Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 07 tháng 09 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Chiều 6/9, Ban chỉ huy Phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) tỉnh Đồng Tháp họp rút kinh nghiệm công tác PCCCR trong mùa khô năm 2016 tại Vườn quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông.
Ông Nguyễn Thanh Hùng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp, Trưởng Ban chỉ đạo đã đến dự.
Từ đầu năm đến nay, tại Vườn quốc gia Tràm Chim đã xảy ra 09 vụ cháy. Diện tích bị ảnh hưởng là hơn 282ha, trong đó có 270 ha đồng cỏ và 12 ha rừng tràm. Các vụ cháy điều xảy ra tại phân khu A1, địa phận xã Phú Thọ và Phú Đức. Tham gia chữa cháy có gần 2.000 lượt người, chi phí chữa cháy hơn 300 triệu đồng.
Nguyên nhân cháy ban đầu được xác định chủ yếu là do tác động của con người. Theo đánh giá, do lớp thực bì dầy nên chữa cháy khó khăn; việc triển khai các lực lượng và phương tiện chữa cháy còn chậm do bố trí chưa hợp lý. Qua theo dõi cũng cho thấy, tình trạng xâm nhập trái phép vào vườn vẫn còn xảy ra.
Ông Nguyễn Thanh Hùng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã yêu cầu các đơn vị có liên quan nghiêm túc rút kinh nghiệm; tăng cường tuyên truyền phòng cháy chữa cháy rừng đến người dân; tuần tra bảo vệ rừng; xử lý nghiêm trường hợp xâm nhập vào rừng trái phép. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Đồng Tháp 6/9) đầu trang(
Huyện Thọ Xuân có tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 3.045 ha, được chia làm 3 khu vực: khu vực 1 thuộc Khu Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Lam Kinh, với diện tích 67,1 ha; khu vực 2 thuộc xã Xuân Phú với diện tích 491,3 ha; khu vực 3 gồm các xã Xuân Thắng, Thọ Lâm.
Thời gian qua, Hạt Kiểm lâm Thọ Xuân đã xây dựng phương án, kế hoạch và triển khai thực hiện nhiều biện pháp, phối hợp với ban dân vận, MTTQ huyện tuyên truyền bảo vệ phát triển rừng  năm 2016; chỉ đạo kiểm lâm địa bàn các xã tiếp tục duy trì nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ, đội tuyên truyền tại 5 xã trọng điểm; tổ chức hướng dẫn cho lực lượng bảo vệ rừng sử dụng các loại phương tiện, dụng cụ chữa cháy rừng.
Hạt Kiểm lâm Thọ Xuân đã nghiêm túc thực hiện việc trực chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR); thường xuyên tổ chức lực lượng tuần tra, canh gác lửa rừng trong những ngày nắng nóng, khô hanh, kiểm soát chặt chẽ; phân công thành viên ban chỉ đạo tăng cường công tác kiểm tra, chỉ đạo cơ sở về thực hiện các biện pháp PCCCR, đặc biệt ở Khu Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Lam Kinh; hướng dẫn, tổ chức quản lý các hộ gia đình xử lý thực bì (khu vực trồng mía) ở khu vực liền kề với rừng và thảm thực bì dễ cháy. (Báo Thanh Hóa 6/9) đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm thuộc Sở NN&PTNT, trong tháng 8.2016, lực lượng kiểm lâm trên địa bàn toàn tỉnh đã tổ chức 124 đợt tuần tra, kiểm soát lâm sản tại các điểm nóng phá rừng, các vùng rừng giáp ranh giữa các huyện trong và ngoài tỉnh.
Qua kiểm tra, lực lượng chức năng đã phát hiện, lập biên bản 24 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng (trong đó, 4 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, 3 vụ vi phạm thủ tục trong vận chuyển lâm sản, 17 vụ vô chủ); tạm giữ 19,491m3 gỗ các loại, 6 ô tô, 11 mô tô…
Các vụ vi phạm tập trung chủ yếu tại các địa phương gồm: Vĩnh Thạnh (phát hiện 5 vụ, tạm giữ 11,277m3 gỗ); Hoài Ân (4 vụ, tạm giữ 2,137m3, 1.382 kg gỗ từ nhóm I-VII); An Lão (5 vụ, tạm giữ 1,657m3 gỗ, 3 ster keo); Tây Sơn (1 vụ, tạm giữ 3,316 m3 gỗ)… (Báo Bình Định 6/9) đầu trang(
Trên cơ sở các điểm nóng đã được xác định phá rừng trái phép, UBND huyện đã thành lập đoàn liên ngành với lực lượng đủ mạnh nhằm  ngăn chặn, xóa bỏ các điểm nóng và kiên quyết không để phát sinh mới…
Các điểm nóng được xác định phá rừng trái phép là lâm phần Công ty Lâm nghiệp Ngọc Hồi, vận chuyển lâm sản trái phép dọc tuyến đường tuần tra biên giới, đường N5, NT 18, đường vào đồn biên phòng Đăk Xú… để từ đó giao cho hạt kiểm lâm huyện tăng cường công tác nắm bắt thông tin, chủ động phối hợp với các ngành liên quan, các chủ rừng, chính quyền xã tổ chức kiểm tra, truy quét nhằm ngăn chặn vi phạm về quản lý bảo vệ rừng.
Tính từ đầu năm 2016 đến nay, toàn huyện đã phát hiện xử lý 57 vụ vi phạm, đã xử lý 51 vụ, tịch thu 325 m3 gỗ các loại,  01 xe ô tô, 20 xe gắn máy, 03 cá thể động vật rừng, thu nộp ngân sách nhà nước 885.450 triệu đồng. Trong đó phá rừng trái phép 01 vụ, diện tích 0.853 ha; khai thác rừng trái phép 02 vụ, khối lượng 18.583 m3 gỗ các loại; 15 vụ vận chuyển lâm sản trái phép với khố lượng 92 m3;  38 vụ mua bán cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái với quy định nhà nước với khối lượng 288,8m3 gỗ các loại. (Tầm Nhìn 6/9) đầu trang(
Công an, Biên phòng Quảng Nam vẫn đang tiếp tục điều tra làm rõ vụ phá rừng Pơmu tại huyện Nam Giang thời gian qua. Các đối tượng chủ chốt hiện đã bị bắt giữ. Tuy nhiên, một loạt câu hỏi vẫn còn đang bỏ ngõ câu trả lời, về việc có hay không trách nhiệm liên quan của các cán bộ Biên phòng, Hải quan quản lý tại địa bàn...
Vừa qua, công an tỉnh Quảng Nam đã tổ chức họp báo công bố kết quả điều tra ban đầu vụ phá rừng Pơmu( huyện Nam Giang) thời gian qua.
Nhiều đối tượng chủ chốt và vận chuyển gỗ đã bị bắt giữ. Nhiều đối tượng vận chuyển gỗ ra khỏi rừng cũng đã đầu thú tại cơ quan công an tỉnh.
Ngay sau họp báo, tỉnh Quảng Nam yêu cầu các cơ quan liên quan tiếp tục điều tra, có hay không sự tiếp tay và bảo kê của Hải quan, Biên phòng tỉnh trong vụ án.
Tuy nhiên, đến nay vụ việc vẫn còn nhiều câu hỏi vẫn còn bỏ ngõ câu trả lời.
Câu hỏi đặt ra, cơ quan điều tra vì sao không thực nghiệm hiện trường vụ phá rừng Pơmu?  Dùng cưa máy, nổ máy ngay tại hiện trường, để có cơ sở để khẳng định tiếng nổ máy cưa lan rộng thì Biên phòng, Hải quan có nghe thấy?
Bên cạnh đó, người dân, kiểm lâm tại khu vực liệu có nghe thấy?
Ngoài ra, cần thực nghiệm hiện trường, cho đội vận chuyển gỗ trong vụ án trực tiếp vận chuyển gỗ ra khỏi rừng,việc tuần tra và kiểm soát của lực lượng Biên phòng là không phát hiện được(!?)
Chưa hết, vừa qua, tại buổi họp báo, Đại tá Nguyễn Viết Lợi- Giám đốc công an tỉnh Quảng Nam cũng cho biết, do việc phối hợp giữa công an và biên phòng chưa tốt nên việc điều tra vụ việc gặp khó khăn.
Đại tá Lợi cũng nêu ra vấn đề, việc các cán bộ Biên phòng " máy móc" trong việc thông báo xin phép chỉ huy trưởng khi công an cần vào hiện trường kiểm tra. Thay vào đó, có thể gọi điện thoại trực tiếp về cho chỉ huy(!?)
Câu hỏi đặt ra, ngay lúc đó, tại sao các điều tra viên( công an tỉnh Quảng Nam), không liên lạc trực tiếp về lãnh đạo công an tỉnh. Lãnh đạo công an tỉnh sẽ liên lạc trực tiếp Chủ tịch tỉnh Quảng Nam xin ý kiến chỉ đạo(!?).
Chưa hết, nhân thân các đối tượng chủ chốt bị bắt giữ trong vụ phá rừng cũng làđiều đáng quan tâm.
Khi mà thời gian qua, thực trạng hiện hữu nhiều vụ việc lâm tặc ngang nhiên tấn công Kiểm lâm, thậm chí gây thương tích.
Câu hỏi đặt ra, trong quá trình tuần tra kiểm soát khu vực Biên giới, khu vực cửa rừng, các cán bộ kiểm lâm, biên phòng, hải quan Quảng Nam lâu nay có bị sức ép nào không? (Lao Động 6/9) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm tỉnh vừa có văn bản đề nghị UBND H. Núi Thành và các cơ quan chức năng khẩn trương điều tra, xác minh, xử lý các đối tượng phá rừng trái pháp luật tại xã Tam Sơn và Tam Thạnh.
Cuối tháng 7-2016, BQL rừng phòng hộ Phú Ninh phát hiện 2 vụ phá rừng tự nhiên tại khoảnh 1, tiểu khu 594 (xã Tam Sơn) và khoảnh 7, tiểu khu 599 (xã Tam Thạnh) với diện tích rừng bị phá 5.263m2. Tiếp đó, ngày 11-8-2016, BQL rừng phòng hộ Phú Ninh phát hiện 2 vụ phá rừng tự nhiên tại khoảnh 4, tiểu khu 594 (xã Tam Sơn) và khoảnh 7, tiểu khu 599 (xã Tam Thạnh) với diện tích rừng bị phá 5.750m2.
Tình trạng phá rừng trái phép ở xã Tam Sơn và Tam Thạnh xảy ra liên tục và có chiều hướng gia tăng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên rừng và khả năng phòng hộ của lưu vực hồ Phú Ninh cần được ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm. (Công An TP.Đà Nẵng 6/9) đầu trang(
Điểm du lịch sinh thái thác Lưu Ly, xã Nâm N’Jang, huyện Đắk Song được Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Nông quy hoạch là một trong số các khu du lịch trọng điểm của tỉnh.
Đây được coi là điểm nhấn trên hành trình khám phá “con đường xanh Tây Nguyên.” Tuy nhiên, sau 6 năm giao đất cho nhà đầu tư, việc xây dựng hạ tầng vẫn giậm chân tại chỗ, trong khi rừng bị tàn phá ngày càng nghiêm trọng.
Theo chân cán bộ Hạt kiểm lâm huyện Đắk Song chúng tôi tới Điểm du lịch sinh thái thác Lưu Ly do Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và dịch vụ Lâu Đài (Thành phố Hồ Chí Minh) quản lý. Vào thời điểm giao đất, điểm du lịch này có tổng diện tích gần 90ha, trong đó có hơn 65ha là rừng tự nhiên. Tuy nhiên, rừng tự nhiên ở đây đã bị tàn phá nặng nề từ nhiều năm nay. Đi sâu vào rừng, dễ thấy nhiều con đường lớn nhỏ xuyên qua được “lâm tặc” mở ra để vận chuyển gỗ lậu. Những cây gỗ lớn, có giá trị cao đã bị đốn hạ, chỉ còn lại gỗ tạp với mật độ thưa thớt.
Đáng chú ý, rừng ngay tại khu vực thượng nguồn của dòng thác cũng bị tàn phá, nhiều cây gỗ có kích thước lớn cũng bị xóa sổ. Đây thực sự là mối đe dọa đối với sự sống còn của dòng thác Lưu Ly, do nguồn nước có thể cạn kiệt vì rừng bị tàn phá quá nhanh. Thêm nữa, xung quanh khu vực điểm du lịch thác Lưu Ly, rừng tiếp tục bị đốn hạ, thiêu rụi để lấy đất sản xuất. Hàng loạt vườn tiêu được mọc lên với nọc tiêu chính là những cây gỗ tạp vừa được “tận dụng.”
Lý giải về một số gỗ tạp đang được chất ngổn ngang trong rừng, ông Nguyễn Văn Ngọc, nhân viên phụ trách quản lý điểm du lịch thác Lưu Ly cho rằng hiện đơn vị này có cho một số người vào để dọn dẹp cành khô, cây chết với mục đích làm đẹp cho khu du lịch chứ không có tình trạng khai thác gỗ (?!). Ông Ngọc cũng thừa nhận trước đây có tình trạng nhân viên công ty tham gia… phá rừng nhưng hiện nay các đối tượng này đều đã nghỉ việc (?!).
Theo một số người dân địa phương, rừng tại khu vực thác Lưu Ly đã bị tàn phá nhiều năm nay. Sau khi đốn hạ những cây gỗ lớn, có giá trị kinh tế cao, rừng tiếp tục bị bỏ bê và bị các đối tượng “đến sau” xóa trắng để lấy đất sản xuất.
Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đắk Nông: Từ năm 2007, điểm du lịch thác Lưu Ly được Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Nông quy hoạch là một trong số các khu du lịch trọng điểm của tỉnh. Thác Lưu Ly được đánh giá là dòng thác đẹp, nằm ở phía đông bắc xã Nâm N’Jang, huyện Đắk Song và cách đường Hồ Chí Minh khoảng 10km. Tổng vốn đầu tư mà Công ty Lâu Đài cam kết để được cấp đất là gần 110 tỷ đồng.
Theo đó, Công ty này cam kết sẽ đầu tư tổng thể các hạng mục gồm: khu nhà hàng – dịch vụ, nhà đón tiếp khách, khu vui chơi, bãi tắm, khách sạn… Tuy nhiên, từ đó đến nay, chỉ có 3 “hạng mục” được đầu tư là một đoạn đường nhỏ xuống thác, một nhà điều hành, và 3 chòi nhỏ bằng… lá dừa. Các “hạng mục” này cũng đã xuống cấp, hư hỏng nặng nề.
Theo ông Bùi Văn Mích, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đắk Nông, việc chậm trễ, không thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng tại khu du lịch thác Lưu Ly cho thấy năng lực tài chính của nhà đầu tư quá yếu kém. Sở đã nhiều lần gửi công văn đôn đốc việc thực hiện dự án nhưng đến nay mọi việc vẫn giậm chân tại chỗ. Trong khi đó, rừng bị tàn phá nặng nề do buông lỏng quản lý. Nay có thu hồi dự án thì không rõ trách nhiệm liên quan đến việc rừng tự nhiên bị phá sẽ xử lý như thế nào.
Được biết, Giám đốc Công ty Lâu Đài là ông Trần Văn Hùng thường xuyên… không có mặt tại địa phương, mọi việc điều hành tại điểm du lịch thác Lưu Ly được giao cho nhân viên Nguyễn Văn Ngọc. Tuy nhiên, nhân viên này cũng thường xuyên không có mặt tại địa phương nên việc quản lý được giao lại cho vợ ông Ngọc là bà Trần Thị Vân và hai nhân viên khác.
Theo ông Nguyễn Đình Dân, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Đắk Song, mặc dù được giao đất rừng từ năm 2010 nhưng đến nay Công ty Lâu Đài vẫn chưa có lực lượng quản lý, bảo vệ rừng. Mấy năm nay, điểm du lịch này đã trở thành… điểm nóng về tình trạng phá rừng lấy gỗ, lấn chiếm đất sản xuất của cả huyện. Hạt kiểm lâm Đắk Song cũng đã nhiều lần yêu cầu lãnh đạo Công ty này là ông Trần Văn Hùng lên làm việc về các nội dung liên quan đến quản lý, bảo vệ rừng nhưng chưa lần nào ông Hùng chấp hành.
Trao đổi với Hạt kiểm lâm Đắk Song qua điện thoại, ông Trần Văn Hùng cho biết mình đang bận đi công tác nên chưa thể gặp để giải đáp các nội dung phóng viên nêu ra liên quan đến việc chậm trễ thực hiện dự án cũng như công tác bảo vệ rừng.
Ông Hùng cũng cho rằng Công ty đang tập trung thực hiện dự án và đang tiếp tục tiến hành các thủ tục để vay vốn ngân hàng. Khi được giải ngân sẽ tiếp tục thực hiện dự án. Riêng việc rừng bị tàn phá, ông cho biết chưa nắm được và sẽ kiểm tra lại trước khi trao đổi thêm với phóng viên.
Rõ ràng, việc chậm trễ trong thực hiện dự án và buông lỏng công tác quản lý, bảo vệ rừng đang khiến cho hàng chục héc-ta rừng nguyên sinh tại một trong số các thắng cảnh tự nhiên đẹp nhất Đắk Nông đang dần bị xóa sổ. Tình trạng này kéo dài đang trực tiếp đe dọa sự tồn tại của thác Lưu Ly.
Các ngành chức năng tỉnh Đắk Nông cần nhanh chóng vào cuộc và xử lý nghiêm các sai phạm của nhà đầu tư cũng như các đối tượng liên quan đến dự án, đặc biệt trong việc buông lỏng quản lý, để rừng nguyên sinh bị tàn phá vô tội vạ trong thời gian dài. Việc xử lý nghiêm minh sẽ thể hiện rõ nỗ lực của tỉnh trong việc bảo vệ rừng, trong bối cảnh việc quản lý, bảo vệ rừng chưa bao giờ bức thiết như hiện nay. (Vietnam + 7/9, Nhân Dân 7/9) đầu trang(
Sáng nay (7-9), ông Đinh Văn Triều, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa (huyện Đắk Song, Đắk Nông), cho biết vừa phối hợp với Công an huyện Đắk Mil bắt giữ 10 người (thường trú tại huyện Đắk Mil) để điều tra về hành vi phá rừng.
Trước đó, lực lượng quản lý bảo vệ rừng của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa phối hợp với cơ quan chức năng đã theo dõi và phát hiện 10 người mang theo cưa máy, dao, rựa… xâm nhập vào tiểu khu 1122, nơi có gần 4 ha rừng vừa bị chặt phá nên đã tiến hành bắt giữ.
Qua đấu tranh, nhóm người này khai nhận vào tiểu khu 1122 để phá rừng chiếm đất sản xuất.
Cũng theo ông Triều, vài tháng gần đây, có một nhóm hơn 10 người hoạt động theo kiểu “xã hội đen” thường xuyên xâm nhập chặt phá rừng thuộc lâm phần do đơn vị quản lý.
Nhóm này do một người đàn ông tên Phong, biệt danh là Phong “cướp” trú tại huyện Đắk Mil cầm đầu.
Nhiều lần lực lượng quản lý bảo vệ rừng của đơn vị đã giáp mặt với băng nhóm này nhưng không thể bắt giữ được vì khi vào phá rừng các đối tượng luôn mang theo các loại hung khí như súng tự chế, dao, rựa, côn nhị khúc… sẵn sàng chống trả lại. (Pháp Luật TP.HCM 7/9) đầu trang(
Việc chặt phá rừng “công khai” ở Yên Bái từng bị phanh phui, nhưng đến thời điểm này “lá phổi xanh thứ 2” của Tây Bắc vẫn đang tiếp tục bị bào mòn , cạn kiệt…
Yên Bái những ngày tháng 8, sau vụ đại án rúng động dư luận về cái chết bất ngờ của 2 cán bộ đầu ngành tỉnh là đồng chí Bí thư tỉnh ủy và đồng chí Trưởng ban Tổ chức tỉnh ủy với những phát súng oan nghiệt.
Người được cho là hung thủ là vị Chi cục trưởng chi cục kiểm lâm, cũng có thể là người liên quan trực tiếp đến những gì mà nhóm PV chúng tôi gửi đến quý độc giả trong loạt phóng sự này. Bí mật xung quanh vụ án vẫn đang được các cơ quan chức năng khẩn trương điều tra làm rõ, trong lúc đó, nhóm PV báo Người đưa tin đã lên đường để tìm hiểu thực trạng gỗ lậu đang hàng ngày, hàng giờ nhức nhối nơi đây.
Vào vai những người chủ thu mua gỗ số lượng lớn, chúng tôi đã có mặt tại Yên Bái vào những ngày mưa ròng, cánh PV phải mất 2 ngày không thể triển khai công việc được vì trời cứ mưa tầm tã, những cơn mưa mà người dân ở đây thường ví “Nắng Lào Cai, mưa dai Yên Bái”, trời mưa làm những con đường rừng trở nên lầy lội, trơn trượt, như muốn làm nản lòng chúng tôi, bởi đến những chiếc xe “Win chiến” của người bản địa còn rất khó khăn mới ra được huống chi cánh xế lạ.
Địa điểm được nhóm PV chọn là xã Lang Thíp, huyện Văn Yên, địa phương này vốn được coi là “điểm nóng” của nạn khai thác gỗ lậu.
Đây chính là điểm bắt đầu của dãy núi Con Voi, nơi có trữ lượng gỗ quý cực lớn (khoảng 3.000 ha), trải dài từ khe An Bình (xã Lâm Giang) đến xã Lang Thíp. Dãy Con Voi là hệ thống núi cổ nằm phía hữu ngạn sông Chảy với những núi thấp đỉnh tròn, sườn thoải chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Đây là đường phân thủy của sông Hồng và sông Chảy. Rừng nguyên sinh, rừng phòng hộ tập trung tại đầu nguồn và trên vành cao dãy núi, nhiều lâm sản quý hiếm. Điểm cao nhất của dãy núi thuộc xã Long Khánh, phía bên kia dãy núi là huyện Bảo Yên (Lào Cai) và Lục Yên (Yên Bái).
Theo cách tính của người dân bản địa thì diện tích rừng trải dài từ bờ sông Chảy đến tận bờ sông Hồng. Chính vì nhiều thuận lợi cả về đường xá, sông ngòi, nên nơi đây từng trở thành “thủ phủ” của giới buôn gỗ lậu.
Là một trong những địa phuơng có diện tích rừng rất lớn, gồm nhiều loại gỗ quý hiếm, đã có thời gian, huyện Văn Yên từng là "điểm nóng" trong chặt phá, khai thác rừng, nhất là rừng tự nhiên. Nhiều diện rừng bị khai thác kiệt quệ, những cây gỗ quý hiếm bị đốn hạ, khai thác không thương tiếc… Tình hình một vài năm gần đây tưởng chừng như “lắng dịu” hơn khi nguồn tài nguyên đã gần cạn kiệt, tuy nhiên, nguy cơ khai thác gỗ trái phép với số lượng lớn thực ra chưa hề dừng lại…
Diện tích đất lâm nghiệp ở Lang Thíp là rất rộng lớn, với gần 6.000 ha. Tuy vậy, do hậu quả của việc phá rừng, xâm canh đất rừng làm nương rẫy trong thời gian dài nên diện tích rừng bị thu hẹp đáng kể. Đến nay, diện tích rừng tự nhiên của xã bị xâm hại nghiêm trọng, số lượng còn lại chỉ tập trung ở núi Thíp, núi Bùn và trên rừng trồng.
Sau khi bàn bạc kỹ lưỡng, chúng tôi quyết định bắt đầu cho chuyến hành trình đi sâu vào rừng của mình. Mọi công việc đã chuẩn bị xong, chỉ đợi tạnh mưa là “lên đường”. Sau 2 ngày chờ đợi, cuối cùng thì thời tiết cũng khá hơn, cái nắng sau cơn mưa bỏng rát như muốn khoét sâu càng thúc giục nhóm PV nhanh chóng tiếp cận sự thật bên trong núi rừng hùng vĩ... (Người Đưa Tin 7/9) đầu trang(
Chiều 6/9, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Điện Biên đã tổ chức hội nghị giao ban báo chí tháng 8/2016, trong đó có nội dung làm rõ những vướng mắc xoay quanh loạt bài phản ánh của phóng viên TTXVN về tình trạng khai thác gỗ nghiến trái phép trên địa bàn tỉnh Điện Biên thời gian vừa qua.
Tại giao ban, Chủ tịch UBND huyện Tủa Chùa, ông Lê Thanh Bình vẫn giữ quan điểm không xảy ra tình trạng khai thác rừng trái phép trên địa bàn như TTXVN phản ánh. Theo ông Bình, trên địa bàn huyện Tủa Chùa chỉ có 1 cây gỗ có đường kính 70cm, chiều dài 5m bị gãy đổ từ năm 2009, hiện nay đã mục hết phần vỏ, rỗng ruột, cây gỗ này đã bị xẻ lấy đi một phần thân, phần còn lại không sử dụng được nên đối tượng để lại tại hiện trường.
Còn lại, vị trí khai thác rừng trái phép mới thuộc địa bàn quản lý của xã Phình Sáng, huyện Tuần Giáo, không thuộc địa bàn xã Mường Đun, huyện Tủa Chùa như báo chí đã nêu.
Cũng tại cuộc giao ban, phóng viên TTXVN đã cung cấp những thước hình mà phóng viên quay được tại hiện trường rừng gỗ nghiến bị khai thác thuộc địa phận xã Mường Đun, huyện Tủa Chùa. Những vị trí khai thác đều được phóng viên định vị bằng máy định vị vệ tinh GPS. Trước chứng cứ rõ ràng, Chủ tịch UBND huyện Tủa Chùa đã thừa nhận tình trạng khai thác rừng trái phép.
Ông Lê Thanh Bình cho biết: Trước đây, huyện nắm thông tin qua cơ quan chức năng và chính quyền địa phương báo cáo, tuy nhiên thông tin chưa đầy đủ như phóng viên cung cấp. Tại hội nghị này, mọi chuyện đã rõ ràng là có tình trạng phá rừng trên địa bàn huyện Tủa Chùa như TTXVN phản ánh, chúng tôi sẽ chỉ đạo các cơ quan chức năng của huyện cùng với cấp ủy, chính quyền sẽ kiểm tra làm rõ vụ việc; xử lý nghiêm các đối tượng liên quan đến vụ phá rừng ở xã Mường Đun.
Kết luận hội nghị, ông Nguyễn Đức Vượng, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Điện Biên cho biết: Việc TTXVN phản ánh tình trạng khai thác rừng trái phép trên địa bàn tỉnh Điện Biên là hoàn toàn chính xác nhưng huyện Tủa Chùa chưa kiểm tra toàn diện mà đã có văn bản đề nghị báo chí cải chính như thế là không nên.
Trước hết, chính quyền huyện Tủa Chùa cần phải tiếp thu, sau đó kiểm tra toàn diện thực trạng như báo chí phản ánh, trên cơ sở đó, huyện mới có phản hồi với báo chí thì thông tin sẽ chính xác hơn.
Lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Điện Biên cũng đề nghị huyện Tủa Chùa tiến hành rà soát lại toàn bộ việc quản lý rừng trên địa bàn, đặc biệt là những địa bàn có những cây gỗ nghiến. Xem xét trách nhiệm của chính quyền và kiểm lâm trong việc để xảy ra tình trạng khai thác rừng trái phép như báo chí phản ánh. Chủ tịch UBND huyện Tủa Chùa cũng cần phải xem xét liệu có việc kiểm lâm địa bàn bắt tay với chính quyền xã bảo kê cho lâm tặc và người dân khai thác rừng hay không?
Trước đó, TTXVN đã có loạt bài phản ánh về tình trạng khai thác gỗ nghiến trái phép đang diễn ra tại địa bàn xã Mường Đun (huyện Tủa Chùa) và xã Phình Sáng (huyện Tuần Giáo). Trong khi rừng bị “xẻ thịt” thì lãnh đạo huyện Tủa Chùa vẫn khẳng định không có tình trạng khai thác rừng trái phép trên địa bàn huyện.
Chủ tịch UBND huyện Tủa Chùa cũng đã có văn bản đề nghị TTXVN cải chính thông tin. Tuy nhiên, cuối cùng lãnh đạo UBND huyện Tủa Chùa cũng thừa nhận có tình trạng khai thác rừng trái phép diễn ra trên địa bàn huyện. (Tin Tức 6/9) đầu trang(
8 tháng năm 2016, số vụ phá rừng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang gia tăng đáng kể so với cùng kỳ năm trước. Để ngăn chặn tình trạng này, ngoài nỗ lực của lực lượng kiểm lâm, rất cần sự vào cuộc tích cực của chính quyền các cấp.
Cùng cán bộ Trạm Kiểm lâm Đồng Đỉnh, Hạt Kiểm lâm huyện Lục Nam (Bắc Giang), chúng tôi tới hiện trường vụ phá rừng cách đây chưa lâu tại lô 18, khoảnh 27 thuộc thôn Hồng, xã Lục Sơn, huyện Lục Nam. Toàn bộ khu vực này trước đây là rừng tự nhiên nghèo kiệt với loài cây chủ yếu là tre nứa nay đã bị phát dọn với mục đích trồng rừng kinh tế.
Ngày 19-7-2016, qua tuần tra, bảo vệ rừng, lực lượng kiểm lâm phát hiện ông Triệu Văn Vinh ở cùng địa chỉ trên là người được Nhà nước giao quản lý diện tích rừng này đã tự ý phát hơn 1.300 m2 rừng. Hạt Kiểm lâm huyện Lục Nam đã lập biên bản vi phạm hành chính và ra quyết định xử phạt ông Vinh 2 triệu đồng, đồng thời buộc đối tượng vi phạm khắc phục hậu quả bằng việc trồng lại rừng trên diện tích đã phát trái phép.
Không chỉ tự ý phá rừng được giao quản lý, bảo vệ, nhiều hộ còn phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp của một số công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Theo ông Nguyễn Văn Bình, Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Mai Sơn từ đầu năm đến nay, người dân xã Lục Sơn (Lục Nam) đã phát, lấn chiếm hơn 20 ha rừng tự nhiên doanh nghiệp được giao quản lý, bảo vệ.
Tình trạng này diễn ra trong thời gian dài, không được ngăn chặn triệt để nên ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty, nhất là trong giai đoạn hiện nay doanh nghiệp đang thực hiện chuyển đổi mô hình quản lý.
Thông tin từ Chi cục Kiểm lâm (Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Giang),  8 tháng năm 2016, toàn tỉnh xảy ra 73 vụ phá rừng, diện tích vi phạm 32,2 ha, tăng 15% về số vụ và gần 9 ha so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng bị phá tập trung ở 4 huyện: Lục Nam, Sơn Động, Lục Ngạn và Yên Thế.
Nguyên nhân của tình trạng trên là do những năm qua, lợi ích từ trồng rừng kinh tế cao. Hạch toán cho thấy một ha rừng kinh tế sau khoảng 5 năm trồng thu lãi cả trăm triệu đồng. Trên địa bàn tỉnh lại có nhiều diện tích rừng tự nhiên nghèo kiệt đã quy hoạch thành rừng sản xuất giao cho hộ dân quản lý nên người dân có nhu cầu cao chuyển sang trồng rừng sản xuất.
Trong khi đó, chính quyền một số địa phương chưa quan tâm đúng mức tới việc thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; lực lượng kiểm lâm còn mỏng, quản lý diện tích rừng lớn...
Ông Phạm Bằng Giang, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Lục Nam nói: “Khó khăn trong bảo vệ rừng tự nhiên nghèo kiệt là diện tích rừng này thường ở khu vực vùng sâu, vùng xa, giao thông không thuận lợi. Nhiều trường hợp người dân địa phương lợi dụng ngày nghỉ lễ, Tết, những hôm thời tiết bất lợi, thậm chí cắt cử người theo dõi hoạt động của lực lượng kiểm lâm để chặt phá, lấn chiếm rừng”.
Trước tình hình gia tăng các vụ phá rừng thời gian qua, chính quyền, ngành chức năng đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo và thực hiện đồng bộ các biện pháp ngăn chặn kịp thời các vụ việc phát sinh.
UBND huyện Lục Nam có công văn gửi các cơ quan đơn vị, UBND các xã có rừng về việc tăng cường kiểm tra, chống chặt phá rừng tự nhiên. Chi cục Kiểm lâm (Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Giang) có văn bản yêu cầu Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm, Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng triển khai các biện pháp bảo vệ rừng, chống chặt phá rừng trái phép.
Ông Hà Minh Quý, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm cho biết: “Tình trạng phá rừng tự nhiên nghèo kiệt để trồng rừng kinh tế diễn ra nhiều năm trở lại đây, lực lượng kiểm lâm đã tích cực tuyền truyền, vận động người dân giữ diện tích rừng này hoặc chỉ được phép cải tạo khi được cấp có thẩm quyền cho phép. Tuy nhiên, công tác cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt hiện còn vướng rất nhiều. Thời gian tới, Chi cục Kiểm lâm xác định tình hình này vẫn còn diễn ra nên sẽ tăng cường tuyên truyền, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân trong việc bảo vệ rừng tự nhiên, đồng thời phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương trong tuần tra, kiểm soát rừng, phát hiện kịp thời các sai phạm và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật”.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh còn nhiều diện tích rừng tự nhiên nghèo kiệt đã quy hoạch thành rừng sản xuất. Việc nóng vội, không tuân thủ các quy định của pháp luật trong quá trình cải tạo rừng tự nhiên tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra phá rừng như thời gian qua.
Vì vậy, để quản lý, bảo vệ tốt diện tích rừng trên địa bàn nói chung, diện tích rừng tự nhiên nghèo kiệt đã quy hoạch thành rừng sản xuất nói riêng, cùng với tuyên truyền, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân trong vấn đề này, lực lượng kiểm lâm, nhất là cán bộ kiểm lâm địa bàn cần nêu cao trách nhiệm trong việc bám dân, bám rừng, tham mưu với chính quyền cơ sở các biện pháp bảo vệ rừng; phối hợp với các đoàn thể ở thôn, bản phổ biến tới người dân các quy định của Nhà nước về bảo vệ, phát triển rừng. Chính quyền địa phương, nhất là cấp xã cần có sự vào cuộc tích cực trong việc quản lý bảo vệ rừng theo phân cấp quản nhà nước trong lĩnh vực này. (Báo Bắc Giang 6/9) đầu trang(
Năm 2013, 335 ha diện tích rừng tại tiểu khu 1649 được cơ quan chức năng giao cho cộng đồng bon R’Bút, xã Quảng Sơn (Đắk Glong) quản lý, bảo vệ. Sau một thời gian triển khai, mô hình này đã phát huy hiệu quả, góp phần không nhỏ vào công tác bảo vệ rừng, tạo nguồn lợi cho người dân.
Trên chiếc xe win “dã chiến”, chúng tôi theo chân các thành viên tổ bảo vệ đi tuần rừng, được tận mắt chứng kiến những khu rừng bạt ngàn nguyên vẹn đã phần nào hình dung được thành quả sau nhiều năm dầm mưa, ngủ rừng của những người tham gia bảo vệ rừng. Tổ bảo vệ rừng cộng đồng bon R’Bút gồm 15 người.
Ông Y Đoan, Tổ trưởng Tổ bảo vệ rừng cộng đồng bon R’Bút cho biết: Tổ bảo vệ rừng được thành lập từ năm 2013, các thành viên trong tổ thay phiên nhau đi tuần tra rừng. Nhờ đó, rừng được bảo vệ tốt, tình trạng phá rừng trái phép đã giảm. Không chỉ thường xuyên tuần tra, kiểm tra rừng, Tổ còn tuyên truyền, vận động nhân dân bảo vệ rừng, không đốt nương, làm rẫy gây cháy rừng.
Ngoài việc bảo vệ diện tích rừng do UBND xã giao, Tổ bảo vệ rừng cộng đồng bon R’Bút còn tiến hành trồng lại diện tích rừng bị lấn chiếm. Đến nay, Tổ đã trồng lại được 2 ha rừng. Mô hình bảo vệ rừng ở cộng đồng bon R’Bút đã đi vào cộng đồng, được nhân dân nhiệt tình ủng hộ.
Ông Y Đoan cho biết thêm: “Chúng tôi luôn tuyên truyền cho bà con hiểu rõ trách nhiệm bảo vệ rừng và việc hưởng lợi từ rừng sau này. Nhờ đó,  người dân đã nhận thức được giá trị lợi ích của rừng mang lại, ý thức bảo vệ rừng được nâng cao, người dân không phát rừng làm nương rẫy nữa. Việc bảo vệ rừng đã được đưa vào hương ước, quy ước của bon”.
Từ chuyển biến về nhận thức, người dân trong bon không những chấp hành nghiêm pháp luật bảo vệ rừng, mà còn tích cực tham gia bảo vệ rừng. Có lần khoảng 5 sào diện tích rừng bị người dân nơi khác đến phát dọn để làm rẫy, Tổ đã đến tuyên truyền để hộ gia đình đó dừng hoạt động lấn chiếm. Sau đó, Tổ đã trồng lại rừng trên diện tích người dân lấn chiếm.
Từ bon R’Bút vào đến chốt khoảng 25 km, đường đi lại khá khó khăn, dốc, nhiều ổ gà, ổ voi nếu gặp mưa vào buổi chiều thì việc chạy xe máy trên đoạn đường này gần như là không thể. Để khắc phục khó khăn về đường đi lại, có chỗ trú mưa, tránh nắng, ngủ qua đêm mỗi khi đi tuần rừng, đầu năm nay, Tổ đã xây dựng một chốt trong rừng với trị giá 50 triệu đồng.
Trò chuyện với chúng tôi, ông Y Tẽh, thành viên Tổ bảo vệ rừng của bon R’Bút, hồ hởi cho biết: “Tham gia vào dự án rừng cộng đồng, quyền lợi gắn liền với trách nhiệm, người dân chúng tôi rất phấn khởi. Vì vậy, khi có đối tượng lạ mặt khả nghi vào địa bàn đều được người dân phát hiện và báo cáo kịp thời với lực lượng chức năng. Nhờ vậy, số vụ chặt phá rừng bừa bãi được kịp thời phát hiện, xử lý”.
Ở cái tuổi 51, nhưng ông Y Siêng vẫn băng băng đi tuần tra, kiểm tra diện tích đất rừng. Cùng với các hoạt động thiết thực của tổ bảo vệ, thấy được những lợi ích từ rừng, ý thức của người dân đối với công tác bảo vệ rừng có những chuyển biến rõ nét. Người dân bắt đầu hưởng lợi từ việc khai thác một số loại lâm sản theo quy định.
Ông Đỗ Ngọc Hiếu, Chủ tịch UBND xã Quảng Sơn cho biết: “Tôi đã trực tiếp vào tiểu khu rừng cộng đồng bon R’Bút để kiểm tra, thấy việc bảo vệ rừng ở đây rất tốt. Tổ đã làm chốt và luôn có người trực 24/24 giờ trong rừng. Đây là mô hình tốt nên nhân rộng nhưng vấn đề là tùy  theo từng cộng đồng”.
Trước thực trạng rừng ngày càng bị tàn phá nghiêm trọng như hiện nay thì việc tìm kiếm các giải pháp để bảo vệ rừng luôn là vấn đề cấp thiết. Vì vậy, việc nhân rộng các mô hình quản lý rừng cộng đồng sẽ là giải pháp để khôi phục và bảo vệ rừng bền vững. Một khi lợi ích mà rừng mang lại đến tận tay người dân, tới cộng đồng dân cư, bon làng với tư cách như một chủ rừng thì sẽ hạn chế được tình trạng phá rừng trái phép. (Báo Đắk Nông 6/9) đầu trang(
Chiều 6/9, dưới sự chủ trì của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đinh Viết Hồng, UBND tỉnh tổ chức họp để xử lý một số nội dung liên quan đến công tác bảo vệ rừng, trọng tâm là giải quyết kinh phí cho lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách và kinh phí bảo vệ rừng tự nhiên tại các công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp.
Đến thời điểm này, ngoài nguồn vốn sự nghiệp 30a đã được UBND tỉnh phân bổ cho các huyện; và nguồn vốn kinh phí bảo vệ rừng theo chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; thì các nguồn vốn sự nghiệp kinh tế bảo vệ rừng năm 2016 chưa được Trung ương bố trí theo quy định.
Đối với các công ty TNHH 1TV lâm nghiệp, diện tích giao khoán rừng phòng hộ, rừng sản xuất là gần 20.400 ha, kinh phí gần 5,2 tỷ đồng. Tuy nhiên, từ đầu năm đến nay các Công ty không có nguồn thu, không cân đối được kinh phí để chi trả lương và các chế độ chính sách khác cho lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách của công ty, trong khi diện tích rừng này đều phải thường xuyên tổ chức tuần tra, bảo vệ.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đinh Viết Hồng nêu rõ, trên cơ sở đề xuất của Sở NN&PTNT, UBND tỉnh sẽ xem xét, bố trí ngân sách tỉnh tạm cấp 70% kinh phí cho các đơn vị để chi trả lương và bảo hiểm xã hội cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng của các đơn vị. Đ/c Đinh Viết Hồng giao cho Sở NN&PTNT tiếp tục phản ảnh, đề xuất nguồn kinh phí trong công tác bảo vệ rừng để Sở Tài chính cân đối bố trí nguồn ngân sách trình UBND tỉnh xem xét, phân bổ cho các địa phương, đơn vị, chủ rừng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Nghệ An 6/9) đầu trang(
Ngày 6-9, tin từ Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, thuộc tỉnh Cà Mau cho biết vừa xử phạt hành chính 15 triệu đồng đối với một công ty đã có hành vi nhổ trái phép 300 cây mắm non. Đó là Công ty Cổ phần Xây dựng và Sinh thái Thủy lợi, có trụ ở Hà Nội.
Trước đó, báo Pháp Luật TP.HCM phản ảnh có ai đó đã đến Vườn quốc gia Mũi Cà Mau nhổ hàng loạt cây mắm non trong rừng.
Qua kiểm tra bước đầu, Vườn quốc gia Mũi Cà Mau đã phát hiện công ty trên có nhổ 300 cây mắm non. Dù cho rằng nhổ để thử nghiệm nhưng vì không xin phép nên theo quy định vườn xử phạt hành chính 15 triệu đồng.
Liên quan đến vấn đề nhổ cây mắm non mà Pháp Luật TP.HCM phản ảnh, cơ quan chức năng tỉnh Cà Mau chỉ đạo kiểm tra làm rõ.
Theo ông Lê Văn Hải, Chi Cục trưởng Kiểm lâm Cà Mau, thì hiện nay tổ công tác của ông đang tiến hành làm rõ những thông tin này, sẽ có báo cáo vào cuối tuần. (Pháp Luật TP.HCM 6/9) đầu trang(
Ngày 6.9, Ban quản lý Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát (H.Tân Biên, Tây Ninh) tổ chức đón bằng công nhận hai cây di sản VN do Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường VN (VACNE) công nhận. Đây là lần đầu tiên, tỉnh Tây Ninh được VACNE công nhận cùng lúc hai cây di sản VN.
Đó là cây Dầu Rái (có niên đại 269 năm tuổi, đường kính 2,2 mét, chu vi 6,8 mét, cao trên 42 mét) và cây Vên Vên (có niên đại 215 năm tuổi, đường kính 2 mét, chu vi 6,3 mét, cao 44 mét). Hai cây cổ thụ này đang tồn tại xanh tốt và được bảo vệ nghiêm ngặt tại Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát.
Ông Phùng Quang Chính, Ủy viên BCH T.Ư VACNE, Phó chủ tịch Hội đồng Cây di sản VN khẳng định, việc lựa chọn và vinh danh hai cây cổ thụ tại Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát là cây di sản VN nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ các nguồn gien tiêu biểu; đồng thời giới thiệu sự phong phú của hệ thực vật VN đến bạn bè thế giới, góp phần tạo thêm sức hút cho khu du lịch sinh thái Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát.
Cũng theo ông Chính, đến nay, VN đã có 2.609 cây được công nhận là cây di sản VN. Trong đó có cây Táu hơn 2.100 tuổi ở Thiên Cổ Miếu (H.Việt Trì, Phú Thọ), quần thể 725 cây Pơ mu có niên đại từ 300 - 1.500 năm tuổi ở H.Tây Giang (Quảng Nam).
Ông Châu Văn Văn, Giám đốc Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát cho biết thêm, vườn quốc gia được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thành lập vào tháng 7.2002 với tổng diện tích 19.156 ha, nằm trên địa bàn 4 xã của huyện Tân Biên, tiếp giáp với Campuchia và cách TP.Tây Ninh 35 km. Vườn quốc gia có sinh cảnh rừng lá rộng thường xanh và nửa rụng lá với quần thể cây họ dầu đặc trưng của miền Đông Nam Bộ, rừng khộp của Tây Nguyên, rừng tràm và đất ngập nước của đồng bằng sông Cửu Long.
Về thực vật, đến nay đã xác định được gần 700 loài, động vật đã ghi nhận 42 loài thú, 203 loài chim, 88 loài cá, 59 loài bò sát; trong đó có nhiều loài nằm trong danh mục sách đỏ Việt Nam cần được bảo tồn.
Trong thời kỳ chiến tranh, khu vực Lò Gò - Xa Mát là những căn cứ cách mạng thiết yếu của miền Nam. Do đó, ngoài giá trị bảo tồn đa dạng sinh học, Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát còn có giá trị về lịch sử, nghiên cứu khoa học, giáo dục cộng đồng và phát triển du lịch sinh thái. (Thanh Niên 6/9) đầu trang(
Đam mê nghiên cứu khoa học, thạc sĩ Phạm Văn Thế không chỉ tìm và bảo tồn nhiều loài thực vật đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng toàn cầu mà còn phát hiện nhiều loài hoa mới cho khoa học VN.
Lớn lên ở vùng rừng núi Chí Linh (Hải Dương), ngay từ nhỏ Phạm Văn Thế đã gắn bó với rừng nên quyết định thi vào Trường ĐH Lâm nghiệp. Nhưng sau khi tốt nghiệp, Thế không chọn nghề kiểm lâm mà chuyển sang học thạc sĩ chuyên ngành thực vật học. Thế cho biết: “Những chuyến đi thực địa mang đến cho tôi cảm xúc mới lạ. Lần đầu tiên tôi được khám phá những cánh rừng nguyên sơ tuyệt đẹp với hệ động thực vật rất đa dạng và phong phú. Tuổi trẻ thích phiêu lưu, mạo hiểm nên tôi đã lựa chọn gắn bó với ngành thực vật học”.
Khi bước chân vào nghề, chàng trai 8X mới thấy những chuyến đi rừng thời sinh viên chỉ là “cưỡi ngựa xem hoa”. Công việc của một nhà thực vật học vô cùng vất vả, nguy hiểm.
Qua những chuyến đi rừng, nhà khoa học trẻ của Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật (Viện Hàn lâm khoa học VN) đặc biệt say mê và tâm huyết với những loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng họ thông, bách, lan như: pơ mu, sa mộc, hoàng đàn, bách xanh, lan hài… Việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên và mất đi sinh cảnh sống là mối đe dọa đối với đa dạng sinh học ở VN. Có những loài cây khả năng sinh trưởng không còn thích nghi với điều kiện tự nhiên, phải mất 100 năm mới có thể sinh trưởng.
Trong số những đề tài mà Thế và các đồng nghiệp thực hiện có dự án nghiên cứu bảo tồn hoàng đàn, loài thực vật quý hiếm bị đe dọa tuyệt chủng toàn cầu tại khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên, Hữu Lũng (Lạng Sơn). Từ cuối những năm 1980, do bị khai thác quá mức, cây hoàng đàn đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Năm 2009, khi các nhà khoa học khảo sát, ở đây chỉ còn 20 - 30 cây con.
Thế cho hay: “Hoàng đàn là giống cây gỗ quý hiếm và đắt tiền, mỗi kg gỗ trị giá 1 - 2 triệu đồng. Loại gỗ này có mùi thơm đặc biệt cả trăm năm, tinh dầu của nó có tác dụng chữa bệnh khớp. Trước nguy cơ tuyệt chủng, chúng tôi đã thực hiện dự án nhân giống loại cây này phát triển tốt trong vườn của người dân địa phương, có thể trồng lại trong tự nhiên”.
Bên cạnh bảo tồn, Thế còn tìm ra và công bố nhiều chi loài thực vật mới cho khoa học, là nguồn gien quý, đặc hữu của VN có giá trị thẩm mỹ và bảo tồn cao như: chi và loài mới thiên lý hiệp rủ, cẩm cù lộc, cẩm cù cuống dài, cẩm cù hạnh, bách xanh đá, thông năm lá rủ... Trong chuyến đi thực địa tháng 5.2016, anh đã tìm thấy loài hoa cẩm cù hiếm có tại Cát Bà (Hải Phòng). Sau khi so sánh với các mẫu ở bảo tàng hiện có và tìm hiểu tài liệu, nhóm điều tra thực địa kết luận đây là loài cẩm cù bon Hoya bonii, thuộc họ trúc đào Apocynaceae, chỉ có ở VN.
Những công bố khoa học của Phạm Văn Thế đã góp phần quan trọng trong công việc bảo tồn các loài thực vật quý hiếm bị đe dọa tuyệt chủng ở VN cũng như trên thế giới. Đây là cơ sở để các cơ quan chức năng có biện pháp bảo tồn, lựa chọn các nguồn gien tự nhiên quý hiếm phục vụ cho quá trình khai thác nhằm mục đích phát triển bền vững.
Thế còn là người sáng lập và hiện là đồng quản trị trang web “Đa dạng sinh học và bảo tồn VN - BIODIVN” (biodivn.com). Đây là trang cung cấp thông tin miễn phí về tình hình đa dạng các loài động thực vật, cũng như hiện trạng và tình hình bảo tồn của chúng cho mục đích phát triển bền vững ở VN.
Phạm Văn Thế bộc bạch: “Để bảo tồn, phát triển nguồn gien; nhân nuôi những loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ngoài tâm huyết thôi chưa đủ, những nhà nghiên cứu trẻ rất mong được nhà nước hỗ trợ về thiết bị, kinh phí để tiếp tục được cống hiến và theo đuổi niềm đam mê với khoa học”.
Thạc sĩ Phạm Văn Thế đã tham gia 42 đề tài, dự án nghiên cứu; xuất bản 54 công trình nghiên cứu, một cuốn sách tiếng Anh tại Đức, tác giả 21 bài báo quốc tế. Anh cùng cộng sự đã tìm ra được 13 loài thực vật mới cho khoa học. Trong đó, phát hiện 11 loài mới từ VN, 2 loài mới từ Lào.
Để vinh danh những đóng góp cho nghiên cứu bảo tồn và đa dạng thực vật VN, Thế còn được các đồng nghiệp quốc tế đặt tên cho các loài hoặc chi thực vật mới phát hiện cho khoa học như: địa lan Thế Gastrodia Theana; chi mới lan Thế Theana với loài mới lan Thế Việt Theana Vietnamica; loài mới tỏi rừng  Thế Tupistra Theana.
Năm 2015, Phạm Văn Thế là một trong 10 nhà khoa học trẻ được T.Ư Đoàn trao tặng giải thưởng KHCN thanh niên “Quả cầu vàng”. (Thanh Niên 6/9) đầu trang(
Thời gian gần đây, nhiều người dân trên địa bàn huyện Chợ Mới đã tích cực nhân rộng các mô hình chăn nuôi động vật bán hoang dã. Bước đầu đã đem lại nguồn thu nhập ổn định cho người chăn nuôi.
Các loại động vật hoang dã được người dân nuôi chủ yếu là: Dúi, rắn, lợn rừng và hiện nay xuất hiện một số hộ dân nuôi vịt trời... Nhiều hộ chăn nuôi cho biết: do chúng có nguồn gốc hoang dã nên dễ nuôi, ít dịch bệnh, thức ăn có thể tận dụng các loại phụ phẩm nông nghiệp sẵn có nên không tốn nhiều chi phí chăn nuôi.
Giá bán giống và thịt trên thị trường đối với các loại động vật này thường cao hơn so với các loại vật nuôi truyền thống từ 20.000 đồng đến 80.000 đồng/1kg thịt thương phẩm. Vì vậy, người dân ở các xã trên địa bàn huyện Chợ Mới đã chú trọng phát triển các mô hình chăn nuôi này. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 6/9) đầu trang(
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 6.9, người dân thôn Hải Bắc, xã Nhơn Hải, thành phố Quy Nhơn phát hiện xác một con rùa biển đã chết, trôi dạt khu vực Gành Trên (thuộc thôn Hải Bắc). Rùa dài khoảng 0,8m, rộng khoảng 0,6m, ước nặng khoảng 70kg. Loại rùa biển này ngư dân địa phương thường gọi là con đú, tên gọi rùa xanh (tên khoa học Chelonia mydas, thuộc họ Vích Cheloniidae, bộ Rùa biển Testudines).
Quan sát kỹ trên đầu rùa có vết thương còn dính máu, một bên thân mai nằm sát chân bơi bị nứt một đường dài theo hình răng cưa, xác rùa có dấu hiệu trương phình và bốc mùi hôi tanh.
Bà Nguyễn Hải Bình, Trưởng phòng Khai thác và phát triển nguồn lợi thủy sản (Chi cục Thủy sản Bình Định) cho biết: “Trước đó có 2 con rùa xanh cũng bị thương và chết trôi dạt vào bãi biển Quy Nhơn và bãi biển xã Nhơn Lý. Rất có thể rùa biển đã va quẹt vào chân vịt ghe thuyền đang lưu thông hoặc có khả năng ăn trúng các loại chất thải dưới biển như: bì nhựa, vỏ hộp xốp... Theo kích thước và trọng lượng của con rùa chết dạt vào xã Nhơn Hải, rất có thể rùa này đang trong thời kỳ chuẩn bị sinh nở”.
Cũng theo một số ngư dân xã Nhơn Hải, con rùa biển này có kích thước và màu sắc rất giống với con rùa bò lên bãi biển Mũi Cồn thôn Hải Đông (giữa tháng 7.2016) để đẻ trứng nhưng có thấy người nên rùa không đẻ mà bò trở lại biển.
Rùa biển là loài động vật quý hiếm, có nguy cơ bị tuyệt chủng, nằm trong sách Đỏ của Việt Nam và thế giới cần được bảo vệ nghiêm ngặt. (Báo Bình Định 7/9) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa có văn bản đồng ý dừng chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng và đất rừng tại Vườn quốc gia Yok Đôn để xây dựng nhà máy thủy điện Đrăng Phôk (tỉnh Đắk Lắk).
Trong văn bản gửi các bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Công thương, Tài nguyên - môi trường, UBND tỉnh Đắk Lắk, Thủ tướng Chính phủ giao các bộ nêu trên phối hợp với UBND tỉnh Đắk Lắk chỉ đạo việc không xem xét chuyển đổi mục đích sử dụng diện tích 63 ha đất lâm nghiệp tại Vườn quốc gia Yok Đôn theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại hội nghị chuyên đề về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016 - 2020.
Trước đó, ngày 19-5-2016, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn có văn bản thể hiện ý kiến của các bộ và UBND tỉnh Đắk Lắk kiến nghị Chính phủ xem xét dừng chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng tại Vườn quốc gia Yok Đôn, tỉnh Đắk Lắk để xây dựng nhà máy thủy điện Đrăng Phôk (tỉnh Đắk Lắk). (Tuổi Trẻ 7/9) đầu trang(
5 năm qua, chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đã góp phần tích cực trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng trong tỉnh; giúp hàng ngàn hộ nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng có thêm việc làm, tăng thêm thu nhập. Tuy nhiên, nhiều hộ nhận khoán và chủ rừng kiến nghị cần sớm nâng đơn giá chi trả còn quá thấp, chưa hợp lý lâu nay.
Thời gian qua, hầu hết các đơn vị chủ rừng trong tỉnh đều triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo đúng kế hoạch, phương án được phê duyệt, đảm bảo chi trả đúng đối tượng, đúng diện tích, số tiền. Phó giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc Ðặng Khánh Tài cho biết, để triển khai chính sách chi trả DVMTR, Ban quản lý thường xuyên chủ động phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng huyện Xuân Lộc tổ chức tuyên truyền những nội dung của chính sách đến các hộ nhận khoán, đồng thời lồng ghép việc tuyên truyền thông qua các hội nghị, tổng kết. Kết quả, đa số hộ nhận khoán trong lâm phận hưởng ứng và tích cực trong công tác bảo vệ rừng, tạo được bước chuyển mạnh mẽ trong nhận thức người dân về giá trị rừng mang lại.
Phó giám đốc Khu bảo tồn Thiên nhiên - văn hóa Ðồng Nai Nguyễn Hoàng Hảo cho hay, hằng năm, trên cơ sở số tiền được thông báo, Khu bảo tồn đã xây dựng các phương án sử dụng tiền DVMTR phù hợp theo mục tiêu quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng của đơn vị. Kinh phí DVMTR đã phần nào giúp đơn vị nâng cao hiệu lực và hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ tốt nguồn tài nguyên rừng, tài nguyên đa dạng sinh học; hỗ trợ kinh phí mua sắm các phương tiện, trang thiết bị, công cụ hỗ trợ cho công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng hằng năm.
Vườn quốc gia Cát Tiên cũng đã sử dụng chính sách DVMTR vào việc thực hiện khoán bảo vệ rừng cho đối tượng là người đồng bào, người nghèo sống vùng ven nhằm giúp họ có thêm việc làm, góp phần cải thiện sinh kế.
Tính đến tháng 4-2016, tỉnh Ðồng Nai có diện tích rừng giao khoán trong vùng thực hiện chính sách chi trả DVMTR là hơn 28.220 ha với 10.591 hộ. Từ năm 2011 đến năm 2015, Quỹ bảo vệ - phát triển rừng đã huy động các nguồn thu (nguồn Trung ương điều phối, thu nội tỉnh và nguồn khác) được tổng số tiền gần 45 tỷ đồng và đã giải ngân 35,4 tỷ đồng (đạt hơn 95%).
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Ðồng Nai, so với các tỉnh khác, nguồn thu từ DVMTR của Ðồng Nai không lớn (xếp thứ 19/40 tỉnh, thành) nhưng tỉnh đã tích cực triển khai chính sách chi trả DVMTR và đã mang lại những kết quả nhất định. Chính sách DVMTR đã góp phần ổn định và phát triển bền vững diện tích rừng đặc dụng, phòng hộ đầu nguồn và phòng hộ môi trường hiện có, từng bước được nâng cao về chất lượng rừng. Số vụ vi phạm về bảo vệ rừng, cháy rừng đã giảm đáng kể so trước đây. Ngoài ra, chính sách chi trả DVMTR đã tạo công ăn việc làm và tăng thêm thu nhập cho trên 3.400 hộ gia đình…
Tuy nhiên, đơn giá chi trả DVMTR hiện còn quá thấp và chưa tạo ra động lực thực sự cho người dân tham gia bảo vệ rừng. Ông Nguyễn Tiến Song (ấp 6, xã Núi Tượng, huyện Tân Phú) chia sẻ, ông tham gia vào tổ cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng tại địa bàn Trạm kiểm lâm Núi Tượng (Vườn quốc gia Cát Tiên) từ năm 2013 đến nay. Tổ có 10 hộ dân tham gia nhận khoán hơn 392 ha rừng. Nhiệm vụ của tổ là phân công người tham gia cùng lực lượng kiểm lâm đi tuần tra bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng, tuyên truyền pháp luật…
“Chúng tôi thường xuyên đi tuần tra dài ngày trong rừng sâu rất cực khổ và nguy hiểm. Tuy nhiên, chính sách chi trả DVMTR cho chúng tôi quá thấp, một ha chỉ được hơn 70.000 đồng/năm. Tính ra mỗi hộ chỉ nhận được hơn 2,7 triệu đồng/năm. Trong khi đó, rừng của tỉnh Lâm Ðồng nằm sát với rừng Ðồng Nai nhưng lại được chi trả rất cao. Vì vậy, người dân rất mong muốn các cấp lãnh đạo xem xét và nâng mức chi trả cho phù hợp”, ông Song kiến nghị.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, nguồn thu từ DVMTR của các tỉnh có sự chênh lệch khá lớn. Các tỉnh ở thượng nguồn thường thu cao hơn các tỉnh hạ lưu (tỉnh Lâm Ðồng thu trên 120 tỷ đồng/năm, trong khi Ðồng Nai chỉ thu 9 tỷ đồng/năm). Mức chi trả DVMTR cho 1 ha rừng/năm giữa các lưu vực cũng có sự chênh lệch quá lớn (tỉnh Lâm Ðồng có mức chi trả cao nhất từ 300.000 - 400.000 đồng/ha/năm; tỉnh Ðồng Nai mức chi trả cao nhất 155.000 đồng/ha/năm, thấp nhất 8.000 đồng/ha/năm).
Với mức chi trả thấp như trên, hiện vẫn còn khoảng 6.000 ha đất rừng nhận khoán chưa lập hồ sơ chi trả tiền DVMTR. “Do tiền chi trả DVMTR quá thấp, không đủ chi phí đi lại nhận tiền nên một số hộ dân không mấy mặn mà. Vì vậy, chúng tôi phải tìm đến tận nhà để cấp tiền cho họ nên thời gian chi trả kéo dài, gây khó khăn cho đơn vị”, Phó giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc Ðặng Khánh Tài cho biết.
Chính vì vậy, hầu hết các đơn vị chủ rừng đều kiến nghị cần phải sớm tăng đơn giá chi trả DVMTR. “Tăng đơn giá chi trả DVMTR sẽ tạo điều kiện cho các hộ nhận khoán có nguồn thu nhập ổn định, lâu dài. Có như vậy mới thực sự khuyến khích người dân nhận khoán tham gia tích cực công tác bảo vệ và phát triển rừng”, Phó giám đốc Khu bảo tồn Nguyễn Hoàng Hảo nói. (Lao Động Đồng Nai 7/9) đầu trang(
Thời điểm hiện tại đang là giai đoạn cuối “mùa” trồng rừng nhưng đến nay, các đơn vị trồng rừng thay thế trên địa bàn tỉnh mới trồng được gần 1.477 ha, đạt 55% kế hoạch giao.
Thực hiện kế hoạch trồng rừng năm nay, Công ty TNHH Thương mại, Dịch vụ, Sản xuất khoáng sản Phú Gia Phát được giao trồng 400 ha diện tích rừng phòng hộ tại tiểu khu 1260 thuộc xã Buôn Choáh (Krông Nô). Do diện tích đất trồng rừng xảy ra tranh chấp và các hoạt động tuyên truyền vận động chưa mang lại kết quả nên đến nay, Công ty chỉ mới trồng được hơn 60 ha. Việc thi công trồng rừng không thể triển khai do người dân tranh chấp đất rừng với công ty.
Ông Nguyễn Đức Vượng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty lo lắng: “Đã bước vào cuối mùa trồng rừng, đơn vị đang rất lo lắng về tiến độ, đã huy động 100 nhân công túc trực để tham gia trồng rừng nhưng đất xảy ra tranh chấp đã ảnh hưởng đến tiến độ triển khai”.
Còn tại Trung đoàn 726 (Tuy Đức), đơn vị này được giao trồng 500 ha diện tích trồng rừng thay thế, nhưng đến nay cũng mới trồng được hơn 100 ha. Số diện tích còn lại đơn vị cũng đang rơi vào tình trạng khó khăn trong việc vận động nhân dân phối hợp trồng rừng.
Ông Hoàng Ngọc Bích, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 726, Binh đoàn 16 cho biết: “Những khó khăn của đơn vị hiện nay là do đất trồng rừng bị người dân lấn chiếm, canh tác lâu năm cần sự vào cuộc tham gia của ngành chức năng địa phương. Thời gian qua, những hoạt động tuyên truyền của chính quyền địa phương chưa đạt kết quả cao”.
Trước những khó khăn của một số đơn vị trồng rừng thay thế được giao với diện tích đất lớn đang gặp phải, Chi cục Kiểm lâm (Sở Nông nghiệp - PTNT) đã thành lập các đoàn kiểm tra xuống tại đơn vị để tìm hiểu nguyên nhân, tìm các phương án giải quyết.
Ông Nguyễn Quân Trường, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm cho biết: “Nguyên nhân dẫn đến tình trạng chậm tiến độ so với kế hoạch là do đất của các đơn vị được giao phần lớn diện tích bị người dân lấn chiếm và đang canh tác các loại cây trồng ngắn ngày và lâu năm. Các đơn vị trồng rừng, các ngành chức năng, chính quyền địa phương đã mất rất nhiều thời gian để tiến hành họp dân tuyên truyền, vận động nhiều lần. Điều này đã phần nào ảnh hưởng đến tiến độ trồng rừng thay thế trong thời gian qua”.
Được biết, Chi cục Kiểm lâm cũng đưa ra các phương án để thực hiện việc trồng rừng thay thế đối với diện tích đất người dân canh tác cây lâu năm có địa hình dốc cao vận động tập trung trồng rừng. Với diện tích địa hình bằng phẳng, các cơ quan chuyên môn vận động trồng theo mô hình nông lâm kết hợp.
Thời gian qua, ngoài các văn bản đốc thúc, ngành đã thành lập các đoàn kiểm tra các đơn vị có diện tích trồng rừng lớn để tìm hiểu nguyên nhân nhằm có phương án giải quyết linh hoạt, kịp thời; đồng thời, giao bổ sung cho các đơn vị khác đủ năng lực trồng rừng, trồng thêm diện tích rừng.
Ông Trường cho biết thêm: “Chi cục đang đốc thúc các đơn vị trồng rừng, giải quyết nhanh những vướng mắc đang gặp phải, bổ sung thêm các đơn vị có đủ nhân lực, có diện tích “đất sạch” để có thể hoàn thành được kế hoạch trồng rừng thay thế mà tỉnh đã đề ra. Tuy nhiên, khó khăn nhất hiện nay là xử lý diện tích đất được quy hoạch lâm nghiệp nhưng người dân đang canh tác các loại cây công nghiệp lâu năm”. (Báo Đắk Nông 6/9) đầu trang(
Vừa qua, UBND TP Hạ Long đề xuất tiến hành thay thế hàng loạt cây xanh trên các tuyến phố trung tâm.
Theo đó, sẽ có 18 tuyến đường được trồng thay thế cây xanh: Đường Nguyễn Văn Cừ; Lê Thánh Tông; QL18 đoạn Ngã tư Loong Toòng – Nút giao thông Kênh Liêm; Tỉnh lộ 336; Tỉnh lộ 337; đường Trần Quốc Nghiễn; đường Hạ Long, đường Hoàng Quốc Việt; đường Vườn Đào...
Tùy theo từng tuyến đường sẽ được trồng với loại cây phù hợp. Các loại cây sẽ được trồng thay thế cho cây cũ trên vỉa hè: muồng vàng, long não, bằng lăng, sao đen, hoa ban tím. Cụ thể tại dọc hai bên đường Nguyễn Văn Cừ các cây hiện tại trên vỉa hè sẽ được thay thế bằng cây muồng vàng; đường Cao Thắng - Hà Lầm trồng cây hoàng lan... Tất cả các loại cây được trồng sẽ có chiều cao từ 5m -8m. (Báo Quảng Ninh 6/9) đầu trang(
Huyện Lâm Bình (Tuyên Quang) có diện tích rừng phòng hộ trên 39.750 ha, trải rộng tại 8 xã, do lực lượng kiểm lâm mỏng, công việc tuần tra bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn nên BQL rừng phòng hộ đã tham mưu cho chính quyền địa phương giao khoán rừng phòng hộ cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại địa bàn huyện.
Hiện 40 hộ dân đang sinh sống xen kẽ với đất rừng phòng hộ được bàn giao bảo vệ hơn 4.100 ha rừng ven bờ hồ thủy điện Na Hang, tại đây bà con được phép thụ hưởng nguồn lâm sản phụ và chăn thả gia súc, gia cầm tạo nguồn lương thực phục vụ gia đình và cung cấp ra ngoài thị trường. Khi được bàn giao đất rừng, các hộ dân đều rất phấn khởi, rừng được trồng bổ sung nhằm phủ xanh đất trống đồi trọc, đồng thời các vùng bán ngập được tân dụng để trồng rau cải thiện sinh hoạt.
Cùng với đó là những lán trại chăn nuôi được dựng lên, vừa kết hợp bảo vệ rừng vừa phát triển được kinh tế. Nhờ có diện tích đất rộng các hộ dân có thể chăn nuôi nhiều loại gia súc, gia cầm như: trâu, bò, dê, lợn, vịt, gà v.v... thậm chí tại khu vực gần hồ thủy điện cũng được bà con tận dụng nuôi cá lồng.
Theo kinh nghiệm của bà con nơi đây, dưới tán rừng có rất nhiều ưu điểm so với chăn nuôi tại hộ gia đình là tận dụng thức ăn có sẵn từ rừng, gia súc thả rông không mất công chăn thả, không mất tiền làm chuồng trại và không bị dịch bệnh và đặc biệt hơn nữa, vật nuôi hoàn toàn không dùng đến thức ăn chăn nuôi nên rất sạch sẽ, dễ bán và luôn bán được giá cao.
Từ đó người dân tại Lâm Bình càng có ý thức bảo vệ rừng, tình trạng phá, xâm hại rừng không còn, môi trường sinh thái được bảo đảm, kinh tế của người dân từng bước đi lên, thoát nghèo, làm giàu bền vững. (Người Chăn Nuôi 6/9) đầu trang(
Nhờ quản lý, sử dụng hiệu quả diện tích được giao theo hướng sản xuất tập trung, một số công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã không ngừng phát triển, nâng cao thu nhập cho người lao động. Bên cạnh đó, do yếu kém trong quản lý, có những doanh nghiệp (DN) lâm vào cảnh khó khăn, thua lỗ.
Được giao quản lý, sử dụng hơn 2,8 nghìn ha đất lâm nghiệp, Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Lục Ngạn (Công ty Lâm nghiệp Lục Ngạn) đã chú trọng đổi mới phương pháp trồng, chăm sóc rừng để nâng cao đời sống người lao động, phát triển DN. Hằng năm, 38 cán bộ, nhân viên Công ty được tổ chức thành 9 đội sản xuất, trực 24/24 giờ tại các cụm xã hỗ trợ người dân được thuê trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng.
Hiện nay, DN khoán 1,2 nghìn ha đất trồng keo, bạch đàn cho 700 hộ. Mỗi chu kỳ, các hộ thực hiện công việc như: Cuốc hố, trồng, chăm sóc… trong 3 năm đầu. Khi thành rừng, hai bên chuyển sang hợp đồng khoán bảo vệ, hộ dân có trách nhiệm trông nom rừng dưới sự hỗ trợ của các đội sản xuất thuộc DN.
Sau khi hoàn thành phần việc của mình, người dân được trả hơn 18 triệu đồng/ha. Những gia đình có nhiều lao động, sống gần rừng, có nhu cầu được ưu tiên nhận khoán. Mô hình liên kết này giúp hàng nghìn hộ có thêm thu nhập, phát triển kinh tế.
Nhiều năm nay, gia đình ông Trần Văn Đình, thôn Nóng, xã Kiên Lao nhận khoán hơn 4 ha rừng trồng của Công ty Lâm nghiệp Lục Ngạn, mỗi chu kỳ trồng và chăm sóc rừng 6 năm, gia đình ông thu hơn 70 triệu đồng. Do kết hợp làm thêm ruộng, vườn, đến nay, gia đình ông vươn lên là một trong những hộ khá nhất thôn. Chủ hộ chia sẻ, nhận khoán rừng chỉ vất vả từng thời điểm như cuốc hố, trồng rừng, vẫn có thể kết hợp làm ruộng vườn, chăn nuôi… mà hằng năm có nguồn thu nhập ổn định. Trong thôn ai cũng mong được nhận khoán, gắn bó với rừng.
Ông Phạm Văn Hưng, Phó Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Lục Ngạn cho biết, từ năm 2003 đến nay, Công ty đã chuyển đổi hình thức khoán đất theo chu kỳ manh mún, nhỏ lẻ, khó quản lý sang khoán công đoạn.
Cách làm này giúp DN chủ động phương án kinh doanh như tự quyết định thời điểm trồng, khai thác để thu hồi vốn, tái đầu tư. Cùng đó, DN còn 750 ha đất trồng thông đòi hỏi chu kỳ dài, thường xuyên chăm sóc, bảo vệ được khoán theo chu kỳ 20 năm cho 430 hộ quản lý. Mỗi năm, Công ty khai thác, trồng mới từ 100 đến 120 ha rừng, doanh thu khoảng 9,5 tỷ đồng giúp duy trì việc làm, thu nhập của người lao động đạt mức bình quân từ 8 đến 10 triệu đồng/người/tháng.
Cũng giao khoán từng công đoạn và chu kỳ trồng cây theo Nghị định 135 với các hộ dân nhưng Công ty Lâm nghiệp Yên Thế luôn có biện pháp quản lý chặt chẽ hơn 2 nghìn ha rừng được giao. Nhờ chủ động áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật từ khâu gieo ươm, ưu tiên giống mới, chăm sóc nâng cao sản lượng gỗ, những năm gần đây, đơn vị nổi lên là đầu tàu về hiệu quả sản xuất kinh doanh. Từ năm 2012 đến nay, mỗi năm DN lãi từ 200 đến 500 triệu đồng.
Ngoài bảo đảm mức lương gần chục triệu đồng/người/tháng, Công ty còn xây dựng trụ sở khang trang, mua sắm phương tiện, thiết bị phục vụ sản xuất, kinh doanh. Nhiều lao động làm việc tại Công ty chia sẻ, những năm gần đây, doanh thu đạt khá, đời sống công nhân được nâng lên nên mọi người yên tâm gắn bó lâu dài, cùng phát triển DN.
Tháng 7 vừa qua, Công ty Lâm nghiệp Yên Thế được Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC) cấp chứng chỉ rừng đạt tiêu chuẩn rừng bền vững FSC. Đây là vinh dự lớn giúp đơn vị sẽ được tăng thêm nguồn đầu tư, có thêm các bộ giống chất lượng cao;  sản phẩm gỗ sau khai thác có cơ hội xuất khẩu vào thị trường Mỹ, các nước châu Âu và nhiều nước tiên tiến khác với giá cao hơn thị trường truyền thống từ 10% trở lên. Đây sẽ là cú hích, tạo đà tăng lợi nhuận cho DN, thu về nguồn ngoại tệ lớn.
Từ cuối năm 2015 đến nay, hàng chục hộ dân các thôn Bãi Đá, Hồng, Văn Non, xã Lục Sơn (Lục Nam) tự ý phát vén, chặt phá rừng để chiếm diện tích đất do Công ty Lâm nghiệp Mai Sơn quản lý. Không chỉ những cánh rừng tự nhiên bị đốn hạ, nhiều diện tích rừng trồng của đơn vị và đối tác cũng bị nhổ bỏ, tự ý trồng cây mới nhằm khẳng định “chủ quyền”.
Những diện tích này đã được Sở Tài nguyên và Môi trường đo đạc, cắm mốc giới, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho DN. Tuy nhiên, sau đó nhiều cột mốc bị nhổ, ranh giới giữa các khoảnh rừng mập mờ. Năm 2015, nhiều hộ trong xã thuê đơn vị tư vấn với giá 50 nghìn đồng/ha để đo đạc, cắm lại mốc giới những diện tích do Công ty quản lý, sau đó ngang nhiên lấn chiếm, sử dụng.
Đơn cử, hộ ông Tống Văn Lai, thôn Bãi Đá (Lục Sơn) tự ý phá khu vực rừng tự nhiên của Công ty Lâm nghiệp Mai Sơn để trồng keo. Ông Lai thừa nhận đã bỏ tiền đo đạc, xác định ranh giới. Trong khi chờ cơ quan chức năng cấp sổ đỏ, ông còn phá bỏ cây bụi để trồng keo. Tuy vậy, khi được nhắc nhở, người này vội chữa là “không biết ai phá rừng, gia đình không tham gia”.
Đây cũng là tình trạng chung xảy ra tại đây khi người dân bao che cho nhau cùng phá rừng, lấn chiếm đất của lâm trường. Đến nay, trên địa bàn xã Lục Sơn có 54 điểm bị chặt phá với tổng diện tích hơn 25,2 ha trước sự bất lực của DN, lực lượng chức năng, chính quyền địa phương.
Nhiều năm qua, Công ty Lâm nghiệp Lục Nam luôn có hàng chục hộ dù đã quá hạn nhận khoán nhưng không khai thác rừng để trả sản lượng cho DN theo thỏa thuận. Thậm chí, sau khi nhận khoán, nhiều hộ còn cố tình mua bán, chuyển nhượng, chuyển đổi sang mục đích khác nhưng không thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan khiến DN không quản lý được đất của mình. Trong đó, riêng hộ ông Nguyễn Minh Phiên, thôn Đại Từ, xã Bảo Đài (Lục Nam) và các con có gần 40 ha rừng trồng nhiều năm không khai thác với lý do làm du lịch sinh thái, bảo vệ môi trường...
Đây là những tồn tại đã diễn ra trong thời gian dài nhưng DN không thể giải quyết dứt điểm. Bên cạnh đó, công tác thu hồi vốn vay đầu tư cho người dân trồng rừng chưa được quan tâm thực hiện khiến DN luôn trong tình trạng khát vốn dẫn đến thua lỗ, khó khăn kéo dài.
Công ty Lâm nghiệp Yên Thế hiện cũng bị 133 hộ dân ở các xã Canh Nậu, Tam Hiệp (Yên Thế) tranh chấp, kiến nghị đòi DN trả lại đất cha ông đã khai hoang, phục hóa. Tại các công ty lâm nghiệp: Sơn Động, Lục Ngạn cũng xảy ra tình trạng người dân lấn chiếm, tranh chấp đất nhưng quy mô, tính chất ít phức tạp hơn. Các hộ chủ yếu nhận thấy hiệu quả từ trồng cây ăn quả nên đã chặt bỏ rừng, chuyển đổi đất của DN sang trồng vải thiều, cam, bưởi... Bên cạnh đó, việc thiếu vốn sản xuất, kinh doanh diễn ra trong thời gian dài khiến nhiều DN phải hoạt động trong cảnh “giật gấu, vá vai”, bán diện tích cây đứng, rừng non, chặt phá rừng tự nhiên để có kinh phí hoạt động.
Ông Nguyễn Văn Dự, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm (Sở Nông nghiệp và PTNT) đánh giá, kiểm tra thực tế tại các công ty lâm nghiệp cho thấy, DN nào có nhiều diện tích rừng trồng, quản lý tốt phần đất được giao, có phương án kinh doanh hợp lý, chú trọng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng, chăm sóc rừng sẽ cho hiệu quả cao hơn. Ngược lại, đơn vị buông lỏng quản lý đất đai trong thời gian dài thường thua lỗ, trì trệ; trở thành điểm nóng về chặt phá, lấn chiếm, tranh chấp rừng và đất lâm nghiệp với các hộ dân. (Báo Bắc Giang 7/9) đầu trang(
Giữa tháng 7/2016, UBND tỉnh thông báo trên địa bàn diễn ra tình trạng mua bán, chuyển nhượng “chui” và sử dụng trái mục đích đất lâm nghiệp, đất rừng, qua đó, chỉ đạo các cơ quan chức năng tổ chức rà soát, có biện pháp ngăn chặn. Việc đi sâu tìm hiểu thực tế ở các địa phương cơ sở, thông tin đúng thực trạng, nguyên nhân... là hết sức cần thiết.
Gọi Quỳ Châu là “điểm nóng” bởi từ cuối năm 2014, Báo Nghệ An từng điều tra, phát hiện tình trạng mua bán, chuyển nhượng "chui", sử dụng trái mục đích đất rừng ở địa phương này; và dù gần 2 năm trôi qua, nạn phá rừng vẫn tiềm ẩn phức tạp, trong khi diện tích đất rừng bị mua bán, chuyển nhượng “chui” lên đến trên 3.400 ha.
Tình trạng mua bán, chuyển nhượng "chui", chuyển đổi trái phép mục đích sử dụng đất rừng xảy ra ở Quỳ Châu được phát hiện ở địa bàn các bản Pà Cọ, Kẻ Nính, Định Tiến, Tà Cọ của xã Châu Hạnh. Những bản, làng này phần đa là đồng bào dân tộc Thái. Các ông, bà Hà Văn Linh, Lim Thị Tường, Bùi Văn Yến, Vi Thị Luyến (là trưởng bản, bí thư chi bộ, người có uy tín của hai bản Pà Cọ, bản Kẻ Nính) khi đó trao đổi rằng, thực hiện rà soát, lập danh sách những gia đình chưa có đất lâm nghiệp để chính quyền huyện, xã tiến hành giao đất lâm nghiệp thì mới vỡ lở ra sự việc này. Và họ đã thống kê có rất nhiều hộ gia đình được giao đất rừng theo Nghị định 163 của Chính phủ từ những năm 2003 - 2004 đã bán cho một doanh nghiệp với giá rẻ mạt từ những năm 2010, 2011.
Theo Trưởng bản Kẻ Nính - ông Bùi Văn Yến thì, ở bản ông có khoảng 25 hộ và "không chỉ ở Pà Cọ, Kẻ Nính mà các bản lân cận Định Tiến, Tà Cọ cũng chung tình trạng này”. Còn Trưởng bản Pà Cọ, ông Hà Văn Linh: "Pà Cọ có khoảng 45 hộ đã bán giấy chứng nhận QSD đất rừng. Đây là số thống kê được, còn thực tế thì có thể cao hơn...".
Qua trao đổi với nhiều người dân ở các bản, làng Kẻ Nính, Pà Cọ, thu thập đầy đủ những căn cứ về việc mua bán đất rừng; và câu hỏi đặt ra: Người ta thu gom đất rừng của dân để làm gì? Người dân cho biết: Sau khi thu gom được giấy chứng nhận QSD đất rừng, doanh nghiệp (là Công ty CP Nghệ An Xanh) đưa máy móc, thiết bị mở đường vào các vùng rừng phát rừng để trồng keo. “Họ thuê hàng chục nhân công phát quang rất nhiều diện tích rừng, dựng nhà, trồng keo lên đó...” - nhiều người dân ở Kẻ Nính cho hay.
Cùng với công an viên của bản, chúng tôi luồn sâu trong vùng rừng của xã Châu Hạnh, vào đến khu vực khe Nhôm, nơi Công ty CP Nghệ An Xanh thuê người phát rừng, làm nhà, trồng keo. Hoang vu một vùng rừng tái sinh phục hồi. Xen lẫn những vạt rừng nứa lùng, cây thân gỗ có đường kính 15 – 30 cm là những mảng đồi đã bị xẻ phát trắng trơn. Một số vùng sau khi xẻ phát đã được trồng keo cao chừng 1m. Tại khu vực này, có một ngôi nhà sàn rộng 4 gian được dựng lên cho nhân công, bảo vệ ở.
Tìm hiểu được biết, hầu hết cả khu vực này đã thuộc quyền sở hữu của ông Phan Bá Giang - Giám đốc Công ty CP Nghệ An Xanh, người ở xã Châu Bình (Quỳ Châu). "Anh Giang mua lại đất rừng của dân được Nhà nước cấp cho. Không biết chính xác bao nhiêu nhưng nhiều lắm, hàng mấy trăm ha, kéo dài cho tới sát xã Châu Thuận. Anh ấy thuê máy mở đường vào đây cũng hết nhiều tiền lắm. Khi có đường mới đưa nhân công vào sẻ phát, trồng keo" – một người xưng là em vợ của ông Phan Bá Giang nói như vậy.
Từ trước năm 2014, vùng đất Quỳ Châu luôn là điểm nóng của tỉnh về các vấn đề liên quan đến đất rừng, thế nên những người có trách nhiệm ở đây nhanh chóng tiếp nhận thông tin và đề nghị báo có sự phối hợp để làm rõ. Chủ tịch UBND huyện Quỳ Châu thời kỳ đó, ông Phan Đức Đồng cũng xác định Công ty CP Nghệ An Xanh có những dấu hiệu vi phạm pháp luật, nên trao đổi:
“Báo chí cứ thông tin những việc đã điều tra, xác minh. Về phần huyện, theo quy định của pháp luật, bên cạnh việc thực hiện giao đất, cấp giấy chứng nhận QSD đất rừng, hướng dẫn thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, sản xuất lâm nghiệp cho nhân dân thì chính quyền hai cấp có trách nhiệm chỉ đạo các lực lượng trên địa bàn phát hiện, ngăn chặn kịp thời những hành vi xâm hại rừng.
UBND huyện sẽ giao Hạt Kiểm lâm xuống các địa bàn này để kiểm tra làm rõ, tiến hành gọi hỏi đối tượng, sai phạm đến đâu sẽ xử lý đến đó theo quy định của pháp luật. Không thể để tồn tại việc mua bán, chuyển nhượng trái phép đất lâm nghiệp và tùy tiện thay đổi mục đích sử dụng đất rừng...".
Báo Nghệ An sau đó đã có bài điều tra “Chấn chỉnh tình trạng chuyển nhượng "chui", chuyển đổi trái phép đất rừng”.
Cuối năm 2014, tổ công tác của Hạt Kiểm lâm Quỳ Châu đã thực hiện kiểm tra hiện trường, xác định khu vực Công ty CP Nghệ An Xanh mở đường, thực hiện xẻ phát và trồng keo thuộc Tiểu khu 175; và có sự việc người dân ở Châu Hạnh chuyển nhượng “chui” đất rừng. Thời điểm chuyển nhượng “chui” từ khoảng năm 2008 đến 2011, với hai hình thức “hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” và “hợp đồng thuê quyền sử dụng đất với thời gian 50 năm”; giá chuyển nhượng từ 380.000 đến 6 triệu đồng.
Sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, các hộ dân nhận tiền, còn Công ty CP Nghệ An Xanh nắm giữ Giấy chứng nhận QSD đất. Và ở hai bản Pà Cọ, Kẻ Nính có 37 hộ gia đình đã chuyển nhượng “chui” đất rừng với tổng diện tích là 465 ha.
Từ đó đến nay, việc rà soát nắm bắt thông tin về việc chuyển nhượng “chui” đất rừng ở Quỳ Châu tiếp tục được thực hiện và khẳng định 11/12 xã trên địa bàn có tình trạng này với 486 hộ/3.433 ha (có Giấy chứng nhận QSD đất và kể cả đất rừng tạm giao). Và theo cách diễn đạt của Kiểm lâm Quỳ Châu thì đó là “thông tin điều tra nắm bắt được. Khả năng thực tế còn lớn hơn vì có nhiều hộ gia đình có biểu hiện che dấu hành vi chuyển nhượng trái phép đất rừng”.
Ngoài Công ty CP Nghệ An Xanh của ông Phan Bá Giang, thì những diện tích đất rừng người dân chuyển nhượng “chui” ở Quỳ Châu cho đối tượng nào? Tìm hiểu thì được biết “lọt” vào tay và một số cá nhân, trong đó, có cả những người đang là cán bộ Nhà nước. Và những tổ chức, cá nhân này, sau khi nhận chuyển nhượng “chui” đều đã làm nghèo rừng, sau đó thực hiện mục tiêu trồng keo để kiếm tìm lợi ích kinh tế cá nhân.
“Đã có nhiều vùng đất rừng bị chuyển đổi mục đích sử dụng trái phép. Và trong thời gian qua, có rất nhiều vụ việc mà huyện, công an, kiểm lâm và chính quyền cấp xã đã xử lý…” - một cán bộ ở huyện Quỳ Châu khẳng định.
Theo số liệu thống kê chúng tôi có được, từ đầu năm 2016 đến nay, Quỳ Châu đã xử lý 116 vụ việc xâm hại đến rừng; trong đó, có 3 vụ Công an huyện đang tiếp nhận hồ sơ để điều tra; một vụ đã đưa ra xét xử lưu động (2 đối tượng liên quan bị tuyên phạt bồi thường cho ngân sách Nhà nước 150 triệu đồng và thụ án 15 năm tù). Chưa hết, chính quyền xã Châu Hạnh mới bị UBND huyện “trả hồ sơ” vụ việc chặt phá gần 2ha rừng trạng thái 1c tại lô 1, khoảnh 5, tiểu khu 197 (khe Đoọng, Nậm Bông, xã Châu Hạnh). Lý do là để tiếp tục điều tra làm rõ vì có những dấu hiệu cho thấy liên quan đến cán bộ đương nhiệm đứng đằng sau vụ việc này…
Đất lâm nghiệp, đất rừng trong nhiều năm qua được quy hoạch, trao cho người dân nhằm 2 mục tiêu chính yếu: là tư liệu sản xuất để ổn định cuộc sống mang tính lâu dài bền vững; góp phần cùng Nhà nước quản lý bảo vệ, phát triển rừng. Xảy ra tình trạng mua bán, chuyển nhượng “chui”, sử dụng trái mục đích đất lâm nghiệp, đất rừng đã đi ngược lại những mục đích tốt đẹp đó; và những hành vi này là vi phạm pháp luật. (Báo Nghệ An 6/9) đầu trang(
Tình trạng lấn chiếm rừng và đất lâm nghiệp đã và đang diễn ra phức tạp ở nhiều địa phương có rừng, nhất là các tỉnh miền Trung Tây Nguyên. Tại TT - Huế, tình trạng này phần nào đã được khắc phục với việc triển khai có hiệu quả Chỉ thị 65 về tăng cường các biện pháp quản lý rừng và đất lâm nghiệp.
Huyện Nam Đông là địa phương thực hiện thí điểm Chỉ thị 65 về tăng cường các biện pháp quản lý rừng và đất lâm nghiệp. Qua rà soát, đã phát hiện và thu hồi nhiều diện tích rừng bị lấn chiếm, từ đó có hướng xử lý phù hợp dựa trên nguồn gốc rừng.
Ông Hoàng Văn Phúc, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Nam Đông, Thừa Thiên – Huế cho biết: "Đối với diện tích đất xâm lấn có nguồn gốc từ rừng tự nhiên thì sẽ tiến hành thu hồi và trả lại cho cộng đồng quản lý. Còn đối với diện tích đất xâm lấn sử dụng đất lâm nghiệp trái phép thì tiến hành thu hồi nhưng xem xét cấp đất cho các hộ gia đình theo luật đất đai. Thứ 3 đối với đất xâm chiếm không người thừa nhận thì dự kiến giao cho một số đơn vị quản lý, sau thời gian theo chu kỳ thì khai thác đấu giá".
Đến nay, rà soát tại 6 huyện, thị xã trên địa bàn TT Huế, các cơ quan chức năng phát hiện gần 700 hecta đất rừng bị lấn chiếm, trong đó đã thu hồi hơn 420 hecta… Điều này sẽ giúp địa phương quản lý được toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp bị lấn chiếm, thống kê và đưa vào bản đồ số hóa để khắc phục tình trạng tái lấn chiếm sau thu hồi.
Về vấn đề này ông Võ Văn Dự, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thừa Thiên Huế cho biết: "Sử dụng máy tính bảng để bảo đảm toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp được số hóa, quản lý chặt chẽ theo dõi mọi diễn biến. Phải xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu là chủ rừng và chính quyền địa phương để bảo đảm khi một hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong việc lấn chiếm rừng và đất lâm nghiệp thì phải quy trách nhiệm ai là người đứng ra chịu trách nhiệm giải quyết vấn đề đó".
Công khai số diện tích rừng thu hồi và giao cho cộng đồng quản lý. Cách làm này đã hạn chế tình trạng tái lấn chiếm đất rừng, cũng như phần nào giảm thiểu được nạn phá rừng xảy ra phổ biến như trước đây. Quan trọng hơn, nhiều hộ dân đã nâng cao ý thức trong việc phát hiện và tố giác các hành vi vi phạm. (ANTV 6/9) đầu trang(./.