Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 04 tháng 11 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Mới đây, TAND TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án buôn lậu gỗ trắc lớn nhất nước xảy ra ở Quảng Trị, đã quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung vì chưa đủ căn cứ buộc tội. Vụ này, Báo Nông Nghiệp Việt Nam  đã có bài: “Buôn lậu hay không?”.
Phó Chánh tòa Hình sự TAND TP Đà Nẵng Nguyễn Thị Cảnh làm chủ tọa phiên tòa, trong tuyên bố trả hồ sơ cuối chiều 31/10 nêu 4 nội dung yêu cầu điều tra bổ sung làm rõ. Đó là: Nguồn gốc lô gỗ, mâu thuẫn trong các bản giám định khối lượng lô gỗ, dấu búa kiểm lâm đóng trên lô gỗ và hơn 2 tỷ đồng tiền bán lô gỗ được chuyển cho Tổng cục Hải quan.
Theo cáo trạng ngày 7/5/2014 của Viện KSNDTC: Cuối năm 2011, Cty TNHH MTV Ngọc Hưng (Cty Ngọc Hưng) nhập gỗ trắc từ Lào, qua cửa khẩu Lao Bảo (Quảng Trị), sau đó xuất cho doanh nghiệp Hồng Kông ở cảng Đà Nẵng. Lô gỗ đến Đà Nẵng, 21 container đã vào cảng và đang bốc xuống tàu. Còn 1 container trên đường đi bị Công an quận Ngũ Hành Sơn chặn lại khám xét, phát hiện một số gỗ sai với khai báo.
Nhận được thông tin, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng kiểm tra, cho rằng hàng hóa không vi phạm nên tiếp tục cho xuống tàu. Tổng cục Hải quan yêu cầu kiểm tra toàn bộ lô gỗ, phát hiện lẫn lộn hơn 20 m3 gỗ giáng hương.
Cục Điều tra chống buôn lậu của Tổng cục Hải quan khởi tố vụ án hình sự, chuyển hồ sơ sang Cơ quan CSĐT Bộ Công an. Lúc đầu C46 điều tra, khẳng định không có hành vi phạm tội nên trả hồ sơ cho Tổng cục Hải quan. Hồ sơ chuyển vòng đến C44, sau nhiều lần điều tra và điều tra bổ sung đã đề nghị truy tố.
Cáo trạng cho rằng Cty Ngọc Hưng đã “lập bộ hồ sơ, chứng từ giả, sau đó dùng bộ hồ sơ này để buôn lậu 614,672 m3 gỗ không rõ nguồn gốc, xuất xứ, trị giá 63.619.706.500 đồng”. Trách nhiệm hành vi buôn lậu thuộc về GĐ Trần Thị Dung và PGĐ Trương Huy Liệu (hai vợ chồng).
Ông Đỗ Lý Nhi và Lê Xuân Thành ở Cục Hải quan tỉnh Quảng Trị được giao nhiệm vụ kiểm hóa lô hàng xuất khẩu “đã không làm đầy đủ trách nhiệm được giao” nên không phát hiện được gỗ giáng hương.
Còn ông Đỗ Danh Thắng ở Cục Hải quan TP Đà Nẵng “không làm hết trách nhiệm”, để gỗ xếp xuống tàu phải tốn tiền bốc lên cùng chi phí lưu bãi hơn 1 tỷ đồng.
Ông Liệu khai, Cty Ngọc Hưng nhập lô gỗ trắc từ Lào vào ngày 17/12/2011, có hợp đồng, tiền mua gỗ trả qua ngân hàng, thuế VAT nộp vào cơ quan thuế hơn 3,2 tỷ đồng. Khi gỗ còn ở Lào, đã có doanh nghiệp của Hồng Kông đồng ý mua, nên hai ngày sau khi vào nước ta, nguyên lô gỗ được làm thủ tục xuất khẩu.
Lô gỗ trắc 535,8 m3 gồm rất nhiều loại, từ gỗ tròn đến gỗ xẻ và cành ngọn, có lẫn hơn 20 m3 gỗ giáng hương xẻ nhỏ như bàn tay nên không phát hiện thấy. Vả lại, giá gỗ giáng hương rẻ không bằng nửa gỗ trắc, thuế VAT nộp cao hơn thực tế có lẫn gỗ giáng hương, nên sai sót kê khai không gây thiệt hại cho nhà nước.
Lời khai của các bị cáo là công chức hải quan cũng như đại diện Cục Hải quan tỉnh Quảng Trị, TP Đà Nẵng (có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) và các nhân chứng khẳng định, không có hành vi phạm tội.
Gỗ nhập từ Lào chở trên 13 chiếc xe tải, gồm 5 xe biển số Lào, 8 xe biển số Việt Nam. Đây là hàng không cấm nhập khẩu nên không cần kiểm tra. Tuy nhiên, do gỗ tạm nhập tái xuất nên Hải quan Quảng Trị tổ chức kiểm hoá 5% lô hàng và chỉ chịu trách nhiệm với tỷ lệ này, ngoài ra Cty Ngọc Hưng chịu trách nhiệm.
Về khối lượng lô gỗ, hợp đồng mua bán và Cty Ngọc Hưng kê khai 535,8 m3. Quyết định thu giữ hàng hoá ngày 12/4/2012 của Cục Điều tra là hơn 453 m3, giám định lần thứ nhất có kết quả như con số thu giữ, nhưng giám định lần thứ hai lại ra 614,672 m3.
Tòa hỏi, tại sao có nhiều con số khác nhau? Ông Liệu trả lời, ông đo theo quy định của nhà nước, còn giám định cân lên để tính ra khối lượng là không đúng quy định và phản khoa học. Tòa hỏi đại diện Cục Điều tra, lý do nào lấy con số lớn nhất để khởi tố vụ án? Không trả lời được.
Vấn đề quan trọng nhất là thiệt hại của vụ án, kết luận điều tra và cáo trạng chưa chứng minh được. Chủ toạ hỏi, thực tế xảy ra chưa, thiệt hại bao nhiêu? Đại diện Cục Điều tra không trả lời được.
Còn ông Liệu lại chứng minh được thiệt hại do vụ án gây ra cho Cty Ngọc Hưng: Lô gỗ bị cơ quan điều tra bán vào tháng 1/2014, hơn 63,6 tỷ đồng, trong khi thời giá hàng trăm tỷ đồng. Số tiền bán đấu giá trích hơn 2 tỷ đồng thanh toán cho Tổng cục Hải quan mà nay toà yêu cầu điều tra bổ sung làm rõ.
Cũng vì lô gỗ đã bị bán, toà yêu cầu điều tra bổ sung làm rõ dấu búa kiểm lâm đóng trên gỗ qua ảnh do Cục Hải quan tỉnh Quảng Trị chụp lưu lại và đã nộp tại tòa.
Cuối phần thẩm vấn, Chủ tọa Nguyễn Thị Cảnh hỏi bà Dung về di thư của cháu bà để lại. Bà Dung khai, cháu bà là Trần Đình Quang, 26 tuổi, làm việc trong Cty Ngọc Hưng, sau khi gặp điều tra về đã tự tử, để lại lá thư kể rằng bị điều tra viên Trần Văn Dũng ép ký vào những lời khai viết sẵn, không đúng sự thật cho rằng Cty Ngọc Hưng mua lô gỗ ở Lào bằng hồ sơ giả mạo. “Bản chính di thư ấy công an thu giữ, tôi chỉ còn bản photo”, bà Dung nói.
Ở hành lang tòa án, PV hỏi chuyện vợ chồng bà Dung và ông Liệu, họ cho biết sau khi khởi tố vụ án, toàn bộ kho tàng nhà cửa bị niêm phong nên thiệt hại lớn hơn lô gỗ rất nhiều.
“Có một kho gỗ trị giá hàng tỷ đồng bị cơ quan điều tra niêm phong rồi để cho kẻ trộm lấy hết. Hai đứa con trai của tôi đang học ở nước ngoài, vì vụ án này mà phải trở về để lo cứu cha mẹ”, bà Dung nghẹn ngào.
Tại quán cà phê ở tầng hầm tòa án, PV gặp nhiều người từ Quảng Trị vào theo dõi phiên tòa, vượt quãng đường trên dưới 200 km. Trong đó, có Anh hùng LLVT Trương Đức Hai ở TP Đông Hà giọng buồn bã: kinh doanh gỗ là một ngành kinh tế của Quảng Trị, từ sau vụ án gặp rất nhiều khó khăn, thiệt hại lớn lắm. (Nông Nghiệp Việt Nam 4/11, tr20) đầu trang(
Liên quan đến vụ “Phát hiện vườn gỗ lậu giữa rừng” Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng tạm đình chỉ công tác của 7 cán bộ quản lý, bảo vệ rừng.
Cụ thể, ngày 3-11, Sở NN&PTNT TP Đà Nẵng đã ký ban hành công văn số 1631 yêu cầu Ban quản lý Rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa và Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng tạm đình chỉ công tác của 5 cán bộ quản lý, bảo vệ rừng Trạm quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông, cùng 2 kiểm lâm địa bàn.
Việc đình chỉ các cán bộ, nhân viên này nhằm phục vụ công tác điều tra liên quan đến vụ phát hiện gỗ lậu ở khu vực giáp ranh giữa TP Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam từ ngày 6 đến ngày 11-10 vừa qua.
Trước đó, hội đồng kỷ luật Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa quyết định kỷ luật đối với 3/5 cán bộ, nhân viên Trạm quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông do không hoàn thành nhiệm vụ, thiếu trách nhiệm trong việc quản lý, bảo vệ rừng.
Trong đó, ông Hồ Tấn Hai, phụ trách Trạm Cà Nhông bị kỷ luật hình thức cảnh cáo; ông Thủy Ngọc Trọng, Phó trạm Cà Nhông bị cách chức; nhân viên Nguyễn Văn Ấn bị kỷ luật khiển trách.
Hội đồng kỷ luật Hạt Kiểm lâm Rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa cũng đã ra quyết định xử lý kỷ luật theo hình thức khiển trách đối với hai kiểm lâm địa bàn là Nguyễn Văn Dũng và Đinh Ngọc Bán. (Tuổi Trẻ 4/11) đầu trang(
Ngày 3.11, ông Lê Viết Mai - Đội trưởng Đội Kiểm lâm Cơ động số 1 tỉnh Quảng Nam cho biết, Đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh đã đột nhập 4 xưởng cưa tại xã Trà Mai, huyện Nam Trà My và phát hiện 5 điểm cất giấu gỗ lậu quy mô lớn.
Cụ thể, trong 3 ngày 23 đến 25.10, đoàn liên ngành kiểm tra cơ sở mộc của ông Nguyễn Quốc Oanh (thôn 1, xã Trà Mai) và phát hiện 137 thanh, phách gỗ với khối lượng hơn 6,3m3 và 347 sản phẩm gỗ các chủng loại sao đen, giổi, xoan mộc, xoan đào, chò… không có nguồn gốc rõ ràng.
Sau đó, lực lượng chức năng tiếp tục phát hiện tại khu đất trống sát cơ sở mộc của ông Oanh chôn cất một khối lượng gỗ lậu lớn. Lực lượng chức năng thuê xe múc “khai quật” được gần 9,3m3 gỗ đã xẻ thành phách thuộc các nhóm I và VI.
Tiếp tục kiểm tra cơ sở mộc của ông Trần Văn Tân (thôn 1, xã Trà Mai), phát hiện 101 thanh, phách gỗ (gần 6,6m3) với nhiều gỗ thuộc nhóm I. Tương tự, tại các cơ sở chế biến gỗ của ông Nguyễn Hồng Hà, Võ Quang Minh cũng đều chứa chấp, tiêu thụ gỗ lậu. Tổng số gỗ lậu phát hiện tại 4 xưởng cưa là 382 thanh, phách gỗ và 347 sản phẩm gỗ trái phép với khối lượng hơn 26m3.
“Do lợi nhuận lớn từ kinh doanh, chế biến gỗ lậu, nên các xưởng cưa đua nhau mọc lên. Phần lớn số gỗ trên đã đưa ra khỏi rừng, đang cất giấu và chuẩn bị tiêu thụ tại các xưởng c ưa bằng cách chế biến ra sản phẩm như bàn, ghế…” - ông Mai nói.
Ông Mai cho biết thêm, đoàn đã lập biên bản và đưa toàn bộ số gỗ về Hạt Kiểm lâm huyện Nam Trà My cất giữ. Trong biên bản làm việc, các chủ xưởng cưa này khai rằng số gỗ trên đã mua lại của một số người dân khu vực, ngoài ra còn lại là của một số cán bộ địa phương mang đến xưởng để gia công ra thành phẩm.
Từ lời khai này, đoàn liên ngành đã có giấy triệu tập 4 chủ xưởng cưa và một số cán bộ để làm rõ. Vấn đề lớn hơn, theo ông Lê Viết Mai: "Tôi cũng đặt câu hỏi với Hạt Kiểm lâm Nam Trà My và kiểm lâm địa bàn, họ đã ở đâu sao không phát hiện ra gỗ lậu được cất giữ trong các xưởng cưa, xưởng mộc này? Đội sẽ làm việc với Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Nam Trà My và kiểm lâm địa bàn về trách nhiệm quản lý địa bàn của họ".
Ông Huỳnh Tấn Đức - Giám đốc Sở NNPTNT Quảng Nam cho biết: “Sở đã chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh vào cuộc điều tra vụ việc và xử lý theo đúng quy định, nếu đủ điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ chuyển cơ quan điều tra.
Ngoài ra, chỉ đạo Thanh tra sở làm việc với hạt trưởng kiểm lâm, cán bộ nông nghiệp Nam Trà My, xử lý theo đúng tình tiết cụ thể. Đồng thời giao cho ngành chức năng mở rộng truy quét trên phạm vi rộng, kiểm tra ráo riết các xưởng mộc, xử lý nghiêm các xưởng tiêu thụ gỗ lậu”. (Nông Thôn Ngày Nay 4/11) đầu trang(
3-11, tin từ Sở NN&PTNT tỉnh cho biết ông Mai Kiều, Giám đốc sở này, vừa ký quyết định thành lập đoàn kiểm tra xác minh theo đơn tố cáo vụ phá rừng nghiêm trọng tại rừng Nà Dệt, Giếng Cọp, Tà Nớ 1 thuộc hai xã Hàm Thạnh, Hàm Cần, huyện Hàm Thuận Nam.
Đoàn sẽ làm rõ đơn tố cáo một lãnh đạo Xí nghiệp lâm nghiệp Hàm Thuận Nam có hành vi câu kết với ông D. và một số đối tượng khác khai thác, vận chuyển gỗ trái pháp luật ở các khu vực rừng nói trên.
Đoàn cũng làm rõ nội dung tố cáo việc sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích. Đoàn kiểm tra ngoài lực lượng thanh tra, kiểm lâm còn mời thêm đại diện Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự kinh tế và chức vụ (PC46) Công an tỉnh Bình Thuận tham gia.
Thời gian thụ lý và xác minh đối với vụ phá rừng nghiêm trọng này được thực hiện trong vòng 45 ngày tính từ ngày công bố quyết định. (Pháp Luật TPHCM 4/11) đầu trang(
Năm 2012, hơn 40 ha rừng phòng hộ đầu nguồn hồ thủy lợi Đông Tiễn, xã Bình Trị (Thăng Bình, Quảng Nam) bị hàng chục hộ dân phá sạch.
Sau đó các cơ quan chức năng đã phát hiện, xử lý. Tuy nhiên, bà con được "miễn giảm" mức phạt nặng mà thay vào đó, là phải trồng lại rừng.
Ông Lê Viết Mãnh, Phó chủ tịch xã Bình Trị kể: "Ngày đó, có tin là DN vào đây trồng cao su nên bà con thi nhau phá rừng để mong được đền bù. Đặc biệt, khi chưa đưa hồ Đông Tiễn vào sử dụng, số diện tích này cũng chưa rõ ràng là rừng SX hay rừng phòng hộ, khiến cánh rừng này rơi vào cảnh "cha chung không ai khóc".
Ông Huỳnh Tấn Đạt, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Thăng Bình cho biết, đến nay, lực lượng chức năng xác định 20 hộ dân tham gia phá rừng. Trong đó, tiến hành xử lý 12 hộ, còn 8 hộ đang củng cố hồ sơ để xử lý tiếp, tuy nhiên các hộ này được hưởng "khoan hồng". Họ không bị xử phạt về hành chính, hay truy tố trước pháp luật mà chỉ nhận hình thức kiểm điểm trước người dân trong xã và buộc trồng lại số rừng bị phá.
"Nếu căn cứ vào Luật Bảo vệ & phát triển rừng thì những hộ này vi phạm và bị cơ quan chức năng xử lý, có những người bị giam giữ. Tuy nhiên, cơ quan chức năng đã nhẹ nhàng tuyên truyền để bà con giữ rừng", ông Đạt cho hay.
Một trong những hộ tham gia phá rừng, ông Nguyễn Văn Thanh, thôn Nam Tiễn nói: "Chúng tôi biết việc mình làm là trái pháp luật và cam kết không tái phạm. Cá nhân tôi đầu tư hơn 10 triệu đồng mua keo giống để trồng lại và giờ đã bàn giao lại cho nhà nước quản lý".
Theo ông Huỳnh Tấn Đạt, đến thời điểm này, người dân tham gia chặt phá rừng cũng đã "bồi thường" lại số diện tích rừng phòng hộ bị chiếm đoạt bằng cách phủ xanh lại các diện tích đồi trọc. Có 35 ha rừng xung quanh tiểu khu 484 tại núi Vinh Nam đã lại được phủ xanh, còn hơn 13 ha, trong thời gian tới sẽ kiểm điểm 8 hộ còn lại và buộc trồng lại rừng.
Ông Lê Viết Mãnh, Phó chủ tịch UBND xã Bình Trị nói: "Sở dĩ các loại cây được trồng lại đều phát triển tốt là do sự nhiệt tình giám sát, quản lý của các hội, đoàn thể, MTTQ ở xã. Chúng tôi đã giao Ủy ban MTTQ, các hội, đoàn thể tiếp quản diện tích rừng trồng lại này". (Nông Nghiệp Việt Nam 3/11, tr19) đầu trang(
Ngoài việc đặt hàng chục bẫy ảnh, các cán bộ của Khu Bảo tồn sao la tỉnh Thừa Thiên - Huế và Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) ngày đêm len lỏi trong rừng sâu để thu mẫu máu từ con vắt, phân tích ADN nhằm tìm kiếm dấu tích loài động vật “cực kỳ nguy cấp” trong Sách Đỏ thế giới
Khu Bảo tồn sao la Thừa Thiên - Huế có diện tích trên 12.150 ha rừng đặc dụng, nằm trên địa bàn của 2 huyện A Lưới và Nam Đông, nối liền Vườn Quốc gia Bạch Mã và Khu Bảo tồn sao la Quảng Nam. Kể từ khi Thừa Thiên - Huế phát hiện 2 cá thể sao la vào năm 1998, đến nay chưa ai chính thức tìm thấy loài động vật móng guốc cực kỳ quý hiếm này.
Tuy nhiên, ông Lê Ngọc Tuấn, Giám đốc Khu Bảo tồn sao la tỉnh Thừa Thiên - Huế, cho biết có 2 dấu hiệu cho thấy hiện vẫn còn sao la đang sinh sống tại khu bảo tồn. Cụ thể, tháng 6-2011, người dân trình báo về việc một hộ kinh doanh mua được một xác sao la.
Sau đó một thời gian, Đồn Biên phòng 637 tại huyện A Lưới cũng báo rằng một số cán bộ, chiến sĩ đi bắt ếch dọc khe suối đã nhìn thấy một con sao la. Vào cuối năm 2013, WWF đã ghi nhận sao la đang sống tại Khu Bảo tồn sao la Quảng Nam, trong khi 2 khu bảo tồn này nằm liền kề nhau nên khả năng sao la xuất hiện tại Thừa Thiên - Huế khá cao.
Để tìm dấu tích của sao la ở địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế, ông Lê Ngọc Tuấn cho biết ngoài việc đặt trên 20 bẫy ảnh nhằm ghi hình tự động mỗi khi có sao la, Khu Bảo tồn sao la tỉnh Thừa Thiên - Huế còn phối hợp với WWF tiến hành thu mẫu vắt (một loại côn trùng hút máu) để phân tích xem có sao la hay không.
Ông Đoàn Tuấn, Đội trưởng Đội Bảo vệ rừng WWF tại Khu Bảo tồn sao la Thừa Thiên - Huế, cho biết thu mẫu vắt và phân tích ADN là phương pháp hiện đại đã được áp dụng để phát hiện sự tồn tại của nhiều loại động vật quý hiếm phân bố tại các khu rừng dọc biên giới Việ t - Lào đi qua địa bàn 2 tỉnh Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam. Theo đó, 50 ống nghiệm sẽ được sử dụng để lưu giữ các mẫu vắt, tập trung ở vùng có phân bố của thú quý và dọc tuyến của nhóm tuần tra bảo vệ rừng.
“Chúng tôi phải di chuyển nhiều nơi, đi qua những vùng tiềm năng mới có cơ hội tìm được dấu tích sao la. Sau khi thu được mẫu máu từ các con vắt, những mẫu này sẽ được chuyển sang các nước tiên tiến ở châu Âu tiến hành xét nghiệm xem các con vắt đã từng hút máu của loài sao la hay chưa” - ông Đoàn Tuấn nói. (Người Lao Động 4/11, tr11) đầu trang(
Ảnh hưởng tiêu cực của chủ trương phát triển kinh tế "bung ra" làm độ che phủ rừng ở huyện Mai Sơn (Sơn La) có lúc chỉ còn 11%. Những năm gần đây, nhờ chú trọng khôi phục vốn rừng, tổ chức bảo vệ rừng gắn từ cơ sở đã khiến cho nơi đây mầu xanh đang dần trở lại.
Đến Hạt kiểm lâm huyện Mai Sơn vào những ngày đầu mùa khô, Hạt trưởng kiểm lâm Mai Sơn Nguyễn Văn Kỳ, cho biết: "Ở Tây Bắc thời điểm từ cuối tháng 10 cho đến tháng 4 năm sau là mùa bận rộn của anh em kiểm lâm".
Anh Kỳ cho biết thêm: Mai Sơn có diện tích tự nhiên 143 nghìn ha, trong đó rừng còn 56.824 ha, độ che phủ đạt xấp xỉ 40%. Nếu tính cả 17 nghìn ha rừng trạng thái 1C sắp đủ tiêu chuẩn 2C thì độ che phủ toàn huyện đạt 43,5%. Diện tích rừng hiện nay đang khoanh nuôi bảo vệ chủ yếu là rừng tái sinh, chứ rừng già, rừng nguyên sinh còn rất ít.
Nguyên nhân rừng Mai Sơn bị thu hẹp, chất lượng bị suy giảm là do trước kia người dân phá rừng làm nương, trong đó phần lớn phá rừng lấy đất trồng ngô. Nếu tỉnh Sơn La là địa phương có diện tích và sản lượng ngô đứng đầu cả nước thì Mai Sơn là địa phương dẫn đầu chỉ số đó ở Sơn La.
Theo biên niên giám thống kê của tỉnh Sơn La thì năm 2002 diện tích ngô của Mai Sơn mới có 9.053 ha, năm 2009 đã tăng lên 19.020 ha, tăng 203%. Diện tích ngô tăng lên theo cấp số nhân, đồng nghĩa với diện tích rừng bị thu hẹp. Có một thực tế, ở Mai Sơn số liệu các cây trồng, vật nuôi khác có thể thống kê được, duy chỉ có diện tích và sản lượng ngô thì không có con số chính xác. Bởi ở đây ngô "leo" đồi, ngô lấn diện tích đất lâm nghiệp tràn lan.
Để ngăn được hiện trạng đó cần tìm trúng nguyên nhân, có giải pháp đồng bộ. Những người làm công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) ở Mai Sơn đã xác định được phương châm "Người dân phá rừng thì chính người dân phải giữ rừng". Việc làm đầu tiên là làm chuyển biến nhận thức và ý thức của người dân, đây là điểm mấu chốt đã được cán bộ hạt kiểm lâm Mai Sơn tìm ra.
Vướng mắc lớn nhất trong QLBVR ở Mai Sơn là hiệu lực xử lý hành chính các vụ vi phạm lâm luật không nghiêm và không có tác dụng. Vì thế, Hạt đã tham mưu cho UBND huyện ban hành Chỉ thị 06-CT/UBND ngày 23-5-2012 nhằm tăng cường các biện pháp cấp bách QLBVR và tập trung giải quyết tồn đọng việc xử lý vi phạm lâm luật.
Trong số 778 vụ vi phạm phải xử lý, hai năm qua mới giải quyết được 11,3% số vụ và 27% số tiền phạt. Lý do chính không giải quyết được là hầu hết các đối tượng phá rừng làm nương, đốt nương làm cháy rừng đều là những hộ nghèo, không có tài sản, không có khả năng nộp phạt. Nay hơn 600 vụ còn tồn đọng chuyển về cơ sở, hạt cùng với chính quyền địa phương và đối tượng vi phạm cùng ký biên bản xử lý. Trường hợp nào có khả năng xử lý thì thi hành nộp phạt, trường hợp hộ dân nào thật sự khó khăn thì được "treo nợ" quyết định xử lý, nhưng phải cam kết khôi phục và bảo vệ diện tích rừng vi phạm.
Năm 2014 Hạt kiểm lâm Mai Sơn đã xây dựng kế hoạch giúp UBND huyện tổ chức hội nghị cán bộ chủ chốt các xã, bản, thị trấn sơ kết ba năm công tác QLBVR. Thời gian qua hạt đã tiến hành xây dựng bản đồ phân vùng dự báo cháy. Hiện nay tại trụ sở UBND các xã có biển báo cấp độ nguy cơ cháy.
Tại phòng làm việc của chủ tịch UBND xã đều có bản đồ phân vùng dự báo cháy, phương án phòng, chống cháy rừng (PCCR). Với cách làm nhấn mạnh việc nâng cao nhận thức của người dân, giao trách nhiệm cho người đứng đầu xã, bản, hội nghị tiến hành ký cam kết giữa bí thư, chủ tịch UBND xã, bản với huyện. Nếu địa phương nào để xảy ra phá rừng làm nương, cháy rừng, vi phạm lâm luật thì ngoài đối tượng vi phạm phải xử lý, người đứng đầu địa phương cũng phải chịu trách nhiệm. Sự ràng buộc, gắn trách nhiệm cụ thể, rõ ràng trong QLBVR ở Mai Sơn đang tạo ra sự chuyển biến mới.
Một mặt gắn trách nhiệm chủ rừng với cấp ủy, chính quyền địa phương, thời gian qua hạt kiểm lâm Mai Sơn đã tích cực làm tốt công tác tuyên truyền vận động người dân nâng cao ý thức bảo vệ rừng, PCCR. Ngoài tuyên truyền bằng tờ rơi, đài truyền thanh, báo chí, hạt còn quan tâm tổ chức tuyên truyền miệng, bằng tiếng dân tộc, với cách giải thích ngắn gọn, dễ hiểu.
Chuyển biến rõ nét là những khu rừng cộng đồng, rừng ma, rừng đầu nguồn nước đến nay đều được bảo vệ. Đến nay ở hầu hết các địa phương trong huyện người dân đã hiểu phá rừng gây sạt lở đất, ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, vì thế mọi người đã tự giác giám sát, nâng cao ý thức bảo vệ rừng.
Nhận thức và cách làm mới về công tác QLBVR ở Mai Sơn đang có những tín hiệu vui. Với việc tỉnh Sơn La thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng, người dân có lợi ích chắc chắn sẽ làm chủ rừng gắn bó với rừng, công tác QLBVR, PCCR sẽ đi vào nền nếp. (Nhân Dân 4/11) đầu trang(
Sáng 3-11, nguồn tin từ UBND huyện Tương Dương (Nghệ An) cho biết công an huyện này vừa quyết định khởi tố vụ án tàn phá hơn 150m3 gỗ pơmu tại vùng rừng biên giới xã Tam Hợp giáp ranh với biên giới Việt - Lào và đang tiến hành truy bắt các đối tượng liên quan đến vụ án.
Ông Võ Sĩ Lâm - hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Tương Dương - cho biết: “Vì điều kiện thời tiết, giao thông, địa hình hết sức khó khăn nên mới chỉ đưa được 103 tấm gỗ pơmu (khoảng 21m3) ra tập kết ở trụ sở cơ quan chức năng. Số gỗ còn lại được các cơ quan chức năng bảo vệ nghiêm ngặt và khẩn trương đưa khỏi hiện trường”.
Trước đó, ngày 25-7 khi tốp kiểm lâm huyện Tương Dương đi tuần tra tại vùng rừng biên giới này thì phát hiện việc chặt phá rừng. Qua kiểm tra có 49 cây gỗ tròn pơmu, một cây gỗ dổi ước tính hơn 150m3 gỗ. Đây là gỗ nguyên sinh nhiều năm tuổi có trên 120 vanh (chu vi), tương đương 1m.
Theo cơ quan công an, các đối tượng này chủ yếu là người Mông ở hai bản Huồi Sơn và Phà Lõm thuộc xã Tam Hợp. (Tuổi Trẻ 3/11) đầu trang(
Ông Trần Viết Phương, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT thành phố Đà Nẵng cho biết như vậy khi trao đổi với phóng viên Báo Đà Nẵng sáng 2-11.
Theo ông Phương, có thể nói đây là vụ khai thác và cất giấu gỗ trái phép lớn nhất được phát hiện ở vùng giáp ranh tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng với khối lượng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam khoảng 16m3, ở địa bàn thành phố Đà Nẵng khoảng 24m3.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND thành phố, Sở đã chỉ đạo và theo thẩm quyền giao Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng phối hợp các cơ quan Công an thành phố, cơ quan Nội chính huyện Hòa Vang…tổ chức điều tra xác minh làm rõ vụ việc và xử lý theo quy định của pháp luật.
Ông Trần Viết Phương cho biết: Qua kiểm tra thực tế tại hiện trường, đúng là số gỗ này đã khai thác và cất giấu trên 2 tháng như nhà báo đã nhận định. Tuy nhiên, đến thời điểm ngày 6, 7 và ngày 11, 12-10-2014 thì lực lượng bảo vệ rừng và kiểm lâm địa bàn của Trạm quản lý, bảo vệ rừng Cà Nhông mới phát hiện được.
Trước mắt, Sở chỉ đạo yêu cầu Chi cục Kiêm lâm, Ban quản lý rừng đặc dụng triệu tập các cá nhân liên quan đang công tác tại Trạm Cà Nhông về cơ quan tường trình, viết kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của cá nhân và tập thể trong vụ việc trên; đồng thời điều động các cán bộ, công chức, viên chức đảm bảo sức khỏe, năng lực, phẩm chất thay thế.
Tổ chức chốt chặn các điểm nóng đảm bảo ngăn chặn và xử lý ngay nạn tác động trái phép vào rừng. Việc nhân viên quản lý, bảo vệ rừng và kiểm lâm địa bàn có tiếp tay cho lâm tặc hay không cơ quan điều tra sẽ làm rõ và có kết luận trong thời gian đến.
Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở NN&PTNT thành phố Đà Nẵng, là đơn vị chủ rừng được thành phố Đà Nẵng giao quản lý bảo vệ khu rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa với diện tích là 26.751,10 ha. Việc để xảy ra khai thác và cất giấu gỗ trái phép trên địa bàn mình quản lý thì đương nhiên phải chịu trách nhiệm chính.
Hiện nay thành phố Đà Nẵng có tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 63.067,10 ha. Trong đó, giao cho Ban quản lý rừng đặc dụng quản lý, bảo vệ Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Bà-Núi Chúa nằm trên  địa phận 3 xã Hòa Bắc, Hòa Phú, Hòa Ninh (huyện Hòa Vang), với tổng diện tích 26.751,3 ha, chiếm tỷ lệ 42,41% diện tích rừng và đất lâm nghiệp thành phố; với 8.327,8 ha rừng giàu, 5.435,4 ha rừng trung bình. Có đường giáp ranh với tỉnh Quảng Nam là 35,45 km và đường giáp ranh với tỉnh Thừa Thiên - Huế là 39,81 km.
Có thể nói đây là khu bảo tồn thiên nhiên giàu tài nguyên rừng của thành phố. Trước đây, khu này được đưa vào rừng sản xuất khai thác gỗ chọn theo kế hoạch. Đến năm 2004 thì thành phố “đóng của rừng”. Trong các năm qua, Sở NN&PTNT thường xuyên quan tâm chỉ đạo Ban quản lý rừng đặc dụng, Chi cục Kiểm lâm thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn thành phố nói chung và Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà-Núi Chúa nói riêng.
Rừng đã được tổ chức quản lý tốt hơn, hạn chế tối đa nạn phá rừng trái phép, các khu bảo tồn ngày càng được phát huy phục vụ cho các khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, thu hút nhiều nhà đầu tư theo định hướng phát triển dịch vụ, du lịch của thành phố. Tuy rừng có bị tác động nhưng nhỏ lẻ. Vừa qua, sự thiếu trách nhiệm của một số cán bộ, nhân viên quản lý, bảo vệ rừng, kiểm lâm địa bàn đã để xảy ra vụ việc trên. Chúng tôi khẳng định chỉ đạo làm rõ trách nhiệm tới cùng, sai đến đâu xử đến đó, xử đúng người đúng tội.
Tỉnh tiếp tục chỉ đạo Ban quản lý rừng đặc dụng, Chi cục Kiểm lâm rà soát, củng cố, “xốc” lại lực lượng kiểm lâm, lực lượng bảo vệ rừng; tổ chức bộ máy các trạm quản lý bảo vệ rừng, các trạm kiểm lâm của rừng phù hợp, đủ mạnh đảm bảo phục vụ một cách tốt nhất công tác kiểm tra, kiểm soát rừng ở các khu vực trên địa bàn thành phố.
Xem xét xác định các khu vực rừng trọng yếu dễ bị tác động, tổ chức chốt chặn, kịp thời phát hiện ngăn chặn và xử lý nghiêm các đối tượng vào rừng khai thác trái phép. Thực hiện công tác bảo vệ rừng tại “gốc”, tăng cường lực lượng tuần tra, kiểm tra, truy quét phát hiện và đẩy đuổi ngay từ đầu.
Sở NN&PTNT cũng đã tham mưu cho lãnh đạo thành phố ban hành các quyết định phân cấp, phân giao quản lý rừng. Theo đó, diện tích rừng chưa giao cho các tổ chức Nhà nước, chưa cho thuê sẽ giao cho các xã, phường có rừng tổ chức quản lý, bảo vệ theo tinh thần Quyết định 07/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Đồng thời, tham mưu thành phố thành lập Quỹ bảo vệ và phát triển rừng, thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng nhằm tăng cường trách nhiệm của địa phương, tổ chức, cộng đồng. (Báo Đà Nẵng 3/11) đầu trang(
Từ giữa năm 2013 đến nay, hàng trăm hộ dân xã Yang Mao, huyện Krông Bông đã tham gia nhận khoán quản lý bảo vệ đối với diện tích rừng do xã quản lý và một số  diện tích của Vườn Quốc gia Chư Yang Sin, bước đầu đã tạo thêm thu nhập, cải thiện đời sống cho bà con.
Yang Mao là xã đặc biệt khó khăn, với 999 hộ, 5330 nhân khẩu, trong đó số hộ nghèo chiếm đến 47%. Diện tích đất canh tác nông nghiệp chỉ được được 1.300 ha nhưng đất xấu, đồi dốc, không chủ động được nguồn nước tưới nên năng suất cây trông không cao, đời sống của nông dân gặp rất nhiều khó khăn.
Từ năm 2013, khi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được triển khai, với lợi thế có diện tích rừng hơn 7.710 ha, Yang Mao trở thành xã được hưởng lợi khá từ chính sách này. Với mức thanh toán cho nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng được chi trả bình quân khoảng 138 ngàn đồng/ha/ năm, tính ra diện tích rừng do xã quản lý cũng thu về được hơn 1 tỷ đồng.
UBND xã đã giao một phần diện tích rừng trên cho cộng đồng 4 buôn quản lý, bảo vệ 910ha. Theo đó, 4 buôn này sẽ bầu ra một số hộ đại diện đứng ra quản lý bảo vệ, những hộ này sẽ được hưởng 50% số tiền được chi trả, số còn lại sẽ nộp vào cho quỹ của buôn để dùng vào việc đầu tư xây dựng, sữa chữa các công trình công cộng; thăm hỏi gia đình ốm đau, ma chay, cưới hỏi…
Như ở buôn Tul, được nhận quản lý, bảo vệ  383 ha rừng, buôn cử ra 25 hộ đại diện trực tiếp đi tuần tra bảo vệ rừng. Số tiền thu được hằng năm từ rừng nhận khoán khoảng 50 triệu đồng, một nửa được dùng trả công cho người trực tiếp bảo vệ rừng, còn một nữa giữ lại cho quỹ của buôn.
Năm 2014, nhờ quỹ này, buôn Tul đã lắp đặt được hệ thống đường điện chiếu sáng 34 bóng đèn trên các tuyến đường chính vào buôn, với chi phí 105 triệu đồng. Đối với hơn 6000 ha rừng còn lại, do nằm ở xa, địa hình đi lại khó khăn nên xã Yang Mao tổ chức quản lý tập trung bằng hình thức huy động 90 thanh niên của các thôn, buôn tham gia quản lý bảo vệ. Mỗi tháng, những người này được nhận 700 ngàn tiền phụ cấp.
Ngoài ra, các hộ dân trong xã còn nhận quản lý, bảo vệ rừng cho Vườn Quốc gia Chư Yang Sin, với 396 hộ thuộc 7 buôn nhận quản lý, bảo vệ hơn 10.000 ha rừng. Bình quân mỗi hộ được giao khoán từ 25-30 ha, được chi trả số tiền 138 ngàn đồng/ha/năm, và phải có trách nhiệm cùng với kiểm lâm của Vườn thực hiện các chuyến tuần tra bảo vệ diện tích rừng từng hộ đang quản lý.
Anh  Y Quyết, buôn phó buôn Tul cho biết, có 95 hộ của buôn nhận quản lý, bảo vệ rừng cho Vườn; trước đây, vào những lúc nông nhàn, đàn ông, thanh niên trong buôn không có việc làm, rảnh rỗi sinh ra nhậu nhẹt, từ ngày nhận quản lý, bảo vệ rừng, thường xuyên phải đi tuần tra lại có thêm thu nhập nên tình trạng ăn nhậu cũng giảm hẳn. Riêng gia đình anh Y Quyết cũng nhận quản lý bảo vệ 32,5 ha rừng, mỗi năm được Vườn chi trả gần 5 triệu đồng- nguồn thu nhập không nhỏ đối với một hộ gia đình ở xã đặc biệt khó khăn như anh.
Anh Lộc Xuân Nghĩa, Phó Giám đốc Vườn Quốc gia Chư Yang Sin cho hay, việc giao rừng dựa trên tiêu chí gia đình có nhiều lao động, có khả năng đi tuần tra, chưa vi phạm lâm luật… Đặc biệt, từ khi giao rừng cho người dân đồng quản lý, áp lực lên khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép ở Vườn giảm hẳn, vì  người dân đã nhận thức được bảo vệ rừng cũng chính là bảo vệ nguồn thu nhập lâu dài cho gia đình mình.
Còn Phó Chủ tịch UBND xã Yang Mao, ông Trần Quang Quân thì không giấu được niềm phấn khởi: Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã tạo nên động lực mới cho sự phát triển của địa phương. Với diện tích rừng do xã quản lý và diện tích rừng người dân nhận khoán của Vườn Quốc gia Chư Yang Sin đã tạo ra nguồn thu hơn 2 tỷ đồng một năm, tạo thêm được việc làm cho hơn 50% số hộ trên địa bàn, góp phần nâng cao thu nhập và ý thức của người dân trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. (Báo Đắc Lắc 1/11) đầu trang(
Huyện Tân Sơn có diện tích gần 69 ngàn ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp chiếm hơn 88,3% với gần 32 ngàn ha rừng tự nhiên và hơn 25 ngàn ha rừng trồng. Đây là địa bàn rộng, phức tạp, giáp ranh với nhiều huyện trong và ngoài tỉnh, tài nguyên rừng phong phú có nhiều loại động vật, thực vật quý hiếm.
Trên địa bàn có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống đất sản xuất của nhân dân dần bị thu hẹp, dẫn đến tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng diễn biến phức tạp. Tình trạng phát nương làm rẫy, lấn chiếm đất lâm nghiệp ngày càng có nguy cơ cao; những hành vi khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản, săn bắt động vật hoang dã trái phép vẫn còn xảy ra trên địa bàn.
Bên cạnh đó ở địa bàn giáp ranh các huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La và huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái một số đối tượng ngoài địa phương lôi kéo xâm nhập vào địa phận vùng giáp ranh để khai thác gỗ trái phép và vận chuyển theo đường rừng ra khỏi địa bàn. Phương thức hoạt động của các đối tượng này rất tinh vi đã gây không ít những khó khăn trong việc kiểm tra, ngăn chặn, xử lý.
Trước thực trạng đó, Hạt Kiểm lâm Tân Sơn đã phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành Luật bảo vệ và phát triển rừng trong nhân dân. Cùng với lực lượng Công an, Quân sự huyện, Vườn Quốc gia Xuân Sơn, UBND các xã; Ban quản lý rừng phòng hộ tổ chức kiểm tra tuyên truyền vận động ngăn chặn hành vi xâm hại rừng.
Hàng năm Hạt Kiểm lâm huyện đã xây dựng, ký kết Quy chế phối hợp giữa Hạt Kiểm lâm với Công an huyện, Ban CHQS huyện, Vườn Quốc gia Xuân Sơn, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội LHPN và Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia bảo vệ rừng.
Trên cơ sở kế hoạch của UBND huyện Tân Sơn về việc thực hiện Chỉ thị 12, Chỉ thị 08 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định của Chủ tịch UBND huyện về việc kiện toàn ban chỉ huy bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR); Quyết định về việc kiện toàn Đoàn kiểm tra liên ngành bảo vệ rừng và PCCCR hàng năm của huyện Tân Sơn.
Hạt Kiểm lâm huyện đã xây dựng kế hoạch hoạt động của Đoàn liên ngành, trong đó lực lượng nòng cốt là Hạt Kiểm lâm, Công an, Quân sự huyện và lực lượng bảo vệ rừng Vườn Quốc gia Xuân Sơn, thường xuyên kiểm tra, truy quét các đối tượng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng; phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể huyện tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong nhân dân, phát huy tinh thần tự giác trong việc đấu tranh phòng chống các loại tội phạm và các hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng trên địa bàn.
Qua triển khai thực hiện quy chế phối hợp, tình trạng chặt phá rừng, khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản, săn bắt động vật hoang dã trái phép đã từng bước được ngăn chặn, thiệt hại về rừng giảm so với những năm trước; công tác phối hợp tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng được chú trọng, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.
Trong những năm qua, Hạt Kiểm lâm huyện đã phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể và chính quyền địa phương các xã tổ chức nhiều buổi họp dân để thực hiện công tác tuyên truyền các văn bản pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý  bảo vệ rừng và quản lý lâm sản nhằm nâng cao nhận thức của người dân về vai trò tác dụng của rừng, từ đó vận động quần chúng nhân dân tích cực tham gia công tác quản lý bảo vệ rừng, PCCCR.
Bên cạnh đó, Hạt cũng đã thay đổi phương thức tuyên truyền bằng cách sân khấu hoá các văn bản pháp luật, qua đó giúp cho người dân tiếp cận với các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng. Các tổ chức đoàn thể cũng tích cực tuyên truyền về quản lý và bảo vệ rừng với nhiều hình thức phong phú như đưa vào một số tiểu phẩm tại hội diễn văn nghệ, các cuộc thi của Hội LHPN, Đoàn thanh niên.
Huyện đoàn Tân Sơn và các Xã đoàn tổ chức diễn đàn thanh niên với công tác quản lý bảo vệ rừng, thu hút được nhiều đoàn viên thanh niên tham gia, qua đó giáo dục đoàn viên, thanh thiếu niên chấp hành tốt các quy định của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, tích cực tham gia công tác quản lý bảo vệ rừng. Đây là hoạt động thiết thực  được các cấp uỷ đảng và chính quyền địa phương đánh giá cao, nhiệt tình ủng hộ.
Nhìn chung, từ khi ký kết quy chế phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể, các  đơn vị, chủ rừng đến nay, công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn ngày càng được chú trọng và tăng cường, tình hình vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn giảm rõ rệt, nhận thức của người dân trong công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR), PCCCR được nâng cao; đã vận động được đông đảo nhân dân tham gia QLBVR, PCCCR, góp phần thực hiện xã hội hoá công tác QLBVR.
Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong huyện tạo ra sức mạnh tổng hợp về lực lượng, phương tiện và vị thế pháp lý trong quá trình kiểm tra, truy quét, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, góp phần phát triển kinh tế đồi rừng xóa đói giảm nghèo giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn huyện. (Báo Phú Thọ 3/11) đầu trang(
3-11, ông Lê Văn Mùi, Chủ tịch UBND huyện Đức Phổ đã trực tiếp cùng lực lượng chức năng địa phương, gồm: Công an, bộ đội.... đến hiện trường khu vực núi thuộc thôn Hiển Văn để kiểm tra tin báo về việc người dân nghi ngờ con heo rừng hung dữ vẫn còn luẩn quẩn quanh đây.
Tại đây, ông Mùi chỉ đạo khẩn trương khoanh vùng khu vực, cắm biển cảnh báo, đồng thời yêu cầu xã Phổ Hòa khuyến cáo người dân khi đi lại, hoặc vào khu vực núi, vùng đồng ruộng nơi đây để sản xuất, phải cấp báo cho cơ quan chức năng khi phát hiện vết tích của heo rừng....
Như đã đưa tin, vào gần trưa 28-10, chị Phạm Thị Hồng Hạnh (SN 1975,  khi đang đi chặt bắp (ngô) tại cánh đồng Soi Ngoài, đã bị con heo rừng lao đến tấn công. Mặc dù được chị Nguyễn Thị Cẩm Hương cầm cây chạy đến ứng cứu. Thế nhưng do trước đó chị Hạnh bị con heo tấn công làm nát 2 chân và 2 tay; gây thương tích khá nặng ở vùng lưng nên đã tử vong trên đường đi cấp cứu.
Chiều cùng ngày, một số đàn ông, thanh niên trong thôn đã cầm theo dao, rựa, gậy....truy tìm, phát hiện vết chân lẫn vết máu của con heo rừng; đồng thời có nghe tiếng đàn chó của nhóm thợ săn nào đó sủa vang ở khu vực núi Gạc Bà Còi, nằm giáp ranh với đồng Soi Ngoài, người dân nghi ngờ 2 thợ săn ở huyện Ba Tơ đã hạ con heo rừng dữ tợn trên. Thế nhưng khi tiếp cận và được hỏi, thì 2 người này khẳng định không giết con heo rừng nào cả. (Công An TPHCM 4/11; Thanh Niên 4/11) đầu trang(
Theo dự án PATRPOL (Liên hiệp quốc), kinh doanh động vật hoang dã chiếm 25% giá trị thương mại của toàn bộ hoạt động tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, chỉ đứng thứ 4 sau buôn lậu vũ khí, ma túy, con người.
Việt Nam là một trong những điểm đến nhiều nhất của việc kinh doanh này. Vì vậy, cần nỗ lực nhiều hơn để ngăn ngừa và giáo dục mọi người thay đổi thói quen không đúng về việc sử dụng sừng tê giác hay những loài động vật hoang dã khác.  (Sài Gòn Giải Phóng 4/11, tr6) đầu trang(
Sau hơn 10 năm triển khai Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, 5 năm triển khai Dự án giao rừng về cộng đồng quản lý, vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân sống nhờ rừng.
Đây là câu chuyện được người dân ở đây nhắc đến mỗi khi bàn về việc giao đất giao rừng về cho cộng đồng quản lý. 5 năm qua, những người dân ở xã Hương Sơn và Hương Lộc (huyện miền núi Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên - Huế) chưa nhận được bất kỳ một lợi ích nào từ việc bảo vệ rừng cộng đồng.
Động cơ duy nhất để các hộ dân nhận rừng là để được khai thác một phần lâm sản khi rừng già. Nhưng đó chỉ là cái mà người dân hy vọng, chứ theo như dân ở đây cho biết thì cũng chưa có bất cứ một văn bản nào cho phép.
Khi giao rừng, vấn đề quyền lợi cho người dân không được xác định rõ ràng nên đến nay, nghĩa vụ người dân vẫn thực hiện nhưng quyền lợi thì chưa được hưởng. Rừng được giao về trong cộng đồng, các gia đình tham gia vào dự án rừng cộng đồng hàng tháng luân phiên nhau thay ca đi tuần tra bảo vệ.
Cũng theo nhiều người dân địa phương, nếu cứ tiếp tục như vậy mãi thì không biết liệu năm hay 10 năm sau, không có một chút hỗ trợ gì cho người dân thì người dân có tiếp tục được công việc này nữa hay không bởi họ vẫn phải chạy kiếm cái ăn hằng ngày.
Qua trao đổi trực tiếp về vấn đề này, ông Trương Xàng, Phó Hạt trường Hạt kiểm lâm huyện Nam Đông xác nhận: “Chính sách hưởng lợi từ rừng tự nhiên vẫn chưa rõ khiến cơ quan chức năng rất khó khi thực hiện. Luật không quy định rõ cơ quan nào xác định trữ lượng, đánh giá thẩm định, cho phép khai thác. Đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có hỗ trợ gì cho người dân để bảo vệ rừng”.
Trên địa bàn huyện miền núi Nam Đông có nhiều diện tích đất rừng tự nhiên liệt vào diện rừng nghèo kiệt, rừng bìm không có khả năng phát triển. Tuy nhiên, khi quy hoạch thì những diện tích này lại không được công nhận là rừng nghèo kiệt. Sở dĩ có điều này là do luật quy định, rừng có từ 50m3/ha gỗ thì rừng đó không phải là từng nghèo kiệt. Nhưng trên thực tế, rừng chỉ cần vài ba cây gỗ lớn là đã đủ tiêu chí này. Và hiển nhiên là diện tích đất rừng này không được chuyển đổi sang rừng sản xuất.
Thực tế này đã tồn tại ở địa phương từ lâu, biết là rừng nghèo kiệt, muốn xin để chuyển đổi mục đích sang trông cây keo, cao su… nhưng chính quyền không thể cấp phép mặc dù vẫn biết thực chất đó là rừng nghèo kiệt. Vì hưởng lợi không có gì nên một số hộ dân quản lý rừng ở đây đã tự ý chuyển đổi trái phép đất lâm nghiệp trong rừng được giao sang trồng keo.
Một thực trạng nữa là sau mùa bão, cây gỗ lớn gãy đổ trong rừng khá nhiều, rừng do dân quản lý bảo vệ đó nhưng dân muốn tận thu phải qua nhiều cửa hành chính với đơn từ phức tạp. Dân sợ thủ tục hành chính, chính quyền do phải có đơn mới giải quyết được. Mà giải quyết cũng phải qua ban này ban kia nên vấn đề tận thu lâm sản đến nay vẫn chưa thể thực hiện.
“Chúng tôi thay mặt bà con có xin cấp trên rồi, nhưng phía xã sợ người dân khai thác những cây còn sống. Khi gửi đơn lên huyện thì phải qua ủy ban rồi qua địa chính, kiểm lâm… cũng phải mấy tháng mà chẳng có kết quả”- chú Phạm Tô, Tổ trưởng tổ quản lý rừng thôn 1, xã Hương Lộc, huyện Nam Đông chia sẻ.
Trả lời vấn đề này, ông Trương Xàng, Phó hạt trưởng Hạt kiểm lâm Nam Đông cho biết thêm: “Dân làm đơn nhưng huyện không dám ký bởi vì theo thông tư của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì phải có quyết định mở cửa rừng và lập kế hoạch khai thác thì mới được ký. Nếu cho phép người dân tận thu gỗ khi chưa có lực lượng giám sát thì sẽ không đảm bảo được việc người dân khai thác luôn cả những cây đang sống”.
Cũng theo lời ông Sàng thì rất cần thiết, sắp tới cần phải có những văn bản dưới luật cụ thể, các văn bản pháp lý phân công cụ thể cho các cơ quan chức năng thực hiện, nhằm (Dân Trí 3/11) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Tình trạng khai thác gỗ trái phép tại rừng du lịch sinh thái bản Đôn, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn diễn biến phức tạp, gây mất an ninh trật tự. (Nhân Dân 4/11, tr7) đầu trang(
Trong phiên xử sơ thẩm mới đây, TAND tỉnh Phú Yên đã tuyên phạt Lê Quang Vĩnh, 49 tuổi, trú phường Ea Tam, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk 4 năm 3 tháng tù về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
Cùng tội danh này, các bị cáo Phùng Xuân Úy, 43 tuổi, trú 57 Phùng Hưng, phường Ea Tam, TP Buôn Ma Thuột 4 năm tù; Vũ Ngọc Hùng Sinh, 44 tuổi, trú xã Đức Minh, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông và Lương Anh Việt, 36 tuổi, trú ở xã Hòa Bình 1, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên cùng lãnh án 2 năm 3 tháng tù. Hai đồng phạm khác là Nguyễn Tấn Cần, 42 tuổi và Diệp Thanh Xuân, 36 tuổi, trú ở thị trấn Đắk Mil, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông cùng lãnh án 2 năm 3 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Theo hồ sơ vụ án, do biết Vũ Ngọc Hùng Sinh, Lương Anh Việt cần có hồ sơ lâm sản để hợp thức hóa những lô gỗ lậu nên đầu tháng 1/2013, Vĩnh tiếp cận Phùng Xuân Úy - Giám đốc Công ty TNHH Chung Úy đặt vấn đề mua hồ sơ lâm sản khống từ doanh nghiệp này. Trong nhiều phi vụ kinh doanh gỗ lậu, Việt và Sinh còn rủ thêm Cần và Xuân tham gia góp vốn để mua bán, kiếm lãi.
Kết quả điều tra cho thấy, trong vòng ba tháng đầu năm ngoái, Việt cùng đồng bọn đã mua bán hàng trăm khối gỗ lậu bằng hồ sơ lâm sản khống do Giám đốc Công ty TNHH Chung Úy cung cấp, trong đó Úy và Vĩnh mua bán hơn 534m3, Sinh mua bán hơn 445m3, Việt mua bán hơn 60m3, Xuân và Cần mua bán hơn 138m3.
Ngoài hình phạt tù, 6 bị cáo còn bị án sơ thẩm xử phạt bổ sung mỗi người 10 triệu đồng do hành vi phạm tội nêu trên. Liên quan vụ án còn có Lâm Hùng Tuấn, trú ở thị trấn Kông Chro, huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai, nhưng do đối tượng này đã lẩn trốn nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Yên tiếp tục điều tra và xử lý theo quy định của pháp luật. (Công An Nhân Dân 2/11) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Trong tái cơ cấu SXNN, song song với các lĩnh vực khác, tỉnh Quảng Trị chọn phát triển rừng theo tiêu chuẩn của Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC) để đột phá lĩnh vực lâm nghiệp nhằm tạo lợi thế cạnh tranh.
Báo NNVN có cuộc trao đổi với GĐ Sở NN-PTNT Quảng Trị Nguyễn Văn Bài về vấn đề này.
Nguyễn Văn Bài cho biết: Bám sát Nghị quyết Đại hội lần thứ XV của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị, trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của tỉnh, ngành NN-PTNT Quảng Trị tiếp tục chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH-HĐH trên cơ sở phát huy lợi thế tiềm năng đất đai, lao động địa phương.
Ngành xác định phải gắn phát triển sản xuất bền vững với việc hình thành các vùng nguyên liệu có năng suất, chất lượng cao cung cấp cho các nhà máy, thị trường... tạo ra chuỗi SXNN, không ngừng nâng cao giá trị gia tăng trong phát triển sản xuất.
Từ đó, Quảng Trị đã hình thành được các vùng chuyên canh cây công nghiệp dài, ngắn ngày như cà phê, cao su, hồ tiêu, cây sắn... gắn với công nghiệp chế biến, từng bước xây dựng các thương hiệu, chỉ dẫn địa lý như tinh bột sắn Hướng Hóa, hồ tiêu Cùa, lạc Cam Lộ, ném Hải Lăng, cá hấp khô Cửa Việt, nước mắm Huỳnh Kế, cà phê Khe Sanh, cao su, lúa Bồ Đề...
Quảng Trị cũng đã từng bước giải quyết tốt an ninh lương thực, xây dựng các cánh đồng mẫu lớn các loại cây con, đặc sản. Trong các lợi thế trên thì lâm nghiệp Quảng Trị có lợi thế vô cùng lớn. Tỉnh Quảng Trị nằm ở khu vực duyên hải Bắc Trung bộ, có tổng diện tích tự nhiên hơn 473 ngàn ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp, kể cả diện tích có rừng chiếm gần 300 ngàn ha.
Vì vậy, lâm nghiệp chiếm một vị trí lớn về tài nguyên thiên nhiên. Nếu không phát huy được tiềm năng lâm nghiệp thì gây lãng phí tài nguyên và không phát huy được lợi thế của mình.
Trên cơ sở của sự phân tích đó chúng tôi quyết định chọn lâm nghiệp làm khâu đột phát trong tái cơ cấu SXNN để tạo ra lợi thế cạnh tranh mà điểm nhấn là chú trọng phát triển rừng FSC. Có nghĩa rằng phải lựa chọn để tạo ra lợi thế cho người sống với lâm nghiệp.
Trở lại câu chuyện Quảng Trị luôn quan tâm phát triển lâm nghiệp. Từ khi mới lập lại tỉnh độ che phủ của rừng chỉ đạt 19% đến nay sau 25 năm đã lên đến 49%, bình quân mỗi năm tăng lên 1%, cao hơn trung bình của cả nước.
Công tác bảo vệ và phát triển rừng ngày càng đi vào chiều sâu và nâng cao chất lượng. Quảng Trị tập trung thực hiện đổi mới các lâm trường quốc doanh theo tinh thần nghị quyết của Bộ Chính trị; ban hành nghị quyết về 3 loại rừng, thành lập các BQL rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, chuyển đổi các lâm trường quốc doanh sang các Cty lâm nghiệp làm ăn hiệu quả.
Bức tranh lâm nghiệp Quảng Trị đã hình thành rõ với 3 loại rừng đặc dụng, phòng hộ và sản xuất. Cùng với đó, phong trào trồng rừng phát triển kinh tế lâm nghiệp trong nhân dân chuyển biến tích cực. Hộ gia đình hoặc nhóm hộ được giao đất sản xuất mạnh dạn đầu tư vốn trồng rừng.
Từ chỗ rừng đơn thuần XĐGN, qua công tác khuyến nông và tuyên truyền vận động, người dân đã ý thức cao trong việc gắn phát triển sản xuất, kinh doanh với quản lý rừng bền vững nhằm tạo ra sản phẩm rừng có giá trị kinh tế cao... mà cụ thể phát triển rừng FSC được xác định là một hướng đi đúng đắn, cần tập trung đầu tư.
Phát triển lâm nghiệp với các khâu trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến, tiêu thụ xuất khẩu góp phần nâng cao giá trị và chất lượng nghề rừng có nghĩa là nâng cao giá trị SXNN, tạo thêm việc làm cho nông dân, giải quyết được vấn đề xã hội từ đó góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.
Ba yếu tố này tác động tương hỗ lẫn nhau, khi giá trị kinh tế được tăng lên, chất lượng cuộc sống nông dân được cải thiện nhờ nghề rừng thì giữa sản xuất và phát triển ngày càng gắn kết hơn.
Vào đầu tháng 7/2014, lần đầu tiên tại nước ta, những nhóm hộ có chứng chỉ rừng FSC tại Quảng Trị đã được lập hội và tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ nhất.
Hôm đó, ông Huỳnh Tiến Dũng - Giám đốc WWF tại Việt Nam đánh giá cao sự thành công của việc đại hội thành lập tổ chức có tư cách pháp lý chính thức đại diện cho các hộ gia đình trồng rừng FSC đầu tiên tại Việt Nam ở Quảng Trị.
Trở lại câu chuyện rừng FSC, nhờ sự giúp đỡ về mặt kỹ thuật và kinh phí của WWF Việt Nam, năm 2007, Tổng cục Lâm nghiệp, Sở NN-PTNT Quảng Trị đã chỉ đạo Chi cục Lâm nghiệp tỉnh triển khai thực hiện mô hình quản lý rừng trồng bền vững để cấp chứng chỉ FSC cho nhóm hộ gia đình nông dân đã tham gia dự án trồng rừng Việt - Đức tại địa bàn 2 xã Trung Sơn và Vĩnh Thủy thuộc huyện Gio Linh và Vĩnh Linh.
Đến năm 2010, mô hình được cấp chứng chỉ thời hạn 5 năm cho 316 ha rừng của 118 hộ gia đình thuộc 5 thôn của hai xã trên. Đây là mô hình quản lý rừng bền vững của nhóm hộ nông dân đầu tiên của Việt Nam được cấp chứng chỉ FSC.
Đến năm 2014, dự án tiếp tục mở rộng đến nhiều địa phương với 17 nhóm hộ của 8 xã tham gia. Hiện tại Quảng Trị có hơn 15.500 ha rừng trồng được cấp chứng chỉ FSC, trong đó rừng hộ gia đình có hơn gần 1.000 ha, số còn lại của các Cty lâm nghiệp.
Nông dân Lê Biên Hòa ở thôn Kinh Môn, xã Trung Sơn, huyện Gio Linh, là người đầu tiên của Việt Nam làm rừng FSC. Lợi ích thiết thực nhất là trồng rừng theo kiểu hiện đại này bán giá cao hơn rừng thường từ 30 đến 50%.
Vừa rồi ông Hòa thu hoạch 10 ha rừng FSC bán hơn 2,1 tỷ đồng, gấp hơn 2 lần trồng rừng truyền thống. Trong lúc đó chi phí ban đầu để trồng mỗi ha rừng hết 15 triệu đồng.
Rõ ràng, rừng FSC có lợi thế hơn rất nhiều so với các loại rừng trồng theo cách làm truyền thống. Ngoài việc đem đến nhiều lợi ích từ cải tạo môi trường, môi sinh, bảo vệ đất, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho nông dân trồng rừng, thì nhìn một tầm xa hơn, rừng FSC phù hợp với chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam, đến năm 2020 phải có 30% rừng trồng được cấp FSC.
Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Hà Công Tuấn đánh giá cao những kết quả của Quảng Trị đạt được trong việc phát triển rừng FSC.
Thực tế, mỗi năm tỉnh Quảng Trị trồng mới gần 6 ngàn ha rừng sản xuất và 1 ngàn ha rừng phòng hộ. Theo tính toán mỗi năm sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng Quảng Trị đạt gần 500 ngàn m3, gỗ nguyên liệu chủ yếu bán cho NM gỗ MDF trên địa bàn và làm gỗ dăm xuất khẩu, chưa có gỗ giá trị cao...
Ngành NN-PTNT Quảng Trị phấn đấu đến năm 2020 có hơn 42 ngàn ha rừng trồng sản xuất được cấp chứng chỉ FSC, trong đó rừng hộ gia đình chiếm 50%. Quảng Trị hiện có 75 ngàn ha rừng sản xuất, rừng của hộ gia đình đến 40 ngàn ha.
Hiện tại trồng rừng FSC đòi hỏi có chu kỳ từ 9 đến 10 năm, trong khi đó trồng rừng truyền thống bán gỗ dăm chu kỳ 5 đến 6 năm. Người trồng rừng đa số đang khó khăn về kinh tế, thu nhập thấp nên đã có tình trạng ban đầu hăng hái tham gia vào nhóm chứng chỉ rừng nhưng khi kinh tế khó khăn họ xin rút lui để khai thác rừng bán giải quyết nhu cầu bức thiết của gia đình.
Cùng với đó, chi phí cho việc tổ chức đánh giá cấp chứng chỉ định kỳ 5 năm/lần và đánh giá hàng năm khá cao nên các hộ gia đình gặp khó khăn về kinh phí để thuê chuyên gia đánh giá cấp chứng chỉ. Trong lúc đó người dân khó tiếp cận các ngân hàng thương mại vay vốn trồng rừng. Vì vậy, đề nghị Nhà nước cần có chính sách tín dụng cho người trồng rừng FSC để họ có thêm điều kiện phát triển.
Ông Nguyễn Văn Bài cho biết thêm: "Để phát triển lâm nghiệp bền vững, hiệu quả và sớm nhân rộng mô hình, đề nghị Bộ NN-PTNT sớm ban hành bộ tiêu chí quản lý rừng bền vững của Việt Nam phù hợp với quốc tế để các địa phương có cơ sở tổ chức thực hiện.
Chính phủ sớm ban hành các chính sách khuyến khích người dân đầu tư trồng rừng, phát triển sản xuất, có chính sách phát triển công nghiệp chế biến gỗ từ rừng trồng, ưu đãi về thuế sử dụng đất đối với người trồng rừng kinh doanh gỗ lớn và xây dựng thương hiệu đối với sản phẩm xuất khẩu, cần có chính sách bảo hiểm rủi ro đối với loại hình kinh doanh này". (Nông Nghiệp Việt Nam 4/11) đầu trang(
UBND tỉnh Đác Nông vừa ban hành Kế hoạch số 436/KH-UBND về việc tổ chức triển khai thực hiện thí điểm việc kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) có nguồn gốc lấn chiếm đất rừng trên địa bàn.
Theo đó, tổng diện tích đất cần được kê khai, đăng ký cấp GCNQSDĐ có nguồn gốc do người dân lấn chiếm đất rừng trên địa bàn toàn tỉnh là 63.057 ha, đã được tỉnh thu hồi tại các nông, lâm trường từ 1-1-2010 đến ngày 1-7-2014 giao về cho địa phương quản lý.
Để việc kê khai, đăng ký cấp GCNQSDĐ diễn ra đúng kế hoạch, đúng đối tượng, đồng thời tăng cường công tác quản lý, bố trí sử dụng hiệu quả diện tích đất này, trước mắt UBND tỉnh thí điểm việc kê khai, đăng ký cấp GCNQSDĐ tại bốn xã với diện tích khoảng 2.301 ha với 2.876 thửa, bao gồm: xã Đác R’tíh, huyện Tuy Đức với diện tích 1.300 ha, 1.625 thửa; xã Nhân Đạo, huyện Đác R’lấp với diện tích 82 ha, 102 thửa; xã Quảng Khê, huyện Đác Glong với diện tích 600 ha, 750 thửa và xã Đác Hòa, huyện Đác Song với diện tích 319 ha, 399 thửa.
Theo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đác Nông, hiện tại toàn bộ diện tích này cơ bản đã được người dân sử dụng ổn định vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, việc thực hiện thí điểm này nhằm bảo đảm công tác quản lý Nhà nước về đất đai có hiệu quả, hạn chế tình trạng lấn chiếm, tranh chấp đất đai, chống thất thu ngân sách từ đất.
Đồng thời, thông qua việc kê khai, đăng ký cấp GCNQSDĐ còn bảo đảm cho việc sử dụng đất của người dân được hợp pháp theo đúng quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, ngăn chặn tình trạng lấn chiếm đất rừng trái phép như lâu nay…
Sau khi đánh giá, rút kinh nghiệm việc thí điểm triển khai việc kê khai, đăng ký cấp GCNQSDĐ tại bốn xã nêu trên, đầu năm 2015 tỉnh sẽ triển khai đại trà trên địa bàn toàn tỉnh. (Nhân Dân 2/11) đầu trang(
Cứ khoảng 21h khi người dân bắt đầu đi ngủ là Nhà máy chế biến lâm sản Tùng Lâm (thuộc Công ty CP Lâm sản Đắk Lắk) bước vào hoạt động, đây cũng là khoảng thời gian người dân xung quanh khu vực chịu ảnh hưởng của mùi hóa chất độc hại.
Theo đơn thư phản ánh của người dân, cứ khoảng thời gian từ 21h trở đi Nhà máy chế biến lâm sản Tùng Lâm  (Tổ dân phố 6, phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột) bắt đầu hoạt động. Việc sản xuất của nhà máy đã khiến khu vực xung quanh gây ô nhiễm môi trường khu dân cư.
Không chỉ gây ô nhiễm bụi, tiếng ồn, mà xưởng sản xuất gỗ ván dăm này còn gây ô nhiễm không khí, do sử dụng Keo ure formaldehyde để trộm với bột dăm. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì formaldehyde là chất có mức độ độc hại cao.
Đặc biệt trong quá trình đưa bột dăm trộn Keo ure formaldehyde vào lò ép, gặp hơi nóng thì chất formaldehyde sẽ có phản ứng hóa học, dẫn tới bốc hơi cay, khiến cho những người tiếp xúc bị cay mắt, mũi. Người tiếp xúc trực tiếp môi trường có tồn dư formaldehyde trong thời gian dài sẽ bị ung thư đường hô hấp; trẻ em tiếp xúc thường xuyên có nhiều khả năng vô sinh.
Trao đổi với PV, ông Nguyễn Công Trường, Giám đốc nhà máy cho biết: “Hiện nhà máy có hơn 30 công nhân làm việc, tuy đã xây 2 hộc chứa bụi nhưng vẫn không đủ chỗ chứa, còn việc xử lý mùi hóa chất Keo ure formaldehyde trong quá trình ép gỗ lâu nay nhà máy chưa thực hiện được”.
Nhiều người dân nơi đây cho biết, để tránh sự chú ý của các cơ quan chức năng và che mắt người dân thì nhà máy này thường xuyên chuyển sang hoạt động sản xuất ban đêm. Ông Trần Văn Thịnh nhân viên bảo vệ Trường THPT Lê Duẩn ở gần nhà máy, trước đây từng làm công nhân ở nhà máy này gần 1 năm, nhưng khi thấy môi trường lao động quá độc hại nên xin nghỉ, cho biết: “Cứ khoảng 21h khi người dân bắt đầu đi ngủ là nhà hoạt động, giờ này không có cơ quan chức năng nào đi kiểm tra thì làm sao mà phát hiện, xử lý những vi phạm của xưởng chế biến này”.
Trao đổi với bà Nguyễn Thị Mạnh ở Tổ dân phố 6 (phường Khánh Xuân), nguyên là công nhân nhà máy đã nghỉ mất sức được biết, trong tổ dân phố bà đã có 3 người nguyên là công nhân của Nhà máy chế biến gỗ ván dăm này bị chết vì ung thư do làm việc trong môi trường độc hại lâu ngày. Có những cặp thanh niên mới lập gia đình, làm công nhân ở nhà máy này bị xảy thai nên phải bỏ việc.
Cũng theo phản ánh của bà Mạnh, hiện Tổ dân phố 6 có hơn 30 hộ đang phải sử dụng nước giếng cho sinh hoạt, qua xét nghiệm của cơ quan chuyên môn cho thấy, tất cả các giếng đều bị nhiễm hóa chất, không thể sử dụng được.
Hiện xung quanh khu vực nhà máy sản xuất gỗ ván dăm này có tới 4 trường học từ mầm non đến THPT, tình trạng gây ô nhiễm đã tác động tiêu cực đến việc dạy và học của hàng nghìn học sinh và giáo viên.
Cụ thể, Trường THPT Lê Duẩn chỉ cách nhà máy sản xuất gỗ ván dăm con đường liên thôn, nên thường xuyên chịu ảnh hưởng bụi, khói và mùi hóa chất. Có hôm học sinh học thể dục ngoài sân đã không thể học nổi bởi mùi hóa chất nồng nặc gây chảy nước mắt, nước mũi cả trò và thấy, còn phòng học thường xuyên bị bụi, khói bám dày đặc.
Nhà trường đã có đơn phản ánh đến UBND phường và cơ quan chức năng. Ông Nguyễn Hữu Danh, Chủ tịch UBND phường Khánh Xuân cho biết: “Tới đây, UBND phường tiến hành kiểm tra, nếu phát hiện cơ sở này việc sản xuất gây ô nhiễm sẽ báo cáo UBND thành phố và các cơ quan chức năng xử lý”. (Giao Thông 4/11; Bảo Vệ Pháp Luật 4/11, tr8) đầu trang(
Vụ hỏa hoạn xảy ra sáng 3-11 tại số nhà 72/885 đường Tam Trinh (quận Hoàng Mai, Hà Nội). Nơi xảy ra cháy là một xưởng chế biến gỗ và liền kề đó là kho chứa hàng.
Sở Cảnh sát PCCC Hà Nội sau khi tiếp nhận thông tin đã điều động hàng chục lượt xe cứu hỏa đến hiện trường. Do kho xưởng xảy ra hỏa hoạn được thiết kế khung sắt, mái tôn nên lực lượng chức năng gặp khó khăn trong quá trình tiếp cận ngọn lửa.
Sau hơn một giờ đồng hồ bị lửa cháy, mái tôn kho hàng chứa máy móc đã bị sụp đổ. Xưởng chế biến gỗ và các vật dụng bên trong bị thiêu trụi hoàn toàn. Rất may vụ hoả hoạn không có thiệt hại về người.
Một số nhân chứng cho rằng nguyên nhân dẫn đến vụ việc là do chủ nhân xưởng chế biến gỗ dùng mùn cưa để nấu đồ ăn. Nơi nấu ăn gần vật liệu gỗ nên đã bắt lửa, gây hoả hoạn. (Hà Nội Mới 4/11) đầu trang(
Thông tin từ Bộ NN-PTNT cho biết, Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) vừa tiến hành phiên họp cấp kỹ thuật lần thứ 8 và phiên đàm phán cấp cao lần thứ 4 về Hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi lâm luật, quản trị và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT).
Hai bên đã thống nhất lộ trình cho giai đoạn còn lại với mục tiêu kết thúc đàm phán hiệp định vào cuối năm 2015. Khi hiệp định có hiệu lực, Việt Nam cam kết sẽ áp dụng một hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp và cấp phép chứng nhận tính hợp pháp của gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam khi xuất khẩu vào thị trường EU theo tiêu chuẩn của FLEGT. (Sài Gòn Giải Phóng 4/11, tr6) đầu trang(
Hội chợ Đồ gỗ và trang trí nội thất  (Vifa Home 2014) sẽ diễn ra từ ngày 6 đến 9-11 tại Trung tâm hội chợ và triển lãm Tân Bình, TPHCM với chủ đề: Đồ gỗ Việt - giữ vững sân nhà, không phụ thuộc hàng nhập”.
115 doanh nghiệp với 274 gian hàng tham gia. Thời gian diễn ra hội chợ sẽ có chương trình  kết nối “Nhà sản xuất nội thất - Kiến trúc sư: Đồng hành sáng tạo không gian Việt”. Sài Gòn Giải Phóng 4/11, tr6) đầu trang(
Khu vực núi Khe Trầu bắc Phước Tượng, thôn Trung Phước, xã Lộc Trì (huyện Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế) thuộc đất trồng rừng của dân, chưa có chủ trương cấp mỏ khai thác đất san lấp.
Thế nhưng, lãnh đạo UBND xã Lộc Trì đã ép người dân giao rừng để doanh nghiệp (DN) khai thác đất trái phép khiến người dân rất bức xúc.
Phản ánh của bà Phan Thị Lộc, thôn Trung Phước, xã Lộc Trì bức xúc, đất rừng gia đình trồng hơn mười năm, khoảng đầu năm, một lãnh đạo xã đã nhiều lần đến nhà vận động, ép gia đình phải trả đất rừng để cho DN lấy đất san lấp, bù lại bà sẽ được nhận 40 triệu đồng (giá trị một chu kỳ thu hoạch rừng). Nếu không, xã cũng thu hồi để DN khai thác đất mà không hỗ trợ đồng nào cả. Qua nhiều lần “thương lượng”, rồi bị mời lên xã, cuối cùng gia đình phải chấp nhận giao diện tích đất rừng cho xã.
Trước bức xúc của người dân, PV tìm đến UBND xã Lộc Trì, lúc đó 15 giờ 40’ ngày 30/10, không gặp được lãnh đạo xã, PV đã liên hệ với ông Trần Xuân Diện, Chủ tịch UBND xã Lộc Trì hẹn gặp để làm rõ thông tin về việc xã tùy tiện thu hồi đất của dân giao cho DN khai thác đất trái phép.
Ông Diệu cho rằng, không có, đang bận họp rồi cúp máy. Khoảng 16 giờ 10, PV gọi lại, ông Diệu với giọng lè nhè hỏi, ở mô hè. PV nói đó là việc xảy ra ở thôn Trung Phước, ông Diệu lại hỏi thôn Trung Phước là ở mô hè, tui không biết, rồi tiếp tục cáo bận họp để cúp máy điện thoại.
Những hành xử thiếu trách nhiệm của vị Chủ tịch Trần Xuân Diệu, không hiểu vì họp hành quá nhiều nên không nhớ nổi địa danh thôn trong xã do mình quản lý, hay chưa đến 16 giờ đã đi nhậu say nên quên?
Quan sát tại hiện trường ở khu vực núi Khe Trầu bắc Phước Tượng, thôn Trung Phước (xã Lộc Tiến) một quả đồi lớn đang bị đào bới, mốc hết ruốt, rộng vài hec-ta, nguy cơ gây sạt lở bất cứ lúc nào. Xe ôtô tải, xe múc hoạt động liên tục, hết công xuất. Lãnh đạo xã ngoài tùy tiện thu hồi đất của gia đình bà Phan Thị Lộc, hiện tiếp tục cho DN khai thác đất trái phép trên diện tích đất của hộ ông Ngô Minh.
Một người dân bán quán ở thôn Trung Phước cho biết, đất ở đây xã lấy lâu rồi, thời gian đầu đổ cho khu tái định cư Lộc Trì, sau đó đổ san lấp mặt bằng cho một cây xăng gần đó, hơn 1 tháng nay đổ cho một công trình thi công đường.
Trao đổi với phóng viên Báo Xây dựng, ông Cái Văn Vinh - Trưởng Phòng Tài nguyên Khoáng sản (Sở TN&MT) TT-Huế cho biết, trên địa bàn xã Lộc Trì chưa có chủ trương cấp mỏ khai thác đất san lấp.
Nếu có “vận dụng” UBND tỉnh sẽ có văn bản gửi Sở nắm bắt để quản lý, hiện vẫn chưa. Phòng không có chức năng xử phạt, khi phát hiện sự việc, chỉ báo cho Thanh tra Sở kiểm tra xử lý. Khai thác, đưa đất san lấp ra ngoài phải hoàn thành các thủ tục theo quy định và đóng thuế cho Nhà nước, khi phát hiện sẽ xử lý về hành vi “khai thác khoáng sản trái phép”.
Ông Trần Xuân Diệu, Chủ tịch xã Lộc Trì thừa nhận, trên địa bàn xã không có mỏ đất san lấp, khi triển khai san lấp mặt bằng khu TĐC Lộc Trì, huyện chỉ đạo xã tìm đất san lấp. Ngày 30/12/2013 xã đã có tờ trình xin cải tạo ở khu vực Khe Trầu bắc Phước Tượng.
Theo đó, ông Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch UBND huyện Phú Lộc đã “mạnh dạn” phê vào tờ trình “Phòng TNMT chủ trì phối hợp các ngành Nông nghiệp, Kiểm lâm và địa phương kiểm tra tham mưu UBND huyện tham mưu giải quyết”. Cầm được “bảo bối” xã ngang nhiên cho doanh nghiệp đào lấy đất san lấp trái phép không chỉ phục vụ TĐC, mà phục vụ nhiều công trình khác trên địa bàn.
Ông Cái Văn Vinh, Trưởng Phòng Tài nguyên Khoáng sản (Sở TN&MT) TT-Huế nhấn mạnh, “muốn khai thác khoáng sản ở đâu, đều phải được UBND tỉnh cấp phép mới cho vận chuyển ra khỏi khu vực. UBND xã, huyện trở xuống không có quyền cho phép doanh nghiệp, người dân khai thác, lấy đất san lấp”.
Ông Cái Văn Vinh cho biết thêm, thời gian qua nạn khai khai thác đất trái phép làm vật liệu san lấp ở huyện Phú Lộc diễn ra rất “nóng”, sở đã nhiều lần vào cuộc chấn chỉnh, tuy nhiên tình trạng trên vẫn chưa thể giảm.
Nạn khai thác đất san lấp trái phép tràn lan, trong đó có lãnh đạo xã Lộc Trì đừng đằng sau, các cơ quan chức năng tỉnh TT-Huế cần sớm vào cuộc để kiểm tra, làm rõ ai đã tiếp tay, thông đồng cho DN khai thác đất san lấp trái phép ở khu vực trên để có biện pháp chấn chỉnh kịp thời. (Xây Dựng 4/11) đầu trang(
1/11, Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp cùng trường Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên tổ chức Hội thi “Rừng cho ta cuộc sống hôm nay và mai sau”.
Hội thi có sự tham gia của 7 đơn vị gồm 3 trường đại học chuyên ngành nông – lâm nghiệp, 3 vườn quốc gia. Riêng Thái Nguyên có 2 đơn vị tham gia là trường Đại học Nông lâm và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Hội thi diễn ra trong 2 ngày, nằm trong chương trình kế hoạch hoạt động của Văn phòng Ban chỉ đạo Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020. Với các phần thi Tiểu phẩm, chào hỏi; Thi trắc nghiệm và Thi tình huống, thể hiện bằng hình thức sân khấu hóa, lồng ghép kiến thức pháp luật về bảo về và phát triển rừng rất sinh động.
Quan hội thi, thông điệp gửi đến khán giả là mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2012; một số chính sách, văn bản pháp quy liên quan, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; nội dung cơ bản của Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp; công tác bảo vệ, phát triển rừng, bảo tồn sinh học; vai trò của rừng đối với cuộc sống và tác động của biến đổi khí hậu đến cuộc sống của con người.
Thông qua hình thức sân khấu hóa nhẹ nhàng, các đội thi đã đem đến cho người xem nhiều thông điệp bổ ích cùng tiếng cười sảng khoái. Kết thúc Hội thi, BTC đã trao giải nhất cho đội Đại học Lâm Nghiệp, giải nhì cho đội Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên.
Đây là hình thức tuyên truyền gây được sự chú ý và dễ tiếp thu đối với công chúng, đặc biệt là đối với các bạn sinh viên rất nên được quan tâm tổ chức thường xuyên hơn. (Đài PTTH Thái Nguyên 3/11) đầu trang(
Cà Mau là một trong những địa phương có diện tích rừng lớn của Việt Nam (khoảng trên 40.000ha rừng tràm và trên 63.000 rừng đước - rừng ngập mặn).
Trong những năm vừa qua, sự yếu kém trong công tác quản lý rừng, nhất là đối với diện tích rừng sản xuất đã khiến cho không ít hộ dân từng gắn bó với rừng hoặc muốn “đánh thức” tiềm năng rừng ngày càng khốn khó, lao đao.
Đến Cà Mau nghe chuyện người dân gọi "vua" là vì những người sung sướng nhờ rừng. Và người dân thấy quá bất công trước sự tồn tại hàng chục năm nay một thực trạng về đất rừng sản xuất khi "kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra".
Hôm về Khánh Thuận, huyện U Minh, đứng giữa bạt ngàn của vùng đất U Minh Hạ từng đi vào lịch sử, thơ ca, được nghe người dân bức xúc kể nhiều câu chuyện về những "vua đất".
Một người dân ở ấp 19, cho biết: "Những ông "vua đất" đang có trong tay hàng chục ha ở đây chẳng ai khác chính là những cán bộ được phân công làm nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng U Minh Hạ. Họ đã tìm mọi cách để… biến đất rừng thành đất của cá nhân rồi bán chác hoặc cho người khác thuê, tới kỳ đến thu tiền hưởng lợi".
Tất cả đất mà người dân nói đến từng do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ quản lý, thế nhưng thực tế đã được một số người định đoạt như tài sản do mình sở hữu.
Người đầu tiên mà người dân "điểm mặt" là ông Nguyễn Ngọc Tuấn. Trước đây ông Tuấn là Giám đốc Lâm ngư trường (LNT) Sông Trẹm, nhưng hiện nay - theo xác nhận của ngành chức năng tỉnh Cà Mau, ông này là Phó ban Dân vận Huyện ủy Thới Bình (Cà Mau).
Theo những tài liệu mà Đoàn thanh tra tỉnh được Công ty TNHH MTV U Minh Hạ cung cấp, ông Tuấn và 3 người con của ông có tất cả 5 phần đất, với tổng diện tích gần 50 ha.
Phần đất thứ nhất thuộc Thửa số 10, Khoảnh 4, Tiểu khu 008, diện tích 17ha, loại đất sản xuất lâm - ngư nghiệp kết hợp. Về nguồn gốc đất này, vào năm 1995, ông Tuấn được LNT Sông Trẹm ký hợp đồng giao khoán. Đến năm 2003, ông Tuấn chuyển nhượng lại cho ông Phạm Văn Nhã (ở TP HCM). Nhằm tránh bị phát hiện, ông Tuấn đã đối phó bằng cách làm hợp đồng mới dưới hình thức liên doanh, liên kết với ông Nhã vào năm 1995, nhằm không để lại bút tích ông đã chuyển nhượng cho ông Nhã. Có điều, ông Tuấn giấu đầu nhưng… hở đuôi.
Theo Thanh tra tỉnh Cà Mau, hợp đồng mới này không có giá trị pháp lý vì hợp đồng thể hiện do ông Phạm Thành Văn, chức danh Phó giám đốc LNT ký. Thực tế thời điểm năm 1995, ông Văn chưa được bổ nhiệm vào vị trí này mà phải sau đó 3 năm, tức 1998, ông Văn mới là Phó giám đốc.
Phần đất thứ hai là Thửa số 05, Khoảnh 9, Tiểu khu 002, diện tích 5,5ha, loại đất sản xuất nông nghiệp. Năm 1993, ông Tuấn nhận giao đất khoán đất lâm nghiệp với LNT Sông Trẹm. Đến năm 2007, ông Tuấn nhận chuyển nhượng lại và hiện ông đứng tên trong hợp đồng giao khoán.
Phần đất thứ ba thuộc các thửa số 158, 159 và 160, Khoảnh 8, Tiểu khu 002, diện tích 27,3ha, loại đất lâm - ngư nghiệp kết hợp. Theo giải trình của ông Trần Ngọc Hiếu - Giám đốc Công ty TNHH MTV U Minh Hạ và ông Tuấn, trước đây ông Nguyễn Thiện Thuật - công tác tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Cà Mau hợp đồng giao khoán phần diện tích này với LNT Sông Trẹm, sau đó tách thửa chuyển cho 3 con ruột của ông Tuấn mỗi người 9,1ha. Và hiện 3 người này đứng tên trong hợp đồng giao khoán đất lâm nghiệp.
Tuy nhiên, khi Đoàn thanh tra tỉnh Cà Mau làm việc thì ông Thuật khẳng định ông không hề chuyển nhượng diện tích đất 27,3ha như vừa kể cho ông Tuấn hay con ông Tuấn. Và trong hợp đồng thể hiện LNT Sông Trẹm chỉ có 10ha chứ không phải 27,3ha như ông Hiếu giải trình.
Từ thực tế này, ông Hiếu và ông Tuấn đã giải trình lần thứ hai, thứ ba, xác định lại: Các người con của ông Tuấn nhận chuyển nhượng của các ông: Nguyễn Việt Hồng, Mai Văn Chinh và Lê Hoàng Minh. Giải trình thế nhưng cả ông Hiếu và ông Tuấn không cung cấp được cho Đoàn thanh tra hồ sơ chuyển nhượng giữa những người vừa kể trên với các con của ông Tuấn. Trên giấy tờ gốc chỉ thể hiện các ông: Thuật, Hồng, Minh chuyển nhượng thành quả lao động cho ông Trần Minh Cảnh và ông Phan Thanh Toàn; còn các con của ông Tuấn được LNT Sông Trẹm giao khoán 27,3ha.
Tại địa bàn ấp 7, xã Khánh Thuận, huyện U Minh còn có một "vua rừng" khác là Nguyễn Hữu Phước, hiện là Phó giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm Nghiệp U Minh Hạ.
Theo xác định của cơ quan chức năng, khu đất đầu tiên mà ông Phước đang "sở hữu" thuộc Thửa số 162, Khoảnh 12 của Tiểu khu 002, diện tích 5,5ha. Người dân Khánh Thuận ví đó là "đất vàng" do đất này giáp hai mặt tiền, toàn bộ diện tích đất được sử dụng vào mục đích nông nghiệp (hiện được ông Phước trồng thanh long và đu đủ), không như những khu đất khác bị giới hạn 30% sản xuất nông nghiệp, 70% trồng rừng.
Cũng tại Tiểu khu 002, ông Phước còn có một phần đất diện tích 11ha. Phần đất này, ông Phước nhận giao khoán của LNT Sông Trẹm theo hợp đồng cách đây gần 20 năm. Liền kề với thửa đất trên, cụ thể tại Thửa số 138, Khoảnh 5, Tiểu khu 002,  "vua Phước" còn tham gia "hô biến" phần đất rừng có diện tích 11,7ha.
Ông Phước trình bày rằng đất này do ông Chung Tấn Kiệt - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Bạc Liêu chuyển nhượng lại cho em ruột của ông là Nguyễn Chí Thành với Sổ hợp đồng giao khoán số 138 ngày 1/9/1995. Nhưng qua kiểm tra hồ sơ và đối chiếu thực tế, cơ quan chức năng tỉnh Cà Mau xác định thì lời trình bày của ông Phước không có cơ sở vì không có giấy tờ nào thể hiện ông Thành nhận chuyển nhượng của ông Kiệt, đã được lãnh đạo LNT Sông Trẹm chấp thuận.
Ngược lại, hồ sơ gốc thể hiện ông Kiệt xin chuyển nhượng cho ông Phước nhưng lãnh đạo LNT chỉ chấp nhận sự trả đất của ông Kiệt, chứ không có ý kiến chấp thuận cho ông Kiệt chuyển nhượng. Tuy nhiên, ông Phước tự làm hợp đồng giao khoán cho em ruột (ông Thành) đứng tên rồi đưa cho ông Phạm Thành Văn ký với chức danh Phó giám đốc trên hợp đồng vào năm 1995. Thực tế, năm 1998 ông Văn mới được bổ nhiệm làm Phó giám đốc LNT Sông Trẹm. Và thế là ông Phước đã hợp thức hóa 11,7ha đất lâm nghiệp một cách trót lọt và để cho em trai mình sử dụng.
Chưa hết, tại Thửa 95, Khoảnh 10, Tiểu khu 007, cơ quan chức năng còn phát hiện mảnh đất 4ha do vợ ông Phước (là bà La Thị Diệu) nhận chuyển nhượng lại từ một người khác vào năm 2003, quản lý sử dụng. Đến năm 2012, bà Diệu chuyển nhượng phần đất này cho người khác…
Ông Phước thừa nhận 4 thửa đất trên là của mình, nhưng nói rằng 3/4 lô đất là do mình nhận chuyển nhượng lại. Thực tế chỉ có Thửa số 162 được LNT Sông Trẹm chấp nhận hợp đồng chuyển nhượng của ông.
Ngoài những "vua đất" vừa kể, tại Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ, còn có không ít cán bộ khác cũng được người dân xếp vào hàng "vua đất". Chẳng hạn như ông Trần Minh Cảnh - cán bộ Phân trường Sông Trẹm, cùng vợ và em vợ có trong tay gần 70ha đất, ông Lê Việt Triều - Trưởng Phân trường Sông Trẹm có 2 thửa đất trên 19ha...
Còn tại ấp Vồ Dơi, xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời - một xã thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia (VQG) U Minh Hạ, người dân vô cùng bức xúc trước nghịch cảnh khi nhiều hộ dân ở đây không có đất sản xuất, trong khi cán bộ của VQG và một số cán bộ của tỉnh nhận đất lại không sản xuất mà đem sang bán hoặc cho thuê kiểu phát canh thu tô.
Chánh thanh tra tỉnh Cà Mau trong một kết luận vừa ký cách nay chưa lâu xác định chỉ riêng tại vùng đệm VQG U Minh Hạ hiện đã giao khoán 863ha, trong đó hợp đồng giao khoán cho cán bộ 75ha và có đến 32 hộ là cán bộ nhận đất chuyển nhượng cho các hộ khác.
Trên 70ha đất (trong đó có hơn 28ha tại Khoảnh 37, Tiểu khu VI thuộc phân khu dịch vụ hành chính VQG U Minh Hạ) cũng bị "xẻ thịt" để cấp cho hàng chục cán bộ, sau đó họ lại chuyển nhượng hoặc cho người khác thuê lại.
Trong số cán bộ được cấp đất, chúng tôi thấy đứng đầu danh sách là ông Phạm Chí Đoàn - nguyên Trạm trưởng Trạm Quản lý bảo vệ rừng Vồ Dơi (hiện là cán bộ Hạt kiểm lâm Biển Tây - Ngọc Hiển). Tiếp đó là các ông: Nguyễn Quốc Khải - nguyên cán bộ BQL Vồ Dơi (nay chuyển về Năm Căn); Dương Thanh Đệ - Kiểm lâm viên VQG; Nguyễn Văn Liêm - Trưởng phòng Kế hoạch - Hợp tác quốc tế VQG; Nguyễn Quang Của - nguyên Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm (hiện nghỉ hưu); Nguyễn Văn Thế - nguyên Giám đốc VQG (hiện chuyển công tác về Cục Kiểm lâm); Tạ Vĩnh Thắng - nguyên Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm (hiện đã chuyển công tác về một cơ quan TW); Nguyễn Hoàng Đông - nguyên Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm; Nguyễn Việt Phước - nguyên cán bộ Phòng Quản lý bảo vệ rừng Chi cục Kiểm lâm, nguyên Hạt kiểm lâm Thới Bình (hiện là nhân viên VQG); Trần Đức Hùng - nguyên Chủ tịch Công đoàn Chi cục Kiểm lâm.
Đặc biệt, trong danh sách này còn có ông Tạ Vũ Linh - nguyên Phó giám đốc VQG. Tháng 6/2013, ông Linh bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Trần Văn Thời khởi tố về tội "tham ô tài sản" qua hành vi lợi dụng chức vụ tự ý bán cá ở các kênh mương VQG U Minh Hạ để thu lợi bất chính.
Trong quá trình tìm hiểu về các "vua đất" ở U Minh Hạ, chúng tôi còn được nghe người dân bức xúc kể về chuyện phá "Vườn cây nhớ ơn Bác".
Một người dân sống ở vùng đệm kể rằng vào kỷ niệm sinh nhật Bác năm 1987, lãnh đạo BQL rừng vận động dân đào đất, đắp bờ trồng tràm, bạch đàn. Ngày ra quân treo cờ, căng bảng hiệu làm rất khí thế. Có điều chẳng bao lâu sau đó, "Vườn cây nhớ ơn Bác" bị phá. Khi được hỏi về điều này, một lãnh đạo VQG U Minh Hạ giải thích rằng "do bị ảnh hưởng bão, cây đổ ngã, không khắc phục được, nên năm 2003 lãnh đạo lúc bấy giờ cho khai thác trắng".
Thanh tra tỉnh Cà Mau kết luận sau khi khai thác xong "Vườn cây nhớ ơn Bác" thì lãnh đạo VQG U Minh Hạ không chỉ đạo trồng lại rừng mà lại lấy phần đất trên để giao khoán cho… cán bộ.
Theo Kết luận thanh tra (KLTT), Chi cục Kiểm lâm tỉnh không có thẩm quyền cho phép VQG U Minh Hạ giao khoán đất rừng nhưng lại ký phê duyệt, để một số cán bộ được nhận giao khoán. Đây là việc làm không đúng pháp luật, có dấu hiệu vụ lợi cá nhân. Chịu trách nhiệm chính đối với vi phạm này là ông Nguyễn Văn Thế, Tạ Vĩnh Thắng, Nguyễn Quang Của và một số cá nhân đã tham mưu đề xuất…
Đối với trường hợp ông Nguyễn Ngọc Tuấn - nguyên Giám đốc LNT Sông Trẹm, theo KLTT: "Được giao khoán 2 phần đất với diện tích 22,5ha nhưng không sử dụng mà chuyển nhượng cho người khác rồi đối phó (bằng cách lập hợp đồng liên doanh, liên kết với ông Nhã) nhằm che giấu bút tích việc chuyển nhượng, sau đó lại tiếp tục giao khoán cho 3 người con của ông 27,3ha. Đây là dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng".
Chánh Thanh tra tỉnh kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau đề nghị Ban thường vụ Huyện ủy Thới Bình kiểm tra việc kê khai tài sản, thu nhập của ông Tuấn. (Công An Nhân Dân 3/11) đầu trang(
Với diện tích rừng trồng gần 500 ha, trong đó có hơn 350 ha rừng thuộc Dự án WB3 trồng từ năm 2005 đến nay, người trồng rừng ở Mỹ Trinh đã có ít nhất 4 - 5 năm khai thác sớm hơn hoặc đúng chu kỳ, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Khai thác vụ mới từ đầu năm 2014 đến nay, với phương thức mua đứt bán đoạn ngay tại rừng sau khi thống nhất giá cả với thương lái, thu tiền dứt điểm một lần, với giá tiêu thụ bình quân đầu vụ 70 triệu đồng/ha, giữa vụ 80 triệu đồng/ha và hiện nay tăng lên 100 triệu đồng/ha, khiến bà con trồng rừng WB3 rất vui.
Ông Phạm Ngọc Chính, cán bộ khuyến lâm xã Mỹ Trinh, cho biết: Chỉ tính năm 2013, toàn xã có hơn 100 hộ đã bán hơn 65 ha rừng WB3 cho hiệu quả kinh tế cao. Điển hình như ông Trần Minh Sỹ, ở thôn Lạc Sơn, bán hơn 2 ha, thu về 172 triệu đồng; ông Nguyễn Văn Ban, ở thôn Trung Hội, bán 4 ha, thu 325 triệu đồng…
Bây giờ, vụ này chưa khép lại, toàn xã đã bán gần 80 ha rừng WB3 sớm hơn từ nửa năm đến 1 năm so với chu kỳ, với giá bán tăng dần nên người trồng rừng ở đây đều vui. Điển hình như hộ Lê Kim Cường, ở thôn Trinh Vân Nam, bán 1,2 ha, thu 135 triệu đồng; hộ ông Nguyễn Chí Cường, thôn Lạc Sơn, bán gần 3 ha, thu 240 triệu đồng…
Ông Nguyễn Chí Cường bộc bạch: “Cầm trong tay số tiền 240 triệu đồng, tui nghĩ gần cả đời làm nông trồng lúa, hoa màu, chưa khi nào có số tiền lớn như thế này, sao không vui được”. Còn ông Trần Văn Phú, cũng ở Lạc Sơn, mới bán 0,3 ha rừng, thu 44 triệu đồng, cho rằng: Mấy năm rồi nhờ trồng rừng WB3 mà cuộc sống nhà tui thoải mái lên rất nhiều, chứ cứ ngó mấy sào ruộng, sào đỗ, sào dưa leo thì không xoay xở nổi trăm thứ chuyện cần phải chi phí”.
“Từ Dự án WB3, nhiều năm qua ở Mỹ Trinh không những chỉ tạo việc làm, tăng thu nhập ổn định, xóa đói giảm nghèo, tăng hộ khá giàu bền vững cho người dân nơi đây, mà rừng Mỹ Trinh còn mang lại nhiều lợi ích kinh tế - xã hội thiết thực khác, như tăng độ che phủ, bảo vệ môi trường, giảm bớt tình trạng ao hồ cạn kiệt trong mùa khô như trước đây”  - ông Nguyễn Đình Hùng, Chủ tịch UBND xã Mỹ Trinh, khẳng định. (Báo Bình Định 2/11) đầu trang(
Ô ng Lê Quang Dần, Giám đốc Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng, huyện Đắk G’long (Đắk Nông) cho biết: Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng vừa thực hiện giao khoán rừng đặc dụng cho 167 hộ dân là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ quản lý, bảo vệ với diện tích 7.961,4 ha.
Các tiểu khu giao khoán gồm: 1757, 1767, 1803, 1807, 1811, 1814, 1781, 1793, 1794, 1805, 1795, 1787, 1772, 1806, 1809, 1810 và 1813. Rừng giao khoán chủ yếu từ rừng IIA đến IIIA3, rừng lồ ô, lá kim và rừng hỗn giao lá rộng; trong đó, diện tích rừng giao khoán thuộc lưu vực sông Đồng Nai là 4.739 ha, lưu vực sông Sêrêpốk hơn 3.222 ha.
Rừng giao khoán được chia thành 17 tổ, trong đó, xã Đắk Som, huyện Đắk G’long có 121 hộ chia thành 12 tổ; xã Đạ Knàng, huyện Đam Rông (Lâm Đồng) 22 hộ chia thành 2 tổ; xã Phi Liêng, huyện Lâm Hà (Lâm Đồng) 34 hộ chia thành 3 tổ. Dự kiến trong năm 2014, Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng sẽ chi trả cho các hộ dân quản lý, bảo vệ rừng khoảng 1,6 tỷ đồng.
Việc giao khoán rừng nhằm góp phần ngăn chặn, hạn chế tình trạng lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy, phá rừng lấy gỗ, săn bắn thú rừng trái phép; đồng thời, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho đồng bào dân tộc thiểu vùng sâu, vùng xa.
Theo đánh giá của ngành nông nghiệp Đắk Nông, các hộ đồng bào dân tộc thiểu số đã làm ăn sinh sống gần khu vực rừng đặc dụng từ rất lâu nên am hiểu địa hình khu vực rừng núi, khi được giao khoán sẽ quản lý, bảo vệ rừng có hiệu quả hơn. (Tin Môi Trường 1/11) đầu trang(
Việc quy hoạch 3 loại rừng ở cấp quốc gia được thực hiện theo quy mô tiểu khu; ở cấp tỉnh theo khoảnh. Lô quy hoạch vẫn chưa được đề cập; trong lúc đó, đây chính là đơn vị để tổ chức sản xuất lâm nghiệp.
Theo quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR), rừng được chia thành 3 loại: đặc dụng (ĐD), phòng hộ (PH), sản xuất (SX). Vì vậy, khác với các ngành kinh tế khác, có thể nói ngành lâm nghiệp (LN) là ngành “kinh tế - môi trường”, trước khi quy hoạch (QH) sử dụng phải xác định nó thuộc loại rừng gì.
QH 3 loại rừng là tiền đề để lập QH BV&PTR. Để quản lý rừng, đơn vị phân loại rừng của ngành LN là tiểu khu (TK), khoảnh (K), lô (Điều 42, Nghị định số 23/2006/NĐ-CP).
Với quy mô bình quân 1.000 ha/TK, là để QH 3 loại rừng trên thực tế đã tỏ ra bất cập vì quá lớn, không giúp chủ rừng nắm chắc được tình hình rừng cụ thể nên không tạo được sự linh hoạt và hiệu quả trong quản lý cũng như sử dụng rừng. Ngoại trừ rừng đặc dụng, đòi hỏi phải quản lý rất nghiêm ngặt, người viết bài này từng đề xuất ý tưởng QH 3 loại rừng “trong PH có SX và trong SX có PH”.
Ý tưởng này đã được sự đồng tình ủng hộ và pháp quy hóa nên QH 3 loại rừng ở cấp tỉnh đã thực hiện đến K với quy mô bình quân 100 ha/K. Như vậy, trong 1 TK rừng PH có thể có những K SX và ngược lại.
QH đến K là 1 bước tiến lớn của quản lý rừng, giúp cho người sử dụng rừng nắm chắc hơn, cụ thể hơn và có động lực hơn để sử dụng rừng, đất LN tốt hơn, mang lại hiệu quả cao hơn. Tuy nhiên, trên thực tế, trong một K có nhiều dạng địa hình và tính chất đất đai khác nhau; đối với rừng tự nhiên còn có tổ thành loài cây khác nhau nên đòi hỏi phải có phương án quản lý, sử dụng khác nhau.
Trong 1 K rừng tự nhiên có 1 lô rừng có những cây huê mộc vàng, tức là cây sưa tên khoa học là Dalbergia tonkinensis Prain, một loại cây gỗ quý hiếm, giá trị 1m3 hàng tỷ đồng, nên trong những năm gần đây đã bị lâm tặc “săn lùng” rất ráo riết thì phải có cách tổ chức quản lý, bảo vệ khác hẵn so với các lô khác.
Điểm đáng lưu ý là, Nhà nước quy định chủ rừng được trồng xen cây nông nghiệp, cây dược liệu trong rừng PH đầu nguồn, rừng PH chắn gió, chắn cát bay, rừng PH chắn sóng lấn biển nhưng không làm ảnh hưởng đến khả năng PH của rừng; được sử dụng diện tích đất chưa có rừng để SX nông, ngư nghiệp kết hợp với tỷ lệ không quá 30% (khoản 2, điều 33, Quyết định 186/2006/QĐ -TTg); đối với rừng SX là rừng trồng có mức độ xung yếu về PH, được khai thác 50% diện tích theo băng hoặc theo đám (điểm 8.3, khoản 8, Thông tư số 99/2006/TT-BNN ngày 06-11-2006 của Bộ NN&PTNT).
Nội dung của các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật nói trên đã thể hiện rõ quan điểm trong PH có SX, trong SX có PH. (Báo Thừa Thiên Huế 1/11) đầu trang(
UBND phường 10 tổ chức lực lượng cưỡng chế nhanh đối với công trình xây dựng trái phép trên đất trồng rừng thuộc dự án 327 tại hẻm 30 đường 3/2 phường 10 thành phố Vũng Tàu.
Được biết, vị trí khu đất thuộc khoảnh 2 lô B6 do hộ ông Cao Xuân Trang nhận khoán đất trồng và bảo vệ rừng, khu đất này do phòng kinh tế thành phố Vũng Tàu quản lý. Công trình vi phạm xây dựng trái phép hiện đang xây dựng móng đá diện tích khoảng 50 m2 .
Theo đội quản lý đô thị phường 10 báo cáo, đây là lần cưỡng chế thứ hai, lần đầu vào chiều ngày 22/10/2014. Qua kiểm tra theo dõi đã phát hiện công trình tiếp tục vi phạm xây dựng trái phép và đã bị cưỡng chế tháo dỡ trả lại hiện trạng ban đầu. UBND phường đã lập biên bản xử phạt hành chính và yêu cầu ngừng thi công công trình vi phạm.
Đồng thời giao cho công an, đội quản lý đô thị của phường tổ chức lực lượng phối hợp với các cơ quan chức năng thường xuyên kiểm tra, kịp thời phát hiện ngăn chặn việc xây dựng trái phép tại khu vực trên nói riêng và địa bàn phường 10 nói chung. Qua hai lần cưỡng chế, hiện chủ công trình vi phạm vẫn vắng mặt. (Baria-vungtau.gov.vn 1/11) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Cháy rừng tiếp tục là thách thức cho chính quyền Indonesia khi không chỉ đe dọa môi trường và sức khỏe người dân trong nước mà còn ảnh hưởng đến các nước lân cận.
Báo cáo từ Cơ quan Quản lý thảm họa quốc gia Indonesia cho biết ảnh chụp từ vệ tinh sáng 2-11 cho thấy có hơn 1.800 điểm nóng cháy rừng, trong đó hơn 1.500 điểm tập trung tại hai tỉnh Trung Kalimantan và Nam Sumatra.
Khói cũng lan xuống Jambi và Riau, hai tỉnh gần với Singapore. Việc đốt rẫy và khai hoang là nguyên nhân chính gây ra các vụ cháy.
Ước tính trong vài tháng qua, chính quyền Indonesia đã triển khai hơn 10.000 chuyến bay dập lửa, sử dụng hơn 24,4 triệu lít nước và bắn lên trời 67 tấn hóa chất để tạo mưa.
Trong khi đó, cơ quan môi trường Singapore đưa tin khói bụi từ Indonesia tràn ngập thành phố này sáng sớm hôm qua, đẩy chất lượng không khí xuống mức “không lành mạnh”, tức khoảng 116 PSI.
Chính phủ Singapore khuyến cáo người dân không nên tham gia các hoạt động ngoài trời khi chỉ số ô nhiễm PSI vượt 100. Trước đó một ngày, chỉ số ô nhiễm ở đảo quốc này nhảy lên đến 127 PSI.
Ô nhiễm khói bụi gây căng thẳng giữa Indonesia và Singapore thời gian qua và Jakarta mới đây đã thông qua thỏa thuận ASEAN về ô nhiễm khói bụi xuyên quốc gia sau 12 năm đặt bút ký vào thỏa thuận. Singapore hồi tháng 8-2014 cũng thông qua luật phạt các công ty nước ngoài gây ô nhiễm môi trường lên đến 1,6 triệu USD. (Tuổi Trẻ 4/11, tr20) đầu trang(
Khoảng 60 năm qua người ta không còn nhìn thấy loài nai răng nanh quý hiếm và nghĩ rằng chúng đã tuyệt chủng. May mắn là mới đây các nhà khoa học lại phát hiện một số cá thể nai này tại Afghanistan.
Động vật có vú và sở hữu răng nanh nhọn mọc chìa ra (còn được gọi là hươu xạ hương Kashmir) đã biến mất từ năm 1948. Tuy nhiên, theo báo cáo gần đây trên tạp chí Oryx, một nhóm các nhà quan sát thuộc Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã đã nhiều lần phát hiện một số cá thể quý hiếm này trong các khu núi cao hẻo lánh ở phía đông bắc Afghanistan. Nơi đây có đồng cỏ tươi tốt, nhiều cây bách xù và đỗ quyên cùng với các mỏm đá gồ ghề.
Hãng tin UPI dẫn lời nhà khoa học Peter Zahler cho biết nai răng nanh được coi là báu vật sống ở Afghanishtan. Loài động vật hoang dã này còn nổi tiếng hơn cả loài báo tuyết, được coi là di sản thiên nhiên ở đất nước còn gặp nhiều khó khăn này. Cặp răng nanh giống như cặp ngà mọc chìa ra không có tác dụng săn mồi hoặc tiêu hóa thức ăn mà đó là cách để nai đực hấp dẫn nai cái.
Theo Liên minh quốc tế bảo tồn thiên nhiên thì nai răng nanh là một trong 7 loài có nguy cơ tuyệt chủng cao ở châu Á. Túi hương của các loài này được đánh giá rất cao trong công nghệ nước hoa và y học. Trên thị trường chợ đen 450 gr xạ hương được bán với giá 20.000 USD.
Các nhà khoa học cho biết nếu không cải thiện cơ sở hạ tầng để bảo tồn động vật hoang dã thì những con nai quý hiếm này có khả năng biến mất từ tỉnh Nuristan của Afghanistan và cả ở Ấn Độ, Pakistan. (Thanh Niên 4/11) đầu trang(
Để chăm sóc cho những chú dơi con bị bỏ rơi, các nhà bảo tồn động vật hoang dã đã sáng lập ra bệnh viện dơi Tolga ở Atherton, Australia.
Tại Australia, mỗi năm có khoảng 300 con dơi con bị bỏ rơi vì mẹ của chúng quá yếu và không thể cho con ăn.
Tại bệnh viện dơi Tolga, những con dơi con được bọc trong chăn ấm, được uống sữa bằng bình, tắm rửa và chải tóc.
Bệnh viện dơi Tolga được thành lập nhờ sự hảo tâm của những cá nhân muốn giúp bảo tồn loài dơi trong môi trường sống tự nhiên.  Sau khi được chăm sóc khỏe mạnh, các chú dơi con được thả về tự nhiên. (VietnamPlus 3/11) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng