|
Ngày 07 tháng 11 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
6/11, Công an Kon Tum cho biết, trước thực trạng các đối tượng “đầu nậu” tổ chức số thanh niên nghiện ma túy vào khai thác gỗ trái phép tại khu vực phía Nam của huyện Sa Thầy, Kon Tum, gây bức xúc dư luận.
Giám đốc Công an tỉnh Kon Tum đã trực tiếp chỉ đạo xây dựng kế hoạch tăng cường lực lượng, phương tiện, thành lập Đội Công tác đặc nhiệm, tăng cường cơ sở tại địa bàn khu vực phía Nam, huyện Sa Thầy để kịp thời giải quyết các vấn đề liên quan đến ANTT tại địa bàn.
Ngay những ngày đầu ra quân, Công an Kon Tum đã phát hiện và bắt giữ 5 đối tượng: Nguyễn Quang Ngọc, Bùi Gia Ngọc, Nguyễn Văn Quyết, Nguyễn Văn Sỹ và Nguyễn Ty Út đều trú ở Tân Hợp, Tân Kỳ, Nghệ An vào khai thác gỗ trái phép.
Tại hiện trường, số gỗ bị khai thác trái phép chưa vận chuyển khoảng 26 m3 các loại ở khoảnh 7, tiểu khu 739, xã Ia Tơi do Lâm trường Sê San, thuộc lâm phần quản lý của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sa Thầy (Kon Tum).
Qua điều tra ban đầu, các đối tượng khai nhận được tên Hải, thường gọi “Hải điếc”, trú ở Ia Grai, tỉnh Gia Lai, thống nhất vào địa bàn trên để khai thác gỗ cho Hải với giá 500.000 đồng/m3. Công an Kon Tum đang tiến hành điều tra xử lý theo pháp luật. (Công An Nhân Dân 7/11, tr5) đầu trang(
Rừng ngập mặn Tuần Lễ thuộc xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh là khu rừng bần cổ thụ vào loại quý hiếm ở nước ta, thế nhưng, vài năm trở lại đây, tình trạng người dân chặt phá rừng làm nhà và làm đầm nuôi tôm đã khiến hàng chục héc-ta rừng bị tàn phá.
Thôn Tuần Lễ, xã Vạn Thọ không chỉ nổi tiếng với đặc sản dừa, mà còn có cánh rừng ngập mặn với nhiều cây bần cả trăm năm tuổi, thân to tới hai người ôm. Thế nhưng, giờ đây số cây bần như thế này còn sót lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Hàng trăm ngôi nhà kiên cố và những con đường ngang băng qua đầm tôm đã và đang làm cho diện tích rừng ngập mặn trên địa bàn bị thu hẹp.
Điều đáng lo ngại là việc lấn chiếm đất rừng diễn ra công khai, nhà này lấn được, nhà khác cũng lấn theo. Không những thế, người dân còn trồng dừa xen lẫn với cây bần, khiến cho những cây bần còn lại đều bị chết dần chết mòn từng ngày.
Bà Ngọc Diễm ở thôn Tuần Lễ cho biết: “Trước đây, rừng ngập mặn phát triển rất tốt, nguồn lợi hải sản và các loại chim, cò về đây sinh sống, trú ngụ đông đúc. Thế nhưng, từ ngày phong trào nuôi tôm phát triển thì khu rừng bị xâm chiếm, nước thải từ các đìa tôm làm cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. Hiện nay, nguồn lợi hải sản ở khu vực này đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt, các loại chim, cò cũng ít về hơn, vì có về cũng chẳng còn nơi trú ngụ”.
Được biết, để bảo vệ rừng ngập mặn Tuần Lễ, năm 2001, UBND tỉnh Khánh Hòa đã có văn bản giao trách nhiệm cho huyện Vạn Ninh và xã Vạn Thọ tiến hành trồng và bảo vệ khu rừng. UBND huyện Vạn Ninh cũng đã lập bản đồ quy hoạch 20ha, phân vùng, kiểm kê số cây còn sống và treo biển để quản lý.
Ngày ấy, UBND huyện chỉ đạo phá bỏ các đường ngang để nước thủy triều vào trong rừng và giao cho các hộ dân trong thôn quản lý rừng, dưới hình thức mỗi hộ 0,5ha với mức hỗ trợ chăm sóc là 40.000 đồng/tháng. Thế nhưng, không hiểu vì sao việc làm trên chỉ được duy trì vài năm rồi không ai còn mặn mà triển khai nữa.
Còn phía UBND xã Vạn Thọ cũng đã thành lập 6 tổ bảo vệ rừng với hơn 30 người (chủ yếu là người dân), mỗi năm cấp 18 triệu đồng kinh phí cho các tổ hoạt động. Thời gian đầu, các thành viên tổ bảo vệ rừng còn hoạt động tích cực nhưng sau đó nhạt dần.
Nguyên nhân được ông Nguyễn Ngọc Thông, cán bộ địa chính xã Vạn Thọ, cho rằng: “ Do mức thù lao quá thấp nên không hấp dẫn được các thành viên đội bảo vệ. Hơn nữa, thành viên đội bảo vệ cũng chẳng được quy định quyền hạn cụ thể trong xử lý khi phát hiện sai phạm. Nên khi biết người dân chặt phá, lấn chiếm đất rừng để làm nhà, trồng dừa, chúng tôi không thể xử lý được. Mỗi ngày họ đổ một vài thúng đất, rồi lén lút dựng lều nên rất khó theo dõi. Đến khi họ xây nhà kiên cố, chính quyền có biết cũng đành chịu”.
Ông Mai Văn Thắng, Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa, cho rằng: Khu rừng ngập mặn Tuần Lễ là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là rừng bần cổ thụ duy nhất còn sót lại ở Việt Nam. Cùng với đó, rừng ngập mặn Tuần Lễ có vai trò rất quan trọng trong việc chống biến đổi khí hậu, ngăn mặn xâm thực, giữ nước ngọt, chắn sóng và gió bão… Đây cũng là cái nôi để cho các loại thủy sinh trú ngụ sinh sản. Chính vì vậy, các cấp, ngành, địa phương cần khẩn cấp có phương án bảo vệ rừng ngập mặn Tuần Lễ.
Còn theo ông Lê Văn Khải, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Vạn Ninh: “Trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn Tuần Lễ là của chính quyền xã Vạn Thọ. Theo tôi, để bảo vệ khu rừng này, các cấp, ngành, địa phương cần nghiên cứu quy hoạch một khu tái định cư để di dời số hộ dân này đến nơi ở mới. Có như vậy, rừng ngập mặn Tuần Lễ mới tránh được tình trạng bị lấn chiếm, hủy hoại”. (Quân Đội Nhân Dân 6/11) đầu trang(
Mục đích của việc chỉnh trang cây trên tuyến đường Nguyễn Trãi nhằm nâng cao chất lượng hệ thống cây bóng mát của tuyến đường, hướng tới sự phát triển của Thủ đô Hà Nội, góp phần thực hiện “Năm trật tự và văn minh đô thị 2014”.
6/11, Sở Xây dựng thông tin về vụ chặt hạ hàng cây cổ thụ xà cừ trên đường Nguyễn Trãi (quận Thanh Xuân). Theo ông Nguyễn Xuân Hưng, Phó Giám đốc Công ty Công viên cây xanh Hà Nội, hiện trên đường Nguyễn Trãi có 597 cây bóng mát được trồng hai bên vỉa hè và trên dải phân cách giữa đường dành cho xe buýt và đường giao thông.
Trên dải phân cách phải (theo hướng đi Hà Đông), loài cây trồng chủ yếu là xà cừ, lát hoa, phượng. Trên dải phân cách trái (hướng đi Hà Đông) cây keo lá chàm là chủ yếu.
Một số loài cây không thuộc loại cây đô thị như bàng, dâu da, dướng, keo lá chàm, trứng cá, vông, xoan và một số cây cong nghiêng, sâu mục gây mất an toàn giao thông, ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị cần được chặt hạ, thay thế để bảo đảm cảnh quan, an toàn giao thông.
Mục đích của việc chỉnh trang cây trên tuyến đường Nguyễn Trãi nhằm nâng cao chất lượng hệ thống cây bóng mát của tuyến đường, hướng tới sự phát triển của Thủ đô Hà Nội, góp phần thực hiện “Năm trật tự và văn minh đô thị 2014”. Cụ thể, khối lượng cây thay thế là 275, trong đó chặt hạ 194 cây không đúng chủng loại đô thị và 58 cây cong nghiêng, sâu mục gây mất an toàn giao thông; dịch chuyển 23 cây do có kích thước nhỏ.
Đồng thời, sẽ trồng thay thế 78 cây lát hoa, tập trung trên vỉa hè hai bên đường. Việc trồng lại cây thay thế trên dải phân cách, Sở Xây dựng sẽ nghiên cứu phương án báo cáo UBND TP thực hiện sau khi Sở GTVT phê duyệt phương án tổ chức giao thông. Thời gian thực hiện sẽ hoàn thành trong tháng 11.
Lý giải việc chặt hạ hàng trăm cây xà cừ tại ngã ba Khuất Duy Tiến - Nguyễn Trãi đổ về Hà Đông đại diện Phòng Quản lý hạ tầng môi trường và công trình ngầm (Sở Xây dựng) cho biết, việc cắt tỉa, chặt hạ cây trên đường Nguyễn Trãi nhằm phục vụ 2 dự án là Đường sắt đô thị Cát Linh- Hà Đông và hầm chui QL 6 đi Hà Đông.
Sở Xây dựng đã cấp tổng số 6 giấy phép chặt hạ 169 cây, di dời 27 cây, trong đó có hàng cây xà cừ tại ngã tư Khuất Duy Tiến - Nguyễn Trãi. Sở Xây dựng đã báo cáo và được sự chấp thuận của UBND TP Hà Nội về các kế hoạch cắt tỉa, chặt hạ này, sau đó giao Công ty Cổ phần Thương mại công nghệ Bình Minh triển khai thực hiện.
“Việc thu hồi củi gỗ do Công ty Bình Minh phối hợp với chủ đầu tư thực hiện, sẽ nhập về kho của Công ty để kiểm đếm và tổ chức đấu giá, thanh lý, trừ vào quyết toán công trình” - đại diện Phòng Quản lý hạ tầng môi trường và công trình ngầm cho biết. (Tiền Phong 7/11, tr4) đầu trang(
Hà Nội vốn được biết đến là đô thị có nhiều cây xanh. Chính vì vậy, với mật độ dân cư đông đúc, cùng với lượng khí thải từ nhà máy, xe cộ... nhưng môi trường ở Thu đô vẫn khá trong lành.
Thế nhưng, gần đây, khi đi qua các tuyến phố trên địa bàn Thủ đô, du khách không khỏi bức xúc trước tình trạng không ít cây xanh trước các nhà hàng, khách sạn, nhà dân bị “bức tử” để có mặt tiền thông thoáng, tiện cho sản xuất kinh doanh.
Hành vi này thường được thực hiện như sau: Các đối tượng tiến hành bóc vỏ cây, tưới các loại hóa chất hoặc đổ dầu... vào gốc cây, thậm chí họ còn khoan lỗ trên thân cây rồi nhét muối hạt vào để cây “xót” mà chết dần chết mòn.
Tình trạng “bức tử” cây xanh mặc dù được tiến hành lén lút, nhưng không phải các cơ quan chức nặng của thành phố không biết. Tiếc rằng không hiểu vì lý do gì mà rất ít trường hợp bị xử lý. (Quân Đội Nhân Dân 6/11, tr6) đầu trang(
Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa có thông báo Trung ương cấp thêm cho tỉnh Lào Cai 20 tỷ đồng phục vụ công tác bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng tại khu vực Vườn Quốc gia Hoàng Liên.
Ngoài số vốn được cấp theo Chương trình Bảo vệ và Phát triển rừng hằng năm, năm 2013, tỉnh Lào Cai được Trung ương cấp thêm 10 tỷ đồng và năm 2014 là 20 tỷ đồng từ nguồn vốn hỗ trợ cấp bách phòng, chống cháy rừng phục vụ công tác bảo vệ rừng và phòng, chống cháy rừng của Vườn Quốc gia Hoàng Liên.
Theo Sở Kế hoạch và Đầu tư, từ nguồn hỗ trợ năm 2014 của Trung ương, UBND tỉnh đã bố trí kinh phí đầu tư cho "Dự án Bảo vệ rừng và phòng, chống cháy rừng cấp bách Vườn Quốc gia Hoàng Liên", trong đó, tập trung cho xây dựng hệ thống trạm bảo vệ rừng, mua sắm một số trang thiết bị cần thiết phục vụ công tác phòng cháy, chữa cháy... (Báo Lào Cai 5/11) đầu trang(
Đồn Biên phòng Bắc Sơn (TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh) vừa phối hợp với các lực lượng chức năng phát hiện và bắt giữ một vụ vận chuyển động vật hoang dã tại khu vực biên giới thuộc địa bàn TP Móng Cái. Tang vật thu được là gần một tạ tê tê. Đây là loài động vật hoang dã quý hiếm bị cấm buôn bán ở Việt Nam.
Theo thông tin ban đầu, vào lúc 15h40 ngày 5/11, Tổ công tác của Đồn Biên phòng Bắc Sơn (TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh) phối hợp với Đội Kiểm soát Hải quan số 1, thuộc Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh đang làm nhiêm vụ trên tỉnh lộ 341, thuộc địa phận phường Hải Yên, TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh thì nhận được tin báo của Đội Kiểm soát chống buôn lậu khu vực miền Bắc, thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu – Tổng cục Hải quan cho biết đơn vị này vừa phát hiện một chiếc ô tô loại 16 chỗ mang biển kiểm soát 34B – 00810 di chuyển trên Quốc lộ 18A, đoạn Km 10, cách tỉnh lộ 341 chừng hơn một cây số có biểu hiện nghi vấn chở hàng cấm.
Ngay lập tức, Tổ công tác đã tổ chức đội hình chặn được chiếc xe này. Kiểm tra trên xe, lực lượng chức năng phát hiện có ba bao tải màu vàng, bên trong chứa khoảng 90kg tê tê.
Làm việc với Tổ công tác, lái xe Bùi Minh Thành (trú tại TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh) khai nhận đã nhận chở thuê số tê tê trên cho một người đàn ông trung niên không quen biết.
Tại thời điểm kiểm tra, ông Thành không xuất trình được các loại giấy tờ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ của lô động vật hoang dã trên. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ tang vật và phương tiện để tiếp tục điều tra, làm rõ. (Giao Thông 7/11) đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, vào ngày 2/11 trong lúc làm nhiệm vụ, Đội Kiểm lâm Cơ động số 1 đã phát hiện, bắt quả tang xe khách 17 chỗ mang BKS 48B-00103 do Đào Xuân Huân điều khiển, chạy trên tuyến tỉnh lộ 4, hướng Quảng Sơn (Đắk Glong) về Gia Nghĩa đang vận chuyển hai con ba ba hoang dã, với tổng trọng lượng 16 kg của đối tượng Phạm Văn Sách, thôn 2, xã Quảng Sơn gửi đi tiêu thụ.
Lực lượng kiểm lâm đã lập biên bản tịch thu tang vật và lập biên bản xử phạt hành chính 15 triệu đồng đối với đối tượng Phạm Văn Sách về hành vi tàng trữ, buôn bán động vật hoang dã trái phép và đối tượng Đào Xuân Huân 15 triệu đồng về hành vi vận chuyển trái phép động vật hoang dã; đồng thời tạm giữ xe khách 17 chỗ để xử lý theo quy định. (Báo Đắc Nông 6/11) đầu trang(
Theo Hạt kiểm lâm huyện Bù Đăng, từ đầu năm đến nay, đơn vị này phối hợp với các chủ rừng, các lực lượng bảo vệ rừng giáp ranh đã tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, qua đó đã phát hiện và ngăn chặn kịp thời tình trạng vi phạm trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng, nhất là trong lĩnh vực quản lý lâm sản và động vật hoang dã.
Tính đến hết tháng 10, trên địa bàn huyện Bù Đăng xảy ra 2 vụ phá rừng trái phép, làm thiệt hại 0,39ha. Qua các đợt kiểm tra truy quét, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện 47 vụ vi phạm trong lĩnh vực khai thác, vận chuyển, mua bán, cất giữ chế biến lâm sản trái pháp luật.
Cơ quan chức năng đã tịch thu phương tiện, tang vật vi phạm gồm: 42 khối gỗ từ nhóm 2 đến nhóm 8 và 480 cột gỗ làm nọc tiêu. Phương tiện vi phạm bị tịch thu gồm 12 xe mô tô vận chuyển gỗ, 2 máy cưa, 1 ô tô và một khẩu súng tự chế. Tổng số tiền phạt hành chính và bán tang vật nộp Kho bạc nhà nước trên 107 triệu đồng.
Hạt kiểm lâm huyện Bù Đăng cũng đã phối hợp với các địa phương thường xuyên kiểm tra các cơ sở nuôi nhốt động vật hoang dã. Theo thống kê, toàn huyện hiện có 46 cơ sở nuôi nhốt gần 2.500 cá thể động vật hoang dã thông thường; 2 hộ trao đổi, mua bán trái phép đã bị cơ quan chức năng tịch thu, đồng thời thả 14 cá thể động vật hoang dã về với tự nhiên. (Đài PTTH Bình Phước 6/11) đầu trang(
Đó là một trong những ý kiến chỉ đạo của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Huỳnh Khánh Toàn trong buổi làm việc với Ban Chỉ đạo Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng để đánh giá kết quả thực hiện công tác bảo vệ và phát triển rừng 10 tháng và đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian đến, vào sáng 5/11.
Theo báo cáo tại cuộc họp, trong 10 tháng năm 2014, Ban Chỉ đạo Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công tác bảo vệ rừng, phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) và chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Xây dựng các bảng tuyên truyền bảo vệ rừng tại các lưu vực thủy điện; in ấn tờ rơi, pano, áp phích để cấp cho xã, thôn và các hộ dân trong lưu vực chi trả dịch vụ môi trường rừng. Tiếp tục triển khai chương trình cảnh báo sớm cháy rừng để thông báo cho các địa phương, đơn vị, chủ rừng, nhân dân chủ động phòng ngừa và chuyển thông tin qua tin nhắn SMS đến thành viên BCĐ để chủ động triển khai các biện pháp PCCCR trên địa bàn quản lý.
Từ đầu năm đến nay, lực lượng Kiểm lâm đã phát hiện 968 vụ, khởi tố 27 vụ án hình sự, thu nộp ngân sách Nhà nước hơn 9,7 tỷ đồng. Đồng thời đã tổ chức hơn 298 lượt tuần tra, truy quét về khai thác khoáng sản trái phép có xâm hại đến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp.
Song song với đó, đã chuẩn bị 13 triệu cây con giống và chuẩn bị hiện trường trồng rừng, gồm: 367 ha rừng phòng hộ; gần 1,3 nghìn ha rừng sản xuất. Tiến hành khoán bảo vệ rừng hơn 260 nghìn ha…
Tuy nhiên, công tác bảo vệ, phát triển rừng vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Đơn cử như, nhu cầu trồng cây nguyên liệu tăng nhanh tại nhiều địa phương nên tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng còn diễn ra khá phức tạp; đơn giá chi trả dịch vụ môi trường rừng có sự chênh lệch khá lớn giữa các lưu vực làm ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ rừng; tình hình khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản, khoáng sản trái phép vẫn còn xảy ra trên một số địa bàn trọng điểm.
Tại cuộc họp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Huỳnh Khánh Toàn nói: Tình trạng chặt phá rừng, khai thác khoáng sản, lâm sản trái phép vẫn xảy ra, chủ yếu do khâu quản lý của chính quyền địa phương còn sơ hở, chủ rừng lơ là, buông lỏng việc quản lý diện tích rừng được giao khoán, lực lượng kiểm lâm mỏng, yếu.
Để khắc phục những tồn tại trên, ông Huỳnh Khánh Toàn yêu cầu rà soát lại 82 nghìn hec ta hiện nay đang giao cho xã quản lý để phân loại rừng tự nhiên, phòng hộ, sản xuất; ưu tiên cho đồng bào dan tộc thiểu số nhận giao khoán bảo vệ rừng; rà soát lại số hộ sống bằng nghề khai thác khoáng sản, lâm sản để tạo hướng chuyển đổi nghề nghiệp.
Đồng thời, cần xử nghiêm những hành vi vi phạm Luật bảo về và phát triển rừng, thắt chặt việc quản lý khai thác khoáng sản; tổng kiểm tra các cơ sở chế biến lâm sản; tham mưu cho UBND tỉnh việc cấp phép hoạt động đối với các ghe thuyền hoạt đồng trên các sông, hồ thủy điện; đặc biệt cần nâng cao trách nhiệm của chính quyền UBND xã, huyện trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. (Quangnam.gov.vn 5/11) đầu trang(
Là tỉnh có diện tích rừng và đất lâm nghiệp không lớn (chỉ chiếm 26,8% tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh) nhưng rừng của Vĩnh Phúc có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển KT- XH.
Trong đó, rừng thuộc khu vực dãy núi Tam Đảo giữ vai trò quan trọng trong phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ môi trường sinh thái, điều tiết nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp không chỉ cho tỉnh, mà còn toàn vùng kinh tế trọng điểm khu vực phía Bắc.
Trong những năm qua, cùng với tham gia trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng thì công tác chủ động phòng cháy, chữa cháy rừng luôn được cấp ủy, chính quyền các xã có rừng đặc biệt quan tâm.
Xác định công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) là nhiệm vụ quan trọng, ngay từ đầu mùa khô 2013-2014 (từ tháng 9/2013- 9/2014), Ban Chỉ huy TKCN&PCCCR- BVR đã tổ chức quán triệt và triển khai nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo Trung ương về các vấn đề cấp bách trong BVR và PCCCR; tham mưu cho tỉnh ban hành các văn bản chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện công tác PCCCR. Các huyện, thị xã đã rà soát, kiện toàn 6 Ban Chỉ huy TKCN&PCCCR-BVP, xây dựng 6 phương án PCCCR, BVR cấp huyện; Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Ban Chỉ huy Quân sự huyện, thị xã có rừng hiệp đồng với các đơn vị Công an, Kiểm lâm đóng trên địa bàn trong công tác PCCCR, BVR; Kiểm lâm, Công an tỉnh, Cảnh sát PC&CC các huyện, thị xã có rừng đã xây dựng phương án, tổ chức kiểm tra về PCCCR. Đồng thời, kiện toàn 26 Ban Chỉ huy cấp xã; 35 Ban Chỉ huy các chủ rừng; xây dựng 26 phương án PCCCR, BVR; củng cố 120 tổ xung kích chữa cháy rừng với trên 1.500 người tham gia.
Công tác thông tin tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm trong công tác PCCCR cho người dân luôn được lực lượng kiểm lâm thực hiện thường xuyên, liên tục bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng, qua đó, huy động được toàn dân tham gia bảo vệ rừng, PCCCR.
Mùa khô 2013-2014, Chi cục Kiểm lâm biên soạn và in ấn phát hành 4.000 tờ tuyên truyền về PCCCR, BVR, cấp phát 27 băng Zôn, kẻ vẽ lại 31 bảng tin tuyên truyền, 11 bảng cấp dự báo cháy rừng, 9 bảng nội quy bảo vệ rừng và 60 khẩu hiệu, pano áp phích trên vách đá; phối hợp với Hạt Kiểm lâm tổ chức 10 lớp huấn luyện về công tác PCCCR, BVR cho gần 1.000 lượt người là lực lượng quân đội, dân quân tự vệ và các chủ rừng; đồng thời, hợp đồng với Trung tâm Khí tượng Thủy văn cung cấp số liệu khí tượng 27 lần/năm; duy trì cảnh báo cháy rừng 10 ngày/đợt trên Đài PT-TH tỉnh.
Bên cạnh đó, Ban Chỉ huy TCKN&PCCCR-BVR cấp huyện, cấp xã thực hiện nghiêm túc chế độ tuần tra canh gác lửa rừng tại các khu vực rừng có nguy cơ cháy cao, nhất là các ngày có dự báo (từ cấp IV, cấp V) đảm bảo thường trực 24/24 giờ trong ngày và bố trí 35 người trực tại các lán, chòi canh ở rừng; triển khai các biện pháp nghiệp vụ như: Bố trí lực lượng tại các lối vào rừng; đôn đốc, hướng dẫn các chủ rừng (nhất là các tổ chức kinh tế, hộ gia đình) các biện pháp lâm sinh làm giảm nguồn vật liệu cháy. Đồng thời, Chi cục Kiểm lâm phối hợp với Cảnh sát Phòng cháy Chữa cháy tiến hành hơn 10 lượt kiểm tra đột xuất tại các chủ rừng có nguy cơ cháy cao.
Nhờ vậy, mùa khô năm 2013-2014, toàn tỉnh xảy ra 11 vụ cháy, nhưng do chủ động trong công tác PCCCR nên hầu hết các vụ cháy đều được lực lượng chức năng, chính quyền và nhân dân địa phương phát hiện, tổ chức chữa cháy kịp thời, do đó đã hạn chế được thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Ông Nguyễn Văn Trí, Trưởng Phòng Quản lý BVR (Chi cục Kiểm lâm) cho biết: Dự báo thời tiết mùa khô 2014-2015 có nhiều diễn biến phức tạp, khô hanh kéo dài, độ ẩm không khí thấp, không có mưa...rất dễ xảy ra cháy rừng. Hiện trên địa bàn tỉnh có khoảng 9.879,3 ha rừng có nguy cơ cháy rừng cao, trong đó có 5.947,1 ha nếu xẩy ra cháy, rất khó cứu chữa, tập trung ở các huyện, thị: Tam Đảo 2.316,9 ha, Phúc Yên: 2.392,6 ha, Bình Xuyên: 635,6 ha, Lập Thạch: 271,5 ha, Sông Lô: 329,5 ha
Để chủ động triển khai các biện pháp phòng cháy, chữa cháy, giảm thiểu thiệt hại do cháy rừng gây ra, cùng với việc đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về PCCCR, nhất là những tháng cao điểm thời tiết nắng nóng khô hạn, lực lượng kiểm lâm phối hợp với chính quyền các xã có rừng triển khai đồng bộ giải pháp PCCCR.
Trong đó, tổ chức ký cam kết BVR, PCCCR tại các hộ gia đình sống gần rừng, ven rừng, các em học sinh; xây dựng các tổ nhóm “liên gia” chủ rừng hỗ trợ nhau trong BVR, PCCCR; kiện toàn Ban Chỉ huy TKCN&PCCCR-BVR các cấp; củng cố các tổ xung kích chữa cháy rừng; phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên.
Theo dõi cấp dự báo cháy rừng thời lượng 10 ngày/lần; thường xuyên kiểm tra các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao. Xác định, phân loại các vùng rừng có nguy cơ dễ xảy ra và thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng cho từng đối tượng rừng; xây dựng sơ đồ PCCCR-BVR chi tiết các khu vực trọng điểm cháy rừng cao.
Xây dựng mới, tu sửa các công trình PCCCR như: Chòi canh lửa, đường băng cản lửa, hệ thống các bảng, biểu; xử lý dứt điểm, kịp thời các vụ cháy, các điểm nóng chặt phá rừng; thành lập đoàn kiểm tra liên ngành giám sát chặt chẽ việc tổ chức thực hiện phương án BVR- PCCCR; tổ chức diễn tập chữa cháy rừng ở một số huyện, thị xã có nguy cơ cháy rừng cao; quản lý chặt chẽ các nguồn lửa, nguồn nhiệt, thiết bị và dụng cụ sinh lửa, sinh nhiệt ở trong rừng và ven rừng.
Với sự quan tâm thường xuyên của các cấp, ngành và sự vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao của các đơn vị, chủ rừng trong công tác PCCCR (với phương châm 4 tại chỗ, 1 ứng cứu) Vĩnh Phúc chủ động ứng phó nguy cơ xảy ra cháy rừng mùa khô năm nay, nhằm hạn chế thấp nhất tình trạng cháy rừng xảy ra. (Báo Vĩnh Phúc 5/11) đầu trang(
Nằm trong khu vực vịnh Bái Tử Long và sát cạnh Di sản Thiên nhiên Thế giới vịnh Hạ Long, Vườn quốc gia Bái Tử Long được ví như một “kho báu” sinh quyển giữa trùng khơi ở vùng biển Ðông Bắc của Việt Nam.
Vườn quốc gia Bái Tử Long có tổng diện tích 15.783ha, trong đó diện tích biển chiếm 9.658ha, diện tích các đảo nổi chiếm 6.125ha; bao gồm 1.909 loài động, thực vật, trong đó có 72 loài động vật và 30 loài thực vật được ghi trong Sách đỏ Việt Nam.
Phía Ðông hòn đảo, sóng biển ầm ầm tung bọt trắng xóa, bụi nước cao hàng chục mét, trong khi đó ở phía Tây khung cảnh lại thanh bình, mặt nước phẳng lặng, êm đềm. Bởi vậy, hòn đảo được ví như một bức tường thành che chắn cho vùng cư dân của huyện đảo Vân Ðồn sinh sống ở phía trong trước những trận cuồng phong của biển cả.
Rừng trên đảo Ba Mùn có nhiều loài động vật quý hiếm như trăn gấm, báo lửa, khỉ vàng, tê tê, tắc kè. Và là nơi có mật độ thú móng guốc nhiều nhất và được coi là khu bảo tồn động vật hoang dã tự nhiên lớn nhất ở vùng Ðông Bắc Việt Nam.
Hệ thực vật ở Ba Mùn vô cùng phong phú, đa dạng với 780 loài thực vật bậc cao, trong đó có những loài gỗ quý như lim xanh, táu mật, kim giao núi đất.
Năm 2010, Ba Mùn trở thành nơi đặt Trung tâm cứu hộ động vật trên biển lớn nhất khu vực Ðông Bắc Việt Nam. Trung tâm này hiện đang chăm sóc, nuôi dưỡng nhiều loài động vật hoang dã như gấu, khỉ mặt đỏ, khỉ đuôi dài, nhím, rùa ba vạch... do kiểm lâm Vườn quốc gia Bái Tử Long tịch thu, cứu hộ được từ các vụ buôn bán lậu động vật hoang dã trên biển.
Việc thành lập Trung tâm này cho thấy công tác bảo tồn và phát triển ở Vườn quốc gia Bái Tử Long đang được chú trọng và triển khai một cách có hệ thống.
Rời đảo Ba Mùn, đến đảo Trà Ngọ Lớn, đảo đá lớn nhất của Vườn quốc gia Bái Tử Long. Hòn đảo có cấu tạo địa chất khá đặc biệt, phía Bắc đảo là núi đất, còn phía Nam lại là núi đá vôi với nhiều hang động và thung áng, tạo nên những cảnh quan rất đặc sắc, hấp dẫn. Ngay giữa trung tâm của đảo là thung áng Cái Lim, nơi được đánh giá mang giá trị đặc trưng tiêu biểu nhất cho hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Nguồn dinh dưỡng ở đây chủ yếu là do bùn đất từ trên núi trôi xuống tích tụ mà thành. Vì thế, phải mất hàng trăm năm, thậm chí nghìn năm, đảo Trà Ngọ Lớn mới có được thảm thực vật rừng ngập mặn phong phú như hiện nay.
Ði sâu vào trong thung áng Cái Lim, nơi mà các nhà khoa học đánh giá là có nhiều hình thái thảm thực vật “độc nhất vô nhị” so với các khu rừng ngập mặn khác ở Việt Nam, phải vượt qua khu rừng trúc xanh mướt, dày đặc mới tới được khu rừng cây tra biển. Những cây tra biển mọc chen nhau, nối tiếp nhiều thế hệ, cây con nhỏ xíu mọc chen chân với những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi.
Ngoài cây tra, ở đây còn có những cây giá biển hàng trăm năm tuổi, đường kính đến bốn người ôm không xuể. Càng đi sâu vào trong thung áng, chúng ta càng phát hiện ra vô số điều kỳ lạ.
Rời thung áng Cái Lim, tiếp tục lướt sóng qua các “ma trận” lạch biển được tạo ra từ hàng nghìn đảo lớn nhỏ trong khu vực của Vườn.
Quần thể san hô trong Vườn quốc gia Bái Tử Long là một hệ sinh thái biển quan trọng và cũng không kém phần đặc sắc về quy mô, kích thước. Hai địa điểm trong Vườn có thể tổ chức xem san hô đẹp nhất là Mang Khơi và Ðầu Cào.
Để bảo tồn và phát triển bền vững các giá trị sinh thái, cảnh quan đặc biệt của Vườn quốc gia Bái Tử Long, Ban Quản lý Vườn quốc gia Bái Tử Long đã tổ chức tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức bảo vệ rừng của người dân, cũng như tích cực nghiên cứu, tìm kiếm phương hướng phát triển các loại hình du lịch phù hợp để “kho báu” đầy tiềm năng này không bị lãng quên giữa trùng khơi. (Du Lịch VN 7/11) đầu trang(
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang, trong 3 năm (2014 - 2016), từ nguồn ngân sách trung ương và địa phương, tỉnh Kiên Giang sẽ đầu tư gần 29 tỷ đồng nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô cho lực lượng kiểm lâm.
Theo đó, tỉnh Kiên Giang xây dựng mới 5 trạm kiểm soát, phòng cháy, chữa cháy rừng; 2 chòi canh lửa, mua rang thiết bị chuyên dụng như máy bơm phao, máy bơm cao áp, máy định vị GPS, phần mềm GIS về cơ sở dữ liệu quản lý, bảo vệ rừng… Việc đầu tư sẽ trên giúp lực lượng kiểm lâm nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng, tăng khả năng kiểm soát, xử lý kịp thời khi có cháy trên lâm phần.
Lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng chuyên ngành cũng dần được hình thành trên cơ sở kiện toàn và củng cố lực lượng kiểm lâm hiện có. Ngoài ra, tỉnh Kiên Giang cũng kiện toàn Ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng các cấp, củng cố tổ, đội ở cơ sở.
Ông Hoàng Văn Tuấn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kiên Giang cho biết: Cùng với việc tập trung thực hiện dự án nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng, cơ quan này đang triển khai phương án phòng chống cháy rừng mùa khô năm 2014 - 2015, nhằm giảm thiểu vụ cháy và thiệt hại rừng do cháy gây ra.
Những lâm phần rừng tràm U Minh Thượng, vùng Tứ giác Long Xuyên được rà soát, kiểm tra lại hệ thống đê bao. Đồng thời, những đoạn tuyến xuống cấp được gia cố, thực hiện nạo vét kênh mương, đắp lại các bờ đập, đóng cửa cống trước khi mùa mưa kết thúc để giữ nước phòng chống cháy rừng.
Đối với rừng gỗ lớn ở Phú Quốc, Kiên Lương, Hà Tiên, Hòn Đất, các ao chứa nước được nạo vét lại, làm đường băng cản lửa, lập chốt, trạm phòng cháy, chữa cháy rừng. Cơ quan chức năng phối hợp với chủ rừng, địa phương tuyên truyền nâng cao trách nhiệm bảo vệ, phòng chống cháy rừng.
Lực lượng canh phòng được bố trí ở những khu vực trọng điểm; kiểm soát chặt chẽ việc đốt đồng cỏ, rơm rạ ven rừng và đốt, dọn vườn làm rẫy. Lực lượng phòng chống cháy rừng cơ sở được xây dựng, kiểm tra, sửa chữa phương tiện, dụng cụ, thiết bị chữa cháy rừng hư hỏng, đảm bảo hoạt động tốt khi có tình huống xấu xảy ra. (Đảng Cộng Sản VN 6/11; Lao Động 7/11, tr3) đầu trang(
Tình hình vi phạm các quy định pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng tại khu vực Nam Sa Thầy tiếp tục diễn biến phức tạp. Theo báo cáo của cơ quan chức năng, tính riêng từ đầu năm 2013 đến hết tháng 7 năm 2014, trên địa bàn huyện Sa Thầy, lực lượng chức năng đã phát hiện 284 vụ vi phạm.
Trong đó: 16 vụ vi phạm quy định chung của Nhà nước về bảo vệ rừng, 85 vụ phá rừng trái phép gây thiệt hại gần 48 ha, 14 vụ khai thác rừng trái phép với khối lượng gần 288 m3, 169 vụ vận chuyển, mua bán, kinh doanh trái phép với khối lượng trên 1000 m3.
Đáng lưu ý, hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng ngày càng tinh vi, manh động, liều lĩnh. Các đối tượng “đầu nậu” không ra mặt, đứng phía sau xúi giục và trang bị phương tiện cho người dân vào rừng khai thác trái phép, vận chuyển bằng xe máy ra bán lại cho các đầu nậu đưa đi tiêu thụ.
Đồng thời, có hiện tượng một số đối tượng hoạt động bảo kê theo kiểu “xã hội đen”, cho số thanh niên nghiện hút, chích… vào khai thác rừng trái phép tại khu vực phía Nam của huyện Sa Thầy. Tình hình vi phạm các quy định pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng tại khu vực Nam Sa Thầy tiếp tục diễn biến phức tạp.
Theo báo cáo của cơ quan chức năng, tính riêng từ đầu năm 2013 đến hết tháng 7 năm 2014, trên địa bàn huyện Sa Thầy, lực lượng chức năng đã phát hiện 284 vụ vi phạm, trong đó: 16 vụ vi phạm quy định chung của Nhà nước về bảo vệ rừng, 85 vụ phá rừng trái phép gây thiệt hại gần 48 ha, 14 vụ khai thác rừng trái phép với khối lượng gần 288 m3, 169 vụ vận chuyển, mua bán, kinh doanh trái phép với khối lượng trên 1000 m3.
Đáng lưu ý, hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng ngày càng tinh vi, manh động, liều lĩnh. Các đối tượng “đầu nậu” không ra mặt, đứng phía sau xúi giục và trang bị phương tiện cho người dân vào rừng khai thác trái phép, vận chuyển bằng xe máy ra bán lại cho các đầu nậu đưa đi tiêu thụ.
Đồng thời, có hiện tượng một số đối tượng hoạt động bảo kê theo kiểu “xã hội đen”, cho số thanh niên nghiện hút, chích… vào khai thác rừng trái phép tại khu vực phía Nam của huyện Sa Thầy. Trước tình hình trên, Ban Giám đốc Công an tỉnh đã trực tiếp chỉ đạo xây dựng kế hoạch tăng cường lực lượng, phương tiện, thành lập Đội công tác đặc nhiệm tăng cường cơ sở, đóng quân tại địa bàn khu vực phía Nam, huyện Sa Thầy.
Khẩn trương triển khai các biện pháp công tác nắm tình hình có liên quan đến ANTT tại địa bàn; tiến hành rà soát, lập danh sách các đối tượng, băng ổ nhóm chuyên bảo kê cho các hoạt động vi phạm pháp luật. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát các phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy hoạt động trên tuyến Quốc lộ 14C và lòng hồ thủy điện Sê San 4.
Kết quả bước đầu đã phát hiện và bắt giữ vụ vi phạm khai thác gỗ trái phép tại Khoảnh 7, Tiểu khu 739, xã Ia Tơi (Lâm trường Sê San, thuộc lâm phần quản lý của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sa Thầy) vào ngày 31/10/2014. Tại đây, Đội công tác đã tạm giữ 05 đối tượng khai thác gỗ trái phép, gồm: Nguyễn Quang Ngọc, Bùi Gia Ngọc, Nguyễn Văn Quyết, Nguyễn Văn Sỹ và Nguyễn Ty Út (trú tại xã Tân Hợp, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An). Tại hiện trường, số gỗ bị khai thác trái phép là 26,029 m3 gỗ các loại.
Qua điều tra ban đầu, các đối tượng khai nhận: Vào khoảng giữa tháng 10/2014, các đối tượng trên đã bàn tính với một đối tượng tên là Hải (thường gọi “Hải điếc”, trú tại IaGrai, tỉnh Gia Lai) và thống nhất vào địa bàn trên để khai thác gỗ cho Hải với giá 500.000đ/m3.
Sau khi thống nhất, 05 đối tượng trên đã vào Khoảnh 7, Tiểu khu 739, xã Ia Tơi làm lán trại và tiến hành khai thác gỗ trái phép. Trong quá trình khai thác thì bị Đội công tác của Công an tỉnh tăng cường cơ sở phát hiện và bắt giữ. Hiện vụ việc đang được các đơn đị chức năng tiếp tục điều tra, làm rõ. (Congankontum.gov.vn 6/11) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Quân Đội Nhân Dân cho biết: Hiện nay, tình trạng phá rừng ở khu vực các huyện Đức Trọng, Di Linh đang tái diễn. (Quân Đội Nhân Dân 6/11, tr8) đầu trang(
Là một tỉnh miền núi phía Bắc với 633.687ha rừng, trong đó có gần 610.000ha rừng tự nhiên, nên Sơn La có nhiều vùng sinh thái khác nhau, có tính đa dạng sinh học cao.
Tại khu rừng bảo tồn Mường La thuộc 3 xã: Ngọc Chiến, Nặm Păm và Hua Trai hiện còn 20 đến 30 cá thể vượn đen tuyền, loài vượn đang nằm trong Sách Đỏ cần bảo vệ nghiêm ngặt.
Ngoài ra còn có các quần thể: Voọc xám, gà lôi hồng tía và beo lửa... và nhiều lâm sản qúy hiếm khác. Chính vì vậy, việc bảo tồn và phát huy giá trị kinh tế-văn hóa các khu bảo tồn đa dạng sinh học luôn được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh đặc biệt quan tâm.
Cụ thể là, Hội đồng nhân dân tỉnh đã thông qua Nghị quyết về Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học giai đoạn từ 2014 đến 2020 và những năm tiếp theo. Theo đó, tập trung duy trì và bảo vệ 4 khu bảo tồn hiện có, gồm: Copia thuộc địa bàn huyện Thuận Châu; rừng Cộp thuộc hai huyện biên giới Sốp Cộp và Sông Mã; rừng Tà Xùa thuộc huyện Bắc Yên; rừng Xuân Nha thuộc huyện Vân Hồ.
Ngoài ra, còn xây dựng thêm khu bảo tồn mới ở huyện Mường La; khu bảo vệ cảnh quan văn hóa, lịch sử, môi trường và khu “rừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp” tại bản Nhọt, xã Gia Phù, huyện Phù Yên.
Tuy nhiên, hiện nay, rừng ở Sơn La đang đứng trước nguy cơ bị xâm hại bởi tình trạng khai thác lâm sản, phá rừng bừa bãi... Đề nghị các cấp chính quyền ở Sơn La cần có những biện pháp quyết liệt hơn trong việc bảo vệ đa dạng sinh học trên địa bàn.
Trong đó cần tập trung tuyên truyền, vận động toàn dân cùng chung tay, góp sức trồng và bảo vệ rừng. Đây là giải pháp tối ưu để việc quy hoạch, bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn phát huy được hiệu quả, góp phần phòng hộ bền vững và trữ nước phục vụ 2 hồ thủy điện Sơn La và Hòa Bình. (Quân Đội Nhân Dân 6/11, tr6) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
1 tỷ 080 triệu đồng là số tiền được UBND huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị thực hiện hỗ trợ cho người dân tham gia trồng rừng trong năm 2014 nhằm thúc đẩy phong trào trồng rừng trên địa bàn phát triển và đạt hiệu quả cao nhất.
Với mức hỗ trợ 4 triệu đồng/ha bao gồm cây giống, phân bón và công chăm sóc, năm 2014 này, toàn huyện tiến hành trồng mới 270 ha rừng tập trung và 150.000 cây phân tán.
Ngoài kinh phí hỗ trợ được cấp từ ngân sách, người dân trồng rừng huyện Đakrông còn được hưởng các khoản hỗ trợ từ nguồn kinh phí thu được từ phí dịch vụ môi trường rừng đã thực sự khuyến khích người dân hăng hái tham gia trồng và bảo vệ rừng.
Đầu tháng 11/2014, toàn huyện đã ra quân trồng rừng. Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền nên ngay từ khi bắt đầu ra quân, tiến độ trồng rừng đạt tương đối cao, vật tư và cây giống phục vụ trồng rừng được đáp ứng kịp thời.
Việc người dân hăng hái tham gia phát triển rừng không chỉ mang lại nguồn thu nhập giúp cải thiện đời sống mà còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, nhất là bảo vệ môi trường vùng đầu nguồn để điều hòa khí hậu, chống lũ cho vùng hạ du. (Báo Quảng Trị 6/11) đầu trang(
Là đơn vị mới thành lập nhưng thời gian qua, Quỹ bảo vệ, phát triển rừng đã có nhiều nỗ lực trong thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Nhờ vậy, đời sống người lao động nghề rừng được cải thiện, rừng trong vùng được được bảo vệ tốt hơn.
Trong thời gian tới, Quỹ bảo vệ phát triển rừng tỉnh sẽ tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng (MTR) của các đơn vị chủ rừng có cung ứng dịch vụ MTR; phối hợp với quỹ bảo vệ rừng VN thương thảo ký hợp đồng ủy thác chi trả tiền dịch vụ MTR đối với các đơn vị sản xuất và cung ứng nước sạch sử dụng ở Bình Dương, Tây Ninh, Long An và TP. HCM.
Bên cạnh đó, Quỹ cũng phối hợp với các đơn vị liên quan tham mưu Sở NN & PTNT thực hiện công tác rà soát diện tích, hiện trạng các khu rừng cung ứng dịch vụ MTR của từng chủ rừng, làm cơ sở để tổ chức nghiệm thu, thanh quyết toán tiền chi trả dịch vụ MTR đảm bảo đúng quy định.
Đồng thời, đơn vị sẽ thực hiện tốt hơn công tác tuyên truyền, phổ biến về chính sách chi trả dịch vụ MTR đối với các đơn vị sử dụng và các đơn vị cung cấp dịch vụ MTR cũng như các tổ chức, cá nhân có liên quan để việc quản lý, bảo vệ rừng đạt kết quả tốt nhất.
9 tháng năm nay, tổng số vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh là 318 vụ, giảm 208 vụ so với cùng kì năm 2013. Trong đó, phá rừng trái pháp luật 5 vụ, làm thiệt hại 1862ha, so với năm 2013 giảm 42 vụ, diện tích thiệt hại giảm gần 16 ngàn ha. (Đài PTTH Bình Phước 6/11) đầu trang(
Những năm gần đây, ở Tây Nguyên, nhiều người dân đã và đang hình thành thú chơi đồ gỗ mỹ nghệ làm từ gốc cây rừng quý như bàn, ghế, tượng, tranh..., tạo thành cơn sốt giá cho các loại gốc cây cổ thụ, kiểu dáng lạ, độc đáo…
Hiện nay, giá bán một gốc gỗ hương có đường kính 1m trên 20 triệu đồng, nếu là gốc cây cẩm lai hay cà te thì giá còn cao hơn nhiều lần. Đó là chưa kể đến những gốc cây có kiểu dáng đẹp, cổ, độc đáo càng có giá cao.
Đối tượng mua loại gốc cây này thường là những bậc “đại gia”, người giàu… từ các tỉnh, thành phố trong cả nước như TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương… Cũng chính vì giá cao, lợi nhuận lớn, nên có khá nhiều người tham gia khai thác, kinh doanh, khiến thị trường buôn bán gốc cây rừng trở nên náo nhiệt và sôi động hơn bao giờ hết.
Anh T- chủ cơ sở buôn bán gốc cây mỹ nghệ đường Phan Bội Châu, TP.Buôn Ma Thuột chia sẻ: Ở Tây Nguyên nói chung, Đăk Lăk nói riêng, những gốc cây quý có giá cao lắm, có bộ gốc, rễ giá hàng chục triệu đồng, thậm chí có nhiều gốc cây quý như thủy tùng, trắc, cẩm, giá lên tới hàng trăm triệu đồng… Những gốc cây đó, cơ sở mua lại của những người chuyên vào các khu rừng sâu ở Ea Súp, Ea H’leo, Krông Năng… đào về bán.
Những gốc cây rừng này sau khi mua về, ngoài việc chế tác những bộ bàn ghế, tủ gỗ, những cặp lục bình…, còn tùy sở thích của người chơi, các cơ sở sẽ chế tác thành các sản phẩm như: Cóc ngậm tiền xu, tượng Di lặc, tượng Phúc- Lộc- Thọ, tượng sư tử, tượng rồng, tượng ngũ long chân châu…
Quan sát tại cơ sở chuyên đục tượng gỗ ở đường Phạm Văn Đồng, TP.Buôn Ma Thuột, thấy có khoảng vài chục gốc cây đủ loại như thủy tùng, cẩm, hương, cà te,... được khách hàng chở đến, có người yêu cầu chế tác thành tượng Phật Di Lặc, tượng nàng tiên cá, tượng Quan Công, tượng Quan Âm...
Tùy theo độ khó của hoa văn, sự quý hiếm của chất liệu gỗ, công lao động và mức độ “chịu chơi” của khách hàng mà các cơ sở đục tượng gỗ đưa ra giá của tác phẩm. Chẳng hạn, một bức tượng Di Lặc cao 1m, rộng 60 cm bằng gỗ cẩm do khách đem đến, một người đục mất khoảng 50- 60 ngày, tiền công khoảng 20 triệu đồng. Bộ ba tượng Phúc- Lộc- Thọ bằng gỗ hương (cao 80cm, rộng 40cm), tiền công khoảng 16 triệu đồng...
Để thỏa mãn thú chơi, nhiều người sẵn sàng chi vài trăm triệu đồng để sở hữu những món đồ gỗ được cho là “độc nhất vô nhị”. Một người ở TP.Buôn Ma Thuột tìm mua một bộ bàn ghế bằng gốc gỗ hương cho biết: Thú chơi đồ gỗ nghệ thuật đã “ngấm vào máu”, khi đặt trong nhà, những người chơi cảm thấy chúng có vẻ đẹp bí ẩn và tạo được cảm giác thiền, tĩnh lặng, sâu lắng.
Đến với Tây Nguyên, ở bất cứ địa phương nào, du khách cũng dễ dàng bắt gặp những điểm bán các đồ mỹ nghệ làm từ gốc, rễ cây rừng. Dù giá cao nhưng vẫn “hút hàng. Tuy nhiên, việc khai thác tràn lan những gốc cây gỗ quý đang diễn ra như hiện nay đã và đang góp phần làm hại những cánh rừng ở Tây Nguyên. Chính vì vậy, rất cần sự quan tâm, kiểm soát chặt chẽ của các cơ quan chức năng. (Công Thương 6/11) đầu trang(
6/11, Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP. HCM (HAWA) tổ chức lễ trao giải thưởng Veneer 2014. Giải thưởng Veneer do HAWA hợp tác với Chương trình Lâm nghiệp Việt - Đức và Dự án "Tăng cường sản xuất veneer từ gỗ keo và bạch đàn ở Việt Nam và Australia" (ACIAR) tổ chức.
Ngoài mục đích tìm kiếm các mẫu thiết kế hàng trang trí nội thất có sử dụng vật liệu veneer, cuộc thi còn nhằm kết nối các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ có sử dụng veneer và các nhà thiết kế trong nước, hỗ trợ ngành chế biến gỗ Việt Nam chuyển đổi từ sản xuất đồ gỗ dùng gỗ nguyên khối sang nguyên liệu ván và veneer.
Bắt đầu từ tháng 1/2014, sau vòng sơ khảo, đã có 10 tác phẩm được chọn để chế tác thành mẫu sản phẩm thật với sự hỗ trợ của các doanh nghiệp hội viên HAWA như: Công ty TNHH Ván Ép - Cơ Khí - Xây dựng Nhật Nam, Công ty CP Phát triển Chấn Hưng, Công ty TNHH Nguyễn Thanh, Công ty Bconnect, Công ty TNHH Kim Huy Hoàng, DNTN Gỗ Trang trí Hùng Sơn.
Ngày 3/11, vòng chung kết đã được diễn ra tại Showroom BLUM Việt Nam. 9 tác phẩm hoàn thành đã được các chuyên gia thiết kế trong nước và quốc tế đánh giá một cách khách quan và công bằng dựa trên các tiêu chí về tính thẩm mỹ, sáng tạo, ứng dụng, kỹ thuật và thương mại để tìm ra những sản phẩm hoàn hảo nhất.
Cuối cùng, giải nhất đã thuộc về tác phẩm Cocoon Light của thí sinh Đặng Trường Vũ (Đại học Tôn Đức Thắng) và tác phẩm Module DK của thí sinh Trần Lê Duy Khánh (Đại học Công nghệ Sài Gòn STU). Hai sinh viên này sẽ nhận được học bổng là 1 khóa học thiết kế tại trường Đại học RMIT - Úc. (Doanh Nhân Sài Gòn 7/11) đầu trang(
6/11, Hội chợ đồ gỗ và trang trí nội thất Việt Nam (Vifa Home 2014) với chủ đề "Đồ gỗ Việt - giữ vững sân nhà, không phụ thuộc hàng nhập" do Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ Thành phố Hồ Chí Minh (Hawa) tổ chức, đã khai mạc tại Trung tâm Hội chợ và triển lãm Tân Bình, quận Tân Bình.
Theo ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hawa, Vifa Home 2014 là nơi gặp gỡ, trao đổi và thiết lập mối quan hệ giữa nhà sản xuất, các nhà tư vấn kiến trúc, thiết kế nội thất và doanh nghiệp kinh doanh phân phối.
Với sự hợp tác này, doanh nghiệp sản xuất dễ dàng nắm bắt nhu cầu của thị trường qua các nhà tư vấn về thiết kế, các nhà kinh doanh phân phối sẽ có nguồn cung cấp sản phẩm ổn định với giá hợp lý, làm tăng tính cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ nội thất trong nước so với các sản phẩm nhập khẩu.
Năm nay, hội chợ thu hút hơn 470 gian hàng của 115 doanh nghiệp (tăng 20%) so với năm trước. Trong số các doanh nghiệp tham gia, lĩng vực đồ gỗ chiếm 68%, trang trí nội thất chiếm 14%, thủ công mỹ nghệ chiếm 4%, các dịch vụ hỗ trợ chiếm 14%.
Vifa Home 2014 có 6 doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ đến từ miền Bắc; trong đó có 3 doanh nghiệp Hà Nội, 2 doanh nghiệp từ Ninh Bình, 1 doanh nghiệp từ Hà Giang và 2 doanh nghiệp nước ngoài (Malaysia và Croatia).
Bên cạnh hoạt động triển lãm chính, Vifa Home 2014 còn có hội thảo kết nối “Nhà sản xuất nội thất - kiến trúc sư: Đồng hành sáng tạo không gian Việt”. Hội chợ sẽ kết thúc vào ngày 9/11 tới. (VietnamPlus 6/11) đầu trang(
Hiện nay các địa phương và các chủ rừng trên địa bàn huyện Vĩnh Linh đang tập trung huy động nhân lực và phương tiện để tiến hành trồng rừng đảm bảo theo kế hoạch trồng mới 1.500 hécta rừng trong năm 2014.
Để hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2014, ngay từ cuối tháng 9 đầu tháng 10, các địa phương và chủ rừng trên địa bàn huyện Vĩnh Linh đã tập trung làm đất, xử lý môi trường, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết để trồng rừng ngay khi gặp thời tiết thuận lợi. Một số giống cây được các địa phương và chủ rừng ở huyện Vĩnh Linh sử dụng để trồng đại trà, gồm: thông, keo các loại...
Tính đến thời điểm này, các công đoạn chuẩn bị cho việc trồng rừng đã hoàn tất, tranh thủ thời tiết thuận lợi, các địa phương và các chủ rừng ở huyện Vĩnh Linh đang tập trung tiến hành trồng rừng để đảm bảo hoàn thành theo kế hoạch.
Rừng trồng mới tập trung chủ yếu ở các địa phương có diện tích gò đồi lớn và các xã thuộc khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa nên việc đưa cơ giới vào làm đất cũng như vận chuyển phân bón, cây giống gặp rất nhiều khó khăn.
Tuy nhiên nhờ có kế hoạch cụ thể, phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng địa phương, đơn vị nên huyện Vĩnh Linh triển khai thực hiện việc trồng mới rừng đạt hiệu quả cao. Vĩnh Linh phấn đấu nâng tỷ lệ độ che phủ rừng lên 50,5% trong năm 2014. (Vinhlinhquangtri.gov.vn 6/11) đầu trang(
Sau một vài năm triển khai, mô hình giao đất, giao rừng cho cộng đồng ở huyện Đắk Glong đã và đang được định hình, giải quyết cơ bản phần diện tích đất rừng chưa được giao hoặc những khu rừng nghèo, ở xa khu dân cư.
Thực hiện mô hình rừng cộng đồng không chỉ giúp bà con ổn định cuộc sống, nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên rừng mà còn tạo tiền đề cho việc áp dụng các công cụ quản lý rừng bền vững.
Trên địa bàn huyện Đắk Glong hiện nay, việc giao đất cho cộng đồng quản lý được thực hiện tập trung ở các xã như Đắk Som, Đắk P’lao, Quảng Sơn, Đắk Ha… Trong đó, mô hình quản lý rừng cộng đồng do khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng đã tiến hành giao khoán bảo vệ cho 167 hộ của 3 xã là Đắk Som (Đắk Glong), Phi Liêng, Đạ K’Nàng, huyện Đam Rông (Lâm Đồng) và tại 17 tiểu khu, với tổng diện tích hơn 7.961 ha.
Các tổ quản lý rừng đều được tập huấn nâng cao năng lực và được hướng dẫn xây dựng quy chế, kế hoạch hoạt động. Qua đó, hoạt động của các tổ, nhóm bước đầu đã phát huy hiệu quả trong việc giữ rừng.
Theo ông Phạm Đặng Quang, Phó Chủ tịch UBND huyện thì ngoài việc giao đất, giao rừng cho các cộng đồng thôn, bon quản lý, bảo vệ, Huyện ủy cũng đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thường xuyên theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn. Theo đó, hàng tháng, quý, Hạt Kiểm lâm huyện và các cơ quan chuyên môn của địa phương đã thống kê cập nhật số liệu diện tích trồng rừng, khai thác, chuyển đổi, rừng bị phá …
Nếu như năm 2007, tổng diện tích rừng trên địa bàn là 103.275 ha, diện tích rừng tự nhiên 98.448 ha, diện tích rừng trồng là 4.879 ha, độ che phủ là 71,28% thì đến năm 2013, diện tích có rừng đã giảm xuống còn 85.000 ha, trong đó, diện tích rừng tự nhiên gần 78.000 ha, diện tích rừng trồng 6.800 ha, độ che phủ xuống mức 58,6%.
Đây là con số suy giảm tài nguyên rừng đáng báo động đã và đang diễn ra hết sức bức xúc tại địa phương. Do vậy, để đất lâm nghiệp và rừng của địa phương thật sự có chủ và thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng theo hướng bền vững, huyện đã tiến hành giao khoán đất rừng cho các cá nhân, nhóm hộ, thôn bon và cho các doanh nghiệp thuê rừng.
Từ năm 2007 – 2013, huyện đã tổ chức tạm giao diện tích rừng và đất rừng do các địa phương quản lý về cho các gia đình, cộng đồng thôn, bon với diện tích trên 4.500 ha, trong đó có 25 hộ, 61 nhóm hộ, 6 cộng đồng thôn, bon trên địa bàn 7 xã tham gia nhận khoán. Ngoài ra, hiện nay, toàn huyện có 24 đơn vị đơn vị chủ rừng nhận quản lý và phát triển rừng, với tổng diện tích gần 94.000 ha rừng và đất rừng.
Ông K’Phim, Tổ trưởng Tổ quản lý rừng cộng đồng bon Păng So, xã Đắk Som cho biết: “Nhóm hộ chúng tôi gồm có 8 thành viên, nhận khoán bảo vệ trên 300 ha rừng. Hàng ngày, tổ luôn cắt cử người trực chốt, tuần tra bảo vệ rừng. Những người tham gia trực chốt bảo vệ rừng sẽ được nhân viên các trạm kiểm lâm chấm công và cùng nhau phối hợp tuần tra, bảo vệ rừng”.
Ông Phạm Đặng Quang, Phó Chủ tịch UBND huyện cho biết: “Cùng với chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES), Dự án Hỗ trợ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện giảm phát thải do phá rừng và suy thoái rừng (REDD+) trên địa bàn huyện sẽ giúp tạo động lực để người dân sống được bắng nghề rừng”.
Theo đó, tại huyện Đắk Glong, Ban quản lý Dự án Hỗ trợ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ tỉnh Đắk Nông đã lựa chọn 4 thôn, bon trên địa bàn huyện gồm bon Păng So, bon B’Nơr, xã Đắk Som và bon R’Bút, bon N’Đóh, xã Quảng Sơn để triển khai chương trình.
Qua đó, rừng cộng đồng sẽ là một trong những mô hình cần thiết trong tiến trình thực hiện các dự án, chương trình lồng ghép góp phần bảo vệ, phát triển rừng, nâng cao giá trị của rừng, phát triển kinh tế xã hội, đồng thời thể hiện thiện chí của Việt Nam chung tay cùng cộng đồng quốc tế bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất. (Báo Đắc Nông 6/11) đầu trang(
Năm 2014, thực hiện chương trình Khuyến lâm, Trung tâm Nông nghiệp huyện Đạ Huoai vừa triển khai dự án trồng rừng bằng cây Thiên Ngân tại xã Đạ Tồn.
Dự án đã đầu tư cho 04 hộ dân trồng thử nghiệm 2,1ha cây Thiên Ngân. Đây là loại cây lấy gỗ với giá trị kinh tế cao, mỗi hộ được cung cấp từ 200 đến 500 cây giống miễn phí (mỗi cây giống có giá 15.000đ) và hỗ trợ 50% số lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ mối.
Các hộ thực hiện Dự án được hỗ trợ trong 3 năm. Được biết, hiện nay một khối gỗ cây Thiên Ngân có giá từ 2,5 triệu đồng trở lên. Sau 02 tháng trồng và chăm sóc, diện tích cây Thiên Ngân phát triển tốt, không có dịch bệnh xảy ra, tỷ lệ cây sống đạt trên 98%. (Khuyennonglamdong.gov.vn 4/11) đầu trang(
10 tháng năm 2014, Hạt Kiểm lâm Bá Thước đã phối hợp với các xã trên địa bàn huyện trồng mới được 100 ha rừng sản xuất theo Quyết định 147 của Thủ tướng Chính phủ.
Ngay từ đầu năm 2014, Hạt Kiểm lâm Bá Thước đã phối hợp với chính quyền các xã trên địa bàn, chỉ đạo các thôn, bản, hộ dân thực hiện việc trồng rừng mới theo đúng kế hoạch.
Các kiểm lâm địa bàn và cán bộ lâm nghiệp các xã thường xuyên kiểm tra, động viên, vận động nhân dân tham gia chương trình, đồng thời tư vấn và giúp đỡ người dân hoàn thành các thủ tục để được hỗ trợ.
Cây trồng chính được trồng mới, gồm: xoan ta, lát hoa, keo tai tượng Úc và luồng. Hàng chục hộ dân của 16 xã, gồm: Ban Công, Lâm Xa, Ái Thượng, Lương Nội, Lương Ngoại, Lương Trung, Thiết Ống, Thành Sơn, Lũng Cao, Cổ Lũng, Thành Lâm, Lũng Niêm, Điền Lư, Điền Quang, Điền Hạ, Điền Thượng đều được hỗ trợ trồng rừng. Ngoài trồng mới rừng trên các khu vực đất trống, đồi trọc, việc tra dặm các diện tích rừng cũng được chính quyền, kiểm lâm địa bàn đôn đốc để các hộ dân thực hiện.
Trong quý III vừa qua, hạt kiểm lâm cùng các ngành chức năng huyện đã phối hợp, giải ngân hỗ trợ trồng rừng cho 5 xã (Ban Công, Điền Thượng, Lương Ngoại, Hạ Trung, Thiết Kế) với tổng số tiền hơn 300 triệu đồng. (Báo Thanh Hóa 6/11) đầu trang(
Theo số liệu báo cáo từ các địa phương, các đơn vị lâm nghiệp trong tỉnh, đến 30/10, bằng các nguồn vốn ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương, vốn của các doanh nghiệp lâm nghiệp và vốn của các hộ gia đình, năm 2014 toàn tỉnh đã trồng 6.906 ha/4.800 ha rừng tập trung vượt 44% kế hoạch giao.
Trong đó; trồng rừng phòng hộ, đặc dụng 179 ha; rừng sản xuất 6.727 ha. Có được kết quả trên là do ngay từ đầu năm, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn phối hợp với các Sở, Ngành tập trung chỉ đạo đến các địa phương, các đơn vị lâm nghiệp thực hiện kế hoạch trồng rừng, bảo vệ rừng; chủ động nguồn giống, chuẩn bị hiện trường trồng rừng nhất là hiện trường sau khai thác rừng, đất nương bãi thuộc quy hoạch lâm nghiệp mà người dân tự nguyện trồng rừng thay thế.
Trên cơ sở Kế hoạch năm 2014, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã dự kiến giao chỉ tiêu trồng rừng cho các địa phương, đơn vị ngay trong quý III năm 2013; Nhận thức được tác dụng, giá trị của rừng đem lại, phong trào trồng cây, trồng rừng tập trung, trồng cây phân tán phát triển mạnh mẽ trong nhân dân vì thế đã huy động được nguồn lực, nguồn vốn nhất là nguồn vốn trong dân đầu tư vào trồng rừng.
Công tác quản lý giống lâm nghiệp được tăng cường hơn, đã đưa thành công một số giống tiến bộ kỹ thuật vào trồng rừng là Bạch đàn dòng PN14; Keo tai tượng, Keo lai các doàng BV10, BV16 và BV32.
Một số đơn vị đã mạnh dạn đưa một số giống mới vào trồng rừng như bạch đàn CT, UP (công ty TNHH MTV lâm nghiệp Yên Thế), Bạch đàn lai (công ty cổ phần Hưng thịnh) bước đầu có triển vọng tốt cây sinh trưởng nhành. góp phần nâng cao năng suất, chất lượng rừng (mức tăng trưởng rừng trồng đạt bình quân 20 m3/ha/năm, tăng 50% so với giai đoạn trước); diện tích đất trống ngày càng thu hẹp, nâng độ che phủ của rừng năm 2013 lên 36,5 %. Hiện nay toàn bộ diện tích trồng rừng đang được các tổ chức, hộ gia đình chăm sóc để cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt. (Sonongnghiep.bacgiang.gov.vn 5/11) đầu trang(
Đối với diện tích rừng phòng hộ đặc dụng vùng đồi núi Bảy Núi, từ năm 1999 đến 2009, Ban Quản lý Dự án 661 An Giang đã tổ chức giao khoán cho trên 6.000 hộ bảo vệ, trồng và chăm sóc.
Giai đoạn 2001-2010, hàng năm hợp đồng với 6.028 hộ gia đình, trong đó có 1.993 hộ dân tộc Khmer, chiếm 33% so với tổng số hộ nhận khoán rừng.
Theo ông Trần Phú Hòa, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm An Giang, việc ký kết “xây dựng vùng nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm cây dược liệu” giữa Công ty TNHH Dược phẩm An Thiên với UBND huyện Tri Tôn và Tịnh Biên phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước, phù hợp với quy hoạch “Bảo tồn và phát triển cây dược liệu ứng dụng công nghệ cao tỉnh An Giang” đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.
Theo ông Hòa, vùng đồi núi có nguồn dược liệu tự nhiên phong phú và đa dạng về chủng loài lẫn công dụng làm thuốc, nổi tiếng các loài dược liếu quý hiếm, như: Trầm hương, hoài sơn, đinh lăng, hà thủ ô… Do đất đai, khí hậu phù hợp với nhiều loại cây trồng, chất lượng sản phẩm sau thu hoạch được đánh giá cao.
Ông Hòa còn cho biết, xây dựng vùng dược liệu là cần thiết và cấp bách, nhằm khôi phục và phát triển các loài dược liệu quý hiếm. Qua đó, tạo thêm việc làm, thu nhập, nâng cao đời sống người dân vùng núi, góp phần bảo vệ rừng bền vững. “Đây cũng là mong muốn của chính quyền các cấp và nguyện vọng của người dân” – ông Hòa nói.
Cần có sự phối hợp khảo sát thực tế, đánh giá về đất đai, tập quán canh tác, dân sinh… để quy hoạch các vùng nguyên liệu, từng loài cây phù hợp. Diện tích trồng trên đất rừng, cần đưa các loài cây chịu bóng, phòng ngừa trường hợp chặt phá cây rừng để trồng cây dược liệu. Về giống, có thể tổ chức kết hợp gieo ươm tại chỗ, giảm chi phí hao hụt, giảm giá thành và cây dễ thích nghi với điều kiện lập địa.
Đối với diện tích giao khoán bảo vệ rừng theo Dự án 661, đến nay đã kết thúc, cần có chính sách hỗ trợ khác để tiếp tục công tác giao khoán bảo vệ và chăm sóc rừng được liên tục. Cải cách đơn giản hóa các thủ tục đầu tư và rút ngắn thời gian cấp phép đầu tư.
Xây dựng quỹ “Bảo vệ và phát triển rừng” của địa phương để tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế được tiếp cận với các nguồn vốn vay thuận lợi, được vay với lãi suất ưu đãi, thời gian phù hợp với chu kỳ kinh doanh lâm nghiệp. Đồng thời, cải thiện chính sách cho vay vốn, khuyến khích các nhà đầu tư trồng rừng kinh tế.
Đây là cơ sở định ra phương hướng, nhiệm vụ để quản lý bảo vệ và phát triển rừng theo hướng “xã hội hóa”, khai thác nguồn lực địa phương, giải quyết việc làm cho người dân, thúc đẩy kinh tế phát triển và ổn định an ninh, chính trị trên địa bàn - ông Đỗ Vũ Hùng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho biết.
Theo đó, đến năm 2020, An Giang nâng độ che phủ của rừng và ổn định là 22,4%; sử dụng hết diện tích đất có khả năng trồng rừng, phát triển trồng cây phân tán và vườn rừng; đưa các dịch vụ từ rừng là nguồn thu cơ bản của ngành Lâm nghiệp; nâng tỉ trọng lâm nghiệp trong giá trị sản xuất nông nghiệp và trở thành một ngành kinh tế quan trọng của địa phương.
Đề cập vấn đề “sản xuất nông – lâm kết hợp” trong quy hoạch, ông Lê Văn Hoàng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, thông tin: Nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tạo giá trị kinh tế cao 1 héc-ta đất canh tác nông nghiệp; tạo việc làm, thu nhập cho những hộ gia đình sống trên địa bàn vùng dự án để góp phần giảm nghèo và ổn định kinh tế - xã hội miền núi, khu vực nông thôn.
Cập nhật, phổ biến kiến thức, kỹ thuật canh tác nông – lâm nghiệp, chăn nuôi tiên tiến cho người dân địa phương, đặc biệt là đồng bào dân tộc. Diện tích sản xuất nông – lâm kết hợp vùng đồi núi (vườn rừng) 1.227 héc-ta, vùng đồng bằng (rừng tràm trồng + lúa) 3.253 héc-ta. Còn việc khai thác diện tích rừng trồng đã thành thục tạo nguồn thu nhập, đối tượng là rừng gỗ sản xuất đến tuổi khai thác của các đơn vị chủ rừng, các hộ gia đình.
Giai đoạn 2011-2020, quy hoạch “Bảo vệ và phát triển rừng An Giang” cũng đưa ra nhiều giải pháp khoa học và công nghiệp, chính sách, vốn, phát triển nguồn nhân lực, kỹ thuật lâm sinh, sử dụng rừng và phát triển công nghiệp chế biến lâm sản… tạo việc làm, nâng cao thu nhập, ổn định đời sống cho người nhận khoán trồng, chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Đặc biệt, đồng bào dân tộc thiểu số Khmer ở huyện Tri Tôn và Tịnh Biên đã nhận khoán bảo vệ rừng phòng hộ khu vực đồi núi. (Báo An Giang 6/11) đầu trang(
Một thời gian dài, Bắc Kạn cũng là điểm nóng về tình trạng đốt nương, làm rẫy, phá rừng khiến nhiều đồi núi trọc xuất hiện. Tuy nhiên, sau này Bắc Kạn lại trở thành điểm sáng về trồng và bảo vệ rừng. Đến với nghề rừng không chỉ đơn thuần là tăng giá trị sinh thái mà còn trở thành nghề làm giàu.
Có nhiều lý do để một hộ dân lựa chọn việc trồng rừng sản xuất vào thời điểm cách đây hơn 20 năm. Đó có thể là vì lấy gạo hỗ trợ vào những năm bao cấp; có thể là vì tiếc đất được giao; có thể vì thấy hộ cùng làm có thu nhập khá nhờ rừng trồng…
Tuy nhiên, đến thời điểm này, sau khi chủ trương phát triển mạnh mẽ kinh tế rừng của Bắc Kạn đi vào cuộc sống thì chỉ có một lý do đó là người dân đã nhận thức được giá trị sinh thái và giá trị kinh tế của rừng.
Câu chuyện về ông Hoàng Văn Thùng ở thôn Khuổi Tặc, xã Bằng Lãng (Chợ Đồn) có thể coi là hình ảnh thu nhỏ về bước chuyển trong nhận thức của người dân Bắc Kạn. Những năm 1993 - 1997 rừng tại đây bị tàn phá nhiều, những gì còn lại đa phần là đồi ót.
Ông Hoàng Văn Thùng tìm cách mua một số diện tích với suy nghĩ đơn giản là trồng cây vào đó, giữ lại thành rừng. Đến năm 1997, ông được giao rừng theo diện khoán để trồng. Một mình ông hì hục giữa nắng, mưa phát rừng ót để trồng quế, mỡ, trồng cả trám cả de lẫn cây ăn quả.
Từ chỗ chỉ có 4ha giờ gia đình ông đã có hơn 20ha rừng quế, mỡ các loại bắt đầu cho khai thác. Một mét khối gỗ mỡ bán ra cũng có vài trăm nghìn đồng. Rừng mỡ của gia đình ông giờ đã có hơn 10 năm tuổi, mỗi héc ta có khoảng 2.500 cây, trung bình vanh mỗi cây khoảng 30 - 50cm nên khai thác bán kiểu gì cũng có thể thu về bạc tỷ.
Không chỉ tại Chợ Đồn mà ở hầu khắp các địa phương trong tỉnh đều có các cá nhân trồng rừng hiệu quả, điển hình. Thậm chí, nhiều hộ còn mạnh dạn vay vốn ngân hàng để đầu tư trồng rừng. Theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước Bắc Kạn, doanh số cho vay phát triển rừng hiện đạt hơn 25 tỷ đồng, đưa tổng dư nợ cho vay lĩnh vực này đạt hơn 429 tỷ đồng.
Trong đó, dư nợ của các ngân hàng thương mại hơn 34 tỷ đồng; Ngân hàng Chính sách Xã hội hơn 388 tỷ đồng và Phòng Giao dịch Ngân hàng Phát triển khu vực Bắc Kạn - Thái Nguyên là hơn 6,6 tỷ đồng. Tổng số khách hàng còn dư nợ vốn trồng rừng là 20.947 khách hàng với mục đích vay trồng mới, chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh rừng.
Để khuyến khích nghề rừng, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết hỗ trợ trồng rừng sản xuất giai đoạn 2012 - 2015. Theo đó, hỗ trợ chi phí nhân công trồng và chăm sóc rừng trồng năm thứ nhất và năm thứ hai cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân tham gia trồng rừng sản xuất, mức hỗ trợ 500.000đ/ha/năm. Kinh phí hỗ trợ từ nguồn ngân sách tỉnh. Nhờ đó, hiện tại, ở nhiều địa phương thậm chí nhiều hộ dân còn tiếc vì đã không nhận giao khoán nhiều đất hơn từ những năm trước nên giờ thiếu đất trồng rừng.
Tạo ra một phong trào trồng rừng như thế có thể coi là một kỳ tích của Bắc Kạn. Giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá hiện hành của các địa bàn cũng nhờ thế tăng lên đáng kể. Đơn cử như Ngân Sơn năm 2009 đạt hơn 17 tỷ đồng thì đến năm 2013 đã tăng lên hơn 112 tỷ đồng; Chợ Đồn từ hơn 28 tỷ đồng vào năm 2009, đến 2013 tăng lên hơn 126 tỷ đồng…
Trong tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh hơn 485.000 héc ta thì đất lâm nghiệp có rừng đã chiếm hơn 375.000 héc ta. So với các tỉnh vùng Đông Bắc, Bắc Kạn là tỉnh có diện tích rừng lớn nhất. Sau 10 năm (từ 2000 - 2010), diện tích có rừng của Bắc Kạn đã tăng lên thêm khoảng 15% trong khi diện tích rừng tự nhiên vẫn được giữ vững. Thông qua các chương trình, dự án, nhất là thực hiện các mô hình nông, lâm kết hợp theo quan điểm sản xuất hàng hóa thì diện tích rừng của Bắc Kạn ngày càng tăng cao.
Rừng sản xuất từ hơn 163.000 héc ta vào năm 2000 đã tăng lên hơn 245.000 héc ta vào năm 2010; rừng phòng hộ từ hơn 94.000 héc ta vào năm 2000 đã tăng lên hơn 107.000 héc ta vào năm 2010. Tốc độ tăng bình quân hơn 12% về diện tích so với năm 2000; độ che phủ rừng từ hơn 35% vào năm 2000 đã tăng lên hơn 55% vào năm 2010. Đến hết 2013, toàn tỉnh có hơn 283.000 héc ta rừng tự nhiên và hơn 59.000 héc ta rừng trồng.
Đặc biệt, với việc Đảng bộ tỉnh quyết tâm phát triển mạnh kinh tế rừng thể hiện qua mục tiêu trồng mới 60.000 héc ra rừng trong nhiệm kỳ từ 2010 - 2015 thì tăng trưởng rừng của Bắc Kạn đã có bước nhảy vọt. Từ thành công của rừng đã cho thu hoạch, mang lại thu nhập trung bình hàng chục triệu đồng/năm cho nhiều hộ gia đình, nên người dân đã thấy được lợi ích từ trồng rừng và tự bỏ vốn đầu tư.
Từ 2010 trở về trước, mỗi năm người dân tự đầu tư trồng được khoảng 700-800ha, riêng năm 2011 đạt hơn 2.000 héc ta. Do đó, năm 2011, tổng diện tích rừng đã trồng là 14.544 héc ta, đạt 121% kế hoạch. Năm 2012, toàn tỉnh đã trồng được hơn 11.000 héc ta. Năm 2014, toàn tỉnh trồng mới được 10.295 héc ta, vượt kế hoạch đề ra hơn 295 héc ta. Tỷ lệ che phủ rừng của Bắc Kạn đã vượt trên 70% vào năm 2013.
Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp nhờ đó cũng có những bước thăng tiến mạnh mẽ. Tổng giá trị sản xuất ngành năm 2006 đạt hơn 139 tỷ đồng thì đến 2010 đã tăng lên hơn 228 tỷ đồng; năm 2011 tăng lên hơn 453 tỷ đồng; năm 2012 hơn 764 tỷ đồng; năm 2013 hơn 831 tỷ đồng. Cơ cấu ngành chuyển dịch theo hướng tích cực với tỷ trọng rừng sản xuất tăng nhanh, thể hiện xu hướng sản xuất hàng hóa ngày càng rõ nét.
Tỷ trọng hoạt động trồng rừng và nuôi rừng tăng lên, tỷ trọng hoạt động khai thác lâm sản giảm xuống thể hiện xu hướng phát triển bền vững. Nếu như năm 2010, giá trị sản xuất trồng và chăm sóc rừng đạt hơn 208 tỷ đồng; khai thác gỗ và lâm sản khác hơn 155 tỷ đồng; thu nhặt sản phẩm từ rừng không phải gỗ và lâm sản khác hơn 25 tỷ đồng; dịch vụ lâm nghiệp hơn 6 tỷ đồng thì đến năm 2013 con số tương ứng là hơn 261 tỷ đồng; hơn 516 tỷ đồng; hơn 30 tỷ đồng và hơn 23 tỷ đồng.
Điểm nổi bật nữa là toàn tỉnh đã thực hiện giao khoán rừng đến từng tổ chức kinh tế, từng hộ gia đình trên 70% diện tích, bảo đảm cho rừng có chủ thực sự. Nhân dân đã chủ động phát triển vốn rừng; xây dựng mô hình quản lý rừng cộng đồng thôn, bản một cách hiệu quả.
Tổng số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp tỉnh đã cấp cho dân là hơn 65.000 giấy, trong đó có 221 giấy cấp cho tổ chức và hơn 65.000 giấy cho cá nhân. Tổng diện tích đất lâm nghiệp đã cấp giấy là hơn 146.000ha trong đó hơn 13.000ha cho tổ chức và hơn 132.000ha cho hộ gia đình, cá nhân.
Ngoài ra, UBND tỉnh đã giao cho Vườn Quốc gia Ba Bể hơn 10.000ha đất lâm nghiệp; Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ hơn 14.000ha; Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc gần 2.000ha. Như vậy tổng diện tích đất lâm nghiệp đã giao là hơn 173.000ha trong đó hơn 146.000ha đã được cấp giấy. (Báo Bắc Kạn 6/11) đầu trang(
Đối với Bắc Kạn, trồng rừng từ chỗ chỉ để được cấp gạo ăn nay đã trở thành phong trào, rừng đã làm giàu cho rất nhiều gia đình. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn tồn tại những hạn chế cần khắc phục…
Nghề rừng ở Bắc Kạn đang tồn tại hai mặt của một vấn đề. Thứ nhất, người trồng rừng ngày càng giàu lên nhờ rừng sản xuất. Ngược lại, nhiều hộ dân sống trong vùng lõi các khu bảo tồn, tham gia bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng lại có thu nhập thấp, đời sống khó khăn, nhiều hộ nghèo.
Trong khi thực tế, rừng trồng sản xuất có thể trồng lại nhưng rừng tự nhiên, nhất là rừng núi đá quý hiếm thì khó lòng mà khôi phục lại khi đã mất đi. Một vài điển hình của hai mặt vấn đề này cho thấy rõ điều đó.
Ông Hạ Sĩ Lường, trú tại xã Bằng Vân được coi là điển hình trồng rừng tại Ngân Sơn nói riêng và Bắc Kạn nói chung. Năm 1998, ông trồng được 4 héc ta rừng thông. Liên tục các năm tiếp theo ông tự mua con giống, mua lại những diện tích rừng của bà con trong vùng, những gia đình không có nhân lực hoặc không có khả năng trồng rừng.
Đến năm 2006 ông trồng được 12 héc ta; năm 2010 trồng được 96 héc ta; năm 2011 trồng thêm được 19 héc ta; năm 2012 trồng thêm 70 héc ta. Đến nay tổng số rừng ông đã trồng được đã trên 200ha, kế hoạch từ nay đến hết năm 2015 là chuẩn bị các điều kiện để trồng đủ 500 héc ta rừng.
Đi đôi với trồng rừng ông còn mở một xưởng xẻ gỗ để tận dụng những cây rừng khai thác tỉa thưa, những cây gỗ tạp, gỗ xử lý thực bì và các nguồn lâm sản ở địa phương, tạo ra các sản phẩm là gỗ thanh, ván trở thành hàng hóa có giá trị kinh tế cao.
Trừ các khoản chi phí gia đình ông còn thu về hàng tỷ đồng mỗi năm. Mô hình của ông Hạ Sĩ Lường phản ánh chính xác thực trạng, hiệu quả kinh tế từ trồng rừng mang lại cho hàng rất nhiều hộ dân tại Bắc Kạn. Việc tìm ra một tỷ phú trồng rừng tại Bắc Kạn cũng không còn là hiếm.
Ngược lại, hiện Bắc Kạn có Vườn Quốc gia Ba Bể; Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ; Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc với diện tích hàng chục nghìn héc ta rừng tự nhiên trên núi đá vôi thì người dân sống trong vùng lõi lại khá khó khăn. Đơn cử như vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể có 13 thôn bản với 517 hộ sinh sống, tập trung ở 03 xã là Nam Mẫu, Quảng Khê, Khang Ninh.
Đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn ở mức cao (từ 48% đến hơn 70% vào năm 2012). Nhận thức của cộng đồng dân cư địa phương về quản lý, bảo tồn và quy chế quản lý của Vườn Quốc gia còn nhiều hạn chế; việc thực hiện các chủ trương, chính sách về ổn định dân cư, quản lý súng săn, khai thác lâm sản, quản lý đất đai… còn bất cập.
Những khó khăn của người dân vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể phản ánh cơ bản thực trạng đối với nhiều hộ dân nhận khoán khoanh nuôi, bảo vệ rừng. Nhận 100.000đ cho công bảo vệ 01 héc ta rừng trong một năm có thể nói là vẫn còn rất thấp.
Có nhiều khó khăn, bất cập ảnh hưởng tới phát triển ngành lâm nghiệp của Bắc Kạn. Hiện ở một số địa bàn sản xuất lâm nghiệp vẫn theo kiểu truyền thống, dựa vào khai thác tự nhiên những sản phẩm như gỗ, tre, nứa, măng tự nhiên mà chưa chú trọng tới phát triển vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn.
Tình trạng cháy rừng vẫn diễn ra, nhất là việc "lâm tặc" khai thác trái phép gỗ quý hiếm diễn ra nhỏ lẻ. Trong khi đó, hệ thống kiểm lâm còn mỏng, năng lực quản lý còn bất cập. Phần nào đó, cơ chế chính sách cho phát triển lâm nghiệp của tỉnh còn thiếu dẫn đến quản lý, bảo vệ rừng, phát triển vốn rừng, khuyến khích đưa khoa học công nghệ vào sản xuất còn hạn chế.
Thu nhập dân cư làm nghề rừng còn thấp đặc biệt là nhận giao khoán bảo vệ rừng chủ yếu thu từ khai thác củi, tiền công khoán chưa tương xứng với công bảo vệ. Theo Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng Bắc Kạn giai đoạn 2009 - 2015, định hướng đến 2020 của tỉnh, diện tích rừng phòng hộ là hơn 25.000 héc ta; rừng đặc dụng là hơn 94.000 héc ta.
Thực tế, những năm qua, việc giữ rừng đặc dụng, phát triển rừng phòng hộ đã được Bắc Kạn quan tâm, chỉ đạo thực hiện quyết liệt, hiệu quả. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng vẫn diễn ra và đặc biệt gây áp lực lớn lên bảo vệ gỗ nghiến quý hiếm.
Đối với rừng sản xuất cơ cấu cây đã được tỉnh quan tâm chỉ đạo nhưng vẫn diễn ra tình trạng thay đổi thường xuyên. Người dân đổi sang trồng mỡ, rồi lại đổi từ mỡ sang quế… dẫn tới thiếu chủ động khâu cây giống. Đặc biệt, nạn sâu ong phá hại cây mỡ tới nay vẫn chưa được giải quyết triệt để.
Để xã hội hóa công tác trồng rừng, tỉnh cũng chỉ đạo ưu tiên thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này. Thời gian qua, Sở Kế hoạch Đầu tư cũng đã cấp nhiều giấy chứng nhận đầu tư cho các doanh nghiệp đăng ký trồng rừng. Cụ thể như: Công ty Lâm nghiệp Bắc Kạn; Công ty Cổ phần Hoàng Long; Công ty Cổ phần D&G; Công ty Cổ phần điện và gỗ Bình Minh; Công ty TNHH Phúc Lộc; Công ty TNHH Một thành viên Nông nghiệp nông thôn miền núi; Công ty Cổ phần Sahabak; Công ty TNHH Hoàng Giang...
Trong đó, tỉnh đã giao đất cho Công ty Lâm nghiệp Bắc Kạn hơn 17.000ha; Công ty Cổ phần Hoàng Long 1.700ha; Công ty Cổ phần D&G hơn 3.000ha. Công ty TNHH Hoàng Giang tiến hành trồng rừng trên diện tích đất được cấp mỏ khoáng sản của đơn vị.
Tuy nhiên, thực tế thì hầu như không mấy đơn vị tiến hành trồng rừng, trong khi nhiều diện tích đất lại có sự tranh chấp với người dân. Đơn cử như dự án trồng rừng, khoanh nuôi và phục hồi rừng tại các xã Tân Sơn, Hoà Mục, Cao Kỳ (Chợ Mới) giao cho Công ty Cổ phần Hoàng Long thực hiện, được cấp quyền sử dụng đất 1.700ha đã gây bức xúc trong dư luận nhiều năm qua bởi những việc làm không minh bạch của doanh nghiệp trên diện tích đất được giao này.
Đối với dự án trồng rừng nguyên liệu tại các xã Cao Tân, Nghiên Loan, An Thắng, Xuân La (Pác Nặm) do Công ty TNHH D&G Việt Nam thực hiện với diện tích tạm giao gần 10.000ha đầu năm 2009 nhưng công ty này cũng chỉ trồng được vài trăm héc ta rừng rồi bỏ đấy.
Nhiều diện tích được giao xen kẽ với đất của dân nên có nhiều vướng mắc chưa thể giải quyết. Hệ quả, tỉnh đã phải rút giấy phép của nhiều doanh nghiệp và thu hồi lại đất đã giao. (Báo Bắc Kạn 6/11) đầu trang(
Theo đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, có 3 nội dung trọng tâm. Đó là: Nâng cao giá trị sản phẩm và dịch vụ môi trường rừng, tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm; từng bước đáp ứng nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng; tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế, bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển bền vững.
Cần phải thấy rằng, thực hiện lộ trình tái cơ cấu ngành lâm nghiệp thì sau khi tái cơ cấu cả ba loại rừng phòng hộ, đặc dụng, sản xuất phải cùng đem lại giá trị vật chất cho người trồng và bảo vệ rừng. Đây là mục tiêu cơ bản cần phải đạt được trong quá trình nâng cao giá trị sản phẩm từ rừng. Đối với Bắc Kạn, việc nâng cao giá trị sản phẩm rừng sản xuất đã thực hiện tương đối tốt và hiệu quả.
Để giải quyết đầu ra cho sản phẩm rừng trồng, tỉnh đã quan tâm tới công tác chế biến và tiêu thụ sản phẩm lâm sản; tạo điều kiện cho người dân phát triển mở rộng cơ sở chế biến, khuyến khích các nhà đầu tư ngoài tỉnh vào liên doanh hợp tác để chế biến gỗ rừng trồng.
Nhờ đó, đến nay, Bắc Kạn đã có 01 nhà máy chế biến gỗ của Công ty Cổ phần Sahabak sản xuất ván ghép thanh và thanh chi tiết đồ mộc, mỗi năm sản xuất 5.000m3 sản phẩm. Nhà máy ván MDF với công suất 108.000m3 sản phẩm/năm đang được triển khai xây dựng. Toàn tỉnh có 156 cơ sở sản xuất, chế biến lâm sản với quy mô nhỏ lẻ do các đơn vị quốc doanh và tư nhân quản lý. Hoạt động chế biến gỗ, lâm sản tại chỗ đã nâng cao hiệu quả của công tác trồng rừng, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân sống gần rừng.
Hình thức gia tăng kinh tế từ độ che phủ của rừng hiệu quả nhất đang được kỳ vọng hiện nay là chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cũng đang được Bắc Kạn triển khai. Đây là công cụ kinh tế yêu cầu những người được hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái chi trả cho những người tham gia duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của hệ sinh thái đó.
Nguồn thu dịch vụ môi trường rừng lớn nhất của Bắc Kạn là từ công trình thủy điện của Công ty thủy điện Tuyên Quang 14,6 tỷ đồng và hơn 1,7 tỷ đồng từ 3 nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh.
Đối với hạt nhân quản lý rừng là Công ty Lâm nghiệp cũng đã được Bắc kạn chuyển đổi trên cơ sở cơ cấu lại rừng. Theo đó, tỉnh đã tái cơ cấu công ty thành Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Bắc Kạn; thu hồi những diện tích rừng đã giao nhưng công ty không quản lý, khai thác, trồng hiệu quả để giao cho dân. Từ đó từng bước giảm dần tỷ trọng đầu tư của Nhà nước vào lâm nghiệp và phát huy huy động các nguồn lực tài chính ngoài ngân sách.
Quan điểm của tỉnh đối với tái cơ cấu lâm nghiệp đó là đẩy mạnh chủ trương xã hội hóa lâm nghiệp; chuyển nguồn lực đầu tư bảo vệ và phát triển rừng từ dựa chủ yếu vào ngân sách Nhà nước sang huy động đa dạng các nguồn lực xã hội; khuyến khích thực hiện thuê, nhận khoán bảo vệ rừng, trồng rừng kết hợp chăn nuôi phát triển lâm sản ngoài gỗ để tăng thu nhập. Cốt lõi là tăng giá trị kinh tế ngành và năng lực bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người dân nhất là đồng bào dân tộc thiểu số.
Một lộ trình cụ thể từ sau 2015 đã được tỉnh chỉ đạo ngành nông, lâm nghiệp tập trung triển khai. Trước hết, tiến hành rà soát lại quy hoạch 3 loại rừng; xây dựng quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2016 - 2025, định hướng đến năm 2030; quy hoạch và thực hiện quy hoạch đường lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2016 - 2025, tầm nhìn đến 2030.
Đối với rừng sản xuất, tỉnh chủ trương phát triển mạnh trên cơ sở tăng cường áp dụng tiến bộ kỹ thuật nhất là giống, đầu tư thâm canh để tăng năng suất, chất lượng. Phấn đấu mỗi năm trồng mới khoảng 6.000 héc ta rừng. Bước đầu tạo điều kiện hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng chứng chỉ rừng FSC (chứng chỉ hệ thống các tiêu chuẩn về chứng nhận nguồn gốc gỗ cho các nhà khai thác do Hội đồng quản trị rừng quốc tế cấp), sau đó hỗ trợ và khuyến khích người dân kinh doanh rừng bền vững và xây dựng được chứng chỉ rừng FSC; phấn đấu đến 2025 có khoảng 20.000 héc ta rừng được cấp chứng chỉ này.
Tỉnh sẽ ưu tiên nghiên cứu xây dựng các mô hình trồng rừng sản xuất đối với các loài cây gỗ lớn có giá trị kinh tế cao, sinh khối nhanh, chu kỳ khai thác rút ngắn để tạo vùng nguyên liệu ổn định với diện tích khoảng 3.000 héc ta. Đối với rừng tự nhiên, nếu đạt tiêu chuẩn thì khai thác với cường độ hợp lý để đáp ứng mục tiêu lâu dài; rừng chưa đạt chuẩn tiến hành nuôi dưỡng kết hợp kinh doanh lâm sản ngoài gỗ. Đối với công nghiệp chế biến, trọng tâm sẽ là Nhà máy ván MDF bên cạnh các cơ sở chế biến gỗ vừa và nhỏ.
Trước mắt, chính quyền các địa phương cần nhanh chóng rà soát, đánh giá lại đúng thực trạng tình hình sử dụng đất của từng đơn vị, chủ rừng, điều chỉnh quy hoạch, xác định rõ ranh giới thực địa và cắm mốc, hoàn thành các thủ tục giao đất gắn với giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, chủ rừng.
Trên cơ sở diện tích đã quy hoạch sử dụng đất theo 3 loại rừng, chính quyền các địa phương phải có kế hoạch lồng ghép, điều phối các dự án phát triển kinh tế xã hội từ các nguồn đầu tư khác nhau để hỗ trợ cho các hộ nghèo, hộ gia đình chính sách, nhất là các hộ thiếu đất sản xuất, cải thiện sinh kế cho người dân sống gần rừng, các xã nghèo, bảo đảm an sinh xã hội để giảm bớt áp lực bất lợi vào tài nguyên rừng. (Báo Bắc Kạn 6/11) đầu trang(
Trọng tâm tái cơ cấu lâm nghiệp theo đề án của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đặc biệt nhấn mạnh tới phát triển rừng gỗ lớn; đưa vùng Đông Bắc trở thành vùng sản xuất gỗ nguyên liệu lớn nhất cả nước; tập trung phát triển rừng có chứng chỉ FSC.
Với Bắc Kạn, một trong những loại cây gỗ lớn đã được trồng nhiều là mỡ, keo… nên đây là thuận lợi trong chuyển đổi rừng nguyên liệu sang rừng gỗ lớn và hướng tới chứng chỉ rừng FSC.
Từ tháng 4/2014, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Kế hoạch hành động nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất giai đoạn 2014 - 2020 và xác định là trọng tâm trong tái cơ cấu lâm nghiệp. Đối với Bắc Kạn, theo kế hoạch này sẽ chuyển đổi 4.150 héc ta rừng sản xuất sang trồng rừng kinh doanh gỗ lớn.
Trong lộ trình tái cơ cấu lâm nghiệp, Bắc Kạn cũng đã đặt ra định hướng sẽ ưu tiên nghiên cứu xây dựng các mô hình trồng rừng sản xuất đối với các loài cây gỗ lớn với diện tích khoảng 3.000 héc ta. Thuận lợi là ở chỗ, cây mỡ và cây thông, những loài cây gỗ lớn đã được trồng nhiều ở Bắc Kạn trong những năm qua. Tuy nhiên, để chúng sinh trưởng đạt mức tối đa trên 30 năm thì đối với người trồng lại không phải chuyện dễ. Nhất là khi với rừng gỗ lớn khó có thể được phép thực hiện việc khai thác trắng.
Chu kỳ trồng rừng gỗ lớn kéo dài vài chục năm, người dân phải mất từng ấy thời gian trồng, chăm sóc rừng; hầu như không có bất cứ nguồn thu nào từ rừng. Bởi vậy nên nếu để chọn trồng rừng gỗ lớn hay “ăn non” như hiện nay thì chắc chắn đa phần người dân sẽ chọn cách “ăn non” để có nguồn sinh sống, nuôi dưỡng con cái chứ không thể ngồi chờ cây lớn, cây già được.
Ông Đàm Văn Chiến- Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Bắc Kạn cho biết: Rừng gỗ lớn vừa có tác dụng phòng hộ vừa cho sản phẩm gỗ nhiều, chất lượng cao. Những loại cây gỗ lớn đã được trồng tại Bắc Kạn có thể kể ra là lát, sấu, thông, mỡ… Vì là gỗ lớn nên chu kỳ sinh trưởng đến khi khai thác được của chúng sẽ rất dài. Tuy nhiên, việc chuyển đổi một phần rừng nguyên liệu sang trồng rừng gỗ lớn là xu hướng tất yếu trong bối cảnh về tương lai nhu cầu tiêu thụ sản phẩm gỗ nguyên liệu trong nước dần bão hòa, nhu cầu xuất khẩu tăng cao.
Tuy nhiên, với những bất lợi như đã nói ở trên thì để phát triển rừng gỗ lớn cần thay thế tư duy trồng rừng hiện nay, cải thiện diện tích trồng rừng sản xuất nhằm tiến tới một nền công nghiệp chế biến gỗ phát triển, nhất thiết phải có sự hỗ trợ một cách hệ thống và mạnh mẽ từ phía Nhà nước, trong đó đối tượng cần được hỗ trợ nhất chính là các chủ rừng. Điều này cần được nghiên cứu thực hiện ngay từ nhiệm kỳ 2016 - 2020 thì mới hy vọng những năm sau Bắc Kạn có rừng gỗ lớn.
Chứng chỉ rừng FSC là chứng chỉ hệ thống các tiêu chuẩn về chứng nhận nguồn gốc gỗ cho các nhà khai thác do Hội đồng quản trị rừng quốc tế cấp. Quá trình đánh giá cấp chứng chỉ rừng FSC thường do một số tổ chức quốc tế có uy tín tổ chức thực hiện. Từ việc quy định mua gỗ nguyên liệu phải là gỗ được khai thác từ những khu rừng có sự quản lý tốt, được cấp chứng chỉ FSC, đến việc vận chuyển gỗ về nhà máy, trong quá trình sản xuất (cưa, xẻ, sấy, lắp ráp, đóng gói), lưu kho và phân phối đều phải được ghi chép, đánh dấu, mã hóa, dán nhãn…
Việc đánh giá cấp chứng chỉ dựa trên sự tuân thủ các nguyên tắc và tiêu chí quản lý rừng bền vững được quốc tế thừa nhận (10 nguyên tắc và 54 tiêu chí). Chứng chỉ có giá trị trong 5 năm, hàng năm cơ quan cấp chứng chỉ tiến hành kiểm tra đơn vị được cấp chứng chỉ về sự tuân thủ các tiêu chí rừng bền vững.
Trong trường hợp tổ chức được cấp chứng chỉ không tuân thủ theo đúng các tiêu chuẩn quy định về quản lý rừng bền vững thì chứng chỉ sẽ bị thu hồi. Các doanh nghiệp quản lý kinh doanh rừng đạt chứng chỉ FSC quốc tế đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, có điều kiện mở rộng vào thị trường EU, Mỹ đầy tiềm năng. Đặc biệt, gỗ có chứng chỉ FSC đạt được giá cả tối ưu, cao hơn so với giá bán gỗ thông thường tại cùng thời điểm từ 20 - 30%.
Thông tin từ Chi cục Lâm nghiệp Bắc Kạn cho biết, trước đây Công ty Lâm nghiệp Bắc Kạn đã từng tiếp cận đặt vấn đề với tỉnh cho triển khai thực hiện rừng được cấp chứng chỉ FSC. Thực tế, nhiều diện tích rừng do công ty vay vốn Ngân hàng Phát triển để trồng đã đạt cơ bản các tiêu chí do FSC đặt ra. Tuy nhiên, vì làm chứng chỉ rừng cần phải thuê đơn vị độc lập thực hiện với nhu cầu kinh phí lớn nên việc này công ty cũng chưa triển khai được.
Việc thực hiện chứng chỉ rừng FSC đã không còn là mới trong cả nước. Đơn cử như Quảng Trị, tỉnh đầu tiên có Hội các nhóm hộ có chứng chỉ rừng, là địa phương để Bắc Kạn học tập. Hội này của Quảng Trị đã có 118 thành viên là các nông dân có diện tích 316 héc ta rừng. Rõ ràng về lý thuyết, với phong trào trồng rừng mạnh mẽ như hiện nay cùng với chủ trương, chính sách hỗ trợ phát triển rừng của Đảng bộ tỉnh thì việc thực hiện chứng chỉ FSC là điều hoàn toàn có thể được đối với Bắc Kạn.
Chính vì lẽ đó, UBND tỉnh đã định hướng sẽ bước đầu tạo điều kiện hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng chứng chỉ rừng FSC, sau đó hỗ trợ và khuyến khích người dân kinh doanh rừng bền vững và xây dựng được chứng chỉ rừng FSC; phấn đấu đến 2025 có khoảng 20.000 héc ta rừng được cấp chứng chỉ này.
Để thực hiện điều đó, trước hết cần định hướng cho các doanh nghiệp như Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Bắc Kạn hay Công ty Cổ phần Sahabak; kêu gọi các doanh nghiệp trồng rừng… thực hiện rừng chứng chỉ FSC. Về lâu dài, thực hiện rừng gỗ lớn và chứng chỉ rừng FSC là xu hướng tất yếu. Vì thế, nếu định hướng, thực hiện càng sớm thì mũi nhọn lâm nghiệp của Bắc Kạn sẽ ngày càng phát triển, đi đúng lộ trình tái cơ cấu đặt ra. (Báo Bắc Kạn 6/11) đầu trang(
Công ty TNHH MTV Lâm Công nghiệp Long Đại (Công ty Long Đại) được giao và thuê gần 100 nghìn ha rừng và đất rừng để sản xuất kinh doanh. Trong khi ở nhiều nơi, dù rừng đã có chủ nhưng vẫn bị tàn phá, suy kiệt nặng nề thì vốn rừng của Công ty Long Đại không ngừng phát triển.
Từ mô hình này cho thấy, việc sắp xếp đổi mới và nâng cao hiệu quả của công ty lâm nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 30-NQ/TW của Bộ Chính trị mang lại thành công khi trách nhiệm được gắn liền với lợi ích của các bên.
Mới đây, vào đầu tháng 10-2014, PV có dịp tháp tùng Đoàn công tác của Ban Kinh tế Trung ương do ông Vương Đình Huệ, Trưởng ban dẫn đầu đến khảo sát, kiểm tra tình hình thực hiện Nghị quyết 30-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp đổi mới và phát triển nâng cao hiệu quả của công ty nông, lâm nghiệp tại Công ty Long Đại.
Được biết, sau nhiều năm phát triển với bao thăng trầm, Công ty Long Đại đã tạo ra được một cơ chế khoán, quản khá chặt chẽ và khoa học, vừa giữ được vốn rừng, vừa tạo điều kiện để rừng phát triển, ổn định sản xuất và đời sống cho hàng nghìn lao động và hộ nông dân. Và thực tế ở Long Đại đã cho thấy, khi người dân ý thức rõ lợi ích thiết thực của mình từ rừng, thì họ sẽ phát huy tối đa trách nhiệm bảo vệ và phát triển diện tích rừng được giao, như một người chủ thực sự.
PV gặp vợ chồng chị Bùi Thị Ngân, có nhà ở thị trấn Quán Hàu, huyện Quảng Ninh, được nhận khoán rừng của Lâm trường Vĩnh Long. Hộ gia đình chị được nhận khoán chăm sóc, khai thác 2,5ha thông nhựa, tổng cộng có 2.400 cây. Sau cơn bão số 10, nay chỉ còn khoảng 2/3 số cây. Thông ở đây cây nào cũng được đánh số và có hồ sơ riêng để theo dõi.
Mấy năm nay, khoảnh rừng này đã gắn bó với bao nỗi vui buồn của nhà chị. Bởi toàn bộ cuộc sống gia đình, từ bữa ăn hàng ngày đến chuyện học hành của con cái, tu sửa nhà cửa... đều trông vào đó như nhà nông cậy vào thửa ruộng của mình.
Thế nên, vợ chồng chị chăm rừng từng li từng tí: Thực bì luôn được dọn sạch, cây nào có hiện tượng sâu bám là lập tức diệt trừ, những ngày nhựa đầy bát, đêm nào chồng chị cũng vào rừng ngủ để phòng mất cắp. Bởi thế, thu nhập của vợ chồng chị mỗi tháng luôn giữ ở mức gần 10 triệu đồng, trong 9 tháng năm nay có sụt giảm hơn mọi năm vì số cây ít và giá thu mua hạ, nhưng cũng đủ để trang trải cuộc sống.
Vợ chồng chị Ngân là một trong số hàng trăm, hàng nghìn hộ dân khác đang tham gia nhận khoán rừng của Công ty Long Đại và có được cuộc sống thật sự ổn định. Theo Giám đốc Chi nhánh Lâm trường Vĩnh Long Đặng Thanh Cương, đơn vị này quản lý 4.080ha rừng trong đó có 1.700ha keo tràm và 1.300ha thông nhựa. Lực lượng công nhân chỉ có 65 người, nhưng số lao động “vệ tinh” như vợ chồng chị Ngân nhận khoán trồng keo tràm và khai thác nhựa thông có gần 500 hộ, thuộc 8 xã ở thành phố Đồng Hới và huyện Quảng Ninh.
Xã Sơn Lộc, huyện Bố Trạch nơi có gần nửa số dân với hơn 200 hộ tham gia nhận khoán bảo vệ, khai thác rừng thông và cao su từ Công ty Long Đại. Chủ tịch UBND xã Phan Thị Hoa cho biết: Liên kết với công ty để nhận khoán rừng là một hướng đi đúng và rất hiệu quả để giải quyết một lúc hai vấn đề vốn rất nan giải của địa phương bấy lâu. Đó là giảm áp lực phá rừng và tạo công ăn việc làm, thu nhập ổn định cho bà con. Với mức thu nhập bình quân 3-4 triệu đồng/người/tháng, đời sống một bộ phận không nhỏ người dân trong xã được nâng lên rõ rệt.
Có thể nói, Công ty Long Đại đã tạo cơ chế xã hội hóa để huy động đông đảo lực lượng “vệ tinh” tham gia làm chủ rừng, cùng doanh nghiệp quản lý, khai thác, chịu trách nhiệm và chia sẻ quyền lợi từ rừng. Họ là những hộ nông dân các địa phương ở ven rừng, là con em đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa vốn quen sống bằng cách phát- đốt- cốt- trỉa và khai thác lâm sản, từng làm “đau đầu” cơ quan quản lý rừng và chính quyền địa phương.
Đến nay, có hơn 1.500 hộ tham gia trồng, bảo vệ và khai thác ở 5 lâm trường thuộc công ty với tổng diện tích hơn 16 nghìn ha và với cơ chế khoán như vợ chồng chị Ngân ở Lâm trường Vĩnh Long, bình quân mỗi lao động diện “vệ tinh” có thu nhập ổn định khoảng 3 triệu đồng/tháng. Ngoài ra, nếu lao động “vệ tinh” nào tích cực, làm tốt sẽ được xét tuyển vào quân số chính thức của công ty, với quyền lợi như các cán bộ, công nhân khác.
Ông Phan Đình Linh, Chủ tịch, kiêm Giám đốc Công ty Long Đại cho biết, hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị trong 9 tháng năm 2014 khó khăn hơn mọi năm. Tuy nhiên, có dự báo trước nên công ty đã có những giải pháp đối phó, từng bước tháo gỡ khó khăn, nhiều chỉ tiêu chủ yếu đạt kế hoạch đề ra.
Trong đó, khai thác thu mua nhựa thông được 1.100 tấn/KH 1.400 tấn, đạt 75%; khai thác thu mua gỗ nguyên liệu được 43.000 tấn/KH 30.000 tấn, đạt 140%; trồng mới 154 ha cao su/KH 150 ha, đạt 102%; kim ngạch xuất khẩu 1,23 triệu USD, xấp xỉ 100% KH. Đặc biệt công ty đã nộp ngân sách được 15,6 tỷ đồng/KH 11 tỷ đồng, đạt 142%...
Mô hình thành công của Công ty Long Đại là hiệu quả quản lý bảo vệ rừng ngày càng tốt hơn. Công ty có gần 60 nghìn ha rừng tự nhiên được giao cho hai đơn vị quản lý, bảo vệ là Lâm trường Trường Sơn và Lâm trường Khe Giữa. Trong khi tình trạng phá rừng tự nhiên ở nhiều nơi đang diễn biến phức tạp, thì với vốn rừng giàu gỗ quý như Long Đại, nguy cơ ấy luôn ở mức cao.
Có lần, PV ngược tỉnh lộ 11 từ nhánh đông lên nhánh tây đường Hồ Chí Minh, đi sâu vào rừng của Lâm trường Trường Sơn sát biên giới Việt- Lào. Đơn vị này đang quản lý 35.500 ha rừng tự nhiên với nhiều loại gỗ quý như lim, gụ, sến, táu... Ngay sát nhánh tây Hồ Chí Minh, những cây lim cao hai ba chục mét, đường kính hơn một mét bình yên đứng thẳng tắp. Để giữ được những khu rừng như thế người chủ rừng Long Đại có lúc phải đổ cả máu.
Hiếm có nơi đâu công tác bảo vệ rừng được quan tâm thường trực như ở đây. Từ ngoài cửa rừng vào PV đếm có đến bốn trạm bảo vệ. Trong tổng số hơn 100 cán bộ nhân viên của Lâm trường Trường Sơn, thì lực lượng bảo về rừng đã gần một nửa, được chốt ở 11 trạm với trang thiết bị cần thiết theo luật định, có đầy đủ phương tiện để cơ động và phối hợp hoạt động.
Để bảo vệ rừng thực sự hiệu quả, Công ty Long Đại có cơ chế giám sát khai thác hết sức nghiêm ngặt. Tất cả những cây được đưa vào khai thác, ngoài tiêu chuẩn, chất lượng cây, phải đáp ứng đầy đủ các yếu tố về mật độ rừng, lộ tuyến vận tải, phương án khai thác nhằm hạn chế thấp nhất việc ảnh hưởng đến thảm rừng, tán rừng, vì vậy chỉ vài năm sau là có thể mở cửa rừng khai thác trở lại.
Tuy nhiên, để mô hình Long Đại nói riêng và loại hình công ty lâm nghiệp nói chung có thể vận hành tốt hơn, cần thiết phải có những điều chỉnh trong chính sách quản lý ở cả tầm Trung ương và địa phương. Theo ông Giám đốc Công ty Long Đại, một công ty lâm nghiệp có thể đứng vũng được, trước hết phải có quy mô về diện tích đủ lớn (hơn 50 nghìn ha) để có thể tổ chức sản xuất kinh doanh và thực hiện quá trình tập trung hóa sản xuất các loại sản phẩm hàng hóa, gắn vùng nguyên liệu với nhà máy chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Đồng thời, khi nhà nước đã cho doanh nghiệp thuê đất thì phải bảo đảm tính ổn định, bởi có ổn định thì doanh nghiệp mới xây dựng được quy hoạch sản xuất và bảo đảm tư liệu sản xuất để phục vụ chuyên môn hóa trong sản xuất kinh doanh. Mặt khác, sản xuất kinh doanh ngành lâm nghiệp mang tính đặc thù cao: Điều kiện khó khăn, địa bàn rộng, xa xôi, địa hình phức tạp, đất rừng chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, nơi sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số.
Vì vậy, trong chính sách tài chính, nhà nước cần có sự ưu tiên, như việc hoàn thiện thủ tục cho thuê, có miễn giảm thuế đất, nhất là với diện tích đất rừng tự nhiên. Ngoài ra, đề nghị nhà nước cho chủ trương công ty lâm nghiệp thực hiện cổ phần hóa đối với diện tích rừng trồng theo hình thức nhà nước nắm cố phần chi phối từ 65% trở lên nhằm thu hút nguồn vốn... (Báo Quảng Bình 6/11) đầu trang(
Từng là “trùm lâm tặc”, 10 năm trốn lệnh truy nã và từng lĩnh án 10 năm tù, nhưng khi được trả tự do, anh đã quyết tâm trồng rừng từ hai bàn tay trắng để… “trả nợ” rừng.
Chỉ sau 8 năm, anh đã trở thành tỷ phú nức tiếng với hơn 433ha rừng. Anh là Trịnh Văn Yên, sinh năm 1964 ở khu II, thị trấn Kỳ Sơn (Kỳ Sơn, Hòa Bình).
Sau nhiều lần hẹn, PV mới gặp được anh Yên. Tiếp PV tại nhà riêng, anh Yên cười bảo: “Không phải tôi “chảnh” đâu, mà vì bận quá, ngày nào tôi cũng ở trong rừng, khi thì kiểm tra rừng trồng mới, lúc thì hướng dẫn công nhân khai thác gỗ, giao dịch với bạn hàng, có khi nửa đêm mới về nhà. Tôi không muốn mang tiếng thất hẹn”.
Nhìn người đàn ông có nước da ngăm đen, cách nói chuyện cởi mở, ít ai nghĩ rằng anh đã từng lầm đường lạc lối. Yên là con thứ hai trong gia đình có 4 anh em, từ nhỏ đã rất thông minh, nhanh nhẹn. Do nhà nghèo nên học hết lớp 8, Yên phải bỏ học theo đàn anh đi chặt gỗ thuê phụ giúp gia đình. Hễ ở đâu có gỗ quý, là ở đó có Yên.
Làm “lâm tặc” được hơn 2 năm, sau khi đã học được “mánh khóe” của các trùm buôn gỗ lậu và thấy nghề này kiếm tiền dễ như bỡn, Yên liền liên kết với một số người có máu mặt và bước chân vào nghề buôn gỗ lậu.
Nhờ sự thông minh, khôn khéo và một chút liều lĩnh, chỉ sau 2 năm hành nghề, Yên đã nổi tiếng là người mạnh tay trong những phi vụ buôn bán “khủng”. Yên cho biết, khi đó buôn gỗ rất lãi, đi 3 chuyến bị bắt 1 chuyến vẫn lãi hàng trăm triệu đồng. Vì vậy mà sau vài năm buôn gỗ lậu, Yên đã thành “đại gia”, có xe máy đẹp, nhà cao cửa rộng.
Nhưng người đời có câu: “Ăn của rừng, rưng rưng nước mắt”. Năm 1988, Yên ký được một hợp đồng lớn ở Chương Mỹ, đưa gỗ từ Sơn La về trót lọt, nhưng khách hàng lại chê gỗ xấu, không đúng hợp đồng nên không mua. Yên lẳng lặng đưa gỗ về với ý định sẽ đổi lô gỗ khác, song để ký được hợp đồng, trước đó Yên phải qua đội quân cò mồi, không bán được gỗ đồng nghĩa với việc đội này không có tiền hoa hồng.
Bực “thái độ” của khách hàng nọ, nhóm cò mồi gồm 6 người đã ép Yên đi cùng đến đòi tiền hoa hồng. Thấy vị khách không đồng ý, nhóm cò mồi xông vào cướp sạch tài sản. Vụ việc xảy ra, công an vào cuộc, chỉ sau vài giờ 6 người đã bị tóm gọn, duy chỉ còn Yên.
Vài ngày sau thì lệnh truy nã Trịnh Văn Yên được phát đi toàn quốc. “Mặc dù tôi không tham gia vụ cướp mà chỉ liên lụy, nhưng lúc đó còn trẻ tuổi, cứ thấy công an lùng sục là sợ nên tôi đã trốn đi thật xa” – anh Yên kể lại.
Trốn ở Quảng Ninh một thời gian, Yên vượt biên sang Trung Quốc, sau đó định trốn sang Hồng Kông nhưng không thành. Năm 1994, Yên về nước và ẩn náu ở vùng núi Hàm Yên (Tuyên Quang), đổi tên, thay họ, bắt tay vào trồng cam và lập gia đình. Dù vậy, Yên luôn phải sống trong lo âu, thấp thỏm, 10 năm trốn truy nã, chưa một đêm nào yên giấc.
Năm 1998, nghĩ rằng cái tên Trịnh Văn Yên đã không còn trong sổ sách, cộng với nỗi nhớ nhà, đặc biệt là muốn về thắp nén hương tạ tội với bố nên Yên quyết định về quê.
“Biết bố mất mà không về chịu tang được, tôi ân hận lắm. Hôm đó, vừa thắp nén nhang cho bố xong thì công an ập vào bắt, rồi tôi bị kết án 10 năm tù giam” – giọng Yên chùng xuống khi nhớ lại quá khứ buồn.
“Chưa hết “sốc” vì phải ngồi tù tới 10 năm, tôi lại phải đón nhận thêm một cú “sốc” khác. Mặc dù đã có với nhau một đứa con trai, nhưng khi vợ tôi cầm đơn lên trại giam đòi ly dị, dù rất buồn, tôi cũng không còn cách nào khác là phải ký vào đơn, lấy đó làm động lực cải tạo tốt để sớm được trả tự do làm lại cuộc đời” – anh Yên xúc động kể lại.
Nhờ nhanh nhẹn nên khi ở trong trại, Yên được phân làm đội trưởng đội sản xuất, chuyên chăn nuôi lợn, gà, dê và khai thác đá. Do có thành tích cải tạo tốt nên năm 2005, anh được đặc xá tha trước thời hạn 3 năm.
“Hôm bước chân ra khỏi cổng trại, tôi cứ ngoái đầu lại nhìn hàng keo, xà cừ trong khuôn viên và nghĩ, ngày mới vào trại hàng cây kia chỉ bằng cán dao, nay đã to bằng cái thùng. Nếu mình trồng hàng nghìn, hàng triệu cây thì chắc chắn sẽ thành một cánh rừng và mang về giá trị rất lớn. Từ suy nghĩ đó, tôi đã quyết tâm trồng rừng” – Yên nói.
Về địa phương, vượt qua những mặc cảm ban đầu, anh xin thầu lại 1,3ha hồ của HTX Đoàn Kết và 4ha ao của một số người dân ở thị trấn Kỳ Sơn để thả cá, nuôi gà, vịt. Năm đầu, Yên thả 1 tấn cá giống, nuôi 200 con gà, vịt, nhưng đến gần kỳ thu hoạch thì lũ ập đến làm vỡ ao hồ, cá trôi hết sạch. Trắng tay, nhưng Yên không nản.
Năm 2006, với 30 triệu đồng vay của ngân hàng, anh đầu tư cống xả, thoát lũ khi có mưa lớn và tiếp tục thả 2 tấn cá giống, nuôi 1.500 con gà vịt và vụ đó Yên thu về gần 10 tấn cá thịt, hàng tấn gà, vịt. Có vốn, anh mạnh dạn thầu 6ha đồi núi trọc và bắt tay vào trồng rừng, trong đó anh khoanh 2ha nuôi hơn 200 con lợn, còn lại trồng keo tai tượng.
Sở dĩ anh chọn trồng keo tai tượng vì keo nhanh lớn, thu hồi vốn nhanh và đặc biệt là cây keo rất hợp với chất đất ở đây. Cũng trong năm đó, hạnh phúc đã đến với anh khi chị Vũ Thị Ngần, quê Hải Dương đã vượt qua mọi dị nghị lấy anh làm chồng. Có thêm động lực, Yên càng quyết chí làm ăn để trả nợ đời...
Thấy chăn nuôi hiệu quả, anh đầu tư xây dựng trang trại nuôi từ 5.000 – 10.000 gà đẻ trứng và lấy thịt, đồng thời thầu và mua thêm gần 300ha đồi trọc để trồng keo.
“Hồi đó, mỗi năm tôi thu khoảng 400 – 500 triệu đồng từ chăn nuôi, mới đây tôi nuôi thêm khoảng 300 con dê, lợn rừng, trung bình thu nhập hơn 1 tỷ đồng/năm rồi lại “thả” tất chỗ tiền đó lên rừng” – anh Yên vui vẻ nói.
Đến cuối năm 2008, Yên đã có trong tay 300ha rừng và đến nay là 433ha, trong đó có khoảng 10ha gỗ lát, sưa. Rừng trồng đến đâu, anh cho máy múc mở đường tới đó.
“Để có diện tích rừng lớn như vậy, tôi đã đầu tư vào đây hơn 30 tỷ đồng và tuân thủ mô hình “lấy ngắn nuôi dài”. Vừa qua, tôi đã ký được một hợp đồng lớn với đối tác nên đang cho khai thác khoảng 50ha, dự kiến thu hơn 3 tỷ đồng” – anh Yên cho biết.
Với chừng đó diện tích rừng, hiện anh Yên tạo việc làm cho khoảng 100 lao động thời vụ và 15 – 20 lao động thường xuyên với mức lương 3 – 5 triệu đồng/người/tháng. Nhiều người đã gắn bó với anh 5 – 6 năm, từ hộ nghèo không có việc làm, nay đã xây được nhà cửa khang trang như anh Lê Văn Thắng, xóm Văn Tiến; anh Nguyễn Văn Thi, xóm Đồng Bến, xã Dân Hạ (Kỳ Sơn)… Ngoài ra, Yên còn nhận nhiều người có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là những người từng có thời gian lầm lỡ vào làm việc tại trang trại.
Cũng tại trang trại, PV gặp anh Nguyễn Hữu Bình ở Tây Tựu (Bắc Từ Liêm, Hà Nội). Anh Bình bị kết án 20 năm tù, cùng cải tạo ở trại Ba Sao (Kim Bảng, Hà Nam) với anh Yên và năm 2012 được trả tự do.
Nhưng về quê, Bình không có việc làm và không hòa nhập được với cộng đồng nên cuộc sống rất khó khăn. Biết chuyện, anh Yên đã rủ Bình lên Kỳ Sơn rồi cho 100 triệu đồng làm vốn, 1ha để trồng rừng, làm trang trại.
“Nếu không có vợ chồng anh Yên giúp đỡ, không biết cuộc sống của tôi sẽ như thế nào. Mang tiếng là “lâm tặc”, “trùm” buôn gỗ lậu nhưng anh Yên rất hiền, sống tình cảm, công nhân rất quý...” – anh Bình xúc động nói.
Nhờ sự nỗ lực vươn lên và có nhiều đóng góp cho quê hương, anh Trịnh Văn Yên đã được các cấp, ngành tặng nhiều bằng khen và nhiều năm liền là nông dân xuất sắc cấp huyện, tỉnh.
Đặc biệt, vừa qua anh vinh dự được Bộ trưởng Bộ Công an tặng bằng khen do có nhiều thành tích tổ chức và thực hiện công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù... (Nông Thôn Ngày Nay 6/11) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||