Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 06 tháng 11 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Thời gian qua, nhiều cánh rừng phòng hộ nằm trên địa bàn huyện An Lão (Bình Định) bị người dân địa phương lén lút khai thác trái phép, xâm hại nghiêm trọng. Không chỉ vậy, một DN “nấp” sau hợp đồng khai thác rừng trồng, phá luôn cả rừng phòng hộ.
Theo Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) huyện An Lão, trong thời gian gần đây, những cánh rừng phòng hộ nằm tại tiểu khu 22 thuộc xã An Tân và tiểu khu 34 thuộc xã An Hòa liên tục bị người dân địa phương khai thác trái phép.
“Té nước theo mưa”, nhiều hộ dân khác tại 2 địa phương nói trên “ăn theo” những người phá rừng trái phép, ùa vào rừng giành lại đất rẫy cũ gây náo loạn cả cánh rừng vốn yên tĩnh.
“Trước đó, BQLRPH An Lão đã phát hiện nhiều vụ vi phạm, lập biên bản và đề nghị xử lý nhưng vẫn không thể làm dịu tình hình. Nhất là tình trạng tranh giành lại đất rẫy cũ đã gây mất trật tự xã hội trên địa bàn, công tác quản lý bảo vệ rừng của chúng tôi cũng gặp nhiều khó khăn”, ông Thoàn, Phó GĐ BQLRPH huyện An Lão, than thở.
Đáng quan ngại hơn, một DN đã lợi dụng hợp đồng khai thác rừng trồng, trong quá trình khai thác đã đốn sạch nhiều diện tích rừng phòng hộ, nằm ngoài thiết kế thuộc tiểu khu 29 và 38 nằm trên địa bàn xã An Vinh. Vụ việc nghiêm trọng nói trên kéo dài nhiều tháng liền nhưng vẫn chưa được giải quyết tận gốc.
Theo BQLRPH huyện An Lão, sau khi các cấp có thẩm quyền huyện này có chủ trương bán đấu giá tài sản, giữa tháng 2/2014, BQLRPH huyện An Lão đã ký hợp đồng với ông Nguyễn Công Thành, đại diện Cty CP Nguyệt Anh (TP Quy Nhơn-Bình Định), đơn vị trúng thầu khai thác gỗ rừng trồng phòng hộ tại tiểu khu 29 và 38 xã An Vinh.
Không chỉ khai thác gỗ rừng trồng theo hồ sơ thiết kế đã được phê duyệt, Cty Nguyệt Anh còn khai thác trái phép nhiều diện tích rừng phòng hộ nằm kế cận. Tính đến nay, Cty Nguyệt Anh đã 5 lần bị đơn vị giám sát (BQLRPH An Lão) lập biên bản vi phạm về hành vi khai thác, mở đường và phá rừng phòng hộ trái phép tại tiểu khu 29, 38 xã An Vinh.
Khi được các cơ quan chức năng mời đến làm việc về những hành vi vi phạm nói trên, ông Nguyễn Công Thành thừa nhận: Công ty đã khai thác ngoài hồ sơ thiết kế cấp phép khai thác gỗ rừng trồng phòng hộ tại lô a, a1, khoảnh 2; lô b, khoảnh 4; lô c, khoảnh 5 thuộc tiểu khu 38 xã An Vinh, số lượng gồm 92 cây keo lai với trữ lượng 28,8m3 gỗ.
Ngoài ra, công ty cũng đã tự ý thuê xe đào đất mở đường khai thác trên diện tích đất rừng 6.400 m2, đồng thời khai thác 112 cây keo lai thuộc rừng phòng hộ được trồng vào năm 2003 nằm trên các tuyến đường đã mở. Toàn bộ khối lượng gỗ khai thác ngoài hồ sơ thiết kế đã được vận chuyển về Cty Nguyệt Anh ở cụm công nghiệp Bồng Sơn (Hoài Nhơn).
Tuy nhiên, ông Thành lại chống chế: “Do ranh giới giữa các luống rừng trong thiết kế và các luống rừng ngoài thiết kế nằm gần nhau (dù có khoảng cách đến 5 m) nên các tổ khai thác đã khai thác ... nhầm. Việc tự ý mở đường, chặt phá rừng phòng hộ trái phép là để thuận lợi cho việc vận chuyển, thu gom gỗ được phép khai thác của Cty Nguyệt Anh”.
Với những hình thức và mức độ vi phạm của Cty CP Nguyệt Anh tại các tiểu khu 29, 38 xã An Vinh, ông Nguyễn Thanh Sinh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện An Lão, khẳng định: “Cty Nguyệt Anh đã vi phạm khai thác trái phép rừng phòng hộ”.
Theo ông Sinh, Nghị định số 157/2013/NĐ-CP (ngày 11/11/2013) của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ và quản lý lâm sản đã nêu rõ: Mức tối đa xử phạt vi phạm hành chính đối với gỗ không thuộc loài nguy cấp, quý hiếm, khai thác rừng phòng hộ trái phép bị phạt tiền từ 50-100 triệu đồng nếu khai thác từ trên 8 m3 đến 15 m3 gỗ.
Vậy việc khai thác rừng phòng hộ trái phép hơn 20 m3 gỗ tròn không thuộc loài nguy cấp, quý hiếm của Cty Nguyệt Anh là vượt quá mức tối đa xử phạt vi phạm hành chính, phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
“Ngoài xử phạt theo đúng luật định, chúng tôi còn buộc Cty Nguyệt Anh phải trồng lại rừng trên toàn bộ diện tích đã vi phạm”, ông Sinh cho biết.
Trước vi phạm của Cty Nguyệt Anh đối với những cánh rừng phòng hộ trên địa bàn, UBND huyện An Lão đã vào cuộc kiên quyết. Gần đây, UBND huyện đã tổ chức riêng một cuộc họp để bàn biện pháp xử lý những hành vi vi phạm khai thác trái phép rừng phòng hộ, nhất là vụ việc xảy ra tại xã An Vinh.
Tại cuộc họp này, ông Bùi Tiến Dũng, Phó Chủ tịch UBND huyện An Lão đã chỉ đạo các cơ quan chức năng tiếp tục điều tra, xác minh cụ thể hành vi, mức độ vi phạm về quản lý, bảo vệ rừng và vi phạm về quản lý đất đai của Cty Nguyệt Anh để xử lý đúng theo quy định của pháp luật. “Chúng tôi sẽ xử lý nghiêm”, ông Dũng kiên quyết.
“Vụ việc khai thác trái phép rừng phòng hộ trên địa bàn xã An Vinh chúng tôi đã được Hạt Kiểm lâm huyện An Lão báo cáo. Chúng tôi đã tạm đình chỉ việc khai thác rừng phòng hộ tại xã An Vinh theo hồ sơ đã được phê duyệt trong thời gian chờ xử lý vi phạm”, ông Nguyễn Hiếu Hòa, Phó GĐ Sở NN-PTNT Bình Định. (Nông Nghiệp Việt Nam 6/11) đầu trang(
5/11, UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức cuộc họp Ban Chỉ đạo Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng để đánh giá kết quả thực hiện 10 tháng năm 2014 và đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới.
Từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện 968 vụ, khởi tố 27 vụ án hình sự, thu nộp ngân sách Nhà nước hơn 9,7 tỷ đồng. Đồng thời đã tổ chức hơn 298 lượt tuần tra, truy quét về khai thác khoáng sản trái phép có xâm hại đến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp.
Ngoài ra, đã chuẩn bị 13 triệu cây con giống và chuẩn bị hiện trường trồng rừng, gồm: 367 ha rừng phòng hộ; gần 1.300 ha rừng SX.
Chỉ đạo tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Huỳnh Khánh Toàn yêu cầu cơ quan chức năng xử nghiêm những hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, thắt chặt quản lý khai thác khoáng sản. Tổng kiểm tra các cơ sở chế biến lâm sản; tham mưu cho UBND tỉnh việc cấp phép hoạt động đối với các ghe thuyền hoạt động trên các sông, hồ thủy điện.
Đặc biệt cần nâng cao trách nhiệm của chính quyền UBND xã, huyện trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. (Nông Nghiệp Việt Nam 6/11) đầu trang(
"Vụ việc Công ty lâm nghiệp Sơn Động phá 20ha rừng là đặc biệt nghiêm trọng và có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự. Các cơ quan kiểm lâm, chính quyền UBND huyện Sơn Động không hề hay biết hoặc làm ngơ cho phá rừng dấu hiệu của hành vi thiếu tách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng", luật sư Trịnh Thị Hạnh phân tích.
Liên quan đến vụ việc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơn Ðộng mở đường phá hơn 20 ha rừng tự nhiên, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang đã có kết luận về sự việc, yêu cầu thu hồi trên 850 triệu đồng về ngân sách, giao Sở Nội vụ phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xem xét đề xuất hình thức kỷ luật đối với tập thể và cá nhân lãnh đạo Công ty Lâm nghiệp Sơn Động cùng lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện Sơn Động.
Nhìn nhận sự việc dưới góc độ pháp lý, luật sư Trịnh Thị Hạnh - Giám đốc Công ty luật An Khánh (Đoàn luật sư Hà Nội) phân tích: Với việc khai thác rừng trái phép, huỷ hoại 20ha rừng tự nhiên tại huyện Sơn Động đã có kết luận của UBND tỉnh Bắc Giang, Công ty lâm nghiệp Sơn Động và các cá nhân, tổ chức là lãnh đạo địa phương, lãnh đạo các cơ quan chức năng liên quan đã có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự.
"Việc khai thác phá hoại đến 20ha rừng mà cơ quan kiểm lâm, chính quyền UBND huyện Sơn Động không hề hay biết hoặc làm ngơ còn có dấu hiệu của hành vi thiếu tách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, cố ý làm trái. Tôi cho rằng sự việc đến mức UBND tỉnh Bắc Giang yêu cầu thu hồi trên 850 triệu đồng về ngân sách, giao Sở Nội vụ phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xem xét đề xuất hình thức kỷ luật đối với tập thể và cá nhân lãnh đạo Công ty Lâm nghiệp Sơn Động cùng lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện Sơn Động thì rõ ràng hậu quả ở đây là rất nghiêm trọng chứ không chỉ đơn thuần là “xem xét kỷ luật, khiển trách được nữa”.
Không chỉ nhìn nhận đơn giản Hạt kiểm lâm Sơn Động đã buông lỏng quản lý trong công tác bảo vệ rừng trên địa bàn dẫn đến việc để cho Công ty lâm nghiệp Sơn Động có nhiều hành vi sai phạm trong một thời gian dài mà không bị ngăn chặn xử lý, vấn đề ở đây còn có các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương sở tại, lẽ nào họ không biết? Vấn đề có hay không việc bao che, bảo kê cho những sai phạm này. Nếu nói rằng chính quyền địa phương không biết thì cần xem xét lại trình độ, khả năng quản lý của lãnh đạo địa phương", luật sư Hạnh nói.
Theo luật sư Hạnh, ngoài Hạt Kiểm lâm Sơn Động là đơn vị được nhà nước giao trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định của nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng của các tổ chức cá nhân trên địa bàn huyện Sơn Động thì ban ngành các cấp, công dân cũng cần phải có trách nhiệm này.
"Nếu có đơn thư tố cáo hành vi sai phạm, tôi cho rằng cơ quan có thẩm quyền trực tiếp là UBND huyện Sơn Động phải có trách nhiệm xem xét để bảo vệ tài nguyên là “rừng vàng” của địa phương. Tuy nhiên, trong trường hợp này, hậu quả đã xẩy ra, rừng đã bị huỷ hoại, gây mất trị an trong lĩnh vực an ninh bảo vệ rừng, gây thiệt hại về tài sản của quốc gia nên vấn đề đặt ra là xử lý trách nhiệm.
Trước hết cần phải xem xét trách nhiệm của cơ quan quản lý chính quyền địa phương, có hay không việc buông lỏng, bao che và bảo kê, họ có liên đới gì? Còn đối với những đối tượng trực tiếp khai thác trái phép, huỷ hoại rừng cơ quan công an cần thiết vào cuộc xem xét rõ hành vi khai thác trái phép và huỷ hoại rừng theo quy định của pháp luật để làm sáng tỏ vụ việc trước công luận.
Việc xem xét kỷ luật cán bộ lãnh đạo, cá nhân, tổ chức liên quan đến hành vi huỷ hoại rừng tại địa phương này nếu đến nay vẫn chưa được xử lý thì có thể thấy rõ dấu hiệu của việc bỏ mặc cho “chìm xuồng” vì vụ việc đã được công luận phát giác cả năm nay.
Đối với thiệt hại mà các đối tượng gây ra cho Nhà nước đã tính được giá trị bằng tiền, cơ quan chức năng cần sớm thu hồi về ngân sách đồng thời truy cứu trách nhiệm các cá nhân để bảo đảm tính thượng tôn pháp luật, giữ vững lòng tin của quần chúng nhân dân vào pháp luật đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước tránh bỏ lọt vi phạm, bỏ lọt tội phạm", luật sư Hạnh phân tích.
Như đã thông tin, theo Kết luận nội dung tố cáo của Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang, năm 2008, Công ty Lâm nghiệp Sơn Ðộng được Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang phê duyệt dự án cải tạo rừng tự nhiên giai đoạn 2008-2012, với tổng diện tích 390 ha.
Đến hết năm 2012, Công ty này đã thực hiện cải tạo, khai thác được 351,7 ha trên tổng số 390,6 ha được cấp phép. Tuy nhiên, kết quả thanh tra của Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang đã khẳng định ngoài việc cải tạo diện tích rừng trên, Công ty Lâm nghiệp Sơn Động còn...tiện thể phá luôn 23 ha rừng tự nhiên với thủ đoạn chuyển sang trồng rừng kinh tế. Diện tích Công ty này phá rừng nằm tại khu vực Khe Rào (xã Bồng Am) và khoảnh 19, đội Ðá Bờ 2, đều nằm trên diện tích Công ty được giao quản lý, khai thác và bảo vệ.
Đặc biệt, cùng với việc phá một diện tích rừng tự nhiên rộng lớn như vậy, Công ty Lâm nghiệp Sơn Động dưới sự điều hành của ông Chu Bá Nghĩa - Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc công ty còn lén lút mở hẳn một con đường dài gần 4km chạy xuyên rừng để tẩu tán lâm sản chặt phá núp dưới lí do lấy đường để trồng rừng trên khu núi trọc. Công ty này cũng rất "chuyên nghiệp" khi ký hẳn hợp đồng thuê 2 xe tải để đưa lâm sản khỏi rừng.
Kết luận thanh tra của Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang khẳng định: Đơn  tố cáo giám đốc Công ty Lâm nghiệp Sơn Động lợi dụng cải tạo rừng tự nhiên để phá rừng hợp pháp là có cơ sở. Việc giám đốc công ty tự ý chỉ đạo phá 23ha rừng tự nhiên để trồng rừng kinh tế và mở đường qua rừng tự nhiên nhưng chưa được cấp có thẩm quyền cho phép là vi phạm pháp luật. Xét về mức độ nghiêm trọng là rất nghiêm trọng.
Trao đổi với PV Dân trí, ông Dương Xuân Bánh - Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Bắc Giang cho biết: Về sai phạm của Công ty lâm nghiệp Sơn Động theo kết luận của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang, lãnh đạo Sở Nông nghiệp đã họp và chuyển hết sang Sở Nội vụ.
Đồng thời vị Phó giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Bắc cũng đề nghị PV Dân trí liên hệ làm việc với Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang để có thông tin một cách chính xác, công khai, minh bạch về xử lý sai phạm liên quan việc Công ty lâm nghiệp Sơn Động phá rừng. (Dân Trí 5/11) đầu trang(
Chỉ trong tháng 10 vừa qua, lực lượng Kiểm lâm huyện Pác Nặm đã xử lý 6 vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng. Con số này cho thấy tình hình khai thác vận chuyển trái phép lâm sản trên địa bàn vẫn còn khá phức tạp.
Qua công tác kiểm tra kiểm soát, lực lượng kiểm lâm huyện đã phát hiện và lập biên bản với 6 vụ việc, trong đó có 1 vụ khai thác rừng trái phép, 3 vụ vận chuyển và 2 vụ cất giấu lâm sản trái phép.
Tổng số lâm sản tạm giữ trên 3,5 m3 gỗ xẻ các loại, trong đó có hơn 0,5m3 thuộc nhóm IIa. Cũng theo số liệu tổng hợp của lực lượng kiểm lâm huyện, trong 9 tháng, đơn vị cũng đã lập biên bản xử lý 25 vụ vi phạm luật bảo vệ phát triển rừng, trong đó có 12 vụ tiến hành xử lý hành chính, thu giữ hơn 7,6m3 gỗ quy tròn các loại.
Pác Nặm là  địa bàn giáp ranh với tỉnh bạn, có địa hình đồi núi hiểm trở, cộng với đời sống của người dân còn phụ thuộc nhiều vào những cánh rừng tự nhiên, việc quản lý bảo vệ rừng tại địa phương này trong những năm qua cũng đã gặp không ít khó khăn.
Do đó, bên cạnh việc vận động người dân tích cực trồng rừng, hạt kiểm lâm huyện Pác Nặm cũng đã lên kế hoạch, cử cán bộ tăng cường thăm nắm địa bàn phối hợp với các lực lượng chức đẩy mạnh tuần tra kiểm soát, nhất là vào dịp cuối năm để có thể  giảm thiểu tình trạng khai thác lâm sản trái phép trên địa bàn. (Đài PTTH Bắc Kạn 4/11) đầu trang(
Được giao một khu rừng rộng hơn 1.300 ha để phát triển du lịch sinh thái, tuy nhiên, chủ rừng buông lỏng quản lý để lâm tặc tự do “đại náo” nhiều năm nay. Cả khu rừng sinh thái giờ tan hoang, xơ xác. Dư luận đặt câu hỏi, phải chăng chủ rừng đang bán rừng?
Năm 2005, UBND tỉnh Đắk Lắk giao cho Công ty TNHH MTV Cao su Đắk Lắk hơn 1.300ha đất rừng (thuộc địa bàn xã Krông Na, Buôn Đôn) để làm khu du lịch sinh thái với mục đích quản lý bảo vệ rừng, giữ gìn môi trường thiên nhiên, gắn kết với dịch vụ du lịch sinh thái văn hóa.
Tuy nhiên, do làm ăn thua lỗ, năm 2013, Công ty TNHH MTV Cao su Đắk Lắk bàn giao diện tích rừng này cho Công ty CP Thương mại và Du lịch Bản Đôn (gọi tắt là Công ty Bản Đôn) để đơn vị này tiếp tục kinh doanh du lịch nhưng kết quả cũng chẳng “khấm khá”. Gần cả năm nay, khu du lịch này gần như ngừng hoạt động và “phó mặc” cho lâm tặc lộng hành.
Một ngày đầu tháng 11, theo sự dẫn đường của một “thổ địa” tên V. tại Buôn Đôn, PV đã có cuộc lội rừng để tận mắt kiểm chứng cảnh hoang tàn của khu rừng sinh thái này.
Từ cổng chính vào trung tâm khu du lịch không một bóng người, cây cỏ mọc um tùm quanh các khu nhà, hệ thống cơ sở hạ tầng xuống cấp trầm trọng, cảnh vật như bị bỏ hoang từ lâu. Men theo những con đường lát chạy vòng quanh để du khách tham quan khu rừng sinh thái, dễ dàng bắt gặp nhiều cây gỗ quý đường kính khoảng 40cm bị đốn hạ sát đường đi.
Tiếp tục rẽ theo các lối mòn, tiến sâu vào rừng, là cảnh hàng chục cây căm xe, giáng hương, lim xẹt...bị lâm tặc đốn hạ ngổn ngang. Nhiều cây bị lâm tặc đốn hạ từ lâu, những phần nạc nhất đã bị lâm tặc cắt mang đi chỉ còn trơ lại lá cành nằm chỏng chơ.
Đang mải mê đếm các gốc cây rừng bị đốn hạ, “thổ địa” chỉ tay kêu PV tiến vào một vạt rừng đổ dạt. Theo “thổ địa” đây là cây lim dẹt đường kính khoảng 1,2m mới bị chặt hạ cách khoảng 10 ngày trước. Trên gốc cây, vết cắt còn mới nguyên và được đánh dấu “BV ĐKT 10/10 (Bảo vệ đã kiểm tra, ngày 10/10).
“Sau khi hạ cây, lâm tặc thường sử dụng cưa máy để cắt gỗ thành từng khúc dài khoảng 1 – 1.5m để thuận tiện chở bằng xe máy. Những cây gỗ quý lớn như thế này, chúng sẽ thành hộp vuông vắn rồi mới mang ra” – “thổ địa” vừa nói, vừa chỉ tay về đống bìa vây quanh gốc để chứng minh.
Sau một buổi lội rừng mệt nhoài, “thổ địa” tiết lộ, để vào được khu sinh thái chỉ có 1 con đường duy nhất đó là đi qua cổng chính. Tại cổng này, lực lượng bảo túc trực ngày đêm, như vậy, nếu không có sự “tiếp tay” của chủ rừng thì lâm tặc khó có thể khai thác, vận chuyển gỗ ra khỏi rừng dễ dàng như vậy.
Bên cạnh đó, qua lội rừng, có thể thấy nhiều cây gỗ bị cưa hạ ngay sát đường chính, thậm chí cạnh chốt quản lý bảo vệ của đơn vị chủ rừng. Với những cây gỗ khổng lồ, lâm tặc buộc phải dùng phương tiện cơ giới như xe độ chế, cưa lốc để cắt hạ, vận chuyển gây ra tiếng động lớn, nhưng dường như chủ rừng không hay, không biết (!?)
Về hiện trạng Khu rừng sinh thái Bản Đôn bị lâm tặc “oanh tạc” tan nát, ông Y Thông Niê K’đăm - Chủ tịch UBND xã Krông Na thống kê, từ năm 2011 đến nay, các cây gỗ lớn, có giá trị đường kính từ 50 đến 60cm gần như đã bị lâm tặc chặt hạ hết.
Về nguyên nhân, theo ông Y Thông do việc kinh doanh du lịch bết bát, chủ rừng buông lỏng quản lý, bỏ mặc rừng cho lâm tặc tự do khai thác. Cũng theo ông Y Thông, chỉ tính từ đầu năm 2013 đến nay, tại khu rừng này, cơ quan chức năng đã phát hiện và bắt giữ 13 vụ vi phạm lâm luật.
Trong đó, có một vụ lực lượng liên ngành đã phát hiện 1 bãi tập kết gỗ lậu ngay tại bìa rừng sinh thái, thu giữ tang vật gồm 60 khúc gỗ tròn (độ dài bình quân 4m, tổng khối lượng 10m3) chủ yếu là gỗ quý như chiu liu, cẩm, căm xe, cà chít…
Mở rộng điều tra, cơ quan chức năng xác định đã có 221 cây rừng bị đốn hạ, trong đó có 138 cây đã bị lâm tặc lấy mất phần “nạc” nhất, phần còn sót lại thu giữ được hơn 47m3 gỗ các loại.
“Theo quy định, chủ rừng phải chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý, bảo vệ diện tích rừng được tỉnh giao. Nếu có xảy ra vụ việc nghiêm trọng, chủ rừng phải báo lên các cơ quan chức năng phối hợp để xử lý. Thế nhưng, ở đây chủ rừng lại bỏ mặc rừng cho lâm tặc hoành hành, khi địa phương phát hiện thì rừng đã bị mất quá nhiều” – ông Y Thông cho biết.
Trao đổi với ông Bùi Văn Khang – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Buôn Đôn, ông cho biết, tình trạng khai thác lâm sản trái phép tại khu vực rừng sinh thái đã diễn ra trong một thời gian dài và diễn biến hết sức phức tạp. Huyện đã lập đoàn liên ngành thường xuyên tuần tra, truy quét, thu giữ nhiều tang vật, đã khởi tố nhiều đối tượng  nhưng tình hình phá rừng tại đây vẫn chưa thuyên giảm.
Để bảo vệ khu rừng sinh thái, theo ông Khang, trước mắt lực lượng kiểm lâm phối hợp với các ban ngành của huyện cắt cử người canh giữ, bảo vệ ngày đêm. Sau đó, sẽ tham mưu lên UBND huyện để huyện kiến nghị lên UBND tỉnh xem xét, đánh giá lại năng lực của đơn vị chủ rừng, nếu hoạt động không hiệu quả thì thu hồi diện tích này và giao cho đơn vị khác quản lý.
Việc Khu rừng sinh thái Bản Đôn bị lâm tặc triệt hạ đã lâu, truyền thông báo chí nhiều lần phản ánh và ngành chức năng tỉnh Đắk Lắk đã biết. Tuy nhiên việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với chủ rừng vẫn hết sức chậm trễ, hời hợt. Nếu tỉnh Đắk Lắk không có giải pháp xử lý triệt để, mạnh tay, tin chắc trong tương lai, khu rừng này sẽ thành... “rừng trắng” trước mũi cưa của lâm tặc. (VietnamNet 6/11) đầu trang(
Ngày 5/11, Tổ chức Động vật Châu Á đã tổ chức lễ khánh thành 4 khu bán tự nhiên chăm sóc gấu với tổng diện tích 12.000 m2, địa hình tự nhiên đa dạng, có khả năng nuôi dưỡng khoảng 80 cá thể gấu theo mô hình bán hoang dã tại Trung tâm tâm Cứu hộ gấu Việt Nam thuộc Vườn quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc).
Hệ thống liên hoàn bốn khu bán tự nhiên được kết nối với hai khu nhà gấu đôi là một trong những hạng mục quan trọng của dự án xây dựng và vận hành Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam giai đoạn II - Dự án Trung tâm cứu hộ gấu tiêu chuẩn quốc tế lớn nhất cả nước hiện nay.
Dự án xây dựng “ngôi nhà” chăm sóc gấu theo mô hình bán hoang dã này được khởi công từ tháng 12/1013, với với tổng kinh phí đầu tư lên tới gần 18 tỷ đồng do Tổ chức Động vật Châu Á tài trợ toàn bộ về mặt tài chính.
Phát biểu tại buổi lễ khánh thành, tiến sỹ Tuấn Bendixsen, Trưởng đại diện Tổ chức Động vật Châu Á tại Việt Nam cho biết, hai khu nhà gấu đôi mới hoàn thiện có nhiều cải tiến so với các khu chăm sóc gấu đã được xây dựng trước đó tại trung tâm. Hiện tại, một số buồng gấu được trang bị đặc biệt, có thiết kế phù hợp cho thể lực và vận động của các cá thể gấu tàn tật như mất chi, cụt chân... được cứu về từ các trang trại nuôi gấu lấy mật.
Thêm vào đó, các khu bán tự nhiên có diện tích rộng 2.500 m2, tận dụng địa hình đa dạng của thung lũng, được lắp đặt bể bơi, các bậc leo trèo, cành cây, cũng như các thiết bị đặc biệt làm đa dạng môi trường sống cho gấu, giúp chúng nhanh chóng phục hồi khả năng tự nhiên và sự linh hoạt.
Tuy nhiên, để hoàn thiện hai khu nhà gấu đôi này, theo lời của tiến sỹ Tuấn Bendixsen thì Tổ chức Động vật Châu Á tại Việt Nam đã trải qua rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc xây dựng và thiết kế. Và, nếu không có sự hợp tác, giúp đỡ của Cục Kiểm lâm và Vườn Quốc gia Tam Đảo, “ngôi nhà” chăm sóc gấu bán hoang dã này khó có thể hoàn thiện.
Đến tham dự và phát biểu tại lễ khánh thành, ông Nguyễn Quốc Hiệu (Cục Kiểm lâm) đánh giá cao những nỗ lực của Tổ chức Động vật Châu Á tại Việt Nam đồng thời khẳng định việc xây dựng và hoàn thiện bốn khu bán tự nhiên chăm sóc gấu này sẽ góp phần đóng cửa các trang trại nuôi nhốt gấu vô tội và đưa chúng trở về với môi trường sống tự nhiên.
Thông tin thêm về “ngôi nhà gấu” lớn nhất Việt Nam, ông Hiệu cho biết, cách đây 8 năm, Tổ chức Động vật Châu Á bắt đầu tham gia chiến dịch cứu hộ gấu tại Việt Nam và đưa các cá thể gấu về sống trong Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
Hiện nay, Tổ chức Động vật Châu Á đã giải cứu được hơn 100 cá thể gấu (bao gồm gấu chó và gấu ngựa) bị buôn bán và nuôi nhốt trái phép về sống trong môi trường bán tự nhiên xanh tại Vườn Quốc gia Tam Đảo. Tại đây, gấu được chăm sóc sức khỏe, được tự do vận động cơ thể và tìm kiếm thức ăn để dần khôi phục lại bản năng tự nhiên vốn có. (VietnamPlus 5/11; Nhân Dân 6/11; Nông Nghiệp Việt Nam 6/11, tr2) đầu trang(
Mới đây, tại khu vực thôn Bản Ó, xã Liêm Phú, huyện Văn Bàn, đội kiểm lâm cơ động phối hợp với lực lượng của hạt Kiểm lâm Văn Bàn bắt giữ ô tô tải mang BKS: 24C – 009.56 đang vận chuyển lâm sản trái phép.
Tài xế và cũng là chủ số gỗ trên là đối tượng Nguyễn Văn Tính (SN 1990), trú tại thôn Xuân Khánh, xã Khánh Yên Hạ, huyện Văn Bàn.
Tại thời điểm này, lực lượng chức năng phát hiện trên xe chở hơn 3m3 gỗ quý hiếm, bao gồm: 20 lóng gỗ sến (thuộc nhóm II) và 5 hộp gỗ de (thuộc nhóm VI). Toàn bộ số gỗ đều không có giấy tờ và nguồn gốc hợp lệ.
Ngay sau đó, xe và tang vật đã được đưa về trụ sở hạt Kiểm lâm Văn Bàn để lập biên bản vi phạm. Chủ hàng Nguyễn Văn Tính cũng được đưa về trụ sở để phục vụ công tác điều tra.
Tại đây, đối tượng Tính khai nhận đang chở số gỗ trên xuống thị trấn Khánh Yên, thuộc huyện Văn Bàn để tiêu thụ. Hiện, lực lượng chức năng đang điều tra làm rõ số lượng gỗ trên để xử lý đối tượng Tính theo pháp luật. (Đời Sống & Pháp Luật 5/11) đầu trang(
Mặc dù cùng thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng, nhưng những người làm công tác này ở các Ban Quản lý Rừng phòng hộ (BQLRPH) và Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp lại chịu nhiều thiệt thòi về chế độ chính sách cũng như trang-thiết bị công cụ hỗ trợ khi gặp tình huống cấp thiết.
Vì vậy, lực lượng làm công tác quản lý bảo vệ rừng ở những đơn vị này vẫn gặp nhiều khó khăn. Gia Lai có đất rừng chiếm khoảng 705.377,4 ha; trong đó, rừng tự nhiên 658.565 ha, rừng trồng 46.811 ha. Diện tích rừng và đất lâm nghiệp được giao cho 20 BQLRPH, 11 công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp cùng một Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh và Khu Bảo tồn Thiên nhiên Kon Chư Răng quản lý và bảo vệ.
Song song với lực lượng Kiểm lâm, các đơn vị này cũng có lực lượng làm nhiệm vụ ngăn chặn tình trạng xâm lấn, chặt phá rừng làm ảnh hưởng đến tài nguyên rừng. Mặc dù cùng chung nhiệm vụ nhưng hiện nay những người làm việc ở các BQLRPH và Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp đang gặp nhiều khó khăn và bất cập về chế độ đãi ngộ cũng như công cụ hỗ trợ trong quá trình thực thi nhiệm vụ.
Ban Quản lý Rừng phòng hộ Ia Ly được giao quản lý 18.000 ha rừng phòng hộ trải dài ở 4 xã: Ia Kreng, Ia Ka, Ia Nhin và Ia Mơ Nông và thị trấn Ia Ly (thuộc địa bàn huyện Chư Pah). Theo đánh giá của lãnh đạo BQLRPH Ia Ly, diện tích rừng khá lớn nhưng lực lượng hiện nay của Ban mỏng chỉ có 23 người gánh vác trọng trách quản lý bảo vệ rừng không bị xâm hại là vô cùng khó.
Dù vậy, anh em vẫn cố gắng hoàn thành trách nhiệm được giao. Tuy nhiên, hiện nay đời sống của những người làm công tác quản lý bảo vệ rừng ở đây gặp nhiều khó khăn, bất cập vì mức lương thấp so với công việc thực tế; không có các công cụ hỗ trợ cần thiết cho lực lượng nòng cốt khi đi làm công tác quản lý bảo vệ rừng…
Anh Nguyễn Ngọc Hiền-Trạm trưởng Trạm cửa rừng số 1, BQLRPH Ia Ly tâm sự: “Trước đây các anh em phải ở trong căn nhà tạm bợ, vừa rồi được tỉnh đầu tư xây dựng nhà mới nên anh em rất phấn khởi. Tuy nhiên, đời sống của 5 anh em ở Trạm gặp rất nhiều khó khăn do lương thấp (anh Hiền có thâm niên công tác hơn 20 năm nhưng lương chỉ 4 triệu đồng/tháng và thêm 100 ngàn đồng tiền điện thoại), trong khi mọi sinh hoạt ăn, uống và các chi phí khác chúng tôi phải tự bỏ tiền túi để đóng góp và trang trải cuộc sống.
Không những vậy, đường giao thông cách trở, nằm xa khu dân cư nên không có các “công ty hai sọt” ra vào cung cấp thực phẩm tươi sống nên anh em thay phiên nhau ra chợ Ia Sao cách đấy khoảng 18 km mua thực phẩm về để ăn vài ba hôm sau là chuyện bình thường. Cũng theo anh Hiền, dù cùng làm nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng nhưng lực lượng kiểm lâm địa bàn lại có nhiều ưu đãi hơn chúng tôi rất nhiều. Vì vậy Nhà nước cần có chế độ chính sách phù hợp để những người làm công tác quản lý bảo vệ rừng như chúng tôi yên tâm công tác lâu dài”.
Đề cập đến vấn đề này, ông Lê Văn Cậy-Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Kon Chiêng, cho hay: Đơn vị hiện đang quản lý trên 18.000 ha rừng. Nhiều năm nay, lực lượng làm nhiệm vụ giữ rừng của đơn vị cũng chỉ sống bằng mức lương cơ bản theo ngạch, bậc. Vì vậy, đời sống gặp rất nhiều khó khăn do mức lương thấp, không có nhiều ưu đãi về chế độ chính sách…
Theo ông Cậy: “Khó khăn lớn nhất hiện nay là thang bậc lương giữa các lực lượng cùng làm nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng nhưng lực lượng ở các công ty lâm nghiệp chịu nhiều thiệt thòi hơn. Họ không được hưởng thâm niên, ưu đãi nghề mà chỉ sống bằng mức lương cơ bản. Dù mang tên công ty TNHH một thành viên nhưng thực tế không có các hoạt động sản xuất kinh doanh mà chủ yếu sống từ nguồn lương cơ bản. Đặc biệt, những khu rừng nằm gần những khu dân cư, đường giao thông… áp lực rất lớn và dễ bị xâm hại. Vì vậy cần khoán định mức thấp hơn những khu vực xa xôi hẻo lánh”.
Để công tác quản lý bảo vệ rừng phát huy hiệu quả cao nhất, Nhà nước cần có chế độ chính sách phù hợp cho lực lượng làm nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng ở các công ty lâm nghiệp và BQLRPH. Vì đã cùng ngành nghề thì nên có sự công bằng về chế độ chính sách nhằm thu hút mọi người cùng tham gia bảo vệ rừng, để những người làm công tác quản lý bảo vệ rừng yên tâm công tác giữ màu xanh cho rừng.
Ông Nguyễn Ngọc Rân-Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Gia Lai, cho biết: Hiện nay hầu hết lực lượng quản lý bảo vệ rừng ở các BQLRPH và công ty lâm nghiệp gặp rất nhiều khó khăn.
Mặc dù cùng làm nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng nhưng lực lượng ở đây hưởng chế độ chính sách của Nhà nước còn thiệt thòi hơn nhiều. Như không có phụ cấp thâm niên nghề; ưu đãi ngành và các trang-thiết bị hỗ trợ để thi hành nhiệm vụ. Nói chung họ thiệt thòi hơn so với lực lượng Kiểm lâm. (Báo Gia Lai 4/11) đầu trang(
Nhằm mục tiêu củng cố tổ chức năng lực cho lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là lực lượng chuyên ngành để có đủ khả năng kiểm soát cháy rừng, giảm nguy cơ cháy rừng, chữa cháy rừng kịp thời, giảm thiểu thiệt hại do cháy rừng gây ra, Thủ tướng đã ký Quyết định số 1938/QĐ-TTg phê duyệt Đề án nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng giai đoạn 2014 - 2020.
Đề án đặt ra mục tiêu cụ thể là nâng cao khả năng cảnh báo, dự báo nguy cơ cháy rừng, tổ chức phát hiện sớm và thông báo kịp thời, chính xác điểm cháy rừng thông qua tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, viễn thám; tăng cường, củng cố, kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng chuyên ngành từ Trung ương đến địa phương; tăng cường đầu tư phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật, cơ sở vật chất cho lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng các cấp, ưu tiên xây dựng lực lượng chữa cháy rừng đủ mạnh để ứng phó với thảm họa cháy rừng cấp quốc gia.
Theo đó, Đề án tập trung vào các nội dung chủ yếu: Nâng cấp hệ thống cảnh báo, dự báo nguy cơ cháy rừng tại Cục Kiểm lâm (Tổng cục Lâm nghiệp) và kết nối thành hệ thống đến từng địa phương; phát hiện sớm điểm cháy rừng; củng cố, kiện toàn tổ chức cho lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng chuyên ngành; kiểm tra, đôn đố và hướng dẫn các hoạt động phòng cháy, chữa cháy rừng của các tổ chức, cá nhân; đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ kỹ năng phòng cháy, chữa cháy rừng cho cán bộ quản lý, kỹ thuật…; đầu tư phương tiện kỹ thuật và trang thiết bị; xây dựng mô hình quản lý lửa rừng thống nhất và hiệu quả.
Để triển khai thực hiện có hiệu quả, Đề án đưa ra các giải pháp thực hiện gồm: Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, trong đó, rà soát, xây dựng quy hoạch, kế hoạch tổng thể quốc gia và địa phương về phòng cháy, chữa cháy rừng theo phương châm bốn tại chỗ; xây dựng cơ chế chỉ đạo, điều hành, chỉ huy, phối hợp lực lượng bảo vệ rừng thống nhất, quy chế hoạt động và chia sẻ nghĩa vụ, quyền lợi của các lực lượng tham gia bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng các cấp; xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật, định mức về phương tiện, trang thiết bị và công cụ phòng cháy, chữa cháy rừng, quy định về thiết kế các công trình phòng cháy rừng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh rừng và dự trữ trang thiết bị trong phòng cháy, chữa cháy rừng, xây dựng và hoàn thiện chính sách toàn diện.
Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trên các phương tiện thông tin đại chúng, về chính sách của nhà nước, quyền lợi và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và cộng đồng trong phòng cháy, chữa cháy rừng và giới thiệu lợi ích của rừng đối với cuộc sống con người; xây dựng các bảng nội quy bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; biển cấm lửa và biển báo hiệu cấp dự báo cháy rừng; in ấn và phát hành các tài liệu phổ biến về phòng cháy, chữa cháy rừng và các quy định của pháp luật về lĩnh vực bảo vệ rừng.
Ứng dụng khoa học công nghệ thông tin, viễn thám trong quản lý lửa rừng và chuyển giao các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, phương tiện, thiết bị và công cụ phòng cháy, chữa cháy rừng tiên tiến phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng; quy hoạch và quản lý các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng: Hệ thống đường xá; kênh mương, bể chứa, hồ đập; hệ thống chòi canh lửa; hệ thống thông tin liên lạc; hệ thống các trạm đo mưa, trạm khí tượng phục vụ dự báo cháy rừng.
Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ rừng, phòng cháy và chữa cháy rừng, đặc biệt với các nước thành viên trong khối ASEAN thực hiện Hiệp định chống ô nhiễm khói mù xuyên biên giới do cháy rừng, cháy đất gây ra; hợp tác trao đổi kinh nghiệm, thăm quan nghiên cứu các mô hình quản lý lửa rừng; nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật và dự án đầu tư cho đào tạo, nghiên cứu và dự án trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy rừng.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm trong việc tổ chức triển khai thực hiện Đề án nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng giai đoạn 2014 - 2020; chủ trì tổ chức và chỉ đạo thực hiện Đề án thống nhất toàn quốc, giám sát, kiểm tra tiến độ, nội dung và chất lượng Đề án của các ngành, các cấp; chỉ đạo, đôn đốc và hướng dẫn các địa phương xây dựng dự án nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng, đảm bảo đúng mục tiêu, nội dung và tiến độ dự án.
UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện dự án đầu tư nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng thuộc địa phương. (Langson.gov.vn 4/11) đầu trang(
Tỉnh Trà Vinh có 350 hecta rừng phi lao phòng hộ ven biển ở huyện Duyên Hải. Đã có hơn 11 hécta rừng chết trong vòng 12 năm qua. Tuy nhiên, chỉ trong vòng 10 tháng năm nay, diện tích cây chết đã lên đến gần 29hécta. Như vậy, đến nay, hơn 11% diện tích đất rừng phòng hộ ven biển ở huyện Duyên Hải đã bị mất đi.
Những năm qua, rừng phi lao chết rải rác trong diện hẹp do bị bệnh. Còn trong năm nay, cây bắt đầu bị chết hàng loạt từ tháng 3, đến nay vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Mặc dù các ngành chức năng tỉnh Trà Vinh đã sớm vào cuộc, nhưng đến nay vẫn chưa tìm ra nguyên nhân cây chết hàng loạt.
Rừng phi lao phòng hộ ven biển của huyện Duyên Hải có chiều dài khoảng 40 km, nhưng đến nay chỉ còn lại phân nửa, do sóng biển tàn phá trong nhiều năm.
Việc cây phi lao bị chết hàng loạt càng làm cho đất rừng phòng hộ ven biển của tỉnh Trà Vinh bị thu hẹp thêm, đe dọa sản xuất và đời sống của hàng nghìn hộ dân ở vùng ven biển, đặc biệt trong mùa mưa bão. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 1/11) đầu trang(
Để tăng cường khả năng phòng cháy chữa cháy rừng và bảo vệ rừng, việc phát dọn đường băng cản lửa sẽ tiếp tục được Trạm kiểm lâm Hoằng Hoá phối hợp cùng các xã tổ chức thực hiện thường xuyên.
Đẩy mạnh công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn, từ tháng 3 đến hết tháng 9/2014, Trạm kiểm lâm Hoằng Hoá thuộc Hạt kiểm lâm ven biển Thanh Hoá đã phối hợp cùng UBND các xã Hoằng Yến, Hoằng Trường, Hoằng Hải, Hoằng Trung, Hoằng Trinh, Hoằng Xuân, Hoằng Khánh và đồn biên phòng Hoằng Trường huy động lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng lao động công ích của các địa phương tổ chức phát dọn đường băng cản lửa tại các khu rừng trên địa bàn toàn huyện.
Theo đó, Trạm kiểm lâm Hoằng Hoá đã phối hợp cùng các xã huy động được 1.600 ngày công lao động công ích, ra quân phát dọn đường băng cản lửa trên địa bàn với chiều dài 43,7km, tương đương 43,7 ha, tiết kiệm ngân sách nhà nước 250 triệu đồng.
Trong đó, Hoằng Trinh phát dọn 2,9km, Hoằng Trung 4,3km, Hoằng Yến 12,3km, Hoằng Hải 2,6km, Hoằng Khánh 8,7km, Hoằng Trường 6,5km và Hoằng Xuân 6,4km. Đường băng cản lửa được thực hiện tại các xã rộng từ 8m đến 12m.
Hiện hệ thống đường băng cản lửa đang được UBND các xã chỉ đạo các chủ rừng duy trì, mở rộng. Để tăng cường khả năng phòng cháy chữa cháy rừng và bảo vệ rừng, việc phát dọn đường băng cản lửa sẽ tiếp tục được Trạm kiểm lâm Hoằng Hoá phối hợp cùng các xã tổ chức thực hiện thường xuyên.
Thông qua việc phát dọn đường băng cản lửa đã góp phần nâng cao ý thức của nhân dân và các chủ rừng về công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng, được nhân dân ủng hộ và nhiệt tình tham gia. Đồng thời, góp phần quan trọng trong công tác tuần tra, bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn huyện Hoằng Hóa. (Thanhhoa.gov.vn 5/11) đầu trang(
05/11, tại Hà Nội, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) đã ra mắt một phim ngắn truyền thông mới, nhằm kêu gọi cộng đồng không tiêu thụ sừng tê giác để góp phần chấm dứt nạn thảm sát tê giác tại Nam Phi.
Theo ENV, trong chuyến thực địa tại Nam Phi tháng 9/2014, ca sĩ Hồng Nhung và các thành viên của đoàn đại biểu Việt Nam đã tận mắt chứng kiến các mối đe dọa đến sự sống còn của tê giác tại Nam Phi. Nạn thảm sát tê giác đang diễn ra hàng ngày tại Nam Phi để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sừng tê giác tại Việt Nam và một số quốc gia khác - nơi sừng tê giác được coi là một công cụ để thể hiện đẳng cấp hoặc thần dược chữa bệnh, thậm chí là ung thư.
Phim ngắn ghi lại khoảnh khắc Hồng Nhung và đoàn đại biểu Việt Nam phát hiện xác một cá thể tê giác xấu số bị giết hại. Qua đó, người xem có thể thấy được tội ác tàn bạo và thấu hiểu được sự thật của nạn buôn bán sừng tê giác.
Cũng qua phim ngắn này, ca sĩ Hồng Nhung đã gửi một thông điệp mạnh mẽ tới cộng đồng: “Trung bình mỗi ngày có 3 cá thể tê giác bị thảm sát để lấy sừng ở Nam Phi, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ở một số quốc gia trong đó có Việt Nam. Sừng tê giác không phải là thần dược cũng không thể hiện đẳng cấp. Thực tế, sừng tê giác có thành phần cấu tạo giống như sừng trâu. Hãy cùng với Hồng Nhung chung tay chấm dứt nạn thảm sát tê giác này. Đừng mua bán hay sử dụng sừng tê giác”.
Theo ENV, năm 2010, cá thể tê giác một sừng cuối cùng của Việt Nam đã bị giết hại tại Vườn quốc gia Cát Tiên. Đáng buồn là hiện nay Việt Nam đang bị coi là một trong những thị trường tiêu thụ sừng tê giác lớn trên thế giới.
Bà Vũ Thị Quyên – Giám đốc ENV cho biết: “ENV đã và đang nỗ lực nhằm giảm nhu cầu tiêu thụ sừng tê giác tại Việt Nam. Phim ngắn này sẽ giúp người dân thấy được sự thật đau lòng về số phận của các loài tê giác trên thế giới. Đồng thời giúp họ hiểu rằng nhu cầu tiêu thụ sừng tê giác tại Việt Nam đã và đang gây ra nạn thảm sát tê giác này. Chính vì vậy người Việt Nam cần tích cực góp phần chấm dứt nạn thảm sát trước khi quá muộn.
"Cuộc chiến tê giác” chỉ có thể thành công nếu người Việt Nam cùng thế giới nỗ lực bảo vệ tê giác. Chúng ta cần chấm dứt nhu cầu tiêu thụ sừng tê giác, và giúp cho người dân hiểu rằng việc sử dụng sừng tê giác là đang tiếp tay cho mạng lưới tội phạm xuyên quốc gia và trực tiếp hủy diệt loài động vật này”.
Đây là phim ngắn thứ ba do ENV phát hành trong năm nay và là phim ngắn thứ 22 trong chiến dịch dài hạn của ENV nhằm giảm cầu tiêu thụ các sản phẩm từ động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm. Phim ngắn này sẽ được phát sóng trên các kênh truyền hình trung ương và địa phương trong thời gian tới. (Đảng Cộng Sản VN 5/11; Tin Tức 6/11, tr10) đầu trang(
Rừng ngập mặn Cà Mau có diện tích 108.000ha, tuy được các ngành chức năng và các đơn vị giữ rừng đề ra nhiều biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt, song hiện nay, rừng ngập mặn Cà Mau vẫn đang bị đe dọa bởi những vụ phá rừng diễn biến ngày càng phức tạp.
Tìm hướng đi nhằm nâng cao hiệu quả việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là vấn đề cấp thiết đặt ra đối với Cà Mau vào thời điểm này. Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau nằm trên địa bàn xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, do đời sống kinh tế của một bộ phận người dân ở đây còn gặp nhiều khó khăn nên việc xâm phạm tài nguyên rừng diễn biến khá phức tạp.
Trước thực trạng đó, Ban Quản lý Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau đã triển khai nhiều biện pháp, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Theo đó, 9 tháng qua, các đơn vị quản lý, bảo vệ rừng, biển, đã tổ chức tuần tra, kiểm tra trên 1.500 lượt; phát hiện, xử lý 128 vụ vi phạm chặt phá cây rừng, vận chuyển, mua bán, khai thác lâm sản, nguồn lợi thủy sản trái phép; phạt hành chính với số tiền trên 350 triệu đồng.
Nhờ triển khai tốt các mặt công tác nên tốc độ tăng trưởng và độ che phủ của rừng trên địa bàn quản lý phát triển khá nhanh; con giống các loài thủy sản từng bước được phục hồi, tình trạng chặt phá cây rừng mặc dù còn diễn ra nhưng diện tích thiệt hại giảm đáng kể so với cùng kỳ năm 2013.
Ông Trần Cao Cường, Tiểu khu trưởng Tiểu khu 220, Ban Quản lý rừng phòng hộ Nhưng Miên, xã Viên An Đông, huyện Ngọc Hiển, cho biết, hiện nay, tình hình phá rừng đã tạm lắng xuống, có được kết quả đó là nhờ lực lượng kiểm lâm đã có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác giữ gìn và bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này.
Cách đây hơn một tháng, tình hình rất căng thẳng, do lợi dụng địa thế giáp biển nên đối tượng xâm hại rừng ngày càng chuyên nghiệp và tinh vi hơn. Khi phát hiện và truy đuổi, bọn chúng sẵn sàng chặt dây, thả trôi lượng lớn gỗ trên sông, biển, không những thế còn thách thức lực lượng chức năng.
Một trong những biện pháp triển khai được xem là có hiệu quả trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau là việc thực hiện thí điểm những mô hình phát triển kinh tế có hiệu quả, từ đó nhân rộng trong dân: Mô hình nuôi sò huyết tại phân khu bảo tồn biển Vườn Quốc gia; nuôi ốc len, nuôi vọp dưới tán rừng.
Đặc biệt, Ban Quản lý Vườn đã phối hợp cùng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai thực hiện thí điểm mô hình du lịch sinh thái cộng đồng với sự hỗ trợ của Tổ chức Hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA). Mô hình bước đầu đã cho thấy hiệu quả khả quan, góp phần tạo sinh kế, cải thiện thu nhập cho người dân nơi đây.
Hiện nay, tỉnh Cà Mau cũng đã phát triển được gần 10.000ha tôm rừng và được chứng nhận là tôm sinh thái. Dự án này được Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV) phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Nhưng Miên. Đây là hoạt động nằm trong Dự án “Khôi phục rừng ngập mặn thông qua mô hình nuôi tôm bền vững và giảm phát thải tại Cà Mau” (gọi tắt là Dự án MAM-RSCIP).
Nuôi tôm sinh thái là mô hình mang yếu tố bền vững cao, nếu phát triển đúng cách sẽ góp phần quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng hiệu quả. Sản phẩm thu được nếu được tổ chức quốc tế chứng nhận sẽ đạt giá trị cao hơn. Qua đó, góp phần nâng cao đời sống người dân, phát triển mạnh và bền vững mô hình nuôi tôm sinh thái của tỉnh.
Bên cạnh việc tạo sinh kế để người dân ổn định cuộc sống và tuyên truyền cho người dân để nâng cao nhận thức trong việc gìn giữ và bảo vệ rừng, Ban Quản lý Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau cũng thực hiện tốt công tác phối hợp với các lực lượng có liên quan và chính quyền địa phương thường xuyên tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các đối tượng có hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Ông Phan Quốc Khải, Giám đốc Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau: Cái khó của đơn vị là hiện nay các ngõ ra vào rừng người dân đều có thể xâm nhập được, từ đó gây bất lợi trong công tác bảo vệ rừng. Thêm vào đó, trình độ của lực lượng tham gia bảo vệ rừng còn nhiều hạn chế, đặc biệt là lực lượng kiểm lâm.
Hiện tại Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau thiếu biên chế công chức, thiếu nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nghiên cứu khoa học, trang thiết bị, phương tiện hoạt động cho lực lượng quản lý, bảo vệ rừng, biển. Trong khi địa bàn quản lý rộng, nhiều kênh rạch, dân di cư tự do đông, các đối tượng vi phạm đến tài nguyên rừng hoạt động ngày càng tinh vi và phức tạp.
Tại buổi làm việc với Ban Quản lý Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau vừa qua, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Dũng biểu dương sự nỗ lực và những kết quả đạt được của đơn vị trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời chỉ đạo một số nhiệm vụ trọng tâm mà đơn vị cần tập trung thực hiện trong thời gian tới, trong đó có việc tiếp tục thực hiện tốt công tác phối hợp giữa các lực lượng, kiện toàn bộ máy tổ chức, thường xuyên kiểm tra xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong quản lý, bảo vệ rừng; đồng thời phát triển các mô hình tạo sinh kế cho người dân, đặc biệt là mô hình du lịch sinh thái cộng đồng. Bên cạnh đó, các sở, ngành có liên quan cũng tích cực nghiên cứu, tìm giải pháp kịp thời tháo gỡ khó khăn cho đơn vị.
Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau được tổ chức UNESCO đưa vào danh sách Khu dự trữ sinh quyển Thế giới năm 2009 và năm 2013 tiếp tục được trao Bằng chứng nhận khu Ramsar thứ 2.088 của thế giới. Đây là niềm vinh dự lớn của Việt Nam nói chung và Cà Mau nói riêng.
Do đó, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại đây được xem là trách nhiệm chung của cả cộng đồng, nhằm góp phần gìn giữ sự đa dạng sinh học, phát huy những giá trị kinh tế từ vùng đất ngập nước và quan trọng hơn là chống ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đang và sẽ đe dọa cuộc sống của chúng ta. (Báo Ảnh Đất Mũi 3/11) đầu trang(
Toàn tỉnh có gần 180 nghìn ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó diện tích đất có rừng là 167 nghìn ha gồm xấp xỉ 100 nghìn ha rừng tự nhiên và hơn 67 nghìn ha rừng trồng.
Thực tế này cho thấy, rừng đóng vai trò quan trọng trong đời sống và sản xuất sinh hoạt của người dân trong tỉnh. Tuy nhiên, làm thế nào để bảo vệ và phát triển được vốn rừng hiện có lại không phải là chuyện giản đơn.
Theo ông Ngô Xuân Hải, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Trưởng Chi cục Kiểm lâm, những năm qua, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh gặp không ít khó khăn. Người dân tuy đã nhận thức được tác dụng, lợi ích của việc bảo vệ và phát triển rừng nhưng chưa thấy được đầy đủ vai trò, vị trí, ý nghĩa của rừng đối với môi trường sinh thái và phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Một số cá nhân, hộ gia đình tự ý sử dụng vốn rừng không hợp lý, lợi dụng sự thông thoáng của chính sách để khai thác trái phép lâm sản vì mục đích thương mại làm suy giảm diện tích và sản lượng rừng.
Đặc biệt, các chủ rừng chưa chủ động thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, chưa thực sự quan tâm, tìm biện pháp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng rừng, đất rừng được giao quản lý.
Trong khi đó, chế độ, chính sách về lâm nghiệp của Nhà nước lại luôn có sự đổi mới; cơ chế, chính sách khuyến khích bảo vệ rừng, trồng rừng và tham gia kinh doanh rừng còn chưa thỏa đáng, chưa khuyến khích và tạo điều kiện để thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào bảo vệ và phát triển rừng nhất là các khu rừng tự nhiên phòng hộ, đặc dụng; công tác quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng còn chưa đồng bộ...
Trước thực trạng đó, lực lượng Kiểm lâm đã phối hợp với cấp, ngành chức năng tổ chức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng trong nhân dân để phát huy tinh thần tự giác của bà con trong việc đấu tranh, phòng chống các loại tội phạm và các hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng.
Đặc biệt, qua các buổi biểu diễn văn nghệ quần chúng tại các huyện, xã có rừng trong tỉnh, bằng hình thức sân khấu hóa, nhiều văn bản, chính sách pháp luật liên quan đến công tác này đã được chuyển tải đến người dân một cách gần gũi, dễ hiểu, từ đó giúp bà con nhận thức sâu sắc hơn về trách nhiệm của mình trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Ông Phạm Văn Cảnh, một người dân ở xóm Thậm Thình, xã Cát Nê (Đại Từ) chia sẻ: Trước đây, tôi cứ nghĩ đất rừng của mình, cây giống do mình đầu tư nên mình thích khai thác, thích bán như thế nào là quyền của mình. Nhưng khi đã được tuyên truyền, tôi hiểu, dù là rừng mình trồng, mình vẫn phải khai báo với chính quyền địa phương và làm các thủ tục để được bán cây rừng theo đúng quy định của pháp luật.
Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, Chi cục đã xây dựng kế hoạch nhằm đẩy mạnh hoạt động của Đoàn Kiểm tra liên ngành, trong đó lực lượng Hạt Kiểm lâm làm nòng cốt để thường xuyên kiểm tra, truy quét các đối tượng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép cũng như ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng… Trong đó đặc biệt quan tâm đến các khu rừng phòng hộ, đặc dụng trọng điểm của tỉnh, các khu vực rừng giáp ranh, các khu rừng chưa được giao đến chủ cụ thể...
Với nhiều nỗ lực, từ năm 2011 đến nay, công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh ngày càng được chú trọng và tăng cường, tình hình vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn giảm rõ rệt (riêng 10 tháng năm 2014, chỉ có 5 vụ cháy rừng, số vụ vi phạm chỉ còn trên 340 vụ, giảm khoảng 10-25% so với năm trước).
Nhận thức của người dân trong công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng được nâng cao; đã vận động được đông đảo nhân dân tham gia quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, góp phần thực hiện xã hội hoá công tác này. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong tỉnh tạo ra sức mạnh tổng hợp về lực lượng, phương tiện và vị thế pháp lý trong quá trình kiểm tra, truy quét, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, góp phần phát triển kinh tế đồi rừng, xóa nghèo, giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn.
Về công tác phát triển rừng, tỉnh cũng đã trồng rừng tập trung được khoảng 22 nghìn ha, trong đó có hơn 20 nghìn ha rừng sản xuất. Việc thực hiện các chỉ tiêu chăm sóc rừng cũng đạt cao khi tổng diện tích thực hiện chăm sóc rừng hằng năm là 2.966,6 ha/năm, đạt 100% kế hoạch; khoán bảo vệ rừng phòng hộ, đặc dụng được được gần 11,5 nghìn ha; khoanh nuôi tái sinh được 1.250ha; khai thác gỗ được trên gần 500 nghìn m3...
Để thực hiện có hiệu quả hơn nữa công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, trong thời gian tới, các cấp, ngành chức năng của tỉnh sẽ chỉ đạo việc thực hiện chuẩn bị hiện trường, thiết kế và cây giống để trồng rừng những năm tiếp theo; tiêp đẩy mạnh công tác tuyên truyền và tập huấn cho các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tham gia trồng rừng; tuyên truyền pháp luật về quản lý bảo vệ và phát triển rừng, công tác khuyến lâm đến người dân... (Báo Thái Nguyên 5/11) đầu trang(
Thực hiện phương châm “Gắn bảo vệ rừng với trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc”, Hạt Kiểm lâm huyện Mường Lát đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp tuyên truyền để cán bộ và nhân dân nhận thức được trách nhiệm và nghĩa vụ trong công tác bảo vệ và trồng mới rừng.
Kiểm lâm viên được bố trí về phụ trách địa bàn xã, đã tích cực tham mưu cho UBND các xã, các chủ rừng Nhà nước xây dựng và triển khai thực hiện tốt phương án giữ vững ổn định an ninh rừng và quản lý chặt chẽ nguồn lâm sản trên địa bàn, phương án tác chiến chữa cháy rừng theo phương châm “4 tại chỗ” tại 29 bản vùng trọng điểm cháy rừng.
Xây dựng và triển khai kế hoạch phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng gắn với bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới với 5 đồn biên phòng trên địa bàn huyện; phối hợp, duy trì thực hiện tốt Quy chế phối hợp giữa kiểm lâm – công an – ban chỉ huy quân sự huyện – dân quân tự vệ...
9 tháng năm 2014, Hạt Kiểm lâm huyện Mường Lát đã cung ứng cây giống; tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng; chỉ đạo, tổ chức cho nhân dân các xã Nhi Sơn, Pù Nhi, Quang Chiểu trồng mới được 702 ha rừng sản xuất Dự án 147 (vượt kế hoạch 52 ha); phát hiện, xử lý 12 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tịch thu 10,6 m3 gỗ các loại.
Trên địa bàn huyện không xảy ra “tụ điểm”, “điểm nóng” về khai thác, mua bán, chế biến, vận chuyển lâm sản trái phép; độ che phủ của rừng đạt 57,6%. (Báo Thanh Hóa 5/11) đầu trang(
Ngày 5.11, cảnh sát Thái Lan bắt 5 người VN tại tỉnh Phrae (miền bắc Thái) vì tình nghi ăn trộm trầm, theo Bangkok Post.
Vào 2 giờ sáng qua, Cảnh sát Cục Phòng chống tội phạm tài nguyên môi trường đã chặn một chiếc xe tải nhỏ có dấu hiệu khả nghi tại quận Long (tỉnh Phrae). 5 người đàn ông vác theo 3 bao tải lớn đã nhảy khỏi xe chạy vào rừng nhưng bị cảnh sát bắt được (riêng tài xế trốn thoát được).
Đó là Bui Ngoc Anh (25 tuổi), Doan Quang Thinh (38 tuổi), Pham Van Huan (35 tuổi), Doan Duc Lua (31 tuổi) và Doan Van Vung (46 tuổi). Tang vật thu được là 76 kg trầm (krissana). Những người này thú nhận đã vượt biên trái phép vào Thái Lan qua khu vực biên giới tại quận Chiang Khong (Chiang Rai).
“Nhóm tội phạm này đã lên kế hoạch mang lén trầm từ rừng quốc gia Wiangkosai về VN”, Botmaklon Srisuwan, Quản lý công viên quốc gia Wiangkosai, cho biết. Hiện những người này đang bị tạm giam tại quận Long. Cảnh sát đang truy lùng tài xế. (Thanh Niên 6/11, tr19) đầu trang(
37 năm qua, ông Nguyễn Đình Trọng (60 tuổi, trú thôn Tân Hòa, xã Vĩnh Hiền, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) gắn mình với công việc giữ Rú (núi) Lịnh.
Với tình yêu rừng và mong ước giữ màu xanh cho thế hệ mai sau, ông Trọng đã xem Rú Lịnh là ngôi nhà thứ hai của mình. Cũng vì thế mà người dân nơi đây gọi ông là “ông Trọng rừng”.
Hôm PV về thăm nhà ông Trọng cũng là lúc ông đang chuẩn bị lên đường tuần tra Rú Lịnh. Một cây rựa, nắm xôi với muối lạc, chai nước và chăn màn là hành trang một ngày đi tuần rừng của ông. Vừa bước ra khỏi cửa ngõ, bà Nguyễn Thị Xuân – vợ ông Trọng nói với theo: “Nhớ tối về sớm nghe ông, đừng có về muộn như hôm qua làm cả nhà lo”. Ông cười và giải thích: “Chả là hôm qua nghe có người lạ quanh quẩn khu rừng, nghi trộm nên tôi đi tuần cả đêm đến 3 giờ sáng mới về”.
Rồi ông dẫn PV đi tuần Rú Lịnh. Dưới tán rừng với những cây gỗ to đến vài người ôm, tiếng chim hót vang cả khu rừng, những loài động vật như sóc, chồn… chạy nhảy khắp nơi, ông Trọng kể cho chúng tôi nghe về chuyện đời, chuyện rừng.
Hòa bình lập lại, ông trở về quê hương sau thời gian tản cư ra Bắc. Năm 1977, Nhà nước thực hiện chính sách giao đất giao rừng nên Rú Lịnh thuộc quyền quản lý của 2 xã Vĩnh Hiền, Vĩnh Hòa, huyện Vĩnh Linh. Thời điểm đó, lâm tặc hoành hành chặt phá cây lấy gỗ và bắt thú rừng quý hiếm trong Rú Lịnh. Không đành lòng nhìn cánh rừng ngày càng “rỉ máu”, ông Trọng tình nguyện xin được giữ rừng. Hàng ngày, ông băng rừng lội suối đi tuần tra canh giữ, bắt lâm tặc. Ngoài ra ông thường xuyên ghi chép sổ sách, thống kê đo đếm cây gỗ…
Trước năm 2000, Rú Lịnh phải đối mặt với nạn khai thác trầm hương. Hết nạn trầm hương lại đến nạn khai thác gốc cây cổ thụ làm cây cảnh. Ông Trọng còn nhớ rõ lần ông bắt được một nhóm lâm tặc vào rú trộm trầm hương. Đó là vào năm 1988, nghe người dân trong vùng báo có một nhóm người lạ cứ loanh quanh Rú Lịnh, nghi ngờ là nhóm lâm tặc, ông cùng mấy đứa trẻ trong thôn giả vờ vào rừng bẫy chim để theo dõi. Xác định được địa điểm nhóm người định trộm trầm hương, ông báo với Công an xã Vĩnh Hiền phối hợp tóm gọn.
Năm 2010, ông phát hiện nhóm 11 thanh niên vào rừng trộm gốc sanh, đa. Phục kích ngày đêm, cuối cùng ông bắt được. Ban đầu chúng xin xỏ, mua chuộc bằng số tiền khá lớn nhưng thấy ông nhất quyết không cho, chúng quay sang đe dọa và còn đánh ông. Nghĩ một mình trong rừng sâu không thể chống được bọn chúng, ông giả vờ thả cho đi, nhưng khi chúng cùng tang vật vừa ra khỏi rừng, ông hô hoán dân làng tóm gọn.
Giữ rừng ngần ấy năm, ông Trọng rút ra một câu ngắn gọn: “Giữ rừng là phải khôn khéo, phải biết dựa vào dân. Ai vào rừng, dù cầm một cái bao thôi dân cũng báo, nhờ thế Rú Lịnh mới còn đến hôm nay”.
“Giờ ở rú cây gì, ở đâu tôi cũng biết chứ về nhà, đôi khi vợ hỏi heo gà trong chuồng mấy con, ruộng cấy xong chưa tôi không hề biết. Thương vợ nhưng xa rừng tôi nhớ, tôi lo. May mà vợ con cũng thương và thông cảm. Bây giờ với tôi, còn sống ngày nào tôi sẽ giữ rừng, ở với rừng ngày đó”.
Tên Rú Lịnh được bắt nguồn từ cây lịnh (một loại cây họ tre, gần giống như cây giang, thân cỏ, trong ống chứa nước trong và ngọt). Vào thời kỳ chống Mỹ, Rú Lịnh là nơi cất giấu khí tài và tập kết quân để chi viện cho chiến trường miền Nam và đảo Cồn Cỏ.
Trước đây Rú Lịnh có diện tích rừng nguyên sinh 98ha, sau khi được tỉnh quy hoạch thành khu sinh thái thì có diện tích đến 230ha, có thảm thực vật phong phú với trên 200 loài thuộc 72 họ như lim xanh, gụ lau, huệnh, dẻ rừng, trầm hương, ngũ gia bì...; 73 loài chim; 12 loài thú. Rú Lịnh cung cấp nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp của các xã Vĩnh Hoà, Vĩnh Hiền, Vĩnh Thành, Vĩnh Tân, Vĩnh Giang và còn được xem là lá phổi xanh của vùng Đông Vĩnh Linh. Đây là địa điểm để sinh viên các trường đại học, các nhà khoa học nghiên cứu về động thực vật nhiệt đới, góp phần cải tạo môi sinh.
Theo nghiệp giữ rừng suốt 37 năm ròng nhưng ông Trọng chỉ nhận được những đồng phụ cấp ít ỏi. Bấm đốt ngón tay, ông Trọng cho biết, trước được công điểm, sau Nhà nước trả cho 60.000 đồng/tháng, mỗi lần tăng vài chục, đến bây giờ mỗi tháng ông cũng chỉ nhận vỏn vẹn 500.000 đồng. Trong khi đó, công việc lại đòi hỏi ông lúc nào cũng phải thường trực trong rú, bất kể nắng mưa. Lạ rằng ông vẫn lạc quan cười xuề xòa: “Tôi giữ rú không phải vì tiền mà vì nước, vì dân, vì làng và cả vì con cháu tôi nữa”.
Đi trong rừng, ông Trọng chỉ cho PV cây lim, cây gõ… và ông cho biết những đặc điểm của từng loại cây. Rồi lúc bất chợt gặp những gốc cây bị lâm tặc đốn hạ, ông lại cau mày chua xót. Nói không ngoa, ông Trọng xem Rú Lịnh là nhà, vì thời gian ở rú nhiều hơn ở nhà. (Dân Việt 6/11) đầu trang(
Trong tháng 10-2014, các lực lượng chức năng tỉnh đã phát hiện 26 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (giảm 4 vụ so với tháng trước).
Trong đó, vi phạm các quy định chung của Nhà nước về bảo vệ rừng 3 vụ, khai thác rừng trái phép 7 vụ, vận chuyển lâm sản trái pháp luật 3 vụ, mua bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái quy định của Nhà nước 13 vụ.
Ngành chức năng đã tịch thu hơn 98m3 gỗ các loại. Kết quả trên góp phần chấn chỉnh và tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng; hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, ổn định đất sản xuất nương rẫy, bảo vệ tài nguyên rừng trên địa bàn. (Công An TP Đà Nẵng 6/11) đầu trang(
5/11, tại thị trấn Sa Pa, tỉnh Lào Cai, Vườn Quốc gia Hoàng Liên tổ chức Lễ công bố Quyết định của Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam công nhận 2 cây: Vân Sam Fansipan và cây Đỗ Quyên cành thô là di sản Việt Nam.
Theo khảo sát của Vườn Quốc gia Hoàng Liên, quần thể cây Vân Sam Fansipan gồm 26 cây, trung bình đều trên 300 tuổi, phân bố ở độ cao 2.600m; còn quần thể cây Đỗ Quyên cành thô, gồm 56 cây, trung bình trên 200 tuổi, phân bố tại độ cao 2.700m trên rừng Hoàng Liên.
Cây Vân Sam Fansipan và cây Đỗ Quyên cành thô mọc tự nhiên trên rừng Hoàng Liên, rất quý hiếm và có giá trị khoa học, được ghi tên trong Sách đỏ Việt Nam, cần phải được bảo vệ nghiêm ngặt.
Ông Nguyễn Quang Vĩnh, Giám đốc Vườn Quốc gia Hoàng Liên cho biết: “Trước mắt là thực hiện các biện pháp, tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, bảo vệ và tuyên truyền vận động nhân dân không chặt các cành cây Vân Sam, cây Đỗ Quyên về làm cây cảnh; lập các chốt bảo vệ rừng trong mùa hanh khô. Thứ hai là thực hiện các biện pháp nhân giống cây Đỗ Quyên, cây Vân Sam phục vụ mục đích bảo tồn, cung cấp cây giống cho những người yêu thích hoa, cây cảnh sau này”.
Cũng tại buổi lễ, Ban Tổ chức Cuộc thi sáng tác ca khúc về Vườn Quốc gia Hoàng Liên đã trao 6 tác phẩm xuất sắc cho 6 tác giả tham dự cuộc thi. (VOV 5/11) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Từ 3 - 8/11, tại TP Yokohama, Nhật Bản, diễn ra lễ khai mạc Phiên họp Hội đồng lần thứ 50 của Tổ chức Gỗ Nhiệt đới quốc tế (ITTO).
Tham dự phiên họp có đại diện 69 quốc gia thành viên và hơn 50 tổ chức là quan sát viên từ các quốc gia muốn trở thành thành viên ITTO trong tương lai, các tổ chức liên chính phủ, phi chính phủ và khu vực tư nhân liên quan đến quản lý rừng và thương mại lâm sản.
Đây là lần đầu tiên Việt Nam tham dự họp Hội đồng của ITTO với tư cách quốc gia thành viên kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 69 của ITTO vào tháng 4/2014. Đoàn Việt Nam tham dự phiên họp Hội đồng gồm các đại diện từ Bộ NN-PTNT, Bộ Công thương do ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp làm Trưởng đoàn.
Đoàn Việt Nam đã có buổi làm việc với lãnh đạo của Ủy ban Trồng rừng và Ủy ban Công nghiệp rừng về các dự án ưu tiên và qui trình phê duyệt dự án của ITTO cho Việt Nam. Các ủy ban đều cam kết mạnh mẽ sẽ dành cho Việt Nam những dự án hỗ trợ đầu tiên nếu Việt Nam sớm gửi đề xuất. Trước mắt, ITTO có thể hỗ trợ cho Việt Nam một khóa đào tạo xây dựng dự án theo qui định của ITTO.
Tại buổi làm việc với Ủy ban Thị trường, ITTO đã nhất trí Việt Nam được phép sử dụng các thông tin định kỳ về thị trường của ITTO để phân phát cho các doanh nghiệp Việt Nam và đăng tải trên website của Tổng cục Lâm nghiệp. (Nông Nghiệp Việt Nam 6/11) đầu trang(
Chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương Huỳnh Quang Thanh cho biết đà hồi phục của thị trường thế giới đã mở ra nhiều triển vọng cho các doanh nghiệp sản xuất, chế biến đồ gỗ tăng năng lực sản xuất và xuất khẩu.
Từ đầu năm đến nay, các doanh nghiệp đã chế biến, xuất khẩu sản phẩm đạt trên 1,54 tỷ USD, tăng trên 10% so với cùng kỳ năm trước. Tỉnh đang phấn đấu hoàn thành kế hoạch xuất khẩu cả năm trên 1,7 tỷ USD và nâng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ đạt trên 2 tỷ USD vào năm 2015.
Bình Dương là một trong những địa phương được xem là “thủ phủ” chế biến đồ gỗ xuất khẩu lớn nhất cả nước. Hiệp hội Chế biến đồ gỗ tỉnh Bình Dương cho biết hiện Hiệp hội có hơn 500 doanh nghiệp có vốn đầu tư trong và ngoài nước, giải quyết hàng chục nghìn lao động.
Theo bà Đỗ Thị Kim Loan, Tổng giám đốc Công ty gỗ Sao Nam kiêm Phó chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương, với đà tăng trưởng trong xuất khẩu 10% so với cùng kỳ và phấn đấu hai tháng cuối năm tăng trưởng từ 10-15%, mục tiêu hoàn thành kim ngạch xuất khẩu cả năm có thể đạt được.
Hiện nay, một số doanh nghiệp đã hoàn thành kế hoạch sản xuất cả năm và đang thảo luận ký tiếp đơn hàng mới cho năm 2015. Đây là một tín hiệu đáng mừng về triển vọng kinh tế ngành gỗ.
Sự chuyển dịch các đơn hàng lớn đang đến Việt Nam và đây là một trong kế hoạch mà Hiệp hội Chế biến gỗ Bình Dương đang thực hiện. Những năm gần đây, nhờ chủ động đổi mới công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề ổn định, nhờ đó các doanh nghiệp đã tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng thị trường khó tính như châu Âu, Mỹ và Nhật Bản.
“Chúng tôi đang thúc đẩy ký kết các đơn hàng lớn, chia sẻ với các doanh nghiệp để thành chuỗi liên kết sản xuất và xuất khẩu. Cách thức này đang là chiến lược đưa ngành gỗ Bình Dương phát triển ổn định vào thời gian tới,” bà Đỗ Thị Kim Loan khẳng định.
Tuy nhiên, theo nhận định của ông Huỳnh Quang Thanh các doanh nghiệp đã hội nhập sâu vào thị trường và sản phẩm gỗ là một trong sản phẩm "mặt tiền" của thị trường, do đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải giữ uy tín cũng như về chất lượng và giá thành sản phẩm.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phải có đội ngũ nhân công ổn định, tay nghề cao mới có cơ hội bước vào “sân chơi” lớn của ngành chế biến gỗ toàn cầu.
Trong khi đó, theo Sở Công Thương Bình Dương, một trong tín hiệu mới của ngành chế biến gỗ của tỉnh là ngoài xuất khẩu sang các thị trường truyền thống như Nhật Bản, Mỹ và châu Âu, nhiều doanh nghiệp đã phát triển được thị trường mới ở Trung Đông và châu Phi.
Mặc dù đã hồi phục sản xuất, vượt qua giai đoạn khó khăn, nhưng theo đánh giá chung nhiều doanh nghiệp đang còn lệ thuộc quá lớn nguồn nguyên liệu nhập khẩu với trên 60%.
Và một trong rào cản đó là giá trần lãi suất tín dụng trong nước cao hơn so với khu vực đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp gỗ ở Bình Dương nói riêng và cả nước nói chung. (VietnamPlus 5/11) đầu trang(
Quá trình sắp xếp, đổi mới ngành lâm nghiệp được tỉnh Ðác Lắc tập trung chỉ đạo quyết liệt trong những năm qua. Tuy nhiên, để có thể tái cơ cấu một cách vững chắc còn phải đối mặt với nhiều thách thức.
Vì sau nhiều lần chuyển đổi, công tác quản lý, bảo vệ rừng vẫn ngày càng xấu đi, nhiều cánh rừng bị mất, doanh nghiệp lao đao. Sau hai lần sắp xếp, chuyển đổi từ lâm trường quốc doanh thành các công ty lâm nghiệp (năm 2006), rồi từ công ty lâm nghiệp thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (TNHH MTV) lâm nghiệp (năm 2010).
Đến nay, tỉnh Ðác Lắc có 15 công ty TNHH MTV lâm nghiệp, sáu ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng và hai vườn quốc gia. Trong đó, 15 công ty lâm nghiệp quản lý hơn 208 nghìn ha, chiếm gần 33% tổng diện tích đất lâm nghiệp và 15,7% diện tích tự nhiên của tỉnh.
Theo nhận định của các cơ quan chức năng, nhìn chung các doanh nghiệp nêu trên trong thời gian qua chưa khai thác hết tiềm năng đất đai, lợi nhuận hằng năm thu về không đáng kể. Nhiều doanh nghiệp đang lâm vào cảnh bế tắc, không thể tổ chức, triển khai được bất kỳ một hoạt động sản xuất, kinh doanh nào, ngoài việc tiếp tục chờ đợi kinh phí hạn hẹp từ trên "rót" về.
UBND tỉnh Ðác Lắc đánh giá: Sau khi sắp xếp lại, 15 công ty hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, nhưng công tác điều hành vẫn theo mô hình truyền thống, chưa có sự đổi mới, thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng là chính. Những năm gần đây, phần lớn các công ty không còn chỉ tiêu khai thác gỗ, cho nên không có nguồn kinh phí để đầu tư cho công tác quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên. Hầu hết đều rơi vào tình trạng làm ăn kém hiệu quả, nợ lương của cán bộ, công nhân kéo dài.
Ông Nguyễn Hữu Thu, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Chư Ma Lanh (huyện Ea Súp, Ðác Lắc) chia sẻ, mặc dù các công ty lâm nghiệp hoạt động hạch toán độc lập như một doanh nghiệp nhưng không thể tiếp cận được với nguồn vốn vay ưu đãi nào từ các tổ chức tín dụng, nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng đã khó lại càng bế tắc hơn.
Nguồn cân đối cho công tác quản lý, bảo vệ rừng càng trở nên thiếu hụt sau khi chỉ tiêu khai thác gỗ không còn. Chủ tịch UBND huyện Ea Súp Trần Ngọc Quang cho rằng: Những công ty được Nhà nước giao đất, giao rừng, chưa có những biện pháp kiên quyết, có dấu hiệu buông lỏng quản lý để tình trạng lấn chiếm đất rừng xảy ra nghiêm trọng.
Còn theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ðác Lắc Ðinh Văn Khiết: Ðể xảy ra tình trạng rừng bị khai thác, lấn chiếm trái phép trong những năm qua là do sự buông lỏng quản lý của các ngành chức năng và sự thiếu trách nhiệm của chính chủ rừng. Việc thẩm định, phê duyệt các dự án cho thuê rừng, đất lâm nghiệp trồng cao-su chưa chặt chẽ, dẫn đến tình trạng mất rừng, lấn chiếm đất rừng, tranh chấp đất đai phức tạp, kéo dài trong nhiều năm.
Trách nhiệm trước hết thuộc về chủ rừng mà chủ yếu là công ty lâm nghiệp, bởi những đơn vị này đã được Ðảng, Nhà nước giao nhiệm vụ quản lý bảo vệ, kinh doanh, khai thác, nhưng lại để rừng bị mất nhiều nhất, chiếm tới 57% trong các vụ phá rừng.
Ðác Lắc cho phép 90 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh vào khảo sát, lập 104 dự án đầu tư trồng rừng, trồng cao-su và một số loại cây nông, lâm nghiệp khác. Với mục đích phủ xanh đất trống đồi trọc, khai thác, phát huy hiệu quả từ việc chuyển đổi rừng nghèo, sẽ chẳng có gì đáng bàn nếu mọi dự án đều được triển khai đúng tiến độ, đúng phương án phê duyệt và cả đúng mục đích sử dụng đất rừng.
Sự "đổ bộ" ồ ạt của các dự án đã khiến một số người dân tổ chức chiếm đất, phá rừng trái phép trong khu vực dự án để lấy đất hoặc để đòi chủ dự án bồi thường, tạo áp lực lớn đến công tác bảo vệ rừng. Trong khi đó, nhiều chủ dự án thiếu năng lực tài chính, thiếu trách nhiệm trong bảo vệ rừng, để rừng bị phá, lấn chiếm nhưng không có biện pháp ngăn chặn.
Nhiều cánh rừng đã được khai thác, tận thu gỗ, còn việc trồng rừng theo như mục tiêu của dự án và chủ trương của tỉnh thì đang chậm và vướng... Sau gần bốn năm thực hiện, đến nay các doanh nghiệp chỉ mới trồng được hơn 7.235 ha cao-su, gần 8.000 ha rừng.
Tiến độ trồng cao-su, trồng rừng rất chậm so với kế hoạch, còn việc tận thu gỗ trên diện tích rừng được phép chuyển đổi được các doanh nghiệp triển khai nhanh chóng với 44 nghìn mét khối gỗ trên diện tích 7.343 ha rừng. Chỉ tính riêng từ năm 2008 đến tháng 9-2012, toàn tỉnh có gần 10 nghìn ha rừng bị tàn phá và lấn chiếm, trong đó có gần 3.000 ha rừng và đất lâm nghiệp bị chặt phá và lấn chiếm thuộc quản lý của các dự án.
Với hơn 84 nghìn ha rừng trồng, tỉnh Ðác Lắc có nguồn nguyên liệu rất lớn phục vụ ngành công nghiệp chế biến. Tuy vậy, các cơ sở chế biến hầu hết có công suất nhỏ, chủ yếu là sơ chế, hiệu quả còn thấp, trong khi đó các đơn vị muốn đầu tư mở rộng quy mô sản xuất nhưng do nguồn kinh phí có hạn nên rất khó thực hiện.
Theo tính toán của những nhà chuyên môn, để tiêu thụ sản phẩm, cần đầu tư xây dựng nhà máy chế biến lâm sản có công suất từ 400 nghìn đến 500 nghìn m3 gỗ/năm, nhưng do trên địa bàn tỉnh chưa có nhà máy chế biến gỗ quy mô lớn cho nên đầu ra cho gỗ rừng trồng vẫn đang là vấn đề nan giải. Do vậy, địa phương cần quy hoạch, khuyến khích phát triển mạng lưới chế biến lâm sản gắn với vùng nguyên liệu, nhằm tạo thị trường tiêu thụ ổn định cho các cá nhân, doanh nghiệp tham gia trồng rừng.
Việc sắp xếp, đổi mới hoạt động của các công ty lâm nghiệp chính là để những đơn vị này hoàn toàn tự chủ, góp phần tích cực trong phát triển công nghiệp rừng ở các địa bàn.
Ðể tạo điều kiện cho doanh nghiệp thật sự chủ động tổ chức sản xuất, kinh doanh trên cơ sở bảo đảm duy trì vốn rừng hiện có và từng bước nâng cao chất lượng rừng, bảo đảm môi trường sinh thái, Ðác Lắc đã đề ra phương án tiếp tục sắp xếp mà cụ thể là cổ phần hóa các công ty lâm nghiệp, chuyển đổi một số đơn vị lâm nghiệp không có điều kiện sản xuất, kinh doanh thành các ban quản lý rừng; tiếp tục rà soát lại các diện tích rừng, đất rừng và khả năng đầu tư, quản lý, bảo vệ, phát triển rừng của các công ty để thu hồi những diện tích rừng quản lý kém hiệu quả cho các tổ chức kinh tế khác thuê, bảo vệ và kinh doanh theo quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được HÐND tỉnh thông qua.
Với 33% diện tích rừng và đất rừng mà các công ty lâm nghiệp đang sở hữu, nếu được kịp thời tháo gỡ khó khăn, có hướng đi phù hợp thì chắc rằng các công ty lâm nghiệp sẽ góp phần không nhỏ vào sự phát triển của ngành lâm nghiệp, không chỉ ở giá trị kinh tế, mà còn ở giá trị xã hội và môi trường.
Những giải pháp khuyến khích phát triển mạng lưới chế biến lâm sản gắn với vùng nguyên liệu theo hướng hiện đại hóa công nghệ là vấn đề cấp bách hiện nay. Qua đó, góp phần giảm áp lực đối với an ninh rừng và giúp người trồng rừng không phải lo lắng việc tiêu thụ sản phẩm.
Một yêu cầu cấp thiết là đánh giá đúng thực trạng tình hình sử dụng đất của từng đơn vị, chủ rừng, điều chỉnh quy hoạch, hoàn thành các thủ tục giao đất gắn với giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, chủ rừng.
Và trên cơ sở diện tích đã quy hoạch sử dụng đất theo ba loại rừng, chính quyền các địa phương phải có kế hoạch lồng ghép, điều phối các dự án phát triển kinh tế - xã hội từ các nguồn đầu tư khác nhau để hỗ trợ cho các hộ nghèo, hộ gia đình chính sách, nhất là các hộ thiếu đất sản xuất, cải thiện sinh kế cho người dân sống gần rừng, các xã nghèo, bảo đảm an sinh xã hội để giảm bớt áp lực bất lợi vào tài nguyên rừng. Làm được những điều trên, nguồn lợi từ lâm sản sẽ giúp cho Ðác Lắc có thêm nguồn ngân sách. (Nhân Dân 6/11) đầu trang(
Theo Cục Hải quan TP.HCM, ngày 23-9-2014, Cục Kiểm lâm ban hành công văn số 481/KL-TTPC về hồ sơ xuất khẩu lâm sản sau chế biến, trong đó yêu cầu doanh nghiệp khi làm thủ tục XK phải xuất trình hồ sơ nguồn gốc gỗ, khiến việc xuất khẩu của doanh nghiệp bị vướng.
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 8 Thông tư 88/2011/TT-BNNPTNT ngày 28-12-1011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sản phẩm làm từ gỗ thuộc Nhóm IA là tang vật xử lý tịch thu; Nhóm IIA quy định tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP chỉ được phép xuất khẩu ở dạng sản phẩm đồ mộc hoàn chỉnh.
Khi xuất khẩu thương nhân kê khai hàng hóa với cơ quan Hải quan về số lượng, chủng loại và chịu trách nhiệm về nguồn gốc gỗ hợp pháp, không phải xin phép. Như vậy, ngay cả sản phẩm gỗ hoàn chỉnh làm từ gỗ thuộc Nhóm IA là tang vật xử lý tịch thu theo quy định hiện hành của Nhà nước; Nhóm IIA quy định tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP khi xuất khẩu doanh nghiệp đều phải chịu trách nhiệm về nguồn gốc gỗ hợp pháp, vậy sản phẩm gỗ cao cấp, sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ làm từ các loại gỗ khác doanh nghiệp cũng phải chịu trách nhiệm về nguồn gốc gỗ hợp pháp.
Bên cạnh đó, mặt hàng đồ gỗ mỹ nghệ, đồ gỗ cao cấp là lâm sản sau chế biến khi xuất khẩu ngoài bộ hồ sơ theo quy định tại Điều 12 Thông tư 128/2013/TT-BTC ngày 10-9-2013 của Bộ Tài chính, doanh nghiệp còn phải trình thêm bộ hồ sơ lâm sản theo quy định tại khoản 2, Điều 17 Thông tư 01/2012/TT-BNNPTNT quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản.
Theo quy định này, trong quý I hàng năm, Chi cục kiểm lâm có trách nhiệm rà soát, phân loại và thông báo công khai đến cơ sở chế biến, kinh doanh lâm sản trên địa bàn và niêm yết tại trụ sở chi cục theo hai loại: cơ sở chế biến, kinh doanh lâm sản chấp hành tốt các quy định của Nhà nước; các cơ sở chế biến, kinh doanh lâm sản có vi phạm các quy định của Nhà nước về hồ sơ lâm sản hoặc chấp hành chưa đầy đủ quy định của nhà nước.
Tuy nhiên, qua trao đổi với Chi cục Kiểm lâm TP.HCM, đơn vị này cho biết, hiện nay các chi cục kiểm lâm chưa thực hiện được việc phân loại doanh nghiệp theo 2 loại như nêu trên. Do vậy, chưa thực hiện được việc yêu cầu doanh nghiệp xuất trình thêm hồ sơ lâm sản sau chế biến khi làm thủ tục xuất khẩu.
Cục Hải quan TP.HCM cho biết, từ khi Thông tư 88/2011/TT-BNNPTNT có hiệu lực thi hành cho đến nay, việc xuất khẩu sản phẩm gỗ mỹ nghệ, sản phẩm gỗ cao cấp đều không yêu cầu doanh nghiệp xuất trình hồ sơ gỗ như quy định tại công văn số 481/KL-TTPC ngày 23-9-2014 về hồ sơ xuất khẩu lâm sản sau chế biến của Cục Kiểm lâm.
Theo Cục Hải quan TP.HCM, hiện nay nhiều doanh nghiệp không xuất khẩu được do vướng quy định công văn số 481/KL-TTPC ngày 23-9-2014 về hồ sơ xuất khẩu lâm sản sau chế biến của Cục Kiểm lâm.
Để trách ách tắc việc xuất khẩu sản phẩm gỗ cao cấp, sản phẩm gỗ mỹ nghệ, sản phẩm gỗ hoàn chỉnh, Cục Hải quan TP.HCM kiến nghị Tổng cục Hải quan xem xét trao đổi với Cục Kiểm lâm sớm giải quyết vướng mắc này theo hướng sản phẩm gỗ cao cấp, sản phẩm gỗ mỹ nghệ, sản phẩm gỗ hoàn chỉnh thì doanh nghiệp được xuất khẩu và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nguồn gốc gỗ hợp pháp. (Hải Quan 5/11) đầu trang(
Bên cạnh tập trung kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 theo sự chỉ đạo của UBND tỉnh. Đến nay, tòan huyện có 369 hộ ở 10/10 xã, thị trấn đăng ký việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp, và được ngành chuyên môn huyện phối hợp địa phương tiến hành đo đạc cho 96 hộ/107 thửa.
Thời gian qua, công tác chuyển quyền, chuyển mục đích sử dụng đất, đăng ký biến động và đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất được thực hiện đúng theo thời gian và quy trình. Hiện nay, huyện An Lão đã xét duyệt 49.682 hồ sơ theo Dự an VLAP, chiếm 82,4 % tổng số hồ sơ tại các xã, thị trấn và có 44.783 hồ sơ đủ điểu kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chiếm tỷ lệ 96 %.
Thời gian đến, cùng với khẩn trương đẩy nhanh tiến độ giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp trên địa bàn, huyện An Lão có kế họach phối hợp với Ban Chỉ đạo xây dựng bảng giá đất cấp tỉnh, hòan thành bảng giá đất năm 2015 ở địa phương, đồng thời đẩy nhanh tiến độ hòan thành Dự án VLAP, lập kế họach sử dụng đất năm 2015 cấp huyện, trình UBND tỉnh phê duyệt thực hiện. (Anlao.binhdinh.gov.vn 3/11) đầu trang(
Theo số liệu từ Chi cục Phát triển Lâm nghiệp, đến nay, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) cho các chủ rừng, với tổng số tiền trên 20,7 tỷ đồng.
Toàn tỉnh hiện đã có 222.240,7 ha rừng được thụ hưởng chính sách DVMTR. Số hộ gia đình tham gia quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) và hưởng lợi từ DVMTR năm 2014 là  5.438 hộ, trong đó, 3.453 hộ gia đình nhận rừng giao khoán; 1.985 hộ gia đình tham gia QLBV rừng cộng đồng thôn, buôn.
Đến nay, Quỹ đã ký hợp đồng ủy thác với 21 nhà máy thủy điện với tổng số tiền trên 41,7 tỷ đồng. (Báo Đắc Lắc 5/11) đầu trang(
Để cải thiện thu nhập cho người nhận khoán chăm sóc và bảo vệ rừng đồi núi, công tác khuyến nông và khuyến lâm trong những năm qua được tăng cường.
Nhiều hình thức chăn nuôi và trồng trọt cho hiệu quả, tạo việc làm cho hàng ngàn lao động qua các mô hình vườn đồi và vườn rừng, nhất là đối với khu vực đồi đất dốc và những nơi có điều kiện thích hợp.
Khoảng 500 héc-ta rừng núi Dài tiếp giáp vách núi Cấm là nơi có nhiều điều kiện để trồng trọt các loại rau màu, cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày. Cư dân sở tại cho rằng, khu vực này sản xuất mạnh nhất huyện miền núi Tri Tôn và Tịnh Biên, do đất đai từng bước được cải tạo và độ phì nhiêu cũng giàu dinh dưỡng hơn các nơi khác.
Mưa xuống, dọc hai bên Hương lộ 17B xuất hiện những giàn mướp, ruộng khoai cao, bắp, ớt, đậu… tươi tốt trông rất sung túc. Mỗi ngày, hàng trăm lao động từ Châu Lăng, Lương Phi, Lê Trì, Ba Chúc (Tri Tôn) và An Cư, An Hảo (Tịnh Biên) vào dọn cỏ, chăm sóc vườn đồi và vườn rừng, cải thiện thu nhập và ổn định đời sống.
Mùa mưa, không khí lao động thời vụ và mua bán ở các khu vực Ô Tà Sóc, Ô Vàng, Thổ Phi (núi Dài lớn) trở nên nhộn nhịp và khẩn trương hơn. Xe Honda thồ nông sản chạy dập dìu, bạn hàng tổ chức điểm đón mua đủ thứ từ trên núi gánh xuống. Nổi bật nhất là đỉnh vồ Đá Bạc và Ô Hồng Hoàng, với các loại họ đậu (đậu rồng, đậu que, đậu trắng) thuộc thế mạnh ở độ cao từ 400m – 500m.
Bà Nguyễn Thị Hường (khu vực Ô Tà Sóc) cho hay, mấy năm gần đây, người có vườn đồi và vườn rừng, trồng xen cây chuối cũng được lợi nhiều thứ, như: Bắp, trái, lá, dây… bán cũng có tiền. “Hình như, những thứ này ngày càng hiếm đi, người cần xài tiêu thụ mạnh. Mình mần ra, bán mới chạy, hổng dội chợ như trước” – bà Hường xởi lởi.
Khu vực Ô Tà Bang tiếp giáp xã An Phú và Thới Sơn khai thác lợi thế cây mì, cây sắn. Bên cạnh, còn xuất hiện những miếng cà tím, đám bắp, ruộng cây họ đậu… xen dưới tán cây bản địa, cây rừng.
Theo ông Võ Hồng Sơn (cư dân Thới Sơn), tùy theo địa thế đồi dốc mà chọn cây trồng thích hợp, nhưng cây mì vẫn chiếm tỉ lệ cao, một phần thương lái tổ chức mua và sơ chế tại bìa rừng. Nhờ vậy, chi phí vận chuyển giảm, người trồng mì xen tán rừng có lời.
Ông Trần Hữu Thành (cư dân An Phú) lại cho rằng, đất dốc, đồi núi không phải chỗ nào cũng trồng trọt rau màu và cây ngắn ngày, đòi hỏi phải có độ mùn tương đối để cây bám rễ và phát triển tốt.
Các xã, thị trấn ở Tịnh Biên có trên 2.400 héc-ta cây ăn trái. Theo ông Lê Văn Hạnh, Chủ tịch Hội Nông dân huyện, đây là kết quả chuyển đổi từ đất gò cao, đất ven triền núi sang trồng cây ăn trái. Cùng với các loài cây bản địa, nông dân có xu thế lập vườn đồi để trồng xoài, nhãn, thanh long… giống mới, thích nghi với điều kiện khí hậu và đất đai vùng núi, đưa tổng sản lượng các loại tăng lên trên 34.000 tấn/năm.
Các khu vực Kako (Tân Lợi), Thalot (An Hảo), Pô Thi (An Cư), Ô Tà Bang (An Phú)… còn hình thành những miếng vườn chuyên canh cây ăn trái, tạo ra nguồn lợi đặc sản miền núi, vừa mang lại giá trị kinh tế tốt và kích thích nông dân sản xuất, vừa tăng thu nhập cho người bảo vệ và phát triển rừng.
Diện tích vườn ở Tịnh Biên và Tri Tôn phát triển mạnh trên đồi dốc, các nơi ven triền núi Cấm, núi Dài lớn. Đối với những khu vực đồi, núi còn lại chỉ lác đác vài miếng vườn, hiệu quả không như mong muốn do thổ nhưỡng và tác động thời tiết không thích hợp.
Lập vườn đồi trồng xoài cát Hòa Lộc đang là xu thế trên miền núi. Song, yếu tố kỹ thuật canh tác thì ít người quan tâm, các chủ vườn tập trung vào việc xử lý kích thích để ra hoa, kết trái… quanh năm, mà xem nhẹ tuổi thọ cây trồng dẫn đến tình trạng sụt giảm năng suất và trúng mùa rớt giá. Đó là chưa nói đến chất lượng, thị hiếu khách thập phương. Có những chủ vườn phải thốt lên rằng, trồng xoài của ngành Kiểm lâm cung cấp ngon ăn hơn.
Từ khi triển khai trồng cây phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và chuyển sang trồng rừng phòng hộ đồi núi, toàn vùng Bảy Núi có trên 2.000 héc-ta được trồng xoài và điều theo công thức kỹ thuật hỗn giao (cây ăn trái trồng xen cây rừng).
Ông Dương Ánh Đông, Trưởng trạm Bảo vệ thực vật Tịnh Biên cho rằng, thiết kế như vậy, ngành chuyên môn đã có tính toán đến thổ nhượng, khí hậu, thời tiết… đảm bảo về lâu dài. Thực tế cho thấy, cây xoài do Kiểm lâm cung cấp có sức “đề kháng” tốt hơn, không cần xử lý, để tự nhiên vẫn cho năng suất tốt và bán được giá vào mọi thời điểm. (Báo An Giang 5/11) đầu trang(
Ngày 4-11, Bộ Tài nguyên và Môi trường làm việc với tỉnh Bình Phước về một số vấn đề liên quan đến công tác quản lý đất đai.
Nhân đó, Bí thư tỉnh ủy Bình Phước Nguyễn Tấn Hưng đã kiến nghị bộ này xem xét và hướng dẫn các vấn đề liên quan đến thu hồi đất của dự án trồng rừng của Công ty TNHH Vina Phygen (100% vốn đầu tư Hàn Quốc).
Theo ông Nguyễn Tấn Hưng, Công ty TNHH Vina Phygen thuê 671 héc ta đất lâm nghiệp của Lâm trường Bù Đăng để trồng cây xoan chịu hạn (ứng dụng công nghệ mới lấy tinh dầu) nhưng lại trồng cao su, chuyển nhượng tài sản trên đất…
Cụ thể, năm 2008 Công ty TNHH Vina Phygen triển khai dự án trồng 671 héc ta cây xoan chịu hạn để lấy tinh dầu. Đến năm 2010, Vina Phygen trồng được 550 héc ta cây xoan chịu hạn nhưng do cây tăng trưởng kém nên công ty này đề nghị tỉnh Bình Phước cho điều chỉnh mục tiêu dự án sang trồng keo lai, cao su và một số cây công nghiệp khác.
Sau khi khảo sát, chính quyền tỉnh Bình Phước chấp thuận kiến nghị của Vina Phygen; nhưng chưa thực hiện đúng trình tự thủ tục chuyển mục tiêu dự án, Vina Phygen đã tiến hành trồng cao su...
Chưa hết, Vina Phygen còn tự ý chuyển nhượng tài sản trên đất cho một công ty khác và đã tiến hành khai hoang, sản ủi thi công làm đường tại đất dự án. Vụ việc được chính quyền tỉnh Bình Phước phát hiện, nên cuối năm 2013 tỉnh đã quyết định thu hồi lại 671 héc ta đất rừng của Vina Phygen giao cho huyện Bù Đăng quản lý (để bố trí đất cho đồng bào nghèo thiếu đất hoặc không có đất sản xuất).
Tuy nhiên, để thực hiện được quyết định này tỉnh Bình Phước đang gặp một số khó khăn, vướng mắc cần Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn.
Tại buổi làm việc, Bộ trưởng  Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang cho rằng, công tác quản lý đất đai của tỉnh Bình Phước trong thời gian qua chưa tốt nên cần tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai. Ông cho biết, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ hỗ trợ cho Bình Phước nhưng Bình Phước cũng cần tìm giải pháp phù hợp để tháo gỡ dứt điểm khó khăn.
Được biết ở Bình Phước hiện nay không chỉ có dự án của Vina Phygen “biến” đất rừng thành “đất trồng cao su” mà còn có 17 dự án khác cũng chuyển đổi đất rừng sang trồng cao su với tổng diện tích rừng bị chuyển đổi là 9.160 héc ta.
Hồi tháng 1-2014, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát và trình Chính phủ đồng ý cho chuyển đổi sáu dự án với diện tích 3.033 héc ta. Các dự án còn lại, Bình Phước đang hoàn thiện thủ tục để trình bộ này và Chính phủ cho phép chuyển đổi.
Việc chuyển đổi nhanh chóng như vậy đã khiến diện tích rừng tự nhiên tại Bình Phước giảm nghiêm trọng. Số liệu tổng hợp cho thấy, nếu như năm 2002 Bình Phước có tới 127.800 héc ta rừng tự nhiên thì năm 2013 (sau 10 năm) chỉ còn 58.600 héc ta, giảm hơn một nửa. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 5/11) đầu trang(
Dự án trồng rừng thay thế nương tỉnh Lào Cai được triển khai từ năm 2010, theo đó, có 11.356 hộ gia đình có diện tích nương đang canh tác trên đất lâm nghiệp với diện tích gần 21 nghìn ha, tập trung chủ yếu ở các huyện: Bắc Hà, Si Ma Cai, Bát Xát, Mường Khương….
Số diện tích trên được người dân đăng ký, tự nguyện chuyển sang trồng rừng. Mục tiêu của dự án là khuyến khích đồng bào dân tộc thiểu số sống tại chỗ chuyển đổi nương sang trồng rừng, góp phần thực hiện có hiệu quả Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng; Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2009 - 2015 và định hướng đến 2020 của tỉnh. (Báo Lào Cai 5/11) đầu trang(
Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn sông Bồ (BQLRPHĐNSB) và hộ bà Nguyễn Thị Ty đang tranh chấp cây rừng tại khoảnh 2, Tiểu khu 106 thuộc vùng khe Băng (phường Hương Vân, Hương Trà) với diện tích khoảng 1ha.
UBND phường Hương Vân phải đứng ra hòa giải giữa các bên và giải quyết tranh chấp, nhưng chính quyền xã lại bán số cây trồng này, khiến bà Ty... chạy quanh khiếu nại...
Bà Nguyễn Thị Ty, trú tại tổ dân phố 11, phường Hương Vân, thị xã Hương Trà cho biết, năm 2009, trong thời gian chăm sóc rừng của người anh ở vùng khe Băng, bà nhận thấy một vài khu đất bên cạnh bỏ hoang, lau lách mọc um tùm và bị trâu bò phá.
Từ đó, bà đã khai hoang rồi mua cây về trồng, chăm sóc, đến nay được gần 5 năm với diện tích khoảng 1ha. Trong thời gian này, bà không bị một cơ quan, đơn vị hay cá nhân nào đến ngăn cản. Tháng 3-2014, nghe thông tin BQLRPHĐNSB bán cây rừng ở vùng này, bà lên ngăn cản và yêu cầu được giải quyết về số cây trồng này, nhưng không được xem xét.
Bà đã gửi đơn đến UBND phường Hương Vân nhờ can thiệp. Ngày 8-7-2014, gia đình bà nhận được giấy mời đến giải quyết vụ việc của UBND phường Hương Vân. Tuy nhiên, do công tác xa nhà, bà không thể về dự cuộc họp này. Ngày 1-8-2014, bà lên thăm rừng trồng thì phát hiện cây đã bị chặt hết. Bà viết đơn chạy quanh từ UBND phường Hương Vân đến BQLRPHĐNSB, nhưng không được các bên liên quan xem xét, giải quyết.
Qua tìm hiểu được biết, tại Thông báo số 789/TB-UBND ngày 24-2-2014, UBND thị xã Hương Trà đã thống nhất thu hồi 7ha diện tích đất rừng tại Tiểu khu 106 (nằm trong 38,1 ha diện tích đất khai hoang trồng mía theo kế hoạch số 317/UBND-KH ngày 31-8-1998 của UBND huyện Hương Trà) để giao cho UBND phường Hương Vân.
Qua đó, UBND thị xã Hương Trà đã giao cho UBND phường Hương Vân phối hợp với BQLRPHĐNSB và các ngành liên quan xử lý dứt điểm tình trạng các hộ dân lấn chiếm trên diện tích rừng nói trên. Về tài sản trên đất, UBND thị xã giao trách nhiệm cho UBND phường Hương Vân, BQLRPHĐNSB phối hợp với các đơn vị liên quan tiến hành thanh lý tài sản theo quy định của pháp luật, hoàn thành trước ngày 10-3-2014. Sau đó giao cho các hộ dân sản xuất trồng rừng năm 2014.
Ông Nguyễn Tấn Thành, Phó Chủ tịch UBND phường Hương Vân cho biết, thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND thị xã Hương Trà, vào ngày 8-7-2014, UBND phường Hương Vân đã có buổi là việc với BQLRPHĐNSB (có mời bà Ty cùng làm việc để giải quyết, nhưng bà Ty vắng mặt không có lý do).
Tại buổi làm việc, BQLRPHĐNSB đã cung cấp các hồ sơ liên quan đến diện tích 7ha đất rừng (trong đó có diện tích đất rừng đang tranh chấp với bà Ty) thuộc BQLRPHĐNSB đã trồng và chăm sóc từ năm 2009 đến năm 2014. Qua đó, Công đoàn BQLRPHĐNSB đã thống nhất giao toàn bộ diện tích và tài sản trên đất cho Công đoàn phường Hương Vân thu hoạch để đảm bảo tiến độ thiết kế đất cho bà con sản xuất. Theo đó, Công đoàn phường đã bán số cây rừng trên cho ông Trần Chuẩn với giá 28 triệu đồng.
Trao đổi với PV, bà Ty khẳng định: Việc phát quang, làm cỏ, trồng rừng tại khu vực này bà đã thuê nhiều người làm. Cụ thể, bà thuê bà Kim Liên, ông Tuấn (Tí), trú tổ 11 thôn Lại Bằng làm cỏ; bà Nguyễn Thị Thúy, Nguyễn Thị Tùng, ông Nguyễn Thanh Duy, trú tại tổ 3 thôn Lai Thành trồng cây.
Tất cả những việc trên được nhiều hộ dân trong tổ 10, tổ 11, thôn Lại Bằng chứng kiến từ đầu đến cuối như các ông: Nhân, Chạy, Lộc, Giàu, Đức... Việc bà lấn đất của BQLRPHĐNSB để trồng rừng là có thật nên việc thu hồi lại thửa đất này bà không có ý kiến gì.
Tuy nhiên, phường Hương Vân lại bán cây rừng là tài sản mà bà đã vun trồng, chăm sóc lâu nay, làm gia đình bà lâm vào hoàn cảnh khốn đốn. Bà Vân cho hay: giấy mời UBND phường Hương Vân mời họp giải quyết vụ việc đưa đến gia đình bà vào 11 giờ trưa ngày 7-8-2014, trong khi đó, 14h cùng ngày phải đến UBND phường Hương Vân dự họp. Vậy bà làm sao đến tham dự kịp khi đang công tác tại Đà Nẵng?
Qua tim hiểu của PV, hiện nay số tiền bán cây rừng đang tranh chấp trên, Công đoàn phường Hương Vân đang tạm giữ. Ông Nguyễn Xuân, Chủ tịch UBND phường Hương Vân khẳng định: Số tiền 28 triệu đồng từ việc bán cây sẽ giao lại cho BQLRPHĐNSB vì đây là tài sản của đơn vị này.
Liên quan đến vấn đề này, ông Nguyễn Phước Bửu Nguyên, Chủ tịch Công đoàn BQLRPHĐNSB khẳng định: Diện tích đất rừng cũng như số cây trồng mà bà Ty tranh chấp đều thuộc BQLRPHĐNSB.
Theo đó, tại Quyết định số 638/QĐ-NN-PTNT ngày 15-8-2008 về việc phê duyệt hồ sơ thiết kế khai thác rừng trồng - vốn tự có đã giao cho BQLRPHĐNSB với diện tích 8ha, gồm 5 lô tại khoảnh 2, Tiểu khu 106 quản lý, sử dụng.
Để khẳng định điều này, ông Nguyên đã cho PV xem chứng từ thanh toán cho những người làm cỏ, trồng rừng ở 8ha rừng (không phải 7ha như UBND thị xã Hương Trà đã chỉ đạo) sẽ bàn giao cho UBND phường Hương Vân.
Việc tranh chấp tài sản là cây rừng giữa hộ bà Ty và BQLRPHĐNSB cần được các cấp chính quyền xem xét, giải quyết. Nếu hai bên không thỏa thuận được, chính quyền hướng dẫn các bên liên quan khởi kiện ra TAND thị xã Hương Trà để được thụ lý, phân xử theo thẩm quyền. (Báo Thừa Thiên Huế 5/11) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Tại Argentina, những khu rừng đang đứng trước nguy cơ biến mất do chính sách mở rộng diện tích đất nông nghiệp của chính phủ.
Bất chấp làn sóng biểu tình phản đối của các nhà hoạt động môi trường từ cắm trại cho đến biểu tình ngồi, các nhà chức trách cho biết vẫn không xem xét lại kế hoạch của mình.
Trong lúc này, những cộng đồng dân cư bản xứ sinh sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên rừng đã hứng chịu những tác động đầu tiên do mất rừng. (VTC14 3/11) đầu trang(
Paul Rosolie, 30 tuổi, một chuyên gia về động vật hoang dã, đã ký hợp đồng để mình bị một con trăn khổng lồ Anaconda nuốt chửng trên show truyền hình thực tế "Ăn tươi nuốt sống".
Đây là một phần của show truyền hình thực tế rùng rợn Eaten Alive (Ăn tươi nuốt sống) mà Discovery chuẩn bị tung ra vào đầu tháng 12 tới. Theo Business Insider, hiện thông tin chi tiết về show mới này vẫn được giữ kín.
Người hâm mộ chỉ đọc được trên trang quảng cáo của Discovery rằng “nhà tự nhiên học kiêm nhà làm phim về động vật hoang dã Paul Rosolie sẽ chui vào bụng của một con trăn trong trang phục da rắn có khả năng điều chỉnh.”
Nhiều người tỏ rõ sự lo ngại về mức độ đảm bảo của bộ đồ giáp da rắn, thắc mắc làm sao Paul có thể sống sót dưới áp lực co thắt dữ dội bên trong cơ thể trăn khổng lồ. Tuy nhiên, Discovery vẫn kiên quyết giữ bí mật cho đến phút chót để tạo bất ngờ cho người xem. "Chúng tôi vọng không có sự cố gì. Tất cả chúng tôi mong muốn là làm cho truyền hình đáng xem hơn", đại diện kênh truyền hình khẳng định.
Anacondas là loài con rắn rất lớn được tìm thấy ở Nam Mỹ, có thể phát triển đến 6,7m. Chúng thường sống trong hoặc gần nước và khi săn mồi chnsg thường bóp nghẹt thở con mồi bằng cách thắt các cơ thể quanh nạn nhân.
Khán giả thế giới nhiều người đã biết đến loài trăn này qua bộ phim Anaconda của đạo diễn Luis Llosa: Trong lúc ngược dòng Amazon để quay phim tài liệu về một bộ lạc da đỏ được cho là mất tích, đoàn làm phim của nữ đạo diễn Terri Flores và giáo sư trẻ Steven Cale đã cứu Paul Sarone.
Anh này chuyên săn rắn và chiếc thuyền của anh ta đã tan tành trong một cơn bão. Biết ý định của đoàn làm phim, Paul tuyên bố ông ta có thể giúp họ tìm ra nơi ẩn náu của bộ lạc người da đỏ. Nhưng Paul có nhiều hành vi bất thường và cả nhóm nghi ngờ ông ta có một mưu đồ nào đó.
Khi giáo sư Steven bị một con ong bắp cày đốt vào cổ họng khiến bất tỉnh, Paul đột ngột trở mặt và khống chế những người còn lại. Do Steven là người có nhiều kinh nghiệm sông nước nhất, đoàn làm phim không còn cách khác là phục tùng gã thợ săn tàn bạo.
Tới lúc này ý đồ của Paul mới lộ rõ: Hắn muốn bắt sống con trăn Nam Mỹ lớn nhất trên sông Amazon hòng kiếm một món tiền lớn. Tên thợ săn đã theo đuổi con vật khổng lồ trong suốt nhiều năm và mấy chiến hữu của hắn từng bỏ mạng vì bị trăn trả thù... (Hà Nội Mới 6/11) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng