Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 06 tháng 12 năm 2012
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Nổi danh với bộ phim Love story, nhưng rất nhiều người Việt Nam không biết đến tên tuổi của nữ diễn viên Ali MacGraw.
Ý niệm của sự xa lạ về bà đã được xóa bỏ bằng những đóng góp mới của ngôi sao này trong việc kêu gọi bảo vệ gấu ở Việt Nam.
Đáp máy bay đến Hà Nội vào ngày 2/12, diễn viên nổi tiếng một thời không chọn cho mình cách hưởng thụ như những ngôi sao khác: ở khách sạn 5 sao, du ngoại phố phường trước khi bắt tay vào công việc…Bà Ali MacGraw đã có một ngày trải nghiệm tại Trung tâm cứu hộ gấu Tam Đảo (Vĩnh Phúc) trước khi đón tiếp đoàn phóng viên lên “mục sở thị” công việc của bà.
Diễn viên của những năm 1970 đã qua thời kỳ đỉnh cao và chọn cho mình một công việc mang tính thiết thực, đó là đi khắp nơi trên thế giới để kêu gọi bảo vệ loài gấu đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Chuyến thăm Việt Nam lần này của bà Ali MacGraw nhằm bảo vệ 104 con gấu được Cục Kiểm lâm bắt giữ và đưa về Vườn quốc gia Tam Đảo cho các chuyên gia của Trung tâm chăm sóc, nuôi dưỡng.
Khi giới truyền thông có mặt ở Trung tâm thì từ sáng, bà Ali MacGraw đã được các nhân viên ở đây dẫn đi xem các trang trại gấu. Bà ăn vận đơn giản, gương mặt không còn nhiều dấu ấn của tốp “50 phụ nữ đẹp nhất thế giới” do Tạp chí People bầu chọn. Gương mặt không trang điểm, để đầu trần dưới trời mưa, dù đã được các nhân viên chu đáo chuẩn bị ô che.
Trong dòng tự sự với phóng viên, bà Ali MacGraw cho biết, bà biết đến tổ chức này nhân một lần nói chuyện với bà Jill Robinson- Sáng lập viên kiêm Tổng giám đốc của Tổ chức Động vật châu Á (AAF), người từng được Giải thưởng Carole Noon Award của Hiệp hội Toàn cầu các khu Bảo tồn Động vật (GFAS) dành cho cá nhân và tổ chức có công trong lĩnh vực chăm sóc động vật. Cuộc nói chuyện sau đó trở thành cơ duyên đưa bà Ali MacGraw gắn bó với thân phận của những con gấu bị tước đoạt cuộc sống hoang dã. Bà Ali MacGraw cực kỳ ấn tượng với loài gấu ngựa vốn chỉ có ở Việt Nam (hiện chỉ có 7 con đang được bảo vệ) cũng như cách chúng được các chuyên gia chăm sóc và bảo vệ.
Bà Ali MacGraw chia sẻ lý do bà nhường sự nghỉ ngơi để bảo vệ loài gấu: “Tôi được bố mẹ dạy từ bé rằng, là con người phải bảo vệ mọi thứ trong thế giới này để sống hài hòa. Sau này lớn lên tôi nhận ra rằng, một lời nói có thể chạm đến trái tim. Chính vì vậy tôi muốn được chia sẻ những gì tôi biết đến mọi người với niềm tin rằng, chân lý sẽ làm lay động cảm xúc, như chính tôi đã từng bị lay động. Nhiều người cho rằng, thiểu số không thể làm gì được, nhưng tôi tin rằng, một người cũng có thể tạo nên sự thay đổi”.
Đã đi nhiều nơi cho hành trình này, bà Ali MacGraw cho biết, ở Mỹ không có chuyện giết hại gấu để lấy mật. Quan niệm này chỉ có ở các nước châu Á.
Công chúng Việt có lẽ biết đến bản nhạc “Love story” (ca khúc nhạc nền cho phim) nhiều hơn là bộ phim đã đưa bà đến đỉnh cao trong sự nghiệp (với 5 giải Quả cầu vàng). Giờ đây, tuy không còn ở đỉnh cao của sự nghiệp nhưng bà Ali MacGraw cho biết, bà vẫn đóng phim, chủ yếu là phim tài liệu vốn gắn liền với công việc đi khắp nơi vì mục đích thiện nguyện của bà.
Bà Ali MacGraw được biết đến nhiều nhất qua bộ phim “Love story” của những năm 1970. Nhiều người Việt chỉ biết đến bộ phim này nhiều năm sau đó. Nhưng bản nhạc nền của bộ phim đã đến với công chúng yêu nhạc từ rất sớm và đến nay vẫn “độc chiếm” trong vị trí những bản nhạc được yêu thích nhất. Sau này, nó được nhạc sĩ Phạm Duy viết lời Việt và cũng từng được nhiều danh ca của Việt Nam mong muốn được một lần hát thử.
Là một tác phẩm chuyển thể từ tiểu thuyết văn học, nhưng bà Ali MacGraw và Ryan O’Neal đã vượt qua cái bóng nổi tiếng của tác phẩm để ghi tên mình bằng diễn xuất. Nhưng sự thành công của vai diễn cũng khiến cho những bộ phim sau này của bà Ali MacGraw đóng đều khó vượt qua thành tựu của “Love story”. Sự nghiệp điện ảnh của bà Ali MacGraw sau đó có phần trầm lắng hơn.
Bà dành thời gian cho việc chăm sóc gia đình với hai đời chồng đều là những người nổi tiếng. Người chồng đầu tiên của bà là Robert Evans - chủ hãng phim Paramount, họ có một con chung. Sau khi ly hôn, với những tình cảm trên phim trường, bà Ali MacGraw kết hôn với diễn viên Steve McQueen. Bà Ali MacGraw cho biết, nhờ có thành công của bộ phim mà bà được biết đến nhiều nơi trên thế giới. Điều đó càng có ý nghĩa hơn, bởi khi là người của công chúng, việc góp tiếng nói cho các hoạt động thiện nguyện của bà cũng trở nên dễ dàng hơn. (Gia đình&Xã hội 5/12)đầu trang(
Từ tổng kinh phí hơn 424.000USD phê duyệt thực hiện giai đoạn 2 dự án Hành lang bảo tồn đa dạng sinh học tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (BCC), UBND tỉnh dành 42.000USD thực hiện kế hoạch cộng đồng tuần tra bảo vệ rừng tại 5.000ha ở 2 huyện miền núi cao Tây Giang, Nam Giang.
Nội dung này nằm trong hợp phần cải tạo, bảo vệ và quản lý bền vững hành lang đa dạng sinh học. Giai đoạn 2 dự án BCC kéo dài đến năm 2019 tại 34 xã thuộc 6 huyện ở 3 tỉnh Quảng Nam, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế với tổng kinh phí hơn 34 triệu USD, tổng diện tích được bảo vệ 227.860ha.
Được biết, BCC được xây dựng dựa trên kết quả của Dự án Sáng kiến hành lang bảo tồn đa dạng sinh học được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo các nước tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (GMS) năm 2005, bắt đầu thực hiện từ năm 2006. (Báo Quảng Nam 4/12)
3/12, tại Ủy ban nhân dân xã Nam Cường, ông Nông Văn Chí- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn đã có buổi làm việc với Thường trực Huyện ủy, UBND huyện Chợ Đồn về công tác quản lý, bảo vệ rừng và tình hình thực hiện Chỉ thị số 08 về ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản, lâm sản trái phép gây hủy hoại môi trường trên địa bàn tỉnh.
Tại buổi làm việc, lãnh đạo huyện Chợ Đồn đã báo cáo tỉnh hình thực hiện Chỉ thị số 08 trên địa bàn. Theo đó, từ đầu tháng 7 đến 29/11, Hạt Kiểm lâm huyện đã tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật, luật quản lý bảo vệ rừng và nội dung Chỉ thị số 08 tại 88 cuộc họp thôn với 3.781 lượt người tham gia; tổ truy quét liên ngành đã triển khai được 58 lượt truy quét, phát hiện và xử lý 36 vụ vi phạm Luật quản lý và Phát triển rừng.
Đánh giá bước đầu, việc thực hiện Chỉ thị 08 đã đạt được một số kết quả nhất định, tình hình khai thác khoáng sản, lâm sản trái phép đã tạm lắng. Tuy nhiên, từ tháng 11 đến nay tình trạng này tái diễn tại một số nơi; tiêu biểu như khai thác gỗ nghiến tại Vườn Quốc gia Ba Bể.
Tại buổi làm việc, các ngành chức năng, huyện Chợ Đồn và Vườn Quốc gia Ba Bể đã tập trung chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân yếu kém trong công tác quản lý, bảo vệ rừng; bàn giải pháp để quản lý bảo vệ rừng tốt hơn, nhất là những khu vực rừng quý hiếm.
Kết luận buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo: Huyện Chợ Đồn, Vườn Quốc gia Ba Bể và các ngành chức năng cần tập trung tuyên truyền công tác bảo vệ rừng làm thay đổi nhận thức cán bộ đảng viên ở mỗi thôn, bản trong thực hiện Chỉ thị số 08; phân loại đối tượng và công khai các đối tượng cất giữ, khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản; đấu tranh xác định rõ những đối tượng thu mua lâm sản trái phép để xử lý theo quy định của pháp luật; cấp ủy chính quyền từ xã đến huyện phải thực hiện tốt Chỉ thị 08;
Xác định trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng là của các cấp, các ngành, các cơ quan, đoàn thể ở mỗi địa phương và lấy lực nòng cốt là lực lượng kiểm lâm; yêu cầu ngành Công an tập trung chỉ đạo, thành lập các chuyên án liên quan đến các hành vi vi phạm Luật bảo vệ phát triển rừng; lực lượng kiểm lâm tăng cường lực lượng cho các điểm nóng về nạn phá rừng, nhất là rừng gỗ nghiến; thực hiện tốt Kế hoạch của UBND tỉnh- tạm dừng đấu giá, bán thanh lý với gỗ nhóm II tịch thu trong các vụ vi phạm.
Tại mỗi xã giáp ranh rừng đặc dụng, Vườn Quốc gia Ba Bể cần xem xét, phối hợp đưa các mô hình kinh tế giúp người dân xóa đói, giảm nghèo bền vững. (Báo Bắc Kạn 6/12)đầu trang(
Trong những năm qua, Hạt Kiểm lâm Như Thanh và cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành liên quan, chủ rừng và người dân trên địa bàn huyện đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp bảo vệ rừng (BVR), phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) gắn với phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Từ đầu năm 2012, Hạt Kiểm lâm Như Thanh đã tham mưu cho UBND huyện ban hành phương án, kế hoạch và triển khai quyết liệt, đồng bộ các biện pháp BVR; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả công tác PCCCR, hướng dẫn và kiểm tra, giám sát các chủ rừng làm tốt công tác trồng, bảo vệ và PCCCR; khai thác, sử dụng rừng đúng theo quy định của pháp luật. UBND huyện tăng cường triển khai thực hiện công tác PCCCR; chỉ đạo các xã xây dựng kế hoạch PCCCR; kiện toàn và xây dựng các trung đội dân quân tự vệ, tổ đội quần chúng BVR, PCCCR ở tất cả các xã, thị trấn.
Hạt kiểm lâm đã khảo sát, khoanh vùng 12.500 ha rừng ở 3 khu vực có nguy cơ cháy lớn và xác định rõ nguyên nhân gây cháy, xây dựng phương án PCCCR chi tiết, cụ thể, phù hợp thực tế. Nhờ vậy, trong 11 tháng năm 2012, trên địa bàn huyện không có vụ cháy rừng nào xảy ra. Toàn bộ gần 33.000 ha rừng tự nhiên và rừng trồng của huyện đã được chăm sóc, bảo vệ an toàn, độ che phủ rừng đến nay đạt 55,2%.
Xác định rừng phải có chủ rừng thực sự để thực hiện công tác bảo vệ và phát triển rừng có hiệu quả, đến nay UBND huyện đã cơ bản hoàn thành giao đất, giao rừng đến hộ gia đình. Hiện tại, diện tích đất rừng giao cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện đã phát huy hiệu quả, phần lớn đất rừng giao cho người dân đã được trồng kín, bảo đảm nguồn thu nhập từ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, đặc biệt là nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Điển hình như xã Hải Long có 727,65 ha rừng, nhờ phát huy có hiệu quả đất rừng được giao, đến tháng 11-2012, toàn xã có 5 trang trại cấp tỉnh, 27 trang trại cấp huyện và hàng chục gia trại tổng hợp, sản xuất nông-lâm kết hợp. Nhiều gia đình trong xã như ông Nguyễn Phú Trinh, Đinh Văn Hiệp, Vi Văn Tĩnh, Lê Văn Biện, vv... đã phát triển kinh tế trang trại tổng hợp cho nguồn thu nhập khá cao.
Bên cạnh đó, để người dân, nhất là hộ nghèo có vốn đầu tư phát triển kinh tế từ rừng, UBND huyện đã chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể chủ động nhận ủy thác với Ngân hàng Chính sách xã hội huyện để người dân được vay vốn phát triển kinh tế lâm nghiệp. Đến tháng 11-2012, huyện Như Thanh có 160 trang trại lâm nghiệp/tổng số 384 trang trại.
Hàng năm, tổng thu nhập bình quân từ ngành lâm nghiệp trên toàn huyện đạt 250 tỷ đồng. Huyện Như Thanh đã tích cực kêu gọi đầu tư, cơ bản hoàn thành giải phóng mặt bằng để nhà đầu tư khởi công xây dựng Nhà máy Chế biến gỗ xuất khẩu tại xã Thanh Kỳ (công suất 40.000 tấn/năm) dự kiến vào qúy I-2013, góp phần tiêu thụ và tăng giá trị sản phẩm từ rừng. (Báo Thanh Hoá 6/12) đầu trang(
Nạn cát bay cát lấp, nước mặn xâm thực đồng ruộng đe dọa cuộc sống, sản xuất của người dân các xã Điền Môn, Điền Hương (huyện Phong Điền, tỉnh TT-Huế) giờ đây đã là quá khứ khi hàng trăm ha rừng trồng trên cát đã trở thành “bức tường xanh” bảo vệ dân làng…
Do địa hình các xã nằm ven biển nên hàng năm, các địa phương Điền Môn, Điền Hương thường chịu ảnh hưởng nặng nề các cơn bão, vào thời điểm gió mùa, nạn cát bay cát lấp, xâm chiếm đồng ruộng, nhà dân, khiến người dân nơi đây phải vất vả trăm bề. Đến năm 2001, những mầm cây xanh của keo lưỡi liềm, phi lao đã được người dân trồng trên tuyến đê này nhằm ngăn bão. Có cây giữ đất, cồn cát như vững chãi hơn khi nước mặn không còn tràn vào đồng ruộng.
Dẫn chúng tôi ra đê cát, ông Đặng Hữu Danh - Phó Chủ tịch UBND xã Điền Môn cho hay: “Hơn 10 năm qua, thông qua các dự án địa phương đã tích cực trồng rừng trên cát. 3,8 km chiều dài tuyến đê với hơn 20 ha rừng xanh đã được trồng mới. Trong năm 2012, địa phương đã tập trung trồng 19 ha rừng tại các khu vực động cát ven biển thuộc địa bàn thôn 1, thôn 2 Kế Môn, nhằm mục đích chống cát bay cát lấp, bảo vệ đồng ruộng, mạch nước ngầm. Dự kiến, trong năm tới sẽ trồng rừng phủ xanh gần 100 ha đất cát còn lại để hoàn thành mục tiêu xanh hóa toàn bộ vùng cát ven biển”.
Theo ông Danh, đến nay, toàn xã đã trồng 349,4 ha rừng trên cát. Trong đó, rừng Dự án 661 là 197,9 ha, rừng do Trung tâm Hợp tác Quốc tế và xúc tiến lâm nghiệp Nhật Bản (JIFPRO) tài trợ 82,5 ha, còn lại là của tổ chức Phần Lan. Thông qua nhiều chương trình, dự án, hàng trăm ha cát hoang hóa đã được phủ xanh theo nguyên lý vùng sinh thái khép kín “rừng nuôi đất, đất nuôi cây, cây nuôi người, người nuôi rừng”.
Ông Đặng Hữu Danh cho biết: “Để có những diện tích rừng ngăn cát, ngăn mặn bảo về đồng ruộng như hiện nay, hơn 10 năm qua, UBND xã Điền Môn nói riêng cũng như nhiều địa phương ven biển của tỉnh đã phân công cụ thể cho từng cán bộ của xã phụ trách từng nhóm hộ dân để bảo vệ và chăm sóc rừng trồng hàng năm. Bên cạnh đó, xã tổ chức thành lập các tổ quản lý, bảo vệ rừng, cùng các thôn xây dựng quy chế bảo vệ rừng”.
Ông Nguyễn Dũng (xóm 14, thôn Vĩnh Xương, xã Điền Môn), người có hơn 10 năm tham gia trồng rừng tích cực tại địa phương cho biết nhờ thành lập các tổ quản lý, bảo vệ rừng hoạt động hiệu quả, ông đã tham gia trồng 23 ha rừng ở thôn Vĩnh Xương 2, tạo vành đai bên ngoài, khu vực trong trảng cát ông cho trồng dưa, rau màu mang lại hiệu quả kinh tế cao. Thông qua sự hỗ trợ cây giống của Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, ông đã trồng 12,5 vạn cây keo lai, keo lưỡi liềm, keo chịu hạn rồi bán lại cho bà con có nhu cầu trồng rừng.
Ông Nguyễn Trọng - Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp TT-Huế đánh giá: “Dự án trồng rừng phòng hộ vùng cát qua hơn 10 năm thực hiện ở 5 huyện bao gồm 28 xã của tỉnh TT-Huế với việc trồng mới gần 5.000 ha rừng các loại đã góp phần to lớn trong việc cải thiện môi trường sinh thái vùng cát nội đồng và ven biển của tỉnh. Dự án cũng giải quyết công ăn việc làm cho 2.230 hộ dân và trên 10.000 lao động, tăng thu nhập, nâng cao đời sống làm thay đổi hẳn bộ mặt nông thôn trong vùng dự án”. (Nông Nghiệp Việt Nam 5/12)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Huyện Đông Giang vừa tổ chức hội nghị tổng kết sản xuất nông nghiệp năm 2012; triển khai nhiệm vụ năm 2013.
Năm 2012, tổng sản lượng lương thực có hạt của huyện đạt hơn 6.115 tấn, tăng 818% tấn so với năm 2011; tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm gần 3.500ha, tăng 43ha so với cùng kỳ năm 2011.
Trong đó, diện tích cây lúa nước đạt 845ha, năng suất bình quân 33,5 tạ/ha; diện tích lúa rẫy 950ha, năng suất bình quân 18 tạ/ha... Trong chăn nuôi, địa phương có tổng đàn gia súc 15.655 con; tổng đàn gia cầm 42.070 con; tổng diện tích nuôi cá nước ngọt 38ha. Năm qua, huyện cũng đã giao khoán hơn 15.300ha rừng cho người dân bảo vệ; khoanh nuôi tái sinh 1.488ha và trồng mới 160ha rừng... Tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm xuống còn dưới 48% (giảm 4,52% so với năm 2011). (Báo Quảng Nam 6/12)đầu trang(
Giá thực trên thị trường của chồn nhung đen chỉ 200.000 - 300.000 đồng/đôi, song loài động vật gặm nhấm này đã được đẩy giá lên gấp hàng chục lần và được biến tướng thành sản phẩm "kinh doanh đa cấp trá hình" len lỏi đến các vùng nông thôn Nam Định.
Nhiều hộ nông dân có kinh tế không mấy khá giả, thậm chí là nghèo ở Nam Định đã và đang bỏ ra hàng chục đến hàng trăm triệu đồng để tham gia nuôi chồn nhung đen với ước mơ "làm giàu siêu tốc", mà không cần biết hậu quả sẽ ra sao.
Ở hầu hết các xã của huyện Giao Thủy và nhiều xã thuộc các huyện khác trên địa bàn Nam Định đều có người nuôi chồn nhung đen - loài động vật du nhập từ Nam Mỹ, được nghiên cứu và nuôi thử nghiệm ở nước ta từ mấy năm nay. Là xã nghèo ven biển, xã Giao An (huyện Giao Thủy) hiện có nhiều hộ nhất tham gia mô hình chăn nuôi chồn nhung đen, với hơn 100 hộ thuộc 21 xóm của xã. Hộ nuôi ít có 5 - 7 đôi, hộ nuôi nhiều có tới 50 đôi.
Theo tìm hiểu của phóng viên, người cung cấp con giống chồn nhung đen cho nông dân Nam Định là ông Đoàn Việt Châu, một người con của xã Giao An, huyện Giao Thủy. Ông Châu hiện có trang trại tại Xóm Mỏ, xã Dân Hạ, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình.
Theo hợp đồng có thời hạn 28 tháng mà các hộ ký với ông Châu, các hộ mua chồn nhung đen giống của ông Châu với giá 4 triệu đồng/cặp (1 đực, 1 cái), sau đó được ông Châu bao tiêu sản phẩm với giá 2 triệu đồng/cặp (bất kể đực hay cái); người nuôi phải nộp 500.000 đồng cho mỗi lần chồn mẹ đẻ con. Sau khi hợp đồng hết thời hạn, các hộ phải hủy đàn chồn (làm thực phẩm) hoặc bán lại cho ông Châu giá 500.000 đồng/đôi. Và nếu tiếp tục tham gia mô hình, các hộ phải mua con giống mới với giá như trước là 4 triệu đồng/cặp.
Điều đáng nói là, hầu hết các hộ đều không biết chút gì về cái mục tiêu đích thực của cái gọi là mô hình Đoàn Việt Châu khi giá chồn mua bán với ông Châu là giá "giời ơi", khác xa với giá ngoài thị trường, nhưng họ, mà đa số là hộ nghèo vẫn đổ xô tham gia mô hình nuôi thứ động vật ngoại lai vì lợi nhuận trước mắt. Họ thấy con chồn nhung đen cho lợi nhuận cao hơn nhiều so với nuôi lợn nái.
Theo bài toán kinh tế, mỗi cặp chồn bố mẹ đẻ 3 - 4 lứa/năm, mỗi lứa từ 1 - 4 con, trung bình cho 8 - 9 chồn con. Như vậy, người nuôi đầu tư 40 triệu nuôi 10 cặp chồn bố mẹ, sau 1 năm có 80 - 90 chồn con, thu 80 - 90 triệu đồng. Quả thực, nếu mọi điều suôn sẻ như vậy thì nuôi chồn nhung đen dù đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn nhanh và cho lãi cao, trong khi kỹ thuật nuôi đơn giản, thức ăn của chồn chủ yếu là các loại cỏ, cám gạo, cám ngô...
Lãi cao là vậy nhưng vấn đề được dư luận quan tâm là sản phẩm từ mô hình nuôi chồn nhung đen Đoàn Việt Châu cuối cùng sẽ đi đến cái đích nào khi mà thị trường thịt thương phẩm chưa có, hay chỉ là tiền từ túi người này chuyển sang túi người kia, mà người được lợi nhất chính là ông chủ mô hình.
Trong vai người đi tìm hiểu để tham gia mô hình, PV đến xã Giao An và được người dân nơi đây giới thiệu tên các hộ nuôi chồn nhung đen như hộ ông Tú (xóm 9), ông Trưởng (xóm 15), ông Sơn (xóm 12), ông Liêm (xóm 8), ông Thông (xóm 9)... Đang loay hoay chọn một hộ để tìm đến thì chúng tôi được một anh thanh niên tình nguyện đưa đến nhà ông Vũ Văn Thông (xóm 9). Qua câu chuyện có thể thấy, "mộng làm giàu" của ông Thông lớn lắm.
Ông cho biết: "Tôi cũng chỉ mới tham gia nuôi được 3 tháng. Tôi thấy mô hình này cho lợi nhuận hơn hẳn lợn nái. Vì không có vốn, tôi phải tham gia chơi họ (hụi) và vay mượn thêm mới có được 40 triệu đồng đầu tư mua 10 đôi giống". Đang vui vẻ tiếp chuyện, bất giác thấy khách cứ "ghi ghi, chép chép", ông Thông ngập ngừng:
"Tôi không biết nhiều đâu, các anh cứ đến nhà ông Liêm mà hỏi"... Để tiếp tục hành trình điều tra, chúng tôi tìm đến hộ ông Nguyễn Trung Liêm (64 tuổi, trú tại xóm 12, xã Giao An). Khác hẳn với ông Thông, ông Liêm rất niềm nở, sẵn sàng chia sẻ mọi điều, lại còn cho chúng tôi tham quan chuồng trại và cho "tận mục sở thị" bản hợp đồng làm ăn với ông Đoàn Việt Châu. Ở xã Giao An, ông Liêm là người nuôi chồn nhung nhiều nhất với 50 cặp.
Ông cho biết: "Ông Đoàn Việt Châu là người con rất tốt của quê hương. Cách đây khoảng 2 năm, khi thấy tôi khó khăn, bệnh tật, ông đã cấp cho tôi 5 đôi giống chồn nhung đen với giá 4 triệu đồng/cặp. Từ đó, kinh tế gia đình tôi ngày càng khấm khá. Hiện tôi đầu tư hơn 200 triệu đồng nuôi 50 cặp".
Cũng theo ông Liêm, ông Châu sẵn sàng cho nợ tới 30 - 50% giá trị hợp đồng đối với những hộ khó khăn. Tất cả những lời giới thiệu của ông Liêm hầu hết là ca ngợi ông Châu và con chồn nhung đen. Thế nhưng khi phóng viên đặt một loạt câu hỏi liên quan đến giá trị đích thực của con chồn nhung đen cũng như mô hình Đoàn Việt Châu, ông Liêm thẳng thắn: "Chúng tôi chỉ cần biết hiện giờ nuôi có lãi là nuôi".
Tính pháp lý của bản hợp đồng ký với ông Châu cũng là vấn đề đáng bàn vì văn bản này ghi quyền của bên B quá ít trong khi nghĩa vụ lại rất nhiều để bó buộc người tham gia, chẳng hạn như phải khai báo và thông tin đầy đủ, chính xác về số lượng đàn chồn, đặc biệt là số chồn con sau khi sinh; chịu sự kiểm tra toàn diện định kỳ và đột xuất của bên A (tức ông Châu hoặc đại diện của ông Châu); không tự mua chồn ngoài đưa vào mô hình và ngược lại; khi chồn sinh đẻ phải điện báo ngay cho bên A về số con đẻ và lượng chồn con để bên A cử cán bộ đến làm thủ tục xác nhận, quản lý chồn con, nếu không sẽ bị bên A từ chối thu mua và đưa người chăn nuôi ra khỏi mô hình... (Tin Tức 6/12)đầu trang(
Trong khi còn chưa biết giá trị thương phẩm của chồn nhung đen thì hàng nghìn nông dân đã cắn răng bỏ ra hàng chục triệu đồng để mua nuôi với giấc mộng làm giàu. Thậm chí, không ít nông dân còn tham gia vào nuôi cho công ty, tương tự đa cấp. Giàu chưa thấy đâu, một số nhà khoa học đã lên tiếng cảnh báo về tình trạng chăn nuôi theo đồn thổi này.
Chỉ trong một thời gian ngắn mà phong trào nuôi chồn nhung đen đã lan rộng ra khắp các tỉnh, thành từ miền Bắc, tới miền Trung, Tây Nguyên. Không ít người dân đã nuôi giấc mộng làm giàu, đổi đời nhờ con vật có phần lạ lẫm này. Thậm chí, không ít nông dân đã bỏ ra vài triệu đồng chỉ để mua một cặp chồn nhung đen về nhân giống. Phong trào này không chỉ rầm rộ trên thực tế, mà còn “nóng” trên khắp các diễn đàn mạng. Chỉ cần vào trang tìm kiếm gõ dòng chữ “chồn nhung đen” ngay lập tức kết quả cho ra hàng trăm địa chỉ bán giống. Thời điểm đầu mới xuất hiện, giá 1 đôi chồn nhung đen (1 đực, 1 cái) lên tới 4 triệu đồng.
Thêm vào đó, xuất hiện hình thức một số công ty bán giống cho nông dân dưới dạng đa cấp. Để khuếch trương và phát tán thông tin, nhiều Hội nghị về nuôi chồn nhung đen đã được tổ chức ở khắp các vùng quê. Nhiều cá nhân đã tự đứng ra thành lập mô hình cung cấp giống cho nông dân với những ràng buộc về tiền.
Đơn cử như mô hình nuôi chồn nhung đen của một cá nhân ở huyện Giao Thủy, Nam Định. Để tham gia mô hình này, người dân phải bỏ ra 4 triệu đồng mua một cặp chồn bố mẹ và sau đó được mua lại giá 2 triệu đồng/cặp chồn con trong khi giá ngoài thị trường chỉ 200.000-300.000 đồng/đôi. Mô hình có thời hạn kéo dài trong 28 tháng, sau khi hết hợp đồng người dân phải tiêu hủy đàn chồn làm thức ăn mới được phép vào đợt tiếp theo và phải mua với giá cũ là 4 triệu đồng/cặp. Tương tự, không ít mô hình nuôi chồn nhung đen khác cũng đã “mọc” ra để dụ dỗ nông dân lao vào cuộc làm giàu kiểu “giời ơi”.
Đáng ngạc nhiên, mô hình nuôi chồn nhung đen đã lan về tận các địa phương ngoại thành Hà Nội. Tại các xã Phú Cường, huyện Sóc Sơn, xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, không ít hộ dân đã tham gia nuôi chồn cho Công ty Giấc mơ Việt với cái tên dự án rất mỹ miều: Nhà nông làm giàu. Người dân muốn tham gia mô hình này cũng phải mua chồn giống của công ty với giá 3,9 triệu đồng/cặp… Với một số mô hình cung cấp giống đa cấp của các cá nhân, trung bình, mỗi hộ nông dân muốn tham gia vào chăn nuôi chồn nhung đen phải bỏ ra từ 30-50 triệu đồng.
Một địa chỉ được quảng bá rộng rãi trên một số trang mạng - trang trại nuôi chồn nhung đen của anh Lê Quang Trung, đội 6, thôn Tam Đạc, xã Thọ An, huyện Đan Phượng khá khang trang. Anh Lê Văn Được, người cùng làm trang trại Quang Trung không khỏi tự hào khi nói về thành tích nuôi chồn nhung đen của mình: “Mô hình này được TS. Võ Văn Sự ở Viện Chăn nuôi chuyển giao cho chúng tôi. Chúng tôi nuôi đến nay đã được gần 5 năm.
Đến hiện tại, đã có 3 cơ sở, một cơ sở tại đây, một cơ sở ở Bắc Ninh và một cơ sở ở xã An Khánh, Hoài Đức với số lượng 1.500 con. Chúng tôi phân phối giống khắp các tỉnh miền Bắc đến miền Trung, Tây Nguyên. Từ Điện Biên vào đến Kon Tum, Đắk Lắk”.
Cũng theo anh Được, chồn nhung đen rất dễ nuôi, dễ chăm, lại mắn đẻ. Thức ăn chính là cỏ voi, cám, rau muống. Trung bình, 1 con chồn nhung đen có thể đẻ 4 lứa một năm mỗi lứa từ 3-6 con. Một con chồn nhung đen nuôi từ lúc tách bố mẹ đến khi sinh sản lứa đầu khoảng 3 tháng, thời gian chửa đẻ chỉ 65 ngày. Chi phí đầu tư, cũng như chăn nuôi chồn nhung đen không cao, nuôi không vất vả như các vật nuôi khác, mà như anh Được khẳng định, lợi nhuận lại cao. Hiện, giá mỗi cặp chồn nhung đen được trang trại Quang Trung bán từ 400-800.000 đồng, tùy theo ngày tuổi. Có lẽ vậy, mà chủ trang trại Quang Trung đã nuôi giấc mộng làm giàu, đổi đời nhờ con chồn này. Ước mơ xa hơn, thịt chồn nhung đen sẽ thay thế thịt gà, thịt bò…
“Ban đầu, khi tiếp nhận giống từ Viện Chăn nuôi, chúng tôi cũng phải mua 10 đôi với giá 15 triệu đồng. Sau đó, chỉ trong một thời gian ngắn, chúng tôi đã nhân ra được mô hình trang trại lớn”, anh Được kể. Ước mơ là vậy, nhưng bản thân anh Được cũng thừa nhận, đến nay, trang trại nuôi của anh cũng chỉ mới dừng lại ở việc bán giống, chưa bán thịt thương phẩm ra thị trường. Lý giải về điều này, anh Được cho rằng: “Có thể, do giá thịt còn cao, khoảng 350.000 đồng/kg, mà người dân cũng chưa quen, chưa được biết về thịt con này?”. Thông thường, một con chồn nhung đen nặng khoảng 500gam có thể đã thịt được, tối đa, một con chồn nhung đen chỉ nặng 1,5kg.
TS. Võ Văn Sự, Chi hội Động vật quý hiếm, Hội Chăn nuôi Việt Nam, người “tâm huyết” với mô hình nuôi chồn nhung đen hiện nay cho biết, mô hình này rất hiệu quả với người nông dân. TS. Võ Văn Sự đưa ra dẫn chứng nuôi và sử dụng thịt của loại chồn này ở một số nước như Peru, Congo… Song, ông Sự cũng cho rằng, con này rất dễ nuôi, chi phí ít, nhưng giá trị chỉ vào khoảng 30.000 - 50.000 đồng/con, chứ không thể cao như giá bị thổi hiện tại.
Tuy nhiên, những quốc gia sử dụng thịt chồn nhung đen làm thực phẩm mà TS. Võ Văn Sự đưa ra chỉ thuộc nhóm những quốc gia nghèo, thiếu đói. Với những quốc gia này, thì việc nuôi chồn nhung đen để lấy thực phẩm, bổ sung nguồn protein hàng ngày là tốt, còn tại Việt Nam thì sao? Liệu, chồn nhung đen có thay thế được các loại thực phẩm mà chúng ta đang sử dụng như thịt gà, thịt bò… Giấc mơ ấy thật xa vời, nhưng không ít nông dân đã và đang đưa mình vào “lưới” mà chưa hề hay biết. (An Ninh Thủ Đô 6/12)đầu trang(
Đến thôn Làng Cại, xã Phúc An, huyện Yên Bình (Yên Bái), ai cũng choáng ngợp khi nhìn thấy ngôi nhà xây khang trang bề thế mọc lên giữa vùng quê nghèo. Hỏi ra, mới biết chủ nhân của ngôi “biệt thự” đó là một nông dân chân chất đi lên từ kinh tế rừng.
Ở xã Phúc An từ cán bộ chính quyền xã đến người dân gặp ai cũng ca ngợi gia đình anh Nguyễn Văn Mạnh làm kinh tế giỏi. Thật khó có thể tin nổi ở nơi người dân chỉ quen với nghề nông, chân lấm tay bùn, vất vả quanh năm lại có người làm kinh tế giỏi xây được ngôi nhà bề thế giữa vùng quê nghèo khó.
Nhìn những quả đồi hoang, đường đi lối lại khó khăn, không mấy ai tin rằng anh có thể làm giàu. Nhưng với tính cần cù chịu thương chịu khó, anh không những đưa gia đình thoát nghèo mà còn vươn lên làm giàu. Năm đầu tiên anh thử nghiệm trồng cây keo, do chưa có kinh nghiệm, không nắm bắt được kỹ thuật trồng, chăm sóc tỷ lệ cây sống rất thấp.
Không nản chí, anh tiếp tục học hỏi thông qua các lớp tập huấn của khuyến nông đồng thời mua sách kỹ thuật về tự học. Qua tập huấn và thực tiễn, anh đã rút được kinh nghiệm, keo không sống được là do trồng không đúng thời vụ, thời tiết khô hanh. Nhờ nắm bắt được kinh nghiệm, trồng đúng kỹ thuật, toàn bộ diện tích keo lai trồng năm đầu xanh tốt và đến năm 2003 những rừng keo đầu tiên cũng cho thu hoạch anh thu về hàng trăm triệu đồng.
Anh Mạnh cho biết: “Với phương châm “lấy ngắn nuôi dài”, cứ diện tích keo khai thác anh lại trồng sắn, đưa cây sắn vào trồng xen để vừa hạn chế cỏ dại, đồng thời có thêm nguồn thu đầu tư chăm sóc cây trồng khác”.
Anh Mạnh nhẩm tính, trung bình 1 ha rừng trồng 1.800 cây, chi phí đầu tư thấp, sản lượng gỗ thu được bình quân 50 - 60 m3, trừ chi phí đầu tư mỗi ha cũng có lãi 60 - 70 triệu đồng. Năm vừa rồi gia đình anh bán 1ha keo 8 năm tuổi thu về 80 triệu đồng.
Bên cạnh việc trồng rừng anh còn chú trọng chăn nuôi trâu, bò sinh sản, có thời điểm gia đình anh sở hữu hàng chục con trâu bò. Vừa phát triển chăn nuôi, trồng rừng anh còn đưa các giống lúa mới, năng suất cao vào gieo cấy, tạo nguồn lương thực ổn định cho gia đình và phục vụ chăn nuôi.
Từ một hộ nghèo, nhờ cần cù chịu khó, sáng tạo trong cách nghĩ cách làm mà gia đình anh không chỉ thoát nghèo còn trở nên giàu có. Nhà cửa được xây dựng khang trang với đầy đủ tiện nghi đắt tiền, con cái được học hành đầy đủ. Bình quân thu nhập của gia đình đạt hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Không chỉ làm giàu cho gia đình, anh Mạnh còn tích cực truyền đạt kinh nghiệm, giúp bà con trong vùng phát triển kinh tế góp phần xoá đói giảm nghèo xây dựng nông thôn mới. (Báo Yên Bái 5/12)đầu trang(
Thịt le le là món ngon đại bổ có khả năng phục hồi sức khỏe và tăng cường sinh lực, có giá 500.000 - 600.000 đồng/con/300gr, nhưng rất hiếm, không đủ số lượng cung cấp cho thị trường.
Với giá bán này, phong trào săn bắt chim hoang dã le le bán cho các nhà hàng diễn ra rầm rộ ở nhiều vùng nông thôn ĐBSCL. Thậm chí ngày càng có nhiều người săn bắt le le tự nhiên không chỉ để làm món đặc sản đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường mà còn tìm cách nuôi và cho sinh sản le le như một nghề chăn nuôi mới, có lãi cao; gián tiếp góp phần bảo tồn một loài chim có giá trị kinh tế, vốn có trong tự nhiên nhưng cũng đang ngày một khan hiếm.
Ông Sa Lê (người Chăm) là một trong những người nuôi le le thành công ở xã Vĩnh Hanh, huyện Châu Thành (An Giang). Đây cũng là một trong những mô hình nuôi le le độc đáo nhất ở miền Tây. Le le là giống chim quen sống trong tự nhiên, nên để thuần hóa, anh không nhốt chuồng mà thả rong cho le le, khoảng vài trăm con, tự do bơi lội tự nhiên trên mặt nước rộng khoảng 1.000 m2. Xung quanh hồ có bờ bao và hàng rào bao bọc, để ngăn chúng về với rừng.
Nếu bắt được le le con trong tự nhiên, thì việc nuôi sẽ đơn giản hơn; chúng mau lớn không khác gì nuôi gà thịt và mất đi bản năng quay về với tự nhiên. Trên bờ anh cất láng trại để cho le le vào làm tổ. Le le đẻ từ tháng 9 và mỗi con đẻ trung bình từ 8 - 10 trứng. Từ lúc trứng nở đến lúc trưởng thành, khoảng 8 tháng là có thể bán thịt.
Theo ông Sa Lê, le le vốn thích sống ở những cánh đồng hoang vắng, nơi có nhiều lung, bàu, đầm lầy, nhất là các khu rừng tràm yên tĩnh ít có bóng người qua lại. Le le không những biết bay mà còn bơi lội và lặn rất tài tình. Chúng thường đi ăn thành bầy nhưng rất nhát, vừa thấy bóng người là lặn mất hoặc cao chạy xa bay. Muốn săn đuổi chúng, nhiều người phải tìm cách bao vây hoặc dùng bẫy, lưới mới có thể bắt được.
Trong thiên nhiên, le le thường đẻ vào đầu mùa mưa, nhiều nhất là từ tháng 7 - 8, mỗi con đẻ từ 8 - 15 trứng. Sau khi nở vài ngày, le le con sẽ theo mẹ đi kiếm ăn trên khắp các cánh đồng, nhiều nhất là vùng biên giới Việt Nam - Campuchia. Vào mùa này, người đi đồng mỗi khi phát hiện thường vây bắt đem về thuần dưỡng, nuôi như nuôi vịt. Con to nhất nặng khoảng 300gr. So với vịt trời, trọng lượng chỉ bằng phân nửa; nhưng thịt le le ngon hơn, giá trị kinh tế cao gấp hai ba lần vịt trời.
Ngoài việc chăn nuôi, ông Sa Lê còn tìm cách thu mua nguồn le le từ thiên nhiên, gồm le le con và le le thịt đem về nuôi theo kiểu bán hoang dã; đồng thời, ông tuyển chọn ra những con khỏe mạnh để cho sinh sản. Theo ông, chuồng nuôi le le phải thông thoáng, giữa có hồ nước rộng, bên trong trồng nhiều cỏ dại như sậy, lục bình, năn, lác để tạo môi trường hoang dã cho chim trú ẩn và tự làm ổ đẻ trứng.
Trong môi trường bán hoang dã chúng sống rất khỏe mạnh, hầu như chưa bao giờ bị dịch bệnh. Nhằm đảm bảo an toàn, đề phòng chuột, mèo phá hoại, ông đã bao quanh chuồng một lớp hàng rào lưới dày và chắc chắn. Ngoài ra, trước khi thả ông còn cắt tỉa bớt lông cánh cho chim không thể bay cao khỏi lưới rào.
Theo kinh nghiệm riêng của ông, le le con bắt từ thiên nhiên sẽ dễ nuôi hơn và mau lớn như gà vịt. Thức ăn chính của chúng là lúa, ngoài ra chúng còn ăn cả rong rêu và lục bình. Sau 8 tháng nuôi, le le sẽ trưởng thành. Hiện nay các thương lái tìm đến trại ông đặt hàng, nhưng không đủ để cung cấp.
Với diện tích chuồng trại gần 1.000 m2, đầu năm 2012, ông Sa Lê đã thả trên 400 con lớn nhỏ, trong số đó có nhiều con đang bắt cặp, đang cho đẻ. Hiện nay, nhiều người đã thu mua le le thịt với giá khá cao 500.000 - 600.000 đ/con) để bán sang Trung Quốc nhưng ông Sa Lê không bán le le thịt mà chỉ bán con giống để nuôi cho sinh sản.
Nhiều nhà hàng đã coi món le le như một món ăn đẳng cấp và thường dành cho giới thượng lưu. Riêng những người sành điệu ẩm thực thì coi le le là “hàng độc”, là món đại bổ có khả năng phục hồi sức khỏe và tăng cường sinh lực. Do vậy, hiện nay trong thực đơn của nhiều nhà hàng, quán ăn đặc sản miền Tây đều giới thiệu món le le xào bầu, le le quay nước dừa…và coi đó là món ngon hảo hạng. Lại có người cho rằng thịt le le rất bổ dưỡng, từng là món tiến vua một thời nên ai cũng muốn thưởng thức. (Nông Nghiệp Việt Nam 5/12) đầu trang(
Từ một xã nghèo với tỷ lệ thất nghiệp cao, người lao động có xu hướng ly hương thì nay Tiên Hà (Tiên Phước) đã kéo nhiều thanh niên về “bám trụ” tại địa phương bằng mô hình phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Thế mạnh nổi trội của xứ Tiên trong những năm qua được nhắc đến là kinh tế vườn, kinh tế trang trại. Gần đây trên địa bàn xã xuất hiện không ít nông dân là triệu phú nhờ trồng cây keo nguyên liệu. Cách đây 5 - 7 năm, người dân bỏ công, bỏ vốn lớn vào đầu tư rừng trồng nên bây giờ là thời điểm thu hoạch. Ưu thế của vùng bán sơn địa này là thổ nhưỡng, khí hậu rất thuận lợi cho cây keo sinh trưởng, phát triển. Thêm nữa, chi phí trồng rừng giảm do người dân chủ động vườn ươm cây giống tại chỗ, đất trồng rừng ít có độ dốc hơn so với một số địa phương miền núi khác.
Tuy vào mùa đông, nhưng nhiều cánh rừng trồng trên địa bàn thôn Tài Thành, xã Tiên Hà bước vào vụ thu hoạch rộ. Bắt đầu xuất hiện hàng loạt điểm tập kết gỗ dọc hai bên đường chờ xe tải chở đi tiêu thụ. Gần tháng nay, hộ ông Nguyễn Thanh Tân (thôn Tài Thành) không một ngày rảnh tay. Bình quân mỗi ngày ông Tân thuê từ 7 - 10 nhân công tham gia cưa cây, bóc vỏ, chuyển gỗ lên xe… trên diện tích hơn 50ha rừng đã và đang khai thác. Với doanh thu bình quân mỗi héc ta 50 triệu đồng, năm nay gia đình ông đã thành tỷ phú của địa phương.
Theo ông Tân, cây keo tuy giảm giá trên thị trường nhưng nhờ trồng tập trung với diện tích lớn nên nông dân vẫn có thể lãi cao. “Nếu khai thác toàn bộ diện tích keo hơn 50ha hiện có, trừ mọi chi phí ra, ít nhất tôi cũng kiếm hơn 1 tỷ đồng sau 5 năm đầu tư” - ông Tân nói.
Tại thôn Tài Thành, nhiều tấm gương nông dân thành triệu phú năm 2012 như các ông Đoàn Thanh Tín, Lê Minh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Ba … Tương tự, tại thôn Tiên Tráng, xã Tiên Hà cũng có gần 10 nông dân thu từ hơn 200 triệu đồng trở lên trên một vụ khai thác keo cuối năm. Thống kê của UBND xã Tiên Hà cho hay, từ đầu năm đến nay, toàn xã khai thác hơn 200ha keo với tổng diện tích 1.500ha rừng trồng của nhân dân. Phần lớn nông dân là lao động giỏi cấp xã, huyện đều thuộc về người trồng keo nguyên liệu. Điều đáng nói, ngoài hiệu quả kinh tế, cây keo còn giải quyết công ăn việc làm, tạo sinh kế lâu dài cho người dân địa phương.
Một trong những nguyên nhân khiến thanh niên vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh bỏ quê tìm việc làm ở nơi khác chính là sự nghèo nàn các loại ngành nghề phục vụ cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân, nguồn thu nhập lao động chưa hấp dẫn và không thường xuyên. Thế nhưng, tại xã Tiên Hà, hiệu quả kinh tế của cây keo đã kéo theo phản ứng dây chuyền tích cực cho người lao động địa phương, nhất là lực lượng lao động nữ, lao động nông nhàn. Vào vụ mùa trồng rừng, hay thu hoạch keo, nhiều chị em làm thuê khắp nơi trở về quê nhận làm công như bóc vỏ keo, phát chăm thực bì… Hiện tại, mỗi lao động nữ được trả công 150 nghìn đồng/ngày, trong khi lao động nam được trả 180 nghìn đồng/ngày.
Bà Trịnh Thị Thúy Liễu – Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ xã Tiên Hà cho biết: “Thời điểm này địa phương bước vào mùa trồng rừng, kết hợp với thu hoạch keo nên đã giải quyết đáng kể nguồn lao động tại chỗ. Trước đây, nhiều chị em xuống Tam Kỳ, ra Đà Nẵng… làm thuê, thì bây giờ lại trở về làm nhân công cho các chủ rừng keo. Hơn một nửa hội viên hội phụ nữ (xã có 668 hội viên) có việc làm ổn định từ nghề trồng rừng và khai thác lâm sản”. Ở xã Tiên Hà, không có một doanh nghiệp nào đóng chân, cũng chẳng có cơ sở nào giải quyết lực lượng lao động lớn. Vì thế, lãnh đạo địa phương luôn xác định ưu tiên phát triển kinh tế vườn - rừng. Những trang trại vừa và nhỏ sẽ tạo ra “cú hích” trong khâu giải quyết lao động nông thôn.
Ông Đỗ Tấn Như, Chủ tịch UBND xã Tiên Hà khẳng định: “Đến lúc này, không ai còn hoài nghi về giá trị thực mà cây keo đem lại. Nhiều vùng đất đã hồi sinh và xuất hiện hàng loạt triệu phú nhờ trồng keo. Chính quyền sẽ đồng hành và hỗ trợ người dân mạnh dạn đầu tư vườn ươm để phục vụ nguồn cây giống, đồng thời quy hoạch mở rộng diện tích trồng rừng, từng bước giúp bà con giảm nghèo bền vững và vươn lên làm giàu trên mảnh đất của mình”. (Báo Quảng Nam 6/12) đầu trang(
Lâu nay, voi xuất hiện tại các khu vực có người dân sinh sống thuộc xã Thanh Sơn, huyện Định Quán hoặc xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu không còn là chuyện lạ. Tuy nhiên, mức độ tàn phá và đe dọa tính mạng người dân từ voi rừng đang ngày càng căng thẳng hơn...
Theo thống kê của Lâm trường 3 thuộc Công ty TNHH một thành viên Lâm trường La Ngà (Vinafor La Ngà, có trụ sở tại huyện Định Quán), tính từ tháng 5-2012 đến nay, đã có 86 hộ dân của xã Thanh Sơn bị voi quấy phá. Đó là chưa kể tài sản của nhiều gia đình bị voi phá 3-4 lần. Nhiều biện pháp đã được áp dụng để xua đuổi đàn voi hàng chục con này vào rừng, nhưng xem ra không hiệu quả.
Trước đây, cho rằng voi bỏ rừng ra khu dân cư tìm muối, gạo để ăn nên nhân viên Vườn Quốc gia Cát Tiên đã bỏ muối, gạo dọc bìa rừng cho chúng dễ thích nghi. Từ đó, một thời gian khá dài voi không còn “la cà” trên rẫy, vườn của người dân nữa. Thế nhưng, một vài năm trở lại đây, voi không còn thiết tha với những bao gạo hay đống muối nữa, chúng tiếp tục vào rẫy tìm kiếm thức ăn ưa thích. Từ đầu năm 2012 đến nay, điểm voi thường tập kết là rẫy bắp, mía, vườn chuối tươi tốt.
Ở xã Thanh Sơn trong thời gian qua, những rẫy hoa màu được trồng trên đất rừng mới khai phá. Đất màu mỡ nên nhiều người lén lút hủy hoại rừng để làm nương rẫy. Điều này cũng đồng nghĩa với việc rừng bị thu hẹp, nơi voi sinh sống bị chiếm dụng. Hiện tại, một số đất của khu 4, 5, 6, 7 thuộc Lâm trường 3 trước đây là những khu vực sinh tồn của voi, nay không còn là rừng, thay vào đó là những vườn cây xum xuê. Ngày trước, rừng nơi này khá đa dạng với nhiều loại cây gỗ lớn, xen kẽ dây leo, tạo thành rừng có cấu trúc tầng, rất thích hợp cho các loài động vật phát triển, trong đó có voi.
Thế nhưng đến nay, khu vực này chỉ còn lưa thưa vài cây dầu, bằng lăng nằm cách nhau vài chục mét, còn lại đi đâu cũng là dấu vết của con người với những vườn quýt, rẫy bắp và đường đi chọc thẳng vào bìa rừng. Có thể nói, từ lúc con người giành đất sống của voi, buộc lòng chúng phải chuyển vô rừng sâu. Song, đôi khi voi tìm ra ngoài, từ đó xung đột giữa người và voi trở nên thường xuyên hơn. Sự xung đột này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồn tại và phát triển bầy đàn của voi.
Nhận định về việc voi ra khu dân cư phá phách, Phó chủ tịch UBND xã Thanh Sơn Ngô Văn Sơn chia sẻ: “Những khu vực voi thường xuất hiện, trước đây là nơi cư ngụ của chúng. Trước sức ép dân số và nhu cầu mưu sinh, con người dần xâm phạm vào nơi voi ở. Vùng đất vốn được “cấp sổ đỏ” cho loài voi đã bị con người tới chiếm giữ. Theo ông Sơn, thực chất con người đang “ở nhờ” trên mảnh đất của voi. Chính vì vậy, khi chủ nhân của những khoảnh đất này bị đuổi khỏi nơi đồng loại chúng vốn đã “trị vì”, thì sự đáp trả theo cách của đàn voi là điều đương nhiên.
Vài tháng qua, hàng đêm người dân tại các khu vực có voi xuất hiện luôn phải nín thở và nơm nớp… đợi voi. Những cây đuốc được tẩm sẵn dầu hỏa, rồi nồi niêu, xoong chảo, đèn pin luôn để ở vị trí dễ tìm. Mỗi lần nghe tiếng tre đổ bụp bụp trong rừng, tiếng xào xào như gió thốc là mọi người bật dậy chuẩn bị “nghênh chiến” với “ông bồ” ở cách dân không xa. Hình ảnh những con voi khổng lồ lừng lững quật ngã chòi lá, xô đẩy mọi thứ trên đường chúng đi, đã trở thành nỗi ám ảnh với người dân.
Voi đến, mọi người đốt lửa, tạo tiếng động để xua đuổi chúng đi. Nhưng đâu phải lúc nào voi cũng biết “nghe lời” như vậy. Có những khi, chúng đối đầu trực diện với người mà không hề sợ hãi. Ngay cả những cán bộ kiểm lâm từng phải bó tay với những trường hợp đàn voi trở nên ngoan cố, khi đuổi đầu này chúng chạy xuống đầu kia, một lát sau lại quay về chỗ cũ.
Có trường hợp khi bị đuổi theo sát, voi trở đầu dí người chạy tán loạn. Nhắc lại chuyện voi xuất hiện ở vườn, rẫy, một cán bộ kiểm lâm tâm sự, lúc đầu voi về thì mọi người đều túc trực và hăng hái xua đuổi chúng. Nhưng rất nhiều lần, chúng ở lại 2-3 đêm. Gần đây, chúng xuất hiện liên tục và trở nên lì lợm nên mọi phương thức gõ kẻng, đốt lửa trở nên vô hiệu.
Cách đây 2 tháng, số cán bộ kiểm lâm trực trong Trạm 91, thuộc Lâm trường 3 một phen kinh hãi khi nửa đêm hàng chục con voi vây quanh giật tung các cánh cửa nhà. Chúng sục sạo mọi chỗ, tìm được thứ gì chúng cũng nhai sạch hoặc dẫm nát. Cũng may hôm ấy, anh em trốn kịp, trong khi nền nhà trơn nên voi không leo lên được. “Không được dùng vật nhọn, gậy, đá để đuổi voi. Nếu có thể thì hãy về nhà, đừng ở lại rẫy vào ban đêm”. Đó là lời khuyến cáo của các cán bộ kiểm lâm. Còn người dân thì rút kinh nghiệm, không trồng những cây hay bị voi phá, như: bắp, xoài, chuối... (Báo Đồng Nai 6/12)đầu trang(
Đắk Lắk: Nhà Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động bị kiểm tra
Ngày 5.12, lực lượng chức năng huyện Buôn Đôn đã kiểm tra nhà riêng ông Nguyễn Văn Hào - Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động số 2, Vườn quốc gia (VQG) Yók Đôn - tại xã Krông Na, huyện Buôn Đôn.
Lúc đầu gia đình ông Hào và một số cán bộ lãnh đạo VQG Yók Đôn có biểu hiện cản trở, sau khi được lực lượng chức năng giải thích, vận động thì việc kiểm tra mới được tiến hành thuận lợi. Tuy nhiên, tại thời điểm kiểm tra, trong nhà ông Hào chỉ có 2 phách gỗ quý, mỗi phách dày khoảng 30cm đã được đánh vécni, sử dụng làm ghế ngồi nên được coi là gỗ cũ.
Phía sau nhà còn có một số khung cửa đã đóng hoàn chỉnh, ông Hào có xuất trình giấy tờ chứng minh nguồn gốc số gỗ này. Theo ông Bùi Văn Khang - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Buôn Đôn - thì việc kiểm tra do xuất phát từ tin báo của người dân. (Lao Động 6/12)đầu trang(
Ông Sòi Ngọc Dũng, Chi cục Trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La cho biết, tính đến ngày 16/11/2012, lực lượng kiểm lâm trên toàn tỉnh kiểm tra phát hiện, lập biên bản 1.396 vụ vi phạm (giảm 105 vụ, bằng 7,73% so với cùng kỳ năm 2011), đã xử lý 1.359 vụ, với số tiền phạt trên 10,7 tỷ đồng; tịch thu 416,557 m3 gỗ các loại và nhiều lâm sản khác.
Theo nhận định của Chi cục Kiểm lâm Sơn La, mặc dù số vụ vi phạm trong năm 2012 có chiều hướng giảm so với năm 2011, song tình hình vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) vẫn diễn biến phức tạp, khó lường, đặc biệt là trong năm 2013, khi kinh tế còn khó khăn.
Về vốn đầu tư từ ngân sách, cân đối bố trí cho công tác BV&PTR trong năm 2012 thấp, bằng 1/3 so với năm 2011, trong khi yêu cầu nhiệm vụ BV&PTR ngày càng tăng. “Hiện, toàn tỉnh Sơn La có trên 633.000ha rừng. Nghị định số 119/2006/NĐ-CP ngày 16/10/2006 của Chính phủ quy định 1.000ha rừng phòng hộ tương ứng với 1 cán bộ kiểm lâm và 500ha rừng đặc dụng/kiểm lâm. Theo đó, Sơn La phải có 700 cán bộ kiểm lâm, nhưng hiện nay chỉ có 300 cán bộ”, ông Dũng nói.
Bên cạnh đó, theo Chi cục Trưởng Chi cục Kiểm lâm Sơn La, Chính phủ cần nâng cấp dự án trồng rừng có hỗ trợ gạo theo Thông tư số 52/2008/TTLT-BNN-BTC ngày 14/4/2008 thành mục tiêu quốc gia; Chính phủ sớm hình thành hệ thống tổ chức quản lý ngành Lâm nghiệp tại địa phương.
Được biết, thời gian qua, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La đã đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BV&PTR; tăng cường công tác quản lý cán bộ, gắn với đào tạo tập huấn, sát hạch nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống vi phạm, tội phạm trong lĩnh vực BV&PTR… (Thanh Tra 5/12)đầu trang(
Hàng chục ha rừng giá tị cả chục năm tuổi ở tiểu khu 83 (thuộc phân trường II, xã Gia Canh, huyện Định Quán có đường kính từ 20 - 30 cm cao hàng chục mét đã bị kẻ xấu vào dùng dao đẽo quanh thân cây sau đó đổ thuốc độc vào khiến cây chết hàng loạt. Tình trạng này diễn ra đã lâu, nhưng việc giải quyết tình trạng này xem ra còn đang bị vướng!
Theo tài liệu của PV, hiện nay có gần 20.000 cây gỗ giá tị (thường gọi là cây gỗ tếch, loại gỗ thuộc nhóm 3) bị hạ độc không thương tiếc. Ghi nhận của PV tại tiểu khu 83 cho thấy, hàng trăm cây giá tị có đường kính từ 20 - 30 cm, cao hàng chục mét, do bị kẻ xấu vào khoét sâu xung quanh thân và hạ độc bằng thuốc trừ sâu khiến cây chết hàng loạt. Sau khi hạ độc gỗ rừng, không ít hộ dân đã vào lấn chiếm để trồng điều, hoa màu, chuối… như muốn xí phần. Càng đi sâu vào bên trong, càng xuất hiện nhiều vườn điều, cà phê ngay cạnh những cây giá tị chết khô chờ mục đổ.
Một cán bộ BQL rừng phòng hộ Tân Phú (BQLRPH Tân Phú) cho biết, hiện tượng giết cây giá tị làm rẫy, cất nhà diễn ra bắt đầu từ năm 1992, ban đầu từ vài chục cây, sau đó phát hiện vài trăm rồi giờ lên đến hàng ngàn cây. Càng ngày, tình trạng hạ độc cây giá tị càng công khai, ngang nhiên như thách thức lực lượng chức năng…
Một nhân viên Trạm kiểm lâm địa bàn xã Gia Canh bức xúc, tình trạng chống trả người thi hành công vụ diễn ra rất quyết liệt. Nhiều đối tượng phá rừng sẵn sàng “liều chết” nếu gặp phải sự kiểm tra của lực lượng chức năng…
Đơn cử, có lần chúng tôi nhận được lệnh tăng cường cùng với lực lượng chức năng vào tiểu khu 83 hỗ trợ tháo gỡ nhà, chòi xây cất trái phép. Mặc dù đoàn đã phát lệnh cảnh báo, tuy nhiên khi tới nơi, một đối tượng hung hãn đã dùng xe gắn máy rồ ga và lao thẳng vào chúng tôi. Lúc đó, chúng tôi phải nổ súng bắn chỉ thiên nhưng hàng chục đối tượng vẫn không sợ, nhào tới cầm gậy và cả dao búa để chống trả.
Trước tình trạng chặt phá đến mức báo động, BQLRPH Tân Phú đã cho lực lượng cơ động và cả chó nghiệp vụ vào trực chốt cả ngày lẫn đêm. Mặc dù phát hiện những đối tượng phá rừng và đưa ra truy tố công khai, thế nhưng mức phạt 17 tháng tù giam với đối tượng vi phạm như chưa đủ sức răn đe.
Theo ông Đặng Hồng Tăng, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Đồng Nai, việc cây giá tị bị xâm hại là bởi người dân muốn nhà nước giao đất rừng cho dân làm đất sản xuất. Do đó, chúng tôi đã lập phương án xử lý khu vực người dân lấn chiếm trái phép này theo Nghị định 135 của Chính phủ. Đồng thời, đề xuất UBND tỉnh xem xét và thực hiện việc giao khoán đất rừng cho người dân cùng làm ăn chia sản phẩm. Làm theo chủ trương này thì người dân sẽ có đất sản xuất lại bảo vệ được rừng.
Tìm hiểu của PV cho thấy, trước khi xảy ra tình trạng rừng giá tị bị xâm hại thì có 130 hộ dân ở ấp 9, xã Gia Canh (Định Quán) canh tác trên đất rừng khiếu nại đòi nhà nước cấp sổ đỏ. Theo một người dân ngụ ấp 9, xã gia Canh, huyện Định Quán, phần đất có diện tích hơn 4,4 ha là một phần trong diện tích đất rừng do vợ chồng ông mua bằng giấy tờ tay qua ba người từ năm 1993 và đã sử dụng trồng cây lâu năm. Trong quá trình sử dụng đất, người dân có nộp thuế cho BQLRPH Tân Phú (trước đây là Lâm trường Tân Phú) từ năm 1995 đến năm 2002. Hiện diện tích đất rừng trên đã có đăng ký quyền sử dụng đất và được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất của tỉnh cấp biên nhận hồ sơ từ những năm 2006…
Tuy nhiên, mới đây UBND tỉnh Đồng Nai ra quyết định bác đơn khiếu nại của 130 hộ dân với nhiều lý do. Theo kết quả thẩm tra, xác minh nội dung khiếu nại cho thấy, diện tích đất của trên 100 hộ dân tại đây đã nằm trong diện tích 11.200 ha đất rừng do UBND tỉnh Đồng Nai cấp cho Lâm trường Tân Phú từ những năm 1978.
Sau đó đã được tỉnh phê duyệt đề án chuyển đổi Lâm trường Tân Phú thành BQLRPH Tân Phú với diện tích trên 13.943 ha. Cũng theo quyết định này, UBND tỉnh nêu rõ đây là quyết định giải quyết lần hai (trước đó UBND huyện Định Quán đã bác đơn). Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày 23/11/2009, nhận quyết định, nếu không đồng ý các hộ trên có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án theo quy định…
Một cán bộ BQLRPH Tân Phú cho biết, nguyên nhân dẫn đến việc đầu độc rừng giá tị và nhiều sự việc phức tạp là do trước đây có chủ trương kêu gọi người dân phối hợp canh tác đất nông lâm kết hợp, trồng cây khép tán, nông dân hưởng hoa màu còn trồng rừng là để cho tương lai. Tuy nhiên sau đó bằng nhiều động tác, người dân đã vô tư chiếm luôn phần đất đã được giao làm… Mặc dù hiện nay đã cấm trồng cây nông nghiệp trên đất rừng, nhưng người dân vẫn lén trồng rất nhanh, thậm chí cất nhà ở, kéo điện xuyên rừng...
Trước tình hình trên, BQLRPH Tân Phú đã đề nghị cơ quan chức năng di dời dân ra khỏi rừng. Về những cây giá tị bị đầu độc chết đứng, cần phải thanh lý sớm, nếu không sẽ dẫn tới bị thiệt hại nặng vì gỗ quý chết khô không còn giá trị… (Pháp Luật Việt Nam 5/12)đầu trang(
Chỉ trong vòng vòng chưa đầy một tuần lễ, cơ quan chức năng tỉnh Nghệ An đã tiến hành kiểm tra các xưởng xẻ gỗ trên địa bàn huyện Diễn Châu đã phát hiện và thu giữ hàng chục m3 gỗ lậu.
Ngày 3/12/2012, Hạt kiểm lâm huyện Diễn Châu phối hợp với đoàn kiểm tra liên ngành tiến hành kiểm tra trên địa bàn xóm 11 và xóm Chợ Đình (thuộc xã Diễn Mỹ, huyện Diễn Châu, Nghệ An) bước đầu đoàn đã phát hiện và thu giữ gần 10m3 gỗ xẻ. Sau khi lập biên bản vi phạm, lực lượng chức năng chuyển số trên về trụ sở Hạt kiểm lâm Diễn Châu để phục vụ công tác điều tra, xử lí.
Trước đó, ngày 27/11 Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về quản lí kinh tế và chức vụ phối hợp với Đội kiểm lâm cơ động số 1, công an huyện Diễn Châu đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với các cơ sở chế biến lâm sản tại địa bàn huyện Diễn Châu phát hiện tại kho bãi của Hà Văn Khánh (SN 1966, ở xóm 4, xã Diễn Yên, Diễn Châu), lực lượng chức năng phát hiện 11m3 gỗ các loại không giấy tờ hợp lệ.
Sau đó, đoàn liên ngành cũng tiến hành kiểm tra kho để gỗ của anh Trần Đình Quang (SN1972, trú tại xóm 8, Diễn Mỹ) thu giữ 32m3 gỗ các loại. Tính tổng cả hai lần các lực lượng chức năng đã thu giữ số lượng gỗ lậu rất hơn 50m3. Đây là vụ phát hiện số gỗ lậu lớn nhất tại địa bàn Nghệ An từ trước tới nay.
Hạt kiểm lâm Diễn Châu cho biết thêm, hiện nay trên địa bàn có rất nhiều doanh nghiệp kinh doanh gỗ, trong đó có một số địa bàn tập kết tương đối lớn số lượng gỗ lậu do các đầu nậu cai quản và diễn biến rất phức tạp. Hiện Hạt kiểm lâm Diễn Châu đã và đang tiếp tục vào cuộc một cách quyết liệt để ngăn chặn tình trạng thu mua gỗ tràn lan không có giấy tờ trên địa bàn.
Một cán bộ Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ CA tỉnh Nghệ An cho biết, hiện nay tình trạng mua bán trái phép lâm sản trên địa bàn huyện Diễn Châu nói riêng và trên toàn tỉnh nói chúng đang diễn biến phức tạp, các cơ quan chức năng ở cơ sở cần vào cuộc một cách quyết liệt hơn để ngăn chặn tình trạng thu mua gỗ tràn lan không có giấy tờ trên địa bàn.
Trao đổi với PV Dân trí vào sáng ngày 5/12, ông Lê Cao Bính - Chi cục trưởng Kiểm lâm Nghệ An cho biết hiện đang phối hợp với Công an kinh tế Nghệ An để làm rõ các vụ việc vừa qua. “Hiện chúng tôi đang phối hợp với Công an kinh tế làm rõ từng vụ việc và khi có kết quả thì sẽ tiến hành xử lý hành chính, sẽ xử lý đúng người, đúng tội. Hiện Kiểm lâm Nghệ An cũng đã và đang phối hợp với chính quyền các huyện kiểm tra, đánh dấu số gỗ còn tồn đọng trong dân theo Chỉ thị 31 và từ đó cũng có thể phát hiện gỗ lậu trong dân”, ông Bính nói. (Dân Trí 5/12)đầu trang(
5/12, lực lượng cảnh sát giao thông tuần tra Đội Rạch Chiếc phối hợp cùng Trạm kiểm dịch động vật Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện một xe tải chở 17 con trăn còn sống đang lưu thông trên tuyến Quốc lộ 1A.
Theo điều tra ban đầu, chiếc xe tải mang biển kiểm soát 54V-1092 do tài xế Lê Huy Tùng, tạm trú tại thành phố Biên Hòa, điều khiển.
Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện trong thùng xe tải chứa 17 con trăn, trong đó có một số con nặng trên 50kg, với khối lượng khoảng hơn 200kg.
Bước đầu, tài xế Tùng khai nhận vận chuyển số trăn trên từ tỉnh Đồng Nai về huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh để nuôi. Tài xế Tùng không xuất trình được giấy tờ liên quan đến nguồn gốc những con trăn này.
Theo bà Đặng Thị Tuyết, Trưởng trạm kiểm dịch động vật Thủ Đức, trạm sẽ lập biên bản về vụ việc đồng thời tiến hành bàn giao 17 con trăn cho Chi cục Kiểm lâm Thành phố Hồ Chí Minh để xử lý theo quy định của pháp luật. (Tuổi Trẻ 5/12; Dân Trí 6/12; Công An Nhân Dân 5/12; Thanh Niên 5/12; Phụ Nữ TPHCM 5/12; Tin Tức 5/12; Vietnamnet 5/112; VietnamPlus.vn 5/12)đầu trang(
Nhờ thực hiện tốt công tác tuyên truyền vận động, tăng cường tuần tra kiểm soát và xử lý nghiêm, kịp thời những trường hợp vi phạm nên từ đầu năm 2012, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng chỉ xảy ra trên 1.750 vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng,giảm 3,7% so với cùng kỳ năm 2011.
Trong đó, phá rừng là 472 vụ với diện tích bị phá gần 135ha, giảm 76ha. Trong số những vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng nói trên, cơ quan chức năng đã xử lý 1.620 vụ, đạt trên 92%,tịch thu gần 3000m3 gỗ tròn các loại , thu nộp ngân sách trên 12,5 tỷ đồng.
Để bảo vệ tài nguyên rừng, hạn chế các vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng xảy ra, hiện nay, lực lượng kiểm lâm cùng các đơn vị chủ rừng phối hợp với chính quyền các địa phương trong tỉnh tăng cường công tác tuyên truyền,vận động nhân dân chấp hành tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, phát hiện và thông báo kịp thời với cơ quan chức năng những trường hợp xâm hại tài nguyên rừng trái phép. (Theo Đài PT – TH Lấm Đồng 6/12)đầu trang(
Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Đà Nẵng (gọi tắt là Hải quan sân bay) vừa phát hiện, ngăn chặn vụ một người đang bị truy nã vẫn buôn lậu ngà voi vào Việt Nam.
Ngày 5.12, Hải quan sân bay Đà Nẵng tiến hành bàn giao 31,6 kg ngà voi cho Phân viện khoa học hình sự - Bộ Công an tại TP.Đà Nẵng để trưng cầu giám định, tiếp tục củng cố hồ sơ để xử lý vụ việc theo quy định.
Trước đó, vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 3.12, ông Nguyễn Thế Dân (quốc tịch Việt Nam, hộ chiếu B6173586 do Cục Quản lý Xuất nhập cảnh cấp ngày 12.10.2012) vừa đáp chuyến bay số hiệu MI633 từ Singapore đến TP.Đà Nẵng liền bị lực lượng Công an cửa khẩu sân bay quốc tế Đà Nẵng bắt giữ theo lệnh truy nã về hành vi đánh bạc.
Tiến hành mở va li hành lý ký gửi của ông Nguyễn Thế Dân, Hải quan sân bay Đà Nẵng phát hiện có 5 đoạn ngà voi trắng (31,6 kg) nên đã lập biên bản vi phạm hành chính, ra quyết định tạm giữ, niêm phong tang vật vi phạm. (Thanh Niên 5-6/12; Lao Động 5/12; Hải Quan 5/12)đầu trang(
5-12, Sở Nông nghiệp-Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị cho biết, đến nay có hơn 200 ha rừng thông đang trong thời kỳ khai thác của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Đường 9 và Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bến Hải bị sâu róm gây hại trên diện rộng.
Qua khai thác nhựa thông cho thấy, những cánh rừng sâu róm gây hại đã bị giảm năng suất và chất lượng nhựa; cây thông khô dễ xảy ra cháy rừng.
Công nhân lâm nghiệp đã triển khai các biện pháp diệt trừ sâu róm để hạn chế lây lan trên diện rộng như phun thuốc trừ sâu, dùng đèn bẫy bướm… nhưng do thời tiết mùa này thuận lợi nên sâu róm sinh trưởng và phát triển nhanh.
Trước tình hình như vậy, Công ty TNHH một thành viên (MTV) Lâm nghiệp Đường 9 và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải đã tăng cường nhân lực và kinh phí cho việc phòng trừ sâu róm nhằm diệt trừ có hiệu quả dịch sâu róm phá hoại cây thông trước khi mùa xuân đến, vì mùa này sâu róm sinh sôi và phát triển nhiều nhất trong năm. (Nhân Dân 6/12)đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Ở huyện Hiệp Đức, nhiều đối tượng sử dụng xe ô tô gắn biển kiểm soát gỉa để chuyên chở gỗ khai thác trái phép. (Nhân Dân 6/12)đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Nạn chặt phá rừng đầu nguồn diễn biến phức tạp tại một số xã thuộc thị xã Hương Trà. (Nhân Dân 6/12)đầu trang(
5/12, trên đường Hùng Vương, đoạn thuộc phường Nhơn Bình, TP Quy Nhơn, nhiều người dân đi đường không khỏi ngạc nhiên khi thấy 2 người đàn ông trạc tuổi trên 40 đang bày bán thịt heo rừng ngay bên đường.
Theo ghi nhận, thịt con heo rừng đã được xẻ ra từng miếng nhỏ vẫn còn nguyên bộ lông đen dài, được giao bán với giá 250.000/kg. Không ít người thấy lạ nên tấp vào bên đường xem, trong số đó có người thấy thịt heo tươi ngon, sau khi hỏi có đúng phải heo rừng không đã không ngần ngại rút tiền ra mua.
Theo những người dân ở đây cho biết, lâu nay họ chưa thấy ai bán thịt heo rừng ở khu vực này. Tuy nhiên, thấy thịt tươi ngon đích thực là thịt heo rừng nên không ngần ngại mua về ăn cho thật chất. (Dân Trí 6/12)đầu trang(
Khoảng hơn 1 năm trở lại đây, tình trạng buôn bán động vật quý hiếm lại rộ lên tại TPHCM. Những loài động vật quý hiếm, có loại nằm trong Sách đỏ vẫn vô tư được bày bán một cách công khai dọc theo các tuyến đường đông người qua lại. Thậm chí, có người còn xem đại bàng là phương thuốc để chữa bệnh “yếu sinh lý”.
Dọc theo trục đường Ba Tháng Hai, quận 10, TPHCM, hằng ngày có vài người bày bán các loại động vật quý hiếm- từ đại bàng đến chim ó, cú mèo… Khi hỏi là tại sao động vật quý hiếm mà lại bán vô tư như vậy, người bán trả lời là do họ mua của người khác rồi bán lại kiếm lời, hoàn toàn không biết là có phải động vật quý hiếm, được bảo vệ hay không. Nói là vậy, nhưng khi chúng tôi yêu cầu được chụp hình chú chim đại bàng thì người bán không cho.
Hỏi giá một cặp đại bàng khoảng chừng 1 tháng tuổi đang bày ra trên vỉa hè, người phụ nữ trạc tuổi 50 hét giá 1 triệu 6. Nếu mua 1 con riêng lẻ thì bán giá 800 nghìn một con. Nhìn 2 chú đại bàng bị cột bằng đoạn dây nhỏ mà thấy thương cho số phận “vua chim”.
Cũng theo lời tiếp thị của người bán thì nhu cầu mua chim cảnh là đại bàng rất nhiều, “đại bàng là “vua chim” nên ai cũng thích mua về nhà nuôi, hợp phong thủy, làm ăn phát đạt”. Hỏi một ngày chị bán được mấy cặp, chị ta nói: “Không có hàng mà bán, chứ có mấy thì bán cũng hết!”.
Theo nghị định 32/CP của Chính phủ thì đại bàng nằm trong nhóm 2B, thuộc loại động vật quý hiếm. Những hành vi buôn bán, vận chuyển, nuôi nhốt trái phép, không chứng minh được nguồn gốc, kể cả dùng để nuôi làm cảnh sẽ bị tịch thu và tùy theo mức độ nặng nhẹ mà quyết định xử lý hình sự hay hành chính.
Đại bàng là tên gọi của người dân, nhưng trong Sách đỏ Việt Nam thì gọi là chim cắt. Trong Sách đỏ Việt Nam hiện có 12 loài cắt: Cắt đen, cắt Amur, cắt Ấn Độ, cắt bụng hung, cắt nhỏ bụng trắng, cắt nhỏ hông trắng, cắt Trung Quốc… Tất cả 12 loại cắt này đều nằm trong danh mục bảo vệ nghiêm ngặt, cấm mua bán, săn bắt dưới bất kỳ hình thức nào.
Để tìm hiểu thêm về nguồn chim đại bàng được bày bán công khai, chúng tôi ghé vào một cửa hàng chim cảnh tại quận 11, TPHCM. Sau một hồi vòng vo, nói là không có bán loài động vật đó, nhưng trước yêu cầu được mua một cặp để đem về nuôi làm cảnh thì ông chủ của hàng cũng chịu "bật mí".
Ông chủ cửa hàng này ra giá 2 triệu đồng cho một cặp đại bàng núi 4 tháng tuổi, nếu có nhu cầu thì sẽ lấy hàng cho. Còn nếu yêu cầu đại bàng loại lớn- từ 1 năm tuổi trở lên thì cho số điện thoại, đặt cọc trước ít tiền, ông ta sẽ gọi khi có hàng.
Đem chuyện về chim đại bàng với một nghệ nhân nuôi chim có tiếng ở công viên Thảo Cầm viên Sài Gòn thì được ông cho biết: “Chim đại bàng bây giờ hiếm lắm, phải lùng kỹ mới có đại bàng chính gốc tự nhiên, được bắt từ những cánh rừng Trường Sơn trùng điệp. Loại đại bàng bày bán ngoài đường chủ yếu là chim non, cũng không chắc là đại bàng rừng, nếu không rành thì có thể mua nhầm chim ó”.
Ông cũng cho rằng, mới đây có phong trào ăn thịt chim đại bàng rộ lên. Những người đó cho rằng ăn món đại bàng hầm với thuốc bắc để tăng cường khả năng “chiến đấu” với…phụ nữ khi “lâm trận”.
Nếu quả thực là như vậy thì đại bàng - loài chim chúa tể của bầu trời, khắc tinh của những loài thiên địch có hại- đang thực sự lâm nguy, cần lắm bàn tay bảo vệ của các cơ quan chức năng.
Rừng xanh đang bị xâm hại từng ngày từ tay của lâm tặc, của thủy điện thì còn đâu những mỏm đá cheo leo, những cánh rừng xanh bạt ngàn hùng vĩ cho đại bàng sinh sống? Nay, đại bàng lại được đưa lên bàn nhậu để phục vụ ham muốn của con người, thì liệu sau này con cháu của chúng ta có còn nhìn thấy đại bàng trong tự nhiên nữa hay không; hay là chỉ thấy trong sách, trên mạng hay trong những câu chuyện cổ tích? (Lao Động 6/12)đầu trang(
Trước đây, gỗ sưa trong vùng nhiều vô kể, có những cây lớn hai người ôm không xuể, người dân chặt làm củi nấu, làm nhà hoặc đắp đống dưới gầm nhà để làm quan tài phòng khi trong gia đình không may có người qua đời. Người dân nơi đây chẳng thể ngờ điều đó lại khiến cho nhà mồ của người chết bị kẻ xấu đào bới tung tóe để trộm bộ quan tài gỗ sưa.
Già làng Đinh H’Mưng, làng Mơ H’Ra, xã Kông Lơng Khơng, huyện Kbang trầm ngâm kể chuyện xưa như một pho sử thi sống của buôn làng. Ông nhớ về một thời gỗ sưa trong vùng được sử dụng chủ yếu để làm... củi nấu.
Ngày trước, vùng Kbang, An Khê, An Pơ của tỉnh Gia Lai, gỗ sưa nhiều vô kể. Cũng như các loại gỗ tạp khác, gỗ sưa mọc nhiều trong những cánh rừng phía tây, giáp với dãy Trường Sơn hùng vĩ. Dân làng vào rừng chặt gỗ sưa về làm nhà, xẻ gỗ đóng bàn ghế cho học sinh hoặc làm củi nấu. Cây lớn cỡ hai người ôm thì giữ lại làm áo quan cho người chết...
Gỗ sưa khi đốt có mùi thơm thoảng nhẹ quyến rũ kiểu hương trầm. Thời bấy giờ để bán được những cây gỗ sưa lớn, người dân địa phương thường nói dối những người buôn gỗ lậu đó là gỗ hương.
Cách đây gần chục năm, một số người lạ mặt không biết từ đâu xuất hiện trong vùng, họ đi thu mua gỗ sưa với giá 5.000 đồng/kg. Đang từ một loại gỗ tạp, giá trị sử dụng rất ít, người dân địa phương bắt đầu mơ màng hiểu về giá trị kinh tế của loại gỗ này. Chỉ trong một thời gian ngắn, những cây sưa lớn nhỏ trong vùng bị đốn hạ không thương tiếc. Gỗ sưa theo những chuyến xe gắn máy, ô tô dời xa buôn làng, dạt về đâu không ai rõ nữa.
Gỗ xưa khan hiếm dần, giá trị tiền tệ của nó cũng được các thương lậu thu mua đẩy cao lên hàng ngày. Từ vài nghìn đồng mỗi kilogam lên vài chục ngìn đồng, rồi vài trăm nghìn… và bây giờ gỗ sưa có giá lên đến vài triệu đồng một kilogam.
Sưa đắt, người ta phá cả nhà cổ tìm những khúc gỗ sưa đem bán. Không chỉ có người Kinh, một số gia đình người dân tộc Bana nhạy bén với thời cuộc đã chớp nhanh cơ hội để làm giàu.
Khi nguồn gỗ sưa cạn kiệt, người dân buôn làng cơm đùm, cơm nắm, lỉnh kỉnh mang bao bị kéo nhau vào rừng tung đá, bới đất, lật tìm từng cọng rễ sưa lên để mang về bán. Có những chuyến đi chóng vánh, sáng đi tối về. Rồi cũng có những chuyến đi kéo dài dai dẳng cả tuần hay lâu hơn thế nữa. Tuy nhiên phần lớn họ tay trắng trở về trong sự mệt mỏi, chán chường, đau ốm vì đói ăn, nằm rừng muỗi đốt, uống nước suối lạnh.
Anh Đinh H’Ní (25 tuổi), vốn là một công an viên thôn Kuk Côn, xã An Thành, huyện An Pơ (Gia Lai) cũng không thể làm ngơ trước ma lực đồng tiền từ gỗ sưa đem lại. Cách đây chưa lâu, anh và một người trong thôn quyết định lên rừng tìm sưa để mong có cơ hội đổi đời mặc cho sự can ngăn của vợ trẻ, con thơ.
Lang thang trong rừng suốt 6 ngày ròng rã, gặp bất cứ rễ cây nào họ cũng dùng lửa để thử. Đến ngày thứ 7 thì hai người tìm được một gốc sưa đã mục bên bờ suối trước đó đã bị ai đào lấy hết. Bới tung đất đá, hai người mừng quýnh khi phát hiện những chiếc rễ quý đã mục vẫn còn sót lại, dù rất nhỏ. Cả ngày đào bới, họ gom được 19kg rễ sưa vụn nát đem về bán được 6 triệu đồng.
Sau lần này, Đinh H’Ní cùng bạn còn lên rừng một lần nữa nhưng cả hai đã phải trở về tay không, bụng đói meo, người gầy rạc. Từ đó, họ nhận ra rằng mộng gỗ sưa đã không thể giúp họ đổi đời. Vùng đất gỗ sưa ngự trị đã trở thành ký ức một thời đã xa.
Giữ lại một gói rễ gỗ sưa đã mục, H’Ní đem ra khoe với tôi: “Tiếc quá, khi mình lớn lên thì sưa không còn nữa. Trước đào được một ít, mình đem bán rồi giữ lại vài rễ để làm kỉ niệm”. Nói xong, H’Ní lấy một miếng nhỏ tặng tôi. (Khoa Học&Đời Sống 5/12)đầu trang(
Theo Công an TP.HCM, trong 11 tháng năm 2012, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (CSPCTPVMT) đã phát hiện 454 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT) và vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP), tăng 112 vụ so với năm 2011.
Trong số đó, Phòng CSPCTPVMT đã kết thúc xác minh và đề xuất xử lý 375 vụ. Hầu hết các vụ vi phạm đề chỉ xử phạt hành chính, với tổng số tiền xử phạt hơn 15 tỷ đồng. Tuy nhiên, chỉ có 1 vụ chuyển cơ quan cảnh sát điều tra khởi tố hình sự.
Tình hình vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT và VSATTP tại TPHCM vẫn đang diễn biến theo chiều hướng phức tạp về quy mô và tính chất, sau 5 năm thành lập, Phòng CSPCTPVMT đã phát hiện và xử lý gần 2.000 vụ vi phạm BVMT và VSATTP, xử phạt hành chính hàng nghìn tỷ đồng.
Cũng trong năm 2012, Phòng CSPCTPVMT đã xử lý nhiều vụ vi phạm quy định về mua bán, lưu trữ động vật hoang dã, quý hiếm, bắt ba đối tượng, thu được một bộ xương hổ, hai cá thể hổ con được bảo quản trong rượu và nhiều bộ xương các loài động vật hoang dã quý hiếm như sư tử, khỉ... (Hải Quan 6/12)đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Những biểu hiện tiêu cực của thủy điện như thấm đập, liên tục gây ra động đất kích thích tại Thủy điện sông Tranh 2 (Quảng Nam), mới đây lại thêm sự cố khó tin khi để xảy ra vỡ đập thủy điện Ðắk Mek 3 (Kon Tum) bên trong toàn xây bằng đất, cát đá… đã làm bà con ăn không ngon ngủ không yên, không dám tin vào sự an toàn của thủy điện.
Nhưng các chuyên gia và nhiều người dân cho rằng tác hại của việc phát triển ồ ạt nhà máy thủy điện vừa và nhỏ không chỉ dừng lại ở đó, mà còn đang ảnh hưởng nghiêm trọng tới mục tiêu bảo vệ rừng, tàn phá môi trường sinh thái...
“Cuộc chiến” giữa nhiệm vụ giữ rừng và dự án làm thủy điện bắt đầu bùng lên khi có chủ trương xây dựng công trình thủy điện Ðồng Nai 6 và 6A. Ở đây, dự án không chỉ ảnh hưởng tới rừng thông thường mà nghiêm trọng hơn là “nuốt” cả một phần Vườn quốc gia Cát Tiên, nơi trú ngụ của một số loài động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng, cần được bảo tồn nghiêm ngặt.
Trước tình hình đó, Bộ NN-PTNT đã được giao tổ chức rà soát lại diện tích rừng bị chuyển đổi sang thủy điện. Theo báo cáo Bộ NN-PTNT vừa gửi Thủ tướng Chính phủ, từ năm 2006 đến nay, cả nước đã có 160 dự án thủy điện có việc chuyển đổi rừng sang làm thủy điện. Tổng diện tích rừng phải nhường chỗ cho nhà máy và hồ thủy điện là gần 20.000 ha. Ðiều đáng lo là phần lớn diện tích rừng bị chuyển đổi đều bị mất trắng, chưa được phục hồi trả lại. Trong 29 tỉnh, thành có dự án thủy điện chuyển đổi rừng thì đến nay chỉ có vỏn vẹn 8 tỉnh làm được việc trồng lại rừng mới, với diện tích rất ít ỏi: 735 ha.
Tuy nhiên, nếu theo thông tin của Bộ Công thương, từ trước tới nay, cả nước ta đã có tới 1.114 công trình và dự án thủy điện, trong đó 1.004 dự án là thủy điện vừa và nhỏ (gồm cả công trình đã hoàn thành, đang triển khai hoặc còn ở bước lập dự án). Phần lớn các thủy điện đều có liên quan đến việc chuyển đổi rừng. Như vậy, diện tích rừng bị triệt hạ, xâm hại là không nhỏ.
Trong khi theo các chuyên gia, phần lớn các dự án thủy điện nhỏ đều không có bước đánh giá tác động môi trường. Các thủy điện vừa và nhỏ phá rừng và ảnh hưởng đến sinh thái nghiêm trọng hơn thủy điện lớn. Mặc dù nước ta thường xuyên phải đối mặt với thiên tai bão lũ, nhưng đa số công trình thủy điện vừa và nhỏ đều không có nhiệm vụ cắt giảm lũ cho hạ du.
An ninh năng lượng là việc cần phải lo xa, nhưng cũng phải tính đến chuyện cân bằng lợi ích giữa phát triển thủy điện và mục tiêu bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo an toàn tính mạng và điều kiện sống của nhiều người dân. Muốn vậy, chúng ta phải có quy hoạch cụ thể, đưa ra cơ chế đúng đắn bắt buộc chính quyền địa phương, các nhà đầu tư tuân thủ quy hoạch trồng và bảo vệ rừng.
Do đó, hoàn toàn đồng tình với chủ trương của Bộ NN-PTNT khi vừa đề xuất với Thủ tướng Chính phủ áp dụng quy định trong thời gian tới, bắt buộc các dự án xây dựng thủy điện có chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang làm công trình thủy điện phải có phương án trồng rừng thay thế diện tích rừng đã bị mất.
Mọi trường hợp không có phương án trồng rừng thay thế được duyệt, kiên quyết không được khởi công dự án. Không trồng bù lại diện tích rừng chuyển đổi thì không cho phép đi vào hoạt động, tích nước. Ðồng thời, hạn chế thấp nhất việc chuyển đổi rừng tự nhiên sang làm thủy điện. Về lâu dài, phải đẩy mạnh và mở rộng hình thức nhà máy thủy điện chi trả dịch vụ môi trường rừng cho người trồng rừng, lâm trường để thu hút được nhiều người dân trồng rừng, bảo vệ rừng trong khu vực các công trình thủy điện. (Báo Đăk Nông 6/12)đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Theo hãng tin Xinhua, hạn hán kinh hoàng ở Zimbaque đã khiến cho gần 190 con voi trong khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia Hwange bị chết.
Đại diện của tổ chức bảo vệ động vật hoang dã địa phương cho biết: “số lượng voi bị chết có thể lớn hơn, vì diện tích khu bảo tồn Hwange rất lớn, nên khó có thể theo dõi được hết”.
Số lượng voi bị chết vì thiếu nước đang ngày càng tăng. Năm ngoái, có khoảng gần 100 con bị chết vào mùa khô.
Voi là một trong những nguồn thu hút khách du lịch tới Zimbaque. Trong khu bảo tồn Hwange có gần 50.000 chú voi. Dù rất nhiều loài vật phải chịu đựng nạn hạn hán nhưng voi mới là loại chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Mỗi ngày voi cần một lượng nước khoảng 225 lít. (Đất Việt 5/12)đầu trang(
Các tổ chức môi trường cho rằng Trung Quốc là đầu nậu thu gom các nguồn gỗ lậu khắp nơi trên thế giới để đưa vào các nhà máy sản xuất hàng xuất khẩu và phục vụ đại gia trong nước.
Theo Tổ chức Điều tra môi trường (EIA), từ các quốc gia châu Phi đến quần đảo Solomon ở Nam Thái Bình Dương và các nước láng giềng với Trung Quốc như Myanmar, Lào đều đang ồ ạt đốn hạ gỗ quý để đáp ứng nhu cầu của Trung Quốc.
Ở một số nước, EIA phát hiện lái buôn Trung Quốc phá vỡ những thỏa thuận chống đốn và xuất khẩu các loài cây hiếm khi dùng mọi cách từ hối lộ đến tiếp tay cho bọn buôn lậu.
EIA nhấn mạnh rằng Trung Quốc với vai trò là nước buôn bán gỗ lớn nhất thế giới đang nắm giữ số phận của nhiều mảnh rừng tự nhiên và nỗ lực chống phá rừng phụ thuộc vào các biện pháp của nước này. Nhiều nước châu Âu, Mỹ, Úc hay Nhật đã thông qua hoặc đang cân nhắc các luật chống gỗ lậu.
“Tuy nhiên trong lúc các thị trường tiêu thụ lớn khác đã hành động thì Trung Quốc vẫn cương quyết đứng bên lề” - báo cáo viết.
Nhu cầu nhập gỗ của Trung Quốc đã tăng gấp ba lần trong hơn một thập kỷ qua, đạt 180 triệu m3 - tức gấp 60 lần sức chứa của sân vận động Tổ Chim khổng lồ ở Bắc Kinh. Theo các phân tích số liệu thương mại, 1/10 số đó là gỗ lậu. Con số thật có thể còn cao hơn.
EIA cho biết nguồn gỗ hồng/cẩm lai đưa vào Trung Quốc chủ yếu đến từ khu vực sông Mekong. Thái Lan đã chặn hơn 3.000 chuyến xuất khẩu loại gỗ quý này trị giá 3 tỉ USD.
Tại Việt Nam, các thương nhân Trung Quốc cấu kết với một số người để đảm bảo nguồn cung gỗ lậu. Báo Phnom Penh Post cho biết hơn 32.000m3 gỗ quý của Campuchia được bán cho Trung Quốc từ năm 2007-2011 với giá hàng chục triệu USD.
Cơn sốt gỗ quý của Trung Quốc được các nhà hoạt động môi trường mô tả như một sự điên rồ gớm ghiếc. “Một sự điên cuồng, như cơn sốt sừng tê giác và ngà voi. Nó là một sự dị hợm khó giải thích nổi, kiểu như càng độc thì giá càng cao - Marcus Hardtke, một chuyên gia rừng người Đức, giải thích - gỗ quý không có nhiều ở những hồ chứa đập thủy điện nên họ đổ xô lên rừng, những cây gỗ quý giá bị đốn trước tiên”.
Nhu cầu của những đại gia giàu có khiến giá gỗ hồng tăng lên vào khoảng 720 USD/kg và một bộ ghế, sofa có thể lên đến 320.000 USD. “Đồ gỗ được làm từ những loại gỗ hiếm nhất và có độ hoàn thiện tinh xảo có thể đạt đến hàng triệu USD” - báo cáo của EIA viết. EIA ví hành động của Trung Quốc như “xuất khẩu phá rừng” khi thả lỏng hoạt động ở nước ngoài của các doanh nghiệp gỗ dù siết chặt nạn phá rừng trong nước.
Dễ thấy nhất ở dãy núi biên giới với Myanmar khi sườn núi phía Trung Quốc không bị sứt mẻ gì thì ở sườn phía bên kia rừng rậm bị trọc lủi.
Cơn sốt gỗ quý của Trung Quốc cũng làm bùng nổ những cuộc xung đột của những băng đảng vũ trang để tranh giành khai thác đến cạn kiệt nguồn gỗ hồng ở các nước vùng Mekong.
Những cuộc xung đột xảy ra giữa lực lượng chính phủ và những kẻ khai thác gỗ lậu hoặc những vụ thanh toán giữa các băng đảng. EIA ước tính gần 50 tay buôn lậu Campuchia bị giết và nhiều tên bị bắt ở Thái Lan.
Những khoản hối lộ cũng làm chùn bước mọi nỗ lực chống phá rừng tại đây bên cạnh những yếu kém trong việc kiểm soát. Thái Lan năm ngoái đã thành lập lực lượng đặc nhiệm Rambo Army hoạt động ở biên giới Campuchia nhưng lực lượng này bị giải tán sau đó ba tháng.
Hình phạt đối với nạn đốn rừng ở Thái Lan cũng nhẹ và hầu hết những tay buôn lậu được hưởng án treo nếu nhận tội. Hồi tháng 4-2012, nhà hoạt động chống đốn gỗ lậu Chut Wutty của Campuchia bị bắn chết khi điều tra hoạt động khai thác trái phép của Công ty Timbergreen.
Vụ việc bị nghi ngờ có sự bắt tay giữa quan chức và các băng đảng. “Đây không chỉ gồm vấn đề môi trường mà nó còn tiếp tay cho tham nhũng và các mạng lưới tội phạm. Rất nhiều máu đã đổ trước khi những cây gỗ hồng đến được phòng khách của một ai đó. Gỗ hồng là một trong những loại gỗ đắt giá nhất thế giới nên đó là lý do nổ ra cuộc chiến”- nhà hoạt động Faith Doherty của EIA nói.
EIA đang nỗ lực thúc đẩy Chính phủ Trung Quốc soạn thảo luật kiểm soát gỗ nhập lậu vào thị trường trong nước. Trong khi đó, các nhà hoạt động cũng hối thúc các nước trong khu vực đưa gỗ hồng vào danh sách các loài có nguy cơ tuyệt chủng và cần được bảo tồn. (Tuổi Trẻ 6/12)đầu trang(
Nghiên cứu của Viện Sinh thái UNAM (Mexico) công bố trên tạp chí Anh Royal Biology Letters mới đây lý giải nguyên nhân trong tổ một số loại chim hoang đô thị có những mẩu tàn thuốc lá.
Nhà khoa học Isabel López-Rull và nhóm cộng sự cho rằng chim lấy tàn thuốc lá về xây tổ để chống các loại ký sinh trùng bám vào tổ.
Điều này được khẳng định trong thực tế khi ký sinh trùng thường bám vào tổ chim có xu hướng tránh xa những nơi xuất hiện tàn thuốc lá.
Theo nhóm nghiên cứu, trong thuốc lá chứa chất cellulose acetate và nicotine khiến các loại ký sinh không bám vào tổ chim. Họ khảo sát trên hai loại chim sẻ nhưng hiện cũng có một vài loại chim khác lấy mẫu tàn thuốc lá về làm tổ.
Báo cáo nghiên cứu cho rằng loài chim đã biết đối phó với các loại ký sinh trùng thường bám vào tổ bằng một số tập tính khác như tha về tổ những cành cây tươi có thành phần khác nhau nhằm xua đuổi ký sinh trùng.
Các nhà khoa học khẳng định: “Đô thị hóa đã thay đổi cách thức và sự đa dạng của nguồn tự nhiên mà chim phụ thuộc vào như vật liệu làm tổ và nguồn thực vật giúp chúng tự chữa bệnh. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi kiên trì quan điểm là đô thị hóa gây thách thức mới lên các loài chim, khiến chúng phải thích ứng khác với tập tính tiến hóa vốn có”. (Người Lao Động 6/12) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa