|
Ngày 05 tháng 09 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Sau hơn 4 tháng nhập cuộc, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh đã phát hiện, ngăn chặn trên 20 đường dây săn bắn thú rừng chuyên nghiệp.
Không cần súng đạn hay chông tẩm thuốc độc để giết thú như trước đây, để qua mặt các cơ quan chức năng, các đối tượng thường cải trang thành người dân bản địa đi rừng để vào giăng bẫy. Chỉ bằng ruột phanh xe đạp hay sợi cáp lớn hơn để làm thòng lọng; rồi dùng thân cây rừng làm đòn bẩy là có thể tạo những chiếc bẫy thú rất hiệu nghiệm. Những đường dây bẫy này có thể kéo dài hàng ngàn mét, với hàng trăm chiếc bẫy được giăng. Và khi các loại thú rừng như lợn lòi, sơn dương, nai lọt vào trận đồ bát quái này thì khó có con nào có thể thoát được.
Tuần tra ngày, tuần tra đêm, lập chốt, ngăn chặn không cho người lạ mặt vào rừng là những biện pháp hữu hiệu mà các hạt kiểm lâm các huyện miền núi có rừng tại Quảng Nam đang triển khai để đối phó với nạn săn bắt động vật hoang dã. Tuy nhiên, do được tổ chức khép kín, tinh vi và hoạt động trong rừng sâu, nên phải rất khó khăn, các kiểm lâm viên mới phát hiện các đường dây bẫy thú này. (VTV 3/9)đầu trang(
2/9, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Quảng Ngãi đã phát hiện vụ xe đầu kéo container chở số lượng lớn gỗ không đúng quy định.
Trên đoạn Quốc lộ 24 thuộc xã Ba Tô, huyện Ba Tơ, lực lượng Cảnh sát kinh tế phối hợp Công an huyện Ba Tơ kiểm tra ô tô biển số 77C – 06260, rơ moóc số 77R – 00494 do ông Đỗ Thế Trọng, 27 tuổi, trú tại TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai điều khiển từ tỉnh Kon Tum xuống Quảng Ngãi. Qua kiểm tra phát hiện trên 50 m3 gỗ trên xe, nhưng hồ sơ lâm sản của số gỗ trên xe không đúng quy định.
Cảnh sát kinh tế đã lập biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm để xử lý theo quy định pháp luật. (VTV 2/9)đầu trang(
Xã Trung Lý (Mường Lát) có 6 km đường biên giới tiếp giáp với huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn (Lào), xã có trên 18.749 ha rừng tự nhiên, chủ yếu là các loại cây le, lau lách, nứa. Những năm trước đây, tình trạng cháy rừng thường xảy ra, nguyên nhân chủ yếu do cháy lan từ nước bạn Lào sang.
Trước thực trạng trên, Hạt Kiểm lâm Mường Lát chỉ đạo kiểm lâm địa bàn tham mưu cho chính quyền địa phương xây dựng phương án bảo vệ rừng (BVR), phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) theo kế hoạch hằng năm; đồng thời kiện toàn ban chỉ đạo và các tổ đội quần chúng BVR, PCCCR ở tất cả các thôn, bản; xây dựng phương án PCCCR theo phương châm “4 tại chỗ”; tăng cường công tác tuyên truyền về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, các quy định về canh tác nương rẫy đến đông đảo quần chúng nhân dân; hướng dẫn người dân đốt nương làm rẫy đúng quy định. Ở các bản giáp biên với Lào, hai bên tổ chức kết nghĩa các cặp bản với nhau, đồng thời xây dựng kế hoạch phối hợp BVR, PCCCR. Thời gian qua hai bên đã làm tốt công tác BVR, PCCCR ở khu vực giáp biên, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi phá rừng, khai thác rừng, vận chuyển lâm sản trái phép...(Báo Thanh Hóa 4/9)đầu trang(
;
Nhân dịp 72 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2.9, Trung tâm Truyền thông Cù Lao Chàm (thuộc Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Hội An) khai trương Bảo tàng hệ thực vật trên cạn tại Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm.
Sau 12 tháng nghiên cứu, Trung tâm Bảo tồn đa dạng sinh học Nước Việt Xanh đã tìm thấy hơn 80 loài thực vật (cây rừng) trên đảo rất quý hiếm. Theo điều tra của nhóm nghiêm cứu, thảm thực vật rừng trên đảo có những dược liệu quý hiếm nằm trong Sách đỏ cần được bảo tồn, đóng vai trò lớn trong việc giữ và cung cấp nguồn nước sạch phục vụ sinh hoạt trên đảo. Hệ thực vật rừng còn có vai trò điều hòa khí hậu, giảm tác động của các hiện tượng tự nhiên tới môi trường sống của người dân, che chắn gió, bão.
Nhóm nghiên cứu cũng điều tra từng thành phần, loài cây và xây dựng danh lục thực vật theo số lượng ngành, bộ, họ, chi, loài ở mức độ bảo tồn theo tiêu chuẩn IUCN và Sách đỏ Việt Nam trên cạn tại đảo Hòn Lao thuộc Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm. Mục đích nhằm xây dựng dữ liệu nền cơ sở đầu tiên về đa dạng thực vật ở cạn, tạo cơ sở đánh giá hiện trạng và theo dõi biến động theo thời gian, nhất là trong hoàn cảnh có sự biến động về đa dạng sinh học trước sự tác động mạnh mẽ của con người và biến đổi khí hậu. Hơn nữa, các kết quả từ nhiệm vụ còn góp phần khẳng định tầm quan trọng của tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng ở đảo trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững của quốc gia nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng. (Báo Quảng Nam 3/9)đầu trang(
Liên quan đến vụ việc cất giữ gỗ tại nhà ông Nguyễn Văn Nhẫn, Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ (QLR PH) Đại Ninh được Hạt Kiểm lâm Đức Trọng đề nghị giám định chủng loại gỗ để phục vụ công tác điều tra, xác minh xử lý vụ vi phạm theo quy định và gửi cùng các mẫu gỗ (Trong đó có cả 02 mẫu gỗ bị khai thác trái phép tại Tiểu khu 277A và 277B) đến Viện nghiên cứu Công nghiệp rừng thuộc Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam.
Ngày 30/8/2017, Hạt Kiểm lâm Đức Trọng nhận được kết quả giám định của Viện Nghiên cứu công nghiệp rừng thuộc Viện nghiên cứu khoa học Việt Nam. Qua đó, kết quả giám định 06 mẫu gỗ được lấy từ gỗ cất giữ tại nhà ông Nguyễn Văn Nhẫn (hiện đang được niêm phong tại Hạt Kiểm lâm Đức Trọng) và mẫu gỗ bị khai thác tại Tiểu khu 277A và 277B của Viện Nghiên cứu công nghiệp rừng xác nhận loại gỗ trên có tên Việt Nam là Thông đỏ nam, nhóm IA trong danh mục động, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm.
Trong một diễn biến khác, qua công tác điều tra, căn cứ hồ sơ liên quan đến lâm sản hợp pháp của Công ty TNHH Bình Dương do ông Thái Quang Bình làm giám đốc (do Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng bán tài sản tịch thu, sung công quỹ Nhà nước theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 0000290 ngày 08/02/2012 kèm theo bảng kê lâm sản, chủng loài gỗ Thông đỏ nam, nhóm IA, tổng khối lượng: 10,333 m3), nhận thấy, số gỗ Thông đỏ nam theo hồ sơ này và số gỗ Thông đỏ nam cất giữ tại nhà ông Nguyễn Văn Nhẫn (04 lóng và 02 hộp có tổng khối lượng là 0,290 m3) tương đồng về quy cách và chủng loại (loài Thông đỏ nam). Tuy nhiên quá trình bán, sử dụng, cho, tặng số gỗ trên từ Công ty TNHH Bình Dương cho ông Nhẫn, ông Thái Quang Bình không thực hiện ghi chép sổ nhật ký nhập, xuất lâm sản theo quy định.
Hạt Kiểm lâm Đức Trọng đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Công ty TNHH Bình Dương về hành vi Hạt Kiểm lâm Đức Trọng đã lập Biên bản vi phạm hành chính đối với Công ty TNHH Bình Dương - do ông Thái Quang Bình, Giám đốc công ty đại diện - về hành vi: Vi phạm thủ tục hành chính trong quản lý rừng, sử dụng rừng; mua, bán, vận chuyển, chế biến, kinh doanh, cất giữ lâm sản. Nội dung cụ thể Công ty TNHH Bình Dương đã không ghi chép vào sổ nhật ký theo dõi xuất, nhập lâm sản khi xuất cho ông Nhẫn theo quy định. Ông Thái Quang Bình đã thừa nhận hành vi vi phạm và ký vào biên bản vi phạm hành chính. (Báo Lâm Đồng 1/9)đầu trang(
Công ty cây xanh đề xuất thành phố cho chuyển vườn thú, lấy diện tích trồng cây xanh hoặc khu tập thể dục cho người dân.
Được hình thành hơn 30 năm qua, vườn thú là nơi sinh sống của 12 con nai, một con cá sấu, một con trăn đất, một con cầy mực và tám con khỉ. Vườn thú này cạnh khu dân cư nên không tránh khỏi việc bốc mùi hôi, dù được dọn vệ sinh thường xuyên.
Vườn thú từng là nơi thu hút đông đảo người dân mang con nhỏ đến tham quan dịp lễ, tết. Ngày thường, vẫn có người đưa con đến để các em tự tay cho nai ăn.
Ông Lê Huỳnh Thanh, Đội trưởng đội công viên 29/3, cho biết từ khi thành lập, vườn có một cặp nai sinh sản với nhau. Do sinh sản cận huyết nên 12 con nai hiện tại đều rất yếu, chậm lớn.
Hai nhân viên được giao nhiệm vụ chăm sóc vườn thú, từ dọn vệ sinh, cho ăn đến tắm rửa cho các con thú. Ngoài ra còn có một nhân viên thú y.
"Chức năng của vườn thú trước đây mang ý nghĩa giáo dục. Nhưng lâu nay đầu vào của vườn thú không có, điều kiện nuôi nhốt chật chội", ông Thanh nói.
Ông Nguyễn Hữu Kim - Phó giám đốc Công ty cây xanh Đà Nẵng (chủ quản công viên 29/3), nói công ty phải tự túc kinh phí để chăm sóc vườn thú.
Trong cuộc làm việc với Sở Xây dựng, Công ty cây xanh đề xuất thành phố cho chuyển vườn thú đi nơi khác, lấy diện tích trồng cây xanh hoặc khu tập thể dục cho người dân.
"Chúng tôi đề xuất gửi các con thú cho phía kiểm lâm thả về rừng Sơn Trà, hoặc tặng cho các vườn thú khác chăm sóc", ông Kim nói.
Ông Lê Huỳnh Thanh thì cho rằng tốt nhất nên tặng thú cho các khu bảo tồn để có điều kiện chăm sóc thú tốt hơn. (VnExpress 1/9)đầu trang(
Vừa qua, báo Dân trí đã đăng tải ““Khai tử” rừng thông để lấy đất cho mắc ca”. Ngay sau đó, vào ngày 31/8 Sở NN&PTNT tỉnh Kon Tum tổ chức họp báo liên quan đến việc phá 122 ha rừng thông cho Công ty TNHH Đăng Vinh - Chi nhánh Kon Tum trồng cây mắc ca tại huyện Kon Plông (Kon Tum) mà báo chí phản ánh.
Trả lời tại buổi họp báo, ông Nguyễn Trung Hải - Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Kon Tum cho biết: “Khu vực thực hiện dự án trên là đất rừng sản xuất nên không ảnh hưởng đến quy hoạch rừng phòng hộ. Diện tích thông trồng hiệu quả kinh tế không cao, đã đến thời kỳ khai thác, đây cũng là khu vực không thuộc quy hoạch phát triển khu du lịch sinh thái của tỉnh Kon Tum. Mặt khác, diện tích này nằm khá xa khu dân cư, cách trung tâm huyện 6km nên không ảnh hưởng đến du lịch. Bộ NN&PTNT đã có quyết định quy hoạch phát triển cây mắc ca vùng Tây bắc và Tây Nguyên là 5.940 ha, trong đó tỉnh Kon Tum là 290 ha ở các huyện Kon Plông, Đăk Glei, Tu Mơ rông.
Ông Hải cho biết thêm: “Việc trồng cây mắc ca không ảnh hưởng nhiều đến môi trường, vì bản thân cây mắc ca cũng là cây lâm nghiệp. Sau 7 đến 8 năm cây phát triển cũng tạo được cảnh quan và giữ được khí hậu không thua gì cây thông…”
Cũng tại buổi họp báo, nhiều phóng viên đã chất vấn tại sao lại cấp dự án trồng mắc ca cho công ty trên. Trong khi trước đó vào tháng 4/2015, UBND tỉnh đã ra văn bản số 754 cảnh báo cây mắc ca là loại cây trồng mới, hiện đang được trồng khảo nghiệm trên cả nước. Về câu hỏi trên, ông Hải trả lời chung chung rằng: “Việc trồng mắc ca hay không thì UBND tỉnh và Sở NN&PTNT chỉ là cơ quan khuyến cáo, không chỉ đạo doanh nghiệp trồng cây này, cây kia được…”
Ông Vũ Văn Bắc- Giám đốc Công ty TNHH Lâm nghiệp Kon Plong dẫn chứng, tại huyện Kon Plông có hộ dân Nguyễn Thị Mỹ trồng khoảng 30 cây mắc ca, phát triển tốt và cho hiệu quả cao. Tuy nhiên, phóng viên dẫn chứng lại bằng báo cáo của Sở NN&PTNT về việc hộ dân Nguyễn Thị Mỹ nêu trên thì cây phát triển kém, năng suất thấp.
Cũng tại buổi họp, rất nhiều phóng viên của các cơ quan báo chí đặt nghi vấn về hiệu quả của dự án mắc ca, đề nghị được làm rõ nếu phá một diện tích rừng thông lớn như vậy sẽ ảnh hưởng đến môi trường như thế nào. Nếu sau này dự án thất bại, ai sẽ phải chịu trách nhiệm ?. Ngay tại thời điểm xin đầu tư của dự án, đã có 2 doanh nghiệp xin được trồng mắc ca trên diện tích rừng thông, tuy nhiên chỉ có 1 doanh nghiệp được chấp thuận, liệu có chuyện “xí phần” đất ở đây hay không?
Những thắc mắc trên đã không được đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kon Tum trả lời thỏa đáng. Chủ trì hội nghị ông Nguyễn Trung Hải đã phải yêu cầu tổng hợp lại để có báo cáo bằng văn bản gửi tới các cơ quan báo chí.
Trước đó, báo Dân trí đã có bài đề cập đến việc UBND tỉnh Kon Tum có quyết định thu hồi, chuyển mục đích sử dụng 198 ha (122 ha có rừng thông) cho Công ty TNHH Đăng Vinh thuê đất nhằm triển khai dự án trồng cây mắc ca với thời hạn là 50 năm vào tháng 1/2017. 122 ha rừng thông bị phá nằm tại khoảnh 8, 9, 12, 13 thuộc tiểu khu 481, xã Đắk Long, huyện Kon Plông. Việc chuyển đổi trên có thể ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, cảnh quan du lịch nơi đây. (Dân Trí 1/9)đầu trang(
Chiếc ca nô cao tốc của Hạt kiểm lâm Cần Giờ, TP.HCM, lướt trên mặt sông phẳng như gương, uốn lượn giữa những cánh rừng bạt ngàn của huyện Cần Giờ. Tôi sững sờ trước vẻ đẹp mê hồn của thiên nhiên và không có lời nào khác ngoài câu: “Tuyệt!”. Cách đây vài chục năm, những người đến Cần Giờ nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng được coi là “hy sinh”, là can đảm. Nay thì khác…
Căn nhà đầu tiên chúng tôi đến nằm ở phân khu 3, tiểu khu 4B của rừng phòng hộ Cần Giờ. Chủ nhân là bà Đinh Thị Hồng (Ba Hồng), năm nay 67 tuổi. Bà Ba Hồng là 1 trong 10 hộ đầu tiên vào rừng nhận khoán giữ rừng năm 1990. Trước đó, từ những năm 1980, bà đã là một trong những người đầu tiên góp sức trẻ, thời gian để trồng rừng, biến vùng đất trắng thành màu xanh ngắt, mênh mông của những cánh rừng hôm nay.
Trong ngôi nhà xây khá khang trang giữa rừng, bà Ba Hồng nhớ lại những ngày đi trồng rừng: Hồi đó, đi trồng rừng cực khổ vô cùng, mỗi chuyến đi từ 10 ngày đến nửa tháng. Đến mỗi nơi trồng, việc đầu tiên là lo chỗ ở. Vì tất cả đều bị ngập khi nước lên nên mọi người phải móc bùn đắp cao lên thành cái nền, sau đó trải vải nhựa xuống, rồi mới dựng chòi. Hồi đó, đoàn viên, thanh niên tham gia đông lắm. Đêm ngủ chia thành 2 dãy, nam, nữ riêng. Để tụi trẻ có hứng thú làm, tôi chia thành từng tổ, rồi thi đua, tổ nào làm nhanh, làm tốt sẽ có thưởng, sau giờ làm việc lại tổ chức văn nghệ, thi hát hò… Tụi trẻ làm không biết mệt. Sau mỗi chuyến đi rừng như thế, lại có vài đôi nên vợ chồng.
Nói về những ngày đầu làm “người rừng”, bà Hồng kể: “Hồi mới vào đây, cực khổ không bút nào tả xiết, điện không, nước ngọt không, đường mòn để đi cũng không nốt. Đêm phải đốt đèn dầu, muỗi nhiều như vãi trấu, nước ngọt thì phải chèo ghe đi mấy tiếng mới đến xã để mua. Hôm nào gặp gió ngược, đi nửa ngày không đến nơi, gió hơi mạnh mạnh chút là run, lỡ lật ghe, không sợ chết đuối mà mọi thứ trên ghe coi như “cúng” cho hà bá”.
Nói về những khó khăn hồi mới vào rừng, nhất là chuyện “đối phó” với những người phá rừng, bà Ba Hồng kể: “Hồi đó tình trạng phá rừng ở Cần Giờ cũng nghiêm trọng lắm chứ không phải như bây giờ đâu. Người ta chủ yếu săn bắt, chặt cây về bán cho lò than. Và hầu hết họ đều nghèo. Biết vậy nên khi bắt được họ phá, mình không làm căng mà nói chuyện tình cảm. phân tích cho họ hiểu, đây là chén cơm của gia đình, nếu anh chị phá rừng là chúng tôi nhịn. Rồi bảo rừng này là công sức của hàng ngàn người từ mấy chục năm nay, phá là mang tội lớn. Sau khi cho họ đi, còn cho gạo, nước mang theo”, bà Ba Hồng kể.
Cách nhà bà Ba Hồng vài cây số đường sông là nhà bà Nguyễn Kim Hoàng (Tư Hoàng), một phụ nữ có hoàn cảnh giống bà Ba Hồng, đó là năm 1990, bà một mình dắt đàn con 5 đứa lít nhít vào rừng cho đến nay. Nhìn dáng cao gầy, nước da hồng hào, săn chắc, ít ai nghĩ năm nay bà Tư Hoàng đã 68 tuổi. “Tôi hợp đồng giữ gần 250ha rừng, nhưng giao lại cho tụi nhỏ làm từ mấy năm nay rồi. Tôi còn khỏe, vẫn muốn làm, nhưng mấy ảnh nói tôi già rồi, làm chi cho cực”, bà Tư cười bảo.
“Cô có kỷ niệm nào đáng nhớ nhất thời mới vào rừng?”, tôi hỏi. Bà Tư Hoàng trầm ngâm giây lát rồi nói: “Những cái đáng nhớ thì kể vài ngày chưa hết. Có lần, một người phụ nữ cùng mấy đứa nhỏ lên chặt cây, tụi tôi bắt được, lúc đầu tính bắt đưa về kiểm lâm, nhưng đứa nhỏ van xin, nói tụi con đói lắm. Xuống dưới xuồng kiểm tra thì thấy 4 - 5 đứa trẻ lít nhít mà gạo thì hết. Tôi nhìn mà ứa nước mắt. Lên kêu thằng con trai chia nửa khạp gạo, nửa lu nước cho họ. Hỏi ra mới biết, cha tụi nhỏ chết rồi, nhà không có, mấy mẹ con họ chỉ có chiếc xuồng làm nhà, cứ lênh đênh nay đây mai đó như vậy”.
Hiện nay, những người gây dựng, chăm sóc và bảo vệ rừng Cần Giờ đa số đã “nghỉ hưu”, chuyển giao cho thế hệ thứ hai. Và đây là thế hệ đầu tiên được “hưởng lợi” từ cha anh mình. Anh Nguyễn Thành Trung, con trai thứ tư của 4 bà Tư Hoàng, người tiếp quản hợp đồng của mẹ, cho biết, mỗi năm, thu nhập từ lương giữ rừng cũng ngót 300 triệu chưa trừ chi phí, thuế. Ngoài ra, anh còn có 2 ao nuôi các loại cá, cuộc sống khá tốt.
Nói về quyết định dắt đàn con vào rừng sống năm 1990, bà Hồng cho biết: “Tôi đi bởi vì những cánh rừng này do chính tôi gieo hạt. Nhiều năm sống, ăn ngủ trong rừng, tôi quen rồi. Lúc đó tôi lo nhất là vào đó các con sống ra sao. Nhưng mấy đứa nhỏ động viên, bảo nếu mẹ muốn đi thì tụi con ủng hộ”, bà Hồng nói.
Gia đình bà Hồng hiện đang nhận chăm sóc 191ha rừng, mỗi năm được Nhà nước chi trả lương giữ rừng hơn 200 triệu. Ngoài ra, anh Trần Minh Tùng, con trai bà Hồng còn nuôi thêm ốc len, mỗi năm cũng thu được hơn trăm triệu. “So với ngày xưa mới vào, thế là tốt lắm rồi chú ạ”, anh Tùng nói. Anh Tùng cho biết, anh lấy được vợ hiền là chị Nguyễn Thị Lắng, cũng từ những ngày đi trồng rừng. Nay anh chị đã có 3 đứa con khôi ngô, trong đó 2 con lớn đã học xong cao đẳng trên thành phố, cậu út học cấp 1 ở xã Tam Thôn Hiệp, Cần Giờ. Hiện anh Tùng đã nhận thay mẹ hợp đồng chăm sóc, bảo vệ rừng.
Rời nhà bà Tư Hoàng, chúng tôi tiếp tục đến một căn nhà khá khang trang ở phân khu IV của ông Nguyễn Văn Sơn, 66 tuổi, vào nhận khoán giữ rừng từ năm 1986. Ông Sơn kể, ngót 30 năm chăm sóc, bảo vệ rừng, gia đình ông đã vượt qua biết bao khó khăn, vất vả, có những lúc tưởng không chịu nổi, định bỏ rừng. Nhưng rồi ông nghĩ, mình là một người lính, chẳng lẽ lại chịu thua? “Những năm đầu mới nhận khoán, gia đình tôi không dám nghĩ tới tiền công bởi bị phá dữ lắm! Khó khăn chồng chất, nghèo đói quanh năm, lại phải nuôi các con đang tuổi học hành”, ông Sơn kể.
Những năm sau này, nhà nước có chế độ tốt hơn cho những người giữ rừng, gia đình ông Sơn nhờ vậy mà khá dần lên. Ngoài nhận khoán gần 100ha rừng, ông còn đào ao thả cá, trồng cây kiểng kiếm thêm thu nhập. Hiện hợp đồng nhận khoán ông cũng đã chuyển cho con trai. “Thời chúng tôi vất vả lắm, bây giờ ngồi nhớ lại còn nổi gai ốc. Nhưng nhờ thế mà con cháu mình hôm nay mới có cái để hưởng. Đây chính là tài sản vô giá mà chúng tôi dành cho thế hệ sau”, ông Sơn nói. (Nông Nghiệp VN 4/9)đầu trang(
Chiều 1-9, Hạt Kiểm lâm TP.Kon Tum (tỉnh Kon Tum) cho biết, đơn vị tiếp nhận 1 cá thể khỉ đuôi lợn do người dân bắt được, giao nộp.
Trước đó, bà Nguyễn Thị Kiều Oanh (trú P.Thắng Lợi, TP.Kon Tum) phát hiện và bắt được một cá thể khỉ đang chạy trên đường Bắc Kạn (TP.Kon Tum). Qua tìm hiểu, biết đây là một loài động vật hoang dã quý hiếm nên bà Oanh liên hệ với Hạt Kiểm lâm TP.Kon Tum để giao nộp.
Qua kiểm tra, Hạt Kiểm lâm TP.Kon Tum cho biết, đây là cá thể khỉ đuôi lợn(tên khoa học: Macaca leonina), nhóm IIB, thuộc loài động vật rừng nguy cấp, quý hiếm, cần được bảo vệ nghiêm ngặt.
Hiện Hạt Kiểm lâm TP.Kon Tum đang làm thủ tục bàn giao cho Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật thuộc Ban Quản lý vườn Quốc gia Chư Mom Ray để thả về tự nhiên. (Phụ Nữ News 3/9)đầu trang(
1.9, Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng (tỉnh Quảng Bình) cho biết, thời gian qua đã vận động người dân nộp nhiều loại vũ khi nguy hiểm dùng để săn bắn động vật rừng quý hiếm.
Theo đó, thời gian gần đây, lực lượng kiểm lâm của vườn đã phối hợp với các cơ quan chức năng và địa phương trên địa bàn hai huyện Bố Trạch và Minh Hóa vận động người dân giao nộp 52 khẩu súng các loại, trong đó có 49 khẩu súng tự chế, 2 khẩu AK và 1 khẩu CKC. Đây chính là các loại vũ khí người dân dùng để săn, bắn động vật rừng, trong đó chủ yếu là các loài linh trưởng.
Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, lực lượng kiểm lâm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng đã nhiều lần phát hiện, thu giữ vũ khí mà đối tượng dùng để săn bắn động vật rừng quý hiếm.
Điển hình là ngày 15.6.2017, tại khu vực đường Hung Lầm thuộc khoảnh 5, tiểu khu 600 (Phân khu Bảo vệ nghiêm ngặt VQG Phong Nha – Kẻ Bàng, thuộc địa giới hành chính xã Xuân Trạch, huyện Bố Trạch), tổ tuần tra Trạm Kiểm lâm Chà Nòi thuộc Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng phát hiện 2 đối tượng đang đi vào rừng.
Phát hiện tổ tuần tra, 2 đối tượng bỏ chạy, vứt lại bao lác bên lề đường. Qua kiểm tra, phát hiện trong bao lác do các đối tượng để lại có chứa 1 khẩu súng dạng CKC và 10 viên đạn.
Gần đây nhất, ngày 26.8.2017, tại khu vực Hung Trung, thuộc khoảnh 7, Tiểu khu 609, lâm phận VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, tổ tuần tra Trạm Kiểm lâm Khe Gát thuộc Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng phát hiện 2 đối tượng đang gùi 2 bao lác đi từ trong rừng ra. Tổ tuần tra truy đuổi, bắt giữ được 1 đối tượng cùng 1 bao lác, đối tượng còn lại đã vứt lại tang vật và lợi dụng địa hình rừng núi để chạy thoát.
Qua kiểm tra, toàn bộ tang vật thu giữ gồm 1 khẩu súng tiểu liên AK không còn đạn, đã cũ, rỉ sét, không có số hiệu; 17 kg xương động vật (nghi là Sơn dương) và 4 cá thể Linh trưởng (nghi là Voọc Hà Tĩnh) đã chết, bị cạo lông, mổ đầu lấy óc, mổ bụng lấy nội tạng, sấy khô qua lửa, có tổng trọng lượng 12,6 kg. (Lao Động 2/9)đầu trang(
Kế hoạch hành động đa dạng sinh học năm 1995 được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 845 là chính sách nền tảng đầu tiên của Việt Nam trong bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học (ĐDSH). Sau hơn hai thập kỷ, chính sách này là “bệ phóng” quan trọng để “tôn dày” dấu mốc bảo tồn.
Đa dạng sinh học (ĐDSH) là nền tảng cho sự sống và phát triển của con người. ĐDSH được xem là “vốn tự nhiên” cho giảm nghèo, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH), mất an ninh lương thực, khủng hoảng kinh tế mà nhiều khu vực, quốc gia đang phải đối mặt.
Trên cơ sở đó, năm 1995, Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động ĐDSH đã xác lập các dự án hành động cần đầu tư thực hiện trong giai đoạn 1996 - 2000. Đến năm 2007, để phù hợp với mục tiêu và bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội trong xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Chính phủ đã phê duyệt KHHĐ quốc gia ĐDSH đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 nhằm thực hiện Công ước ĐDSH và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học. Tiếp đó, với tầm nhìn mới về ĐDSH là nền tảng của nền kinh tế xanh, bảo tồn ĐDSH là giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã được Chính phủ ban hành vào năm 2013.
Từ đó cho thấy, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu quan trọng trong công tác bảo tồn ĐDSH như: Hệ thống khung pháp luật và chính sách quốc gia về bảo tồn ĐDSH ngày càng được củng cố, hoàn thiện; nhận thức xã hội và sự tham gia của các bên liên quan vào công tác bảo tồn ĐDSH có nhiều chuyển biến rõ rệt, nhất là các dịch vụ hệ sinh thái trọng yếu tiếp tục được duy trì và cung cấp các dịch vụ quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Luật ĐDSH 2008 được ban hành đã thể hiện sự nhận thức đúng đắn tầm quan trọng và sự cần thiết trong việc điều chỉnh thực trạng bảo tồn ĐDSH hiện nay của Việt Nam. Một hành lang pháp lý được xây dựng góp phần hệ thống hoá các quy định rải rác trước đó cũng như bổ sung thêm những nội dung mới nhằm điều chỉnh đầy đủ và thực thi có hiệu quả pháp luật bảo tồn ĐDSH - một trong những phương thức bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên.
Qua gần 10 năm kể từ khi có hiệu lực, Luật ĐDSH đã tiếp thêm nhựa sống cho công tác quản lý bảo tồn ĐDSH trong các hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nước, vùng biển của Việt Nam với một số thành tích đáng khích lệ, chẳng hạn đã thu thập nhiều tư liệu bổ sung, đánh giá hiện trạng ĐDSH ở các khu rừng đặc dụng làm cơ sở cho việc đề xuất trong chiến lược rà soát, quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý, tổ chức bảo tồn các vườn quốc gia (VQG), các khu bảo tồn thiên nhiên. Tại một số địa phương đã xây dựng các tiêu chí cụ thể xác định loài và chế độ quản lý bảo vệ thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Điều 37 của Luật).
Đáng chú ý, Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết các Điều ước quốc tế liên quan đến ĐDSH như: Công ước Liên Hợp Quốc về đa dạng sinh học (UNCBD), Công ước về Các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước (RAMSAR), Công ước về Buôn bán quốc tế các loài động, thực vật bị đe dọa tuyệt chủng (CITES), Nghị định thư về An toàn sinh học (CARTAGENA)… Nhiều cam kết quốc tế đã được luật hóa trong Luật ĐDSH năm 2008.
Có thể thấy rằng, những nội dung nội luật hóa quan trọng nhất là các nội dung trong Công ước của Liên Hợp Quốc về ĐDSH như: Quy định rõ và đầy đủ về nội dung và trình tự, thủ tục lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch bảo tồn ĐDSH cấp cả nước và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; quy định rõ và đầy đủ về bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật, bao gồm bảo vệ loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và phát triển bền vững các loài sinh vật; quy định về trách nhiệm quản lý nguồn gen và quản lý các hoạt động liên quan đến nguồn gen…
Nhiều địa phương trong cả nước như: Hà Nội, Nghệ An, Vĩnh Phúc… đã tiến hành khảo sát điều tra các loài sinh vật ngoại lai xâm hại để có biện pháp kiểm soát ngăn ngừa tại Điều 50 của Luật ĐDSH. Cùng với đó, Bộ TN&MT đã ban hành Thông tư số 22 ngày 1/7/2011 hướng dẫn đưa ra danh mục các loài ngoại lai xâm hại cần quan tâm phát hiện ở các địa phương ngăn chặn nguy cơ tiềm ẩn của các loài sinh vật ngoại lai xâm hại đến các hệ sinh thái và ĐDSH.
Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen là một nội dung hoàn toàn mới đối với hệ thống pháp luật Việt Nam từ trước đến nay. Theo GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, Luật ĐDSH đã đề xuất cơ chế quản lý tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích có được từ nguồn gen ở Việt Nam. Điều đó thể hiện sự nghiêm túc của Việt Nam trong việc thực hiện mục tiêu thứ ba của Công ước ĐDSH, đó là chia sẻ một cách công bằng và hợp lý những lợi ích thu được từ việc sử dụng nguồn gen.
Theo đánh giá của các chuyên gia, nội dung tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích trong Luật ĐDSH 2008 và Nghị định 65/2010/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ĐDSH đã thể hiện tương đối đầy đủ các nguyên tắc của luật pháp quốc tế. Đây là một nỗ lực lớn đối với quá trình hội nhập quốc tế, trong bối cảnh các bên vẫn đang trong quá trình thương lượng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh.
Mặc dù, đây là nội dung mới và khó nhưng trong thời gian qua, Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học (Tổng cục Môi trường) đã vận dụng các điều khoản trong Luật ĐDSH để tiến hành thử nghiệm ở một số VQG, khu bảo tồn như: Bạch Mã, Ba Vì, Cát Bà, Côn Đảo, Bidoup Núi Bà, Vân Long... Qua đó, cộng đồng sống xung quanh các khu bảo tồn thiên nhiên được cải thiện chất lượng cuộc sống bằng các sinh kế, tăng việc làm thông qua hoạt động bảo tồn ĐDSH. Đây là giải pháp tạo sự đồng thuận, nhất trí tham gia của cộng đồng trong chiến lược bảo tồn ĐDSH.
Việc thành lập hệ thống các khu bảo tồn là bước đi rất quan trọng trong việc bảo tồn các loài, quần xã sinh vật và hệ sinh thái. Hiện nay, Việt Nam đã quy hoạch và thành lập được 164 Khu bảo tồn (KBT) rừng đặc dụng, trong đó, có 30 VQG, 58 khu dự trữ thiên nhiên, 11 KBT loài và sinh cảnh, 45 khu bảo vệ cảnh quan và 20 khu rừng thực nghiệm nghiên cứu khoa học với tổng diện tích gần 2,2 triệu ha. Dự kiến đến năm 2020, hệ thống này sẽ mở rộng đến 2,4 triệu ha với 176 khu (34 VQG, 58 KBT thiên nhiên, 14 KBT loài và sinh cảnh, 61 khu bảo vệ cảnh quan và 09 khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm.
Cùng với đó, Việt Nam cũng đã quy hoạch 16 KBT biển và 45 KBT vùng nước nội địa. Ngoài ra, trong hệ thống cũng đã có 9 khu dự trữ sinh quyển thế giới, 2 khu di sản thiên nhiên, 5 khu di sản ASEAN và 8 khu đất ngập nước Ramsar được quốc tế công nhận. Bên cạnh đó, các hình thức bảo tồn chuyển chỗ về ĐDSH cũng được phát triển trong cả nước mang lại hiệu quả cao về bảo tồn nguồn gen thực vật, động vật quý, hiếm, góp phần xóa đói giảm nghèo ở một số địa phương. Những con số trên cho thấy, sự thay đổi nhận thức về cân bằng giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế, mà quan trọng hơn đó chính là sự nỗ lực, quan tâm, cam kết và hành động của nhà nước vì các lợi ích chung của xã hội, trước mắt và lâu dài.
Một thành tựu quan trọng khác của công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam trong hơn 20 năm qua chính là huy động được nguồn lực tài chính, kỹ thuật và sự tham gia tích cực của các tổ chức đa phương, tổ chức phi chính phủ quốc tế và trong nước. UNDP, WB, JICA, UNEP, GIZ, IUCN, WWF, FFI, WCS, Birdlife International, TRAFFIC là những tổ chức đã có những đóng góp đáng kể cho quá trình xây dựng chính sách, pháp luật về bảo tồn ĐDSH, cũng như hỗ trợ thiết lập và quản lý nhiều VQG/KBT có giá trị ĐDSH toàn cầu.
Thông qua các dự án hỗ trợ, nhiều loài động, thực vật mới có giá trị cho khoa học đã được phát hiện, phát hiện lại và được đầu tư bảo tồn như: Sao la, Mang lớn, một số loài linh trưởng, Chim trĩ… Bên cạnh đó, sự hình thành các tổ chức xã hội trong nước như: VACNE, ENV, PanNature, MCD, GreenVIET, Wildlife At Risk… đã gia tăng nỗ lực đóng góp cho bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam từ cả hiện trường đến diễn đàn chính sách của quốc gia, quốc tế. Xu hướng các doanh nghiệp và tổ chức cộng đồng tham gia bảo tồn thiên nhiên đang được hình thành, hứa hẹn tạo nhiều nguồn lực cho bảo vệ các giá trị và di sản ĐDSH của Việt Nam. (Tài Nguyên & Môi Trường 2/9)đầu trang(
Đối tượng Ái khai nhận đã cùng với đối tượng tên Minh (cũng trú tại thôn Chày Lập, xã Phúc Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình) mang theo súng AK, 5 viên đạn vào khu vực Ba Sạp (lâm phần Vườn QG PN-KB) để săn, bắn động vật rừng
Ngày 2/9, Hạt KL Phong Nha (thuộc Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng) cho biết đã chuyển đối tượng Hoàng Đức Ái (sinh năm 1974, trú tại thôn Chày Lập, xã Phúc Trạch, huyện Bố Trạch - Quảng Bình) cho cơ quan chức năng để xử lý về hành vi sử dụng trái phép vũ khí quân dụng săn bắn thú rừng quý hiếm..
Trước đó, lực lượng KL thực hiện tuần tra bảo vệ rừng tại khu vực Tiểu khu 609 (lâm phần VQG Phong Nha - Kẻ Bàng. Trong rừng, tổ tuần tra đã phát hiện có hai đối tượng gùi 2 bao lác đi hướng từ rừng sâu ra. Phát hiện thấy tổ tuần tra, hai đối tượng liền vứt hai bao lác xuống và bỏ chạy. Tổ tuần tra tiến hành truy đuổi và bắt giữ được một đối tượng cùng với 1 bao lác.
Tiến hành kiểm tra, lực lượng KL phát hiện trong bao lác có 1 khẩu súng AK 47 và 17 kg xương động vật. Trong bao còn lại có 4 cá thể linh trưởng đã chết (nghi là Voọc) với tổng trọng lượng gần 13 kg.
Đối tượng Ái khai nhận đã cùng với đối tượng tên Minh (cũng trú tại thôn Chày Lập, xã Phúc Trạch, huyện Bố Trạch) mang theo súng AK, 5 viên đạn vào khu vực Ba Sạp (lâm phần Vườn QG PN-KB) để săn, bắn động vật rừng.
Vụ việc sẽ được CA huyện Bố Trạch tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật. (Nông Nghiệp VN 1/9)đầu trang(
Không ai biết tương lai dự án trồng rau sạch đang triển khai tại khu vực biển thôn 4, xã Đức Chánh, huyện Mộ Đức sẽ mang lại hiệu quả kinh tế như thế nào, nhưng việc 4,1 ha rừng dương chắn sóng, gió ven biển nơi đây bị chặt phá, đang gây bức xúc cho người dân trong vùng.
Tại hiện trường khu vực rừng dương chắn sóng ven biển thôn 4, cùng với tiếng cưa máy gầm rú, hàng trăm cây dương lớn nhỏ bị đốn hạ và chặt khúc nằm ngổn ngang khắp nơi.
Ông B.Đ (45 tuổi), người dân sống ở gần khu vực này bức xúc: "Hàng chục năm qua rừng dương này đã chắn gió, sóng bảo vệ hoa màu, nhà cửa của chúng tôi. Nếu không có nó thì đất sản xuất phía trong và tài sản của chúng tôi tránh sao khỏi bị ảnh hưởng, thiệt hại, đặc biệt là vào mùa mưa bão. Vậy mà không hiểu tại sao chính quyền địa phương lại cho chặt phá rừng dương này".
Nhiều người khác cho biết thêm: "Bình thường khi dân vào đây chặt cành lấy củi thì bị chính quyền xã ngăn cấm, răn đe nhưng giờ lại cho phép đốn hạ cả một khu vực rộng lớn như vậy thật không thể hiểu được".
Trả lời về việc này, ông Đoàn Văn Bảy - Bí thư xã Đức Chánh cho biết: "Việc cho đốn chặt dương tại vùng ven biển thôn 4 là để lấy đất phục vụ cho dự án sản xuất rau an toàn. Diện tích dương chặt phá là 4,1 ha thuộc rừng sản xuất và UBND tỉnh đã phê duyệt. Tính từ mép biển vào đến khu vực rừng dương đang chặt còn đến 210 mét nên không ảnh hưởng gì đến người dân và môi trường. Trúng thầu và được khai thác số dương trên diện tích này là Công ty TNHH Một thành viên Thiên Minh, với số tiền trúng thầu là 138 triệu đồng".
Theo ông Bảy, trước khi cho phá diện tích rừng dương này đã tổ chức họp lấy ý kiến và người dân địa phương thống nhất, ủng hộ. Khi giải phóng xong mặt bằng, xã sẽ đầu tư cơ sở hạ tầng điện, nước và phân lô cho người dân trồng rau. Tuy nhiên khi chúng tôi đề nghị cho xem biên bản làm việc giữa chính quyền và người dân thôn 4 và quyết định phê duyệt dự án của UBND tỉnh Quảng Ngãi... thì ông Bảy giải thích người được giao phụ trách và cán bộ văn thư xã hiện đã đi học, tập huấn nên hẹn dịp khác sẽ cung cấp.
"Không biết tương lai dự án trồng rau sạch đang triển khai tại khu vực biển thôn 4, xã Đức Chánh, huyện Mộ Đức sẽ mang lại hiệu quả kinh tế như thế nào nhưng 4,1 ha rừng dương ven biển nơi đây đang bị chặt phá", người dân thôn 4 bức xúc.
Theo thống kê vào năm 2004, tổng diện tích dương ven biển toàn xã Đức Chánh khoảng 64 ha, trong đó có 31 ha thuộc rừng phòng hộ. Sau khi có chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ (CT số 38/2005-CT-Ttg) về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất), xã Đức Chánh tiếp tục chuyển đổi bổ sung thêm 14,7 ha rừng sản xuất sang rừng phòng hộ. (Dân Việt 3/9)đầu trang(
Theo số liệu thống kê 10 năm gần đây, bình quân mỗi năm trên địa bàn tỉnh Nghệ An xảy ra 30 vụ cháy rừng, thiệt hại gần 90 ha rừng các loại. Riêng trong năm 2017, nạn cháy rừng được kiềm chế, thiệt hại không đáng kể.
Ngoài nguyên nhân khách quan thời tiết thuận lợi, phải kể đến sự vào cuộc tích cực, quyết liệt của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương; sự tham mưu có hiệu quả của lực lượng kiểm lâm.
Cụ thể, Chi cục Kiểm lâm đã tham mưu giải quyết tận gốc nguyên nhân cố ý đốt rừng với các giải pháp:
Một là: Nếu cháy rừng thông, thì chỉ được phép trồng lại rừng thông, không được tận thu gỗ do cháy rừng để đem bán.
Hai là: Nếu là đối tượng rừng trồng nghèo kiệt, thưa thớt, hiệu quả kinh tế và môi trường thấp, thì chủ rừng lập hồ sơ đề xuất cho thanh lý rừng, để khoanh vùng chuyển đổi sang trồng rừng mới. Nếu chủ rừng có nhu cầu xử lý thực bì vì các mục đích khác nhau như: Lấy đồng cỏ, phát triển cây dành để đem bán thì chủ rừng lập hồ sơ trình UBND xã xem xét cho xử lý, nhưng phải đảm bảo tuyệt đối an toàn về phòng cháy, chữa cháy rừng.
Ba là: Xác định những vùng rừng trọng tâm, xã trọng điểm để tập trung chỉ đạo, họp dân, tuyên truyền vận động, xây dựng phương án 4 tại chỗ, kiểm tra đôn đốc, quản lý chặt chẽ việc sử dụng lửa trong rừng và ven rừng. Phát hiện sớm những mâu thuẫn tiềm ẩn trong nhân dân để xử lý; giao trách nhiệm cụ thể cho lãnh đạo xã, chủ rừng, kiểm lâm viên địa bàn bám sát địa bàn cơ sở để tham mưu làm tốt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Giải pháp cuối cùng đó là quy trách nhiệm của người đứng đầu các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, hạt kiểm lâm, chủ rừng theo tinh thần Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; Chỉ thị số 03-CT/TU ngày 11/4/2016 của Tỉnh ủy Nghệ An về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý bảo vệ rừng.
Như vậy, công tác bảo vệ rừng nói chung và phòng cháy, chữa cháy rừng nói riêng được xác định là trách nhiệm chính của chủ rừng; vai trò lãnh đạo quản lý của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, lực lượng Kiểm lâm đóng vai trò nòng cốt tham mưu.
Việc đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về phòng cháy, chữa cháy rừng; thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, gắn với trách nhiệm cá nhân người đứng đầu các đơn vị địa phương, chủ rừng, hạt Kiểm lâm đã góp phần làm xanh thêm những cánh rừng. (Báo Nghệ An 3/9)đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Gần 115 ha rừng trồng thuộc các xã khó khăn: Tân Hương, Tân Nguyên tại huyện Yên Bình; Việt Cường, Y Can, Hồng Ca, Nga Quán, Đào Thịnh, Hưng Khánh của huyện Trấn Yên đã được phủ một màu xanh của cây keo tai tượng và hứa hẹn mang lại năng suất, giá trị kinh tế cao cho người dân.
Đây là kết quả bước đầu đạt được từ Mô hình Trồng rừng thâm canh gỗ lớn thuộc Dự án Khuyến nông trung ương "Trồng rừng thâm canh (keo lai và keo tai tượng) gỗ lớn và chuyển hóa rừng cung cấp gỗ nhỏ sang gỗ lớn" do Tổng cục Lâm nghiệp chủ trì triển khai trong giai đoạn từ năm 2014 - 2016.
Theo báo cáo tổng kết Dự án của Tổng cục Lâm nghiệp, tổng diện tích xây dựng mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn là 789 ha (109,5% kế hoạch), trong đó 320 ha keo lai và 468 ha keo tai tượng tại 62 xã, thuộc 36 huyện, 453 hộ tham gia gồm các tỉnh: Yên Bái, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Cà Mau.
Mô hình keo lai sử dụng các giống tiến bộ kỹ thuật cho năng suất cao được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận, đó là các dòng BV10, BV16, BV32, BV33, BV73, BV75; mô hình keo tai tượng sử dụng giống keo Úc xuất xứ Pongakii. Các mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn được lựa chọn tương đối tập trung, gần đường giao thông, gần khu dân cư thuận lợi cho tham quan học tập mô hình.
Đến thăm hộ ông Phạm Tiến Sỹ ở thôn Ngòi Vồ, xã Tân Hương, huyện Yên Bình và ông phấn khởi cho biết: ban đầu gia đình ông cũng như các hộ dân trong xã không khỏi hoài nghi về hiệu quả kinh tế của mô hình, bởi vì chu kỳ dài từ 12 -14 năm, mà gia đình có thói quen khai thác sớm từ 5 - 7 năm.
Qua tư vấn của cán bộ Tổng cục Lâm nghiệp, gia đình ông đã mạnh dạn tham gia mô hình và được hỗ trợ 2 ha trồng rừng, mỗi héc - ta trồng rừng gỗ lớn được hỗ trợ 1.563 cây giống keo tai tượng và 399 kg phân NPK cho năm đầu tiên; sang năm thứ 2 và năm thứ 3 được hỗ trợ 266 kg phân NPK/ha/năm. Đi tham quan mô hình, chúng tôi thấy rừng keo tai tượng sau 8 tháng tuổi có chiều cao vút ngọn đạt khoảng 2,5 m, đường kính gốc khoảng 2 cm, cây sinh trưởng tốt, tán cân đối, tròn đều, thân thẳng tắp.
Chỉ tay sang lô rừng trồng bên cạnh, ông Sỹ cho biết: lô rừng này được trồng cùng thời điểm, do gia đình họ tự đầu tư; cây giống tự đi mua không có nguồn gốc xuất xứ; rừng trồng rất dày, cây nhỏ đường kính mới đạt khoảng 1,5 cm, chiều cao khoảng 1,5m, cây sinh trưởng không đồng đều, lá vàng, có biểu hiện thiếu dinh dưỡng.
Ông Đỗ Kim Chiến - Phó Chủ tịch xã Việt Cường, huyện Trấn Yên - một địa phương tham gia Dự án cho biết, sau khi nghe tư vấn về nội dung Dự án cũng như chính sách hưởng lợi và về hiệu quả kinh tế của mô hình thâm canh gỗ lớn với chu kỳ kinh doanh dài hơn, gấp đôi chu kỳ kinh doanh gỗ nhỏ, nhưng hiệu quả cao hơn gấp rưỡi so với trồng rừng thâm canh gỗ nhỏ. Ông đã họp bàn với lãnh đạo UBND xã và triển khai đến các thôn, vận động người dân tham gia.
Kết quả là năm 2015, đã có 16 hộ trong xã tham gia Dự án với diện tích 22 ha và năm 2016 có 27 hộ tham gia với diện tích là 31 ha. Đến nay, sau 26 tháng tuổi, keo đạt chiều cao khoảng 6m, đường kính khoảng 7cm. Ông Chiến cho biết thêm, keo tai tượng sinh trưởng tốt hơn so với những lô rừng dân tự đầu tư, do được trồng với mật độ thưa hơn (1.330 cây/ha), giống cây là keo tai tượng Úc, chất lượng cây giống tốt, có bón lót bằng phân NPK trước khi trồng.
Thạc sỹ Nhữ Văn Kỳ - Chủ nhiệm Dự án cho biết, keo tai tượng là cây lâm nghiệp chính đang được gây trồng phổ biến ở hầu hết các vùng sinh thái trong cả nước. Rừng trồng keo các loại, đã góp phần quan trọng trong việc cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ. Đến nay, các loài keo không chỉ được trồng mục đích cung cấp gỗ nguyên liệu mà nó còn được trồng với mục đích lấy gỗ lớn cung cấp gỗ xẻ, làm PALLET ván sàn, đồ mộc và đồ gia dụng...
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, đến nay đã có 5 xuất xứ keo tai tượng đã được công nhận là giống quốc gia và giống tiến bộ kỹ thuật. Tùy theo các lập địa khác nhau mà năng suất ở các địa phương đang còn hạn chế. Nguyên nhân, do người dân chưa tiếp cận được các nguồn giống mới công nhận đạt chất lượng cao và chưa có mô hình trình diễn về các giống mới để học tập và nhân rộng.
Hiện nay, Hội Nông dân tỉnh Yên Bái đang hỗ trợ để cấp chứng chỉ FSC cho các hội viên tham gia trồng rừng kinh doanh gỗ lớn tại huyện Yên Bình. Khi được cấp chứng chỉ, người dân bán gỗ sẽ cao hơn từ 18 - 20% so với giá thị trường. Để được cấp chứng chỉ, người dân bắt buộc phải trồng rừng gỗ lớn và phải thực hiện các tiêu chí trong quản lý rừng bền vững. Việt Nam đã kết thúc đàm phán Hiệp định VPA/FLEGT với EU. Gỗ, đồ mộc và đồ gia dụng của Việt Nam đã vào được thị trường khó tính này là điều kiện để nâng giá gỗ lên cao trong thời gian tới.
Để nhân rộng mô hình, công tác tuyên truyền về hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn cần có sự hỗ trợ của các cấp chính quyền ở địa phương kết hợp với sự hỗ trợ của Nhà nước cùng các chính sách hỗ trợ đi kèm như bảo hiểm trồng rừng, hỗ trợ tín dụng... để khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia phát triển rừng trồng cung cấp gỗ lớn.
Dù chưa cho thu hoạch, nhưng nhìn vào những kết quả bước đầu đạt được cũng như sự kỳ vọng của người dân, có lẽ mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn là hướng đi đúng đắn, góp phần xóa đói giảm nghèo cho bà con các dân tộc vùng cao tỉnh Yên Bái. (Báo Yên Bái 1/9)đầu trang(
Nhằm mục đích nâng cao hiệu quả việc quản lí, bảo vệ rừng và an sinh xã hội, Chính phủ đã có nhiều chính sách giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình tham gia trồng, khoanh nuôi, bảo vệ rừng; các doanh nghiệp Quốc doanh và đơn vị kinh tế tập thể làm chỗ dựa, giúp Chính phủ thực hiện có hiệu quả chính sách bảo vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên, thực tế Lâm trường Buôn Ja Wầm (nay là Công ty Buôn Ja Wầm) dường như đã bỏ qua những chính sách của Chính phủ, khiến quyền lợi của các hộ dân không được bảo đảm…
Như đã phản ánh, Công ty Buôn Ja Wầm hiện giữ diện tích lớn đất lâm nghiệp tại xã Ea Kiết, trong khi các hộ dân không có đất sản xuất, phải kí hợp đồng nhận khoán vườn cà phê với Công ty. Việc UBND tỉnh Đắk Lắk cấp 3 Giấy CNQSDĐ cho Công ty Buôn Ja Wầm, với diện tích tương đương 117,74ha, vào mục đích trồng cà phê, có dấu hiệu trái với quy định của Luật Đất đai năm 1993.
Cụ thể, tại Điều 43 định nghĩa: “Đất lâm nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất lâm nghiệp gồm đất có rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng và đất để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp như trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ để phục hồi tự nhiên, nuôi dưỡng làm giàu rừng, nghiên cứu thí nghiệm về lâm nghiệp”. Điều 19 về các căn cứ để quyết định giao đất quy định: “1- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt”. Điều 18 về thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quy định: “2- Chính phủ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của các Bộ…”.Trong khi đó, khi chuyển đổi một diện tích lớn đất rừng sang đất trồng cà phê, để cấp Giấy CNQSDĐ cho Công ty Buôn Ja Wầm, UBND tỉnh Đắk Lắk có căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được Chính phủ phê duyệt không? Đây cũng là câu hỏi lớn, đòi hỏi được giải đáp.
Mặt khác, chủ trương giao đất, giao rừng cho cá nhân, hộ gia đình nhằm phát triển và bảo vệ rừng, được Chính phủ quy định về cơ bản không thay đổi. Bắt đầu từ Quyết định số 327-CT ngày 15/9/1992 của Chủ tịch HĐBT (nay là Thủ tướng), về một số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống, đồi trọc, rừng… (gọi là Dự án 327), đã quy định: “Lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất, lấy doanh nghiệp quốc doanh hoặc đơn vị kinh tế tập thể làm chỗ dựa; xây dựng kinh tế vườn đối với hộ gia đình. Xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa các hộ với cộng đồng, với các thành phần kinh tế tập thể Quốc doanh trên địa bàn, nhằm phát triển mạnh sản xuất, bảo đảm lợi ích của mỗi hộ, đồng thời làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước và tập thể;… (Điều 3)”.Về chính sách giao đất, giao rừng, Điều 6 Quyết định số 327-CT nêu rõ: “Đối với các dự án về trồng các loại rừng: phòng hộ, đặc dụng, sản xuất trên đồi núi trọc,… mỗi hộ (kể cả đồng bào định canh, định cư) được giao hoặc khoán một số diện tích…”
Tiếp đó, ngày 15/1/1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 02-CP, quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, trong đó quy định rõ tại Điều 1: “Đất lâm nghiệp Nhà nước giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài gồm: Đất có rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng; đất chưa có rừng được quy hoạch để gây, trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ thảm thực vật”.
Điều 2: “Nhà nước giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài… gồm: Rừng phòng hộ; vùng khoanh nuôi, bảo vệ thảm thực vật được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn… Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, các lâm sản khác…, và kết hợp phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái”. Điều 3 quy định: “1- Nhà nước giao đất lâm nghiệp có rừng tự nhiên, có rừng trồng bằng vốn của Nhà nước cho tổ chức theo luận chứng kinh tế kĩ thuật, dự án quản lí, xây dựng khu rừng được cơ quan quản lí Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; cho hộ gia đình, cá nhân theo phương án quản lí, sử dụng rừng được cơ quan quản lí Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, để bảo vệ, phát triển và sử dụng ổn định, lâu dài theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước;”…
Để cụ thể hóa, ngày 12/11/2001, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg, quy định về việc hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp. Trong đó, tại Khoản 2, Điều 8 quy định: “Được phép khai thác khi rừng đạt tiêu chuẩn khai thác và được hưởng 75-85% giá trị lâm sản khai thác sau khi nộp thuế, tùy theo cấp tuổi rừng lúc được giao…”.
Ngày 3/9/2003, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT/BNN-BTC, hướng dẫn thực hiện Quyết định số 178/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, cho thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp, trong đó xác định bên giao khoán là các tổ chức Nhà nước được Nhà nước giao rừng và đất lâm nghiệp để sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp gồm: Lâm trường quốc doanh… Công ty, Xí nghiêp… Bên nhận khoán là các hộ gia đình, cá nhân và được hưởng các lợi ích từ rừng theo quy định của pháp luật.
Không những diện tích đất rừng cho Công ty Buôn Ja Wầm sử dụng quá lớn, trong khi các hộ dân không được giao đất sản xuất, việc để cho Công ty này giao khoán cho các hộ dân, với mức thu sản phẩm mỗi hộ bình quân 2,8 đến 3 tấn cà phê/năm, còn trái với chính sách của Nhà nước tại Nghị định số 02-CP, Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg và Thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT/BNN-BTC. Như vậy, nhiều chính sách về giao đất, giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân của Chính phủ không được thực hiện ở địa phương này. Đó cũng là nguyên nhân để xẩy ra tranh chấp giữa các hộ dân với Công ty Buôn Ja Wầm.
Ngày 3/12/2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 200/2004/NĐ-CP về sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường Quốc doanh. Theo đó, quy định những lâm trường đang quản lí chủ yếu là rừng trồng sản xuất, đất quy hoạch để trồng rừng sản xuất… thì tổ chức lại thành Công ty Lâm nghiệp, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Tuy nhiên, ở tỉnh Đắk Lắk, việc chuyển đổi từ Lâm trường sang hình thức Công ty Đầu tư Phát triển Buôn Ja Wầm được thực hiện trước khi Chính phủ ban hành Nghị định số 200/2004/NĐ-CP hơn 8 năm. Đồng thời bổ sung nhiều ngành nghề không liên quan đến lâm nghiệp cho Công ty như: Trồng, chăm sóc cây công nghiệp; dịch vụ thương mại… Sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng… Để rồi gần 6 năm sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 200/2004/NĐ-CP, UBND tỉnh Đắk Lắk mới ra quyết định cho Công ty trở lại đúng tên là Công ty lâm nghiệp. Đây phải chăng là lí do để Công ty Buôn Ja Wầm “quay ngoắt” sang kinh doanh, xa rời mục tiêu quản lí, bảo vệ và phát triển rừng?
Tuy nhiên, thực tế Nghị định số 200/2004/NĐ-CP là văn bản pháp quy, chuyên về sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường Quốc doanh, không liên quan đến chính sách giao rừng và đất lâm nghiệp, nhưng tại Điều 5 Nghị định này cũng có nội dung quy định: “3- Công ty Lâm nghiệp được lựa chọn các hình thức khoán rừng và đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để bảo vệ, trồng và khai thác rừng có hiệu quả theo quy định của pháp luật”. Nội dung này không được Công ty Buôn Ja Wầm và UBND tỉnh Đắk Lắk thực hiện đúng.
Về chính sách giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình, cá nhân của Nhà nước là xuyên suốt, chưa bao giờ thay đổi. Thiết nghĩ, tỉnh Đắk Lắk nên xem xét lại việc cân đối lại diện tích rừng, đất lâm nghiệp giao cho các hộ gia đình, cá nhân, sao cho hài hòa lợi ích giữa người dân và doanh nghiệp, tạo điều kiện để người dân vừa tham gia sản xuất, vừa tham gia bảo vệ rừng, phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương. (Ngày Mới 3/9)đầu trang(
Trong những năm qua, chính sách giao rừng khoán quản cho đồng bào dân tộc thiểu số được huyện Thuận Bắc triển khai thực hiện đạt kết quả đáng ghi nhận. Qua đó, không chỉ góp phần tăng thu nhập cho bà con, quan trọng hơn là nâng cao ý thức bảo vệ rừng (BVR) của đồng bào, ngăn chặn hiệu quả nạn phá rừng tự phát.
Ông Hoàng Lộc, Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Sông Trâu cho biết: Trước đây, đồng bào dân tộc thiểu số các xã có rừng thường khai thác cây rừng, lấn chiếm đất rừng để sản xuất, vì vậy tình trạng chặt phá rừng, đốt rừng làm rẫy xảy ra nhiều. Việc giao khoán rừng cho bà con đã góp phần không nhỏ trong công tác BVR, đặc biệt là hạn chế tình trạng lấn chiếm đất làm rẫy; đồng thời, giúp lực lượng chức năng nắm thông tin nhiều hơn về đối tượng chặt, phá rừng.
Toàn huyện có hơn 600 hộ tham gia nhận rừng khoán quản với diện tích 3.298,67 ha, đạt 100% kế hoạch; trong đó có 2.704,93 ha rừng tự nhiên và 593,74 ha rừng trồng, chủ yếu tập trung tại 3 xã: Phước Chiến, Phước Kháng, Công Hải. Từ khi triển khai thực hiện chính sách giao rừng khoán quản, huyện thường xuyên tuyên truyền về công tác BVR, vận động bà con tham gia BVR, ký kết không vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Các địa phương đều thực hiện đầy đủ, kịp thời việc thanh toán các chế độ cho các hộ với mức chi trả bình quân 200-300 ngàn đồng/ha/năm, góp phần cải thiện đời sống cho người dân.
Để thu hút bà con Raglai tham gia vào chính sách giao rừng khoán quản, đơn vị chủ rừng đã triển khai nhiều biện pháp, kế hoạch nhằm tạo điều kiện cho bà con có thêm thu nhập như: Trồng rừng phòng hộ, rừng hỗ trợ sản xuất và trồng cây phân tán. Theo đó, đơn vị trồng 42 ha rừng tại xã Công Hải và khu vực lòng hồ Sông Trâu, sử dụng 100% nhân công phát dọn và trồng rừng đều là đồng bào Raglai; đối với trồng rừng hỗ trợ sản xuất, đơn vị hỗ trợ giống cây (neem, điều, mít và cây bản địa), kỹ thuật, đất trồng rừng cho các hộ nhận khoán quản rừng...
Bên cạnh đó, đơn vị chủ rừng còn phối hợp với các gia đình được giao rừng thường xuyên tổ chức tuyên truyền các quy định về BVR, giúp bà con nâng cao nhận thức về trách nhiệm và nghĩa vụ bản thân đối với công tác BVR; đồng thời, phối hợp với các gia đình nhận rừng tổ chức kiểm tra, giám sát, tuần tra truy quét, phân công trực cao điểm phòng cháy, chữa cháy tại các tiểu khu... Qua đó, ngăn ngừa những tác động xâm hại đến rừng.
Anh Chamaléa Dũng, Tổ trưởng Tổ cộng đồng rừng khoán quản thôn Đá Liệt (Phước Kháng) cho biết: Từ khi nhận rừng khoán quản, bà con đã nâng cao nhận thức trong việc BVR, không chặt phá rừng như trước đây, đồng thời có thêm thu nhập từ nhận rừng khoán quản. Tổ cùng với lực lượng chức năng thường xuyên kiểm tra diện tích rừng giao khoán; khi được phân công trực, các hộ trong tổ luôn thực hiện tốt.
Vào mùa khô, các đơn vị chủ rừng tổ chức hướng dẫn nhân dân đốt dọn nương rẫy phù hợp với diễn biến thời tiết theo cấp dự báo cháy rừng và nhắc nhở, vận động các hộ ký cam kết không phá rừng, lấn chiếm đất rừng làm rẫy, hầm than, khai thác lâm sản trái phép. Bên cạnh đó, các đơn vị chủ rừng thành lập 5 tổ chuyên trách với 50 thành viên, thực hiện trực phòng cháy, chữa cháy rừng theo cấp dự báo tại 5 điểm thôn: Suối Le, Cầu Đá (xã Phước Kháng); Đầu suối B, Tập Lá (xã Phước Chiến) và Suối Vang (xã Công Hải).
Với những kết quả nêu trên, cho thấy chính sách giao rừng cho các hộ đồng bào Raglai đã mang lại hiệu quả tích cực trong công tác BVR của địa phương. Việc giao rừng không những nâng cao nhận thức của bà con trong BVR, tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân trang trải cuộc sống, mà còn giúp các đơn vị chủ rừng giải quyết được những khó khăn trong việc quản lý, BVR. (Báo Ninh Thuận 3/9)đầu trang(
;
Chính sách giao đất, giao rừng (GĐGR) cho đồng bào dân tộc thiểu số đã được triển khai thực hiện trên địa bàn Quảng Nam từ 10 năm trước, tạo ra bước chuyển căn bản trong quản trị rừng, xác lập chủ rừng ở nhiều khu vực. Tuy nhiên, thực tế đang bộc lộ không ít vướng mắc, bất cập và khó vận dụng ở một số địa phương vùng cao.
Trong khi đồng bào dân tộc thiểu số thiếu tư liệu sản xuất, chờ giao khoán bảo vệ rừng để hưởng lợi, thì nhiều diện tích đất rừng hiện nay do chính quyền xã quản lý chưa mang lại hiệu quả.
Xã Phước Đức (Phước Sơn) mang danh là xứ sở vàng và dồi dào nguồn lực đất rừng, song đồng bào dân tộc thiểu số ở đây vẫn “lận đận” với hành trình giảm nghèo. Trong số 576 hộ trên địa bàn xã, có hơn một nửa là hộ nghèo và cận nghèo. Chủ tịch UBND xã Phước Đức - Đinh Văn Đông bảo, đồng bào dân tộc thiểu số được nhận giao khoán bảo vệ rừng (BVR) là chính, thu nhập chủ yếu từ nguồn hỗ trợ chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP năm 2010. Với gần 6.000ha đất rừng tự nhiên, nhưng chỉ dưới 2.000ha thuộc diện chi trả dịch vụ cho đồng bào nhận khoán BVR theo Nghị định 99. “Với định mức mỗi hộ nhận 200 nghìn đồng/ha/năm như hiện nay, bình quân mỗi năm hộ gia đình chỉ nhận trên dưới 3 triệu đồng là quá thấp. Nhưng không phải hộ nào cũng thuộc diện được giao khoán BVR” - ông Đông nói.
Theo UBND xã Phước Đức, từ năm 2006 đến nay xã không thực hiện chính sách GĐGR cho cộng đồng dân cư bởi khi tiến hành đo đạc lập bản đồ đất lâm nghiệp, hiện trạng đất do hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tính đến nay chỉ có hơn 434ha được giao cho 114 hộ đồng bào dân tộc thiểu số, nhưng mới cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp hơn 369ha. Phần lớn người dân thiếu đất sản xuất.
Ông Đông giải thích, nguyên nhân chính chậm giao đất là không có nguồn kinh phí hỗ trợ đo đạc miễn phí, làm thủ tục pháp lý cho đồng bào; trước đây xảy ra tranh chấp 2 xã Phước Đức - Phước Năng. Nghịch lý là người dân rất cần tư liệu để sản xuất trong khi UBND xã Phước Đức đang quản lý kém hiệu quả 1.346ha, nhiều năm chưa có phương án giao khoán BVR hoặc xác định phân loại đất để cấp đất cho dân.
UBND huyện Phước Sơn cho biết, đến nay diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng dân cư quản lý trên địa bàn là 2.655ha nhưng địa phương chưa thực hiện giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư. Hiện trạng đất hiện nay hộ gia đình, cá nhân sử dụng canh tác trồng keo, lúa... Chủ rừng lớn gồm UBND các xã, Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, Ban Quản lý rừng phòng hộ Đắc Mi quản lý, bảo vệ gần 40.000ha. Mặc dù các “ông chủ lớn” này được xác lập địa vị pháp lý rõ ràng nhưng quản không nổi, rừng bị xâm hại dai dẳng.
Ông Nguyễn Văn Tình - Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Đắc Mi thừa nhận việc giữ rừng rất khó khăn. Trong đó nổi lên tình trạng phá rừng làm nương rẫy, trồng cây nguyên liệu tái diễn ở các xã Phước Chánh, Phước Hòa. Theo số liệu của UBND huyện Phước Sơn, đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp giao cho 1.586 hộ với diện tích 2.942ha trên tổng diện tích 7.786ha (chiếm 38%). Trên địa bàn huyện, từ dự án trồng rừng 661, chương trình 30a, có hơn 16.388ha được giao cho 656 lượt hộ nhận khoán BVR. Tuy nhiên, các dự án giao rừng này chỉ hỗ trợ người dân tiền công nhận khoán bảo vệ, không giao quyền sử dụng đất...
Để cụ thể hóa thực hiện chính sách GĐGR, Chính phủ đã có Nghị quyết số 23/2006/NĐ-CP ngày 3.3.2006. Tuy vậy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh lý giải, trước đây GĐGR phần lớn giao trên giấy tờ, bản đồ mà lại bỏ qua khâu kiểm tra thực địa, dẫn đến giao chồng lấn về ranh giới, diện tích ngoài thực địa. Tại các xã vùng cao huyện Hiệp Đức có cả trăm trường hợp hộ đồng bào dân tộc sử dụng đất lâm nghiệp ổn định song chưa được công nhận bằng hồ sơ pháp lý.
Chủ tịch UBND huyện Hiệp Đức Nguyễn Như Công cho biết, tổng diện tích rừng đã giao cho cộng đồng dân cư thôn 6, xã Phước Trà (thôn duy nhất trên địa bàn huyện triển khai chính sách này) trong 10 năm qua (2006 - 2016) là 1.217ha; toàn huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số với diện tích hơn 2.847ha. Sau khi được giao đất lâm nghiệp, người dân trồng 2 loại cây chính là keo và cao su. Giám sát mới đây của Ban Pháp chế HĐND tỉnh cho thấy, có hàng nghìn trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Hiệp Đức đã ký sai lệch giữa hồ sơ với thực địa.
Tại 6 xã thuộc huyện Đông Giang, khi thực hiện dự án thành lập bản đồ địa chính theo tỷ lệ 1/10.000 đối với đất lâm nghiệp cho thấy, trong số 3.564 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì có đến 3.411 giấy sai thông tin không thể cấp cho dân (chiếm 95,7%); 58 giấy có diện tích chồng lấn với các dự án khác phải thu hồi, hủy bỏ; 95 giấy chồng lấn một phần diện tích với các dự án khác phải chỉnh lý biến động. Hai huyện Nam Giang và Hiệp Đức cấp 3.774 giấy cho dân cũng có nhiều trường hợp lệch giữa hồ sơ và thực địa. Nhiều năm qua, nguồn ngân sách tỉnh chỉ hỗ trợ làm thủ tục đo đạc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đồng bào dân tộc thiểu số khoảng hơn 1,2 tỷ đồng/năm.
Chủ tịch UBND huyện Phước Sơn Nguyễn Mạnh Hà cho rằng, không thể cấp đất cho người dân mà chưa hoàn tất các thủ tục kiểm kê rừng, xác định cột mốc 3 loại rừng, đo đạc ngoài thực địa. Mỗi năm ngân sách cấp trên hỗ trợ cho GĐGR chỉ vài trăm triệu đồng là quá thấp. “Nguyên nhân dẫn đến GĐGR kém hiệu quả, chậm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung quy là thiếu kinh phí” - ông Hà nói.
Làm việc với lãnh đạo tỉnh về tình hình thực hiện chính sách pháp luật về giao đất, giao rừng (GĐGR) cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2006 - 2016 vừa qua, Đoàn giám sát Hội đồng Dân tộc của Quốc hội thống nhất cao về giải pháp của tỉnh là lấy kinh tế rừng để bảo vệ rừng; điều chỉnh một số cơ chế chính sách của Trung ương không còn phù hợp; xây dựng chuỗi sản xuất lâm nghiệp...
GĐGR cho các tổ chức, cộng đồng, hộ gia đình sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp là bước chuyển căn bản trong quản lý, bảo vệ rừng (BVR), giúp rừng thực sự có chủ. Đoàn giám sát Hội đồng Dân tộc của Quốc hội đánh giá, chính sách giao khoán BVR tác động tích cực đến công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Đối với diện tích đất sản xuất được cấp quyền sử dụng đất, người dân mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất kinh tế gia đình, góp phần nâng cao độ che phủ rừng, giải quyết an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững. Rừng tự nhiên sau khi giao khoán được bảo vệ tốt hơn, hạn chế tình trạng phá rừng bừa bãi. Tuy nhiên, đồng bào dân tộc thiểu số chậm giảm nghèo do thiếu đất sản xuất. Các ban quản lý rừng sở hữu diện tích rừng rất lớn, cộng với 300 nghìn héc ta đất rừng do UBND các xã quản lý kém hiệu quả nhưng chưa bàn giao cho dân sản xuất, bảo vệ.
Bà Cao Thị Xuân - Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội đề nghị, UBND tỉnh cần chỉ đạo các huyện miền núi gấp rút triển khai phương án GĐGR cho xã quản lý để giao cho đồng bào thiếu đất sản xuất. “Tỉnh cần cân đối nguồn ngân sách, quan tâm đầu tư kinh phí đo đạc, lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số. Mặt khác, chính sách hỗ trợ theo đơn giá BVR 400 nghìn đồng/ha/năm cần thực hiện khẩn trương, không để người dân bị thiệt thòi. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số cần phải vận dụng vào thực tiễn, trong trường hợp không còn phù hợp nữa sẽ điều chỉnh, bổ sung” - bà Xuân lưu ý.
Đề cập biện pháp gỡ vướng mắc giữa chính sách với thực tế, ông Phan Thái Bình - Phó Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh kiến nghị, Trung ương ra cơ chế, chính sách GĐGR thì cũng nên tính toán phương án, nguồn kinh phí thực hiện. GĐGR sở dĩ chậm triển khai ở miền núi vì thiếu kinh phí. Còn Chi cục Kiểm lâm tỉnh kiến nghị giao đất phải gắn liền với cắm mốc thực địa. Sau khi GĐGR cần tiếp tục hỗ trợ người dân củng cố các quyền đã được xác lập. Xây dựng quy ước quản lý, BVR; tổ chức giám sát, kiểm tra và xử phạt nghiêm minh những trường hợp vi phạm. Đồng thời cần có những hỗ trợ từ bên ngoài cho người dân đầu tư vào rừng được giao, đặc biệt là cho những hộ thiếu vốn và nhân lực.
Ông Nguyễn Quảng - Phó Chủ tịch UBND huyện Phước Sơn nêu bất cập, hồ sơ vay vốn trồng rừng sản xuất theo Nghị định số 75 phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong khi phần lớn hộ đồng bào dân tộc thiểu số chưa có quyết định giao đất. “Cho nên cần điều chỉnh chính sách, đất được chính quyền địa phương xác nhận sử dụng ổn định, không tranh chấp thì được vay vốn” - ông Quảng kiến nghị.
Tại buổi làm việc với Đoàn giám sát của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội vừa qua, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh kiến nghị, phải điều chỉnh đưa thêm nhóm hộ gia đình vào đối tượng hưởng lợi vay vốn ưu đãi, bởi thực tế thời gian qua tỉnh chủ trương chỉ cho nhóm hộ gia đình nhận khoán BVR. “Xu hướng mới mà tỉnh sẽ tiếp cận trong tương lai là không nhất thiết cần nhiều kiểm lâm, mà sử dụng công nghệ cao để quản lý, để người dân tự do vào rừng mà rừng vẫn không bị phá. Mô hình lấy kinh tế rừng để bảo vệ rừng sẽ rất hiệu quả” - ông Thanh nêu giải pháp. Kinh tế rừng phải xây dựng được chuỗi sản xuất lâm nghiệp. Từ trồng keo hom chuyển sang keo cấy mô, keo Úc nhập khẩu, liên kết với các nhà máy tiêu thụ, chế biến gỗ. Tổ chức lại sản xuất bằng hình thức liên kết trồng rừng, đưa doanh nghiệp vào đầu tư quy mô lớn. Hiện nay, các nhà máy chế biến gỗ đã hình thành ở các cụm công nghiệp của huyện Phú Ninh, Hiệp Đức và Đại Lộc.
Với động thái nâng đơn giá khoán BVR trong thời gian đến, cộng với hướng giữ rừng bằng công nghệ cao mà tỉnh đang đề xuất, hy vọng miền núi sẽ có bước tiến nhảy vọt trên con đường bảo vệ và phát triển kinh tế rừng.
Vì thiếu nguồn lực đầu tư đồng bộ, chính sách giao đất, giao rừng (GĐGR) đã không đem lại hiệu quả tích cực. Miền núi chưa thể kích cầu phát triển kinh tế từ chủ trương đúng đắn này.
Giai đoạn 2004 - 2006, các huyện Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Hiệp Đức, Tiên Phước, Bắc Trà My và Nam Trà My đã triển khai GĐGR cho 249 cộng đồng dân cư thuộc 46 xã, với tổng diện tích 160.540ha. Tuy nhiên, do thiếu kinh phí, việc GĐGR thời điểm này bằng hình thức thủ công, không có mốc giới ngoài thực địa. Chính sự mơ hồ thông tin về trạng thái rừng đã “đốt cháy” quy trình, thủ tục hồ sơ lẫn khảo sát thực địa nên dẫn đến hệ lụy GĐGR trên giấy. Hồ sơ giao đất lâm nghiệp trống trải các dòng về trạng thái rừng giàu - nghèo. Một số nơi, công tác giao đất khoán rừng chưa xuất phát từ nhu cầu thật của cộng đồng thôn bản; liên tiếp xảy ra tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, phát rừng làm rẫy trên diện tích đất rừng đã giao cho cộng đồng quản lý. Nhiều xã xây dựng quy ước bảo vệ rừng (BVR), thành lập tổ BVR thôn, song còn mang tính hình thức. Chính vì vậy, ngày 1.1.2006, UBND tỉnh đã dừng việc giao đất lâm nghiệp cho cộng đồng để rà soát, đánh giá lại. Từ năm 2007 đến nay việc GĐGR có phần chậm lại.
Tại huyện Phước Sơn, dự án bảo vệ và quản lý tổng hợp các hệ sinh thái rừng (KFW 10) do Ngân hàng Tái thiết Đức tài trợ 7,2 tỷ đồng đã giao cho 3 cộng đồng dân cư tại 2 xã Phước Xuân và Phước Hiệp quản lý với tổng diện tích hơn 3.846ha. Theo đánh giá của Phòng NN&PTNT huyện Phước Sơn, dự án này thực hiện khá bài bản, cộng đồng dân cư được giao đất giao rừng, được hưởng quyền lợi cụ thể kèm theo trách nhiệm pháp lý rõ ràng. Tuy nhiên, nếu đầu tư nhân rộng dự án này ra các địa bàn khác thì ngân sách nhà nước bỏ ra sẽ cực kỳ lớn, trong khi địa phương còn eo hẹp nguồn lực.
Còn theo Sở NN&PTNT, từ dự án KFW 10, toàn tỉnh đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giao rừng tự nhiên sản xuất cho 9 cộng đồng dân cư thôn quản lý với diện tích gần 5.700ha. Dự án này thực hiện rất bài bản, người dân rất phấn khởi và hưởng lợi từ rừng. Tại huyện Tây Giang, có 70 thôn thuộc 10 xã đã lập hồ sơ thủ tục giao cho 56 cộng đồng làng với tổng diện tích hơn 41.923ha rừng để quản lý, bảo vệ. Trong khi đó, diện tích giao cho hộ gia đình chỉ gần 7.000ha (chiếm hơn 8,2% tổng diện tích đất lâm nghiệp của toàn huyện).
Theo đánh giá của chính quyền, với diện tích Nhà nước vừa tiến hành giao rừng và giao đất, đồng bào quản lý, sử dụng rất tốt; ngược lại khi chỉ giao rừng mà không giao đất thì vẫn chưa phát huy hiệu quả. Nhiều trường hợp không xác định được phạm vi ranh giới đất lâm nghiệp được giao trên thực địa nên phát sinh tranh chấp chủ sử dụng ở vùng ranh giới. Do giao đất chưa gắn với giao rừng, kèm theo các điều kiện cụ thể về cơ chế hưởng lợi nên hiệu quả sử dụng đất rừng thấp, đời sống người dân không mấy được cải thiện.
Nhận ra bất cập của chính sách GĐGR nên UBND tỉnh đã dừng lại từ năm 2007, để tách bạch rõ ràng giữa giao đất với giao rừng.
Bà Cao Thị Xuân - Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Trưởng đoàn giám sát về tình hình thực hiện chính sách pháp luật về GĐGR cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2006 - 2016 tại Quảng Nam đánh giá, chính sách của Trung ương có lẽ chưa đi vào cuộc sống. Các địa phương vùng núi ở huyện Phước Sơn và Hiệp Đức được giám sát có giao rừng nhưng không giao đất, ngược lại giao đất nhưng không giao rừng. Điều này không đúng với tinh thần của chủ trương GĐGR là tạo động lực thúc đẩy phát triển sản xuất lâm nghiệp, giảm áp lực phá, xâm hại rừng tự nhiên. Năm 2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 75 về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2020, về đơn giá hỗ trợ giao khoán BVR lên 400 nghìn đồng/ha/năm nhưng đến nay chưa có địa phương nào triển khai thực hiện.
“Chính sách ra đời nhưng đồng bào vẫn chưa được hưởng lợi. Hạn chế trong thực hiện chính sách là số diện tích rừng do UBND xã quản lý còn lớn, chưa triển khai giao lại cho người dân. Tình trạng giao đất chồng lấn, tranh chấp dẫn đến khiếu kiện còn xảy ra; một số hộ đồng bào dân tộc sau khi giao đất thì lại chuyển nhượng cho người khác, không có vốn đầu tư vào sản xuất nên hiệu quả thấp” - bà Xuân nhìn nhận. Trong khi đó, ông Nguyễn Đức Toàn - Trưởng phòng Tài nguyên môi trường huyện Phước Sơn khẳng định, số diện tích đất hiện do UBND xã quản lý thuộc rừng tự nhiên chỉ giao cho cộng đồng, nhóm hộ bảo vệ chứ luật định không cho phép cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo Sở Tài nguyên môi trường, văn bản hướng dẫn GĐGR mới chỉ tập trung quy định về trình tự thủ tục để lập hồ sơ GĐGR mà chưa đề cập rõ ràng về tạo quỹ đất để giao cho hộ và cộng đồng. Nhà nước nhiều lần rà soát để thu hồi đất của các tổ chức trả cho địa phương nhưng chưa có cơ chế chính sách giải quyết vướng mắc (cơ chế bồi thường, giải quyết tranh chấp...) trước khi đưa vào quỹ đất giao cho hộ gia đình và cộng đồng. Mâu thuẫn sinh ra từ đây, đất bỏ hoang, chưa sử dụng thì nhiều trong khi người dân lại thiếu đất. Nghị định số 75 về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2020 ra đời hơn 2 năm nhưng tính đến thời điểm này đồng bào vẫn chưa được hưởng lợi.
Theo giải thích của Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Lê Minh Hưng, địa phương sở dĩ chậm triển khai nghị định này vì ngân sách tỉnh không đủ kinh phí thực hiện. Đơn giá giao khoán BVR 400 nghìn đồng/ha/năm nếu áp dụng đồng bộ ở các huyện miền núi thì số tiền bỏ ra cực kỳ lớn, vượt ngoài tầm kiểm soát của tỉnh. Nghị định 75 của Chính phủ năm 2015 về chính sách vay vốn tín dụng có bất cập. Đối tượng cho vay là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, còn nhóm hộ gia đình không thuộc đối tượng ưu tiên vay vốn ưu đãi. Trong khi tỉnh chủ trương và phần lớn đã giao rừng cho nhóm hộ để bảo vệ tốt hơn. (Báo Quảng Nam 4/9)đầu trang(
Có khoảng 8.000 hộ gia đình trên địa bàn 6 huyện miền núi thiếu đất sản xuất. Trong khi đó, quỹ đất lâm nghiệp thì lại “dư” đến hơn 19.000ha...
Theo số liệu thống kê của UBND tỉnh, đến nay đã có 52.621 hộ gia đình dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh được giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp. Tuy nhiên, vẫn còn gần 8.300 hộ thiếu hoặc chưa có đất sản xuất, với diện tích có nhu cầu cần sử dụng là 4.916ha. Trong đó, hộ gia đình dân tộc thiểu số thiếu đất hoặc chưa có đất sản xuất chiếm hơn 70%.
Trong 6 huyện miền núi trên địa bàn tỉnh, huyện Sơn Hà có số hộ gia đình thiếu đất hoặc chưa có đất sản xuất đông nhất, với diện tích cần cấp là 1.415ha. Tiếp đến là các huyện Ba Tơ 1.300ha, Minh Long 1.000ha, Trà Bồng 600ha, Sơn Tây 431ha và Tây Trà 102ha.
Để bố trí quỹ đất cho các hộ thiếu hoặc chưa có đất sản xuất, Sở TN&MT đã làm các thủ tục thu hồi phần diện tích đất của các công ty lâm nghiệp sử dụng không hiệu quả, hoặc không sử dụng và chuyển đổi một số diện tích rừng phòng hộ ít xung yếu sang rừng sản xuất, nhằm bàn giao cho các UBND huyện lập phương án giao đất cho người dân. Tổng diện tích đất lâm nghiệp dành để lập phương án giao đất cho dân trên địa bàn 6 huyện miền núi là 19.533ha. Với định mức mỗi hộ gia đình là 6.000m2, thì con số 19.533ha này “dư sức” cân đối cho các hộ gia đình thiếu hoặc chưa có đất sản xuất của 6 huyện miền núi.
Sau khi làm các thủ tục thu hồi, chuyển đổi và đã có được quỹ đất lâm nghiệp với diện tích 19.533ha để cân đối, cấp cho các hộ thiếu hoặc chưa có đất sản xuất, Sở TN&MT đã phối hợp với Sở Tài chính và UBND các huyện tham mưu UBND tỉnh hỗ trợ kinh phí để các địa phương thực hiện công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính và lập phương án giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho dân. Dự kiến, công tác giao đất cho các hộ thiếu đất sẽ hoàn thành trong năm 2017. Song, trên thực tế, việc giao đất lâm nghiệp cho các hộ thiếu đất hoặc chưa có đất trên địa bàn miền núi lại gặp rất nhiều khó khăn.
Chủ tịch UBND xã Sơn Thành (Sơn Hà) Đinh Quang Tiêm, cho biết: Số hộ gia đình, cá nhân thiếu đất sản xuất trên địa bàn phát sinh trong những năm gần đây tăng nhanh từ việc tách hộ, dẫn đến tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất diễn ra phức tạp. Mặt khác, hiện nay diện tích rừng phòng hộ đã chuyển qua rừng sản xuất để cấp cho các hộ thiếu hoặc chưa có đất sản xuất, đã có tình trạng người dân tự ý canh tác, hoặc người dân địa phương khác đến xâm canh, nên rất khó thu hồi, xử lý và giao lại đất cho những hộ thiếu đất thực sự.
Phó Giám đốc Sở TN&MT Phí Quang Hiển cũng thừa nhận, quỹ đất trên chỉ là con số trên giấy tờ, còn thực tế, nhiều diện tích đang được người dân tự ý sử dụng, khai thác, nên trong thời gian đến, công tác triển khai, thu hồi sẽ phát sinh nhiều vướng mắc liên quan đến tài sản trên đất, khiến nhiều địa phương gặp khó. Ngoài ra, quỹ đất lâm nghiệp dự kiến sử dụng để cấp cho người dân thiếu hoặc chưa có đất sản xuất này lại phân tán, không tập trung. Nơi có hộ thiếu đất sản xuất thì lại không có quỹ đất, còn nơi có quỹ đất thì lại không có hộ thiếu đất. Đây cũng là một bất cập, rào cản trong thực tế triển khai giao đất, giao rừng. (Báo Quảng Ngãi 4/9)đầu trang(
HTX Kinh doanh dịch vụ nông nghiệp (KDDVNN) 1 Bình Trung (Bình Sơn), một trong những điểm sáng về phát triển kinh tế lâm nghiệp từ nhiều năm nay. Đặc biệt, HTX đã nâng cao chuỗi giá trị sản phẩm rừng thông qua việc liên kết chặt chẽ tất cả các khâu, từ sản xuất đến tiêu thụ, thành một quy trình khép kín, đem lại hiệu quả cao cho HTX và các hộ thành viên.
HTX KDDVNN 1 Bình Trung thành lập từ năm 1978, gồm 1.500 thành viên, với diện tích đất tự nhiên 804ha, trong đó có 60ha đất rừng trồng cây bạch đàn từ những năm 1990 trở về trước. Tuy đã qua nhiều kỳ thu hoạch, nhưng không tái đầu tư nên kém hiệu quả, chủ yếu là để lấy gỗ làm nhà, làm chuồng trại chăn nuôi, số còn lại bán với giá thấp. Vì vậy, bà con không dám đầu tư để phát huy tiềm năng thế mạnh của rừng.
Những năm gần đây, nhờ chủ trương khuyến khích trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc và chương trình khuyến lâm của tỉnh khuyến khích chuyển đổi cây bạch đàn sang trồng cây keo lai lấy gỗ làm nguyên liệu giấy, tạo thời cơ thuận lợi để HTX Bình Trung phát triển kinh tế rừng.Đặc biệt là từ năm 2002 đến nay, được sự hỗ trợ của Liên minh HTX tỉnh, HTX KDDVNN 1 Bình Trung đã xây dựng được chuỗi giá trị sản phẩm rừng từ đầu vào cho đến đầu ra khép kín. Qua đó, HTX đã tổ chức cho thành viên triển khai trồng 60ha rừng gắn với chuỗi giá trị sản phẩm rừng.
Bước đầu, HTX thuê cơ giới cải tạo đất, đào gốc bạch đàn, cây tạp, làm đường vận chuyển, đường ranh giới chống cháy rừng; bố trí phân lô theo địa hình thuận lợi với diện tích mỗi lô rộng từ 1-1,5ha. Sau đó tổ chức đấu thầu, giao khoán cho từng hộ thành viên theo phương án do HTX xây dựng. Phần HTX, chịu trách nhiệm giao đất lâm nghiệp đã cải tạo cho các hộ thành viên trúng thầu và cung cấp cây giống, hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc, bảo vệ, phòng chống cháy rừng. Đến khi thu hoạch, HTX hưởng 52%, còn thành viên trồng và chăm sóc rừng được hưởng 42% giá trị tổng sản phẩm. Riêng cây trồng xen năm đầu hộ thành viên nhận thầu hưởng 100%.
HTX đã thành lập Tổ bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng gồm 10 người ở khu dân cư gần rừng và trích kinh phí mua 10 bình chống cháy cấp cho tổ bảo vệ. Đến kỳ khai thác, HTX họp các hộ thành viên nhận khoán trồng rừng lên phương án khai thác gỗ; cử đại diện hộ trồng rừng cùng HTX đến nhà máy khảo sát giá và cùng ký hợp đồng, xong về tổ chức đốn chặt.
Đối với việc quản lý khai thác, HTX tổ chức chặt chẽ từ khâu đốn chặt đến khâu bốc xếp vận chuyển tới nhà máy. Nhà máy thanh toán tiền qua chuyển khoản, HTX nhận và thanh toán lại cho hộ trồng rừng theo tỷ lệ được hưởng.
Kết quả, năm 2008 HTX đã khai thác 30ha, đạt sản lượng 2.300 tấn gỗ, bán cho nhà máy doanh thu 2,4 tỷ đồng. Sau khi trừ chi phí còn lại 2,05 tỷ đồng. HTX hưởng 1,1 tỷ đồng, hộ trồng rừng hưởng 922 triệu đồng. Năm 2013, HTX khai thác 30ha, đạt sản lượng 3.700 tấn gỗ, doanh thu 3,7 tỷ đồng, trừ chi phí HTX hưởng 1,7 tỷ đồng, hộ trồng rừng hưởng 1,4 tỷ đồng.
Các cây trồng xen với cây keo lai năm đầu như mì, dưa hấu, đậu phụng, mỗi hécta thu khoảng từ 10 - 20 triệu đồng, hộ trồng rừng được hưởng 100%. Dự kiến, sang năm 2018, đến kỳ khai thác rừng của HTX, ước sản lượng gỗ đạt khoảng 3.000 tấn, HTX tổ chức thu hoạch gắn với chuỗi giá trị sản phẩm rừng và thực hiện tốt mô hình trồng 1ha rừng tỉa thưa để bán gỗ lớn.
Điều đáng nói là, qua việc phát triển và nâng cao giá trị từ kinh tế rừng gắn với chuỗi giá trị sản phẩm, HTX đã vận động các hộ thành viên tham gia trồng rừng bỏ dần tập quán của người dân trước đây thường trồng cây với mật độ dày, chu kỳ kinh doanh ngắn, hiệu quả chưa cao, đất mau thoái hóa bạc màu, sản lượng gỗ thấp... để chuyển sang trồng các giống keo lai Úc gieo bằng hạt, hoặc đưa giống nuôi cấy mô vào sản xuất; chuyển đổi dần cơ cấu sản phẩm từ khai thác gỗ non sang khai thác gỗ lớn từ 7- 10 năm tuổi bán cho các nhà máy chế biến đồ gỗ và xuất khẩu, để nâng cao giá trị sản phẩm.
Theo kế hoạch, năm 2018, HTX KDDVNN Bình Trung 1 làm thí điểm 5ha và đến năm 2023 sẽ nâng tổng diện tích rừng trồng khai thác gỗ lớn lên tới 30ha, nhằm nâng cao hơn nữa chuỗi giá trị sản phẩm rừng. (Báo Quảng Ngãi 4/9)đầu trang(
Gia Lai là địa phương có khá nhiều diện tích rừng bị lấn chiếm. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến độ che phủ rừng tại địa phương này.
Mục tiêu thu hồi diện tích rừng bị lấn chiếm để chuyển đổi cây trồng phù hợp mục đích lâm nghiệp và trồng rừng đang là chủ trương được Gia Lai đẩy nhanh triển khai. Theo kế hoạch, đến năm 2020, Gia Lai sẽ thu hồi 30 nghìn ha phục vụ cho mục tiêu này. Trong đó, huyện Krông Pa là một trong những địa phương có khá nhiều diện tích rừng cần thu hồi.
Theo kế hoạch, huyện Krông Pa có trên 7 nghìn héc ta rừng bị lấn chiếm thuộc diện cần thu hồi để chuyển đổi vào mục đích trồng cây lâm nghiệp. Địa phương này cũng đang nỗ lực trong việc rà soát diện tích, vận động người dân đồng thuận thực hiện chủ trương qua từng giai đoạn cụ thể. Việc thu hồi đất lấn chiếm để trồng rừng nếu đem lại kết quả sẽ là tiền đề cho việc trả lại màu xanh cho rừng trên vùng đất này. (VTV 2/9)đầu trang(
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thời tiết có mưa nhiều nên thuận lợi cho việc trồng rừng, do vậy diện tích trồng rừng tăng so với cùng kỳ năm trước.
Diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 131.300 ha, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó trồng mới rừng sản xuất đạt 126.500 ha, tăng 5,1%. Diện tích rừng được chăm sóc cũng tăng và đạt 436.600 ha.
Hiện các địa phương miền Bắc đang ở giai đoạn trồng rừng chính vụ. Các tỉnh miền Bắc đã trồng được 116.779 ha rừng, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc có tiến độ trồng rừng nhanh nhất đạt 80.641 ha, tăng 2,1%; Đồng bằng sông Hồng trồng đạt 13.412 ha, Bắc Trung bộ trồng có giảm nhẹ đạt 22.726 ha. Những tỉnh có diện tích trồng rừng nhiều và tiến độ nhanh hơn so với cùng kỳ năm trước là Tuyên Quang, Nghệ An và Thái Nguyên.
Các tỉnh miền Nam tiếp tục triển khai công tác trồng rừng. Các địa phương trồng đạt 13.833 ha, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích trồng rừng được triển khai tập trung tại vùng Duyên hải Nam Trung bộ, đạt 8.650 ha, tăng 57%. Trong khi đó các vùng khác như Tây Nguyên, Đông Nam bộ, Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích trồng rừng đều giảm so với cùng kỳ năm trước. Một số tỉnh có diện tích trồng rừng tăng như: Quảng Ngãi, Gia Lai và Đồng Nai. Bên cạnh trồng rừng tập trung, các địa phương tiếp tục gieo ươm và chăm sóc cây giống, trồng cây phân tán, giao khoán bảo vệ và tiến hành chăm sóc diện tích rừng trồng các năm trước. Ngoài ra, các địa phương tiếp tục thực hiện giao khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh và chăm sóc rừng trồng các năm trước.
Về tình hình cháy và chặt phá rừng, trong tháng qua, do lượng mưa tương đối nhiều nên nguy cơ cháy rừng giảm, diện tích rừng bị cháy là 9,3 ha, giảm 93,5%. Từ đầu năm đến nay, diện tích rừng bị cháy là 455 ha, giảm 78,7%. Diện tích rừng bị chặt phá là 770 ha, giảm 9,6%. (Bnews 2/9)đầu trang(
Ngày 1/9, tại thành phố Đà Lạt, Bộ NN&PTNT phối hợp với UBND tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị góp ý Dự thảo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) với sự chủ trì của Thứ trưởng Thường trực Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn và Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Phạm S.
Tham dự hội nghị có hơn 200 đại biểu là lãnh đạo Tổng cục Lâm nghiệp, Cục Kiểm lâm, đại diện lãnh đạo Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm lâm, Công ty Lâm nghiệp, Ban quản lý rừng... các tỉnh, thành phố phía Nam.
Sau báo cáo của Phó Tổng cục trưởng Lâm nghiệp Nguyễn Bá Ngãi về Tổng quan Dự thảo Luật này, 14 đại biểu với hàng chục nội dung rất sát với thực tiễn đã được đặt ra tại Hội nghị để cùng thảo luận. Luật BV&PTR (sửa đổi) được phân tích, góp ý lần này là bản dự thảo thứ 6 được Văn phòng Quốc hội gửi tới 63 Đoàn đại biểu Quốc hội vào ngày 22/8/2017. Dự thảo Luật có 12 chương với 111 điều, so với Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 nhiều hơn 23 điều, tăng 4 chương.
Kết luận Hội nghị, Thứ trưởng Thường trực Hà Công Tuấn đánh giá cao tinh thần tham gia tập trung cao về trí tuệ, nhiệt tình và có chất lượng của các đại biểu. Ông cũng tiếp tục trao đổi, phân tích mở rộng để làm rõ hơn một số khái niệm thể hiện tại Dự thảo Luật; đồng thời lý giải một số ý kiến được các đại biểu nêu ra. Thứ trưởng cũng đề nghị các đại biểu tiếp tục gửi những ý kiến đóng góp đối với Dự thảo Luật BV&PTR (sửa đổi) đến Tổng cục Lâm nghiệp trước ngày 15/9 để tổng hợp thành văn bản góp ý chính thức và chuyển đến cơ quan chức năng trình Quốc hội vào cuối tháng 9 tới. (Báo Lâm Đồng 1/9)đầu trang(
Sáng 31/8, Đoàn ĐBQH khóa XIV tỉnh tổ chức hội nghị lấy ý kiến tham gia Dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi). Đồng chí Trần Văn Tiến, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH khóa XIV tỉnh chủ trì hội nghị.
Dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) có 12 chương và 111 điều, tăng 4 chương, 23 điều so với Luật năm 2004.
Cho ý kiến vào Dự án Luật này, các đại biểu cơ bản nhất trí với tính cần thiết của việc ban hành Luật và thống nhất tên gọi là Luật Lâm nghiệp thay cho Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Đồng thời, đề nghị Quốc hội xem xét, làm rõ hơn các khái niệm, thuật ngữ: “rừng", “lâm nghiệp”, “rừng tín ngưỡng”, “quyền sở hữu rừng”, “rừng đặc dụng”; cách phân loại rừng; các hành vi nghiêm cấm đối với hoạt động lâm nghiệp; chính sách phát triển rừng; sự đồng bộ giữa các luật với nhau, nhất là Luật Đất đai.
Một số đại biểu đề nghị cần quan tâm xây dựng kế hoạch phát triển, sử dụng lâm nghiệp theo đúng lộ trình của quy hoạch rừng; quyền và nghĩa vụ của chủ rừng; trách nhiệm quản lý Nhà nước và quản lý chuyên ngành về lâm nghiệp ở địa phương. Ngoài ra, các đại biểu đề xuất thêm một số nội dung như bổ sung thêm 1 chương về Thanh tra, giám sát chuyên ngành...
Kết luận hội nghị, đồng chí Trần Văn Tiến đánh giá cao và tiếp thu những ý kiến đóng góp của các đại biểu tại hội nghị. Đoàn ĐBQH tỉnh sẽ tổng hợp, nghiên cứu, xem xét và báo cáo với Quốc hội chuyển Ban soạn thảo nghiên cứu, chỉnh sửa, sớm thông qua tại kỳ họp tới. (Vinhphuc.gov.vn 31/8)đầu trang(
Hiện nay, trên địa bàn Quảng Ngãi xảy ra nhiều vụ việc tranh chấp đất lâm nghiệp giữa người dân với công ty lâm nghiệp.
Cuối năm 2016, ngay sau khi Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Ba Tơ tổ chức khai thác rừng tại xã Ba Vinh thì bị người dân tự ý chiếm đất, dẫn tới xung đột, gây mất an ninh, trật tự. Vụ việc chưa giải quyết dứt điểm thì trong tháng 7 và tháng 8 vừa qua, tại các xã Ba Động, Ba Thành của huyện Ba Tơ, hàng trăm người dân cũng tự ý chiếm đất do Công ty đang quản lý, dẫn đến xô xát, gây thương tích cho nhân viên của Công ty.
Theo Công ty Lâm nghiệp Ba Tơ, tổng diện tích đất người dân chiếm trái phép của Công ty để trồng rừng khoảng trên 30 ha. Nguyên nhân bắt nguồn việc chính quyền địa phương chưa xác định được ranh giới giữa đất đã giao cho người dân và đất của Công ty lâm nghiệp. Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi đã giao UBND huyện Ba Tơ phối hợp với các sở, ban ngành liên quan khẩn trương có biện pháp xử lý, tổ chức tuyên truyền, giáo dục và vận động nhân dân thực hiện đúng các quy định của pháp luật về đất đai, bảo vệ và phát triển rừng, xử lý nghiêm các cá nhân vi phạm, đảm bảo ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương. (VTV 1/9)đầu trang(
Trước sự cạnh tranh quyết liệt của các doanh nghiệp (DN) gỗ nước ngoài trên thị trường, lãnh đạo nhiều DN gỗ ở Bình Dương cho biết mong muốn được tiếp cận nhiều hơn nguồn vốn vay và có những cơ chế, chính sách mới, hiệu quả để bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định, lâu dài.
Bình Dương là địa phương tập trung nhiều khu công nghiệp và là trung tâm sản xuất đồ gỗ lớn của cả nước. Theo Hiệp hội Chế biến gỗ Bình Dương (BIFA), tính trong 6 tháng đầu năm nay các DN gỗ trên địa bàn tỉnh đã xuất khẩu đạt 1,919 tỷ USD.
Lãnh đạo nhiều DN gỗ cho biết, doanh số xuất khẩu gỗ của DN ở Bình Dương vẫn giữ vững đà tăng trưởng ổn định vì sản phẩm đã có uy tín trên thị trường. Bên cạnh đó, các DN sản xuất kinh doanh gỗ và sản phẩm thủ công mỹ nghệ trên địa bàn tỉnh đã chủ động nắm bắt thông tin, kiểm soát tốt nguồn nguyên liệu để phục vụ cho sản xuất. Hiện có không ít DN trên địa bàn tỉnh đã mở rộng thị trường xuất khẩu sang Trung Đông - nơi đang có nhu cầu cao lại không khắt khe về chất lượng, mẫu mã sản phẩm gỗ. Đặc biệt, một số DN đã có hợp đồng lớn với các đối tác Mỹ, Nhật, Hàn Quốc… đến năm 2018.
Nhu cầu sử dụng gỗ và sản phẩm gỗ của thị trường thế giới vào khoảng 240 tỷ USD/năm; trong đó riêng thị trường Hoa Kỳ khoảng 30 tỷ USD/năm, Liên minh châu Âu khoảng 85 tỷ USD/năm… Thực tế này đang đặt ra nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho ngành gỗ Việt Nam nói chung, tỉnh Bình Dương nói riêng.
Theo ông Trần Anh Vũ, Giám đốc Công ty TNHH Liên Thanh (TX.Bến Cát), triển vọng phát triển ngành gỗ của Bình Dương là rất lớn. Mặt hàng xuất khẩu chủ lực của các DN gỗ trên địa bàn tỉnh là nội thất. Hiện nay, các đối tác nước ngoài yêu cầu sản phẩm này phải đạt kỹ thuật cao, tinh xảo. Chính vì thế, các DN phải luôn nỗ lực tìm kiếm nguồn nguyên liệu, chú trọng đổi mới công nghệ, nghiên cứu kỹ về giá cả… để có thể cạnh tranh trên trường quốc tế.
Tuy đã đạt nhiều kết quả quan trọng nhưng các DN gỗ của Bình Dương vẫn đang lo về nguồn nguyên liệu và vốn, đặc biệt là những DN đã có hợp đồng đến năm 2018. Mặc dù ngành gỗ trong nước đã tạo được chỗ đứng nhất định trên thị trường song các DN đang gặp khó khăn khi đối mặt với vấn đề truy xuất nguồn gốc gỗ, việc sử dụng hóa chất trong sản xuất, tính bền vững và đặc biệt là việc tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ của các DN sản xuất tại Việt Nam.
Hiện nay, việc truy xuất nguồn gốc gỗ và trách nhiệm xã hội chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp còn nhiều phức tạp, kể cả nguyên liệu gỗ trồng như cao su, tràm… Các chuyên gia cho rằng, để kim ngạch xuất khẩu gỗ của cả nước đạt 10 tỷ USD vào năm 2020 thì nguồn cung gỗ nguyên liệu sẽ cần thêm 4 - 5 triệu m3/năm. Trong những năm tới, các nước nhập khẩu gỗ sẽ yêu cầu phải có 100% gỗ có chứng chỉ tiêu chuẩn rừng và gỗ hợp pháp, song ở Việt Nam mới chỉ có khoảng 200.000 ha gỗ rừng trồng đã được cấp chứng chỉ FSC (Hội đồng quản lý rừng), chỉ chiếm 8% diện tích rừng trồng sản xuất của cả nước. Thêm vào đó, gỗ từ rừng trồng của Việt Nam có chất lượng không đồng đều, chủ yếu là gỗ có đường kính nhỏ; sản lượng gỗ cũng hạn chế, không đủ đáp ứng nhu cầu gỗ phục vụ sản xuất trong nước và xuất khẩu.
Thêm vào đó, giá nguyên liệu gỗ nhập khẩu đang tăng cũng gây khó khăn cho DN. Hiện nay, giá gỗ nhập khẩu tăng 20% so với năm trước. Nguyên nhân là do chính sách đóng cửa rừng của một số quốc gia láng giềng, khiến các DN xuất khẩu đồ gỗ lớn của các nước tìm kiếm thị trường khác để thu mua, từ đó gây áp lực cạnh tranh rất lớn cho các DN gỗ của Việt Nam.
Tại hội thảo “Chia sẻ kinh nghiệm nâng cao năng suất toàn diện trong ngành chế biến gỗ” trong khuôn khổ Hội chợ máy móc và gỗ nguyên liệu Việt Nam 2017 (Vifa Woodmac Vietnam 2017) được tổ chức tại Bình Dương vừa qua, các DN đã đề cập nhiều đến việc ngành gỗ của Việt Nam đang đối mặt với sự cạnh tranh quyết liệt của các DN nước ngoài. Nguyên nhân là do các DN muốn lấy giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) của Việt Nam, tiếp cận nguồn gỗ nguyên liệu… Các DN này mang hàng hóa của họ sang nước ta gần như đã là thành phẩm, phần việc còn lại tại Việt Nam chỉ là lắp ráp và phủ sơn. Một số DN nước ngoài còn áp dụng biện pháp tạm nhập hàng hóa ở Việt Nam và tái xuất để lấy xuất xứ Việt Nam nhằm xuất khẩu đi nước khác, trong đó có Mỹ. Điều này ảnh hưởng không tốt đến DN chế biến gỗ trong nước.
Ông Lương Ngọc Kim, Giám đốc Công ty Kim Thành A (TX.Thuận An) cho rằng, hiện nay số DN gỗ của Bình Dương đạt quy mô lớn vẫn còn ít. Để ngành chế biến gỗ xuất khẩu tỉnh nhà phát triển bền vững, các DN gỗ cần phải lớn mạnh, tăng cường đổi mới công nghệ và có sự liên kết chặt chẽ với nhau. Ngành chế biến gỗcủa Bình Dương được khách hàng nước ngoài đánh giácao, song vấn đề mà các DN gỗ đang gặp phải nhiều nhất là vốn. Ông mong muốn các ngành chức năng tiếp tục tạo điều kiện cho DN tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để đẩy mạnh sản xuất, đầu tư công nghệ, mở rộng nhà xưởng… để đứng vững trên thị trường. (Báo Bình Dương 1/9)đầu trang(
Thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), những năm qua đã tạo động lực để bà con xã Sùng Phài (huyện Tam Đường) thêm gắn bó với rừng. Nhờ rừng, bà con đã nhân rộng các mô hình phát triển kinh tế VACR, hạn chế các vụ cháy rừng, khai thác lâm sản trái phép.
Làng Giảng nhiều năm liền được công nhận là bản có thành tích bảo vệ rừng tốt nhất xã. Bản có 25 hộ, 100% đồng bào dân tộc Mông sinh sống. Ông Thảo A Kỷ - Trưởng bản Làng Giảng, người có thâm niên 9 năm làm trưởng bản chia sẻ: So với 10 năm trước nhận thức của người dân đã thay đổi nhiều, đặc biệt trong công tác bảo vệ rừng. Trước đây, do cuộc sống còn khó khăn đa số bà con tự ý vào rừng chặt cây lấy gỗ, lấy củi, phá rừng làm nương nên cánh rừng của bản ngày càng kiệt quệ. Ngày đó, chính quyền tuyên truyền nhiều nhưng không có sự chuyển biến, vì bà con nghĩ rừng là của chung không phải của riêng nên không cần bảo vệ. Giữa lúc khó khăn đó, năm 2011 xã tiến hành chi trả tiền DVMTR đã tạo động lực để Nhân dân gắn bó với rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng tốt hơn.
Dẫn chúng tôi đi thăm cánh rừng do bản bảo vệ quản lý, nhìn những cánh rừng bạt ngàn màu xanh, ở các đường mòn dẫn lên các khu rừng bà con đều tự làm biển báo, biển cấm xâm hại rừng, thực bì được phát dọn gọn gàng là minh chứng khẳng định bà con trong bản đã biết bảo vệ rừng, gắn bó với rừng. Được biết, bản thành lập tổ chuyên trách bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng thường xuyên tuần tra, canh gác nhất là vào mùa khô. Quản lý chặt chẽ việc phát nương và đốt nương của bà con, khi đốt nương phải thông báo với trưởng bản, canh gác đến khi lửa tắt mới được về, tránh tình trạng lửa cháy lan vào rừng. Nhờ đó, nhiều năm trở lại đây bản không xảy ra tình trạng cháy rừng. Năm 2016, toàn bản có 34,26ha rừng được thanh toán tiền chi trả DVMTR với tổng số tiền 16 triệu đồng.
Tìm hiểu chúng tôi được biết, xã Sùng Phài có 8 bản với 395 hộ. Địa bàn chủ yếu rừng núi cao, độ dốc lớn, giao thông đi lại khó khăn. Một số hộ còn thờ ơ trong việc phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) và bảo vệ rừng dẫn đến tình trạng phát nương trái phép, sử dụng lửa và đốt lửa trong, ven rừng không đảm bảo các quy định an toàn về PCCCR. Mùa khô năm 2015 - 2016 trên địa bàn xã xảy ra 1 vụ cháy thảm cỏ tại bản Cư Nhà La. Để nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương, nhận thức, chấp hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng của Nhân dân, xã phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện thường xuyên lồng ghép các buổi tuyên truyền vào những ngày họp bản để vận động, nhắc nhở bà con thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý rừng, bảo vệ rừng. Tổ chức cho 8 bản ký cam kết bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng.
Đồng thời, mỗi bản thành lập 1 tổ chuyên trách bảo vệ rừng. Nhiệm vụ của các tổ là tuyên truyền, thường xuyên tuần tra, canh gác lửa rừng, giáo dục Nhân dân chấp hành tốt Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tham gia huy động, chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra. Nếu hộ nào không tham gia tuần tra rừng, canh gác, chữa cháy rừng hoặc vi phạm hương ước, quy ước bảo vệ rừng của bản lần đầu tiên phạt 100 nghìn đồng đến lần thứ 3 mà vẫn vi phạm sẽ không được tham gia tổ chuyên trách bảo vệ rừng và không được bản chi trả tiền DVMTR.
Trao đổi với chúng tôi, anh Phàng A Sang - Phó Chủ tịch UBND xã Sùng Phài cho biết: “Từ khi triển khai chính sách chi trả DVMTR đã gắn được trách nhiệm của từng người dân đối với công tác bảo vệ, phát triển vốn rừng. Nếu bản nào chăm sóc, giữ rừng tốt thì được nhận tiền chi trả DVMTR, các chính sách hỗ trợ về lương thực, khai thác nguồn lợi từ rừng. Năm 2016 tổng diện tích rừng của xã được nghiệm thu thanh toán tiền DVMTR 503,33ha, trong đó rừng phòng hộ 383,72ha, rừng sản xuất 119,61ha với tổng số tiền 239 triệu đồng. Giờ đây, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép giảm đáng kể”.
Hiểu được lợi ích từ rừng mang lại, năm nay bà con ở các bản: Sùng Phài, Suối Thầu, Căn Câu, Sin Chải trồng mới 8,5ha rừng, chủ yếu trồng loại cây gỗ lớn như: lát hoa, cây thông, sơn tra. Trong quá trình triển khai trồng rừng, bà con luôn tuân thủ kỹ thuật từ khâu đào hố, trồng, chăm sóc mà cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện hướng dẫn, đảm bảo tỷ lệ cây sống cao.
Việc triển khai thực hiện chi trả DVMTR đã góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải thiện môi trường sinh thái và mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân xã Sùng Phài. (Báo Lai Châu 31/8)đầu trang(
Từ năm 2013 đến nay, tỉnh đã phê duyệt 2.592,41 ha rừng nghèo kiệt để chuyển sang trồng lại rừng và cao su. Trong đó, cải tạo để trồng lại rừng 1.835,53 ha, chuyển sang trồng cao su 756,88 ha.
Qua 4 năm thực hiện, các chủ rừng Nhà nước và hộ gia đình, cá nhân được giao rừng đã cải tạo, trồng lại được 1.835,53 ha rừng, hoàn thành 100% diện tích được phê duyệt. Đồng thời, trồng mới được 600,8 ha cao su, còn lại 156,08 ha các chủ rừng Nhà nước và hộ gia đình, cá nhân không trồng cao su mà trồng rừng kinh tế. Trong quá trình triển khai cải tạo rừng nghèo kiệt sang trồng rừng kinh tế có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao và cây cao su được các địa phương, đơn vị thực hiện đúng theo quy định.
Bên cạnh đó, các chủ rừng được phép cải tạo rừng đã thực hiện đầu tư trồng lại rừng theo hướng thâm canh, có chăm sóc, bón phân. Vì vậy, sau 4 năm diện tích rừng và cao su được trồng sinh trưởng nhanh. Riêng diện tích rừng trồng lại phần lớn cây lấy gỗ có đường kính từ 10 đến 12 cm, chiều cao khoảng 8 m, trữ lượng gỗ khoảng 45m3/ha. Thông qua việc cải tạo rừng nghèo kiệt đã góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thay đổi phương thức trồng rừng theo hướng bền vững nâng cao giá trị kinh tế. (Báo Thanh Hóa 31/8)đầu trang(
Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh, trong những năm qua, các chủ rừng, các sở, ngành, các cấp chính quyền địa phương trong tỉnh có nhiều nỗ lực trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên, để nâng cao độ che phủ rừng, đòi hỏi phải có những giải pháp căn cơ hơn.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, ngay sau khi HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết 09/2013/NQ-HĐND ngày 4/7/2013 về thông qua Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020, Sở tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 34/2013/QĐ-UBND ngày 16/8/2013 về việc phê duyệt Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020; Quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh; xây dựng Đề án cho giai đoạn 2016 – 2020 và sắp xếp đổi mới các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh... Việc bảo vệ và phát triển rừng tiếp tục được củng cố và tăng cường một bước.
Theo số liệu thống kê về kết quả thực hiện Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng, tính đến hết năm 2016 cho thấy, toàn tỉnh khoán bảo vệ trên 898.000 lượt héc ta rừng; khoanh nuôi phục hồi 12.869ha rừng; trồng và chăm sóc 7.972,9ha rừng…
Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, việc trồng rừng sản xuất đạt thấp (chỉ đạt 20,4% kế hoạch tỉnh giao); một số địa phương vẫn còn để xảy ra mất rừng; độ che phủ rừng trên địa bàn tỉnh không tăng so với thời điểm lập quy hoạch mà có xu hướng giảm. Tốc độ phát triển rừng còn chậm, chưa tương xứng tiềm năng đất đai hiện có. Việc tăng trưởng của ngành lâm nghiệp thấp, chưa phát huy hết tiềm năng và lợi thế của tỉnh. Ngành lâm nghiệp cũng chưa tạo ra được nhiều việc làm, đa số người dân, nhất là người đồng bào dân tộc thiểu số chưa thể sống được bằng nghề rừng.
Việc không đạt kế hoạch và mục tiêu trên có nhiều nguyên nhân. Về nguyên nhân khách quan do nhận thức của một bộ phận dân cư vùng nông thôn còn hạn chế; diện tích rừng lớn, sức ép dân số lên đất rừng và lâm sản ngày càng gia tăng, nhất là đối với khu vực vùng sâu, vùng xa. Hơn nữa, thị trường đầu ra của sản phẩm rừng trồng không có tiềm năng nên người dân không phát triển trồng rừng sản xuất.
Về nguyên nhân chủ quan, do khó khăn về tài chính Công ty CP tập đoàn Tân Mai không trồng rừng nguyên liệu giấy theo mục tiêu đề ra; một bộ phận diện tích rừng nghèo được chuyển đổi sang trồng cao su; diện tích đất có rừng khi xây dựng quy hoạch mang tính kế thừa chưa chính xác. Bên cạnh đó, nguồn vốn phát triển lâm nghiệp chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, nguồn lực của khu vực ngoài quốc doanh còn nhiều tiềm năng nhưng chưa được phát huy…
Trước yêu cầu đặt ra, để nâng cao hơn nữa độ che phủ rừng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh đề nghị triển khai các giải pháp có tính căn cơ như: HĐND tỉnh xem xét điều chỉnh cơ cấu sử dụng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng theo hướng khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình, cộng đồng ở những nơi cần thiết và có nguy cơ xâm hại cao; số tiền còn lại ưu tiên cho việc hỗ trợ trồng rừng và giám sát quá trình thực hiện quy hoạch.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh cũng đề nghị UBND tỉnh đánh giá lại hiệu quả Dự án quy hoạch vùng nguyên liệu phục vụ nhà máy bột giấy và giấy Tân Mai - Kon Tum của Công ty CP tập đoàn Tân Mai, trường hợp không hiệu quả thì thu hồi giấy phép đầu tư để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khác tham gia phát triển rừng sản xuất. (Báo Kon Tum 1/9)đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Chỉ cần nước biển ở khu vực Nam Cực tăng lên 1 đến 2 độ C thì sự đa dạng sinh học của vùng biển này sẽ bị suy giảm nghiêm trọng, theo một nghiên cứu được công bố ngày 1.9.
Các nhà khoa học từ chương trình Khám phá Nam cực của Anh và Trung tâm Nghiên cứu Môi trường Smithsonian đã thực hiện thử nghiệm bằng cách đặt các tấm sưởi ở đáy biển trong khu vực Nam Cực để đo lường mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu với các loài sinh vật biển địa phương.
Dù chỉ làm ấm nước trên bề mặt nhưng sự gia tăng nhiệt độ này đã gây ra "những tác động to lớn với đa dạng sinh học", các nhà khoa học thực hiện nghiên cứu kết luận.
Nhà sinh vật học biển Jonny Stark nói với Tân Hoa Xã rằng kết quả nghiên cứu "rất đáng ngạc nhiên". Trong quá trình quan sát kéo dài tới 9 tháng, nghiên cứu này cho thấy sự tác động của biến đổi khí hậu có thể lớn như thế nào đối với một số vùng biển trên thế giới.
Ví dụ, tại Úc nhiệt độ nước biển thường xuyên thay đổi từ 10 đến 20 độ C trong một năm khiến các sinh vật ở đây thích nghi tốt với sự thay đổi nhiệt độ. Nhưng tại Nam Cực nhiệt độ của nước biển ở đây gần như không thay đổi.
"Đó chắc chắn là một mối quan tâm, tôi không nghĩ rằng có ai muốn chỉ cần thay đổi vài độ là môi trường lại thay đổi mạnh như thế", ông Stark cho biết.
Nghiên cứu cũng cho thấy số loài sinh vật sẽ biến mất vì thay đổi môi trường sống, nhưng một số loài đặc biệt lại phát triển, sinh sôi mãnh liệt. Hai loại sâu biển có tên khoa học là Romanchella perrieri và Fenestrulina rugula đã gia tăng số lượng cá thể lên tới 70% trong khu vực các nhà khoa học thực hiện nghiên cứu. (Một Thế Giới 4/9) đầu trang(
Thống đốc California (Mỹ) Jerry Brown hôm qua phải ban bố tình trạng khẩn cấp khi bang này hứng chịu đợt cháy rừng thuộc hàng lớn nhất trong lịch sử, bùng phát từ cuối tháng 8.
Đến nay, theo Reuters, đã có ít nhất 4 người bị thương, hàng ngàn người phải sơ tán trong khi hơn 30 ngôi nhà cùng 4.000 ha rừng bị thiêu rụi tại hẻm núi La Tuna thuộc thành phố Los Angeles và hạt Butte.
“Mọi thứ đều bị thiêu rụi. Tôi chưa bao giờ thấy vụ cháy nào như vậy”, bà Tracy Goldman, một cư dân ở thành phố Burbank, bàng hoàng kể.
Trước đó, giới hữu trách đã phải cho sơ tán khẩn cấp hơn 1.200 hộ gia đình tại hạt Butte, Los Angeles cũng như các thành phố lân cận là Burbank và Glendale.
California đang hứng chịu đợt nắng nóng dữ dội, có lúc nhiệt độ lên tới 380C, với những cơn gió mạnh góp phần khiến đám cháy lan rộng và gây thêm thách thức cho công tác chữa cháy. Đến ngày 4.9, trời mưa và nhiệt độ phần nào hạ thấp giúp lửa dịu lại nên lực lượng cứu hỏa đã khống chế được 64% đám cháy tại hạt Butte. “Chúng ta đã vượt qua giai đoạn nguy hiểm nhất, song với gió mạnh và nhiệt độ bất thường thì điều gì cũng có thể xảy ra”, Thị trưởng Eric Garcetti của Los Angeles cảnh báo.
Ngoài California, các đám cháy rừng cũng bùng phát ở nhiều khu vực khác thuộc miền tây nước Mỹ. Tình trạng khẩn cấp đã được ban bố ở các bang Montana và Washington, với hàng ngàn cư dân ở những nơi này buộc phải sơ tán. (Thanh Niên 5/9)đầu trang(
Rừng Amazon - lá phổi xanh của thế giới đang bị tàn phá nghiêm trọng. Băng chứng là diện tích rừng Amazon bị tàn phá trong năm 2016 đã tăng 29% so với năm 2015.
Rất nhiều nguy cơ đang đặt ra đối với Thế giới khi rừng Amazon bị tàn phá, từ vấn đề đa dạng sinh học cho tới nguy cơ biến đổi khí hậu.
Đốt rừng làm đất nông nghiệp là cảnh tượng đã trở nên phổ biến ở phần rừng Amazon tại Brazil. Trong hàng chục năm qua, người dân sống gần Amazon đã phá rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất rừng sang đất canh tác để sản xuất nông nghiệp, khai hoang những vùng đất mới. 8.000km2 diện tích rừng Amazon bị tàn phá trong năm 2016.
Rừng nhiệt đới Amazon được coi là một trong những nơi quan trọng nhất bảo vệ thế giới tự nhiên, chống lại sự nóng lên toàn cầu vì khả năng hấp thụ một lượng lớn khí CO2. Khoảng 75% lượng khí thải của Brazil - quốc gia xả thải lớn thứ 6 thế giới được Amazon hấp thụ.
Cùng với vấn đề môi trường, các nhà môi trường e ngại về sự mất đi tính đa dạng sinh học từ việc phá hủy rừng bởi Amazon là khu dự trữ sinh quyển lớn nhất thế giới. Nếu rừng Amazon biến mất, kéo theo sự diệt chủng của rất nhiều loài động, thực vật. Điều này sẽ làm thế giới mất đi nguồn gen quan trọng, tác động mạnh mẽ đến chuỗi thức ăn, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực thế giới.
Các nhà khoa học cảnh báo nhiều vùng rừng Amazon đang đối diện với nguy cơ bị tàn phá nặng nề hoặc có thể biến mất vào năm 2030 do biến đổi khí hậu và nạn phá rừng. (VTV 3/9)đầu trang(./.
|
|||