Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 05 tháng 09 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Mặc dù còn hơn một tháng nữa mới bước vào mùa khô hanh, nhưng Ban quản lý (BQL) rừng đặc dụng Hương Sơn đã chủ động sẵn sàng mọi phương án đề phòng và đối phó với “giặc lửa”.
Từ khi thành lập đến nay, đơn vị luôn hoàn thành xuất sắc công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Trong đó, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) được đặt lên hàng đầu. Vì vậy, nhiều năm qua, địa bàn do đơn vị quản lý không để xảy ra vụ cháy rừng nào.
Rừng đặc dụng Hương Sơn Hà Nội thuộc loại rừng cảnh quan du lịch, có tổng diện tích 3.760ha, với hệ động, thực vật phong phú, đa dạng. Rừng đặc dụng Hương Sơn có tác dụng cân bằng hệ sinh thái, điều hòa cho một tiểu vùng khí hậu. Trong rừng có quần thể danh thắng Chùa Hương nổi tiếng được Nhà nước xếp hạng Di tích cấp quốc gia đặc biệt. Hàng năm, nơi đây đón hàng triệu lượt du khách về trẩy hội, tham quan, lễ phật. Do lượng du khách đông cũng chính là một trong những nguy cơ tiềm ẩn có thể gây ra cháy rừng.
Với tổng diện tích rừng lớn, lại phân bố trên địa bàn 4 xã của huyện Mỹ Đức, cộng thêm địa hình hiểm trở, nhiều đoạn phải di chuyển bằng đường thủy, đã gây khó khăn không nhỏ cho công tác kiểm tra, bảo vệ rừng. Mỗi khi xảy ra cháy rừng, việc cơ động máy móc, phương tiện chữa cháy rất khó khăn. Đặc biệt, tại vùng chính rừng đặc dụng Hương Sơn có dãy núi gần động Người xưa có một mỏ diêm sinh, khi nhiệt độ lên cao rất dễ phát lửa gây cháy rừng.
Trong rừng vào mùa khô hanh, nước dùng cho sinh hoạt và phục vụ sản xuất rất khó khăn, vì thế khi xảy ra cháy rừng rất thiếu nguồn nước tại chỗ để dập lửa. Anh Lê Văn Cử, cán bộ thuộc BQL rừng đặc dụng Hương Sơn chia sẻ, phía Đông của khu rừng có nguồn nước rất phong phú của dòng suối Yến từ trong núi Hương Tích, Thiên Trù chảy ra Long Vân, Tuyết Sơn rộng khoảng trên 100 ha, kéo dài gần 10km. Nhưng bao quanh là các dãy núi đá vôi rất cao, hiểm trở, nên việc vận chuyển nước phục vụ cho PCCCR là hết sức khó khăn.
Bên cạnh đó, do khu rừng nằm gần khu dân cư, nên người dân thường xuyên vào rừng canh tác. Hiện tại có trên 300 hộ dân làm vườn rừng và có 300 hộ làm nhà ở, lán trại kinh doanh dịch vụ ngay trong rừng. Hàng ngày lượng người ra vào rừng rất lớn, có ngày lên tới 80.000 người, tạo áp lực xâm hại lên tài nguyên rừng, nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao.
Khắc phục những khó khăn trên, BQL rừng đặc dụng Hương Sơn đã tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, canh lửa rừng và nâng cao ý thức của Nhân dân đối với PCCCR. Với phương châm “phòng là chính” nên ngay từ đầu năm, BQL rừng đặc dụng Hương Sơn đã chỉ đạo các hộ dân làm vườn rừng, sản xuất trong rừng, các hộ kinh doanh dịch vụ trong mùa lễ hội, ký cam kết với các thôn có ranh giới giáp với khu rừng.
Thường xuyên chỉ đạo các tổ, nhóm, hộ dân khoán, bảo vệ rừng tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại đến rừng. Đặc biệt là quản lý tốt nguồn lửa, nguồn điện, PCCCR, cháy nổ trong khu vực rừng đặc dụng Hương Sơn. Hàng năm, đơn vị xây dựng kế hoạch hạ cấp vật liệu cháy, làm đường băng cản lửa cho các khu vực xung yếu thường xuyên có nguy cơ cháy.
Trong năm 2015, đơn vị đã tuyên truyền ký cam kết bảo vệ rừng và PCCCR đối với 283 hộ gia đình kinh doanh, sản xuất trong rừng và ven rừng. Tổ chức các lớp nâng cao kiến thức về PCCCR cho cán bộ xã, thôn, xóm phụ trách công tác lâm nghiệp và người dân làm nghề rừng trên địa bàn, mỗi lớp thu hút 60 người. Tuyên truyền ký cam kết với 4 xã về công tác bảo vệ và PCCCR. Phát hành 1.500 tờ rơi, cắm 60 biển, bảng tuyên truyền nội quy, cấp dự báo cháy rừng tại các cửa rừng, nơi có đông người qua lại.
Trong mùa hanh khô, mùa cao điểm lễ hội Chùa Hương, đơn vị đã xây dựng lịch trực PCCCR, đảm bảo luôn có người trực 24/24 giờ, đặc biệt là trong các ngày nghỉ, ngày lễ. Phối hợp cùng các hộ dân khoán bảo vệ rừng thường xuyên tuần tra, kiểm soát rừng. Tuyên truyền người dân sinh sống, sản xuất gần rừng kiểm soát nguồn lửa tránh phát tán ra xung quanh.
Song song với việc vận động người dân không mang lửa vào rừng, BQL rừng đặc dụng Hương Sơn đã phối hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn kiểm tra các khu vực rừng có nguy cơ cháy cao nhằm hướng dẫn các chủ rừng về công tác vệ sinh, chăm sóc rừng trồng và mang các vật liệu dễ cháy ra khỏi phạm vi rừng.
Thường xuyên cử cán bộ bám sát địa bàn, trực 24/24 giờ tại rừng nhằm phát hiện sớm các điểm cháy mới phát sinh, không để xảy ra cháy rừng nghiêm trọng. Hướng dẫn UBND các địa phương có rừng chỉ đạo sát sao lực lượng canh coi cửa rừng, tăng cường tuần tra, kiểm soát những người đi lại sinh hoạt trong rừng, nhằm nâng cao ý thức bảo vệ rừng. Cảnh giới cao việc sử dụng lửa trong mùa khô hanh. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục đến đông đảo người dân.
Nhờ làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, phối hợp tuyên truyền, thời gian qua, BQL rừng đặc dụng Hương Sơn đã thực hiện rất tốt công tác PCCCR. Vài năm trở lại đây, rừng đặc dụng Hương Sơn không xảy ra vụ cháy nào. Có được kết quả này là do đơn vị đã tổ chức đồng bộ việc theo dõi, quản lý chặt chẽ nguồn lửa trong người dân.
Bên cạnh đó, việc đầu tư trang thiết bị, phương tiện, dụng cụ phục vụ công tác bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng cũng được quan tâm. Công tác ứng trực PCCCR được đơn vị thực hiện nghiêm túc. Việc cảnh báo nguy cơ cháy rừng được thực hiện thường xuyên, đảm bảo thông tin kịp thời đến các địa phương, cơ quan, đơn vị, cộng đồng dân cư thông qua nhiều kênh.
Các chủ rừng, các đơn vị có hoạt động sản xuất, kinh doanh trong rừng, ven rừng, các xã có rừng đã được kiểm tra chặt chẽ, yêu cầu khắc phục những thiếu sót trong công tác PCCCR. Hiện tại, BQL rừng đặc dụng Hương Sơn đã được mua sắm trang thiết bị phương tiện, dụng cụ, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác PCCCR như nhà bạt di động phục vụ trực và chữa cháy rừng, máy thổi gió chuyên dụng chữa cháy rừng đeo vai, thiết bị tạo mưa mù chữa cháy, bàn dập lửa chuyên dụng chữa cháy rừng… BQL rừng đặc dụng Hương Sơn đã chủ động xây dựng chương trình tập huấn hướng dẫn các thao tác thực hành, sử dụng một số loại máy móc PCCCR cho cán bộ nhân viên tham gia PCCCR.
Không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ rừng, BQL rừng đặc dụng Hương Sơn còn thực hiện tốt công tác phát triển rừng tại địa phương. Việc chủ động phổ biến, nâng cao kiến thức về PCCCR cho toàn thể Nhân dân và triển khai các biện pháp PCCCR hợp lý sẽ hạn chế thấp nhất tình trạng cháy rừng xảy ra. Về lâu dài, theo ông Nguyễn Duy Giáp - Giám đốc BQL rừng đặc dụng Hương Sơn, công tác PCCCR chỉ thực sự có hiệu quả khi mọi người dân đều coi đó là nghĩa vụ và trách nhiệm của mình.
“Song song với đó, các cấp chính quyền từ xã tới thôn phải vào cuộc và xử phạt nghiêm minh những đối tượng gây ra cháy rừng. Có như vậy “lá phổi xanh” mới được bảo vệ và phục vụ cuộc sống của chính chúng ta” - ông Giáp nói. (Kinh Tế Và Đô Thị 1/9) đầu trang(
Bộ NN&PTNT vừa có văn bản đề nghị các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tăng cường hiệu quả hoạt động của lực lượng kiểm lâm.
Theo đó, để ngăn chặn kịp thời và xử lý dứt điểm tình trạng một số cán bộ, công chức kiểm lâm chưa làm tròn trách nhiệm, có biểu hiện tiêu cực gây bức xúc trong dư luận..., các địa phương chấn chỉnh ngay hoạt động của lực lượng kiểm lâm và khắc phục những thiếu sót, yếu kém trong công tác quản lý bảo vệ rừng; công chức kiểm lâm phải chấp hành nghiêm quy định của ngành như: Mặc đồng phục, đeo cấp hiệu, biển hiệu khi làm việc và tiếp xúc với tổ chức, công dân phải đúng mực; thực hiện đúng trình tự, thủ tục pháp luật; không được đặt ra các yêu cầu ngoài quy định của pháp luật… (Hà Nội Mới 5/9) đầu trang(
4 năm thực hiện đề án quản lý, bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) bền vững giai đoạn 2012 - 2015, định hướng đến 2020, có thể khẳng định rừng Hà Tĩnh gần như được “khai sinh” thêm một lần nữa...
Độ che phủ rừng tăng lên theo từng năm với những con số ấn tượng (từ 49,5% năm 2012 lên 52,34% năm 2015).
Khoảng từ năm 2009 - 2012 hàng loạt vụ lâm tặc phá rừng có tổ chức tại các huyện trọng điểm như Hương Sơn, Hương Khê, Kỳ Anh, Vũ Quang... được phanh phui, đi kèm với đó là hàng trăm, hàng nghìn m3 gỗ quý hiếm các loại bị lâm tặc xẻ thịt không thương tiếc, không ít đối tượng ngay sau đó bị truy tố, lĩnh án tù.
Tuy nhiên, vì lợi ích kinh tế, vì miếng cơm manh áo, hàng chục nghìn hộ dân sống gần rừng vẫn bám rừng mưu sinh, tình trạng phá rừng dù được hạn chế nhưng số vụ việc lấn chiếm đất rừng lại gia tăng.
Để bảo vệ “lá phổi xanh”, tháng 8/2012, UBND tỉnh Hà Tĩnh phê duyệt đề án quản lý, BV&PTR bền vững giai đoạn 2012 - 2015, định hướng đến năm 2020. Theo đó, toàn tỉnh áp dụng mô hình xã hội hóa công tác BV&PTR, trao quyền tự chủ quản lý, BVR vào tay người dân.
Thời gian đầu thực hiện, các cơ quan quản lý nhà nước chẳng biết bắt đầu từ đâu. Nhiều diện tích rừng đã bị khai thác đang nham nhở nên công tác khắc phục hậu quả không phải ngày một ngày hai là làm được, hơn nữa nhận thức của đại bộ phận người dân đang bám rừng mưu sinh bây giờ tuyên truyền để họ tự giác bỏ cưa, bỏ rìu... làm một công việc khác để BVR là cực kỳ khó.
Sau khi họp bàn, thống nhất phương án đến tận thôn xóm, Sở NN-PTNT Hà Tĩnh, đơn vị được UBND tỉnh giao chủ trì thực hiện đề án huy động tổng lực cán bộ, nhân viên phụ trách lĩnh vực lâm nghiệp tỏa xuống cơ sở, phối hợp chính quyền địa phương thực hiện 13 hạng mục của đề án.
Ông Hoàng Quốc Huấn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh chia sẻ, mặc dù các nội dung chính xây dựng trong đề án như: Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức, vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành và người dân; đẩy mạnh hoạt động kiểm tra, ngăn chặn, xử lý các hành vi khai thác, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, chế biến lâm sản trái phép; kiểm soát chặt chẽ nguồn nguyên liệu gỗ đầu vào, đầu ra của các cơ sở chế biến; tập trung ứng dụng khoa học, công nghệ, khuyến lâm; tăng cường quản lý quy hoạch, kế hoạch BV&PTR... Hà Tĩnh đã triển khai từ trước những năm 2009 nhưng do yếu tố khác quan và chủ quan dẫn đến hiệu quả còn hạn chế.
“Trong thời gian thực hiện đề án chúng tôi phải vừa làm vừa tích lũy kinh nghiệm, căn cứ tình hình thực tế cụ thể ở từng địa phương, từng vùng rừng để điều chỉnh các giải pháp. Kết quả sau 4 năm “nếm mật nằm gai”, đề án đã nâng tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh từ 49,5% (năm 2012) lên 52,34% (năm 2015); các chỉ tiêu như số vụ phá rừng, cháy rừng giảm; diện tích rừng trồng tăng, góp phần giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động”, ông Huấn nói.
Để minh chứng cho những kết quả mình nói, ông Huấn viện dẫn thống kê tổng số vụ vi phạm luật BV&PTR năm 2012 là 646 vụ, trong đó, khởi tố hình sự 11 vụ, chống người thi hành công vụ 6 vụ.
Đến năm 2015, tổng số vụ vi phạm giảm còn 328 vụ, khởi tố hình sự 3 vụ, chống người thi hành công vụ 1 vụ. Đối với công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, năm 2012 toàn tỉnh để xảy ra 22 vụ cháy với tổng diện tích thiệt hại gần 39ha và đến thời điểm này (tháng 7/2016) tổng số vụ cháy giảm xuống 12 vụ, diện tích thiệt hại 21ha. Cá biệt như năm 2013, Hà Tĩnh chỉ để xảy ra 1 vụ cháy rừng, diện tích thiệt hại hơn 3ha.
Ngoài việc ngăn chặn các hành vi vi phạm Luật BV&PTR, sau khi thực hiện đề án quản lý, BV&PTR bền vững, tỉnh Hà Tĩnh cũng đã rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch 3 loại rừng (phòng hộ, đặc dụng, sản xuất) đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, gắn với đảm bảo môi trường sinh thái trên địa bàn. Hoàn thành dự án điểm điều tra, kiểm kê rừng theo Quyết định 1240/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó đã xác định được diện tích, ranh giới, hiện trạng rừng gắn với từng chủ quản lý; góp phần phục vụ cho công tác quản lý, BVR.
Quy hoạch hơn 40.000ha rừng sản xuất/7 huyện, gồm Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Hương Khê, Hương Sơn, Vũ Quang và Đức Thọ phục vụ chế biến lâm sản giai đoạn 2011 - 2020, định hướng đến 2030, đảm bảo quy mô rừng trồng tập trung, ổn định đáp ứng nhu cầu cung cấp nguyên liệu gỗ cho các nhà máy chế biến trên địa bàn và xuất khẩu.
Ra quân tháo dỡ, cắt điện 244/244 cơ sở cưa xẻ; 38 cơ sở sản xuất mộc; 2 cở sở chế biến dăm; 1 dây chuyền chế biến dăm gỗ không đảm bảo tiêu chí, không đúng quy hoạch; giám sát chặt chẽ các cơ sở chế biến lâm sản trên địa bàn theo đúng quy định pháp luật.
Đối với bộ máy quản lý BV&PTR, thực hiện đề án tinh giản biên chế theo hướng tinh gọn, đồng bộ, tỉnh Hà Tĩnh thành lập Chi cục Kiểm lâm trên cơ sở sáp nhập 2 Chi cục: Kiểm lâm và Lâm nghiệp cũ; giảm số lượng BQL rừng đặc dụng, phòng hộ từ 9 ban xuống còn 7 ban; đồng thời, cắt chuyển diện tích rừng phòng hộ tập trung của các Cty lâm nghiệp Chúc A (Hương Khê) và Hương Sơn chuyển về các cho BQL rừng phòng hộ quản lý, sử dụng nhằm đảm bảo công tác BVR hiệu quả hơn.
Ông Lê Tiến Cát, Giám đốc Cty TNHH MTV Lâm nghiệp và dịch vụ Hương Sơn cho hay, sau khi thực hiện chủ trương đóng cửa rừng, Cty phải trải qua bao phen sóng gió vì thiếu tiền. Tuy nhiên, xác định nhiệm vụ chính của đơn vị là BVR, Cty tự đứng lên bằng việc đầu tư xây dựng mô hình sản xuất ngoài lâm nghiệp như trồng cây dược liệu, sản xuất gạch, chăn nuôi lợn... để tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.
Xã hội hóa BVR cũng không thể thiếu vai trò của người dân. Thay vì để bà con sống gần rừng tự “bắt cá”, dựa vào khai thác lâm sản, săn bắt động vật phục vụ cuộc sống, cuối năm 2013 tỉnh Hà Tĩnh chuyển hướng sang trao “cần câu” cho họ thông qua đề án giao giao đất, cho thuê đất gắn với giao rừng, cho thuê rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, giai đoạn 2013 - 2015. Kể từ đó, người dân được tự chủ làm kinh tế trên hàng chục nghìn ha đất lâm nghiệp nhưng có sự quản lý chặt chẽ của cơ quan quản lý nhà nước.
Ông Phan Thanh Tùng, Trưởng phòng BVR & bảo tồn thiên nhiên (Chi cục kiểm lâm Hà Tĩnh) cho biết, sau hơn 2 năm thực hiện đề án giao đất, giao rừng, đến thời điểm này 138 xã/12 huyện, thị xã, thành phố đã thực hiện giao đất, giao rừng, cấp giấy CNQSDĐ với tổng diện tích 44.124ha cho hơn 17.200 hộ, cộng đồng (đạt 99,6% kế hoạch). Hiện diện tích rừng, đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh cơ bản đã có chủ quản lý, chỉ còn một số ít diện tích đất ao hồ, sông suối, bãi cát, trùng các quy hoạch khác; diện tích còn tranh chấp lấn chiếm là chưa được giao.
“Kết quả giao đất, giao rừng trên nhận được sự đồng thuận rất lớn của chính quyền các cấp, đặc biệt là người dân vùng rừng. Khi có đất trong tay, bà con xem đó là tài sản của mình, yên tâm đầu tư kinh phí để tổ chức sản xuất, tạo việc làm ổn định, góp phần xóa đói giảm nghèo hiệu quả; đồng thời, tạo ra một bước phát triển vững chắc trong xã hội hóa nghề rừng, huy động tối đa mọi thành phần kinh tế và các tầng lớp nhân dân tham gia BVR”, ông Tùng nhấn mạnh thêm.
Cũng theo Trưởng phòng BVR & bảo tồn thiên nhiên, thông qua việc thực hiện đề án quản lý, BV&PTR, từ năm 2012 - 2015 toàn tỉnh Hà Tĩnh trồng mới được hơn 23.000ha rừng tập trung; trồng 18 triệu cây lâm nghiệp phân tán; chuyển hóa rừng giống 100ha; khoán BVR hơn 515.000ha... với tổng kinh phí thực hiện hơn 453,6 tỷ đồng. (Nông Nghiệp Việt Nam 4/9) đầu trang(
Ngày 2.9, Đại tá Lê Phương Nam, Trưởng Công an huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị) cho biết, đã có Quyết định số 24 và 25 về việc khởi tố vụ án hủy hoại rừng tại tiểu khu 558 và 585.
Các tiểu khu này thuộc xã Vĩnh Hà (huyện Vĩnh Linh), xảy ra tình trạng phá rừng nghiêm trọng vào ngày 15.3.2016 và 7.2016. "Trong đó, vụ phá rừng xảy ra vào tháng 7.2016 ở xã Vĩnh Hà vừa có quyết định khởi tố, bắt nguồn từ thông tin do Báo Lao Động cung cấp" - Đại tá Lê Phương Nam, nói. Riêng tình trạng phá rừng xảy ra ở xã Vĩnh Ô mà Báo Lao Động phản ánh, đại tá Nam cho biết Công an huyện đang tiếp tục điều tra.
Trước đó, tháng 7.2016, Báo Lao Động đã khởi đăng loạt bài điều tra "Quảng Trị, công khai đốn hạ gỗ trong rừng phòng hộ: Theo dấu lâm tặc; Tự lê liệt, những người giữ rừng mặc rừng bị tàn sát".
Loạt bài này phản ánh tình trạng các cánh rừng tự nhiên thuộc lâm phần Ban Quản lý rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải (huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) đang “chảy máu” ồ ạt  từng ngày. Lâm tặc đưa ôtô, xe trâu, cưa máy vào rừng, cây lớn, cây bé bị triệt hạ nằm ngổn ngang khắp các lối đi, trên triền đồi, giữa những vực sâu bạt ngàn, mọi việc diễn ra như thể khu rừng này chưa bao giờ có chủ.
Sau khi báo nêu, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có công văn khẩn, yêu cầu báo cáo, xử lý tình trạng phá rừng nêu trên. UBND tỉnh Quảng Trị đã tổ chức họp các ban ngành liên quan để xác minh thông tin và khẳng định việc phá rừng xảy ra ở huyện Vĩnh Linh như báo nêu là sự thật. Ngay tại kỳ họp thứ 2 - HĐND tỉnh Quảng Trị khóa VII, nhiệm kỳ 2016-2021, các đại biểu đã có ý kiến về tình trạng phá rừng nghiêm trọng ở huyện Vĩnh Linh, và yêu cầu các đơn vị liên quan làm rõ mức độ phá rừng, trách nhiệm của các đơn vị liên quan.
Hiện tại, ngoài việc luân chuyển công tác một số cá nhân liên quan đến sai phạm và ra quyết định khởi tố vụ án, cơ quan chức năng tỉnh Quảng Trị vẫn đang trong quá trình điều tra, để có cơ sở xử lý. Trong lúc đó, lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh; Chi cục Kiểm lâm tỉnh; UBND huyện Vĩnh Linh khẳng định, sẽ xử lý nghiêm những cá nhân để xảy ra tình trạng này.
"Phải kỷ luật, xử lý nghiêm những đồng chí kiểm lâm chốt chặn ở các trạm, bởi anh không cho gỗ lậu về thì không thể về được. Chứ không thể chỉ luân chuyển từ trạm này sang trạm khác.Sai phạm thì phải cho nghỉ việc, làm gương để những cán bộ khác noi theo" - ông Trần Hữu Hùng - Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Linh nêu ý kiến. (Lao Động 2/9) đầu trang(
Nhiều người dân ở Cà Mau cho biết có một công ty thuê họ đi nhổ hàng chục ngàn cây mắm non rồi dùng ghe chở đi đâu không rõ. Việc làm này đang gây tổn hại đến hệ sinh thái Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, khu dự trữ sinh quyển của thế giới. Trong khi đó, Sở NN&PTNT tỉnh Cà Mau khẳng định chưa từng cho phép ai làm việc đó.
Khoảng một năm nay, chúng tôi đã một vài lần nghe đồn về một nghề lạ vừa xuất hiện tại Mũi Cà Mau: Đi nhổ cây mắm rừng non đem về ươm rồi bán lại. Dân Đất Mũi nói Ba Đào là người đầu tiên quyết chí làm giàu bằng cái nghề ấy. Nhưng chẳng bao lâu Ba Đào bỏ nghề quay về xóm vì giàu đâu không thấy, chỉ thấy “lỗ sặc máu”.
Ông Ba Đào kể với chúng tôi: Đúng lý ra cái nghề đó dễ ăn, một vốn bốn lời bởi “Cây mắm rừng ở ngoài bãi bồi muốn bao nhiêu triệu cây mà chẳng có. Nhưng ngặt cái mấy tay thu mua buộc mình phải tự ươm vào bọc nylon, để một tuần nếu cây sống thì mới mua với giá 2.000 đồng/cây. Mình không rành kỹ thuật, ươm 10 cây chết hết tám, thế là lỗ nặng”.
Ông Ba Đào chép miệng nói số ông vẫn may mắn vì thấy không ngon ăn nên bỏ chạy sớm, lỗ chẳng bao nhiêu. Chứ như ông Tư Chiến ở Cái Mồi, xã Đất Mũi mới khổ, suýt tự tử và nay phải bỏ xứ qua Kiến Vàng, xã Tân Ân, Ngọc Hiển giữ vuông tôm thuê. Gặp chúng tôi, ông Tư Chiến cười, xác nhận: “Có chuyện đó thiệt. Không nhờ đứa con gái út cứu thì tôi chết thật rồi”.
Đó là vào tháng 6-2015, ông Tư Chiến tình cờ nghe ông Bảy Tài (Lữ Phước Tài) ở Kiến Vàng vừa nhận một hợp đồng cung ứng 70.000 cây giống mắm. Đang rảnh, ông Tư Chiến đến gặp ông Bảy Tài xin nhận thầu 10.000 cây. Về nhà ông gom hết vàng, vòng tích cóp của gia đình, đi vay mượn thêm anh em, con cháu để bắt đầu mần ăn.
Vợ ông Tư không chịu, khuyên chồng đừng dính vào bởi “làm ăn kiểu gì mà không có hợp đồng, giấy tờ gì cả. Người mua nghe đâu ở ngoài Bắc vào, nếu mình làm rồi họ không đến lấy thì sạt nghiệp. Chưa nói là ông không biết gì về kỹ thuật, ươm không đạt lỗ chết”. Mặc vợ cản, ông Tư Chiến quyết làm, còn mạnh miệng thề độc nếu thất bại sẽ nhảy sông Năm Căn tự tử.
Và đúng như bà Tư dự đoán, ông đã thất bại thảm hại, mất toi 40 triệu đồng và chín  tháng trời khổ cực. “Làm hoài không thành công, tôi dốc toàn sức lực quyết chí làm giàu một phen cuối cùng khi mướn đất vuông tôm làm thành cái bãi ươm lớn 3.000 m2, thuê nhân công bứng cây mắm ngoài bãi bồi về để ươm. Tôi ươm, chăm sóc trên 50.000 cây nhưng thu hoạch chỉ được 9.000 cây” - ông Tư Chiến kể lại. Con gái ông thấy cha thất bại, sợ ông làm liều nên vội về Cà Mau khuyên nhủ, đồng thời năn nỉ mẹ xuất tiền cho ông trả nợ…
Được biết từ tháng 2-2016, nhóm ông Bảy Tài không còn làm giống nữa do những người mua cây phát hiện nếu làm ở khu vực bãi bồi ở Đất Mũi giá cả vận chuyển rẻ hơn. Và từ đó, ngay vùng lõi của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau người ta hình thành cả một khu ươm cây mắm giống…
Theo chỉ dẫn của người dân, chúng tôi tìm đến một khu ươm giống cây mắm ngay vùng lõi Vườn quốc gia Mũi Cà Mau. Tại đây, hàng chục ngàn cây mắm non, loại cao 80 cm trở lên đã được vô bầu, để dọc theo hai bên bìa rừng cặp một con kênh dài gần 1 km. Một chiếc ghe lớn đang chất đầy cây mắm non chuẩn bị chở đi. Những người trên ghe cho hay chủ ghe kêu chở thì đến chở chứ không biết ai mua, ai bán cây mắm giống cả. Chúng tôi hỏi cây này được chở đi đâu, những người này im lặng không trả lời rồi bỏ vào ghe.
Ông Sáu Tâm, xã Đất Mũi, kể: “Tôi được họ (những người thu mua cây mắm - PV) thuê từ tháng 4-2016. Cả nhà tôi ba người đi ra bãi bồi nhổ cây mắm non vô bầu và cho vào khu vườn ươm bên bìa rừng. Khoảng hai tháng sau họ đưa ghe đến chở đi, cứ mỗi cây sống tôi được 2.000 đồng. Nhà tôi làm được 4.500 cây, chết hết hơn 1.000 cây, nên tôi chỉ được trả khoảng 6 triệu đồng”.
Ông Sáu Tâm cũng xác nhận bây giờ họ không thuê người dân địa phương nữa mà đi thuê người từ các nơi khác về làm. Anh Nguyễn Văn Giang, nhà ở xã Tân Phú, huyện Thới Bình, Cà Mau cho hay được nhóm người nói tiếng Bắc đến thuê anh cùng sáu người nữa vào Vườn quốc gia Mũi Cà Mau nhổ và trồng cây mắm.
“Chúng tôi làm được 14.000 cây. Cứ ra bãi bồi nhổ cây mắm non cao 8 tấc rồi đem vô trồng lại ở một bãi bồi khác cách đó 6-7 km. Cứ một cây sống sau một tuần, chúng tôi được trả 1.300 đồng” - anh Giang kể.
Trò chuyện với chúng tôi, hầu hết người dân cho hay việc nhổ cây mắm từ vùng lõi Vườn quốc gia Mũi Cà Mau có liên quan đến một công ty ở Hà Nội. Công ty này đang thực hiện các dự án trồng rừng lấn biển tại địa bàn các tỉnh ven biển miền Tây. Tuy nhiên, lãnh đạo Sở NN&PTNT tỉnh Cà Mau, Chi cục Kiểm lâm và ban giám đốc Vườn quốc gia Mũi Cà Mau đều khẳng định chưa cho phép cá nhân hoặc tổ chức nào nhổ cây rừng non ở khu sinh quyển Mũi Cà Mau.
Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, ông Phan Quốc Khải, Giám đốc Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, khẳng định qua kiểm tra thì không phát hiện việc nhiều người dân ra bãi bồi nhổ cây mắm non như PV phản ảnh. Còn khu vực ươm cây ở gần bãi bồi là của Công ty CP Xây dựng và Sinh thái, Thủy lợi ở Hà Nội vô làm. Theo ông Khải, làm việc với ban giám đốc vườn, đại diện công ty đã thừa nhận có thuê người nhổ khoảng 300 cây mắm non cao 70-80 cm ở Vườn quốc gia Mũi Cà Mau để thử nghiệm chứ không có chuyện nhổ hàng chục ngàn cây.
PV đặt câu hỏi: Hiện có nhiều ghe loại trên 30 tấn đang cho chuyển cây non ra khỏi khu sinh quyển, vậy số cây này từ đâu ra? Ông Khải trả lời: “Đại diện công ty nói đây là số cây trồng thừa nên chở đi trồng ở các tỉnh khác. Số cây này từ vườn ươm cây ngập mặn ở xã Bình Sơn, huyện Hòn Đất, Kiên Giang chở về đây với số lượng 35 vạn cây nhưng chỉ trồng hết 28 vạn, còn thừa bảy vạn nên chở đi nơi khác”. Ông Khải cũng khẳng định công ty chở cây giống vào ra khu vực Vườn quốc gia Mũi Cà Mau đều được vườn theo dõi trên sổ sách, có chứng từ đầy đủ.
Để tường tận vụ việc, PV đã tìm đến xã Bình Sơn, huyện Hòn Đất tìm hiểu nhưng trên thực tế chẳng có vườn ươm nào mang tên như Công ty CP Xây dựng và Sinh thái, Thủy lợi đã cung cấp cho ông Khải. Ở đây chỉ có các khu vườn ươm tự phát của người dân địa phương.
Ông Lâm Téng, một chủ vườn ươm tự phát cho biết: “Năm ngoái tôi có bán cho Công ty CP Xây dựng và Sinh thái, Thủy lợi 20 vạn cây mắm giống. Khi đó tôi biết họ mua để trồng ở các bãi biển của Kiên Giang này. Còn năm nay tôi bán cho họ có ba vạn cây thôi. Họ đặt nhiều hơn nhưng không hiểu sao lại không lấy. Giá ở đây là 5.000 đồng/cây”.
Ông Téng cũng thú thật mình chỉ là hộ ươm cây tự phát, bán không có chứng từ, hóa đơn, kiểm định chất lượng. Trò chuyện với ông, chúng tôi phát hiện cây giống do người dân Bình Sơn ươm có hình thù khác hẳn cây giống mà Công ty Xây dựng và Sinh thái, Thủy lợi đã chở đi khỏi Vườn quốc gia Mũi Cà Mau.
Theo ông Téng giải thích: “Cây ở đây chúng tôi ươm từ hạt mắm hoặc cây non mới ra hai lá. Nên khi xuất bán nó có rất nhiều nhánh rẽ, rất dễ phân biệt với giống lấy từ tự nhiên là cây thẳng, chỉ một thân, không có nhánh nào và nhìn rất yếu”.
Việc hàng chục người dân được thuê đi nhổ mắm non tại Vườn quốc gia Mũi Cà Mau với số lượng hàng chục ngàn cây là một sự thật được Pháp Luật TP.HCMghi nhận từ thực tế cũng như từ chính những người trong cuộc. Do vậy, cơ quan chức năng của tỉnh Cà Mau cần sớm vào cuộc làm rõ số lượng cây được nhổ đã đi về đâu và những người thuê nhổ có mục đích gì.
Ngày 30-8-2016, ngay khi PV Pháp Luật TP.HCM thông báo về tình trạng nêu trên, ông Nguyễn Tiến Hải, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, đã gọi điện thoại yêu cầu ông Lê Văn Hải, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau, kiểm tra ngay sự việc.
“Đó là khu sinh quyển thế giới, được bảo vệ nghiêm ngặt, mọi hoạt động trái phép xâm hại đến nguồn đa dạng sinh học khu vực này phải được ngăn chặn ngay và xử lý nghiêm minh” - ông Nguyễn Tiến Hải nhấn mạnh.
Vườn quốc gia Mũi Cà Mau được thành lập từ năm 2003. Ngày 26-5-2009, vườn được UNESCO đưa vào danh sách các khu dự trữ sinh quyển. Ngày 13-4-2013, vườn trở thành khu Ramsar thứ 2.088 của thế giới, thứ hai tại đồng bằng sông Cửu Long và thứ năm của Việt Nam. (Pháp Luật TP.HCM 2/9) đầu trang(
Huyện vùng cao Sơn Tây, Quảng Ngãi được biết đến là địa phương có diện tích rừng tự nhiên lớn của tỉnh Quảng Ngãi. Đây được xem là “điểm nóng” của các vụ phá rừng, trong đó có cả rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; trong khi chính quyền địa phương còn đang lúng túng trong cách xử lý, giải quyết.
Diện tích rừng bị phá với thân keo cháy đen, đường kính rộng từ 20 - 40 cm đổ la liệt bởi những vết cưa còn mới trên các tiểu khu 171, 172 thuộc rừng phòng hộ đầu nguồn Thạch Nham, thuộc xã Sơn Tinh, huyện Sơn Tây. Số gỗ keo là cây trồng phụ trợ được Dự án JIBIC trồng từ năm 2005 và giao lại cho Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Thạch Nham quản lý để tạo bóng mát cho giống chủ đạo là lim xanh, dầu rái.
Ông Bùi Văn Ba, Chủ tịch UBND xã Sơn Tinh, huyện Sơn Tây cho biết: Bà con, nhân dân trong xã và ngoài xã lấn chiếm rừng phòng hộ, ngoài ra nhiều người phá rừng thuộc rừng phòng hộ. Mà nguyên nhân thì chủ yếu một số người dân thiếu đất lấn lấn chiếm rừng hộ. Hoặc là sau khi lấn chiếm thì chuyển đổi qua hộ khác.
Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm huyện Sơn Tây, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện xảy ra 7 vụ phá rừng phòng hộ với tổng diện tích rừng bị xâm hại trên 16 ha, tập trung chủ yếu tại hai xã Sơn Tinh (gần 10 ha) và xã Sơn Lập (6 ha).
Anh Đinh Văn Báo  - Trưởng Công an xã Sơn Lập, huyện Sơn Tây cho hay: Họ lấy rựa phát nhiều khu vực mấy trăm mét, rựa hạ cây và đốt rẫy. Một số thiếu đất do họ mới tách hộ nên phá rừng lấy đất trồng trọt.
Không chỉ rừng phòng hộ bị chặt phá mà ngay cả rừng tự nhiên cũng bị lâm tặc hạ chở về xuôi. Cụ thể là 50 m3 gỗ có tuổi thọ lên đến hàng chục, hàng trăm năm tại xã Sơn Long đã bị đốn hạ, khi lực lượng chức năng phát hiện thì nửa số gỗ này đã được “tuồn” ra khỏi rừng trót lọt.
Hiện nay chính sách quản lý, bảo vệ rừng chưa thật sự đồng bộ, giữa các địa phương còn có tình trạng đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Việc quy hoạch rừng phòng hộ tồn tại nhiều điểm bất cập, đây chính là một trong những nguyên nhân khiến rừng bị xâm phạm.
Ông Bùi Văn Ba cho biết thêm: Chúng tôi đề nghị huyện ủy, UBND huyện chỉ đạo Tòa án nhân dân huyện Sơn Tây xử lý lưu động vụ án phá rừng ở Sơn Lập về tại xã Sơn Tinh để bà con thấy việc xử lý của pháp luật mà nâng cao nhận thức. Ngoài ra chúng tôi phối hợp các địa phương tổ chức hội nghị giáp ranh giữa các xã Sơn Thượng, Sơn Thủy, Sơn Màu, Sơn Lập, Sơn Tinh để thống nhất bảo vệ rừng cho hiệu quả chặt chẽ hơn.
Hiện toàn xã Sơn Tinh có 600 hộ dân, trong đó có 48 hộ tham gia bảo vệ rừng. Hạt Kiểm lâm huyện Sơn Tây đã phân công lực lượng túc trực thường xuyên, kể cả trong dịp nghỉ lễ; bám sát các địa bàn trọng yếu để ngăn chặn kịp thời khi có sự cố xảy ra.
Chính quyền địa phương và ngành chức năng sẽ phối hợp với chủ rừng thực hiện giải pháp căn cơ là cho đồng bào trồng các loại cây có giá trị như sa nhân, sâm… dưới tán rừng để hưởng lợi theo tỷ lệ ăn chia phù hợp. Từ đó, người dân có ý thức giữ gìn rừng phòng hộ. (ANTV 5/9) đầu trang(
Sáng ngày 2/9, trao đổi với Báo Giao thông, Trung tá Nguyễn Trung Thành, Đội trưởng Đội CSGT số 6, Phòng CSGT Công an TP Hà Nội cho biết, đơn vị đã bàn giao tài xế Nguyễn Tấn Hiệu và Hà Nhật Long (Cả 2 đều ở tỉnh Tuyên Quang) cùng phương tiện, tang vật cho Hạt Kiểm lâm Thường Tín phụ trách tuyến đường để xử lý theo thẩm quyền.
Trung tá Thành nói, vụ việc xảy vào trưa ngày 1/9, tổ công tác Đội CSGT số 6 gồm Đại úy Trần Văn Túc, tổ trưởng và Trung úy Nguyễn Cao Sơn làm nhiệm vụ phân luồng giao thông tại khu vực ngã tư Cổ Nhuế - Phạm Văn Đồng (quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội) phát hiện chiếc xe biển xanh mang BKS 22C-0250 có dấu hiệu nghi vấn, nên cảnh sát đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra.
Tại thời điểm kiểm tra, lực lượng CSGT phát hiện kính trước của chiếc xe bị vỡ, xe hết thời hạn đăng kiểm. Tiếp tục kiểm tra bên trong, lực lượng CSGT phát hiện rất nhiều khối gỗ tròn (đường kính 55cm, dày từ 20-30cm) và trên xe có 1 bộ biển số màu xanh 80B-001.78 và 1 biển số màu xanh 22C-0108.
Cùng thời điểm trên, tài xế không xuất trình được GPLX và giấy tờ chứng minh nguồn gốc số gỗ nêu trên. Đồng thời, đưa ra 1 giấy đăng ký xe không còn nguyên vẹn mang BKS 22C-0108, chủ sở hữu là Văn phòng UBND tỉnh Tuyên Quang.
Kiểm tra hành chính, tài xế điều khiển chiếc xe trên là Nguyễn Tấn Hiệu (30 tuổi, trú tại phường Ỷ La, TP Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang) và Hà Nhật Long (25 tuổi, trú tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang) đi cùng xe tự nhận số gỗ trên là của mình.
Tại chốt kiểm tra, anh Long cho biết mua số gỗ nghiến trên tại huyện Na Hang (Tuyên Quang) rồi thuê Hiệu chở đi Bắc Ninh tiêu thụ, từ Tuyên Quang về qua rất nhiều trạm nhưng đến Hà Nội thì bị bắt giữ.
Hỏi về nguồn gốc những biển xe xanh kia, Hà Nhật Long thừa nhận biển số xanh 80B-001.78 và 22C-0250 là biển giả. Hỏi những biển xanhkhác để ở trên xe với mục đích gì. thì Long ấp úng cho biết: “Chẳng biết trẻ con vứt lên xe lúc nào…!?”.
Trung tá Thành cho biết, Đội CSGT số 6 đã tiến hành các thủ tục cần thiết để bàn giao người, phương tiện và tang vật cho lực lượng kiểm lâm của Hà Nội. (Giao Thông 2/9) đầu trang(
Công an huyện Di Linh (Lâm Đồng) vừa ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố các bị can trong vụ khống chế, đe dọa lực lượng chức năng, cướp chìa khóa để tháo còng giải thoát cho lâm tặc.
Các đối tượng bị khởi tố gồm Nguyễn Đình Tỏ (26 tuổi, ngụ ở tổ dân phố 19 thị trấn Di Linh), Chu Văn Thạnh (36 tuổi), Nguyễn Văn Hạnh (32 tuổi), Đinh Văn Cường (31 tuổi), Đinh Văn Tâm (30 tuổi) và Đinh Văn Toản (25 tuổi) cùng trú tại thôn Hàng Hải, xã Gung Ré, Di Linh. Trước đó, Công an huyện Di Linh đã bắt giam các đối tượng để điều tra về hành vi chống người thi hành công vụ.
Như Tiền Phong đã thông tin, khoảng 7 giờ ngày 1/7, tổ tuần tra bảo vệ rừng gồm 5 cán bộ, nhân viên Ban quản lý rừng phòng hộ Hòa Bắc-Hòa Nam cùng một số hộ dân nhận khoán quản lý bảo vệ rừng tiến hành tuần tra tại tiểu khu 687B. Tổ phát hiện nhóm lâm tặc và bắt giữ được 1 đối tượng, còng tay lại.
Một lát sau, nhóm lâm tặc quay lại dùng gậy và dao phát bao vây tổ công tác, mang can xăng ra dọa đốt những người giữ rừng. Thấy anh Nông Văn Vích cầm chìa khóa còng, 3 đối tượng đã áp sát khống chế cướp chìa khóa, mở còng giải thoát cho đồng bọn.
Kiểm tra hiện trường, Ban quản lý rừng phòng hộ Hòa Bắc-Hòa Nam phát hiện tại khoảnh 2 có 3 cây xoan đào đường kính từ 55-60cm bị cưa hạ, xẻ gỗ tại chỗ. Nhiều hộp gỗ đã bị tẩu tán, hiện trường chỉ còn lại 8 hộp.
Hiện đối tượng được giải thoát là Đinh Văn Tuấn (29 tuổi) đang lẩn trốn nên cơ quan chức năng tiếp tục truy bắt. (Tiền Phong 4/9) đầu trang(
Bên cạnh tình trạng phá rừng chiếm đất để canh tác, Gia Lai hiện vẫn còn có những khu rừng xanh ngát được dân làng tận tâm ngày đêm bảo vệ...
Khi những con gà rừng chưa kịp cất tiếng gáy báo hiệu một ngày mới, người dân làng Pẹk, xã Ia Bă (huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai) đã tập trung đông đủ, trật tự trước nhà rông nằm ở giữa làng. Đứng phía trên đối diện với dân làng, Kpuih HNghinh và Kpuih Hlu đang cúi gằm mặt, không dám nhìn về phía đám đông.
Già làng Kuih Nhen thông báo với dân làng, hai người này đã lấn chiếm đất rừng, lén lút xâm hại rừng mà cộng đồng làng đã hợp đồng nhận khoán quản lý bảo vệ để lấy đất làm rẫy. Trước sự thành khẩn hối lỗi của HNghinh và Hlu, già làng Kpuih Nhen cùng dân làng quyết định trừ tiền dịch vụ môi trường rừng của những hộ này, mua cây giống bắt họ trồng lại khoảnh rừng đã phá đó.
Già làng Nhen cho hay, nhiều năm nay cộng đồng làng Pẹk hợp đồng nhận khoán bảo vệ hơn 2.228ha rừng từ Ban Quản lý rừng phòng hộ Bắc Ia Grai (huyện Ia Grai, Gia Lai). Hơn 205 hộ dân làng Pẹk từ lâu đã xem việc giữ rừng như một phần không thể tách rời trong đời sống sinh hoạt và lao động của mình. Nếu người dân nào cố tình vi phạm sẽ bị luật làng phân xử.
Cũng như làng Pẹk, gần 100 đàn ông, người lớn của làng Klah (xã Kon Chiêng, huyện Mang Yang, Gia Lai) chia thành 5 tổ (mỗi tổ từ 16 - 20 người) thay phiên nhau đi tuần tra bảo vệ rừng. Từ nhiều năm nay, khi làng được giao khoán quản lý, bảo vệ gần 400 ha rừng (hình thức giao đất, giao rừng, được UBND huyện cấp bìa đỏ) thì những chuyến đi tuần tra rừng trở nên quen thuộc với người dân làng Klah.
Cũng nhờ thường xuyên tuần tra bảo vệ, đầu năm 2016, dân làng Klah kịp thời phát hiện vụ xâm chiếm đất rừng với quy mô gần 3ha, thu giữ ba xe máy và hai cưa máy. Ông Đinh Chưng - người dân trong nhóm bảo vệ rừng chia sẻ: “Lúc trước, vào ngày 15 và 30 hàng tháng, chúng tôi tổ chức đi tuần. Tuy nhiên, những kẻ có ý đồ xấu nhanh chóng nắm bắt được quy luật này nên thỉnh thoảng rừng vẫn bị xâm hại vào thời điểm trước và sau khi chúng tôi đi tuần tra. Rút kinh nghiệm, người dân làng Klah không quy định ngày cụ thể mà có thể đi bất cứ lúc nào, thời điểm nào mà trưởng nhóm thông báo”.
Ông Võ Đình Huy, Phó chủ tịch UBND xã Kon Chiêng (huyện Mang Yang, Gia Lai) đánh giá: Tính cộng đồng của người dân trong việc giữ rừng rất cao, đặc biệt là những hộ dân sống gần rừng. Mỗi khi rừng bị xâm hại, những hộ dân này sẽ nhanh chóng phát hiện và thông báo tới chính quyền địa phương.
“Diện tích rừng được người dân làng Klah bảo vệ luôn giữ được màu xanh tốt, không cây nào bị xâm hại. Chúng tôi đã khảo sát và sắp tới sẽ đề xuất nhân rộng mô hình này bằng hình thức ký hợp đồng giao khoán đối với cộng đồng người dân hai làng Ktu và Deng”, ông Huy cho biết.
Rừng được bảo vệ, đời sống người dân cũng được nâng lên nhờ vào số tiền chi trả từ dịch vụ môi trường rừng. Được biết, xã Kon Chiêng đang quản lý bảo vệ hơn 1.200ha rừng.
“Diện tích rừng lớn nhưng lực lượng giữ rừng lại mỏng, chủ yếu là các cán bộ đoàn thể của xã kiêm nhiệm nên việc tuần tra bảo vệ rừng không được thường xuyên và hiệu quả bằng người dân. Chỉ có sức mạnh cộng đồng thì rừng mới không bị xâm hại. Rừng được giữ cũng nhờ vào chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng hỗ trợ kịp thời cho người dân”, ông Huy khẳng định.
Tương tự, ông Nguyễn Trường Hải, Trưởng ban quản lý Rừng phòng hộ Bắc Ia Grai (huyện Ia Grai, Gia Lai) xác nhận: Chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đã góp phần tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân sống gần rừng, nhất là đối với người dân tộc thiểu số. “Qua kiểm tra rừng tại các làng nhận giao khoán, chúng tôi cho rằng nên tăng cường việc giao khoán đối với các hộ dân sống gần rừng, người dân vừa có thu nhập mà môi trường sinh thái rừng cũng bền vững hơn”.
Theo ông Hải, trong diện tích gần 15.000ha rừng cung ứng đã hợp đồng giao khoán cho 6 làng trên địa bàn huyện với diện tích hơn 7.604ha, trong đó làng Pẹk có diện tích lớn nhất với 2.228ha. Đặc biệt, ở những khu vực rừng gần dân, gần làng, nơi xung yếu, dễ bị xâm hại, Ban quản lý cũng tin tưởng giao khoán cho người dân.
Bàn về vấn đề này, ông Võ Văn Hạnh, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Gia Lai nhận định: Hiện, số diện tích rừng giao cho UBND các xã quản lý còn lớn, xấp xỉ 150.000ha, song lại chưa đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong công tác quản lý bảo vệ rừng. “Nếu việc giao khoán cho người dân thật sự hiệu quả, chúng tôi đề nghị thu hồi một phần diện tích rừng ở một số UBND xã giao cho người dân quản lý, bảo vệ”, ông Hạnh nói. (Giao Thông 1/9) đầu trang(
Với quan niệm “rừng còn làng còn” nên nhiều năm nay khu rừng lộc vừng hàng trăm năm tuổi vẫn được người dân bảo vệ nghiêm ngặt, điều đáng nói ngoài những chế tài của pháp luật về bảo vệ rừng, còn có các hình phạt về đạo đức đối với những người xâm hại đến khu rừng này.
Làng Siêu Quần, xã Phong Bình (huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế) cách trung tâm thành phố Huế khoảng hơn 40km, nhìn tổng thể thì ngôi làng này cũng như bao ngôi làng khác ở ngoại ô thành phố Huế. Thế nhưng ít ai biết rằng ngôi làng này đang ra sức bảo vệ khu rừng lộc vừng hàng trăm năm tuổi nằm trong khuôn viên của làng bằng một cách “xưa nay hiếm”.
Chúng tôi đến khu rừng lộc vừng cua làng Siêu Quần vào một ngày giữa tháng 8, khác hẳn với cái nóng oi bức khi đi từ quốc lộ 1A, bước vào trong làng một cảm giác mát mẻ tỏa ra từ khu rừng lộc vừng.
Dẫn chúng tôi tiến vào khu rừng, cụ Nguyễn Bá Hiệp, Trưởng làng Siêu Quần kể lại rằng,  làng Siêu Quần khi xưa thuộc phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hóa, vốn là điểm cuối của vùng đất mà Vua Chăm dâng Đại Việt, được lập ra vào năm 1306. Những bậc tiền hiền của làng đã trồng cây lộc vừng tổ trên đất chùa của làng. Sau khi đắp đê ngăn mặn, nhận thấy cây lộc vừng có những đặc tính hợp với thổ nhưỡng, họ đã quyết định chọn giống cây này trồng đại trà trên những con đê để giữ đất, chắn sóng.
Dứt lời, vị bô lão của làng chỉ cho chúng tôi hướng về phía cổng làng và cuối làng, hầu như bao bọc những ngôi nhà gạch mới đều là những hàng cây cổ thụ, thân cao, tán lá rộng, chạy dọc bờ ruộng, đường dẫn vào làng.
Trưởng làng Siêu Quần cho hay, cả làng  có tới hàng nghìn cây lộc vừng cổ thụ, trải dài hơn 2km, tạo thành một vành đai vững chãi, che mưa, chắn bão cho làng.
Để có được khu rừng này, ngoài những chế tài về mặt luật pháp, những quy định về bảo vệ rừng, hội đồng làng Siêu Quần còn phát thảo ra một bản hương ước để bảo vệ và gìn giữ khu rừng quý giá nói trên.
Dẫn chứng cho một điều lệ trong hương ước, vị trưởng làng cho biết, hương ước làng có quy định, ai chặt hoặc đào bán lộc vừng trong làng sẽ bị phạt 500.000 đồng, nêu tên trên loa phát thanh xã, đồng thời phải có mâm trâu, cầu rượu đưa ra đình làng tạ lỗi với dân làng.
Chính vì vậy mà khu rừng này không những được bảo vệ về mặt chế tài luật pháp  do Nhà nước bảo trợ mà còn được bảo vệ trên cơ sở của đạo đức của các thành viên trong làng.
Khu rừng lộc vừng là niềm tự hào của người dân làng Siêu Quần, ở làng này từ người già đến trẻ nhỏ ai cũng nằm lòng câu chuyện về “ông tổ” của những cây lộc vừng trong làng, đó là ngài Trần Văn Kỷ người học rộng tài cao của làng và là công thần của triều Tây Sơn.
Cụ Nguyễn Bá Hiệp một bô lão trong làng cho hay: “Cách đây khoảng 300 năm, ở làng Vân Trình kế bên làng Siêu Quần của chúng tôi, có một người học cao hiểu rộng, đỗ đạt được vào cung làm quan. Đó là ngài Trần Văn Kỉ (?- 1801) là nhân sĩ, công thần dưới thời Tây Sơn.
Theo câu chuyện mà cụ Hiệp kể lại,  Trần Văn Kỷ trong một lần về thăm quê, đã mang theo nhiều giống cây khác nhau mà trước đây làng chưa có như cây xanh, cây mưng, cây cừa,… Ông đi đến từng nhà kêu gọi trồng cây trước nhà, bờ ruộng và không quên hứa sẽ tặng mỗi nhà một chiếc áo thật ấm từ kinh thành để tránh rét ngày đông khi lần tới ông trở về.
Người dân ai nấy đều phấn khởi, trồng cây và mong cái ngày mà vị quan tốt bụng này trở về từ kinh thành. Theo tháng ngày, những cây nhỏ đã hóa thành những cây to, vươn cao với nhiều tán lá vừa phủ bóng mát ngày nóng vừa chắn gió cho người dân vào những ngày đông gió mưa rét buốt.
Sau khi cáo quan, vị này quay về quê hương để sinh sống. Trở về quê, ngài đã tặng áo cho nhiều người trong làng. Ai nấy đều mừng rỡ vì người tặng áo đã về đến nhà. Các bô lão hỏi vị quan này áo từ đâu ra. Lúc này, vị quan hồi hương mới nói rằng, “Áo tôi hứa cho bà con là đây này”, vừa nói ông hướng về khu rừng. Mãi một lúc sau người trong làng mới hiểu rằng,  khi lộc vừng tốt tươi, trải qua bao trận bão lũ thiên tai, làng Siêu Quần vẫn bình yên vô sự nhờ sự chở che của những dải lộc vừng trồng trên bờ đê, họ mới ngộ ra tấm áo mà ngài Khai Canh nói đến chính là những cây lộc vừng do chính mình trồng.
Trong kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ cứu nước, rừng lộc vừng đã như “tấm áo giáp” chở che cho các đơn vị bộ đội, dân quân du kích tiến vào trung tâm, căn cứ địa của địch.
Ông Nguyễn Ngọc Khánh, Chủ tịch UBND xã Phong Bình - huyện Phong Điền-  tỉnh Thừa Thiên - Huế  biết, trên địa bàn xã gồm có 5 làng, cả 5 làng đều có qui ước riêng của từng làng được tập hợp lại thành một bản hương ước. Bản hương ước này, hàng năm vào ngày lễ tế của làng, những người từ mười tám tuổi trở lên sẽ họp lại đình làng.
Lúc này vị trưởng làng sẽ dựa theo những ý kiến của số đông mà sửa đổi, bổ sung thêm cho bản hương ước từng làng. Nói đến hương ước giữ rừng của làng Siêu Quần, trong số 320ha rừng cây thì cây lộc vừng đã chiếm đến 70% diện tích, mà đây là loại cây có giá trị cao nên từ lâu người dân của làng đã lập hương ước gồm những qui ước vừa có tính nhân văn vừa có tính răn đe để bảo vệ rừng lộc vừng trăm tuổi. (Pháp Luật TP.HCM 2/9) đầu trang(
Để có được rừng cây niên đại hàng trăm năm tuổi, người dân làng Siêu Quần có cách giữ rừng rất đặc biệt.
Bước đến đầu làng Siêu Quần (xã Phong Bình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế), bất cứ du khách nào cũng bị hút hồn bởi rừng lộc vừng cổ thụ, gốc – thân to lớn, tán cây xanh mát bao phủ khắp làng.
Người dân Siêu Quần cũng lấy đó làm tự hào, khi khách đến chơi nhà, câu chuyện về rừng cây cổ thụ và cách mà người dân làng bảo vệ rừng lại được các cụ cao niên kể lại.
Cụ Nguyễn Hiệu, trưởng thôn Siêu Quần kể lại, làng Siêu Quần khi xưa thuộc phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hóa, vốn là điểm cuối của vùng đất mà vua Chăm dâng Đại Việt, được lập ra vào năm 1306.
Cách đây khoảng 300 năm, ở làng Vân Trình kế bên làng Siêu Quần có ngài Trần Văn Kỷ, một người học cao hiểu rộng, đỗ đạt được vào cung làm quan. Một hôm, ông về thăm quê, đã mang theo nhiều giống cây khác nhau mà trước đây làng chưa có như cây xanh, cây mưng (lộc vừng), cây cừa…
Ông đi đến từng nhà kêu gọi trồng cây trước nhà, bờ ruộng và phần thưởng cho việc trồng cây là mỗi nhà sẽ được tặng một chiếc áo ấm thật đẹp mà ông mua từ kinh thành.
Ngày đó, vải vóc không nhiều như bây giờ, chỉ có vua quan với quý tộc nhà giàu mới súng sính quần áo mới. Còn dân ngèo thì cả năm chỉ có một bộ. Thấy quan hứa vậy dân lấy làm mừng lắm, đua nhau nhận cây về trồng. Ngày ông Trần Văn Kỷ hồi kinh, dân làng ra tiễn rồi thầm mong ngày ông trở lại làng để được nhận áo mới.
Năm tháng trôi đi, những cây mới trồng ngày nào đã trưởng thành cao lớn che bóng mát, làm thành tường lũy che chắn, bảo vệ quanh làng. Không những thế, rừng lộc vừng còn giữ đất đê ngăn mặn, chắn sóng, chống chọi lại mưa bão. Lại thấy loài cây này có những đặc tính hợp với thổ nhưỡng, nên người dân tự nhân giống trồng thêm đại trà trên những con đê.
Thời gian trôi, người dân dần quên lời hứa của ông quan Kỷ thì đúng lúc đó ông về làng. Lúc này, tuổi ông đã cao nên từ giã quan trường quy ẩn cuộc đời còn lại nơi quê nhà. Ngày quan về, cả làng lại ra chào đón nhưng không thấy ông mang theo quần áo. Các vị bô lão đánh liều hỏi quan, về áo mới mà quan hứa tặng đâu?
Quan cười rồi chỉ tay về phía rừng lộc vừng um tùm, cao lớn bao năm nay che chắn bão cho dân làng, bảo vệ dân khỏi ác thú, đạo tặc… rồi bảo: “Áo ta tặng mọi người đây này”.
Trong ký ức của những người lớn tuổi trong làng, hình ảnh những cây lộc vừng đã gắn bó với tuổi thơ của bao thế hệ với những trưa hè chăn trâu cắt cỏ nằm ngủ, chơi đùa dưới tán cây. Trong kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ cứu nước, rừng lộc vừng đã chở che cho các đơn vị bộ đội, dân quân du kích.
“Đến giờ này, trải qua hàng trăm năm dân làng vẫn phải cảm ơn ngài Trần Văn Kỷ đã mang lại tấm áo che chở cho dân làng” - cụ Nguyễn Bá Hiệp (cao niên trong làng) nói.
Theo chính quyền địa phương, cả làng Siêu Quần có tới hàng nghìn cây lộc vừng cổ thụ, trải dài hơn 2 km, tạo thành một vành đai vững chãi, che mưa chắn bão cho làng.
Để khu rừng vẫn vững chãi, hiên ngang sau hàng trăm năm, người dân nơi đây đã đưa việc gìn giữ rừng lộc vừng vào hương ước của làng, phối hợp với chính quyền địa phương xây dựng thành quy ước văn hóa để dân làng thực hiện nghiêm túc. Đồng thời, thành lập một đội chuyên bảo vệ rừng làm việc trên tinh thần tự nguyện.
Ông Nguyễn Ngọc Khánh, chủ tịch xã Phong Bình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế biết: “Hàng năm vào ngày lễ tế của làng, những người từ mười tám tuổi trở lên sẽ họp lại đình làng. Lúc này vị trưởng làng sẽ dựa theo những ý kiến của số đông mà sửa đổi, bổ sung thêm cho bản hương ước từng làng.
Trong số 320ha rừng cây thì cây lộc vừng đã chiếm đến 70% diện tích. Để giữ được rừng lộc vừng cho đến ngày hôm nay là nhờ hương ước của làng. Ai chặt hoặc đào bán lộc vừng trong làng sẽ bị phạt 500.000 đồng, nêu tên trên loa phát thanh xã, đồng thời phải có mâm cau trầu, rượu đưa ra đình làng tạ lỗi với dân làng". (VTC News 4/9) đầu trang(
Dự kiến, tháng 9 này, cùng với 37 cây đại, mai Yên Tử, đa, thị, sung trên danh sơn Yên Tử, 233 cây xích tùng cổ khoảng 700 tuổi sẽ được công nhận là cây di sản.
Hy vọng, khoác lên một danh hiệu mới, rừng xích tùng trên non thiêng Yên Tử sẽ được quan tâm đặc biệt hơn trong việc chăm sóc, chữa trị “bệnh”, khi mà hầu hết các cây đều “ốm yếu”, “bệnh tật”, do tuổi cao, sức yếu, lại trước sự tấn công của thời tiết, sâu bệnh.
Tại hội thảo mới đây về chăm sóc, bảo tồn rừng xích tùng cổ tại Yên Tử, lần đầu tiên, các chuyên gia đề xuất việc làm hồ sơ công nhận các “cụ” xích tùng là những cây di sản.
Theo các chuyên gia, rừng xích tùng cổ trên Yên Tử thừa các tiêu chí để công nhận là những cây di sản. Ngoài giá trị tuổi đời - khoảng 700 tuổi, những loài cây trên danh sơn này còn có những giá trị đặc biệt về văn hóa, lịch sử tâm linh, bởi đã tồn tại và đồng hành với Thiền phái Trúc Lâm kể từ ngày Phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập (Thế kỷ 13) đến nay.
Theo nghiên cứu, những cây xích tùng cổ trên Yên Tử được trồng, chứ không phải mọc tự nhiên bởi xích tùng chỉ tập trung ở một số nơi nhất định, đặc biệt là ở đường tùng - tuyến đường hành hương lên Yên Tử tuyệt đẹp, với trên 30 cây xích tùng cổ còn sót lại, trên che bóng mát, dưới nâng bước du khách, tăng ni, phật tử…
Ý tưởng lập hồ sơ công nhận 233 cây xích tùng cổ và 37 loài cây khác trên Yên Tử là những cây di sản, theo những người trong cuộc, chỉ xuất hiện khi các “cụ” xích tùng chết dần, chết mòn dù có giải pháp cứu chữa có nhưng lại thiếu… tiền.
Ngoài việc rừng xích tùng cổ xứng đáng nằm trong danh sách cây Di sản Việt Nam, thì đây được coi là cách duy nhất hiện nay để cứu rừng đã kêu cứu từ nhiều năm nay.
Hơn 10 năm qua, hai lần đề án cứu chữa rừng xích tùng cổ được thông qua nhưng rồi cũng chẳng đi đến đâu vì không có kinh phí, trong khi ngay cạnh đó, các đền, chùa, am, tháp… được trùng tu, xây mới với tổng số vốn lên tới hàng trăm tỉ đồng.
Kết quả: Từ đó đến nay đã có hơn 20 cá thể xích tùng cổ bị chết; số còn lại đều “ốm, yếu” do bị mục rỗng thân, cành, cụt ngọn… do thời tiết và sâu bệnh tấn công.
Đặc biệt, ngày 28.7.2016, dù chỉ quét nhẹ qua, nhưng cơn bão số 1 đã quật ngã một “cụ” xích tùng, cho thấy sức đề kháng của các “cụ” rất yếu, và nếu không có giải pháp hữu hiệu kịp thời, những “nhân chứng sống” đặc biệt này sẽ nối tiếp ra đi vĩnh viễn.
“Cụ” bị bão quật đổ sáng 28.7 mang số 143, nằm trên đường từ nhà ga cáp treo 3 sang Am Hoa, Am Dược. Nguyên nhân cây đổ được xác định là do cây cao, tán rộng và nặng, trong khi mưa to, gió lớn làm cho phần đất ở gốc mềm nhũn, khiến xích tùng bật gốc.
Ngay lập tức các cơ quan chức năng có mặt và sau đó mời các chuyên gia bàn giải pháp cứu cây.
Khám nghiệm tại hiện trường, các chuyên gia lâm nghiệp thống nhất phương án xử lý theo hướng để nguyên hiện trạng, bởi dựng “cụ” xích tùng lên sẽ nguy hiểm đến “tính mạng”.
Theo các chuyên gia, cây đổ làm cho hệ rễ bị tổn thương nặng, nên tiến hành cắt tỉa bớt các cành để giảm bớt sự thoát hơi của cây, hạn chế áp lực cung cấp dinh dưỡng đối với hệ rễ còn lại đang bị tổn thương; chỉ để lại một số cành chính giúp cho quang hợp và duy trì sự sống.
Ngoài ra, dùng thuốc kích thích ra rễ tươi tưới vào gốc cây nhằm thúc đẩy quá trình phát triển rễ mới; lấp đất phủ kính các rễ chìa ra khỏi mặt đất và phần rễ bị lật trơ ra nhằm tạo môi trường cho rễ phục hồi và ra rễ mới để lấy dinh dưỡng nuôi cây.
Toàn thân cây được ủ bằng những tấm chăn, nhằm tránh ánh nắng mặt trời để giữ độ ẩm cho cây.
Cùng với đó, Ban Quản lý di tích và rừng quốc gia Yên Tử đã tiến hành chống nhằm cố định toàn bộ thân, không để cây đổ tiếp, tránh ảnh hưởng tới hệ rễ còn lại trong đất; đồng thời dùng keo liền sẹo bôi vào phần rễ bì tổn tương và phần cành đã cắt tỉa để cho cây nhanh liền sẹo.
Theo ông Phạm Văn Dược - Phó Trưởng ban Quản lý di tích và rừng quốc gia Yên Tử - hiện, “bệnh nhân” đặc biệt này đang được các chuyên gia chăm sóc, theo dõi với chế độ đặc biệt, với hy vọng “cụ” xích tùng số 143 có thể qua khỏi. (Lao Động 3/9) đầu trang(
Việt Nam là giao điểm của các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và Inđônêxia - Malayxia. Ưu thế này đã giúp Việt Nam trở một trong 16 khu vực có tính đa dạng sinh học cao của thế giới. Tuy vậy, Việt Nam đang phải đối mặt tình trạng suy giảm trầm trọng các hệ sinh thái giàu ÐDSH…
Tại Hội thảo “Bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học phục vụ phát triển sinh kế cộng đồng” vừa mới diễn ra, lãnh đạo Tổng cục Môi trường đã khẳng định: Mặc dù, có nhiều nỗ lực trong công tác quản lý ĐDSH nhưng tài nguyên ĐDSH của Việt Nam vẫn trên đà suy giảm và suy thoái dưới áp lực của gia tăng dân số, khai thác quá mức tài nguyên sinh vật và sự đánh đổi với ưu tiên phát triển kinh tế.
Thống kê của Cục Bảo tồn ÐDSH (Tổng cục Môi trường), có tới 882 loài (được ghi trong Sách Ðỏ) đang bị đe dọa ở nhiều cấp độ; 9 loài động vật (tê giác hai sừng, bò xám, heo vòi, cầy rái cá, cá chép gốc, cá chình Nhật, cá lợ thân thấp, hươu sao, cá sấu hoa cà) và hai loài lan hài được xem là đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên...
Một số loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng như: Sao la, voọc Mũi hếch, Voọc Cát Bà, cá nóc, bò biển… Mức độ đa dạng sinh học của hệ cây trồng cũng giảm mạnh. Trong gần 5 thập kỷ qua, diện tích rừng ngập mặn đã giảm 80%, khoảng 96% các rặng san hô bị đe dọa hủy hoại nghiêm trọng, các giống loài động vật và thực vật ở Việt Nam. Bên cạnh đó, các loài ngoại lai “xâm nhập” môi trường gây ra những hậu quả xấu đối với đa dạng sinh học.
Nhiều luật liên quan bảo vệ đa dạng sinh học cũng được ra đời như Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thủy sản; Luật Tài nguyên nước và quan trọng nhất cho sự nghiệp bảo tồn ĐDSH là Luật Đa dạng sinh học (trên thế giới không nhiều quốc gia có Luật Đa dạng sinh học).
Đây là khung luật đầu tiên của Việt Nam quy định về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH. Trên cơ sở này, đã có 10 Nghị định của Chính phủ, 12 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 23 Thông tư của Bộ trưởng đã được ban hành, thể chế hóa các chiến lược, quy hoạch, cơ chế về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH Việt Nam.
Những văn bản Luật này đã tạo hành lang pháp lý quản lý tổng thể và toàn diện các vấn đề về ĐDSH, quy định cụ thể quản lý đối với loài, hệ sinh thái, nguồn gen; làm cơ sở cho việc ban hành chiến lược, quy hoạch phát triển ĐDSH của các địa phương và định hướng phát triển các khu bảo tồn ở địa phương.
Khung pháp lý đã có nhưng việc thực thi pháp luật về ĐDSH lại khó khăn do sự chồng chéo giữa các văn bản luật. Có nhiều văn bản cũng quy định về một vấn đề trong quản lý bảo tồn ĐDSH.
Bảo tồn đa dạng sinh học đang gặp khó do có sự chia tách trong hướng dẫn thực thi giữa Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thủy sản và Luật ĐDSH khi quy định cùng vấn đề về bảo tồn ĐDSH;  thiếu sự phối hợp và đồng thuận trong phân công trách nhiệm quản lý Nhà nước về ĐDSH.
Ngoài ra, tài chính cho bảo tồn ĐDSH còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu và mục tiêu quản lý Nhà nước về ĐDSH. Hiện tại, kinh phí cho bảo tồn ĐDSH được lấy chủ yếu từ nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường (khoảng 1% NSNN). Trên thực tế, nguồn lực tài chính đầu tư cho ĐDSH không đủ để triển khai các hoạt động bảo tồn ĐDSH như: Điều tra cơ bản về ĐDSH, xây dựng cơ sở dữ liệu về ĐDSH; quan trắc, thống kê ĐDSH; phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên, bảo tồn loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; xây dựng, nâng cấp, cải tạo khu bảo tồn…
Tài chính hạn hẹp, khiến hoạt động của các khu bảo tồn chưa phát huy hiệu quả. Hiện nay, ngân sách Nhà nước (NSNN) là nguồn đầu tư chủ yếu và ổn định cho các KBT nhưng nguồn kinh phí này chủ yếu tập trung cho công tác BV&PTR, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, hơn nữa, nguồn kinh phí này chưa được cấp thường xuyên. Việc bảo tồn ĐDSH tại các KBT cơ bản chưa được thực hiện, hoặc nếu có, chỉ giới hạn trong khuôn khổ dự án hợp tác quốc tế hoặc các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học.
Bên cạnh những vướng mắc về pháp lý, tài chính, những vấn đề về biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường… cũng khiến cho việc bảo tồn đa dạng sinh học gặp nhiều trở ngại.
Thật khó có thể bảo tồn khi ô nhiễm ngày càng trầm trọng làm hủy hoại nơi cư trú và môi trường sống của nhiều loài sinh vật hoang dã gây gây chết hoặc làm giảm số lượng các cá thể… Mới đây, sự cố xả thải do công ty Formosa Hà Tĩnh gây ra đã khiến 50% diện tích san hô khu vực biển bốn tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế đã bị phá hủy (trên tổng số gần 800 ha), nhiều loài cá có giá trị kinh tế đã không còn thấy ở vùng biển này.
Sự suy giảm nhanh và biến mất của nhiều loài động thực vật khiến cho công tác bảo tồn trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Nhưng đến nay, Việt Nam chưa có những động thái quyết liệt, biện pháp hữu hiệu để giải quyết những khó khăn trên, nên công tác bảo tồn vẫn ở thế chông chênh.
Việt Nam có 6 vùng sinh thái ưu tiên toàn cầu được Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF) ghi nhận. Đó là: Vùng sinh thái Rừng ẩm trên dãy Trường Sơn; Rừng khô Đông Dương; Vùng hạ lưu sông Mekong; Rừng ẩm á nhiệt đới Bắc Đông Dương; Rừng ẩm Đông Nam Trung Quốc-Hải Nam; và  Sông, suối Tây Giang (sông Bằng - Kỳ Cùng). Một số lượng đáng kể các  khu bảo tồn của Việt Nam đã được thế giới  hoặc khu vực công nhận, bao gồm: 4 khu Ramsar, 8 khu Dự trữ sinh quyển, 2 khu Di sản thiên nhiên thế giới và 4 khu Di sản ASEAN. (Tài Nguyên Và Môi Trường 1/9) đầu trang(
Ngày 1-9, Chi cục Kiểm lâm Kon Tum cho biết đang đề xuất với chính quyền địa phương thành lập khu bảo tồn voọc chà vá chân xám và khuyến khích, mời gọi các tổ chức quốc tế tham gia bảo tồn loài linh trưởng quý hiếm này; đồng thời hướng đến xây dựng biểu tượng voọc chà vá chân xám là biểu tượng đa dạng sinh học ở tỉnh Kon Tum.
Theo kết quả điều tra của Tổ chức Bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế tại Việt Nam (Fauna & Flora International, viết tắt là FFI), điều tra tại 6 xã của huyện Kon Plông (Kon Tum) là Đăk Tăng, Măng Bút, Đăk Nên, Măng Cành, Ngọc Tem, Đăk Đring đã ghi nhận được số lượng đàn có thể lên đến 35 đàn với khoảng hơn 400 cá thể voọc chà vá chân xám và có 12 đàn với 42 cá thể vượn đen má vàng.
FFI đã tổ chức họp báo và công bố kết quả điều tra Voọc chà vá chân xám tại huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum với số lượng ít nhất 500 cá thể.
Theo các chuyên gia, hiện nay Việt Nam ước tính có khoảng dưới 1.000 cá thể voọc chà vá chân xám, riêng tại Kon Tum chiếm đến 50% số lượng cá thể hiện có tại Việt Nam.
Voọc chà vá chân xám (Pygathrix cinerea) được xác định là loài thuộc danh mục các loài được ưu tiên bảo vệ (Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12-11-2013 của Chính phủ) và thuộc nhóm IB (Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30-3-2006 của Chính phủ).
Theo ông Benjamin Rawson – Giám đốc FFI Việt Nam: “Đây là một loài linh trưởng của Việt Nam và không thể tìm thấy ở một nơi nào khác. Quần thể mới được phát hiện này mang đến hy vọng cho chúng ta, Thực tế đáng buồn là chúng đang trên bờ vực tuyệt chủng. Tổ chức FFI đang nỗ lực hết sức để ngăn chặn điều này”. (Công An Nhân Dân 3/9) đầu trang(
Chúng tôi gần như nín thở nhìn những con voọc chà vá chân nâu tuyệt đẹp. Chúng đang trầm tư trên các nhánh cây, bờ đá ngắm hoàng hôn ngoài biển. Sau mấy ngày lên bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, chúng tôi mới may mắn gặp được chủ nhân đích thực của khu bảo tồn thiên nhiên: đàn voọc chà vá còn sót lại ở Đông Nam Á.
Mỗi tháng đôi lần tôi đến Sơn Trà. Sau khi phóng xe lên ngắm bình minh phủ trên những tán cây nơi đỉnh núi, tự thử thách mình khi chơi vơi trên những con đường nhỏ hiểm trở ven núi, tôi thường tự thưởng mình bằng một ly cà phê đen đậm của ông chủ Bảo tàng Đồng Đình ở lưng chừng bán đảo.
Chủ nhân vốn là đạo diễn phim tài liệu Đoàn Huy Giao, đã chớm bước vào tuổi 70, ngồi trong chái bếp lợp lá kiểu miền núi xứ Quảng kho mớ cá tươi mới mua bằng thứ củi lấy từ cây khô quanh núi. Ở đây có đủ điện, nhưng ông không cho phép vợ con đặt bếp từ, nhà cũng không tủ lạnh. Cách sống hoàn toàn hòa thuận trong lòng thiên nhiên.
Hỏi tại sao đặt tên bảo tàng là Đồng Đình, hóa ra nó là tên loại cây bản địa, chiếm diện tích lớn trên bán đảo này. Mười năm ròng rã xây dựng bảo tàng, nhà cửa, hầu hết cây cối ông trồng đều là cây bản địa, mà đồng đình chiếm đa số.
Thứ cây nhìn rất bình thường, nhưng nó là chủ nhân của bán đảo, có nghĩa nó chịu được đất này, nó bảo vệ cuộc sống cho con người và động vật ở đây, giữ nước cho mùa khô và cản gió bão trong mùa mưa lạnh. Ông chỉ chái bếp: "Nó không tốc mái qua bốn mùa bão vì quanh đây đồng đình mọc dày che chắn. Sống với bán đảo này, phải coi nó như người thầy, dạy cho mình thực hành những bài học sơ đẳng hòa hợp với thiên nhiên".
Chính vì lý do đó, người ta trồng cỏ, trồng cau, mặc, khu vườn của Bảo tàng Đồng Đình trồng dày những đồng đình nhìn rất giản dị, nhưng bảo bọc trong lòng nó sự sống chắc chắn.
Và đúng Sơn Trà là một người thầy về môn học bảo tồn thiên nhiên. Nhiều lần chúng tôi bắt gặp một phụ nữ châu Âu mảnh dẻ đi bộ lên con dốc dài, chị đi lên chỗ nghiên cứu môi trường Sơn Trà, tay cầm một bao ni lông lớn, và vừa đi chị vừa nhổ một loại dây leo cho vào túi. Chị giải thích loại dây leo đó phát triển có thể tàn phá sự màu mỡ của đất, đè chết các loại cây bản địa. Chính tổ chức của chị đã làm việc với ngành chức năng và ra được chiến dịch tiễu trừ những loại dây leo có hại để bảo vệ rừng Sơn Trà.
Đến Sơn Trà sẽ học được những bài học lớn về bảo vệ môi trường. Những nhà lãnh đạo của Sun Group hẳn nhớ điều này. Công trường xây dựng khu nghỉ mát Intercontinental Đà Nẵng Sun Penysula dưới sự chỉ đạo của một kiến trúc sư nước ngoài. Sau nhiều lần khuyến cáo công nhân chặt phá cây rừng cẩu thả nhưng sự việc không chấm dứt, một lần ban lãnh đạo Sun Group nhận được thư từ biệt của vị kiến trúc sư, với lý do công nhân tiếp tục chặt cây, đồng ý bồi thường vi phạm hợp đồng.
Một số vị lãnh đạo cao nhất của tập đoàn này đã phải cùng bay sang Thái Lan để giải thích, cam kết với vị kiến trúc sư sẽ chấm dứt nạn chặt phá cây cối bừa bãi trong khu vực xây dựng.
Sau "tai nạn" đó, Sun Group đã thực hiện nghiêm túc các cam kết và xây dựng thành công khu nghỉ mát nổi tiếng thế giới tại Bãi Bắc, bán đảo Sơn Trà, nơi đã thu hút nhiều tỷ phú thế giới, nguyên thủ các quốc gia đến nghỉ. Có lẽ họ đã thấm thía bài học ứng xử với thiên nhiên qua văn hóa của vị kiến trúc sư tài danh và nghiêm túc đó.
Chị Thu Thủy là một phụ nữ mạnh mẽ, hơn nửa đời làm phóng viên đài phát thanh tại Đà Nẵng nhưng it khi rời chiếc máy ảnh. Chiếc xe máy của chị Thủy đã in dấu bao lần trên những con đường mòn trên đỉnh bán đảo, khi chị theo đuổi những hình ảnh của đàn voọc chà vá chân nâu trên đỉnh Sơn Trà, gần như là đam mê, gần như là gắn bó thương yêu theo sự an nguy của đàn voọc.
Chị thường thu xếp lên Sơn Trà, có nhiều ngày không gặp voọc, vẫn kiên trì theo đuổi từ ngọn núi này sang ngọn núi khác. Lâu dần ai cũng biết niềm đam mê của chị và chị trở thành người hướng dẫn bạn bè cách đi "săn hình ảnh" đàn voọc hoặc đơn giản là đi ngắm đàn voọc xinh đẹp hiếm hoi này.
Một vài cuộc triển lãm ảnh rất thú vị về đàn voọc đã ra mắt người xem, không chỉ nói lên một tiếng nói về bảo vệ môi trường, bảo vệ động vật quý hiếm, mà còn gợi lên niềm tự hào, ý thức bảo vệ đàn voọc chân nâu có môi trường sống tốt trên Sơn Trà trước cơn bão đất vàng, bão xây resort, biệt thự, trang trại.
Với 300 cá thể được ghi nhận, đàn voọc chà vá chân nâu này được ghi vào sách đỏ để bảo vệ trước nguy cơ tuyệt chủng. Với tập tính sống theo gia đình, quẩn quanh trong một khu vực quen thuộc, đàn voọc đối mặt với môi trường bị đảo lộn khi nhiều sản phẩm du lịch đã và đang xây dựng, những đường cái lớn mở ra chia cắt khu rừng.
Điều thú vị và cũng may mắn là những nhà nghiên cứu có mặt trên bán đảo đã phát hiện ra một con đường có thể ngăn trở lối đi kiếm ăn của gia đình nhà voọc, nên Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà đã làm những cây cầu bằng dây leo vắt ngang qua đường để những con linh trưởng chuyền qua những vùng rừng.
Ông Trần Hữu Vỹ - Giám đốc Tổ chức Nghiên cứu môi trường GreenViet nói: "Theo tôi, việc cần nhất là ngành chức năng và các đơn vị có chuyên môn điều tra lại hiện trạng quần thể voọc chà vá chân nâu và môi trường sống của chúng tại bán đảo Sơn Trà”.
GreenViet là tổ chức gắn bó, theo dõi, cứu hộ đàn linh trưởng này cùng một vài tổ chức môi trường nước ngoài khác.
Ngồi trên đỉnh Sơn Trà nhìn ra vịnh Đà Nẵng, nhìn xuống sát mép biển khu Bãi Bắc là khu nghỉ mát nổi tiếng Intercontinental Đà Nẵng Sun Penysula, chúng tôi cùng một nhóm báo chí và nghệ sĩ nhiếp ảnh là những người vẫn dõi theo sự sống và phát triển của bầy voọc chà vá chân nâu, thậm chí thuộc mặt nhiều con đầu đàn vốn dạn dĩ để bảo vệ đàn của nó.
Chẳng có sự so sánh nào giữa vẻ đẹp hay giá trị của voọc chà vá chân nâu này với kỳ quan kiến trúc đã được xây dựng trên bán đảo. Chẳng có ai tính toán nên bảo vệ đàn linh trưởng hay nên ào ạt tiến lên bán đảo để làm du lịch, khi ven biển Đà Nẵng vốn được cho là tấc đất tấc vàng.
Bán đảo Sơn Trà đã khoanh vùng 4.200 hecta đất rừng làm Khu Bảo tồn thiên nhiên rừng đặc dụng quốc gia Sơn Trà, nên không ai còn bàn luận nên làm gì nữa, vậy mà sau 9 năm đã tóp lại còn 2.600 hecta!
Nhìn ngắm những cặp mắt đen láy của voọc chà vá chân nâu - chủ nhân đích thực của bán đảo Sơn Trà mà chúng tôi không dứt lo lắng cho sự an nguy của chúng... (Doanh Nhân Sài Gòn 2/9) đầu trang(
Khi được cấp phép nuôi hổ, một số luồng dư luận phản ứng vì cho rằng chồng bà Liên từng buôn bán hổ nên sẽ ảnh hưởng. Tuy nhiên, cơ quan chức năng khẳng định cấp phép đúng luật.
Năm 2015, Công ty TNHH Bạch Ngọc Lâm triển khai làm dự án Vườn sinh thái động vật Hòn Nhạn với mục đích nuôi các loài hổ, gấu... để phát triển làm khu du lịch.
Sau khi hoàn tất cả hồ sơ, tháng 5/2015, Công ty Bạch Ngọc Lâm đã được UBND tỉnh Nghệ An đồng ý chủ trương đầu tư dự án với tổng số vốn 70 tỷ đồng.
Ngay sau đó, Công ty này đã tiến hành xây dựng cơ sở tại địa bàn xã Diễn Đoài (Diễn Châu, Nghệ An), đồng thời làm các thủ tục, báo cáo đánh giá tác động môi trường đến cơ quan chức năng...
Ngày 29/1/2016, sau khi các cơ quan chức năng thẩm định, kiểm tra thực tế về điều kiện, cơ sở vật chất, chuồng trại... UBND tỉnh Nghệ An đã cấp giấy phép đồng ý cho Công ty Bạch Ngọc Lâm nuôi trồng loài được ưu tiên bảo vệ (hổ).
Được biết, Công ty TNHH Bạch Ngọc Lâm do bà Nguyễn Thị Liên (SN 1974; trú tại Diễn Lâm, Diễn Châu, Nghệ An) làm giám đốc, là đại diện pháp luật của công ty.
Sau khi Công ty được cấp phép nuôi hổ, một số dư luận cho rằng việc làm này không phù hợp. Bởi chồng bà Liên là ông Phạm Văn Tuấn đã từng mang 2 tiền án liên quan đến việc buôn bán hổ.
Dư luận đặt ra câu hỏi, việc cấp phép cho vợ trong khi chồng từng mang tiền án liên quan đến buôn bán hổ liệu có ảnh hưởng đến việc nuôi hổ hay không? Họ cũng đặt ra nghi ngờ có gì khuất tất hay chi phối đứng sau việc cấp phép này?
Ngày 18/5/2016, Trung tâm giáo dục thiên nhiên (ENV) cũng đã có công văn gửi UBND tỉnh Nghệ An kiến nghị về việc cấp phép nuôi hổ cho Công ty Bạch Ngọc Lâm.
Trong công văn gửi UBND tỉnh Nghệ An, Trung tâm giáo dục thiên nhiên cho rằng việc cấp phép cho Công ty trên trong thời gian 10 ngày là có phần vội vàng và việc tham chiếu Điều 42 Luật Đa dạng sinh học là chưa đúng.
Ngoài ra, Trung tâm giáo dục thiên nhiên cũng cho rằng, Công ty Bạch Ngọc Lâm do bà Liên là chủ sở hữu có chồng là ông Tuấn đã vi phạm pháp luật thì không được cấp giấy chứng nhận Cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học và Giấy phép nuôi hổ.
Để làm rõ những thông tin về quy trình, quy định cấp phép nuôi hổ cho Công ty Bạch Ngọc Lâm, ngày 4/7/2016, Sở NN&PTNT Nghệ An phối hợp với Sở TNMT tổ chức buổi làm việc với đại diện các Sở, Ban ngành liên quan.
Tại buổi làm việc này, đại diện các Sở, Ban ngành cùng Công ty Bạch Ngọc Lâm đã phân tích, rà soát hồ sơ, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến nội dung cấp phép nuôi động vật thuộc Danh mục nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (hổ).
Trong đó, đại diện các Sở, Ban ngành nêu ra những vấn đề cần làm rõ và đi đến thống nhất, đồng ý việc cấp giấy phép nuôi hổ cho Công ty Bạch Ngọc Lâm là đầy đủ hồ sơ, đúng quy trình, quy định pháp luật.
Sau buổi làm việc, ngày 7/7/2016, Sở NN&PTNT đã có văn bản số 1737 về việc báo cáo cấp Giấy phép nuôi loài thuộc danh mục ưu tiên bảo vệ (hổ) cho Công ty TNHH Bạch Ngọc Lâm gửi UBND tỉnh Nghệ An.
Công văn này khẳng định: cơ sở pháp lý, thủ tục, quy trình tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Giấy phép nuôi trồng loài ưu tiên bảo vệ cho Công ty Bạch Ngọc Lâm là đúng quy định, đúng Luật Bảo tồn đa dạng sinh học và Nghị định 160/2013/NĐ-CP.
Bên cạnh đó, công văn cũng nêu rõ, Sở NN&PTNT sẽ tiếp tục tăng cường kiểm tra, giám sát, chủ đạo hoạt động nuôi nhốt hổ tại Vườn động vật sinh thái Hòn Nhạn của Công ty.
Liên quan đến một số kiến nghị về việc cấp phép cho Công ty Bạch Ngọc Lâm nuôi hổ, trong công văn của Sở NN&PTNT Nghệ An cũng khẳng định việc cấp phép cho bà Liên (đại diện công ty) không hề liên quan đến ông Phạm Văn Tuấn (chồng bà Liên).
Bởi, ông Phạm Văn Tuấn chỉ là quan hệ vợ chồng, không có quyền định đoạt, can thiệp với Công ty Bạch Ngọc Lâm. Mọi tài sản của công ty thuộc sở hữu của bà Liên. Do đó, bà Liên được sử dụng và định đoạt theo quy định của pháp luật và điều lệ của công ty.
Bà Liên là người đại diện pháp luật của công ty nên phải chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật.
Trao đổi với PV về vấn đề này, ông Nguyễn Tiến Lâm - PGĐ Sở NN&PTNT Nghệ An khẳng định việc tham mưu, cấp phép cho Công ty của bà Liên là đúng quy trình, quy định của pháp luật.
"Ông Tuấn không có quyền hành, chức vụ gì trong Công ty Bạch Ngọc Lâm. Không có quyền điều hành, định đoạt gì nên phải theo luật mà làm chứ không thể trái được. Về luật họ không sai. Chồng vi phạm không thể cấm vợ được.
Nếu không cấp phép cho Công ty Bạch Ngọc Lâm thì lại trái pháp luật. Bây giờ, cơ quan chức năng sẽ tăng cường kiểm tra, kiểm soát để minh bạch hoá việc cấp phép này", ông Lâm khẳng định.
Liên quan đến vấn đề giám sát, kiểm tra việc nuôi hổ của Công ty Bạch Ngọc Lâm, ông Nguyễn Mạnh Cường - Phó Chi cục Kiểm Lâm Nghệ An cho biết, đơn vị này cùng các cơ quan chức năng thường xuyên đi kiểm tra theo định kỳ về quá trình nuôi và cơ sở vật chất.
"Chúng tôi thường xuyên đi kiểm tra không chỉ Vườn sinh thái Hòn Nhạn mà các cơ sở khác nữa.
Thông thường thì hàng tháng sẽ đi kiểm tra. Hoặc thấy có vấn đề, tin báo nào đó liên quan cũng sẽ tổ chức đi kiểm tra đột xuất về chất lượng, quá trình nuôi nhốt hổ.
Về chuồng trại thì chưa có quy chuẩn rõ ràng, chính xác nên cũng rất khó. Tuy nhiên, cơ quan chức năng thường xuyên kiểm tra, giám sát kỹ vấn đề này để đảm bảo an toàn", ông Cường nói.
Được biết, cuối tháng 7/2016 vừa qua, cơ quan quản lý CITES (Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp) đã đồng ý cho Công ty Bạch Ngọc Lâm nhập khẩu thêm 9 cá thể hổ có nguồn gốc từ Cộng hoà Séc và Bỉ.
Sau khi nhập hổ về, Chi cục Kiểm lâm Nghệ An đã tiến hành kiểm tra số hổ này và đánh giá các cá thể hồ đều có nguồn gốc rõ ràng, khoẻ mạnh.
Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại đã có 24 cá thể hổ được nuôi nhốt tại Vườn động vật sinh thái Hòn Nhạn và tất cả đều khoẻ mạnh, bình thường.
Trao đổi với PV về những vấn đề liên quan, ông Nguyễn Sỹ Quyết (Công ty Bạch Ngọc Lâm) cho biết: Do Việt Nam chưa có quy chuẩn nên khi xây dựng, công ty đã tham khảo rất nhiều cơ sở khác như Thảo Cầm Viên, Safari Phú Quốc...
Ông khẳng định, việc làm dự án để nuôi dưỡng, bảo tồn các nguồn gen quý hiếm của các loài động vật hoang dã. Dự kiến cuối năm 2017, nơi đây sẽ trở thành khu du lịch sinh thái và công ty sẽ thu tiền từ các dịch vụ ăn uống, nghỉ ngơi từ du khách về tham quan.
Về quan hệ giữa ông Tuấn và bà Liên, ông Quyết khẳng định họ chỉ là vợ chồng và ông Tuấn không có bất cứ liên quan gì đến công ty cũng như công việc nuôi hổ trong Vườn động vật sinh thái Hòn Nhạn này.
"Việc ông Tuấn từng có tiền án về hổ và bà Liên đại diện công ty được cấp phép làm dự án, nuôi hổ là khác nhau. Chồng vi phạm không thể đưa vợ ra để chịu trách nhiệm được", ông Quyết khẳng định. (Soha News 2/9) đầu trang(
Ngày 3/9, Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình) vừa ra quyết định lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực quản lý lâm sản đối với ông Nguyễn Văn Nam (SN 1965, trú thôn Hà Lời, xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch).
Theo đó, khoảng 17h ngày 31/8, trong lúc làm nhiệm vụ tại cần Barie Km39, lực lượng của Trạm Kiểm lâm Thượng Trạch (thuộc Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng) đã phát hiện chiếc ô tô nhãn hiệu TOYOTA mang biển số Đà Nẵng 43B-015.15 do ông Nguyễn Văn Nam điều khiển đang chạy từ hướng khu vực rừng Thượng Trạch có dấu hiệu khả nghi.
Tại thời điểm kiểm tra, đối tượng Nam đã không xuất trình được bất cứ giấy tờ nào chứng minh được  nguồn gốc hợp pháp và giấy phép vận chuyển của 4 cá thể Cầy nói trên.
Được biết, trong xe chứa 3 cá thể Cầy Vòi Hương (Paradoxurus hermaphroditus) có trọng lượng 5,9kg và 1 cá thể Cầy Vòi Mốc (Paguma larvata) có trọng lượng 2,5kg.
Hiện 4 cá thể cầy đang được Trung tâm cứu hộ bảo tồn và phát triển sinh vật VQG Phong Nha – Kẻ Bàng chăm sóc, phục hồi sức khỏe để thả về môi trường tự nhiên. (Pháp Luật +4/9) đầu trang(
Tại nhiều nơi trong vùng Đồng Tháp Mười, đặc biệt khu vực quanh Vườn quốc gia Tràm Chim (Tam Nông, Đồng Tháp), các loại động vật hoang dã bị cấm đánh bắt, buôn bán vẫn được bày bán tràn lan, công khai.
Tại thị trấn Thạnh Hóa (huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An) các loại động vật hoang dã như rắn, rùa, chim, cò, trích, diệc, giang sen… được bày bán tràn lan và công khai, thậm chí còn nhiều hơn cả động vật nuôi. Nhiều loại chim, cò sống được nhốt trong lồng hoặc treo lủng lẳng. Khi khách có nhu cầu những người bán hàng sẵn sàng làm thịt, chế biến ngay tại chỗ.
Những người chuyên bán động vật hoang dã ở khu vực trung tâm thị trấn Thạnh Hóa cho biết, nguồn hàng do những thợ săn chuyên nghiệp ở địa phương bắt và cung cấp. Mỗi kg rắn, chim, cò, trích có giá bán từ 150.000 đồng trở lên; chim két xanh có giá 150.000 đồng/con, chim hoàng yến giá 150.000 đồng/cặp, le le giá 500.000 đồng/cặp, bìm bịp giá mỗi con từ 150.000 đồng trở lên…
Hoạt động đánh bắt, buôn bán trái phép các loại động vật hoang dã quanh khu vực Vườn quốc gia Tràm Chim (trên địa bàn huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) cũng sôi động không kém. Rất dễ dàng tìm thấy các loại rắn, rùa, chim, cò… tại các chợ Phú Thọ, Phú Cường, An Long và Tràm Chim. Những loại còn sống được nhốt trong lồng, chuồng lưới, một số khác đã nhổ lông và được bày trên những chiếc mâm.
Tại chợ Tràm Chim (trung tâm huyện Tam Nông), giá bán các loại  động vật hoang dã dao động từ 150.000 đến 200.000 đồng/kg. Tại đây còn có bán những loại rùa, với giá 300.000 đồng/kg và các loại khô rắn với giá từ 380.000 đồng/kg trở lên…
Một phụ nữ chuyên bán chim và cúm núm (một loại chim) ở chợ Tràm Chim nói: “Công an, Kiểm lâm kiểm tra gắt gao quá nên chúng tôi không bày bán công khai với số lượng lớn như trước, nhưng nếu khách có nhu cầu, mua bao nhiêu cũng sẵn sàng đáp ứng”. Người phụ nữ này cũng cho biết, dù biết Nhà nước cấm buôn bán các loại động vật hoang dã nhưng vì mưu sinh vẫn cứ liều mình. “Không bán lấy gì sống. Vả lại, người ta thường đến hỏi mua nên mình phải bán”- người phụ nữ nói.
Cách điểm bán chim cúm núm mấy bước chân là điểm bán rắn, rùa nổi tiếng với thương hiệu “Tám Rắn”. Rắn sống được để trong hồ kiếng, chuồng lưới, còn khô rắn treo lủng lẳng thẳng hàng, bên trong bịch khô rắn có nhãn hiệu của cơ sở chế biến “Tám Rắn”. Chủ cửa hàng Tám Rắn cho biết, rắn bày bán ở đây chủ yếu là các loại ri voi, rắn nước, rắn bông súng, rắn ri cá… Rắn sống có giá bán từ 150.000 đồng/kg trở lên tùy chủng loại, còn khô rắn có giá bán từ 400.000 đồng/kg trở lên...
Nguồn rắn chủ yếu được đưa từ Campuchia về và một số người săn bắt trong khu Ramsar Tràm Chim. Chủ cửa hàng Tám Rắn còn cho biết, ngoài rắn, ở đây còn có loại khô trăn. Tuy nhiên, theo bà, phải là người sành ăn mới phân biệt được khô rắn với khô trăn. Khô trăn có giá rẻ bằng một nửa khô rắn.
Sau khi rời chợ Tràm Chim, người viết bài cùng hai cán bộ ở một viện nghiên cứu công nghệ sinh học đến nhà hàng Phương Chi (thị trấn Tràm Chim) để dùng cơm trưa. Tại đây, chúng tôi thử gọi món chim, cò, cúm núm rô ti. Bà chủ quán cho biết: “Chim, cò, cúm núm độ này khan hiếm, do bị săn bắt theo kiểu tận diệt cộng với các ngành chức năng kiểm tra, truy bắt gắt gao quá”. Tuy nhiên, sau một hồi chuẩn bị, chủ quán cho bưng ra 2 con cúm núm đã chế biến (trọng lượng khoảng 300gram) với giá 280.000 đồng.
Ông Nguyễn Thế Hanh - Phó Giám đốc Vườn Quốc gia Tràm Chim cho biết: “Lực lượng Kiểm lâm tỉnh Đồng Tháp kết hợp với Đội kiểm lâm liên huyện Tam Nông - Tân Hồng và Kiểm lâm Vườn Quốc gia Tràm Chim thường xuyên kiểm tra, phát hiện và bắt, xử lý hành vi mua bán, vận chuyển, chế biến, kinh doanh trái phép các loại động vật hoang dã. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền, vận động mọi người xây dựng ý thức bảo tồn quần thể các loài động vật hoang dã, đặc biệt một số loại động vật bản địa đang dần bị cạn kiệt và có nguy cơ tuyệt chủng. (Tiền Phong 3/9) đầu trang(
Vượt qua hơn 1.100 hồ sơ, 12 người chúng tôi trở thành những tình nguyện viên của chương trình Chăm sóc và bảo tồn rùa biển của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) tại Côn Đảo.
Chúng tôi được phân về ba đảo lớn, có nhiều rùa lên sinh đẻ gồm: Hòn Bảy Cạnh, hòn Tre Lớn và hòn Cau. Những ngày ở Bảy Cạnh để lại kỷ niệm khó quên trong chúng tôi về những chú rùa biển (hay còn gọi là con vích).
Công việc của chúng tôi thường bắt đầu từ lúc nửa đêm và kết thúc khi trời vừa sáng, tùy thuộc vào con nước. Những buổi đêm đi tuần cùng các chiến sĩ kiểm lâm trên bãi cát dài trắng mịn, nhìn từ xa các anh đã phát hiện ra dấu vết đường lên xuống của các chú rùa, trong khi chúng tôi phải căng mắt nhìn thật kỹ hoặc phải đến thật gần. Từ đường lên in hằn trên cát đó, chúng tôi sẽ kiểm tra xem rùa đang làm gì. Khi thì rùa đang đào ổ, khi thì đã đào xong và chuẩn bị đẻ, cũng có khi chúng tôi phát hiện ra thì rùa đã đẻ xong và lấp giấu ổ mất rồi.
Công việc của chúng tôi được xem là nhàn nhất khi phát hiện ra rùa đã đào tổ xong và chuẩn bị đẻ. Bởi lúc ấy, chúng tôi chỉ cần đợi và hứng từng quả trứng sau đó bỏ vào rổ rồi di chuyển về hồ ấp. Khi phát hiện ra rùa đang chuẩn bị đào lỗ đẻ thì phải thật nhẹ nhàng, không được nói chuyện, không được chiếu đèn vì rùa có thể bỏ đi mất. Khó khăn nhất là khi phát hiện ra rùa đã lấp xong hố đẻ, chúng tôi phải đánh dấu lại rồi sau đó là cả một quá trình tìm, đào, bới để móc trứng lên. Hồ ấp là những hố cát đã được đào sẵn ở trung tâm bảo tồn rùa. Trứng từ những tổ tự nhiên sẽ được di dời vào đây để đảm bảo độ an toàn cũng như tăng tỷ lệ nở của rùa. Trứng lấy từ tổ được cho xuống hồ ấp và lấp cát lên. Sau khoảng 45 - 50 ngày, trứng sẽ nở thành rùa con.
Công đoạn cuối cùng trong một đêm làm việc là thả những chú rùa con về với biển. Những chú rùa con sẽ được thả cách mặt biển khoảng 10 m để chúng có thể định vị được đường đi, âm thanh, ánh sáng để từ đó, sau 30 năm, chúng lại quay trở lại chính bãi cát này và sinh sản. Tỷ lệ rùa con sống sót chỉ là 1/1.000 nên nhìn những chú rùa con vừa nở giữa làn sóng biển, mới thấy quá trình sinh trưởng, phát triển của chúng gian truân làm sao.
Những ngày ở Bảy Cạnh, chúng tôi được trải nghiệm biết bao điều mới lạ, từ cách làm sao để phát hiện được rùa dựa vào dấu hiệu đường lên và đường xuống in trên cát, làm sao để biết rùa đẻ chưa hay rồi, làm sao để móc trứng khi rùa đang đẻ, làm sao để đánh dấu rồi xăm tìm tổ trứng… Để lấy được trứng, chúng tôi phải đào cho mình một chỗ nằm ngay sau đuôi rùa. Để hứng trứng rùa, chúng tôi phải nằm bẹp xuống cát, vừa hứng vừa moi.
Mỗi lần nhoài người xuống là một lần mặt mũi, đầu tóc lấm lem cát, nhưng cái cảm giác cầm trên tay những quả trứng rùa còn nóng hổi thật thích thú và thật tự hào. Rùa đẻ xong cũng là lúc chúng tôi tiến hành công tác đo đạc và bấm thẻ cho rùa, bởi lúc này là lúc rùa mẹ nghỉ mệt, công tác bấm thẻ có thể được tiến hành thuận lợi hơn. Sau khi đo chiều dài và chiều rộng của mai, những chiếc thẻ sẽ được gắn vào đốt thứ 2 của bơi trước, cả bên phải và bên trái để có thể quản lý được những con rùa đã từng vào bãi đẻ. Cũng nhờ những chiếc thẻ này, những chú rùa Côn Đảo dù “lưu lạc” sang tận biển Malaysia kiếm ăn cũng vẫn được nhận dạng.
Hiện nay, tại vườn Quốc gia Côn Đảo có 14 bãi biển có rùa lên đẻ trứng với tổng diện tích các bãi đẻ trên hàng chục ngàn mét vuông. Hàng năm có trên 400 rùa mẹ lên làm tổ và trên 120.000 rùa con được cứu hộ và thả về biển. Trong mỗi đợt sinh sản, rùa có thể lên bãi đẻ từ 2 đến 10 lượt, cách nhau tầm 10 - 14 ngày. Tỷ lệ trứng nở thành công đạt đến 87%. Từ năm 1994, Ban quản lý Vườn Quốc gia Côn Đảo đã tiến hành công tác bảo vệ sinh cảnh làm tổ cho rùa biển, di dời ổ trứng về trạm ấp an toàn, kiểm tra và thả rùa con về biển; đồng thời nghiên cứu đặc tính sinh học thông qua việc đo đạc, bấm thẻ cho rùa.
Mùa rùa đẻ nhiều nhất thường bắt đầu từ tháng 5 đến khoảng tháng 9, tập trung tại một vài hòn lớn của Côn Đảo. Dù công tác bảo tồn rùa biển hiện đã được quan tâm nhưng lực lượng kiểm lâm vẫn còn mỏng, công việc vất vả nhiều khi không quản lý hết, lại thêm chưa có chế tài xử phạt các hành động bắt rùa, trộm trứng nên hoạt động này vẫn đang diễn ra khá thường xuyên.
Các sản phẩm từ rùa nói chung và đặc biệt là trứng rùa là những mặt hàng cấm lưu hành nhưng vẫn thu hút rất đông quy tặc nhờ vào lợi ích kinh tế cao. Do đó, công tác bảo tồn tại đây không hề đơn giản, tiềm tàng những hiểm nguy đối đầu. Trên thực tế, trứng rùa không hề bổ dưỡng như mọi người vẫn lầm tưởng bởi thành phần cholesterol trong trứng rùa cao hơn gấp 20 lần so với trứng gà vịt, là nguyên nhân gây bệnh máu nhiễm mỡ, đột quỵ, nhồi máu cơ tim nên việc ăn trứng và thịt rùa để bồi bổ là bịa đặt và không có căn cứ khoa học.
Bên cạnh “quy tặc”, những nguy cơ đe dọa đời sống rùa biển do con người gây ra cũng đã không ít như mất bãi đẻ do hoạt động khai thác tài nguyên, bị đánh bắt hoặc vô tình dính lưới, do ô nhiễm từ rác thải, túi nilong…
Rùa biển là một phần di sản quốc gia, là sứ giả của đại dương. Mỗi loài rùa biển có một vai trò quan trọng riêng trong hệ sinh thái mà chúng sinh sống. Hàng năm, tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế đều phối hợp với Vườn quốc gia Côn Đảo tổ chức cho các đoàn tình nguyện viên ra tìm hiểu công tác bảo tồn rùa biển.
Tuy nhiên, làm thế nào để công tác bảo tồn rùa biển, tránh khỏi nạn quy tặc thì cần sự chung tay của rất nhiều các cấp, ngành và đơn vị bởi công tác này rất quan trọng đối với việc giữ gìn sự cân bằng sinh thái, không chỉ đối với Côn Đảo mà còn đối với thiên nhiên của Việt Nam và Quốc tế. (Tin Tức 2/9) đầu trang(
Ngày 1/9/2016, ông Trần Xuân Cường- Giám đốc Vườn Quốc gia Pù Mát cho biết: Ngày 31/8/2016, tại lâm phần thuộc Trạm QLBVR Khe Choăng quản lý, Trung tâm cứu hộ Động vật hoang dã – Vườn quốc gia Pù Mát đã tiến hành thả lô động vật gồm 10 cá thể do các hộ gia đình ở Thành phố Vinh và huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An bàn giao cho Trung tâm cứu hộ Vườn quốc gia Pù Mát.
Cụ thể, 1 cá thể Rùa núi viền (Manovria impressa) có trọng lượng 2 kg do ông Tô Viết Cường (TP.Vinh) bàn giao ngày 11/ 8/2016; 2 cá thể Kỳ đà hoa (Varanus salvator) có trọng lượng 11,5 kg do bà Nguyễn Thị Hương ở huyện Anh Sơn bàn giao ngày 15/8/2016; 1 cá thể Ba ba trơn (Pelodiscus sinensis) có trọng lượng 1 kg do bà Nguyễn Thị Hương ở Anh Sơn bàn giao ngày 15/8/2016; 2 cá thể Ba ba gai(Palea steindachneri) có trọng lượng 1 kg do do bà Nguyễn Thị Hương ở Anh Sơn bàn giao ngày 15/8/2016; 1 cá thể Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons) có trọng lượng 1,6kg do ông Tô Viết Cường ở TP.Vinh ngày 17/8 và 3 cá thể Rùa núi viền (Manovria impressa ) có trọng lượng 10kg do ông Tô Viết Cường ở TP.Vinh bàn giao ngày 26/8/2016.
“Các loài động vật trên trước khi thả về rừng đều đảm bảo sức khỏe để thích nghi với điều kiện sống ngoài tự nhiên và đã được thả vào Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt Vườn quốc gia Pù Mát”- ông Trần Xuân Cường cho biết. (Công An Nghệ An 1/9) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Ia Grai (tỉnh Gia Lai) cho biết: Đơn vị vừa phối hợp với lực lượng Cảnh sát Giao thông Công an huyện bất ngờ kiểm tra xe ô tô Ford Transit mang biển kiểm soát 81B-012.73 do tài xế Trần Văn Đức (trú tại xã Ia Kênh, TP. Pleiku) điều khiển từ hướng Kon Tum về Pleiku.
Qua kiểm tra, lực lượng Kiểm lâm đã phát hiện trên ô tô có một số cá thể động vật còn sống, gồm: 4 cá thể cầy vòi hương, 3 cá thể don và 1 cá thể rắn với trọng lượng khoảng 19,9 kg. Chủ phương tiện không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của số động vật hoang dã nói trên.
Hiện vụ việc đang được cơ quan chức năng tiếp tục điều tra làm rõ. (Báo Gia Lai 4/9) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
UBND tỉnh vừa có quyết định phê duyệt dự án quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với biển đổi khí hậu đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030.
Theo đó phạm vi lập quy hoạch là diện tích đất đang có rừng và đất trống đang quy hoạch cho lâm nghiệp bao gồm cả diện tích đã quy hoạch cho rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất tại 25 xã nằm trên địa bàn các huyện: Cồn Cỏ, Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong và Hải Lăng.
Tổng diện tích đưa vào rà soát, điều tra, khảo sát và lập quy hoạch khoảng 13.820 ha, với kinh phí trên 314 triệu đồng. Từ đó phân tích, đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng của các xã ven biển đến năm 2016 trên địa bàn đối với cả 3 loại rừng: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất, đề ra phương án quy hoạch bảo vệ, phát triển rừng ven biển ứng phó với biển đổi khí hậu và xây dựng hạ tầng lâm sinh thiết yếu đến  năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
UBND tỉnh cũng yêu cầu các sở, ban, ngành và đơn vị liên quan phối hợp xây dựng các giải pháp, cơ chế thực hiện  các phương án bảo vệ và phát triển rừng để dự án phát huy hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế, xã hội và cũng cố quốc phòng an ninh trên địa bàn. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Quảng Trị 2/9) đầu trang(
Thời điểm PV có mặt tại Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tiêm, hình ảnh nhếch nhác, phản cảm đập vào mắt là có đến hàng chục con trâu bò đang mải mê gặm cỏ. Ngay từ cổng ra vào phân trâu bò, nước thải chảy lênh láng khắp mọi nơi, mùi hôi thối bốc lên nồng nặc.
Một số người dân sống gần đây ví von cho rằng: Khuôn viên của Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Tiêm chẳng khác nào một mảnh đất hoang, cỏ cây tốt um tùm, trâu bò tự do vào gặm cỏ.
Nhiều người dân còn đưa trâu bò vào cột suốt cả ngày đêm, biến nơi đây thành một trang trại chăn nuôi gần như khép kín.
Trước những bất cập trên, ông Nguyễn Hữu Thinh, Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tiêm ngại ngùng lý giải: Cơ quan hiện có 32 cán bộ, công nhân viên chức và người lao động với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ trên 13.000ha rừng và đất lâm nghiệp. Địa bàn rộng, công việc lại thường xuyên bận rộn nên không có thời gian để trực gác, xua đuổi trâu bò ra khỏi khuôn viên công sở.
Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Tiêm là đơn vị sự nghiệp kinh tế có thu, trực thuộc Sở NN&PTNT Hà Tĩnh.
Thiết nghĩ, những lý giải của vị Trưởng ban là không thuyết phục, bởi dù bận rộn công việc chuyên môn nhưng việc xây dựng cơ quan văn hóa, công sở văn minh cũng cần phải được quan tâm đúng mức. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 3/9) đầu trang(
Những năm qua, Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững (gọi tắt là Chương trình 30a) đã có nhiều chính sách hỗ trợ thiết thực đến với các hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại 2 huyện Ba Bể và Pác Nặm, trong đó có chương trình hỗ trợ chăm sóc và bảo vệ rừng với tổng kinh phí lên đến hơn 2,7 tỷ đồng.
Với nguồn kinh phí này, gần 11.200 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại 2 huyện Ba Bể và Pác Nặm đã tích cực trồng rừng sản xuất, rừng phòng hộ với tổng diện tích trên 46.000ha. Bên cạnh đó, hơn 1.000 hộ nghèo tại 2 huyện vùng cao còn được hỗ trợ trên 200 tấn gạo để nhận giao khoán chăm sóc, bảo vệ rừng. Ngoài việc được hỗ trợ kinh phí, những năm qua, người dân còn được hỗ trợ về cây giống, phân bón, kỹ thuật và tập huấn kiến thức về trồng rừng...
Các hoạt động hỗ trợ thiết thực trên đã góp phần tích cực vào việc tăng độ che phủ rừng, cải thiện thu nhập cho người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số tại 2 huyện Ba Bể và Pác Nặm. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 1/9) đầu trang(
Xác định cây giống là yếu tố quan trọng trong khâu chuẩn bị cho vụ trồng rừng mới năm 2016, hiện nay huyện Cam Lộ (Quảng Trị) đang chỉ đạo các đơn vị sớm hoàn tất việc gieo ươm cây giống đảm bảo công tác trồng rừng theo đúng kế hoạch.
Theo kế hoạch, năm 2016 huyện Cam Lộ sẽ trồng mới khoảng hơn 800 ha rừng, trong đó có 300 ha được trồng theo Chương trình bảo vệ và phát triển rừng của Chính phủ. Nhằm đảm bảo số lượng cây giống phục vụ cho kế hoạch trồng rừng, huyện Cam Lộ đã chủ động phối hợp với các đơn vị, gia đình tổ chức gieo ươm tại các vườn ươm trên địa bàn hơn 200 vạn cây giống, chủ yếu là tràm hoa vàng và keo lai.
Để nâng cao chất lượng nguồn giống, các hộ gia đình đã thay thế việc gieo hạt sang giống giâm hom, đầu tư lưới che, dàn phun tưới tự động, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong quá trình ươm cũng như chăm sóc.
Nhờ đó hiện nay các vườn ươm đều trong thời kỳ sinh trưởng và phát triển tốt, đảm bảo về số lượng cũng như chất lượng cho vụ trồng rừng mới. Theo bà con nông dân cho biết, hiện nay mỗi bầu giống bán ra thị trường từ 800-1000đ; nhiều hộ gia đình có thu nhập hàng chục triệu đồng từ mô hình này. (Báo Quảng Trị 1/9) đầu trang(
Năm 1997, tỉnh Thanh Hóa được Hội chữ thập đỏ Nhật Bản hỗ trợ trồng 600ha rừng ngập mặn ở 3 huyện Nga Sơn, Hậu Lộc và Hoằng Hóa. Việc triển khai trồng rừng ngập mặn, đã bảo vệ tốt cho các tuyến đê biển, giảm thiểu kinh phí cho việc sửa chữa, tu bổ đê kè hàng năm và mang lại nguồn lợi thủy sản, tạo sinh kế cho nhân dân địa phương.
Xã Đa Lộc có gần 5km đê biển. Năm 2005, do ảnh hưởng của bão, nước biển dâng cao làm vỡ đê, nước biển xâm thực qua nhiều điểm xung yếu trên gần 4km đê, ảnh hưởng lớn đến đời sống, sản xuất của 4 thôn giáp biển, với trên 1.000 hộ dân. Tuy nhiên, những năm gần đây mỗi khi bão đến chính quyền và người dân địa phương đã yên tâm hơn khi toàn bộ hệ thống đê biển đã được bảo vệ bởi hệ thống rừng ngập mặn.
Với 12.5km đê biển, huyện Hậu Lộc có nhiều tiềm năng, lợi thế nuôi trồng, khai thác các nguồn lợi thủy sản, nhưng cũng là địa phương thường xuyên chịu ảnh hưởng khi bão đổ bộ. Được sự hỗ trợ của Hội chữ Thập đỏ Nhật Bản huyện Hậu Lộc đã trồng được 120ha rừng ngập mặn, tập trung tại các xã Hải Lộc và Đa Lộc, làm bức "tường xanh " bảo vệ hệ thống đê khỏi bão lụt, xói lở do triều cường, bảo vệ vùng đất ven biển trước nguy cơ nước biển dâng cao.
Được sự hỗ trợ của Hội chữ Thập đỏ Nhật Bản, đến nay 3 huyện Nga Sơn, Hậu Lộc và Hoằng Hóa đã cơ bản hoàn thành trồng rừng ngập mặn theo kế hoạch. Những năm qua, rừng đã phát huy hiệu quả trong việc bảo vệ và chống vỡ, xói lở cho hàng 100km để biển và hơn 3.000 ha diện tích nuôi trồng thủy sản cho nhân dân các địa phương. Không chỉ vậy, rừng ngập mặn cũng đã tạo sinh kế cho nhân dân các địa phương, thông qua khai thác các nguồn lợi thủy sản cư trú dưới tán rừng và nuôi thả gia cầm, nuôi ong lấy mật.
Tuy nhiên, công tác bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn vẫn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thủy triều, thời tiết. Hiện nay, cùng với công tác bảo vệ, các địa phương đang tiếp tục trồng mới và trồng thay thế bằng nguồn kinh phí địa phương và huy động lao động tại chỗ để duy trì và mở rộng diện tích rừng ngập mặn. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Thanh Hóa 4/9) đầu trang(
Huyện Di Linh hiện đang khẩn trương, tích cực triển khai các giải pháp khôi phục rừng theo Văn bản chỉ đạo số 4613/UBND - LN, ngày 9/8/2016, của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc thực hiện sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị triển khai các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên và Văn bản số 4641/UBND - LN, ngày 10/8/2016, của UBND tỉnh về việc rà soát các dự án đầu tư gây thiệt hại lớn đến tài nguyên rừng.
Theo chỉ đạo trực tiếp của UBND huyện, các ngành liên quan của huyện hiện đang tập trung phối hợp kiểm tra, rà soát các doanh nghiệp đang triển khai các dự án liên quan đến rừng và tăng cường tuần tra, kiểm soát rừng trên địa bàn. UBND huyện thực hiện nghiêm túc việc đóng cửa rừng và dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên; không thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên sang mục đích khác (kể cả các dự án, công trình đã được phê duyệt nhưng chưa triển khai); không chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo sang trồng cây công nghiệp. UBND huyện sẽ kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, chống người thi hành công vụ; kiên quyết xử lý những cán bộ lợi dụng chức vụ để bao che, dung túng các hành vi vi phạm.
Ngoài việc đóng cửa rừng và kiểm tra chặt chẽ công tác quản lý, bảo vệ rừng, huyện còn triển khai kế hoạch phục hồi, trồng lại rừng. (Báo Lâm Đồng 2/9) đầu trang(
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 8 tháng năm 2016, số liệu về trồng rừng giảm so với cùng kỳ năm trước do mưa bão gây lũ nhiều tại các tỉnh miền Núi phía Bắc trong tháng 8 đã ảnh hưởng đến công việc trồng rừng.
Cụ thể, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 128,8 nghìn ha, giảm 8,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 8,4 nghìn ha, giảm 6 1,4% so với cùng kỳ năm trước; Trồng mới rừng sản xuất đạt 120,4 nghìn ha, giảm 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng được chăm sóc đạt 418,7 nghìn ha, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 5.562 nghìn m3 , tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước.
Tại miền Bắc, các địa phương đang ở giai đoạn trồng rừng chính vụ. Đến ngày 20/8, các tỉnh miền Bắc đã trồng được 116.274 ha rừng, giảm 10,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Bắc Trung Bộ có tiến độ trồng rừng nhanh nhất, đạt 24.041 ha, (tăng 6,7%) so với cùng kỳ năm trước. Đồng bằng sông Hồng, đạt 13.268 ha (giảm 7%), Trung du và miền núi phía Bắc trồng đạt 78.966 ha (giảm 15,1%).
Đáng chú ý, những tỉnh có diện tích trồng rừng nhiều và tiến độ nhanh hơn so với cùng kỳ năm trước là Hòa Bình đạt 12.126 ha (tăng 68,4%), Thanh Hóa đạt 11.993 ha (tăng 22,3%), Phú Thọ đạt 8.982,7 ha (tăng 37%). Bên cạnh công tác trồng rừng tập trung, các địa phương tiếp tục gieo ươm và chăm sóc cây giống, trồng cây phân tán, chăm sóc diện tích rừng trồng.
Còn tại miền Nam,  các địa phương đã triển khai trồng rừng. Đến ngày 20/8, các địa phương trồng đạt 12.489 ha, giảm 11,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số tỉnh có diện tích trồng rừng khá và tăng so với cùng kỳ năm trước là: Quảng Nam trồng đạt 3.450 ha (tăng 2,4%), Đắk Nông trồng đạt 1.974 ha (tăng 281,1%), Cà Mau trồng đạt 1.061 ha (tăng 43,1%).
Bên cạnh công việc trồng rừng, các địa phương tiếp tục gieo ươm và chăm sóc cây giống phục vụ cho kế hoạch trồng rừng năm 2016. Ngoài ra, các địa phương tiếp tục thực hiện giao khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh và chăm sóc rừng trồng. (Đảng Cộng Sản Việt Nam 1/9) đầu trang(
Theo quy định, việc trồng bù diện tích rừng mà các chủ đầu tư thủy điện đã lấy để triển khai dự án (DA) phải thực hiện song song với việc xây dựng công trình thủy điện. Tuy nhiên, trong tổng số hơn 121ha rừng phải trồng bù, kinh phí hơn 5,6 tỷ đồng của 5 DA thủy điện trên địa bàn tỉnh hiện chỉ có một DA hoàn thành.
Thủy điện Sơn Trà 1 thuộc địa bàn hai xã Sơn Kỳ (Sơn Hà) và Sơn Lập (Sơn Tây) chính thức triển khai thi công giữa năm 2015. Đây chính là thời điểm chủ đầu tư DA thủy điện này nộp vào Quỹ Bảo vệ rừng của tỉnh gần 850 triệu đồng để trồng bù 19,5ha rừng phòng hộ. Nhiệm vụ trồng bù diện tích rừng này được giao cho Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Thạch Nham (Sở NN&PTNT).
Hiện nay, gần 20ha lim trồng bù rừng ở DA thủy điện Sơn Trà 1 đã lên xanh và cao hơn 1m. Anh Hòa - Tổ trưởng bảo vệ rừng của Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Thạch Nham cho biết: "Đất ở đây tốt, thích hợp với cây lim. Chẳng bao lâu nữa, cánh rừng lim sẽ cao lớn, bù đắp một phần khoảng xanh mà thủy điện đã lấy mất".
Theo kế hoạch, đến cuối năm 2018, công trình thủy điện Sơn Trà 1 mới hoàn thành, nhưng từ cuối năm 2015 việc trồng bù rừng đã cơ bản hoàn thành. Ông Trần Ngọc Thương - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT cho biết: "Đây là DA thủy điện đầu tiên trên địa bàn chủ đầu tư tích cực trong nộp tiền và công tác trồng bù được triển khai kịp thời. Chủ các DA thủy điện khác nên học tập ý thức trách nhiệm của chủ đầu tư thủy điện Sơn Trà 1, nếu việc triển khai DA lấy đi phần diện tích rừng phòng hộ".
Theo kế hoạch, vụ trồng rừng năm 2015, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Trà Bồng sẽ hoàn tất việc trồng rừng thay thế cho DA thủy điện Hà Nang. Tuy nhiên, đến nay, Ban Quản lý mới trồng được 28ha. Dù vậy, số diện tích này chưa được xác nhận nghiệm thu, do có nhiều vướng mắc, tỷ lệ cây sống không đảm bảo, nên không giải ngân được.
Ông Thới Văn Hiền - cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Trà Bồng cho biết: "Hiện tại Ban Quản lý còn nợ gần 500 triệu đồng kinh phí bỏ ra trồng rừng, nhưng chưa được nghiệm thu, giải ngân, chi trả nợ. Việc trồng bù rừng thủy điện ở Trà Bồng gặp rất nhiều khó khăn, cần tỉnh và huyện quan tâm tháo gỡ". Khó khăn lớn nhất là, quy hoạch thiết kế trồng rừng thay thế liên tục bị thay đổi so với hiện trạng, do bị lấn chiếm trái phép.
Năm 2015, tỉnh có kế hoạch trồng bù diện tích rừng của 3 DA thủy điện, gồm Sơn Trà 1, Hà Nang và Đắk Ba (Sơn Tây), với tổng diện tích khoảng 100ha. Tuy nhiên, chỉ mới có thủy điện Sơn Trà 1 là hoàn thành. Còn lại thủy điện Hà Nang, thủy điện Đắk Ba tiếp tục chuyển sang năm 2016.
Trao đổi vấn đề này, ông Trần Ngọc Thương - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT khẳng định: "Bằng mọi giá, năm 2016 phải trồng xong hơn 100ha rừng bù thủy điện còn lại, vì kinh phí trồng rừng đã được chủ đầu tư nộp về Quỹ Bảo vệ rừng. Sở sẽ chỉ đạo các đơn vị trồng rừng quyết tâm hoàn tất thủ tục, tổ chức thi công ngay trong tháng 9 này". (Báo Quảng Ngãi 2/9) đầu trang(
Sáng 2-9, UBND TP.HCM phối hợp Sở GTVT, Sở NN&PTNT tổ chức lễ trồng cây chào mừng kỷ niệm 71 năm Cách mạng tháng Tám (19-8-1945 – 19-8-2016) và Quốc khánh (2-9-1945 – 2-9-2016).
Đến dự có ông Đinh La Thăng - bí thư Thành ủy TP.HCM, cùng lãnh đạo Thành ủy, UBND TP, các sở ban ngành, quận huyện và nhân dân quận Gò Vấp.
150 cây xanh được trồng tại công viên văn hóa quận Gò Vấp là các chủng loại có hoa đẹp, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và cảnh quan khu vực công viên như lộc vừng hoa trắng và hoa đỏ, quế rừng, gõ nước.
Ngoài ra, còn có 20 cây nhạc ngựa là các cây đã bứng để phục vụ công trình xây dựng hệ thống thoát nước và mở rộng đường Trần Đại Nghĩa.
Việc trồng lại các cây xanh này là sự quan tâm của lãnh đạo TP trong việc gìn giữ cây xanh bắt buộc phải di dời khi thực hiện các công trình, dự án trên địa bàn TP.
Sau lễ trồng cây, TP sẽ tiếp tục công tác trồng rừng và trồng mới cây xanh.
Ông Lê Thanh Liêm, phó chủ tịch UBND TP, cho biết những năm qua, TP đẩy mạnh việc bảo vệ, phát triển rừng và mảng xanh đô thị. Giai đoạn 2011-2015, TP đã trồng được trên 5 triệu cây xanh.
Để đạt được mục tiêu giai đoạn 2016-2020, TP sẽ trồng được trên 5 triệu cây xanh các loại, ông Liêm đề nghị các sở, ban ngành, quận, huyện, các tổ chức doanh nghiệp có kế hoạch cụ thể để trồng cây xanh.
“Mỗi người dân, mỗi công chức, viên chức, người lao động tại TP hãy trồng thêm một cây xanh, tức là thêm một hành động vì môi trường, góp phần cho TP xanh, sạch, đẹp, có chất lượng sống tốt, xứng đáng với tên gọi TP mang tên Bác”, ông Liêm kêu gọi. (Tuổi Trẻ 2/9) đầu trang(
Bộ KH&CN vừa kiểm tra các mô hình theo các tuyến phòng hộ (tuyến ngoài, tuyến giữa và tuyến giáp đồng) ở 4 huyện ven biển của 3 tỉnh vùng Bắc Trung Bộ.
Hiện đã có 18ha rừng phòng hộ được trồng. Đây là sản phẩm thuộc đề tài độc lập cấp nhà nước: “Nghiên cứu phát triển bền vững hệ thống rừng phòng hộ tại dải ven biển Bắc Trung Bộ” do Viện Nghiên cứu và Phát triển vùng, Bộ KH&CN chủ trì.
Kết quả kiểm tra các mô hình trồng ở vùng ven biển (rừng ngập mặn, rừng vùng cát) cho thấy, tuy khó khăn về các yếu tố lập địa, khí hậu nhưng cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, đặc biệt là cây rừng ngập mặn (cây bần chua) sau 27 tháng tuổi cao bình quân trên 2,5m.
Mô hình trồng rừng vùng cát bằng cây keo lá liềm ở cả 3 tỉnh đều sinh trưởng, phát triển tốt. Đặc biệt, ở Cẩm Dương, Hà Tĩnh, cây keo lá liềm cao bình quân trên 2,8m, đã khép tán, phát huy tốt chức năng phòng hộ chắn gió, chắn cát, bảo vệ cây nông nghiệp. (Khoa Học Và Phát Triển 1/9) đầu trang(
Hàng trăm hộ dân trồng rừng theo dự án 30a tại huyện Đam Rông (Lâm Đồng) đang “khóc ròng” vì rừng trồng đến kỳ khai thác nhưng giá rẻ mạt. Sau 5 năm trồng rừng, trừ chi phí, chỉ còn lãi 5 triệu đồng/ha. Với mức thu này, không thể nào gọi là dự án xóa đói giảm nghèo cho người dân.
Là huyện nghèo được nhà nước đầu tư, hỗ trợ giảm nghèo nhanh theo Nghị quyết 30a của Chính phủ ban hành cuối năm 2008, Đam Rông đã thực hiện chính sách hỗ trợ thông qua việc giao đất để trồng rừng sản xuất (trồng keo). BQL Rừng phòng hộ Sêrêpốk là chủ đầu tư của dự án, bắt đầu thực hiện từ năm 2009.
Theo BQL Rừng phòng hộ Sêrêpốk, diện tích rừng trồng giai đoạn 2009 - 2014 trên địa bàn huyện Đam Rông là 2.706ha/2.497 hộ. Tính riêng trong hai năm 2009 và năm 2010, đạt hơn 1.400ha. Trữ lượng trung bình đạt 61,5 m3/ha. Đến nay, rừng keo này đã đến kỳ khai thác. Tuy nhiên diện tích khai thác chỉ đạt 446ha (trên 31%).
Thực hiện việc khảo sát tại diện tích đất lâm nghiệp được giao trồng rừng sản xuất theo Nghị quyết 30a tại xã Rô Men cho thấy, có không ít những đám rừng keo đã bị chặt bỏ hoặc quá kỳ khai thác nhưng bà con vẫn án binh bất động. Đây là tình trạng chung ở các xã trồng rừng 30a.
Ông Sùng A Tú - người dân xã Rô Men cho biết, cuối năm 2009 anh có nhận 3ha đất rừng để trồng rừng sản xuất. Tuy nhiên, đến thời điểm khai thác thương lái tìm mọi cách ép giá, với giá thu mua rẻ mạt. Tính ra, sau 5 năm trồng và chăm sóc, mỗi ha keo nông dân chỉ còn lãi 5 triệu đồng/ha, không thể nào gọi là dự án xóa đói giảm nghèo cho người dân được.
Không riêng gì anh Tú, nhiều hộ nông dân trồng keo đã đến kỳ khai thác khác nhưng không buồn lên rẫy. Rất nhiều hộ dân đã tự ý chuyển đổi diện tích đất rừng được giao khoán để chuyển sang trồng cà phê, sắn, bo bo …
Lý giải điều này, ông Nguyễn Văn Cộng - Trạm trưởng Trạm quản lý bảo vệ rừng Rô Men, cho biết: “Diện tích keo đều nằm gần đường giao thông, thuận tiện cho việc vận chuyển, có giá từ 20 - 25 triệu đồng/ha. Phần còn lại nằm ở những vị trí khó khăn, không có đường nên doanh nghiệp bắt buộc phải mở đường hay thuê máy cày trung chuyển. Trừ mọi chi phí, họ chỉ trả cho chủ rừng 5 triệu đồng/ha”.
Đầu tháng 6/2016, UBND huyện Đam Rông đã có công văn kiểm tra tổng diện tích đất lâm nghiệp trồng rừng 30a bị chuyển đổi sang trồng cây ngoài lâm nghiệp trên 90ha. Diện tích này hiện bà con trồng chủ yếu là cà phê và ngoài ra còn có các loại cây nông nghiệp như bắp, bo bo, mì…
Hầu hết bà con đều nhận thức rõ đây là diện tích đất lâm nghiệp và không được tự ý trồng cà phê hay các loại cây nông nghiệp. Tuy nhiên họ đều có cách lý giải chung rằng: Trồng cây lâm nghiệp không ai mua nên trồng cà phê, bo bo, sắn… sẽ mang lại nhiều lợi nhuận hơn, việc mua bán cũng dễ dàng hơn nhiều.
Trước thực trạng đó, ông Bùi Văn Hởi - Chủ tịch UBND huyện Đam Rông cho biết, huyện sẽ chỉ đạo các đơn vị liên quan và các xã tiến hành vận động bà con tự nhổ bỏ cây cà phê và các loại cây nông nghiệp để trồng lại rừng. Nếu bà con không thực hiện, huyện sẽ kiên quyết nhổ bỏ, đồng thời cắt hợp đồng giao đất trồng rừng.
Năm 2016, Đam Rông vẫn tiếp tục triển khai trồng 100ha rừng theo Nghị quyết 30a, chăm sóc rừng trồng mới năm thứ 2 và thứ 3 với diện tích 200ha, kinh phí dự tính là 1,1 tỷ đồng. Dù Đam Rông xác định trồng rừng là một hướng đi mới mang lại thu nhập đáng kể cho người dân, nhưng thực sự để người trồng rừng sống được nhờ rừng đang là câu chuyện khó. (Nông Nghiệp Việt Nam 1/9) đầu trang(
Ngày (3/9), Công ty cổ phần Lâm nghiệp Tháng Năm đã tổ chức lễ khánh thành Nhà máy chế biến gỗ Nghệ An, đóng trên địa bàn xã Nghĩa Hội, huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An).
Dự án Nhà máy chế biến gỗ và ván sợi công nghệ MDF thuộc Công ty cổ phần Lâm nghiệp tháng năm được khởi công xây dựng từ tháng 2/2013 trên diện tích 40 ha tại Khu công nghiệp huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An). Đây là dự án chế biến gỗ ván sợi lớn nhất Việt Nam sử dụng công nghệ chế biến hiện đại nhất cho đến thời điểm này.
Với tổng số vốn đầu tư 300 triệu USD từ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á, dự án Nhà máy chế biến gỗ được xây dựng qua hai giai đoạn: Giai đoạn 1 với tổng mức đầu tư hơn 100 triệu USD gồm dây chuyền chế biến gỗ thanh với công suất 12.000 m3/năm và dây chuyền chế biến ván sợi MDF với công suất: 130.000 m3/năm. Giai đoạn 2 sẽ nâng tổng công suất của nhà máy gỗ thanh lên 40.000 m3/năm và nhà máy gỗ MDF: 400.000 m3/năm với tổng mức đầu tư 200 triệu USD.
Dự án Nhà máy chế biến gỗ Nghệ An được xây dựng trong khuôn khổ dự án “Nhà máy chế biến gỗ và phát triển rừng bền vững tại Nghệ An” thể hiện tầm nhìn chiến lược của chủ đầu tư là Tập đoàn TH, cũng như sự đồng hành quyết liệt của đơn vị tư vấn đầu tư là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á (Bac A Bank) khi quyết định lựa chọn những nhà cung cấp từ Cộng hòa Liên bang Đức với công nghệ tiên tiến, hiện đại bậc nhất Châu Âu.
Phát biểu tại buổi lễ, ông Vương Đình Huệ - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ đánh giá cao những nỗ lực của tỉnh Nghệ An, của nhà đầu tư trong việc để nhà máy hoàn thành đảm bảo tiến độ, thúc đẩy kinh tế miền Tây Nghệ An phát triển, Phó thủ tướng cũng mong muốn tỉnh Nghệ An và các nhà đầu tư phối hợp chặt chẽ, tạo ra vùng nguyên liệu bền vững, nâng cao hiệu quả và năng suất cho nhà máy, góp phần phát triển kinh tế.
Nhà máy đi vào hoạt động sẽ tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương, mang lại hiệu quả kinh tế cao, tỷ suất sinh lợi lớn và đóng góp lớn vào nguồn thu của Ngân sách của tỉnh Nghệ An. (Tầm Nhìn 3/9) đầu trang(
UBND xã Trường Lâm đã có văn bản xử lý công ty Minh Long về việc tự ý san lấp 5000m2 đất rừng sản xuất để xây dựng nhà xưởng trái phép. Tuy nhiên, gần 1 năm trôi qua, công ty Minh Long vẫn ngang nhiên dựng nhà xưởng, sản xuất gỗ dăm trái phép mà không bị xử lý.
Bức xúc trước việc công ty Minh Long sản xuất gỗ dăm trái phép gây ảnh hưởng đến cuộc sống, người dân thôn Hòa Lâm, xã Trường Lâm đã có phản ánh lên UBND xã này. Ngày 7/10/2015, UBND xã Trường Lâm (huyện Tĩnh Gia) đã có văn bản số 56/TB-UBND thôngbáo về việc đình chỉ sản xuất gỗ dăm của Công ty TM Minh Long 68 (công ty Minh Long) do ông Trần Ngọc Thịnh làm giám đốc.
Song, dường như ông Thịnh và công ty Minh Long coi thường UBND xã Trường Lâm khi tiếp tục ngang nhiên sản xuất gỗ dăm.
Bất lực trước hành động ngang ngược của công ty Minh Long, ngày 16/10/2015, xã Trường Lâm đã có báo cáo số 55/BC-UBND gửi đến UBND huyện Tĩnh Gia. Trong báo cáo nêu rõ “Ngày 7/10/2015, UBND xã Trường Lâm đã ra thông báo số 56/TB-UBND yêu cầu ông Trần Ngọc Thịnh dừng ngay việc sản xuất gỗ dăm, nhưng ông Trần Ngọc Thịnh vẫn không chấp hành mà vẫn tiến hành tổ chức sản xuất, đồng thời cũng không khắc phục các tồn tại… ảnh hưởng đến sinh hoạt và gây bức xúc trong nhân dân…
Với chức năng thẩm quyền ở cơ sở còn có hạn, vậy UBND xã Trường Lâm báo cáo UBND huyện Tĩnh Gia xem xét kiểm tra và giải quyết theo thẩm quyền”.
Sau đó, công ty Minh Long lại chuyển “đại bản doanh” sang một vị trí khác vẫn tại thôn Hòa Lâm xã Trường Lâm.
Đáng chú ý, lần này công ty Minh Long ngang ngược hơn khi tự ý san phẳng khoảng 5.000m2 đất rừng sản xuất để làm xưởng băm dăm trái phép.
Dù UBND xã Trường Lâm đã ra quyết định phạt hành chính 5 triệu đồng và yêu cầu công ty Minh Long dừng ngay việc làm sai trái, bất chấp luật pháp. Song dường như mức phạt 5 triệu đồng dường như quá nhỏ so với lợi ích từ việc “chiếm” 5.000m2 đất rừng khiến công ty này bất chấp tất cả, một xưởng gỗ dăm vẫn cứ “lầm lũi” mọc trong khi UBND xã Trường Lâm bất lực.
Những động thái trên của công ty Minh Long khiến dư luận đặt ra câu hỏi, “thế lực nào bảo kê cho công ty này, khiến UBND xã Trường Lâm không dám mạnh tay?”.
Không những vậy, sau khi UBND tỉnh Thanh Hóa có chỉ đạo kiểm tra xử lý các xưởng gỗ dăm trái phép, ngày 2/6/2016, UBND huyện Tĩnh Gia quyết định lập đoàn thanh tra liên ngành kiểm tra xử lý vi phạm đối với các cơ sở gỗ dăm trái phép trên địa bàn huyện.
Ngày 7/7/2016, UBND huyện Tĩnh Gia có công công văn số 1313/TB-UBND gửi công ty TNHH thương mại và dịch vụ Minh long 68. Theo văn bản số 1313, công ty Minh Long hoạt động khi chưa có đầy đủ các văn bản pháp lý được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép. Công ty Minh Long chưa được chấp thuận chủ trương đầu tư, không có giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép hoạt động sản xuất kinh doanh gỗ dăm theo quy định, sử dụng sai mục đích, tổ chức xây dựng công trình, hạng mục công trình trái phép.
Vì vậy, UBND huyện Tĩnh Gia yêu cầu công ty Minh Long dừng mọi hoạt động liên quan đến thu mua nguyên liệu và sản xuất, chế biến dăm gỗ của cơ sở. Công ty Minh Long phải chủ động tháo dỡ nhà xưởng, dây chuyền máy móc và các phương tiện, thiết bị khác phục vụ cho sản xuất, chế biến gỗ dăm. Hoàn trả nguyên trạng, khôi phục lại tình trạng đất như ban đầu và thực hiện trước ngày 15/7/2016.
Mới đây nhất, Công ty điện lực Thanh Hóa cũng có văn bản số 1264/PCTH-P12 gửi điện lực Tĩnh Gia về việc ngừng bán điện cho cơ sở sản xuất gỗ dăm trái phép của công ty Minh Long. Song gần 2 tháng trôi qua, chỉ đạo của công ty điện lực Thanh Hóa vẫn chưa được điện lực Tĩnh Gia thực hiện.
Gần 1 năm qua, công ty Minh Long vẫn san lấp đất rừng, vẫn tiếp tục xây dựng xưởng mà không bị cơ quan chức năng nào “sờ gáy”, khiến dư luận càng thêm nghi ngờ về việc có người bảo kê cho công ty này.
Dường như, học tập “gương sáng” của công ty Minh Long, rất nhiều doanh nghiệp khác trên địa bàn huyện Tĩnh Gia cũng lao vào sản xuất gỗ dăm dù chưa được cấp phép. Trong báo cáo mới nhất của UBND huyện Tĩnh Gia, ngoài công ty Minh Long, trên đại bàn huyện còn 6 đơn vị khác sản xuất gỗ dăm trái phép gồm: cơ sở sản xuất gỗ dăm của công ty Nghi Sơn; cơ sở sản xuất gỗ dăm của công ty Sinh Lộc Phát; cơ sở sản xuất gỗ dăm của công ty Thành Tiến; cơ sở sản xuất gỗ dăm của công ty Việt Trung; cơ sở sản xuất gỗ dăm của công ty T&T và 1 xưởng mới mọc của công ty Ngọc Nguyên.
Các cơ sở này nằm rải rác ở khắp nơi, từ trong cảng nước sâu Nghi Sơn cho đến các mỏ đá heo hút. Điển hình như tại mỏ đá Trường Lâm, dù chỉ được cấp phép khai thác đá, nhưng tại đây vẫn tồn tại xưởng gỗ dăm của công ty Việt Trung do ông Hồ Văn Việt làm chủ. Dù đã nhiều lần bị UBND xã Trường Lâm xử phạt, yêu cầu căt điện. Song đến nay một dây chuyền băm dăm vẫn án ngữ trong mỏ đá Trường Lâm, hàng ngày tiếng máy băm dăm vẫn ngân lên “hòa nhịp” vào cùng tiếng đá.
Đem vấn đề công ty Minh Long tự ý san lấp 5000m2 đất rừng phản ánh đến Tổng cục Lâm nghiệp, trả lời PV, Phó Tổng cục trưởng Cao Chí Công cho biết: “Việc phá rừng, xây dựng xưởng là sai. Nếu phản ánh của báo chí là có cơ sở thì Tổng cục sẽ gửi công đề nghị tỉnh Thanh Hóa xác minh”.
Trả lời PV trước đó, Phó Tổng cục trưởng Cao Chí Công cho biết, đến nay chưa có đơn vị nào có văn bản đề nghị xây dựng cơ sở sản xuất mới có sản xuất dăm đáp ứng được đủ các yêu cầu của Bộ NN&PTNT và cũng chưa có đơn vị nào có đề nghị xây dựng xưởng với Bộ. Nếu các cơ sở được phép phải đảm bảo 4 yêu cầu: Phù hợp với quy hoạch chế biến gỗ theo quyết định 2728 của Bộ NN&PTNT ban hành ngày 21/10/2012. Phải chủ động được nguồn nguyên liệu tối thiểu 50%. Phải được Bộ NN&PTNT chấp thuận. Cuối cùng là phải có chế biến sâu. (An Ninh Tiền Tệ Và Truyền Thông 5/9) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Trong chiến dịch "Ops Chameleon," Cục bảo vệ động vật hoang dã và Công viên Quốc gia (Perhilitan) Malaysia đã thu giữ một số lượng lớn bộ phận cơ thể động vật trị giá 2 triệu ringgit (khoảng 500.000 ​USD) và bắt giữ 12 người trong đó có 8 người Việt Nam.
Tổng giám đốc Perhilitan, Abdul Kadir Abu Hassan cho biết chiến dịch được thực hiện vào cuối tháng 8 ở Sungai Buloh, Rawang, Jalan Ipoh, Taman Prima Puchong và Taman Perindustrian OUG.
12 người bị bắt giữ gồm có ​2 công dân Trung Quốc, ​8 người Việt Nam và 2 người dân địa phương trong độ tuổi từ 22-54 đã bị bắt giữ trong các cuộc tấn công này.
Theo ông Abdul Kadir các bộ phận thu giữ được bao gồm ngà voi, vảy tê tê, các bộ phận cơ thể khác nhau của chim mỏ sừng, da hổ và răng, móng vuốt gấu và xương và sọ được cho là từ động vật động vật hoang dã có vú.
"Chúng tôi tin rằng các bộ phận động vật nhập lậu này được tiêu thụ trong thị trường trong nước và quốc tế. Chúng tôi đang điều tra đó các bộ phận đến từ đâu," ông nói trong một cuộc họp báo tại trụ sở Perhilitan tại Jalan Cheras ngày 2/9.
Vụ việc đang được điều tra theo điều 68 của Luật bảo tồn đời sống hoang dã năm 2010 (Act 716).  Nếu bị kết án sẽ phải chịu một khoản tiền phạt tối đa lên tới RM500,000 hoặc bị phạt tù không quá năm năm hoặc cả hai.
Chiến dịch "Ops Chameleon" là một hoạt động chung giữa Perhilitan, bộ phận chống tội phạm liên quan đến động vật hoang dã (WCU), Interpol và Ủy ban bảo vệ động vật hoang dã. (Vietnam+ 3/9) đầu trang(
Ngày 3/9, tại Hội nghị Bảo tồn thiên nhiên Thế giới do Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) tổ chức ở Honolulu, thuộc bang Hawaii của Mỹ, các quan chức cho rằng thế giới đã tiến gần đến mục tiêu phục hồi các khu rừng và đất đai tự nhiên bị hư hại vào năm 2020.
Theo nguồn tin trên, Malawi và Guatemala đã cam kết phục hồi tổng cộng 4,54 triệu ha đất bị hư hại.
Các cam kết này là một phần trong sáng kiến "Thách thức Bonn" nhằm phục hồi 150 triệu ha đất bị hư hại vào năm 2020.
Trả lời họp báo, nhà hoạt động Bianca Jagger nói: "Chúng tôi đã vượt qua cột mốc 100-113 triệu ha và đang trên đường đạt được mục tiêu "Thách thức Bonn." Đây có lẽ là một trong những sáng kiến quan trọng nhất trên thế giới."
Bà Jagger nhấn mạnh đất sẽ bảo vệ nguồn nước, phát triển nông nghiệp, tạo việc làm và chống biến đổi khí hậu.
Sáng kiến "Thách thức Bonn" do Đức và IUCN đưa ra năm 2011 và được Hội nghị về chống biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc thông qua năm 2014. Mục tiêu cuối cùng là phục hồi 350 triệu ha đất vào năm 2030.
Theo IUCN, việc đạt được mục tiêu trên sẽ đem lại 170 tỷ USD/năm nhờ vào nguồn nước được bảo vệ, cải thiện mùa màng, các sản phẩm từ rừng, đồng thời có thể giảm tới 1,7 tỷ tấn khí thải CO2/năm.
Hiện tổng cộng có 36 chính phủ, tổ chức và các công ty đã cam kết thực hiện sáng kiến "Thách thức Bonn." Các quốc gia mới cam kết gần đây gồm Panama, Côte d'Ivoire, Cộng hòa Trung Phi, Guinea và Ghana. (Vietnam + 4/9) đầu trang(./.