Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 09 tháng 09 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Ngày 8/9 tại tỉnh Khăm-muộn, nước CHDCND Lào, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tĩnh - chương trình UN REDD đã tổ chức hội nghị đánh giá kết quả thực hiện biên bản ghi nhớ phối hợp quản lý bảo vệ rừng giữa các tỉnh Hà Tĩnh với Khăm-muộn và tỉnh Bôlikhămxay năm 2015.
Tham dự hội nghị có đại diện tổ chức nông lương liên hợp quốc khu vực Đông Nam Á, Cục thanh tra Lâm nghiệp, Cục quản lý Tài nguyên môi trường, lãnh đạo 2 tỉnh Khăm-muộn và Bôlikhămxay. Về phía Hà Tĩnh có lãnh đạo các sở:  Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Lao động Thương binh và Xã hội và Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh.
Hà Tĩnh có 145km đường biên giới và nhiều khu vực giáp ranh với các tỉnh Khăm-muộn và Bôlikhămxay, có Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo và quốc lộ 8A.  Đây là lợi thế để phát triển kinh tế xã hội, tuy nhiên cũng gặp rất nhiều khó khăn trong công tác bảo vệ rừng, nhất là việc ngăn chặn các hành vi khai thác mua bán vận chuyển gỗ, lâm sản ngoài gỗ và động vật hoang dã qua khu vực biên giới.
Thời gian qua các lực lương chức năng của 3 tỉnh đã tổ chức các cuộc hội thảo, trao đổi thông tin đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức  trong quản lý bảo vệ rừng bền vững. Lực lượng kiểm lâm 3 tỉnh đã tổ chức nhiều đợt tuần tra với thời gian hàng chục ngày trong các khu vực vùng rừng giáp ranh.
Các tỉnh cũng đã phối hợp chặt chẽ nhằm cung cấp thông tin chính xác để tiến hành kiểm tra bắt giữ xử lý các vụ việc vi phạm luật bảo vệ rừng. Trong năm 2015 và đầu năm 2016 lực lượng chức năng của các tỉnh Khăm-muộn, Bôlikhămxay và tỉnh Hà Tĩnh đã bắt giữ xử lý hàng chục vụ vi phạm luật bảo vệ rừng, tịch thu trên 3000 m3 gỗ, 21000 kg lâm sản ngoài gỗ, gần 300 kg động vật hoang dã, nộp ngân sách nhà nước hàng tỷ đồng
Tại Hội nghị lần này, đại biểu 3 tỉnh đã đề xuất giải pháp phối hợp, trao đổi, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, đồng thời ký biên bản ghi nhớ trong việc quản lý, bảo vệ rừng vùng biên giới, kiểm soát tình hình khai thác, buôn bán gỗ, lâm sản ngoài gỗ trái phép. Đấu tranh và ngăn chặn hành vi vi phạm lâm luật ở mỗi tỉnh, giải pháp cho cơ chế phối hợp quản lý bảo vệ rừng khu vực biên giới năm 2016 – 2017. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Hà Tĩnh 8/9) đầu trang(
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 191 kiểm lâm viên địa bàn (KLVĐB), phụ trách 553 xã, phường. Phát huy vai trò nòng cốt trong công tác quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR), những năm qua lực lượng KLVĐB đã đồng hành với nhân dân trong việc giữ rừng tận gốc và phát triển kinh tế rừng.
Theo đánh giá của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, hằng năm lực lượng kiểm lâm trên địa bàn tỉnh kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý hàng nghìn vụ vi phạm lâm luật, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của lực lượng KLVĐB. Chính lực lượng này đã tiên phong, phát hiện kịp thời các đối tượng xâm hại đến rừng. Để QLBVR hiệu quả, những năm qua, ngành kiểm lâm đã tăng cường lực lượng cán bộ KLVĐB tại những vùng rừng trọng yếu, thành lập thêm các chốt kiểm tra tại các khu vực trọng điểm phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép.
Cùng với việc thường xuyên phối hợp với các lực lượng của địa phương tổ chức tuần tra, truy quét, lực lượng KLVĐB còn thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục sâu rộng các văn bản quy phạm pháp luật về QLBVR đến người dân sống gần rừng, các khu bảo tồn.
Xã Cổ Lũng (Bá Thước) có Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Pù Luông, địa hình phức tạp, nhiều khe suối chia cắt, tiếp giáp nhiều khu dân cư và huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Tại khu vực rừng giáp ranh với tỉnh Hòa Bình là một trong những điểm nhạy cảm về khai thác lâm sản trái phép, canh tác nương rẫy và là khu vực cách xa trung tâm xã, nằm biệt lập trong rừng sâu, khó khăn trong việc theo dõi quản lý, giám sát.
Trước thực trạng đó, KLVĐB thường xuyên tham mưu cho cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể địa phương chủ động phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Bá Thước và Khu BTTN Pù Luông tổ chức kiểm tra an ninh rừng, kiểm tra mốc giới khu vực giáp ranh, quản lý giám sát sản xuất nương rẫy, quản lý khai thác lâm sản nhằm ngăn ngừa đến mức thấp nhất việc xảy ra vi phạm, bảo vệ rừng tại gốc.
Anh Mai Văn Am, KLVĐB phụ trách xã Cổ Lũng, cho biết: Xác định nhiệm vụ quản lý, BVR tại gốc, chúng tôi thường xuyên bám dân, bám rừng, với phương châm ba cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) với nhân dân địa phương.
Nhằm nâng cao năng lực KLVĐB các xã, hàng năm Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho KLVĐB phụ trách các xã trọng điểm an ninh rừng. Qua đó, giúp KLVĐB nắm được chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của KLVĐB cấp xã, để từ đó tham mưu cho cấp ủy đảng, chính quyền địa phương thực hiện trách nhiệm quản lý rừng và đất lâm nghiệp theo quy định của Nhà nước.
Nâng cao kỹ năng tuyên truyền, giáo dục pháp luật BVR, gắn với việc thực hiện Đề án “Tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị, đề nghị của nhân dân về công tác kiểm lâm” của Chi cục Kiểm lâm. Các trình tự và nội dung kiểm tra, giám sát thực hiện phương án quản lý gỗ làm nhà ở, quản lý cưa xăng, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến lâm sản; trình tự và nội dung kiểm tra, giám sát việc khai thác lâm sản, việc cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt là rừng sản xuất để trồng rừng có năng suất cao tại địa phương.
KLVĐB là lực lượng tham gia tích cực các hoạt động tuần tra, kiểm tra, kiểm soát rừng cùng với lực lượng chuyên trách của chính quyền địa phương; đồng thời, nắm bắt thông tin, cung cấp tin báo kịp thời, giúp chính quyền triển khai các biện pháp ngăn ngừa và xử lý.
Để KLVĐB bám cơ sở, bám rừng, cần tăng cường hơn nữa công tác đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn và kỹ năng hoạt động KLVĐB. Đồng thời, tăng cường công tác phối hợp giữa các tổ chức, đoàn thể tại cơ sở, các ngành có liên quan và chủ rừng để việc giữ rừng của lực lượng KLVĐB nói riêng, kiểm lâm nói chung ngày càng hiệu quả hơn. (Báo Thanh Hóa 8/9) đầu trang(
Thực trạng phá rừng tại Tủa Chùa và những giải pháp cần tháo gỡ là một trong hai nội dung lớn được đưa ra thảo luận công khai tại Hội nghị Giao ban báo chí tháng 8, định hướng tuyên truyền tháng 9 do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tổ chức ngày 6/9 vừa qua. Đồng chí Nguyễn Đức Vượng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì hội nghị.
Cũng tại hội nghị giao ban báo chí lần này, các cơ quan báo chí, sở, ngành đã phát biểu nhiều ý kiến liên quan đến công tác quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn thông qua vụ việc phá rừng trên địa bàn huyện Tủa Chùa, Tuần Giáo mà Thông tấn xã Việt Nam tại Điện Biên, Báo Điện Biên Phủ phản ánh. Qua đó các đơn vị liên quan đã thảo luận, tham gia ý kiến làm rõ, cụ thể các vấn đề báo chí phản ánh.
Cũng tại nội dung này, ông Lê Thanh Bình, Chủ tịch UBND huyện Tủa Chùa đã thừa nhận có tình trạng khai thác rừng trái phép tại xã Mường Đun, huyện Tủa Chùa như báo chí đã phản ánh thời gian qua. Ông Bình cũng cho biết thêm: “Vì trước đó UBND huyện nắm thông tin chưa đầy đủ qua cơ quan chức năng và chính quyền địa phương báo cáo nên đã ký văn bản yêu cầu các cơ quan báo chi phải cải chính thông tin phản ánh phá rừng nghiến tại Mường Đun, huyện Tủa Chùa. Nhưng xem những hình ảnh mà phóng viên cung cấp, mọi chuyện đã rất rõ ràng là có tình trạng phá rừng trên địa bàn huyện Tủa Chùa, do vậy UBND huyện sẽ chỉ đạo các cơ quan chức năng của huyện cùng với cấp ủy, chính quyền sẽ kiểm tra làm rõ vụ việc này; xử lý nghiêm các đối tượng có liên quan”.
Kết luận nội dung này, đồng chí Nguyễn Đức Vượng đã biểu dương cao các phóng viên tham gia phản ánh loạt bài phá rừng trên địa bàn huyện Tủa Chủa và nhấn mạnh các nội dung báo chí phản ánh hoàn toàn đúng. UBND huyện Tủa Chùa và các đơn vị liên quan phải nghiêm túc rút kinh nghiệm, khẩn trương có hướng xử lý cụ thể và báo cáo phương án giải quyết về UBND tỉnh để có những biện pháp ngăn chặn tận gốc tình trạng này. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Điện Biên 7/9) đầu trang(
Trong nhiều năm qua, ngoài sự nỗ lực bảo vệ rừng của lực lượng chức năng còn có sự đóng góp của nhân dân trong quản lý, bảo vệ rừng ở Kon Tum. Phát huy sức mạnh của toàn dân trong quản lý và bảo vệ rừng, tỉnh Kon Tum đã tăng cường tuyên truyền cho người dân bằng nhiều hình thức để họ hiểu rõ lợi ích của việc giữ rừng, giúp người dân có thêm thu nhập, ổn định đời sống nhờ giữ rừng.
Tỉnh Kon Tum hiện có hơn 600.000 ha rừng, chủ yếu là rừng tự nhiên. Trong nhiều năm qua, tỉnh Kon Tum đã phát huy sức mạnh của các già làng, trưởng bản, người có uy tín trong tuyên truyền các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh chính trị, trong đó có công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Huyện Đăk Hà gồm 10 xã và 1 thị trấn, trong đó có 9 xã có rừng với tổng diện tích rừng tự nhiên hơn 84.000 ha. Để quản lý diện tích rừng, bên cạnh các công ty, ban quản lý rừng phòng hộ, chính quyền xã thì nhân dân đóng góp phần quan trọng. Chính nhờ vào sức dân mà nhiều năm qua, những diện tích rừng của huyện luôn được bảo vệ tốt, tình trạng phá rừng làm nương rẫy, xâm lấn rừng đều được kiểm soát chặt chẽ. Bên cạnh đó, việc huy động lực lượng tham gia vào công tác phòng cháy chữa cháy rừng, trồng rừng luôn được nhân dân ủng hộ, tham gia nhiệt tình.
Để có được những kết quả đó, bên cạnh gắn lợi ích kinh tế của người dân với việc giữ rừng, tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân từ việc giữ rừng thì công tác tuyên truyền luôn được chú trọng. Đặc biệt, phát huy tiếng nói của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong các làng, xã để thực hiện tuyên truyền đến người dân cùng tham gia bảo vệ rừng.
Ông Nguyễn Văn Khiêm, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đăk Hà cho biết: “Thông qua các cuộc họp làng, họp dân, các buổi chào cờ tại các trung tâm xã chúng tôi thực hiện lồng ghép các đợt tuyên truyền về công tác quản lý, bảo vệ rừng đến với người dân. Dựa vào tiếng nói của những người có uy tín, già làng, trưởng bản, trưởng thôn để tuyên truyền có hiệu quả hơn.
Bên cạnh việc phát tờ rơi, tuyên truyền bằng panô, các đợt tuyên truyền lưu động vào mùa lễ hội của làng, các đợt họp làng chúng tôi lồng ghép để tuyên truyền. Ngoài ra, từ nguồn quỹ của dịch vụ môi trường rừng, mỗi dịp tuyên truyền chúng tôi có kinh phí sử dụng mua các đồ ăn, cấp phát cho dân làng mua dụng cụ phục vụ bảo vệ rừng, nhờ đó việc tuyên truyền cũng hiệu quả hơn rất nhiều vì người dân thấy được quyền lợi, lợi ích kinh tế khi tham gia vào giữ rừng”.
Đối với các diện tích rừng do chính quyền xã quản lý và bảo vệ, vai trò của những người có uy tín, già làng là rất lớn, trong khi cán bộ làm nhiệm vụ quản lý, tuần tra rất ít, ngoài kiểm lâm viên địa bàn phụ trách công tác tham mưu, lập kế hoạch thì xã chỉ có lực lượng dân quân tự vệ, công an viên. Tuy nhiên, việc tuần tra, bảo vệ rừng cũng gặp rất nhiều khó khăn. Trước thực tế đó, vai trò của những người có uy tín, già làng trong quản lý, bảo vệ rừng trở thành chủ lực. Từ đó để phát huy sức mạnh của cộng đồng làng, của toàn dân tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Ông Phan Thế Vinh, Phó Chủ tịch UBND xã Hiếu, huyện Kon Plông khẳng định: “Trong thời gian qua, vai trò của những già làng, trưởng bản, người có uy tín trong công tác quản lý, bảo vệ rừng là rất lớn. Nhờ đội ngũ này mà công tác tuyên truyền về lợi ích khi bảo vệ rừng đến với người dân trong làng dễ dàng và thấm nhuần hơn. Bên cạnh đó, khi huy động lực lượng tham gia vào công tác bảo vệ rừng cũng dễ dàng hơn, chỉ cần già làng lên tiếng thì người dân trong làng đều nghe theo".
Tuyên truyền về quản lý và bảo vệ rừng còn được ngành chức năng tỉnh Kon Tum tổ chức sâu rộng trong các trường học, các em học sinh góp phần chuyển tải những thông điệp về bảo vệ rừng đến với phụ huynh và người dân. Bước vào năm học mới, để góp phần hỗ trợ một phần những khó khăn cho các em học sinh vùng sâu, vùng xa, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum đã tổ chức chương trình “Đồng hành cùng em đến trường”.
Thông qua hoạt động tuyên truyền miệng, tuyên truyền trực quan, các em học sinh được tiếp cận thông tin về rừng ngay tại nơi mình sinh sống. Bên cạnh đó, các em cũng được cung cấp thêm nhiều thông tin về tầm quan trọng của rừng với vai trò là “lá phổi xanh của trái đất” cũng như trong phát triển kinh tế và giữ gìn bản sắc văn hóa của đồng bào Tây Nguyên.
Ông Hồ Thanh Hoàng, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum cho biết: “Việc tuyên tuyền qua tờ rơi áp phích hiệu quả chưa cao. Tuyên truyền bằng cách là in ấn các nội dung tuyên truyền lên bìa vở để phát cho học sinh vừa giúp cho học sinh có vở đi học. Khi kiểm tra bài vở của học sinh, phụ huynh và các thầy cô giáo cũng nắm được các thông điệp mà Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đưa ra. Mục tiêu truyền thông chúng tôi hướng đến là 106 trường tiểu học trên địa bàn các xã có cung ứng dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn toàn tỉnh”.
Không chỉ đa dạng hình thức tuyên truyền bảo vệ rừng, mang những thông điệp về bảo vệ rừng đến với tất cả mọi người dân, cộng đồng làng ở Kon Tum, chương trình “Đồng hành cùng em đến trường” còn góp phần giúp các em nghèo, có hoàn cảnh khó khăn được đến trường. Thầy Phạm Hữu Trọng, Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học Đăk K’roong, huyện Đăk Glei cho biết: Đây là hình thức tuyên truyền về bảo vệ rừng rất hữu ích và thiết thực, những quyển vở sẽ gắn liền với các em và phụ huynh trong toàn bộ năm học.
Vì vậy, hàng ngày những thông điệp về bảo vệ rừng sẽ thấm nhuần vào nhận thức của phụ huynh và học sinh theo cách “mưa dầm thấm lâu”. Đây cũng là hoạt động rất ý nghĩa để giúp đỡ các em học sinh, nhất là các em học sinh vùng sâu vùng xa khó khăn về sách vở được đến trường với đầy đủ dụng cụ học tập. (Tin Tức 9/9) đầu trang(
Tại huyện Nông Sơn, hàng chục héc ta rừng phòng hộ Khe Diên đang bị người dân địa phương đốn hạ để trồng rừng, chiếm đất.
Theo phản ảnh của người dân địa phương, tình trạng chặt phá, xâm hại rừng phòng hộ đã diễn ra nhiều năm nay tại vài địa điểm huyện Nông Sơn, cơ quan chức năng đã nhiều lần vào kiểm tra, xử lý nhưng tình trạng này vẫn tiếp tục tái diễn. Thời gian gần đây, việc chặt phá rừng để trồng keo ngay trên khu vực rừng được quy hoạch rừng có chức năng phòng hộ tiếp tục diễn ra với mức độ và quy mô lớn.
Có mặt tại tiểu khu 435 thuộc xã Phước Ninh (Nông Sơn), chúng tôi ghi nhận tình trạng rừng ở đây bị chặt phá tan hoang trong khi biển báo rừng phòng hộ cấm xâm hại được Hạt Kiểm lâm Nông Sơn đóng dọc hai bên đường vào khu vực này. Tại hiện trường, chúng tôi ghi nhận một vệt rừng lớn dọc tuyến đường từ mỏ than Nông Sơn dẫn vào nhà máy thủy điện Khe Diên đã bị đốn hạ nham nhở.
Nhiều cây gỗ lớn, một người ôm không xuể đã bị đốn hạ không thương tiếc. Toàn bộ cây rừng sau khi đốn hạ được vận chuyển đi nơi khác, cành và gốc đã bị đốn cháy rụi. Nhiều diện tích sau khi bị chặt phá, dọn sạch cây rừng đã được trồng keo thay thế. “Khu vực này bị đốn hạ cách đây mấy tháng. Người dân địa phương được thuê chặt, thu gom, đốt và trồng keo ngay sau đó. Tất cả đều diễn ra vào ban đêm” - một người dân cho biết.
Trước tình trạng này, Hạt Kiểm lâm huyện Nông Sơn đã lập tổ kiểm tra việc phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép. Theo báo cáo của tổ công tác, qua kiểm tra và đo đạc có tổng cộng 32 lô với diện tích 36ha rừng bị xâm hại. Trong đó, tiểu khu 435 và 433 thuộc xã Phước Ninh có 22 lô với diện tích 20,4ha; tiểu khu 427 thuộc xã Quế Trung bị xâm hại 10 lô với diện tích 15,6ha. Quá trình kiểm tra, tổ công tác cũng phát hiện 3 lán trại trong rừng và đã lập biên bản tiến hành tiêu hủy.
Ngoài ra phát hiện một số đối tượng phá rừng nhưng đã nhanh chóng bỏ trốn. Tổ công tác lập biên bản 4 vụ với diện tích 5,3ha có nhiều cây gỗ lớn. Số diện tích còn lại được xác định là đất chưa có rừng, chỉ có dây leo, cây bụi và rải rác một số cây gỗ lớn. Ông Nguyễn Ngọc Nguyên - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Nông Sơn cho biết, đơn vị đã phối hợp với lực lượng công an, Viện Kiểm sát huyện xác minh hiện trạng 4 lô có nhiều cây thân gỗ trên diện tích bị chặt phá trái phép.
Kết quả đo đạc, tính trữ lượng đã xác định được 1 lô với diện tích 3,3ha đất chưa có rừng thuộc kiểu trạng thái 1b, còn lại 3 lô với diện tích 2ha là rừng nghèo. Hạt Kiểm lâm đang củng cố hồ sơ để xử lý theo quy định của phát luật. Ngoài ra, đơn vị đã chuyển cho xã Quế Trung 9 vụ, xã Phước Ninh 20 vụ lấn chiếm đất lâm nghiệp trái pháp luật để 2 địa phương xử lý theo thẩm quyền.
Theo ông Nguyên, hiện nay tình trạng khai thác, mua bán lâm sản trái phép trên địa bàn vẫn diễn ra do nhiều nguyên nhân như lợi nhuận cao, trong khi đó đời sống nhân dân còn khó khăn, thiếu việc làm, thiếu đất sản xuất. Một vài nơi chính quyền cấp xã chưa thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp. Riêng tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp tại xã Phước Ninh, Quế Ninh và Quế Trung do một phần các địa phương còn chậm trong công tác phối hợp với cơ quan liên quan trong vấn đề rà soát, lập phương án giao đất giao rừng cho nhân dân.
Cũng theo ông Nguyên, trong năm 2015 có 4 vụ án xâm hại, lấn chiếm đất rừng bị khởi tố, 3 vụ được đưa ra xét xử nhưng chỉ bị phạt án treo nên không đủ độ răn đe, vì vậy tình trạng phá rừng ở địa phương vẫn diễn ra phức tạp mặc dù lực lượng kiểm lâm và chính quyền địa phương đã nỗ lực tuyên truyền, vận động. (Báo Quảng Nam 8/9) đầu trang(
Hơn 7ha rừng phòng hộ khu di tích bị phá, nhiều cá nhân, tổ chức đã bị xử lý trách nhiệm nhưng những kết luận và hình thức xử lý ấy lại khiến nhiều người trong cuộc chưa thấy tâm phục, khẩu phục
Rừng Khuôn Mánh là nơi Trung đội Cứu Quốc quân 2 (một trong những đội tiền thân của Quân đội Nhân dân Viêt Nam) thành lập tháng 9/1941. Năm 1994, Bộ Văn hóa Thông tin (Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch ngày nay) đã có quyết định công nhận đây là Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Từ đó, khu di tích được đầu tư xây dựng với các hạng mục, như: Tháp đài, bia ghi tên những chiến sĩ trong Trung đội Cứu quốc quân 2. Để bảo vệ các hạng mục và cảnh quan tại Khu di tích, năm 2013, xã Tràng Xá đã thuê 1 người dân địa phương trông coi, tới năm 2015, UBND huyện Võ Nhai ký hợp đồng lao động với người trông coi trên (mức hỗ trợ là mức lương cơ bản) để bảo vệ và quản lý khu di tích. Tuy vậy, rừng quanh khu di tích vẫn bị khai thác…
Theo một số người dân địa phương, tình trạng khai thác rừng bao quanh Khu di tích lịch sử nơi thành lập Trung đội Cứu quốc quân 2 xảy ra từ đầu tháng 1/2016 đến tận trung tuần tháng 5/2016, sự việc mới bị phát hiện và chỉ trong thời gian ngắn, một diện tích lớn rừng thuộc Khu di tích lịch sử rừng Khuôn Mánh (thuộc xã Tràng Xá huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên) đã bị một số cá nhân chặt hạ, đốt phá trơ trụi....
Theo bản khảo sát và quy định các khu vực bảo vệ di tích rừng Khuôn Mánh gồm 2 khu vực. Khu vực khu bất khả xâm phạm và khu vực bảo vệ. Tổng diện tích 2 khu vực nói trên là 17.662 mét vuông. Dù được gọi là rừng phòng hộ di tích nhưng toàn bộ diện tích nói trên đã được phủ rừng trồng bằng Dự án 661 từ năm 2006. Theo đó, ngày 29/05/2015, Sở NN & PTNT tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định 322 phê duyệt hồ sơ thiết kế và cấp phép khai thác tỉa thưa rừng trồng với diện tích 11,67 ha, tương đương 368 mét khối gỗ; Quyết định 638 ngày 14/10/2015 cho khai thác 7,38 ha, khối lượng 243,4 mét khối gỗ.
Kiểm tra tình trạng phá rừng và vị trí cấp phép khai thác của 02 giấy phép trên, sở NN & PTNT Thái Nguyên đã khẳng định : Xác định vị trí tọa độ GPS và đối chiếu với vị trí tọa độ bản đồ thiết kế khai thác thì các lô khai thác theo 02 quyết định của Sở đều ở ngoài khu vực bất khả xâm phạm và khu vực bảo vệ di tích rừng Khuôn Mánh.
Trái ngược với xác nhận từ phía sở NN & PTNT, trước đó, UBND huyện Võ Nhai lại khẳng định, 02 khu vực được cấp phép khai thác đã lấn một phần vào khu vực bảo vệ của di tích. Cụ thể là tại 02 thửa số 13 và số 17, khoảnh 03, tiểu khu 107. Điều đặc biệt là báo cáo của UBND huyện Võ Nhai khi kiểm tra hiện trường vào ngày 13/07 phối hợp với chính Chi cục kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên cũng khẳng định quyết định cấp phép vào khu vực bảo vệ của di tích đã được khoanh vùng.
Ngày 29/12/2015, nhận thấy tình trạng khai thác rừng chạm đến chân di tích, UBND xã Tràng Xá đã có công văn phản ánh và đề nghị Hạt kiểm lâm Võ Nhai, UBND huyện Võ Nhai xem xét cho ý kiến về diện tích mà sở NN & PTNT cho khai thác nằm trong khu vực bất khả xâm phạm của khu di tích lịch sử rừng Khuôn Mánh, đó là lô 13 và lô 17, tờ bản đồ 01, tiểu khu 107.
Không những thế, các báo của của UBND huyện Võ Nhai và xác nhận của UBND xã Tràng Xá đều cho rằng, 02 giấy phép khai thác của sở NN & PTNT đều không được gửi, không được thông qua chính quyền cơ sở nên địa phương không biết và không thể phối hợp giám sát quá trình khai thác. Khi phát hiện tình trạng rừng di tích bị phá tan hoang thì cả huyện, xã đều cho rằng trách nhiệm lớn thuộc về cơ quan thường trực trong công tác quản lý bảo vệ rừng.
Ông Phạm Việt Tiến (Phó Chủ tịch UBND huyện Võ Nhai) đã khẳng định, việc giám sát khai thác được giao cho Hạt Kiểm lâm huyện Võ Nhai mà trực tiếp là kiểm lâm viên địa bàn. Mặc dù trạm kiểm lâm Tràng Xá chỉ cách rừng Khuôn Mánh chưa đầy 3 km, đường xá đi lại thuận tiện, nhưng việc giám sát khai thác đã bị buông lỏng.
Báo cáo số 1370 của Sở NN & PTNT tỉnh Thái Nguyên cho biết, việc phê duyệt hồ sơ, cấp phép khai thác và trả kết quả đối với 02 giấy phép khai thác của sở này được thực hiện đúng quy định. Hạt kiểm lâm Võ Nhai và kiểm lâm địa bàn đã tiến hành các thủ tục kiểm tra, giám sát khai thác.
Việc khai thác trái phép xảy ra vào thời điểm tháng 04/2016, tức là sau khi việc khai thác tỉa thưa theo giấy phép đã hoàn tất. Và, theo đó, với việc xác định lại thời điểm khai thác trái phép (tháng 04/2016), sau khi việc khai thác tỉa thưa đã hoàn tất thì rõ ràng quả bóng trách nhiệm đã được đẩy về phía cơ sở- cấp “bé” nhất không biết kêu vào đâu! (Xây Dựng 9/9) đầu trang(
Báo Thanh tra ngày 13/5/2016 có bài “Rừng Hà Tĩnh bị phá như không có chủ”, phản ánh hàng trăm ha rừng, hàng nghìn m3 gỗ bị lâm tặc chiếm đoạt; cán bộ kiểm lâm đã thừa nhận một phần sự thật.
Chúng tôi đã có văn bản gửi UBND tỉnh Hà Tĩnh đề nghị kiểm tra, xử lý và thông báo kết quả. Hơn 100 ngày trôi qua, UBND tỉnh Hà Tĩnh vẫn "lặng như tờ", trong khi nhiều tình tiết mới dần được hé lộ.
Ông Đặng Hữu Liên, cán bộ hưu trí (Khối 17, thị trấn Hương Khê) có gần 43 năm công tác trong ngành Lâm nghiệp, trong đó gần 20 năm làm Giám đốc Lâm trường Hà Đông và là Trưởng Ban Quản lý Rừng phòng hộ (RPH) sông Ngàn Sâu, cho biết, ông nhói lòng khi nhìn thấy hàng trăm ha rừng bị chặt lấy gỗ và chiếm dụng đất trong khi chủ rừng và ngành Lâm nghiệp đã buông lỏng quản lý và có dấu hiệu bắt tay với lâm tặc. Đó là lý do ông Liên đã viết đơn kiến nghị, đơn tố cáo từ huyện lên đến tỉnh trong 3 năm qua.
Ngày 29/3/2016, Hạt Kiểm lâm Hương Khê có Báo cáo số 24BC-KL thừa nhận “tại Tiểu khu 251A, 257 đã có 171,32ha rừng bị chặt phá và lấn chiếm đất trồng rừng trái phép, trong đó có 127,9ha là RPH. Rừng bị chặt phá chủ yếu từ năm 2013 trở về trước”. Kiểm lâm thừa nhận, ở khu vực rừng thưa cây cũng đạt tới 13 - 14m3 gỗ/ha. Như vậy, cũng có tới 2.000m3 gỗ bị chiếm. Thiệt hại là rất lớn, nhưng đó là con số của năm 2013 trở về trước.
Còn năm 2014, 2015 và 6 tháng đầu năm 2016, tình trạng chặt phá rừng vẫn diễn biến phức tạp, lan rộng thì phía cơ quan chức năng tỉnh Hà Tĩnh “ỉm” số liệu.
Điều đáng nói là, trong báo cáo của Hạt Kiểm lâm Hương Khê có 13 đối tượng tự công nhận phá rừng, chiếm đất trồng rừng trái phép 32,2ha tại Tiểu khu 251A và nhiều đối tượng khác trực tiếp phá 127,9ha RPH (trong tổng số 171,32ha rừng).
Vậy, tại sao Hạt Kiểm lâm không xử lý hoặc đề xuất xử lý đối với nhóm đối tượng vi phạm này? Nhiều người dân Hương Khê nói riêng và Hà Tĩnh bức xúc khi cơ quan chức năng của tỉnh có cách làm “không giống ai” trong xử lý vi phạm.
Cùng trên địa bàn huyện Hương Khê, bà Nguyễn Thị Hiền ở xã Hương Lâm  thuê người phát hơn 1ha rừng kinh tế để trồng keo thì bị tòa xử phạt 4 năm tù giam. Vậy, những người quản lý rừng, bảo vệ rừng chịu trách nhiệm đến đâu khi 171,32ha rừng bị chặt phá, chiếm đất và 2.000m3 gỗ bị chiếm dụng? 13 đối tượng phá RPH tự nhận, xử lý sai phạm của nhóm đối tượng này ở mức nào? Những bất cập trên đây UBND tỉnh Hà Tĩnh có biết?
Trong khi những vấn đề nóng mà Báo Thanh tra đang tiếp tục làm rõ, thì những thông tin mới làm hé lộ việc yếu kém, dấu hiệu gian lận trong quản lý đất và rừng ở Hà Tĩnh đã có từ trước năm 2010. Vụ việc động trời là: Sai phạm trong việc chuyển đổi rừng tại Ban Quản lý RPH Ngàn Sâu.
Khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép, cuối năm 2009, Ban Quản lý RPH Ngàn Sâu tự ý lập văn bản cắt đất sai thẩm quyền, chuyển 1.436,4ha rừng cho Công ty Cao su Hà Tĩnh, trong đó gần một nửa diện tích thuộc đất và rừng trồng của các hộ công nhân được giao khoán theo Nghị định 135. Đổi lại, Công ty Cao su Hà Tĩnh “trả” cho Ban Quản lý RPH Ngàn Sâu hơn 5 tỷ đồng dưới hình thức hỗ trợ thu hồi đất!
Một số người dân hiện tại vẫn đang yêu cầu làm rõ việc chi trả, sử dụng khoản tiền 5 tỷ đồng nói trên.
Ông Đặng Hữu Liên cho biết, đã gửi đơn tố cáo đến Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Hà Tĩnh hơn 1 năm nay nhưng các cơ quan trên vẫn chưa có thông báo trả lời đơn tố cáo hoặc các cơ quan chuyên trách được tỉnh giao trả lời đơn. Như vậy, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã vi phạm Điều 21 (thời hạn giải quyết tố cáo) Luật Tố cáo năm 2011: “Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo”.
Đồng thời, UBND tỉnh Hà Tĩnh vi phạm quy định tại Điều 3, Nghị định 51/2002 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Báo chí để trả lời Báo Thanh tra: “Khi cơ quan Nhà nước, tổ chức Đảng, tổ chức xã hội (gọi chung là tổ chức) và người có chức vụ nhận được ý kiến, kiến nghị, phê bình, khiếu nại của tổ chức, công dân, tố cáo của công dân do cơ quan báo chí chuyển đến hoặc đăng, phát trên báo chí, trong thời hạn ba mươi (30) ngày, kể từ ngày nhận được hoặc từ ngày báo chí đăng, phát thì người đứng đầu tổ chức, người có chức vụ phải thông báo cho cơ quan báo chí kết quả hoặc biện pháp giải quyết. Nếu quá thời hạn nêu trên mà không nhận được thông báo của người đứng đầu tổ chức, người có chức vụ thì cơ quan báo chí có quyền chuyển ý kiến, kiến nghị, phê bình, khiếu nại, tố cáo của công dân đến cơ quan cấp cao hơn có thẩm quyền giải quyết hoặc đưa vấn đề đó lên báo chí”. (Thanh Tra 9/9) đầu trang(
Cán bộ xã trực tiếp làm hồ sơ ma, sau đó cán bộ huyện tiếp tay để cán bộ Sở NN&PTNT thuê người triệt phá hàng chục hecta rừng.
Đại tá Mai Vĩnh Bình, Trưởng Công an huyện Sơn Hòa (Phú Yên), vừa cho biết cơ quan đã khởi tố bị can đối với ông Võ Văn Diện, cán bộ Trung tâm Quy hoạch thiết kế nông nghiệp (Sở NN&PTNT tỉnh Phú Yên), ông Đinh Văn Hùng (ngụ phường 5, TP Tuy Hòa, Phú Yên) cùng về tội hủy hoại rừng. Trước đó, vụ án này đã được Hạt Kiểm lâm huyện Sơn Hòa khởi tố, chuyển hồ sơ đến cơ quan CSĐT công an huyện để điều tra.
Theo xác định của Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Tỉnh ủy Phú Yên, ông Diện và ông Hùng đã thuê nhân công đến khu rừng Hòn Đác thuộc xã Sơn Nguyên (huyện Sơn Hòa) cưa hạ gỗ, phát dọn 33,8 ha rừng đang được khoanh nuôi, bảo vệ gây thiệt hại gần 3.000 m3 gỗ. Cơ quan chức năng cũng xác định đây là vụ phá rừng có tổ chức với sự tiếp tay của hàng loạt cán bộ từ xã đến huyện.
Trước đó, đầu năm 2015 ông Hùng gặp ông Ngô Tấn Thái, Phó Chủ tịch UBND xã, và ông Nguyễn Hồng, cán bộ địa chính xã Sơn Nguyên, nhờ hợp thức hóa các thủ tục để được Nhà nước giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN). Ông Thái lấy tên ba người thân của mình đứng tên làm thủ tục xin giao đất lâm nghiệp tại tiểu khu 192 thuộc rừng Hòn Đác. Sau đó ông Thái, ông Hồng trực tiếp làm hồ sơ…
Ông Thái cũng cung cấp thông tin về ba hộ dân để ông Hùng nhờ ông Diện làm bản trích đo địa chính đưa cho chủ tịch UBND xã ký xác nhận. Ngay trong ngày, ba hộ dân ký đơn xin giao đất, xã Sơn Nguyên triệu tập cuộc họp hội đồng xét giao đất lâm nghiệp cho ba hộ với sự tham gia của đảng ủy, UBND xã, các đoàn thể. Cuộc họp thống nhất đề nghị UBND huyện giao 75 ha rừng cho ba người trên để “khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất”. Sau đó các ông Thái, Diện làm phương án giao đất kèm tờ trình, đề nghị UBND huyện cấp GCN.
Theo kết luận của UBKT Tỉnh ủy, hồ sơ do UBND xã Sơn Nguyên trình, đề nghị UBND huyện cấp GCN có rất nhiều điều bất hợp lý. Đơn cử như đơn xin giao đất, đơn xin cấp GCN, danh sách công khai, biên bản kết thúc công khai, tờ trình của UBND xã, biên bản họp hội đồng giao đất… đều cùng một chữ viết; diện tích giao cho các hộ dân có cả diện tích do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Sơn Hòa… Tuy nhiên, khi tiếp nhận hồ sơ, ông Nguyễn Ngọc Tiến, Trưởng phòng TN&MT huyện Sơn Hòa, đã hoàn tất các thủ tục, đề nghị UBND huyện cấp GCN. Ông Tiến không giao văn phòng đăng ký đất đai thẩm định mà tự ký vào phần xác nhận của giám đốc văn phòng này.
Khi tổ chức kiểm tra thực địa, ông Tiến chỉ đạo kiểm tra theo sự hướng dẫn của ông Diện, ông Hùng dù hai người này không có nhiệm vụ. Ông Hùng dùng ô tô chở cả đoàn đi kiểm tra qua quýt rồi về. Sau đó, ông Tiến hợp thức hóa hồ sơ, tham mưu cho một phó chủ tịch UBND huyện ký các quyết định cấp GCN. Sau đó, ông Diện và ông Hùng tổ chức thuê người, đưa phương tiện vào rừng ồ ạt chặt phá, phát trắng nhưng các cơ quan chức năng huyện Sơn Hòa không hề ngăn chặn.
Sau khi vụ phá rừng nghiêm trọng trên bị báo chí phát hiện, chủ tịch UBND huyện Sơn Hòa thành lập đoàn thanh tra. Thế nhưng sau đó chủ tịch UBND huyện kết luận việc giao đất cho ba hộ dân là đúng…
Ngày 7-9, ông Tô Phương Bắc, Phó Chủ tịch UBND huyện Sơn Hòa, cho biết chủ tịch UBND huyện đã ra quyết định cách chức trưởng Phòng TN&MT đối với ông Nguyễn Ngọc Tiến, điều ông này làm nhân viên tại Phòng. Trước đó, ông Tiến đã bị Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Yên kỷ luật bằng hình thức cách hết các chức vụ trong Đảng gồm huyện ủy viên, đảng ủy viên - phó chủ nhiệm UBKT Đảng ủy cơ quan chính quyền huyện, bí thư chi bộ Phòng TN&MT.
Liên quan đến vụ phá rừng trên, hiện UBKT Tỉnh ủy đang tiến hành kiểm tra đảng viên có dấu hiệu vi phạm đối với ông Phạm Đình Phụng, huyện ủy viên, Phó Chủ tịch UBND huyện Sơn Hòa. Ngoài ra, UBKT Tỉnh ủy cũng đề nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo Ban Thường vụ Huyện ủy Sơn Hòa kiểm điểm nghiêm túc, đồng thời chỉ đạo kiểm điểm Ban Thường vụ Đảng ủy xã Sơn Nguyên.
UBKT Tỉnh ủy cũng đề nghị cơ quan thẩm quyền kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc đối với ông Ngô Tấn Thái, Phó Chủ tịch UBND xã Sơn Nguyên; có hình thức kỷ luật đối với ông Lê Hữu Thọ, nguyên Chủ tịch UBND xã (đã nghỉ hưu). (Pháp Luật TP.HCM 9/9) đầu trang(
Cơn mưa ròng rã như thử thách lòng người cuối cùng đã ngớt, nhóm PV bắt đầu cuộc hành trình vào nơi gỗ rừng đang ngày đêm bị chặt phá và gặp nhiều điều kỳ lạ..
Hành trình của nhóm PV bắt đầu một cách khá vui vẻ sau 2 ngày chờ đợi “mỏi mòn”, qua khỏi TP. Yên Bái, chúng tôi di chuyển theo con đường mòn dọc tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội.
Sau 2 tiếng đi xe, chúng tôi đã đến được ngã 3 đường rẽ vào xã Lang Thíp, mặt đường trơ đá, gập ghềnh lồi lõm đầy ổ trâu, ổ gà báo hiệu cho hành trình đầy gian nan trước mắt.
10h trưa, sau vài lần hỏi thăm đường cho chắc chắn, chiếc xe của nhóm PV được sự định hướng của người dân bản địa lầm lũi tiến thẳng vào địa phận xã Lang Thíp.
Tốc độ di chuyển của chúng tôi khá chậm vì đường rất xấu, chưa đầy 3km mà chúng tôi đã phải xuống đẩy xe 2 lần vì xe bị sa lầy. Nhiệt độ ngày càng tăng vì cái nắng sau mưa, trời thăm thẳm không một gợn mây, ai nấy mồ hôi nhễ nhại, quần áo chân tay dính bùn đất lấm lem.
Dọc đường đi, chúng tôi bắt đầu nhận ra những điều kỳ lạ, hầu như trong sân nhà nào cũng có một ụ lớn được phủ bạt kín mà phải nhìn kỹ mới có thể nhận ra đó là những thớt gỗ lớn, đường kính lớn 2 người ôm không xuể.
Nhưng quái gở hơn, mặc dù chất đầy gỗ ở sân mà căn nhà vẫn tuềnh toàng, đơn sơ, nhóm PV ngầm hiểu chủ nhân của căn nhà này không thể là chủ nhân của số gỗ ở sân được…
Theo tìm hiểu từ người dân địa phương, các cánh rừng ở khu vực này thường có các loại gỗ quý như sến, táu, phay, nghiến... Trước đây không khó để bắt gặp một cây gỗ quý nhưng tới thời điểm hiện tại, để có được một thớt gỗ đẹp, cánh phu gỗ phải “cơm nắm muối vừng” đi sâu vào rừng đến 2 -3 ngày thì mới tìm thấy.
Bên cạnh nạn lâm tặc xuất hiện chừng vài năm trở lại đây, rừng Con Voi cũng phải chịu sức ép từ nếp sống du canh, du cư vẫn còn khá phổ biến của đồng bào địa phương. Người dân các xã quanh núi sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, phần lớn trong số họ quanh năm chỉ biết đến trồng ngô và vào rừng chặt gỗ, bẫy thú.
Những người đàn ông bản địa thường vào rừng kiếm sản vật, mang theo cả chăn màn, ở hàng tuần mới xuống. Có những nhà làm giấy xin khai thác vườn rừng nhà mình, nhưng lại vác “đồ nghề” lên rừng nguyên sinh, rừng phòng hộ mà săn gấu, lấy mật ong và chặt cây đem bán với giá rẻ mạt cho người buôn dưới xuôi lên.
Nguồn thu từ gỗ rừng tưởng sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng trớ trêu thay, thế hệ này qua thế hệ khác, cuộc sống những người sống men dãy núi Con Voi vẫn không thoát khỏi cái nghèo.
Càng đi xa những nóc nhà càng thưa thớt dần, bóng người cũng vắng hơn, sự xuất hiện của chiếc xe lạ giữa con đường độc đạo bắt đầu khiến người ở đây chú ý. Mà lạ lùng thay, càng gần vùng tâm gỗ lậu hơn, chúng tôi mới nhận ra hầu như không thấy bóng dáng các lực lượng chức năng mà chỉ bắt gặp những ánh mắt dò xét của đám “thanh niên” ngáp ngắn, ngáp dài, ánh mắt dò xét luôn úp thụp dưới chiếc mũ cối tối tăm.
Tiếp tục đi sâu vào giữa đại ngàn, nhóm PV vô tình gặp Q., một người dân tộc Dao, là “cò gỗ” có thâm niên tại địa phương. Qua câu chuyện trao đổi nhóm PV được biết về những cuộc thương lượng và cái giá phải trả cho từng vòng xe lăn bánh... (Người Đưa Tin 9/9) đầu trang(
Ngày 9-9, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông cho biết, đơn vị đã tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đinh Hồng Phong (40 tuổi, biệt danh là “Phong cướp”, trú tại xã Diễn Hạnh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An) về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Ngoài đối tượng Phong, Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Mil cũng bắt tạm giam 10 đối tượng khác là đàn em thân tín của Phong để điều tra, làm rõ về các hành vi “Cưỡng đoạt tài sản, tàng trữ trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, hủy hoại rừng”.
Theo Cơ quan điều tra, Phong là đối tượng bất hảo cầm đầu một nhóm đối tượng chuyên thực hiện các hành vi phạm pháp như đòi nợ thuê, bảo kê, cưỡng đoạt tài sản, tàng trữ trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, hủy hoại rừng…trên địa bàn huyện Đắk Mil và các huyện lân cận của tỉnh Đắk Nông.
Đầu tháng 8-2016, Công an huyện Đắk Mil đã xác lập chuyên án để tập trung điều tra. Đến ngày 3-9, Công an huyện Đắk Mil nhận được tin báo của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa (huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông) phát hiện một nhóm đối tượng ngang nhiên mang theo cưa máy, dao, rựa và súng vào Tiểu khu 1122 chặt phá rừng. Qua xác minh, cơ quan điều tra phát hiện đây là nhóm đối tượng do chính Phong cầm đầu nên đã tiến hành bắt giữ.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Phong và đồng bọn, cơ quan điều tra đã thu giữ được 1 gói ma túy, 1 khẩu súng ngắn, 7 viên đạn cùng nhiều vật dụng liên quan đến hành vi phạm pháp. Tại cơ quan công an, ban đầu Đinh Hồng Phong đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đồng thời còn khai nhận cùng đồng bọn thực hiện hành vi hủy hoại rừng Tiểu khu 1122, thuộc lâm phần quản lý của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa.
Hiện vụ án đang được Công an huyện Đắk Mil tiếp tục mở rộng điều tra, làm rõ hành vi phạm tội của các đối tượng liên quan. (Công An Nhân Dân 9/9) đầu trang(
UBND tỉnh Đắk-Nông chỉ đạo cơ quan điều tra xác minh, làm rõ các đối tượng có hành vi phá rừng, mua bán đất rừng trái phép.
Trong đơn gửi Báo PLVN, ông Hà Minh Quân (ngụ thôn Rừng Lạnh, xã Đắk-Hòa, huyện Đắk-Song, tỉnh Đắk-Nông) tố cáo: Ông Hà Đức Hùng, nhân viên quản lý bảo vệ rừng của Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa (Cty Đức Hòa) đã có hành vi lợi dụng chức vụ để phá rừng nguyên sinh để chuyển sang đất rẫy nhằm mua bán bất hợp pháp tại các tiểu khu 628, 629, 1107 và tiểu khu 1112, lâm phần do Cty Đức Hòa quản lý; khai thác, vận chuyển trái phép 300 trụ tiêu...
Bên cạnh đó, còn có sự buông lỏng quản lý của ông Phạm Đình Dũng - Giám đốc Cty Đức Hòa khiến 8000 ha rừng bị phá hoại…
Liên quan đến khiếu nại của ông Quân, ngày 09/7/2014 Đoàn xác minh của Sở NN&PTNT tỉnh Đắk-Nông đã có Báo cáo số 787/BC-SNN yêu cầu Giám đốc Cty Đức Hòa nghiêm túc kiểm điểm và có hình thức xử lý đối với ông Hà Văn Hùng với cương vị là nhân viên quản lý bảo vệ rừng, nhưng đã thu mua trụ tiêu được cưa xẻ có nguồn gốc từ rừng tự nhiên để đem về nhà trồng là hành vi tiếp tay cho lâm tặc khai thác, cưa xẻ trụ tiêu trái phép...
Đề nghị UBND tỉnh Đắk-Nông giao Công an tỉnh chỉ đạo cơ quan điều tra xác minh, làm rõ các đối tượng có hành vi phá rừng, mua bán đất rừng trái phép tại Cty Đức Hòa để xử lý theo quy định của pháp luật.
Ngày 4/6/2015, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk-Nông có Thông báo số 432/TB-PC46 “Kết quả giải quyết đơn tố cáo” gửi ông Quân xác định: Nội dung tố cáo ông Hà Văn Hùng lợi dụng chức vụ, quyền hạn phá rừng, mua bán đất rừng trái phép thuộc lâm phần của Cty Đức Hòa, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk-Nông đã xác minh, xác định nội dung tố cáo là không đúng và đã có Thông báo số 56/TB-PC46 ngày 21/1/2015 về kết quả xác minh đơn; hành vi mua, vận chuyển trái phép 300 trụ tiêu, Thanh tra Sở NN&PTNN đã xác minh, có kết luận và Cty Đức Hòa đã xử lý kỷ luật ông Hà Văn Hùng theo kết luận Thanh tra và kiến nghị của Sở NN&PTNN là đúng quy định, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh không xác minh lại nội dung này.
Cũng tại thông báo, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk-Nông cho biết: Nội dung tố cáo ông Phạm Đình Dũng - Giám đốc Cty Đức Hòa để mất 8.000 ha rừng. Việc Cty Đức Hòa để mất bao nhiêu rừng, UBND tỉnh đã thành lập Đoàn liên nghành kiểm tra (Đoàn 1079), do vậy ông Quân liên hệ với Đoàn 1079 của UBND tỉnh để được giải quyết...
Tuy nhiên, theo ông Quân, việc thông báo kết quả giải quyết tố giác trên của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk-Nông không khách quan, có dấu hiệu bao che cho sai phạm. Do đó, ông Quân đề nghị Công an tỉnh Đắk-Nông, UBND tỉnh Đắk-Nông và Sở NN&PTNN tỉnh Đắk-Nông cần tiến hành kiểm tra, rà soát lại toàn bộ sự việc tránh gây hoài nghi và tạo dư luận không tốt. (Pháp Luật + 8/9) đầu trang(
Ngày 8-9, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, cho biết đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam ông Phan Văn Hồng (44 tuổi, ngụ ấp 5, xã La Ngà, huyện Định Quán) để điều tra về hành vi “Cố ý gây thương tích”.
Trước đó, ngày 18-8, nhận tin báo về tình trạng đăng chắn trái phép trên hồ Trị An, ông Nguyễn Danh Kha (50 tuổi) - kiểm lâm viên thuộc Hạt kiểm lâm Khu Bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai - đã cùng một số kiểm lâm viên khác đi thuyền ra kiểm tra.
Tại đây, trong quá trình kiểm tra, nhắc nhở đã xảy ra xô xát. Ông Hồng, là ngư dân, đã dùng chiếc chèo ghe đánh nhiều cái vào lưng ông Kha, gây thương tích tỉ lệ 36%.
Hồ thủy điện Trị An rộng 323 km2, nằm giữa huyện Định Quán và huyện Vĩnh Cửu, thuộc quản lý của khu bảo tồn. (Người Lao Động 8/9) đầu trang(
Ngày 7/9, tổ công tác Hạt Kiểm lâm huyện Điện Biên phối hợp với Ban Quản lý rừng Mường Phăng kiểm tra và phát hiện 34 khúc gỗ được cất giữ trái phép tại khu vực bản Co Cượm, xã Pá Khoang (huyện Điện Biên).
Qua kiểm tra, cơ quan chức năng xác định số gỗ trên khoảng hơn 3m3, gồm các loại: vối thuốc, chẹo tía, bồ đề. Vì chưa xác định được chủ nhân của số gỗ trên; Hạt Kiểm lâm huyện Điện Biên đã tạm giữ số gỗ và thông báo tới UBND xã Pá Khoang. Nếu sau 30 ngày không có người đến nhận thì sẽ tiến hành tịch thu số gỗ trên. (Báo Điện Biên Phủ 7/9) đầu trang(
Chuyên gia khám phá hang động Howard Limbert cảnh báo khả năng “có khủng long sinh sống” với những người trong đoàn khi tiến vào hang Sơn Đoòng của Việt Nam.
Hãng tin CNN vừa đăng tải bài viết và hình ảnh do cây bút Jarryd Salem thực hiện trong chuyến thám hiểm Sơn Đoòng, hang động lớn và kỳ vĩ nhất thế giới.
Theo lời của Jarryd Salem, khám phá hang Sơn Đoòng là trải nghiệm thú vị nhất ở khu vực Đông Nam Á. “Coi chừng khủng long” - chuyên gia khám phá hang động Howard Limbert nói khi đoàn bắt đầu tiến vào hang Sơn Đoòng.
Cũng theo ông Limbert, “coi chừng khủng long” cũng là cụm từ đoàn thám hiểm đầu tiên đặt chân tới Sơn Đoòng năm 2009 nói về nơi đây, sau khi chứng kiến khung cảnh như thời tiền sử dần hiện ra trước mắt. Tất nhiên đó là cách nói vui nhưng đã phần nào cho thấy sự phấn khích và ngạc nhiên của chính những chuyên gia về nơi đây.
Sơn Đoòng hiện là một trong những hang động đẹp và kỳ vĩ nhất thế giới, có chiều dài hơn 5km và chỗ cao nhất lên tới 200m, đủ sức chứa cả một tòa nhà cao nhất ở thành phố New York. Nơi đây có khí hậu thời tiết riêng, quanh năm mát mẻ, những khối thạch nhũ, măng đá khổng lồ treo trên trần, thậm chí còn có cả một khu rừng nguyên sinh ở trong động!
Theo lời Jarryd Salem, để bảo vệ nơi đây, việc tổ chức tour du lịch khám phá Sơn Đoòng chỉ được giao duy nhất cho công ty lữ hành Oxalis với giá vé khoảng 3.000 USD/người.
Chính vì sự đặc biệt của Sơn Đoòng nên có rất nhiều du khách cả trong và ngoài nước muốn một lần được đặt chân tới đây. Tuy nhiên, điều đó không hề dễ dàng vì danh sách đăng ký đã kín chỗ tới năm… 2018!
Do nằm sâu trong rừng, du khách muốn thám hiểm cần có sự hỗ trợ của một đội ngũ đông đảo gồm 20 người khuôn vác đồ, 3 hướng dẫn viên, 2 chuyên gia hang động, 2 đầu bếp và 2 nhân viên kiểm lâm.
Theo quy định, mỗi năm Oxalis chỉ được phép tổ chức đưa 500 khách du lịch thăm Sơn Đoòng. Thế nên Jarryd Salem ví von cho rằng số người chinh phục đỉnh Everest nổi tiếng thế giới còn nhiều hơn số người từng đặt chân tới hang Sơn Đoòng. (Lao Động Thủ Đô 9/9) đầu trang(
Tam Đảo được nhiều người trong và ngoài nước biết đến không chỉ bởi sự hấp dẫn của khu du lịch Tam Đảo, khu danh thắng Tây Thiên mà còn bởi giá trị đa dạng sinh học.
Được đánh giá là một trong những khu vực có nền đa dạng sinh học cao nhất nước với nhiều loài động, thực vật quý hiếm không chỉ riêng của Tam Đảo mà còn là của Việt Nam và thế giới, nên công tác bảo tồn đa dạng sinh học luôn được Vườn Quốc gia Tam Đảo chú trọng.
Vườn Quốc gia Tam Đảo có tổng diện tích tự nhiên là 36.883 ha, nằm trên địa giới hành chính của 27 xã và thị trấn, thuộc 5 huyện của 3 tỉnh là Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang, với tổng số dân sinh sống trên vùng đệm của vườn là 200.000 người. Vườn Quốc gia Tam Đảo được đánh giá là một trong những nơi có sự đa dạng sinh học vào bậc cao. Theo thống kê sơ bộ, hệ thực vật của Vườn Quốc gia Tam Đảo gồm 1.436 loài thực vật thuộc 741 chi của 219 họ, thuộc 5 ngành.
Trong đó, có 42 loài đặc hữu và 83 loài quý hiếm đang bị đe doạ được ghi trong sách đỏ Việt Nam và thế giới. Với nhiều loại động vật quý hiếm, Vườn Quốc gia Tam Đảo không những nhiều về số lượng, đa dạng về thành phần loài mà còn có nhiều loại đặc hữu, quý hiếm cần được bảo tồn như: Vượn đen Đông Bắc, voọc má trắng, báo hoa mai, cá cóc...
Hệ động thực vật ở Vườn Quốc gia Tam Đảo có tính đa dạng cao nên việc săn bắt trộm, khai thác gỗ còn xảy ra tại khu vực này. Quan sát trên các chợ, các nhà hàng đặc sản và tìm hiểu qua người dân trong vùng Vườn Quốc gia Tam đảo cho thấy, có tới 60 loài động vật trong 29 hộ của 16 bộ, 6 lớp động vật được bày bán. Điều này dẫn đến số lượng cá thể và loài của động vật Vườn Quốc gia Tam Đảo ngày càng suy giảm. Vì vậy cần phải có nhiều biện pháp kiên quyết và hiệu quả hơn để bảo vệ sự đa dạng sinh học tại nơi đây.
Ông Đặng Công Thức, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Tam Đảo cho biết: “Công tác bảo tồn đa dạng sinh học trước đây rất khó khăn, vì đa số người dân ở đây là đồng bào dân tộc, việc chặt rừng, đốt rừng làm nương, săn bắt các loại động thực vật quý hiếm xảy ra thường xuyên, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới cân bằng hệ sinh thái nơi đây. Tuy nhiên, sau một thời gian dài tuyên truyền, vận động người dân, nhất là các đối tượng hay đi săn, họ đã hiểu về tầm quan trọng của việc bảo tồn đa dạng sinh học nên nạn phá rừng, đốt rừng làm nương, săn bắt trộm đã giảm đáng kể”.
Công tác tuần tra, kiểm tra trên rừng được tăng cường nhằm ngăn chặn xử lý kịp thời các hành vi đặt bẫy, khai thác gỗ trộm được lực lượng kiểm lâm tiến hành thường xuyên.
Bên cạnh đó, việc giao khoán bảo vệ rừng cho từng hộ gia đình cũng là một giải pháp hiệu quả, giúp cân bằng hệ sinh thái và bảo vệ các loài động thực vật. Mỗi năm Vườn Quốc gia Tam Đảo khoán rừng cho 140 hộ gia đình, mỗi hộ khoảng 50ha. Là người dân bản địa nên họ rất thông thuộc địa hình, giúp lực lượng kiểm lâm rất nhiều trong công tác rà soát các đối tượng và cứu chữa kịp thời khi xảy ra hoả hoạn.
Ngoài ra, Vườn Quốc gia Tam Đảo còn phối hợp với Trung tâm Giáo dục thiên nhiên tổ chức các chương trình nâng cao nhận thức cho cộng đồng về bảo tồn đa dạng sinh học và tài nguyên rừng.
Với những giải pháp đồng bộ trên, công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Tam Đảo đã đạt được những kết quả đáng mừng. Ý thức của người dân về bảo vệ rừng đã dần được nâng cao, hệ sinh thái dần ổn định hơn, Ông Thức còn cho biết thêm: Hiện tại những khu vực trước đây bị đốt phá đã được trồng bù lại, những khu vực bị săn bắn nhiều nay động vật cũng quay trở lại sinh sống. Vào mùa dễ xảy ra cháy rừng, các cán bộ Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Tam Đảo đều thay phiên nhau đi tuần, kết hợp cùng chính quyền và người dân để phối hợp chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra.
Tài nguyên động thực vật rừng có giá trị về nhiều mặt. Bảo tồn đa dạng sinh học giúp cân bằng hệ sinh thái là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Vườn Quốc gia Tam Đảo. Trong thời gian tới, Hạt Kiểm lâm Tam Đảo sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân và phối hợp cùng chính quyền địa phương làm tốt công tác bảo tồn đa dạng sinh học; tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng, trồng rừng, bảo vệ môi trường sống của các loài động thực vật. (Báo Vĩnh Phúc 8/9) đầu trang(
Trong thời điểm voọc chà vá chân nâu trở thành hình ảnh nhận diện của TP Đà Nẵng tại APEC 17, nhóm cán bộ của Trung tâm bảo tồn đa dạng sinh học Nước Việt Xanh (GreenViet) đã săn được gói "học bổng" từ một tỷ phú địa ốc người Mỹ để tới xứ sở cờ hoa học cách bảo tồn nữ hoàng linh trưởng. Không chỉ học cách nghiên cứu, giáo dục về bảo tồn mà họ còn tranh thủ các hội nghị quốc tế để đưa báu vật Sơn Trà đến với các chuyên gia nghiên cứu linh trưởng toàn thế giới.
Vì đi "du học" theo hình thức cuốn chiếu nên trong khi Phó Giám đốc phụ trách truyền thông Lê Thị Trang và Trưởng phòng nghiên cứu Bùi Văn Tuấn đã kết thúc 45 ngày trên đất Mỹ thì Giám đốc GreenViet Trần Hữu Vỹ vẫn còn ở ráng thêm mấy ngày để gặp được nhiều chuyên gia, tích cóp thêm những kiến thức về bảo tồn linh trưởng.
"Được tham dự chuỗi tập huấn bảo tồn linh trưởng tại vườn thú lớn nhất thế giới Sandiego và Hội nghị linh trưởng quốc tế là cơ hội hiếm hoi để chúng tôi có thêm kiến thức về nghiên cứu cũng như giáo dục nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo tồn voọc ở Sơn Trà. Đó là một khoá du học không dễ gì có được", anh Vỹ tâm sự.
Theo Lê Thị Trang, khi được giới thiệu về khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, các chuyên gia nghiên cứu, bảo tồn linh trưởng quốc tế đều mơ ước, vì ở đây có đầy đủ cả yếu tố thuận lợi cả về địa hình và thiên nhiên. Trang cho hay: "Những chuyên gia hàng đầu đều khẳng định, các khu bảo tồn nổi tiếng thế giới hiện tại đều phải trải qua khoảng 40 năm mới có được môi trường tự nhiên để nuôi dưỡng các loài thú quý hiếm. Trong khi đó, Sơn Trà của Đà Nẵng là khu bảo tồn hoàn toàn tự nhiên, không cần đầu tư xây dựng gì cả. Môi trường thì mình lợi hơn họ gần nửa thế kỷ nhưng yếu tố con người, vấn đề tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức cộng đồng thì mình thua họ rất xa".
Ở Mỹ cũng như nhiều nước trên thế giới, môi trường tự nhiên của họ rất khô hạn, không đa dạng nhưng công tác bảo tồn động vật hoang dã lại cực tốt. Không những vậy, khi tuyên truyền, giảng dạy, họ đều có những con số, dẫn chứng khoa học cụ thể và thường gắn vào những câu chuyện điển hình chứ không nói suông cho xong.
Khi được hỏi làm sao có thể "săn" được suất học bổng cho chuyến "du học", Trang khẳng định chắc chắn là cơ duyên do voọc chà vá chân nâu của Sơn Trà mang lại. "Chúng tôi may mắn gặp được Beth Molasky, người đàn bà quyền lực trong giới địa ốc của Mỹ nhưng lại có một tình yêu đặc biệt dành cho động vật hoang dã. Khi tới Sơn Trà, bà ấy đã nói với chúng tôi rằng, voọc cũng có gia đình, chúng sống túm tụm với nhau rất hạnh phúc. Trách nhiệm của con người là phải bảo vệ những gia đình ấy trước nhiều nguy cơ. Khi những sự kiện về bảo tồn linh trưởng diễn ra trên đất Mỹ, bà ấy đã lập tức tài trợ cho 4 người chúng tôi qua đó học tập hàng tháng trời", Trang kể.
Sau chuyến "du học", tài sản của Bùi Văn Tuấn - Trưởng phòng nghiên cứu của GreenViet là những cuốn sách cũ chuyên về địa lý, tự nhiên, sinh học, bảo tồn được bán rất rẻ ở Mỹ. Ngoài những giờ học hỏi, trao đổi với chuyên gia tại các diễn đàn, Tuấn dành thời gian tham quan vườn thú và lùng sách. Chủ nhân của video clip phá rừng Sơn Trà cách đây hơn nửa năm cho biết, anh gặp được chuyên gia của các nước để tìm hiểu về thành công cũng như thất bại của họ trong công tác bảo tồn linh trưởng.
"Nhiều nước thành công nhưng cũng không ít nơi hết sức nan giải. Có 5 nguyên nhân cản trở công cuộc bảo tồn động vật hoang dã, đó là mất rừng, nạn săn bắt trái phép, suy giảm diện tích đất, nhận thức của người dân và thiếu sự hỗ trợ của chính quyền. Để bảo vệ được báu vật của mình, Đà Nẵng cần giải quyết tốt 5 vấn đề này", Tuấn tâm sự.
9 năm gắn bó với công tác bảo tồn, chàng trai đã sống cùng voọc đến sốt rét, đi hết các bệnh viện trên cả nước, uống đủ loại kháng sinh... cho rằng, không chỉ trong nước mà giờ đây cả thế giới đều đã biết đến "nữ hoàng linh trưởng" gắn với hình ảnh của thành phố Đà Nẵng. Chính vì vậy, đây là lúc thuận lợi để ngành chức năng có cuộc điều tra, đánh giá tổng thể số lượng, khu vực sinh sống của các gia đình voọc chà vá chân nâu Sơn Trà để có kế hoạch bảo tồn thực sự chuyên nghiệp. Vì đã là hình ảnh nhận diện mà không bảo vệ được thì mất mặt lắm.
Khi thành công, đây có thể là hình mẫu cho các khu bảo tồn của các địa phương khác trên cả nước. Đà Nẵng làm được thì chắc chắn địa phương khác cũng làm được. Trang và Tuấn cho biết, ngoài chương trình "Hiệp sĩ rừng Sơn Trà" tuyên truyền về ý thức bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ động vật hoang dã cho học sinh Đà Nẵng, GreenViet cũng đã từng bước xây dựng đội ngũ tình nguyện viên góp công sức, vật chất cho các dự án nâng cao nhận thức của người dân và khách du lịch.
"Với các tour du lịch, chỉ thực sự tốt khi nâng cao được ý thức của du khách, công tác quản lý phải chặt chẽ. So sánh thì hơi khập khiễng, ở các nước tiên tiến, người ta chen chúc nhau đi xem thú nhưng họ rất ý thức, hạn chế tới cả tiếng nói, tiếng cười, nhạc chuông điện thoại, âm thanh máy ảnh. Chứ ở mình, nhiều người chạy xe máy lên để ngắm voọc, nói là tham quan nhưng đưa bia lên đó uống rồi về. Như thế sẽ chẳng bao giờ thấy mặt con voọc chứ đừng nói gần gũi, bảo vệ nó", Trang chia sẻ. (Công An TP.Đà Nẵng 8/9) đầu trang(
Ngày 8-9, Ban Quản lý (BQL) Khu bảo tồn biển Hòn Cau (huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận), cho biết đơn vị vừa thả con đồi mồi cực kỳ quý hiếm nặng khoảng 10kg, dài hơn 75cm, ngang 40cm, có màu sắc và hoa văn trên lưng rất đẹp về với biển.
Trước đó, một ngư dân huyện Tuy Phong phát hiện một con đồi mồi có hoa văn rất đẹp đi lạc vào bờ biển địa phương nên đã bắt lại và thông báo, bàn giao cho BQL Khu bảo tồn biển Hòn Cau.
Ngay sau khi tiếp nhận, đơn vị này xác định đây là con đồi mồi dứa có tên khoa học là Eretmochelys imbricata, là một trong 7 loài rùa biển hoang dã, quý hiếm, có tên trong sách đỏ thế giới và Việt Nam.
Hiện loại đồi mồi này đang có nguy cơ tuyệt chủng cao, bị cấm buôn bán và cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Sau khi tiến hành chăm sóc sức khỏe và làm các thủ tục cần thiết, con đồi mồi này đã được BQL Khu bảo tồn biển Hòn Cau thả về với biển cả.
Cũng theo BQL Khu bảo tồn biển Hòn Cau, đây là lần đầu tiên đồi mồi dứa xuất hiện tại Bình Thuận. (Sài Gòn Giải Phóng 8/9) đầu trang(
Gần đây, các mô hình nuôi động vật hoang dã được người dân hưởng ứng cao bởi hiệu quả kinh tế hấp dẫn. Hiện phong trào này dần lan tỏa ở nhiều địa phương trong tỉnh.
Theo thông tin từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh, nếu trước đây, phong trào nuôi trăn đất phát triển mạnh ở khu vực thị xã Ngã Bảy, huyện Phụng Hiệp thì hiện nay ở các địa phương khác như huyện Long Mỹ, thị xã Long Mỹ, nhiều hộ dân đã mạnh dạn đầu tư nuôi thử nghiệm.
Nhận thấy mô hình nuôi trăn đất đem lại hiệu quả kinh tế cao nên gia đình anh Lê Quang Trường, ở ấp 8, xã Lương Nghĩa, huyện Long Mỹ, đã quyết định nuôi theo hình thức chăm sóc trăn bố mẹ cho sinh sản để bán con giống. Hiện, với 12 con trăn bố mẹ, trong đợt xuất bán trăn con đầu năm nay, với số lượng 93 cá thể, gia đình anh Trường thu về lợi nhuận trên 25 triệu đồng.
Anh Trường chia sẻ thêm: “Sau mấy năm chăn nuôi, gia đình tôi đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm, nhưng giờ chỉ ngại ở đầu ra, đi kèm là giá cả không ổn định. Tôi vẫn duy trì đàn trăn bố mẹ hiện tại, chờ khi liên kết được đầu ra ngoài thị trường tôi sẽ cho tăng đàn. Lúc đó, mình không mất tiền mua con giống để nuôi mới, đỡ tốn khoản chi phí ban đầu. Với loài này, không tốn nhiều công chăm sóc, thức ăn… Hiện, tôi còn thử nghiệm nuôi lươn trong can nhựa, cầy vòi hương… để tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế gia đình”.
Còn tại huyện Phụng Hiệp, phong trào nuôi động vật hoang dã đã phát triển mạnh mấy năm gần đây, nhất là đối với ba ba. Nhận thấy đây là loài vật mang lại hiệu quả kinh tế cao, ông Nguyễn Văn Hòa, ở ấp Mỹ Chánh A, xã Hiệp Hưng, đã chịu khó tìm tòi, nghiên cứu tập tính, cách chăm sóc. Sau nhiều lần thử nghiệm, đến nay, tổng diện tích nuôi ba ba của ông đã lên đến trên 10.000m2 với đủ cỡ từ ba ba thịt, con bố mẹ, đến nguồn giống cung ứng cho thị trường.
Ông Hòa tâm sự: “Nhiều năm thăng trầm với nghề, nhưng cuối cùng tôi vẫn quyết định gắn bó với loài ba ba, đến nay việc chăn nuôi dần ổn định. Chăn nuôi con gì cũng thế, nhưng chỉ khi tìm được đầu ra thì mới an tâm đầu tư. Mấy năm nay, tôi đã liên kết được với các công ty ở Thành phố Hồ Chí Minh để xuất bán và dần dần xây dựng được thương hiệu, chỗ đứng trên thị trường”.
Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm huyện Phụng Hiệp, từ năm 2012 đến nay, số hộ nuôi động vật hoang dã và cá thể đàn đều tăng dần. Phổ biến nhất là các loài như trăn đất, rắn ri voi và đặc biệt là ba ba mang lại giá trị kinh tế cao. Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Phụng Hiệp Trần Thanh Phong thông tin thêm: “Theo khảo sát trực tiếp từ các hộ chăn nuôi, đối với loài trăn đất bà con thu được lợi nhuận trung bình khoảng 50%, riêng ba ba nuôi lấy thịt thì lợi nhuận khoảng 25-35%, nếu bán con giống, bà con cũng đạt 40-50% lợi nhuận”.
Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, hiện trên toàn tỉnh, cá thể loài trăn đất và ba ba đã tăng so với cùng kỳ năm 2015. Cụ thể, trăn đất tăng 7.993 cá thể; ba ba tăng 59.150 cá thể. Ông Nguyễn Vĩnh Phúc, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, thông tin: Trước nay, đối với động vật hoang dã thì Chi cục Kiểm lâm chỉ khuyến nghị nuôi hai loài là ba ba và trăn đất.
Qua khảo sát, trước giờ chưa thấy thông tin người dân thua lỗ vì nuôi hai loài nói trên, chỉ có tình trạng do biến động thị trường mà lời ít hay nhiều. Mới đây, ngành cũng ủng hộ bà con nuôi thêm rắn ri voi trong vèo. Việc chăn nuôi những loài vật được khuyến nghị này đã phần nào giúp người dân phát triển kinh tế và đem về nguồn lợi nhuận hấp dẫn trong thời gian gần đây. (Báo Hậu Giang 9/9) đầu trang(
Ngày 8-9, Ban Nội chính Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu tổ chức cuộc họp để nghe ý kiến các ngành chức năng về vụ Phạm Văn Tân trộm 116 trứng Vích ở Côn Đảo.
Nguồn tin của Tuổi Trẻ cho biết do chưa có sự thống nhất trong quan điểm xử lý nên cuộc họp đồng ý để Viện KSND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xin ý kiến của Viện KSND Tối cao.
Trước đó, ngày 17-6, Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Côn Đảo đã bắt quả tang Phạm Văn Tân (28 tuổi, thường trú tại xã Hòa Tú 1, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng; tạm trú tại Khu dân cư số 7, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu) đang vận chuyển 116 trứng vích. Tân khai nhận số trứng này lấy trộm ở hòn Bảy Cạnh (Côn Đảo).
Công an huyện Côn Đảo ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Tân nhưng lãnh đạo Viện KSND huyện Côn Đảo không phê chuẩn vì cho rằng “trứng vích không phải là sản phẩm của vích”, đồng thời xin ý kiến của Viện KSND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Trả lời cho viện cấp dưới, Viện KSND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đã khẳng định “trứng vích là sản phẩm của vích” và dẫn quy định tại Thông tư 19/2007 cho rằng “trị giá trứng vích phải từ 50 triệu đồng trở lên mới xử lý hình sự”. Vì không định giá được trứng vích nên xem xét xử lý hành chính, giáo dục.
Trong khi đó, một số cơ quan, tổ chức như Trung tâm giáo dục thiên nhiên (ENV- thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam), Cục Bảo tồn đa dạng sinh học (Tổng cục Môi trường) lại cho rằng hành vi của Phạm Văn Tân đã đủ cơ sở để khởi tố về tội “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”, theo Điều 190, Bộ luật hình sự 2009. (Tuổi Trẻ 8/9) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo Bộ NN&PTNT, những nhiệm vụ còn lại từ nay đến cuối năm là rất lớn, đòi hỏi toàn ngành phải tập trung nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm, triển khai quyết liệt tái cơ cấu, thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ để phục hồi tăng trưởng.
Về Lâm nghiệp tiếp tục triển khai mạnh kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 – 2020; huy động nguồn vốn để triển khai trồng rừng phòng hộ, đặc dụng, trồng rừng thay thế và thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; thực hiện nghiêm chủ trương dừng khai thác rừng tự nhiên và triển khai chính sách hỗ trợ cho các công ty lâm nghiệp khi thực hiện chủ trương này. Đồng thời, đề xuất cơ chế, chính sách cụ thể cho việc phục hồi rừng ở khu vực Tây Nguyên, Tây Bắc và rừng ven biển.
Tăng cường công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; ngăn chặn và xử lý kịp thời, có hiệu quả các hành vi vi phạm quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. (Infonet 8/9) đầu trang(
Nhằm giúp các công ty lâm nghiệp tháo gỡ khó khăn, phát huy nội lực, các cấp, ngành chức năng tỉnh Bắc Giang đang tích cực vào cuộc thực hiện phương án sắp xếp, đổi mới toàn diện mô hình quản lý, sản xuất kinh doanh.
Cùng được giao quản lý hàng nghìn ha rừng với các chế độ chính sách như nhau nhưng bên cạnh các công ty lâm nghiệp phát triển có những đơn vị yếu kém trong quản lý, nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp. Nguyên nhân là do các DN này buông lỏng quản lý trong thời gian dài. Đáng ngại hơn, tại một số đơn vị còn tâm lý "cha chung không ai khóc", một bộ phận lãnh đạo, cán bộ không làm tốt vai trò quản lý đất, rừng được giao, chưa chú trọng đổi mới phương thức sản xuất kinh doanh.
Trước đây, các công ty lâm nghiệp khoán đất với chu kỳ trồng rừng từ 10 đến 50 năm. Do hình thức khoán này không hiệu quả, ngày 8-11-2005, Chính phủ đã rút thời hạn khoán chỉ còn từ 6 đến 8 năm. Ngoài ra, có thêm hình thức khoán theo các công đoạn cho người dân trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng được DN chi trả tiền công, DN có quyền khai thác, hưởng toàn bộ sản lượng gỗ thu được. Tuy nhiên, mỗi DN áp dụng một kiểu khiến kết quả kinh doanh không cao, đất đai bị lấn chiếm.
Ngoài việc sau khi nhận khoán đã tự ý chuyển nhượng, mua bán, tích tụ đất lâm nghiệp nhưng không làm các thủ tục hành chính liên quan, một số hộ còn tự ý chuyển mục đích sử dụng khiến DN không quản lý được đất của mình.  Từ năm 2001 đến nay, Công ty Lâm nghiệp Lục Nam có 846 lượt hộ quá hạn hợp đồng, nợ đọng gần 90 nghìn m3 gỗ.
Có gần 1,5 nghìn ha rừng trồng đã khai thác nhưng các hộ không trả sản phẩm khiến DN thua lỗ hàng trăm triệu đồng/năm, nhiều thời điểm nợ lương cán bộ, công nhân. Không có đủ thu nhập trang trải cuộc sống, hơn 10 lao động nghỉ việc không lương, chỉ tham gia đóng bảo hiểm xã hội.
Ông Nguyễn Văn Kiêm, Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Lục Nam chia sẻ, do lãnh đạo DN các thời kỳ trước buông lỏng quản lý đất đai, bỏ mặc cho các hộ dân tự trồng chăm sóc, bảo vệ, khai thác rừng nên DN không còn làm chủ sử dụng quỹ đất được giao.
Vì thiếu kinh phí, từ năm 2010 đến nay, Công ty Lâm nghiệp Mai Sơn liên kết với một số DN, gia đình trồng rừng kinh tế trên nguyên tắc bán cây đứng và thời gian sử dụng đất. Sau khi nộp tiền, đối tác được chủ động phương án kinh doanh nên người dân cho rằng DN bán đất cho người ngoài địa phương. Trong số diện tích đất hợp tác kinh doanh có cả phần trước đó các hộ nhận khoán trồng, chăm sóc, bảo vệ khiến người dân bức xúc, gửi đơn khiếu kiện. Thời gian này, nhiều người đã chặt phá, nhổ cây mới trồng của các đơn vị làm mất an ninh trật tự, thiệt hại cho đối tác kinh doanh với DN.
Bên cạnh việc buông lỏng quản lý của DN, chính quyền một số địa phương cũng chưa quan tâm, hỗ trợ giải quyết dứt điểm các điểm nóng chặt phá, lấn chiếm đất lâm nghiệp. Năm 2004, các công ty được giao quản lý hơn 21,5 nghìn ha rừng và đất lâm nghiệp, nhưng nay chỉ còn 12,8 nghìn ha.
Ông Dương Xuân Bánh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT cho rằng, nhiều DN, chính quyền địa phương không quản lý tốt diện tích đất được giao, cho thuê dẫn đến tình trạng tranh chấp, lấn chiếm kéo dài. Việc đo đạc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các DN chậm gây khó khăn trong quản lý...
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch, giao nhiệm vụ, yêu cầu các đơn vị, DN liên quan hoàn thành phần việc cụ thể để sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp trong năm nay. Thế nhưng, nhiều DN, hộ dân liên kết sản xuất vẫn còn lo lắng về quyền lợi của mình khi thực hiện các phương án chuyển đổi. Lãnh đạo các đơn vị băn khoăn về tỷ lệ góp vốn của thành viên thứ hai vì đó là cơ sở quyết định nhà nước hay tư nhân sẽ nắm cổ phần chi phối, điều hành DN sau chuyển đổi. Phương án đầu tư, sản xuất, kinh doanh sau chuyển đổi có thực sự hiệu quả, nâng cao mức sống cho người lao động khi hiện nay một số DN làm ăn hiệu quả, cán bộ, công nhân đã hài lòng với mức thu nhập khá.
Một số hộ dân đặt câu hỏi liệu hình thức nhận khoán đất có thay đổi khi nhiều diện tích các hộ sử dụng không đúng mục đích; trong trường hợp DN thu hồi lại thì chế độ bồi thường sẽ được thực hiện ra sao đối với diện tích đất lâm nghiệp đã có công trình, nhà ở hoặc trồng cây ăn quả.
Trao đổi vấn đề này, đại diện Công ty cổ phần Thiên Lâm Đạt (thành viên thứ hai của các công ty lâm nghiệp - PV) khẳng định: "Sau khi hoàn thành thủ tục góp vốn, trở thành thành viên thứ hai của các công ty lâm nghiệp, đơn vị sẽ ưu tiên hàng đầu đến đổi mới phương thức quản lý, khai thác các nguồn lực về lao động, đất đai hiện có. Đồng thời, sẽ tăng cường quản lý mốc giới, bảo đảm quyền lợi các hộ đang nhận khoán đất; đẩy mạnh hỗ trợ người dân trồng, chăm sóc, phát triển rừng gỗ lớn. Đối với những diện tích kém hiệu quả, người dân không có nhu cầu nhận khoán sẽ được DN lập phương án bồi thường thỏa đáng, bảo đảm hài hòa lợi ích DN, người dân".
Về phần mình, trước khi thực hiện phương án sắp xếp, đổi mới, các công ty lâm nghiệp cũng nỗ lực giải quyết tồn tại, hạn chế. ông Nguyễn Văn Kiêm, Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Lục Nam cho biết, nhiều hộ trước đây chây ỳ khai thác, nộp sản lượng khoán đều đã cam kết khắc phục, thực hiện đầy đủ nội dung ký khi nhận khoán. Hầu hết các hộ đều có nhu cầu tiếp tục nhận khoán diện tích rừng, đơn vị đang tích cực rà soát, phân loại, ký lại hợp đồng theo đúng quy định hiện hành.
Thời điểm này, Công ty Lâm nghiệp Mai Sơn phối hợp với Hạt Kiểm lâm Lục Nam trực 24/24 giờ tại đội sản xuất Vĩnh Ninh (Lục Sơn) nhằm kiểm soát tình hình, không để các đối tượng mở rộng diện tích lấn chiếm. Cùng đó, DN tích cực phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra, rà soát đối tượng vi phạm, xử lý dứt điểm đơn thư khiếu nại; xây dựng phương án quản lý hiệu quả. Đến nay, Sở Tài nguyên và Môi trường đã cơ bản hoàn thành việc đo đạc, cắm mốc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các DN. Hiện chỉ còn một phần diện tích thuộc hai công ty: Lâm nghiệp Mai Sơn, Yên Thế còn tranh chấp, đơn thư của người dân nên việc cấp giấy chứng nhận tạm hoãn.
Thực tế cho thấy, đi đôi với buông lỏng quản lý đất đai, cơ chế chính sách chưa đồng bộ, hợp lý, một phần nguyên nhân dẫn đến yếu kém của các DN là do sự trì trệ trong điều hành. Nhiều ý kiến cho rằng, các cơ quan chức năng cần đánh giá toàn diện những DN yếu kém, làm rõ trách nhiệm từng tập thể, cá nhân để xử lý thỏa đáng, có biện pháp hữu hiệu vực dậy hiệu quả sản xuất kinh doanh. Đồng thời cần ban hành những chính sách phù hợp giúp các DN lâm nghiệp tiếp cận vốn, xây dựng mô hình quản lý phù hợp, phát huy hiệu quả tiềm năng sẵn có, bảo đảm thu nhập, cuộc sống người lao động, hộ gia đình nhận khoán đất rừng. (Báo Bắc Giang 8/9) đầu trang(
Đến thời điểm này, huyện Mường Ảng đã cơ bản hoàn thành công tác trồng rừng theo kế hoạch của năm 2016 với tổng diện tích rừng đã trồng là 355ha.
Số diện tích rừng trồng mới năm nay được huyện Mường Ảng trồng tập trung tại các xã: Ảng Cang, Ảng tở, Mường Lạn, Xuân Lao, Búng Lao. Toàn bộ số diện tích trên đều được trồng bằng cây keo lai do Công ty Rừng Việt Tây Bắc hỗ trợ 50% giá giống.
Hiện nay, toàn bộ số diện tích cây keo lai đã trồng đều bén rễ và sinh trưởng tốt. Cây keo có ưu điểm nổi trội hơn so với các cây trồng khác là sống được trên tất cả các diện tích đất bạc màu, đất xói mòn. Ngoài tác dụng phủ xanh đất trống đồi trọc, góp phần giảm thiểu tình trạng hiệu ứng nhà kính, cây keo lai còn góp phần nâng cao thu nhập cho bà con do nhà máy chế biến gỗ của Công ty Rừng Việt Tây Bắc cam kết sẽ bao tiêu sản phẩm cho người trồng rừng sau 3 đến 5 năm tới. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Điện Biên 8/9) đầu trang(
Trong mấy ngày qua có nhiều thông tin ở Huế có từ 1 đến 3 cây sứ cổ thụ trong Di tích Huế được Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế dùng xe chở vào khu vườn một giám đốc sở tại tỉnh Thừa Thiên Huế.
Theo đó, các thông tin nêu vào đêm 21/1/2016, sau khi đào, bứng cây sứ ở Đại Nội - Hoàng thành Huế từ tối cùng ngày, cây sứ to lớn trên 100 năm tuổi với thân cành to lớn được chở trên xe tải qua nhiều con đường dẫn lên khu vườn một giám đốc sở tên Sơn (ông Huỳnh Ngọc Sơn, Giám đốc Sở Tài chính - PV) tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Hiện khu vườn của vị giám đốc có 1 đến 3 cây sứ lâu năm nghi là khá giống với các cây sứ ở Đại Nội.
Để làm rõ thông tin, chiều 7/9 PV đã có cuộc gặp trao đổi với TS. Phan Thanh Hải, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế. Ông Hải đã tỏ ra rất bức xúc trước những luồng tin trên.
Ông Hải cho biết, trong toàn bộ di tích Huế hiện tại chỉ có khoảng 20% số cây xanh được trồng từ đời các vua Nguyễn là có nguồn gốc, định hướng việc trồng rõ ràng vào mục đích gì. Số còn lại được trồng tùy tiện giai đoạn sau 1945 (thời kỳ chế độ phong kiến triều Nguyễn tại Huế chấm dứt - PV), lúc Trung tâm Bảo tồn Di tích chưa tiếp quản di tích, đặc biệt một phần lớn có các cây tự mọc trên nền di tích.
Từ năm 2002, sau khi Trung tâm tiến hành đề tài số hóa cây xanh với Đại học Nông lâm Huế, xây dựng bản đồ cây xanh cho đến nay thì càng ngày Trung tâm càng chú trọng việc tu bổ, tôn tạo cảnh quan, cây xanh trong di tích vì đây là một thành phần rất quý trong Quần thể Di tích Cố đô Huế đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.
Vào đầu tháng 1/2016, Phòng Cảnh quan môi trường của Trung tâm đã làm báo cáo đề xuất khảo sát cắt tỉa, hạ độ cao, xử lý cây chết, vệ sinh tầm gửi, di chuyển và điều chỉnh các cây xanh mọc không phù hợp (Sứ, Sanh, Thông, Mai…)… tại các điểm di tích thì Trung tâm đã quyết định thực hiện công việc trên với nhiều cây trong Đại Nội, các lăng vua.
“Trong số đó có 3 cây sứ đại lâu năm mọc trên nền móng điện Kiến Trung sẽ được bứng di chuyển lên vườn ươm của Trung tâm tại Văn Thánh. Tuy nhiên, đây là 3 cây mọc muộn sau 1947 vì tháng 2/1947 toàn bộ điện Kiến Trung và cây cối xung quanh bị bom đạn phá hủy sạch. Do đó các cây sứ này không phải do triều Nguyễn trồng, không phải là cây di sản mà mọc tự nhiên, chừng hơn 60 tuổi.
Thứ đến, điện Kiến Trung là nơi ở của vua. Theo quan niệm văn hóa ở Huế từ xưa đến giờ, sứ là loại cây không bao giờ được các vua trồng trực tiếp vào nơi ở của mình vì đây là cây đại diện cho thế giới bên kia, là cây tâm linh. Nếu trồng thì chỉ trồng xa nơi ở hoặc khu vực lăng mộ vua, các đền chùa, miếu mạo” – TS. Phan Thanh Hải khẳng định quan điểm.
Theo TS. Hải, do những lý do đó mà các cây sứ trên nằm trong kế hoạch di chuyển lên vườn ươm để chăm sóc vì thời gian tới, dự án quan trọng cho khôi phục điện Kiến Trung đã được đưa vào kế hoạch, sẽ tiến hành. Sau khi chăm sóc, tùy theo vị trí phù hợp rồi sẽ đưa về trồng lại ở di tích Huế, không nhất thiết phải trồng lại chỗ cũ vì đây không phải là cây di sản, cây nguyên gốc ban đầu của vua Nguyễn.
Cụ thể, trong chiều 21/1/2016, Trung tâm đã cho tiến hành đào 1 cây sứ tuổi đời chừng hơn 60 năm trong 3 cây sứ ở điện Kiến Trung lên, sau đó vào hơn 17h chiều thì cho xe tải chuyển lên vườn ươm ở Văn Thánh, quá trình chở ra cửa Hòa Bình có ký sổ với bảo vệ.
Trước thông tin cây sứ này vào chiều tối ngày 21/1 được chở đến vườn tặng cho 1 giám đốc sở ở Huế, ông Hải khẳng định là không bao giờ có chuyện đó, đây là thông tin bịa đặt. Vì từ lúc chở cây sứ đến vườn ươm của Trung tâm cho đến nay, cây sứ vẫn nằm yên tại chỗ cũ. Riêng 2 cây sứ còn lại vẫn chưa di chuyển hiện đang nằm tại nền điện Kiến Trung, chờ ngày thích hợp sẽ chuyển.
Trong chiều 7/9 các báo đã khảo sát ở vườn ươm Văn Thánh và điện Kiến Trung. Qua quan sát của PV Dân trí, hiện ở điện Kiến Trung vẫn còn 2 cây sứ cũ. Riêng cây sứ được di dời lên vườn ươm Văn Thánh và hình ảnh cũ lúc nằm ở điện Kiến Trung thì có hình dáng giống nhau 100%. Cây sứ này khác hẳn với hình ảnh một cây sứ có vóc dáng nhỏ hơn nằm trong vườn của vị giám đốc sở tên Sơn mà ảnh chụp phản ánh là nghi cây sứ từ di tích Huế chở lên tặng “sếp”.
Ông Hải rất bức xúc cho rằng sự việc đã xảy ra gần 8 tháng nhưng giờ đang rộ lên các mạng không biết có cá nhân hay nhóm người gì đó muốn phá hoại hình ảnh của di tích mà làm vậy không. Ông Hải cho biết sẽ gửi báo cáo lên các cấp ở địa phương, trung ương để trình bày và đề nghị cơ quan chức năng vào cuộc làm rõ những đối tượng bịa đặt thông tin không đúng với Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế. (Dân Trí 8/9) đầu trang(
Cây xanh ngã đổ, tét nhánh là hiểm họa trực tiếp gây ra những cái chết thương tâm. Đây chính là những nguy hiểm chết người cần phải cảnh báo và có biện pháp phòng tránh từ xa.
Chỉ tính trong 6 ngày, từ ngày 26-8 trên địa bàn TP Hồ Chí Minh đã liên tiếp xảy ra khoảng 60 vụ cây xanh ngã đổ và tét nhánh làm 2 người chết, 1 người bị thương nặng, hư hỏng 6 xe gắn máy, 1 xe ôtô và một số công trình dân dụng. Chỉ trong ngày 28-8, đã có 25 cây xanh bị ngã, 32 nhánh gãy rơi xuống đường và rất nhiều nhánh khô, gãy rơi…
Những cái chết không báo trước bất luận trời đang mưa dông hay nắng ráo đều có thể xảy ra. Ngày 26-8, bà Trương Thị Ngọc Mai (60 tuổi, ngụ quận 1) đang tập thể dục trong Công viên Tao Đàn thì bất thần một nhánh cây rơi xuống trúng đầu khiến bà bất tỉnh. Nạn nhân được chuyển vào Bệnh viện Chợ Rẫy cấp cứu nhưng đã tử vong sau đó.
Hai ngày sau, trên đường An Dương Vương, quận 5, anh Từ Văn Khải (25 tuổi, quê Kon Tum) đang học nghề tại một cơ sở bỗng dưng bị một cây dầu gần như mất hết bộ rễ, bật gốc đè chết tại chỗ cùng nhiều xe gắn máy, ôtô và nhà dân bị ảnh hưởng.
Đại tá Tiền Thanh Liêm, Phó Giám đốc Bệnh viện 30-4 (Bộ Công an) cho biết: Ngày 31-8, bệnh viện tiếp nhận cấp cứu một bệnh nhân tên Huỳnh Minh Cường (34 tuổi, ngụ đường Hồ Thị Kỷ, quận 10, TP Hồ Chí Minh) trong tình trạng đa chấn thương, bất tỉnh.
Các bác sĩ đã tiến hành mổ làm sạch ổ gãy, nắn khớp xương, xếp lại xương, đóng đinh ổn định khớp xương… sau đó chuyển sang Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình tiếp tục theo dõi, điều trị.
Anh Cường là nạn nhân do cây xà cừ cổ thụ có đường kính gần 1m, cao khoảng 20m trên đường Sư Vạn Hạnh (quận 5) bật gốc đè trúng. Hơn 20 người dân nâng cây lên mới đưa anh vào Bệnh viện 30-4 cấp cứu.
Qua 3 vụ cây xanh bật gốc cuối tháng 8 cho thấy, cây cổ thụ ngã bật gốc do rễ đã chết khô, cơ quan quản lý cây xanh không thường xuyên kiểm tra, hoặc có kiểm tra cũng chỉ quan tâm đến cắt tỉa phần nhánh hư, khô trên cao; còn gốc rễ cây được bao bọc bằng khối bê tông, xi măng gần như phó mặc cho trời.
Sau khi liên tiếp xảy ra các vụ cây xanh bật gốc, tét nhánh ngã đổ gây chết người, bị thương và thiệt hại đáng kể về tài sản trong mấy ngày cuối tháng 8 khiến người dân hoang mang bức xúc, ông Nguyễn Thanh Sơn, Trưởng phòng Kỹ thuật, Công ty TNHH MTV Công viên cây xanh TP đã cho biết:
Qua kiểm tra không thấy cây có dấu hiệu bệnh. Hai nhánh cây gãy đè chết người trong Công viên Tao Đàn vẫn còn xanh tươi, không có dấu hiệu sâu bệnh, cây cổ thụ bật gốc ở đường An Dương Vương, Sư Vạn Hạnh đang sinh trưởng tốt. Tuy nhiên rễ hai cây này không tốt, gặp gió lốc mạnh làm bật gốc…
Theo cách nói này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ không thuộc về đơn vị quản lý, chăm sóc, bảo dưỡng cây xanh theo hợp đồng và phân chia khu vực của Công ty Công viên cây xanh. Nếu phần lỗi do “bất khả kháng” do trên trời rơi xuống, thì nạn nhân thiệt hại, thiệt mạng chỉ được hỗ trợ một phần kinh phí ma chay.
Do đó, hầu hết các vụ cây xanh ngã đổ, tét nhánh làm chết người hằng năm thường được xác định lỗi không thuộc về đơn vị quản lý, chăm sóc, bảo dưỡng… như cành khô, mục, sâu bệnh…).
Thành phố đang bước vào cao điểm mùa mưa bão, do đó hiện tượng cây xanh ngã đổ, tét nhánh có thể gây chết người và thiệt hại tài sản luôn là mối nguy hiểm tiềm ẩn có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nguyên nhân cây cổ thụ liên tục ngã đổ, bật gốc do tuổi thọ quá cao, cây quá già thì càng ẩn bên trong những khiếm khuyết không thể nhìn thấy được. Nhiều cây trông xanh tươi, mạnh khỏe nhưng trong ruột bọng ruỗng, khuyết tật ăn lõm từ bên trong, phần rễ cây do bê tông hóa đã làm chết dần bộ rễ, đặc biệt là rễ bàng và rễ chuột bám đất, giữ thân chống chọi lại mọi tác động thời tiết, dông lốc. Không gian sống, bám rễ, hút nước nuôi thân của cây xanh bị thu hẹp và triệt tiêu, chết dần mòn do bê tông hóa. Nhiều nhà cao tầng ngày nay xây chọc trời cũng là một luồng dẫn gió, tạo thành sức mạnh xoáy làm cho cây bật gốc.
Theo kỹ sư Nguyễn Trịnh Kiểm, Hiệp hội Cây xanh Việt Nam, TP Hồ Chí Minh cần có kế hoạch thay thế dần các loại cây cổ thụ quá già tuổi như dầu, sao, sọ khỉ, lim xẹt… Cần phân loại nhóm tuổi tồn tại, sinh trưởng cho phép của từng loại cổ thụ để có những biện pháp thích hợp bảo vệ, thay thế… TP Hồ Chí Minh hiện có trên 5.000 cây dầu loại 3, cao từ 12m trở lên, luôn tiềm ẩn nhiều nguy hiểm cho con người và tài sản.
Ngoài ra, để tránh tai nạn gây ra từ việc cây xanh ngã đổ, bật gốc, cơ quan quản lý cây xanh cần khảo sát, kiểm tra phân loại từng đặc điểm sinh trưởng, phẩm chất từng loại cây để xây dựng hệ thống dữ liệu trong công tác quản lý… để có những can thiệp kịp thời vào toàn bộ cây xanh thuộc diện quản lý, kể cả những công trình xây dựng hạ tầng làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây xanh, nhằm đảm bảo an toàn cho con người và cảnh quan đô thị. (Công An Nhân Dân 9/9) đầu trang(
Qua điều tra cho thấy, việc mua bán, chuyển nhượng “chui” và chuyển đổi trái phép mục đích sử dụng rừng có nhiều nguyên nhân. Trong đó có nguyên nhân từ sự đói nghèo và hạn chế nhận thức của một bộ phận người dân; trong khi cấp ủy, chính quyền cơ sở các cán bộ cơ quan liên quan một số nơi còn buông lỏng công tác quản lý, bảo vệ rừng..
Với nhiều những hộ đồng bào miền núi, nguyên nhân khiến họ bán giấy chứng nhận QSD đất rừng thật đơn giản: vì nghèo! Nguyên Trưởng bản Kẻ Nính (xã Châu Hạnh, Quỳ Châu), ông Lê Văn Bình được giao 23 ha rừng tự nhiên, có vị trí sát địa bàn xã Châu Thuận năm 2003. Đến năm 2011, ông đã đem bán giấy chứng nhận QSD đất rừng cho ông Phan Bá Giang.
Ông Bình kể: "Khoảng độ năm 2010, vì cần tiền chữa bệnh cho con nên tôi phải "cắm" nhà cho ngân hàng. Đến kỳ trả nợ, do không có tiền nên đành phải bán đất rừng Nhà nước giao cho. Tính ra mỗi ha rừng giá 1,5 triệu đồng. Tôi đã bán 20/23 ha để lấy 30 triệu đồng...".
Với anh Hoàng Văn Toán thì kể, gia đình anh được cấp 2 giấy chứng nhận QSD đất rừng tự nhiên. Một giấy chứng nhận mang tên anh, giấy còn lại mang tên bố anh là ông Hoàng Văn Hùng. Năm 2011, do thiếu tiền mua ngói lợp nhà nên ông Hùng đã bán giấy chứng nhận mang tên ông cho Công ty CP Nghệ An Xanh. "Diện tích đất rừng khoảng hơn 3ha, số tiền được trả chỉ vừa đủ để mua ngói, khoảng 4 - 5 triệu đồng gì đó" - anh Toán nói.
Cũng ở Kẻ Nính, ông Vi Văn Thành là một trong những người còn lưu giữ được đầy đủ giấy tờ mua bán giấy chứng nhận QSD đất rừng. Ông Thành được cấp giấy chứng nhận QSD đất số 00374 ngày 24/9/2004, diện tích 37,2 ha đất rừng tại các lô 58, 160, 394, 391 thuộc địa bàn xã Châu Hạnh; mục đích sử dụng là Rtn.S.
Cũng vì khó khăn nên năm 2011, ông Thành bán cho ông Phan Bá Giang lô 58 có diện tích 19,7 ha với số tiền 13 triệu đồng. Giấy chứng nhận QSD đất rừng của ông Thành đã giao cho bên mua; ông được giữ bản phô tô. Vẻ mặt buồn rười rượi, ông Thành nói: “Cũng vì khó khăn nên mới phải bán thôi. Em tôi là Vi Văn Điệp cũng phải bán giấy chứng nhận QSD đất rừng với diện tích hơn 17 ha cho ông Giang đấy...".
Thực tế không chỉ ở Quỳ Châu, mà người dân đồng bào ở các huyện Quế Phong, Con Cuông… cũng đều lý giải nguyên nhân bán đất rừng là như vậy. Nhưng với nhiều cán bộ có trách nhiệm ở địa phương, ngoài nguyên nhân nghèo khó bởi người dân còn mang nặng tâm lý trông chờ, ỷ lại các chính sách ưu đãi của Nhà nước; và nhất là sự thiếu hiểu biết pháp luật và thiếu ý thức về quyền, lợi ích của bản thân với vùng rừng được giao.
“Người dân miền núi có cuộc sống gắn với rừng. Có rừng, nếu siêng năng, chỉ thu hái lâm sản phụ thì họ cũng đủ để đảm bảo cho cuộc sống. Vậy nhưng do thiếu hiểu biết nên cứ nghĩ giấy chứng nhận QSD đất để đó cũng chẳng làm gì, trong khi bán đi sẽ mua được một số vật dụng. Nào ngờ khi bán rồi thì quyền thu hái lâm sản phụ trong rừng được giao không còn. Đến chặt một cây nứa, cây lùng để đan cái rá, cái rổ chủ mới cũng bắt trả 10.000 - 20.000 đồng. Rất tội…” - ông Sầm Văn Thiết - Chủ tịch UBND xã Châu Hạnh lý giải.
Tìm hiểu ở nhiều địa phương, trong những vụ việc xâm hại rừng, đối tượng bị lực lượng chức năng xử lý cơ bản cũng là người dân, buộc chúng tôi đặt ra câu hỏi: Tại sao? Và nguyên nhân cũng lại được nêu ra là vì người dân nghèo và thiếu hiểu biết! Vì nghèo và thiếu hiểu biết, thế nên không ít những hộ dân bán đất lâm nghiệp, đất rừng sau đó tiếp tục được các đối tượng “môi giới”, “đầu nậu” gạ gẫm rủ rê thuê, khoán để xâm hại rừng. Đó là tỉa, đốn hạ cây gỗ; xẻ phát tre nứa, lùng cho đến khi rừng chỉ còn cây leo, cây bụi… sau đó là đốt.
Cái giá để chặt cây rừng, xẻ phát, đốt rừng và trồng keo trên diện tích một ha mà như một vị Hạt trưởng Hạt kiểm lâm cho chúng tôi hay là, chỉ khoảng 9 triệu đồng (trong đó, mua cây keo giống hết 1,6 triệu đồng).
“Dân nghèo, thiếu hiểu biết. Bán đất rừng được ít tiền thì “sắm” luôn mấy vật dụng trong nhà chứ đâu biết giữ vốn làm ăn sinh lãi. Thế nên khi hết tiền lại tiếp tục bị lôi kéo vào việc phá rừng. Họ không hề biết cái giá các đối tượng “đầu nậu” chi cho so với cái giá họ sẽ phải trả khi cơ quan chức năng phát hiện xử lý cho hành vi phá rừng là quá rẻ mạt…” - vị Hạt trưởng kiểm lâm nói.
Lại đặt ra câu hỏi tại sao các “đầu nậu” như Công ty CP Nghệ An Xanh của ông Phan Bá Giang biết được người dân các bản Kẻ Nính, Pà Cọ ở xã Châu Hạnh, kể cả ở tận Đồng Văn, Thông Thụ (Quế Phong) sẽ bán đất rừng để gom mua? Những người hiểu chuyện đều trả lời: họ có người tại địa bàn môi giới.
Như Phó bản Kẻ Nính, ông Mạc Văn Hóa đã nói: “Trước đây trong ban quản lý thôn bản có người là ông Lưu Văn Thiện đi làm môi giới cho ông Giang. Vì làm cán bộ thôn bản, ông ấy biết rõ hộ nào được cấp giấy chứng nhận QSD đất rừng nên thường đến dạm hỏi "có cần tiền không, bán bìa đi sẽ có người mua đấy”. Dân nghèo, gặp việc cần tiền đành đem bán hết. Tôi cũng phải bán giấy chứng nhận QSD đất rừng mang tên con trai là Mạc Văn Ân khi cháu bị bệnh...".
Những ngày bôn ba qua nhiều địa phương cơ sở, chúng tôi nhận thấy một thời gian rất dài đã qua, chính quyền các cấp và các cơ quan có liên quan lỏng lẻo trong công tác quản lý; bên cạnh đó, chưa đem hết tâm huyết thực hiện công cuộc xóa nghèo, nâng cao hiểu biết của người dân.
Về câu chuyện quản lý, có thể dẫn ra ví dụ ở vùng đất nóng Quỳ Châu. Thời điểm năm 2011, chính quyền huyện này đã biết về tình trạng mua bán, chuyển nhượng "chui" giấy chứng nhận QSD đất rừng; năm 2012, có Công văn số 162/UBND.TNMT yêu cầu chủ tịch các xã, thị trấn không được xác nhận cho việc chuyển nhượng QSD đất lâm nghiệp; giao cho Văn phòng ĐKQSD đất không thụ lý hồ sơ chuyển nhượng QSD đất lâm nghiệp của các hộ gia đình đã được cấp theo Nghị định 163.
Thế nhưng, các địa phương cơ sở vẫn thiếu kiểm soát nên để tình trạng mua bán, chuyển nhượng “chui” vẫn diễn ra; và đáng nói hơn, để những vùng rừng bị chuyển nhượng trái phép bị tác động xấu, thậm chí thay đổi hoàn toàn trạng thái rừng.
Thậm chí có những vị là cán bộ, đảng viên đã thiếu gương mẫu, không chấp hành pháp luật đã thực hiện hành vi xâm hại rừng. Ví như chuyện xảy ra ở xã Nghĩa Lạc, huyện Nghĩa Đàn. Ngay tại thời điểm tháng 8/2016 này, gia đình ông Bí thư Đảng ủy xã tự ý chặt phá rừng được giao có trạng thái Ic thuộc lô 4, khoảnh 6, tiểu khu 248 để tiến hành san ủi đất làm móng nhà.
Hoặc như tại vùng rừng phòng hộ Rú Cấm hồ Vực Mấu, xã Quỳnh Tân (Quỳnh Lưu), những hộ dân nhận khoán bảo vệ rừng có hành vi xâm hại đến rừng, tự ý trồng dứa, trồng keo cho đến khi lên xanh mới được phát hiện…
Công cuộc xóa nghèo, đưa chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước đến với người dân, nhất là ở vùng cao trong nhiều năm qua là việc làm thường xuyên của các cấp ủy đảng, chính quyền và các cơ quan. Tuy nhiên, với những vấn đề liên quan đến rừng thì chưa được đảm bảo.
Một mục tiêu cốt lõi khi Nhà nước giao đất rừng cho dân là để họ có tư liệu sản xuất, tăng thêm thu nhập để đảm bảo cuộc sống. Đất rừng sản xuất trao cho dân về cơ bản có hai loại: đất có rừng khoanh nuôi bảo vệ; và đất rừng nghèo kiệt có thể thực hiện chuyển đổi, quy hoạch, thiết kế để trồng rừng hoặc các loại cây phù hợp. Vậy nhưng, đã có bao nhiêu địa phương có định hướng và giúp cho người dân làm kinh tế từ rừng Nhà nước giao khoanh nuôi bảo vệ? Đã có địa phương nào giúp dân lập hồ sơ quy hoạch, thiết kế để cấp thẩm quyền xem xét chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng đúng theo quy định của pháp luật?...
Về nội dung này, một cán bộ có trách nhiệm đã đắng đót thốt lên với chúng tôi rằng, nếu là các tổ chức có tiềm lực, việc thực hiện lập hồ sơ quy hoạch, thiết kế chuyển đổi đất lâm nghiệp đã khó; còn với người dân, dù là được Nhà nước cấp giấy chứng nhận QSD đất rừng nhưng để chuyển đổi mục đích sử dụng đất còn khó hơn cả… lên trời. Thế nên ở địa phương của ông thời gian tới, sẽ nghiên cứu để có chính sách hỗ trợ cho các đơn vị tư vấn giúp dân trong việc thiết lập hồ sơ, quy hoạch, thiết kế… chuyển đổi mục đích sử dụng, qua đó, người dân có cơ hội sử dụng hiệu quả đất rừng!. (Báo Nghệ An 8/9) đầu trang(
Đã có những địa phương, ngành có liên quan đề ra giải pháp để chấn chỉnh vấn nạn mua bán, chuyển nhượng “chui” và sử dụng trái mục đích đất rừng. Từ thực tế cơ sở, chúng tôi cũng có những kiến giải riêng về nội dung này…
Đến nay, hầu hết các địa phương có rừng và sở, ngành có tên tại Công văn 5037 đều đã vào cuộc, tuy nhiên còn gặp rất nhiều khó khăn. Các huyện tích cực như Quỳ Châu, Con Cuông, Quế Phong… đã có sự thống nhất chỉ đạo các đơn vị, các phòng, kiểm lâm, chính quyền cấp xã có sự phối hợp và đề ra những biện pháp để thực hiện rà soát mua bán, chuyển nhượng trái phép, sử dụng sai mục đích. Nhưng những con số đã thống kê được vẫn chưa thực sự đảm bảo chính xác.
Lý do là bởi, nhiều hộ dân còn e ngại vì đã thực hiện mua bán, chuyển nhượng “chui” nên có ý che dấu, không tự giác phối hợp cơ quan chức năng; hoặc không nhận đã bán, chuyển nhượng mà chỉ nhận là “phối hợp” làm kinh tế rừng, “cầm, cắm” giấy chứng nhận QSD đất rừng cho các đối tượng đầu nậu…
Nhiều cán bộ có trách nhiệm ở địa phương tỏ ra băn khoăn, đề nghị cần được hướng dẫn trong xử lý việc chuyển nhượng đất lâm nghiệp, đất rừng. Cụ thể như tại huyện Quế Phong, khi xảy ra vụ việc người dân xã Nậm Giải chuyển nhượng giấy chứng nhận QSD đất cho doanh nghiệp Phong Vân đã có những luồng ý kiến khác nhau trong giải quyết. Nguyên nhân là bởi theo quy định của Luật Đất đai, người dân được phép chuyển nhượng QSD đất đối với diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận; trong khi theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng cùng các văn bản hướng dẫn luật này thì không được phép chuyển nhượng.
Về nội dung này Sở Tư pháp đã có Văn bản số 784/STP-XDVB ngày 28/6/2016 phân tích rõ quy định của hai luật nêu trên, khẳng định việc tự ý chuyển nhượng đất lâm nghiệp là không phù hợp với quy định của pháp luật; đề nghị UBND huyện Quế Phong yêu cầu các hộ gia đình, cá nhân chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng thực hiện việc trả lại đất theo quyết định giao đất cho cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, vì đây mới chỉ là ý kiến của Sở Tư pháp, nên UBND huyện Quế Phong vẫn tiếp tục phải có văn bản xin ý kiến của các sở liên quan như TN&MT, NN&PTNT để xin ý kiến chỉ đạo giải quyết.
Nhiều cán bộ có trách nhiệm nhận thấy, để đảm bảo chính xác số liệu các hộ gia đình, cá nhân thực hiện chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng “chui” đất lâm nghiệp, đất rừng và làm rõ được các hành vi, mức độ vi phạm pháp luật thì cần phải có thêm thời gian. Như với hạn định được nêu ở Công văn 5037 của UBND tỉnh (cuối tháng 8/2016) là quá khó khăn.
Quỳ Châu là huyện có thống kê tương đối rõ ràng về cả việc mua bán, chuyển nhượng trái phép và các vụ việc phá rừng. Tuy nhiên để xử lý những hành vi mua bán chuyển nhượng trái phép và sử dụng trái mục đích đất rừng, các cán bộ ở đây vẫn rất băn khoăn vì rằng, những căn cứ mang tính pháp lý vẫn chưa được đảm bảo. Vậy nên cần phải thực hiện soát xét đến từng hộ, từng đối tượng có liên quan, đồng thời phải đến từng vùng đất rừng các hộ được giao để đối chiếu với hiện trạng nêu trên giấy chứng nhận QSD đất rừng thì mới có thể chứng minh được…
Dĩ nhiên những băn khoăn của các chính quyền địa phương có rừng rồi đây sẽ được tỉnh giải đáp. Vấn đề là, qua những gì tìm hiểu ở các huyện Quỳ Châu, Con Cuông, Quế Phong, Quỳnh Lưu… thì tình trạng mua bán, chuyển nhượng “chui”, sử dụng trái mục đích đất rừng thực sự đang là một vấn nạn. Mức độ vi phạm là rất lớn, vượt xa con số 5.542 ha mà UBND tỉnh công bố tại Công văn 5037. Bởi vậy, chúng tôi cũng chuyển tải yêu cầu từ thực tế cơ sở đối với UBND tỉnh như sau:
Thứ nhất, cần xác định đây là một nội dung phức tạp, có ảnh hưởng rất xấu đến đến KT-XH của tỉnh nói chung, công tác quản lý bảo vệ rừng nói riêng để tiếp tục có sự chỉ đạo các huyện, thị xã có rừng và các sở, ngành có liên quan vào cuộc quyết liệt kiểm tra, rà soát, thống kê chính xác về số hộ gia đình, cá nhân đã chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng đất rừng, và hiện trạng các diện tích đất lâm nghiệp, đất rừng đã giao. Để làm được điều này, sự phối hợp của ngành Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kiểm lâm của các địa phương có rừng và chính quyền cấp xã, cán bộ thôn, xóm, bản là hết sức quan trọng. Vì vậy, cần nhất quán chỉ đạo các sở ngành có liên quan, các địa phương có rừng về phương pháp thực hiện.
Thứ hai, cần chỉ đạo các cơ quan thực thi pháp luật điều tra, thu thập chứng cứ để phát hiện làm rõ vi phạm của các tổ chức, cá nhân đã có hành vi mua, nhận chuyển nhượng “chui” và sử dụng trái mục đích sử dụng đất rừng; qua đó, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Sở dĩ đề cập đến vấn đề này là bởi trong số rất nhiều những vụ việc phá rừng đã bị khởi tố hay xử phạt hành chính, hầu như đối tượng bị xử lý đều là người dân. Ai cũng hiểu người dân vi phạm vì hoàn cảnh khó khăn, vì thiếu hiểu biết nên bị các đối tượng “đầu nậu” lợi dụng. Vậy nên bỏ sót đối tượng “đầu nậu” tức là chưa giải quyết được vấn đề tận gốc.
Thứ ba, là dấu hiệu vi phạm của cán bộ nhà nước. Ví như vụ việc phá rừng xảy ra tại lô 4, khoảnh 6, tiểu khu 248 để tiến hành san ủi đất làm móng nhà ở xã Nghĩa Lạc, huyện Nghĩa Đàn; vụ việc chặt phá gần 2ha rừng trạng thái 1c tại lô 1, khoảnh 5, tiểu khu 197 (khe Đoọng, Nậm Bông, xã Châu Hạnh) để trồng cây keo…  Vì vậy, cần phát hiện, xử lý nghiêm các cán bộ có hành vi mua bán, chuyển nhượng “chui”, sử dụng trái mục đích sử dụng đất rừng. Để qua đó, làm gương cho cán bộ, đảng viên, đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, tạo được niềm tin trong nhân dân.
Thứ tư, cần xem xét đánh giá lại việc giao đất lâm nghiệp, đất rừng đã quy hoạch giao cho các doanh nghiệp trồng rừng. Việc đánh giá phải đảm bảo sát đúng với hiện trạng vùng rừng được giao; bên cạnh đó là tiến độ thực hiện dự án của doanh nghiệp. Sở dĩ cần thực hiện điều này là bởi, có nhiều ý kiến từ cơ sở khẳng định một số doanh nghiệp được Nhà nước giao đất lâm nghiệp để trồng rừng, nhưng từ nhiều năm qua không thực hiện, trong khi người dân thiếu đất; và có nhiều ý kiến khẳng định việc quy hoạch giao đất rừng ở một số khu vực còn chưa sát thực tế. Có những vùng rừng đầu nguồn, nếu tác động sẽ ảnh hưởng xấu đến nguồn nước, đến môi trường… nhưng vẫn được quy hoạch để giao cho doanh nghiệp trồng rừng…
Thứ năm, cần chỉ đạo các cấp, ngành có liên quan đánh giá lại chính xác hiện trạng đất rừng đã giao cho dân để xác định đâu là khu vực rừng tự nhiên khoanh nuôi bảo vệ; đâu là đất rừng trồng, đất trống đồi trọc quy hoạch trồng cây lâm nghiệp hoặc vùng có thể chuyển đổi mục đích sử dụng. Qua đó, tạo điều kiện để người dân có nhận thức đúng về vùng đất rừng được giao để phát triển kinh tế hộ, và nâng cao trách nhiệm bảo vệ rừng.
Cuối cùng, công tác bảo vệ và phát triển rừng luôn được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm. Sau vụ việc phá rừng xảy ra ở Quảng Nam trong thời gian vừa qua, người đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có những chỉ đạo hết sức cụ thể để các bộ, ngành liên quan và các tỉnh thành trên toàn quốc thực hiện. Nghệ An là tỉnh có diện tích rừng lớn hàng đầu của cả nước, công tác bảo vệ và phát triển rừng cũng đã được đẩy mạnh đã nhiều năm. Mà trong đó, là thực hiện nghiêm túc chính sách giao đất lâm nghiệp, đất rừng cho nhân dân. (Báo Nghệ An 9/9) đầu trang(
Ngày 8/9, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Minh Tiến đã chủ trì Hội nghị trực tuyến tổng kết kế hoạch số 46 của UBND tỉnh về tăng cường quản lý lâm sản và triển khai phương án nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của kiểm lâm địa bàn…
Việc triển khai thực hiện kế hoạch số 46 của UBND tỉnh, giai đoạn 2013 – 2016 đã tạo chuyển biến sâu sắc về nhận thức của các cấp, các ngành và người dân về công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Qua đó, đã kiểm soát hiệu quả, hạn chế và giảm đáng kể việc khai thác gỗ từ rừng tự nhiên, giảm thiểu tình trạng phá rừng, lợi dụng mua bán vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn tỉnh.
Riêng 7 tháng đầu năm 2016 xảy ra 189 vụ, giảm 96 vụ so với cùng kỳ năm 2015, đa số các vụ việc xảy ra ở mức độ nhỏ lẻ, không có điểm nóng bùng phát. Để thực hiện tốt hơn công tác bảo vệ, quản lý rừng giai đoạn 2016 – 2020, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng và được UBND tỉnh phê duyệt phương án “Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của kiểm lâm địa bàn”.
Đây là phương án quan trọng, có tính chất tổng thể, toàn diện để lực lượng kiểm lâm cùng các địa phương, các ngành hữu quan đẩy mạnh hiệu quả bảo vệ, quản lý rừng trên địa bàn toàn tỉnh. Đồng thời, tạo chuyển biến thực sự trong người dân về trach nhiệm phối hợp, trách nhiệm công dân trong bảo vệ, quản lý và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Kết luận Hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Minh Tiến nhấn mạnh: Công tác quản lý lâm sản theo kế hoạch số 46 thời gian qua đã có chuyển biến và hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, hạn chế lớn là cấp ủy chính quyền cơ sở chưa thực sự sâu sát dẫn đến thiếu hiệu quả hoặc để xảy ra những vụ việc đáng tiếc, điển hình là các huyện Yên Minh, Mèo Vạc, Hoàng Su Phì.
Phó Chù tịch UBND tỉnh Nguyễn Minh Tiến yêu cầu: Cần xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu từng cấp gắn với chấn chỉnh quyết liệt trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp xã trong bảo vệ rừng, quản lý lâm sản. Các địa phương hoàn thiện thông kê, rà soát để đưa vào quản lý diện tích rừng, quản lý máy cưa xăng một cách có trọng điểm theo sự linh hoạt của từng địa bàn. Các khu vực giáp danh với huyện khác, tỉnh khác cần thường xuyên trao đổi, thống nhất công tác bảo vệ, quản lý rừng. Đồng thời, các huyện phải bố trí kinh phí quản lý bảo vệ rừng từ nguồn sự nghiệp kinh tế ngay từ năm 2017.
Với việc xây dựng kế hoạch quản lý lâm sản mới cho giai đoạn 2016 – 2020 và phương án nâng cao hiệu quả hoạt động của kiểm lâm địa bàn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Minh Tiến nhấn mạnh: Tập trung vào việc bố trí lại lực lượng kiểm lâm viên đối với diện tích rừng có giá trị, có trọng điểm. Nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ kiểm lâm, đặc biệt là thái độ vô cảm với tài nguyên rừng bị thất thoát.
Các địa phương, nhất là cấp xã, phải bố trí điều kiện làm việc, nơi ăn nghỉ cho cán bộ kiểm lâm địa bàn. Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với ngành Tài chính trang bị thiêt bị hỗ trợ, kinh phí tập huấn cho cán bộ kiểm lâm viên. Kịp thời tham mưu, điều chỉnh phương án cho phù hợp với điều kiện thực tế, nhất là phải xây dựng được kế hoạch phối hợp quản lý, bảo vệ rừng với các ngành, các địa phương một cách hiệu quả. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Hà Giang 8/9) đầu trang(
Cùng với sự phát triển nhanh, rộng khắp của diện tích rừng trồng là sự ra đời của nhiều nhà máy, cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh. Thế nhưng có một nghịch lý là giữa nhà máy và người trồng rừng chưa có bất kỳ “sợi dây” gắn kết nào. Điều này tất yếu dẫn đến những hệ lụy, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bền vững...
Từ Nghị định 02 về giao đất, giao rừng đến Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, Chương trình trồng rừng 147 đã tạo ra bước chuyển mạnh từ lâm nghiệp Nhà nước sang lâm nghiệp xã hội và phát triển nghề rừng bền vững ở tỉnh ta. Đặc biệt trong giai đoạn 2011 – 2015, diện tích rừng trồng ở Thanh Hóa lan nhanh, tỏa rộng với khoảng 55.000 ha, bình quân mỗi năm trồng mới 11.000 ha.
Hiện nay, toàn tỉnh có 93.330 ha rừng trồng sản xuất; trong đó, rừng non và dưới 5 năm tuổi khoảng 62.506 ha; rừng từ 5 đến 10 năm tuổi 27.874 ha và rừng trên 15 năm tuổi chỉ có 2.950 ha. Những con số “biết nói” trên cho thấy thực trạng rừng trồng của tỉnh chủ yếu là rừng gỗ nhỏ, chu kỳ khai thác ngắn, khoảng từ 5 đến 7 năm, dẫn đến giá trị kinh tế thấp, doanh thu bình quân chỉ từ 40 đến 80 triệu đồng/ha/chu kỳ.
Các dự án trồng rừng của Nhà nước đã thổi một “luồng sinh khí” vào phong trào trồng rừng ở huyện Thường Xuân. Trong 5 năm (từ 2011 – 2015), người dân trong huyện trồng mới được 6.140 ha rừng. Phần lớn người dân địa phương vẫn trồng rừng theo phương thức quảng canh nên năng suất, chất lượng rừng thấp. Theo tính toán, sau khi trừ các khoản chi phí, lợi nhuận của người trồng rừng chỉ  khoảng từ 1,4 đến 4 triệu đồng/ha/năm.
Có mặt tại gia đình anh Vi Văn Thành, thôn Trung Chính, xã Xuân Cẩm, đúng vào dịp vợ chồng anh hối hả thu hoạch đồi keo vừa được 4  năm tuổi. Anh Thành, chia sẻ: “Gia đình tôi chẳng muốn bán chút nào nhưng vì thiếu tiền trang trải cuộc sống, lo cho các cháu ăn học nên đành phải bán. Nói thật, chu kỳ cây keo quá dài mà người dân miền núi như chúng tôi không có thêm nghề phụ biết lấy gì mà chi phí cho cuộc sống”.
Gia đình anh Thành được giao gần 4ha đất lâm nghiệp, không có vốn anh đã vay mượn tiền của họ hàng để đầu tư trồng keo Úc. Bấm bụng bán rừng keo non anh Thành chỉ thu được hơn 30 triệu đồng/ha kể cả vốn lẫn lãi. Với lợi nhuận thu được từ rừng thấp, anh Thành và các hộ trồng rừng khác trong huyện mới chỉ đáp ứng được nhu cầu trước mắt của cuộc sống mà chưa có tích lũy và làm giàu từ rừng.
Huyện Như Xuân là địa phương có phong trào trồng rừng thuộc tốp đầu của tỉnh. Toàn huyện có hơn 7.100 ha rừng trồng sản xuất, với hơn 2.000 hộ dân trồng rừng. Hàng năm, người dân trong huyện khai thác khoảng từ 1.200 đến 1.400 ha rừng trồng để bán cho các cơ sở băm dăm và một số nhà máy chế biến gỗ, giấy trên địa bàn tỉnh. Nhằm tiêu thụ nguyên liệu gỗ rừng trồng cho người dân huyện Như Xuân và một số huyện lân cận, tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư xây dựng Nhà máy Chế biến gỗ công nghiệp Thành Nam, tại xã Xuân Bình.
Đồng chí Phạm Văn Tuấn, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Như Xuân, cho biết: Nhà máy Chế biễn gỗ công nghiệp Thành Nam chưa có bất kỳ “sợi dây” nào gắn kết với người trồng rừng. Các chính sách đầu tư cho người dân trồng rừng và bao tiêu sản phẩm không có, một phần lý do là nhà máy không được giao vùng nguyên liệu. Việc thu mua gỗ rừng trồng của nhà máy này chủ yếu qua các đầu nậu và trực tiếp với người dân.
Trên địa bàn tỉnh hiện có 76 doanh nghiệp, cơ sở chế biến gỗ, nằm rải rác ở 27 huyện, thị xã, thành phố. Một số nhà máy, công ty có công suất chế biến lớn như: Nhà máy Chế biến gỗ công nghiệp Thành Nam (Như Xuân), công suất 100.000m3 sản phẩm/năm; Nhà máy băm dăm của Công ty TNHH Innogreen (Tĩnh Gia), công suất thiết kế 70.000 tấn nguyên liệu/năm; Nhà máy Giấy Mục Sơn, Nhà máy Giấy Lam Sơn, Nhà máy Giấy Lam Kinh, tổng công suất 75.000 tấn nguyên liệu/năm...
Nguồn nguyên liệu phục vụ hoạt động chế biến gỗ của các nhà máy chủ yếu từ rừng trồng. Sản phẩm chính gồm: dăm gỗ, ván sàn, đồ mộc gia dụng, với thị trường tiêu thụ ở trong nước và xuất khẩu cho các nước  và vùng lãnh thổ có công nghệ chế biến như: Đài Loan, Trung Quốc...
Hoạt động sản xuất của các cơ sở, nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh tương đối “phập phù”, thiếu tính bền vững và chưa có sự gắn kết trong đầu tư trồng rừng, thu mua nguyên liệu với người dân. Các nhà máy chưa có mục tiêu, chiến lược đầu tư rõ ràng từ khâu trồng rừng đến chế biến nhằm tạo ra vùng nguyên liệu ổn định phục vụ hoạt động sản xuất lâu dài.
Điều này dẫn đến hệ lụy là hoạt động thu mua nguyên liệu chưa có sự liên kết giữa các nhà máy, cơ sở chế biến gỗ với chủ trồng rừng thông qua các hợp đồng. Đặc biệt, ở một số địa phương còn xuất hiện tình trạng “tranh mua” nguyên liệu giữa các nhà máy, cơ sở chế biến gỗ, băm dăm. Thực trạng trên đã tạo ra sự thiếu ổn định về giá thu mua nguyên liệu gỗ và người dân trồng rừng luôn bị tư thương “ép giá”.
Một thực tế khác, hầu hết các nhà máy, cơ sở chế biến gỗ trong tỉnh được ra đời theo kiểu tự phát, manh mún, sử dụng công nghệ lạc hậu nên việc sản xuất chỉ ở dạng sơ chế, giá trị sản phẩm không cao, gây ra sự lãng phí về tài nguyên rừng. Tại các huyện miền núi như: Như Xuân, Bá Thước, Thường Xuân... một số cơ sở chế biến gỗ còn nằm rải rác trong các khu dân cư dẫn đến hoạt động sản xuất không đảm bảo yếu tố vệ sinh môi trường, gây bức xúc trong nhân dân.
Theo Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020, định hướng đến năm 2025”, lĩnh vực chế biến gỗ tỉnh ưu tiên phát triển các sản phẩm gỗ MDF, ván ghép thanh, hàng mộc cao cấp từ rừng trồng, giảm dần các cơ sở chế biến dăm thô và chấm dứt vào năm 2025. Đồng thời, tỉnh cũng thực hiện quy hoạch và chuyển đổi rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn, nhằm nâng cao giá trị kinh tế của rừng. (Báo Thanh Hóa 8/9) đầu trang(
Các DN chế biến dăm gỗ và lĩnh vực lâm sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An đang rơi vào tình trạng phải đóng cửa nhà máy chế biến bởi, chính sách bảo hộ độc quyền vùng nguyên liệu cho những DN lớn của chính quyền tỉnh thời gian gần đây.
Với diện tích đất có rừng lên tới hơn 985.137 hecta, Nghệ An được đánh giá là một trong những địa phương có nguồn tài nguyên rừng trù phú của cả nước.
Thế nhưng, điều đáng nói, hiện nay, người nông dân trồng rừng tại một số huyện của tỉnh này, lại đang tính tới bài toán bỏ rừng vì gỗ trồng đến mùa thu hoạch bị ép giá hoặc không có thị trường tiêu thụ.
Một nông dân trồng rừng tại huyện Nghĩa Đàn chia sẻ với PV DĐDN rằng, cây keo khai thác hiệu quả nhất (về giá trị kinh tế cũng như chất lượng) với vòng tuổi đời từ 4- 5 năm. Thế nhưng, hiện nay, có những diện tích keo của gia đình đã trồng tới 7 năm nhưng không thể thu hoạch vì không có người mua, hoặc nếu mua thì lại bị ép giá. Trong khi đó, thu nhập chủ yếu của gia đình nhờ vào 6 hecta trồng keo. Tiền vay ngân hàng thì lãi mẹ đẻ lãi con, giờ đây, người nông dân này không còn thiết tha với nghề trồng rừng và đang tính tới bài toán bỏ rừng đi địa phương khác kiếm sống.
Cùng chung cảnh ngộ, với diện tích gần 30.000 hecta rừng, nhưng các hộ nông dân tại huyện Tân Kỳ cũng đang phải tự “vật lộn” tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm. Bởi lẽ, theo chia sẻ của anh Võ Duy Thuận, xã Nghĩa Bình, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, với hàng trăm hecta trồng rừng, nhưng thị trường tiêu thụ gỗ chủ yếu của gia đình anh lại chính là thị trường Thanh Hóa.
Trung bình mỗi đêm, lượng gỗ keo được vận chuyến từ Nghệ An ra Thanh Hóa tiêu thụ lên tới hàng ngàn tấn. Tuy nhiên, với cung đường vận chuyển xa, trừ cước phí đường bộ, cầu phà, khấu hao xe… giá trị thu về mỗi tấn gỗ là rất thấp. Trong khi đó, theo anh Thuận một số DN đóng trên địa bàn tỉnh như: Cty TNHH Thanh Thành Đạt hay Cty chế biến gỗ Nghệ An lại ép giá thu mua nên anh cũng như các hộ nông dân trồng rừng ở huyện Tân Kỳ phải vận chuyển gỗ ra tỉnh ngoài để tiêu thụ.
Điều đáng nói, trong khi, người dân đang rất “khát” thị trường tiêu thụ, còn các DN có tâm huyết muốn về đầu tư nhà máy chế biến gỗ để “gỡ” khó cho nông dân thì chính quyền tỉnh lại đưa ra chính sách “bảo hộ nguyên liệu” cho số ít những DN lớn đã và đang đóng trên địa bàn. Điều này, vô hình trung, làm nản lòng nhà đầu tư. Đáng nói, tỉnh sẽ thất thu một nguồn ngân sách khá lớn khi các hộ trồng rừng phải tự tìm kiếm thị trường tiêu thụ tại tỉnh ngoài.
Đặc biệt hơn, theo nguồn tin riêng của DĐDN, vì chính sách bảo hộ nguyên liệu cho những DN lớn, thời gian gần đây, UBND tỉnh Nghệ An đã ra nhiều văn bản (CV số 9034/UBND-CNTM; Công văn số 9444/UBND-CNTM; Quyết định số 2008/UBND-CNTM…) yêu cầu các DN nhỏ trong lĩnh vực chế biến dăm gỗ và sản phẩm lâm sản trên địa bàn chưa được chấp thuận chủ trương đầu tư phải dừng hoạt động để quy hoạch “lại” vùng nguyên liệu. Nhưng trên thực tế, vùng nguyên liệu tại một số huyện Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp… lại quá dư thừa để các DN có thể cạnh tranh. “Chính sách bảo hộ vùng nguyên liệu cho những DN lớn là một trong những “nút thắt cổ chai” cho DN kế sau muốn đầu tư nhà máy chế biến trên địa bàn”- đại diện lãnh đạo huyện Tân Kỳ chia sẻ.
Đồng tình, ông Nguyễn Nghĩa Huy – Giám đốc Cty TNHH Chế biến lâm sản Hoàng Huy cho rằng, mặc dù đã có đăng ký kinh doanh và giấy quyết định chấp thuận đầu tư của UBND tỉnh số 2878 cấp ngày 22/6/2016, nhưng Cty thường xuyên phải bổ sung về mặt thủ tục hành chính sau mỗi đợt có đoàn về kiểm tra. Điều này, khiến cho DN mất khá nhiều thời gian về mặt hoàn thiện các thủ tục và dẫn đến công việc sản xuất bị ngưng trệ.
Tính đến thời điểm hiện nay, khi Cty mới đi vào sản xuất chưa được một năm, nhưng đã thua lỗ ước tính 700 triệu đồng. Đây là một con số không nhỏ đối với DN khởi nghiệp. “Với những chính sách không nhất quán, bảo hộ độc quyền trong ngành gỗ lâm sản của chính quyền tỉnh thời gian qua đang vô hình chung đi ngược với chủ trương thúc đẩy khởi nghiệp của Chính phủ” – ông Huy nhấn mạnh.
Được biết, theo quy hoạch phát triển ngành đến năm 2020 tầm nhìn 2030, tỉnh Nghệ An đã xây dựng các chính sách ưu đãi về mặt bằng sản xuất cho các DN chế biến gỗ đầu tư sản xuất tại các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Tổ chức lại sản xuất theo chuỗi sản phẩm (liên kết dọc), từ trồng rừng, thu mua nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của toàn xã hội, tăng khả năng cạnh tranh, đảm bảo phát triển bền vững và ổn định, cân đối cung cầu sản phẩm, đáp ứng được yêu cầu về chất lượng cũng như việc truy suất nguồn gốc sản phẩm.
Cùng với đó là xây dựng và phát triển chương trình hỗ trợ và chuyển giao công nghệ mới nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm tinh chế, cạnh tranh trên thị trường nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế…
Chiến lược quy hoạch phát triển là vậy, nhưng thực tế triển khai như thế nào lại là dấu hỏi cần lời giải đáp của các ban ngành địa phương ?
Theo TS Nguyễn Đăng Nghĩa, chế biến gỗ xuất khẩu sẽ là một trong những mũi nhọn kinh tế với tỉnh Nghệ An nếu như chính quyền tỉnh có chính sách cởi mở khuyến kích thu hút đầu tư, thu hút các DN ngoại tỉnh có tiềm lực về lĩnh vực gỗ lâm sản. Cùng với đó, về lâu dài, Nghệ An cần có cơ chế nhanh chóng xây dựng chợ gỗ đầu mối ở khu vực để phục vụ các DN nhập khẩu, tổ chức thu mua gỗ nguyên liệu nội địa, cung ứng cho các DN sản xuất.
Việc hình thành các chợ cung cấp gỗ cho DN, sẽ giúp họ tự do cạnh tranh bình đẳng về giá cả và chất lượng, giúp người nông dân được hưởng lợi về giá cả, thị trường tiêu thụ ổn định, tạo thêm động lực để họ “bám” rừng. Đây chính là bài toán mà Nghệ An cần tính tới nếu muốn phát triển là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh trong thời gian sắp tới. (Doanh Nghiệp Việt Nam 9/9) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Ngày 7/9, hàng nghìn lính cứu hỏa tiếp tục nỗ lực dập tắt các đám cháy rừng hoành hành vài ngày qua tại Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, ảnh hưởng tới cư dân địa phương và khách du lịch.
Theo giới chức Bồ Đào Nha, hỏa hoạn liên tiếp trong mấy ngày qua đã thiêu hủy một diện tích lớn đất rừng.
Công viên quốc gia Peneda-Geres, công viên tự nhiên duy nhất của Bồ Đào Nha là một trong những khu vực xảy ra hỏa hoạn nghiêm trọng nhất khi các đồng cỏ tại đây hoàn toàn bị thiêu hủy.
Trong đêm 7/9, lửa cháy bao vây hai thôn làng, buộc giới chức địa phương thông báo sơ tán tạm thời. Hiện vẫn còn 80 đám cháy rải rác ở Bồ Đào Nha. Hơn 3.200 lính cứu hỏa cùng với máy bay đã được huy động dập tắt các đám cháy. Tuy nhiên, thời tiết khô nóng đã cản trở công tác cứu rừng.
Kể từ đâu năm đến nay, cháy rừng ở Bồ Đào Nha đã tàn phá hơn 112.000ha đất rừng. Các vụ cháy rừng trên đảo Madeira hồi tháng Tám đã cướp đi sinh mạng của 3 người, khiến hàng chục người mất nhà cửa.
Còn tại Tây Ban Nha, lính cứu hỏa bờ biển phía Đông của Tây Ban Nha đang nỗ lực dập dắt các đám cháy rừng gần khu nghỉ dưỡng Benidorm. Kể từ khi bùng phát hôm 4/9, cháy rừng tại đây đã khiến 1.400 người phải sơ tán. Giới chức Tây Ban Nha nghi ngờ có người cố tình phóng hỏa và hiện đang truy tìm thủ phạm.
Trong khi đó, Cơ quan tình trạng khẩn cấp Tây Ban Nha cho biết lực lượng cứu hỏa đã hoàn toàn kiểm soát cháy rừng ở đảo Menorca đêm 6/9 sau khi cháy rừng thiêu hủy rừng thông và cây bụi rậm gần khu vực Arenal d'en Castell.
Trong vài ngày qua, Tây Ban Nha trải qua nắng nóng kỷ lục khi nhiệt độ nhiều nơi lên tới 44 độ C. Trước tình hình thời tiết khắc nghiệt này, Bộ Nông nghiệp Tây Ban Nha cảnh báo nguy cơ tiếp tục xảy ra các vụ cháy rừng.
Kể từ hôm 5/9, Tây Ban Nha ghi nhận ít nhất 92 đám cháy rải rác vùng Galacia. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Tây Ban Nha, trong tám tháng đầu năm 2016, cháy rừng đã thiêu hủy 40.000ha đất rừng (Vietnam + 8/9) đầu trang(./.