệ, cải tạo, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và rừng, bảo vệ môi trường.
Các công ty nông, lâm nghiệp phối hợp với chính quyền địa phương hoàn thành việc chuyển giao đất về địa phương, gồm: đất công ty không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, sử dụng không có hiệu quả; diện tích đất đã bán vườn cây; diện tích đất của các công ty nông, lâm nghiệp phải giải thể; diện tích đất dư ra do thu hẹp nhiệm vụ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Các cơ quan quản lý nhà nước cần tiếp tục đổi mới cơ chế và chính sách quản lý rừng theo hướng giao rừng tự nhiên gắn với giao đất theo quy định của pháp luật đất đai, pháp luật bảo vệ và phát triển rừng.
Thực hiện định giá rừng sản xuất là rừng trồng làm cơ sở để giao vốn, thực hiện cổ phần hóa, liên doanh liên kết, thế chấp vay vốn. Việc thu hoạch sản phẩm rừng trồng là rừng sản xuất phải do chủ rừng quyết định về thời điểm và được tự do lưu thông tiêu thụ. (Bnews 8/9) đầu trang(
Anh Đồng Hữu Công ở Kbang, Gia Lai có tới 13ha mắc ca xen cà phê. Với những lứa mắc ca trồng sớm, năm nay anh thu hoạch được 2 tấn hạt. Anh mừng lắm. Từ nay trở đi, nguồn lợi từ mắc ca sẽ tăng dần lên...
Tôi từ Tây Nguyên bay ra, rất ngỡ ngàng khi đọc bài báo “Dân khốn đốn vì vườn mắc ca chỉ tốt lá, không ra quả!” (Báo NNVN, ngày 23/8). Trong lúc tâm trạng tôi lại đang trào dâng niềm hân hoan vì hàng loạt gia đình trồng mắc ca cũng ở Tây Nguyên đang hết sức phấn khởi do vụ thu hoạch mắc ca năm nay của họ thắng lớn. Chính mắt tôi đã chứng kiến…
Đọc kỹ bài báo mới biết, bà con mình ở một loạt xã tại huyện Lâm Hà (như Liên Hà, Tân Hà, Tân Thanh, Đan Phượng) đã mua phải giống mắc ca rởm. Việc này đã có cách đây 5 - 6 năm rồi. Người ta đã phát hiện và báo chí đã lên án chính công ty đã bán giống rởm cho bà con. Họ có tiến hành ghép đâu!
Họ lấy cây thực sinh (cây gieo từ hạt) và khứa một vết lên thân để tạo sẹo. Bà con ta tưởng là vết ghép. Họ bán rẻ, thế là bà con ta tranh nhau mua. Để đến bây giờ… lại muốn chặt! Tôi thấy tiếc quá! Cả huyện đã trồng tới gần 50ha, cây đã được 5 - 6 tuổi. Đáng lý mùa này nhà nào cũng thắng to. Ai ngờ lại như thế này…
Chúng ta biết rằng riêng với mắc ca, ta phải trồng từ cây ghép. Nếu trồng cây thực sinh sẽ gặp hai nhược điểm: Thứ nhất, cây rất lâu mới ra quả. Có khi tới 6 - 7 năm nó mới ra hoa. Thứ hai, ta không khẳng định được chất lượng và năng suất của quả vì cây được gieo từ hạt. Hạt giống như đứa con của chúng ta.
Đứa con có thể giống bố, có thể giống mẹ hoặc lại mang những tính trạng khác do sự sắp xếp lại gen. Các nước đã trồng mắc ca đều khẳng định rằng, mắc ca phải trồng từ cây ghép, không nên trồng từ cây thực sinh. Nhưng bây giờ ở Lâm Hà, bà con đã nhỡ trồng được 5 - 6 năm rồi, chặt đi thì tiếc quá!
Ta có thể khắc phục sai sót này bằng việc ghép cải tạo giống. Ta chặt thân cây cách mặt đất độ 2m. Phạt hết các cành trên cây. Để cho chồi mới mọc ra. Dùng mắt của các cây mắc ca tốt ghép vào các cành non đó. Nuôi các mắt này để tạo nên các thân mắc ca mới. Việc này làm rất tốn công nhưng ta sẽ tận dụng được bộ rễ đã 5 - 6 năm rồi. Vất vả đấy nhưng còn hơn là chặt bỏ. Lỗi này một phần cũng tại ta nên bà con cố gắng khắc phục.
Bà con có thể liên hệ với Hiệp hội Mắc ca Việt Nam để được giúp đỡ. Từ nay trở đi, đã trồng mắc ca thì phải mua giống ghép của các đơn vị có uy tín, tránh mua phải giống rởm bán trôi nổi hoặc ở các cơ sở thiếu trách nhiệm.
Riêng ở Lâm Đồng, xin bà con tới vườn ươm giống mắc ca của Cty Him Lam đóng tại xã Tu Tra, huyện Đơn Dương. Đây là một vườn ươm hiện đại và khổng lồ. Họ có nguồn cây đầu dòng tốt nên đã nhân được hàng chục vạn cây mắc ca đạt yêu cầu cao. Họ sẽ ký hợp đồng trách nhiệm với bà con để đảm bảo cây giống là giống tốt. Mọi việc cần rõ ràng, trách nhiệm phải rất cao để bà con có được những mùa thu hoạch mắc ca rộn rã như những đơn vị đang thu hoạch mắc ca hiện nay.
Tại vườn mắc ca của Cty Vinamacca trồng ở Mađrăc, năm nay đã được 5 năm tuổi. Đó là một vườn mắc ca quy củ. Tuy đất ở đó không tốt, việc tưới nước không được tiến hành (vì vườn hoàn toàn nhờ nước trời) nhưng ngay từ năm thứ ba nó đã cho thu hoạch. Tới năm nay sẽ được 5 tuổi, dù phải vượt qua một thời kỳ hạn hán khốc liệt của Tây Nguyên nhưng nó vẫn cho năng suất tốt.
Giám đốc Hoàng Tùng cho tôi biết: Tuy chưa hết vụ nhưng họ đã thu được 15 tấn hạt. Với đà này, họ dự kiến năm tới sẽ thu được từ 20 - 25 tấn hạt. Tôi lại nghĩ tới bà con ở Lâm Hà. Giá có được giống tốt thì bà con ở đó bây giờ giàu to rồi.
Bác Đinh Minh Đại ở Eaka, Krông Năng, Đăk Lăk, cứ gọi điện mời tôi đến thăm. Cả gia đình bác đã trồng xen mắc ca với cà phê được 12ha. Mắc ca vươn lên, che bóng cho cà phê. Nương cà phê vừa tốt mà lại được thu cả mắc ca. Với lứa mắc ca trồng trước, nay đã được 5 năm tuổi. Vụ này bác thu hoạch được 5 - 6 tấn hạt. Bác vui lắm! Với đà này, khi tất cả mắc ca ở vườn nhà bác đã tới tuổi ra quả thì nguồn thu sẽ rất lớn. Bà con nên thu xếp tới tận vườn của bác Đại mà xem. Chắc rằng, ai cũng sẽ thích.
Anh Đồng Hữu Công ở Kbang, Gia Lai có tới 13ha mắc ca xen cà phê. Với những lứa mắc ca trồng sớm, năm nay anh thu hoạch được 2 tấn hạt. Anh mừng lắm. Từ nay trở đi, nguồn lợi từ mắc ca sẽ tăng dần lên. Khi vào mùa mắc ca, ở cả 13ha ấy đều cho quả thì anh thu bội tiền. Cây càng lớn, càng cho nhiều quả. Mà mắc ca có thể cho ta thu quả tới 50 - 60 năm.
Một trong những gia đình trồng mắc ca đầu tiên ở Đăk Lăk là gia đình anh Đinh Xuân Thu ở Krông Năng. Anh Thu chỉ trồng có 200 cây. Cây của anh đã được 10 tuổi. Năm nay anh thu được 2 tấn hạt. Nếu vườn cà phê nào cũng lấy mắc ca làm cây che tán thì thu hoạch từ mắc ca lại còn cao hơn cả cà phê.
Một địa chỉ mà ai tới thăm cũng hết lời ca ngợi là gia đình bác Nguyễn Đức Ba ở Đơn Dương, Lâm Đồng. Vườn mắc ca của bác đã được 9 - 10 tuổi. Cây nào cũng đầy quả. Hai ông bà già chỉ có việc đi nhặt quả quanh vườn mà cũng thu được bạc tỷ! Toàn bộ cơ ngơi khang trang của bác được xây từ mắc ca…
Bác Nguyễn Hữu Hòa ở Lâm Hà, Lâm Đồng, cũng là một điển hình tốt. Gia đình bác lặn lội ra tận Hà Nội để đưa giống mắc ca về trồng xen với cà phê. Được 3 năm, chúng ra bói. Tới nay, mắc ca của bác rất tốt, thu hoạch khá hơn các loại cây khác nhiều.
Gần nhà bác Hòa có anh Nguyễn Hữu Việt. Anh cũng trồng mắc ca. Với 200 cây trồng lứa đầu, năm nay anh thu được hơn 2 tấn hạt. Anh đang trồng thêm 300 cây nữa. Với 500 cây mắc ca, sau này chỉ việc “ngồi chơi… xơi mắc ca”.
Anh Trần Phúc Nguyên ở Đam Rông, Lâm Đồng, là một nông dân cao lớn, có bộ râu như ông Phi-đen ở Cuba. Năm nay anh bắt đầu được thu mắc ca. Sản lượng mới được 1 tấn, nhưng anh sẽ trồng khoảng 500 - 600 cây nữa. Như vậy thì chắc chắn sẽ giàu to.
Rất nhiều cơ sở trồng mắc ca ở Đắk Nông đã có cây ở tuổi 3, tuổi 4. Chúng bắt đầu cho thu hoạch. Anh em bên đó đang có kế hoạch trồng thêm hàng trăm hecta mắc ca nữa.
Ngược ra phía Bắc, tôi tới thăm anh Pham Hữu Tú ở Thành Mỹ, Thạch Thành, Thanh Hóa. Anh đã trồng 300 cây mắc ca trong các khu đồi quanh nhà. Năm nay, bước đầu anh đã thu được 4 tấn hạt. Anh đang tự làm giống để cung cấp cho bà con trong vùng. Tôi nhắc anh: “Ngoài này có mưa xuân, mắc ca sẽ đậu quả kém đấy”. Anh cười và bảo: “Ở đây thì làm sao mắc ca tốt được như ở Tây Nguyên. Nhưng cũng có loại cây nào ở đây cho thu nhập cao hơn mắc ca đâu!”. Anh đang tính, để cho bà con cả vùng trồng mắc ca như anh.
Vòng lên Sơn La, tôi tới thăm vườn của bác Đường Văn Thông ở ngoại ô thành phố Sơn La. Từ xa ta đã thấy vạt mắc ca của bác mọc tươi tốt trên đồi. Tôi cứ nghĩ: Giá như tất cả các quả đồi này đều được phủ kín mắc ca thì sẽ là một bước đi ngoạn mục cho Sơn La. Nó chắc chắn hơn ngô, hơn sắn… Bác Thông cho tôi biết, năm nay đã thu hoạch được 1,6 tấn quả rồi.
Tại Sơn La, tôi cũng tới thăm cơ sở sản xuất của trại 05 - 06. Anh em học viên ở đây đã trồng mắc ca rất tốt. Cây ở đây vốn đã được 5 - 6 tuổi. Giám đốc Hạnh cho tôi biết: Bây giờ mới bắt đầu thu quả. Trung bình mỗi cây cũng cho thu được 50 - 60kg.
Tôi đi tiếp lên Lạng Sơn và tới thăm cơ sở trồng mắc ca của anh Lục Văn Bằng - Giám đốc Công ty Cổ phần Định Sơn. Anh đang muốn chuyển từ ngành xây dựng sang trồng cây. Anh đưa mắc ca lên đồi. Đất ở đây xấu nhưng anh quyết cải tạo. Người ta vẫn bảo rằng, ở Lạng Sơn mưa nhiều, mắc ca không đậu quả. Thế nhưng, tại vườn của anh Bằng, mắc ca vẫn ra đầy quả. Tuy anh chưa chú ý chăm sóc cho vườn mắc ca, có chỗ cỏ cao tới ngực, thế mà mắc ca vẫn sai. Như vậy, ở Lạng Sơn vẫn có thể canh tác được mắc ca…
Từ trên đỉnh đồi biên giới phía Bắc, ta thả tầm mắt về phương Nam. Bao đổi thay đang diễn ra trên đất nước chúng ta. Một Chính phủ năng động và vì dân đang vận hành đất nước. Hãy phát huy mọi tiềm năng để đưa quê hương của chúng ra đi lên. Hy vọng, cây mắc ca sẽ đóng góp nên sự nghiệp vinh quang này! (Nông Nghiệp Việt Nam 7/9) đầu trang(
Sau gần 12 năm thực hiện, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã đi vào cuộc sống, tạo hành lang pháp lý để huyện Tân Uyên huy động nguồn lực xã hội thực hiện công tác bảo vệ, phát triển rừng. Nhờ đó đất có rừng ngày càng mở rộng, màu xanh của rừng tái sinh, rừng trồng phủ khắp núi đồi và người dân thực sự coi rừng là nguồn tài nguyên vô giá để giữ gìn, bảo vệ.
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 3/12/2004. Các nội dung của Luật được huyện quan tâm chỉ đạo thực hiện. Trong đó, công tác giao rừng được đẩy mạnh và hình thành về quyền sở hữu/quyền sử dụng của Nhà nước trên cơ sở diện tích rừng và đất lâm nghiệp đã giao khoán cho Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện.
Ông Phạm Ngọc Đoàn - Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện cho biết: Với25.200,8ha đất có rừng, 8.677,8ha đất chưa có rừng được giao quản lý, Ban chủ động xây dựng và thực hiện phương án, biện pháp bảo vệ hệ sinh thái rừng; phòng, chống chặt phá rừng, săn, bắt, bẫy động vật rừng trái phép...
Nắm vững quyền và nghĩa vụ đối với từng loại rừng để có kế hoạch thực hiện đầu tư theo khả năng của đơn vị nhằm phát triển kinh tế rừng, nâng cao thu nhập, góp phần bảo vệ và phát triển rừng. Ban còn phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện tuyên truyền, vận động người dân ký cam kết bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng. Trong năm2012, Ban đã tổ chức cho 7.332 hộ ký cam kết bảo vệ rừng đến năm 2015 đã có 10.236 hộ ký cam kết.
Chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, huyện thực hiện trồng rừng thay thế tạo điều kiện cho người dân quyền được hưởng lợi trên đất lâm nghiệp tương xứng với tiền của, công sức của hộ gia đình, cá nhân đã đầu tư vào rừng. Đối với Dự án trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển mục đích sang xây dựng công trình thủy điện Bản Chát và thủy điện Lai Châu trên địa bàn huyện Tân Uyên năm 2015 đã nghiệm thu thanh toán 516,0ha, trong đó xã Nậm Cần 125,3ha, Nậm Sỏ 390,7ha. Huyện tiến hành trồng mới, trồng lại rừng tăng từ 1.115,0ha giai đoạn năm 2005 - 2010 lên 1.857,0ha giai đoạn năm 2011- 2015.
Xác định thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng đúng đối tượng, đủ diện tích là một trong những yếu tố quan trọng động viên đồng bào các dân tộc trong huyện nâng cao ý thức bảo vệ rừng. Năm 2012, Ban Chỉ đạo chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng huyện chỉ đạo Tổ kỹ thuật huyện rà soát diện tích đủ điều kiện chi trả dịch vụ môi trường rừng; chỉ đạo UBND các xã, thị trấn xây dựng phương án khoán riêng cho từng xã, thị trấn, đơn vị chuyên môn tổng hợp xây dựng phương án khoán chung cho toàn huyện, từ đó làm cơ sở ký hợp đồng nghiệm thu, phúc tra và thanh toán cho người dân.
Năm 2012, toàn huyện giao khoán 25.869,09ha, diện tích chi trả sau nghiệm thu, phúc tra là 25.572,46ha đến năm 2015, diện tích giao khoán đạt 28.697,75ha, diện tích chi trả sau nghiệm thu, phúc tra 28.675,18ha. Theo đó, tổng chi trả dịch vụ môi trường rừng giai đoạn năm 2011 - 2015 là 51.561.301.998 đồng.
Đường lâm nghiệp, xây dựng các công trình lâm sinh: trang thiết bị cảnh báo, dự báo cháy rừng, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng và các công trình, trang thiết bị khác phục vụ quản lý, bảo vệ rừng được đầu tư cơ bản đáp ứng nhu cầu thực tế trong công tác bảo vệ rừng. Riêng năm 2015, huyện đã xây dựng các chốt gác cửa rừng tại thị trấn Tân Uyên, các xã Phúc Khoa, Trung Đồng, Hố Mít và làm đường băng trắng cản lửa vào mùa cao điểm dễ xảy ra cháy rừng.
Chỉ đạo tuyên truyền về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng qua Đài Truyền thanh - Truyền hình 2 cuộc; phát 243 tờ rơi cho Nhân dân các thôn bản; làm 96 biển tuyên truyền; 84 bảng chức năng nhiệm vụ thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại các xã, thị trấn. Tuyên truyền trực tiếp tại các buổi họp bản, buổi chi trả tiền với trên 90% hộ tham gia.
Độ che phủ của rừng của huyện tăng từ 18% (năm 2005) lên 32% (năm 2015) - đó làm minh chứng thuyết phục của việc thực thi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 trên địa bàn.
Không thể phủ nhận Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 có tác động tích cực đến công tác bảo vệ, phát triển rừng cũng như đời sống của người dân. Tuy nhiên, trong quá trình thực thi tại địa phương còn nảy sinh những bất cập cần được sửa đổi, bổ sung.
Theo ông Phạm Ngọc Đoàn, bất cập trước tiên phải kể đến vấn đề giao rừng. Theo quy định giao rừng phải xác định trữ lượng rừng và chất lượng rừng. Tuy nhiên, từ trước đến nay rừng tự nhiên giao cho hộ gia đình, cá nhân chỉ xác định diện tích rừng và trạng thái rừng; không được lượng hóa về số lượng, chất lượng gỗ, lâm sản trên diện tích khi giao, nên không có căn cứ để xác định giá trị rừng tăng thêm.
Việc chi trả dịch vụ môi trường rừng là chính sách lớn của Nhà nước mới được triển khai thực hiện từ năm 2011 trên địa bàn, vì vậy trong công tác chỉ đạo, hướng dẫn các văn bản của tỉnh, của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đôi lúc chưa kịp thời, chưa cụ thể, có những văn bản còn chồng chéo, văn bản hướng dẫn còn thay đổi nên khó khăn cho đơn vị cấp dưới trong việc thực hiện.
Trong quá trình thực hiện giao đất, giao rừng từ những năm trước đây còn có những hạn chế dẫn đến tranh chấp về quyền chủ rừng gây khó khăn trong việc rà soát diện tích, đối tượng được chi trả. Một bộ phận người dân chưa thực sự tự giác, ý thức trách nhiệm chưa cao trong việc bảo vệ rừng, còn tư tưởng phân biệt rừng của doanh nghiệp và rừng của dân quản lý, trông chờ, ỷ lại vào các chính sách hỗ trợ của Nhà nước.
Mặc dù thời gian qua đã có những nỗ lực không ngừng của các ngành, các cấp của huyện trong lĩnh vực bảo vệ rừng, nhưng nhìn chung kết quả đạt được chưa toàn diện, chuyển biến chưa căn bản. Tình trạng phá rừng, khai thác, sử dụng đất lâm nghiệp trái phép vẫn diễn ra ở một số địa phương trên địa bàn huyện. Người dân, nhất là vùng sâu, vùng xa do khó khăn trong cuộc sống, nhận thức về pháp luật chưa đầy đủ, nên vẫn tiếp tục phá rừng.
Nhiều địa phương do kinh phí hạn hẹp, chưa chú ý đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, vì vậy rất khó khăn cho công tác bảo vệ và phát triển rừng. Tình hình thời tiết diễn biến ngày càng phức tạp, khô hạn kéo dài, bão lũ xảy ra thường xuyên gây thiệt hại không nhỏ tới tài nguyên rừng. Diện tích khoanh nuôi và rừng trồng tăng lên, dẫn đến nguy cơ xảy ra cháy rừng và sinh vật hại rừng cao hơn.
Ông Phạm Ngọc Đoàn cũng cho biết thêm: Chức năng của ban quản lý rừng đặc dụng và phòng hộ là bảo vệ, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển rừng, tuy nhiên do ngân sách hạn hẹp nên chỉ tập trung vào công tác bảo vệ rừng với lực lượng chính là Hạt Kiểm lâm. Kinh phí chi hỗ trợ làm đường băng trắng cản lửa và hỗ trợ người đi chữa cháy rừng còn thấp. Chưa có kinh phí hỗ trợ nâng cấp các chốt gác cửa rừng để đảm bảo cho việc sử dụng lâu dài...
Do vậy, ngoài sự nỗ lực, cố gắng trong công tác bảo vệ, phát triển rừng của cấp ủy, chính quyền địa phương và người dân sở tại, thì những văn bản quy phạm pháp luật cần được rà soát, sửa đổi, bổ sung hàng năm phù hợp với điều kiện thực tế, để thời gian tới Luật Bảo vệ và Phát triển rừng thực sự đi vào cuộc sống, nhận được sự đồng thuận của cộng đồng. (Báo Lai Châu 8/9) đầu trang(
Giai đoạn 2008-2015, mặc dù nguồn lực đầu tư, cơ chế, chính sách còn nhiều hạn chế và chưa đồng bộ, nhưng công tác bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực.
Tỉnh ta đã từng bước thực hiện xã hội hóa phát triển lâm nghiệp, nâng cao vai trò, trách nhiệm của các hộ dân và cộng đồng trong công tác quản lý, phát triển rừng, góp phần quan trọng khôi phục diện tích rừng và cải thiện môi trường.
Đến nay, diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp của tỉnh 934.039 ha, chiếm 65% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, trong đó, diện tích rừng 681.000 ha, độ che phủ đạt 45,7%. Tuy nhiên, trên thực tế, công tác bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh trong những năm qua còn nhiều hạn chế.
Các chỉ tiêu về trồng, chăm sóc và khoanh nuôi tái sinh chưa đạt mục tiêu, vẫn còn xảy ra tình trạng phá rừng, khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, sử dụng đất quy hoạch lâm nghiệp sai mục đích. Nguồn lực đầu tư cho phát triển lâm nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu, cơ chế, chính sách chưa đồng bộ, chưa khuyến khích được các doanh nghiệp và người dân đầu tư trồng và bảo vệ rừng.
Mục tiêu đến năm 2020, tỉnh ta tập trung các nguồn lực đầu tư cho công tác khoanh nuôi tái sinh, trồng và bảo vệ rừng, phấn đấu diện tích rừng toàn tỉnh đạt 708.722 ha, trong đó 70.943 ha rừng đặc dụng, 327.855 ha rừng phòng hộ, 309.943 ha rừng sản xuất, độ che phủ đạt 50%.
Từng bước nâng cao giá trị của rừng gắn với chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chú trọng phát triển lâm sản ngoài gỗ để người trồng rừng có thu nhập từ rừng, trồng rừng thay thế diện tích cây lương thực không hiệu quả. Thực hiện gắn công tác bảo vệ và phát triển rừng với khai thác, kinh doanh chế biến tiêu thụ lâm sản, nhằm phát triển thị trường lâm sản hàng hóa, thúc đẩy kinh tế rừng phát triển bền vững. Đặc biệt, phát huy vai trò của doanh nghiệp, HTX trong công tác trồng rừng, chế biến và tiêu thụ lâm sản, tạo thêm việc làm, nâng cao đời sống cho người dân.
Kế hoạch từ nay đến năm 2020, toàn tỉnh trồng 27.000 ha rừng; trong đó, trồng rừng phòng hộ bình quân 2.200 ha/năm, rừng đặc dụng 248 ha/năm và rừng sản xuất 2.952 ha/năm. Trồng lại rừng khai thác 600 ha/năm, trồng rừng thay thế 600 ha/năm, khoanh nuôi tái sinh 106.600 rừng, cải tạo 2.950 ha rừng nghèo kiệt; làm giàu, nuôi dưỡng rừng 82.335 ha, trồng 5 triệu cây phân tán.
Đồng thời, khai thác hiệu quả rừng sản xuất, tận dụng rừng tự nhiên bảo đảm lâm sản tại chỗ cho nhân dân, đáp ứng nhu cầu của các nhà máy chế biến lâm sản, trong đó khai thác rừng trồng khoảng 36.000 m3/năm, khai thác rừng tự nhiên 60.000 m3/năm; khai thác 182 tấn nhựa thông/năm, 5 triệu cây tre, luồng và các loại cây dược liệu khác.
Hiện nay, tỉnh ta đang tập trung thực hiện quy hoạch và quản lý đất lâm nghiệp, rà soát quy hoạch đất rừng phòng hộ ít xung yếu chuyển sang quy hoạch đất rừng sản xuất để đầu tư trồng cây ăn quả, cây dược liệu và các loại cây lâm sản ngoài gỗ. Hoàn thiện công tác rà soát quy hoạch, xác lập các khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng trên địa bàn toàn tỉnh, quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững khu bảo tồn thiên nhiên Mường La.
Đặc biệt, ban hành và triển khai thực hiện tốt các cơ chế, chính sách về bảo vệ, phát triển rừng, hỗ trợ phát triển lâm sản ngoài gỗ, trồng cây ăn quả, chuyển đổi đất lâm nghiệp trồng rừng sản xuất đang canh tác nương rẫy sang trồng cây ăn quả ứng dụng công nghệ cao.
Dự kiến tổng nhu cầu vốn đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020 khoảng trên 1.000 tỷ đồng, để bảo đảm nguồn kinh phí thực hiện, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng và các địa phương tham mưu huy động các nguồn lực, lồng ghép kế hoạch bảo vệ phát triển rừng với phát triển kinh tế - xã hội và các chương trình, dự án.
Trong đó, tập trung nguồn lực thực hiện tốt các đề án, dự án trọng điểm, đầu tư trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh, phát triển cây giống, nâng cao năng lực PCCCR; xây dựng mô hình bảo vệ và phát triển rừng các hồ thủy điện, trồng cây phân tán, thực hiện tốt việc chi trả và sử dụng hiệu quả kinh phí chi trả dịch vụ môi trường rừng. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực phát triển vùng nguyên liệu, xây dựng cơ sở chế biến lâm sản, trồng và chế biến dược liệu, sản phẩm lâm sản ngoài gỗ. (Báo Sơn La 8/9) đầu trang(
Nhiều năm liền xã Ẳng Cang, huyện Mường Ảng không trồng được rừng do nhiều nguyên nhân. Năm 2016, dù không được huyện giao chỉ tiêu trồng rừng nhưng xã Ẳng Cang vẫn đăng ký trồng rừng sản xuất. Hàng trăm hộ dân ở Ẳng Cang đã đăng ký trồng rừng với mong muốn có hướng đi mới, tạo sinh kế bền vững cho cuộc sống của mình.
Những năm trước, sau mỗi vụ trồng rừng chừng vài tháng đến 1 năm thì rừng trồng ở Ẳng Cang bị chết, nếu không cũng bị gãy vì để trâu, bò phá hại. Tập quán thả rông trâu, bò chính là nguyên nhân trực tiếp làm diện tích rừng trồng mới của xã luôn về 0. Vì vậy, khi quyết tâm trồng rừng, năm 2016 chính quyền xã đã xác định, việc đầu tiên là phải nâng cao nhận thức người dân về vai trò, tầm quan trọng của rừng, hiệu quả kinh tế rừng. Đồng thời chú trọng phát triển song song giữa trồng rừng với chăn nuôi đại gia súc.
Để làm được điều đó, ngay từ đầu năm, chính quyền xã đã chỉ đạo tất cả các đoàn thể phải vào cuộc, tích cực tuyên truyền cho người dân hiểu về lợi ích của rừng, về sự lãng phí khi bỏ hoang đất nương và giá trị kinh tế của cây lấy gỗ. Và việc thứ hai là chính bản thân cán bộ xã phải vận động gia đình đăng ký trồng rừng trên diện tích nương bạc màu. Rút kinh nghiệm từ việc trồng rừng rải rác như vài năm trước dễ bị gia súc phá hại, xã đã chọn trồng rừng tập trung tại bản Kéo và Co En.
Sau khi tuyên truyền, vận động người dân tham gia, xã phối hợp với Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông nghiệp huyện thực hiện khảo sát, đo đạc và tập huấn kỹ thuật trồng rừng cho nhân dân 2 bản. Ban đầu trồng thí điểm 49,37ha cây keo tai tượng, sau 1 - 2 năm sẽ đánh giá sự phát triển của cây và rút kinh nghiệm.
Nếu hiệu quả và có đầu ra cho cây gỗ sẽ mở rộng diện tích ra các bản khác trong xã. Để nâng cao công tác quản lý diện tích rừng trồng, xã đã hướng dẫn các bản xây dựng hương ước, các hộ dân cam kết không thả rông trâu, bò và phân khu chăm sóc, bảo vệ cụ thể.
Kể lại việc trồng rừng vừa qua của xã mình, ông Lù Văn Thưởng, Phó Chủ tịch UBND xã Ẳng Cang rất tự hào, bởi không chỉ hơn 49ha nương bạc màu đã được phủ kín bằng cây keo tai tượng mà còn bởi sự đoàn kết, san sẻ giữa cán bộ và nhân dân đã làm lên những đồi keo đã bén rễ đâm chồi.
Ông cho biết: “Tất cả cán bộ xã, đoàn thể là: Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Ban Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, lực lượng dân quân, công an viên… đều tích cực cùng bà con tham gia trồng rừng. Từ tháng 6 đến nay, cả lãnh đạo xã cùng cán bộ các hội đoàn thể đã đóng góp hơn 10 buổi công lao động với trên 500 lượt người tham gia giúp các gia đình neo đơn, có hoàn cảnh khó khăn, thiếu nhân công làm đường lên nương, phát dọn thực bì, đào hố, trồng cây, dọn cỏ. Đoàn Thanh niên là một trong những tổ chức tích cực nhất, xung kích trong phong trào giúp dân trồng rừng. Đoàn đã huy động hơn 200 lượt đoàn viên làm 2km đường lên rừng cây cho bản Kéo và Co En; giúp 10 gia đình có hoàn cảnh khó khăn trồng 8ha rừng (trên 3.000 cây/1ha)”.
Anh Lù Văn Hùng, Bí thư Đoàn, chia sẻ: Để giúp người dân, chúng tôi đã chủ động học kỹ thuật trồng cây, phổ biến cho đoàn viên, thanh niên cách trồng và chăm sóc. Thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục sát cánh cùng các hộ dân, hỗ trợ họ chăm sóc, bảo vệ diện tích đã trồng để rừng cây này thực sự đem lại hiệu quả kinh tế”.
Đến thăm diện tích rừng sản xuất của bản Kéo, chúng tôi gặp người dân đang rẫy cỏ chăm sóc diện tích cây mới trồng. Mấy quả đồi liền kề ở bản Kéo nay đã phủ đều màu xanh của những cây keo tai tượng cao chừng 60 - 80cm. Trước kia cũng trên diện tích này, người dân trồng ngô, cả hecta mới thu hoạch được 40 bao ngô hạt; đất lại bạc màu, 2 - 3 năm phải luân canh. Không có rừng nên không giữ được nước cho diện tích ruộng phía dưới chân đồi nên sản xuất lúa của bản vô cùng khó khăn, năng suất năm nào cũng thấp.
Vì vậy, khi quyết tâm trồng rừng sản xuất, người dân xã Ẳng Cang khá kỳ vọng vào việc trồng cây lấy gỗ sẽ đem lại hiệu quả hơn. Bà Lò Thị Ọi, Bí thư bản, cho biết: Ban đầu, nhiều hộ dân còn e dè, lo cây bị chết thì phí công sức và lỡ một mùa ngô nhưng được cán bộ huyện, xã trao đổi, hướng dẫn cách trồng và hứa giúp công lao động, họ đã quyết định trồng rừng. Có những hộ đăng ký trồng nhiều như gia đình ông Lò Văn Thu, Quàng Văn Hoa, trên 2ha/hộ. Gần 10 gia đình có hoàn cảnh khó khăn trong xã thiếu lao động được các lực lượng đoàn viên giúp phát dọn, đào hố, trồng cây. Nhờ vậy, cả bản đều trồng xong cùng một thời gian, cây phát triển đều.
Mới hơn 2 tháng từ khi những cây keo tai tượng được trồng xuống, dù hiệu quả kinh tế phải một thời gian nữa mới thấy, nhưng điều quan trọng là đã thay đổi được thói quen, tập quán trong chăn nuôi, trồng trọt của người dân. Thành quả ấy được tạo nên từ sự tiên phong của các cán bộ, đảng viên vì dân, gần dân ở xã Ẳng Cang, sự chung sức, đoàn kết giữa nhân dân và cán bộ. Điều ấy cho chúng ta cơ sở để kỳ vọng những rừng cây này sẽ phát triển tốt, tạo nguồn thu nhập mới, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. (Báo Điện Biên Phủ 8/9) đầu trang(
Qua tìm hiểu, không chỉ riêng ở huyện Quỳ Châu xảy ra vấn nạn mua bán, chuyển nhượng “chui”, chuyển đổi trái phép mục đích sử dụng đất rừng, mà tại nhiều huyện trong tỉnh, từ vùng núi đến miền biển cũng có tình trạng này.
Ngược lên Đôn Phục, xã vùng cao 135 của huyện Con Cuông, người dân và cán bộ nơi này không ngần ngại nói rõ về nạn mua bán, chuyển nhượng “chui” và những vụ việc chuyển đổi trái phép mục đích sử dụng đất rừng. Đôn Phục có 8786,2 ha đất lâm nghiệp và đất rừng, trong đó có 3969,9 ha đã được giao cho dân (đã cấp Giấy chứng nhận QSD đất).
Qua rà soát, xác định được có 36 hộ dân chuyển nhượng “chui” đất rừng cho 8 đối tượng trong và ngoài địa bàn huyện với diện tích lên đến trên 300 ha. Phó Chủ tịch UBND xã Đôn Phục Vi Văn Đức cho hay: Trong những người nhận chuyển nhượng “chui”, có các ông Phan Xuân Thủy và Lê Văn Cự đã thực hiện phát lộng rừng có trạng thái cây hỗn giao và một ít cây gỗ nhưng chưa thực hiện thiết kế làm giàu rừng, tái sinh rừng. Khi phát hiện sự việc này, xã đã đình chỉ và phối hợp Hạt Kiểm lâm xử phạt...
Ở huyện Con Cuông, qua rà soát vào tháng 4/2016, xã Bình Chuẩn có đến 85 hộ đã chuyển nhượng “chui” 1.100,5 ha đất rừng, xã Thạch Ngàn có 629,9 ha/59 hộ, xã Môn Sơn có 133,5 ha/25 hộ, xã Lục Dạ có 148,9 ha/32 hộ…
Trong số này đáng quan ngại nhất là ở địa bàn xã Thạch Ngàn. Bởi đối tượng nhận chuyển nhượng “chui” đất rừng là người ngoài địa bàn huyện. Sau khi nhận chuyển nhượng, để thực hiện mục tiêu trồng rừng nguyên liệu, có dấu hiệu cho thấy một số đối tượng nhận chuyển nhượng đã tổ chức thuê người bản địa làm nghèo rừng bằng cách chặt tỉa cây gỗ, thực hiện hành vi đốt rừng.
Một số cán bộ từng tham gia chữa cháy rừng ở Thạch Ngàn cho biết: thời gian qua, ở Thạch Ngàn xuất hiện những vụ cháy rừng nhưng hầu như người dân không ai quan tâm vì “có phải rừng của chúng tôi nữa đâu…”. Thế nên, chỉ có cán bộ huyện, xã phối hợp với các lực lượng chức năng vào rừng dập lửa.
Ở huyện Quế Phong, nhắc về chuyện “gom” đất rừng trái phép, người dân thường kể về vụ việc 29 hộ dân Nậm Giải “bán bìa đỏ” cho doanh nghiệp Phong Vân. Đây là câu chuyện mà một số cơ quan báo chí đã thông tin, cho rằng “người dân mất cần câu vì hiện tượng đầu cơ, trục lợi”, hay “cơ quan tỉnh Nghệ An không nghe, không thấy những chiêu trò cướp rừng”… Huyện Quế Phong đã vào cuộc khá quyết liệt để xác minh vụ việc này, khẳng định việc chuyển nhượng chưa được thực hiện theo quy định của pháp luật, và trái với quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Cũng từ vụ việc ở Nậm Giải, bên cạnh có sự chỉ đạo của UBND huyện, Hạt Kiểm lâm Quế Phong cũng nhận được yêu cầu của Chi cục Kiểm lâm nắm bắt thông tin mua bán đất rừng trái phép. Sau khi rà soát, phát hiện có tất cả 151 hộ gia đình thực hiện hành vi này. Trong đó, nhiều hộ gia đình bán đất rừng với diện tích lớn, lên đến hàng chục ha. Những tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi “gom” đất rừng trái phép nổi lên ngoài doanh nghiệp Phong Vân có cả ông Phan Bá Giang ở xã Châu Bình (Quỳ Châu) (thực hiện “gom” đất rừng tại xã Đồng Văn và xã biên giới Thông Thụ).
Theo một cán bộ ở UBND huyện Quế Phong, về hiện trạng rừng, qua kiểm tra hầu như không có tình trạng chuyển đổi mục đích sử dụng trái phép. Nguyên nhân xác minh được là vì những người nhận chuyển nhượng đa phần “đi tắt, đón đầu”; nắm bắt thông tin các chương trình, dự án hy vọng được hưởng đền bù giải phóng mặt bằng…
Thời điểm này, tại vùng rừng đầu nguồn hồ Vực Mấu thuộc địa bàn xã Quỳnh Tân (Quỳnh Lưu) lại xảy ra vụ việc một số hộ dân thực hiện hành vi phá rừng. Theo báo cáo của lực lượng chức năng tham gia xử lý vụ việc, rừng phòng hộ bị xẻ phát tại 4 khu vực rộng 5,83 ha thuộc khoảnh 3 và 4 của tiểu khu 343A.
Trạng thái của rừng, theo bản đồ quy hoạch ba loại rừng năm 2014 thì khu vực này là rừng IIA và thông, keo. Và với việc xẻ phát rừng phòng hộ để trồng keo với diện tích như vậy đã vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, vượt mức xử phạt vi phạm hành chính nên hồ sơ đã được chuyển cơ quan điều tra…
Về vùng rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Vực Mấu xã Quỳnh Tân, hiện trạng chung dễ thấy là rất hiếm rừng tự nhiên. Ở đây, có vài khu rừng dẻ tái sinh, rừng thông và loại rừng nghèo gồm cây leo bụi rậm cùng cây gỗ tạp nhỏ; còn lại cơ bản là rừng keo (keo của dân và keo xen cây sao đen trồng theo Dự án Jica của Ban Quản lý rừng phòng hộ Quỳnh Lưu).
Tại vùng Rú Cấm - khu vực xảy ra vụ việc, rừng phòng hộ cũng thực trạng này, bên cạnh đó, đan xen nhiều khoảng đất đồi trống. Những người đã xẻ phát rừng là các ông Hồ Trọng Lực, Nguyễn Đình Thái, Hồ Trọng Hoàng, Nguyễn Đình Duyên... đều được Ban Quản lý rừng phòng hộ Quỳnh Lưu hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng.
Đến nay, họ đều nhận thức là đã vi phạm pháp luật. Nhưng họ cũng nêu một nguyên nhân chính yếu đáng suy nghĩ là thực trạng chung trong vùng rừng phòng hộ hồ Vực Mấu đều trồng keo; trong khi nơi họ nhận bảo vệ, cơ bản là rừng nghèo kiệt cây leo bụi rậm và đất trống nên đã xẻ phát để trồng keo… cho đẹp rừng!
Tìm hiểu tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Quỳnh Lưu, được biết đơn vị này được thành lập năm 2007, quản lý toàn bộ trên 5.000 ha rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu và TX. Hoàng Mai. Tiếng là vậy, nhưng trong đó, rừng và đất rừng phòng hộ theo quy hoạch có đến phân nửa do người dân quản lý và đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận QSD đất, hoặc các loại giấy tờ khác.
Có 331,1ha được giao cho hộ gia đình theo Nghị định 163 CP; 442,1812 ha được giao hộ gia đình theo Nghị định 02 CP; 651,4 ha được giao hộ gia đình theo Quyết định 184-HĐBT; 22,7 ha được cấp khế ước giao đất có rừng cho hộ gia đình theo Nghị định 01 CP; 1.167,6 ha được Hạt Kiểm lâm Quỳnh Lưu giao khoán khế ước cho hộ gia đình (tạm giao); và, có 220 ha bị các hộ gia đình Nghĩa Đàn xâm canh.
Do trong tương lai gần, Ban Quản lý rừng phòng hộ Quỳnh Lưu sẽ sáp nhập với Công ty MTV lâm nghiệp Quỳnh Lưu, nên đơn vị này đã tiến hành rà soát lại toàn bộ hiện trạng đất rừng phòng hộ. Kết quả trong tổng diện tích hơn 5060 ha thuộc quyền “quản lý” có 3111,67 ha có rừng (trong đó, chỉ có 873,76 ha rừng tự nhiên, còn lại là rừng trồng gồm các loại cây thông, sao đen và… keo). Phần diện tích còn lại 1744,56 ha không có rừng, có 704,9 ha đã trồng rừng; 635,1ha đất trống; 404,56 ha đất nông nghiệp; và 220,2 ha đất khác. Và tổng diện tích đất và rừng phòng hộ do dân nắm giữ cần phải thu hồi là 2.183 ha.
Vậy vụ việc xẻ phát rừng và trồng keo trái phép trên đất rừng phòng hộ sẽ được xử lý như thế nào? Theo ông Trần Huy Đạt - Trưởng phòng Kế hoạch kỹ thuật Ban Quản lý rừng phòng hộ Quỳnh Lưu, khi nhận được tin báo, Ban đã phối hợp chính quyền địa phương lập biên bản đình chỉ và báo cáo sự việc lên cấp trên, còn “Kiểm lâm và Công an Quỳnh Lưu cũng đang điều tra, gọi hỏi những người có liên quan. Xử lý như thế nào còn chờ kết quả điều tra…”.
Đất rừng phòng hộ do đơn vị quản lý, có giao khoán bảo vệ rừng còn xảy ra tình trạng tự ý phá rừng, vậy với những diện tích người dân nắm giữ sẽ quản lý ra sao? “Đây là vấn đề hết sức phức tạp của Ban Quản lý rừng phòng hộ Quỳnh Lưu. Từ vài năm qua, chúng tôi đã  rà soát  hiện trạng sử dụng đất và báo cáo lên cấp trên nhưng không được giải quyết. Một thực tế là đất rừng phòng hộ nhưng có nhiều diện tích người dân hiện đang canh tác cây nông nghiệp như: dứa, sắn, mía hoặc cây nguyên liệu…” - ông Đạt trao đổi.
Vậy ở Quỳnh Lưu và TX. Hoàng Mai có tình trạng người dân mua bán, chuyển nhượng “chui” đất rừng phòng hộ hay không? Trưởng phòng Kế hoạch kỹ thuật Trần Huy Đạt trả lời: “Chúng tôi cũng đã nhận được công văn của UBND TX. Hoàng Mai về nội dung này. Nhưng để rà soát việc mua bán, chuyển nhượng “chui” là rất khó, vì vậy cần phải có thời gian. Cá nhân tôi nghĩ thì có nhiều. Vì thực tế có những hộ gia đình đã xẻ đất rừng được nhà nước giao để chuyển nhượng “chui” cho nhiều người…”.
Năm 2012 - 2013, vùng rừng phòng hộ hồ Vực Mấu từng xảy ra vụ việc một số hộ dân xóm 12, 13 xã Quỳnh Trang kéo lên khu vực đồi đuôi Thằn Lằn chặt cây, phát, đốt thực bì với diện tích lên đến gần 15 ha để trồng cây keo. Ngày 18/9/2013, Chủ tịch UBND huyện Quỳnh Lưu đã phê bình công tác quản lý đất rừng của các đơn vị liên quan để xảy ra tình trạng các hộ dân lấn chiếm đất rừng phòng hộ, trồng cây trái phép.
Ngoài ra, có một số vụ việc phá rừng đơn lẻ như năm 2014, tại Quỳnh Trang xảy ra vụ việc ông Lê Sỹ Khang, công dân xóm 10, là người nhận khoán bảo vệ 15,2 ha rừng phòng hộ thuộc tiểu khu 342 nhưng chặt phá rừng, đốt thực bì trái phép… (Báo Nghệ An 7/9) đầu trang(
Cách đây hơn 10 năm, 32 hộ dân bản Na Ố, xã Mường Nhà (nay thuộc xã Na Tông, huyện Điện Biên) đã mạnh dạn chuyển đổi 30ha đất nương trồng sắn kém hiệu quả sang trồng cây luồng. Đến nay, rừng luồng của bản Na Ố không những góp phần phủ xanh đất trống đồi trọc mà còn giúp người dân bản Na Ố tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống.
Năm 2005, huyện Điện Biên triển khai dự án trồng rừng trên địa bàn xã, cán bộ dự án đã vận động người dân bản Na Ố chuyển đổi đất nương không hiệu quả sang trồng rừng kinh tế, tốn ít chi phí, giống cây được Nhà nước hỗ trợ và khi rừng trưởng thành sẽ mang lại nhiều lợi ích, phục vụ trực tiếp đời sống của người dân. Vì thế, 32 hộ dân bản Na Ố đã đồng ý chuyển 30ha đất nương kém hiệu quả sang trồng cây luồng. Trung bình mỗi hộ chuyển đổi 1ha, hộ nhiều nhất chuyển đổi hơn 2ha.
Sau 10 năm chăm sóc, bảo vệ, rừng luồng của bản Na Ố đã xanh tốt và đủ tiêu chuẩn để khai thác làm nguyên liệu. Ông Lò Văn Thành, Trưởng bản Na Ố cho biết: Nhờ Nhà nước có nhiều chính sách hỗ trợ người dân trồng rừng nên người dân trong bản yên tâm trồng, chăm sóc và mở rộng diện tích rừng luồng.
Đồng thời, có sự tuyên truyền, hướng dẫn về kỹ thuật trồng, chăm sóc và phòng cháy, chữa cháy rừng của cán bộ lâm nghiệp và Hạt Kiểm lâm huyện Điện Biên nên rừng luồng của bản luôn xanh tốt. Trước đây, đến mùa măng, người dân phải đi sâu vào rừng mới kiếm được măng nhưng nay rừng luồng đã cung cấp đủ măng cho cuộc sống sinh hoạt của người dân, một số hộ dư thừa, đem bán măng tươi hoặc làm măng khô. Người dân trong xã Na Tông và các xã lân cận thường xuyên đến bản mua cây luồng để làm cốt pha, cọc chống xây dựng.
Hiện nay, bản Na Ố có hộ gia đình ông Lò Văn Tiêng có diện tích trồng luồng lớn nhất bản, với 2,5ha. Ông Tiêng cho biết: Năm 2005, được Nhà nước hỗ trợ giống cây, hướng dẫn kỹ thuật nên tôi đã chuyển đổi 2,5ha đất nương kém hiệu quả sang trồng luồng. Đến nay, rừng luồng đã trưởng thành và mang lại nhiều nguồn lợi cho gia đình như: cung cấp măng phục vụ bữa ăn của gia đình và để bán. Mỗi năm gia đình tôi thu được từ 2 – 3 triệu đồng tiền bán cây luồng để làm cốt pha xây dựng.
Rừng luồng đã và đang mang lại những lợi ích tác động trực tiếp đến cuộc sống của người dân bản Na Ố. Đặc biệt là, rừng luồng đã đủ điều kiện khai thác làm nguyên liệu sản xuất giấy. Hiện nay, người dân bản Na Ố đang đề nghị và mong muốn huyện Điện Biên sớm hướng dẫn người dân hoàn thiện thủ tục để tiến hành khai thác làm nguyên liệu. (Báo Điện Biên 7/9) đầu trang(
Nhiều nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu trên địa bàn tỉnh ra đời, nhu cầu tiêu thụ các loại gỗ rừng trồng ngày càng lớn, tạo cơ hội cho các hộ dân phát triển rừng kinh tế.
Phong Điền là một trong những địa phương có diện tích rừng trồng nhiều, với trên 19 ngàn ha, gồm hai loại cây chủ lực là keo và thông. Trước đây, trên địa bàn chưa có nhà máy chế biến gỗ, các hộ dân gặp nhiều khó khăn, phải vận chuyển gỗ sau khai thác về huyện Phú Lộc hoặc ra tỉnh Quảng Trị tiêu thụ.
Tháng 11/2015, Công ty TNHH Chế biến gỗ xuất khẩu Phúc Thịnh (Công ty Phúc Thịnh) tại xã Phong An ra đời, góp phần tiêu thụ tại chỗ nguồn nguyên liệu gỗ rừng trồng cho người dân trên địa bàn huyện. DN còn tạo điều kiện cho nhiều người dân tham gia trồng rừng phát triển kinh tế bằng cách cho tạm ứng vốn đầu tư rừng, sau đó thu mua nguyên liệu.
Đi vào hoạt động gần 1 năm, nguồn nguyên liệu cung cấp cho nhà máy luôn ổn định với sản lượng 70 ngàn tấn/năm, xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Nhật và Đài Loan. “Năm 2016, công ty phấn đấu tiêu thụ 200 ngàn tấn gỗ nguyên liệu, triển khai mở rộng nhà máy với 2 dây chuyền chế biến gỗ xuất khẩu, tổng mức đầu tư trên 50 tỷ đồng, dự kiến triển khai vào năm 2017”, Trưởng phòng Tổ chức hành chính Công ty Phúc Thịnh - Phạm Bá Thuần cho biết.
Tại huyện Phú Lộc, những năm gần đây có khá nhiều DN chế biến gỗ xuất khẩu ra đời, như Hào Hưng, Pisico Huế, Phú Gia… Để đảm bảo đủ nguồn nguyên liệu phục vụ việc chế biến, nhiều DN đầu tư vốn tạm ứng cho người dân để mở rộng diện tích và chuyển đổi một số cây nông nghiệp kém hiệu quả sang trồng rừng kinh tế.
“Với dây chuyền công suất 800 tấn/ngày, để nhà máy hoạt động ổn định, DN rất chú trọng đến nguyên liệu đầu vào, đến tận địa phương, vào các hộ gia đình đặt hàng và tạm ứng vốn trước để các hộ dân yên tâm trồng rừng, nhằm đảm bảo kế hoạch xuất khẩu trên 220 ngàn tấn dăm gỗ/năm”, Tổng Giám đốc kiêm Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Hào Hưng- Thang Văn Hóa cho biết.
Trước tình hình biến động giá, các DN chế biến gỗ trên địa bàn chủ động mở rộng thị trường, xuất khẩu sang các nước “khó tính” như Nhật Bản, Đài Loan, Ấn Độ; không ép giá khi nguồn cung nguyên liệu dư thừa. Những năm gần đây nhiều DN ra đời, cạnh tranh về giá nên không lo khâu tiêu thụ, cước vận chuyển lại giảm do trồng ở đâu bán ở đó”, anh Nguyễn Văn Hùng, trú ở xã Phong An nói.
Phó Hạt trưởng phụ trách Hạt Kiểm lâm Phong Điền Nguyễn Bá Thạo cho biết: “Hiện, nhu cầu tiêu thụ các loại gỗ rừng trồng khá lớn đơn vị đang vận động và khuyến khích người dân mở rộng diện tích trồng rừng, vừa nâng cao hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường, đồng thời giải quyết việc làm cho lao động nông thôn.” (Báo Thừa Thiên – Huế 7/9) đầu trang(
Theo nhận định của chuyên gia, trước mắt các DN ngành gỗ Việt Nam cần nâng cao sức cạnh tranh bằng năng lực quản trị, nâng cao chất lượng, mẫu mã, thiết kế sao cho phù hợp với từng thị trường để làm nên bản sắc riêng cho sản phẩm đồ gỗ nội thất, mỹ nghệ của Việt Nam.
Mới đây, CTCP Gỗ An Cường đã được 2 Quỹ đầu tư (VOF thuộc VinaCapital và công ty con của Tập đoàn KfW - Đức) rót 30 triệu USD để đáp ứng tiêu chuẩn của các nhà nhập khẩu, cũng như tăng trưởng các kế hoạch kinh doanh trong tương lai, bởi các nhà đầu tư nhìn thấy tiềm năng tăng trưởng của An Cường trong lĩnh vực xuất khẩu đồ gỗ nói riêng và tương lai của ngành gỗ Việt Nam nói chung.
Tuy nhiên, việc đầu tư dưới hình thức minh bạch và cùng nhau phát triển theo hình thức hợp tác hai bên cùng có lợi này tại các DN gỗ Việt Nam không nhiều. Mà thực tế, thời gian gần đây các DN trong ngành đang phải đối mặt với nguy cơ đáng lo ngại từ sự “lấn sân”, đầu tư theo kiểu chiếm lĩnh của các đối thủ cạnh tranh, chứ không phải từ cái bắt tay của những đối tác nước ngoài.
Một số DN chế biến và xuất khẩu gỗ tại Bình Dương cho biết, thời gian qua không ít đơn hàng xuất khẩu đi Mỹ của DN trong nước đã và đang bị các DN cùng ngành của Trung Quốc "nẫng" tay trên.
Từ trước đến nay, Mỹ cũng là thị trường xuất khẩu chính của gỗ Trung Quốc, và thời gian gần đây nhiều DN sản xuất, chế biến gỗ xuất khẩu của quốc gia này đã chuyển hướng đầu tư vào Việt Nam dưới hình thức thành lập DN có vốn FDI hoặc "đội lốt" DN trong nước, mang hàng hóa sang hoàn thành nốt công đoạn cuối, đóng hàng, gắn xuất xứ, lấy C/O xuất đi từ Việt Nam nhằm hợp thức hóa sản phẩm của mình.
Hiệp hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương khẳng định, trong hơn 500 DN FDI hoạt động trong lĩnh vực chế biến xuất khẩu gỗ tại Việt Nam, có đến 1/3 DN của Trung Quốc và Đài Loan. Mỗi năm, trung bình DN gỗ của Trung Quốc xuất 12 tỷ USD/năm sang Mỹ, trong khi đó kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam sang thị trường nhiều tiềm năng này mới có khoảng hơn 2 tỷ USD/năm.
Vì vậy, dư địa để hàng hóa xuất đi từ Việt Nam vẫn còn rất nhiều, trong khi đó hiện sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu của Trung Quốc đang chịu mức thuế chống phá giá khá cao tại nước nhập khẩu. Hơn nữa, một chuyên gia về lĩnh vực này cũng phân tích rõ nguyên nhân, sở dĩ DN đồ gỗ nội thất, mỹ nghệ Trung Quốc nhắm đến Việt Nam do được hưởng những ưu đãi với mức thuế 0% từ TPP (khi có hiệu lực) đem lại tại đây.
Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP. Hồ Chí Minh (Hawa) cho rằng, việc đầu tư ồ ạt của DN Trung Quốc vào ngành gỗ tại Việt Nam không chỉ khiến các DN trong nước mất đơn hàng và chịu sự cạnh tranh khốc liệt, mà còn tiềm ẩn nguy cơ các sản phẩm đồ gỗ sẽ phải đối mặt với việc bị kiện chống bán phá giá từ một số quốc gia như Mỹ, Nhật, EU do lượng hàng xuất khẩu tăng quá nhanh và có mức giá rẻ.
Rõ ràng, nếu so về lợi thế nguồn nguyên liệu và cách thức thâm nhập, chiếm lĩnh thị trường thì các DN của Trung Quốc đang có lợi thế hơn hẳn so với DN của Việt Nam. Nếu không có biện pháp tự vệ, các DN sản xuất, chế biến gỗ trong nước sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong thời gian tới.
Theo nhận định của chuyên gia, trước mắt các DN ngành gỗ Việt Nam cần nâng cao sức cạnh tranh bằng năng lực quản trị, nâng cao chất lượng, mẫu mã, thiết kế sao cho phù hợp với từng thị trường để làm nên bản sắc riêng cho sản phẩm đồ gỗ nội thất, mỹ nghệ của Việt Nam.
Đồng thời, để được hưởng lợi từ các Hiệp định thương mại FTA, TPP thì yêu cầu về nguồn gốc xuất xứ, bảo vệ môi trường, điều kiện lao động luôn được đặt ra, đòi hỏi các DN phải tuân thủ. Đây không phải là những yêu cầu dễ dàng để thực hiện trong bối cảnh nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất còn phụ thuộc chủ yếu vào nhập khẩu.
Tuy nhiên, muốn đạt được mục tiêu, cũng như không làm mất thị trường vào tay đối thủ cạnh tranh thì các DN trong ngành cần phải nỗ lực rất nhiều, cùng với chính sách hoạch định phù hợp của Chính phủ. (Thời Báo Ngân Hàng 7/9) đầu trang(
Trước đây, báo ANTT.VN đã phản ánh về việc Công ty TNHH chế biến lâm sản Hoàng Huy tại xã Yên Hợp phá đất rừng dựng xưởng gỗ dăm trái phép.
Tháng 4/2016, chính quyền tỉnhNghệ An đã có chỉ đạo về việc xóa sổ các xưởng gỗ dăm trái phép. Song dường như chỉ đạo của UBND tỉnh Nghệ An vẫn chưa được các đơn vị chức năng trong tỉnh này nghiêm túc thực hiện, khi mà chỉ 3 tháng sau, doanh nghiệp Hoàng Huy bất ngờ “trở mình” một cách mạnh mẽ, quy mô xưởng băm dăm được mở rộng hơn. Xe chở keo ra vào liên tục, máy xay dăm hoạt động hết công suất cả ngày và đêm.
Đi trên quốc lộ 48 đoạn qua thôn Cồng, nếu ai yếu bóng vía sẽ không khỏi hoảng hốt khi nghe những tiếng “ken két” vọng ra từ những rừng keo bên đường. Hỏi ra mới biết, đó là tiếng máy nghiền gỗ dăm của doanh nghiệp Hoàng Huy hoạt động khoảng 1 tháng nay. Để tiếp cận nhà máy xay dăm của doanh nghiệp Hoàng Huy không phải là chuyện đơn giản. Lối vào nhà máy là một con đường độc đạo và luôn được tuần tra bởi những thanh niên bặm trợn, cởi trần. Mỗi khi có người lạ tiếp cận khu vực, những thanh niên này liền dành những ánh mắt “thiện chiến” như muốn xua đuổi ra khỏi địa bàn của họ.
Phải rất khó khăn PV mới có thể tiếp cận vào gần khu vực nhà máy này. Giữa những rừng keo là một xưởng gỗ dăm rộng hàng nghìn m2. Những nhà xưởng được lợp bằng bằng tôn xanh, một dây chuyền băm dăm được dựng tại đây liên tục hoạt động, những xe chở gỗ keo đã được bóc sẵn liên tục ra vào.
Từng trả lời PV, ông Kim Thanh Xuyên, trưởng phòng Công thương huyện Quỳ Hợp cho xưởng gỗ dăm của công ty Hoàng Huy xây dựng không phép.
Ở Nghệ An, không chỉ công ty Hoàng Huy xây dựng xưởng gỗ dăm trái phép, tại xã Thanh Xuân huyện Thanh Chương còn có công ty Thành Phát xây dựng trên đất chưa được cấp phép và cũng không có giấy phép xây dựng.
Công ty Thành Phát tỏ ra khá ngang ngược khi ngăn cản cơ quan chức năng vào kiểm tra. Trước đây, Phó chủ tịch huyện Thanh Chương Nguyễn Hữu Hiền cùng phóng viên đài truyền hình Nghệ An và một số đồng chí công an huyện từng trực tiếp đến xưởng Thành Phát để kiểm tra. Tuy nhiên, đoàn đã bị các bảo vệ và công nhân của xưởng này chặn không cho vào. Thậm chí, các đối tượng còn giật thẻ nhà báo của phóng viên đài truyền hình Nghệ An.
Từng trả lời PV, ông Hiền cho biết, huyện Thanh Chương đã có 2 lần đi kiểm tra và lập biên bản vi phạm hành chính “yêu cầu không sản xuất gỗ dăm và không hoạt động khi chưa đủ giấy tờ”. Lần 1 có Chủ tịch huyện và Phó chủ tịch huyện cùng đi nhưng doanh nghiệp không ký vào biên bản. Lần 2, có Phó chủ tịch huyện, công an huyện và phòng tư pháp cùng xã Thanh Xuân.
Xưởng gỗ dăm xây dựng trái phép là vậy, tỉnh Nghệ An cũng đã có chỉ đạo dẹp bỏ các xưởng gỗ dăm trái phép này. Tuy nhiên, theo khảo sát mới đây nhất của PV, công ty Thành Đạt vẫn cố tình băm dăm và vận chuyển đi bán, song dường như các đơn vị chức năng tại huyện Thanh Chương vẫn không hề hay biết. (An Ninh Tiền Tệ 7/9) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Một nghiên cứu mới công bố do Rainforest Action Network (RAN, tổ chức môi trường có trụ sở tại Mỹ) đã kêu gọi các ngân hàng dừng tiếp tay cho hành vi phá hoại rừng.
Theo một nghiên cứu mới công bố do Rainforest Action Network (RAN, tổ chức môi trường có trụ sở tại Mỹ), nhóm cộng đồng Tuk Indonesia và Công ty tư vấn Profundo của Hà Lan thực hiện, các ngân hàng đã cung cấp nguồn tài chính lên tới hàng tỷ USD cho các doanh nghiệp liên quan tới tình trạng phá hủy các khu rừng nhiệt đới ở Đông Nam Á.
Nghiên cứu trên cũng kêu gọi các ngân hàng dừng tiếp tay cho hành vi phá hoại rừng.
Những khu rừng nhiệt đới đa dạng hàng đầu thế giới nằm tại Đông Nam Á đang đứng trước nguy cơ bị phá hoại trong những năm gần đây do hoạt động mở rộng quy mô lớn của một số ngành nghề như sản xuất dầu cọ, giấy, cao su ...
Nghiên cứu trên cho hay 50 doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực trên trong giai đoạn 2010-2015 đã nhận được các khoản tín dụng thương mại và hỗ trợ tài chính lên tới ít nhất 38 tỷ USD cho hoạt động sản xuất-chế biến của họ.
Theo một cán bộ quản lý của RAN Tom Picken, nghiên cứu này cho thấy các ngân hàng tiếp tục “phớt lờ” trước các tác động của dịch vụ tài chính mà họ cung cấp đối với nạn phá rừng. Điều cần làm là đề ra các tiêu chuẩn rằng buộc trong lĩnh vực tài chính để có thể ngăn chặn tình trạng tiếp tay cho nạn phá rừng hiện nay.
Trong khi đó, Giám đốc điều hành Rahmawati Retno Winarni của Tuk Indonesia cho rằng tình trạng phá rừng và đốt rừng lấy đất canh tác trong năm 2015 và các đám cháy trong năm nay có thể được coi là một tác động kiểu như vậy song đến nay không có tổ chức tài chính nào nhận trách nhiệm đối với hành vi trên. (Vietnam +/ Ngày Nay 7/9) đầu trang(./.