|
Ngày 03 tháng 11 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Cuối tháng 10, từ thông tin tố cáo về vụ phá rừng có tổ chức, đặc biệt nghiêm trọng xảy ra tại rừng Nà Dệt và Giếng Cọp thuộc huyện Hàm Thuận Nam (Bình Thuận), PV đã nhờ người dẫn đường đưa đến thực địa. Đến nơi, PV sững sờ vì hàng chục hecta rừng bị hạ…
Cách quốc lộ 1A khoảng 20 km, muốn đến rừng Nà Dệt phải gửi lại xe máy rồi vượt qua sông Bà Bích bằng cáp treo tự chế của người dân. Đi thêm khoảng chục kilomet đường rừng mới đến được Tiểu khu 284 do Công ty Lâm nghiệp Bình Thuận (đơn vị trực thuộc Công ty Lâm nghiệp Bình Thuận) quản lý, bảo vệ.
Ngay đầu rừng Nà Dệt, cạnh đường mòn PV đã gặp hàng chục cây rừng bị hạ còn trơ gốc xỉn màu. Anh P., người dẫn đường, cho biết: “Toàn bộ các vụ xà xẻo, triệt hạ rừng Nà Dệt xảy ra từ cuối năm 2013 đến tháng 5-2014”.
Lội qua con suối cạn vào sâu trong rừng, hàng trăm gốc cây lớn nhỏ ngửa mặt nhìn trời. P. nói: “Cây rừng bị triệt hạ đều là gỗ lim, dầu, gáo… toàn loại gỗ quý”. Theo quan sát, các gốc cây có đường kính từ 20 đến 70 cm. Thậm chí nhiều cây đường kính dưới 15 cm cũng bị lâm tặc đốn hạ bằng cưa máy. Lâm tặc tập kết gỗ bên con suối cạn rồi vận chuyển về xuôi. Hơn một buổi đếm gốc, cộng nhẩm, tại rừng Nà Dệt có trên 900 cây gỗ bị lâm tặc đốn hạ.
Sang khu vực rừng Giếng Cọp gần đấy, thấy khu vực này gần như bị phá trắng. Dấu vết còn lại là hàng ngàn gốc dầu non đường kính 20-30 cm, trong đó có nhiều gốc vết cắt vẫn còn rất mới. Sống ở rừng từ nhỏ, anh P. quả quyết: Diện tích rừng bị triệt hạ ở hai khu vực này không dưới 50 ha. Ngoài ra tại khu vực rừng Tà Nớ cách Giếng Cọp khoảng 3 km đường chim bay cũng có hàng trăm gốc dầu lớn nhỏ bị lâm tặc hóa kiếp!
Theo anh P., việc hạ cây rừng người dân địa phương đều biết nhưng họ nhầm tưởng là Xí nghiệp Lâm nghiệp Hàm Thuận Nam vệ sinh rừng theo chủ trương, kế hoạch. Bởi thỉnh thoảng tại khu vực rừng bị hạ, người dân thấy xuất hiện một lãnh đạo của xí nghiệp và nhân viên bảo vệ rừng.
Theo anh P., thời điểm rừng bị đốn, mỗi ngày có hai xe cơ giới cải tiến chở một nhóm người mang theo cưa máy vào rừng. Họ không vượt sông Bà Bích gần khu dân cư mà đi đường vòng. Chờ đêm xuống họ mới vận chuyển gỗ ra khỏi rừng đưa lên nhiều xe tải ra quốc lộ 1. Thấy nhiều dấu hiệu bất minh, người dân địa phương âm thầm theo dõi, tìm hiểu và xác định đây là vụ phá rừng với quy mô lớn vừa lấy gỗ vừa lấy đất nên làm đơn tố cáo.
Theo thu thập của PV, vụ hạ rừng này được một lãnh đạo của xí nghiệp bật đèn xanh. Người đứng ra tổ chức hạ rừng và vận chuyển gỗ đi tiêu thụ là một người có nhà tại TP Phan Thiết. Người này “hợp đồng” với một lâm tặc khét tiếng tại Gia An, Tánh Linh tên Tuấn làm cai, tổ chức cho nhóm lâm tặc hạ rừng rồi đo đếm, nghiệm thu và trả tiền công cho lâm tặc.
Một vấn đề đặt ra là với lượng gỗ khổng lồ bị triệt hạ như trên nhưng đơn vị quản lý bảo vệ không có một báo cáo nào và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Thuận không hay biết gì là điều khó hiểu.
Theo thông tin nắm được, Sở NN&PTNT tỉnh Bình Thuận đã thành lập đoàn kiểm tra liên ngành vào cuộc xác minh đơn tố cáo. Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin diễn biến vụ việc này. (Pháp Luật TPHCM 3/11) đầu trang(
Chiều 31.10, TAND TP.Đà Nẵng tuyên hoãn phiên tòa, trả hồ sơ để điều tra bổ sung vụ án buôn lậu gỗ quy mô lớn diễn ra trên địa bàn, có sự tiếp tay của cán bộ hải quan.
Như đã thông tin, đây là vụ án mà các bị can bị truy tố gồm có Trương Huy Liệu (56 tuổi), là phó giám đốc và vợ là Trần Thị Dung (53 tuổi, trú Lao Bảo, Quảng Trị), là giám đốc Công ty TNHH MTV Ngọc Hưng về tội "buôn lậu".
Ngoài ra, còn có Đỗ Lý Nhi (42 tuổi), Lê Xuân Thành (52 tuổi, cùng trú TP.Đông Hà, Quảng Trị), là công chức Chi cục Hải quan khu thương mại Lao Bảo và Đỗ Danh Thắng (59 tuổi, trú quận Hải Châu, TP.Đà Nẵng), công chức Chi cục Hải quan khu công nghiệp Đà Nẵng. Những người này bị truy tố về tội "Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng".
Vụ án liên quan đến số gỗ 614,672 m3 trị giá hơn 63,6 tỉ đồng, được các đối tượng vận chuyển từ Lào qua đường Quảng Trị, đưa về Cảng Đà Nẵng để bán đi Hồng Kông (Trung Quốc).
Các nhân viên của Công ty Ngọc Hưng là Lê Thị Ái Mỹ và Trần Đình Quang, là những người đã dùng giấy tờ khống của bị cáo Liệu đưa để hoàn thành hợp đồng, hợp thức hóa thanh toán với công ty bên Hồng Kông. Tuy nhiên, những giấy tờ này đều do bị cáo Liệu tổ chức, chỉ đạo nên cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự của 2 người này.
Trong 2 ngày diễn ra phiên tòa, các bị cáo đều khẳng định không phạm tội, bị cáo Liệu cho rằng đã nộp thuế đầy đủ lô hàng, không thừa nhận hành vi buôn lậu, bác bỏ việc làm giả hồ sơ.
Bị cáo Thắng cũng đưa ra chứng cứ mới, cho rằng Công ty Ngọc Hưng không sai phạm và bản thân làm đúng quy trình.
Theo Hội đồng xét xử, phiên tranh luận trong ngày 31.10 chưa làm rõ được nhiều vấn đề còn mâu thuẫn như nguồn gốc lô hàng, khối lượng giám định sau 2 lần khác nhau, số tiền thanh quyết toán… nên tòa tuyên trả hồ sơ điều tra để tiếp tục làm rõ. (Thanh Niên 1/11, tr5; Tiền Phong 1/11, tr11) đầu trang(
Hoàng Đàn là loài cây quý hiếm thuộc nhóm 1A, sinh sống trên các đỉnh núi đá cao, gốc, rễ bám chặt vào những khe đá cheo leo. Cũng vì quý hiếm nên người ta tìm mọi cách để có thể khai thác, để săn Hoàng Đàn, gốc rễ cũng không chừa.
Nếu như trước kia chỉ là khai thác thủ công thì từ cuối tháng 9/2014 trở lại đây, lâm tặc đã dùng mìn phá đá để lấy rễ Hoàng Đàn. Đây là hiện tượng mới ở khu vực rừng đặc dụng Hữu Liên, huyện Hữu Lũng.
Anh Triệu Xuân Trường, Trưởng Trạm bảo vệ rừng thôn Diễn (một trong ba trạm bảo vệ rừng trực thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng) chỉ tay và bảo: Anh xem, kia là một trong những khu vực mới bị nổ mìn lấy rễ Hoàng Đàn. Nhìn về phía tay anh chỉ, PV thấy cả vách đá dựng đứng, trắng ởn đã bị khoét thành một hố sâu hoắm.
Theo cán bộ Ban quản lý, từ cuối tháng 9/2014, ngày cao điểm, thông qua tiếng nổ, Ban xác định có khoảng 7 vụ nổ mìn, chủ yếu xảy ra ở khu vực phía Đông này. Lý do rất đơn giản đây là nơi trước kia tập trung nhiều Hoàng Đàn. Ước chừng khu vực nổ mìn cách PV chỉ tầm 300 m theo đường chim bay, nhưng những người dẫn đường cho biết, muốn tới được vị trí ấy, người thạo đường phải mất thêm khoảng 1 tiếng đồng hồ nữa.
Nói về Hoàng Đàn, cách đây hơn 3 năm, PV có dịp được tìm hiểu và viết về loại cây này thông qua kỹ sư Hoàng Lê Minh (nguyên Giám đốc Công ty Cổ phần giống cây trồng lâm nghiệp vùng Đông Bắc, một trong những nhà khoa học lâm nghiệp của tỉnh).
Câu chuyện thì dài, đại để gỗ Hoàng Đàn có thể làm thuốc, làm hương liệu, mùi thơm giống như trầm hương... đây là loài cây được ví là có hương thơm “trăm năm không phai”. Mặc dù chưa nghiên cứu hết, nhưng chỉ chừng ấy cũng khiến cho Hoàng Đàn bị săn lùng gắt gao, khai thác triệt để.
Những năm 90 của thế kỷ trước, Hoàng Đàn (tập trung chủ yếu ở khu vực rừng Hữu Liên) đã cơ bản cạn kiệt. Cũng bởi đặc tính của mình mà việc bảo tồn, nhân giống Hoàng Đàn rất khó khăn đối với các nhà khoa học.
Trở lại hiện tượng nổ mìn ở rừng đặc dụng Hữu Liên, ông Nguyễn Hữu Hưng, Trưởng Ban quản lý rừng đặc dụng Hữu Liên cho biết: Hiện tượng này bắt đầu xuất hiện từ ngày 25/9/2014, sau khi tìm hiểu, nghiên cứu hiện trường có thể khẳng định các đối tượng nổ mìn để khai thác rễ và gốc cây Hoàng Đàn còn sót lại.
Theo ông Hưng, hiện nay gốc và rễ Hoàng Đàn (kể cả gốc, rễ vụn) được thu mua với giá rất cao, lên đến khoảng 10 triệu đồng/kg. Hiện tượng nổ mìn được xác định là rất nguy hiểm, không chỉ ảnh hưởng tới hệ sinh thái, đa dạng sinh học của rừng đặc dụng mà còn nguy hiểm đến tính mạng của người dân.
Ngay khi phát hiện hiện tượng này, cán bộ Ban quản lý cùng với các lực lượng chức năng của huyện, cấp ủy, chính quyền xã đã vào cuộc. Một mặt tuyên truyền mạnh đến người dân sở tại, mặt khác tăng cường các biện pháp tuần tra, bảo vệ.
Đồng thời chốt chặn tại các cửa rừng để kịp thời phát hiện các hành vi vận chuyển thuốc nổ và dụng cụ hỗ trợ vào rừng... Trước các biện pháp quyết liệt đó, hiện tượng có giảm nhưng không thể triệt để. Không triệt để bởi lẽ, ngay cả những hiện trường gần nhất như PV chứng kiến, thì từ khi phát hiện cho đến lúc tới nơi cũng mất cả tiếng đồng hồ. Những khu vực khác địa hình còn hiểm trở hơn nhiều.
Và, nguyên nhân cơ bản là lợi nhuận quá cao có thế khiến các đối tượng mạo hiểm cả mạng sống để “săn” gốc, rễ Hoàng Đàn. Theo lãnh đạo Ban quản lý rừng đặc dụng, trong vòng 1 tuần qua, cơ quan chức năng vẫn ghi nhận có 2 vụ nổ mìn xảy ra. Ông Nguyễn Hữu Hưng cho biết: Hiện nay Ban cũng đã bước đầu nhận diện được một số đối tượng nổ mìn, trong đó xác định chủ yếu là người dân sở tại.
Vấn đề đặt ra hiện nay là phối hợp cùng với Công an huyện xử lý nghiêm các đối tượng này, đồng thời tìm hiểu cặn kẽ, phát hiện các đầu nậu thu mua, đã hình thành đường dây hay chưa... để có biện pháp xử lý, ngăn chặn dài hơi.
Theo khảo sát của lực lượng chức năng, hiện nay trong khu vực rừng đặc dụng Hữu Liên không còn quần thể Hoàng Đàn sống tập trung. Năm 2013, Ban quản lý rừng đặc dụng Hữu Liên điều tra, chỉ còn 27 cây Hoàng Đàn nằm rải rác trong rừng.
Thế nhưng đến nay con số này đã giảm xuống còn 17 cây (số còn lại bị chết, sâu bệnh). Ngoài ra nhân dân trong vùng tự ươm, nhân giống khoảng 200 cây (cây nhỏ). Hiện nay tất cả những cây Hoàng Đàn này đều được đánh số, định vị để tiện theo dõi, quản lý. Thế nhưng với giá thu mua rất cao, những thực thể Hoàng Đàn còn sót lại này vẫn đang bị đe dọa hàng ngày, hàng giờ. (Một Thế Giới 1/11) đầu trang(
Trong một thời gian dài, ông Vi Hồng Thấm, Chủ tịch UBND xã Sơn Hà đã bắt tay với một số cán bộ Ban Quản lý (BQL) Rừng phòng hộ (RPH) Sông Lò mạo chữ ký các hộ được giao khoán bảo vệ rừng, chiếm đoạt gần 300 triệu đồng để chia nhau.
Theo Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo số 1365/QĐ-UBND, ngày 1/10/2014 của UBND huyện Quan Sơn: Năm 2010, BQLRPH Sông Lò được tỉnh Thanh Hóa giao thực hiện Dự án 661 trên phần đất thuộc đơn vị của BQL và thiết kế mở rộng thêm một phần diện tích 487,2 ha đất rừng do UBND xã Sơn Hà quản lý.
Qua kiểm tra, xác minh việc triển khai Dự án 661 tại xã Sơn Hà, hợp đồng ký năm 2010, chủ hộ nhận khoán bảo vệ rừng tự nhiên, không có trồng rừng. Công tác bảo vệ RPH chưa thật sự tốt, có nơi còn diễn ra tình trạng khai thác rừng tự nhiên. Ông Vi Hồng Thấm đã trực tiếp ký thay danh sách các hộ nhận tiền khoán bảo vệ rừng (trong 3 năm từ 2010 - 2012) với số tiền 292,32 triệu đồng.
Ông Thấm và BQLRPH Sông Lò thống nhất trích 50% số tiền trên cho BQLRPH Sông Lò. Việc BQLRPH Sông Lò thu lại số tiền nêu trên để sử dụng vào mục đích khác là trái quy định hiện hành. Số tiền còn lại hơn 146 triệu đồng, ông Thấm thừa nhận sử dụng vào mục đích cá nhân và mục đích khác sai quy định.
Lãnh đạo Ban QLRPH Sông Lò đã thiếu kiểm tra, giám sát trong việc thực hiện Dự án 661, đối tượng nhận khoán, nghiệm thu và thanh lý hợp đồng không đúng quy định của pháp luật. Trong số 12 hộ dân có trong hồ sơ ký hợp đồng để thực hiện dự án này, cơ quan chức năng xác minh có 5 hộ dân không có sổ hộ khẩu trên địa bàn xã Sơn Hà.
Ngoài ra, những hộ dân sau khi ký trong hợp đồng không thấy lực lượng chức năng kiểm tra, hướng dẫn công tác khoán bảo vệ rừng và thực hiện các nội dung đã ký.
UBND huyện Quan Sơn đề nghị Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa làm rõ trách nhiệm lãnh đạo và cán bộ có liên quan của BQLRPH Sông Lò. Kiểm điểm trách nhiệm và xem xét xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật. Thu hồi số tiền trích 50% (hơn 146 triệu đồng) cho BQLRPH Sông Lò nộp ngân sách Nhà nước theo quy định… Đồng thời, đề nghị Huyện ủy Quan Sơn xem xét, xử lý kỷ luật đối với ông Vi Hồng Thấm và tập thể, cá nhân có liên quan.
Ngày 13/10/2014, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa có Văn bản số 2573/SNN&PTNT-TTR yêu cầu BQLRPH Sông Lò kiểm điểm tập thể, cá nhân để xảy ra vi phạm, nếu có cơ sở xác định hành vi vụ lợi hoặc cố ý làm trái thì báo cáo để chuyển cơ quan điều tra xử lý theo quy định của pháp luật. Tổ chức thu hồi số tiền 146,16 triệu đồng nộp vào ngân sách Nhà nước, chậm nhất hết ngày 15/11/2014.
Ông Nguyễn Hoàng Anh, Giám đốc BQLRPH Sông Lò cho biết: Chúng tôi đã nhận được văn bản của UBND huyện Quan Sơn. Theo sự chỉ đạo của lãnh đạo Sở, Ban đã yêu cầu 5 đồng chí có liên quan làm bản kiểm điểm, từ đó sẽ họp để xem xét hình thức kỷ luật.
Còn ông Nguyễn Văn Đồng, Chủ tịch UBND huyện Quan Sơn cho hay: Việc làm sai này rất nghiêm trọng, sau khi kiểm tra, xác minh thì sai phạm đã rõ. Chúng tôi đã kiến nghị Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy vào kiểm tra, xử lý về Đảng đối với ông Thấm, sau đó sẽ có hình thức xử lý thỏa đáng về chính quyền. (Thanh Tra 31/10) đầu trang(
31-10, Hạt Kiểm lâm Ninh Sơn (Ninh Thuận) cho biết, lực lượng chuyên ngành đã phối hợp các cơ quan chức năng tổ chức đợt truy quét tại khu vực rừng giáp ranh giữa hai tỉnh Ninh Thuận và Lâm Đồng, phát hiện, thu giữ hơn 13 m3 gỗ các loại do "lâm tặc" khai thác trái phép, chưa kịp vận chuyển khỏi rừng.
Chi cục Kiểm lâm Ninh thuận đang điều tra, làm rõ các đối tượng vi phạm. (Nhân Dân 1/11) đầu trang(
Với diện tích lên đến hơn 70.000 héc-ta, Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ (TP. HCM) từ lâu không chỉ được coi là lá phổi xanh của thành phố mà ở đó còn là nơi lưu giữ hàng ngàn những loài động thực vật, với nhiều loại gen quý, nằm trong sách đỏ của thế giới cần được bảo tồn.
Nơi đó có những cán bộ chiến sỹ kiểm lâm và người dân vẫn ngày đêm canh giữ sự yên bình, màu xanh bất tận của dải đất bán ngập này.
Nằm giáp ranh với 4 tỉnh là Bà Rịa Vũng Tàu, Đồng Nai, Long An và Tiền Giang nhưng thực tế, số lượng những chiến sỹ kiểm lâm ở đây chưa tới 40 người. Nghĩa là, theo lời của anh Phùng Gia Hưng, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Cần Giờ thì mỗi kiểm lâm viên ở đây phải có nhiệm vụ bao quát, nắm bắt địa bàn rộng tới gần một ngàn héc-ta.
Anh Phia, một kiểm lâm viên ở Hạt Lý Nhơn cho biết: Công việc thường xuyên của anh em trong hạt là rong ghe đi trong những con sông, kênh rạch và xuyên rừng để tuần tra. Ngày nắng còn đỡ chứ mùa mưa như hiện nay, công việc cực nhọc và nguy hiểm lắm. Bốn bề là sông nước, rừng hoang nên chỉ có một sự cố nào, dù nhỏ nhất cũng sẽ gây ra những hậu quả khôn lường.
Cách đây chừng vài chục năm, khi đất nước mới thống nhất, hầu hết những cánh rừng ngập mặn ở vùng Cần Giờ đã bị bom đạn xới nát, khiến chúng từng được coi là rừng chết.
Chia sẻ về chuyện này, ông Nguyễn Đình Cương, Chi cục trưởng Chi kiểm lâm TP. HCM nhớ lại: Những năm 1980, nhận thấy nhiệm vụ cấp bách là phải khôi phục lại toàn bộ hệ thống rừng ngập mặn ở Cần Giờ nên chính quyền thành phố đã giao nhiệm vụ cho anh em kiểm lâm bằng mọi cách phải hoàn thành.
Tuy nhiên, vì Cần Giờ là vùng bán ngập, khi thủy triều dâng lên, hầu hết mọi thứ bị nhấn chìm nên trách nhiệm phủ xanh lại rừng đối với những người kiểm lâm ngày đó là vô cùng khó khăn, vất vả. Nhiều khi cây mới trồng xong, nước triều dâng lên, sóng biển ập vào cuốn trôi hết cả công sức của anh em. Những lúc như vậy mọi người chỉ biết nhìn nhau lặng lẽ khóc.
Thế nhưng, vượt qua tất cả khó khăn, chỉ trong vòng gần hai mươi năm, tới năm 2000, cả một vùng rộng lớn đã được phủ xanh bởi những cây đước, cây bần, cây trang… biến rừng Cần Giờ từ một vùng đất chết trở thành khu Dự trữ sinh quyển của thế giới, đem lại lợi ích thiên nhiên và môi trường lớn cho hàng chục triệu người dân thành phố.
Hiện nay, ngoài việc gìn giữ màu xanh bất tận của rừng, nhiều khu bảo tồn động thực vật phong phú cũng được những cán bộ kiểm lâm thực hiện, vừa nhằm mục đích phát triển sự đa dạng của môi trường, hệ động thực vật cũng như phục vụ mục đích tham quan du lịch của đông dảo người dân. Đó là khu bảo tồn đảo khỉ, khu bảo tồn chim, khu bảo tồn cá sấu hay những khu bảo tồn cây đước, cây sác…khác cũng được duy trì và phát triển.
Sẽ vô cùng thiếu sót nếu chỉ nói rằng, công sức để khôi phục, gìn giữ và bảo tồn rừng Cần Giờ là của những chiến sỹ kiểm lâm. Thời gian qua, có hàng trăm hộ dân ở các xã An Thới Đông, Lý Nhơn, Long Hòa cũng chung tay, tham gia vào công việc khó khăn này.
Từ những năm 1990 đã có hàng chục hộ dân ở trên địa bàn tình nguyện vào sinh sống ở trong vùng lõi của rừng với lợi ích nhỏ nhoi là có thể khai thác, đánh bắt những loài thủy hải sản trong rừng, cùng một chút ít tiền phụ cấp của chính quyền địa phương. Có thể nói, với những người sinh sống ở vùng bán đảo Cần Giờ đã gặp vô vàn khó khăn về sinh hoạt, giao thông chứ chưa nói đến những hộ dân sinh sống trong rừng. Thế nhưng, với tình yêu và trách nhiệm, cùng một chút nỗi niềm với màu xanh của rừng quê hương, họ đã vượt qua tất cả.
Dần dà, nhiều hộ dân khác cũng xin vào sinh sống trong rừng, để cùng nhau chung tay bảo vệ và phát triển, làm giàu thêm một màu xanh bất tận nơi đây. Bà Tám, 66 tuổi, một người từng là thanh niên xung phong, đã nhiều năm gắn bó với rừng tâm sự: "hồi mới nhận giữ hơn hai trăm héc-ta rừng, nhiều người thân cứ bảo tôi gàn, làm sao mà coi nổi. Thân là phụ nữ, lại nuôi ba đứa con thơ dại, sống giữa rừng sâu nước độc như thế, đêm hôm biết xoay xở ra làm sao.”.
Vậy nhưng ý đã quyết, không quản ngại vất vả, ngày ngày bà Tám bám vào từng vạt rừng để sinh sống. Ban ngày đi đánh bắt tôm cá, cua ốc trên những nhánh sông ở đây, ban đêm lại giong ghe chạy đi kiểm tra xem có lâm tặc phá rừng hay không. Mấy chục năm trời đằng đẵng như vậy, bao vất vả gian nan cũng đã qua cùng sự trưởng thành của các con.
Hiện nay, mặc dù đã già, không còn đi rừng như trước nữa bà Tám chuyển nhiệm vụ gìn giữ rừng cho người con trai thứ 2 để họ vừa nuôi trồng thủy sản, vừa tiếp tục sự nghiệp bảo vệ những cánh rừng nơi đây. Dưới những cánh rừng, đã có rất nhiều những gia đình nông dân mà nhiệm vụ giữ rừng được truyền đời như thế.
Vì vậy, tin rằng, ngay cả trong tương lai, dù vấn đề an ninh môi trường và biến đổi khí hậu có diễn ra phức tạp đến nhường nào thì những cánh rừng ở Cần Giờ vẫn mãi mãi giữ được một màu xanh bất tận như hiện nay. (Đại Đoàn Kết 1/11, tr8) đầu trang(
Buổi sáng đầu tiên thức dậy ở rừng Mã Đà (Vĩnh Cửu, Đồng Nai), vừa bước ra khỏi trạm kiểm lâm Rang Rang, PV đã nghe tiếng than ngắn thở dài của ông Năm Lành.
Ông Lành, một người dân ấp Bà Hào, xã Mã Đà, đến báo với cán bộ kiểm lâm đêm qua bò tót về ủi mất hai sào mì. Không chỉ ủi mì cây, đống mì ông Năm Lành mới nhổ chiều hôm trước còn chất đống cạnh chòi rẫy, bò tót cũng kéo nhau vào xơi mất một nửa...
Theo chân các kiểm lâm của trạm Rang Rang, PV tìm đến rẫy mì của ông Năm Lành, trời mới mờ sáng đã thấy rõ chi chít dấu chân to nhỏ của bầy bò tót đêm qua về phá rẫy.
Không chỉ dừng lại ở rẫy mì nhà ông Năm Lành, dấu chân bò tót còn in rõ trên con đường giao thông xuyên qua khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai, nối qua phía bên kia đường nơi có nhiều nhà dân sinh sống.
“Năm nay là năm thứ sáu bò về rẫy nhà tui phá mì rồi. Cũng canh chừng miết, nhưng cứ đêm xuống là bò tót kéo bầy ra phá nên làm nhiều mà thu hoạch không được mấy” - ông Năm Lành than thở.
Những vụ việc tương tự ở rẫy nhà ông Năm Lành, nói như anh Thái Ngọc Đức - trạm trưởng trạm kiểm lâm Rang Rang - là vừa mừng lại vừa lo. Mừng là bởi bò tót xuất hiện ngày càng nhiều ở khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai, trong đó xuất hiện nhiều bò tót con, chứng tỏ bầy đàn của bò tót ở vùng rừng này đang phát triển.
Nhưng lo là vì cả người lẫn bò đang phải cùng cạnh tranh đất sống ngay trong khu bảo tồn. Anh Đức kể: “Cả khu dân cư gần 30 hộ dân quanh trạm kiểm lâm này, nhà ai có rẫy cũng ít nhất vài lần bị bò tót về phá. Có khi mất trắng cả vụ mì, nhưng biết kêu ai được vì đã lỡ tranh đất sống của bò tót”.
Câu chuyện oái oăm về sự cạnh tranh này giữa người và bò đã kéo dài 10 năm nay, từ khi Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai được thành lập. Ông Trần Văn Mùi, giám đốc khu bảo tồn, nói: “Mấy chục hộ bị bò tót phá rẫy là còn ít, vì đã thành lập khu bảo tồn thì chỉ có thú được “cấp sổ đỏ” để sống chứ người đâu thể ở lại trong rừng được”.
Theo ông Mùi, đã có một dự án để di dời hàng ngàn người dân thuộc hai xã Mã Đà và Hiếu Liêm ra khỏi vùng lõi khu bảo tồn, nhưng đến nay vẫn không thể thực hiện vì thiếu kinh phí.
Chưa thể di dời nên ruộng rẫy xâm canh trong khu bảo tồn dù bị bò tót về phá, mất trắng mùa màng nhưng người dân vẫn không được bồi thường và hỗ trợ.
Là người trực tiếp làm công tác bảo vệ bò tót lẫn đi giải quyết các sự vụ khi người dân bị bò tót về phá rẫy, anh Thái Ngọc Đức nói: “Cứ bò nhảy ra, người nhảy vô kiểu này lo lắm. Mình cứ tuyên truyền người dân bảo vệ bò tót, nhưng nói thật họ hợp tác với mình để bảo vệ bò thì không đủ sống” - anh Đức băn khoăn.
Cùng cảnh như những nông dân trồng mì ở bên này sông Mã Đà, phía bên kia sông nhiều vườn cao su non của nông dân Đồng Phú (Bình Phước) cũng xiêu vẹo vì bò tót.
Dẫn PV vào vườn cao su ba năm tuổi, thân cây đã to bằng cây tre, cao hai tầm đầu người vừa bị bò tót về cắn ngang thân mất 30 cây, ông Phạm Tài ở ấp Thạch Màng, xã Tân Lợi (Đồng Phú) ngao ngán: “Vườn cao su này mấy năm nay tôi đã trồng giặm tới ba lần mà không kịp cho bò tót về phá”.
Xung quanh vườn cao su của ông Tài, các vườn cao su khác giáp với mé rừng người dân đều dùng vỏ lon bia, kết lại thành hàng rào báo động để ngăn bò tót. Nhưng hàng rào này không bao lâu sau cũng mất tác dụng khi bò tót “lờn mặt” và không còn sợ tiếng báo động nữa.
Nhìn những hàng cao su bị bò cắn ngang thân, dù xót xa cho chủ vườn nhưng anh Phạm Văn Chính - trạm trưởng kiểm lâm chốt liên xã Tân Hòa - Tân Lợi Lập (Đồng Phú), nói bò tót cũng không còn lựa chọn nào khác vì rừng cao su đã ăn quá sâu vào sinh cảnh của bò tót trước đây.
Theo anh Chính, chỉ riêng trên địa bàn xã Tân Lợi đã có hơn 1.000ha rừng vốn là sinh cảnh của bò tót bị phá trụi để làm cao su. Số rừng còn lại khoảng 2.000ha nhưng bị xé nhỏ thành nhiều khoảnh, trong đó khoảnh rừng lớn nhất chỉ còn khoảng 700ha, còn nhiều khoảnh chỉ từ 4-5ha, bị vây bọc tứ phía bởi vườn cao su.
“Con người mới là kẻ đi chiếm đất của bò chứ trước đây rừng còn dày bò tót sống tận trong lõi rừng, có mấy ai nhìn thấy được dấu chân chi chít như bây giờ” - anh Chính nói. Và chuyện gì đến cũng phải đến, số phận những con bò tót ở tả ngạn sông Mã Đà phía Bình Phước không gặp may như bò tót phía Đồng Nai.
Tháng 5-2012, một bò tót con nặng hơn 1 tạ đã chết ở tiểu khu 377 khi trên miệng bò còn nguyên một đám lá cao su nhai dở. Không ai biết rõ nguyên nhân bò tót chết, nhưng trước đó nhiều vườn cao su non bị bò tót vào ăn đến trụi lá, cắn gãy ngang thân khi vừa mới xịt thuốc trừ sâu xong.
Nhắc lại câu chuyện đáng tiếc ấy của bò tót ở nơi chỉ cách vùng rừng mình quản lý một con sông, anh Thái Ngọc Đức nói mối nguy hại từ những vườn cao su, rẫy mì chen canh giữa rừng còn lớn hơn cả súng đạn của thợ săn. Bởi bò tót có thể không chết ngay mà thấm thuốc từ từ, suy kiệt sức khỏe và chết trong rừng sâu mà kiểm lâm không thể phát hiện.
Lôi từ trong nhà kho của hạt kiểm lâm Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, anh Trần Văn Bình - hạt phó - đưa cho PV xem những chiếc bẫy thú mà mới nhìn qua cũng đủ lạnh người.
Đó là một chiếc bẫy với vòng thép cứng hình tròn, xung quanh có hàng chục thanh thép được mài nhọn đầu chụp lại như một chiếc rổ, phía dưới chừa ra một khoảng trống đủ cho chân bò đút lọt vào nhưng sẽ không thể rút ra.
Anh Bình cho biết mỗi tháng kiểm lâm của vườn thu được 1.000 - 2.000 chiếc bẫy như thế là chuyện thường, dù bò tót thì chỉ có trên dưới 100 con.
“Nói là rừng cấm, đóng cửa rừng, nhưng thật sự thợ săn có rất nhiều đường để vào vì rừng đệm không còn nữa, mà kiểm lâm không cách nào ngăn hết. Nhiều năm nay bò tót Nam Cát Tiên không bị săn mất con nào, nói thật đó cũng là một sự may mắn lớn” - anh Bình thật thà. (Tuổi Trẻ 31/10) đầu trang(
Năm 2010, khi lần đầu tiên đến Vườn quốc gia Phước Bình (Bác Ái, Ninh Thuận) để thực hiện phóng sự về con bò tót đực tách bầy về sống ở bìa rừng, phóng viên Tuổi Trẻ đã ghi được một hình ảnh rất lãng mạn: Con bò tót oai vệ bước ra từ mé rừng đang “hẹn hò” với một bò cái nhà bên bờ sông Tô Hạp...
Câu chuyện “hẹn hò” này cũng thật ly kỳ khi ngay trong đêm đầu tiên từ rừng về làng, con bò tót đã tìm đến chú bò đực to nhất làng Pạc Ray 2 ven rừng và dùng sừng múc lủng ngực chú bò đực. Kể từ đó, toàn bộ bò cái đang kiếm cỏ ven bìa rừng đều thuộc quyền “kiểm soát” của bò tót vì không có bò đực nào trong làng dám bén mảng đến.
Thoáng trong suy nghĩ lúc ấy, PV từng nghĩ biết đâu sẽ có một chú bò lai giữa bò tót và bò nhà xuất hiện. Không ngờ điều đó đã thành sự thật khi bốn năm sau không chỉ một mà đến hơn 20 chú bò tót lai, đều là hậu duệ của bò tót rừng năm nào, đã chào đời ở Phước Bình, được kiểm nghiệm từ kết quả giám định ADN và nhiễm sắc thể (NST) mới đây. Câu chuyện lý thú này đang mở ra triển vọng có được nguồn gen vô cùng quý hiếm từ bò tót tự nhiên...
...Mùa mưa này bên mé rừng già cạnh dòng sông Tô Hạp ở Vườn quốc gia Phước Bình đã có một trại bò với hệ thống chuồng và hàng rào kiên cố được hoàn chỉnh.
Đây là công trình mà Vườn quốc gia Phước Bình dựng lên để chăm sóc những chú bò tót lai, “món quà hiếm có mà tự nhiên đã dành tặng” - như cách nói của ông Nguyễn Công Vân, giám đốc Vườn quốc gia Phước Bình.
Trong trại bò là 10 con bò tót lai từ 2-3 tuổi, dù chưa đến tuổi trưởng thành nhưng dáng vẻ oai vệ, từ màu lông đến vóc dáng đều khác biệt hẳn so với những con bò nhà đang gặm cỏ cách đó không xa.
Thấy có người lạ đến, cả bầy nghếch mõm khịt khịt mũi, hành động giống hệt bò tót rừng khi phát hiện kẻ xâm lấn lãnh địa.
Dù là bò được nuôi nhốt nhưng những chú bò tót lai này vẫn mang đặc tính hoang dã rõ nét. Cả bầy bò không có con nào bị xỏ mũi như bò nhà bởi chúng quá hiếu động và cả phần hung dữ nên không ai dám ghì đầu để thực hiện thủ tục “vào đời” mà bất cứ chú bò nhà nào cũng phải trải qua.
Nếu như hai năm trước, khi lần đầu tiên nhìn thấy những chú bò tót lai này, PV chỉ mới phân biệt nhờ vóc dáng vượt trội so với bê con thuần chủng cùng lứa thì bây giờ bầy bò lai đã thể hiện rõ mình chính là những hậu duệ của bò tót rừng.
Anh Phạm Ngọc Hoàn - trưởng phòng kỹ thuật Vườn quốc gia Phước Bình - cho biết dù tuổi đời của bầy bò lai này chỉ mới 2-3 tuổi, nhưng con nặng nhất đã gần 600kg, to gấp ba lần bò nhà cùng lứa.
Đa số bò tót lai đều có sừng cong, dài đều hai bên, lông có màu nâu sẫm và theo anh Hoàn, càng lớn thì màu lông càng ngả về màu đen như bò tót cha.
Ngoài trọng lượng, điểm dễ phân biệt nhất giữa bò tót lai và bò nhà là bò tót lai không hề có u trên lưng và nọng dưới cổ, một đặc điểm mà bò nhà thuần chủng nào cũng có. Đồng thời nhiều bò tót lai đã dần lộ ra bốn chân màu trắng, đặc điểm không thể nhầm lẫn của bò tót.
Ông Nguyễn Công Vân cho biết để có được bầy bò tót lai quý hiếm này, Vườn quốc gia Phước Bình đã phải bỏ ra hơn 1 tỉ đồng để mua bò và xây chuồng trại.
“Lúc đầu những gia đình có bò cái đẻ ra bê lai bò tót chỉ bán giá 10 triệu đồng/con nhưng khi thấy vườn quá tha thiết họ đã nâng giá lên 40 triệu đồng, thậm chí có bò tót lai chúng tôi phải mua đến giá 65 triệu đồng/con, đắt gấp ba lần bò nhà trưởng thành” - ông Vân cho biết.
Mối giao duyên bất ngờ giữa bò tót và bò nhà đã tạo nên một hiện tượng khoa học lý thú. Hiện tượng thú vị này đã ngay lập tức được sự quan tâm và góp sức từ nhiều phía. Ông Vân cho biết dự án trên 1 tỉ đồng để mua và chăm sóc bầy bò tót lai này do cả hai sở Khoa học công nghệ Ninh Thuận và Lâm Đồng cùng chung tay.
Và câu chuyện mà giới khoa học quan tâm nhất là việc giám định ADN và NST của những chú bò tót con này hiện cũng đã có kết quả.
Ông Vân cho biết Viện Vật lý hạt nhân Đà Lạt đã giám định và cho ra kết quả tất cả bò tót lai đều có cặp NST là 2n=58. Đây là kết quả khác với cặp NST của bò nhà lẫn bò tót rừng (bò nhà có cặp NST là 2n=60), bò tót rừng là 2n=56).
Dù có sự khác biệt với bò nhà và bò tót rừng nhưng với kết quả này, đã có cơ sở để cho lai giống với các giống bò khác để cho ra thế hệ F2.
Sau khi có kết quả này, hiện tại Vườn quốc gia Phước Bình đang cho thử nghiệm phối giống giữa bò tót lai F1 với nhau. Dự kiến sắp tới sẽ cho lai bò cái F1 với bò đực nhập ngoại và bò đực F1 với bò cái lai shin.
Theo ông Nguyễn Công Vân, việc phối giống này nếu thành công cho ra thế hệ bò F2 sẽ giúp có được nguồn gen quý hiếm từ bò tót rừng.
Từ đó sẽ chọn lọc những đặc tính nổi trội của bò tót rừng để đưa vào nhân rộng trong chăn nuôi. “Nếu dự án này thành công thì đây sẽ là câu chuyện chưa từng có trong y sinh thế giới, mở ra một hướng bảo tồn nguồn gen quý hiếm của bò tót Việt Nam” - ông Nguyễn Công Vân nói đầy hi vọng.
Không ít gia đình người Kinh và Raglai ở thôn Pạc Ray 2 xã Phước Bình (Bác Ái, Ninh Thuận) đã bỗng chốc trở thành triệu phú khi bò cái nhà bỗng dưng đẻ ra bò tót lai và bán với giá rất cao.
Người bán được nhiều bò tót lai nhất là ông Nguyễn Văn Chuẩn, đến nay ông Chuẩn đã bán được 12 con bò tót lai, thu về hơn 500 triệu đồng.
Gặp PV ở bìa rừng khi vừa bán con bò tót lai cuối cùng với giá 70 triệu đồng, ông Chuẩn thiệt thà: “Hồi đầu thấy bò tót rừng về nhảy (giao phối) làm gãy cả hai chân sau bò nhà, tui buồn thúi ruột. Ai ngờ đó là lộc trời rơi xuống”.
Sau ông Chuẩn còn có ông Chammalé Hòa cũng bán được bốn bò tót lai được gần 200 triệu đồng và một số hộ dân khác có từ một đến hai con.
Theo ông Vân, cả thôn Pạc Ray 2 đã có hơn 20 bò tót lai chào đời. Ngoài 10 con Vườn quốc gia Phước Bình đã mua thì số còn lại thương lái từ khắp nơi trong cả nước hay tin đến mua ngay khi chủ bò vừa rao bán. “Tiếc là dự án không đủ kinh phí, nếu không chúng tôi sẽ mua bằng hết số bò lai này” - ông Vân tiếc nuối. (Tuổi Trẻ 1/11, tr10) đầu trang(
Một dự án táo bạo nhưng không kém phần “lãng mạn” đang được ấp ủ: chuyển “hộ khẩu” của hai đàn bò tót hơn 20 con từ Đồng Phú (Bình Phước) sang rừng Mã Đà (Vĩnh Cửu, Đồng Nai) thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai.
Người chủ trì dự án này là ông Trần Văn Mùi, giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai, khẳng định: “Đây là dự án cực kỳ khó về kỹ thuật, với số tiền dự tính thực hiện đến hàng trăm ngàn USD. Nhưng nếu không thực hiện, hai bầy bò tót ở Bình Phước đứng trước nguy cơ bị xóa đàn và đó là mất mát không gì bù đắp được”.
Dẫn PV đi xuyên qua cánh rừng dọc theo sông Mã Đà, ông Nguyễn Hoàng Hảo - hạt trưởng Hạt kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai, người tham gia xuyên suốt quá trình viết dự án này từ nhiều năm - cho biết: “Để bắt cả bầy bò tót, gây mê rồi đưa về Đồng Nai thì không khó. Nhưng đó là cách làm hạ sách, bò sẽ bị “stress” nặng và không thể hòa nhập với môi trường mới. Dự án này sẽ tìm cách để bò tót tự về và tự chọn cánh rừng mới ở Đồng Nai cho tổ ấm của mình”.
Để đưa bò tót về rừng Đồng Nai, dự tính một hành lang xanh dài 25km, rộng 50m sẽ được trồng từ phía Bình Phước đến giáp bờ sông Mã Đà phía Đồng Nai.
Trong hành lang xanh này sẽ trồng các cây gỗ lớn bản địa và các loài cây có lá mà bò tót thích dùng làm thức ăn. Song song với việc trồng cây, một số hàng rào bằng thép gai, cọc bêtông hoặc hàng rào điện tử sẽ được dựng lên tại khu vực giáp ranh giữa vùng rừng bò tót sinh sống và các rẫy cây ăn trái, vườn cao su của người dân tại Đồng Phú (Bình Phước).
Hàng rào này vừa giúp bảo vệ đàn bò tót, đồng thời cô lập dần, dồn đàn bò về phía hành lang xanh và dần tạo cho đàn bò tót thích nghi ở hẳn trong hành lang xanh.
“Thời gian để thực hiện có thể sẽ dài, nhưng khi đã dẫn dụ được bò tót vào hành lang xanh này thì việc đưa bò về Đồng Nai sẽ không khó. Vì bầy bò tót ở Bình Phước và Đồng Nai vốn có quan hệ huyết thống với nhau. Trước đây vào mùa cạn bò tót vẫn thường vượt sông qua lại giữa hai tỉnh” - ông Hảo cho biết.
Không chỉ dẫn dụ bò tót về vùng đất mới, dự án này còn chuẩn bị cả “cơ sở hạ tầng” để bầy bò tót từ Bình Phước về có đủ nơi ăn chốn ở và được đảm bảo an toàn. 10 điểm khoáng và 10 hồ nước nhân tạo sẽ được tạo ra trong vùng lõi khu bảo tồn.
Sự kỹ lưỡng của những người ấp ủ dự án còn được thể hiện ở cả việc chuẩn bị tâm lý cho người dân đang sống trong vùng lõi khu bảo tồn bằng các lớp tập huấn và tạo công ăn việc làm, để người và bò không còn phải “tranh nhau đất sống”.
Ấp ủ dự án này không chỉ có phía Đồng Nai, mà cả những người đang thực hiện việc quản lý rừng phía Bình Phước cũng ủng hộ. Đầu tháng 4-2013, Chi cục Kiểm lâm Bình Phước có công văn đề nghị Kiểm lâm vùng III hỗ trợ di dời đàn bò tót và bò rừng tại đây sang Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai, chính thức “bật đèn xanh” cho dự án táo bạo này.
Đó là câu hỏi mà nói như ông Trần Văn Mùi là mấy năm qua đã tìm cách “quẫy cựa” hết sức nhưng vẫn chưa trả lời được. “Khó không hẳn vì không có nơi tài trợ, mà vì có nhiều chuyện nằm ngoài khả năng trả lời của chúng tôi” - ông Mùi chia sẻ.
Ông Mùi kể: Thông qua các mối quan hệ tại WWF (Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên) năm 2012 ông đã gửi dự án lên tổ chức này, nhưng oái oăm là trong dữ liệu của WWF thì rừng Đồng Phú - nơi bầy bò tót đang sinh sống - vẫn còn tỉ lệ che phủ rất cao và hoàn toàn phù hợp với đời sống của bò tót.
Trong khi thực tế (đã không được báo cáo lên WWF) thì phần lớn diện tích rừng tự nhiên tại đây đã và đang bị chuyển đổi thành rừng cao su, từ lâu bò tót đã không còn đất sống. “Câu hỏi này thì tôi không trả lời được vì không thuộc phạm vi rừng mà chúng tôi quản lý” - ông Mùi nói.
Bị WWF từ chối, nhưng ông Trần Văn Mùi nói bằng mọi cách vẫn phải đưa được đàn bò tót từ Bình Phước về rừng Mã Đà. Theo ông Mùi, cách để có tiền di dời đàn bò tót hợp lý nhất là tỉnh Bình Phước có thể trích từ tiền thuế của hàng ngàn hecta cao su được mọc lên ngay trên lãnh địa của bò tót trước đây.
“Cái này cũng giống như làm thủy điện, phá bao nhiêu hecta rừng thì phải trồng lại rừng. Nay mình lấy đất của bò tót làm cao su thì đóng góp chút “lộ phí” để bò tót về nhà mới cũng là hợp tình” - ông Mùi ví von.
Tuy nhiên, đây lại vẫn là điều không nằm trong sự quyết định của Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai mà chỉ như một đề xuất giải pháp để phía Bình Phước quyết định.
Không thể khoanh tay ngồi đợi nên mới đây nhất Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai đã đặt vấn đề kết hợp với Thảo cầm viên Sài Gòn để di chuyển bầy bò tót.
Theo ông Mùi, việc hợp tác này sẽ ở cả vấn đề kỹ thuật và kinh phí. Tuy nhiên sẽ khác đôi chút với mục tiêu ban đầu, ông Mùi cho biết dự tính sẽ chỉ đưa 15 con bò tót về sống tại Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai. Số bò tót còn lại 5-6 con sẽ được đưa về Thảo cầm viên để phục vụ việc tham quan và nghiên cứu, bảo tồn.
“Thời gian không chờ đợi, đất sống của đàn bò tót ở Bình Phước ngày một thu hẹp dần nên bằng mọi cách chúng tôi sẽ tìm nguồn kinh phí để cứu được bầy bò tót này” - ông Trần Văn Mùi nói.
Mặc dù chỉ còn hơn 300 cá thể và được xếp vào nhóm nguy cấp, nhưng từ sau dự án “Điều tra sinh cảnh và hiện trạng bảo tồn bò tót tại Nam Cát Tiên” do Chính phủ Pháp tài trợ 560.000 EUR đã kết thúc năm 2008, đến nay không còn một dự án nào tài trợ cho việc bảo tồn bò tót ở Việt Nam.
TS Phạm Hữu Khánh - phó phòng khoa học và hợp tác quốc tế Vườn quốc gia Nam Cát Tiên - cho biết không có kinh phí, việc bảo tồn bò tót là cực kỳ khó khăn. Bởi ngoài kinh phí nghiên cứu khoa học thì các dự án này sẽ giúp những đơn vị bảo tồn có kinh phí để hỗ trợ người dân tham gia bảo vệ bò tót trong vùng dự án.
“Không có dự án nên bây giờ bò tót phá rẫy, thậm chí húc bị thương người dân cũng không có tiền hỗ trợ. Như vậy thì khó lòng kêu gọi được cộng đồng tham gia bảo vệ loài thú quý hiếm này” - TS Khánh nói. (Tuổi Trẻ 2/11, tr12) đầu trang(
1-11, tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tổ chức lễ công bố và trao chứng nhận Khu bảo tồn đất ngập nước quốc tế - Ramsar cho Vườn quốc gia (VQG) Côn Đảo.
VQG Côn Đảo hiện có 14.000ha đất ngập nước với các hệ sinh thái: Rạn san hô, rừng ngập mặn và cỏ biển được bảo vệ khá nguyên vẹn. Đất ngập nước ở Côn Đảo rất đa dạng về kiểu loại, phong phú về tài nguyên, đa dạng sinh học cao, có nhiều chức năng và giá trị về kinh tế, xã hội, môi trường.
Tính đến nay, có 11 loài cỏ biển được ghi nhận ở VQG Côn Đảo, có 46 loài thực vật phân bố tại rừng ngập mặn. Rừng ngập mặn ở đây phân bố trên lập địa cát, sỏi nhỏ và san hô chết, đây là điểm khát biệt, độc đáo của rừng ngập mặn Côn Đảo so với rừng ngập mặn ở các vùng khác.
Theo Ban quản lý VQG Côn Đảo, trong đợt xét công nhận khu Ramsar vừa qua, nơi đây thỏa mãn 5 tiêu chí theo Công ước Ramsar gồm: VQG Côn Đảo là mẫu chuẩn về sự độc đáo, hiếm và đại diện cho một kiểu đất ngập nước tự nhiên ở vùng biển phía Đông - Nam của Việt Nam và của khu vực; là nơi phân bố của các loài cực kỳ nguy cấp và các quần xã sinh thái đang bị đe dọa; đóng vai trò hỗ trợ cho các loài động, thực vật có ý nghĩa trong việc duy trì đa dạng sinh học quan trọng tại Việt Nam và của khu vực Đông Nam Á; hỗ trợ cho các loài động, thực vật đang trong giai đoạn quyết định vòng đời, là nơi trú ẩn cho các loài này khi chúng gặp điều kiện nguy hiểm… (Sài Gòn Giải Phóng 2/11, tr7) đầu trang(
Ở xã Phan Dũng, huyện Tuy Phong hiện đang xảy ra tình trạng: Người dân và chính quyền xã thì ra sức bảo vệ rừng, còn lâm tặc ở nơi khác thì lại chọn nơi đây để phá rừng.
Tình trạng này đã và đang gây bức xúc trong dư luận, nếu không có sự vào cuộc mạnh mẽ, đồng bộ từ các ngành chức năng thì hệ quả của việc này không chỉ làm mất diện tích rừng tự nhiên mà còn giảm lòng tin trong nhân dân…
Trong buổi làm việc với ông Dương Văn An, Phó Bí thư Tỉnh ủy; Chủ tịch UBND xã Phan Dũng đã phản ánh khá gay gắt tình trạng này. Theo Chủ tịch UBND xã Phan Dũng, mấy năm trở lại đây tình trạng lâm tặc ở các địa phương khác đến xã Phan Dũng phá rừng diễn ra khá phức tạp và đang có chiều hướng gia tăng.
Lâm tặc ở một số xã giáp ranh với khu vực rừng do xã quản lý lợi dụng đêm tối, lúc vắng người đã tiến hành chặt phá rừng. Bên cạnh đó, lâm tặc từ huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng thời gian gần đây cũng hoạt động rầm rộ hơn. Các đối tượng này thường phá rừng ở những nơi xa, địa hình hiểm trở khiến công tác triệt phá vô cùng khó khăn.
Theo người dân ở đây, lâm tặc ở tỉnh Lâm Đồng sử dụng nhiều phương tiện hiện đại như cưa máy, xe kéo, xe tải lớn nên chỉ trong một thời gian ngắn diện tích rừng mà các đối tượng này chặt phá rất lớn. Lâm tặc hoạt động bất kể ngày đêm, còn việc vận chuyển gỗ về xuôi thì diễn ra không theo một quy luật nào.
Thường thì trước khi vận chuyển bọn chúng cho người đi dò đường, sau đó đoàn xe chở gỗ, phóng với tốc độ cao lao vun vút trên đường. Người dân gặp phải các xe này đều phải tránh xa vì sợ nguy hiểm.
Theo báo cáo của UBND xã Phan Dũng: Từ đầu năm đến nay, xã đã tiến hành truy quét, phát hiện và tịch thu 21 lóng gỗ, tịch thu 3 xe máy tự chế và một số tang vật khác. Bên cạnh đó, các chủ rừng còn tịch thu nhiều loại gỗ từ các đợt truy quét.
Việc các đối tượng lâm tặc từ nơi khác đến phá rừng Phan Dũng đã tác động không tốt đến tâm lý người dân cũng như các hộ nhận khoán bảo vệ rừng. Trước đây, các hộ nhận khoán bảo vệ rừng thực hiện khá tốt công tác quản lý, bảo vệ diện tích rừng.
hưng từ năm 2012 đến nay, tình trạng chặt phá rừng đã có dấu hiệu xảy ra ở một số hộ nhận khoán.
Theo lý giải của UBND xã Phan Dũng: “Nguyên nhân chính do các cấp, các ngành không giải quyết triệt để nên các đối tượng từ khu vực khác đến khai thác gỗ tại địa phương, từ đó một số hộ tại xã lén lút khai thác gỗ trái phép”.
Dư luận tại xã Phan Dũng đang đặt câu hỏi, đường vận chuyển gỗ của lâm tặc từ Phan Dũng về thị trấn Liên Hương rất ít. Trong khi đó, trên tuyến đường này có đến 8 đơn vị chức năng quản lý, bảo vệ rừng. Nhưng không hiểu sao lâm tặc vẫn vận chuyển gỗ trót lọt?
Ông Hồ Ba, Chủ tịch UBND huyện Tuy Phong cho biết: Thời gian qua tình trạng phá rừng ở xã Phan Dũng chủ yếu do các đối tượng ngoài địa phương gây ra, còn người dân trong xã thực hiện rất tốt việc này. Trước đây, có một số đối tượng lợi dụng việc dọn rừng, khai thác cây củi để lén lút phá rừng. Biết được điều này chúng tôi đã đề nghị kiểm lâm không cho người dân vào rừng khai thác củi khô nữa.
UBND huyện Tuy Phong cũng đã tổ chức gặp gỡ nhiều lần với UBND huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng để bàn cách phối hợp chống lâm tặc. Thời gian tới, chúng tôi sẽ yêu cầu các đơn vị có chức năng quản lý bảo vệ rừng trên tuyến đường từ xã Phan Dũng về thị trấn Liên Hương, tăng cường kiểm tra, tuần tra trên tuyến đường mà các đơn vị quản lý.
Hiện tại, xã Phan Dũng đã giao khoán, quản lý bảo vệ rừng với diện tích 5.223,4 ha/141 hộ, bình quân mỗi hộ nhận và quản lý 30,7ha. Mỗi năm các hộ thu nhập từ rừng khoảng 3 - 4 triệu đồng. Rừng đã và đang tạo nguồn thu nhập chính cho người dân ở đây, và là nơi chăn thả gia súc của người dân. Vì thế, tình trạng phá rừng đang xảy ra như hiện nay, người dân không khỏi lo lắng. (Báo Bình Thuận 31/10) đầu trang(
Năm 2012, Vườn Quốc gia Xuân Sơn được chuyển hạng từ Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Sơn có tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp được giao quản lý trên 15.000ha gồm 6 xã thuộc huyện Tân Sơn.
Địa bàn quản lý của Vườn Quốc gia trải rộng trên nhiều xã của huyện miền núi, giao thông đi lại khó khăn, bà con duy trì tập quán phát nương làm rẫy, chăn thả gia súc tự do... là những khó khăn, thách thức đối với công tác quản lý, bảo vệ rừng của Vườn Quốc gia Xuân Sơn.
Tuy nhiên, được sự quan tâm của các cấp, ngành, chính quyền địa phương, Ban quản lý Vườn Quốc gia Xuân Sơn đã có những nỗ lực nhằm thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, trong đó công tác tuyên truyền được coi là giải pháp quan trọng hàng đầu, nhằm nâng cao nhận thức về vai trò và nghĩa vụ của người dân đối với công tác bảo vệ rừng.
Thông qua việc tổ chức các lớp tập huấn giúp người dân hiểu Luật quản lý bảo vệ rừng, quyền lợi, trách nhiệm của mỗi cá nhân, cộng đồng và lợi ích của người dân khi thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng. Cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước, việc xây dựng các mô hình kinh tế nông lâm nghiệp, tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho người dân được tích cực triển khai để họ dần bỏ tập quán canh tác cũ, không đốt nương làm rẫy, không chặt phá rừng, nâng cao ý thức gắn kết của cộng đồng, địa phương cùng tham gia quản lý bảo vệ và phòng chống cháy rừng (PCCR).
Bên cạnh đó, những năm qua, cơ sở hạ tầng phục vụ công tác bảo tồn Vườn Quốc gia Xuân Sơn cũng được tăng cường. Đặc biệt, các tuyến đường phục vụ công tác tuần tra quản lý, bảo vệ và PCCR được xây dựng kết hợp với giao thông nông thôn, tạo điều kiện để người dân đi lại thuận lợi, tiêu thụ sản phẩm, đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ gia đình.
Việc khai thác tiềm năng du lịch được đẩy mạnh, góp phần tạo công ăn việc làm cho người dân thông qua tìm kiếm, sản xuất các sản vật của địa phương và làm các dịch vụ ăn, nghỉ phục vụ khách du lịch.
Ông Nguyễn Xuân Cảnh - Phụ trách Trạm quản lý và bảo vệ rừng Vườn Quốc gia Xuân Sơn cho biết: “Để tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, chúng tôi thường xuyên phối hợp với UBND xã Xuân Sơn, các xã giáp ranh của Vườn và Trạm Kiểm lâm trên địa bàn tăng cường tuần tra bảo vệ rừng. Bằng sự vào cuộc tích cực nhiều năm trở lại đây, khu vực Vườn không có tình trạng phát nương làm rẫy, chặt phá, khai thác gỗ trái phép, không để xảy ra cháy rừng”.
Nhờ thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng, diện tích rừng tự nhiên trong Vườn Quốc gia Xuân Sơn tăng từ 8.700ha năm 2002 lên trên 1.300ha, năm 2014 góp phần tăng độ che phủ của rừng. Hàng chục km đường giao thông, các công trình quản lý bảo vệ rừng được trang bị với cơ sở vật chất khang trang với khu văn phòng làm việc, các trạm quản lý bảo vệ rừng kiên cố, phục vụ cho công tác tuần tra, quản lý và bảo vệ rừng, hệ thống các biển tuyên truyền... phát huy hiệu quả.
Nếu như trước đây, để đi đến được các điểm tuần tra xa nhất cũng phải mất 2-3 ngày cả đi và về, nhưng đến nay do có giao thông thuận lợi nên chỉ mất nửa ngày. Cùng với đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ công tác quản lý, bảo vệ rừng, việc vận động cộng đồng địa phương cùng tham gia công tác này cũng được tích cực đẩy mạnh.
Đây là nhiệm vụ thiết yếu bởi hiện nay đội ngũ cán bộ của Vườn Quốc gia Xuân Sơn chỉ có 34 người, trong đó 20 người hoạt động công tác chuyên môn văn phòng, còn lại 14 cán bộ thuộc đội chuyên trách bảo vệ rừng, phân công tại 6 trạm (mỗi trạm bình quân chỉ có từ 2-3 người), trong khi đó diện tích rừng tự nhiên quản lý trải rộng trên 9.800ha. Mặt khác, Vườn cũng chưa thành lập được Hạt Kiểm lâm theo quy định, vì vậy cộng đồng địa phương có vai trò là hạt nhân quan trọng trong công tác quản lý và bảo vệ rừng.
Từ năm 2004, Ban quản lý Vườn áp dụng giao khoán bảo vệ rừng tự nhiên theo cộng đồng thôn, bản, áp dụng thử nghiệm tại 2/9 xóm trong Vườn. Bằng hình thức này, bước đầu công tác quản lý, bảo vệ rừng thực hiện có hiệu quả, tạo sự gắn kết giữa người dân và Ban quản lý Vườn, không để xảy ra vi phạm lâm luật.
Từ những kinh nghiệm trên, đến nay Vườn đã giao khoán bảo vệ rừng tự nhiên 9.800ha cho 16 cộng đồng gồm trên 1.000 hộ thành viên. Các hộ dân trong Vườn Quốc gia Xuân Sơn ngày càng nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Họ đã tích cực xây dựng các mô hình sản xuất nông - lâm nghiệp, lựa chọn cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao như: Mô hình nuôi gà nhiều cựa, trồng chè Shan Tuyết... giúp tăng thu nhập, mang lại cuộc sống ổn định cho người dân, ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng, góp phần tích cực trong công tác quản lý, bảo vệ rừng của Vườn Quốc gia Xuân Sơn. (Báo Phú Thọ 31/10) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, huyện Đak Đoa đã phát hiện 25 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (giảm 16 vụ so với cùng kỳ năm trước), trong đó có 19 vụ mua bán, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép; 2 vụ phá rừng (tổng diện tích gần 1 ha); 4 vụ khai thác rừng trái phép.
Ngành chức năng đã tạm giữ 25 m3 gỗ, 1 xe ô tô và 22 xe máy tang vật… Cùng thời điểm, huyện cũng đã tổ chức 23 đợt tuyên truyền pháp luật về quản lý bảo vệ rừng tại các thôn, làng trên địa bàn 7 xã với 1.930 lượt người tham gia. (Báo Gia Lai 31/10) đầu trang(
Huyện Hoằng Hóa có 1.684,42 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó có 1.528,18 ha rừng, chủ yếu là rừng trồng phòng hộ với các loài cây như thông, keo, bạch đàn, phi lao.
Để bảo vệ an toàn diện tích rừng hiện có, huyện Hoằng Hóa đã khảo sát, khoanh vùng diện tích rừng trọng điểm tại 7 xã trên địa bàn (Hoằng Yến, Hoằng Trường, Hoằng Hải, Hoằng Trung, Hoằng Trinh, Hoằng Xuân, Hoằng Khánh) có nguy cơ cháy cao trong mùa khô hanh và xác định rõ nguyên nhân gây cháy, xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) cụ thể, phù hợp thực tế.
Hạt kiểm lâm ven biển đã đưa kiểm lâm viên về phụ trách địa bàn các xã, tham mưu cho các cấp chính quyền huyện Hoằng Hóa xây dựng, triển khai thực hiện phương án quản lý bảo vệ rừng (BVR), phương án BVR vùng trọng điểm, phương án PCCCR theo phương châm “4 tại chỗ”.
UBND các xã có rừng đã đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao ý thức chủ động của người dân trên địa bàn trong chủ động giữ rừng và phát triển rừng.
Chính quyền các cấp trên địa bàn đã chuẩn bị được nhiều thiết bị và dụng cụ các loại, trong đó có nhiều máy móc chuyên dụng và phương tiện cơ giới phục vụ PCCCR theo phương châm “4 tại chỗ”.
Các xã trọng điểm của huyện Hoằng Hóa dễ xảy ra cháy rừng đã huy động hơn 500 người, chủ yếu là dân quân tự vệ, cán bộ xã, các đoàn thể và các đơn vị liên quan trên địa bàn phát dọn thực bì, làm được 19,7 km đường băng cản lửa kết hợp đường tuần tra BVR. (Báo Thanh Hóa 31/10) đầu trang(
Vào 15g ngày 1-11 Chi cục Hải quan cửa khẩu (Cục Hải quan Hà Nội) cảng hàng không quốc tế Nội Bài đã bắt giữ vụ vận chuyển 7 kg sừng động vật nghi là sừng tê giác.
Đồng thời tạm giữ 3 hành khách trên chuyến bay QR 828 vận chuyển số sừng này từ Bangkok về Hà Nội.
Vào thời điểm trên, đội thủ tục hành lý nhập thuộc Chi cục Hải quan cửa khẩu Nội Bài phát hiện 3 hành khách Vương Minh Thu (24 tuổi), Dương Thị Thúy Hiền (35 tuổi), Bùi Thị Xiển (48 tuổi) từ chuyến bay QR 828 xuống có biểu hiện nghi vấn.
Qua kiểm tra thực tế phát hiện trong người của 3 người trên có 4 miếng sừng động vật trọng lượng gần 7kg nghi là sừng tê giác. Cả ba người đều không xuất trình giấy tờ chứng minh được nguồn gốc số sừng trên nên Hải quan đã tạm 3 người, giữ niêm phong tang vật xử lý.
Qua khai thác ban đầu, những người trên thừa nhận số sừng trên là sừng tê giác. (Tuổi Trẻ 2/11; Người Lao Động 2/11, tr2) đầu trang(
1/11, cảnh sát Nam Phi bắt giữ hai người đàn ông Việt Nam mang theo số lượng sừng tê giác lớn chưa từng có – 41 kg trong cuộc chiến ngăn chặn nạn buôn bán động vật hoang dã của nước này.
Hai người đàn ông bị bắt trên chuyến bay của hãng Hàng không Qatar Airways từ Thủ đô Maputo của Mozambique tới Hà Nội. Vụ việc được phát hiện vào thời điểm chiếc máy bay chở hai người trên ở sân bay OR Tambo sau khi bay từ Maputo tới Johannesburg. Toàn bộ hành khách chờ trên máy bay khoảng một giờ trước khi tiếp tục hành trình tới Việt Nam.
Trả lời AFP, ông Makgale - Phát ngôn viên của Cảnh sát Nam Phi nói: “Chúng tôi đã nhận được tin báo khá tin cậy cho biết, có hành khách trên máy bay mang theo sừng tê giác. Chúng tôi quyết định yêu cầu toàn bộ hành khách rời khỏi máy bay để kiểm tra và lục soát”.
Theo ông Solomon Makgale thì “số sừng tê giác này hoàn toàn nguyên vẹn, có nguồn gốc từ tê giác tại các công viên ở Nam Phi”. BBC dẫn thông tin từ các nhà chức trách Nam Phi cho biết, hai công dân Việt Nam bị nghi ngờ có hành vi buôn lậu ở độ tuổi khoảng 25, 26.
Số lượng tê giác tại miền Nam Châu Phi đang ngày càng suy giảm vì nạn săn bắn và buôn lậu sừng tê giác trái phép, đáp ứng nhu cầu mua sừng để trang trí và làm thuốc ở nhiều nơi trên thế giới đặc biệt là tại các nước châu Á.
Theo thống kê của nhóm bảo tồn động vật “Dừng săn bắn tê giác”, tổng cộng 933 tê giác tại Nam Phi bị giết hại từ đầu năm đến nay so với 1.004 con bị giết hại trong năm 2013. (Giao Thông 2/11) đầu trang(
29/10, nhận được nguồn tin do nhân dân cung cấp, Đội Kiểm lâm cơ động và Phòng cháy chữa cháy rừng, Chi cục Kiểm lâm kiểm tra, phát hiện đối tượng Đàm Ngọc Dực, sinh năm 1962, thường trú tại xóm Nam Phong 1, xã Hưng Đạo (Thành phố) có hành vi mua bán động vật hoang dã trái với quy định của pháp luật.
Qua kiểm tra, số động vật hoang dã được Đàm Ngọc Dực cất giữ, mua bán gần 8 kg rắn ráo thông thường, không rõ nguồn gốc xuất xứ hợp pháp và thiếu xác nhận của cơ quan kiểm lâm sở tại.
Đội Kiểm lâm cơ động và Phòng cháy chữa cháy rừng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh tiến hành lập biên bản, xử phạt hành chính đối với Đàm Ngọc Dực 3 triệu đồng, tịch thu gần 8 kg rắn ráo. (Báo Cao Bằng 30/10) đầu trang(
Hạt Kiểm Lâm Di Linh tiến hành thả 01 cá thể động vật hoang dã quý hiếm về môi trường tự nhiên.
Cá thể chồn được thả về rừng có trọng lượng 2kg, do hộ ông Nguyễn Văn Nhu – thôn Hàng Hải xã Gung Ré mua lại của bà con đồng bào DTTS địa phương, sau đó bị Hạt Kiểm Lâm Di Linh phát hiện và thu giữ.
Cá thể chồn này được thả vào môi trường tự nhiên thuộc tiểu khu 694 – lâm phần thuộc địa bàn xã Gung Ré, do công ty TNHH MTV lâm nghiệp Di Linh quản lý, bảo vệ.
Hạt Kiểm Lâm Di Linh đã ra quyết định xử phạt hành chính 3 triệu đồng đối với hộ ông Nguyễn Văn Nhu về hành vi cất giữ lâm sản trái quy định; đồng thời tiến hành cho ký cam kết không mua bán, tiêu thụ, sử dụng động, thực vật hoang dã, quý hiếm.
Việc thả động vật quý hiếm về môi trường tự nhiên, đã góp phần bảo tồn các loài động vật hoang dã đang có nguy cơ mai một. (Báo Lâm Đồng 29/10) đầu trang(
Chợ Yên Ninh (hay còn gọi là chợ Bến Đò), thành phố Yên Bái được xem là trung tâm buôn bán các loại chim hoang dã, nào sẻ nâu, rẽ giun, cuốc đen, nào cò bợ, cò trắng, sơn cầm, ngói, vẫy…
Người dân bẫy, bắt, ăn không hết đem ra chợ bán, lái buôn thu gom từ các vùng lân cận mang ra bày bán, kiếm lời với số lượng lớn và các nhà hàng thu mua hoặc người dân thạo chế biến mua về làm mồi nhậu.
Pháp luật đã nghiêm cấm việc săn, bắn động vật, chim, thú hoang dã; tùy vào mức độ, số lượng hay chủng loại động vật hoang dã, người vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật, từ cảnh cáo, phạt hành chính đến khởi tố, phạt tù. Diện tích rừng của Yên Bái hiện chủ yếu thuộc các huyện vùng cao, có địa hình phức tạp, rét đậm về mùa đông, cộng với nạn săn, bắn nên rừng Yên Bái không có hoặc không còn nhiều động vật hoang dã, đặc biệt quý hiếm.
Thời gian gần đây, do môi trường, sinh thái được cải thiện do công tác trồng và bảo vệ rừng tốt hơn, đặc biệt, tình trạng săn, bắn thú rừng bằng súng tự chế đã được ngăn chặn có hiệu quả nên các loài chim bay về đất Yên Bái ngày càng nhiều cả số lượng và số loài. Tiếc thay! Những tín hiệu tốt đẹp đó đang bị hủy hoại, chim hoang dã đang bị bẫy, bắt và tàn sát không thương tiếc với những công nghệ từ thô sơ đến hiện đại.
Chợ Yên Ninh (hay còn gọi là chợ Bến Đò), thành phố Yên Bái được xem là trung tâm buôn bán các loại chim hoang dã, nào sẻ nâu, rẽ giun, cuốc đen, nào cò bợ, cò trắng, sơn cầm, ngói, vẫy… Người dân bẫy, bắt, ăn không hết đem ra chợ bán, lái buôn thu gom từ các vùng lân cận mang ra bày bán, kiếm lời với số lượng lớn và các nhà hàng thu mua hoặc người dân thạo chế biến mua về làm mồi nhậu.
Không chỉ trong chợ, người ta còn chở chim bằng xe đạp, xe máy bán dọc các phố. Theo ghi nhận của PV, chim ngói, giá từ 70.000 đồng đến 120.000 đồng/con, những loại chim còn lại khá rẻ như: sẻ nâu 3 đến 5.000 đồng/con, rẽ giun 12.000 đồng/con, cò bợ 15.000 đồng/con, cuốc đen 20.000 đồng/con, sơn cầm 30.000 đồng/con. Mấy ngày nay, các thợ săn bẫy được rất nhiều loại chim cuổng, giá cũng chỉ từ 40.000 - 45.000 đồng/con.
Anh Hà Văn N ở phường Hồng Hà, thành phố Yên Bái rất thích các món chim. Mỗi tuần vài buổi, anh N ra đầu đường Bách Lẫm (lối vào chợ Bến Đò) đợi những lồng chim của dân bẫy, bắt, mang bán để mua. Hai tay khệ nệ hai lồng chim đủ loại như: cuổng, ngói, vẫy, rẽ giun… anh cho biết: “Đứng đón ở đây mua được chim với giá rẻ là một chuyện, điều quan trọng là chim vừa mới bắt được một đến hai hôm nên chưa gầy, con nào, con nấy vẫn béo nục”. Vẻ đắc ý, anh cho biết thêm: “Ngói, vẫy thì nhất rồi, chế món nào cũng ngon. Riêng chim cuổng mới di cư về đây, chế món xào răm, nhậu với bia hoặc rượu đều tuyệt!”.
Làm quen với một người bán chim ở xã Bảo Hưng (huyện Trấn Yên), PV được biết: “Giờ chim nhiều và có nhiều cách đánh. Thời các cụ hoặc cách đây chỉ mấy năm, thợ đánh chim ri bằng lồng sập; bắt cò, bắt bói cá bằng bẫy; bắt cuốc nhờ cái lưới đánh cá cũ; dân vùng Mường Lò hay đánh bằng bẫy bật dây thép… Giờ đã khác nhiều rồi, đánh chim di cư bằng lưới lớn, chăng ngang cả một đoạn dài bãi sông, ruộng lúa hoặc khe đồi, chim di cư rất ngờ nghệch cứ lao vào cả đàn”.
Được biết, cách bẫy lưới kết hợp với nguồn sáng trắng của đèn led để dụ, có người một đêm đánh được cả trăm con chim cuổng. Một “công nghệ đánh chim khá hiện đại nữa đang phổ biến đó là: lên mạng Internet tải về một đoạn tiếng chim vào USB, sau đó, kết nối vào một chiếc đài nhỏ nhưng có âm thanh phát ra khá mạnh để dụ chim đến, quanh chiếc đài nhỏ người ta đặt sẵn lưới, thòng lọng hoặc keo dính, đã dính bẫy, dù có cách chúng cũng chẳng còn đường thoát! Đây là cách đánh khá phổ biến và “gặt hái nhiều thành công” đối với loài chim sẻ.
Anh Nguyễn Văn C ở xã Phù Nham (huyện Văn Chấn) cho biết: “Nhựa và đài phát do Trung Quốc sản xuất, giá không quá đắt, biết mua chỉ 800 đến 900 nghìn đồng một chiếc đài và một lọ keo với hướng dẫn đầy đủ. Chiều chiều, cứ lướt xe đi đến các cánh đồng, các khu dân cư, vừa thư giãn vừa có đồ ăn, ăn không hết lại đem bán”. Nghe C nói, rồi chứng kiến cách anh này thực hiện, quả thấy “hiệu quả”!
Mấy ống thép phủ kín keo dính, chiếc đài chỉ to hơn cái điện thoại di động ngụy trang trong chiếc tất chân, tất cả được gài vào cột điện hạ thế. Đài phát liên tục tiếng loẹt choẹt đúng như tiếng sẻ kêu, chỉ một lát, bầy chim sẻ ở đâu đã vù tới và rồi con thì dính chân, con mắc cánh mặc sức giẫy giụa trong tuyệt vọng, C chỉ việc bắt từng con cho vào túi vải.
Bây giờ cuộc sống đã khấm khá, không ít người đã ngán các món ăn chế biến từ thịt gà, lợn, tôm, cá… người ta quay sang ăn thịt động vật hoang dã trong đó có chim trời dù món đó không hề rẻ. Thậm chí có người còn lấy việc ăn những món đồ này để lấy may, giải xui...
Những quan niệm lệch lạc và thiếu căn cứ nói trên đã thúc đẩy hơn các cuộc săn, bắt chim, thú hoang dã! Không sớm nhưng cũng không quá muộn nếu có sự ra tay quyết liệt của các ngành chức năng đặc biệt là nạn săn bắt chim hoang dã đang “vào mùa”. (Báo Yên Bái 29/10) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Tình trạng người dân vào rừng khai thác gỗ lim non trái phép tại rừng phòng hộ huyện Sơn Động. (Nhân Dân 2/11, tr7) đầu trang(
Ngày 1-11, tại Trường đại học Nông Lâm (Ðại học Thái Nguyên), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Tổng cục Lâm nghiệp tổ chức hội thi về công tác bảo vệ và phát triển rừng ở các trường, các vườn quốc gia với chủ đề "Rừng cho ta cuộc sống hôm nay và mai sau".
Tham gia hội thi có 35 thành viên là những đoàn viên thanh niên đến từ bảy đội thi. Ban Tổ chức đã trao một giải nhất, một giải nhì, hai giải ba và ba giải khuyến khích cho các đội đoạt giải. (Nhân Dân 2/11; Nông Nghiệp Việt Nam 3/11. tr19) đầu trang(
Rừng ngập mặn, rừng phòng hộ có vai trò, chức năng lớn trong việc bảo vệ môi trường và chống lại các tác động rủi ro trong xu thế biến đổi khí hậu.
Trong thời gian qua, huyện Bình Đại đã không ngừng đẩy mạnh công tác bảo vệ và tái sinh rừng ngập mặn, góp phần bảo vệ hệ sinh thái thiên nhiên, phục vụ lợi ích chính đáng cho con người. Việc bảo vệ và trồng mới rừng là một hành động thiết thực trong phòng chống biến đổi khí hậu (BĐKH).
Huyện luôn chú trọng công tác tuyên truyền giáo dục sâu rộng trong quần chúng nhân dân về pháp luật bảo vệ rừng, các kiến thức về lợi ích của việc trồng rừng đối với đời sống của con người; phát động, kêu gọi người dân tích cực bảo vệ môi trường, tài nguyên rừng, chủ động ứng phó với sự BĐKH. Lồng ghép nội dung ứng phó BĐKH, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên rừng vào chương trình giáo dục, sinh hoạt tập thể tại các trường học nhằm nâng cao nhận thức, dần hình thành ý thức chủ động ứng phó với BĐKH, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Bình Đại có 1.345ha rừng tập trung tại 4 xã: Bình Thắng, Thạnh Phước, Thừa Đức và Thới Thuận. Trong đó, Thừa Đức và Thới Thuận có diện tích trồng rừng 1.106 ha, chiếm 82,2% diện tích rừng toàn huyện. Hàng năm, lực lượng đoàn viên, thanh niên, quần chúng nhân dân tổ chức trồng mới 2ha rừng ngập mặn và trồng hàng trăm cây xanh ven đường nông thôn, đường phố.
Theo Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Bình Đại giai đoạn 2012- 2020, huyện tăng cường bảo vệ diện tích rừng hiện có theo hướng nâng cao hiệu quả của rừng trong việc phòng hộ bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu. Xác lập ranh giới, đóng mốc, lập hồ sơ, quản lý từng lô rừng. Dự kiến, huyện sẽ xây dựng 122 mốc ranh giới và 5 bản ranh giới đất lâm nghiệp thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng Bến Tre trên địa bàn huyện.
Đồng thời, huyện tiến hành trồng rừng mới tập trung trên 205ha. Trong đó, trồng rừng trên đất trống là 103,9ha, trồng rừng trên bải cát là 44,2ha và trồng rừng trên đất mới bồi tụ 69,7ha.
Trồng rừng lại sau khai thác 387,6ha. Hàng năm, huyện tổ chức trồng trên 35 ngàn cây phân tán; chặt nuôi dưỡng và tỉa thưa rừng 51,3ha. Khai thác rừng hợp lý với đối tượng khai thác là rừng đước đến tuổi khai thác và dừa lá nằm trong phạm vi rừng phòng hộ, rừng sản xuất trên diện tích 387ha. Sản xuất lâm ngư kết hợp trên 100ha và phát triển du lịch sinh thái với diện tích là 150ha.
Bên cạnh đó, huyện còn đẩy mạnh các biện pháp hỗ trợ bảo vệ, phát triển rừng như: xây dựng 2 trạm bảo vệ rừng tại xã Thừa Đức và Thới Thuận và bổ sung trang bị trang thiết bị cần thiết trong bảo vệ rừng; chú trọng công tác tuyên truyền giáo dục sâu rộng trong quần chúng nhân dân nhằm nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư về pháp luật bảo vệ rừng, các giá trị của tài nguyên rừng và về môi trường; tiếp tục rà soát và thực hiện công tác giao đất rừng; xây dựng các chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; quy hoạch bảo vệ, phát triển rừng giai đoạn 2012-2020 của huyện với tổng vốn đầu tư hơn 25,1 tỷ đồng.
Các cấp lãnh đạo huyện, cũng xác định rõ trách nhiệm thực hiện quy hoạch bảo vệ, phát triển rừng giai đoạn 2012-2020 gắn với các nhiệm vụ xây dựng, thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển lâm nghiệp tại từng địa phương. Các dự án lâm nghiệp phải lồng ghép với dự án giảm nghèo, phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện.
Như vậy, với tầm quan trọng của rừng phòng hộ, rừng ngập mặn trong xu thế BĐKH và nước biển dâng như hiện nay và trong tương lai, việc bảo vệ và tái sinh rừng ngập mặn, rừng phòng hộ là hành động mang tầm ý nghĩa quan trọng, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn sự đa dạng sinh học, cung cấp dịch vụ môi trường, giảm nghèo, nâng cao mức sống cho người dân lâm nghiệp. (Báo Đồng Khởi 31/10) đầu trang(
Dịch bệnh sâu róm hại rừng thông đang phát triển mạnh ở huyện Nghi Lộc và lan ra các huyện như Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Hưng Nguyên, Yên Thành. Trước tình hình đó, UBND tỉnh vừa có công điện chỉ đạo các địa phương phòng trừ dịch bệnh, tránh nguy cơ lây lan trên diện rộng.
Theo chân ông Hoàng Văn Thức, đến khu vực rừng thông ở xóm 14, xã Nghi Tiến, huyện Nghi Lộc. Nhìn từ xa, một phần rừng thông ở đỉnh núi đã bị sâu ăn trụi lá, ngả màu thâm. Phía dưới chân núi, những khoảnh thông con ở tuổi thứ 2, thứ 3 đã xuất hiện sâu róm với mật độ hơn 100 con/cây.
Ông Thức cho biết, đây là khu vực giáp ranh với xã Nghi Yên và dịch sâu róm đã lây lan từ xã Nghi Yên sang Nghi Tiến hơn 1 tháng nay. Để cứu rừng thông, gia đình ông Thức đã diệt sâu róm bằng phương pháp thủ công nhử đèn nhưng hiệu quả không cao, hiện nay, đã có khoảng 5 ha rừng thông của ông Thức bị sâu róm tấn công toàn xã Nghi Tiến có đến 117,9 ha rừng thông bị nhiễm sâu róm nặng.
Dịch sâu róm năm nay xuất hiện sớm ở vùng rừng thông thuộc xã Nghi Yên (Nghi Lộc). Bắt đầu từ các cánh rừng thuộc Khoảnh 2, Tiểu khu 961, sau đó, lan sang các cánh rừng thuộc vùng Vi Ba đổ ra Quốc lộ 1 cũng như các cánh rừng Động Chòi, Rú Sắt, Khe Chanh, Rú Nho với mật độ 150 con/cây.
Đến thời điểm này, xã Nghi Yên có hơn 600 ha rừng thông bị nhiễm, trong đó có 30 ha thuộc diện nhiễm cá biệt với mật độ trên 250 con/cây, 594 ha nhiễm nặng với mật độ trên 150 con/cây. Ngoài xã Nghi Yên, Nghi Tiến, dịch sâu róm đã lan rộng sang các xã Nghi Hưng (184 ha), Nghi Đồng (gần 200 ha), Nghi Quang (28 ha), Nghi Lâm (28 ha), Nghi Văn (114 ha),… Hiện nay, sâu róm thông đang sinh trưởng và phát triển ở thế hệ thứ 4, toàn huyện có hơn 1.500 ha rừng thông bị nhiễm sâu róm.
Trước diễn biến phức tạp của dịch sâu róm, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Nghi Lộc đã tổ chức kiểm tra và tiến hành các biện pháp dập dịch bằng phương pháp thủ công và dùng máy phun thuốc. Tuy nhiên, vì địa hình phức tạp, thời tiết diễn biến thất thường và thiếu kinh phí nên việc dập dịch sâu róm chưa thực sự hiệu quả.
Đến nay, mới chỉ có khoảng 46 ha rừng thông được phun thuốc. Anh Trần Văn, Trưởng phòng kỹ thuật - kế hoạch, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Nghi Lộc cho biết, đến thời điểm này, ban đã chi ngân sách khoảng 1,2 tỷ đồng để phun thuốc tiêu diệt sâu róm. Tuy nhiên, do mưa nhiều khiến việc phun thuốc không đạt hiệu quả.
Ban Quản lý rừng phòng hộ đã kiến nghị với Sở NN&PTNT hỗ trợ kinh phí, vật tư để tiếp tục mở rộng diện tích phun, ngăn chặn không cho dịch sâu róm bùng phát. Bên cạnh đó, huyện Nghi Lộc cũng khuyến cáo người dân không nên vào các khu vực rừng thông đang xảy ra dịch, tránh ảnh hưởng đến sức khỏe.
Hiện nay, dịch bệnh sâu róm đã xuất hiện ở nhiều cánh rừng thông thuộc các huyện như Nam Đàn, Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Hưng Nguyên… Dù mức độ nhẹ hơn các cánh rừng thông ở huyện Nghi Lộc nhưng dịch sâu róm bùng phát sẽ gây thiệt hại nặng, dẫn đến cháy tán lá nếu không được phòng trừ kịp thời.
Trước diễn biến bất lợi của dịch bệnh, mới đây, UBND tỉnh có Công điện số 28/CĐ-UBND, yêu cầu giám đốc các sở, thủ trưởng các đơn vị liên quan, Chủ tịch UBND các huyện, thành, thị có rừng thông và các sở, ngành liên quan tổ chức kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo công tác phòng trừ sâu, sâu róm thông thế hệ IV/2014 ở các địa phương.
Thành lập các đoàn công tác xuống các địa phương có rừng thông nguy cơ bị sâu róm thông gây hại nặng để kiểm tra, chỉ đạo hướng dẫn chủ rừng thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng trừ.
Đồng thời theo dõi, đánh giá kết quả tổ chức chỉ đạo phòng trừ của chủ rừng, lãnh đạo địa phương; các xã, nơi có rừng thông nguy cơ cao bị sâu gây thiệt hại nặng để đôn đốc các chủ rừng trên địa bàn điều tra, khoanh vùng diện tích nhiễm sâu và huy động phương tiện, máy móc, vật tư để tổ chức phòng trừ kịp thời khi sâu phát sinh, không để sâu lan rộng.
Chủ động cân đối ngân sách địa phương để hỗ trợ các hộ, các chủ rừng có nguy cơ bị sâu róm thông thế hệ IV mua thuốc BitadinWP, Vi-BT, VBT và máy bơm, phòng trừ theo khuyến cáo của cơ quan bảo vệ thực vật và tổ chức phòng trừ hiệu quả, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương về nguy cơ của sâu hại và các biện pháp phòng trừ để nông dân biết và tổ chức phòng trừ hiệu quả… (Báo Nghệ An 1/11) đầu trang(
Nạn phá rừng làm rẫy đang khiến cho diện tích rừng đầu nguồn của xã Diên Tân (huyện Diên Khánh, Khánh Hòa) bị tàn phá không thương tiếc…
Vào một ngày cuối tháng 10, theo hướng suối Đá Mài, PV lên đường vào rừng Diên Tân. Băng qua con dốc đầu tiên, thấy một bên là mía lên cao, một bên là bãi đất trống, anh Lê Văn T. (thôn Láng Nhớt) đi cùng PV cho biết, trước kia không ai cho phép làm rẫy ở đây nhưng hiện nay đất này là của đồng bào dân tộc thiểu số đang làm rẫy.
Qua con dốc thứ hai, PV lại thấy các rẫy chuối, bắp mọc xanh tươi mà không hề thấy cây rừng. Gần tới đỉnh con dốc thứ ba, PV gặp một cặp vợ chồng đang dọn rẫy chuối xanh tốt. Trò chuyện được biết, cặp vợ chồng này làm rẫy đã 2 năm nay.
“Làm rẫy bây giờ có ăn lắm, không bị lỗ như trồng mía. Tôi có gần 4ha, trong đó hơn 1ha đất mới phát đốt chưa kịp trồng chuối. Dịp Tết vừa rồi tôi thu được 140 triệu đồng tiền bán chuối”, người đàn ông khoe. Khi PV hỏi phát rẫy có bị lực lượng Kiểm lâm kiểm tra không, anh ta thản nhiên nói: “Thỉnh thoảng có nhưng mình lánh mặt đi họ không làm gì được”.
Vượt qua rẫy chuối trên, PV leo lên gần đỉnh núi. Tại khu vực này, loang lổ dấu vết của cây rừng mới bị đốt, đất vương màu tro. Tiếp tục đi qua bên kia đỉnh núi, men theo con đường mòn có tên là suối Cây Xoài, phát hiện thêm một số diện tích rừng bị phát đốt, trơ trọi những gốc cây to, đường kính vài chục centimet, thân cháy đen nhẻm.
Dưới chân dốc dòng nước ri rỉ chảy ra. Anh T. cho biết, nạn phá rừng làm rẫy đã khiến nguồn nước cạn kiệt, không dồi dào như trước. Nhìn về phía đối diện, thấy những vạt rừng chồi mới nhú lên - dấu vết của những nương rẫy bỏ hoang.
Ông H. - một người dân của xã Diên Tân cho biết, nếu đi theo con đường mòn từ hồ Láng Nhớt qua các địa danh như Đon 1, Đon 2 (tên cũ của đường lâm nghiệp trước đây), Đường Reo rồi đến Thác Đổ sẽ thấy rừng còn mất nhiều hơn.
Theo ông H., tại các cánh rừng đầu nguồn, lực lượng Kiểm lâm có đánh dấu đỏ phân biệt khu vực cấm, không được phát, đốt, nhưng người dân vẫn ngang nhiên phá bỏ các chỉ dấu này, tự ý phát nương, làm rẫy. Cái lợi từ việc phá rừng làm rẫy đã khiến nhiều người dù biết sai vẫn làm khiến rừng ngày càng bị tàn phá. Điều đáng nói, đất trồng chuối chỉ duy trì được 1 - 2 năm đầu, sau đó rẫy chuối cỗi, người ta lại phá rừng làm rẫy mới.
Khi hỏi những người dân trong xã vì sao phải làm ruộng vụ lỡ, ai cũng cho rằng do nạn phá rừng đầu nguồn làm cạn kiệt nguồn sinh thủy. Ông C.X, một người dân thôn Đá Mài ấm ức mãi chuyện phá rừng làm rẫy dẫn đến thiếu nước sản xuất. “Vùng ruộng Đá Mài dành cho đồng bào dân tộc thiểu số rộng 8ha năm nay đành bỏ hoang vì hồ Cây Sung không đủ nước tưới. Năm ngoái, hạn cuối vụ, 1 sào ruộng của tôi bị thiếu nước, lúa không kết hạt được, bình thường cắt được 14 - 15 bao nhưng lúc đó chỉ được 5 - 6 bao”, ông C.X nói.
Còn anh C.T, người dân tộc Raglai sống ở thôn Đá Mài cho hay, từ ngày về ở tại thôn Đá Mài (1997) đến nay, chưa bao giờ anh thấy mực nước hồ xuống thấp như thế. Không có nước sản xuất, những người như anh phải đi làm thuê, làm mướn bằng các công việc xịt thuốc, làm cỏ mía, trồng keo... kiếm sống qua ngày.
Hồ Cây Sung và hồ Láng Nhớt là 2 hồ chứa nước nằm trên địa bàn xã Diên Tân, đảm đương nhiệm vụ tưới cho gần 100ha lúa nước 2 vụ trên địa bàn. Ngoài ra, hồ Láng Nhớt còn cung cấp nước tưới cho các xã khác. Theo một số người dân ở đây, vào thời điểm này mọi năm, mực nước hồ đã lên cao, ngập cả bãi rộng không thể đi được. Vậy mà 2 năm trở lại đây, dù đã vào mùa mưa, mực nước các hồ vẫn còn tụt dưới đáy, thấp hơn cả tấm đan ở cửa cống tràn.
Ông Nguyễn Thành Sanh, nhân viên quản lý hồ Cây Sung thừa nhận: “Rừng bị tàn phá, nước về hồ giảm dần, cộng với thời tiết khô hạn khiến các hồ không đủ nước tưới, phải giảm 50% diện tích chuyển sang làm lúa Hè Thu muộn”.
Ông Đặng Thanh Xuân, Trưởng Văn phòng đại diện Cầu Đôi (Công ty Khai thác công trình thủy lợi Nam Khánh Hòa) cũng cho hay, hạn hán làm cho diện tích sản xuất phải chuyển từ Hè Thu chính vụ sang vụ nhỡ, chờ mưa. Nguyên nhân không chỉ do thời tiết, mà còn do rừng đầu nguồn bị tàn phá.
Chỉ vào mảng màu trắng ở giữa tấm bản đồ lâm nghiệp xã Diên Tân, ông Hoàng Trung Sỹ, Trưởng trạm Kiểm lâm Diên Thọ (Hạt Kiểm lâm Diên Khánh) cho biết, đây là tiểu khu 225 có sự phối hợp quản lý của các bên, trong đó UBND xã Diên Tân quản lý hơn 16ha rừng thuộc trạng thái IC (rừng cây tái sinh).
“Tiểu khu 225 nằm ở khu vực vùng đệm giữa Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Hòn Bà và xã Diên Tân nên đây là khu vực nhiều bên cùng quản lý. KBTTN Hòn Bà, Kiểm lâm Diên Thọ và xã Diên Tân thường xuyên tổ chức các hoạt động phối hợp, tuần tra 4 - 5 lần/tháng. Tuy nhiên, công tác này gặp nhiều khó khăn, vì hễ thấy bóng lực lượng Kiểm lâm, người dân lại lẩn trốn nên không thể lập biên bản vi phạm. Xã Diên Tân nhiều lần mời đối tượng vi phạm lên làm việc, yêu cầu khôi phục lại rừng nhưng rất hạn chế, đến nay chưa có giải pháp hữu hiệu”, ông Sỹ nói.
Đem những thắc mắc trong công tác quản lý, bảo vệ rừng đến những người có trách nhiệm tại UBND xã Diên Tân, chúng tôi được ông Lê Văn Đồng, cán bộ lâm nghiệp xã cho biết, rừng mà người dân chiếm dụng thuộc đất lâm nghiệp, chỉ một phần nhỏ xâm hại tới diện tích rừng phòng hộ.
“Chính việc quy hoạch trồng rừng cho xã theo Dự án 147 và các dự án khác đã phát sinh việc phá rừng làm rẫy. Nếu không giao đất trồng rừng thì không có chuyện rừng bị phá. Được giao đất người dân cứ thế lấn tới, trở thành chuyện đã rồi, địa phương không thể ngăn chặn”, ông Đồng nói.
Ông Nguyễn Văn Hạnh, Chủ tịch UBND xã Diên Tân cho hay, mấy năm trước, xã có nhận hợp đồng khoán quản lý, bảo vệ 500ha rừng với kinh phí 25 triệu đồng/năm nên rừng được bảo vệ nghiêm ngặt. Sau này, kinh phí bị “cắt” do sai chức năng. Hiện giờ, do thiếu kinh phí, xã chỉ biết lấy ngân sách chi thường xuyên ra triển khai nên công tác này gặp nhiều khó khăn.
Ông Hạnh cũng cho rằng, huyện không nên quy hoạch cho xã trồng rừng bởi như vậy dễ phát sinh nạn phá rừng, dẫn tới hệ lụy làm suy kiệt nguồn sinh thủy cho các hồ chứa, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp...
Dù thế nào thì việc mất rừng tại xã Diên Tân đã và đang diễn ra, uy hiếp khu vực vùng đệm của KBTTN Hòn Bà và vùng rừng đầu nguồn các hồ chứa. Thiết nghĩ, các cấp, ngành cần có giải pháp khẩn cấp trong công tác quản lý, bảo vệ rừng ở khu vực này.
Tuyệt đối không quy hoạch trồng rừng tại đây bởi sẽ là cái cớ cho nạn phá rừng phát triển. Tiểu khu 225 phải được giao hẳn cho một đơn vị quản lý, bảo vệ và được tăng cường kinh phí, nhân lực. Có như vậy mới hy vọng, rừng đầu nguồn Diên Tân được phục hồi. (Báo Khánh Hòa 1/11) đầu trang(
Tỉnh Trà Vinh có 350 hecta rừng phi lao phòng hộ ven biển ở huyện Duyên Hải. Đã có hơn 11 hécta rừng chết trong vòng 12 năm qua.
Tuy nhiên, chỉ trong vòng 10 tháng đầu năm nay, diện tích cây chết đã lên đến gần 29hécta. Như vậy, đến nay, hơn 11% diện tích đất rừng phòng hộ ven biển ở huyện Duyên Hải đã bị mất đi.
Những năm qua, rừng phi lao chết rải rác trong diện hẹp do bị bệnh. Còn trong năm nay, cây bắt đầu bị chết hàng loạt từ tháng 3, đến nay vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Mặc dù các ngành chức năng tỉnh Trà Vinh đã sớm vào cuộc, nhưng đến nay vẫn chưa tìm ra nguyên nhân cây chết hàng loạt.
Rừng phi lao phòng hộ ven biển của huyện Duyên Hải có chiều dài khoảng 40 km, nhưng đến nay chỉ còn lại phân nửa, do sóng biển tàn phá trong nhiều năm.
Việc cây phi lao bị chết hàng loạt càng làm cho đất rừng phòng hộ ven biển của tỉnh Trà Vinh bị thu hẹp thêm, đe dọa sản xuất và đời sống của hàng nghìn hộ dân ở vùng ven biển, đặc biệt trong mùa mưa bão. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 1/11) đầu trang(
Tam Đảo là một huyện miền núi có diện tích 23.587,63 ha trong đó đất lâm nghiệp chiếm 14.624,98 ha bằng 62% tổng diện tích tự nhiên.
Cụ thể được chia ra: Diện tích có rừng 13.153,0 ha. Trong đó: DT rừng tự nhiên 7018,98 ha; DT rừng trồng 6.134,02 ha; Đất trồng rừng là 1.471,98 ha. Phân theo chức năng: rừng đặc dụng 12.328,6 ha; Rừng phòng hộ 537,66 ha; Rừng sản xuất 1.758,9 ha với bốn chủ rừng là Vườn quốc gia Tâm Đảo, TTPTNLN Vĩnh Phúc, Công ty Lâm Nghiệp Lập Thạch và hộ gia đình cùng UBND xã quản lý.
Vào mùa hanh khô, diện tích rừng trên địa bàn nguy cơ dễ xảy ra cháy rừng rất cao. Bên cạnh nguyên nhân khách quan do thời tiết nắng hạn, hanh khô kéo dài, còn có nguyên nhân chủ quan từ con người, như đốt cỏ để chăn nuôi, hun khói lấy mật ong, khai thác gỗ, chặt củi trái phép...
Để bảo vệ tốt diện tích rừng thông ở khu vực cảnh báo có nguy cơ cháy cao và bảo vệ diện tích rừng trồng và rừng phòng hộ, huyện Tam Đảo đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như đẩy mạnh công tác tuyên truyền tới nhân dân, nâng cao nhận thức trong công tác bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng, tăng cường tuần tra, kiểm soát phát hiện và xử lý kịp thời các tình huống xảy ra.
Anh Khổng Văn Sinh, thôn Đồng Thỏng, xã Đại Đình cho biết: Gia đình tôi nhận trồng 11 ha Keo, Bạch Đàn và bảo vệ 02 ha rừng Thông. Được khuyến cáo, cây thông là một trong những loại cây dễ cháy, nhất là vào mùa hanh khô, do đó gia đình tôi cắt cử nhau thường xuyên kiểm tra số diện tích nhận chăm sóc, bảo vệ để kịp thời phát hiện những khu vực nguy cơ dễ xảy ra cháy rừng.
Thường xuyên cắt tỉa, phát quang những cành cây thấp, tạo độ thông thoáng để cây phát triển. Đồng thời nắm bắt thời tiết, lắng nghe thông báo trên đài truyền thanh những cấp độ có thể xảy ra cháy rừng để có biện pháp phòng, chống kịp thời…
Ông Nguyễn Văn Dàng, Chủ tịch UBND xã Minh Quang cho biết: Là xã có diện tích rừng rất lớn, trong đó chủ yếu là cây keo tai tượng và thông dễ xảy ra cháy, nhất là vào mùa hanh khô. Để nâng cao nhận thức của người dân trong công tác phòng, chống cháy rừng, hàng năm xã đều chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tổ chức ký cam kết thực hiện nội quy, quy chế phòng cháy, chữa cháy rừng, nâng cao nhận thức của người dân và chủ rừng.
Ngay từ đầu mùa hanh khô, Ban lâm nghiệp xã phối hợp chặt chẽ với cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện phụ trách địa bàn xuống từng hộ dân hướng dẫn nhân dân phương pháp cắt tỉa, đốn củi, phát quang bụi rậm, hun khói lấy mật ong… an toàn, yêu cầu các hộ trồng rừng và khoanh nuôi rừng chấp hành nghiêm túc những quy định về phòng, chống cháy rừng; đồng thời có sự chuẩn bị khi tình huống cháy rừng không may xảy ra… Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, nhiều năm nay trên địa bàn xã hạn chế xảy ra vụ cháy rừng, kể cả rừng sản xuất và rừng khoanh nuôi, bảo vệ.
Theo số liệu thống kê của Ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng huyện Tam Đảo cho biết, mùa khô 2013 đến nay toàn huyện có 14 vụ cháy rừng xảy nhưng kịp thời ứng cứu nên không gây thiệt hại. Với quyết tâm hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do thiên tai gây ra trên địa bàn, huyện Tam Đảo đã xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng giai đoạn 2012-2015.
Theo đó, huyện đã xác định 4 trọng điểm có thể xảy ra cháy, cần triển khai đồng bộ các giải pháp ở các khu vực này, bao gồm: vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo gồm các xã Minh Quang, Hồ Sơn, Đại Đình và Đạo Trù chủ yếu là rừng nguyên sinh, rừng đặc dụng, rừng trồng Thông nhựa, khu vực trồng keo tai tượng, Thông lấy nhựa tại các xã Minh Quang, Đại Đình và Tam Quan do Lâm trường quản lý.
Từ đó, huyện đã chỉ đạo các đơn vị có rừng chủ động xây dựng phương án và kịp thời đề ra được các biện pháp an toàn phòng cháy, chữa cháy rừng trên cơ sở sử dụng tối đa và phát huy thế mạnh của địa phương theo phương châm "4 tại chỗ".
Hạt Kiểm lâm huyện cũng phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức nhiều đợt kiểm tra việc triển khai phương án phòng, chống cháy rừng tại các xã vùng cao có nhiều diện tích trồng rừng, đặc biệt là các trọng điểm có thể xảy ra cháy rừng, kiểm tra công tác chuẩn bị, đảm bảo đầy đủ lực lượng, phương tiện, thiết bị, hậu cần phục vụ nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy rừng.
Đồng thời qua các đợt kiểm tra gắn với việc tuyên truyền để người dân và chủ rừng hiểu được quyền lợi, trách nhiệm trong việc phòng, chống cháy rừng, góp phần nâng cao thu nhập từ kinh tế lâm nghiệp và bảo vệ tài sản của Quốc gia. Bên cạnh đó, Hạt Kiểm lâm đã tham mưu cho UBND huyện chỉ đạo các địa phương giám sát chặt chẽ việc đốt dọn, xử lý thực bì rừng trồng, đảm bảo không để cháy lan.
Lực lượng Kiểm lâm huyện đã phối hợp tổ chức tuyên truyền về phòng cháy, chữa cháy rừng, xây dựng và lắp biển dự báo cháy rừng, biển tuyên truyền bảo vệ rừng, tổ chức tuần tra các khu vực trọng điểm dễ cháy. Đồng thời gắn quyền lợi, trách nhiệm của người dân, chủ rừng đến các hộ dân và cộng đồng, góp phần nâng cao thu nhập từ kinh tế lâm nghiệp cho người dân và bảo vệ tài sản của Quốc gia.
Bên cạnh những biện pháp đã triển khai, hiện nay công tác phòng, chống cháy rừng ở địa phương cũng gặp những khó khăn khi mà dụng cụ phòng cháy, chữa cháy còn thiếu và thô sơ, kinh phí triển khai tuyên truyền rất ít, chủ yếu là phối hợp tuyên truyền lồng ghép nên hiệu quả tuyên truyền chưa cao.
Mặc dù còn gặp những khó khăn nhất định trong công tác phòng, chống cháy rừng ở địa phương, nhưng với việc chủ động phòng ngừa cháy rừng, huyện Tam Đảo quyết tâm triển khai có hiệu quả công tác này, hạn chế tới mức thấp nhất các vụ cháy rừng xảy ra trên địa bàn trong mùa hanh khô năm nay, bảo vệ tốt diện tích rừng tự nhiên hiện có và diện tích rừng trồng của nhân dân. (Tamdao.vinhphuc.gov.vn 31/10) đầu trang(
Ngay từ cuối năm 2013, lãnh đạo hai đơn vị: Công an tỉnh và Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa đã ký kết kế hoạch phối hợp đấu tranh chống buôn lậu lâm sản và động vật hoang dã.
Trên cơ sở đó, 17 hạt kiểm lâm huyện, 2 đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) đã phối hợp với công an các huyện, thị xã, thành phố xây dựng các kế hoạch cụ thể để triển khai.
Hai lực lượng cũng đã phối hợp tổ chức hơn 100 hội nghị tuyên truyền đến hơn 5.000 lượt bà con về nội dung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác bảo vệ rừng, PCCCR. Qua các hội nghị này, người dân đã đồng tình nộp 1.369 cưa xăng vào quản lý tập trung tại cộng đồng, hạn chế việc dùng cưa xăng khai thác gỗ trái phép. Nhiều người dân khu vực miền núi, các khu vực gần rừng cũng đã tự nguyện giao nộp súng săn, bẫy, nỏ, cung, tên sau khi được tuyên truyền.
Chi cục Kiểm lâm phối hợp với Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội (PC 46), thuộc Công an tỉnh, tổ chức tập huấn, huấn luyện quản lý, sử dụng và bảo quản vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ cho gần 500 cán bộ, công chức, lao động trong lực lượng kiểm lâm. Việc trao đổi thông tin qua đường dây nóng về các đối tượng, phương tiện buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép, động vật hoang dã được duy trì thường xuyên giữa các phòng chức năng hai cơ quan. Thông qua việc trao đổi thông tin, nhiều vụ vận chuyển động vật rừng, lâm sản trái phép được phát hiện và bắt giữ.
Từ đầu năm đến nay, hơn 80 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã được phát hiện và xử lý nhờ công tác phối hợp giữa hai đơn vị. Trong đó, ngày 24 - 2, Hạt Kiểm lâm TP Thanh Hóa phối hợp với Công an phường Quảng Thành, bắt giữ xe ô tô biển kiểm soát 36M - 6344, thu giữ hơn 1,2 m3 gỗ xẻ nhóm VII do tài xế Vũ Ngọc Anh, phường Phú Sơn (TP Thanh Hóa) vận chuyển trái phép.
4 ngày sau đó, Hạt Kiểm lâm Thường Xuân phối hợp với Công an huyện Thường Xuân tuần tra trên đường tỉnh 507, phát hiện và bắt giữ xe ô tô 36C 06194 do tài xế Nguyễn Sĩ Thành, trú tại xã Xuân Bái (Thọ Xuân) điều khiển, vận chuyển 3,017 m3 gỗ xẻ nhóm VI không có hồ sơ, nguồn gốc hợp pháp. Ngày 31-3-2014, Đội Kiểm lâm Cơ động và PCCCR số 1 bắt giữ xe ô tô 19C - 02332 vận chuyển gỗ lậu khối lượng lớn.
Lái xe và chủ hàng có biểu hiện chống đối, không chấp hành lệnh kiểm tra. Lực lượng kiểm lâm đã phối hợp với Cảnh sát 113 tổ chức bắt giữ, dẫn giải xe tang vật vi phạm về trụ sở. Giữa tháng 5, Phòng Cảnh sát Giao thông đường bộ, đường sắt (Công an tỉnh) đã phát hiện, bắt giữ ô tô 36L 6439 vận chuyển hơn 1m3 gỗ trái phép.
Vừa qua, Hạt Kiểm lâm Hà Trung đã phối hợp với Công an huyện Hà Trung, Phòng 3, Cục Cảnh sát Kinh tế (PC 46) thuộc Bộ Công an, kiểm tra, bắt giữ xe ô tô 29A - 384.54 chở 315 kg tê tê - thuộc động vật rừng nguy cấp, quý hiếm nhóm IIB do lái xe Hoàng Đức Trình (xã Hưng Khánh, Hưng Nguyên, Nghệ An) điều khiển. Hạt Kiểm Lâm và Công an huyện Hà Trung đã tiếp nhận và xử lý số tang vật nói trên theo quy định...
Nhìn chung, từ khi ký kết quy chế phối hợp giữa Chi cục Kiểm lâm và Công an tỉnh, công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn ngày càng được chú trọng và tăng cường, tình hình vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng giảm rõ rệt, góp phần giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh. (Báo Thanh Hóa 31/10) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Trao đổi với Tuổi Trẻ ngày 30-10, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Công Tuấn cho biết đã giao Cục Kiểm lâm và tỉnh Bình Phước kiểm tra vụ “Ban phát đất rừng cho quan chức".
Ông Hà Công Tuấn cho biết: “Hiện chúng tôi chưa rõ về vị trí đất rừng bị đem trồng cao su, có hai tình huống xảy ra nếu rừng thông thường do tỉnh quản lý, rừng đặc dụng do bộ quản lý. Trong bài báo cũng có nói rừng này đã bị phá trồng cao su 5-6 năm nay thì càng phải xem xét kỹ vì nếu đúng như vậy thì sai sót đã bị để kéo dài” - ông Tuấn cho biết.
Cũng theo ông Tuấn, tình trạng này không chỉ xảy ra ở Bình Phước mà từng xảy ra ở một số địa phương.
Gần 100 ý kiến đã được bạn đọc phản hồi sau loạt bài “Ban phát đất rừng cho quan chức” ở tỉnh Bình Phước (Tuổi Trẻ ngày 29 và 30-10-2014). Đa số phản hồi này là ý kiến của người dân sống ở Bình Phước. Nhiều bạn đọc bày tỏ sự cảm động sâu sắc với bài báo “Cho thuê đất theo tiêu chí nghĩa tình” (bài 1, đăng ngày 29-10).
Bạn đọc Nguyễn Giang viết: “Chuyện này nói chung là mỗi người dân đều biết nhưng không dám nói ra! Cảm ơn báo Tuổi Trẻ đã đưa ra ánh sáng!”.
Bạn đọc Chan Ly cho rằng: “Đây là lời kêu cứu không chỉ từ những cánh rừng, từ những loài vi sinh vật, ký sinh sống quanh các khu rừng thiên nhiên vô giá mà còn là tiếng kêu cứu từ công lý, từ những con người nông dân kham khổ mất đất sản xuất, mất quyền lợi, tài sản, cơ nghiệp mà không biết kêu ai”.
Nhiều bạn đọc bức xúc cho rằng việc chia đất cho cán bộ chính là một trong những nguyên nhân thực tế làm Bình Phước là một trong những tỉnh nghèo nhưng quan chức địa phương không hề nghèo. Thương cho người nông dân Bình Phước ôm nỗi ấm ức quá lâu. Bạn đọc cũng đề nghị “làm rõ trách nhiệm của cả những người đã hạ cánh an toàn” vì chuyện này đã diễn ra trong thời gian quá dài.
Bạn đọc đã đề nghị Thanh tra Chính phủ vào cuộc một cách nghiêm túc. Sai phạm đến đâu phải kiên quyết xử lý. Nhiều bạn đọc cũng mong muốn Tuổi Trẻ hãy đăng tải toàn bộ danh sách quan chức, người nhà quan chức được nhận đất để mọi người đều rõ.
“Khi lòng tham lấn át lòng tự trọng thì chuyện gì cũng có thể xảy ra. Các cán bộ nhà nước nghĩ gì khi dân địa phương thiếu đất sản xuất, đời sống khó khăn mà mình lại đi tranh nhận đất trồng cao su như vậy. Buồn quá” - một bạn đọc tâm sự
Ngoài những đề nghị cấp trung ương vào cuộc “mổ xẻ khối ung nhọt lâu ngày” này, bạn đọc cũng đề nghị Tuổi Trẻ tiếp tục đồng hành với người dân, làm sâu hơn nữa vấn đề chia chác đất đai.
Tại cuộc họp báo về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10 chiều 29-10 do Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Nên chủ trì, phóng viên Tuổi Trẻ đã chuyển đến bộ trưởng thông tin trong bài báo về vụ việc phân chia đất rừng ở Bình Phước và đề nghị cho biết quan điểm.
Bộ trưởng Nguyễn Văn Nên nói: “Quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước từ trước đến giờ trong sử dụng tài nguyên nói chung, đất đai nói riêng là đảm bảo theo quy định của pháp luật, khi đặt ra chính sách phục vụ con người đều phải tuân thủ quy định của pháp luật.
Đặc biệt từng địa phương còn đất giải quyết cho người dân, cho đối tượng chính sách thì phải tính toán thứ tự ưu tiên, ví dụ đối tượng chính sách nghèo, nông dân nghèo, dân tộc, người có công... trong vùng dự án và mọi việc đều phải công khai minh bạch, tạo đồng thuận xã hội, thống nhất nội bộ, đảm bảo minh bạch, thực hiện tốt.
Câu chuyện của Bình Phước thực hư thế nào chúng tôi sẽ tham mưu Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo UBND tỉnh Bình Phước báo cáo. Việc báo chí phát hiện, đăng tải, phản ánh là cần thiết, tôi chỉ yêu cầu chúng ta nên tìm hiểu thêm, nắm thêm bản chất vấn đề, yêu cầu địa phương làm rõ, xử lý nếu có tiêu cực, nếu chủ trương chính sách chưa rõ phải hỗ trợ thông tin để thực hiện cho tốt”. (Tuổi Trẻ 31/10, tr5) đầu trang(
31-10, ông Nguyễn Văn Thành - chánh văn phòng UBND tỉnh Bình Phước - cho biết sau khi báo Tuổi Trẻ đăng loạt bài “Ban phát đất rừng cho quan chức”, UBND tỉnh Bình Phước có báo cáo giải trình gửi Chính phủ.
Nội dung của báo cáo là giải trình xoay quanh ba vấn đề: Việc cho cán bộ và vợ con cán bộ thuê đất trồng cao su; việc quy hoạch, thực hiện các dự án trồng cao su trên đất lâm nghiệp tại địa bàn tỉnh; việc người dân thiếu đất sản xuất, đất ở.
UBND tỉnh Bình Phước khẳng định việc cho cán bộ, công chức và vợ con của cán bộ nhận khoán, thuê đất lâm nghiệp mà báo nêu là có.
UBND tỉnh Bình Phước giải thích việc cho cán bộ thuê đất là do sau khi tách tỉnh (tách với Bình Dương từ tỉnh Sông Bé cũ, vào năm 1997) thì “phần lớn cán bộ, công chức được điều chỉnh từ tỉnh Sông Bé cũ lên công tác đều khó khăn về cả vật chất lẫn tinh thần”, do vậy tỉnh có chủ trương cho các hộ gia đình, cá nhân này thuê đất để “góp phần ổn định cuộc sống, an tâm công tác tại địa phương”.
Tuy nhiên, giải trình của UBND tỉnh Bình Phước không nêu rõ những đối tượng cán bộ nào được cho thuê đất, tiêu chí nào để cán bộ được xét cho thuê đất, cũng như có phải tất cả cán bộ đều được cho thuê đất hay chỉ một số cá nhân?
Đó là chưa kể nhiều trường hợp cán bộ được “ban phát” đất rừng trồng cao su mà Tuổi Trẻ nêu đều là lãnh đạo các sở, ngành, trưởng phòng và lãnh đạo văn phòng UBND tỉnh.
Nhiều cán bộ còn “khoe” có hàng chục hecta cao su đang cạo mủ, trị giá hàng tỉ đồng... thì chắc chắn không thuộc đối tượng cán bộ “khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần” như UBND tỉnh Bình Phước đề cập.
UBND tỉnh Bình Phước cũng cho rằng “chủ trương cho thuê đất lâm nghiệp của UBND tỉnh có trước năm 2007, đến nay chỉ là làm thủ tục cho thuê đất theo luật định (sau khi các hộ đã hoàn tất thủ tục và thực hiện đầu tư sản xuất trên đất)”.
Thế nhưng, các văn bản Tuổi Trẻ có trong tay lại chứng minh điều hoàn toàn ngược lại.
Cụ thể: ngày 25-9-2013 (sau năm 2007 tới sáu năm), Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước Nguyễn Văn Trăm ký văn bản số 3123/UBND-KTN, xét đơn xin cấp đất của hai hộ Lê Tính (TP Thủ Dầu Một, Bình Dương) và Nguyễn Viết Nghĩa (thị xã Thuận An, Bình Dương), chấp thuận cho hai hộ này thuê mỗi hộ 10ha thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết để “trồng cao su, cải thiện đời sống”.
Theo tìm hiểu, ông Lê Tính và Nguyễn Viết Nghĩa đều nguyên là cán bộ lãnh đạo của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Phước.
Vào tháng 6-2008 (sau năm 2007 một năm), chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước khi đó là ông Trương Tấn Thiệu (bị miễn nhiệm vào tháng 4-2013) cũng ký văn bản số 1635/UBND-SX thuận chủ trương cho 11 hộ gia đình, cá nhân thuê 105ha đất rừng tại Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết để trồng cao su.
Cuối năm 2007, trước khi chuyển qua làm Bí thư Tỉnh ủy cho tới nay, ông Nguyễn Tấn Hưng khi đó giữ chức vụ chủ tịch UBND tỉnh, cũng ký văn bản cho hàng loạt hộ dân thuê đất trồng cao su, trong đó có hộ được thuê tới 30ha.
Về việc chuyển đổi đất rừng để trồng cao su, UBND tỉnh Bình Phước khẳng định “việc phát triển rừng trồng cao su trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua được thực hiện theo đúng quy định”.
Tuy nhiên, báo cáo của UBND tỉnh Bình Phước không đề cập trực tiếp vào vấn đề mà báo Tuổi Trẻ nêu: đó là việc ồ ạt chuyển đổi nhiều diện tích rừng tự nhiên để trồng cao su khiến rừng tự nhiên giảm trầm trọng, nhiều ban quản lý rừng có nguy cơ giải thể.
Cụ thể, theo công bố của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, diện tích rừng tự nhiên của Bình Phước hiện chỉ còn 58.600ha (số liệu năm 2013); trong khi đó vào năm 2002, tỉnh này có tới 127.800ha.
Tại Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết (huyện Lộc Ninh) có tới 8.200ha trồng cao su, trong tổng số 12.500ha diện tích tự nhiên tại đây. Sắp tới, 2.000ha rừng trong số 3.100ha rừng tự nhiên còn lại của rừng Tà Thiết cũng sẽ được chuyển sang trồng cao su.
Sở NN&PTNT tỉnh Bình Phước xác nhận việc giải thể Ban quản lý rừng Tà Thiết chỉ là chuyện một sớm một chiều.
Đối với các hộ dân khó khăn, thiếu đất sản xuất, UBND tỉnh Bình Phước khẳng định “việc các hộ dân thiếu và không có đất sản xuất là vẫn có, nhưng thời gian qua tỉnh đã bố trí cấp đất cho các hộ này và đang tiếp tục quy hoạch để tiếp tục cấp đất sản xuất cho các đối tượng này”.
Tuy nhiên, UBND tỉnh Bình Phước không nêu rõ hiện còn bao nhiêu hộ dân khó khăn, thiếu đất sản xuất và lộ trình tới khi nào thì các hộ này được có đất?
Còn theo số liệu Tuổi Trẻ có được từ báo cáo của Thanh tra tỉnh Bình Phước thì số lượng người dân khó khăn, thiếu đất sản xuất ở tỉnh này vẫn còn rất nhiều. Cụ thể, tới tháng 7-2014 có tới 8.000 hộ dân khó khăn có nhu cầu cấp đất sản xuất, với số lượng đất cần lên tới 6.148ha.
Để bổ sung nguồn quỹ đất mới, Thanh tra tỉnh Bình Phước kiến nghị UBND tỉnh đẩy nhanh tiến độ xin chuyển đổi một số vị trí rừng trên địa bàn tỉnh để tạo quỹ đất cho các hộ không có đất, thiếu đất sản xuất, có biện pháp thu hồi một phần diện tích đất đã giao cho các doanh nghiệp...
Liên quan đến vụ “ban phát đất rừng cho quan chức” xảy ra tại tỉnh Bình Phước, ngày 31-10 Phó tổng Thanh tra Chính phủ (TTCP) Nguyễn Chiến Bình cho biết trước khi Tuổi Trẻ đăng loạt bài này, TTCP đã có quyết định thanh tra việc chấp hành pháp luật trong công tác giao đất, giao rừng tại tỉnh Bình Phước trong thời gian từ năm 2008-2013.
Đoàn thanh tra này do ông Nguyễn Đức Hương, phó cục trưởng Cục 3 của TTCP, làm trưởng đoàn.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Chiến Bình còn nói đoàn thanh tra sẽ căn cứ theo quyết định và thực tế địa phương, có tham khảo thông tin trên báo để tiến hành thanh tra.
Khi có dự thảo kết luận thanh tra, lãnh đạo TTCP sẽ xem xét, đối chiếu với thông tin báo Tuổi Trẻ nêu, xem những vấn đề nào làm rõ, những vấn đề nào chưa rõ thì sẽ tiếp tục có chỉ đạo, yêu cầu làm rõ.
Sáng 31-10, ông Đào Trung Chính, phó tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ TN-MT), cho biết sau khi báo Tuổi Trẻ đăng các bài viết về việc “ban phát đất rừng cho quan chức - cho thuê đất theo tiêu chí “tình nghĩa” ở Bình Phước, Bộ TN-MT đã có văn bản yêu cầu Sở TN-MT tỉnh Bình Phước kiểm tra, báo cáo về nội dung báo nêu.
Theo ông Chính, liên quan đến việc giao đất, giao rừng, từ trước tới nay đều thực hiện theo tinh thần ưu tiên khuyến khích giao cho những người thiếu đất sản xuất.
Tuy nhiên, có những trường hợp quy hoạch và kế hoạch của địa phương xác định rừng trồng là cây cao su hay những cây có giá trị cao, điều này đòi hỏi phải có nguồn vốn đầu tư ban đầu rất lớn nên cũng có trường hợp khuyến khích giao đất trồng rừng cho những người có nguồn lực đầu tư.
“Với câu chuyện ở Bình Phước, phải xem rất kỹ tiêu chí về việc giao đất, giao rừng ra sao. Liệu đã giải quyết vấn đề thiếu đất sản xuất của người dân hay chưa mà đi phân giao cho cán bộ như vậy?” - ông Chính nhấn mạnh. (Tuổi Trẻ 1/11, tr18) đầu trang(
Trước tình hình phá rừng, lấn chiếm rừng và chuyển đổi rừng vô tội vạ diễn ra tại Bình Phước, Thứ trưởng Bộ NNPTNT Hà Công Tuấn nói: Về vụ việc ở Bình Phước, chúng tôi đã giao Cục Kiểm lâm rà soát, hiện nay Bộ NN&PTNT đang đợi thông tin từ Cục Kiểm lâm.
Chính phủ có cho phép chuyển đổi đất rừng nghèo kiệt sang trồng cao su, nhưng phải đúng hướng dẫn thế nào là rừng nghèo kiệt, đúng mục đích đáp ứng vấn đề thiếu đất của người dân, trong khi như báo phản ánh là việc cấp đất chủ yếu cho cán bộ...
Vấn đề cấp bách của người dân là thiếu đất sản xuất, nhưng khi nhìn vào danh sách được nhận đất rừng để trồng cao su ở Bình Phước thì toàn thấy cán bộ mà không thấy dân đâu.
Thật ra cuối năm 2013, Thủ tướng đã đồng ý chủ trương chuyển đổi đất lâm nghiệp nghèo kiệt để giải quyết nhu cầu đất sản xuất, mới có tỉnh Bình Phước “mở” lại việc chuyển đổi này, còn các địa phương khác thì chưa.
Sẽ kiểm tra nghiêm túc, khách quan, sai đến đâu, sai như thế nào. Còn cán bộ thì đó là cán bộ của địa phương, địa phương phải xử lý, Bộ NN&PTNT sẽ có ý kiến về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp ở địa phương. (Tuổi Trẻ 1/11, tr18) đầu trang(
Có trực tiếp tới rừng Tà Thiết (huyện Lộc Ninh, Bình Phước) những ngày này, tận mắt thấy những cây kơnia, cây cổ thụ một thời nay bị đốt trụi, gốc cây bị quật lên vứt ngang đường, nằm lạnh lẽo giữa những vườn cây cao su mới trồng... mới có thể cảm nhận hết được những bức xúc, đau xót của người dân địa phương trước việc hàng loạt quan chức tại tỉnh này được “ban phát” đất vô tội vạ.
Những cán bộ ấy, là những người đứng đầu Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên - môi trường, Chi cục Kiểm lâm, cán bộ UBND tỉnh... đáng lẽ phải tự cảm thấy xấu hổ và phải chịu trách nhiệm khi những cánh rừng tự nhiên mà mình quản lý ngày càng teo tóp lại.
Nhưng không, bằng những lá đơn “đi đêm”, bằng chính hiểu biết về lĩnh vực mình quản lý, các cán bộ này đã “luồn lách” để nhận về cho mình hoặc để vợ, con, người nhà đứng tên... mỗi người 5ha, người 10ha, thậm chí có người tới vài chục hecta đất rừng.
Khi các cán bộ này giành về cho mình hàng chục hecta đất thì cũng đồng nghĩa những người dân khó khăn mất đi cơ hội có đất để sản xuất.
Dù tiêu chuẩn mỗi hộ dân nếu được cấp xét cũng chỉ rất nhỏ (chỉ từ 0,5-1ha) nhưng tới nay, Bình Phước vẫn đang “đau đầu” không biết tìm đâu ra hơn 6.100ha đất cho khoảng 8.000 hộ dân đang thiếu đất (theo số liệu báo cáo tới tháng 7-2014 của Thanh tra tỉnh Bình Phước).
Trong khi đó, ai cũng thấy có một sự xung đột lợi ích rất rõ khi chính những cán bộ được “ban phát” đất rừng lại là những người trực tiếp quản lý, có thẩm quyền và tham mưu về quản lý rừng. Theo quy định, chỉ có rừng nghèo kiệt mới được chuyển đổi để trồng cao su.
Nhưng trước khi bị xem là “nghèo kiệt” để hợp thức hóa thì rất nhiều cánh rừng tự nhiên, do phá rừng và sự quản lý, chăm sóc không tốt, mới trở nên nghèo kiệt.
Thẩm quyền quy hoạch các loại rừng ở từng địa phương hiện nay được giao cho HĐND cấp tỉnh, mà các cơ quan lập tờ trình, tham mưu... không ai khác chính là các cán bộ của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên - môi trường và UBND tỉnh.
Một khi việc “ban phát” đất rừng cho cán bộ để trồng cao su có thể dễ dàng như vậy ở Bình Phước thì người dân có thể đặt dấu hỏi về sự khách quan của các cơ quan tham mưu này trong việc lập quy hoạch, báo cáo để chuyển đất rừng tự nhiên sang trồng cao su?
Dù câu trả lời là gì thì có một sự thật là diện tích rừng tự nhiên tại Bình Phước đang giảm một cách trầm trọng. Chỉ trong vòng 10 năm, diện tích rừng tự nhiên của Bình Phước đã giảm hơn một nửa; từ 127.800ha (năm 2002) còn 58.600ha (năm 2013).
Thế mà sắp tới người ta còn tiếp tục lấy 2.000ha trong số 3.100ha rừng tự nhiên còn lại để giao cho Công ty cao su Sông Bé trồng cao su.
Đã đến lúc phải chấm dứt ngay việc dùng đất rừng như một món quà đi “ban phát”. Các cơ quan xây dựng pháp luật cần có các văn bản quy định chặt chẽ hơn về đối tượng, tiêu chí, thủ tục... cho thuê đất rừng, tránh tình trạng để các cán bộ lợi dụng “chia chác” đất rừng như vừa qua.
Đồng thời, phải có cơ chế giám sát để việc quy hoạch, chuyển đổi các loại đất rừng không làm thất thoát, “chảy máu” tài nguyên của đất nước.
Hơn lúc nào hết, với vụ việc cụ thể ở Bình Phước, các cơ quan liên quan cần nhanh chóng vào cuộc xác định đúng - sai, xử lý trách nhiệm, thu hồi diện tích đất cho thuê sai và có thể dừng các dự án chuyển đổi đất rừng sang trồng cao su không hợp lý để giữ lại cho con cháu những diện tích rừng tự nhiên còn sót lại. (Tuổi Trẻ 31/10, tr5) đầu trang(
Vừa qua, Báo Thanh tra đã đăng các bài phản ánh liên quan đến khiếu nại tranh chấp đất rừng giữa một số hộ dân ở xã Đắk Ngo, huyện Tuy Đức và các Cty: TNHH Sản xuất - Thương mại Hoàng Thiên (Cty Hoàng Thiên), TNHH Hoàng Khang Thịnh (Cty Hoàng Khang Thịnh).
Để giải quyết vụ việc, vừa qua, ông Nguyễn Đức Luyện, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông đã chủ trì cùng các ngành, địa phương liên quan tổ chức tiếp các hộ dân có đất rừng tranh chấp với các Cty trên địa bàn xã Đắk Ngo liên quan đến 2 nhóm vấn đề chính là: Đất ở, đất sản xuất và việc các doanh nghiệp tự ý chặt phá cây trồng, nhà cửa của các hộ dân nằm ngoài diện tích đất cưỡng chế của đoàn thực hiện Chỉ thị số 12.
Lãnh đạo UBND tỉnh Đắk Nông đã lắng nghe ý kiến của các hộ dân như: Hộ ông Mã Xuân Sở và bà Mai Thị Hồng, hộ ông Đặng Minh Thầu, hộ bà Thị Loan, hộ bà Mai Thị Chỉ, hộ bà Nguyễn Thị Xuyến, có diện tích tranh chấp đất với Cty Hoàng Thiên và Cty Hoàng Khang Thịnh. Đồng thời, nghe các ý kiến phát biểu của đại diện Công an tỉnh, UBND huyện Tuy Đức.
Ghi nhận các nội dung ý kiến của các hộ dân và các cơ quan liên quan tại buổi tiếp dân, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông Nguyễn Đức Luyện khẳng định: UBND tỉnh không chỉ đạo các Cty cưỡng chế, giải tỏa, khi Cty tự ý cưỡng chế giải tỏa thì Cty phải bồi thường mọi thiệt hại cho các hộ dân do mình tự ý gây ra. Việc này UBND tỉnh đã chỉ đạo Công an tỉnh điều tra, xác minh làm rõ và Công an tỉnh đã có báo cáo kết quả điều tra, xác minh nhưng chưa cụ thể, rõ ràng…
Để giải quyết vụ việc, UBND tỉnh giao Công an tỉnh tăng cường lực lượng chủ động phối hợp với các hộ dân, UBND xã Đắk Ngo, Cty TNHH MTV Lâm Nghiệp Quảng Tín, các doanh nghiệp (Cty Hoàng Thiên, Cty Hoàng Khang Thịnh), UBND huyện Tuy Đức để khẩn trương hoàn thành việc điều tra, xác minh xác định cụ thể diện tích bị chặt phá cây trồng của các hộ dân (trong cưỡng chế giải tỏa, ngoài cưỡng chế giải tỏa); nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất đai của từng hộ dân; vị trí, tọa độ; làm rõ tài sản bị thiệt hại trên đất. Đồng thời, phải phối hợp với Đoàn 12 và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để cung cấp các thông tin liên quan đến cưỡng chế giải tỏa của các hộ dân, thời gian hoàn thành trong tháng 10/2014.
Sau khi có kết luận của Công an tỉnh xác định ai sai thì sẽ xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông giao UBND huyện Tuy Đức lập phương án bồi thường, hỗ trợ thiệt hại cho các hộ dân, trong đó đề xuất cụ thể mức hỗ trợ bồi thường cho các hộ dân, hoàn thành trong tháng 11/2014; giao UBND huyện Tuy Đức rà soát điều kiện cuộc sống hiện nay của các hộ dân, đề xuất UBND tỉnh hỗ trợ cho các hộ dân thực sự đang khó khăn để ổn định cuộc sống. Việc chỉ đạo giải quyết các nội dung nêu trên của các hộ dân đã được UBND tỉnh chỉ đạo cụ thể tại Thông báo 89/TB-UBND ngày 16/9/2014 và Thông báo số 83/TB-UBND ngày 3/9/2014.
Ông Nguyễn Đức Luyện cũng giao Công an tỉnh có văn bản đề xuất UBND tỉnh cử cán bộ của các sở, ngành có liên quan tham gia phối hợp với Công an tỉnh để điều tra, xác minh các nội dung trên. (Thanh Tra 2/11) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 1976/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Theo quy hoạch, đến năm 2020, đưa diện tích hệ thống rừng đặc dụng hiện có từ 2,2 triệu ha lên 2,4 triệu ha, phù hợp với mục tiêu Chiến lược quản lý hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030 tại Quyết định số 218/QĐ-TTg ngày 7/2/2014 của Thủ tướng Chính phủ.
Quy hoạch đặt ra mục tiêu rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng theo tiêu chí quy định tại Điều 5 Nghị định số 117/2010/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng; hoàn thành xác định ranh giới, cắm mốc các phân khu chức năng và vùng đệm của các khu rừng đặc dụng; phân định rõ ràng diện tích đất quy hoạch cho các mục đích khác với diện tích quy hoạch cho hệ thống rừng đặc dụng nhằm phát triển hài hòa công tác bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và bảo tồn các loài sinh vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm.
Nội dung quy hoạch bao gồm rà soát, điều chỉnh quy hoạch đối với 164 khu rừng đặc dụng phù hợp với kết quả rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng theo Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; thống nhất với phân hạng các khu rừng đáp ứng tiêu chí theo quy định; hoàn thiện hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020 đạt 2,4 triệu ha, bao gồm 176 khu: 34 Vườn quốc gia, 58 Khu bảo tồn thiên nhiên, 14 Khu bảo tồn loài/sinh cảnh, 61 Khu bảo vệ cảnh quan và các Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học.
Vùng Tây Bắc sẽ bảo vệ các hệ sinh thái rừng vùng núi thấp và trung bình, các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm trong các khu rừng đặc dụng với tổng diện tích khoảng 222.000ha trong đó thành lập mới khu bảo tồn thiên nhiên Mường La với diện tích khoảng 17.000ha, nhằm bảo tồn hệ sinh thái rừng và đa dạng sinh học, bảo vệ lưu vực cho thủy điện Sơn La.
Vùng Đông Bắc bảo vệ vùng sinh thái chuyển tiếp từ thềm lục địa ven biển, qua đồng bằng, đồi núi thấp tới núi trung bình và núi cao. Bảo tồn hệ sinh thái rừng gắn với những địa danh nổi tiếng như vịnh Hạ Long, núi Tam Đảo, hồ Ba Bể, dãy núi Hoàng Liên Sơn-Sa Pa và nhiều loài động, thực vật quý hiếm, đặc hữu với tổng diện tích khoảng 400.000 ha.
Vùng đồng bằng sông Hồng bảo vệ các hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi gắn với các loài quý hiếm; bảo tồn các hệ sinh thái rừng gắn vớỉ hệ sinh thái đất ngập nước, các khu rừng gắn liền với di tích lịch sử, văn hóa, cảnh quan môi trường ở Hà Nội, Ninh Bình, Hải Dương và Nam Định với tổng diện tích khoảng 65.000ha. (VietnamPlus 1/11) đầu trang(
Sau hơn 2 năm thành lập (từ tháng 8-2012 đến tháng 10-2014, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) tỉnh đã tiến hành rà soát các chủ rừng và diện tích rừng trong lưu vực Nhà máy Thủy điện Cửa Đạt (huyện Thường Xuân) chi trả cho 1.203 chủ rừng (43.274,95 ha), đơn giá chi trả bình quân đạt 70.000 đồng/ha/năm.
Diện tích rừng trong lưu vực Nhà máy Thủy điện Sông Mực (huyện Như Xuân và Như Thanh) là 18.187 ha; lưu vực Nhà máy Thủy điện Bá Thước 2 (các huyện: Bá Thước, Quan Hóa, Quan Sơn và Mường Lát) là 249.000 ha. Tính riêng 10 tháng năm 2014, Quỹ BV&PTR tỉnh đã thu được 5 tỷ đồng/tổng kế hoạch thu tiền ủy thác chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh năm 2014 là 9 tỷ 670 triệu đồng.
Tuy nhiên, việc triển khai chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh còn một số bất cập, như: Công tác rà soát lưu vực và chủ rừng cụ thể để chi trả DVMTR gặp khó khăn; quy định về phương thức chi trả theo từng lưu vực của từng nhà máy thủy điện đã tạo ra sự chênh lệch lớn về mức chi trả cho 1 héc-ta rừng giữa các lưu vực.
Cụ thể như đơn giá chi trả bình quân cho diện tích rừng trong lưu vực Nhà máy Thủy điện Sông Mực và Nhà máy Thủy điện Bá Thước 2 chỉ từ 4-5 ngàn đồng/ha/năm (thấp hơn khoảng 65.000 đồng/ha/năm so với diện tích rừng trong lưu vực Nhà máy Thủy điện Cửa Đạt). (Báo Thanh Hóa 3/11) đầu trang(
“Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là công cụ để thực hiện quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân tộc thiểu số trong bảo vệ rừng” - đó là ý kiến của nhiều chuyên gia tại hội thảo “Chia sẻ kinh nghiệm về quyền và trách nhiệm của cộng đồng dân tộc thiểu số trong quản lý rừng tự nhiên” vừa được tổ chức.
Trước đây ở nhiều địa phương, dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) được chi trả mang tính ước lượng, vì vậy chưa phát huy nhiều hiệu quả. Khi Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách chi trả DVMTR có hiệu lực và đi vào cuộc sống, nhiều địa phương đã đạt được một số kết quả.
Theo Trung tâm Nghiên cứu rừng và đất ngập nước: Trong 3 năm 2011 - 2013 tổng số tiền DVMTR thu được là hơn 3.016 tỉ đồng. Tổng diện tích rừng đã được chi tiền DVMTR để bảo vệ là 4.180.486ha.
Tổng số hộ dân tham gia bảo vệ rừng và nhận tiền chi trả DVMTR là 375.991 hộ, trong đó có 63.653 hộ chủ rừng, 127.496 hộ nhận khoán và 2.640 nhóm hộ nhận khoán. Như vậy, số tiền chi trả DVMTR bình quân một hộ được 12.000.000đ/hộ/năm.
Qua khảo sát tại khu vực đồng bào Cơ Tu (Mà Cooih, Đông Giang, tỉnh Quảng Nam) - những nơi này có tỉ lệ hộ nghèo rất cao (trên 80%) như Trờ Gung, A Zớ. Các hộ tham gia bảo vệ rừng, ngoài tiền chi trả DVMTR, họ còn được khai thác các lâm sản ngoài gỗ để tăng thu nhập.
Chính sách chi trả DVMTR đã giúp họ gắn bó với rừng. Trước đây khi khoán rừng, bản thân các hộ được khoán không biết rừng ở đâu. Thực hiện dự án, các hộ dân đã tổ chức thành nhóm hộ để cùng nhau đi tuần tra rừng. Trung bình mức chi trả DVMTR là 280.000đ/ha/năm, bình quân mỗi hộ nhận được 5.600.000đ/hộ/năm (tương đương 460.000đ/tháng).
Số liệu của Quỹ Bảo vệ phát triển rừng tỉnh Quảng Nam sau 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh đã có 178.000ha rừng tự nhiên được bảo vệ, 15.911 hộ dân đã ký hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng và được nhận tiền chi trả DVMTR. Tổng số tiền chi trả cho các hộ là 35 tỉ đồng.
Trước đây, người dân thuộc huyện Đông Giang (tỉnh Quảng Nam) chưa có ý thức bảo vệ rừng, vẫn còn hiện tượng chặt phá rừng bừa bãi.
Ông Lê Văn Theo - Phó Chủ nhiệm CLB thôn A Réh (Tà Lu, Đông Giang, tỉnh Quảng Nam) - chia sẻ: “Qua dự án, nhận thức của người dân đã nâng lên. Hầu hết các hộ dân đều mong muốn nhận DVMTR (khoảng 300.000đ/hộ) để duy trì hoạt động phổ biến kiến thức cho nhân dân, đồng thời nâng cao thu nhập của người dân trên địa bàn có rừng”.
Theo tính toán của ông Nguyễn Xuân Hiền - Trưởng phòng Kinh tế UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế: 2 huyện là Phong Điền và Nam Đông tham gia dự án, kết quả thu được sau 3 năm là không còn tình trạng phá rừng làm rẫy. Tỉnh Thừa Thiên - Huế đã giao 28.000ha rừng. Tham gia hoạt động trong rừng, người dân có được 100.000đ/ngày cùng với một số nguồn lợi từ rừng nên họ rất tích cực. (Lao Động 31/10) đầu trang(
Bộ NNPTNT vừa ra quyết định tiến hành cổ phần hóa đồng thời Công ty mẹ và các Công ty con của Tổng Cty Lâm Nghiệp VN.
Theo đó Cty mẹ Tổng Cty Lâm nghiệp VN – TNHH MTV có trụ sở chính tại số 127 phố Lò Đúc, phường Đông Mác, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội và các Công ty con là Cty TNHH MTV do Công ty mẹ - Tổng Cty Lâm nghiệp VN làm chủ sở hữu 100% vốn điều lệ.
Thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp của Cty mẹ và Cty con là 31/12. (Nông Nghiệp Việt Nam 3/11, tr2) đầu trang(
Trong những năm gần đây, ở Tây Nguyên, nhiều người dân đã và đang hình thành thú chơi đồ gỗ mỹ nghệ làm từ gốc cây rừng quý, với các mặt hàng bàn, ghế, tượng, tranh...
Điều này đã và đang tạo thành cơn sốt về giá cho các loại gốc cây có chất liệu quý, cổ thụ, kiểu dáng lạ, độc đáo... Thực trạng này đã và đang làm cho nạn phá rừng càng diễn biến phức tạp.
Theo tìm hiểu của PV, hiện giá bán một gốc gỗ hương có đường kính 1 m hơn 20 triệu đồng. Gốc cây cẩm lai hay cà te thì giá còn cao hơn nhiều lần. Đó là chưa kể đến những gốc cây có tư thế, kiểu dáng đẹp, cổ, độc đáo. Đối tượng mua loại gốc cây này thường là những bậc "đại gia", "trung gia"... đam mê đồ gỗ từ các tỉnh thành trong cả nước. Cũng chính vì giá cao, lợi nhuận lớn nên có khá nhiều người tham gia khai thác, lưu thông, khiến thị trường buôn bán gốc cây rừng trở nên náo nhiệt và sôi động hơn bao giờ hết.
Anh T., một chủ cơ sở buôn bán gốc cây mỹ nghệ đường Phan Bội Châu, TP Buôn Ma Thuột (Đắc Lắc) chia sẻ: "Hiện nay, ở Tây Nguyên nói chung và Đắc Lắc nói riêng những gốc cây quý có giá cao lắm, có bộ gốc rễ có giá hàng chục triệu đồng, thậm chí có nhiều gốc cây quý như thủy tùng, trắc, cẩm... có giá lên tới hàng trăm triệu đồng, tính bằng ki-lô-gam.
Đa phần những loại gốc cây to có thế đẹp này là bán cho các "đại gia" nhiều tiền, chứ dân thường lấy tiền đâu?". Hỏi thêm về nguồn gốc của những gốc cây này ở đâu mà nhiều thế, anh T. tiết lộ: "Dĩ nhiên là mua lại của những người chuyên vào các khu rừng sâu ở Ea Súp, Ea H'leo, Krông Năng... đào về bán rồi. Thường thì họ đi thành tốp khoảng 5 người. Trước đây chúng tôi còn mua được rẻ một chút chứ bây giờ phải mua giá cao hơn, nếu không họ sẽ bán cho người khác là mất mối ngay".
Những gốc cây rừng này sau khi mua về, ngoài việc chế tác những bộ bàn ghế, tủ gỗ, những cặp lục bình..., thì còn tùy vào sở thích họ sẽ thuê những người thợ đục ra các sản phẩm như: Cóc ngậm tiền xu, tượng Di lặc, tượng Phúc Lộc Thọ, tượng sư tử, tượng rồng, tượng ngũ long tranh châu... tùy theo tư thế, kiểu dáng khác nhau.
Quan sát tại cơ sở chuyên đục tượng gỗ ở đường Phạm Văn Đồng (Buôn Ma Thuột), PV thấy có khoảng vài chục gốc cây đủ loại như thủy tùng, cẩm, hương, cà te,... được khách hàng chở đến, có người yêu cầu chế tác tượng Phật Di Lặc, tượng nàng tiên cá, tượng Quan Công, tượng Quan Âm...
"Một bức tượng Di Lặc cao 1m rộng 60 cm bằng gỗ cẩm lai do khách đem đến, một người đục mất khoảng 50 đến 60 ngày với giá tiền công khoảng 20 triệu đồng. Bộ 3 tượng Phúc Lộc Thọ bằng gỗ hương (cao 80cm rộng 40cm) cũng phải làm với giá tiền công khoảng 16 triệu đồng... Tùy theo độ khó của hoa văn, sự quý hiếm của chất liệu gỗ, công lao động và mức độ "chịu chơi" của khách hàng mà các cơ sở đục tượng gỗ đưa ra giá của tác phẩm", anh Bình cho biết.
Để thỏa mãn thú chơi, nhiều người sẵn sàng chi vài trăm triệu đồng để sở hữu những món đồ gỗ được cho là độc nhất vô nhị. Anh Việt, một người ở Buôn Ma Thuột tìm mua một bộ bàn ghế bằng gốc gỗ hương cho biết: "Thú chơi đồ gỗ nghệ thuật không chỉ "ngấm vào máu" những người như chúng tôi mà khi được bài trí trong nhà tôi cảm thấy chúng có vẻ đẹp bí ẩn và tạo được cảm giác thiền tĩnh lặng, sâu lắng. Mặc dù giá có đắt đôi chút nhưng nếu ưng ý thì tôi vẫn mua".
Đến với Tây Nguyên, ở bất cứ địa phương nào chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp những điểm bán các đồ mỹ nghệ làm từ gốc rễ cây rừng với những tư thế, kiểu dáng khác nhau. Những sản phẩm này có giá từ vài trăm ngàn đồng cho đến hàng trăm triệu đồng, tùy theo chủng loại, kích thước, kiểu dáng của sản phẩm.
Tuy nhiên nó vẫn đang rất "hút hàng". Cầu cao nên cung càng cao, việc tìm và khai thác những gốc cây gỗ quý lại tiếp tục diễn ra. Điều đáng nói là vịn vào lý do đào gốc trên nương rẫy, vườn nhà... nhiều người đã lách được luật, kéo theo một lượng người tham gia đông đảo. Cứ nhìn vào kích cỡ của những gốc, rễ cây được đưa về các cơ sở chế tác, đủ biết "nghề" tìm kiếm, khai thác và chế tác gốc, rễ cây đã xâm hại đến rừng như thế nào. (Công An TP Đà Nẵng 1/11) đầu trang(
Rừng ven biển khu vực đồng bằng sông Cửu Long nhiều năm qua, bị suy giảm nghiêm trọng do các nguyên nhân khác nhau; trong đó, người dân chặt phá lấy đất phục vụ sản xuất nông nghiệp, biển xâm thực vào sâu đất liền đã làm nhiều mảng xanh mất đi.
Nhờ các dự án quốc tế hỗ trợ phát triển rừng, nên nhiều mảng xanh ven biển đang dần được phục hồi. Người dân đang đóng vai trò chủ đạo trong việc trồng rừng, chống xói lở do nước biển dâng…
Đến huyện Cù Lao Dung tỉnh Sóc Trăng nằm cuối con sông Hậu với mênh mông nước ra biển, cảm nhận ngay một màu xanh của mía, rau màu bạt ngàn từ đầu đến cuối cù lao. Với diện tích tự nhiên hơn 11.000 ha, huyện cù lao này rất tươi tốt cây trái quanh năm, nhưng cũng đang phải hứng chịu cảnh ngập úng mỗi khi nước thủy triều dâng cao, lũ đầu nguồn đổ về lớn. Trong đợt triều cường giữa tháng 10 vừa qua, người dân nơi đây bị thiệt hại tài sản, hoa màu hơn 9 tỷ đồng do đê bao bị vỡ, nước tràn vào nhà, ruộng đồng gây ngập úng.
Trao đổi với PV về sự biến đổi khí hậu gây thiệt hại lớn cho người dân ven biển, ông Hồ Thanh Kiệt, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Cù Lao Dung cho biết, trên địa bàn huyện đang có mô hình “Đồng quản lý” rừng rất hay, đã phần nào làm giảm thiệt hại do thiên tai.
Tò mò về mô hình “Đồng quản lý” được tổ chức thế nào, PV đã tìm về xã An Thạnh Nam để tìm hiểu. Nằm ở phía Nam của Cù Lao Dung, tiếp giáp với biển Đông, khu rừng ngập mặn ven biển rộng khoảng 600ha này đang được chính quyền địa phương, lực lượng kiểm lâm và bà con nơi đây bảo vệ rất tốt. Cánh rừng xanh mát chủ yếu là cây mắm, vẹt, bần… tạo một mảnh xanh lớn mà đứng trên đê bối cao hơn mặt ruộng vài mét cũng không thấy bờ biển đâu.
Dẫn PV đi thăm cánh rừng theo mô hình “Đồng quản lý”, anh Thạch Sơn, Nhóm trưởng Nhóm Đồng quản lý chia sẻ với chúng tôi về cách làm việc của nhóm. Anh Sơn cho biết, nhóm mới thành lập khoảng 3 năm nay, nhưng xuất phát ban đầu là tổ chức GIZ của Cộng hòa Liên bang Đức tài trợ cho người dân trồng rừng, phát triển sinh kế ngay dưới tán rừng, nên việc chặt phá rừng đã được giải quyết triệt để.
Sau khi hoàn thành dự án họ bàn giao lại cho chính quyền địa phương tiếp tục quản lý, phát triển rừng, nhưng lại bị tái xâm hại. Năm 2013, chính quyền địa phương, người dân nơi đây đã lập một bản quy chế “Đồng quản lý” rừng ngập mặn ven biển, từ đó rừng phát triển trở lại nhờ có sự chăm sóc bảo vệ của người dân.
Theo anh Thạch Sơn, quy chế chỉ là để phân định trách nhiệm và thẩm quyền của các tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ rừng, cái chính vẫn là ý thức của người dân. Anh Sơn cũng là một trong 200 hộ dân sống trong phạm vi rừng ngập mặn này, nghề nghiệp chủ yếu là làm nông nghiệp và đánh bắt gần bờ. Nhóm của anh Sơn có gần 10 người vừa làm nghề đánh bắt ba khía, cua dưới tán rừng ngập mặn, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ, cảnh giới người lạ từ nơi khác vào rừng khai thác thủy sản, đốn cây rừng.
Theo quy chế “Đồng quản lý”, toàn bộ diện tích rừng ven biển này được chia ra làm 4 khu khác nhau như: khu phòng hộ (cấm tất cả các hoạt động, trừ tuần tra), các khu phục hồi bên trong rừng, khu phục hồi bên ngoài rừng và khu sử dụng bền vững chỉ thành viên của nhóm mới được đánh bắt theo quy định.
Từ việc thấy sự cần thiết của rừng phòng hộ ven biển quan trọng với cuộc sống người dân đến mức nào, chính quyền địa phương đã tìm ra cách quản lý và tạo điều kiện cho người dân có cuộc sống ổn định ngay dưới tán rừng là cách làm hiệu quả ở đây.
Theo Vụ Phát triển rừng (Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), hiện cả nước chỉ còn khoảng 166.000 ha rừng ngập mặn, phòng hộ ven biển, giảm 60% diện tích so với cách đây 70 năm. Nguyên nhân khiến rừng suy giảm nhanh chóng, một phần là do người dân chặt phá làm đầm nuôi tôm tự phát, nuôi tôm quảng canh, sinh thái. Một trong những nguyên nhân khác nữa là chuyển mục đích hợp pháp sang nuôi trồng thủy sản, sản xuất nông nghiệp, xây dựng đê bao, cảng biển…
Chiếm 80% diện tích rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển là thuộc về vùng đồng bằng sông Cửu Long, nó giữ vai trò rất quan trọng đối với đời sống cư dân đồng bằng nơi đây. Nhận thức thấy tác hại của sự biến đổi khí hậu gây xâm nhập mặn, ngập úng, xói lở bờ biển, người dân đang dần có ý thức bảo vệ và phát triển rừng.
Trong chuyến công tác mới đây, PV được tiếp xúc với người dân và một vài thành viên của Tổ chức Hợp tác phát triển Đức (GIZ) ở ấp Vàm Rầy, xã Bình Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang . Cũng giống như cách làm của mô hình bảo vệ và phát triển rừng ở Cù Lao Dung, diện tích mô hình ở ấp Vàm Rầy chỉ gần 4 ha, nhưng nó có vai trò rất lớn cho việc ngăn sóng, chống xói lở bờ biển, bảo vệ hàng trăm hộ dân sống ngay trong thân đê bối mỏng manh.
Theo ông Nguyễn Thanh Bình, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang, hiện trên địa bàn tỉnh có khoảng hơn 5.000 ha rừng ngập mặn trải dài dọc tuyến bờ biển trên 200km của tỉnh. Những năm qua, do sự xâm thực của biển, nhiều diện tích rừng mỏng ven bờ đã bị mất, gây xói lở nghiêm trọng cho bờ, nhiều nơi biển xâm lấn đất liền đến 25m mỗi năm.
Tỉnh đang có kế hoạch bảo vệ và phát triển diện tích rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển lên gấp đôi vào năm 2020. Trước mắt tỉnh đã tiến hành rà soát lại đất đai, quy hoạch và tiến hành trồng rừng, đặc biệt là cùng với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, tỉnh sẽ hỗ trợ người dân phát triển sinh kế, bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn ven biển nhiều hơn nữa.
Tuyến đê biển Tây thuộc huyện U Minh, tỉnh Cà Mau vài năm trở lại đây, sóng biển đã tàn phá hàng chục ha rừng ngập mặn, dẫn đến sạt lở bờ biển nghiêm trọng. Hiện Trung ương đang đầu tư các tuyến kè bê tông ly tâm, nhằm tạo bãi bồi để tái tạo rừng, nhưng do thiếu vốn nên thi công chậm, trong khi sóng biển tấn công ngày một dữ dội, làm cho hàng trăm ha đất đai, nhà cửa của người dân nơi đây bị trôi ra biển.
Giải pháp công trình và phi công trình nhằm tạo bãi bồi để trồng rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển đang được tỉnh Cà Mau triển khai. Đi cùng với đó là việc vận động người dân bảo vệ và trồng rừng ngay trong phạm vi khu vực sinh sống để giữ đất, chống sóng biển tàn phá.
Ông Đào Văn Sự, Phó Chánh Văn phòng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng chia sẻ, hiện tỉnh chỉ còn 6.000 ha rừng ngập mặn, phòng hộ ven biển. Lãnh đạo ngành nông nghiệp Sóc Trăng rất muốn nhân rộng mô hình “Đồng quản lý” rừng ở huyện Cù Lao Dung ra toàn tỉnh để phấn đấu đến 2020, toàn tỉnh sẽ có hơn 10.000 ha rừng ngập mặn bảo vệ đất nông nghiệp và cuộc sống người dân.
Ông Phan Huy Thông, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia cho biết: Trong chiến lược phát triển lâm nghiệp, ứng phó với biến đổi khí hậu, dự kiến cả nước phát triển diện tích rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển, chống cát bay đạt 330.000 ha vào năm 2015 và 500.000 ha vào năm 2025. Để hiện thực hóa được kế hoạch này rất cần nhân rộng các mô hình bảo vệ và phát triển rừng như ở Cù Lao Dung (Sóc Trăng). (Tin Môi Trường 31/10) đầu trang(
Thời gian gần đây, nhiều người rỉ tai nhau về một loại tinh dầu quý hiếm vừa có thể dùng ướp xác, lại có khả năng chữa bệnh và làm đẹp. Tuy nhiên, qua các đầu nậu mua đi bán lại, loại tinh dầu này đã bị pha trộn vô tội vạ.
Tinh dầu ngọc am được chiết xuất từ gỗ ngọc am - loại cây thuộc bộ thông, họ hoàng đàn, mùi rất thơm. Loại cây này sống nhiều ở rừng Hoàng Su Phì (Hà Giang). Hiện chưa có bất cứ một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nào về công dụng thực sự của gỗ và tinh dầu ngọc am.
Tuy nhiên qua đồn thổi, tinh dầu ngọc am bỗng dưng trở thành “thần dược” để ướp xác và làm đẹp. Đó cũng là nguyên nhân khiến gỗ ngọc am bị săn lùng ráo riết, thị trường tinh dầu ngọc am cũng “dậy sóng”. Người viết bài này đã từng nhiều lần tiếp xúc với dân buôn gỗ ngọc am ở tỉnh Hà Giang. Hầu hết đều cho rằng, ngọc am là loại gỗ quý đứng số 1, trên cả sưa đỏ. Tuy nhiên, loại gỗ này chỉ còn sót lại ở một số khu rừng của huyện Hoàng Su Phì nên việc buôn bán không hề dễ dàng.
PV đã 2 lần đến Hoàng Su Phì và được “mục sở thị” những khúc gỗ khô sần sùi được xếp đống trong một căn phòng nhỏ tại trụ sở xã Tả Sử Choóng. Số gỗ ngọc am này, theo lời của ông Lù Văn Tuấn – Phó trưởng Công an xã là “thu giữ được từ những người dân vào rừng khai thác trái phép”.
Có một thực tế là thời gian vừa qua, do dân buôn gỗ săn lùng gỗ ngọc am nên người dân ở huyện Hoàng Su Phì đã tranh thủ vào rừng kiếm gỗ. Họ dùng những chiếc thuốn dài nhọn bằng sắt để đâm xuống đất. Khi rút lên, nếu đầu thuốn có mùi thơm tức là dưới đất có gỗ ngọc am, họ sẽ hò nhau đào bới lấy gỗ đem bán.
Gỗ ngọc am được một đầu nậu tên Ch ở ngay trung tâm xã Tả Sử Choóng thu gom, chuyển ra thị trấn Vinh Quang bán với giá cao hơn cho một dân buôn chuyên nghiệp. Theo Ch, mấy năm trước gỗ ngọc am được mua chỉ để làm tượng hoặc tạc hình những con vật bày trong nhà với quan niệm dùng để xua đuổi tà ma, ám khí.
Nhưng bây giờ, những khối gỗ lớn mới được giữ lại, còn gỗ nhỏ sẽ đem chiết xuất lấy tinh dầu. Được sự giới thiệu của T, một tay buôn và chiết xuất tinh dầu ngọc am có tiếng ở thị trấn Vinh Quang, PV xuôi về huyện Chiêm Hóa (Tuyên Quang) tìm một đầu nậu gỗ ngọc am được xem là lớn nhất nhì tỉnh.
Không khó lắm để PV tìm ra nhà của ông Nguyễn V, ở gần ngay cầu thị trấn Chiêm Hóa đi Na Hang. Vừa vào nhà, mùi thơm của gỗ ngọc am đã ngào ngạt. Những bộ bàn ghế rồng phượng được làm từ gỗ ngọc am nghe nói có giá tiền tỷ trưng bày ngay trong phòng khách.
Ông V cho hay: “Tôi là người tìm gỗ ngọc am lâu đời nhất ở Tuyên Quang. Người ta cứ nói ngọc am chỉ có ở Hoàng Su Phì là sai lầm. Ở Tuyên Quang cũng có, vấn đề là có duyên tìm thấy và có gan đi tìm hay không mà thôi”. Được biết, ông V đã truy tìm ngọc am dưới đáy sông Gâm từ những năm 1990, khi đó ngọc am chưa được biết đến nhiều.
Thời gian đó, ông V cũng chỉ dùng ngọc am để đóng bàn ghế và tượng thần tài chứ không bao giờ nghĩ sẽ chiết xuất tinh dầu. Chỉ từ đầu năm 2012 đến nay, khi nhiều khách hàng ngỏ ý muốn mua tinh dầu thì ông V mới làm theo đơn đặt hàng. Ông V không sành chiết xuất tinh dầu nên một số đầu nậu chuyển hàng từ Hà Giang xuống cho ông bán kiếm lời.
Thời điểm giáp Tết, tinh dầu ngọc am được tiêu thụ mạnh và giá bán cũng rất cao. Theo ông V, giá thị trường hiện nay là 2 triệu đồng/1 lít tinh dầu ngọc am. Đó là giá bán tận gốc, còn nếu đưa xuống các thành phố lớn hoặc ra nước ngoài, giá sẽ được “thổi” lên cao gấp nhiều lần.
Khi đề cập đến việc mua tinh dầu ngọc am ở Hoàng Su Phì dễ hơn mua rau, ông V nói thẳng: “Đừng mơ mua được tinh dầu thật, đấy là rởm thôi, tinh dầu thật cậu biết bao nhiêu 1 lít không, và cậu có biết nó dùng để làm gì không?”.
Theo giải thích của ông V, các đầu nậu chiết xuất tinh dầu ở Hà Giang cũng giống cách của ông V, tức là, phần gỗ tạp được dùng để lấy tinh dầu. Nhưng dầu ngọc am không được nhiều nên đầu nậu nghĩ cách làm giả, dùng tinh dầu thông và pơ mu trộn với một lượng nhỏ ngọc am rồi đem bán.
“Dân nhà giàu mua tinh dầu ngọc am chỉ với 2 mục đích: ướp xác và làm đẹp. Họ mua tinh dầu về hòa với nước ấm rồi ngâm mình trong đó để diệt khuẩn và đem lại mùi thơm lâu dài. Tôi đã từng thử và cũng thấy công hiệu, tôi còn phát hiện ra dầu ngọc am có khả năng chữa thấp khớp và giải rượu rất tốt, chỉ 10 phút sau khi uống một giọt tinh dầu thì rượu sẽ được giải hết. Vấn đề là phải dùng tinh dầu ngọc am thật 100%”, ông V khẳng định.
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam và Nhật Bản thì tinh dầu ngọc am có độc tố đối với tế bào, gây đông vón protein ở người và động thực vật. Cho nên gỗ và tinh dầu ngọc am chỉ thích hợp với việc bảo tồn tế bào, bảo tồn xác ướp theo kinh nghiệm của người xưa. Cần hết sức thận trọng khi tiếp xúc với loại tinh dầu này vì những mối nguy tiềm ẩn mà nó có thể gây ra. (An Ninh Thủ Đô 1/11, tr16) đầu trang(
Năm 2014, Kiểm lâm Thanh Hóa được UBND tỉnh giao kế hoạch trồng mới 2.525 ha rừng theo Quyết định 147/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Để hoàn thành sớm kế hoạch được giao, ngay từ đầu năm, 10 hạt kiểm lâm cấp huyện đã chủ động tuyên truyền, vận động người dân tích cực tham gia trồng rừng.
Đồng thời, khắc phục những khó khăn giao thông, địa bàn, chuẩn bị cây giống, khảo sát thực địa, phối hợp cùng cán bộ xã, thôn, bản hướng dẫn các hộ dân kỹ thuật trồng rừng.
Đến nay, các đơn vị đã trồng được 2.585 ha, đạt 102,3% kế hoạch giao. Trong đó, một số đơn vị làm tốt, như: Hạt Kiểm lâm Mường Lát, Lang Chánh, Thường Xuân, Như Xuân. Qua kiểm tra, nghiệm thu, tỷ lệ cây sống đạt hơn 85%. (Báo Thanh Hóa 31/10) đầu trang(
Nhằm nâng cao chất lượng các loại giống cây lâm nghiệp, giảm thiểu thiệt hại cho người dân trong trồng rừng kinh tế, từ giữa tháng 8/2014 đến nay huyện An Lão đã thành lập Đoàn công tác tiến hành kiểm tra tất cả các cơ sở, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp trên địa bàn huyện.
Toàn huyện hiện có 08 cơ sở và 01 hộ gia đình sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp, tăng 01 cơ sở so với năm 2013, tập trung tại các xã An Hòa, An Trung và thị trấn An Lão. Đến cuối tháng 10/2014, các cơ sở trên đã sản xuất và kinh doanh gần 5 triệu cây giống lâm nghiệp các loại, chủ yếu là cây keo lai giâm hom thuộc dòng BV10, BV16, BV32.
Qua kiểm tra thực tế, hầu hết các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp trên địa bàn huyện đều thực hiện tốt các quy định của Nhà nước và quy trình kỹ thuật sản xuất, kinh doanh các loại giống cây lâm nghiệp, chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp được nâng cao hơn trước.
Được biết, chuẩn bị vào thời điểm trồng rừng chính vụ, huyện An Lão đang chỉ đạo UBND các xã, thị trấn tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, ngăn chặn có hiệu quả việc mua bán các giống cây lâm nghiệp kém chất lượng trên địa bàn huyện. (Binhdinh.gov.vn 30/10) đầu trang(
UBND tỉnh vừa phê duyệt dự án trồng phục hồi rừng ngập mặn tại xã Tam Giang (Núi Thành) do UBND huyện Núi Thành làm chủ đầu tư, với tổng kinh phí gần 3,2 tỷ đồng.
Dự án được triển khai thực hiện năm 2014 - 2015 trên tổng diện tích hơn 27ha, trong đó gần 24ha đến trồng rừng và diện tích còn lại sẽ khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung.
Khi kết thúc dự án, Ban quản lý dự án Ứng phó với biến đổi khí hậu huyện Núi Thành bàn giao toàn bộ diện tích rừng trồng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung nêu trên để UBND huyện Núi Thành có kế hoạch chăm sóc và bảo vệ những năm tiếp theo. (Báo Quảng Nam 30/10) đầu trang(
Trong 4 năm (từ 2011 – 2014), khu vực miền núi trong tỉnh đã trồng mới hơn 37.633 ha rừng tập trung, bình quân hàng năm trồng mới gần 9.000 ha rừng tập trung và 1 triệu cây phân tán; khoanh nuôi tái sinh 30.000 ha rừng và bảo vệ 546.455 ha rừng.
Nâng độ che phủ của rừng từ 63,5% năm 2010 lên 67,34% năm 2013 và năm 2014 ước đạt 68,4%. Với những kết quả đạt được, cho thấy sản xuất lâm nghiệp ở miền núi đã có bước chuyển biến tích cực theo hướng xã hội hóa.
Người dân cơ bản đã thay đổi nhận thức, tập quán từ khai thác sang trồng mới, chăm sóc, khoanh nuôi và bảo vệ; gắn việc phát triển rừng phòng hộ với phát triển rừng kinh tế.
Nhờ vậy, hàng nghìn hộ dân tham gia sản xuất lâm nghiệp từng bước có thu nhập từ nghề rừng. Trong 4 năm, các địa phương miền núi đã khai thác, xuất bán 114,1 triệu cây tre, luồng; 222.000 tấn nguyên liệu giấy ngoài gỗ và 545.245 m3 gỗ. (Báo Thanh Hóa 30/10) đầu trang(
Sau khi Lâm trường Mộc Châu 3 giải thể, tháng 6 năm 2009 Công ty Lâm nghiệp Mộc Sơn được thành lập, trực thuộc Công ty Lâm nghiệp Tam Sơn (Phú Thọ), trụ sở đóng tại xã Nà Mường, huyện Mộc Châu.
Với mục tiêu định hướng phát triển lâu dài của ngành công nghiệp giấy Việt Nam trên vùng Tây Bắc, Công ty có quy mô quy hoạch hơn 5.000 ha; thực hiện nhiệm vụ đầu tư trồng mới, bảo vệ rừng và khai thác nguyên liệu giấy trên địa bàn 9 xã: Tân Hợp, Nà Mường, Quy Hướng, Tà Lại, Mường Men, Mường Tè, Quang Minh, Song Khủa, Liên Hòa thuộc hai huyện Mộc Châu và Vân Hồ.
Từ năm 2007 đến 2010, Công ty đã hợp đồng trực tiếp đến các hộ gia đình trồng 609,5 ha cây keo lai (keo tai tượng). Trong đó, 18,5 ha rừng trồng năm 2007; 191 ha năm 2008; năm 2009 và 2010 mỗi năm trồng 200 ha. Thế nhưng, đến tháng 4-2011, Tổng Công ty Giấy có quyết định tạm dừng đầu tư trồng rừng tại Công ty Lâm nghiệp Mộc Sơn.
Qua trao đổi, ông Hà Văn Đa, nguyên Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Mộc Sơn cho PV biết: Do các dự án trước đây không đem lại hiệu quả, việc triển khai trồng rừng nguyên liệu giấy gặp nhiều khó khăn; thu hồi đất và thủ tục làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quá phức tạp; Công ty không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để giao dịch với ngân hàng và không chủ động được đất trồng rừng.
Một số đất quy hoạch trồng rừng lại trùng vào đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của dân; đất quy hoạch vào vùng có địa hình quá cao so với mực nước biển, độ dốc quá lớn, có nơi cao hơn 800 m; khí hậu vùng Tây Bắc nắng nóng khô hạn không đủ lượng nước dự trữ để nuôi cây; thổ nhưỡng một số xã không phù hợp với cây keo tai tượng. Đặc biệt, cuối năm 2010, đầu năm 2011, rét đậm, rét hại kéo dài làm cây keo lai bị chết nhiều, hiệu quả thấp...
Công ty phá sản, người dân vùng dự án gặp không ít khó khăn. Ông Hà Văn Hậu, Chủ tịch UBND xã Nà Mường nói: Do quỹ đất của xã hạn hẹp, nên xã chỉ nhận quy hoạch trồng 20 ha và giao về cho các hộ gia đình đăng ký trồng. Hiện tại, diện tích trồng keo lai thuộc các bản Nà Mường 1, Nà Mường 2 và bản Đoàn Kết, cây sinh trưởng và phát triển tốt.
Việc Công ty giải thể gây ảnh hưởng không nhỏ đối với bà con gắn bó với nghề rừng. Hiện tại, một số diện tích đã được bà con chuyển đổi sang trồng cây khác. Xót xa khi thấy diện tích rừng trồng có cây đến tuổi khai thác, bà con muốn giữ lại rừng, nhưng thiếu đất canh tác? Trong khi đó, sắp tới xã tiếp tục tiếp nhận thêm 30 hộ dân tái định cư thủy điện Hòa Bình, nên rất cần quỹ đất để bà con sản xuất!
Tại xã Tà Lại, nơi Công ty ký hợp đồng với bà con trồng 45 ha từ năm 2010, đồng chí Hà Văn Thiết, Bí thư Đảng ủy xã rất buồn: Công ty trực tiếp xuống các bản, vận động từng hộ đăng ký trồng rừng, ứng giống, phân bón, trả công chăm sóc... nên rừng ở đây phát triển tốt (gia đình tôi cũng trồng hơn 4.000 m2 rừng, nay đã đến tuổi khai thác); nhiều hộ còn nợ tiền đầu tư với Công ty (trung bình mỗi hộ còn nợ trên 1 triệu đồng), chờ cây đến tuổi khai thác sẽ hoàn lại.
Việc Công ty giải thể, tạm dừng đầu tư vào vùng này đã gây ra những khó khăn: Trước mắt, số nợ còn lại với Công ty, ai sẽ là người đứng ra thu hồi? trả ở đâu? ai là người mua sản phẩm cây trồng khi đến chu kỳ khai thác? Hiện tại, một số diện tích rừng ở các bản Suối Mó, Lòng Hồ, Trai Sơn, Tháng 5, Nà Cạn… bà con đã tự tìm đầu ra, nhưng giá quá rẻ (bình quân 300 ngàn đồng/m3) không đủ phí vận chuyển, thế nên một số diện tích đã bị đốn hạ để chuyển sang trồng cây lương thực.
Còn ở bản Sau Tua, xã Tân Hợp, bà con ký hợp đồng với công ty trồng 191 ha từ năm 2008; đến nay, rừng keo lai xanh mướt một thời nay đang lốm đốm nhường chỗ cho nương ngô. Anh Đinh Văn Dưng, một trong những hộ đi đầu trồng 1 ha, tương đương với 1.500 cây keo tai tượng đang rất hoang mang vì đến nay, gia đình anh vẫn giữ lại diện tích rừng, phát dọn thường xuyên, cây thì đã chuẩn bị đến tuổi khai thác mà chưa thấy Công ty cử người đến lập hồ sơ khai thác, thu mua sản phẩm cho gia đình theo cam kết!
Dọc đường đến các xã Mường Men, Liên Hòa, Quang Minh thuộc huyện Vân Hồ... ở đâu cũng có thể thấy những chỏm đồi xanh của cây keo tai tượng còn sót lại. Được biết, năm 2010, xã Quang Minh đã trồng hơn 70 ha tại bản To Ngùi; xã Mường Men trồng thí điểm thành công 50 ha tại các bản Cón, Nhúng và Săng Hiềng. Đặc biệt, cả 2 xã trên đều tiếp tục vận động bà con đăng ký trồng mới mỗi xã 100 ha vào năm 2011, thế nhưng chưa kịp triển khai, bà con đã phải dừng ngay hướng làm ăn mới khi nghe tin Công ty bị giải thể.
Ông Hà Văn Đa thông tin thêm với PV: Tháng 7- 2011, Công ty đã tiến hành kiểm kê, từ 609,5 ha rừng đã trồng ban đầu, chỉ còn lại 118,5 ha; nhưng đến 31-12-2012, kiểm đếm lại chỉ còn 64,6 ha.
Việc Công ty Lâm nghiệp Mộc Sơn giải thể, do không có đất sản xuất và kinh doanh không có lãi, quyết định này phù hợp với chủ trương thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12-3-2014 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp”.
Đồng thời, tạm dừng đầu tư trồng và chăm sóc rừng tại địa bàn Công ty đã đầu tư giống, phân bón cho người trồng rừng đã gây thiệt hại không nhỏ cho cả Công ty và người trồng rừng. Hơn 545 ha trong tổng số 609 ha rừng trồng tiêu tốn hàng tỷ đồng đầu tư cùng hơn 700 lao động trong vùng dự án đang bị ảnh hưởng lớn.
Họ đang mong diện tích đã được trồng chuyển giao lại cho đơn vị khác để tiếp quản, hỗ trợ đầu tư, đảm bảo đầu ra cho sản phẩm để bà con tiếp tục gắn bó, có thu nhập ổn định từ nghề rừng. (Báo Sơn La 31/10) đầu trang(
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, trong tháng 10 này, diện tích trồng rừng của tỉnh tiếp tục tăng ổn định. Các hoạt động công nghiệp, dịch vụ lâm nghiệp cũng tăng trưởng khá.
Toàn tỉnh ước trồng được 12.825 ha rừng tập trung tăng 11,9% so với kế hoạch, tăng 10,1% so với cùng kỳ. Các đơn vị, địa phương trồng trên 344 nghìn cây phân tán các loại; gieo tạo được 29 triệu cây giống (chủ yếu là keo) và một số loại cây khác; chăm sóc cho 40.038 ha rừng trồng trong đó có 2.550 ha rừng phòng hộ, 37.488 ha rừng sản xuất.
Để đảm bảo được diện tích rừng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh đã tập trung làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng. Trong tháng 10 đã không còn để xảy ra các vụ cháy rừng. Tuy vậy, lực lượng kiểm lâm tỉnh vẫn nâng cao cảnh giác, tăng cường phối hợp với các lực lượng chức năng thực hiện tốt các biện pháp phòng cháy rừng.
Về công nghiệp và dịch vụ lâm nghiệp, toàn tỉnh đã khai thác gỗ rừng trồng 325.193 m3, bằng 135,1% so với cùng kỳ; khai thác thu mua nhựa thông 12.225 tấn, bằng 112,6% cùng kỳ (trong đó trong tỉnh 2.015 tấn, thu mua tỉnh ngoài 10.210 tấn), chế biến gỗ 6.965 m3, chế biến nhựa thông 12.000 tấn, dăm gỗ xuất khẩu 258.500 tấn, dịch vụ gỗ mỏ cho ngành than 104.500 m3.
Doanh số xuất khẩu lâm sản đạt 46,765 triệu USD đạt 93,5% kế hoạch, bằng 125,8% so với cùng kỳ. (Đài PTTH Quảng Ninh 31/10) đầu trang(
Sau khi xem xét Báo cáo số 206/BC-SKHĐT ngày 21/10/2014 của Sở Kế hoạch và Đầu tư về việc báo cáo kết quả xem xét chủ trương điều chỉnh một phần diện tích đất để trồng cây công nghiệp trong Dự án đầu tư trồng rừng nguyên liệu tại xã Hoa Thám, huyện Bình Gia của Công ty TNHH Minh Hợp, ông Lý Vinh Quang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh có ý kiến như sau:
Đồng ý với đề nghị của Sở Kế hoạch và Đầu tư về việc không chấp thuận cho Công ty TNHH Minh Hợp điều chỉnh mục tiêu dự án và một phần diện tích thuê đất (khoảng 150ha) từ trồng rừng nguyên liệu sang đất trồng cây công nghiệp và cây ăn quả.
Yêu cầu Công ty TNHH Minh Hợp triển khai thực hiện dự án theo mục tiêu dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư và mục đích cho thuê đất được phê duyệt. (Langson.gov.vn 31/10) đầu trang(
Dự án Hỗ trợ các tổ chức nông hộ sản xuất lâm nghiệp miền Trung Việt Nam của tỉnh Quảng Ngãi do Bộ Ngoại giao Phần Lan và Hà Lan đồng tài trợ vừa được triển khai thực hiện. Mục tiêu nhằm giúp nông hộ nhận thức về nghề trồng rừng và phát triển kinh tế rừng theo hướng hiệu quả nhất.
Mới đây, Liên minh Hợp tác xã (HTX) tỉnh phối hợp với cơ quan chuyên môn tổ chức khởi động Dự án Hỗ trợ các tổ chức nông hộ sản xuất lâm nghiệp miền Trung Việt Nam của tỉnh Quảng Ngãi. Đó là tập huấn nâng cao nhận thức về lâm nghiệp cho hơn 230 xã viên 2 HTX Thọ Trung, xã Tịnh Thọ (Sơn Tịnh) và Hành Dũng (Nghĩa Hành) về quy trình kỹ thuật trồng rừng, xây dựng kế hoạch kinh doanh rừng trồng bền vững; cấp chứng chỉ rừng quốc tế.
Mặc dù là những người trồng rừng (keo) thực thụ đã hàng chục năm nay, trong đó có nhiều nông dân sản xuất giỏi, nhưng khi nghe các chuyên gia trong lĩnh vực trồng rừng theo cách Hà Lan – Phần Lan hướng dẫn cách thức triển khai trồng keo từ ươm giống, chuẩn bị đất đến trồng, chăm sóc và thu hoạch, nông dân mới vỡ lẽ: Đúng là phải học mới trồng keo giỏi được!
Bà Phạm Thị Thúy, xã viên HTX Hành Dũng chia sẻ: “Cây keo dễ sống. Cứ nghĩ keo trồng sao chẳng được, miễn là nó sống. Thế nhưng, qua lớp tập huấn này, chúng tôi mới hiểu phải trồng đúng quy trình kỹ thuật, thời vụ từ sản xuất cây giống, trồng và thu hoạch thì mới đem lại hiệu quả cao, bảo vệ môi trường”.
Ban đầu khi nghe Ban Giám đốc HTX Hành Dũng “mời” xã viên đi học trồng keo, ai cũng buồn cười vì thực tế họ đã trồng loại cây này hàng chục năm nay với sản lượng nhất nhì trong tỉnh. Nhiều xã viên ra lớp chỉ vì tò mò mà thôi. Vậy mà khi nghe chuyên gia hướng dẫn kỹ thuật mới trong canh tác keo, các học viên lớp tập huấn đều say sưa lắng nghe. Nhiều người còn ghi chép tỉ mỉ.
Dự án Hỗ trợ các tổ chức nông hộ sản xuất lâm nghiệp miền Trung Việt Nam của tỉnh Quảng Ngãi do Liên minh HTX tỉnh làm chủ dự án. Đây là dự án hỗ trợ các tổ chức hợp tác xã dựa vào thành viên trong việc cung cấp các dịch vụ cho các chủ hộ trồng rừng quy mô nhỏ dựa vào những kinh nghiệm đã đạt được.
Đồng thời xúc tiến các mô hình cấp chứng chỉ rừng PEFC để tăng các giá trị sản phẩm gỗ, nâng cao hiệu quả sản xuất lâm nghiệp, phát triển kinh doanh rừng bền vững; phát triển mối liên kết thể chế và quan hệ hợp tác, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới.
Đơn vị thụ thưởng là HTX Thọ Trung, xã Tịnh Thọ (Sơn Tịnh) và HTX Hành Dũng (Nghĩa Hành). Dự án gồm 4 hợp phần: Phát triển tổ chức và xây dựng năng lực; phát triển thể chế; nâng cao hiệu quả sản xuất lâm nghiệp; phát triển kinh doanh rừng. Tổng kinh phí hơn tỷ đồng, được triển khai thực hiện trong năm 2014 và 2015.
Hiện tại, xã Hành Dũng có 1.500ha rừng trồng, thu nhập bình quân từ rừng hằng năm sau khi trừ chi phí khoảng 8 triệu đồng/ha. HTX Nông nghiệp Thọ Trung diện tích keo cũng tương đương với HTX Hành Dũng, nhưng thu nhập trên cùng đơn vị diện tích thấp hơn, chỉ khoảng 7 triệu đồng/ha.
Tuy nhiên, sản lượng, giá bán đối với mặt hàng này thường không ổn định, do phải phụ thuộc nhiều yếu tố. Đặc biệt, đây là mặt hàng xuất khẩu đòi hỏi phải có xuất xứ hàng hóa mới bán được giá cao. Trong khi đó nông dân thì chỉ biết trồng, thu hoạch, chứ thực sự chẳng biết “đăng ký xuất xứ hàng hóa” do mình làm ra như thế nào. Vì thế, giá bán thường thấp nhiều lần so với sản phẩm gỗ keo đủ tiêu chuẩn xuất khẩu.
Ông Trương Quang Sinh – Giám đốc HTX nông nghiệp Hành Dũng cho biết: “Dự án này rất thiết thực với xã viên và những người trồng keo ở Hành Dũng. Ngoài giúp nông dân chuẩn hóa quy trình kỹ thuật, nâng cao sản lượng, chất lượng gỗ keo, dự án còn hỗ trợ nông dân tiếp cận đăng ký chứng chỉ rừng. Đó là cách gián tiếp giúp địa phương cải thiện thu nhập của người dân, góp phần hoàn thành tiêu chí xây dựng nông thôn mới”.
Hành Dũng, Tịnh Thọ là hai địa phương được mệnh danh là “vựa gỗ keo” của huyện Nghĩa Hành và Sơn Tịnh. Thế mạnh này cộng với sự hỗ trợ của dự án, chắc chắn người trồng keo ở đây sẽ có cuộc sống ngày càng khấm khá hơn.
Đối với chủ dự án, ông Phạm Hoài Nam - Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh cho biết: “Ngoài việc giúp nâng cao kiến thức trồng rừng, dự án này còn giúp nông dân Quảng Ngãi tiếp cận với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đó là chuẩn hóa quy trình sản xuất hàng hóa đối với gỗ keo xuất khẩu, để nông dân không bị thua thiệt trên thị trường thế giới”. (Báo Quảng Ngãi 31/10) đầu trang(
Triển khai thực hiện tại Quảng Ngãi trong 10 năm qua, Dự án Phát triển ngành lâm nghiệp Việt Nam (WB3) được UBND tỉnh đánh giá là một trong những Dự án thành công nhất trong việc thực hiện mô hình trồng rừng tiểu điền ở các huyện đồng bằng và miền núi của tỉnh.
Dự án WB3 có 2 trọng tâm chính. Đó là phát triển trồng rừng sản xuất ở một số tỉnh miền Trung Việt Nam và Quỹ bảo tồn thiên nhiên. Là một trong 4 tỉnh ở miền Trung thực hiện Dự án này, từ năm 2005 Quảng Ngãi đã triển khai tại 3 huyện đồng bằng là Mộ Đức, Sơn Tịnh, Bình Sơn và 2 huyện miền núi Ba Tơ, Trà Bồng.
Đến cuối năm 2013, sau gần 10 năm thực hiện Dự án WB3, Quảng Ngãi có trên 6.500 hộ tham gia trồng rừng (bằng vốn vay lãi suất thấp) với hơn 12.748 ha rừng, chủ yếu là cây keo và bạch đàn URO trồng bằng giống cây lai hom và nuôi cấy mô.
Trong đó, huyện Ba Tơ có 7 xã và thị trấn tham gia trồng hơn 4.500 ha, 4 xã ở Mộ Đức trồng 1.369 ha, Sơn Tịnh có 5 xã trồng 1.614 ha, Bình Sơn có 4 xã trồng 723 ha và Trà Bồng có 6 xã trồng được 723 ha. Theo kế hoạch, trong vụ trồng rừng năm 2014, Dự án sẽ tiếp tục trồng khoảng 1.000 ha, nâng tổng số diện tích trồng rừng của Dự án WB3 lên đến hơn 13.000 ha.
Theo đánh giá của Đoàn công tác hỗ trợ thực hiện Dự án WB3 cuối tháng 9 vừa qua, tổng quan tiến độ Dự án đã được đảm bảo và phù hợp với mục tiêu Dự án. Chương trình trồng rừng đã có cải thiện đáng kể về chất lượng. 72,16 % tổng số tín dụng đã được giải ngân. Chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn quốc tế đã được cấp thí điểm. Lợi ích rõ ràng của rừng được cấp chứng chỉ đạt giá trị cao hơn từ 20-30% rừng trồng lấy gỗ nhỏ. Chu kỳ trồng gỗ lớn đã chứng tỏ thu được lợi nhuận nhiều hơn nên được mở rộng hơn nữa…
Ông Nguyễn Tươi - Phó Giám đốc Dự án WB3 Quảng Ngãi cho biết, nhìn chung Dự án WB3 thực hiện tại Quảng Ngãi đã đem lại hiệu quả cụ thể, thiết thực, góp phần tạo công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo cho người dân trong vùng Dự án, tăng thêm độ che phủ rừng, góp phần ổn định sinh thái.
Số diện tích rừng trồng từ năm 2005-2008 đến nay người dân đã khai thác khoảng 4.800 ha. Sau khi thực hiện trả nợ gốc cùng với lãi cho Ngân hàng Chính sách Xã hội và tiếp tục trồng rừng, người tham gia trồng rừng còn dư vốn để tích lũy.
Tại xã Đức Lân (Mộ Đức), có 315ha đã được cấp chứng chỉ rừng trồng đạt tiêu chuẩn quốc tế (FSC). Trong số này, các chủ hộ đã khai thác khoảng 30ha, thu nhập bình quân tăng khoảng 25-30% so với rừng bán không có chứng chỉ. Chính vì thế, người dân đã nâng cao nhận thức và tham gia trồng rừng bền vững, bảo vệ môi trường. Quan trọng hơn là người dân đã biết áp dụng các biện pháp trồng và chăm sóc rừng, từ đó diện tích rừng ngày càng phát triển, đạt năng suất cao, tăng thêm thu nhập.
Đối với các xã có đồng bào dân tộc thiểu số, hoạt động phát triển rừng đã cơ bản giúp đồng bào thay đổi được phong tục tập quán trồng rừng như biết áp dụng kỹ thuật trồng rừng mới vào trồng trọt, cũng như trong sinh hoạt cộng đồng dân cư. (Báo Quảng Ngãi 31/10) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Công viên Vương quốc Hổ (Tiger Kingdom) mới mở cửa lại, chấm dứt hai ngày ngừng hoạt động vì sự cố du khách Australia có tên Goudie vừa bị hổ vồ khi đang tham quan.
Chuyện khách bị tấn công không phải trường hợp hiếm trong các công viên nuôi hổ tại Thái Lan. Năm ngoái, một sinh viên người Anh (19 tuổi) còn bị một con hổ nặng hơn 180 kg vật ngã xuống đất và cắn vào đùi tại công viên Tiger Temple ở Kanchanaburi (phía tây Thái Lan).
Trước khi tiếp xúc với hổ, các du khách thường được yêu cầu loại bỏ tất cả đồ đạc lỏng lẻo, có thể bay phất phơ trên cơ thể và cởi giày, rửa tay sạch sẽ, đồng thời ký giấy miễn trách nhiệm nếu xảy ra tai nạn. Chi phí để được chụp ảnh cùng những chú hổ con là 900 bath Thái (gần 590.000 đồng) một người. Nếu muốn mạo hiểm hơn như vào hẳn trong lồng chơi với hổ trưởng thành, bạn chỉ phải chi thêm 100 bath Thái (xấp xỉ 66.000 đồng).
Các công viên hổ ở Thái Lan gần đây trở thành đề tài bàn tán thường xuyên về chuyện chăm sóc, đối xử với những con vật bị giam cầm. Theo quảng cáo trên website, phần lớn các công viên cho biết tất cả chúng đều được thuần hóa và huấn luyện ngay khi mới ra đời. Lũ hổ cũng thường xuyên gặp gỡ, tiếp xúc và làm quen với con người.
Dù vậy, ban quản lý vẫn khuyến cáo du khách luôn cần tỏ ra tôn trọng bởi thực tế chúng vẫn là động vật hoang dã. Trong khi đó, hầu hết người đến tham quan đều mê mệt với ý nghĩ chơi đùa cùng hổ như những chú mèo và biến chúng thành trò giải trí.
Cảm giác căng thẳng, bồn chồn và cả tù túng do điều kiện sống nuôi nhốt được xem là nguyên nhân khiến lũ hổ tấn công du khách. Khi ở trong các công viên, chúng phải từ bỏ rất nhiều thói quen theo bản năng vốn mang ý nghĩa quan trọng trong đời sống tự nhiên.
Trước đó, hôm 22/10, ông Goudie bị một con hổ tấn công khi bước vào lồng và cho chúng ăn. Du khách này sau đó được các nhân viên kéo ra trong trạng thái bị thương ở bụng, chân và đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Phuket. (VnExpress 31/10) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||