|
Ngày 06 tháng 09 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Cục thống kê Hà Nội vừa có báo cáo về tình hình lâm nghiệp và thủy sản tháng 8 của Hà Nội. Theo đó, diện tích trồng rừng trong tháng ước đạt 17 ha; diện tích nuôi thả các loại thủy sản ước đạt 2.055 ha tăng 1% so với cùng kỳ năm 2016.
Theo đó, tính chung 8 tháng diện tích trồng rừng ước đạt 176 ha, tăng 4,1% so với năm 2016. Việc khai thác gỗ và lâm sản thành phố Hà Nội chủ yếu là diện tích rừng trồng đến kỳ cho thu hoạch và cây lâm nghiệp trồng phân tán. Trong tháng, sản lượng gỗ, củi khai thác ước đạt: gỗ 705 m3 tăng 3,7%; củi 3.200 Ste tăng 6,7% so cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng sản lượng gỗ khai thác đạt 5.748 m3 tăng 2,5%; củi khai thác đạt 32.589 Ste tăng 2,2% so với cùng kỳ.
Trong tháng, không xảy ra vụ cháy rừng nào, nhưng tính từ đầu năm đến nay trên địa bàn Thành phố đã xảy ra 13 vụ cháy rừng với diện tích 61,2 ha, thiệt hại ước tính khoảng 1.014 triệu đồng. Để tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, quản lý kinh doanh chế biến vận chuyển lâm sản, Chi cục Kiểm lâm Hà Nội đã tổ chức phân công lực lượng thường trực phòng cháy, chữa cháy rừng 24/24 giờ, đồng thời phối hợp với chính quyền địa phương làm tốt công tác tuyên truyền. Trong 8 tháng qua đã xử lý 75 vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu 1.163 con động vật hoang dã; tổng gỗ quy tròn 33,9 m3, phạt hành chính, bán lâm sản tịch thu được 1.720 triệu đồng. (Hà Nội Mới 4/9)đầu trang(
Gia đình bà Nguyễn Thị Quế (69 tuổi, ngụ thôn Tân Lệ, xã Đức Liên, huyện Vũ Quang, Hà Tĩnh) đã phải cầu cứu cơ quan chức năng vì từ giữa năm 2016 đến nay, rừng keo của bà liên tục bị kẻ xấu phá hoại.
Theo phản ánh của bà Quế, gia đình bà có 0,75 ha đất rừng nằm ở thôn Liên Hòa (xã Đức Liên) phía bên sông Ngàn Sâu. Năm 1990, sau khi được bố mẹ chồng bàn giao lại, vợ chồng bà Quế bắt đầu trồng lạc và khoai trên phần đất này.
Đến năm 2012, bà Quế cho cháu họ của mình là anh Trần Văn Luyến (43 tuổi, ngụ cùng thôn) mượn đất canh tác vì gia đình anh này khó khăn. Đến năm 2016, bà Quế lấy lại để trồng keo. Cũng kể từ đó, bà Quế mất ăn mất ngủ vì rừng keo của bà bị kẻ xấu liên tục chặt ngang các cây keo, với tổng số gần 1.000 cây.
Vụ phá hoại đầu tiên được bà Quế phát hiện vào tháng 5.2016, khi bà ra thăm rừng keo thì kẻ xấu đã nhổ và chặt mất 594 cây keo 6 tháng tuổi của gia đình. Tiếp đó, vào ngày 18.11.2016, thêm 33 cây keo 1 năm tuổi bị chặt phá. Tưởng sự việc đã dừng lại, đến ngày 8.2 vừa qua, 46 cây keo 1 năm tuổi của gia đình bà Quế lại bị kẻ xấu chặt. Vào ngày 18.8 (lần thứ 4), 116 cây keo 3 năm tuổi tiếp tục bị chặt ngang không thương tiếc.
Tất cả 4 lần kể trên, bà Quế đều báo tin cho Công an xã Đức Liên và Công an huyện Vũ Quang vào cuộc điều tra. Tuy nhiên, từ đó đến nay, lực lượng chức năng vẫn chưa tìm ra được thủ phạm, số lần chặt phá cứ thế tăng lên, khiến bà Quế như ngồi trên đống lửa.
Dẫn chúng tôi tới vị trí các cây keo bị chặt ngang gốc, bà Quế mếu máo: “Tui tuổi già sức yếu, để đến được rừng keo rất khó khăn, mang phân bón, giống cây đến đây để trồng phải bỏ công rất lớn. Thế mà không biết ai thù oán tôi, nỡ lòng nào cứ liên tục chặt mất kế sinh nhai của bà già này như thế!”. Nói đoạn, bà Quế lôi từng thân cây keo to bằng cẳng tay nằm dưới đất, đang chất lại thành đống.
Theo ghi nhận của chúng tôi, một số cây keo đứt ngang rời khỏi gốc đã khô hết thân và lá, số còn lại thân chưa rời khỏi gốc thì lá vẫn còn tươi. Kẻ xấu đi theo lối, đi đến đâu thì chặt phá đến đó.
Ông Lê Văn Hùng, Chủ tịch xã Hương Liên, cho biết vào năm 2015, diện tích đất rừng trồng keo của bà Quế bị anh Luyến là cháu họ của bà này tranh chấp. Tuy nhiên, sau khi mời hai bên lên làm việc, chính quyền địa phương công nhận bà Quế mới là chủ sở hữu vì được thừa hưởng từ bố mẹ chồng. Bà Quế cũng chỉ được sử dụng tạm thời vì diện tích đất rừng này nằm trong tổng thể 73 ha quy hoạch vào mục đích phát triển kinh tế của UBND xã Đức Liên.
“Việc rừng keo của bà Quế liên tục bị kẻ xấu chặt phá thì công an xã cũng đã nắm được và đang phối hợp với công an huyện để điều tra. Chồng bà Quế đã mất, 5 người con của bà Quế cũng đã lập gia đình ra ở riêng, nên chính quyền xã rất thấu hiểu khó khăn của bà hiện nay”, ông Hùng nói.
Trao đổi với phóng viên Báo Thanh Niên, trung tá Trần Thanh Tuấn, Phó trưởng Công an huyện Vũ Quang, cho hay đơn vị này vẫn đang tích cực điều tra vụ rừng keo của gia đình bà Quế bị chặt phá. Các trinh sát cũng đã được cử đến nằm vùng để khoanh vùng các nghi phạm liên quan. Đến nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định đây là vụ việc do tư thù cá nhân nên đang xác định mâu thuẫn của bà Quế với những người khác.
“Vị trí đất rừng của gia đình bà Quế nằm cách nhà quá xa và số keo bị kẻ xấu chặt phá sau một tuần thì bà Quế mới phát hiện được, nên việc điều tra gặp khó. Khi chúng tôi đến khám nghiệm hiện trường, thủ phạm không để lại dấu vết nào cả. Vụ việc này là do mâu thuẫn trong nội bộ của người dân nên việc sàng lọc nghi phạm gặp nhiều trở ngại. Tuy nhiên, chúng tôi kiên quyết làm sáng tỏ sự việc này”, trung tá Tuấn nói. (Thanh Niên 4/9)đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các địa phương và cơ quan chức năng tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các vụ vi phạm quy định, phá hoại rừng tự nhiên trên phạm vi toàn quốc.
Thời gian gần đây, báo Thanh tra đưa tin: Rất nhiều lực lượng tham gia nhận khoán, bảo vệ, trông coi tại Vườn quốc gia Ba Bể, nhưng những cây gỗ nghiến quý hiếm vẫn bị chặt hạ; trong đó có nhiều cây gỗ nghiến bị chặt hạ ngay tại nơi Công an huyện và Ban chỉ huy quân sự huyện Ba Bể nhận giao khoán, bảo vệ.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các địa phương và cơ quan chức năng tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các vụ vi phạm quy định, phá hoại rừng tự nhiên trên phạm vi toàn quốc, kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ. (Công An Nhân Dân 1/9)đầu trang(
8 tháng đầu năm 2017, tổng số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) 721 vụ, diện tích thiệt hại do phá rừng (THDPR) 65,6778 ha, lâm sản thiệt hại (LSTH) 2.805,482 m3. So cùng kỳ năm 2016, số vụ vi phạm giảm 279 vụ (28%); diện tích THDPR giảm 31,4543 ha (32%), LSTH giảm 502,308 m3 (15%). Tuy nhiên, “tình hình vi phạm pháp luật BV&PTR trên địa bàn vẫn còn diễn ra mà chưa được ngăn chặn triệt để...”, Chi cục trưởng Kiểm lâm Nguyễn Khang Thiên cho biết.
Thông tin từ Phòng Thanh tra-Pháp chế, Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng: Trong tháng 8/2017, toàn tỉnh phát hiện, lập biên bản 91 vụ vi phạm Luật BV&PTR, diện tích THDPR 68.818 m2, LSTH 238,075 m3; trong đó, vi phạm quy định về quản lý rừng, sử dụng rừng 36 vụ (chiếm 40%), vi phạm quy định về phát triển rừng 14 vụ (15%), vi phạm quy định về quản lý lâm sản 41 vụ (45%). Đáng buồn là so với tháng 7/2017, số vụ tiếp tục tăng lên 4 vụ; tuy nhiên, diện tích THDPR giảm được 79.103 m2 (53%). So sánh tháng 8/2016, số vụ vi phạm giảm 59 vụ (bằng 39%), diện tích THDPR giảm 103.080 m2 (60%), LSTH giảm 266,232 m3 (53%). Đây là những con số rất đáng ghi nhận về sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến thôn, bản ở Lâm Đồng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị quản lý, BV&PTR.
Cũng theo Phòng Thanh tra - Pháp chế, đã có 66 vụ vi phạm được xử lý, trong đó xử lý hành chính 64 vụ và 2 vụ chuyển xử lý hình sự. Theo đó, 29 phương tiện, dụng cụ tịch thu qua xử lý vi phạm cùng 164,283 m3 gỗ tròn, gỗ xẻ các loại. Tổng số tiền thu nộp ngân sách hơn 806 triệu đồng.
Bên cạnh đó, thời gian qua, nhìn chung các dự án thuê đất thuê rừng đã ngày càng phát huy tính xã hội hóa về BV&PTR cũng như đất lâm nghiệp. Trong lĩnh vực này, đáng ghi nhận nhất là việc thu hút đầu tư và giải quyết việc làm, nâng cao, cải thiện đời sống người dân khu vực nông thôn miền núi sống gần rừng, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số gốc Tây Nguyên.
Đạt được kết quả giảm sâu về các hành vi vi phạm Luật BV&PTR nêu trên, những yếu tố cần được phát huy là sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, ngành; việc triển khai đồng bộ các giải pháp, từ tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người dân đến giao khoán BVR. Bên cạnh đó, công tác tuần tra, kiểm tra rừng thực hiện thường xuyên, liên tục, đặc biệt tại những khu vực trọng điểm, vùng giáp ranh...
Theo đánh giá nghiêm túc của Thường trực Ban chỉ đạo về Kế hoạch BV&PTR tỉnh Nguyễn Khang Thiên, những nguyên nhân chính dẫn đến tồn tại và hạn chế có cả khách quan và chủ quan. Ông Thiên cho rằng, công tác kiểm tra, xử lý hành vi lấn chiếm đất lâm nghiệp chưa hiệu quả; việc giải tỏa thu hồi để tổ chức trồng rừng không kịp thời dẫn đến đất lâm nghiệp dễ bị tái lấn chiếm. Bên cạnh đó, các đối tượng vi phạm vẫn hoạt động tinh vi, phức tạp, manh động gây không ít khó khăn, trở ngại trong triển khai nhiệm vụ truy bắt và xử lý.
Mặt khác, mặc dù đã có nhiều chuyển biến nhưng thẳng thắn mà nói, sự phối hợp giữa các lực lượng kiểm lâm - chủ rừng - chính quyền địa phương cấp xã; giữa kiểm lâm và công an ở một số nơi chưa thực sự đạt hiệu quả, còn hoạt động theo vụ việc. Căn cứ các văn bản chỉ đạo và định hướng, đặc biệt là Chỉ thị số 30/CT-TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lâm Đồng về phát huy năng lực lãnh đạo của Đảng và sức mạnh tổng lực của cả hệ thống chính trị, Quy chế phối hợp giữa kiểm lâm và công an, rõ ràng vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục chấn chỉnh và khắc phục quyết liệt hơn.
Theo ông Thiên, “Việc phối hợp điều tra, xác minh, truy tìm để xử lý các “đầu nậu”, chủ đường dây mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép của các lực lượng chức năng chưa triệt để nên các hành vi mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn còn diễn ra phức tạp”.
Một thực tế khác cũng chưa chuyển biến mạnh là một số chủ rừng, nhất là các doanh nghiệp thuê đất, thuê rừng để thực hiện dự án đầu tư còn buông lỏng trong công tác BVR và PCCCR, chưa tổ chức lực lượng đủ mạnh để thực hiện việc ngăn chặn, đẩy lùi dần, tiến tới xóa bỏ triệt để các hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng trên lâm phần được thuê. Tình hình khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn diễn biến phức tạp. Thời gian qua, sự chỉ đạo quyết liệt của UBND tỉnh đã tác động thực sự về việc thẩm định và xử lý đến các chủ rừng vi phạm. Đến nay, sau thu hồi, toàn tỉnh còn 395 dự án thuộc 328 doanh nghiệp đang đầu tư triển khai với tổng diện tích 57.057 ha. Vấn đề tiếp tục đặt ra là, ngoài triển khai đúng tiến độ, bố trí lực lượng tuần tra, quản lý BVR, chủ doanh nghiệp cần phối kết hợp chặt chẽ với các ngành chức năng tại địa phương một cách kịp thời, thường xuyên hết sức quan trọng.
Để tiếp tục giữ vững mức độ giảm sâu về các hành vi vi phạm Luật BV&PTR trong những tháng còn lại năm 2017, ngoài khắc phục, chấn chỉnh những tồn tại nêu trên, rất cần tiếp tục tổ chức thực hiện quyết liệt, có hiệu quả Chỉ thị 13 của Ban Bí thư và các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ như 622, 38, 49, 44 cũng như các văn bản của tỉnh Lâm Đồng... “Có thực hiện đồng bộ các giải pháp, chương trình, dự án về quản lý BVR, PCCCR; phấn đấu giảm các hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng cả về số vụ và diện tích thiệt hại thì mới thực hiện được mục tiêu chung năm 2017 là giảm được 20% số vụ vi phạm Luật BV&PTR và giảm ít nhất 50% diện tích rừng bị thiệt hại do cháy rừng, phá rừng gây ra so với năm 2016”, ông Nguyễn Khang Thiên nhấn mạnh. (Báo Lâm Đồng 5/9)đầu trang(
Với diện tích gần 250 km2, vịnh Nha Trang gồm nhiều đảo lớn nhỏ và các hệ sinh thái điển hình, là môi trường sống, sinh sản và phát triển cho rùa biển.
Khoảng chục năm trước đây, các đảo như Hòn Tre, Hòn Mun là nơi rùa biển thường xuyên lên đẻ trứng. Tuy nhiên, các đảo này cũng không còn là bãi đẻ lý tưởng cho rùa biển.
Năm 2009, tại đảo Hòn Tre, người dân phát hiện một cá thể rùa mẹ lên bờ đẻ 3 ổ trứng. Tháng 8/2015, nhóm khảo sát đa dạng sinh học trong vịnh Nha Trang phát hiện một cá thể rùa biển trưởng thành cũng tại Hòn Tre. Tháng 6 năm ngoái, thêm 1 ổ trứng rùa được phát hiện tại đây. Điều này cho thấy đảo Hòn Tre thuộc vịnh Nha Trang vẫn đang là môi trường sinh thái tốt cho các loài rùa biển quay về đẻ trứng. Tuy nhiên, việc xây dựng các công trình ven biển trên các đảo để làm du lịch đã thu hẹp các các bãi đẻ tự nhiên, làm cho rùa biển không còn quay lại sinh sản.
Ban Quản lý vịnh Nha Trang đã triển khai chương trình bảo vệ rùa biển nhằm đảm bảo, phát triển nguồn lợi và đa dạng sinh học vùng biển. Bên cạnh phổ biến đặc điểm sinh học, quy trình sinh sản của rùa, người dân và doanh nghiệp được hướng dẫn trực quan cách nhận biết, bảo vệ ổ trứng khi phát hiện hay cách thức thả rùa về biển..vv..(VTV 5/9)đầu trang(
Thời gian gần đây, trên các huyện miền núi Quảng Nam trở nên phức tạp về tình trạng cất giữ, mua bán, vận chuyển gỗ trái phép. Các đối tượng sử dụng nhiều hình thức tinh vi, sử nhiều loại phương tiện khác nhau như: xe khách, xe thùng kín, thùng lạnh, xe bồn... để vận chuyển gỗ nhằm qua mặt lực lượng chức năng.
Đặc biệt, lợi dụng tuyến QL14E qua địa bàn các huyện miền núi vắng vẻ, ít người qua lại nên nhiều đối tượng chọn đây là con đường vận chuyển gỗ lậu chủ yếu từ các huyện Phước Sơn, Nông Sơn, Quế Sơn... về TP Tam Kỳ hoặc Đà Nẵng.
Trước những diễn biến phức tạp như trên, các ngành, các cấp của tỉnh Quảng Nam đã tăng cường tuần tra, kiểm soát phối hợp các địa phương kịp thời phát hiện, xử phạt các đối tượng vi phạm. Theo Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Quảng Nam, các đối tượng ngoài việc sử dụng phương tiện vận chuyển tinh vi để qua mặt lực lượng chức năng họ còn lách qua các quy định của Nghị định 157/NĐ-CP năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt các hành vi vận chuyển lâm sản trái phép. Theo đó, các phương tiện vận chuyển trái phép các loại lâm sản với khối lượng từ 1,5m3 trở lên sẽ bị tịch thu gỗ, xử phạt hành chính và tịch thu phương tiện vận chuyển nếu là xe chính chủ. Thế nhưng, nhiều đối tượng thường chở dưới khối lượng này nhằm tránh bị tịch thu phương tiện.
Theo đánh giá của Đại tá Lê Trung Hoàng- Trưởng CAH Hiệp Đức, với đặc điểm địa bàn đồi núi, các đối tượng chủ yếu vận chuyển vào thời gian ban đêm, khó bị phát hiện nên cũng đặt ra nhiều thách thức cho lực lượng chức năng. Dù vậy, với quyết tâm khắc phục tình trạng vận chuyển, mua bán gỗ trái phép cơ quan chức năng đã bắt giữ, xử lý hàng chục vụ liên quan đến cất giữ, mua bán, vận chuyển gỗ lậu với hàng chục vụ từ đầu năm đến nay. Mới đây, vào giữa tháng 7-2017, Phòng CSGT CA tỉnh Quảng Nam cùng CAH Hiệp Đức phát hiện, bắt giữ ông Ngô Văn A. (1960, trú xã Hòa Hiệp, H. Hiệp Đức) có hành vi vận chuyển 14 hộp gỗ (1,78m3) lâm sản trái phép bằng đường sông.
Cũng là một địa bàn phức tạp về tình trạng cất giữ, mua bán, vận chuyển gỗ trái phép nên H. Phước Sơn cũng đã tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng ngừa và xử lý vi phạm đối với hoạt động này. Theo Đại tá Nguyễn Giới- Trưởng CAH Phước Sơn, cho rằng: "Toàn lực lượng chức năng đều phải vào cuộc để đấu tranh với thủ đoạn hoạt động của lâm tặc. Trong đó, lực lượng CSGT là đơn vị tiên phong thường xuyên tổ chức, phối hợp với lực lượng kiểm lâm tuần tra, kiểm soát, chốt chặn ở những nơi các phương tiện vận chuyển đi qua nhằm kịp thời phát hiện, xử lý. Ngoài ra, lực lượng Cảnh sát kinh tế nắm tình hình, thực hiện kiểm tra trinh sát, phối hợp, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.
Với địa hình 3/4 đồi núi nên tình trạng khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản luôn là chủ đề "nóng" trên địa bàn Quảng Nam. Tại các hội nghị tổng kết về công tác quản lý, bảo vệ rừng, lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Nam luôn yêu cầu các lực lượng chức năng vào cuộc quyết liệt, đấu tranh mạnh mẽ với các đối tượng vi phạm. Đặc biệt, trong đó vai trò của lực lượng chức năng các huyện miền núi giáp ranh là rất quan trọng. (Công An Đà Nẵng 5/9)đầu trang(
Do có mâu thuẫn trong việc khai thác và mua bán gỗ nên Nguyễn Văn Khanh kéo 10 đối tượng đến tận nhà để đánh anh Lê Khắc Tú (1973, cùng trú H. Ngọc Hồi, Kon Tum). Tại đây, Khanh đánh anh Tú còn Tống Văn Phóng (1991) rút súng tự chế bắn trúng chị Nguyễn Thị Hồng (vợ anh Tú) tử vong. Trước khi bỏ đi, Khanh còn rút súng bắn chỉ thiên hù dọa. Sau đó, Vũ Huy Hùng (1970) giấu khẩu súng Khanh sử dụng; còn Lương Văn Tiểu (1996) và Lương Văn Quân (1993) giấu khẩu súng mà Phóng bắn chết chị Hồng.
Ngày 30-8, TAND tỉnh Kon Tum xét xử vụ án và tuyên phạt các bị cáo: Phóng 20 năm tù về tội "Giết người" và "Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng"; Tiểu 42 tháng tù về tội "Gây rối trật tự công cộng" và "Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng"; Hùng và Quân cùng 18 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng". Ngoài ra, 8 bị cáo khác bị tuyên phạt từ 12 tháng tù treo đến 18 tháng tù giam về tội "Gây rối trật tự công cộng". Riêng đối tượng Khanh đã bỏ trốn và đang bị truy nã. (Công An Đà Nẵng 5/9)đầu trang(
Dù số lượng lớn gỗ “muồng” bị bắt giữ, đã có kết luận giám định của cơ quan chức năng là loại gỗ trắc và cẩm lai, nhưng Nguyễn Đức Phương - “trùm” buôn bán, tàng trữ gỗ trái phép tại miền tây xứ Nghệ vẫn phủ nhận kết luận trên, cho rằng cơ quan giám định đã kết luận sai. Tuy nhiên, sau gần 1 tháng điều tra, trước những tài liệu, chứng cứ không thể chối cãi, Phương đã phải nói lên sự thật về thủ đoạn của mình trong việc sử dụng giấy tờ phát mại để buôn bán, tàng trữ lâm sản quý hiếm trái phép với số lượng lớn, trị giá khoảng 3 tỷ đồng.
Một ngày đầu tuần tháng 7, theo chân các trinh sát (TS) Đội 3, Phòng Cảnh sát Môi trường CA tỉnh Nghệ An, sau hơn 1 buổi ngược QL7 lên các huyện miền núi rẻo cao Nghệ An, chúng tôi có mặt tại TT Con Cuông, H. Con Cuông. Đại úy Bùi Mạnh Hùng, được lãnh đạo đơn vị giao xác lập chuyên án bộc bạch: Thông qua công tác TS, tháng 5-2017, chúng tôi phát hiện một đường dây buôn bán gỗ quý hiếm từ các huyện trên tuyến QL7, tuồn ra các tỉnh phía Bắc, sau đó đưa sang Trung Quốc bằng các đường tiểu ngạch tiêu thụ với số lượng lớn.
Tiến hành rà soát, TS thấy nổi lên Nguyễn Đức Phương (1972, quê H. Quỳnh Lưu, trú TT Con Cuông, H. Con Cuông) là “trùm” đường dây buôn bán, tàng trữ lâm sản quý hiếm trái phép. Phương thường quan hệ với lực lượng kiểm lâm (KL) để mua bán lâm sản phát mại, sau đó sử dụng bộ hồ sơ này làm “bùa hộ mệnh” trong việc buôn bán gỗ trái phép.
Xét thấy đây là đường dây buôn bán gỗ quý hiếm trái phép số lượng lớn, tồn tại một thời gian dài, lãnh đạo Phòng Cảnh sát Môi trường giao cho Đội 3 xác lập chuyên án để khẩn trương đấu tranh. Tuy nhiên, quá trình điều tra, các TS gặp rất nhiều khó khăn vì Phương cực kỳ tinh vi, manh động. Phương thường dùng xe bán tải loại nhỏ, lên tận các cửa khẩu phụ để thu gom gỗ quý trôi nổi từ 3-400kg, sau đó tập kết tại kho chứa gỗ tại TT Con Cuông.
“Để đối phó với lực lượng chức năng, Phương thường xuyên sử dụng một số đối tượng thân tín làm nhiệm vụ cảnh giới trong mua bán, vận chuyển lâm sản quý, thậm chí còn thay BKS ô-tô mỗi khi vận chuyển lâm sản ra khỏi địa phương nhưng không theo một quy luật nhất định. Trong quá trình giao dịch buôn bán gỗ, Phương rất kín kẽ và cảnh giác cao độ, thường sử dụng sim rác để giao dịch với khách hàng” - Đại úy Bùi Mạnh Hùng nói về thủ đoạn của đối tượng.
Với các tài liệu đặc biệt quan trọng trên, kế hoạch phá án được Thượng tá Trần Phúc Thịnh - Trưởng phòng Cảnh sát Môi trường, Trưởng ban chuyên án (BCA) quyết định bố trí 3 tổ TS tham gia phá án. Tổ thứ nhất do Đại úy Bùi Mạnh Hùng làm tổ trưởng có nhiệm vụ kiểm tra, bắt quả tang xe tải khi đang chở gỗ lưu thông trên đường, đồng thời đấu tranh làm rõ đối tượng chủ buôn bán gỗ. Tổ công tác thứ 2 do Thiếu tá Nguyễn Cảnh Tiến - Phó đội trưởng Đội 2, có nhiệm vụ bao vây xung quanh kho gỗ của Phương và đảm bảo ANTT. Tổ công tác còn lại do Thiếu tá Trần Văn Nam làm tổ trưởng có nhiệm vụ phối hợp với CAH, lực lượng KL và CATT tiến hành khám xét kho gỗ của Phương.
18 giờ 20 ngày 5-7, TS báo tin, ô-tô tải BKS 37C-135.37, đang bốc gỗ tại kho của Phương với số lượng lớn, nghi là gỗ không có giấy tờ hợp pháp đưa ra các tỉnh phía Bắc tiêu thụ, Trưởng BCA phát lệnh phá án. Khi xe chở gỗ chạy đến Km 85 QL7 (xã Đỉnh Sơn, H. Anh Sơn), tổ công tác do Đại úy Bùi Mạnh Hùng chỉ huy đã phối hợp với Đội CSGT 1/46 (Phòng CSGT CA tỉnh Nghệ An) tiến hành kiểm tra, phát hiện trong thùng xe chất đầy gỗ. Lái xe tên là Trần Đức Hiệp (trú xã Yên Sơn, H. Đô Lương) khai đó là gỗ muồng, tổng trọng lượng 5.180kg được chở thuê cho Nguyễn Đức Phương, đồng thời xuất trình một số giấy tờ chứng minh nguồn gốc hàng hóa. Tuy nhiên, qua kiểm tra các lóng gỗ nhưng không có dấu búa KL, không có ký hiệu, ký tự trên thân gỗ, tổ công tác đã yêu cầu lái xe điều khiển quay xe về CAH Con Cuông để làm rõ.
Ngay sau đó, Nguyễn Đức Phương cũng có mặt tại đây và nhận mình là chủ số gỗ trên. Phương trình bày: Năm 2016, Phương mua gỗ phát mại của Đội KLCĐ số 2, số lượng 10.000kg, loại gỗ muồng, trị giá 25 triệu đồng. Sau khi mua xong, Phương chuyển về kho tại TT Con Cuông. Hôm nay thuê ô-tô của anh Hiệp chở đi bán. Phương còn khai hiện trong kho còn có một số gỗ mít mua trôi nổi trên thị trường về để bán thu lãi và xin tự nguyện giao nộp số gỗ mít nói trên. Phương cũng nộp 4 bộ hồ sơ trên cho lực lượng chức năng, trong đó có 2 bộ hồ sơ mua của Đội KLCĐ số 2 và 2 bộ hồ sơ của Hạt KL H. Con Cuông. Đáng chú ý bộ hồ sơ mua lâm sản phát mại của Đội KLCĐ số 2, cuối năm 2016, chủng loại gỗ muồng, trọng lượng 10.000kg đã được Phương giao cho ông Hiệp mang theo trên đường vận chuyển gỗ và xuất trình với lực lượng chức năng lúc bị kiểm tra.
Ngay trong đêm, các tổ công tác đã phối hợp với các lực lượng chức năng tiến hành khám xét kho gỗ của Phương tại TT Con Cuông, thu giữ tiếp 8.330kg gỗ nghi là gỗ muồng và 3 loại gỗ khác, tổng khoảng hơn 1.373m3. Theo đề nghị của Phòng Cảnh sát Môi trường, Chi cục KL Nghệ An cử cán bộ có mặt tại CQĐT CA tỉnh phối hợp xác định chủng loại, trọng lượng, khối lượng gỗ thu giữ của Phương. Tại đây, theo đánh giá của lực lượng KL thì số gỗ bị bắt giữ và thu giữ trên ô-tô tải BKS37C-135.37 là gỗ muồng, phù hợp với hồ sơ mua lâm sản phát mại năm 2016 của Phương.
“Với nhận định trên, vụ án tưởng chừng như đi vào ngõ cụt. Tuy nhiên, với tài liệu TS thu thập được, chúng tôi khẳng định số gỗ lớn trên là buôn bán, tàng trữ trái phép nên báo cáo lãnh đạo CA tỉnh xin được trưng cầu giám định. 5 mẫu gỗ ngẫu nhiên đã được lấy (2 mẫu gỗ thu giữ trên ô-tô BKS 37C-135.37 và 3 mẫu gỗ thu giữ từ kho) được gửi ra Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện Hàn lâm KH&CN) trưng cầu giám định, đồng thời bàn giao toàn bộ hồ sơ vụ án cho Phòng Cảnh sát Kinh tế CA tỉnh điều tra, xác minh” - một lãnh đạo Phòng Cảnh sát Môi trường trao đổi.
Ngày 27-7, Viện Sinh thái có kết quả giám định, kết luận; 2 nhóm gỗ thu trên ô-tô BKS 37C-135.37 là gỗ cẩm lai sọc và gỗ trắc nhiều hoa; 3 mẫu gỗ khác là loại gỗ gáo vàng, gỗ chò xót và gỗ muồng. Mặc dù đã có kết luận của cơ quan chức năng, nhưng Nguyễn Đức Phương vẫn cố tình phủ nhận, cho rằng Viện Sinh thái kết luận không chính xác.
Phương bao biện: “Nếu theo kết quả giám định của Viện Sinh thái thì Đội KLCĐ số 2 đã bán nhầm loại gỗ trên cho tôi”. Tuy nhiên, sau 1 tháng điều tra, bằng những tài liệu, chứng cứ không thể chối cãi, Nguyễn Đức Phương đã nói lên sự thật về thủ đoạn tinh vi tráo trở của mình trong việc buôn bán, tàng trữ lâm sản trái phép. Phương trình bày, toàn bộ số gỗ trên do Phương mua tại các cửa khẩu phụ, sau đó dùng các bộ hồ sơ mua lâm sản phát mại trước đó để sử dụng trong việc buôn bán, tàng trữ gỗ quý hiếm trái phép nhằm qua mặt lực lượng chức năng nếu vận chuyển bị kiểm tra.
Vụ án đang được CQĐT đề nghị VKSND tỉnh xem xét, thống nhất quan điểm về thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. (Công An Đà Nẵng 5/9)đầu trang(
Có đến 43 ha rừng tự nhiên tại huyện miền núi An Lão (tỉnh Bình Định) bị xóa sổ suốt trong thời gian dài nhưng đến nay, các cơ quan chức năng mới phát hiện.
Chủ tịch UBND huyện An Lão, ông Phạm Văn Nam cho biết: Diện tích rừng trên thuộc Tiểu khu 1, xã An Hưng, huyện An Lão. Theo thông tin ban đầu, tại khu vực trên, ngành chức năng đã phát hiện dấu hiệu phá rừng vào đầu tháng 6/2017 với khoảng 1 ha bị chặt trắng nhưng đã không triển khai các biện pháp ngăn chặn. Đến nay, diện tích bị phá trắng đã lên tới 43 ha. Nhiều khả năng, các đối tượng tổ chức phá rừng trên lấy đất để trồng rừng kinh tế.
Ông Phạm Văn Nam cũng cho biết: khu vực rừng bị phá nằm giáp ranh giữa xã An Hưng (An Lão) và xã Hoài Nhơn, huyện Hoài Nhơn (Bình Định). Tuy nhiên, đường từ xã An Hưng, huyện An Lão lên khu vực này rất khó khăn, trắc trở; trong khi đó, đường từ xã Hoài Sơn lên khu vực này rất thuận lợi, ô tô có thể chạy được.
Hiện cơ quan chức năng cùng với UBND huyện An Lão đang tiến hành điều tra vụ phá rừng này. (Tin Tức 6/9)đầu trang(
Trên địa bàn tỉnh Bắc Cạn, thời gian vừa qua xảy ra tình trạng người dân tự ý phá rừng tự nhiên để trồng rừng mới, hậu quả là hàng loạt cánh rừng tự nhiên bị “xóa sổ”. Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức của người dân còn hạn chế, chính quyền cơ sở chưa sát sao và cơ quan quản lý chưa thường xuyên kiểm tra địa bàn.
Tháng 5-2017, 28 hộ dân ở xã Yên Thượng, huyện Chợ Đồn tự ý chặt phá, phát 23 ha rừng tự nhiên khu vực thôn Nà Nhàm, Bản Liên và Pác Cộp để lấy đất trồng rừng sản xuất. Trong số các hộ phá rừng tự nhiên, có 15 hộ vi phạm vượt khung xử lý hành chính, hộ phá nhiều nhất lên đến hơn 2 ha rừng tự nhiên. Diện tích rừng tự nhiên bị phá thành từng mảng, bao gồm rừng cây hỗn giao và rừng vầu. Hiện nay, các cơ quan chức năng huyện Chợ Đồn đang củng cố hồ sơ vi phạm để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại xã Đổng Xá, huyện Na Rì, nhiều lô rừng tự nhiên vốn xanh tốt, nhiều cây gỗ lớn trên diện tích hơn 14 ha đã bị “xóa sổ” bởi một số gia đình chặt phá, phát đốt hàng loạt với mục đích để trồng rừng sản xuất. Người ta san ủi đường lâm nghiệp đến tận chân lô với mục đích chở gỗ rừng tự nhiên sau khi khai thác đi tiêu thụ, vận chuyển cây giống trồng rừng sản xuất.
Đặc biệt, một số hộ dân ở xã Đổng Xá đã bán rừng tự nhiên cho một vài cá nhân ở tỉnh Thái Nguyên, những người này lại thuê người dân địa phương “cải tạo” rừng bằng cách phá rừng cũ, trồng rừng mới. Như thế, người dân địa phương không còn tư liệu sản xuất, trở thành người làm thuê trên chính cánh rừng đã từng là của mình. Cũng trong thời gian gần đây, hàng chục ha rừng tự nhiên ở huyện Ba Bể cũng bị chặt phá trơ trọi để lấy đất trồng rừng sản xuất.
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn( NN và PTNT) Bắc Cạn Nông Quang Nhất cho biết: Phong trào trồng rừng sản xuất trên địa bàn những năm gần đây mang lại hiệu quả thiết thực, nhưng diện tích trồng rừng sản xuất cơ bản đã hết nên nhiều hộ dân tự ý phá rừng tự nhiên được giao quản lý, bảo vệ để lấy đất trồng rừng sản xuất. Một số tổ chức, cá nhân mua “chui” rừng tự nhiên của người dân địa phương rồi phá rừng để lấy đất trồng rừng gây khó khăn cho công tác quản lý, bảo vệ rừng. Về lâu dài, người bán rừng mất tư liệu sản xuất để phát triển kinh tế bền vững.
Theo quy định, từ năm 2017, Nhà nước không hỗ trợ trồng rừng mới trên diện tích cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt. Do đó, khi cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt để trồng rừng mới, người dân không thực hiện quy trình theo quy định và không báo cáo cơ quan chức năng.
Ông Nhất cũng thừa nhận: Một số quan điểm, nhận thức chưa đầy đủ, thiếu thống nhất, vì lợi ích trước mắt và chưa coi trọng phát triển bền vững của rừng tự nhiên. Nhiều người cho rằng được quyền định đoạt trên diện tích rừng tự nhiên được giao quản lý, bảo vệ; chính quyền cơ sở và cơ quan kiểm lâm chưa làm tốt việc phổ biến pháp luật; việc quản lý, tuần tra, kiểm tra, bám nắm cơ sở chưa thường xuyên dẫn đến quản lý thiếu chặt chẽ làm cho hành vi vi phạm phá rừng gia tăng.
Ngăn chặn tình trạng này, UBND tỉnh Bắc Cạn đã chỉ đạo Sở NN và PTNT, Chi cục Kiểm lâm, chính quyền các địa phương rà soát hiện trạng, củng cố hồ sơ các vụ phá rừng tự nhiên để trồng rừng sản xuất để xử lý theo quy định nhằm răn đe, giáo dục, ngăn chặn tình trạng đáng lo ngại này đang có xu thế gia tăng.
Sở NN và PTNT biên tập tài liệu tuyên truyền về quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên ngắn gọn, dễ hiểu để gửi đến tất cả các xã phổ biến cho toàn dân; các tổ chức, cá nhân nhận quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên phải ký cam kết bảo vệ rừng. Kiểm lâm tăng cường bám, nắm địa bàn, thực hiện thường xuyên việc tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các vụ vi phạm chặt phá rừng. (Nhân Dân 5/9)đầu trang(
Sáng 05/09, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức buổi Lễ chúc mừng Anh hùng Đa dạng sinh học ASEAN cho Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Huy Huỳnh. Bộ trưởng Trần Hồng Hà, Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân và lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng tham dự.
GS.TS Đặng Huy Huỳnh sinh năm 1933 tại Quảng Nam, hiện là Phó chủ tịch Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam (VACNE). Với nhiều đóng góp cho đa dạng sinh học ASEAN thông qua các hoạt động và sáng kiến góp phần tích cực phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và khu vực, ông trở thành người Việt Nam đầu tiên vinh dự nhận danh hiệu Anh hùng đa dạng sinh học ASEAN đúng dịp kỷ niệm 50 năm thành lập khu vực, tổ chức ở Manila (Philippines) ngày 8/8.
GS. Đặng Huy Huỳnh với hơn 60 năm hoạt động nghiên cứu về sinh học và đặc biệt trên cương vị Phó Chủ tịch Hội BVTN&MT Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Cây Di sản Việt Nam đã có nhiều đóng góp tích cực và thiết thực, cho bảo tồn đa dạng sinh học của quốc gia và các nước trong khu vực. Ông có uy tín và khả năng truyền cảm hứng tới cộng đồng trong công tác bảo tồn và phát triền đa dạng sinh học; được công nhận là một trong những nhà khoa học hàng đầu của Việt Nam.
GS Đặng Huy Huỳnh đã được trao tặng gần 20 Huân chương, Huy chương các loại. Trong đó có 02 giải thưởng Hồ Chí Minh – giải thưởng cao quý nhất của Việt Nam về KHCN như: Tập ATLAS quốc gia (năm 2005); Động vật chí, Thực vật chí, Sách đỏ Việt Nam (năm 2010) và được nhận Giải thưởng Môi trường Việt Nam (năm 2009); Bằng khen của Bộ trưởng TN-MT về thành tích xuất sắc trong hoạt động Bảo tồn Đa dạng sinh học năm 2015…
GS Đặng Huy Huỳnh còn có nhiều công trình có giá trị, trong đó 154 công trình công bố trên tạp chí khoa học uy tín trong và ngoài nước; 14 cuốn sách chuyên khảo về động vật, sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, môi trường.
Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sinh, Chủ tịch VACNE cho biết, giáo sư Huỳnh không chỉ là chuyên gia đầu ngành về đa dạng sinh học, tài nguyên môi trường mà còn là người lãnh đạo uy tín của cơ quan nghiên cứu khoa học quốc gia về thiên nhiên, môi trường. Giáo sư có đóng góp quan trọng cho việc soạn thảo các chiến lược và luật pháp về bảo tồn đa dạng sinh học.
Phát biểu tại buổi Lễ, Giáo sư Đặng Huy Huỳnh, Bộ trưởng Trần Hồng Hà xúc động cho rằng, Giáo sư Đặng Huy Huỳnh trở thành người Việt Nam đầu tiên vinh dự nhận danh hiệu Anh hùng đa dạng sinh học ASEAN "Đây là sự ghi nhận xứng đáng với những đóng góp tích cực và thiết thực của GS. TSKH Đặng Huy Huỳnh cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam và trong khu vực, là niềm tự hào của các nhà khoa học, nhà hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học của Việt Nam chúng ta"
Bộ trưởng chia sẻ, đối với công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, bằng kinh nghiệm, trí tuệ và sự nhiệt huyết, đam mê đầy trách nhiệm, Giáo sư Huỳnh luôn tích cực tham gia và có những đóng góp quan trọng trong việc hoạch định chính sách, xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, thể chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học. Các ý kiến góp ý, phản biện của Giáo sư luôn được Bộ Tài nguyên và Môi trường trân trọng lắng nghe, nhiều ý kiến đã được tiếp thu, cụ thể hóa trong các cơ chế, chính sách được ban hành, hiện thực hóa trong thực tiễn quản lý.
Thay mặt lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ trưởng Trần Hồng Hà chúc mừng GS. TSKH Đặng Huy Huỳnh với danh hiệu Anh hùng Đa dạng sinh học ASEAN rất đáng tự hào này. Giáo sư đã và sẽ luôn là tấm gương điển hình, là hạt nhân lan tỏa cho công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học đối với Việt Nam cũng như quốc tế. "Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đóng góp của Giáo sư trong thời gian vừa qua và kính mong Giáo sư sẽ tiếp tục đồng hành cùng với Bộ Tài nguyên và Môi trường trong công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học trong thời gian tới. Kính chúc GS. TSKH Đặng Huy Huỳnh và gia đình sức khỏe, hạnh phúc. Chúc Giáo sư luôn mạnh khỏe để tiếp tục chia sẻ tri thức, có những đóng góp cho ngành tài nguyên và môi trường nói chung và trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học nói riêng." - Bộ trưởng chia sẻ.
Bộ trưởng mong muốn trong thời gian tới, Việt Nam sẽ có thêm nhiều Anh hùng Đa dạng sinh học ASEAN, thêm nhiều tấm gương sáng trong công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học ở trong nước cũng như quốc tế.
Chia sẻ cảm xúc tại buổi Lễ, Anh hùng Đa dạng sinh học ASEAN, Giáo sư, tiến sĩ Đặng Huy Huỳnh xúc động cho biết: "Đây là niềm tự hào không chỉ của riêng bản thân tôi mà là niềm tự hào cho các nhà khoa học Việt Nam. Đặc biệt là các nhà khoa học, các nhà quản lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên đa dạng sinh học."
Giáo sư bày tỏ lòng biết ơn vô cùng đối với Đảng, Chính phủ, nhân dân, các vị lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp, Viện hàn lâm khoa học Việt Nam..., các đồng nghiệp, bạn bè trong các tổ chức quốc tế đã đồng hành giúp đỡ và giúp đỡ ông trong suốt chặng đường giảng dạy và nghiên cứu suốt 60 năm qua.
Giáo sư Đặng Huy Huỳnh hứa sẽ cống hiến, góp phần sức lực, trí tuệ của mình thật nhiều hơn nữa cho nền khoa học Việt Nam, trong công cuộc bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên, phát triền bền vững đa dạng sinh học vì sự phát triển bền vững của đất nước trong thời đại mới. (Tài Nguyên & Môi Trường 5/9)đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Qua đợt làm việc tại Lào Cai về kết quả thực hiện chính sách, pháp luật về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số miền núi giai đoạn 2006 - 2016. Đoàn giám sát của Hội đồng Dân tộc mong mỏi người dân phải sống được bằng rừng. Phần đông là người dân tộc thiểu số, gắn bó và sinh sống chủ yếu với rừng, việc người dân chưa sống được bằng nghề rừng cũng là thiệt thòi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Ghi nhận của Đoàn giám sát tại Lào Cai cho thấy, từ năm 2006 - 2016, diện tích rừng được giao cho 34 cộng đồng là 639,2ha. Tổng diện tích đã giao cho hộ gia đình là 449,9ha; số hộ được giao là 427. Theo ước tính của Đoàn giám sát, bình quân mỗi hộ gia đình chỉ được giao từ 1 - 2ha diện tích rừng. Diện tích này dường như là quá nhỏ so với nhu cầu bảo vệ và phát triển rừng của người dân.
Qua trao đổi trực tiếp với đại diện cộng đồng và hộ gia đình được giao đất, giao rừng, hầu như ai cũng có nhu cầu nhận thêm đất, rừng với ước mong có thêm tư liệu sản xuất để tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống. Anh Ly Seo Sáu, người Mông, cư trú tại xã Lùng Sui cho biết, các hộ gia đình và cá nhân đều ý thức được vai trò làm chủ trên đất lâm nghiệp, tình trạng phá rừng hầu như không xảy ra, nhất là với rừng tâm linh. Anh Sáu được nhận 2,7ha rừng tự nhiên, với phí dịch vụ môi trường rừng hàng năm, khoảng 300.000 đồng. Anh vẫn mong muốn được nhận thêm đất, thêm rừng, dù rừng ở xa.
Còn anh Hoàng Văn Chấn, ở xã Bản Mế chia sẻ thêm, trước kia khi chưa có chủ, rừng nhưtấm áo vá, bị người dân khoanh nuôi làm màu. Nhưng từ khi Nhà nước giao đất cho hộ gia đình, tháng nào anh cũng lên kiểm tra xem rừng có bị chặt phá hay không, người dân cũng không còn đốt nương làm rẫy. Anh cũng thường xuyên đầu tư cây trồng để phát triển lâm nghiệp. Tuy nhiên, với số vốn tự có còn ít ỏi, anh Chấn bày tỏ mong muốn Nhà nước có chính sách hỗ trợ về vốn hoặc cây giống, phân bón cho hộ gia đình, cộng đồng được giao đất, giao rừng.
Chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng và hộ gia đình là chủ trương đúng đắn, được người dân ủng hộ, đánh giá cao, rừng ngày càng được bảo vệ tốt hơn. Ở những nơi có rừng tâm linh, đất rừng được sử dụng như là nơi hội tụ văn hóa, tín ngưỡng thờ cúng, sinh hoạt của cộng đồng. Những khu vực này được giữ gìn, bảo tồn nghiêm ngặt bởi chính văn hóa của đồng bào nơi đây.
Rừng được bảo vệ tốt, nhưng kết quả phát triển rừng chưa tương xứng với mục tiêu và mong muốn. Đây là thực tế mà Đoàn giám sát của Hội đồng Dân tộc chỉ ra tại Lào Cai. Cụ thể, Lào Cai chưa có sự phân định giữa giao đất, giao rừng. Nghĩa là, Lào Cai mới giao đất cho cộng đồng và hộ dân cư theo diện tích và khoảng cách địa lý, chứ chưa thực sự giao rừng, vì số cây trong rừng chưa từng được thống kê, kiểm đếm trước khi giao cho cộng đồng, hộ dân cư. Nghịch lý nữa là, rừng ở ngoài quy hoạch lại được người dân phát triển tốt hơn rừng ở trong quy hoạch lâm nghiệp (?).
Đáng lưu ý, khi lý giải vì sao rừng giao cho cộng đồng và hộ gia đình còn ít, đại diện lãnh đạo tỉnh Lào Cai nói rằng, đất, rừng ở Lào Cai được giao cho nhiều chủ thể quản lý, bảo vệ và phát triển, trong đó có UBND xã, Ban quản lý rừng, doanh nghiệp, bộ đội biên phòng, cộng đồng và người dân… Song chính Lào Cai cũng chưa thể đánh giá được cách thức, hình thức giao rừng cho chủ thể nào quản lý thì hiệu quả hơn, mang lại nguồn lợi kinh tế tốt hơn. Đồng nghĩa, làm thế nào để người dân sống được từ rừng vẫn là câu hỏi chưa có lời giải đáp.
Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai Đặng Xuân Phong cho biết, Lào Cai luôn quan tâm đến phát triển lâm nghiệp bền vững, thậm chí tỉnh đã có Đề án trọng tâm về phát triển lâm nghiệp, xác định rõ phát triển cây gì ở khu vực nào, địa bàn nào. Thế nhưng, trước kia còn có Quyết định 661 (ngày 29.7.1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng), Trung ương có hỗ trợ kinh phí theo hướng, địa phương trồng mới bao nhiêu hecta thì nhận bằng đó tiền. Sau này, chúng ta vẫn giao cho các địa phương trồng mới rừng, nhưng kinh phí lại để địa phương tự chủ động. Với Lào Cai - một tỉnh nghèo còn đang nhận trợ cấp từ ngân sách trung ương, thì lấy đâu ra tiền để tự cân đối trồng rừng, phát triển rừng?
Một vấn đề nữa cũng được Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai nêu ra, là quy hoạch chưa phù hợp với thực tiễn. Có lẽ không nên quy hoạch phải trồng bao nhiêu hecta rừng, bao nhiêu hecta cây dược liệu mà nên quy hoạch bao nhiêu sản phẩm. Chi khi nào có đầu ra thì mới mở rộng và phát triển rừng, phát triển dược liệu được.
Chia sẻ với những khó khăn của Lào Cai, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Hà Ngọc Chiến lưu ý, tiềm năng phát triển rừng vẫn còn, tầm nhìn quy hoạch rừng vẫn đóng vai trò quan trọng. Ngay trong công tác rà soát, quy hoạch bản đồ, diện tích đất, rừng còn sai lệch so với thực tế, thì trước mắt Sở TN - MT, Sở NN - PTNT tỉnh Lào Cai cần “ngồi” lại để thống nhất lại số liệu. Tổng kết lại các mô hình giao đất, giao rừng, đánh giá hiệu quả, đề ra chiến lược, giải pháp khắc phục khó khăn, phát triển lâm nghiệp. “Chúng ta vẫn còn xót xa khi có những hộ thu nhập trực tiếp từ rừng chỉ khoảng 200 nghìn đồng/năm. Làm sao người dân muốn gắn bó với rừng và coi rừng là một nghề được?”, Chủ tịch Hà Ngọc Chiến trăn trở.
Tuy Lào Cai rất quyết liệt muốn giao đất, giao rừng cho cộng đồng và hộ gia đình, nhưng kết quả chỉ đạt 40%; phần diện tích đất, rừng các xã quản lý còn lớn. Trong khi nhu cầu của người dân còn nhiều. Vấn đề không mới nhưng vẫn thời sự, là “phải thực sự coi trọng phát triển lâm nghiệp, để người dân coi bảo vệ, phát triển rừng như một nghề đem lại ấm no cho chính mình”, Chủ tịch Hà Ngọc Chiến bày tỏ. Được vậy, chắc chắn công cuộc bảo vệ và phát triển rừng sẽ đạt kết quả cao hơn, như mục tiêu và mong muốn đề ra. (Đại Biểu Nhân Dân 1/9)đầu trang(
Với lợi thế về rừng trồng, trên địa bàn huyện Chợ Mới đã hình thành nhiều cơ sở chế biến gỗ, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Tuy nhiên hiện nay nhiều cơ sở chế biến lâm sản phải đóng cửa do thiếu nguyên liệu.
Từ năm 2010 đến nay, huyện đã cấp phép cho 51 cơ sở chế biến kinh doanh lâm sản. Tuy nhiên, theo Chi cục thuế huyện Chợ Mới thì thực tế chỉ có 21 cơ sở nộp thuế, khoản tiền thuế hằng tháng cũng rất ít, chỉ 1 triệu đồng/tháng/cơ sở. Hạt Kiểm lâm huyện Chợ Mới cho biết: Hàng loạt cơ sở chế biến lâm sản trên địa bàn huyện dừng sản xuất do nguyên liệu đầu vào khan hiếm, giá thành cao, trong khi đó, đầu ra lại phụ thuộc thị trường, cùng với đó, các cơ sở đều nhỏ lẻ, thiếu vốn nên phải dừng sản xuất. Thực tế cho thấy, việc quản lý các cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn huyện còn nhiều khó khăn, hạn chế. (Đài PTTH Bắc Kạn 5/9)đầu trang(
Theo báo cáo của Cục Thống kê, tiến độ trồng rừng tính đến ngày 15/8/2017 toàn tỉnh đã trồng được 11.404,5 ha rừng tập trung, đạt 96,6% kế hoạch đề ra, bằng 102,10% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán là 649,39 nghìn cây (quy ra 391,2 ha); sản lượng gỗ khai thác 400.575,9 m3, đạt 47,5% kế hoạch.
Để phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2017, đến nay các địa phương và các ngành chức năng đã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng; tăng cường công tác kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những trường hợp lấn chiếm, sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích trên địa bàn quản lý. (Tuyenquang.gov.vn 5/9)đầu trang(
.
Theo bà Trương Thị Hường, Phó Chủ tịch UBND TP.Vũng Tàu, nhằm ngăn chặn hiện tượng thoái hóa đất, góp phần cải thiện môi trường rừng và cảnh quan thiên thiên, UBND TP.Vũng Tàu đã phê duyệt báo cáo kinh tế - kỹ thuật và kế hoạch lựa chọn nhà thầu cho công trình trồng rừng năm 2017 trên địa bàn TP.Vũng Tàu.
Theo kế hoạch, tại khu vực núi Nhỏ và núi Lớn sẽ trồng các loại cây bằng lăng nước, lim xẹt, đa lá trơn, trôm, bồ đề… với mật độ bố trí trung bình 100 cây/ha; tổng mức đầu tư hơn 2,6 tỷ đồng. Trong đó, trồng trên diện tích 6,6ha ở Núi Lớn và 4,2ha ở Núi Nhỏ. Chương trình dự kiến sẽ được thực hiện trong 2 tháng kể từ khi có quyết định triển khai. (Báo BR-VT 5/9)đầu trang(
Năm 2017, huyện Định Hóa được giao trồng mới, trồng thay thế 670ha rừng. Tuy nhiên, nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân nên đến thời điểm này, diện tích trồng rừng của huyện đã đạt 1.505,67ha, vượt 125% kế hoạch tỉnh giao.
Trong đó, rừng phòng hộ, thay thế 262,2ha; rừng đặc dụng 20,2ha; rừng sản xuất 1.223,27ha và 12.992 cây phân tán. Diện tích rừng trồng mới chủ yếu tập trung ở các xã: Quy Kỳ, Bảo Linh, Phú Đình, Lam Vỹ, Linh Thông, Tân Thịnh, Bộc Nhiêu, Phượng Tiến, Tân Dương, Phú Tiến… Các giống cây được trồng chủ yếu là: keo, quế và lim.
Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo trồng rừng huyện, những diện tích rừng trồng mới đều đảm bảo quy trình kỹ thuật, cây sinh trưởng và phát triển tốt, tỷ lệ cây sống đạt trên 95%. Hiện nay, Ban Chỉ đạo trồng rừng của huyện đang chỉ đạo chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên môn tăng cường hướng dẫn người dân chăm sóc và bảo vệ diện tích rừng trồng mới; đồng thời, đẩy mạnh công tác phòng cháy, chữa cháy rừng và kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác, chế biến lâm sản trên địa bàn…(Báo Thái Nguyên 6/8)đầu trang(
DVMTR đã góp phần nâng cao nhận thức của toàn xã hội về giá trị phòng hộ của rừng, đồng thời tạo thêm nguồn thu nhập cho người trồng rừng. Tỉnh Yên Bái có tổng diện tích rừng sau kiểm kê là 523.275,2 ha, chiếm 75,9% diện tích tự nhiên.
Hiện có 17 Cty TNHH và Cty CP khai thác nguồn nước trên hệ thống sông, suối chảy qua tỉnh Yên Bái để chạy máy thủy điện, cung cấp nước sạch và nuôi trồng thủy sản. Trong đó có 13 Cty thủy điện khai thác 25 nhà máy thủy điện, 4 Cty cung cấp nước sạch và nuôi trồng thủy sản.
Trên hệ thống đầu nguồn của sông Hồng, sông Đà, sông Chảy nơi có nhiều công trình thủy điện lớn của quốc gia đã thực hiện việc chi trả dịch vụ môi trường rừng…
Những nhà máy thủy điện có công suất lớn: Thác Bà, Hòa Bình, Sơn La, Huội Quảng, Văn Chấn… Tổng số tiền mà các DN phải chi trả dịch vụ môi trường rừng là 63,119 tỷ, với giá 20đ/kW/h, nếu theo QĐ số 1225/QĐ-UBND tỉnh Yên Bái ngày 3/7/2017 với giá 36đ/kW/h thì số tiền phải thu là 79,022 tỷ.
Tuy nhiên, do Bộ Công Thương chưa điều chỉnh giá điện nên số tiền dịch vụ môi trường rừng các nhà máy thủy điện phải nộp cho tỉnh Yên Bái là 63,119 tỷ.
Theo báo cáo của Quỹ Bảo vệ & Phát triển rừng tỉnh Yên Bái, tính đến ngày 28/8/2017 số tiền đã thu 24,12 tỷ, trong đó Quỹ môi trường rừng TW đã trả 17 tỷ, các nhà máy thủy điện nội tỉnh là 6,6 tỷ. Một số Cty nợ tiền dịch vụ môi trường rừng: Cty TNHH Thanh Bình, Cty TNHH thủy điện Nậm Tục, Cty CP thủy điện Mường Kim, Cty TNHH Xuân Thiện, Cty CP Đầu tư và Phát triển điện Yên Bái đến giữa quý II/2017 đã trả hết số nợ 1,522 tỷ. (Tài Nguyên & Môi Trường 5/9)đầu trang(
Đó là vướng mắc mà Bộ Tài chính nhận được từ phản ánh của một số DN và hải quan địa phương trong việc áp dụng thuế GTGT đối với động vật hoang dã NK. Do hiện nay văn bản quy phạm pháp luật chưa có quy định cụ thể nên Bộ Tài chính đã có văn bản gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để có cơ sở áp dụng thuế GTGT đối với mặt hàng này.
Theo phân tích của Bộ Tài chính, tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 5 Luật thuế GTGT số 13/2008/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 1 của Luật số 106/2016/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT, Luật thuế TTĐB và Luật Quản lý thuế có quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT như sau: “Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu; Sản phẩm là giống vật nuôi, giống cây trồng, bao gồm trứng giống, con giống, cây giống, hạt giống, tinh dịch, phôi, vật liệu di truyền”.
Cùng với đó, căn cứ Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính thì: tại Khoản 1 Điều 4 quy định: Sản phẩm trồng trọt (bao gồm cả sản phẩm rừng trồng), chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
Tại Khoản 2 Điều 4 quy định: Sản phẩm là giống vật nuôi, giống cây trồng, bao gồm trứng giống, con giống, cây giống, hạt giống, cành giống, củ giống, tinh dịch, phôi, vật liệu di truyền ở các khâu nuôi trồng, nhập khẩu và kinh doanh thương mại thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Sản phẩm giống vật nuôi, giống cây trồng thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT là sản phẩm do các cơ sở nhập khẩu, kinh doanh thương mại có giấy đăng ký kinh doanh giống vật nuôi, giống cây trồng do cơ quan quản lý nhà nước cấp. Đối với sản phẩm là giống vật nuôi, giống cây trồng thuộc loại Nhà nước ban hành tiêu chuẩn, chất lượng phải đáp ứng các điều kiện do nhà nước quy định
Và Điều 11 quy định: Thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ không được quy định tại Điều 4, Điều 9 và Điều 10 Thông tư này.
Khoản 7 Điều 10 quy định: Thực phẩm tươi sống ở khâu kinh doanh thương mại; lâm sản chưa qua chế biến ở khâu kinh doanh thương mại, trừ gỗ, măng và các sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 4 Thông tư này thuộc đối tượng áp dụng thuế GTGT 5%. Lâm sản chưa qua chế biến bao gồm các sản phẩm từ rừng tự nhiên khai thác thuộc nhóm: song, mây, tre, nứa, luồng, nấm, mộc nhĩ; rễ, lá, hoa, cây làm thuốc, nhựa cây và các loại lâm sản khác.
Cùng với đó, căn cứ khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 16/2004/PL-UBTVQH11 ngày 24/3/2004 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định: “Giống vật nuôi là quần thể vật nuôi cùng loài, cùng nguồn gốc, có ngoại hình và cấu trúc di truyền tương tự nhau, được hình thành, củng cố, phát triển do tác động của con người; giống vật nuôi phải có số lượng nhất định để nhân giống và di truyền được những đặc điểm của giống cho thế hệ sau.
Giống vật nuôi bao gồm các giống gia súc, gia cầm, ong, tằm, động vật thuỷ sản và các sản phẩm giống của chúng như tinh, phôi, trứng giống, ấu trùng và vật liệu di truyền giống”.
Đồng thời, căn cứ Thông tư số 25/2015/TT-BNNPTNT ngày 1/7/2015 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Danh mục giống vật nuôi được sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam thì động vật hoang dã không thuộc Danh mục này.
Do bản quy phạm pháp luật chưa có quy định cụ thể việc xác định thuế GTGT đối với động vật hoang dã NK để thành lập vườn thú. Vì vậy, để có cơ sở áp dụng thuế GTGT đối với mặt hàng này, Bộ Tài chính đã có công văn đề nghị Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc động vật hoang dã NK để thành lập vườn thú có phải là đối tượng theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 5 Luật thuế GTGT số 13/2008/QH13, Pháp lệnh số 16/2004/PL-UBTVQH11 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội và Thông tư số 25/2015/TT-BNNPTNT ngày 1/7/2015 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn? (Hải Quan 5/9)đầu trang(
Chưa từng thấy có một dự án nào tại tỉnh Quảng Trị mà có số văn bản, giấy tờ lại nhiều như dự án mắc ca ở Hướng Hóa. Chỉ tính riêng trong gần 2 năm qua, UBND tỉnh này đã ra 14 “tối hậu thư” về hạn cuối cùng phải giao đất cho dự án. Nhưng mọi việc vẫn ngưng trệ.
Đây là lời nói của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị Nguyễn Đức Chính từ năm 2015 khi được PV hỏi về tiềm năng thu hút đầu tư của tỉnh. Ông Chính còn nói: “Cây mắc ca không là vấn đề mới với chúng tôi. Từ năm 2014, HĐND tỉnh đã có nghị quyết về phát triển mắc ca ở Hướng Hóa. Dù chưa có quy hoạch từ trên, nhưng chúng tôi vẫn làm, vì có lợi cho dân. Hiện nay, tỉnh đang thí điểm trồng 150 ha mắc ca năm 2015 và dự kiến quy hoạch 1.500 ha”.
Cho rằng gió Lào và cát trắng chỉ là cách nói bóng bẩy về Quảng Trị thôi, ông Chính tỏ ý không hài lòng, vì thực tế không hoàn toàn vậy. Nơi đây có những tiềm năng thu hút đầu tư, điều kiện để làm giàu ngay chính ở lĩnh vực nông nghiệp.
Ông Chủ tịch dẫn chứng, ở huyện Hướng Hóa, gió từ Lào sang đã bị dãy núi Trường Sơn (Tây) chặn lại, nên rất mát mẻ. Gió chỉ nóng dần lên khi đổ ra phía biển, sau khi phơi nhiệt ở chặng đường 70 km từ Hướng Hóa.
Mùa gió Lào lại là mùa mưa ở Hướng Hóa, nơi có nền nhiệt độ quanh năm thấp và tạo nên một vùng tươi mát rộng lớn, trên nền đất đỏ bazan. Điều kiện tự nhiên đó được UBND tỉnh đánh giá là thuận lợi để Hướng Hóa bổ sung phát triển cây mắc ca, bên cạnh thế mạnh về hồ tiêu và cà phê. Đặc biệt, vùng đất đỏ bazan khu vực quanh thị trấn Khe Sanh, độ cao từ 700 - 800 m so với mực nước biển càng phù hợp với loại cây mới này.
Thực tế, trước khi UBND tỉnh tính đến cây mắc ca để gắn với lợi thế tự nhiên đó, đã có DN sớm nhận ra. Họ vào, đầu tư lượng vốn lớn và làm. Mô hình phát triển mắc ca có lợi ngay, tin trước - làm sau và an toàn cho nông dân xuất phát từ đây.
Đấy là câu chuyện của hơn 2 năm trước. Còn hiện tại, một “mớ bòng bong” vẫn chưa biết tỉnh Quảng Trị gỡ cách nào.
Trao đổi với NNVN, ông Võ Thanh, Chủ tịch UBND huyện Hướng Hóa và các phòng ban liên quan thừa nhận, đa số các vướng mắc nêu trên xuất phát từ việc giao đất, thu hồi, kiểm kê đền bù đều... trên giấy.
Chính vì vậy, việc thu hồi tiền đền bù sai đối tượng để trả lại cho Cty My Anh là một việc khó. Nhưng cái khó hiện tại đã và đang diễn ra từng ngày là tình trạng hàng trăm con trâu, bò của người dân phá hoại cây mắc ca, chuối và dược liệu. Nếu cuối tháng 4 vừa rồi, Công an và Viện KSND huyện Hướng Hóa khám nghiệm có đến 150ha cây mắc ca, 10ha chuối, 5,5ha sắn và 5ha cây huê bị phá hoại, thì nay đã lên 200ha, thiệt hại khoảng 25 tỷ đồng.
Trước bức xúc của DN, tháng 7/2017, ông Nguyễn Đức Chính cùng các ban, ngành đi thực địa để kiểm tra. Chứng kiến những cây mắc ca cao quá đầu người xanh tốt, những cây chuối Nam Mỹ trổ buồng đồng loạt và hệ thống hạ tầng, nước tưới hiện đại làm thay đổi hàng trăm ha đất bấy lâu nay hoang hóa, ông Chính kỳ vọng dự án sẽ biến vùng đất này trở nên trù phú.
Khi được đưa đến địa điểm diện tích cây trồng bị cả đàn bò đang nhởn nhơ gặm, và diện tích đất đã được tỉnh này cho thuê, đã đền bù nhưng chưa trồng trọt được vì tranh chấp, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị đã im lặng và lên xe trở về khi trời đã quá trưa.
Trong đó, ngoài những kiến nghị giải quyết hàng loạt vướng mắc, còn có những biện pháp để chấm dứt tình trạng người dân thả trâu bò vào phá vườn cây, như việc đề nghị chính quyền bố trí khu đất để Cty khai hoang cho người dân canh tác...
Đặc biệt là lời đề nghị đầy tính nhân văn, rằng chính quyền sẽ làm đầu mối để Cty liên kết với người dân có đất trồng cây mắc ca và chia lợi nhuận 40/60, đối với những hộ dân không có khả năng lao động sẽ được Cty cho mượn 1 triệu đồng/hộ/tháng, đến khi có thu nhập từ cây mắc ca thì trả dần…
Thống kê của NNVN cho thấy, chưa có dự án nào ở Quảng Trị lại có số văn bản, giấy tờ chỉ đạo, gia hạn…. nhiều như dự án FDI đầu tư về cây mắc ca này. Chỉ trong vòng gần 2 năm, UBND tỉnh Quảng Trị đã 14 lần gia hạn thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh trong việc giao đất, giải quyết vướng mắc cho Cty My Anh – Khe Sanh.
Xin được nêu ra một vài dẫn chứng:
Ngày 12/1/2016, UBND tỉnh Quảng Trị ra Thông báo số 12 chỉ đạo “UBND huyện Hướng Hóa chỉ đạo quyết liệt, dứt điểm nhằm tháo gỡ vướng mắc cho Cty trước ngày 20/1/2016”. Đến ngày 22/2/2016, UBND tỉnh này lại ban hành Thông báo số 27: UBND huyện Hướng Hóa khẩn trương thực hiện và hoàn thành thủ tục trình UBND tỉnh giao đủ diện tích đất cho Cty My Anh – Khe Sanh; hoàn thành trước ngày 10/3/2016”. Đến tháng 4/2016, mọi chuyện vẫn không có gì thay đổi.
Ngày 29/4/2016, UBND tỉnh Quảng Trị lại ra Thông báo số 77 sau khi “họp bàn biện pháp giải quyết vướng mắc trong giao đất cho dự án mắc ca”. Lần này, tiếp tục gia hạn “Hoàn thành, báo cáo UBND tỉnh kết quả thực hiện trước 15/5/2016”.
Nhưng hết tháng 5, DN vẫn không có đất để khai hoang, xuống giống. Ngày 7/6/2016, UBND tỉnh này lại ra Thông báo số 102 với “chỉ lệnh” của Chủ tịch UBND tỉnh: Hoàn thành việc giao đất trước 15/7/2016.
Đúng ngày 16/7, UBND tỉnh Quảng Trị lại tổ chức cuộc kiểm tra tiến độ giao đất cho dự án FDI. Và “nhà đầu tư vẫn tiếp tục kêu ca, phàn nàn”. Lại tiếp tục gia hạn: Phải hoàn thành giao đất trong tháng 7/2016.
Tháng 7 lại trôi qua. Đất vẫn không được bàn giao. Ngày 3/8, UBND tỉnh Quảng Trị lại phát văn bản hỏa tốc số 3073 “Về việc khẩn trương giải quyết các vướng mắc tại dự án trồng cây mắc ca”.
Lần này, gia hạn: Hoàn thành việc giao đất trước ngày 10/8/2016. Đến ngày 1/9, UBND tỉnh này lại phát văn bản số 3508; lại tiếp tục chỉ đạo: “UBND huyện Hướng Hóa kiểm tra làm rõ và tìm biện pháp giải quyết các tồn tại, vướng mắc để bàn giao mặt bằng cho Cty khai hoang trồng cây mắc ca kịp thời vụ; hoàn thành trước 15/9/2016.
Cho đến tháng 12/2016, DN FDI này vẫn tiếp tục phát văn bản kêu cứu vì không được giao đất đúng tiến độ. Ngày 9/12, tại Thông báo số 223, UBND tỉnh Quảng Trị chỉ ra 8 nhiệm vụ cấp bách và yêu cầu UBND huyện Hướng Hóa tổ chức hiện hoàn thành trước 25/12/2016. Nhưng, đến cuối tháng 12, vướng mắc vẫn như cũ. Lại tiếp tục gia hạn bàn giao đất: Hoàn thành trước 10/1/2017.
Nhưng thêm nhiều lần nữa, mốc gia hạn không được thực hiện. Cty My Anh – Khe Sanh tiếp tục có nhiều văn bản kêu cứu gửi Thường trực Tỉnh ủy và Thường trực HĐND tỉnh Quảng Trị. Gần đây nhất, ông Hà Sỹ Đồng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho hay, hạn của UBND tỉnh đối với Hướng Hóa là 31/8/2017 phải giao đất. Nhưng đến nay, đã đầu tháng 9, tình hình chưa có gì chuyển biến. (Nông nghiệp Việt Nam 6/9)đầu trang(
Đó là một trong những nội dung trong báo cáo của UBND TP.Đà Nẵng gửi Thủ tướng về các vấn đề liên quan quy hoạch bán đảo Sơn Trà, theo UBND TP.Đà Nẵng ngày 5.9.
Theo báo cáo này, UBND TP đề nghị Thủ tướng tiếp tục xác định bán đảo Sơn Trà là một trong các khu du lịch quốc gia đã được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22.1.2013 về Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch VN đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. UBND TP.Đà Nẵng kiến nghị Thủ tướng quan tâm kiến nghị của các tổ chức và cá nhân về việc bảo tồn đa dạng sinh học, an ninh quốc phòng trong quá trình phát triển du lịch tại bán đảo Sơn Trà; xem xét các kiến nghị của nhà đầu tư tại khu vực bán đảo Sơn Trà, giải quyết hài hòa lợi ích của nhà đầu tư trong khuôn khổ lợi ích chung của cộng đồng theo hướng phát triển bền vững.
Như đã thông tin, sau 3 tháng rà soát theo chỉ đạo của Phó thủ tướng Vũ Đức Đam, UBND TP.Đà Nẵng đã có báo cáo theo yêu cầu, trong đó xác định bán đảo Sơn Trà hiện có 18 dự án du lịch nghỉ dưỡng, đều được cấp phép từ trước tháng 12.2012 với 1.920 lô biệt thự; 24 bungalow và 306 buồng khách sạn. Báo cáo khẳng định, tất cả dự án này đều phù hợp với quy hoạch chung TP.Đà Nẵng đến năm 2020. TP.Đà Nẵng khẳng định quan điểm là phát triển khu du lịch quốc gia Sơn Trà trên cơ sở khai thác hợp lý tài nguyên, bảo đảm an ninh quốc phòng, giữ vững chủ quyền, bảo tồn đa dạng sinh học.
Từ đó, đề xuất các nguyên tắc để thực hiện: Thứ nhất, giữ lại dự án đã xây dựng hoàn chỉnh và đã đưa vào hoạt động có hiệu quả. Thứ hai, để đảm bảo an ninh quốc phòng, các dự án tại Sơn Trà phải do nhà đầu tư trong nước thực hiện; không ảnh hưởng đến khu vực phòng thủ và khu vực nhạy cảm về quốc phòng an ninh. Thứ ba, bảo tồn đa dạng sinh học, trong đó có việc bảo tồn loài voọc chà vá chân nâu quý hiếm. Công trình xây dựng phải tuân thủ theo quy chế quản lý đặc thù và hài hòa với môi trường tự nhiên sinh thái. Thứ tư, các công trình có chức năng lưu trú, công trình kiên cố, chỉ được triển khai từ bình độ 100 m trở xuống; chức năng thuần túy phục vụ vui chơi giải trí, hoạt động ngoài trời, sinh hoạt cộng đồng có thể được triển khai từ bình độ 200 m trở xuống; hài hòa lợi ích của nhà đầu tư và lợi ích chung của cộng đồng theo hướng phát triển bền vững. Đặc biệt, báo cáo nhấn mạnh không có yếu tố cư trú tại khu vực bán đảo Sơn Trà.
Đáng chú ý, qua rà soát có 6 dự án không phù hợp với các tiêu chí đã nêu, TP.Đà Nẵng kiến nghị điều chỉnh chuyển đổi công năng sang phục vụ du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, không có lưu trú. Ngoài ra, xem xét cắt giảm quy mô của 10 dự án để phù hợp các tiêu chí đã nêu; giữ nguyên 2 dự án đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư và phù hợp các tiêu chí nêu trên.
Tại báo cáo gửi Thủ tướng, UBND TP.Đà Nẵng cho biết ngày 23.8, TP đã làm việc với các chủ đầu tư có dự án trên Sơn Trà. Tại buổi làm việc, các doanh nghiệp kiến nghị giữ nguyên số lượng phòng lưu trú và biệt thự như quy hoạch được UBND TP phê duyệt. Đối với những dự án ven biển, có cao trình thấp hơn đường lên đỉnh Sơn Trà không ảnh hưởng nhiều đến cảnh quan, đa dạng sinh học và an ninh quốc phòng..., đề nghị xem xét cho phép triển khai theo đúng quy hoạch đã được phê duyệt.
Về pháp lý dự án, giữ nguyên mục tiêu của dự án đã được ghi nhận trong giấy chứng nhận đầu tư đã cấp; giữ nguyên mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất trên các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho dự án phù hợp với quy định của pháp luật về đất đai. Đối với các dự án chưa làm thủ tục giao đất, cho thuê đất, chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì tiếp tục cho phép hoàn thiện các thủ tục pháp lý trước khi thực hiện. Đối với những dự án mở rộng nhưng không ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng, không có diện tích rừng đặc dụng… thì kiến nghị Thủ tướng xem xét cho tiếp tục thực hiện. (Thanh Niên 6/9)đầu trang(
Tới thời điểm này, Công ty Thủy điện Đồng Nai đã chuyển vào Quỹ Bảo vệ phát triển rừng tỉnh Đắk Nông và tỉnh Lâm Đồng tổng cộng 349,82 tỷ đồng để địa phương trồng rừng thay thế.
Chia sẻ với phóng viên Dân Việt, ông Phạm Văn Cúc - Giám đốc Công ty Thủy điện Đồng Nai thông tin, liên quan tới công tác trồng bù rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang xây dựng công trình thủy điện Đồng Nai 3, Đồng Nai 4, tới thời điểm này (6.9), Công ty đã chuyển vào Quỹ Bảo vệ phát triển rừng tỉnh Đắk Nông và Lâm Đồng tổng cộng 349,82 tỉ đồng để các địa phương này tự trồng rừng thay thế. Trong đó, tỉnh Đắk Nông là 191.48 tỉ đồng - đạt 100% kế hoạch và tỉnh Lâm Đồng là 158,34 tỉ đồng đạt gần 80% kế hoạch.
Đối với khoản tiền còn lại 63,54 tỷ đồng gồm chi phí dự phòng, chi phí TKKT, lập PA trồng rừng…, Công ty đang tích cực phối hợp với địa phương 2 tỉnh Lâm đồng, Đắk Nông, Tập đoàn Điện lực VN/ Tổng Công ty Phát điện 1 để nhanh chóng hoàn thành các thủ tục pháp lý cần thiết và các tài liệu có liên quan nhằm xác định cơ sở chuyển hết số tiền còn lại này cho địa phương ngay trong năm 2017.
"Do công ty không có điều kiện tự tổ chức trồng rừng thay thế nên ngoài diện tích Công ty tự thực hiện là 28,753 ha đã nghiệm thu năm thứ nhất vào cuối tháng 12.2015, diện tích còn lại phải trồng rừng thay thế diện tích rừng đã chuyển sang xây dựng công trình thủy điện Đồng Nai 3 và Đồng Nai 4 trên địa bàn 2 tỉnh Đắk Nông và Lâm Đồng là 5.055,14 ha, với giá trị 413,36 tỷ đồng, Công ty đã được UBND 2 tỉnh Lâm Đồng và Đắk Nông thống nhất cho nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ phát triển rừng để địa phương tự tổ chức thực hiện" - ông Cúc cho hay. (Dân Việt 6/9)đầu trang(
Thanh tra công tác quản lý, sử dụng vốn tài sản Nhà nước, hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đông Triều (Công ty Lâm nghiệp), Thanh tra tỉnh Quảng Ninh đã phát hiện hàng loạt sai phạm tại đơn vị này…
Cụ thể, từ năm 2013-2015, Công ty Lâm nghiệp nhận ứng trước vốn ngành Than để cung ứng gỗ chống lò, do không tính toán kỹ về hiệu quả nên bị lỗ 689 triệu đồng. Quản lý công nợ phải thu chưa tốt, để 3 cán bộ tạm ứng từ năm 2011 hơn 51,5 triệu đồng, đến tháng 6/2016 chưa tổ chức thu hồi; phải vay cán bộ, công nhân viên để sản xuất kinh doanh.
Trong nghiệp vụ kế toán, quản lý chi phí xây dựng, đơn vị còn để xảy ra nhiều sai sót, tồn tại như hạch toán chi phí giá vốn nhưng chứng từ không đảm bảo chế độ chính sách với số tiền hơn 100 triệu đồng; thuê vận chuyển, bốc xếp phân loại gỗ của một số đơn vị ngoài có giá không đồng nhất với cùng nội dung công việc.
Thêm vào đó, đơn vị này hạch toán vào tài khoản 811 (chi phí khác) gần 1,7 tỷ đồng chưa đúng với chế độ kế toán doanh nghiệp; kê khai thiếu các khoản thu nhập cá nhân (TNCN) hơn 556 triệu đồng; thanh toán tiền nhân công bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy năm 2011 – 2012 cho các cá nhân thuê ngoài do các đội trưởng của Cty ký hợp đồng trực tiếp với người lao động là không đúng thẩm quyền…Từ việc hạch toán vào giá vốn nhưng chứng từ không đảm bảo dẫn đến Cty thực hiện kê khai chưa đúng các quy định của Luật Thuế, phải nộp bổ sung thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) sau thanh tra gần 31,4 triệu đồng.
Đoàn thanh tra khẳng định, trong nhiều năm, Công ty Lâm nghiệp chậm hoàn thiện các thủ tục về ký hợp đồng thuê đất đối với diện tích trồng rừng sản xuất, đồng thời chưa kê khai nộp tiền thuê đất hàng năm theo quy định. Thu sai quy định giá trị sản phẩm sau chu kỳ trồng rừng với 48 hộ nhận khoán số tiền gần 233 triệu đồng; thu tiền làm hồ sơ giao khoán không đúng…
Nghiêm trọng hơn, Cty Lâm nghiệp đã giao khoán 43,8ha đất cho 6 hộ không đúng quy định. Ngoài ra, Cty chưa lập sổ địa chính và sổ theo dõi biến động đối với diện tích rừng đã giao khoán cho các hộ dân. Tại thời điểm thanh tra, đơn vị chưa có phương án giao khoán được cấp có thẩm quyền phê duyệt; chưa niêm yết công khai danh sách các trường hợp được giao khoán; việc triển khai thực hiện giao khoán cho các hộ thành viên còn lúng túng…
Trách nhiệm đối với những sai phạm trên thuộc về Ban Giám đốc Cty, bộ phận kiểm soát quản lý vốn Nhà nước, Kế toán trưởng, Phòng Kế hoạch – Tài chính, Phòng Kế hoạch – Kỹ thuật, Phòng Kinh doanh và Phòng Tổ chức hành chính.
Thanh tra tỉnh Quảng Ninh yêu cầu Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Triều có biện pháp khắc phục, riêng về kinh tế, yêu cầu xử lý tổng số tiền gần 2 tỷ đồng. Tổng Giám đốc Công ty Lâm nghiệp tổ chức kiểm điểm tập thể, cá nhân có liên quan đến sai phạm
Trước hàng loạt sai phạm trong công tác quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước, Công ty Lâm nghiệp Đông Triều đã tổ chức kiểm điểm tập thể, cá nhân có liên quan theo kết luận của thanh tra. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, việc xử lí trách nhiệm tại đơn vị này chưa nghiêm, chưa đủ tính răn đe… Đặc biệt, trách nhiệm người đứng đầu công ty khi để xảy ra sai phạm vẫn chưa được làm rõ. (Nhà Báo & Công Luận 5/9)đầu trang(
Cơ chế đột phá nào trong quản lí đất lâm nghiệp để người dân miền núi có tư liệu SX? Làm thế nào để người dân có rừng và làm giàu được bằng nghề rừng? Loạt bài “Nóng bỏng đất rừng” mong muốn đưa ra được câu trả lời cho những câu hỏi này.
Về huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang) bây giờ, đâu đâu cũng ngút ngàn rừng. Rừng vây sát vách nhà dân. Rừng ấy chính do bàn tay người dân đổ mồ hôi, sôi nước mắt chăm bẵm mà có. Thế nhưng oái oăm là rừng đó lại không phải sở hữu của họ. Họ phải đi làm thuê đúng nghĩa trên chính những cánh rừng bao đời đã gắn bó.
Nhiều năm nay, Yên Thế đã trở thành điểm nóng về đơn thư khiếu kiện của người dân liên quan đến quyền lợi đất lâm nghiệp. Khiếu kiện chẳng phải một nơi, mà nổ ra ở tất cả 9 xã, thị trấn trong huyện, càng ngày càng sôi sục. Đơn thư, hồ sơ khiếu kiện của họ đã chất thành đống, rải đi khắp nơi, lên cấp xã có, cấp huyện tỉnh có, các cơ quan Trung ương cũng có.
Để hiểu rành mạch, ngọn ngành lịch sử, những khúc mắc về nội dung khiếu kiện của người dân liên quan đến đất lâm nghiệp ở Yên Thế có lẽ xứng đáng cần cả một công trình nghiên cứu. Thế nhưng tựu chung lại, câu chuyện về cơ bản chỉ xoay quanh tình trạng người dân ở địa phương này không có đất để trồng rừng, trong khi những cánh rừng từng do chính bàn tay họ chăm sóc gây dựng từ lâu, lại được giao cho một doanh nghiệp, đó là Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Thế (tiền thân là Lâm trường Yên Thế) sở hữu và khai thác.
Căn nhà cấp 4 của bà Bùi Thị Hòe, thôn Đền Cô (xã Tam Hiệp, huyện Yên Thế) bây giờ chẳng còn gì giá trị ngoài chiếc tivi “đít lồi” đời cũ. Bà Hòe là người đứng đầu đơn cho gần 20 hộ dân ở thôn Đền Cô đi đòi đất rừng suốt từ năm 2012 đến nay. Bà bảo, trước đây, gia đình thuộc diện khá giả, thế nhưng trải qua hành trình lặn lội đi khiếu nại đòi đất rừng ròng rã hơn 5 năm trời, bây giờ gia tài gần như chẳng còn gì đáng giá. Cơ sự bắt đầu xảy ra với những gia đình ở đây từ năm 2012, khi Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Thế triển khai trồng rừng kinh tế trên các diện tích đất rừng đã được giao khoán cho dân trước đây.
Bà Hòe kể: Trước năm 1997, những quả đồi ở thôn Đền Cô lúc ấy còn thuộc quản lí của Lâm trường Yên Thế. Những đội sơn tràng của lâm trường ngày ấy chỉ biết khai thác gỗ, lại thiếu người quản lí bảo vệ nên rừng gần như chẳng còn gì. Khi những quả đồi đã bị bóc trọc, người dân đồng bào dân tộc Nùng ở địa phương bắt đầu vỡ hoang, đưa ngô, sắn, lúa nương lên trồng lấy cái ăn qua ngày.
Triển khai chương trình trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc của Chính phủ (chương trình 327), đầu năm 1997, Lâm trường Yên Thế triển khai chương trình gây trồng và bảo vệ rừng thuộc Khu rừng đặc dụng di tích lịch sử Hoàng Hoa Thám tại thôn Đền Cô, xã Tam Hiệp.
Theo đó, gia đình bà Hòe được Lâm trường Yên Thế vận động nhận hợp đồng khoán gây trồng và bảo vệ rừng với diện tích 2,2 ha, thời hạn hợp đồng khoán là 50 năm (tới năm 2047). Hồi ấy, bà chỉ nhớ lâm trường hỗ trợ cây giống với loại cây như trám trắng, keo. Là dự án rừng đặc dụng nên những hộ dân ở xã Tam Hiệp như gia đình bà Hòe chẳng ai dám lơ là, phải răm rắp ra sức thực hiện những quy định về bảo vệ, chăm sóc diện tích đã được giao.
Qua gần 14 năm chăm sóc, bảo vệ, đến năm 2011, từ những quả đồi trọc chỉ có cỏ tranh, những quả đồi ở thôn Đền Cô – Đền Quan đã trở thành những khu rừng đặc dụng đúng nghĩa. Lâm trường Yên Thế lúc này cũng không còn nữa, mà đã lần lượt được chuyển đổi qua hàng loạt tên gọi theo chính sách đổi mới lâm trường của Nhà nước như Cty Lâm nghiệp Yên Thế, rồi chuyển thành Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Thế.
Thực ra, người dân ở thôn Đền Cô cũng chẳng ai quan tâm, và họ cũng chẳng thể biết Lâm trường Yên Thế bây giờ đã là gì. Họ chỉ biết rằng cuối năm 2011, người của Cty TNHH MVTV Lâm nghiệp Yên Thế về thông báo rằng, các diện tích rừng đặc dụng đã giao khoán cho dân trước đây sẽ phải thanh lý để chuyển sang trồng rừng kinh tế. Những cánh rừng tốt bời bời được người ta đưa cưa máy về cắt trọc. Riêng diện tích rừng hơn 2,2 ha của bà Hòe được thanh lý với trị giá hợp đồng cho 14 năm chăm sóc bảo vệ khoảng trên 100 triệu đồng.
Cuối năm ấy, người của Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Thế đưa cho các hộ dân ở đây những bản hợp đồng có tên gọi Hợp đồng Khoán công trồng rừng năm 1. Theo hợp đồng này, những hộ dân nhận khoán chỉ được phía Cty trả tiền công lao động theo từng khâu kiểu “tiền trao cháo múc” như phát dọn thực bì, cuốc hố, vận chuyển phân bón, trồng cây theo chỉ đạo của Cty, tra dặm cây chết… Toàn bộ sản phẩm khi tới chu kỳ khai thác đều do Cty tự quyết, người dân không được đếm xỉa gì tới. Hợp đồng còn nêu rõ, sau khi kết thúc hợp đồng theo từng năm, phía Cty có quyền bố trí lao động khác thi công, nếu bên nhận khoán cũ gây cản trở việc Cty thi công thì phải chịu mọi trách nhiệm về hành vi cản trở trước pháp luật!
Dưới cái trướng “rừng nhà nước”, những người dân sau khi phải nhả đất rừng cho Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Thế, dù muốn hay không vẫn phải quay trở lại nhận khoán làm công cho Cty này với tiền công bèo bọt chỉ 2-3 triệu đồng/ha/năm. Bởi ở rừng, ruộng không có, không đi trồng rừng thuê cho Cty thì còn biết làm nghề gì? Hộ nào thuộc diện chân yếu tay mềm, đào hố, phát thực bì, trồng cây chậm, không đảm bảo tiến độ thì lập tức Cty thuê người từ nơi khác về làm ngay, từ năm sau đừng hòng được nhận khoán nữa! Ai hay, những cánh rừng ở xã Tam Hiệp ngút ngàn, đã tới tuổi thứ 6 sắp khai thác được, phần lớn do chính bàn tay của người dân địa phương chăm chút mà thành. Đây chính là mảnh đất của họ trước đây, nhưng nay, quyền khai thác, hưởng thành quả cuối cùng lại là của Cty. Rừng càng lớn, bảo vệ của Cty càng siết chặt trông coi, người dân đừng hòng bén mảng.
Trao đổi với PV, bà Bùi Thị Hòe bức xúc: Nhiều năm qua, Nhà nước đã có nhiều chủ trương giao đất giao rừng cho dân. Từ khi có chủ trương phủ xanh đất trống đồi núi trọc đến nay, người dân đồng bào Nùng ở thôn Đền Cô chính là những người đã chấp hành chủ trương của Nhà nước, nhận rừng để trồng, bảo vệ. Thế nhưng đùng một cái, những khu rừng đặc dụng tốt tươi lại được chặt thanh lý để rồi giao cho Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Thế sử dụng để trồng rừng kinh tế. Người dân từ địa vị là chủ rừng, nay bỗng dưng bị biến thành những người làm thuê không hơn không kém cho Cty trên chính mảnh rừng đã được giao trước đây.
“Ngày trước khi còn nhận khoán trồng rừng đặc dụng, những hộ dân chúng tôi ngoài hỗ trợ giống, còn được hưởng toàn bộ sản phẩm của cây trồng phụ trong quá trình chăm sóc bảo vệ, tới khi thanh lý còn được hưởng phần lớn sản phẩm cây trồng chính, mỗi hecta quy ra cũng 50-70 triệu đồng. Nay bỗng dưng đi làm công cho Cty, sản phẩm không được hưởng. Ở miền núi này ruộng không có, có vài hecta rừng cũng bị lấy mất để giao cho Cty, dân chúng tôi biết sống bằng gì?” – bà Hòe ngao ngán.
Không chỉ có rừng đặc dụng, ở xã Tam Hiệp, diện tích rừng hơn 10ha thuộc Dự án FAM từng được giao cho các hộ dân ở thôn Đền Quan trước đây nay cũng đã thuộc về tay Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Thế. Cánh rừng keo hơn 0,8 ha của ông Dương Văn Bình (sinh năm 1955) ở thôn Đền Quan năm nay đã ngót nghét 7 năm tuổi, nó nằm ngay sát vách nhà ông. Mấy năm nay, ông Bình bị đột quỵ, chỉ có thể lê lết quanh sân nhà. Gia tài khánh kiệt vì bệnh tật. Cánh rừng 0,8ha ấy giá như ông có thể bán, chí ít cũng có 50-70 triệu đồng trang trải. Rừng đó do chính bàn tay ông trồng và chăm bẵm, nhưng nó lại là của Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Thế nên chẳng thể đụng vào.
Vợ ông, bà Bùi Thị Hiền méo xệch kể: Mảnh đồi 0,8 ha sau nhà ấy trước đây là nơi trồng ngô, sắn mưu sinh cho 5 miệng ăn trong nhà. Năm 2000, huyện Yên Thế triển khai Dự án trồng rừng FAM. Gia đình ông được vận động nhận hợp đồng dự án trồng keo xen kẽ với bạch đàn trên diện tích 0,8ha đó. Tới cuối năm 2004, khi cây rừng còn chưa kịp lớn thì Lâm trường Yên Thế quyết định thanh lí rừng để chuyển sang trồng rừng kinh tế. Những hộ dân trồng rừng Dự án FAM sau đó được Lâm trường ký các hợp đồng quản lí, bảo vệ rừng kinh tế. Bây giờ, rừng FAM ngày nào đã được thay bằng rừng keo, hiện đã là chu kỳ thứ hai sắp có thể khai thác được.
“Đất rừng trước đây rõ là đất của dân đã sử dụng từ bao đời, bỗng dưng hơn 10 năm nay lại thuộc về Cty. Mỗi chu kỳ rừng, họ (trước là lâm trường, nay là Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Thế) chỉ có mỗi việc đưa giống, phân bón về ném cho dân. Còn lại từ phát thực bì, đào hố, trồng cây, chăm sóc bảo vệ hàng năm đều do bàn tay dân đổ sức ra làm. Thế nhưng tới khi khai thác, người dân lại chỉ nhận được vỏn vẹn 2,5% sản phẩm. Thật là quá… ngồi mát ăn bát vàng!” – bà Hiền than trời! (Nông nghiệp Việt Nam 5/9)đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Theo các quan chức ở Cục Động vật hoang dã, Thủy sản và Vườn quốc gia ở bang Mississippi nước Mỹ, nhóm thợ săn gồm Brian Burnside, Colby Acy, Stephen Brady và Anthony Acy lập kỷ lục mới cho bang này khi bắt được một con cá sấu khổng lồ.
Các quan chức xác nhận con vật khổng lồ dài gần 4,3m, hơn kỷ lục trước đó khoảng 1cm. Cá sấu nặng 348 kg, với vòng bụng 175 cm và vòng đuôi 109 cm. (Công An Đà Nẵng 4/9)đầu trang(./.
|
|||