|
Ngày 06 tháng 09 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Vào sáng 6-9, chiếc Mi 172 mang số hiệu VN-8428 của Công ty trực thăng Miền Nam, cùng phi hành đoàn 10 người đã cất cánh từ sân bay Vũng Tàu để bay qua Malaysia, Singapore, sau đó nhập cảnh vào Indonesia.
Theo kế hoạch, máy bay sẽ đến Pontianak - thành phố ở phía tây của Indonesia, trên đảo Borneo, thủ phủ của tỉnh Kalimantan Barat - để tham gia chữa cháy rừng. Trước đó, ngày 26-8, chiếc Mi 172 thứ nhất số hiệu VN-8427 của công ty đã bay tới căn cứ Pekanbaru thuộc tỉnh Riau, Indonesia (cách Pontianak khoảng 800km) và đã tham gia bay chữa cháy rừng.
Việc thực hiện thành công hợp đồng đưa 2 máy bay Mi 172 đi chữa cháy rừng ở Indonesia đã góp phần mở ra hướng đi mới cho công ty trong bối cảnh thị trường bay dịch vụ dầu khí đang bị giảm sút nghiêm trọng do ảnh hưởng của giá dầu. Đồng thời khẳng định công ty hoàn toàn có đủ năng lực để vươn ra thị trường khu vực và quốc tế. (Báo Bà Rịa - Vũng Tàu 6/9) đầu trang(
Thời gian qua, thời tiết diễn biến phức tạp, nắng nóng kéo dài nên nguy cơ cháy rừng rất cao. Trước tình hình đó các ban, ngành chức năng huyện Gio Linh (Quảng Trị) đã triển khai thực hiện công tác bảo vệ rừng, tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, đảm bảo diện tích rừng không bị thu hẹp.
Ông Hồ Viết Hiệu, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Gio Linh cho biết, toàn huyện hiện có tổng diện tích rừng là 18.066 ha, trong đó rừng tự nhiên 5.179 ha, rừng trồng 12.887 ha và diện tích rừng có thể chữa cháy bằng cơ giới là 621,5 ha (rừng trồng). Huyện có diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng tập trung chủ yếu ở vùng phía Tây như các xã Linh Thượng, Vĩnh Trường, Linh Hải, Hải Thái.
“Thời gian qua, do hiện tượng El nino nên tình hình thời tiết, khí hậu diễn biết rất phức tạp, nắng nóng gay gắt và kéo dài, gió Tây Nam thổi mạnh, thảm thực bì dưới tán rừng phần lớn là cỏ tranh, lau lách nên rất dễ cháy khi có lửa. Hạt kiểm lâm Gio Linh đã tham mưu cho UBND huyện và các xã xây dựng phương án phòng chống cháy rừng. Bên cạnh đó, Hạt kiểm lâm Gio Linh cũng phối hợp chặt chẽ với Ban quản lý rừng phòng hộ lưu vực (BQLRPHLV) sông Bến Hải để thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng, chủ động phòng, chống cháy rừng vào mùa khô”, ông Hiệu nói.
Rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải trên địa bàn huyện Gio Linh nằm ở xã miền núi Linh Thượng có vai trò rất quan trọng đối với đời sống người dân cũng như môi trường sinh thái của toàn huyện. Hiện nay, Ban QLRPHLV sông Bến Hải quản lý và bảo vệ 21.715 ha (rừng tự nhiên 13.848 ha, rừng trồng 5.883 ha) trong đó, tổng diện tích đang quản lý, sử dụng ở huyện Gio Linh là 11.783 ha (rừng tự nhiên 4.332 ha, rừng trồng 5.845 ha).Loại cây trồng chủ yếu là hỗn giao cây bản địa (thông nhựa, sao đen, lát, nhội...) với các loại keo (keo lá tràm, keo tai tượng).
Rừng dễ cháy là rừng trồng với loại cây thông nhựa. Rừng trồng (gồm rừng trồng phòng hộ và rừng trồng sản xuất) khu vực phía Tây huyện Gio Linh có địa hình hiểm trở, bị chia cắt bởi nhiều khe suối, thảm thực bì dưới tán rừng chủ yếu là cỏ tranh và lau lách nên rất dễ cháy vào mùa nắng. Trên diện tích rừng còn rất nhiều loại bom lân tinh từ thời chiến tranh sót lại nằm lộ thiên trên mặt đất, khi gặp nhiệt độ cao sẽ tự bốc cháy.
Ngoài ra, do lao động sản xuất nông - lâm nghiệp mang tính đặc thù là mùa vụ nên vào mùa nông nhàn, người dân thường vào rừng chặt củi, đốt than, bắt ong lấy mật, rà tìm phế liệu chiến tranh… đây cũng là một trong những nguyên nhân dễ gây ra cháy rừng. Trước thực trạng trên, Ban chỉ huy phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) của Ban QLRPHLV sông Bến Hải đã xác định vùng trọng điểm thường xảy ra cháy rừng là khu vực rừng trồng phòng hộ thuộc các tiểu khu 593, 594, 596, 597, 601, 602, 603, 604 nằm trên địa bàn xã Linh Thượng.
Ban QLRPHLV sông Bến Hải đã lập phương án PCCCR với nguyên tắc phòng cháy là chính, chữa cháy phải kịp thời, triệt để cùng phương châm 4 tại chỗ: lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, chỉ huy tại chỗ và hậu cần tại chỗ.
Ông Nguyễn Ngọc Hùng, Phó Giám đốc Ban QLRPHLV sông Bến Hải cho biết: “Ban quản lý rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải quản lý trên 3 địa bàn xã Vĩnh Hà, Vĩnh Ô (huyện Vĩnh Linh) và xã Linh Thượng (huyện Gio Linh), trong đó vùng trọng điểm thường xảy ra cháy rừng chủ yếu tập trung ở khu rừng trồng thuộc địa bàn xã Linh Thượng. Xác định công tác PCCCR là nhiệm vụ hết sức quan trọng trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng nên hàng năm, ngay từ đầu mùa khô, đơn vị đã tập trung xây dựng và tổ chức thực hiện phương án phòng cháy, chữa cháy rừng; xây dựng lực lượng bảo vệ rừng, lực lượng PCCCR để sẵn sàng ứng cứu khi có cháy rừng xảy ra”.
Trao đổi với chúng tôi về những giải pháp bảo vệ rừng, PCCCR vào mùa khô, ông Hùng cho hay có 5 giải pháp đang được ban quản lý thực hiện. Đầu tiên là giải pháp xã hội hóa lâm nghiệp, huy động mọi nguồn lực tham gia bảo vệ rừng và phát triển rừng, gắn lợi ích của nhân dân với công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng, PCCCR. Giải pháp thứ hai là tuyên truyền, vận động cộng đồng bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm từng bước thay đổi nhận thức của người dân, đưa sự nghiệp bảo vệ rừng, PCCCR thành sự nghiệp của toàn dân.
Giải pháp thứ ba là thành lập Ban chỉ huy PCCCR, lực lượng nhận khoán bảo vệ rừng. Một giải pháp nữa là đẩy mạnh công tác tuần tra, kiểm soát và canh gác trực PCCCR vào mùa khô nhằm kịp thời phát hiện và xử lý nếu có đám cháy xảy ra. Cuối cùng đó là tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất phục vụ công tác PCCCR như nâng cấp đường ranh cản lửa, luỗng phát thực bì dưới tán rừng, xây dựng các điểm tiếp nước…
“Nhờ thực hiện nghiêm túc công tác bảo vệ, PCCCR nên trong năm 2015, trên địa bàn huyện Gio Linh không có vụ cháy rừng nào xảy ra, riêng những tháng đầu năm 2016 có 3 vụ cháy rừng nhưng được lực lượng PCCCR nhanh chóng xử lý nên thiệt đầu trang(hại không đáng kể”, ông Nguyễn Ngọc Hùng cho biết thêm. (Báo Quảng Trị 4/9)
Vùng rừng giáp ranh giữa Kon Tum, Quảng Nam và Quảng Ngãi là tài nguyên quan trọng, là nơi hình thành và xuất phát của nhiều con sông lớn như sông Trà Khúc, Thu Bồn… trong khu vực.
Nhận thức được tầm quan trọng của vùng rừng giáp ranh, những năm qua, lực lượng kiểm lâm ba tỉnh ký cam kết và tăng cường triển khai các hoạt động quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản vùng rừng giáp ranh.
Ba tỉnh Kon Tum, Quảng Nam và Quảng Ngãi giáp ranh nhau. Ở khu vực rừng giáp ranh giữa ba tỉnh, nhất là vùng rừng giáp ranh dọc theo dãy Trường Sơn có địa hình núi cao, dốc đứng, tập trung nhiều diện tích rừng tự nhiên và là nơi hình thành của các con sông lớn có vai trò quan trọng trong khu vực.
Ở khu vực rừng giáp ranh lại có trữ lượng gỗ lớn, tính đa dạng sinh học cao với sự hiện diện của nhiều loài động, thực vật quí, hiếm và đặc hữu. Do vậy, khu vực vùng giáp ranh dễ bị tác động bởi các đối tượng xâm hại tài nguyên rừng, săn bắt động vật hoang dã trái phép.
Theo ông Nguyễn Tấn Liêm - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum, trước yêu cầu đặt ra và từ vai trò quan trọng của rừng giáp ranh, trong những năm gần đây, được sự quan tâm và chỉ đạo của lãnh đạo ba tỉnh, lực lượng kiểm lâm ba tỉnh chủ động phối hợp với nhau xây dựng và ký kết quy chế phối hợp quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (QLBVR&QLLS) nhằm bảo vệ tốt vốn rừng hiện có ở khu vực này.
Trên cơ sở quy chế phối hợp, các hạt kiểm lâm, đội kiểm lâm, khu bảo tồn thiên nhiên, ban quản lý rừng đặc dụng ở các địa phương giáp ranh tiếp tục xây dựng và ký quy chế phối hợp với nhau để cùng nhau đưa công tác QLBVR&QLLS rừng giáp ranh đi vào nề nếp.
Không tính những năm trước, để thực hiện tốt quy chế phối hợp, trong năm 2014-2015, được sự quan tâm chỉ đạo của tỉnh ủy, UBND tỉnh, sở NN&PTNT ba tỉnh, chi cục kiểm lâm ba tỉnh đã chỉ đạo các hạt kiểm lâm vùng giáp ranh phối hợp chính quyền, các hội, đoàn thể tại địa phương tổ chức trên 1.100 cuộc tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt chú trọng Luật Bảo vệ và Phát triển rừng cho gần 55.600 lượt người dân vùng giáp ranh; tổ chức 3.139 hộ dân sống gần rừng ký cam kết bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR); thường xuyên tu sửa các biển tuyên truyền, cắm biển báo PCCCR, cấm mang dụng cụ và phương tiện vào rừng trái phép trên địa bàn các xã.
Đi đôi với công tác tuyên truyền, trong 2 năm qua, các hạt kiểm lâm vùng giáp ranh, đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng (KLCĐ&PCCCR) của chi cục kiểm lâm ba tỉnh tổ chức 1.324 đợt kiểm tra, truy quét đối tượng xâm hại tài nguyên rừng. Theo đó, các đơn vị đã phát hiện và xử lý 663 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu 1.608,39m3 gỗ (quy tròn) các loại, 11,82 ster củi, 5.339kg lâm sản phụ, 14,3kg thịt động vật rừng thông thường, 17 xe ô tô, 75 xe máy, 1 súng tự chế, 5 cưa xăng và nhiều dụng cụ khác.
Thông qua các hoạt động này, việc quản lý và bảo vệ rừng giáp ranh có những chuyển biến tích cực, số vụ vi phạm lâm luật gần đây giảm hơn trước. Kinh nghiệm cho thấy, ở nơi nào cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm chỉ đạo quyết liệt các ngành phối hợp bảo vệ rừng, tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân bảo vệ rừng, thì ở nơi đó công tác QLBVR hiệu quả và ngược lại. Đồng thời, ở nơi nào công tác giao đất giao rừng, khoán bảo vệ rừng thực hiện tốt, bảo đảm quyền lợi các hộ nhận đất, nhận rừng và khoán bảo vệ rừng, thì ở nơi đó vùng rừng giáp ranh được bảo vệ và phát triển tốt...
Cũng theo Chi cục trưởng Nguyễn Tấn Liêm, để tiếp tục thực hiện quy chế phối hợp, bảo vệ có hiệu quả rừng giáp ranh, ba tỉnh giáp ranh đã xác định nhiệm vụ quan trọng trong thời gian đến: Thường xuyên đổi mới và đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức và trách nhiệm người dân vùng rừng giáp ranh tham gia BV&PTR, không đốt phá rừng, khai thác gỗ trái phép, săn bắt, mua bán tiêu thụ động vật hoang dã. Các hạt kiểm lâm, đội KLCĐ&PCCCR xây dựng kế hoạch phối hợp QLBVR&QLLS vùng giáp ranh theo quy chế đã ký kết; thường xuyên theo dõi, trao đổi thông tin về tình hình rừng giáp ranh để kịp thời ngăn chặn các hành vi vi phạm lâm luật; đôn đốc, kiểm tra, giám sát các chủ rừng trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên lâm phần được Nhà nước giao.
Trong công tác bảo vệ rừng giáp ranh, lực lượng kiểm lâm ba tỉnh cũng xác định tiếp tục tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp của các cấp, các ngành, chính quyền, hội, đoàn thể tại địa phương và chủ rừng trong công tác bảo vệ rừng; xây dựng lực lượng bảo vệ rừng đủ mạnh, tăng cường thanh tra, phát hiện và xử lý nghiêm đối với tổ chức, cá nhân buông lỏng quản lý, thiếu tinh thần trách nhiệm trong công tác QLBVR&QLLS rừng giáp ranh; thu hút các nguồn lực xã hội tham gia bảo vệ và phát triển rừng bằng cách tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các các chủ rừng, chủ đầu tư và người dân tham gia trồng rừng sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, ổn định cuộc sống, tạo việc làm và tăng thu nhập người dân vùng rừng giáp ranh; tăng cường sự giám sát của người dân, cộng đồng, các đoàn thể nhân dân, các cơ quan thông tin đại chúng đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng...
Quản lý bảo vệ rừng nói chung và bảo vệ rừng giáp ranh nói riêng là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Chỉ có huy động các nguồn lực cùng tham gia bảo vệ rừng, chúng ta mới có khả năng quản lý bảo vệ tốt tài nguyên rừng. (Báo Kon Tum 5/9) đầu trang(
Tây Nguyên không còn bình yên từ khi công trình thủy điện chặn nước trên các sông, còn thượng nguồn thì thành đường thủy mở đường cho lâm tặc chuyển gỗ về xuôi
Trong 23 năm qua, rừng Tây Nguyên mất hơn 1 triệu ha rừng do chuyển sang trồng cao su, làm thủy điện, nạn phá rừng… Số liệu từ dự án tổng điều tra kiểm kê rừng toàn quốc năm 2015 cho thấy độ che phủ rừng chỉ còn hơn 45%.
Nhà máy Thủy điện Đồng Nai 3 (huyện Đắk G’long, tỉnh Đắk Nông) đã hoạt động nhiều năm nhưng đến nay vẫn gây hệ lụy. Không chỉ biến nhiều diện tích rừng nguyên sinh thành lòng hồ, nhà máy này còn đẩy 575 hộ dân người dân tộc Mạ, H’Mông ở xã Đắk P’lao vào cảnh thiếu đất sản xuất hoặc được cấp đất xấu. 42 hộ dân đã bỏ khu tái định cư vào vùng lõi của Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng mưu sinh.
Ông Vương Văn Khì, một hộ dân ở đây, cho biết khi làm nhà máy thủy điện, nhà đầu tư hứa sẽ cấp cho mỗi hộ 2 ha đất rẫy, 3 sào ruộng nước nhưng cuối cùng chỉ cấp 4 sào mà hộ có, hộ không. Từ lúc về khu tái định cư, số tiền được hỗ trợ cũng đã tiêu xài hết nên người dân đành đi làm thuê kiếm sống. Mặc dù lên khu bảo tồn cuộc sống rất tạm bợ, không có công trình nước sạch, trường học và trạm y tế cách xa hơn 20 km nhưng bà con vẫn bám trụ vì có đất sản xuất.
Ông Trần Quốc Toàn, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm số 2 - Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng, lo lắng việc 42 hộ dân sinh sống trong vùng lõi của khu bảo tồn sẽ khiến công tác bảo vệ rừng càng khó khăn hơn, đặc biệt về lâu dài khi dân số tăng lên. Mới đây, UBND tỉnh Đắk Nông đã đề nghị Chính phủ cho phép chuyển khu bảo tồn này thành vườn quốc gia đồng thời đề cử là Vườn di sản ASEAN. Tuy nhiên, điều này khó thành hiện thực nếu không di dời 42 hộ ra khỏi vùng lõi khu bảo tồn.
Tại tỉnh Kon Tum, theo ông Lại Đức Hiếu - Trưởng Phòng Quản lý Bảo vệ rừng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh, 10 năm qua, tỉnh này đã chuyển đổi mục đích sử dụng hơn 2.200 ha để xây dựng 18 dự án thủy điện, trong đó mất hơn 1.567 ha đất lâm nghiệp.
Việc chuyển đổi rừng và đất lâm nghiệp để xây dựng thủy điện đã thu hẹp đất sản xuất dẫn đến việc người dân lấn chiếm, phá rừng trái pháp luật để lấy đất sản xuất.
TS Đào Trọng Tứ - nguyên Phó Tổng Thư ký Ủy ban sông Mê Kông, cố vấn Mạng lưới sông ngòi Việt Nam - cho biết Tây Nguyên hiện có 25 dự án thủy điện đã và đang xây dựng, chiếm dụng hơn 68.000 ha đất. “Tính trung bình, 1 MW thủy điện lớn chiếm dụng khoảng 14,5 ha đất các loại, ảnh hưởng đến đời sống của 5,5 hộ dân. 1 MW thủy điện nhỏ cũng chiếm dụng khoảng 8,7 ha đất, làm 1,3 hộ dân bị ảnh hưởng” - TS Tứ tính toán.
Từ tháng 6 đến tháng 8-2016, tại Lâm Đồng đã xảy ra gần 10 vụ phá rừngtrái phép. Lâm tặc còn liều lĩnh tấn công lực lượng chức năng, nghiêm trọng hơn đã xảy ra giết người, chống người thi hành công vụ liên quan đến rừng. Hiện các tiểu khu 390A, 390B, 397, 398, 419... thuộc địa bàn huyện Bảo Lâm, khu vực thủy điện Đồng Nai 4 và 5 đã trở thành điểm nóng về phá rừng.
Tháng 7-2016, Bộ Công an phối hợp cùng các đơn vị liên quan đã triệt phá đường dây khai thác gỗ ở khu vực giáp ranh nhiều tỉnh như Lâm Đồng, Đắk Nông và cánh rừng Nam Cát Tiên (Đồng Nai). Khoảng 20 lâm tặc do Lê Hồng Hà (48 tuổi, tức Hà đen) cầm đầu đã lần lượt sa lưới.
Theo một lâm tặc, những khối gỗ vuông vức dài khoảng 3 m, được kéo xuống lòng hồ thủy điện, lợi dụng dòng nước kết thành bè, sau đó dùng thuyền lai dắt về phía hạ nguồn, đưa về bãi tập kết gần cửa đập thủy điện Đồng Nai 5. Tại đó có một bộ phận chuyên trục vớt đưa lên xe tải để vận chuyển đi tiêu thụ.
Không chỉ ở khu vực thủy điện Đồng Nai 5 bị lâm tặc tàn phá rừng nghiêm trọng mà các cánh rừng tại những hồ thủy điện như: Đồng Nai 3 (thuộc huyện Di Linh), lòng hồ thủy điện Đa Mi - Hàm Thuận (khu vực giáp ranh giữa huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng và huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận)…, lâm tặc dựng nhiều lán trại dã chiến, dùng ghe, thuyền lợi dụng dòng nước của đập thủy điện vận chuyển gỗ đi tiêu thụ. Khi gặp lực lượng chức năng truy quét, chúng cột đá vào gỗ cho chìm sâu xuống nước nhằm tẩu tán tang vật.
Rạng sáng 10-8, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng đã phối hợp cùng Hạt Kiểm lâm huyện Di Linh truy bắt và tạm giữ hành chính 7 trong số 15 đối tượng phá rừng trái phép tại tiểu khu 727.
Cùng ngày, lực lượng liên ngành của TP Đà Lạt đưa Chữ Hồng Sáu (40 tuổi; ngụ thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà) đến tiểu khu 161 (xã Tà Nung, TP Đà Lạt) dựng lại hiện trường vụ cưa xẻ, vận chuyển gỗ trái phép và chống người thi hành công vụ. Trước đó, trong lúc bị vây bắt, Sáu đã dùng bình xịt hơi cay chống trả lực lượng chức năng.
Ngày 1-7, tại tiểu khu 687B (lâm phần thuộc Ban Quản lý rừng Hòa Bắc - Hòa Nam của huyện Di Linh) cũng xảy ra vụ lâm tặc tấn công, uy hiếp cán bộ quản lý rừng nhằm giải thoát đồng bọn.
Lâm tặc còn lộng hành đến mức chống trả quyết liệt lực lượng quản lý, bảo vệ rừng khiến 1 người chết và 3 người bị thương phải cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng. Vụ việc nghiêm trọng trên xảy ra tại tiểu khu 243A thuộc địa bàn xã Phi Tô, huyện Lâm Hà khiến dư luận phẫn nộ. (Người Lao Động 6/9) đầu trang(
Nhằm tăng cường các biện pháp phòng chống cháy rừng, khi mùa khô hành đang đến gần, Hạt Kiểm lâm Yên Sơn đang tích cực tuyên truyền, triển khai công tác lắp đặt bảng, biển cảnh báo cháy rừng tại các địa phương trên địa bàn.
Trạm Kiểm lâm Phú Thịnh, quản lý địa bàn 5 xã, khu vực ATK huyện Yên Sơn với tổng diện tích rừng trên 15.000 ha. Địa bàn rộng, quân số mỏng, dân cư sống phân tán nên công tác phòng chống cháy rừng luôn được coi là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt được duy trì thường xuyên, liên tục.
Nhằm tăng cường nhận thức của người dân trong công tác phòng chống cháy rừng (PCCR), Trạm đã triển khai lắp đặt 47 biển nội quy PCCR tại các khu dân cư, nhà văn hóa thôn bản, vị trí ngã ba, ngã tư trục đường chính trong thôn nơi đông người qua lại; lắp đặt 150 biển cảnh báo cháy rừng ngay tại cửa rừng, bìa rừng và trên các đường mòn trong rừng, ven rừng.
Huyện Yên Sơn hiện có trên 90.800 ha rừng, trong đó diện tích rừng đặc dụng 119 ha, rừng phòng hộ 19.000 ha, rừng sản xuất trên 65.300 ha. Phần lớn diện tích rừng dễ cháy nằm ở gần khu dân cư. Nhằm giảm thiểu các vụ cháy rừng xảy ra, bước vào mùa khô năm 2016 – 2017, Hạt Kiểm lâm huyện Yên Sơn đã phối hợp với đảng ủy, chính quyền của 26 xã, các chủ rừng triển khai lắp đặt biển báo nội quy PCCR và biển cảnh báo cháy rừng tại cửa rừng, ven rừng, trên các đường mòn, trung tâm thôn, bản; tổ chức 150 cuộc tuyên truyền về quản lý bảo vệ rừng, cho trên 10.000 lượt người nghe; ký cam kết bảo vệ rừng với Chủ tịch UBND 7 xã và 296 trưởng thôn, trên 6.500 hộ gia đình; hướng dẫn các chủ rừng chủ động làm đường băng trắng cản lửa tại các khu rừng trồng dễ xảy ra cháy rừng.
Chủ động chuẩn bị các phương án phòng chống cháy rừng từ trước mùa khô, huyện Yên Sơn quyết tâm hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra, góp phần phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Tuyên Quang 4/9) đầu trang(
Khoảng 5h30 sáng 2.9, Công an phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, TP.Hà Nội nhận được tin báo của một số người dân đi tập thể dục buổi sáng trên đường Thanh Niên (cách lối vào chùa Trấn Quốc khoảng 100m, phía hồ Tây) về việc cây gỗ sưa đỏ bị kẻ gian cưa đổ xuống đường.
Ngay sau đó, Đội Cảnh sát hình sự Công an quận Tây Hồ đã phối hợp với Công an phường Yên Phụ, đại diện Viện KSND quận cùng Đội 6 Phòng Cảnh sát hình sự Công an TP.Hà Nội tiến hành khám nghiệm và tổ chức truy xét hung thủ.
Tại hiện trường cho thấy, cây gỗ sưa đỏ cao khoảng 10m đã bị kẻ gian cưa đổ và lấy đi một đoạn dài từ 1m đến 1,5m và có đường kính từ 28cm đến 38cm. Được biết, cây gỗ sưa này thuộc Công ty một thành viên Công viên cây xanh Hà Nội quản lý.
Khoảng 10h10 cùng ngày, công nhân Công ty một thành viên Công viên cây xanh Hà Nội đang cưa phần cây còn lại để đưa về trụ sở, đồng thời thu dọn vệ sinh quanh khu vực này.
Theo đồng chí Nguyễn Phan Viễn, Đội trưởng Đội Cảnh sát hình sự Công an quận Tây Hồ cho biết đang phối hợp với một số đơn vị nghiệp vụ Công an thành phố tổ chức truy tìm những đối tượng trộm cắp gỗ sưa.
Công nhân Công ty một thành viên Công viên cây xanh Hà Nội cưa phần cây còn lại để đưa về trụ sở, đồng thời thu dọn vệ sinh quanh khu vực này. (Dân Việt 3/9) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, Chi cục Kiểm lâm đã phát hiện và xử lý 82 vụ vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ rừng.
Trong đó, 5 vụ phá rừng trái phép; 14 vụ vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản khác; 16 vụ vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng gây thiệt hại 15,62 ha rừng; 34 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép... Tịch thu 52,48 m3 gỗ; thu giữ 5 kg động vật hoang dã. Thu nộp ngân sách hơn 1 tỷ 207 triệu đồng.
Thực hiện công tác phát triển rừng, các hạt kiểm lâm: Thông Nông, Hà Quảng, Hòa An, Phục Hòa đã tổ chức thực hiện trồng rừng với tổng diện tích 139,2 ha. Trong đó, 47,4 ha rừng phòng hộ, 91,8 ha rừng sản xuất, 44.000 cây phân tán. (Báo Cao Bằng 4/9) đầu trang(
Rừng ngập mặn (RNM) được ví như “lá phổi xanh” không thể thiếu để bảo đảm cho hệ sinh thái ven biển phát triển.
Tuy nhiên, những năm gần đây, do nạn phá rừng ngày càng tăng và các khu công nghiệp (KCN), cơ sở chế biến hải sản ven sông xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường đã làm hệ sinh thái RNM trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (BR-VT) ngày càng bị thu hẹp.
Theo ghe của người dân, chúng tôi đã có mặt tại khu vực RNM thuộc xã Tân Hòa và Phước Hòa, huyện Tân Thành. Tại khu vực này, chúng tôi chứng kiến cảnh cây đước bị lâm tặc đốn ngã để lấy gỗ nằm ngổn ngang trên mặt nước. Trên một số lồng bè nuôi thủy sản, gỗ đước được chất thành đống.
Chị T buồn rầu nói, cả cánh rừng đước bạt ngàn, giờ đây chỉ còn lác đác như vậy đấy. Cây lớn bị chặt hết, chỉ còn lại toàn cây nhỏ, tái sinh. Khi ghe chạy qua đoạn gần thôn Phước Hiệp (xã Tân Hòa), nhìn thấy một đám đước có khoảng vài chục cây gỗ lớn, chúng tôi hỏi chị T, sao chỗ này vẫn còn cây gỗ lớn. Chị T cho biết đây là nơi đặt miếu thờ người khai sinh ra vùng đất này nên họ sợ không dám phá. Nếu không có miếu thờ thì đước ở đây cũng bị chặt phá hết từ lâu rồi.
Huyện Tân Thành trải dài theo 5 xã và 1 thị trấn dọc theo bờ sông Thị Vải từ xã Mỹ Xuân đến xã Tân Hòa với các loại cây như cây mắm, cây bần, cây đước… nhưng đến thời điểm này, RNM nhiều nơi trên địa bàn huyện đang giảm mạnh, từ 5.135ha xuống còn 2.000ha (giảm trên 50% so với trước năm 1991).
Theo những người dân sống lâu năm ở xã Tân Hòa, việc rừng ngập mặn bị tàn phá là do sau giải phóng nhiều người dân ở các địa phương lân cận đã đến chặt phá rừng làm đùng nuôi tôm, cá, dựng nhà tạm để ở và khai thác lâm sản trái phép.
Cũng theo các hộ dân, do việc quản lý không chặt chẽ nên gần như toàn bộ các loại cây đặc hữu có chức năng phòng hộ ở đây đều đã bị triệt hạ, mà phần lớn là cây đước. Loại cây này gỗ rất chắc, bền, giá trị kinh tế cao.
Do lực lượng kiểm lâm buông lỏng trong khâu quản lý nên các đối tượng thường lén lút vào rừng đốn cây để bán cho những người cần gỗ làm nhà, dựng lều quán hoặc đốt gỗ đước để lấy than bán kiếm lời. Lợi nhuận cao như vậy nên rừng đước ở đây đã bị tàn phá nặng nề.
Theo thống kê, năm 1993, toàn tỉnh BR-VT có khoảng 9.035ha RNM, nhưng đến nay chỉ còn trên 2.200ha. Việc RNM ở BR-VT bị thu hẹp làm tăng diện tích đất hoang, tăng xâm nhập mặn, xói lở vùng bờ, gây ô nhiễm và suy thoái môi trường nước ven bờ.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng rừng bị chặt phá, theo ông Nguyễn Duy Bắc, Trưởng phòng Thanh tra pháp chế Chi cục Kiểm lâm tỉnh BR-VT là do lực lượng bảo vệ rừng còn mỏng và còn nhiều hạn chế cả về chất lượng, số lượng, trang thiết bị phương tiện nên chưa tổ chức lực lượng đủ mạnh để bảo vệ diện tích rừng được giao dẫn tới nhiều vụ phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái pháp luật chưa được phát hiện và ngăn chặn kịp thời.
Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, lực lượng này phải đối mặt với nhiều đối tượng côn đồ, hung hãn, rất nguy hiểm, phức tạp; trong khi đó việc sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ theo quy định vẫn còn nhiều hạn chế dẫn đến tình trạng người thi hành công vụ bị đánh, chống trả vẫn còn xảy ra; công tác xử lý đối tượng vi phạm chưa kịp thời, thiếu tính răn đe, không có biện pháp chế tài khi các đối tượng không chấp hành quyết định xử lý. Sự tham gia của người dân địa phương trong công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn chưa nhiều.
Để bảo vệ diện tích rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, công tác bảo vệ rừng là trách nhiệm của các ngành, các địa phương trong tỉnh nhưng trách nhiệm chính vẫn thuộc về lực lượng Kiểm lâm. Nếu lơ là, không quản lý chặt chẽ vẫn để xảy ra phá rừng bừa bãi như hiện nay thì trong tương lai không xa những cánh RNM trên địa bàn tỉnh BR-VT sẽ có nguy cơ bị xóa sổ.
Trao đổi với PV Báo CAND, ông Nguyễn Duy Bắc cho biết, trước thực trạng diện tích RNM giảm mạnh, trong mục tiêu phát triển kinh tế tỉnh BR-VT đã đặt ra yêu cầu các địa phương phải xây dựng kế hoạch và triển khai trồng rừng mới để tăng tỷ lệ che phủ rừng; trong đó tập trung trồng RNM.
Theo ông Bắc, việc kiểm tra xử lý phải đi đôi với các biện pháp ngăn chặn trước, muốn như vậy cần phải nâng cao vai trò trách nhiệm của chủ rừng, là đơn vị được Nhà nước giao rừng để quản lý, chủ rừng phải tổ chức lực lượng đủ mạnh để bảo vệ rừng, phối hợp các lực lượng tăng cường công tác bảo vệ rừng để ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại đến rừng.
Chủ rừng phải thành lập các tổ đội tuần tra, bảo vệ rừng là các hộ nhận khoán rừng, nâng cao trách nhiệm của các hộ nhận khoán bảo vệ rừng. Ổn định dân cư, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân ven rừng. Có chính sách thu hút để người dân tại địa phương có lợi ích và nguồn thu nhập trực tiếp từ bảo vệ và phát triển rừng để tham gia bảo vệ rừng. Tăng cường thực thi và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và quản lý lâm sản. (Công An Nhân Dân 5/9) đầu trang(
Thời gian gần đây, trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên nổi lên nhiều vụ lâm tặc manh động chống người thi hành công vụ, chém lực lượng kiểm lâm bảo vệ rừng gây thương vong khiến dư luận hết sức bức xúc. Còn người trong cuộc, những cán bộ bảo vệ rừng thì lo lắng trước sự hung hãn của lâm tặc.
Theo đại tá Phùng Tất Thành, Chánh văn phòng Công an tỉnh Lâm Đồng, hiện cơ quan công an đang củng cố tài liệu, chứng cứ để đề xuất hướng xử lý đối với vụ việc người dân vây đánh khiến một kiểm lâm chết, 3 người khác bị thương.
Đại tá Thành cho hay, bước đầu cơ quan công an đã xác định được một số đối tượng chính và hiện đang tiếp tục củng cố, hoàn chỉnh hồ sơ để tiến hành khởi tố. Thực hiện chỉ đạo của giám đốc và phó giám đốc phụ trách điều tra, các lực lượng chức năng đang khẩn trương vào cuộc điều tra để làm rõ vụ việc, đồng thời ổn định tình hình an ninh trật tự tại khu vực.
Trước đó, vào khoảng 11 giờ 30 ngày 8/8/2016, lực lượng Trạm quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) của Ban quản lý bảo vệ rừng phòng hộ (QLBVRPH) Nam Ban, huyện Lâm Hà (Lâm Đồng) đi tuần tra, kiểm soát rừng tại tiểu khu 243 (vị trí lô b-k8-TK 243A thuộc rừng trồng thay thế năm 2014) thì phát hiện hơn 16 người đồng bào dân tộc thiểu số thôn Hang Hớt, xã Mê Linh (Lâm Hà) đang chặt phá rừng để lấy đất làm nương rẫy.
Nhận được tin báo, UBND xã Phi Tô đã cử 6 công an viên phối hợp với 4 xã đội và 6 cán bộ QLRPH Nam Ban đến nơi xảy ra vụ việc để đưa số người vi phạm về UBND xã Phi Tô làm việc để làm giấy cam đoan không lấn chiếm đất rừng. Tuy nhiên, một phụ nữ đã gọi điện thoại cho nhóm người lạ đến khu rừng, mang theo hung khí chặn đường lao vào đánh các cán bộ.
Hậu quả của vụ tấn công khiến ông Trương Ái Tĩnh (49 tuổi, cán bộ Ban QLRPH Nam Ban) bị chém tử vong tại chỗ; anh Tân Khoa, nhân viên Ban QLRPH Nam Ban, anh Triệu Vũ Hiệp, Phó Ban Lâm nghiệp xã Phi Tô và ông Lò Văn Quyền, Trưởng Công an xã Phi Tô bị thương. Ngoài ra, 7 xe mô tô của cơ quan chức năng bị phá hỏng, 1 súng bắn đạn cao su bị tước mất.
Tương tự, tại Gia Lai, tình trạng lực lượng kiểm lâm bị lâm tặc tấn công đang trở nên vô cùng nóng. Đơn cử, chiều ngày 2/6/2016, tổ công tác gồm 5 cán bộ Hạt kiểm lâm huyện Krông Pa (Gia Lai) nhận tin báo của quần chúng nhân dân về việc lâm tặc đang vận chuyển gỗ trái phép trên sông, đoạn qua địa phận xã Krông Năng, huyện Krông Pa và đi xác minh vụ việc trình báo của người dân.
Tại hiện trường, tổ công tác phát hiện có 4 người đi trên một chiếc thuyền sắt chở theo khoảng 4-5m3 gỗ nên yêu cầu dừng lại kiểm tra; bất ngờ nhóm lâm tặc dùng hung khí tấn công làm hai kiểm lâm bị thương.
Còn tại tỉnh Đăk Lăk, việc các đối tượng lâm tặc manh động, sẵn sàng tấn công lực lượng chức năng để tẩu tán gỗ. Theo Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đăk Lăk Y Sy H'Đơk, chỉ từ năm 2015 đến nay, trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk xảy ra 14 vụ lâm tặc chống lại lực lượng kiểm lâm và bảo vệ rừng (trong đó năm 2015 xảy ra 9 vụ, 7 tháng năm 2016 xảy ra 5 vụ).
Theo ông Y Sy H'Đơk, tình hình lâm tặc chống người thi hành công vụ diễn biến hết sức phức tạp với tính chất, mức độ ngày càng nguy hiểm, gây ảnh hưởng đến tinh thần và sức khỏe cho lực lượng kiểm lâm và quản lý bảo vệ rừng. Điển hình, ngày 10/1/2016, lực lượng kiểm lâm Vườn quốc gia Yok Đôn (Đăk Lăk) bắt giữ một xe tải vận chuyển gỗ trái phép.
Tuy nhiên, chỉ sau đó ít giờ, có khoảng 20 đối tượng lâm tặc đã quay lại cướp xe gỗ và sử dụng nhiều gậy, đá, tuýp sắt gây thương tích cho cán bộ kiểm lâm. Ông Đỗ Quang Tùng, Giám đốc Vườn quốc gia Yok Đôn cho biết, Vườn quốc gia Yok Đôn luôn là điểm nóng về tình trạng chống người thi hành công vụ, với hàng chục vụ tấn công của các đối tượng phá rừng nhằm vào lực lượng bảo vệ rừng.
“Nhiều khi phát hiện lâm tặc phá rừng nhưng do tình hình quá phức tạp, buộc lực lượng kiểm lâm phải rút, phần nào khiến tinh thần của lực lượng kiểm lâm giảm sút, còn lâm tặc thì càng được nước lấn tới”, ông Tùng trăn trở.
Lý giải thêm về vấn đề lâm tặc ngày càng manh động, ông Y Sy H'Đơk cho biết: Do càng ngày lợi nhuận kinh tế về mua, bán lâm sản, nhu cầu sử dụng gỗ càng nhiều, thiếu đất sản xuất, đất ở nên các đối tượng sẵn sàng chống người thi hành công vụ một cách liều lĩnh, manh động trong khi các hình thức xử lý chưa thực sự tương xứng.
Về mặt pháp lý, chế tài xử lý các hành vi "chống người thi hành công vụ" còn quá nhẹ, chưa đủ sức răn đe. Việc quy định sử dụng công cụ hỗ trợ, nhất là vũ khí quân dụng trong ngành kiểm lâm còn hạn chế nên lâm tặc ngày càng nhờn.
Theo ông Y Sy H'Đơk, để bảo vệ sự an toàn cho lực lượng kiểm lâm, cán bộ bảo vệ rừng, tôi kiến nghị các quy định sử dụng vũ khí quân dụng cần có sự sửa đổi và có chế tài mạnh hơn trong các trường hợp chống người thi hành công vụ.
Ngoài ra, cần sớm bổ sung các chế tài cho lực lượng kiểm lâm, điều chỉnh các quy định pháp luật, nhất là trong Bộ luật Hình sự (sửa đổi) để tăng tính răn đe. (Thời Báo Ngân Hàng 5/9) đầu trang(
Có một nơi, người dân coi rừng như nhà, cây cối được nâng niu, bảo vệ. Người dân ở đó trân quý rừng đến nỗi một cây gỗ nhỏ, một cành củi khô cũng không cho đốn, trách nhiệm bảo vệ rừng có cả trong hương ước.
Vậy nên đến nay, khu rừng hơn 400 năm tuổi ấy vẫn nguyên vẹn tầng tầng lớp lớp vươn mình trên cát trắng. Khu rừng ấy ở thôn Trung Sơn, xã Hòa Liên (huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng).
Rừng Trung Sơn nằm trên đồi cát trắng tinh giữa làng, lối vào rừng phủ bởi những lùm cây rậm rạp, dây deo vắt ngang đầu người. Những gốc dẻ, sơn, chùm bù, sao ta…hiên ngang vươn mình trên cát tỏa bóng mát, bên dưới là xác lá khô phủ dày. Ngày trước, khi dân Trung Sơn còn làm ruộng nhiều, lá rụng được hốt về ủ phân bón cho cây trồng. Đó cũng là thứ duy nhất người dân được mang từ rừng về.
Ông Dương Phú Giọng, Trưởng ban công tác mặt trận thôn Trung Sơn lật cuốn hương ước của làng, chỉ vào quy định không được đốn cây, bẻ củi, xúc cát… rồi hướng đôi mắt về những mảng xanh um nơi cánh rừng Trung Sơn, chậm rãi nói: “Cánh rừng này là mái nhà chung của người dân Trung Sơn, không ai muốn hủy hoại mái nhà của mình cả, dù chỉ là một hành động nhỏ nhất”.
Ông kể mấy năm trước, một vài người thấy củi khô trên rừng liền lượm về nhóm lửa, vừa vác ra tới bìa rừng thì bị thôn phát hiện, bà con kéo ra “truy cứu” hành động xâm phạm đến rừng.
Hôm sau, trong cuộc họp thôn, những người vác củi khô ấy bị đưa ra kiểm điểm và bắt cam đoan trước bà con không tái phạm nữa. “Lấy cành củi cũng không ảnh hưởng gì nhiều tới cánh rừng, nhưng người này lấy được thì người khác lấy được, lấy hết củi khô lại tính đường lấy củi tươi nữa thì rừng sẽ bị tàn sát mất”, ông Giọng giãi bày.
Mỗi người dân ở đây đều tự nhận trách nhiệm bảo vệ rừng về phần mình. Hầu như tuần nào cũng có một đoàn trai tráng đi tuần rừng dù chẳng theo kế hoạch nào cả. Hôm chúng tôi lên rừng, anh Nguyễn Văn Trung (45 tuổi) chạy ngang qua lập tức quay đầu xe lại, đi theo truy cho bằng được từ đâu tới và tới làm việc gì.
Anh nói: “Không chỉ có cán bộ mới có quyền hỏi vậy đâu, bà con ở đây thấy người lạ vào rừng là chặn đầu liền. Nếu phát hiện ra ai xâm hại tới rừng thì chẳng cần lệnh bà con cũng sẽ xử “trắng máu”!”. Anh Trung nhớ cách đây không lâu, người nơi khác tới đốn cây vào ban đêm, cả thôn ấm ức gọi nhau mật phục cả tuần trời bắt cho bằng được.
Dẫn chúng tôi ra con đường sát bìa rừng, ông Giọng chỉ giếng nước ngọt từ thời Pháp xây bằng cách ghép đá tảng, hai bên còn nguyên những cột đá để người dân treo gàu, đặt đôi gánh. Ông không biết chính xác giếng có từ năm nào, chỉ biết đã ra đấy tắm mát từ thuở còn ở truồng chân đất.
Ông nói: “Tui nhớ như in mỗi năm vào mùa hạn các thôn lân cận quay cuồng vì thiếu nước, riêng Trung Sơn vẫn có nước dùng thỏa thuê, bà con khắp nơi xách thùng tới xin nước, tắm giặt. Chính cánh rừng đã giữ được mạch nước mát trong cho dân làng, vì vậy cha ông cứ răn dạy rằng: giữ được rừng mới giữ được nước!”. Bây giờ, các hộ đã dùng nước máy, giếng cổ cũng chẳng còn cảnh tắm giặt rộn ràng nhưng nguồn nước trong giếng chưa bao giờ cạn. Người dân nói đó là minh chứng rừng vẫn còn.
Mỗi mùa bão đi qua, cánh rừng che chắn hết những trận cuồng phong cho dân làng, cơn bão nào vào đây cũng bị tầng tầng lớp lớp cây rừng xé tan luồng gió. Bà con vẫn còn nhớ như in ký ức về cơn bão Xangsane năm 2006.
Nghe tin báo bão, cả làng khuân hết tài sản đáng giá và lương thực lên rừng, thanh niên trai tráng thi nhau bới cát làm hầm trú ngụ. Hàng chục chiếc hầm dã chiến mọc lên nằm im dưới sự chở che của rừng. Cơn bão điên cuồng ập vào lột sạch mái, đánh sập tường hàng loạt ngôi nhà kiên cố, người chết, người bị thương, riêng bà con Trung Sơn vẫn bình yên qua bão dưới “mái nhà xanh” ấy.
Họ chịu ơn cánh rừng, rừng chở che, ôm ấp họ khi chinh chiến, thiên tai và bây giờ là lá phổi xanh giữa vùng đất khô cằn. Ông Giọng kể, cứ chiều chiều, chim cò khắp nơi vỗ cánh bay về rừng rất bình yên, ai đi xa cũng nhớ về rừng như nhớ đến máu mủ ruột rà.
Cụ Hà Thúc Duyên (92 tuổi) rành rọt kể qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, rừng Trung Sơn là nơi nuôi giấu, cung cấp lương thực cho bộ đội, trong rừng có nhiều công sự, hầm hào cho bộ đội hoạt động. “Biết rừng nuôi bộ đội, Mỹ kéo quân, đưa xe tới đòi san bằng rừng, bà con ở đây kiên gan ra nằm trước đầu xe, rồi đặt lựu đạn phá đường, quyết không cho chúng đụng tới rừng”.
Những bô lão như cụ Duyên khi nhắc tới cánh rừng sẽ không quên nhắc tới bia tưởng niệm 80 anh hùng liệt sĩ và 24 bà mẹ Việt Nam anh hùng, đó là niềm tự hào của người dân nơi đây và cũng là nguyên cớ để trân quý cánh rừng như báu vật. Cụ nói: “Trong hai cuộc chiến, thôn Trung Sơn chỉ có 80 hộ, trung bình mỗi hộ có một liệt sĩ. Có nơi nào tự hào như nơi này không?
Sau ngày thống nhất, cả thôn chỉ còn 72 người sống sót, họ tiếp tục trông coi cánh rừng rồi truyền dạy ý thức với “mái nhà xanh” này cho con cháu. Bây giờ trong số 72 người ấy chỉ còn một vài người, như tôi, còn thôn đã gần 200 hộ, tui mừng vì các thế hệ đều nâng niu cánh rừng, coi trọng nơi máu xương của cha ông, xóm làng đổ xuống”.
Giữa những trảng cát mịn màng, khu mộ của những bậc tiền hiền được bà con hương khói quanh năm, nhiều ngôi được trùng tu, quét màu vôi mới. Cụ Duyên nói rừng rộng, nhưng tuyệt nhiên chỉ làm nơi an nghỉ cho những người có công với làng, từ ngày hòa bình đến nay dân làng không cho chôn cất người chết trong rừng, tất cả đều đưa lên nghĩa trang Hòa Sơn.
Cuối tháng 3 năm nay, UBND TP Đà Nẵng công bố quy hoạch dự án trùng tu di tích đồi Trung Sơn, cụ thể là nâng cấp di tích nhà bia, tôn tạo cảnh quan đình làng, cây xanh, lối đi dạo... trong khu rừng.
Nghe vậy, bà con không một ai bằng lòng vì sợ rừng bị xâm hại. Sau đó ít hôm, qua một đêm tỉnh giấc, cả làng như sôi máu vì ngay giữa rừng mọc lên hàng chục ngôi mô giả và những bụi cây bị tàn sát không thương tiếc.
Cùng đi kiểm tra với đoàn chức năng, ông Nguyễn Trí Thanh, trưởng thôn Trung Sơn khẳng định: “Mặc dù không đồng tình với dự án, nhưng đây là khu rừng linh thiêng, việc lập mộ giả, đốn cây là việc tày trời, bà con không bao giờ làm!”.
Sau điều tra, số mộ giả đó do các đối tượng bên ngoài thực hiện nhằm gây hoang mang cho người dân và đón khoản đền bù từ dự án. Được đà, bà con đề nghị chủ đầu tư phải về đối thoại với dân, trình bày cho dân nghe việc làm dự án có múc cát, chặt cây trong rừng, có ảnh hưởng tới mạch nước và những phần mộ không?. (Tiền Phong 6/9) đầu trang(
Thông tin ban đầu, khoảng 1h30 hôm 5/9, trên quốc lộ 1A, đoạn qua xã Hương An (huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam), Tổ tuần tra kiểm soát (TTKS) trạm Thăng Bình (thuộc phòng CSGT tỉnh Quảng Nam) phát hiện xe khách 16 chỗ mang BKS 76C-010.79 có dấu hiệu nghi vấn.
Khi tổ TTKS ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra, tài xế xe khách không chấp hành hiệu lệnh, tăng tốc bỏ chạy. Cùng lúc đó, có 4 xe máy chạy theo để cản trở xe của lực lượng CSGT.
Tiến hành truy đuổi, xe của tổ TTKS chặn đầu xe khách nói trên tại đường tránh Vĩnh Điện (thuộc thôn Trung Phú 2, xã Điện Minh, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Tuy nhiên, lái xe khách vẫn ngoan cố, tông thẳng vào đầu xe của tổ TTKS. Sau đó, hai đối tượng trên xe khách liền mở cửa bỏ chạy.
Qua kiểm tra xe khách trên, tổ TTKS phát hiện xe khách vận chuyển 13 phách gỗ xoan đào và chò. Biển số xe 76C-010.79 nghi là biển số xe giả.
Hai đối tượng trên xe khách là Phúc và Tuấn (ngụ huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam) hiện đã được bàn giao cho công an thị xã Điện Bàn tiếp tục điều tra làm rõ. (Tiền Phong 6/9) đầu trang(
Sau khi Trung tâm Bảo tồn biển và Phát triển cộng đồng (MCD) rút đi, Khu Bảo vệ biển Rạn Trào (xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh, Khánh Hòa) rất cần nguồn lực để duy trì và phát triển.
Rạn Trào là vùng biển có tính đa dạng sinh học cao với 82 loài san hô, 69 loài cá rạn và nhiều loài sinh vật biển có giá trị như: tu hài, ốc nhảy, cá ngựa, hải sâm, cỏ biển… Vì thế, Khu Bảo vệ biển Rạn Trào được UBND huyện Vạn Ninh và Liên minh Sinh vật biển quốc tế (IMA) thành lập năm 2001 (quyết định công nhận năm 2008) với tổng diện tích 54ha, trong đó vùng lõi rộng 25ha có mật độ san hô dày đặc.
Ngay sau khi thành lập, UBND huyện Vạn Ninh đã phối hợp cùng nhiều tổ chức quốc tế, các đơn vị nghiên cứu hải dương và các ban, ngành trong và ngoài huyện triển khai xây dựng Khu Bảo vệ biển Rạn Trào. Một trong những mục tiêu hàng đầu là công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân; tổ chức các hoạt động làm sạch bãi biển, lắp đặt pa nô tuyên truyền tại các thôn trên địa bàn xã Vạn Hưng để nâng cao nhận thức người dân.
Bên cạnh đó, Khu Bảo vệ biển Rạn Trào còn xây dựng tổ quản lý bảo vệ (được bồi dưỡng 500.000 đồng/người/tháng) hoạt động 24/24 giờ nhằm tuyên truyền, ngăn chặn người dân đánh bắt, nuôi trồng nơi đây, góp phần tái tạo và phát triển nguồn lợi sinh vật biển và đa dạng sinh học trong khu vực. Ngoài ra, Khu Bảo vệ biển Rạn Trào còn được MCD hỗ trợ các mô hình sinh kế nhằm tạo lợi ích cho cộng đồng, giảm việc khai thác nguồn lợi thủy sản làm ảnh hưởng đến việc bảo tồn và phát triển.
Ông Đặng Tri Thông - chuyên viên Phòng Kinh tế Vạn Ninh cho biết, từ năm 2007 đến 2016, huyện Vạn Ninh đã hỗ trợ Khu Bảo vệ biển Rạn Trào tổng kinh phí hơn 500 triệu đồng (xăng dầu, phụ cấp, sửa nhà bảo vệ, ghe thuyền...).
Còn MCD đã triển khai 10 mô hình: nuôi rong sụn, hải sâm, tu hài, làm chổi dừa, hàng mỹ nghệ, du lịch sinh thái, nuôi chim bồ câu, trồng lúa, nuôi gà… với tổng kinh phí 785 triệu đồng, có 154 hộ tham gia. Đến nay, Khu Bảo vệ biển Rạn Trào vẫn duy trì được đội quản lý bảo vệ hoạt động liên tục, phối hợp cùng các lực lượng khác, trong đó có bộ đội biên phòng.
Ông Nguyễn Văn Lộc - Phó Chủ tịch UBND xã Vạn Hưng cho biết, đầu năm 2015, MCD rút đi, Khu Bảo vệ biển Rạn Trào mất đi nguồn hỗ trợ, mặc dù huyện Vạn Ninh vẫn duy trì kinh phí đối ứng. Do không phải là khu bảo tồn biển nên nguồn kinh phí không được đáp ứng theo chế độ, chính sách.
“Hiện nay, mức hỗ trợ cho thành viên tổ quản lý bảo vệ quá thấp, trong khi anh em phải làm việc 24/24 giờ. Nhưng nếu không có tổ bảo vệ thì việc khai thác, phá hoại vùng rạn san hô rất khó giữ được. Bên cạnh đó, các mô hình sinh kế cũng bị bế tắc do bị cắt kinh phí. Vì thế, xã rất mong UBND huyện Vạn Ninh và UBND tỉnh quan tâm cấp kinh phí cho Khu Bảo vệ biển Rạn Trào hoạt động”, ông Lộc nói.
Được biết, Công ty TNHH Đầu tư Du lịch An Phú (trụ sở tại TP. Nha Trang) có hướng đầu tư phát triển du lịch tại đây bằng các hình thức lặn biển ngắm san hô, phát triển du lịch cộng đồng. Hiện nay, hồ sơ đã được UBND huyện chấp nhận và đang thẩm định tại Ban Quản lý Khu Kinh tế Vân Phong.
Ngoài ra, huyện Vạn Ninh đang xây dựng đề tài huy động nguồn lực bảo tồn và phát triển Khu Bảo vệ biển Rạn Trào. Theo đó, sẽ tiếp tục duy trì mô hình quản lý bảo vệ cộng đồng; hỗ trợ các mô hình sinh kế phát triển như: nuôi rong sụn, hải sâm, nuôi bò; xã hội hóa công tác bảo tồn với phát triển du lịch cộng đồng. (Báo Khánh Hòa 4/9) đầu trang(
Các nhà khoa học của Viện Sinh học nhiệt đới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cùng Vườn Quốc gia Côn Đảo và Bảo tàng Hoàng gia Ontario, Canada vừa phát hiện và mô tả một loài rắn mới tại Vườn Quốc Gia Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Loài rắn mới này được đặt tên là rắn Khiếm Côn Đảo Oligodon condaoensis, theo địa danh thu mẫu để mô tả loài mới.
Loài rắn mới này có chiều dài trung bình khoảng 60 cm, màu đen hoặc có sọc mờ dọc theo thân, bụng trắng. Rắn Khiếm Côn Đảo là loài rắn không độc, hoạt động ban ngày. Đây là loài rắn đặc hữu có vùng phân bố rất hẹp ở Côn Đảo, cần được nghiên cứu bảo tồn trong thời gian tới. (Tiền Phong 5/9) đầu trang(
Còn sót lại ở Tây Nguyên nói riêng, Việt Nam nói chung một người sở hữu nhiều voi được thuần dưỡng nhất, đó là ông Đàn Năng Long ở buôn Jun, thị trấn Liên Sơn, huyện Lắk, Đắk Lắk. Giờ cả Tây Nguyên chỉ còn lại 43 con voi thì ông Long sở hữu 7 con.
Nhiều đời nhà ông Long nổi tiếng về huấn luyện voi và yêu quý voi như báu vật. Những câu chuyện về bảo tồn voi được ông kể ra đầy nhức nhối, nhưng cũng mở ra cả thế giới voi huyền bí.
Trong nắng chiều mùa thu hanh hao dưới chân Chư Yang Sin hùng vĩ, Đàn Năng Long tạc bóng mình trầm mặc bên vách núi. Xa mà không xưa, bố ông là dũng sĩ săn voi Đàn Năng Nhẫn (dân bản địa gọi là Ama Ku) dắt ông rong ruổi qua những cánh rừng bạt ngàn xanh thẳm, những con suối mát trong cạnh kề buôn làng. Cuộc sống quyện hòa trong không gian đậm đầy nghĩa tình. Mỗi chú voi được thuần dưỡng đều tươi vui với ánh mắt trong veo, thân thiện, hồ hởi và như một thành viên trong gia đình, dòng tộc.
Voi được gọi là ông Tượng. Có việc trọng đại gia chủ và buôn làng phải làm lễ kính báo với ông Tượng. Ông Tượng đau, người nuôi cũng đau theo. Những người nuôi voi, quản voi phải có lòng bao dung, chân thật không mưu mẹo, toan tính, đểu cáng. Những ngày hội, đêm ca, bên bếp lửa bập bùng voi và người cùng soi chiếu vào mắt nhau biểu thị cảm xúc, thấu tỏ lòng nhau.
Giờ thì khác, mắt voi cũng như mắt người, ừng ực buồn tiếc. Buông tiếng thở dài, Đàn Năng Long thổn thức những lời như rút ra từ đáy sâu gan ruột, rằng: “Khi không coi cái gì là thiêng liêng thì người ta thường hung hãn, nhạt tình, giả dối, màu mè, đối phó với các sinh thể quanh mình. Trước đây, ai cũng tôn kính và xem voi, xem rừng là những thứ thiêng liêng nhất.
Nhưng giờ đây họ phá không thương tiếc. Voi nhà thì bị bóc lột, voi rừng thì bị truy đuổi, bắn giết bởi lòng tham không đáy của con người. Xung đột giữa voi và người ngày càng dữ dội”. Càng đau tiếc, ông Long cùng các quản tượng của mình càng thương yêu, chăm chút 7 ông Tượng mình đang sở hữu hơn.
Dù không phải chuyện nhà mình nhưng mỗi lần nghe tin đâu đó có voi chết vì kiệt sức, bệnh tật, sự đắng đót cứ dâng trong khóe mắt Đàn Năng Long. Mới vài chục năm trước Đắk Lắk có trên 500 con voi, giờ chỉ còn hơn 40 con, sụt giảm kinh hoàng. Mới nhất và ám ảnh nhất là ông Tượng mang tên Na Liêng của Công ty Cổ phần Du lịch và Thương mại Buôn Đôn.
Sau ròng rã tháng ngày phục vụ khách du lịch, Na Liêng chân đi xiêu vẹo, da bám chặt vào xương, ngã quỵ. Người ta hốt hoàng truyền nước, mua thuốc bổ dưỡng cấp tập bơm vào người Na Liêng. Nhưng đã quá muộn, Na Liêng trào ra những giọt lệ buồn cuối cùng rồi vĩnh viễn ra đi vào ngày nắng vã mồ hôi của mùa hè năm 2015. Cũng trong năm đó, ở xứ trăm voi Đắk Lắk, 4 ông Tượng khác cũng vĩnh viễn ra đi.
Qua bao mùa mưa nắng, voi vẫn tận tụy phục vụ, cháy khát được cặp đôi, được sinh sản cho đến khi sức cạn, tuổi già, da nhăn, chân mỏi. Thế nhưng, rừng bị tàn phá, sông cạn, núi lở, lòng người đổi thay khiến voi có nguy cơ chỉ còn trong ký ức vì chết dần, chết mòn.
Khi con người bắt đầu dùng những chiếc xe tải chuyên chở, những chiếc cưa máy có khả năng hạ sát hàng trăm héc ta rừng nguyên sinh cũng là lúc voi bắt đầu phẫn nộ. Nửa đời người gắn bó với voi, Đàn Năng Long đúc rút: “Voi cũng như người vậy, chẳng khác gì đâu. Khi không gian dành cho voi không bị xâm hại, voi không bị dồn đuổi thì rất hiền hòa với con người. Voi không sợ những bước chân lạ nếu không mang theo tà tâm hủy hoại thiên nhiên. Thức ăn cạn kiệt, môi trường sống không còn, không nổi loạn mới là chuyện lạ”.
Cũng bởi hiểu rõ voi cũng có nhiều nét tâm tính như người nên các nài voi (người chăm và điều khiển voi) của Đàn Năng Long làm việc kiểu cha truyền, con nối. Nhiều gia đình, cuộc đời nối tiếp cuộc đời gắn bó với voi không dời.
Ông Long bảo: “Voi là loài rất nghĩa tình. Đối đãi với voi tốt thì voi rất ngoan ngoãn và tận tụy. Thậm chí voi còn tự nguyện diễn trò cho người xem, vào tận bàn uống cà phê để vui đùa với khách. Sau vài giờ lao động chở khách đi chơi tôi đều bồi dưỡng cho voi đủ các dưỡng chất bao gồm các loại hoa quả, cỏ cây. Khi voi buồn hay có tâm trạng không vui là cho voi nghỉ ngơi ngay. Không chăm bẵm hàng ngày mà chờ đến khi voi quỵ ngã thì có bơm thuốc bổ tiền tỷ cũng không vực voi dậy được.Voi chỉ phẫn nộ khi bị bóc lột quá mức hoặc cho ăn uống không tương xứng với sức lao động. Các mức độ phẫn nộ của voi cũng theo cung bậc. Giận ít thì lì lợm, giận nhiều thì không tuân theo hiệu lệnh của nài voi. Nhưng sau mỗi lần phẫn nộ mắt voi lại buồn thảm hơn”.
Như để minh chứng cho lời nói của mình, Đàn Năng Long ra hiệu lệnh, cả đàn voi dũng mãnh, cường tráng của ông bước phăm phăm vào quán cà phê với ánh mắt bừng sáng và đưa chiếc vòi uốn éo, nô đùa với khách.
Đàn Năng Long cũng cho biết, nhiều nơi dốc tiền tỷ bảo tồn mà voi cứ lăn ra chết. Không giản đơn mà làm được điều đó, ngoài đối đãi tốt với voi, phải có bí quyết độc đáo nữa, đó chính là những bài thuốc. Khi không gian tự nhiên còn rộng lớn, voi luôn tự chữa bệnh cho mình. Quan sát tỉ mẩn bằng lòng thương vô hạn trong những chuyến rong ruổi cùng cha đưa voi vào rừng dạo chơi đã giúp Đàn Năng Long thành một bác sĩ đặc biệt.
Thứ lá nào chữa bệnh gì cho voi ông nắm rõ như lòng bàn tay. Có khi người ta bơm chục triệu tiền thuốc vào người voi, voi bệnh nặng thêm nhưng chỉ vài nắm lá của ông Long là hết bệnh. Ví như, voi bị xây xát, nhiễm trùng cần ngay lộc vừng và lá cây trâm bào chế với vài thứ khác. Voi bị u bướu, thương nặng đến nội tạng thì cần tiểu phẫu bằng kinh nghiệm bí truyền và những bài thuốc sạch từ thiên nhiên.
Đã dốc sức tìm nhiều bài thuốc hay cho voi nhưng trong suốt buổi chuyện trò với tôi, ánh mắt Đàn Năng Long luôn ẩn hiện sự phấp phỏng lo âu vì voi không chịu đẻ nữa. Ông bảo: “Gần 20 năm nay ở Đắk Lắk voi không sinh sản được. Các cấp chính quyền không khẩn cấp đưa ra các phương án hữu hiệu, thiết thực thì voi tuyệt chủng mất thôi. Voi chỉ ân ái mãnh liệt và thụ thai được trong không gian tự nhiên mà giờ đây không còn môi trường tự nhiên để chăn thả, giao phối nên không đẻ được”.
Dẫu biết là mong manh nhưng vẫn phải hy vọng nên trong không gian quanh hồ Lắk, quanh nhà mình, không cần ai đặt hàng, không cần ai thôi thúc, hàng ngày Đàn Năng Long vẫn cần mẫn nghiên cứu cách để tác hợp cho đàn voi của mình yêu nhau. Phải sắp đôi thật chuẩn thì chúng mới yêu nhau thắm thiết được. Tình yêu và sự ân ái giải phóng mọi u uẩn và sự nóng tính của loài voi.
Trước khi quyết định se duyên cho các cặp voi ông cũng đã học kinh nghiệm các già làng. Ông Long chia sẻ: “Vài cặp voi tôi se duyên thành công, chúng đều quấn quýt bên nhau nhưng vẫn chưa sinh sản được những chú voi con như ý muốn. Tuy nhiên từ khi có “vợ”, có “chồng” thì tâm tính những chú voi này hiền hòa hẳn. Hy vọng một ngày không xa, chúng sẽ đồng loạt cho ra đời những chú voi con để khát vọng duy trì, trường tồn voi Tây Nguyên không là viễn cảnh”.
Những chia sẻ của ông Long trước lúc chia tay làm tôi sực nhớ đến đôi dòng tâm sự tràn ngập chua xót của già làng Y Linh ở Buôn Đôn. Đó là một chiều mưa xối xả, những ngọn gió thốc qua các quả núi trơ trọi ập vào buôn làng từng dòng nước đỏ ối.
Già làng Y Linh trăn trở: “Đi vòng quanh thế giới để tìm cách bảo tồn voi cũng được, hàng chục chiếc xe với các ông tiến sỹ mũ áo xênh xang về đây nghiên cứu cũng được. Nhưng cấp bách nhất phải là khoanh vùng, tạo ra một không gian thiên nhiên rộng mở với nhiều cây rừng kèm theo những người bảo vệ tận tâm nếu không một sơ sểnh nhỏ là voi bị chặt ngà, cắt đuôi, vặt lông ngay, còn đâu sức mà ân ái sinh sản nữa”.
Để voi không tuyệt chủng, năm 2011, tỉnh Đắk Lắk đã thành lập Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk. Ngay sau đó tỉnh này cũng đã phê duyệt “Dự án khẩn cấp Bảo tồn voi tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020” với tổng kinh phí 85 tỷ đồng. Tinh thần chung của dự án nhằm duy trì, bảo tồn cả voi hoang dã lẫn voi nhà, giảm xung đột giữa voi với người. Thế nhưng voi ở Đắk Lắk vẫn liên tục chết. (An Ninh Thủ Đô 4/9) đầu trang(
Bước vào thời điểm mùa nước nổi cũng là lúc các hoạt động mua bán động vật hoang dã lại nổi lên rầm rộ.
Mới đây, Công an huyện Hồng Ngự phối hợp với lực lượng công an, kiểm lâm của tỉnh Đồng Tháp bắt quả tang 01 vụ vận chuyển động vật hoang dã tại ấp 1 xã Thường Thới Tiền, huyện Hồng Ngự.
Đối tượng vận chuyển là Nguyễn Văn Tâm, ngụ huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Tang vật tạm giữ tại hiện trường là 165 con chim trời bao gồm các loài Còng cọc, Vạt, Cò trắng.
Ngay sau khi làm việc, lực lượng chức năng đã tiến hành thả số động vật còn sống ra tự nhiên. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Đồng Tháp 5/9) đầu trang(
Động vật hoang dã rất khác so với vật nuôi và tình trạng nuôi nhốt sẽ khiến những nhu cầu sinh học của chúng không được đáp ứng. Nhiều vật nuôi hoang dã có thể ủ mầm bệnh và dễ dàng lây sang cho con người...
Quần thể nhiều loài động vật có nguồn gốc từ Đông Nam Á đang bị đe doạ bởi nạn mua bán thú nuôi – từ các loài khỉ cho tới cu li, từ chim tới cú, từ tắc kè cho tới rùa.
Mua bán thú nuôi hoang dã đang là một trong những lý do khiến hoạt động buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp trở thành mối đe doạ lớn đối với đa dạng sinh học. Thực tế, đây là mối đe doạ trực tiếp lớn thứ hai đối với sự sinh tồn của các loài, chỉ sau việc môi trường sống ngoài tự nhiên của chúng bị phá huỷ.
Theo tổ chức bảo tồn động vật hoang dã WWF-Việt Nam, hoạt động mua bán động vật hoang dã để làm vật nuôi tạo ra làn sóng khai thác không bền vững các loài động vật hoang dã trong tự nhiên.
“Mặc dù người ta biện luận rằng các con vật được gây nuôi trong môi trường nuôi nhốt, nhưng trên thực tế, hầu hết chúng được săn bắt từ tự nhiên. Người ta cũng lập luận rằng, nuôi nhốt động vật hoang dã sẽ không ảnh hưởng tới quần thể của chúng ngoài tự nhiên - một lập luận đã được chứng minh là sai lầm.” - tổ chức WWF-Việt Nam nhấn mạnh.
Dẫn chứng cho quan điểm này, WWF-Việt Nam cho biết, trong những thập kỷ từ năm 1975 đến 2005, khoảng 1.3 triệu cá thể vẹt xám châu Phi đã bị săn bắt làm vật nuôi và hậu quả là loài này đang phải đối diện với sự tuyệt chủng. Hay kỳ đà không tai của Malaysia được phát hiện bởi các nhà sưu tầm vào năm 2012 khi chúng đang bị rao bán làm vật nuôi trên các diễn đàn online. Chúng bị săn bắn nhiều đến nỗi số lượng quần thể của chúng hiện đang bị suy giảm trầm trọng...
Động vật hoang dã rất khác so với vật nuôi và tình trạng nuôi nhốt sẽ khiến những nhu cầu sinh học của chúng không được đáp ứng. Nhiều vật nuôi hoang dã có thể ủ mầm bệnh và dễ dàng lây sang cho con người.
Hầu hết các loài khỉ mang vi rút herpes B - một loại vi rút có thể gây chết người; rùa và một số loài bò sát có thể mang vi khuẩn salmonella - một vi khuẩn có thể gây bệnh truyền nhiễm đặc biệt cho trẻ em, vẹt và các loài chim khác cũng có thể lây truyền một số bệnh sang người trong đó có bệnh cúm gia cầm.
“Phần lớn các căn bệnh mới hiện nay đều do động vật lây truyền sang cho con người. Ngoài ra, khi các loài vật hoang dã trở thành gánh nặng đối với chủ nhân của chúng, người ta có thiên hướng sẽ thả chúng trở lại tự nhiên. Điều này rất nguy hiểm bởi chúng có thể truyền bệnh cho con người và các loài bản địa. Đặc biệt chúng có thể gây ra nguy hiểm do là loài hoang dã, chưa được thuần phục, mặc dù bị nuôi nhốt nhiều năm. “ – tổ chức WWF-Việt Nam nhấn mạnh.
Theo WWF-Việt Nam thì nuôi nhốt động vật hoang dã cũng gây ra những tổn thương đối với thể chất và tinh thần của chúng. Rất nhiều trường hợp động vật nuôi nhốt khi được giải cứu đều trong tình trạng sức khoẻ tồi tệ. Chỉ trong điều kiện nuôi dưỡng chuyên nghiệp, đầy đủ cơ sở vật chất, các loài hoang dã mới có thể được đảm bảo về sức khoẻ. Đối với mỗi một cá thể động vật hoang dã được mang về nuôi tại một nhà nào đó, sẽ có rất nhiều cá thể đồng loại khác đã bị chết trên đường vận chuyển hoặc tại các chợ buôn bán.
WWF-Việt Nam kêu gọi không sở hữu một số những loài hoang dã và khuyến khích mọi người mua những sản phẩm có nguồn gốc hoang dã được sản xuất một cách bền vững. Tuy nhiên, điều đáng buồn là buôn bán động vật hoang dã làm thú nuôi đã đạt tới mức độ đe doạ nghiêm trọng tới quần thể của chúng ngoài tự nhiên.
Rồng Komodo là một ví dụ điển hình. Đây là một loài rất nguy hiểm, thường săn các loài động vật to lớn như hươu nai trong tự nhiên. Chúng cần rất nhiều thức ăn, sống lâu và rất hung dữ và đã từng có nhiều trường hợp tấn công người. Thêm nữa, săn bắn và mua bán, sở hữu loài này là bất hợp pháp.
Trong khi nhiều loài chim trở thành thú nuôi phổ biến, không phải loài nào cũng được phép nuôi giữ. Những loài chim lớn như đại bàng và các loài chim ăn thịt khác rất khó để giữ trong môi trường nuôi nhốt bởi chúng đã quen sải cánh trong một không gian rộng lớn. Nuôi dưỡng những loài này rất tốn kém và gây khó khăn cho cả con người và động vật.
Và kể cả khi các loài có nguồn gốc hoang dã có thể sống trong môi trường nuôi nhốt và không đòi hỏi nhiều chăm sóc công phu, nuôi giữ các loài này sẽ gây ra nhiều mối đe doạ đối với quần thể của chúng ngoài tự nhiên. Buôn bán thú nuôi từ hoang dã còn tạo ra một xu hướng trong xã hội và tạo ấn tượng rằng sỡ hữu thú nuôi hoang dã là một việc hoàn toàn bình thường, trong khi đó rất nhiều loài đang bị đe doạ. Vì thế, nuôi giữ động vật hoang dã thúc đẩy buôn bán và săn bắt những loài này trong tự nhiên, tạo lợi nhuận khổng lồ cho các hoạt động này.
Động vật hoang dã, không như các loài thuần dưỡng, đều có vai trò sinh thái riêng. Khi số lượng quần thể một loài hoang dã giảm xuống một mức độ nhất định nào đó, nó được coi là tuyệt chủng về mặt sinh thái, có nghĩa là quần thể của chúng quá nhỏ để thực hiện vai trò sinh thái của chúng. Ví dụ đối với các loài là con mồi hoặc động vật săn mồi, việc ăn các loài đã chết sẽ giúp giải quyết vấn đề bệnh dịch tiềm năng, giữ cho quần thể các loài khác được kiểm soát.
Đây là một trong những ví dụ điển hình về vai trò sinh thái của các loài và đó chính là lý do tại sao chúng cần được sống trong môi trường của chúng. Giữ chúng trong nhà làm động vật nuôi sẽ không phù hợp và ngăn cản nỗ lực bảo vệ chúng trong tự nhiên và môi trường sống của chúng. (VnMedia/ Vietnamnet 6/9) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Trong tháng 8-2016, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đã trực tiếp thu tiền dịch vụ môi trường rừng của các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng nội tỉnh là 243,72 triệu đồng.
Cụ thể: Công ty cổ phần đầu tư phát triển năng lượng Phú Tân 94,676 triệu đồng; Công ty TNHH thương mại - dịch vụ - sản xuất Cát Nam 89,32 triệu đồng; Công ty TNHH MTV cấp thoát nước Bình Phước 59,723 triệu đồng.
Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cũng đã thực hiện chi tạm ứng tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2011, 2012 cho chủ rừng là 306,862 triệu đồng và tạm ứng tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2016 với tổng 2,05 tỷ đồng, cụ thể: Ban quản lý Vườn quốc gia Bù Gia Mập 1 tỷ 856,862 triệu đồng; Vườn quốc gia Cát Tiên 500 triệu đồng. (Báo Bình Phước 5/9) đầu trang(
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) được xem là bước đột phá trong việc góp phần giảm thiểu mất rừng và nâng cao chất lượng rừng…
Chính sách này cũng tạo điều kiện để các chủ rừng triển khai phương án bảo vệ rừng bền vững, phòng-chống hành vi xâm hại tài nguyên rừng. Tuy nhiên, sau khi có nguồn kinh phí, nhiều chủ rừng đã sử dụng một cách tùy tiện, không đúng mục đích, gây lãng phí.
Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Kông H’De (huyện Kông Chro) quản lý hơn 14.000 ha rừng và hàng năm được nhận tiền chi trả DVMTR hơn 900 triệu đồng. Trong 2 năm qua, Công ty đã tự ý trích gần 200 triệu đồng từ tiền DVMTR để trả lương hàng tháng cho 3 người dân, với mức 2,5 triệu đồng/người/tháng để cung cấp thông tin phá rừng cho đơn vị.
Điều khó hiểu là cả Ban Giám đốc cũng không nhớ tên những người dân mà mình trả “lương” vì đã ủy thác cho các trạm địa bàn tự lo liệu. Trao đổi về vấn đề này, ông Nguyễn Thanh Kim-Giám đốc Công ty thừa nhận: “Công ty chỉ nghĩ đơn giản đó cũng là một trong những công tác hỗ trợ Công ty trong việc quản lý bảo vệ rừng tốt hơn nên mới thực hiện sai mục đích trong việc sử dụng tiền DVMTR và sẽ rút kinh nghiệm trong những năm sau”.
Được giao quản lý hơn 240 ha rừng, hàng năm, xã Ia Peng (huyện Phú Thiện) được nhận hơn 20 triệu đồng. Thế nhưng, xã đã không hề sử dụng số tiền này cho công tác quản lý, bảo vệ rừng theo kế hoạch. Năm 2015, UBND xã đã dùng hơn 60 triệu đồng từ nguồn DVMTR (được cấp từ năm 2013 đến 2015) để làm lại sân, hội trường… của UBND xã. Để hợp thức hóa chứng từ, hồ sơ rút tiền từ kho bạc huyện, xã Ia Peng đã lập khống các chứng từ chi tiền xăng tuần tra bảo vệ rừng; lập khống danh sách nhận tiền tuần tra bảo vệ rừng; lập khống danh sách nhận tiền bồi dưỡng cho tổ quản lý bảo vệ rừng làm đêm…
Lý giải cho vấn đề này, ông Đỗ Hùng Sơn-Chủ tịch UBND xã cho rằng: Để chuẩn bị cho Đại hội Đảng bộ xã, UBND xã có kế hoạch sửa chữa lại một số hạng mục công trình của trụ sở đã xuống cấp. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, nguồn kinh phí lại thiếu nên UBND xã có văn bản xin ý kiến của Đảng ủy xã mượn tạm số tiền DVMTR để làm lại sân, hội trường…
Ngoài những sai phạm trong việc sử dụng tiền DVMTR của các chủ rừng trên, qua xác minh của chúng tôi, còn nhiều đơn vị khác đã chi sai nguyên tắc như: dùng tiền DVMTR để trả tiền điện thoại cá nhân; hỗ trợ may trang phục; khai sai diện tích rừng đang quản lý… và số tiền chi sai nguyên tắc trong những năm qua lên đến hàng trăm triệu đồng.
Ban Quản lý Rừng phòng hộ Ia Ly (huyện Chư Pah) được giao quản lý hơn 12.500 ha rừng và bình quân hàng năm được nhận khoảng hơn 3 tỷ đồng tiền DVMTR để quản lý bảo vệ rừng, trồng rừng… Từ năm 2013, sau khi có được nguồn tiền DVMTR, Ban Quản lý Rừng phòng hộ Ia Ly đã hợp đồng xây dựng các công trình lâm sinh như: nuôi dưỡng rừng trồng, làm đường ranh cản lửa…
Tuy nhiên, qua tìm hiểu của chúng tôi, thay vì ký hợp đồng với các công ty có tư cách pháp nhân, đơn vị đã ký với 3 cá nhân không có chuyên môn, nghiệp vụ là ông Trương Duy Cảnh, Trương Duy Nam và Trương Duy Ca (trú tại TP. Kon Tum) để thực hiện khối lượng công việc này.
Giải thích cho việc làm trái với quy định này, ông Phạm Thành Phước-Trưởng ban Quản lý Rừng phòng hộ Ia Ly cho rằng: “Thực ra những năm trước, theo chủ trương và chính sách của Nhà nước, các công trình này phải được tổ chức đấu thầu. Tuy nhiên, từ năm 2005, khi đưa ra đấu thầu thì không có đơn vị có đủ tư cách pháp nhân nào dám đứng ra đấu thầu thi công các công trình lâm sinh bởi vì đặc thù với các công trình này độ rủi ro lớn. Vì vậy, để đảm bảo đúng tiến độ thực hiện các hạng mục công trình lâm sinh, đơn vị buộc phải thuê các cá nhân đứng ra nhận làm…”.
Theo hợp đồng của Ban Quản lý Rừng phòng hộ Ia Ly với 3 cá nhân đại diện cho các tổ nhóm thi công các hạng mục công trình lâm sinh trong giai đoạn 2013-2015, đơn vị đã chi trả bằng tiền mặt cho ông Cảnh, ông Nam và ông Ca số tiền lên đến hơn 4,9 tỷ đồng nhưng không có hóa đơn.
Bên cạnh đó, hồ sơ thanh toán của các cá nhân trên với đơn vị cũng không đúng quy định khi không có danh sách các hộ dân tham gia thi công các công trình ký nhận ngày công. Điều này vô tình đã tạo điều kiện cho các cá nhân trên không thực hiện đúng nghĩa vụ thuế với Nhà nước.
Về vấn đề này ông Phước giải thích thêm: “Từ trước đến nay, việc thi công các công trình lâm sinh như vậy không có thuế vì chỉ là hợp đồng công lao động phổ thông. Nếu áp dụng thuế thì ngay cả các cá nhân cũng không dám đứng ra nhận làm. Còn về việc lập danh sách những người dân tham gia thì đơn vị có thiếu sót nhắc nhở với bên nhận thi công thực hiện đúng theo quy định…”.
Tương tự, Ban Quản lý Rừng phòng hộ Bắc An Khê cũng ký hợp đồng với bà Nguyễn Thị Hồng Điệp (trú tại huyện Kbang), không hề có tư cách pháp nhân và chuyên môn, nghiệp vụ để thi công các công trình lâm sinh với số tiền hơn 560 triệu đồng. Tuy nhiên, trong hồ sơ thanh toán cũng không có danh sách các hộ dân tham gia kèm theo và không xuất hóa đơn, cũng như kê khai nộp thuế.
Những sai phạm nói trên được các chủ rừng biện hộ với nhiều lý do khác nhau như: do chưa hiểu hết những quy định, hướng dẫn; do cơ chế chưa phù hợp với thực tế của ngành… Tuy nhiên, dù với lý do gì chăng nữa thì không thể tùy tiện, mạnh ai nấy làm dẫn đến những sai phạm trong việc quản lý, sử dụng tiền DVMTR. (Báo Gia Lai 5/9) đầu trang(
Thông tin từ UBND tỉnh Trà Vinh cho biết, tỉnh Trà Vinh sẽ triển khai dự án bảo dưỡng cây xanh từ nay đến năm 2020 với tổng kinh phí lên đến 20 tỷ đồng.
Theo đó, năm 2016, UBND thành phố Trà Vinh dành 1,2 tỷ đồng để triển khai việc chăm sóc đặc biệt những cây cổ thụ đang có dấu hiệu suy kiệt sức sống trên địa bàn. Năm 2017, sẽ dành 5 tỷ đồng để tiếp tục chăm sóc, bảo dưỡng cây cổ thụ.
Biện pháp chăm sóc cây là sẽ áp dụng kỹ thuật đào bỏ lớp bê tông và khoét sâu xuống lòng đất quanh gốc cây cổ thụ từ 40 – 45 cm, rộng từ 4 – 6m2 (tùy theo vị trí của cây) để bón vôi, thuốc bảo vệ thực vật và bổ sung lượng phân cần thiết. Ngoài ra, quanh gốc cây cổ thụ còn được đặt 4 ống nhựa có đường kính 90 cm, độ sâu 1,5m để truyền phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giúp cây cổ thụ hấp thụ dinh dưỡng và được bảo vệ tốt.
Qua thống kê, hiện tại thành phố Trà Vinh có khoảng 15.000 cây xanh các loại, trong đó có gần 1.000 cây cổ thụ trên 100 năm tuổi và 10 cây cổ thụ trên 200 năm tuổi ở các tuyến đường nội ô. Ngoài ra còn hàng ngàn cây cổ thụ ở các chùa, vùng ven, nhà dân...
Ông Nguyễn Văn Hưởng, Phó phòng Tổng hợp phụ trách cây xanh (Công ty TNHH MTV công trình đô thị Trà Vinh) cho biết: “Cây xanh ở TP có chế độ cắt tỉa, chăm sóc, bón phân rất cẩn thận. Đặc biệt trên mỗi cây cổ thụ đều gắn mã số riêng để dễ quản lý, chăm sóc”.
Tuy nhiên, qua khảo sát và kết luận của các chuyên gia Viện cây xanh của Australia, Trường Đại học Nông - Lâm Thành phố Hồ Chí Minh và các Viện chuyên ngành của Việt Nam, hiện nay thành phố Trà Vinh có khoảng 420 cây cổ thụ (sao, dầu, me) đang có chiều hướng chết dần. Nguyên nhân là do bị bê tông hóa khi xây dựng vỉa hè đường phố, phương pháp chăm sóc chưa đúng cách, không phù hợp với độ tuổi của cây, làm hạn chế sự quang hợp, hút nước… dẫn đến cây có sức sống kém.
Việc đầu tư kinh phí để chăm sóc đặc biệt sẽ giúp cho cây xanh ở TP Trà Vinh được bảo vệ tốt hơn. Đồng thời phát huy giá trị của “lá phổi xanh” giữa lòng thành phố với hàng cây cổ thụ rợp bóng quanh năm. (Dân Trí 4/9) đầu trang(
Tại khu bảo tồn rừng ngập mặn thuộc xã Đông Hoàng (huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình) có một khu nhà biệt thự cùng trang trại rộng hàng nghìn mét vuông với vườn cây cảnh, ao cá… được bao quanh bởi hàng rào dây thép gai kiên cố cao gần 2m.
Khu biệt thự cùng trang trại trên nằm ngoài đê biển, trong khu vực hạn chế hoạt động. Đáng chú ý, khu vực này thuộc Dự án phục hồi và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn ở tỉnh Thái Bình.
Những người dân sinh sống quanh khu vực cho biết, cách đây 2 năm, tại khu vực này, chính quyền địa phương đã tổ chức cưỡng chế hàng loạt công trình kiên cố xây dựng sai phép. Nhưng công trình biệt thự cùng trang trại hoành tráng trên thì vẫn không hề hấn gì.
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Văn Bái, đại diện cho gia đình người chủ ngôi nhà trên cho biết, ngôi nhà đã được chính quyền địa phương cấp phép xây dựng.
Theo quy định, khu vực bảo tồn rừng ngập mặn này không được xây các công trình kiên cố và nhiều công trình tương tự đã bị cưỡng chế thì việc tồn tại một biệt thự giữa khu bảo tồn rừng ngập mặn là điều khó hiểu, khiến dư luận nhân dân địa phương bức xúc.
Đề nghị các cơ quan chức năng của huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình sớm kiểm tra, làm rõ và xử lý nghiêm sai phạm trên. (Quân Đội Nhân Dân 4/9) đầu trang(
Thời điểm hiện nay, người trồng rừng trên địa bàn tỉnh đang tập trung xử lý thực bì, đào hố, chuẩn bị cây giống lâm nghiệp (CGLN) để bước vào vụ trồng rừng Thu Ðông 2016.
Nhằm đảm bảo nguồn cây giống có chất lượng cao phục vụ trồng rừng, hiện lực lượng thanh tra pháp chế của Chi cục Kiểm lâm (thuộc Sở NN&PTNT) đã tăng cường kiểm tra hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cơ sở CGLN.
Theo Sở NN&PTNT, nhiều năm trở lại đây, Bình Định là tỉnh có phong trào phát triển trồng rừng kinh tế mạnh ở khu vực Duyên hải miền Trung, với diện tích rừng trồng đến nay gần 110 ngàn ha. Hàng năm, diện tích rừng trồng mới và khai thác trồng lại trên địa bàn tỉnh trên dưới 10.000 ha, với nhu cầu về cây giống cho công tác trồng rừng ước khoảng 30 triệu cây giống các loại.
Để đáp ứng nhu cầu cây giống trồng rừng, nhiều tổ chức, cá nhân đã đua nhau xây dựng cơ sở sản xuất CGLN; số cơ sở sản xuất CGLN có xu hướng ngày càng tăng cả về số lượng và quy mô sản xuất.
Ông Phạm Bá Nghị, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, cho biết: Hiện nay, tổng số đơn vị có đăng ký sản xuất, kinh doanh CGLN trên địa bàn tỉnh là 120 đơn vị. So với thời điểm tháng 9.2015, số cơ sở CGLN trên địa bàn tỉnh tăng thêm 8 đơn vị.
Hiện các cơ sở sản xuất CGLN trong tỉnh đã xây dựng được 149 vườn ươm, với tổng diện tích 46,3 ha, năng lực sản xuất khoảng 200 triệu cây/năm. Hầu hết các đơn vị sản xuất cây giống bằng phương pháp giâm hom đối với cây keo lai; một số đơn vị sản xuất cây giống keo lai, bạch đàn từ nuôi cấy mô và sản xuất các loài cây bản địa như: phi lao, keo lá tràm, thông Caribe, sao đen, bời lời...
CGLN sản xuất trên địa bàn tỉnh khá đa dạng về chủng loại, giá cả phải chăng, nên được các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trồng rừng trong và ngoài tỉnh tin dùng.
Riêng với vườn cung cấp hom keo lai, toàn tỉnh có tổng diện tích 49,5 ha sản xuất cây con bằng phương pháp giâm hom, năng lực cung cấp 140 triệu hom/năm. Ngoài thị trường các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên, các cơ sở sản xuất CGLN trong tỉnh còn cung ứng một lượng lớn cây giống cho các đơn vị trồng rừng tại các tỉnh Nam Lào, Đông Bắc Campuchia.
Theo ông Phạm Bá Nghị, các cơ sở sản xuất, kinh doanh CGLN trên địa bàn tỉnh phát triển mạnh là điều đáng mừng. Tuy nhiên, do chạy theo lợi nhuận, một số cơ sở chưa thực hiện nghiêm túc quy chế quản lý CGLN theo quy định của Bộ NN&PTNT; tình trạng xuất bán cây giống nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận nguồn gốc giống vẫn còn xảy ra tại một số địa phương.
Thống kê của ngành chức năng cho biết, hiện trên địa bàn tỉnh có trên 80% số cơ sở sản xuất CGLN có quy mô nhỏ, công suất sản xuất giống dưới 1,5 triệu cây/năm. Số cơ sở này chưa được kiểm soát chất lượng nguồn gốc giống chặt chẽ và các quy trình sản xuất giống chưa đảm bảo theo yêu cầu của Bộ NN&PTNT.
Theo cơ quan chuyên môn, nếu người trồng rừng mua phải CGLN kém chất lượng thì hậu quả mang lại rất lớn, vì CGLN có chu kỳ phát triển khá dài, phải mất từ 4-5 năm sau mới phát hiện được.
Ông Nguyễn Hiếu Hòa, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, khẳng định: “Nếu CGLN kém chất lượng thì người trồng rừng chịu thiệt hại rất lớn. Nếu không quản lý từ gốc, để giống dỏm tung hoành, người dân mua về trồng thì phải đến nhiều năm sau mới biết mình “sập hố”. Đến lúc ấy đành lâm cảnh tiền mất tật mang, vì cây rừng phát triển èo uột, năng suất gỗ thấp. Do đó, việc kiểm soát chặt chẽ các cơ sở sản xuất CGLN là vấn đề đáng được quan tâm và phải được duy trì thường xuyên”.
Nhằm chấn chỉnh công tác sản xuất CGLN, Bộ NN&PTNT đã có văn bản đề nghị Sở NN&PTNT các tỉnh, thành phố tăng cường kiểm soát, nâng cao chất lượng CGLN trước khi bước vào vụ trồng rừng mới.
Bộ NN&PTNT yêu cầu Sở NN&PTNT các tỉnh, thành phố tổ chức quản lý, kiểm soát nghiêm ngặt nguồn gốc CGLN từ khâu thu hoạch vật liệu giống, cấp chứng nhận nguồn gốc lô giống, quản lý sản xuất cây con ở vườn ươm, cấp giấy chứng nhận nguồn gốc cây con tới khâu lưu thông đến chân lô trồng rừng. Khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân sản xuất CGLN bằng phương pháp nuôi cấy mô. Các địa phương phải tăng cường kiểm tra, tái kiểm tra với các cơ sở sản xuất giống quy mô hộ gia đình, nhỏ lẻ; những cơ sở không đủ điều kiện SXKD phải bị đình chỉ sản xuất hoặc thu hồi giấy phép.
Ông Phạm Bá Nghị cho biết: Thực hiện văn bản chỉ đạo của Bộ NN&PTNT, từ tháng 6 đến nay, Chi cục Kiểm lâm đã tham mưu cho Sở NN&PTNT thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành, phối hợp với Phòng NN&PTNT các huyện và chính quyền địa phương tiến hành kiểm tra hoạt động sản xuất, kinh doanh và thực hiện các quy định của Nhà nước trên lĩnh vực sản xuất CGLN tại các địa phương trong tỉnh. Bên cạnh đó, Chi cục cũng đã thường xuyên tuyên truyền, khuyến cáo người trồng rừng không mua, không sử dụng các CGLN không rõ nguồn gốc, xuất xứ để trồng rừng; tăng cường việc cấp giấy chứng nhận CGLN trước khi xuất vườn.
“Từ nay đến cuối vụ trồng rừng, lực lượng thanh tra, pháp chế thuộc Chi cục Kiểm lâm sẽ tiếp tục kiểm tra thường xuyên hoạt động SXKD CGLN tại các vườn ươm trên địa bàn toàn tỉnh; đồng thời có những biện pháp chấn chỉnh, xử lý kịp thời các đơn vị có hành vi vi phạm” - ông Nghị nhấn mạnh. (Báo Bình Định 4/9) đầu trang(
Thực hiện Nghị quyết 02 của Ban Thường vụ tỉnh uỷ, giai đoạn 2011 -2015, huyện Kon Plông đã trồng mới hơn 4.580ha rừng và tiến hành khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh 1.000ha rừng tự nhiên.
Thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 1/7/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khóa XIV) "về phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững, trong giai đoạn 2011 – 2015”, huyện Kon Plông đã chỉ đạo các ngành chức năng, các đơn vị chủ rừng đẩy mạnh công tác phát triển rừng; đồng thời, tổ chức lồng ghép nguồn vốn từ các chương trình, dự án, các nguồn vốn khác nhau để hỗ trợ nhân dân trồng, phát triển các diện tích rừng.
Kết quả, toàn huyện đã trồng mới được hơn 4.580ha rừng; trong đó, có 134ha rừng phòng hộ tại xã Đăk Tăng và hơn 4.448ha rừng sản xuất. Loại cây được chọn trồng chủ yếu là keo lai, bời lời, thông ba lá...
Thời gian qua, các đơn vị chủ rừng trên địa bàn huyện Kon Plông cũng đã tiến hành khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh 1.000ha rừng tự nhiên. (Báo Kon Tum 6/9) đầu trang(
Trong quá trình triển khai, công tác trồng rừng thay thế tại các dự án thủy điện của Đắk Nông gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề quỹ đất “sạch”.
Theo một số đơn vị nhận trồng rừng thay thế và ngành chức năng, nếu cả hệ thống chính trị không vào cuộc quyết liệt, kế hoạch trồng rừng thay thế năm 2016 tại tỉnh rất khó để hoàn thành.
Thực hiện kế hoạch của Bộ NN&PTNT, đầu năm 2014, UBND tỉnh Đắk Nông đã ban hành quyết định về việc thực hiện trồng hơn 3.000ha rừng thay thế diện tích rừng đã chuyển sang xây dựng các công trình thủy điện trên địa bàn. Nhưng trong 2 năm 2014 và 2015, toàn tỉnh chỉ trồng được gần 500ha rừng, quá chậm so với tiến độ đề ra.
Theo Chi cục Kiểm lâm Đắk Nông, trong năm 2016, toàn tỉnh phải hoàn thành việc trồng 2.674ha rừng thay thế tại các dự án thủy điện. Để đẩy nhanh tiến độ, Chi cục Kiểm lâm Đắk Nông đã đề xuất UBND tỉnh Đắk Nông thành lập Ban Chỉ huy trồng rừng thay thế, xây dựng kế hoạch và giao cho 22 đơn vị là các Ban Quản lý rừng phòng hộ, các công ty lâm nghiệp… thực hiện. Nhưng đến giữa tháng 8/2015, toàn tỉnh mới chỉ trồng được gần 1.000ha rừng thay thế, đạt hơn 35% tiến độ.
Trong số các đơn vị được giao nhiệm vụ, nhiều đơn vị đã hoàn thành việc trồng rừng thay thế sớm hơn kế hoạch đề ra như: Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng (gần 264ha), Cty CP Nông lâm nghiệp Trường Thành (300ha), Cty CP Tập đoàn Tân Mai (153ha)… Phần lớn các đơn vị đã triển khai công tác trồng rừng thay thế nhưng cá biệt có một số đơn vị như: Công ty CP Kỹ nghệ gỗ MDF Long Việt, Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung… nhận kế hoạch trồng rừng nhưng chưa chịu triển khai.
Sau khi nhận kế hoạch, một số đơn vị đã ra sức đẩy nhanh tiến độ trồng rừng thay thế để sớm hoàn thành. Nhưng trong quá trình triển khai, việc trồng rừng lại “vướng” khi nhiều diện tích được quy hoạch để trồng rừng đã bị người dân lấn chiếm để trồng cây công nghiệp, cây ngắn ngày. Từ đó xảy ra tình trạng bất hợp tác, tranh chấp và thậm chí là xô xát giữa người dân và đơn vị thực hiện trồng rừng thay thế.
Theo ông Nguyễn Đức Vượng - Chủ tịch HĐQT Công ty Phú Gia Phát: Đơn vị được giao trồng 400ha rừng thay thế tại Tiểu khu 1260 (thuộc xã Buôn Chóa, huyện Krông Nô) và hiện đã trồng được khoảng 60ha. Mặc dù công ty đã mua hàng ngàn cây giống và điều động cả trăm công nhân thực hiện, nhưng việc trồng rừng hiện không thể triển khai vì quỹ đất bị người dân lấn chiếm. Không chỉ tranh chấp đất, nhiều người dân địa phương còn tham gia phá những diện tích rừng mới trồng và đe dọa công nhân trồng rừng.
Vào tháng 6/2016, 15ha cây muồng sau khi công ty trồng đã bị người dân nhổ bỏ hoặc phun thuốc diệt cỏ làm cây chết. Không dừng lại ở đó, nhiều đối tượng còn đe dọa, thậm chí xô xát với công nhân trồng rừng. “Cách đây ít hôm, có đối tượng còn cầm dao đuổi theo đòi chém công nhân trồng rừng của chúng tôi khiến họ rất hoang mang, lo lắng. Ngoài những diện tích trồng được, đơn vị không thể triển khai vì người dân quá manh động. Chúng tôi rất mong chính quyền địa phương và các ngành chức năng vào cuộc một cách quyết liệt để chúng tôi có thể hoàn thành kế hoạch được giao” - ông Vượng chia sẻ.
Theo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (thuộc Sở NN&PTNT Đắk Nông), số tiền trồng rừng thay thế khá lớn nên nhiều chủ dự án thủy điện gặp nhiều khó khăn trong việc bố trí được kinh phí để nộp vào quỹ. Tính đến đầu tháng 8/2016, Quỹ mới chỉ thu được gần 64 tỷ đồng trong tổng số gần 260 tỷ đồng tiền trồng rừng thay thế.
Đơn vị phải trồng lại rừng nhiều nhất là Công ty Thủy điện Đồng Nai (chủ dự án NMTĐ Đồng Nai 3&4) với tổng diện tích phải trồng lại là gần 2.700ha, tổng kinh phí hơn 210 tỷ đồng nhưng mới chỉ nộp được hơn 50 tỷ (25%). Cá biệt nhất là chủ dự án NMTĐ Đồng Nai 5 (BQL Dự án thủy điện Đồng Nai 5), đơn vị này phải nộp gần 21 tỷ đồng để trồng lại 213ha rừng thay thế nhưng từ khi triển khai đến nay, đơn vị này không trồng được diện tích rừng nào và cũng chẳng hề nộp tiền để trồng lại rừng.
Ông Nguyễn Quân Trường - Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đắk Nông, chia sẻ: “Việc các chủ dự án thủy điện ì ạch nộp tiền đã làm cho công tác bố trí vốn cho các đơn vị nhận trồng rừng thay thế gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, tình trạng di cư tự do vào tỉnh trong những năm qua tăng đột biến nên nhiều diện tích được bố trí trồng rừng thay thế đã bị người dân xâm canh. Tình trạng các đơn vị đã thực hiện trồng rừng xong nhưng bị người dân sống gần rừng phá để lấy đất canh tác vẫn còn diễn ra.
Cũng theo ông Trường, hiện đã là thời điểm gần cuối vụ trồng rừng. Để hoàn thành kế hoạch đề ra, cả hệ thống chính trị cần phải vào cuộc để tháo gỡ khó khăn trong việc xử lý đất lâm nghiệp bị xâm canh.
“Ngoài việc tuyên truyền, vận động người dân hiểu ý nghĩa, tầm quan trọng và đồng thuận với chính sách trồng rừng, chính quyền cũng cần có những chế tài mạnh khi có đối tượng cố tình chống phá. Đối với những đơn vị có diện tích được giao lớn, nếu không chịu triển khai trồng rừng theo kế hoạch thì chúng tôi sẽ bố trí cho đơn vị khác” - ông Trường nói. (Tài Nguyên Và Môi Trường 5/9) đầu trang(
Đến thời điểm này, mọi công tác chuẩn bị cho kế hoạch trồng rừng mùa mưa đã được các đơn vị chủ rừng hoàn tất.
Ông Dương Đình Sơn, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, cho biết: Do thời tiết nắng nóng kéo dài trong suốt 2 năm qua, gây khó khăn trong việc trồng và chăm sóc rừng, nên lượng công việc trong năm 2016 của các đơn vị chủ rừng sẽ nặng nề hơn, do vừa trồng mới, vừa phải trồng dặm những diện tích bị chết của năm trước. Tuy nhiên, từ đầu tháng 8 đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện mưa nên việc triển khai trồng rừng có thể đảm bảo đúng kế hoạch.
Dự kiến trong năm 2016, tổng diện tích trồng rừng tập trung toàn tỉnh khoảng trên 900ha, trong đó: Trồng rừng phòng hộ theo các Dự án JICA2 663ha; Dự án SP-RCC 63ha; Dự án Bảo vệ và Phát triển rừng 104ha; rừng sản xuất 289ha và trồng rừng thay thế 32ha.
Để công tác trồng rừng đúng tiến độ, ngay từ đầu năm, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị lâm nghiệp, Ban Quản lý rừng xây dựng phương án trồng rừng, chuẩn bị ươm giống cây, dọn thực bì... theo đúng kế hoạch. Các đơn vị chủ rừng cũng đã phối hợp với các xã triển khai cho Nhân dân đăng ký diện tích trồng rừng, phấn đấu đạt chỉ tiêu đề ra.
Để đáp ứng nhu cầu giống, các đơn vị chủ rừng đã gieo ươm trên 946.000 cây giống, gồm: Điều, keo lai, căm liên, lim, thanh thất, trôm... và ký hợp đồng với Doanh nghiệp Hạnh Nguyên (Bình Định) mua trên 531.000 cây keo lai giống đạt chất lượng phục vụ cho công tác trồng rừng.
Ông Nguyễn Văn Quang, Trưởng Ban Quản lý Rừng phòng hộ Krông Pha, cho biết: Năm nay, đơn vị tiến hành trồng 354ha; trong đó, có 329 ha rừng phòng hộ và 25ha trồng rừng sản xuất. Để việc trồng rừng đảm bảo đúng tiến độ, đơn vị đã chuẩn bị trên 400 ngàn cây giống (cây điều và thông ba lá). Ban Quản lý đã chủ động phối hợp với UBND xã Lâm Sơn tổ chức cho các hộ dân đăng ký trồng rừng sớm hơn mọi năm; đồng thời, cử cán bộ xuống từng khu vực trồng hướng dẫn người dân xử lý thực bì, đào hố đúng quy trình kỹ thuật, cách chăm sóc, bảo vệ rừng.
Trên địa bàn tỉnh ta đã bước vào mùa mưa, các đơn vị như Ban Quản lý Rừng phòng hộ Krông Pha đã trồng được 85ha. Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tân Tiến cũng đang khẩn trương cấp phát cây giống cho các xã Phước Bình, Phước Tân, Phước Tiến và Phước Thắng để tiến hành trồng rừng.
Theo ông Trần Anh Vũ, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tân Tiến, tình hình nắng hạn kéo dài đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ ươm giống, đào hố…, nhưng đến thời điểm này, đơn vị đã chuẩn bị đầy đủ nhân lực, vật tư để tiến hành trồng rừng, phấn đấu hoàn thành công tác trồng rừng đúng kế hoạch, đạt hiệu quả cao. (Báo Ninh Thuận 5/9) đầu trang(
Nhiều giải pháp để ngăn chặn cây xanh đổ gãy gây họa cho người đi đường đã được 2 chuyên gia cây xanh đô thị đề nghị thực hiện để ngăn chặn cây xanh gây họa.
Chỉ từ ngày 26/8-31/8, tại TP.HCM đã có 26 cây bị ngã, 32 cây bị gãy nhánh làm 2 người chết, 1 người bị thương.
Kỹ sư Nguyễn Trịnh Kiểm, Chánh Văn phòng Hiệp hội Công viên Cây xanh Việt Nam thông tin, nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng cây xanh bị ngã, gãy trong thời gian qua (từ ngày 26/8 đến nay) là do đã già cỗi.
Kỹ sư Kiểm chỉ ra: Cây càng già thì càng có nhiều khiếm khuyết mà bằng mắt thường không thể biết được và cũng không có máy móc đủ hiện đại để “siêu âm”. Đặc biệt, các tòa nhà cao tầng ở TP HCM ngày càng nhiều, tạo ra những luồng gió mạnh quật ngã, gãy cây.
Thêm nguyên nhân là tình trạng đào đường để lắp đặt các công trình ngầm, sau đó bê-tông hóa vỉa hè khiến rễ cây không có không gian sinh trưởng. “Nhiều vụ cây bật gốc gần đây cho thấy rễ cọc bị mục gần hết, chỉ còn lưa thưa rễ nhánh mọc sát mặt đất nên không đủ sức chống đỡ trước gió giật” ông Kiểm nhận định.
Để ngăn ngừa cây đổ, kỹ sư Nguyễn Trịnh Kiểm cho rằng: TP HCM cần có kế hoạch thay thế dần các cây lâu năm như dầu, sao, sọ khỉ, lim xẹt… Theo ông Kiểm, cách đây khoảng 15 năm, khi còn làm việc tại Công ty Công viên Cây xanh TP, ông đã có danh sách cụ thể những cây cần đốn và thay thế nhưng các cơ quan chức năng chỉ ghi nhận và chưa thực hiện.
“Cây xanh đô thị bên cạnh việc phải bảo đảm yêu cầu về cảnh quan, cải thiện môi trường, tạo bóng mát…thì bảo đảm an toàn về tài sản và tính mạng của người dân là yếu tố quan trọng nhất. Hiện TP còn trên 5.000 cây dầu loại 3 (có chiều cao hơn 12m như trên đường An Dương Vương) tiềm ẩn rất nhiều nguy hiểm” - ông Kiểm thông tin.
Ông Kiểm cho hay, TP.HCM cần phải xác định tuổi của cây rồi phân loại, thay thế. Cụ thể, như đối với cây sao, dầu thì nên từ 80-100 tuổi; sọ khỉ từ 60-80 tuổi; me, phượng 40-60 tuổi; lim xẹt dưới 40 tuổi. Tuy nhiên, theo kỹ sư Kiểm, các cây ngã đổ lớn thường quá tuổi đời quy định.
Vị kỹ sư này cũng chỉ ra đặc tính của cây dầu như nhìn biểu hiện bên ngoài vẫn còn tươi nhưng có thể trong gốc đã bị mục tuy chưa đến mức làm héo lá mà các phương tiện không đủ hiện đại để khảo sát. Cây sao dễ bị tét nhánh ở các cành thứ cấp bám không chặt vào cây.
Liên quan đến vụ cây ngã đổ, Tiến Sỹ (TS) Lê Bá Toàn, nguyên trưởng khoa Lâm Nghiệp của Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM cho biết: “Có thể dự báo và xử lý trước được việc cây xanh bật gốc gãy đổ”
Theo TS Toàn, vấn đề đặt ra là các đơn vị được giao quản lý cây xanh trên đường phố và công viên,… phải tổ chức việc khảo sát kỹ các đặc điểm về sinh trưởng (D, H vút ngọn, H dưới cành, tuổi trồng, D tán, phẩm chất từng cây về (hệ rễ, thân, ngọn, cành và tán lá), các đặc điểm về sâu bệnh, u nần, bọng, mục, các đặc điểm về công trình hạ tầng kỹ thuật ảnh hưởng, có hình ảnh chụp và quay VideoClip từng đặc điểm của cây,... Từ đó, ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) xây dựng bản đồ số và phần mềm quản lý và đề xuất biện pháp xử lý từng cây cho cơ quan chức năng (trước mùa mưa bảo) trong năm tới và khảo sát cập nhật dữ liệu thông tin hàng năm (trước mùa mưa bảo).
Để ngăn ngừa cây xanh tiếp tục gây họa, TS Toàn chỉ ra: Trước mắt, Công ty TNHH Một thành viên Công viên Cây Xanh TP cần thành lập đoàn để khảo sát đánh giá nhanh sinh trưởng, phẩm chất cây trên từng đường phố, công viên,…có khả năng dễ bật gốc, gãy đổ để đề xuất ngay biện pháp trình tới các cơ quan chức năng duyệt xử lý ngay.
Về lâu dài: phải tổ chức việc khảo sát kỹ các đặc điểm về sinh trưởng (D, H vút ngọn, H dưới cành, tuổi trồng, D tán, phẩm chất từng cây về (hệ rễ, thân, ngọn, cành và tán lá), các đặc điểm về sâu bệnh, u nần, bọng, mục, các đặc điểm về công trình hạ tầng kỹ thuật ảnh hưởng, có hình ảnh chụp và quay VideoClip từng đặc điểm của cây.
Từ đó, ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) xây dựng bản đồ số và phần mềm quản lý và đề xuất biện pháp xử lý từng cây cho cơ quan chức năng (trước mùa mưa bảo) trong năm tới và khảo sát cập nhật dữ liệu thông tin hàng năm (trước mùa mưa bảo). (Infonet 5/9) đầu trang(
Những năm gần đây, tình trạng di cư tự do của đồng bào Mông về khu vực đầu nguồn sông Đà trên địa bàn huyện Mường Tè (Lai Châu), đã và đang đe dọa sự tồn tại, phát triển của những cánh rừng ở đầu nguồn.
Được biết, huyện Mường Tè hiện có hơn 167.000ha rừng, với tỷ lệ che phủ gần 62%, trong đó có gần 100.000ha rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.
Điểm dân cư Cu Ma Cao, Cu Ma Thấp và Lù Khò, xã Mù Cả, huyện Mường Tè là nơi sinh sống của 65 hộ dân di cư tự do người Mông, với hơn 350 khẩu về đây từ năm 2008. Sau khi chuyển đến đây định cư, họ đã phá đi một số diện tích rừng phòng hộ để làm nương rẫy.
Ông Lý Khai Hòa - Chủ tịch HĐND xã Mù Cả, cho biết: “Toàn xã hiện có trên 38.000ha rừng, chủ yếu là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đầu nguồn. Từ khi có các hộ dân di cư đến, họ đã xâm lấn vào vùng lõi của khu rừng phòng hộ để định cư ở đó và đã phá rừng để lấy đất sản xuất. Địa phương đã nhiều lần vận động, tuyên truyền họ về nơi ở cũ, nhưng cứ đưa họ ra khỏi địa bàn được thời gian ngắn rồi họ lại vào rừng ở”.
Tà Tổng và Mù Cả là 2 xã đặc biệt khó khăn và cũng là 2 vùng “nóng” của huyện Mường Tè về di cư tự do thời gian qua. Để giải quyết vấn đề này, năm 2011 tỉnh Lai Châu đã triển khai dự án sắp xếp ổn định dân cư giai đoạn 2011 – 2015.
Theo dự án, 2 xã Tà Tổng và Mù Cả sẽ có 137 hộ, 821 khẩu di cư tự do được bố trí nơi ở ổn định. Các hộ dân sẽ được đầu tư đầy đủ điện, đường, trường, trạm. Tuy nhiên, sau 5 năm triển khai thực hiện dự án, địa phương mới chỉ sắp xếp chỗ ở ổn định cho 93 hộ, 468 khẩu, do những khó khăn trong việc quy hoạch và thiếu kinh phí, trong khi số hộ dân di cư đến ngày càng tăng.
Ông Mai Văn Thạch - Chủ tịch UBND huyện Mường Tè cho biết: “Từ đầu năm đến nay đã có gần 150 lượt hộ dân di cư, với trên 350 khẩu ở các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lào Cai… vào địa bàn huyện. Hầu hết người dân đến đều vào các khu rừng già, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng để dựng nhà. Huyện cũng đã tập trung tuyên truyền và liên hệ với các địa phương có dân di cư đến để đưa bà con quay lại nơi ở cũ. Tuy nhiên, với lực lượng mỏng như hiện nay và thời gian hoạt động chủ yếu của dân di cư tự do vào ban đêm thì địa phương khó có thể ngăn chặn triệt để”. (Dân Việt 6/9) đầu trang(
Như DĐDN đã thông tin, UBND tỉnh Thanh Hóa khẳng định, việc tháo dỡ hoặc cấm các DN dăm gỗ cần phải có lộ trình để DN có thời gian chuẩn bị chuyển đổi đầu tư.
Chuyên gia kinh tế nông nghiệp, TS Nguyễn Đăng Nghĩa cho rằng, hiện nay, VN có tới 97% DN dăm gỗ đang hoạt động là DN VVN. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 30% DN VVN trong số đó tiếp cận được các nguồn lực hỗ trợ, còn lại đang khá vất vả trong thương trường…
Đó là chưa kể tới việc, thị trường dăm gỗ bị cạnh tranh khốc liệt, kim ngạch xuất khẩu giảm, các đối tác nhập khẩu luôn chèn ép giá… Hệ quả của vấn đề này một phần thiếu sự quan tâm hỗ trợ của cơ quan quản lý nhà nước, bởi lâu nay cơ quan quản lý vẫn tồn tại kiểu tư duy: dăm gỗ là ngành phá rừng, đóng góp cho ngân sách nhà nước hạn chế…
“Có thể, đây là ngành không có đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước nhưng lại là ngành góp phần rất lớn đảm bảo an sinh xã hội, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Vì vậy, về lâu dài, cơ quan quản lý nhà nước cần có sự thay đổi về cách nhìn nhận tầm quan trọng của ngành dăm gỗ trong cơ cấu ngành nghề kinh tế” – TS Nghĩa chia sẻ.
Nhấn mạnh về vấn đề hỗ trợ DN theo tinh thần Nghị quyết 35/NĐ- CP của Chính phủ đến năm 2020, TS Nghĩa chỉ rõ, Nhà nước phải bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp và quyền tự do kinh doanh của người dân, DN. DN có quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm. Nhà nước phải là cơ quan hướng dẫn hỗ trợ DN hoàn thành các thủ tục hồ sơ liên quan đến đầu tư kinh doanh. DN thực hiện chưa đúng chủ trương, đường lối thì cơ quan quản lý nhà nước phải là đầu mối giúp DN thay vì “cấm cửa” đẩy DN đến bờ vực phá sản, kéo theo nhiều hệ lụy về mặt an sinh xã hội.
Ở một khía cạnh khác, ông nghĩa cho rằng, Nghị quyết khẳng định rõ nhà nước phải bảo đảm quyền bình đẳng cho tất cả các DN, không phân biệt loại hình, thành phần kinh tế trong cơ hội tiếp cận các nguồn lực như: vốn, tài nguyên, đất đai… và đầu tư kinh doanh.
“Do vậy, để tạo ra tính cạnh tranh minh bạch, bình đẳng trên thị trường đối với tất cả các ngành nghề (trong đó có ngành dăm gỗ), chúng ta không thể thực hiện theo nguyên tắc độc quyền, chỉ những “ông lớn” mới có quyền sản xuất kinh doanh”- TS Đăng Nghĩa nhấn mạnh.
Tuy nhiên, cũng theo TS Nghĩa, song song với sự hỗ trợ của phía cơ quan quản lý nhà nước thì cũng rất cần phát huy vai trò của Hiệp hội dăm gỗ VN nhằm phối hợp giữa các DN đồng thời khoanh nuôi vùng nguyên liệu để có kế hoạch khai thác phù hợp. Đặc biệt, các DN có sự hỗ trợ về thị trường và hỗ trợ nhau về giá. Cuối cùng, có sự liên kết, hạn chế xuất khẩu thô mà chế biến sản phẩm tinh.
Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa, ông Nguyễn Đình Xứng khẳng định việc tháo dỡ hoặc cấm các DN dăm gỗ hoạt động cần phải có lộ trình để các DN có thời gian chuẩn bị.
Liện quan tới vấn đề cấm các DN sản xuất dăm gỗ trên địa bàn chưa được cấp phép hoạt động, Sở KH - ĐT tỉnh Thanh Hóa cho rằng, nhìn chung các cơ sở chế biến, sản xuất dăm gỗ trên địa bàn tỉnh đã cơ bản giải quyết được đầu ra cho người trồng rừng, tạo việc làm cho hàng trăm lao động khu vực nông thôn, góp phần tăng thu ngân sách địa phương. Do vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong việc sản xuất, đầu tư kinh doanh trên địa bàn, UBND tỉnh Thanh Hóa yêu cầu các cơ sở chế biến dăm gỗ chưa được cấp phép sẽ phải có phương án chủ động chuyển đổi ngành nghề kinh doanh khác.
Trong trường hợp, các cơ sở tiếp tục có nhu cầu sản xuất trong lĩnh vực ngành nghề chế biến lâm sản phải hoàn chỉnh hồ sơ thủ tục để được xem xét chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định, trong đó phải bổ sung các dây chuyền chế biến lâm sản tinh, chỉ được tận dụng các loại phế liệu từ bìa bắp,đầu mẫu gỗ, cành ngọn và các loại phế phẩm khác để sản xuất dăm gỗ.
Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa, ông Nguyễn Đình Xứng nêu quan điểm, đối với những cơ sở chế biến dăm gỗ chưa được cấp phép thì cần phải có phương án tháo dỡ hoặc chuyển đối ngành nghề sản xuất. Tuy nhiên, việc tháo dỡ hoặc cấm các DN hoạt động cần phải có lộ trình để các DN có thời gian chuẩn bị. Mặt khác, đối với những DN vẫn còn nguyện vọng tiếp tục chế biến thì phải đầu tư theo chiều sâu, thay vì chỉ băm dăm để bán thì phải tính tới bài toán chuyển đối sang chế biến các sản phẩm từ gỗ như vậy mới nâng cao giá trị sản xuất, tăng tính cạnh tranh – ông Xứng cho biết.
Thừa nhận rằng, việc đầu tư chế biến sâu sẽ giúp nâng cao giá trị kim ngạch, tính cạnh tranh cho ngành nghề. Và việc phát triển bất kỳ ngành nghề nào cũng cần phải có quy hoạch từ nguồn nguyên liệu đến sản xuất tiêu thụ để tạo ra sự phát triển ổn định, tránh tình trạng tranh mua tranh bán.
Tuy nhiên, nếu không có “bột” sẽ rất khó gột nên “hồ”, bởi lẽ, khi tiềm lực kinh tế của DN còn hạn hẹp, mới chuyển đổi từ hộ kinh doanh gia đình cá thể lên DN thì cần phải có thời gian tích lũy vốn, kinh nghiệm, thị trường và điều quan trọng nhất là sự hỗ trợ từ phía cơ quan quản lý về vấn đề tiếp cận vốn, đất đai và các chính sách ưu đãi… Có như vậy, bản thân DN mới yên tâm đầu tư nâng cao chất lượng sản xuất hoặc chuyển đổi ngành nghề kinh doanh. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 5/9) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), Viện Nghiên cứu Quốc tế về Môi trường và Phát triển (IIED) đang kêu gọi các phân tích, nghiên cứu trường hợp và kinh nghiệm để trình bày trong hội thảo khu vực Đông Nam Á với chủ đề “Sự tham gia của người dân bản địa và cộng đồng địa phương trong cuộc chiến chống buồn bán động vật hoang dã bất hợp tác” diễn ra ngày 15 và 16/11/2016.
Hội thảo nhằm khám phá cách tốt nhất để thu hút người bản địa và cộng đồng địa phương sống gần gũi với động vật hoang dã hoặc các tuyến đường thương mại động vật hoang dã bất hợp pháp để chống lại tốt hơn việc buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp (IWT). Đồng thời, nâng cao hiểu biết và hướng dẫn cách người dân bản địa và cộng đồng địa phương có thể được tham gia như những đối tác tích cực trong việc bảo vệ động vật hoang dã với IWT, thông qua việc thu thập và kiểm tra kinh nghiệm khu vực và nghiên cứu trường hợp.
Hội thảo khu vực này được xây dựng dựa trên một hội nghị chuyên đề quốc tế cùng chủ đề được tổ chức tại Muldersdrift (Nam Phi) vào tháng 2/ 2015. Hội nghị chuyên đề này đã nêu bật nhu cầu thăm dò khu vực tập trung nhiều hơn về các vấn đề nhằm đóng góp vào nỗ lực quốc tế đối với việc nâng cao nhận thức cũng như sự quan tâm đến vai trò của người bản địa và cộng đồng địa phương trong hiệu quả chống buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp.
Để chuẩn bị cho hội thảo, BTC đang tìm kiếm các phân tích, nghiên cứu trường hợp, và kinh nghiệm của những nỗ lực liên quan đến người bản địa và cộng đồng địa phương trong việc giải quyết buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp. Đặc biệt, BTC quan tâm đến việc khám phá cách tiếp cận đã làm, những lý do cơ bản cho sự thành công của họ và cách tiếp cận chưa được tìm thấy là có hiệu quả. BTC cũng quan tâm đến các nghiên cứu trường hợp, tài liệu về những tác động đối với người bản địa và cộng đồng địa phương của những nỗ lực bên ngoài để kiểm soát buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp (ví dụ tác động từ chỉ đạo của chính phủ về tuần tra chống săn trộm).
BTC khuyến khích đề xuất cho các bài thuyết trình từ những người là thành viên của dân tộc thiểu số, các cộng đồng địa phương bị ảnh hưởng bởi hoạt động buôn bán bất hợp pháp hoặc tham gia vào giải quyết các hoạt động buôn bán bất hợp pháp; bài thuyết trình từ những người có nhiệm vụ và trách nhiệm của chính phủ (hoặc liên chính phủ) hoặc cam kết tài trợ đại diện để giải quyết tội phạm động vật hoang dã.
Đề nghị trình bày về bất kỳ khía cạnh của chủ đề, nhưng đặc biệt là trong các lĩnh vực sau: Tác động của việc thực thi trên người bản địa và cộng đồng địa phương; Hiểu và định lượng các tác động tiêu cực của tội phạm động vật hoang dã đến sinh kế bền vững và phát triển kinh tế; Tham gia của dân bản địa và cộng đồng địa phương trong việc bảo tồn; Sự tham gia của người bản địa và cộng đồng địa phương trong nỗ lực thực thi pháp luật; Chống săn bắn động vật hoang dã bất hợp pháp trong lãnh thổ dân tộc bản địa và cộng đồng địa phương. (Tài Nguyên Và Môi Trường 5/9) đầu trang(./.
|
|||