|
Ngày 05 tháng 11 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Trong những năm qua, tình trạng phá rừng tại các tỉnh Tây Nguyên diễn biến rất phức tạp. Mặc dù các ngành chức năng đã tăng cường kiểm tra, truy quét, nhưng đến nay, các vi phạm về rừng vẫn chưa chấm dứt, gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế, môi trường và trật tự an toàn xã hội.
Theo báo cáo của UBND tỉnh Gia Lai, trong chín tháng qua, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện và xử lý 745 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng; trong đó có 28 vụ phá rừng; 43 vụ khai thác rừng; 646 vụ mua bán, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép... Có nhiều vụ việc, khi các đối tượng bị phát hiện đã không ngần ngại dùng vũ khí tấn công lực lượng thi hành công vụ.
Vụ việc gần đây nhất là vào ngày 15-9, trong lúc Tổ Kiểm lâm Trạm Ia Blứ, thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Chư Pưh đang tiến hành tuần tra kiểm soát theo kế hoạch phát hiện các đối tượng đang vận chuyển gỗ trái phép nên tổ tuần tra tiến hành kiểm tra, yêu cầu đưa toàn bộ tang vật về trạm xử lý.
Trong lúc tổ công tác chuẩn bị vận chuyển tang vật về trạm, các đối tượng nói trên quay lại hiện trường cùng 10 đối tượng đi xe mô-tô, cầm theo hung khí đến nhằm phi tang chứng cứ. Các đối tượng này đã tiến công, gây thương tích cho một kiểm lâm viên.
Tại tỉnh Lâm Ðồng, mới đây nổi lên tình trạng phá rừng ở khu vực giáp ranh hai tỉnh được khoanh vùng thuộc địa bàn các huyện Ðức Trọng, Di Linh (Lâm Ðồng) và Hàm Thuận Bắc, Bắc Bình (Bình Thuận). Ðể khai thác gỗ trái phép, các đối tượng phá rừng tổ chức thành từng nhóm, theo đường mòn từ huyện Ðức Trọng xâm nhập vào các tiểu khu có gỗ quý.
Ngoài hoạt động có tổ chức, các nhóm này còn trang bị nhiều phương tiện chuyên dụng để chở gỗ trái phép. Hoạt động của các đối tượng này rất liều lĩnh, công khai, sẵn sàng chống trả lực lượng chức năng khi bị phát hiện.
Theo thống kê, trong những tháng đầu năm 2014, lực lượng chức năng tỉnh Lâm Ðồng đã thực hiện nhiều đợt truy quét, thu giữ nhiều phương tiện của "lâm tặc" và hàng chục khối gỗ khai thác trái phép. Tuy nhiên, tình trạng phá rừng tại đây vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt.
Trên cơ sở kiểm tra, rà soát, các ngành chức năng đã tham mưu cho UBND tỉnh Ðác Nông ra quyết định thu hồi 13 dự án đầu tư sản xuất nông - lâm nghiệp không hiệu quả, trong đó tám dự án bị thu hồi toàn bộ và năm dự án bị thu hồi một phần với diện tích thu hồi là 9.026,1 ha. Tỉnh cũng chỉ đạo các đơn vị thanh lý 14 hợp đồng liên doanh, liên kết sai quy định, không hiệu quả với diện tích 4.387,5 ha.
Ngoài việc các đơn vị, doanh nghiệp được giao đất, giao rừng đã buông lỏng công tác quản lý dẫn đến diện tích rừng tự nhiên bị chặt phá với diện tích lớn và hàng chục nghìn héc-ta đất lâm nghiệp bị người dân lấn chiếm trái phép, qua kiểm tra, rà soát các ngành chức năng của tỉnh còn phát hiện 1.653 vụ lấn chiếm đất lâm nghiệp với diện tích 2.681 ha; đồng thời phát hiện 127 vụ tự ý chuyển đổi mục đích trái phép với diện tích 28 ha, trong đó các cơ quan có thẩm quyền chỉ mới xử phạt vi phạm hành chính 16 vụ.
Nghiêm trọng nhất là nạn phá rừng tại tỉnh Ðác Lắc, một trong những địa phương để mất rừng lớn trên địa bàn Tây Nguyên. Chỉ trong năm năm (từ 2009 đến 2014), các cơ quan chức năng của địa phương này đã phát hiện và xử lý hơn 10.000 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, bình quân có năm vụ vi phạm/ngày. Trong số các trường hợp vi phạm, cơ quan chức năng đã xử lý hành chính hơn 9.800 vụ, khởi tố hình sự 173 vụ, tịch thu hơn 19.000 m3 gỗ.
Tổng diện tích rừng bị phá, lấn chiếm trái phép trên địa bàn từ năm 2009 đến nay là hơn 26.500 ha, trong khi đó các ngành chức năng của Ðác Lắc mới chỉ thu hồi được gần 2.000 ha để trồng lại rừng...
Chỉ tính riêng sáu tháng đầu năm nay, lực lượng chức năng của tỉnh đã kiểm tra, xử lý 1.207 vụ vi phạm; trong đó, 17 vụ phá rừng trái phép với diện tích 10 ha; 36 vụ khai thác rừng trái phép; 819 vụ vận chuyển, mua bán, cất giữ, chế biến trái pháp luật gỗ, lâm sản... Cơ quan chức năng đã khởi tố hình sự bảy vụ, tịch thu 1.458 phương tiện và 1.963 m3 gỗ các loại; thu phạt sau xử lý 10,9 tỷ đồng.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến nạn phá rừng là do chính quyền địa phương có rừng chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm được giao trong quản lý bảo vệ rừng. Theo Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Gia Lai Nguyễn Nhĩ, có một số vụ việc phức tạp, chưa được xử lý triệt để... đã tạo nên tiền lệ xấu trong việc chấp hành pháp luật bảo vệ rừng; một số cán bộ, công chức trong lực lượng bảo vệ rừng còn thiếu trách nhiệm, thậm chí bao che, tiếp tay cho lâm tặc nên còn sơ hở để các đối tượng làm ăn phi pháp lợi dụng thực hiện hành vi vi phạm.
Bên cạnh đó, việc xử lý các đối tượng "đầu nậu" phá rừng, các băng, nhóm, chủ đường dây chuyên buôn bán lâm sản trái phép chưa kiên quyết và triệt để; các vụ án hình sự chưa được xử lý kịp thời, còn tồn đọng nhiều.
Ðể phòng, chống các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, theo Cục Kiểm lâm, cần kiên quyết hơn nữa trong việc điều tra, triệt phá những "đầu nậu", chủ đường dây buôn bán lâm sản, các đối tượng mua bán, sang nhượng đất rừng trái pháp luật. Rà soát, xử lý dứt điểm các vụ án tồn đọng; đặc biệt là các vụ án điển hình để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Nâng cao trách nhiệm quản lý rừng tận gốc của chủ rừng và chính quyền cấp xã. Kiên quyết xem xét, xử lý trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân, người đứng đầu địa phương để xảy ra phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác, vận chuyển gỗ trái phép tại địa bàn được giao quản lý mà không kịp thời phát hiện, báo cáo lên cơ quan cấp trên. Quản lý chặt chẽ tình trạng dân di cư tự do cả nơi đi và nơi đến; tuyên truyền, vận động, ổn định đời sống của người dân để giảm tình trạng dân di cư tự do.
Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan kiểm tra, giám sát thực hiện chi trả tiền giao khoán quản lý bảo vệ rừng đúng quy định theo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng được xây dựng. (Nhân Dân 5/11) đầu trang(
Ông Trang Quang Thành, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đắk Lắk, cho biết qua kiểm kê rừng, hiện rừng tự nhiên ở Đắk Lắk còn trên 476.320ha.
Như vậy, hơn 10 năm qua, diện tích rừng tự nhiên của tỉnh đã giảm gần 74.170ha. Nhiều địa phương như Cư Kuin, Krông Búk, Buôn Hồ hiện không còn diện tích rừng tự nhiên.
Ngoài việc chuyển đổi trên 24.000ha rừng, đất lâm nghiệp sang trồng cao su, xây dựng thủy điện và các mục đích phi nông nghiệp khác (xây dựng, giao thông, thủy lợi), phần lớn diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp do đồng bào các dân tộc di dân ngoài kế hoạch đã chặt phá, lấn chiếm trái phép, hình thành các khu dân cư, khu sản xuất tự phát. Trong khi đó, nhiều chủ rừng thiếu sự phối hợp để bảo vệ rừng, không kiểm tra, kiểm soát toàn bộ lâm phần quản lý.
Một số địa phương, chủ rừng bao che, làm ngơ để lâm tặc, người dân khai thác tài nguyên rừng, lấn chiếm đất rừng. Bên cạnh đó, vai trò quản lý nhà nước về rừng của cấp xã, huyện tại một số địa phương chưa thực hiện đầy đủ. Các địa phương thiếu đầu tư trong công tác quản lý bảo vệ rừng, coi đây là nhiệm vụ của ngành nông nghiệp, của chủ rừng.
Vì vậy, việc tuyên truyền văn bản của Đảng, Nhà nước về rừng chưa chú trọng. Ở những vùng trọng điểm phá rừng, lấn chiếm đất rừng nghiêm trọng như Ea Súp, Buôn Đôn, Cư M’gar, chính quyền địa phương thiếu kiên quyết trong chỉ đạo, xử lý còn lúng túng, nhất là chưa có biện pháp ngăn chặn từ gốc, gây hậu quả kéo dài.
Hiện tỉnh Đắk Lắk đang thực hiện thống kê, rà soát diện tích rừng bị phá, lấn chiếm. Theo đó, địa phương lập kế hoạch phá bỏ hoa màu, lán trại, trồng lại rừng đối với diện tích bị phá, lấn chiếm; xử lý nghiêm các trường hợp lấn chiếm, xâm phạm đất rừng đặc biệt xử lý các đối tượng cầm đầu, xúi giục người dân phá rừng.
Địa phương đã mở các đợt kiểm tra truy quét lâm tặc, những tụ điểm phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác, chế biến, mua bán, sử dụng, vận chuyển lâm sản trái phép. Đồng thời, Đắk Lắk quy trách nhiệm cá nhân của chủ rừng, địa phương có rừng.
Ngoài việc từng bước đưa đồng bào các dân tộc di cư đến ngoài kế hoạch vào sinh sống, sản xuất ở các điểm quy hoạch, tỉnh Đắk Lắk thực hiện tốt quy chế phối hợp bảo vệ rừng giữa các lực lượng công an, quân đội, kiểm lâm, chủ rừng nhằm ngăn chặn, xử lý việc xâm hại rừng, đất lâm nghiệp có hiệu quả. (VietnamPlus 4/11) đầu trang(
Chiều 4-11, tin từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Phước cho hay từ tin báo của người dân, chi cục phối hợp với lực lượng Công an tỉnh vừa phát hiện, thu giữ khối lượng gỗ lớn quý hiếm được cất giấu trên một khu vực đất hoang rộng khoảng 3ha thuộc địa bàn thôn Đắk Lim, xã Đắk Ơ, huyện Bù Gia Mập.
Gỗ được cất giấu thành 3 điểm tại khu vực trên với 33 hộp gỗ xẻ gõ mật, bằng lăng, trai, sao có khối lượng 15m3 và 13 lóng gỗ tròn sao và da đá có khối lượng gần 2m3.
Vào thời điểm phát hiện, kiểm tra tại hiện trường gỗ không có người quản lý, không có chủ sở hữu đến nhận, gỗ không có dấu búa kiểm lâm và các ký hiệu khác thể hiện nguồn gốc gỗ.
Cơ quan chức năng lập biên bản, thu gom số gỗ trên về trụ sở Hạt Kiểm lâm huyện Bù Gia Mập để điều tra, xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật. (Tuổi Trẻ 5/11) đầu trang(
3-11, ông Lê Viết Mai, Đội trưởng Đội Kiểm lâm Cơ động số 1 tỉnh Quảng Nam cho biết: Đoàn kiểm tra liên ngành gồm Phòng pháp chế Thanh tra Chi cục Kiểm lâm tỉnh, Thanh tra chuyên ngành của Sở NN&PTNT tỉnh và Đội Kiểm lâm Cơ động số 1 tỉnh, bất ngờ phục kích đột nhập 4 xưởng cưa tại xã Trà Mai, huyện Nam Trà My phát hiện đến 5 điểm cất giấu gỗ lậu quy mô lớn.
Cụ thể, sau khi Đội nhận thông tin phản ánh của người dân, trong 3 ngày từ 23 đến 25-10, Đội bất ngờ kiểm tra cơ sở mộc của ông Nguyễn Quốc Oanh (thôn 1, xã Trà Mai, huyện Nam Trà My). Tại hiện trường, kiểm lâm phát hiện 137 thanh, phách gỗ với khối lượng hơn 6,3m3 và 347 sản phẩm gỗ với các chủng loại sao đen, giổi, xoan mộc, xoan đào, chò,… toàn bộ số gỗ trên không có nguồn gốc.
Đội kiểm tra tiếp tục phát hiện sát cơ sở mộc của ông Oanh, có một khối lượng gỗ lậu lớn được chôn cất dưới lòng đất, lực lượng chức năng đã thuê xe "khai quật” được gần 9,3m3 gỗ đã xẻ thành phách thuộc các nhóm I và VI.
Tiếp tục kiểm tra cơ sở mộc của ông Trần Văn Tân (thôn 1, xã Trà Mai), tại đây đã phát hiện 101 thanh, phách gỗ gần 6,6m3 với nhiều gỗ thuộc nhóm I. Tại các cơ sở khác như cơ sở chế biến gỗ của ông Nguyễn Hồng Hà, Võ Quang Minh cũng đều chứa chấp, tiêu thụ gỗ lậu. Tổng số gỗ lậu phát hiện tại 4 xưởng cưa và khu vực hơn 382 thanh, phách gỗ và 347 sản phẩm gỗ trái phép với khối lượng hơn 26m3.
Sau khi phát hiện số gỗ lậu trên trong xưởng cưa, Đoàn kiểm tra đã lập biên bản và đưa toàn bộ số gỗ về Hạt Kiểm lâm huyện Nam Trà My cất giữ. Trong biên bản làm việc, các chủ xưởng cưa này khai rằng số gỗ trên đã mua lại của một số người dân khu vực, ngoài ra còn lại là của một số cán bộ địa phương mang đến xưởng để gia công sản phẩm thành phẩm. Chính ông Mai cũng thấy lạ trước việc phát hiện gỗ lậu nhiều như vậy.
"Tôi cũng đặt câu hỏi, Hạt Kiểm lâm Nam Trà My và Kiểm lâm địa bàn hàng tuần, hàng tháng và hàng quý đều có báo cáo tuần tra, kiểm tra địa bàn tại sao không phát hiện ra gỗ lậu được cất giữ trong các xưởng cưa, mộc này? Chúng tôi sẽ làm rõ vấn đề này. Còn trước lời khai của các chủ xưởng cưa, mộc, Đội đã có giấy triệu tập hết 4 chủ xưởng cưa và một số cán bộ bị chủ xưởng "tố” mang gỗ không rõ nguồn gốc đến gia công để làm rõ”, ông Mai nói.
Ông Huỳnh Tấn Đức, Giám đốc Sở NN&PTNT Quảng Nam cho biết: "Sở đã chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh vào cuộc điều tra vụ việc và xử lý theo đúng quy định, nếu đủ điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ chuyển cơ quan điều tra. Ngoài ra, chỉ đạo cho Thanh tra sở thanh tra công vụ làm việc với Hạt trưởng Kiểm lâm, cán bộ nông nghiệp Nam Trà My để xử lý theo đúng tình tiết cụ thể. Đồng thời giao cho ngành chức năng mở rộng truy quét trên phạm vi rộng, kiểm tra ráo riết và siết chặt các xưởng mộc, xử lý nghiêm các xưởng cưa tiêu thụ gỗ lậu”.
Dư luận đang đặt ra câu hỏi, tại sao hàng loạt các cơ sở chế biến gỗ hoạt động công khai liên tục với số lượng gỗ lớn không rõ nguồn gốc, tiêu thụ gỗ bấp hợp pháp mà lại không bị xử lý! (Đại Đoàn Kết 5/11) đầu trang(
Huyện miền núi A Lưới - một trong những khu vực có độ che phủ rừng cao nhất nước tại tỉnh Thừa Thiên Huế - đang đứng trước nguy cơ mất dần tài nguyên đất rừng nếu vẫn có kiểu quản lý “đem con bỏ chợ” như thời gian qua.
Thực hiện Quyết định số 184 – HĐBT năm 1982 và nghị định 2-CP năm 1994, đến năm 2011, UBND huyện và Hạt Kiểm lâm A Lưới đã hoàn tất việc bàn giao đất rừng cho cộng đồng, nhóm hộ và hộ gia đình. Tuy nhiên việc thực hiện sao cho đúng với tinh thần chủ trương của Chính phủ vẫn còn nhiều khúc mắc.
Lúc giao đất, giao rừng, người dân được tuyên truyền rõ về những lợi ích cũng như nghĩa vụ mình phải làm khi nhận rừng. Nhận thức đươc điều đó nên từ năm 2011 đến nay, các nhóm hộ trong 7 thôn thuộc xã Sơn Thủy, A Lưới vẫn đều đặn đi rừng tuần tra hằng tháng, có nhóm còn đi hằng tuần. Điều này làm giảm rõ rệt tỷ lệ tàn phá rừng so với hồi đỉnh điểm năm 2005 (khi lâm tặc bắt đầu sử dụng cưa máy).
Tuy nhiên, sau gần 3 năm thực hiện nghĩa vụ bảo vệ rừng của mình, người dân vẫn chưa mảy may nhận lấy “quả ngọt”, ngược lại còn bị hao công tốn của, phải đối diện nguy hiểm khi chạm trán lâm tặc.
Anh Nguyễn Thanh Bừng, thôn Hợp Thương, xã Sơn Thủy cho biết: “Nhóm của tôi nhận 120 ha rừng xa nhất trong thôn. Bọn tôi mỗi tháng đi tuần tra 2 lần. Đi nhanh nhất là từ 1 ngày 1 đêm mới đến khu rừng mình quản lí (đi bộ là phần lớn), chi phí mỗi người là 50.000 đồng/ngày. Mỗi lần đi tuần tra mất 3 ngày. Nhưng đều đặn đã 3 năm nay chúng tôi chưa nhận được hỗ trợ gì từ chính quyền”.
Từng một lần chạm mặt lâm tặc, anh Hồ Văn Thắm, thôn Cân Tôm, kể lại: “Hôm đó nhóm tôi đi đến khu rừng thì gặp lâm tặc đang cưa cây tại lâm phận của mình. Nhóm đến can ngăn thì lâm tặc hỏi giấy tờ quản lí đất rồi đổi giọng ‘Cái giấy này thì chứng minh được gì ? Đây là rừng tự nhiên nên mày không có quyền can thiệp’ sau đó họ còn đe dọa hành hung nhóm tôi, rồi ngang nhiên kéo cây về”.
Chia sẻ về trường hợp trên, anh Nguyễn Đăng Huy Cường, cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện A Lưới cho biết: “Theo Luật Bảo vệ rừng, người dân có quyền lập biên bản và áp giải người vi phạm cũng như tang vật về cho Hạt Kiểm lâm huyện xử lí. Tuy nhiên vì tâm lý sợ bị tấn công và trả thù, tốn phí vận chuyển mà người dân ngại va chạm với lâm tặc”.
Cho đến năm 2014, hầu hết rừng phòng hộ đều được bàn giao cho người dân. Đây là loại rừng có vai trò trọng yếu trong việc điều hòa nguồn nước, bảo vệ môi trường. Tuy nhiên người dân nhận bảo vệ rừng phòng hộ vừa không được khai thác hơn 20% như theo cam kết luật định, lại vừa không có bất kỳ chính sách hỗ trợ nào.
Anh Hồ Văn Dương (thôn A Xáp) bức xúc: “Chúng tôi đi bảo vệ rừng tốn công tốn của, bây giờ rừng không khai thác được, đất trồng không có thì lấy gì mà sống. Nếu vẫn không có hỗ trợ như vậy thì chúng tôi bỏ rừng”.
Hiện tại, nhiều bà con ở huyện miền núi A Lưới đang phải “đơn thương độc mã” với cuộc chiến giữ rừng. Họ hiện đã không được hỗ trợ về vật chất mà còn cả về mặt pháp lý. Và rừng thì cứ thế… “rụng” dần!
Anh Nguyễn Đăng Huy Cường, cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện A Lưới cũng xác nhận: “Người dân chủ yếu bảo vệ rừng bằng tinh thần trách nhiệm, bởi hiện tại nguồn kinh phí chưa có cho phí dịch vụ môi trường rừng”.
Thực tế này cho thấy, chính quyền đòi hỏi tinh thần trách nhiệm từ người dân là điều khá “xa xỉ” trong bối cảnh kinh tế bà con trong nhóm hộ bám rừng đang cực kì khó khăn như: Rừng không khai thác được - đất trồng của bà con ở khu Tái định cư sau dự án Thủy điện A Lưới (nhiều hộ trong bảo vệ rừng cộng đồng sau khi dự án đến đã phải về ở đây - PV) không đảm bảo cho hoa màu phát triển và hơn hết là không hề có chính sách hỗ trợ người dân bám rừng.
Anh Hồ Văn Thuận, thôn Cân Te tâm sự: “Chúng tôi đã có ý định trả đất, trả rừng lại cho chính quyền vào hồi đầu năm 2014. Nhưng vừa qua nhận được công văn sẽ có hỗ trợ phí dịch vụ môi trường rừng vào cuối năm. Điều này làm bà con rất phấn chấn, quyết tâm giữ rừng và hy vọng sẽ được hỗ trợ xứng đáng”.
Bên cạnh đó, người dân trong các nhóm hộ quản lí rừng còn khá mập mờ về các quyền lợi mình được hưởng khi nhận rừng, họ cũng không nắm rõ những quy ước, quy tắc trong xử lý vi phạm. Bà con cho biết, khi bắt được lâm tặc cùng tang vật, họ rất muốn dẫn giải về Hạt kiểm lâm nhưng rừng nằm quá xa, chi phí vận chuyển rất tốn kém nên đành để… lâm tặc đi và dặn là lần sau không được làm như vậy (!?).
Về trường hợp này, Tiến sĩ Cao Thị Lý – giảng viên trường ĐH Tây Nguyên cho biết: “Theo nghị định 157/ 2013/NĐCP, khi người dân bắt được lâm tặc tại lâm phận của mình thì tang vật được nhóm chủ hộ thụ hưởng“. Bên cạnh đó, Hạt Kiểm Lâm vẫn có chính sách hỗ trợ riêng tiền vận chuyển cho nhóm hộ phát hiện được vi phạm. Như vậy chỉ cần tuyên truyền, phổ biến sâu rộng về chính sách này, người dân sẽ yên tâm và có tinh thần trách nhiệm hơn trong công tác quản lí và bảo vệ rừng.
Ông Phan Văn Bình, Phó Chủ tịch xã Sơn Thủy, huyện A Lưới trao đổi: “Bản thân tôi thấy quyền lợi hưởng 1,5% trong tổng số khai thác từ rừng là rất mơ hồ. Người dân cần có một động lực để tiếp tục đi tuần tra, quản lý rừng. Mà cụ thể là phải có chế độ hỗ trợ cho bà con bám rừng. Phải có quyền lợi cụ thể mới có thể gắn trách nhiệm cho người dân”.
Được biết, hơn 2/3 diện tích rừng của A Lưới vào năm 2006 là rừng Giàu và rừng Trung bình. Nhưng những năm qua, do sự lơi lỏng trong công tác quản lý và khai thác đã biến tỉ lệ này chỉ còn 1/3 tổng diện tích.
Cần lắm những giải pháp kịp thời từ trên, nhất là chú trọng vào người dân địa phương - những thành tố cực kỳ quan trọng gắn liền cuộc sống với rừng để bảo vệ rừng khách quan, nhằm gìn giữ “lá phổi xanh” của tỉnh Thừa Thiên Huế. (Dân Trí 4/11) đầu trang(
Chiều 4/11, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ phối hợp với UBND tỉnh Sóc Trăng tổ chức diễn đàn “Đối thoại chính sách về quản lý môi trường bền vững ven biển vùng ĐBSCL”.
Chương trình bảo vệ tổng hợp vùng ven biển và hệ sinh thái rừng ngập mặn nhằm thích nghi với biến đổi khí hậu tại các tỉnh ĐBSCL do hai Chính phủ CHLB Đức và Australia tài trợ, thông qua cơ quan phát triển quốc tế (GIZ) của CHLB Đức.
Theo Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, vùng ĐBSCL có khoảng gần 350.000 ha rừng các loại, trong đó rừng tự nhiên là khoảng 54.000 ha. Những năm qua rừng ngập mặn ven biển vùng ĐBSCL đang suy giảm do nhiều nguyên nhân.
Quá trình xâm nhập mặn gia tăng cũng đang tác động đến các hệ sinh thái nông nghiệp truyền thống…Bảo vệ và phát triển hệ sinh hái rừng ngập mặn ven biển đang là một yêu cầu cấp bách để đảm bảo sự phát triển bền vững của vùng ĐBSCL.
Tại cuộc đối thoại này các đại biểu đã thảo luận, chia sẻ các giải pháp, kinh nghiệm quản lý từ các chính sách quy hoạch hiệu quả từ các nước bạn Hà Lan, CHLB Đức và Chính phủ Úc để nghiên cứu, lồng ghép, ứng dụng vào các quy trình phát triển kinh tế - xã hội ở ĐBSCL theo hướng bền vững.
Để tăng cường hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ tổng hợp vùng ven biển, tài nguyên nước và hệ sinh thái rừng ngập mặn thích nghi với biến đổi khí hậu, phải có một cơ chế phối hợp rõ ràng từ trung ương đến địa phương, có cơ quan làm đầu mối để quản lý thực hiện có hiệu quả.
Ông Dương Quốc Xuân – Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, cho biết: “Qua cuộc đối thoại hôm nay, chúng tôi đã thu được nhiều ý kiến kinh nghiệm quý báu từ các đại biểu và các đại biểu cũng đưa ra các đề xuất, những kiến nghị, trong chính sách về quản lý môi trường bền vững ven biển vùng ĐBSCL, để ứng dụng việc quy hoạch phát triền khinh tế xã hội vùng ĐBSCL”. (VOV 4/11) đầu trang(
Được thiên nhiên ưu đãi ban tặng cho vẻ đẹp nên thơ, trữ tình thu hút rất đông du khách trong và ngoài nước, hồ Ba Bể thuộc tỉnh Bắc Kạn còn có một hệ sinh thái đa dạng và phong phú với nhiều cây gỗ, loài thú, cá quý hiếm.
Với diện tích mặt nước rộng hơn 650ha, độ sâu trung bình 25m, nơi sâu nhất lên đến 35m, hồ Ba Bể là môi trường lý tưởng cho hàng trăm loài cá nước ngọt sinh sống; trong đó có 11 loài quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam.
Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, do sự quản lý lỏng lẻo của các ngành chức năng và tình trạng khai thác quá mức đã làm cho nguồn lợi thủy sản trên hồ Ba Bể đứng trước nguy cơ “tận diệt”.
Hồ Ba Bể là một trong 20 hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất thế giới, là kho “Tài nguyên khoa học lưu giữ nguồn gen gốc.” Hồ Ba Bể được công nhận là Di sản văn hóa lịch sử quốc gia (năm 1986), Khu di sản của ASEAN (năm 2003) và đến tháng 2/2011, Vườn Quốc gia Ba Bể được Ban Thư ký Ramsar công nhận là Khu Ramsar thứ 1938 của thế giới và là khu Ramsar thứ ba của Việt Nam.
Theo nhiều nghiên cứu thì hiện nay thành phần loại cá ở hồ Ba Bể và lưu vực sông Năng gồm 139 loài thuộc 27 họ, 11 bộ nằm trong 2 ngành: Động vật có xương sống và động vật không có xương sống thuộc các lớp: Lớp chân bụng, lớp 2 mảnh vỏ, lớp giáp xác, lớp cá xương; trong đó lớp cá xương gồm 105 loài thuộc 65 giống, 18 họ và 5 bộ; trong đó có 38 loài cá có giá trị kinh tế và có khoảng 20 loài cá quý, chiếm 1/3 số loài khu hệ cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam. Ngoài ra còn có nhiều loài tảo và loài cá đặc hữu khác.
Ông Bùi Văn Quang, Phó Giám đốc Vườn quốc gia Ba Bể, cho biết: Hiện nay các loại cá bắt gặp nhiều trên hồ Ba Bể là cá chép, cá rô phi, cá chạch, cá mè, cá mương…ngoài ra còn có nhiều loại tôm, tép, cua, ốc. Nguồn lợi thủy sản ở đây với thành phần loài phong phú và không có loài hoặc nhóm loài chiếm ưu thế tuyệt đối trong thành phần sản lượng khai thác.
Trước năm 2000, do chưa được quan tâm và quản lý tốt nên đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản bị suy giảm nghiêm trọng. Sau năm 2000 đặc biệt từ năm 2003 trở lại đây, được quan tâm của nhà nước và nhiều tổ chức quốc tế, cùng sự nỗ lực quản lý của Vườn quốc gia Ba Bể đối với cộng đồng cư dân sống quanh hồ nên đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản dần dần được phục phồi, tuy vẫn còn chậm.
Vườn quốc gia Ba Bể đã áp dụng các tiêu chí, biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ nguồn lợi thủy sản như không đưa các sinh vật lạ vào hồ, cấm đánh bắt bằng các phương tiện hủy diệt hoặc bằng các phương tiện đánh bắt cao cấp kỹ thuật tiên tiến, chỉ được đánh bắt bằng công cụ thủ công, hạn chế số lượng người khai thác trên hồ…; đồng thời tạo điều kiện cho cộng đồng cùng tham gia quản lý như liên kết và bố trí các cán bộ ở xã, thôn bản cùng quản lý, mở các lớp tập huấn nâng cao ý thức trách nhiệm bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ nguồn lợi của người dân bản sống xung quanh hồ.
Với người dân ở các thôn bản như Pác Ngòi, Bó Lù, Cốc Tộc, Bản Cám, Bản Đầu Đẳng việc đánh bắt cá, tôm trên hồ Ba Bể đã giúp người dân cải thiện cuộc sống, nâng cao thu nhập.
Ông Nguyễn Văn Thàn, thôn Pác Ngòi, xã Nam Mẫu, người có gần chục năm lênh đênh sông nước đánh bắt cá trên hồ Ba Bể cho biết, người dân ở các thôn bản ven hồ chủ yếu sống dựa vào việc đánh bắt cá do diện tích đất canh tác ít, lại không có việc làm ổn định.
Ông Thàn cho biết thêm, thả lưới ở hồ Ba Bể được nhiều cá hay ít cá phụ thuộc vào mùa. Mùa mưa cá ở hồ hoạt động nhiều thì mỗi ngày thả lưới có thể thu được hàng trăm nghìn đồng tiền bán cá, nhất là bắt đầu từ tháng Tư đến khoảng cuối tháng Chín, mùa Đông được ít hơn. Lượng cá đánh bắt ở hồ mùa này chủ yếu là cá mương nhỏ, chỉ đủ phục khách du lịch và một vài nhà hàng khu vực hồ.
Theo ông Bùi Văn Quang, Phó Giám đốc Vườn quốc gia Ba Bể, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Kạn cũng đã ra văn bản cấm các hình thức đánh bắt mang tính hủy diệt như đánh mìn, đánh điện, hóa chất.
Quy định các loại mắt lưới đánh bắt, đồng thời chỉ cho phép chỉ cho phép khai thác bằng các ngư cụ phổ thông mang tính truyền thống như lưới bén, câu, bằng thuyền độc mộc... song vẫn còn một số tồn tại như chưa bán vé hoặc đánh thuế lực lượng khai thác thủy sản trên hồ, chưa quy định mùa vụ khai thác, loại cá quý hiếm không được khai thác... nên dẫn tới tình trạng khai thác tự do, cường độ khai thác cao, tập trung khai thác nhiều loài cá quý dẫn tới chúng có nguy cơ bị xóa sổ.
Để bảo vệ, phục hồi nguồn lợi thủy sản hồ Ba Bể, cần hạn chế những tác động xấu từ nhiều phía của con người đến môi trường, hệ sinh thái và nguồn lợi thủy sản; đồng thời tạo điều kiện cho nhân dân có cơ hội kiếm công ăn việc làm chuyển đổi từ khai thác thủy sản trên hồ sang nghề nghiệp khác như dịch vụ du lịch hoặc phát triển nuôi trồng thuỷ sản ngoài vùng bảo tồn đa dạng sinh học ở hồ.
Đồng thời, cần nghiêm cấm các các hoạt động đưa các loài cá ngoại lai vào hồ để nuôi, khôi phục, bảo vệ môi trường hệ sinh thái cảnh quan ở hồ Ba Bể; mở các lớp tập huấn, giáo dục, kết hợp với nhà trường tuyên truyền về kiến thức bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ nguồn lợi làm cho người dân hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ, có ý thức tự giác bảo vệ môi trường phát triển nguồn lợi bền vững. (VietnamPlus 4/11) đầu trang(
Báo Pháp Luật TP.HCM đăng bài “Giữ gỗ sai nhưng chưa chịu trả” phản ánh: Ông Phạm Tiến Thành (Đắk Hà) bị Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Hà giữ lô gỗ trắc hơn bốn năm nhưng chưa chịu trả.
Vừa qua Hạt Kiểm lâm huyện đã trả lại cho ông Thành 0,6 m3 gỗ trắc (đúng bằng số gỗ thu giữ) trước sự chứng kiến của phía công ty gia công.
Năm 2007, ông Thành gửi số gỗ trên cho một công ty gia công làm chân ghế, tay vịn... Năm 2009, công ty này bị UBND tỉnh Kon Tum ra quyết định xử phạt hành chính vì cất giấu một số gỗ trái phép và tịch thu một số gỗ của họ.
Phần gỗ của ông Thành đã gửi gia công không bị tịch thu vì có nguồn gốc, chứng từ rõ ràng. Tuy nhiên, Hạt Kiểm lâm vẫn giữ gỗ không chịu trả cho ông khiến bốn năm qua ông phải khiếu nại liên tục. (Pháp Luật TPHCM 5/11) đầu trang(
Bài học quý giá này được các địa phương đúc kết trong công tác bảo vệ và phát triển rừng, nhất là khu vực đồi núi.
Mùa khô 2013-2014, kết hợp chính quyền các xã có rừng, Chi cục Kiểm lâm tổ chức 38 cuộc họp dân, với hơn 1.000 người tham dự và thăm hỏi 17 chùa Khmer trên địa bàn Tri Tôn, Tịnh Biên… để tuyên truyền công tác bảo vệ, chống chặt phá rừng.
Mùa khô năm 2013-2014 đến sớm, thời gian khô hạn kéo dài hơn, trong điều kiện lượng mưa dự báo đạt thấp, mức độ khô hanh cao, nhiệt độ không khí tăng hơn so với năm trước. Do vậy, nguy cơ xảy ra cháy rừng là rất lớn. Ban Chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh An Giang đặt ra là quyết tâm phòng cháy tốt, chữa cháy kịp thời, hiệu quả, hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra theo phương châm “4 tại chỗ”.
Đồng thời, thực hiện biện pháp đồng bộ, phát hiện kịp thời, ngăn chặn xử lý có hiệu quả những vụ chặt phá rừng, lấn rừng phòng hộ đồi núi, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp không đúng mục đích ở đồng bằng.
Trên địa bàn Châu Đốc có 3 đợt cao điểm đáng quan tâm. Nắm được đặc điểm này, thành phố chủ động triển khai phương án “quản lý, bảo vệ và phát triển rừng” năm 2014 và đề cao công tác phối giữa các lực lượng chuyên trách, cộng đồng dân cư. Tại huyện Tri Tôn, 8 xã và thị trấn ở khu vực đồi núi tiếp tục duy trì thực hiện phương án năm 2014.
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Tri Tôn Lý Vĩnh Định, nêu kinh nghiệm công tác tuyên truyền cả 2 phương tiện “nghe và nhìn” thông qua các tổ chức đoàn thể, dân cư và sư sãi, à cha các chùa Khmer. “Trong thời gian cao điểm, các lực lượng trên địa bàn tăng cường phối hợp nhiều hơn, đề cao cảnh giác, sẵn sàng ứng phó với các tình huống có thể xảy ra. Mùa mưa, tiếp tục tuần tra bảo vệ, chống chặt phá cây rừng” – ông Định chia sẻ.
Thực tế cho thấy, đời sống người dân nhận khoán trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng đồi núi còn khó khăn nên cần có chính sách hỗ trợ, nhất là đối với đồng bào Khmer để bà con gắn bó bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Muốn thực hiện được điều này, các ngành, các cấp cũng thừa nhận cần có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ hơn. Trước mắt, các địa phương có diện tích rừng đồi núi tăng cường phối hợp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Chú trọng công tác tuần tra, kiểm tra việc chặt phá cây rừng trong mùa mưa từ nay đến cuối năm và chuẩn bị giai đoạn 2014-2015.
Mùa khô năm 2013-2014, toàn tỉnh xảy ra 11 vụ vi phạm sử dụng lửa trên diện tích 3 héc-ta, nhưng phát hiện kịp thời và cứu chữa có hiệu quả, không để gây thiệt hại rừng do Nhà nước đầu tư.
Thắng lợi lớn nhất là người dân hưởng ứng với các cán bộ, chiến sĩ chuyên trách túc trực, quyết tâm bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng. Trong đó, lực lượng nòng cốt vẫn là Kiểm lâm địa bàn, Công an, Xã đội, Bộ đội Biên phòng, Hải quan và các đơn vị của Quân khu 9 hiệp đồng có hiệu quả, góp phần quan trọng công tác bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô.
Quy chế phối hợp 4 lực lượng (Kiểm lâm, Công an, Quân sự, Bộ đội Biên phòng) từng bước đi vào nề nếp và gắn kết chặt chẽ với các địa phương có diện tích rừng trồng. Theo ông Trần Phú Hòa, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, nhờ duy trì hoạt động 39 Tổ hợp tác bảo vệ và phát triển rừng (thuộc 34 ấp), gồm 450 thành viên tham gia nên công tác bảo vệ rừng đạt hiệu quả khá tốt.
Lực lượng Kiểm lâm, các “Đội chữa cháy tình nguyện” được củng cố, tập huấn nâng cao nghiệp vụ và thực hiện ứng trực 100% các ngày nghỉ, lễ trong tháng cao điểm mùa khô. Công tác cổ động trực quan, phóng thanh lưu động tại các cụm dân cư và vùng trọng điểm cháy quanh các khu vực đồi núi được các địa phương sử dụng song ngữ tiếng Việt và Khmer; như: Dán 2.173 tờ áp-phích, cắm 515 bảng cấm lửa, bảo trì 22 pa-nô cố định...
Ông Đỗ Minh Trí, Phó Chủ tịch UBND huyện Tri Tôn cho rằng, nhờ nhận thức cộng đồng về bảo vệ và phát triển rừng đã được nâng lên rõ rệt nên số vụ vi phạm giảm, mức độ thiệt hại ít hơn so với trước đây. Tuy nhiên, thực tế chưa yên tâm, đó là giá trị kinh tế của rừng thấp, không bảo đảm đời sống cho người chăm sóc rừng.
Trong khi đó, nhu cầu sử dụng đất vào các mục đích khác lại rất cao, như: Đất trồng rẫy, các loại cây ăn trái… Chính sách đầu tư cho hoạt động bảo vệ rừng còn hạn chế, chưa có nhiều các mô hình “Nông – lâm kết hợp” hiệu quả, tạo nguồn thu nhập bền vững. (Báo An Giang 4/11) đầu trang(
Rừng giáp ranh Tánh Linh với huyện Đạ Huoai, Bảo Lâm (Lâm Đồng) đều là rừng phòng hộ đầu nguồn có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái, điều hòa nguồn nước cho vùng hạ lưu và đồng bằng các huyện khá quan trọng.
Tuy nhiên, lâu nay khu vực này luôn là điểm nóng về tình trạng phá rừng. Công tác phối hợp giữa các huyện để bảo vệ rừng đã góp phần kéo giảm nạn phá rừng… Tánh Linh có tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp gần 66.000 ha.
Diện tích rừng phân bố 12/14 xã, thị trấn, rừng tự nhiên ở Tánh Linh hầu hết giáp với khu dân cư và nhiều huyện khác ở trong và ngoài tỉnh, trong đó vùng giáp ranh giữa huyện Đạ Huoai và Bảo Lâm trải dài trên đường ranh giới hành chính khoảng 21 km với diện tích 7.126 ha.
Hàng năm, khoảng từ tháng 7 đến tháng 10 là thời điểm các đối tượng ở 2 huyện Đạ Huoai và Bảo Lâm thường tổ chức nhóm khoảng 20 đến 30 người vào phá rừng Tánh Linh.
Ông Trương Văn Thưởng - Phó Chủ tịch UBND huyện Tánh Linh, cho biết: Dân phá rừng rất manh động, liều lĩnh, thường tấn công lại lực lượng bảo vệ rừng khi bị phát hiện. Nhiều vụ lâm tặc dùng súng tự chế chống trả lực lượng bảo vệ rừng, gây nguy hiểm đến an toàn tính mạng cho lực lượng thi hành nhiệm vụ…
Bên cạnh những vụ phá rừng mang tính chất chuyên nghiệp, cư dân sống tại vùng rừng giáp ranh phần lớn đều không có việc làm ổn định, số đông là đồng bào dân tộc thiểu số ít việc làm, ngày công lao động thấp, đời sống còn nhiều khó khăn nên cũng tham gia vào phá rừng, mua bán, sang nhượng đất rừng trái phép tạo nên áp lực lớn cho quản lý, bảo vệ rừng tại khu vực giáp ranh.
Để giảm thiểu tối đa tình trạng phá rừng, huyện Tánh Linh đã phối hợp với 2 huyện Đạ Huoai và Bảo Lâm, giữa hạt kiểm lâm, các đơn vị chủ rừng và UBND các xã giáp ranh thiết lập đường dây nóng thường xuyên trao đổi thông tin cho nhau để xác định hành vi, mức độ vi phạm, phương thức, thủ đoạn, tình hình hoạt động của các đối tượng, băng nhóm phá rừng tại các vùng giáp ranh để có biện pháp tổ chức ngăn chặn và xử lý kịp thời các vụ phá rừng xảy ra.
Các huyện giáp ranh và ngành kiểm lâm thường xuyên giao ban thông tin về khu vực rừng bị tác động, lập danh sách các đối tượng phá rừng chuyên nghiệp, nậu vựa tại địa bàn để các ngành chức năng mỗi địa phương nắm và tổ chức lực lượng ngăn chặn kịp thời tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ rừng trái phép.
Ngoài ra Tánh Linh còn thành lập 2 chốt bảo vệ rừng ở 2 xã giáp ranh Đoàn Kết và Đạ Ploa (huyện Đạ Huoai) phối hợp với 26 hộ nhận khoán bảo vệ rừng để tuần tra, truy quét nhằm bảo vệ rừng.
Nhờ tăng cường nhiều biện pháp bảo vệ rừng và có sự phối hợp đồng bộ giữa các huyện, nên thời gian qua ở khu vực giáp ranh Tánh Linh đã phát hiện 26 vụ khai thác, vận chuyển, cất giấu lâm sản. Ngành chức năng đã xử lý 22 vụ hành chính bàn giao cho Công an huyện Tánh Linh, 4 vụ vượt khung phạt hành chính để điều tra, khởi tố hình sự.
Theo ông Trương Văn Thưởng, mặc dù được tăng cường tuần tra, kiểm soát bảo vệ rừng và tình trạng phá rừng có phần giảm nhưng khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép tại các vùng giáp ranh giữa 3 huyện vẫn còn diễn ra, phần lớn xảy ra trong mùa mưa.
Vì vậy, công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia bảo vệ rừng, chống phá rừng vẫn được coi là công tác thường xuyên và liên tục để giữ rừng… (Báo Bình Thuận 4/11) đầu trang(
4.11, Hạt Kiểm lâm huyện Hướng Hóa (Quảng Trị) đã đưa 30 cá thể rắn ráo vào Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa để thả về môi trường tự nhiên.
Số rắn ráo này của ông Dư Văn Ba (trú tại khối 4, thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa) được cơ quan chức năng phát hiện và lập biên bản vào ngày 3.11. Ông Ba khai nhận đã thu mua số rắn ráo này của người dân trên địa bàn, đang chuẩn bị vận chuyển về TP.Đông Hà bán cho các quán nhậu thì bị cơ quan chức năng thu giữ.
Từ đầu năm 2014 đến nay, Hạt kiểm lâm huyện Hướng Hóa đã phát hiện và bắt giữ 220kg động vật hoang dã bị buôn bán, vận chuyển trái phép. Ông Lê Văn Thành, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Hướng Hóa cho biết phần lớn số động vật hoang dã được phát hiện có nguồn gốc từ Lào.
“Trước khi được thả về môi trường, những cá thể động vật này sẽ được chăm sóc chu đáo để đảm bảo thích nghi với môi trường bên ngoài” – ông Thành nói. (Lao Động 5/11) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, khoảng 600 cây gỗ đường kính 30-80cm tại rừng Phòng hộ đầu nguồn ở ấp Mít Nài, xã La Ngà, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, bị lâm tặc triệt phá một cách không thương tiếc. (VietnamPlus 4/11) đầu trang(
Là tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh không nhiều nhưng có đặc tính phân bổ rải rác, xen các khu dân cư, các khu công nghiệp.
Hạt Kiểm lâm Tiên Phong (Chi cục Kiểm lâm tỉnh) có nhiệm vụ quản lý lâm sản và bảo vệ 194 ha rừng thuộc các huyện Tiên Du, Yên Phong và thị xã Từ Sơn, là địa bàn có nhiều điểm di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng đã được xếp hạng, hàng năm có nhiều lễ hội lớn nên số người ra vào rừng vui chơi vãn cảnh, nghỉ ngơi rất đông.
Công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng cũng vì vậy mà gặp không ít khó khăn, ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã có Chỉ thị 03/CT về việc quản lý và sử dụng đất đồi núi nhằm tăng cường quản lý sử dụng đất đồi, gò có hiệu quả vào mục đích nông - lâm nghiệp, bảo vệ cảnh quan môi trường, song do ảnh hưởng của cơ chế thị trường, nhu cầu về vật liệu xây dựng để tôn tạo mặt bằng khu dân cư, khu công nghiệp, đường giao thông ngày càng tăng cao và sự buông lỏng quản lý của một số địa phương nên tình trạng lấn chiếm, khai thác đất đồi, gò trái phép và việc di chuyển mồ mả tự do vào rừng đôi khi vẫn còn xảy ra.
Trao đối với Hạt trưởng Nguyễn Khắc Trung, được biết, đối tượng kinh doanh, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép ngày càng tinh vi, xảo quyệt, liễu lĩnh, manh động gây khó khăn, nguy hiểm cho công chức kiểm lâm trong thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Trong năm 2013, Hạt Kiểm lâm Tiên Phong đã bắt giữ, xử lý 25 vụ, thu hơn 17m3 gỗ xẻ và hơn 13.500kg gỗ các loại, cả thông thường lẫn quý hiếm.
Thăm trụ sở Hạt mới thấy được những nỗi khó khăn, vất vả của các cán bộ kiểm lâm ở đây; điều kiện ăn ở, sinh hoạt, nơi làm việc nhiều năm chưa được cải thiện, tòa nhà trụ sở cũ kĩ đang xuống cấp, trang thiết bị thiếu thốn, tạm bợ; phương tiện giao thông công vụ chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, chủ yếu là phương tiện cá nhân và thuê bên ngoài. Hai Trạm Yên Phong và Tiên Du còn phải ở nhờ cơ quan khác.
Khó khăn, vất vả là thế nhưng nhờ làm tốt công tác chính trị, tư tưởng nên đại bộ phận cán bộ, viên chức, người lao động trong cơ quan có lập trường, tư tưởng kiên định, vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao, tích cực hoạt động công tác, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. (Pháp Luật VN 3/11, tr17) đầu trang(
Ông Nguyễn Văn Hải, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau cho biết, nhằm chủ động tích trữ nước phòng chống cháy rừng, Cà Mau đang huy động khoảng 1.000 lượt người đắp trên 560 con đập để giữ nước, phấn đấu hoàn thành trong tháng 11 này.
Số đập trên nằm trong lâm phần rừng tràm U Minh Hạ, vừa có chức năng tháo nước chống úng vào mùa mưa, vừa bảo đảm cho chân rừng có mực nước vừa đủ để cho rừng phát triển, đồng thời phục vụ cho sản xuất lúa, nuôi cá đồng và các loại cây con hệ sinh thái ngọt.
Bên cạnh đó, số đập này còn có chức năng tích nước phục vụ công tác phòng chống cháy rừng mùa khô. Cùng với đó, Chi cục cũng thực hiện nhiều đợt tập chữa cháy tại chỗ với kinh phí gần 3 tỷ đồng. Riêng khâu đắp đập giữ nước chi phí gần 300 triệu đồng.
Ông Hải cũng cho biết thêm, nhằm tiết kiệm chi phí nên công tác đắp đập không sử dụng cơ giới mà chỉ sử dụng lực lượng tại chồ bằng phương pháp thủ công. Cách làm này tiết kiệm ngân sách trên 100 triệu đồng. Do đó, ngành nông nghiệp tỉnh đang phối hợp cùng với chính quyền cơ sở vận động dân công tự nguyện tham gia đắp đập. (Tin Tức 4/11, tr7) đầu trang(
Xã Chế Tạo có diện tích tự nhiên rộng, đồi núi hiểm trở, khe suối sâu, nhưng 5 năm qua nhờ những buổi tuyên truyền, vận động, bà con đã hiểu rõ vai trò của rừng. Rừng không chỉ giúp bà con xóa đói, giảm nghèo mà còn có chức năng phòng hộ, cân bằng sinh thái, môi trường.
Mù Cang Chải là huyện vùng cao đặc biệt khó khăn của tỉnh Yên Bái, nằm trong vùng quy hoạch phòng hộ đầu nguồn sông Đà và một phần sông Hồng. Trong những năm qua, nhận thức về vai trò của rừng, đặc biệt là giá trị to lớn của rừng mang lại, trong đó có phát triển kinh tế từ đồi rừng của bà con đã thay đổi tích cực.
Trước đây, do tập quán cùng với nhận thức hạn chế, đa phần bà con đều coi việc trồng và bảo vệ rừng là của Nhà nước, của các nông lâm trường. Nhưng vài năm trở lại đây bà con đã trồng và bảo vệ rừng, không chỉ có trồng rừng phòng hộ mà còn trồng cả rừng kinh tế. Toàn huyện có 13 xã và thị trấn thì tất cả đều nhận trồng rừng kinh tế bằng những loài cây bản địa như: Xoan, sơn tra, thông mã vĩ, mây, trúc sào. Diện tích đất rừng trên địa bàn huyện có hơn 69.215 héc-ta, trong đó rừng phòng hộ là 47.444 héc-ta, rừng đặc dụng 20.108 héc-ta, rừng sản xuất 1.662 héc-ta.
Điển hình về bảo vệ rừng phải kể đến xã Chế Tạo. Từ các chương trình bảo vệ và phát triển rừng như chương trình trồng 5 triệu héc-ta rừng của Chính phủ, chương trình 661 bảo vệ rừng bền vững, Nghị quyết 30a, chương trình dịch vụ môi trường rừng và bảo vệ rừng đầu nguồn để đảm bảo nước cho thủy điện… các cấp ủy, chính quyền xã Chế Tạo hàng năm đều xây dựng kế hoạch phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô hanh, kiện toàn tổ xung kích các bản tuyên truyền, vận động bà con ký cam kết không phát nương, làm rẫy, mở thêm diện tích ruộng bậc thang.
Hiện diện tích rừng được khoanh nuôi bảo vệ nghiêm ngặt của Chế Tạo là 17.3418 héc-ta, chiếm 73,3% tổng diện tích toàn xã. Trong đó rừng phòng hộ 3.057 héc-ta, rừng bảo tồn loài sinh cảnh 14.284 héc-ta. Với diện tích rừng được giao khoán bảo vệ lớn, theo ông Giàng A Tủa - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Chế Tạo, hàng năm UBND huyện đều tuyên truyền cho nhân dân về công tác bảo vệ rừng và phát triển rừng, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, không phá rừng làm nương rẫy, không chặt phát rừng bừa bãi.
“Nhờ có chủ trương đúng đắn, kinh phí bảo vệ rừng lớn, nhân dân càng có ý thức bảo vệ rừng, không phát nương làm rẫy, không đốt rừng bừa bãi, đến nay độ phủ xanh đất trống đổi trọc đã đạt trên 90%” - ông Giàng A Tủa nói.
Để tiếp tục phát huy thành quả trên, ông Tủa cho hay xã đã đưa ra nhiều giải pháp đó là xây dựng kế hoạch bảo vệ rừng và kiện toàn Ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng, các tổ xung kích các bản khi xảy ra cháy rừng sử dụng lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ để dập tắt không để cháy lan diện rộng.
Tuyên truyền cho người dân ký cam kết bảo vệ rừng, không chặt phá rừng trong khu vực đã được giao khoán bảo vệ. Đồng thời sẽ xử lý kịp thời các đối tượng vi phạm. Ngoài ra, xã sẽ duy trì tốt việc chi trả tiền bảo vệ rừng cho nhân dân để họ thấy được lợi ích của rừng, từ đó nêu cao tinh thần trách nhiệm trong chăm sóc bảo vệ rừng.
Tuy nhiên, ông Tủa cũng đề xuất, cần tăng tiền chăm sóc, bảo vệ rừng để nhân dân có điều kiện tăng thêm thu nhập. Đồng thời, tăng kinh phí cho các nhóm tuần tra bảo vệ rừng loài sinh cảnh Mù Cang Chải.
Nếu có sự khích lệ này bà con sẽ tiếp tục trồng và tu bổ rừng. Và quan trọng hơn là các cánh rừng xanh sẽ góp phần trong phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ môi trường sinh thái, giảm lũ quét, hạn chế đất bạc màu. (Công Thương 4/11) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Huyện Mường Nhé (Điện Biên) đang triển khai giao đất, giao rừng. Tại một số vị trí dự kiến giao, trên thực tế là diện tích có rừng đã được cộng đồng dân cư thôn bảo vệ và phát triển, nhưng trong quy hoạch 3 loại rừng của tỉnh thì lại thuộc quy hoạch đất ở, đất nông nghiệp.
Qua Cổng TTĐT Chính phủ, ông Nguyễn Đình Cương (cuongspro@...) đề nghị cơ quan chức năng cho biết, nếu muốn giao những vị trí trên cho cộng đồng dân cư thôn thì phải làm những bước gì?
Vấn đề ông Cương hỏi, Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời như sau: Theo hướng dẫn tại Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn và Thông tư số 25/2011/TT-BNNPTNT ngày 6/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về thủ tục hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng theo Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 15/12/2010 của Chính phủ, trình tự thủ tục giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn như sau:
Thực hiện như đối với giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân hướng dẫn tại khoản 2 và điểm a khoản 4 Mục này. Cụ thể, trước khi giao rừng UBND cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 24 Nghị định 23/2006/NĐ-CP ngày 3/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng phải xây dựng phương án giao rừng, cho thuê rừng trình HĐND cùng cấp thông qua và báo cáo UBND cấp trên trực tiếp phê duyệt.
Phương án giao rừng phải thể hiện cụ thể về hiện trạng các loại rừng của địa phương; nhu cầu quản lý sử dụng rừng; đối tượng được giao sắp xếp theo thứ tự ưu tiên (đối với giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân phải xác định hạn mức giao rừng) địa danh khu vực giao; kế hoạch tiến độ; trách nhiệm và kinh phí tổ chức thực hiện... Phương án giao rừng phải thể hiện từng đối tượng được giao rừng cả trong hồ sơ, trên bản đồ.
UBND các cấp tổ chức phổ biến, quán triệt chủ trương, chính sách của Nhà nước về việc giao rừng và nghĩa vụ, quyền lợi của chủ rừng cho nhân dân ở địa phương mình. UBND cấp huyện thành lập Ban chỉ đạo giao rừng và Tổ công tác giao rừng cấp huyện. UBND cấp xã thành lập Hội đồng giao rừng của xã (Phụ lục 2 Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007).
Cộng đồng dân cư thôn họp thôn để thống nhất các vấn đề chủ yếu: Thông qua đơn đề nghị Nhà nước giao rừng cho cộng đồng thôn; Thông qua kế hoạch quản lý khu rừng sau khi được Nhà nước giao rừng, kế hoạch quản lý rừng do cộng đồng dân cư thôn; Cuộc họp dân cư thôn phải có ít nhất 70% số hộ gia đình nhất trí đề nghị được giao rừng.
Cộng đồng dân cư thôn nộp 1 bộ hồ sơ tại UBND cấp xã. Hồ sơ gồm Đơn đề nghị giao rừng do đại diện thôn ký (Phụ lục 03 Thông tư số 25/2011/TT-BNNPTNT ngày 06/4/2011); Kế hoạch quản lý rừng do cộng đồng dân cư thôn cùng biên bản thông qua của cộng đồng thôn.
UBND cấp xã sau khi nhận được hồ sơ của cộng đồng dân cư thôn có trách nhiệm chỉ đạo Hội đồng giao rừng của xã thẩm tra về điều kiện giao rừng cho cộng đồng báo cáo UBND cấp xã; Kiểm tra thực địa khu rừng dự kiến giao cho cộng đồng dân cư thôn để bảo đảm các điều kiện, căn cứ giao rừng theo quy định của pháp luật; Xác nhận và chuyển đơn của cộng đồng dân cư thôn đến cơ quan chức năng cấp huyện. Thời gian thực hiện là 15 làm việc ngày kể từ sau khi nhận đơn của cộng đồng dân cư thôn.
Cơ quan chức năng cấp huyện, sau khi nhận được hồ sơ từ UBND cấp xã chuyển đến thì có trách nhiệm tổ chức việc xác định đặc điểm khu rừng sẽ giao cho cộng đồng dân cư thôn (xác định về chất lượng rừng được giao cho cộng đồng - của cơ quan tư vấn lâm nghiệp có trách nhiệm).
Chủ trì việc thẩm định kết quả xác định đặc điểm khu rừng trên cơ sở có xác nhận của tổ chức tư vấn có trách nhiệm về đánh giá rừng (tổ chức tư vấn là người chịu trách nhiệm trách nhiệm chính trong việc đánh giá chất lượng rừng, cùng ký vào biên bản đánh giá còn có chủ rừng, có người đại diện chính quyền địa phương); sự phù hợp của việc giao rừng với quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng hoặc quy hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch ba loại rừng; tính khả thi của kế hoạch quản lý rừng của cộng đồng dân cư thôn; Lập tờ trình, trình UBND cấp huyện về việc giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn. Thời gian thực hiện là 10 ngày làm việc.
UBND cấp huyện sau khi nhận được tờ trình từ cơ quan chức năng chuyển đến có trách nhiệm xem xét và quyết định giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn (phụ lục 4 Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007); chuyển quyết định giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn, uỷ ban nhân dân cấp xã và cho cơ quan chức năng cấp huyện. Thời gian thực hiện là 3 ngày làm việc.
UBND cấp xã sau khi nhận được quyết định giao rừng của UBND cấp huyện, có trách nhiệm thông báo và đôn đốc cộng đồng dân cư thôn thực hiện nghĩa vụ tài chính (nếu có); Tổ chức bàn giao rừng ngoài thực địa có sự tham gia của cơ quan chức năng và các chủ rừng có chung ranh giới; lập biên bản bàn giao rừng giữa uỷ ban nhân dân cấp xã với cộng đồng dân cư thôn (phụ lục 5 Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007).
Cộng đồng dân cư thôn ngay sau khi nhận rừng tại thực địa có trách nhiệm đóng cột mốc khu rừng được giao có sự chứng kiến của đại diện UBND cấp xã và chủ rừng có chung ranh giới (phụ lục 6 Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007).
Trong quá trình thực hiện các bước công việc nêu trên, khi hồ sơ đến cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm xem xét và bổ sung vào hồ sơ giao rừng những nội dung công việc của mỗi bước cho tới khi hoàn thành việc giao rừng; nếu cộng đồng dân cư thôn không đủ điều kiện được giao rừng thì cơ quan nhận hồ sơ phải trả lại hồ sơ cho cơ quan gửi đến và thông báo rõ lý do về việc cộng đồng dân cư thôn không được giao rừng. Thời gian thực hiện là 3 ngày làm việc. (Chính Phủ 5/11) đầu trang(
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến 20/10, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 193,8 nghìn ha, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó: Trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 17,1 ngàn ha, giảm 20,2% so với cùng kỳ năm trước; Trồng mới rừng sản xuất đạt 176,8 ngàn ha, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước; Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 4.527 nghìn m3 , tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước.
Cụ thể, tính đến ngày 20/10, các tỉnh miền Bắc đã trồng được 147,3 ngàn ha rừng, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó Bắc Trung Bộ là vùng có tiến độtrồng rừng nhanh nhất, đạt 38,9 ngàn ha tăng 41,9% so với cùng kỳ năm trước; tiếp đến là Đồng bằng sông Hồng đạt 17 ngàn ha (giảm 7,2%); Trung du và miền núi phía Bắc đạt 91,4 ngàn ha (giảm 8,3%).
Những tỉnh có diện tích trồng rừng đạt khá và tiến độ nhanh hơn so với cùng kỳ năm trước là Quảng Ninh đạt 13,6 ngàn ha, Nghệ An đạt 13,1 ngàn ha, Thanh Hóa đạt 11,8 ngàn ha
Còn tại các tỉnh miền Nam, đến ngày 20/10 các địa phương trồng được 35,7 ngàn ha, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ trồng đạt 21,3 ngàn ha, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước, tiếp đến là Tây Nguyên đạt 11,5 ngàn ha tăng 67,6%...Một số địa phương có diện tích trồng rừng khá là Bình Định đạt 10,4 ngàn ha tăng 160% so với cùng kỳ năm trước, Lâm Đồng 4,5 ngàn ha (tăng 257%), Đắk Lắk 3,4 ngàn ha (tăng 38).
Bên cạnh công việc trồng rừng các địa phương tiếp tục chăm sóc rừng đã trồng, khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ. (Đảng Cộng Sản 3/11) đầu trang(
Đến nay, toàn tỉnh đã trồng mới được 6.073/6.610 ha rừng theo kế hoạch năm 2014, đạt 91,9%. Trong đó, trồng rừng sản xuất 5.697 ha, trồng rừng phòng hộ 366 ha, trồng rừng thay thế nương rẫy 10,66 ha.
Huyện Bảo Yên là địa phương sớm hoàn thành và hoàn thành vượt kế hoạch được giao. Đến nay, toàn huyện đã trồng mới được 2.264 ha/1.850 ha, tiếp đến là huyện Bảo Thắng 922 ha/750 ha, Văn Bàn 905/850 ha, Bát Xát 788/750 ha. Một số địa phương có tiến độ trồng rừng chậm hơn là Si Ma Cai, Sa Pa…
Thời gian tới, ngành lâm nghiệp tỉnh tiếp tục đôn đốc, chỉ đạo các đơn vị phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng rừng trong tháng 11/2014; đồng thời, kiểm tra, quản lý giống cây lâm nghiệp, công tác khai thác, chế biến lâm sản, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và thực hiện các giải pháp chăm sóc và bảo vệ rừng. (Báo Lào Cai 4/11) đầu trang(
Đó là kết luận của ông Đinh Khắc Hiếu - Uỷ viên Thường trực HĐND tỉnh, Trưởng Đoàn giám sát của Thường trực HĐND tỉnh sau đợt giám sát tình hình thực hiện Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ chiều 3/11.
Báo cáo đánh giá kết quả đợt giám sát cho thấy, diện tích rừng được hưởng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2012 là 426.987,36ha (trong đó, rừng đặc dụng: 28.222,75ha, rừng phòng hộ: 231.872,71ha, rừng sản xuất: 164.603,13ha và diện tích cao su: 2.288,76ha).
Năm 2013: 424.053,31ha (Rừng đặc dụng: 29.410,3ha, rừng phòng hộ: 226.307,35ha, rừng sản xuất: 163.682,94ha và diện tích cây Cao su: 4.652,72ha). Tổng số tiền thu được 374.299 triệu đồng. Tổng số kinh phí đã chi: 282.174 triệu đồng đạt 83% so với kế hoạch. Công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ phát triển rừng nói chung và chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng nói riêng được các cấp, các ngành phối hợp chặt chẽ, nâng cao ý thức bảo vệ, phát triển rừng và tạo niềm tin trong nhân dân vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Công tác bảo vệ, phát triển rừng được các cộng đồng các thôn, bản, tổ dân phố quan tâm cụ thể hóa trong quy ước, hương ước, tuần tra bảo vệ rừng... Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã góp phần cải thiện thu nhập bình quân, giảm tỷ lệ hộ nghèo.
Báo cáo cũng chỉ ra một số bất cập trong quá trình triển khai thực hiện như: Việc huy động nguồn thu vẫn còn hạn chế, mới chỉ thu được tiền dịch vụ môi trường rừng đối với 7 cơ sở sản xuất thủy điện; Công tác thông tin báo cáo giữa cấp tỉnh, huyện chưa thường xuyên, chưa có những giải pháp tích cực và đồng bộ để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc; Công tác tham mưu, phối hợp của cơ quan quản lý nhà nước của một số huyện về công tác bảo vệ và phát triển rừng, thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng còn hạn chế, việc rà soát, xây dựng, thẩm định phê duyệt phương án khoán và nghiệm thu để chi trả tiền môi trường rừng còn chậm, còn thiếu phải bổ sung.
Việc tổ chức hợp đồng khoán bảo vệ rừng, chi trả dịch vụ môi trường rừng còn lúng túng, chưa xác định được phương án khoán có hiệu quả, hợp đồng khoán chưa tổ chức bàn giao cụ thể ngoài thực địa nên còn xảy ra tình trạng tranh chấp; Quy định về phương thức chi trả theo từng lưu vực của từng nhà máy thủy điện đã tạo ra sự chênh lệch lớn về mức chi trả bình quân cho một ha rừng giữa các lưu vực. Việc chỉ áp dụng một mức để chi trả không công bằng với những diện tích rừng có chất lượng cao so với những diện tích rừng có chất lượng thấp...
Thảo luận tại buổi kết luận giám sát, đa số đại biểu nhất trí với báo cáo kết quả giám sát. Có ý kiến cho rằng việc tổ chức hợp đồng khoán bảo vệ rừng, chi trả dịch vụ môi trường rừng còn lúng túng, chưa xác định được phương án khoán có hiệu quả đó là sự kế thừa của việc khoán trong dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và đến nay việc khoán rừng này vẫn đang phát huy hiện quả nên được sử dụng; một số cơ sở sử dụng dịch vụ môi trường rừng chưa thực hiện nghiêm túc việc chi trả DVMTR, diện tích còn có sự khác nhau giữa diện tích rừng và diện tích được chi trả DVMTR, việc tính đồng nhất với một hệ số không đúng với hướng dẫn thực hiện Nghị định 99/2010/NĐ-CP. Cần đánh giá trách nhiệm của Ban Quản lý rừng phòng hộ một số huyện, trách nhiệm của cộng đồng nhận khoán...
Ông Đinh Khắc Hiếu - Uỷ viên Thường trực HĐND tỉnh, Trưởng Đoàn giám sát đã đánh giá cao việc triển khai thực hiện Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh.
Thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền, tập huấn; xác định diện tích rừng, đối tượng phải chi trả và được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng; Công tác lập và thực hiện kế hoạch, dự toán thu, chi; Công tác kiểm tra, kiểm soát. Đoàn giám sát tiếp thu ý kiến của các đaị biểu tham dự, hoàn thiện báo cáo giám sát gửi các đơn vị được giám sát. (Báo Lai Châu 4/11) đầu trang(
Sau hơn 2 năm thành lập (từ tháng 8-2012 đến tháng 10-2014), Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) tỉnh đã tiến hành rà soát các chủ rừng và diện tích rừng trong lưu vực Nhà máy Thủy điện Cửa Đạt (huyện Thường Xuân) chi trả cho 1.203 chủ rừng (43.274,95 ha), đơn giá chi trả bình quân đạt 70.000 đồng/ha/năm.
Diện tích rừng trong lưu vực Nhà máy Thủy điện Sông Mực (huyện Như Xuân và Như Thanh) là 18.187 ha; lưu vực Nhà máy Thủy điện Bá Thước 2 (các huyện: Bá Thước, Quan Hóa, Quan Sơn và Mường Lát) là 249.000 ha. Tính riêng 10 tháng năm 2014, Quỹ BV&PTR tỉnh đã thu được 5 tỷ đồng/tổng kế hoạch thu tiền ủy thác chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh năm 2014 là 9 tỷ 670 triệu đồng.
Tuy nhiên, việc triển khai chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh còn một số bất cập, như: Công tác rà soát lưu vực và chủ rừng cụ thể để chi trả DVMTR gặp khó khăn; quy định về phương thức chi trả theo từng lưu vực của từng nhà máy thủy điện đã tạo ra sự chênh lệch lớn về mức chi trả cho 1 héc-ta rừng giữa các lưu vực.
Cụ thể như đơn giá chi trả bình quân cho diện tích rừng trong lưu vực Nhà máy Thủy điện Sông Mực và Nhà máy Thủy điện Bá Thước 2 chỉ từ 4-5 ngàn đồng/ha/năm (thấp hơn khoảng 65.000 đồng/ha/năm so với diện tích rừng trong lưu vực Nhà máy Thủy điện Cửa Đạt). (Báo Thanh Hóa 3/11) đầu trang(
Sau 4 năm thực hiện chủ trương di dời các cơ sở chế biến gỗ vào khu công nghiệp, cụm công nghiệp, điểm quy hoạch, đến nay gần 100% các cơ sở chế biến gỗ ở Đắc Lắc vẫn nhởn nhơ bên ngoài. Không ít xưởng cưa vẫn tồn tại trong khu dân cư, gần rừng để "nuốt" gỗ lậu rồi phù phép, hợp thức hóa chứng từ để tiêu thụ.
Cục A86 Bộ Công an vừa phong tỏa, kiểm tra cơ sở chế biến gỗ của Cty TNHH Hiền Thái - phường Ea Tam, TP Buôn Ma Thuột. Đến thời điểm này, kết quả kiểm tra, xử lý vẫn chưa được công bố, nhưng thông tin ban đầu cho biết đây là một trong những đầu mối lớn cung cấp gỗ ra tận Bắc Ninh.
Trước đó, Công an tỉnh Đắc Lắc đã khởi tố Trương Văn Quang - GĐ Cty TNHH Quang Phát - và 11 bị can khác về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng. Được Sở NNPTNT cấp phép mở 2 xưởng chế biến gỗ tại xã Ea Lê và Ia J'Lơi, nhưng Cty Quang Phát không có hoạt động gì ngoài việc buôn lậu gỗ.
Chỉ sau một thời gian hoạt động, 2 xưởng cưa của Cty này đã thu mua hơn 2.300m3 gỗ lậu của lâm tặc, sau đó hợp thức hóa chứng từ, quay vòng hóa đơn để tiêu thụ, thu lợi hàng tỉ đồng. Ngoài ra, nhiều cơ sở chế biến gỗ khác cũng từng bị xử lý hành chính như phạt tiền, tịch thu gỗ lậu, thu hồi giấy phép...
Theo ghi nhận của PV, các cơ sở chế biến gỗ ở Đắc Lắc luôn kín cổng cao tường, những người ra vào đều được kiểm soát chặt chẽ, xe chở gỗ chủ yếu ra vào ban đêm hoặc rạng sáng. Với cách thúc tổ chức và hoạt động như vậy, thật khó biết có bao nhiêu gỗ đưa vào các cơ sở chế biến này là hợp pháp, song cơ quan chức năng kiểm tra cũng không phải dễ.
Theo thống kê của Sở NNPTNT, toàn tỉnh hiện có 70 xưởng chế biến gỗ của các DN và 319 cơ sở sản xuất đồ mộc (trong đó ghi nhận 46 xưởng của DN và 218 cơ sở mộc đang hoạt động). Năng lực chế biến của các cơ sở này rất hạn chế, chỉ xẻ gỗ dạng hộp, gỗ xây dựng hoặc xuất thô mà không đầu tư công nghệ để có sản phẩm tinh chế.
Để ngăn chặn nạn tiêu thụ gỗ lậu, UBND Đắc Lắc chủ trương di dời các cơ sở chế biến gỗ vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, điểm quy hoạch trước ngày 31.12.2010. Cùng với yêu cầu có tính bắt buộc là chính sách hỗ trợ di dời, ưu đãi cho thuê mặt bằng, đầu tư hạ tầng... Nhưng sau 4 năm thực hiện, chính sách hỗ trợ đã hết thời hạn áp dụng, toàn tỉnh chỉ có 10 DN dời cơ sở chế biến gỗ vào khu công nghiệp, cụm công nghiệp, điểm quy hoạch. Các DN còn lại đều tìm cách trì hoãn để bám trụ giữa khu dân cư, gần rừng, trong rừng.
Trong khi đó, huyện Ea H'leo là địa phương duy nhất xây dựng được kế hoạch di dời tính đến thời điểm này. Sự cù cưa của DN được chính quyền địa phương "tiếp tay" với một loạt lý do như hạ tầng các cụm công nghiệp chưa hoàn thiện, việc di dời diễn ra trong bối cảnh kinh tế khó khăn, nhiều cơ sở có quy mô quá nhỏ... Nhưng ai cũng thấy rõ, càng chậm di dời cơ sở chế biến gỗ thì tốc độ mất rừng càng nhanh.
Mới đây, Sở NNPTNT Đắc Lắc tiếp tục kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo các huyện khẩn trương di dời cơ sở chế biến gỗ theo quy hoạch, đồng thời trình HĐND tỉnh điều chỉnh thời hạn áp dụng chính sách hỗ trợ. Nhưng chắc chắn các DN sẽ tiếp tục trì hoãn vì "hạ tầng chưa hoàn thiện", kinh tế khó khăn, quy mô hoạt động mô nhỏ - đây là những lý do có thể tồn tại cho đến khi hết rừng.
Cho nên vấn đề không ở chính sách hỗ trợ, mà cần thiết điều chỉnh các quy định về di dời, có chế tài xử lý nghiêm khắc. Khi đó các DN buôn lậu gỗ buộc phải giải nghệ, hoặc chấp nhận vào các điểm quy hoạch tập trung để làm ăn chân chính. (Lao Động 5/11) đầu trang(
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải về cơ chế quản lý nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ Campuchia; công văn của Văn phòng Chính phủ về tạm ngừng kinh doanh tạm nhập, tái xuất gỗ tròn, gỗ xẻ từ rừng tự nhiên, Bộ Công Thương ban hành Thông tư quy định việc tạm ngừng kinh doanh tạm nhập, tái xuất gỗ tròn, gỗ xẻ từ rừng tự nhiên từ Lào và Campuchia.
Thông tư quy định rõ, kể từ ngày 8/12/2014, tạm ngừng kinh doanh tạm nhập, tái xuất gỗ từ Lào và Campuchia để tái xuất sang nước thứ ba đối với gỗ tròn, gỗ xẻ từ rừng tự nhiên thuộc nhóm HS 44.03 và 44.07 theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.
Bộ Công Thương cũng quy định, đối với các hợp đồng đã ký trước ngày Thông tư có hiệu lực, thương nhân được tiếp tục làm thủ tục tạm nhập đến hết ngày 31/12/2014. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc đề nghị các cơ quan, thương nhân phản ánh kịp thời về Bộ Công Thương để xem xét, giải quyết. (VOV 4/11; Tiền Phong 5/11, tr5) đầu trang(
Chiều 3/11, đoàn công tác của cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (Jica) về dự án “Quản lý rừng bền vững” triển khai tại các tỉnh Tây Bắc đã có buổi làm việc với lãnh đạo UBND tỉnh.
Tiếp và làm việc với đoàn có ông Nguyễn Văn Dũng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cùng lãnh đạo các Sở: NN&PTNT, KH&ĐT, Tài chính, Ngoại vụ, Văn phòng UBND tỉnh. Tại buổi làm việc, lãnh đạo Sở NN&PTNT đã báo cáo tóm tắt tình hình bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh.
Hiện, trên địa bàn tỉnh có 325.975 ha đất lâm nghiệp, trong đó có trên 239.000 ha đất có rừng và trên 86.000 ha chưa có rừng. Từ năm 1998 đến nay tỉnh đã thực hiện thành công một số chương trình, dự án lớn như: dự án 661, dự án kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 và một số dự án sử dụng nguồn vốn ODA do Chính phủ các nước tài trợ như dự án Renfoda, Kwf7, góp phần nâng độ che phủ rừng từ 38% năm 1999 lên 49,4% năm 2013.
Do vốn ngân sách cho trồng rừng ít, chủ yếu người dân phải tự bỏ vốn ra trồng rừng bình quân trên 8.000 ha/năm. Tuy nhiên, thu nhập của người dân sản xuất lâm nghiệp thấp; năng suất chất lượng rừng chưa cao, chưa tương xứng với lợi thế tiềm năng về đất đai. Mặt khác, với định hướng trồng mới khoảng 800-1.000 ha rừng phòng hộ/năm và trồng mới khoảng 2.000 ha rừng sản xuất/năm, tỉnh phải mất gần 30 năm mới phủ xanh hết diện tích đất lâm nghiệp.
Tại buổi làm việc, đại diện đoàn công tác của Jica cho biết, trước khi sang nghiên cứu, nội bộ Jica đã có thảo luận về tình hình trồng rừng ở Hoà Bình khác với các tỉnh trong khu vực Tây Bắc, nên sẽ có thiết kế dự án phù hợp với tình hình của tỉnh. Đoàn sẽ lưu lại 3-4 ngày khảo sát thực tế với các bên liên quan để đưa ra kế hoạch về dự án hợp tác kỹ thuật và dự án vốn vay tại tỉnh.
Trong đó sẽ triển khai dự án hợp tác kỹ thuật từ tháng 8/2015. Jica chưa có cam kết chính thức về dự án vốn vay. Nếu 2 bên thúc đẩy nhanh, dự án vốn vay sẽ được thực hiện vào giữa năm 2017. Để 2 dự án này thành công cần có sự ủng hộ tích cực của UBND tỉnh và các sở, ban, ngành liên quan. Trước hết, Jica đề nghị UBND tỉnh cho phép thành lập ban quản lý dự án cấp tỉnh đặt tại Sở NN&PTNT và cấp vốn đối ứng để ban quản lý hoạt động.
Phát biểu tại buổi làm việc, ông Nguyễn Văn Dũng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh, trong thời gian tới, tỉnh tập trung vào việc thu hút phát triển về lĩnh vực lâm nghiệp dựa trên những lợi thế hiện có. Đồng thời, mong muốn tỉnh Hoà Bình sẽ được tham gia 2 dự án với tổ chức JICA. (Báo Hoà Bình 3/11) đầu trang(
Tỉnh Khánh Hòa vừa hoàn thiện đề tài nguyên cứu “Đánh giá phạm vi phân bổ và thử nghiệm nhân giống đối với hai loài cây thông lá dẹt và pơ mu”, nhằm khoanh vùng bảo tồn nguồn gen trong tự nhiên, xây dựng mô hình trồng hai loại cây này ra cộng đồng.
Qua hai năm nghiên cứu (2012-2014), các chuyên gia lâm nghiệp của tỉnh Khánh Hòa đã điều tra và ghi nhận có 75 cá thể thông lá dẹt và 123 cá thể pơ mu, phân bổ trên diện tích hơn 224 ha, phần lớn tập trung tại khu vực núi Hòn Bà, thuộc địa bàn xã Sơn Thái, huyện miền núi Khánh Vĩnh.
Các chuyên gia đã tiến hành nhân giống thử nghiệm theo hai phương pháp gieo hạt và giâm hom; tỷ lệ nảy mầm theo cách gieo hạt đạt gần 60% đối với pơ mu và trên 65% đối với thông lá dẹt. Riêng phương pháp giâm hom đối với pơ mu cho tỷ lệ nảy mầm, ra rễ trên 71%. Với tổng số hơn 1.000 cây con nhân giống sinh trưởng tốt, đủ điều kiện để trồng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà.
Thông lá dẹt có tên khoa học là Ducampopinus Krempfii, là loài cây đặc hữu của Việt Nam, thuộc loài thông cổ, phân bố hẹp tại vài tỉnh như Lâm Đồng, Khánh Hòa. Loài thông này được xếp loại hiếm, mức độ đe doạ bậc R (có thể nguy cấp, đe dọa tuyệt chủng do nạn khai thác, phá rừng).
Đề tài nghiên cứu nói trên được Hội đồng Khoa học và công nghệ tỉnh Khánh Hòa xếp loại khá, đồng thời thống nhất đề xuất UBND tỉnh thành lập Khu dự trữ thiên nhiên Sơn Thái - Giang Ly (huyện Khánh Vĩnh) có diện tích trên 15.000 ha với tiềm năng đa dạng sinh học cao và bảo tồn các nguồn gen quý, trong đó có hai loài thông lá dẹt và pơ mu. (Khoa Học Phổ Thông 31/10, tr12) đầu trang(
Nhiều địa phương trong tỉnh đang triển khai trồng rừng. Để đảm bảo chất lượng cây giống cung ứng cho mùa trồng rừng năm nay, ngành chức năng đang tăng cường kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp nhằm chấn chỉnh kịp thời các sai phạm.
Mới đây, Sở NN-PTNT đã thành lập đoàn thanh tra và tiến hành thanh tra 17 cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Ông Nguyễn Văn Luận, Chánh thanh tra Sở NN-PTNT, cho biết: “Qua thanh tra, đơn vị đã phát hiện một số cơ sở vi phạm như không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, địa điểm kinh doanh không đúng, thiếu nhân viên kỹ thuật có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên…
Đoàn thanh tra đã xử phạt 4 cơ sở vi phạm với số tiền 32 triệu đồng, đồng thời nhắc nhở các cơ sở này sớm khắc phục thiếu sót. Riêng 2 cơ sở kinh doanh của ông Lê Văn Tự và ông Lê Quang Thắng ở xã Xuân Lãnh (huyện Đồng Xuân) đã vi phạm nhưng đoàn thanh tra mời đến làm việc thì các hộ này không chịu hợp tác. Đoàn thanh tra đã đề nghị UBND huyện Đồng Xuân có hướng xử lý 2 cơ sở vi phạm này”.
Ông Nguyễn Văn Luận cho biết thêm, qua thanh tra 17 cơ sở sản xuất, kinh doanh thì không có cơ sở nào thực hiện công bố tiêu chuẩn chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp. Ngoài ra, đoàn thanh tra còn phát hiện 8 cơ sở thực hiện việc ghi nhãn mác giống cây nhưng chưa đầy đủ và 9 cơ sở chưa thực hiện ghi nhãn mác theo quy định. Đoàn thanh tra đã nhắc nhở và yêu cầu các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên trong thời gian tới phải thực hiện đúng quy định.
Theo ông Đào Văn Lịch, Đội trưởng Đội Quản lý thị trường số 8, UBND huyện Đồng Xuân đã thành lập đội kiểm tra liên ngành gồm các thành viên của Phòng NN-PTNT huyện, Đội Quản lý thị trường số 8, Trạm Bảo vệ thực vật huyện, Trạm Thú y huyện và UBND xã Xuân Lãnh để tiếp tục kiểm tra và xử lý 2 cơ sở của ông Lê Văn Tự và ông Lê Quang Thắng ở xã Xuân Lãnh.
Hành vi vi phạm của 2 cơ sở nêu trên là kinh doanh cây giống lâm nghiệp mà không có giấy đăng ký kinh doanh. Đội Quản lý thị trường số 8 đã ra quyết định xử phạt 2 cơ sở này, mỗi cơ sở 5 triệu đồng.
Mới đây, Sở NN-PTNT chỉ đạo Chi cục Lâm nghiệp tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về lĩnh vực giống cây trồng lâm nghiệp cho các tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Đồng thời kiện toàn bộ phận thanh tra chuyên ngành của Chi cục Lâm nghiệp để thanh tra, kiểm tra lĩnh vực giống cây trồng lâm nghiệp theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
Sở NN-PTNT cũng chỉ đạo Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tăng cường kiểm tra, đánh giá các tổ chức sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp theo Thông tư 14 của Bộ NN-PTNT.
Sở NN-PTNT còn đề nghị phòng Kinh tế, NN-PTNT các huyện, thị xã, thành phố tăng cường kiểm tra, đánh giá các hộ sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp theo Thông tư 14 và theo dõi, tổng hợp danh sách các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn mình quản lý. Đồng thời, các địa phương cần hướng dẫn các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp thực hiện đúng quy định pháp luật về lĩnh vực giống cây trồng lâm nghiệp.
Ông Nguyễn Trọng Tùng, Giám đốc Sở NN-PTNT, cho biết: “Để có cơ sở xử lý một số hành vi vi phạm trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp, Sở NN-PTNT đã có văn bản kiến nghị Bộ NN-PTNT tham mưu với Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong Nghị định 114 về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật và một số nội dung Pháp lệnh Giống cây trồng số 15…
Thực tế, các cơ sở kinh doanh giống cây trồng chính không đáp ứng được quy định này, bởi đa số các cơ sở kinh doanh mua giống từ các cơ sở sản xuất để bán. Bộ NN-PTNT cũng cần ban hành một số quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giống cây trồng lâm nghiệp chính như điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị của cơ sở sản xuất, kinh doanh; chất lượng cây giống lâm nghiệp để thuận lợi cho việc quản lý”. (Báo Phú Yên 4/11) đầu trang(
Sở NN-PTNT cho biết, trên địa bàn tỉnh hiện đã có 5 dự án (của các đơn vị: Công ty Cổ phần thủy điện Trung Nam Krông Nô, ...
Công ty Cổ phần Sông Ba, Ban Quản lý Dự án (BQLDA) huyện Lak, BQLDA các công trình thủy điện miền Trung, Bộ đội Biên phòng 739) đã lập phương án trồng rừng thay thế, với tổng diện tích 461 ha.
Trong đó, 2 dự án (DA) đã được UBND tỉnh phê duyệt (Dự án thủy điện Krông Nô 2, thủy điện Krông H’năng); 2 DA hiện đang thẩm định (đường nội thị trấn Liên Sơn và đường đi buôn Lách Ló, xã Nam Ka, huyện Lak, DA sắp sếp ổn định dân cư khu vực Đồn Biên phòng 739, huyện Ea Súp), 1 DA xin nộp tiền trồng rừng thay thế vào Quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh (đường dây điện 500 kV Pleiku – Mỹ Phước – Cầu Bông đoạn đi qua địa bàn Dak Lak). (Báo Dak Lak 5/11) đầu trang(
Khác với các loại tài nguyên thiên nhiên khác, rừng là tài nguyên vừa có giá trị kinh tế, vừa đóng vai trò chính trong bảo vệ môi trường, cân bằng sinh thái; đặc biệt là có thể tái tạo được nếu có biện pháp quản lý, sử dụng hợp lý.
Cha ông nói “rừng vàng, biển bạc” song trong thực tiễn, ngành lâm nghiệp đóng góp cho nền kinh tế trên phạm vi cả nước, cũng như ở địa phương rất thấp.
Ở Thừa Thiên Huế, lâm nghiệp đóng góp khoảng gần 9% trong giá trị sản xuất ngành nông nghiệp (toàn diện). Đóng góp thấp nhưng lâm nghiệp quản lý đến 2/3 diện tích đất đai. Những con số thống kê chưa cho thấy giá trị của “rừng vàng”; song có một thực tế, những người dân, doanh nghiệp làm nghề rừng, kinh doanh rừng phần lớn là giàu có.
Dễ dàng nhìn thấy giá trị của sản phẩm rừng tự nhiên qua sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu hàng hóa. Khi thị trường có nhu cầu gia tăng thì nhiều sản phẩm của rừng càng được săn lùng ráo riết; lâm sản quý từ chỗ mua bán theo đơn vị m3 đã chuyển sang đơn vị kg. Một cây gỗ quý có thể giá từ một vài tỷ đến hàng chục tỷ đồng như trắc, trầm hương, sưa…
Và, cứ mỗi lần thị trường nhộn nhịp mua bán một loại lâm sản nào đó có giá trị đắt đỏ, xa xỉ là các cơ quan quản lý lâm nghiệp, kiểm lâm và chính quyền cơ sở lại lao tâm khổ tứ, quá sức nhọc nhằn để tổ chức bảo vệ, ngăn cấm, xử lý; song đáng tiếc kết quả thường không được như ý.
Việc quản lý bảo vệ những cây gỗ sưa gần đây là minh chứng rõ nét về phương pháp quản lý, kinh doanh rừng của chúng ta. Do thị trường tiêu thụ gỗ sưa “hét giá trên trời”, có lúc 17 triệu đồng/ kg, giá trị một cây sưa đến vài chục tỷ đồng nên thúc đẩy một số người tìm mọi cách, bất chấp hậu quả để săn lùng, khai thác trái phép.
Ngay cả trong lòng Thủ đô, ở trung tâm các thành phố, những biện pháp tưởng rằng có thể bảo vệ chặt chẽ như ở Hà Nội hay Buôn Ma Thuột cử người bảo vệ 24/24 giờ, mắc võng ngủ tại chỗ, làm lồng sắt bao bọc quanh cây sưa... nhưng rồi nó vẫn bị chặt trộm, có vụ xác định được thủ phạm, nhưng hầu hết là không. Chi phí để tổ chức lực lượng bảo vệ như thế rõ ràng là tốn kém nhiều, song điều đáng nói là, xem ra công tác bảo vệ vẫn không có hiệu quả, chưa nói đến chuyện tiêu cực.
Ngoài ra, còn nhiều cây gỗ cho dù quy định của cơ quan quản lý chuyên ngành xác định quý hiếm, nhưng thực tế rất dễ gây trồng ở trên nhiều lập địa, nhiều vùng, nhiều sinh cảnh khác nhau. Tại sao chúng ta không nghĩ đến một cách kinh doanh rừng gắn với thị trường mang lại hiệu quả cao, như mạnh dạn đề xuất cơ quan có thẩm quyền cho phép khai thác một cách hợp lý để bán thu ngân sách, rồi dùng tiền thu được để tiếp tục tăng cường cho công tác quản lý bảo vệ rừng, trồng mới rừng.
Việc xác định một loài cây cụ thể để khai thác theo nhu cầu thị trường thường áp dụng phương thức chặt chọn tỉ mỉ trong kinh doanh rừng nên ít bị ảnh hưởng đến chức năng phòng hộ của rừng, đến cảnh quan môi trường cũng như tính đa dạng sinh học. Những cây cần để lại làm giống hay để tạo môi trường đa dạng sinh học phải xác định cụ thể vị trí tọa độ để giao trách nhiệm cho chủ rừng bảo vệ, nếu để mất phải xử lý trách nhiệm cá nhân cụ thể. Cách làm này có thể tạo nguồn thu rất lớn cho ngân sách.
Ngay thời điểm giá sưa cao như nói ở trên, một tỉnh chỉ khai thác 100 cây gỗ sưa, mỗi cây chỉ cần có 1m3 gỗ thương phẩm, có thể thu được khoảng 1.700 tỷ đồng, quả là một con số quá lớn so với nguồn thu ngân sách.
Chúng ta lại dùng một phần rất nhỏ của số tiền đó (khoảng 60 tỷ đồng) để trồng lại và chăm sóc, bảo vệ cả ngàn ha sưa, nếu thật sự cần thiết với yêu cầu thâm canh và chất lượng kỹ thuật cao. Cách làm này cũng có thể áp dụng tương tự đối với một số loài cây gỗ quý khác.
Trong bối cảnh nguồn lực ngân sách khó có thể đầu tư đầy đủ, đáp ứng yêu cầu của công tác bảo vệ và phát triển rừng, nhất là rừng đặc dụng và phòng hộ thì thực hiện phương châm “lấy rừng nuôi rừng” nên tiếp tục xem xét với cách làm linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn. Bao nhiêu năm nay, chúng ta đã chứng kiến các trận phá rừng, hết trầm đến re hương, trắc, lim đến sưa,… Hậu quả, loài cây đó rất khó tìm kiếm chính nơi nó sinh ra, cho dù có muốn gây trồng cũng không có điều kiện kinh phí.
So sánh cách làm trên với cách quản lý cố giữ “ bằng mọi giá” nhưng rồi cũng mất, không thể giữ được, trong bối cảnh ngân sách eo hẹp và phương tiện phục vụ bảo vệ rừng còn rất hạn chế, chủ yếu dùng sức người với tấm bản đồ và máy định vị, thử hỏi ta nên chọn cách nào khi đối mặt với nguy cơ đe dọa một loài cây cụ thể nào đó?
Thực tế quản lý bảo vệ rừng đã có câu trả lời thầm lặng và đầy thuyết phục, nhưng câu trả lời công khai của một chủ trương chính thức vẫn thuộc thẩm quyền của các nhà quản lý lâm nghiệp vĩ mô. (Báo Thừa Thiên Huế 4/11) đầu trang(
Tranh thủ những ngày có mưa, từ giữa tháng 9 đến nay, nhân dân huyện An Lão đã đào hố, thực bì tiến hành trồng được 460 ha rừng tập trung và hơn 23.000 cây phân tán, đạt hơn 90% diện tích kế hoạch năm 2014.
Hầu hết diện tích rừng trồng trong vụ Thu Đông năm nay sử dụng giống keo lai thuộc dòng BV10, BV16, BV32, xoan ta. Các đơn vị, địa phương có diện tích rừng trồng đạt khá là Ban Quản lý rừng phòng hộ An Lão 86 ha, xã An Nghĩa 80 ha, An Quang 70 ha, An Dũng 60 ha, An Vinh 28 ha, An Trung 28 ha, An Hòa và thị trấn An Lão mỗi địa phương trồng mới 50 ha.
Đi đôi với việc trồng rừng kinh tế và rừng phòng hộ, các địa phương, đơn vị ở huyện An Lão đã khai thác gần 35.000 tấn gỗ nguyên liệu giấy từ rừng trồng 5-7 năm tuổi. Năm nay nhờ giá gỗ nguyên liệu giấy ổn định nên nhiều hộ dân ở huyện An Lão có thu nhập khá từ trồng rừng. (Báo Bình Định 3/11) đầu trang(
Cây thông phát triển tốt ở địa bàn TT Huế, trong khoảng thời gian từ năm 1976 đến 2003 diện tích thông nhựa toàn tỉnh đạt khoảng trên 13 ngàn ha, được phân bố đều khắp từ bắc đến nam.
Cây thông đã phát triển tốt, cho nhựa với sản lượng đều đặn, bình quân mỗi cây trưởng thành cho 1,5 kg nhựa mỗi năm, một ha có thể trồng từ 500 đến 800 cây, như vậy có thể thu khoảng 1 tấn nhựa mỗi năm, với giá ổn định từ 25 ngàn đồng đến 35 ngàn đồng mỗi kg nhựa thông, mỗi ha có thể thu về từ 35 đến 45 triệu đồng mỗi năm.
So với các loại cây lâm nghiệp khác như keo lá vàng, keo tai tượng, mỗi chu kỳ 5 năm, bình quân cho thu nhập từ 40 đến 80 triệu đồng, thì một ha thông nhựa trong 5 năm cho lợi nhuận cao hơn nhiều, giải quyết được một lượng lao động nhất định và ổn định.
Bên cạnh đó cây thông có khả năng chống chịu với thời tiết, mưa bão, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái tốt hơn, độ che phủ của rừng thông không bị đứt quảng do khai thác trồng mới. Thông nhựa đã được trồng thành công và là cây trồng chủ lực của ngành lâm nghiệp liên tục từ năm 1976 đến năm 2003.
Cây sinh trưởng và phát triển tốt, khả năng chống chịu gió bão, sâu bệnh và giữ đất rất tốt. Hàng ngàn ha đã từng bị các trận dịch sâu róm hoành hành; bị lửa rừng uy hiếp; song thật kỳ lạ về sức sống mãnh liệt của nó; trong khi nhiều cây trồng rừng khác trong hoàn cảnh đó dẫn đến chết cả khu rừng thì trái lại, cây thông nhựa vẫn chịu đựng được và phục hồi lại rừng, tiếp tục phát triển.
Từ năm 2003 đến nay, do thị trường gỗ dăm phát triển đã tác động tiêu cực đến cây thông và diện tích rừng thông được trồng hàng chục năm tuổi. Từ hơn 13 ngàn ha thông nhựa, đến nay toàn tỉnh chỉ còn trên dưới 4 ngàn ha, tập trung ở Công ty lâm nghiệp Phong Điền, khoảng 1500 ha, công ty lâm nghiệp Tiền Phong trên dưới 1000 ha, rừng bắc Hải Vân và một số diện tích rải rác từ Phong Điền đến Phú Lộc.
Trong khi đó cây thông là một loại cây trồng bền vững, mang lại giá trị kinh tế cao, mỗi ha một năm cho thu nhập bình quân 40 triệu đồng, so với chu kỳ 7 năm của keo tràm thì nguồn thu này lớn hơn rất nhiều lần, giá nhựa lại ổn định, không bếp bênh như mủ cao su…
Ở Công ty lâm nghiệp Phong Điền, hiện tại có 3 đội sản xuất chuyên chăm sóc rừng thông, vệ sinh rừng, phòng chống cháy nổ và thu hoạch nhựa thông với hơn 200 lao động là người dân ở các xã Phong Xuân, Phong Mỹ và Phong Sơn, với nguồn thu nhập bán thời gian, nông nhàn đã tạo nguồn thu ổn định cho họ.
Đa phần diện tích rừng trồng từ dự án PAM đã bị đốn hạ để thay thế bằng cây keo tràm, ngay cả diện tích thông cảnh quan tại khu vực lăng vua Gia Long, cũng bị chia đất và bị đốt phá dữ dội…Gần đây nhất là vụ phá rừng thông ở đèo Phước Tượng, huyện Phú Lộc, vụ đốt rừng thông ở chân đồi Vọng Cảnh, phía giáp với bờ nam sông Hương…
Hay vụ đốt trụi gần 5 ha rừng thông ở phường Hương Vân, thị xã Hương Trà… Cho thấy việc hủy hoại diện tích rừng thông có dấu hiệu ngày càng tăng với cấp độ lớn. Nguyên nhân này cho thấy nhận thức về cây trồng lâm nghiệp chưa mang tính bền vững, chỉ nhìn thấy lợi nhuận trước mắt của người dân.
Nếu sau một chu kỳ cây keo tràm phải đốn hạ thì phải mất đến 3 năm sau diện tích tán rừng mới được phủ xanh trở lại, mà trên cùng một diện tích chỉ trồng keo tràm sẽ phá hủy chất đất, nguy cơ sạt lở vào mùa mưa gió là rất lớn, nguyên nhân khi thu hoạch diện tích bị cày xới để trồng mới, trong khi đó điều kiện địa hình lại có độ dốc lớn…Trong khi đó nhu cầu chế phẩm từ nhựa thông tại tỉnh nhà vẫn chưa đủ đáp ứng từ nguồn nguyên liệu tại chỗ.
Với sản lượng hiện tại khoảng 1000 tấn nhựa mỗi năm, thì chưa thấm vào đâu với nhu cầu sản xuất sơn nước, chứ đừng nói gì đến các chế phẩm khác từ nhựa thông. Đó là khẳng định của các chuyên gia lâm nghiệp.
Thông nhựa là một loài cây bản địa của Thừa Thiên Huế, sinh trưởng và phát triển tốt trên các đất rừng có lập địa xấu, trơ sỏi đá, chua, dốc. Cây tái sinh tự nhiên cao, vòng đời kéo dài cả trăm năm; khả năng chích nhựa 50 - 60 năm; có thể trồng thuần loài hoặc hỗn giao với cây trồng khác như các mô hình sẵn có. Việc gieo ươm, trồng, chăm sóc và bảo vệ cũng như tổ chức khai thác nhựa, không chỉ công nhân mà cả nông dân đã có nhiều kinh nghiệm có thể kế thừa và phát huy.
Có thể khẳng định rừng trồng thông nhựa đã đáp ứng cả chức năng kinh tế và phòng hộ. Tuy nhiên, không hiểu vì lý do gì trong quy hoạch trồng rừng phòng hộ, cây thông nhựa đã bị loại khỏi danh sách.
Mười năm trở lại đây, hầu như không có nơi nào trồng thông nhựa; thậm chí nhiều nơi còn thanh lý để chuyển sang trồng keo. Từ chỗ, toàn tỉnh có khoảng 13 ngàn ha rừng thông nhựa, đến nay chỉ còn khoảng 3 ngàn ha. Nếu cho rằng thông nhựa sinh trưởng chậm, vậy thì các cây bản địa hiện đang trồng phòng hộ, cây nào sinh trưởng nhanh hơn?
Điều đáng mừng, trong kế hoạch phát triển của Công ty lâm nghiệp Tiền Phong thời gian tới, sẽ duy trì diện tích thông sẵn có và trồng mới một số diện tích còn lại của đơn vị quản lý. (Đài PTTH Thừa Thiên Huế 4/11) đầu trang(
Để giúp người dân chủ động trồng rừng, huyện Đakrông đã chỉ đạo và giao nhiệm vụ cho Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện tiến hành đo đạc lập hồ sơ 1.937,3 ha đất để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSD) lâm nghiệp cho các hộ gia đình trồng rừng sản xuất; tiến hành đo 7.750 ha rừng để giao khoán cho các hộ, nhóm hộ nhận khoán, chăm sóc, bảo vệ.
Ngoài ra huyện cũng đã thực hiện hỗ trợ đầu tư 750 ha rừng với quy định như sau: Năm đầu hỗ trợ 4 triệu đồng/ha, 0,6 triệu đồng/ha chăm sóc năm thứ nhất, 0,4 triệu đồng/ha chăm sóc năm thứ hai cho các hộ gia đình trồng rừng tại các xã trồng rừng tạo vùng nguyên liệu theo quy hoạch phát triển sản xuất nông lâm ngư nghiệp và chuyển đổi cơ cấu sản xuất gắn với xây dựng nông thôn mới cấp xã, huyện đã được phê duyệt. (Báo Quảng Trị 5/11) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||