|
Ngày 07 tháng 09 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình - Trưởng Ban Chỉ đạo 389 quốc gia vừa có ý kiến chỉ đạo về việc cán bộ Cục Hải quan thành phố Hà Nội đánh tráo, chiếm đoạt tang vật là ngà voi.
Theo đó, xét báo cáo của Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo 389 quốc gia về vụ việc cán bộ Cục Hải quan thành phố Hà Nội lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để đánh tráo, chiếm đoạt 156 kg ngà voi đang lưu giữ trong kho tang vật, Phó Thủ tướng giao Bộ Công an chỉ đạo Công an thành phố Hà Nội sớm có kết luận điều tra để xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.
Bộ Tài chính chỉ đạo Tổng cục Hải quan rà soát, chấn chỉnh công tác quản lý, giám sát kho tang vật, đảm bảo chặt chẽ, an toàn và thực hiện nghiêm túc công tác thanh tra, kiểm tra công vụ, luân chuyển cán bộ theo đúng quy định.
Trước đó, theo Thông tấn xã Việt Nam, Cơ quan An ninh điều tra (PA92), Công an thành phố Hà Nội đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam nghi phạm Phạm Minh Hoàng, cán bộ hải quan thuộc Cục Hải quan Hà Nội để điều tra về hành vi "Tham ô tài sản".
Phạm Minh Hoàng bị khởi tố liên quan đến vụ hơn 150kg ngà voi là tang vật vi phạm do Cục Hải quan Hà Nội thu giữ đã bị đánh tráo,
Hai đồng phạm khác của Hoàng liên quan đến vụ án cũng đang bị cơ quan an ninh bắt giữ để phục vụ công tác điều tra. (Tiền Phong 5/9)đầu trang(
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng 8/2017, đã xử lý 42 vụ vi phạm, tịch thu 32 phương tiện, 18,998 m3 gỗ các loại, phạt hành chính 675 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách nhà nước 575 triệu đồng). Toàn tỉnh không có vụ cháy nào xảy ra, số vụ chặt phá rừng chỉ có 01 vụ, (diện tích rừng bị chặt phá 0,08 ha) và đã được xử lý nghiêm...
Để có được kết qua trên, ngành Kiểm lâm đã triển khai tổ chức củng cố các chốt, trạm bảo vệ rừng phù hợp với yêu cầu về công tác quản lý, bảo vệ rừng; tập trung xây dựng và thực hiện tốt phương án nâng cao năng lực và trách nhiệm cho cán bộ kiểm lâm. Bên cạnh đó, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. Đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng và xử lý nghiêm những trường hợp lấn chiếm, sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích trên địa bàn quản lý. (Tuyenquang.gov.vn 5/9)đầu trang(
Rừng là tài nguyên vô cùng quý báu, tài sản của quốc gia. Tuy nhiên, trong những năm qua, tình trạng rừng bị tàn phá, bị xâm hại, bị khai thác trái phép diễn ra rất phức tạp ở nhiều địa phương, tại nhiều tỉnh, thành đã làm cho diện tích rừng dần bị thu hẹp. Trước thực trạng này, Ðảng bộ và chính quyền huyện Lạc Dương đã chỉ đạo quyết liệt phải bằng mọi biện pháp “giữ rừng”...
Dù khá bận với công việc, song Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Lạc Dương - Đồng Văn Lâm đã dành gần hai giờ đồng hồ để tiếp chuyện chúng tôi. Với thâm niên hơn 30 năm gắn bó với rừng, với ngành Kiểm lâm, câu chuyện của vị Hạt trưởng và đồng nghiệp về công tác quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR); nhất là đấu tranh, ngăn chặn nạn phá rừng, khai thác rừng trái pháp luật trên địa bàn huyện Lạc Dương trong những năm qua cũng lắm gian nan, thử thách...
Lạc Dương có 131.233 ha đất tự nhiên; trong đó, diện tích có rừng là 111.597,3 ha; tổng diện tích rừng là 108.327,3 ha (104.521,6 ha rừng tự nhiên và 3.805,7 ha rừng trồng), với 3 loại rừng đặc trưng: rừng đặc dụng 54.358,3 ha; rừng phòng hộ 36,237,2 ha và rừng sản xuất là 17.731,9 ha.
Dù chỉ có 5 xã và 1 thị trấn, song, địa bàn huyện rộng, trải dài và chia cách khá phức tạp khó khăn trong việc đi lại, nhất là công tác quản lý địa bàn. Trong khi đó, Hạt Kiểm lâm huyện Lạc Dượng chỉ có 19 cán bộ, công chức. Dù vậy, với nhiệm vụ được giao và bằng tâm huyết, tình yêu nghề, những năm qua, Hạt Kiểm lâm huyện đã có nhiều nỗ lực trong công tác QLBVR; thường xuyên phối hợp với các lực lượng chức năng liên quan và quần chúng nhân dân các xã, thị trấn tuyên truyền, vận động, giáo dục; tăng cường cán bộ bám địa bàn, “bám rừng” đấu tranh, ngăn chặn hạn chế đáng kể tình trạng “chảy máu rừng”, bảo vệ, giữ gìn nguồn tài nguyên quý giá của địa phương, của quốc gia.
Là một trong những địa phương “nóng” về tình trạng phá rừng, đặc biệt 3 năm về trước và chủ yếu tập trung ở các xã dọc tuyến Quốc lộ 27C (đường 723); do đó, ngoài thường xuyên cử cán bộ “cắm chốt” tại tất cả các xã, thị trấn, nhất là các địa bàn phức tạp, Hạt Kiểm lâm huyện đã tham mưu Huyện ủy, UBND huyện Lạc Dương triển khai các kế hoạch, phương án huy động mọi nguồn lực và nhân lực tập trung công tác QLBVR.
Nhớ lại những năm trước, khi nạn phá rừng diễn ra khá “nóng” trên địa bàn, vị Hạt trưởng không khỏi chua xót, anh cho biết: riêng trong năm 2013, trên địa bàn huyện Lạc Dương đã xảy ra 142 vụ vi phạm lâm luật (120 vụ phá rừng và 22 vụ khai thác rừng trái phép); trong đó, tại xã Đạ Sar 79 vụ, xã Đạ Nhim 29 vụ, xã Đạ Chais 5 vụ... Bên cạnh đó, tình trạng khai thác thiếc trái phép cũng là hành vi gián tiếp phá rừng, xâm hại tài nguyên rừng; đồng thời, lợi dụng địa bàn tiếp giáp với các xã, huyện khác trong tỉnh và các tỉnh lân cận, một số đối tượng lén lút khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép cũng diễn ra rất phức tạp, thách thức chính quyền và ngành Kiểm lâm…
Những năm gần đây, “cộm” lên tình trạng nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở một số huyện trong tỉnh đã kéo nhau đòi dời về làng cũ; số hộ này đã xâm chiếm trái phép một số khu rừng (kể cả rừng phòng hộ, rừng đặc dụng) dựng chòi, lều trại; ngang nhiên phá rừng, khai thác đất rừng để sản xuất, “lập làng” tại một số tiểu khu thuộc địa phận huyện Lạc Dương. Cụ thể như trường hợp 35 hộ đồng bào DTTS của huyện Đam Rông đã xâm chiếm rừng tại Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà; 45 hộ DTTS thôn Cổng Trời, xã Mê Linh (Lâm Hà) đã xâm chiếm Tiểu khu 111A - thuộc Xã Lát, dựng 24 chòi, lều để ở phá rừng, khai thác đất rừng…
Nguyên nhân nào khiến nạn phá rừng diễn biến phức tạp? Theo ông Đồng Văn Lâm, riêng đối với Lạc Dương thì bên cạnh do “thói quen” xem rừng là “của chung”, là “nơi kiếm sống” gắn với phương thức “săn bắn, hái lượn” tồn tại trong tư duy của người DTTS bản địa, còn do tình trạng “sốt” đất, giá đất tăng cao, nhu cầu về đất phát triển thời gian gần đây dẫn đến tình trạng phá rừng, xâm chiếm đất rừng!...
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng, trong 6 tháng đầu năm 2017, toàn tỉnh đã phát hiện, lập biên bản 543 vụ vi phạm về QLBVR. So với cùng kỳ năm 2016, dù tình trạng phá rừng có giảm (22,2% số vụ và 36,6% về diện tích), song, theo đánh giá của lãnh đạo UBND tỉnh, mức độ thiệt hại rừng trên địa bàn toàn tỉnh vẫn đang rất lớn; tình trạng phá rừng, khai thác rừng diễn ra phức tạp tại một số địa phương...
Ðối với Lạc Dương, thực hiện quyết liệt sự chỉ đạo của tỉnh, của Ðảng bộ và chính quyền địa phương, Hạt Kiểm lâm huyện đã có nhiều nỗ lực trong “cuộc chiến giữ rừng” bằng nhiều biện pháp linh hoạt, thiết thực, hiệu quả, từng bước hạn chế đáng kể thực trạng đáng buồn này.
Hàng năm, Hạt Kiểm lâm thường xuyên phối hợp với Ban QLR, Ban Kiểm tra - Giám sát Dịch vụ môi trường, MTTQ và các đoàn thể địa phương tuyên truyền, giáo dục về QLBVR, PCCCR trong nhân dân; kiện toàn 6 ban lâm nghiệp cơ sở (156 người); tăng cường kiểm lâm viên tại 5 xã, thị trấn đảm bảo “đủ sức” thực hiện nhiệm vụ; chú trọng công tác PCCCR; phối hợp với chính quyền, Ban Lâm nghiệp, Ban QLR, các trạm QLBVR, chủ rừng, hộ dân nhận khoán QLBVR thường xuyên tuần tra, kiểm tra rừng; giải tỏa lấn chiếm và tái lấn chiếm đất rừng; tăng cường phối hợp truy quét các đối tượng phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép, nhất là tại những địa bàn nóng, phức tạp…
Nhờ nỗ lực, quyết liệt của Hạt Kiểm lâm và sự “trợ lực” của chính quyền các cấp, các lực lượng địa phương đã góp phần hạn chế thấp nhất tình trạng phá rừng, khai thác rừng và tài nguyên rừng trên địa bàn huyện. Ba năm trở lại đây, số vụ vi phạm lâm luật trên địa bàn huyện Lạc Dương giảm dần đều. Năm 2016, xảy ra 93 vụ (giảm 65,49% so với năm 2013); trong đó, 78 vụ phá rừng (giảm 42 vụ), 15 vụ khai thác rừng (giảm 7 vụ). Riêng 6 tháng đầu năm 2017, trên toàn huyện chỉ xảy ra 25 vụ phá rừng và 6 vụ khai thác lâm sản (gây thiệt hại 21,424 m3 gỗ), 10 vụ vận chuyển lâm sản trái phép (khối lượng 9,802 m3 gỗ thông 3 lá và bạch tùng)...
Có thể nói, “Bài toán giữ rừng” đối với cả nước nói chung, với Lâm Đồng và huyện Lạc Dương nói riêng còn đặt ra nhiều ẩn số. Còn đó những khó khăn, những cam go, thử thách, đòi hỏi ngành Kiểm lâm - những con người khoác trên mình màu áo xanh của lá lại tiếp tục bước vào “cuộc chiến” thầm lặng để bảo vệ, gìn giữ nguồn tài nguyên vốn quý của đất nước, tài sản của quốc gia cho các thế hệ con cháu đời sau được thụ hưởng!
Tâm niệm của người Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm tóc đã hoa râm gắn bó gần như cả đời với rừng là làm sao giữ cho được 85% độ che phủ của rừng Lạc Dương, “mái nhà Tây Nguyên”! Kế hoạch của Hạt đặt ra trong những tháng cuối năm 2017 và những năm sau này rất cụ thể, đó là: tập trung tuyên truyền nâng cao trách nhiệm tham gia bảo vệ rừng, đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật và các quy định về rừng cho người dân - đây là vấn đề quan trọng nhất.
Bên cạnh đó, tiếp tục tăng cường rà soát, nắm chắc địa bàn; đặc biệt theo dõi, phát hiện và ngăn chặn thủ đoạn phá rừng rất tinh vi. Chủ động cắm mốc phân ranh giữa đất rừng với đất sản xuất của các hộ dân ven rừng, gần rừng, không để dân “tranh thủ” lấn chiếm; hàng tháng, Hạt Kiểm lâm lập danh sách những hộ dân, các cá nhân vi phạm phá rừng gửi về UBND các xã, thị trấn để đưa ra họp kiểm điểm trước dân và nêu tên trên hệ thống loa truyền thanh của xã, thị trấn nhằm giáo dục, răn đe; tổ chức cho nhân dân ký cam kết không vi phạm rừng, đất rừng. Đối với các tập thể, cá nhân nhận khoán QLBVR phải cam kết, nếu vi phạm bị cắt giao khoán. Đặc biệt, tăng cường phối hợp tuần tra, truy quét, xử lý thật nghiêm các trường hợp phá rừng, khai thác rừng và vận chuyển lâm sản trái pháp luật... (Báo Lâm Đồng 6/9)đầu trang(
Nhờ đẩy mạnh công tác quản lý, bảo vệ rừng (QL-BVR), nên nạn phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép trên địa bàn huyện Vân Canh từ đầu năm 2017 đến nay có phần lắng dịu. Tuy nhiên, theo đánh giá của Hạt Kiểm lâm huyện Vân Canh, thì cuộc chiến BVR ở địa phương vẫn còn lắm gian nan.
Vân Canh là địa phương có diện tích rừng lớn, với hơn 69.000 ha rừng và đất quy hoạch cho lâm nghiệp; trong đó, riêng diện tích đất có rừng tự nhiên hơn 36.000 ha, rừng trồng hơn 21.500 ha. Diện tích rừng ở Vân Canh phân bổ rộng, địa hình rừng núi hiểm trở, đi lại khó khăn, có nhiều vùng rừng giáp ranh với các huyện Tuy Phước, An Nhơn, Tây Sơn, TP Quy Nhơn và tỉnh Phú Yên, Gia Lai. Do vậy, công tác QL-BVR ở Vân Canh gặp rất nhiều khó khăn.
Theo ông Phạm Văn Lộc, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Vân Canh, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp gần đây tuy có giảm nhưng vẫn còn diễn biến phức tạp. Trong 8 tháng đầu năm nay, cơ quan chức năng đã phát hiện 47 vụ vi phạm pháp luật về QL-BVR; trong đó, có 39 vụ vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép và 1 vụ phá rừng với diện tích bị phá 5.200m2, 4 vụ lấn chiếm đất lâm nghiệp với diện tích 4,5 ha và 3 vụ khai thác rừng trái phép với số lượng hơn 16m3 gỗ các loại. Hạt Kiểm lâm huyện đã lập biên bản, xử lý hành chính 30 vụ, tịch thu hơn 45m3 gỗ xẻ từ nhóm IIA đến nhóm VI, 4 mô tô, 3 tấn than hầm...
Tình trạng phá rừng ở vùng giáp ranh thuộc tiểu khu 366, làng Canh Giao, xã Canh Hiệp (Vân Canh) với xã Đa Lộc, huyện Đồng Xuân (Phú Yên) đang trở thành điểm nóng. Trong 2 ngày 25 và 26.8, Hạt Kiểm lâm huyện đã kiểm tra, phát hiện bắt giữ được 10 cây gỗ chò chỉ (thuộc nhóm V) có khối lượng gần 3,5m3 tại khu vực này. Ngoài ra, nạn phá rừng phòng hộ ở các xã Canh Thuận, Canh Liên, Canh Hiệp để trồng rừng kinh tế vẫn âm ỉ diễn ra. Như cuối tháng 7.2017, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Vân Canh đã phát hiện ông Trần Văn Lợi (SN 1965, trú làng Hiệp Hà, thị trấn Vân Canh) thuê người vào chặt hạ 5.200m2 rừng phòng hộ và khoảng hơn 3,5 ha đất lâm nghiệp quy hoạch chức năng phòng hộ ở khu vực hồ Suối Đuốc thuộc khoảnh 3, tiểu khu 357B, xã Canh Thuận nhằm mục đích trồng rừng kinh tế.
Ông Đoàn Văn Tây, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Vân Canh, cho rằng: “Nguyên nhân của tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp còn diễn biến phức tạp là do giá trị cây keo, bạch đàn tăng cao nên nhu cầu sử dụng đất lâm nghiệp để trồng rừng nguyên liệu giấy của người dân rất lớn. Nhiều hộ gia đình nhận khoán BVR không thực hiện việc kiểm tra rừng nên không phát hiện kịp thời rừng bị phá. Cơ quan quản lý nhà nước chưa kiên quyết xử lý việc sử dụng, sang nhượng, mua bán, lấn chiếm trái phép đất lâm nghiệp, nhất là đối với đối tượng là người đồng bào dân tộc thiểu số. Nguồn nhân lực làm nhiệm vụ BVR còn thiếu hụt trầm trọng. Một số xã chưa làm tốt trách nhiệm của mình trong công tác đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng này”.
Ông Phạm Văn Lộc, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Vân Canh, cho hay, để ngăn chặn tình trạng phá rừng, Hạt đang tăng cường cán bộ xuống các địa bàn, mỗi xã có ít nhất 1 cán bộ kiểm lâm để thường xuyên tuần tra. Đồng thời, lực lượng kiểm lâm cùng UBND các xã tổ chức canh gác, kiểm tra ở 6 điểm chốt giữ rừng, phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an tiến hành truy quét, ngăn chặn các đối tượng khai thác trái phép.
Về giải pháp ngăn chặn nạn phá rừng ở vùng giáp ranh, ngày 29.8, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã có văn bản gửi Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Yên đề nghị đơn vị này chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Xuân phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Vân Canh, chủ rừng và các địa phương tăng cường công tác BVR, thường xuyên tổ chức kiểm tra, truy quét các điểm nóng về phá rừng, khai thác rừng, vận chuyển lâm sản trái pháp luật; tổ chức chốt chặn tại các vùng giáp ranh; phối hợp chặt chẽ trong công tác điều tra, xác minh, xử lý các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ - phát triển rừng.
Ông Trần Kim Vũ, Chủ tịch UBND huyện Vân Canh, cho biết: “Trước tình trạng phá rừng trên địa bàn huyện, UBND huyện đã chỉ đạo các xã, thị trấn triển khai ngay các biện pháp BVR; giao các xã thành lập các đội tuần tra bảo vệ, nhất là các xã vùng trọng điểm có nguy cơ phá rừng cao; tổ chức tuyên truyền vận động các hộ dân không tham gia khai thác, vận chuyển gỗ trái pháp luật. Tổ chức kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động các chốt kiểm tra lâm sản tại các địa bàn trọng điểm và các trục đường giao thông quan trọng mà các đối tượng phá rừng thường xuyên vận chuyển lâm sản để kịp thời phát hiện, xử lý”. (Báo Bình Định 6/9)đầu trang(
Sáng 5-9, phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về Môi trường Công an tỉnh Lâm Đồng đã bắt quả tang tại cơ sở sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, nhà gỗ, trang trí nội thất Huy Hoàng 2 (thôn Chi Rông, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng) do ông Võ Anh Huy (sinh năm 1985, trú tại địa chỉ trên) đang tàng trữ 2 con cọp.
Ngay sau khi phát hiện vụ việc, các lực lượng chức năng của huyện Đức Trọng gồm Công an huyện, Viện kiểm sát nhân dân huyện, Chi cục Kiểm lâm, Hạt kiểm lâm huyện Đức Trọng đã kiểm tra cụ thể.
Tại một bể rượu của trong khu nhà chính của cơ sở này đang ngâm 1 con cọp. Trong tủ lạnh có 1 con cọp 9kg đông lạnh.
Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về Môi trường Công an tỉnh Lâm Đồng đã lập biên bản tạm giữ tang vật và bàn giao vụ việc cho Công an huyện Đức Trọng xử lý. (Tuổi Trẻ 6/9)đầu trang(
Chiều tối 5/9, Đại tá Phan Thanh Chương - Trưởng phòng Cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường, Công an tỉnh Lâm Đồng thông tin, đơn vị vừa bắt quả tang vụ tàng trữ hai xác hổ không rõ nguồn gốc tại một cơ sở sản xuất đồ gỗ tại huyện Đức Trọng (Lâm Đồng).
Thông tin ban đầu, sáng các trinh sát Phòng Cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường đã kiểm tra hành chính nhanh cơ sở sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, trang trí nội thất Huy Hoàng 2 của gia đình ông Võ Anh Huy (thôn Chi Rông, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng) và phát hiện 2 xác hổ không rõ nguồn gốc. Thời điểm kiểm tra, Công an huyện Đức Trọng, Viện kiểm sát nhân dân huyện cùng cấp, Chi cục Kiểm lâm, Hạt kiểm lâm huyện cũng có mặt xác nhận tang vật gồm: Một xác hổ được ngâm trong bể rượu và một xác còn lại (nặng khoảng 9kg) đang được giấu trong tủ lạnh ở chế độ ướp đông. Bước đầu cơ quan chức năng đã lập biên bản, niêm phong các hũ rượu và một số danh mục trưng bày khác để trưng cầu giám định.
Đại tá Chương cho biết thêm, hiện đơn vị đã bàn giao lại hồ sơ vụ việc cho Công an huyện Đức Trọng thụ lý theo quy định. Theo nhận đinh của cơ quan chức năng, hai cá thể động vật được ngâm trong các hũ rượu tại cơ sở sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, trang trí nội thất Huy Hoàng thuộc nhóm IB, IIB của công ước Cites (về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã, nguy cấp) thuộc dạng nghiêm cấm, hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. (Báo Lâm Đồng 5/9)đầu trang(
Chiều 6/9, Công an TP. Pleiku cho biết, đơn vị vừa chuyển giao hồ sơ và bàn giao tang vật khoảng 2,6m3 gỗ lậu cho Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai xử lý theo quy định pháp luật.
Trước đó, khoảng 14h30 phút ngày 29/8/2017, Đội Cảnh sát Kinh tế, Công an TP. Pleiku phát hiện một xe ô tô vắng chủ, không gắn biển số, đậu trên QL14, đoạn thuộc thôn Hàm Rồng, xã Chư Hdrông có biểu hiện nghi vấn.
Qua kiểm tra, cảnh sát phát hiện trên xe có chở khoảng 2,6m3 gỗ loại bằng lăng, chò chít không có nguồn gốc hợp pháp. Ngay sau đó, lực lượng chức năng đã tạm giữ chiếc xe và xử lý theo quy định của pháp luật. (Dân Trí 6/9)đầu trang(
Theo số liệu thống kê của ngành chức năng huyện Di Linh, trong 8 tháng đầu năm 2017, ngành chức năng huyện Di Linh đã phát hiện, xử lý 99 vụ vi phạm các quy định về bảo vệ và phát triển rừng, giảm 6 vụ so với cùng kỳ năm 2016.
Trong số 99 vụ vi phạm các quy định bảo vệ và phát triển rừng, có 32 vụ khai thác rừng trái phép, 29 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép và 38 vụ vi phạm khác. Ngành chức năng huyện Di Linh đã ra quyết định xử phạt hành chính 97 vụ; đồng thời, tịch thu trên 65 m3 gỗ tròn, hơn 44 m3 gỗ xẻ, thu nộp ngân sách Nhà nước trên 950 triệu đồng. (Báo Lâm Đồng 6/9)đầu trang(
Đối tượng dùng thủ đoạn rất tinh vi khi chứa ngà voi giữa các lớp phủ mùn cưa, phía bên trên là lớp thạch cao...
6-9, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 phối hợp với Đội Kiểm soát hải quan, Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về buôn lậu (C74), Phòng CSĐT tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ (PC46) Bộ đội biên phòng… tiến hành khám xét hai container hàng hóa với 100 thùng phuy chứa nhựa đường nhập từ Châu Phi.
Đại diện Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực I cho biết đây là lô hàng do Công ty E, quận Phú Nhuận, TP.HCM làm thủ tục quá cảnh về Việt Nam để đi Campuchia.
Trên hồ sơ khai báo, công ty này khai hàng hóa là nhựa đường. Qua theo dõi có dấu hiệu nghi vấn có chứa ngà voi, chi cục đã phối hợp với lực lượng chức năng trên khám xét.
Thực tế khám xét cho thấy trong một nửa lô hàng đúng là nhựa đường, một nửa còn lại chứa ngà voi với 1.356 kg.
Trước đây lực lượng chức năng phát hiện ngà voi chứa trong thùng gỗ, đồ hải sản, hạt điều… Nhưng qua vụ này cho thấy đối tượng thay đổi thủ đoạn rất tinh vi khi chứa ngà voi giữa các lớp phủ mùn cưa, phía bên trên là lớp thạch cao, trên cùng là lớp nhựa đường.
Ngà voi thuộc danh mục mẫu vật động vật hoang dã cấm nhập khẩu, xuất khẩu theo Công ước quốc tế và quy định của Thủ tướng Chính phủ.
Vì vậy, số lượng ngà voi trên sẽ được tiến hành giám định để chuyển cơ quan điều tra xử lý theo quy định của pháp luật. (Pháp Luật TPHCM 6/9)đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện An Lão (Bình Định) cho biết, đang ráo riết điều tra vụ việc 43 ha rừng tự nhiên tại khoảnh 7, 8 thuộc tiểu khu 1 (xã An Hưng) bị xóa sổ. Theo nhận định ban đầu nhóm phá rừng là các đối tượng lạ mặt.
Chiều 6/9, cung cấp thông tin cho báo chí, ông Đoàn Văn Tá, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện An Lão (Bình Định) cho biết: “Có khoảng 43ha rừng tự nhiên tại khoảnh 7, 8 thuộc tiểu khu 1 (xã An Hưng) bị tàn phá. Chúng tôi đã tiếp cận được hiện trường và đang củng cố hồ sơ, điều tra truy tìm thủ phạm”.
Cũng theo ông Tá, việc phá rừng này diễn ra từ khoảng nửa tháng trở lại đây. Tuy nhiên, lực lượng chức năng mới phát hiện vì các đối tượng phá rừng này sử dụng nhiều máy móc rất hiện đại. Đặt biệt, khu vực bị tàn phá lại nằm trong thung lũng, địa hình hiểm trở nên rất khó phát hiện.
“Các đối tượng khai thác rừng đã dùng cưa lốc nên tốc độ khai thác rất nhanh. Chỉ trong vòng khoảng 15 ngày, chúng đã tàn phá 43ha rừng tự nhiên. Khi chúng tôi tiếp cận hiện trường thì các đối tượng này đã bỏ trốn nên đến nay vẫn chưa tìm ra thủ phạm” – ông Tá nói.
Còn theo ông Phạm Văn Nam, Chủ tịch UBND huyện An Lão, khu vực rừng bị phá nằm giáp ranh giữa xã An Hưng và xã Hoài Nhơn (huyện Hoài Nhơn). Sau khi nhận được thông tin vụ phá rừng, lãnh đạo huyện An Lão cùng các phòng, ban liên quan của huyện đã trực tiếp tới hiện trường để kiểm tra. Tuy nhiên, do đường sá trắc trở, Tổ kiểm tra của huyện phải mất rất nhiều thời gian để tiếp cận hiện trường. Sau khi băng rừng từ xã An Hưng tới Tiểu khu 1 bất thành, tổ phải di chuyển xuống xã Hoài Sơn (huyện Hoài Nhơn), rồi mới đến được địa điểm xảy ra phá rừng.
Hiện UBND huyện An Lão (Bình Định) đang phối hợp cùng cơ quan chức năng tiếp tục điều tra vụ phá rừng nghiêm trọng này. (Dân Trí 6/9)đầu trang(
Những trận lũ ống, lũ quét ở các tỉnh miền núi phía Bắc trong những ngày đầu tháng 8 làm nhiều người chết, mất tích và bị thương, nhiều công trình nhà ở, trường học bị lũ cuốn, đổ sập, giao thông bị chia cắt cùng nhiều thiệt hại khác rất nặng nề.
Trước đây, tỷ lệ che phủ rừng ở nước ta khá lớn nhưng dần dần bị thu hẹp do nạn phá rừng diễn ra một cách trầm trọng. Trận lũ quét lịch sử vừa qua tại Yên Bái là hồi chuông cảnh báo cần phải bảo vệ rừng đầu nguồn, nhằm làm giảm nguy cơ cũng như sự tàn phá của thiên tai, nhất là lũ và sạt lở đất. Thực tế, ngoài phá rừng lấy gỗ thì tình trạng xây nhà máy thủy điện cũng khiến diện tích rừng bị thu hẹp. Không những thế, việc phát triển ồ ạt thủy điện nhỏ trong 10 năm qua (như Hà Giang và Cao Bằng đã quy hoạch hơn 100 dự án thủy điện) đã biến nhiều diện tích đất nông nghiệp, đất rừng thành hồ chứa, làm thay đổi dòng chảy, ảnh hưởng đến chế độ thủy văn, môi trường và tiềm ẩn nguy cơ gây thảm họa cho con người.
Để hạn chế lũ ống, lũ quét gây tổn thất nặng nề, đòi hỏi các cơ quan chức năng, các địa phương phải đẩy mạnh công tác bảo vệ, trồng và chăm sóc rừng. Giữ và phát triển rừng ngày hôm nay chính là ngăn ngừa hậu họa thiên tai, lũ lụt về sau, góp phần vào sự phát triển bền vững của quốc gia. (Quân Đội Nhân Dân 6/9)đầu trang(
Nghệ An: Lâm tặc điên cuồng phá rừng, kiểm lâm vẫn ung dung vô cảm
Tại xã Nam Sơn, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, lâm tặc đang điên cuồng chặt phá rừng, chủ rừng bất lực cầu cứu; toàn bộ hệ thống cán bộ có chức năng bảo vệ rừng từ xã đến huyện vẫn dửng dưng và vô cảm với nỗi đau của rừng.
Đến xã Nam Sơn những ngày này, nhiều cỗ máy để tời gỗ, vận chuyển gỗ đang xếp dọc trên các cung đường vào rừng, nhiều gốc cây gỗ táu xanh, rẻ, mang... có đường kính 30 đến 60 cm với tuổi thọ từ 50 đến 60 tuổi, đã bị đốn hạ không thương tiếc, ngổn ngang như bãi chiến trường.
Anh Lê Văn Thành, người dân ở xã Nam Sơn cho biết “Tôi được nhà nước giao cho quản lý và phát triển rừng sản xuất có nguồn gốc là rừng tự nhiên với trữ lượng gỗ cao. Thế nhưng sự lỏng lẻo của cơ quan quản lý rừng tại địa phương đã khiến cho lâm tặc ở đây vô cùng manh động, chúng hoạt động như chẳng có phép tắc gì, phá hoại rừng trở nên tan hoang. Chính tôi đang cảm thấy xấu hổ vì không hoàn thành được nhiệm vụ bảo vệ rừng mà nhà nước giao phó".
Người dẫn đường đã chỉ cho phóng viên thấy không ít những bãi gỗ mà lâm tặc vừa đốn hạ đang còn ngổn ngang, dọc tuyền đường, những khúc gỗ tròn vẫn đang vứt ngổn ngang chờ tiêu thụ. Dường như việc chặt phá rừng ở đây không còn có sự quản lý của bất cứ cơ quan chức năng nào.
Người dẫn đường ngao ngán cho hay “Lâm tặc, cứ như được bảo kê vậy, chúng đốn hạ hết cây này cho đến khác, dân chúng tôi báo cán bộ họ cứ làm thinh”.
Theo đơn phản ánh đến các cơ quan báo chí của anh Lê Văn Thành chủ rừng tại xã Nam Sơn cho biết; ngày 20 tháng 8 trong lúc đi rừng, anh phát hiên gần 50 khúc gỗ có đường kính từ 30 đến 50 cm, thuộc nhóm gỗ đang có giá trị kinh tế cao, đã bị lâm tặc đốn hạ, và kéo ra bìa rừng nằm chờ đi tiêu thụ. Ngay lập tức gia đình anh Thành đã goi điện trình báo chính quyền xã, lực lượng kiểm lâm trên địa bàn, cụ thể là Hạt Kiểm Lâm huyện Quỳ Hợp. Nhưng sau rất nhiều lần gọi điện thoại thúc dục, kiểm đếm điều tra xử lý các đối tượng phá hoại rừng thì lực lượng bảo vệ rừng ở địa phương này vẫn im ắng, như không có gì xảy ra.
Sau 11 ngày kiên quyết đấu tranh với lâm tặc để giữ hiện trường, bố anh Thành là ông Lương Văn Phành tiếp tục đến UBND xã Nam Sơn để kiến nghị xã này mau chóng giải quyết sự việc, thay vì coi đây là môt sự việc nóng cần phải giải quyết, thì chính quyền xã này lại đòi vô số những thủ tục rườm rà mới nhận đơn của ông Phành, nhưng sự việc lại bị bỏ đó. Anh Thành chủ rừng sau rất nhiều cố gắng nhưng đã bất lực trong việc trông chờ cơ quan chức năng bảo vệ rừng, anh thốt lên; " Người dân chúng tôi được nhà nước giao để phát triển rừng, không quyền lợi, cũng như công cụ để chống trả lâm tặc, vì thế việc chúng tôi làm chỉ là phát hiện rồi báo cáo, nhưng những báo cáo lại không được lắng nghe, ghi nhận, họ những người bảo vệ rừng luôn tỏ ra dửng dưng vô cảm với nỗi đau của rừng" .
Ngày 1.9 phóng viên báo điện tử Tầm Nhìn có mặt tại xã Nam Sơn, không có một bóng dáng người trực bảo vệ rừng nào, vì tất cả đều bận nghỉ lễ. Ngày 3.9 muốn thấu hiểu nỗi khó khăn của chủ rừng trong hành trình đi trình báo kiểm lâm, về việc rừng bị tàn phá. Phóng Viên đã cùng với anh Lê Văn Thành đến Hạt Kiểm Lâm huyện Quỳ Hợp, để gặp ông Trần Đức Lợi, Hạt Trưởng.
Ông Lợi tiếp người dân phản ánh trong sự cẩn trọng đến khó hiểu, đầu tiên ông Lợi đuổi người đi cùng đến trình báo ra ngoài, tiếp theo ông Lợi lại viện đủ thứ cớ lung tung để tránh tiếp người phản ánh thông tin rừng đang bị chặt hạ. Sau một hồi bực dọc, ông Lợi đuổi cả hai người đi trình báo về với lý do chưa có đơn. Trên đường về, ông Lợi lại gọi hai người đến trình báo quay lại để làm việc. Không hiểu ông Lợi nghĩ gì? lại bảo cả hai người ra về và hẹn ngày 7.9 đến trình báo.
Chiều cùng ngày anh Lê Văn Thành đã có đơn trình báo các cơ quan chức năng và Hạt Kiểm Lâm Quỳ Hợp. Ông Lợi nhận được đơn, ngay lập tức gọi điện cho anh Thành với thái độ bực dọc " Tôi bảo ông viết đơn báo chính quyền địa phương, ai bảo ông viết đơn trình báo vượt cấp, các cơ quan để làm gì để làm gì? tôi bảo anh chỉ báo cáo để tôi có thông tin xử lý, sao ông lại viết các cơ quan lung tung thế này...?
Chúng tôi không muốn bình luận gì thêm về cách hành xử, có phần khó hiểu của kiểm lâm Trần Đức Lợi, Hạt trưởng hạt kiểm Lâm Quỳ Hợp. Thế nhưng hàng chục thân cây đã bị đốn hạ, hàng chục khối gỗ đang ngổn trong rừng kia, đã phải đợi hàng trăm cán bộ được trả lương để bảo vệ rừng ở Quỳ Hợp, Nghệ An suốt 18 ngày qua. Chúng tôi tha thiết đề nghị những người có trách nhiệm ở tỉnh Nghệ An cần sớm có biện pháp bảo vệ rừng, vì mới hôm nay, ở xã Nam Sơn người dân lại báo, có thêm một cánh rừng nữa bị tàn phá. (Tầm Nhìn 7/9)đầu trang(
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa, từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm tỉnh luôn tăng cường kiểm tra, đôn đốc các địa phương và chủ rừng triển khai thực hiện phương án bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng nên trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng.
Trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng giảm đáng kể; toàn tỉnh xảy ra 238 vụ vi phạm, giảm 97 vụ so với cùng kỳ năm trước. Lực lượng chức năng đã xử lý 210 vụ, tịch thu 431m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách gần 4,2 tỷ đồng.
Trong công tác phát triển rừng, các địa phương, chủ rừng nhà nước đã tiến hành trồng rừng tập trung đạt 181ha, trồng rừng thay thế 35ha; chăm sóc được 925ha rừng trồng, khoán bảo vệ 6.542ha, khoanh nuôi tái sinh 126ha. Thực hiện kế hoạch sử dụng rừng, các chủ rừng đã khai thác tận dụng, tận thu gỗ từ rừng tự nhiên với khối lượng 1.530m3; các chủ rừng nhà nước khai thác gỗ rừng trồng tập trung đạt 14.030m3. (Báo Khánh Hòa 6/9)đầu trang(
Sau loạt bài của Pháp luật Plus phản ánh về vụ việc 14 ha tràm của người dân bị phá hoại, UBND tỉnh Đồng Nai vừa có công văn truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai giao Thanh tra tỉnh chủ trì, phối hợp với Sở tài nguyên và Môi trường, UBND huyện Long Thành, cùng cơ quan liên quan kiểm tra, rà soát làm rõ thông tin báo nêu.
Ngày 28/8/2017, UBND tỉnh Đồng Nai ban hành công văn số 8538/UBND-TCD (công văn số 8538) gửi Thanh tra tỉnh về việc kiểm tra, rà soát, tham mưu UBND tỉnh xử lý, thông tin đến Báo Pháp luật Việt Nam về kết quả xử lý vụ việc của bà Huỳnh Thị Ngọc Oanh.
Tại công văn số 8538 Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo như sau: “Giao Thanh tra tỉnh chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND huyện Long Thành cùng cơ quan liên quan nghiên cứu các nội dung nêu tại biên bản trên, hồ sơ vụ việc và các quy định pháp luật có liên quan, tham mưu UBND tỉnh xử lý, thông tin đến báo Pháp luật Việt Nam biết theo quy định; báo cáo kết quả hoàn thành công việc lên Chủ tịch UBND tỉnh (kèm dự thảo văn bản) trong tháng 9/2017”.
Trước đó, như Pháp luật Plus đã thông tin, vụ 14 ha tràm của gia đình bà Huỳnh Thị Ngọc Oanh (ngụ Tam Phước, TP Biên Hòa, Đồng Nai) bị phá hoại trong đó có hơn 10 ha tràm bị chặt hạ trong đêm và 4 ha bị đốt cháy. Theo đó, vụ việc đã xảy ra suốt một thời gian dài nhưng hiện vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.
Theo phản ánh của bà Oanh, nguồn gốc đất trồng tràm của gia đình bà bắt nguồn từ năm 1986, ông Huỳnh Văn Hột, bà Nguyễn Thị Khiêm (cha, mẹ bà Oanh) và bà Huỳnh Thị Ngọc Oanh được UBND huyện Long Thành giao 16 ha đất (diện tích hiện nay là 163.450m² gồm các thửa đất số 210, 254, 257, 258 tờ bản đồ số 04 thuộc xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai) theo Quyết định không số ngày 16/7/1986 và ngày 10/8/1986. Sau khi giao đất, gia đình bà đã tổ chức sản xuất trồng rừng ổn định, không có tranh chấp với ai.
Ngày 23/10/2002, UBND tỉnh Đồng Nai ban hành quyết định số 3895/QĐ.CT.UBT thu hồi 1.297.263,5m² giao cho Công ty Tín Nghĩa thành lập dự án KCN An Phước. Trong đó có 163.450m² đất mà bà Oanh được giao.
Sau khi có quyết định thu hồi, gia đình bà Oanh có đơn xin quy chủ sử dụng đất để được bồi thường. Tuy nhiên, đất của gia đình bà Oanh được xác định là đất công do UBND xã quản lý nên không thể quy chủ để lập thủ tục bồi thường.
Tuy nhiên, tại Báo cáo số 466/BC-TTr ngày 10/12/2009 của Thanh tra huyện Long Thành, sau khi thẩm tra xác minh đã có báo cáo kết quả và kiến nghị: “Ban hành văn bản xác định diện tích 118.230m² thửa 254, cắt thửa 210 tờ bản đồ địa chính số 04 là thuộc quyền sử dụng của hộ bà Nguyễn Thị Khiêm. Giao cho UBND xã An Phước phối hợp với HĐBT huyện, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư dự án Khu công nghiệp An Phước thực hiện việc thỏa thuận, bồi thường đối với hộ bà Nguyễn Thị Khiêm theo đúng quy định của pháp luật về đất đai”.
Sau đó, UBND huyện Long Thành tiếp tục ban hành các văn bản số 4360/UBND-NC và 4359/UBND-NC ngày 22/12/2009, về việc Quy chủ sử dụng đất thuộc dự án KCN An Phước đều có nội dung nhận định:
“Việc bà Oanh có đơn xin quy chủ sử dụng đất đối với diện tích đất nói trên là có cơ sở xem xét giải quyết, vì bà Oanh được UBND huyện Long Thành giao đất trồng rừng từ năm 1986 và sử dụng ổn định, liên tục đến nay có ranh giới rõ ràng, không tranh chấp”.
Từ căn cứ trên, ngày 16/3/2010, UBND tỉnh Đồng Nai có Công văn số 1785/UBND-NC, về việc giải quyết đơn của bà Nguyễn Thị Khiêm.
Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai có ý kiến: “Đề nghị Chủ tịch UBND huyện Long Thành kiểm tra và yêu cầu Chủ tịch UBND xã An Phước nghiêm túc thực hiện chỉ đạo của UBND huyện. Có quy định thời gian hoàn thành. Không để kéo dài gây bức xúc cho dân; Mọi sự chậm trễ làm phát sinh khiếu nại phải được xử lý nghiêm theo quy định”.
Thế nhưng, không hiểu vì lý do gì mà UBND xã An Phước lại không thực hiện theo sự chỉ đạo trên. Bất ngờ, ngày 17/11/2011, UBND huyện Long Thành lại có văn bản số 3899/UBND-NC (văn bản 3899) về việc thu hồi văn bản số 4360/UBND-NC và 4359/UBND-NC, báo cáo số 136/BC-UBND của UBND huyện Long Thành.
Theo bà Oanh, đến nay các cơ quan có thẩm quyền tỉnh Đồng Nai vẫn chưa ban hành quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật.
Mặc dù khiếu nại của gia đình bà Oanh vẫn chưa có quyết định giải quyết khiếu nại của chính quyền các cấp, nhưng chủ đầu tư dự án KCN An Phước là Công ty Cổ phần Tổng công ty Tín Nghĩa (Công ty Tín Nghĩa) lại ngang nhiên cho người đốn hạ hơn 10ha tràm của gia đình bà đang canh tác.
Vụ việc sau đó đã được báo chí phản ánh, dư luận lên tiếng và phía bà Oanh cho biết là đã đề nghị cơ quan điều tra lập hồ sơ khởi tố trách nhiệm hình sự về vụ việc trên. Đồng thời yêu cầu Công ty Tín Nghĩa này dừng ngay các hoạt động trên khu đất đang tranh chấp.
Thế nhưng, bà Oanh khẳng định phía Công ty Tín Nghĩa cho rằng UBND tỉnh Đồng Nai đã giao đất và cấp GCNQSDĐ nên họ tiếp tục thực hiện quyền của người sử dụng đất, nhanh chóng cho phương tiện vào san ủi đất, đổ đất làm mặt bằng trên phần đất trồng tràm của gia đình bà trong sự “vô cảm” của chính quyền địa phương. (Pháp Luật+ 6/9)đầu trang(
Chiều 6/9, ông Đoàn Văn Tá, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện An Lão (Bình Định) cho biết đã tiếp cận được hiện trường và đang củng cố hồ sơ, điều tra truy tìm thủ phạm phá 43ha rừng ở huyện này.
Theo ông Tá, có khoảng 43 ha rừng tự nhiên tại khoảnh 7, 8 thuộc tiểu khu 1 (xã An Hưng, huyện An Lão, Bình Định) bị tàn phá. Các đối tượng khai thác rừng dùng cưa lốc nên tốc độ khai thác rất nhanh. Chỉ trong vòng khoảng nửa tháng đã tàn phá 43 ha rừng tự nhiên. Khi lực lượng kiểm lâm đến hiện trường, các đối tượng này đã bỏ trốn.
"Việc phá rừng diễn ra từ khoảng nửa tháng trở lại đây. Tuy nhiên, lực lượng chức năng mới phát hiện vì “công nghệ” của các đối tượng phá rừng rất hiện đại. Khu vực khai thác lại nằm trong thung lũng, địa hình hiểm trở nên rất khó phát hiện" - ông Tá nói.
Ông Phạm Văn Nam, Chủ tịch UBND huyện An Lão cho biết, khu vực rừng bị phá nằm giáp ranh giữa xã An Hưng và xã Hoài Sơn (huyện Hoài Nhơn, Bình Định). Đường từ xã An Hưng lên khu vực này rất khó khăn, trắc trở. Còn đường từ xã Hoài Sơn lên khu vực này rất thuận lợi, ô tô có thể chạy được.
UBND huyện An Lão đang phối hợp với các cơ quan chức năng điều tra vụ phá rừng. (Giao Thông 6/9)đầu trang(
Lâm tặc lộng hành, ngang nhiên tàn phá, vận chuyển gỗ trái phép giữa “thanh thiên bạch nhật” như "thách đố" chính quyền, khiến dư luận địa phương bức xúc; tuy nhiên, một điều bất ngờ là đơn vị quản lý, bảo vệ rừng lại không hề hay biết?
Dư luận đặt câu hỏi: Năng lực của lực lượng bảo vệ rừng còn yếu kém, thiếu trách nhiệm hay có sự tiếp tay...?
Khoảng 15 giờ ngày 5/8, một nhóm lâm tặc chừng 5 người đi trên 5 xe máy độ chế, phía sau mỗi xe chở những hộp gỗ lớn, dài chừng 2 m ra khỏi cánh rừng thuộc xã Lơ Pang, đưa về tập kết trên con đường đất tại xã Lơ pang, huyện Mang Yang (Gia Lai).
Sau đó, nhóm lâm tặc trên tách ra thành từng tốp nhỏ tiếp tục di chuyển. Tốp đầu tiên xuất phát gồm 3 xe máy, phía sau chở gỗ di chuyển hướng về trung tâm huyện Mang Yang. Khoảng 15 phút sau, tốp còn lại gồm 2 người, mỗi người chở 2 hộp gỗ tiếp tục nổ máy.
Bám theo những người này, chúng tôi ra tới tỉnh lộ 666. Lúc bắt kịp, hai lâm tặc cho xe lao vun vút trên đường. Tới địa phận làng Đắk Lăh, xã Lơ Pang, 2 chiếc xe rẽ vào đường bê tông liên thôn, rồi tiếp tục vượt qua con suối làng A Lao, qua nhiều làng khác rồi hướng về trung tâm huyện Mang Yang. Con đường các lâm tặc này di chuyển từ địa phận làng B’Lên ra tới Quốc lộ 19 dài chừng 20 km.
Trước đó, ngày lúc 9h sáng 14.6, trên tỉnh lộ 1 thuộc xã Krông Na, huyện Buôn Đôn (Đắk Lắk), chúng tôi chứng kiến thanh niên điều khiển xe máy không biển số ngang nhiên chở 2 khúc gỗ hình khối trên đường, sau đó rẽ vào ngôi nhà số 113 tại buôn Ea Mar. Chưa đầy 20 phút sau, chúng tôi ghi lại được cảnh xe công nông chở đầy gỗ di chuyển trên tỉnh lộ 1 từ hướng từ rừng quốc gia về trung tâm xã Krông Na một cách “thuận buồm xuôi gió” (?!).
Tiếp xúc với chúng tôi, nhiều người dân cho biết, tình trạng phá rừng và ngang nhiên chở gỗ nơi đây diễn ra thường xuyên như "cơm bữa". Nhưng một điều rất bất ngờ là đơn vị quản lý, bảo vệ rừng lại không hề hay biết?
Theo ông Lê Trọng Yên, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Nông, các vụ phá rừng, lấn chiếm đất rừng tăng là do công tác quản lý về lâm nghiệp trên địa bàn còn yếu. Nhiều chủ rừng còn buông lỏng quản lý, né tránh, thậm chí buông xuôi.
Cùng với đó, một số cán bộ quản lý bảo vệ rừng, công chức kiểm lâm còn "bảo kê", móc ngoặc cho các đối tượng phá rừng trái phép, khai thác gỗ để trục lợi. Cơ quan chức năng còn phát hiện một số băng nhóm tội phạm phá rừng theo kiểu "xã hội đen". Sự phối hợp giữa các ngành trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và xử lý vi phạm chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ.
Trao đổi với chúng tôi về việc "có hay không sự "tiếp tay" của một số cán bộ ngành chức năng cho các đối tượng lâm tặc, ông Nguyễn Xuân Linh (Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ Đắk Hà) thừa nhận: “Nói có tiếp tay thì không có bằng chứng, nhưng nói không có thì không phải, bởi vì dư luận nói vẫn có”.
Trong cuộc họp báo ngày 18/4, ông Nguyễn Trung Hải - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kon Tum thẳng thắn: “Tôi khẳng định, trong lực lượng kiểm lâm hoặc chủ rừng, cũng có những cán bộ có sự tiếp tay cho lâm tặc lộng hành”.
Gia Lai, tại cuộc họp Tỉnh ủy mở rộng giữa năm 2017, đã nóng lên với câu chuyện do Bí thư Huyện ủy Đak Đoa báo cáo: Kiểm lâm trong đoàn liên ngành của tỉnh đi kiểm tra rừng, nhưng khi vào cửa rừng đã nổ súng, ra khỏi rừng cũng nổ súng. Người dân bức xúc, nghi ngờ rằng đó là “súng hiệu” báo động cho lâm tặc!
Trên thực tế, “máu rừng” vẫn tiếp tục chảy và cuộc chiến chống lâm tặc sẽ không hiệu quả, nếu chỉ giao phó cho ban quản lý rừng. Do đó, để bảo vệ rừng, cần cả hệ thống chính trị vào cuộc và phải quyết liệt với lâm tặc, xử lý nghiêm bất kể là ai tiếp tay hay trực tiếp tàn phá rừng thì mới có cơ may bảo vệ được rừng.
Thực tế đã chứng minh, trong những năm gần đây, có hàng trăm cán bộ kiểm lâm, thậm chí là cán bô công an bị kỷ luật, khởi tố vì liên quan đến việc mất rừng.
Tại tỉnh Kon Tum, chưa đầy 1 năm qua, Chi cục Kiểm lâm đã ký quyết định kỷ luật 7 cán bộ kiểm lâm liên quan đến việc để mất rừng. Trong đó, có cả phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Đăk Hà, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Kon; Phó hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Kon Rẫy...
Tại tỉnh Đắk Nông, đã khởi tố nguyên Đội trưởng Đội phòng chống khủng bố, Phòng An ninh xã hội (Công an tỉnh Đắk Nông) về tội hủy hoại 12,5 ha rừng tự nhiên đang khoanh nuôi bảo vệ tại khoảnh 2, khoảnh 7, Tiểu khu 1685 và khoảnh 1, khoảnh 3, Tiểu khu 1697, thuộc địa phận hai xã Quảng Sơn, Đắk Ha của huyện Đắk G’Long (Đắk Nông)... (Thương Hiệu & Công Luận 6/9)đầu trang(
Truy cứu trách nhiệm hình sự các đối tượng buôn bán nhỏ và trung gian không phải là giải pháp ngăn chặn tận gốc tình trạng buôn bán động vật hoang dã (ĐVHD). Để làm được điều này, các cơ quan chức năng cần nỗ lực điều tra và truy bắt các đối tượng cầm đầu những đường dây buôn bán ĐVHD.
Liên quan đến vụ bắt giữ, đối tượng Nguyễn Mậu Chiến – được cho là đối tượng cầm đầu một đường dây chuyên buôn lậu động vật hoang dã (ĐVHD) quý hiếm từ châu Phi về Việt Nam ngày 27/4/2017. Được biết, hiện nay đối tượng đã bị khởi tố với hai tội danh: Tội tàng trữ hàng cấm; Tội vận chuyển hàng cấm, theo quy định tại Điều 155 BLHS 1999.
Các cơ quan chức năng có liên quan cũng đang gấp rút hoàn thiện hồ sơ để sớm truy tố và đưa đối tượng ra xét xử theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cũng đã ra quyết định khởi tố vợ của Chiến là đối tượng Lê Thị Hồng (trú tại Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội) về tội danh “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại Điều 155 BLHS 1999. Mặt khác, tiếp tục điều tra, làm rõ và sẽ sớm đưa một số đối tượng khác có liên quan ra trước ánh sáng.
Bà Bùi Thị Hà, Phó Giám Đốc Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (ENV) cho biết, không thể phủ nhận việc điều tra và triệt phá đường dây của đối tượng Nguyễn Mậu Chiến là một chiến công vang dội trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ĐVHD của Việt Nam. Tuy nhiên, thành công bước đầu này chỉ thực sự có ý nghĩa khi đối tượng bị xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật.
Theo ENV, việc nghiêm trị những đối tượng cầm đầu các đường dây tội phạm lớn như Nguyễn Mậu Chiến là tiền đề vô cùng cần thiết để răn đe, phòng ngừa tội phạm cũng như thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Việt Nam trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ĐVHD.
Nếu các cơ quan chức năng chỉ tập trung bắt giữ các đối tượng được thuê vận chuyển, các đối tượng trung gian hoặc buôn bán nhỏ (cấp thấp), những đường dây tội phạm này vẫn sẽ tiếp tục hoạt động và phát triển. Chỉ khi tiếp tục quyết liệt điều tra, bắt giữ và xử lý nghiêm kẻ đứng đằng sau những vụ buôn bán, vận chuyển ĐVHD bất hợp pháp thì mới hi vọng triệt tiêu hoàn toàn các đường dây tội phạm và giảm thiểu tình trạng buôn bán ĐVHD trái phép tại Việt Nam.
Thế nhưng, một nghiên cứu gần đây của ENV trên cơ sở phân tích dữ liệu thu thập được từ năm 2010 về các vụ án buôn lậu và buôn bán lớn ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm cho thấy, số lượng đối tượng chịu án phạt tù giam trong những vụ án này tương đối thấp.
Nếu tính riêng kết quả xử lý các vụ buôn lậu và buôn bán lớn ĐVHD trong giai đoạn 2014-2016, chỉ có khoảng 17,9% trên tổng số 156 vụ án hình sự mà ENV xác định được kết quả xử lý, có áp dụng mức hình phạt tù giam với các đối tượng phạm tội. Thay vì phải chịu hình phạt thích đáng và có tính răn đe cao nhất là hình phạt tù giam, nhiều đối tượng phạm tội trong các vụ án nói trên cũng chỉ phải chịu mức án “tù treo”, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền.
Do vậy, bên cạnh việc tập trung triệt phá các đường dây buôn bán ĐVHD lớn, ENV hy vọng các cơ quan chức năng sẽ áp dụng những hình phạt thích đáng đối với các đối tượng phạm tội để gia tăng rủi ro cho các đối tượng vi phạm và ngăn ngừa những hành vi tương tự; củng cố niềm tin của nhân dân vào một xã hội pháp quyền.
Đồng thời, củng cố uy tín, hình ảnh của Việt Nam trong nước và quốc tế, với tư cách một quốc gia có nhiều nỗ lực trong công tác đấu tranh ngăn chặn tình trạng buôn bán trái phép ĐVHD; Giảm thiểu tình trạng săn bắt, buôn bán ĐVHD trái phép để ĐVHD có thêm điều kiện phục hồi, góp phần bảo vệ tốt hơn các loài ĐVHD trong tự nhiên tại Việt Nam và trên toàn cầu.
ENV hy vọng các cơ quan tư pháp sẽ không để những tác động bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình tố tụng và xét xử. Những kẻ cầm đầu các đường dây tội phạm lớn như Nguyễn Mậu Chiến cần bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Chỉ áp dụng các hình phạt thích đáng mới có tác dụng răn đe những đối tượng này và thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong công tác triệt phá các đường dây buôn bán ĐVHD bất hợp pháp. (Tài Nguyên & Môi Trường 6/9)đầu trang(
Chúng ta vẫn chưa chiến thắng trong cuộc chiến chống buôn bán động vật hoang dã. Khi tôi chào đời năm 1964, thế giới có khoảng hơn bốn triệu con voi sống hoang dã. Ngày nay, chỉ còn có 415.000 con.
Khi tôi trở thành Nghị sĩ Anh vào năm 2001, Việt Nam vẫn còn hổ, tê giác và voi sống hoang dã. Hiện chỉ còn 70 con voi sống hoang dã ở Việt Nam và thật là buồn khi hổ và tê giác đã không còn nữa. Các loài động vật quý hiếm khác như tê tê, sao la và các cá thể voọc đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Việt Nam vừa là nguồn cung cấp, nơi trung chuyển, đồng thời cũng là nơi tiêu thụ trái phép các sản phẩm của động vật hoang dã.
Buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã là vấn nạn toàn cầu. Nó không thuộc trách nhiệm riêng của bất cứ quốc gia nào. Mỗi quốc gia, mỗi tổ chức đều đóng vai trò quan trọng trong việc chấm dứt vấn nạn này. Vì vậy vai trò của Việt Nam là vô cùng quan trọng.
Đã có nhiều thay đổi kể từ năm 2013, khi lần đầu tiên tôi đến thăm Việt Nam. Công chúng Việt Nam đã nhận thức rõ hơn về vấn đề này, các tổ chức phi chính phủ đã tăng cường hợp tác cùng nhau để đưa ra các giải pháp ngăn chặn việc buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã; chính phủ Việt Nam cũng đã có những hành động mạnh mẽ hơn, và cũng đã bắt giữ và tịch thu nhiều hơn sản phẩm của động vật hoang dã vận chuyển trái phép. Chính phủ đã cam kết sẽ chấm dứt nạn nuôi gấu lấy mật vào cuối thập kỷ này. Những thay đổi gần đây trong bộ Luật Hình sự của Việt Nam có thể làm tăng khả năng bắt giữ và truy tố những đối tượng buôn bán bất hợp pháp. Những tiến bộ đạt được là thực chất và bền vững.
Tuy nhiên, mức độ trầm trọng của vấn nạn này vẫn rất lớn và chúng ta vẫn chưa thực sự chiến thắng trong cuộc chiến này.
Cộng đồng y học dân tộc có thể tiếp tục thông báo và thuyết phục người dân sử dụng các dược phẩm khác thay thế các sản phẩm từ động vật hoang dã. Các bác sĩ có thể giúp đảm bảo rằng người dân sẽ uống thuốc tân dược để chữa bệnh ung thư mà không sử dụng sừng tê giác. Vì thực tế cho thấy sừng tê giác không có tác dụng. Và năng lực của các cơ quan thực thi pháp luật cần phải được tăng cường để phát hiện việc vận chuyển trái phép các sản phẩm của động vật hoang dã - cũng như tiêu diệt mạng lưới tội phạm quốc tế. Điều quan trọng nhất là tất cả chúng ta cần cương quyết không chấp nhận việc sử dụng các sản phẩm của động vật hoang dã.
Những biểu tượng được làm từ các sản phẩm của động vật hoang dã không thể hiện sự giàu sang và quyền lực, thực tế nó thể hiện sự thiếu hiểu biết và kém thẩm mỹ. Chúng ta, tất cả có thể nói không, có thể khuyến khích, động viên bạn bè của chúng ta nói không và giáo dục con cháu chúng ta có những suy nghĩ và hành động khác.
Hợp tác quốc tế, quan hệ đối tác và quản lý là một phần không thể thiếu trong các giải pháp cần thiết. Một ví dụ cụ thể là cuộc gặp gỡ tại Hà Nội ngày hôm nay của các cán bộ của Anh và Việt Nam thuộc ngành Hải quan, Bộ Công An và Bộ Nông nghiệp cùng các cơ quan có liên quan. Cuộc gặp nhằm tăng cường khả năng hợp sức chống lại những đối tượng buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã.
Tôi mong rằng hợp tác giữa hai nước không những sẽ đem lại sự thay đổi trong hành động ở Việt Nam và khu vực mà còn tạo ra sức mạnh toàn cầu.
Tháng 11/2016 Việt Nam đã chủ trì Hội nghị chống buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã - một sự kiện quan trọng, cho thấy vai trò thiết yếu của châu Á cũng như những giải pháp cần thiết cho vấn đề này. Tại Hội nghị sắp tới về cùng chủ đề, dự kiến được tổ chức tại London vào mùa thu năm 2018, Việt Nam sẽ có vai trò nổi bật.
Lịch sử gần đây của Việt Nam cho thấy phối hợp hành động mạnh mẽ sẽ mang lại thành công.
Việt Nam có dân số trẻ và chúng ta đều nhận thấy có những thay đổi trong thái độ của mọi người đối với hành vi buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã, những hỗ trợ, đóng góp của xã hội dân sự cũng như các hoạt động vận động của những người nổi tiếng như nhạc sĩ - ca sĩ Thanh Bùi, người từng gặp gỡ và trao đổi với Hoàng tử William trong chuyến thăm Việt Nam của Hoàng tử hồi năm ngoái.
Cho phép tôi được nhắc lại câu nói của Hoàng tử tại Hội nghị Hà Nội “việc ngăn chặn nạn tuyệt chủng và chấm dứt buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã là cơ hội thực sự để thể hiện niềm tin chung của chúng ta rằng chúng ta đủ mạnh để giải quyết các vấn đề lớn của thời đại chúng ta”. (An Ninh Tiền Tệ & Truyền Thông 6/9)đầu trang(
Từ ngày 5 đến 8-9, tại Hà Nội, Bộ Công an phối hợp Hiệp hội Bảo tồn Động vật hoang dã (WCS) tổ chức khóa đào tạo “Kỹ năng điều tra chống buôn bán động vật hoang dã trái phép”, với nguồn tài trợ của Cục Đặc trách chất gây nghiện và thi hành pháp luật quốc tế (INL) thuộc Bộ ngoại giao Mỹ.
Khóa đào tạo nhằm trang bị và cập nhật cho đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật các kỹ năng và phương pháp điều tra hiệu quả, thu hẹp khoảng cách trong phát hiện tội phạm và truy tố thành công đối tượng vi phạm dựa trên việc thu nhập bằng chứng để có thể ứng biến trước tình hình buôn bán và vận chuyển trái phép các loài động vật hoang dã, quý hiếm tiếp tục diễn biến phức tạp; các đối tượng phạm tội đang hoạt động ngày càng tinh vi, xảo quyệt với nhiều phương thức, thủ đoạn nhằm che giấu hành vi phạm tội trước các lực lượng chức năng.
Tham dự khóa đào tạo là 20 học viên đại diện đến từ các cục và đơn vị chuyên trách của Bộ Công an gồm Cục cảnh sát phòng chống tội phạm môi trường (C49), Bộ Tư lệnh cảnh sát cơ động (K20), Cục đối ngoại (V12) và Công an Hà Nội.
Phát biểu khai mạc khóa đào tạo, ông Đỗ Tiến Thủy, Cục phó Cục tham mưu tác chiến, Bộ Tư lệnh cảnh sát cơ động nhấn mạnh: “Bộ Công an rất coi trọng công tác đào tạo nâng cao nghiệp vụ và kỹ năng điều tra cho đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật. Các khóa tập huấn kỹ năng nhằm giúp cán bộ có điều kiện trau dồi, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm cũng như trau dồi kỹ năng, cập nhật thông tin, kiến thức để không bị tụt hậu trước các diễn biến và hoạt động phức tạp của tội phạm động vật hoang dã.”
Trong thời gian tập huấn, học viên được củng cố, thực hành các kỹ năng điều tra cơ bản như quản lý thông tin, giám sát và quản lý hiện trường, trinh sát trong điều kiện trang thiết bị và nguồn lực ở mức tối thiểu… Nội dung bao gồm cả lý thuyết và thực hành tập trung giải quyết các tình huống liên quan đến điều tra chống buôn bán động vật hoang dã. Khóa đào tạo thứ hai sẽ tổ chức từ ngày 12 đến 15-9 với nội dung tương tự cho 20 học viên khác đến từ các đơn vị nói trên thuộc Bộ Công an.
Chị Nguyễn Diệu Linh, Cục cảnh sát môi trường cho biết những khóa đào tạo thế này thực sự hữu ích và cần thiết, học kỹ năng kết hợp thực hành là phương pháp hiệu quả để cán bộ thực thi pháp luật phát huy tối ưu vào công tác đấu tranh với tội phạm động vật hoang dã trên thực tế. (Nhân Dân 6/9)đầu trang(
Liên quan đến các vụ phá rừng tại Phú Yên, Thanh tra Chính phủ kiến nghị kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm hàng loạt lãnh đạo tỉnh.
Ngày 5/9, ông Nguyễn Văn Thanh, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ, cho biết trên báo Pháp luật TP.HCM rằng, ông đã ký báo cáo gửi Thủ tướng kết quả kiểm tra việc chấp hành pháp luật về quản lý đầu tư xây dựng đối với một số dự án liên quan đến việc chuyển mục đích sử dụng rừng phòng hộ sang mục đích khác tại tỉnh Phú Yên. Báo cáo này cũng được gửi đến các phó thủ tướng, các cơ quan liên quan.
Theo Thanh tra Chính phủ, qua kiểm tra 20 dự án liên quan đến rừng trên địa bàn Phú Yên, Thanh tra Chính phủ phát hiện hầu hết đều có vi phạm, trong đó nghiêm trọng nhất là dự án New City.
Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng chỉ đạo Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của chủ tịch, các phó chủ tịch UBND tỉnh, giám đốc các sở KH-ĐT, TN-MT, NN-PTNT, chủ tịch, phó chủ tịch UBND TP Tuy Hòa, chủ tịch, phó chủ tịch các huyện, thị xã, chi cục trưởng chi cục kiểm lâm, giám đốc ban quản lý rừng phòng hộ, các đơn vị, cá nhân, chủ đầu tư liên quan để xảy ra sai phạm thuộc chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm được giao.
Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng giao Bộ Công an xác minh làm rõ những vi phạm pháp luật về đất đai, tài nguyên rừng của các sở, ngành liên quan, chủ đầu tư dự án khai thác khoáng sản đất phục vụ thi công hầm đường bộ đèo Cả của Công ty CP Tập đoàn Hải Thạch, gây hậu quả 15 ha rừng đặc dụng bị chặt phá, khai thác khoáng sản sai quy định; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật (nếu có).
Do tính chất vi phạm trên diện rộng và khó tự chấn chỉnh, tự khắc phục các vi phạm, Thanh tra Chính phủ đề nghị Thủ tướng chủ trì cuộc họp với lãnh đạo UBND tỉnh Phú Yên với sự tham gia của Văn phòng Chính phủ, Thanh tra Chính phủ, các bộ để xử lý và có giải pháp tháo gỡ cho tỉnh này.
Trước đó, trong báo cáo kết luận thanh tra các dự án rừng tại Phú Yên, hàng loạt sai phạm cũng đã được Tổng cục Lâm Nghiệp, Bộ NN-PTNT chỉ ra.
Bộ NN-PTNT đã có nhiều kiến nghị gửi UBND tỉnh Phú Yên, trong đó nêu rõ UBND tỉnh và Sở NN-PTNT Phú Yên phải tổ chức kiểm điểm làm rõ trách nhiệm cũng như xử lý nghiêm đối với các tập thể, cá nhân để xảy ra những sai phạm, đồng thời thực hiện nghiêm túc kết luận. (Đất Việt 6/9)đầu trang(
Ba cá thể rắn ráo (tên khoa học: Ptyas korros ) còn sống, mỗi con nặng 0,6 kg thuộc danh mục động vật rừng thông thường...
Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng thuộc Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng tiếp nhận ba cá thể rắn ráo (tên khoa học: Ptyas korros ) còn sống, mỗi con nặng 0,6 kg thuộc danh mục động vật rừng thông thường quy định tại Thông tư số 47/2012/TT-BNNPTNT ngày 25 tháng 9 năm 2012 do Công an phường Tân Chính, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng bàn giao để tái thả lại môi trường tự nhiên tại Tiểu khu 62 Khu Bảo tồn Thiên nhiên Sơn Trà.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng thành phố Đà Nẵng đã thường xuyên tuyên truyền, vận động các tổ chức, cá nhân tích cực tham gia công tác bảo vệ rừng, bảo vệ động vật hoang dã (ĐVHD). Qua đó các tổ chức, cá nhân nhận thấy được trách nhiệm của mình và tự giao nộp ĐVHD để tái thả lại môi trường tự nhiên. (Nông Nghiệp VN 6/9)đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Sáng 6/9/2017, Hội đồng Dân tộc Quốc hội thực hiện nhiệm vụ giám sát tình hình, kết quả thực hiện chính sách pháp luật về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2006 – 2016 tại xã Châu Bình, huyện Quỳ Châu.
Về phía Đoàn giám sát có bà Cao Thị Xuân – Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc làm Trưởng đoàn và các ông, bà ủy viên Hội đồng Dân tộc, chuyên viên Vụ Dân tộc (Văn phòng Quốc hội), đại diện Ban chỉ đạo Tây Nguyên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Về phía tỉnh Nghệ An có đại diện Thường trực HĐND tỉnh; Đoàn ĐBQH tỉnh; lãnh đạo các sở, ngành: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Tài nguyên và Môi trường; Ban Dân tộc tỉnh; Chi cục Kiểm lâm; lãnh đạo huyện Quỳ Châu và xã Châu Bình.
Tiếp tục thu hồi đất Lâm trường Cô Ba giao cho dân sản xuất là kiến nghị của đại diện BQL thôn bản xã Châu Bình (Quỳ Châu) với Đoàn giám sát của Hội đồng Dân tộc Quốc hội.
Theo báo cáo của UBND xã Châu Bình, việc triển khai các văn bản hướng dẫn thực hiện giao đất, giao rừng của Chính phủ và các bộ, ngành trung ương được thực hiện thường xuyên, tạo điều kiện cho nhân dân được tiếp cận kịp thời. Trước năm 2005, xã tổ chức giao đất theo Nghị định 163/1999/NĐ-CP cho 8 cộng đồng bản trên địa bàn với tổng diện tích 270,91 ha.
Năm 2013, sau khi tiếp nhận đất được UBND tỉnh thu hồi của Lâm trường Cô Ba, xã tiếp tục giao cho 1 cộng đồng bản (bản Kẻ Can) 128,96 ha đất rừng khoanh nuôi bảo vệ. Hiện tại, diện tích rừng này được cộng đồng quản lý và bảo vệ tốt.
Công tác giao đất, giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân, hộ đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu đang thực hiện theo Nghị định 163/1999/NĐ-CP. Giai đoạn từ năm 2003 – 2012 xã lập hồ sơ gia đất lâm nghiệp cho 861 hộ với 2.889,0 ha. Từ năm 2013 – 2016 xã tiếp tục lập hồ sơ và giao đất cho 763 hộ với 1.135,48 ha. Hộ dân tộc thiểu số được giao đất là 726/1.252 hộ (chiếm 58% tổng số hộ dân tộc thiểu số trong xã).
Trên cơ sở đó, công tác quản lý, tổ chức sản xuất của cộng đồng và hộ dân cư được thực hiện đúng theo quy định, rừng được quản lý và bảo vệ tốt, hàng năm xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng. Kế hoạch trồng rừng được đảm bảo, hướng tới mục tiêu sử dụng, khai thác có hiệu quả bền vững. Quyền lợi của cộng đồng dân cư và hộ gia đình được đảm bảo.
Tuy vậy, hiện nay xã Châu Bình còn trên 930 hộ, trong đó có 526 hộ dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất. Điều này bắt nguồn từ nguyên nhân do địa hình dốc, một phần bị ngập trũng do xây dựng hồ chứa nước bản Mồng, tỷ lệ tăng dân cố còn cao, tình trạng tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất...
Chủ trương giao đất, giao rừng đã đáp ứng nhu cầu thực tế của cộng đồng dân cư và hộ gia đình dân tộc, miền núi, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, khai thác lợi thế và nâng cao ý thức quản lý, bảo vệ rừng. Hạn chế chủ yếu là quỹ đất địa phương còn lại rất ít, vẫn còn tình trạng tranh chấp, khiếu kiện gây mất an ninh, trật tự.
Từ thực tế địa phương, xã Châu Bình kiến nghị tiếp tục thực hiện chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và đồng bào dân tộc. Hỗ trợ chế độ về trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng theo chính sách đề ra. Sớm xem xét điều chỉnh lại quỹ đất Lâm trường Cô Ba về cho địa phương để cấp cho đồng bào sản xuất nhằm xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống.
Tại buổi làm việc, đại diện Ban quản lý các bản cũng phản ánh tình trạng còn một số lượng khá lớn hộ gia đình, trong đó có gia đình dân tộc thiểu số vẫn chưa được cấp đất rừng. Vì thế, cần tiếp tục sớm triển khai thu hồi diện tích đất của Lâm trường Cô Ba giao cho người dân sản xuất, đảm bảo ổn định cuộc sống.
Các thành viên Đoàn giám sát nêu vấn đề về tổng mức thu nhập, cơ cấu thu nhập của đồng bào dân tộc Thái trên địa bàn, lợi ích các hộ gia đình nhận diện tích đất rừng được hưởng lợi, hệ lụy của việc thiếu đất sản xuất; tình trạng giao dịch, chuyển nhượng sau khi giao đất, giao rừng; thực tế diện tích rừng do xã quản lý giao cho các hộ gia đình.
Giải đáp thắc mắc của Đoàn giám sát, lãnh đạo xã Châu Bình và kiểm lâm viên địa bàn nêu rõ hơn tình hình thực tế quản lý, sử dụng diện tích đất rừng, về hiệu quả của chính sách giao đất, giao rừng. Về thu nhập bình quân đầu người, hiện tại xã Châu Bình đang ở mức 22 triệu đồng/người/năm, chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp (chăm nuôi, trồng trọt) và một phần phát triển dịch vụ.
Tình trạng thiếu đất sản xuất dẫn đến việc tranh chấp đất rừng, gây mất an ninh, trật tự, vẫn còn tình trạng phá rừng, tuy chưa xẩy ra điểm nóng. Việc trao đổi, mua bán còn diễn ra trên địa bàn, diện tích rừng do xã quản lý đã giao cho các hộ gia đình.
Thay mặt Đoàn giám sát, bà Cao Thị Xuân lưu ý địa phương cần tích cực hơn trong việc làm thủ tục và tổ chức thực hiện việc giao đất, giao rừng, đẩy nhanh việc thu hồi đất lâm trường để bàn giao cho nhân dân và hứa sẽ chuyển vấn đề này lên Quốc hội. (Báo Nghệ An 6/9)đầu trang(
Mỗi chu kỳ rừng kéo dài 8-10 năm, người dân phải đổ mồ hôi ra trồng, chăm sóc bảo vệ, nhưng lại chỉ nhận được thành quả chẳng khác nào một mẩu của chiếc bánh.
Các lâm trường cũ dù đã chuyển đổi sang nhiều hình thức hoạt động như Cty lâm nghiệp, Cty TNHH MTV, nhưng bản chất của việc quản lí sử dụng đất lâm nghiệp thì thật khó dùng từ nào khác ngoài “phát canh, thu tô”.
Ở xã Đồng Vương (huyện Yên Thế, Bắc Giang), bản Đồng Tâm nổi tiếng nhiều rừng, nhưng người dân lại gần như chẳng còn sở hữu được bao nhiêu rừng. Họ vốn là những hộ dân ở ngã ba của 3 xã Đồng Vương, Đồng Kỳ và Đồng Hưu của huyện Yên Thế, và đa phần là công nhân của các lâm trường trước đây. Trong đó, nhiều hộ dân hiện nay có hộ khẩu đăng ký ở xã Đồng Hưu, nhưng lại sinh sống trên địa giới hành chính của xã Đồng Vương. Đến bây giờ, trong khi nhiều thôn bản khác ở xã Đồng Vương nhà lầu san sát thì bản Đồng Tâm nhà nào nhà đó vẫn lụp xụp.
Căn nhà của vợ chồng anh Đỗ Đình Thắng ở bản Đồng Tâm do bố mẹ anh để lại từ những năm 80 của thế kỷ trước bây giờ vẫn vậy. Đưa cho chúng tôi xem quyển sổ chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp của gia đình được cấp từ năm 1993 đã mòn vẹt (dân ở đây vẫn hay gọi là sổ xanh), anh cho biết: Quyển sổ này đáng ra đã bị Lâm trường Yên Thế thu hồi từ khoảng năm 1999-2000. Trong bản, những hộ dân được cấp sổ xanh như nhà anh đã bị Lâm trường Yên Thế thu lại, duy chỉ có nhà anh là vẫn “giữ trộm” lại nên bây giờ vẫn còn.
Năm 1993, triển khai chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc (Chương trình 327), gia đình anh lúc ấy đã được huyện Yên Thế cấp sổ xanh cho chủ hộ là bố anh – ông Đỗ Đình Nhỡn với diện tích 7,5ha, trong đó hơn 4ha là đồi trọc chưa có rừng, hơn 3ha là đất đồi thuộc dạng “hậu quả” khai thác gỗ do lâm trường để lại, chỉ có chồi. Những hộ dân ở bản Đồng Tâm sau đó được nhận giống như bạch đàn, keo, muồng, trám trắng… về trồng bổ sung theo cơ chế liên kết với Lâm trường Đồng Sơn (huyện Yên Thế). Năm 2002, Lâm trường Đồng Sơn đã thực hiện thanh lý toàn bộ các diện tích rừng thuộc rừng 327.
Năm 2003, cán bộ của Lâm trường Yên Thế lúc ấy về phổ biến rằng, những diện tích rừng ở bản Đồng Tâm nay thuộc quản lí của Lâm trường Yên Thế. Trước đó, những chiếc sổ xanh được cấp từ năm 1993 bị Lâm trường Yên Thế thu hồi lại, với lí do từ nay đất rừng sẽ được chuyển sang trồng rừng kinh tế nên sẽ được cấp sổ mới có thời hạn 50 năm. Tuy nhiên kể từ đó tới nay, những hộ dân ở bản Đồng Tâm chẳng thấy cái sổ mới nào, chỉ thấy những bản hợp đồng khoán trồng, bảo vệ rừng do Cty Lâm nghiệp Yên Thế (nay là Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Thế) đưa cho ký.
Anh Đỗ Đình Thắng bảo rằng, chẳng rõ nhà nước hiện nay có những chính sách khoán trồng rừng thế nào, chỉ biết rằng từ năm 2003 đến nay, đất rừng đã không còn thuộc về nhà mình, không tự quyết định chuyện trồng chặt được nữa, mà đã là của Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Thế. Dân địa phương cũng chỉ biết có 2 loại rừng mà họ hay gọi là rừng quốc doanh và rừng liên doanh. Với loại rừng quốc doanh, phía Cty cấp giống, phân bón, dân đổ sức ra trồng, đào hố, phát thực bì… được bao nhiêu công thì hưởng bấy nhiêu, tới khi khai thác người dân chỉ được hưởng 2% sản lượng rừng tăng trưởng hàng năm (tính từ năm thứ 4 sau trồng), gọi là công bảo vệ. Với loại rừng liên doanh, họ phải kiêm luôn tất tần tật từ A đến Z. Tới kỳ khai thác, hộ nhận khoán phải mang lên tận trụ sở Cty để “nộp sản” với định mức quy ra tiền mặt bất di bất dịch là 28 m3/ha.
Gia đình anh Thắng được Cty ký hợp đồng trồng rừng quốc doanh từ năm 2002, diện tích 1,1ha, đến năm 2014 thì thanh lí với tổng khối lượng gỗ lên tới 116 m3, củi hơn 22 m3, thế nhưng nhà anh chỉ được hưởng công bảo vệ tương đương hơn 9 m3 gỗ và 1,7 m3 củi. Diện tích rừng liên doanh hơn 3,7ha còn xót hơn. Phía Cty chỉ mỗi việc cấp giống, phân bón về, hai vợ chồng anh phải quần quật làm tất cả, từ phát thực bì, đào hố, trồng cây, bón phân, phát dọn, bảo vệ chăm sóc đằng đẵng suốt hơn 8 năm trời. Người của Cty chỉ thi thoảng ghé qua kiểm tra, “chỉ tay năm ngón”, nhưng tới khi khai thác lại được hưởng lên tới 28 m3/ha.
“Mỗi ha bạch đàn, chăm sóc giỏi lắm thì cũng chỉ được 60 m3/chy kỳ, xem như phía Cty ăn gần phân nửa. Đợt thanh lí chu kỳ đầu năm 2014, tổng thu rừng liên doanh của gia đình chỉ được hơn 100 triệu đồng, nhưng đã phải nộp cho Cty khoảng 50 triệu đồng, trong khi đầu tư giống, phân bón ban đầu của phía Cty theo tính toán của chúng tôi cao lắm cũng chỉ 3-4 triệu đồng/ha. Rõ là họ chẳng phải làm gì mà ăn dày quá thể! Như nhà tôi vậy cũng là may, nhiều hộ nhận phải lô giống kém, chăm sóc kém để trâu bò phá hay gặp phải lô đất xấu, rừng chậm lớn thì nộp sản xong cho Cty xem như huề” – anh Thắng thổ lộ.
Được nhận trồng rừng liên doanh, mỗi chu kỳ dù phải “nộp sản” cho Cty, nhưng nếu chăm sóc tốt còn được hưởng chút ít. Chứ những hộ không được ký hợp đồng liên doanh, phải ký hợp đồng theo công đoạn hàng năm thì còn bọt bèo hơn.
Ông Phan Văn Tụng (thôn Đồng Tâm), người đã vác đơn đi kiện đòi đất rừng của gia đình từ hơn 15 năm qua xót xa kể lại: Gia đình ông đã từng trồng từng theo Chương trình 327 lên tới hơn 32ha, đã được huyện Yên Thế cấp sổ xanh năm 1993. Sau khi thanh lí Rừng 327 với Lâm trường Đồng Sơn năm 2002, năm 2003, gia đình ông được Lâm trường Yên Thế dí cho một bản hợp đồng, gọi là Hợp đồng Trồng rừng. Hợp đồng này chẳng thấy nói rõ về cơ chế ăn chia sản phẩm thế nào khi rừng khai thác, mà chỉ quy định các hạng mục theo kiểu làm công cho lâm trường theo đơn giá định sẵn. Có sức đào hố, trồng cây, bón phân, phát thực bì… bao nhiêu diện tích thì hưởng bấy nhiêu.
Ông Tụng tính: Tiền công trồng rừng cho Cty tất tần tật từ A đến Z trong năm đầu quy ra chỉ khoảng chưa tới 2 triệu đồng/ha. Trong 2 năm sau đó, Cty chỉ nhận hợp đồng chăm sóc bảo vệ, tính ra chỉ 750 nghìn đồng/ha/năm. Kể từ năm thứ 4 trở đi, Cty không còn có nhu cầu thuê nhân công nên xem như không còn liên quan. Tiền công bèo bọt, nhưng xót đất, xót rừng, lại không còn việc gì để làm nên từ năm 2003, ông chẳng còn cách nào khác là phải nhận hợp đồng để triển khai trồng bạch đàn phủ kín diện tích trên 32ha. Tuy nhiên đến năm 2011, khi thanh lí chu kỳ thứ nhất, gia đình ông chẳng hề được hưởng một xu cắc nào sản phẩm.
Tới nay, diện tích rừng bạch đàn 32ha do ông dày công trồng, chăm sóc năm nào đã thuộc về sở hữu của Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Thế. Hiện tại, diện tích rừng này đang ở chu kỳ 2 để chồi, nhiều diện tích thiếu bàn tay chăm sóc đã trở nên còi cọc, còn chủ nhân trước đây của nó vẫn chưa hề có thông báo nào về quyền lợi được hưởng trong nay mai. Cho rằng rừng đó đáng ra phải là của mình chứ không phải của Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Thế, ông Tụng đã đâm đơn khiếu nại tới nhiều cơ quan chức năng suốt hàng chục năm qua.
Trong khi nhiều hộ dân địa phương “khát” đất trồng rừng thì theo UBND xã Đồng Vương, trên địa bàn xã hiện vẫn còn trên 260ha đất lâm nghiệp vẫn thuộc quản lí của 2 DN là Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Thế (130ha và Lâm trường Đồng Sơn (130ha).
Trao đổi với PV, ông Phan Văn Tụng bức xúc: “Trồng rừng kinh tế thì cũng là bảo vệ môi trường, dân chúng tôi cũng làm được, và đang không có đất để SX, không hiểu cớ sao lại phải giao cho Cty? Tôi được biết nhà nước có định mức giao rừng cho hộ gia đình lên tới 30ha, rừng ấy trước đây lại chính do gia đình tôi đã tiên phong theo kêu gọi của nhà nước đứng ra nhận chăm sóc gây dựng, tới khi đất rừng có giá trị thì lại bị thu hồi để giao cho lâm trường, giao cho Cty sử dụng mà không ưu tiên giao lại ổn định cho nhân dân SX” – ông Tụng bức xúc! (Nông Nghiệp VN 6/9)đầu trang(
''Cần xem lâm nghiệp như là ngành kinh tế thay vì chỉ đơn thuần là bảo vệ'' là quan điểm được đưa ra tại hội nghị góp ý dự thảo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi).
6/9 tại Hà Nội, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) tổ chức hội nghị góp ý dự thảo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi).
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghệ An, ông Nguyễn Tiến Lâm cho rằng, để luật này sau khi được ban hành đi vào cuộc sống, trước hết luật phải giải quyết được những vấn đề đang gặp phải.
Cần xem lâm nghiệp như là ngành kinh tế thay vì chỉ đơn thuần là bảo vệ. Kinh tế không chỉ là lâm sản, không chỉ là gỗ mà cả môi trường và cần lượng hóa thành kinh tế. Bên cạnh đó là giải quyết được vấn đề sinh kế của người dân bảo vệ rừng.
Ông Nguyễn Tiến Lâm cũng cho rằng cần đồng bộ hóa về các khái niệm trong luật với các luật khác. Bởi nếu mỗi luật đưa ra một khái niệm khác nhau về một vấn đề thì sẽ rất khó xử lý nếu liên quan với các luật khác. Cùng với đó là làm rõ khái niệm rừng tự nhiên và sở hữu rừng vì nếu cá nhân tự đầu tư khoanh nuôi rừng thành rừng tự nhiên mà lại thuộc sở hữu nhà nước thì không được.
Về nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm lâm, ông Lâm cho rằng, kiểm lâm không phải có trách nhiệm bảo vệ rừng thay cho chủ rừng. Kiểm lâm chỉ có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật bảo vệ rừng của chủ rừng chứ không phải bảo vệ rừng. Vì vậy, phải làm rõ là kiểm lâm không có nhiệm vụ bảo vệ rừng thay chủ rừng.
Đồng tình quan điểm trên, ông Hoàng Xuân Ngoan, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Lạng Sơn cho rằng, nên bỏ điểm b, khoản 1 điều 107: "Bảo vệ khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; phối hợp với cơ quan liên quan tổ chức bảo vệ các khu rừng thuộc sở hữu toàn dân nơi Nhà nước chưa có giao, chưa cho thuê" trong nhiệm vụ của kiểm lâm của dự thảo luật.
Theo ông Tô Mạnh Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lào Cai, trong giao rừng chưa thấy điểm nào liên quan đến giao đất. Nếu giao rừng mà không giao đất thì sẽ không giải quyết được vấn đề bảo vệ, phát triển rừng.
Ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp cho biết, luật sửa đổi lần này được điều chỉnh rộng hơn và theo chuỗi từ khâu bảo vệ, sử dụng, chế biến, thương mại.
Dự thảo luật quy định cụ thể các chính sách của nhà nước đối với lâm nghiệp; trong đó, khẳng định nhà nước sẽ đầu tư bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng trọng điểm, trọng yếu của quốc gia và một số đầu tư công. Còn các nhiệm vụ khác phải được xã hội hóa, các thành phần kinh tế ngoài nhà nước đầu tư.
"Dự thảo luật lần này phân biệt rõ đâu là đầu tư, hỗ trợ, khuyến khích", ông Ngãi bày tỏ.
Theo ông Ngãi, dự thảo luật đã có những đột phá quan trọng; trong đó có các chương chú trọng cho tái cơ cấu ngành lâm nghiệp như phát triển khoa học công nghệ, giá rừng, tài chính trong lâm nghiệp.
Đặc biệt là về sở hữu rừng được phân định rất rõ ràng; trong phân cấp chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sẽ được kiểm soát rất chặt chẽ. Về tài chính trong lâm nghiệp là thể chế hóa dịch vụ môi trường rừng vì đây là nguồn thu rất lớn, hàng năm nguồn thu này chiếm tới 22% tổng đầu tư vào ngành, tương đương với đầu tư của nhà nước. (Bnews 6/9)đầu trang(
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế vừa ban hành Quyết định quy định mức bình quân diện tích đất sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi, sống bằng nghề lâm nghiệp, nông nghiệp trên địa bàn tỉnh...
Theo đó, đối tượng được cấp đất sản xuất là hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo sinh sống ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi; hộ nghèo ở thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực III được phê duyệt tại Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016 - 2020 theo tiêu chí hộ nghèo quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/ 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016- 2020 sống bằng nghề nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
Mức được cấp đất sản xuất như sau: 01 ha đối với đất trồng cây hàng năm (đất trồng lúa và cây hàng năm khác); 01 ha đối với đất nuôi trồng thủy sản; 01 ha đối với đất xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; 2,5 ha đối với đất trồng cây lâu năm; 2,5 ha đối với đất rừng sản xuất.
Mức bình quân diện tích đất đất sản xuất nêu trên là cơ sở để so sánh đối chiếu, xác định đối tượng hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo thiếu hoặc chưa có đất sản xuất và mức thụ hưởng chính sách hỗ trợ theo Quyết định 2085/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Quyết định sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 11/9/2017. (Tài Nguyên & Môi Trường 6/9)đầu trang(
Báo cáo số 7381/BC-BNN-VP của Bộ NN&PTNT ngày 6/9 cho biết, với việc nguồn vốn trồng rừng được khai thông sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững, diện tích rừng đã tăng đáng kể.
Cụ thể, tính chung 8 tháng năm 2017, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 131.300ha, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 11,7 triệu m3, đạt gần 70% kế hoạch. Tổng diện tích rừng trồng thay thế đạt trên 42.354ha, đạt 62% kế hoạch. Trong đó, các dự án thủy điện là trên 21.300ha (đạt xấp xỉ 99%); dự án kinh doanh là 13.772ha (đạt trên 66%)…
Bên cạnh công tác trồng rừng có nhiều chuyển biến, tình hình vi phạm các quy định về bảo vệ và phát triển rừng vẫn diễn biến phức tạp. Trong 8 tháng qua, diện tích rừng bị thiệt hại 1.157ha (giảm khoảng 72% so với cùng kỳ năm 2016). Tổng số vụ vi phạm về quản lý và khai thác rừng là 11.867 vụ, đã xử lý được 10.065 vụ, thu nộp ngân sách trên 118 tỷ đồng.
Cũng theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, trong 8 tháng qua, thu phí dịch vụ môi trường rừng ước đạt trên 1.007 tỷ đồng, bằng khoảng 61% kế hoạch năm và tăng 27% so với cùng kỳ năm 2016. (Kinh Tế Đô Thị 6/9)đầu trang(
Công Ty Cổ Phần Tập Đoàn Tân Mai vừa tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2017 tại Tp. Biên Hòa, Đồng Nai với sự tham gia của 46 cổ đông, đại diện cho 83,3 triệu cổ phần có quyền biểu quyết, tương đương 93,5% vốn cổ phần.
Dù đã có một nhóm cổ đông sở hữu khoảng 9% không nhất trí với hầu hết các nội dung tờ trình liên quan đến hoạt động kinh doanh các năm 2015, 2016, báo cáo triển khai các dự án Lâm nghiệp, dự án Công nghiệp và dự án bất động sản tại Công ty và định hướng năm 2017. Nhưng cuối cùng, với số cổ phần áp đảo của nhóm cổ đông, đại hội cũng đã thông qua các tờ trình.
Đáng chú ý nhất là quyết định thông qua việc chuyển nhượng 2.000 ha rừng thông tại Tỉnh Lâm Đồng để thu xếp vốn đầu tư dự án Nhà máy Bột Giấy & Giấy Tân Mai Kontum. Có hơn 9% số cổ phần không tán thành và có ý kiến về vấn đề này.
Cùng với đó, Tập Đoàn Tân Mai cũng đưa ra phương án chuyển nhượng cổ phần tại các Công ty được thành lập từ việc hợp tác đầu tư khai thác quỹ đất tại nhà Máy giấy Tân Mai, Nhà máy giấy Đồng Nai, nhà máy Giấy Bình An; quỹ đất rừng 1.000 ha tại Huyện Vĩnh Cữu, ĐN; quỹ đất từ 35ha đến 40ha dự án nhà máy Giấy Tân Mai Miền Đông.
Về dự án Nhà máy Giấy Tân Mai quãng Ngãi, công ty đã thông qua việc ngừng dự án này và chuyển toàn bộ máy móc, dây chuyền bột BCTMP 130.000T/năm và chuyển dây chuyền sản xuất giấy trắng 200.000 T/năm về cho Tập đoàn Tân Mai để đầu tư xây dựng dự án Nhà Máy giấu tại Đồng Nai và dự án Nhà máy Bột giấy tại Kontum.
Đồng thời, thông quan việc lập dự án đầu tư Nhà máy Giấy Long Thành – Đồng Nai sau khi Nhà máy Giấy Tân Mai Miền Đông và dự án Nhà máy Bột giấy và giấy Tân Mai KonTum hiện hữu đi vào hoạt động ổn định.
Nhóm cổ đông lớn Tân Mai cũng đã thông qua chủ trương góp 30% vốn thành lập Công ty CP để kinh doanh dịch vụ logistic trên diện tích 35ha đến 40ha tại Công ty CP Tân Mai Miền Đông – Long Thành.
Thông qua chủ trương thành lập Công ty CP đầu tư và phát triển với mô hình Công – Nông – Lâm nghiệp tại các xí nghiệp NLG Lâm Đồng, Xí nghiệp NLG ĐăkLăk, Xí nghiệp NLG Đông Nam Bộ, xí nghiệp NLG ĐăkNông. Theo đó, ban lãnh đạo được quyền chọn các đơn vị tư vấn lập hồ sơ và định giá đối với các dự án trước khi thành lập Công ty.
Công ty cũng thông qua chủ trương cho thành lập thêm một Công ty cổ phần tại Lâm Đồng để lập dự án khai thác các quỹ đất thông qua hình thức hợp tác, liên kết, chuyển nhượng…Cụ thể, dự án khu du lịch sinh thái nghĩ dưỡng khoảng 600 ha tại tiểu khu 276, xã Liên Hiệp, huyện Đức Trọng, Tỉnh Lâm Đồng; Dự án khu đất ở và Văn phòng khoảng 16,1ha tại khoảnh 6, tiểu khi 278a, xã Hiệp An, Huyện Đức Trọng, Tỉnh Lâm Đồng.
Bên cạnh các dự án trên, Công ty cũng đề xuất thông qua chủ trương lập dự án xin Nhà nước chuyển đổi mục đích sử dụng đất trên diện tích rừng tại Đông Nam bộ thuộc đất công ty quản lý.
Được biết Công ty cổ phần Tập Đoàn Tân Mai tiền thân là Công ty Kỹ Nghệ Giấy Việt Nam (COGIVINA) được thành lập ngày 14/10/1958 và chuyển sang cổ phần vào đầu năm 2006. Ngành nghề kinh doanh chính của Tân Mai là sản xuất bột giấy, giấy, các sản phẩm từ giấy, bao bì, hoạt động lâm nghiệp, trồng cao su…
Dù là một trong những DN lớn trong ngành và sở hữu quỹ đất rừng hàng ngàn hecta nhưng hoạt động kinh doanh của Tập đoàn này liên tục thua lỗ trong khi nợ thì liên tục tăng. Tính đến 31/12/2016, nợ phải trả của Tập Đoàn này đã lên đến gần 6.800 tỷ đồng và gần ngang với tổng tài sản.
Năm 2016, công ty này tiếp tục thua lỗ 61 tỷ đồng, con số có thể lớn hơn nếu như công ty ghi nhận một cách hợp lý trên báo cáo tài chính theo yêu cầu của đơn vị kiểm toán.
Kiểm toán viên của Công ty TNHH Kiểm toán SG-VN cũng nhấn mạnh rằng Công ty đang có số lỗ lũy kế 553 tỷ đồng (chưa bao gồm các khoản đáng lý phải ghi nhận), số dư nợ ngắn hạn đang vượt quá tài sản ngắn hạn 342 tỷ đồng. Các khoản nợ vay quá hạn tại các ngân hàng với tổng số tiền 262 tỷ đồng chưa được cơ cấu lại thời gian trả nợ. Vấn đề này theo kiểm toán viên là có sự tồn tại của yếu tố không chắc chắn trọng yếu có thể dẫn đến nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục của Tập đoàn này. (CafeF 6/9)đầu trang(
Theo báo cáo của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đường 9, hiện nay trong tổng diện tích đất rừng của công ty được nhà nước giao quản lý sử dụng có hơn 840 ha đất đang bị người dân ở các địa phương xâm lấn, trồng cây lâm nghiệp.
Đây là diện tích rừng trồng theo dự án 661, 327 từ những năm trước nằm chủ yếu trên địa bàn các xã Cam Tuyền, Cam Chính (Cam Lộ). Diện tích này là đất phân tán nằm ở khe suối, đồi trọc công ty chưa đưa vào sử dụng hoặc có trồng rừng nhưng kém hiệu quả nên người dân đã tự ý xâm canh.
Từ nhiều năm qua, công ty đã phối hợp với chính quyền địa phương vận động người dân sau khi khai thác hết phần cây, tự nguyện trả lại đất cho công ty nhưng vẫn chưa được người dân chấp thuận.
Việc người dân tự lấn chiếm đất, xâm canh đã gây ra nhiều khó khăn trong quá trình cổ phần hóa của công ty, dự kiến sẽ hoàn tất trong quý 4 năm 2018. (Báo Quảng Trị 5/9)đầu trang(
Theo kế hoạch, trong năm 2017 Sở NN-PTNT trồng 977,54ha rừng các loại gồm: 236ha rừng phòng hộ (trong đó 100ha rừng ngập mặn), 298ha rừng đặc dụng (trong đó có 250ha rừng thay thế), trồng lại 407ha rừng sản xuất, 36,54ha rừng bảo vệ, phòng hộ các công trình hồ chứa nước.
Từ đầu năm đến nay, Sở NN-PTNT đã tăng cường chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh công tác bảo vệ và phát triển rừng. Trong đó, đặc biệt quan tâm chỉ đạo công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng và tuần tra, kiểm soát lâm sản; quản lý chặt chẽ hoạt động của các cơ sở cưa xẻ, chế biến gỗ, các vườn ươm, cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp theo đúng quy định. Kết quả đến nay, toàn tỉnh đã trồng được 223ha rừng các loại, đạt hơn 22% kế hoạch năm. (Báo BR-VT 5/9)đầu trang(
Bắc Mê nằm ở phía Đông của tỉnh Hà Giang, có cấu tạo địa chất chia làm 2 loại, gồm vùng núi đất và vùng núi đá, với những loại đất chính như: Đất đỏ vàng, đất nâu trên phù sa cổ, đất dốc tụ và bồi tụ, tài nguyên đất thích hợp để cây rừng phát triển, bên cạnh đó lượng đất bỏ hoang, đất cằn chưa sử dụng đến còn nhiều.
Nhằm tận dụng nguồn tài nguyên này, trong những năm qua huyện Bắc Mê đã tích cực vận động người dân tham gia trồng rừng gắn với phát triển kinh tế. Trong đó, Đường Hồng là xã đi đầu trong việc tích cực vận động người dân tham gia vào phát triển kinh tế rừng.
Là một xã có diện tích đất chủ yếu là đất đồi, dốc, khó khăn trong việc canh tác nông nghiệp, nhằm khắc phục điều này, đồng chí Bồn Văn Quốc, Bí thư Đảng ủy xã cho biết: “Tuy điều kiện tự nhiên không thuận lợi để phát triển nông nghiệp, nhưng phần lớn diện tích đất của xã là đất đồi thuận lợi để phát triển trên lĩnh vực lâm nghiệp, từ đó xã đã tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế rừng với phương châm “không trông chờ, ỉ lại”. Xã đã phối hợp với các tổ công tác phụ trách thôn, cán bộ thôn tuyên truyền và khuyến khích người dân nhằm vận động người dân cải tạo đất nghèo, chuyển toàn bộ diện tích đất trống sang trồng rừng. Bên cạnh đó, thường xuyên kiểm tra và đôn đốc nhân dân thực hiện việc chăm sóc rừng, nghiêm cấm các hành vi đốt rừng và chặt phá rừng bừa bãi...”.
Bằng cách làm này, trong năm 2017 xã đã vận động các hộ đăng kí trồng rừng được 194 ha. Đến nay đã thực hiện được 90/50ha đạt 180% so với kế hoạch huyện giao, trồng tập trung tại thôn Khuổi Hon, thôn Nà Nưa I, thôn Nà Nưa II, thôn Tiến Minh với giống cây chủ yếu là cây Mỡ, Sa Mộc, Keo, Quế... UBND xã vận động người dân tự chủ động mua giống cây về trồng; vận động người dân thực hiện số diện tích đồi trồng đã đăng kí, quyết tâm phấn đấu nâng tỉ lệ độ che phủ rừng đạt 75%. Nhìn thấy lợi ích của việc trồng rừng, các hộ dân trên địa bàn xã đã tự chủ động mua giống, làm đất, nhiều hộ đã tập trung cùng nhau nhờ cán bộ xã đặt giống hộ.
Cùng với đó là học hỏi cách trồng, cách chăm sóc sao cho ứng với các loại đất khác nhau phù hợp với từng loại cây cụ thể. Bên cạnh đó, các thôn đã đưa nội quy bảo vệ rừng vào hương ước, quy ước của thôn như vận động người dân kí cam kết không chăn thả trâu, bò, dê vào vùng rừng trồng và những quy định nghiêm ngặt về việc xử lý, nộp phạt nếu hộ nào vi phạm gây hư hỏng đến diện tích cây của người dân. Từ đó đã tạo sự yên tâm và động lực cho nhiều hộ dân đăng kí chuyển đổi diện tích đất bỏ hoang sang trồng rừng.
Đến thăm mô hình trồng rừng của các hộ dân tại thôn Nà Nưa, cả khoảnh đồi 40 ha của các hộ dân trong thôn đang dần được phủ xanh bởi những chồi non đang nhú lên của cây keo, cây mỡ... mà các hộ đã chủ động mua giống về trồng cách đây 1 năm. Theo anh Hoàng Văn Dấu, hộ dân trồng cây cho biết: “Năm 2016 gia đình đầu tư hơn 2 ha đất đồi để trồng cây mỡ, sau một năm khi thấy cây phát triển tốt gia đình tiếp tục chuyển số diện tích đất còn lại để trồng cây keo. Trước khi trồng gia đình đã đi khảo sát và hỏi cán bộ xã về cách trồng và chăm sóc, cây mỡ ưa đất tơi xốp và màu mỡ cần phải chọn phần đất tốt và cây keo dễ sống hơn nên để phần đất khô cằn trồng keo... vì vậy cho đến nay, sau hơn một năm trồng, 2000 cây mỡ giờ đã phát triển tốt, tỉ lệ sống đạt khoảng 98%, hiện tại các cây sinh trưởng tốt và vượt tiêu chuẩn cao trên 2 m”.
Không chỉ trồng nguyên cây lấy gỗ, các hộ dân nơi đây còn tận dụng các khoảng đất trống trồng xen kẽ các cây ngắn ngày như cây nghệ, cây lúa nương, cây sắn... để có thêm thu nhập cho gia đình.Những màu vàng, màu nâu của những khoảnh đất trơ trọi đang dần được phủ một màu xanh của những cây rừng, hứa hẹn cho người dân nơi đây một khoản thu lớn trong thời gian không xa. (Báo Hà Giang 6/9)đầu trang(
Tại xã Long Hẹ, huyện Thuận Châu không ai không biết tới ông Lường Văn Hợp một tấm gương tiêu biểu về làm kinh tế giỏi, không những vậy ông còn giúp nhiều hộ nông dân nghèo trong bản, trong xã phát triển kinh tế thoát nghèo.
Nhìn cánh rừng thông ngút ngàn một màu xanh, rộng hơn gần 150ha đang bắt đầu vào thời điểm khai thác, mới thấy thật khâm phục sức lao động của gia đình ông Lường Văn Hợp. Bởi tại bản Nông Cốc, xã Long Hẹ,Thuận Châu diện tích rừng trồng của nhà ông luôn đứng đầu, trong đó có hơn 15ha là trồng cây sơn tra, còn lại là trồng thông.
Ông cho biết gia đình mình bắt đầu trồng rừng từ năm 2003. Sau một quá trình dài tìm hiểu về địa thế cũng như đất đai, khí hậu, ông nhận thấy: trồng rừng sẽ cho thu nhập về lâu dài và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trước đây kinh tế gia đình rất khó khăn, tại nơi địa hình khó canh tác chủ yếu là đồi núi dốc, hiếm nước…như bản Nông Cốc, ông Lường Văn Hợp đã rất trăn trở để tìm xem trồng cây gì và nuôi con nào cho phù hợp.
Với sự tìm tòi của bản thân, được tham dự các lớp tập huấn, ông Hợp đã lựa chọn trồng rừng, một hướng đi mà theo ông để phát triển kinh tế một cách bền vững, dài lâu. Không chỉ phát triển kinh tế bằng trồng rừng, gia đình ông Hợp còn kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm với phương châm “ lấy ngắn nuôi dài” để tăng thêm thu nhập cho gia đình. (Đài PTTH Sơn La 6/9)đầu trang(
Hiện nay, Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Mường Nhé, huyện Mường Nhé được giao quản lý 45.581ha rừng đặc dụng; trong đó: 4.309,89ha rừng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Đồng thời, quản lý 1.647ha rừng được quy hoạch rừng đặc dụng giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn năm 2030 tại 5 xã vùng đệm: Sín Thầu, Leng Su Sìn, Chung Chải, Mường Nhé, Nậm Kè.
Thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn hệ sinh thái Khu BTTN Mường Nhé, hàng năm Ban Quản lý Khu BTTN Mường Nhé phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền các xã và các cơ quan, đơn vị đóng chân trên địa bàn tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; các quy định về phòng cháy chữa cháy rừng. Từ đầu năm đến nay, Ban Quản lý Khu BTTN Mường Nhé đã tổ chức tuyên truyền 26 buổi với 1.055 lượt người tham gia; tổ chức 5 lớp tập huấn về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cho 100% các bản thuộc 5 xã vùng đệm.
Song song với công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, Ban Quản lý Khu BTTN Mường Nhé chú trọng công tác tuần tra kiểm soát rừng và xử lý các trường hợp xâm phạm rừng trái phép. Hiện nay, Ban Quản lý Khu BTTN Mường Nhé có 1 Hạt Kiểm lâm khu bảo tồn và 4 trạm quản lý, bảo vệ rừng đặc dụng. Thực hiện kế hoạch của Ban Quản lý, Hạt Kiểm lâm và các trạm bảo vệ rừng đặc dụng chủ động phối hợp với lực lượng dân quân, bộ đội biên phòng, các cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng tổ chức tuần tra lâm phần Khu BTTN.
Từ đầu năm đến nay, trong quá trình tuần tra rừng, các đơn vị trực thuộc Ban Quản lý Khu BTTN Mường Nhé đã phát hiện, kịp thời ngăn chặn 20 đối tượng di cư tự do có ý định xâm nhập vào vùng lõi khu bảo tồn để phá rừng, khai thác lâm sản trái phép; phát hiện và tháo dỡ 3 lán dựng trái phép trong vùng lõi khu bảo tồn; tịch thu 4 khẩu súng tự chế bàn giao Công an huyện Mường Nhé. Hạt Kiểm lâm Khu BTTN Mường Nhé đã phát hiện, khởi tố 2 vụ vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, thu 43,57m3 gỗ. Ban Quản lý Khu BTTN Mường Nhé phối hợp với chính quyền 5 xã vùng đệm kịp thời phát hiện, xử lý 3 vụ cháy rừng tại vùng đệm khu bảo tồn.
Ngoài bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, Ban Quản lý Khu BTTN Mường Nhé chú trọng công tác phát triển, tăng độ che phủ của rừng. Ban đã thực hiện tốt chương trình hỗ trợ phát triển vùng đệm năm 2017 tại 25/26 bản thuộc 5 xã vùng đệm khu bảo tồn theo Quyết định số 24/QĐ-TTg, ngày 1/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 - 2020. Ban đã thực hiện giao khoán quản lý bảo vệ rừng và chi trả đầy đủ tiền dịch vụ môi trường rừng cho 43 cộng đồng, nhóm hộ thuộc 5 xã vùng đệm vừa giúp tăng thu nhập cho người dân vừa nâng cao vai trò, trách nhiệm của cộng đồng dân cư trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Đến nay, Ban Quản lý Khu BTTN Mường Nhé đã tiến hành giao khoán gần 29.200ha rừng và chi trả trên 29,5 tỷ đồng tiền dich vụ môi trường rừng cho các chủ rừng.
Ông Trần Xuân Tâm, Giám đốc Ban Quản lý Khu BTTN Mường Nhé cho biết: Khó khăn, thách thức hiện nay là tình hình dân di cư tự do đến vùng đệm, vùng giáp ranh với Khu Bảo tồn ngày càng diễn biến phức tạp. Ngoài ra, những yếu tố khác như kinh phí đầu tư, hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước cũng như sự hỗ trợ quốc tế cho các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học và nghiên cứu khoa học trong Khu Bảo tồn còn hạn chế; lực lượng cán bộ làm công tác quản lý bảo vệ rừng còn thiếu...
Để tiếp tục thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát rừng, bảo tồn đa dạng sinh học thời gian tới, Ban Quản lý Khu BTTN Mường Nhé kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND huyện Mường Nhé sớm triển khai việc rà soát thu hồi đất theo Quyết định số 1199/QĐ-UBND ngày 27/9/2016 của UBND tỉnh về phê duyệt Dự án Rà soát, điều chỉnh quy hoạch chi tiết Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé đến năm 2025, tầm nhìn 2030; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sớm triển khai cắm mốc, biển báo phòng cháy chữa cháy rừng, mốc 3 loại rừng cấp 1, cấp 2 tại huyện Mường Nhé; UBND huyện Mường Nhé và các đơn vị liên quan sớm ổn định dân cư theo Đề án 79 và quy hoạch khu sản xuất, chăn thả gia súc cho người dân sống ngoài vùng đệm khu bảo tồn để Ban quản lý Khu BTTN Mường Nhé thực hiện quản lý, bảo vệ theo quy định. (Báo Điện Biên Phủ 6/9)đầu trang(./.
|
|||