|
Ngày 06 tháng 11 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Theo quy định tại Nghị định số 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ, các nhà máy thủy điện (NMTĐ) phải chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) để bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất thủy điện.
Theo đó, mức chi trả là 20 đồng/kWh điện thương phẩm; việc chi trả ủy thác qua Quỹ bảo vệ và phát triển rừng. Đối tượng được chi trả là chủ rừng (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng…).
Hiện nay, hầu hết các tỉnh có dự án thủy điện DATĐ đã thành lập Quỹ bảo vệ và phát triển rừng để nhận ủy thác chi trả phí DVMTR của các nhà máy thủy điện (NMTĐ). Việc chi trả DVMTR tại các NMTĐ lớn thực hiện khá tốt, ví dụ: các NMTĐ Yaly, Plei Krông và Sê San 3 đã nộp hơn 200 tỷ đồng trong các năm 2011-2012; NMTĐ Hàm Thuận - Đa Mi đã nộp 132,5 tỷ đồng trong các năm 2010-2012; NMTĐ Tuyên Quang nộp 36,97 tỷ đồng cho năm 2012...
Tại tỉnh Sơn La, năm 2012 các NMTĐ nhỏ đã nộp 19,4 tỷ đồng, riêng 6 tháng đầu năm 2013 đã nộp 4,6 tỷ đồng. Tỉnh Hà Giang đã thu phí DVMTR của 7 NMTĐ vừa và nhỏ là 25,14 tỷ đồng, dự kiến thu của 19 NMTĐ khác khoảng 24 tỷ đồng. Tỉnh Gia Lai đã thu phí DVMTR đối với các NMTĐ nhỏ có lưu vực nằm hoàn toàn trên địa bàn, tính đến hết quý III/2012 là 42,106 tỷ đồng.
Tuy nhiên, nhiều NMTĐ nhỏ chưa chi trả hết phí DVMTR với lý do tình hình tài chính còn khó khăn, giá bán điện theo Biểu giá chi phí tránh được đến năm 2013 mới bổ sung chi phí này. Riêng tỉnh Sơn La còn 17 nhà máy thủy điện chưa nộp phí DVMTR với tổng số tiền nợ đọng hơn 35,626 tỷ đồng.
Mặc dù UBND tỉnh Sơn La đã có Công văn số 2526/UBND-KTN yêu cầu các đơn vị nộp tiền trước ngày 10/10/2013 nhưng đến nay vẫn chưa có động tĩnh gì. Với các NMTĐ có lưu vực thuộc địa bàn nhiều tỉnh, việc chi trả DVMTR rất khó khăn do chưa xác định được đầy đủ đối tượng cung cấp DVMTR, diện tích rừng, trạng thái rừng...
Các NMTĐ đã nộp phí DVMTR bị vướng trong việc quyết toán, kiểm toán chi phí đối do chưa có hóa đơn, chứng từ chi phí. Bên cạnh đó, nhiều NMTĐ nhỏ hiện chưa chi trả phí DVMTR với lý do giá bán điện của các năm 2011-2012 chưa tính đến phí DVMTR.
Bởi vì, theo Quyết định 09/QĐ – ĐTĐL ngày 27/3/2012 của Cục Điều tiết điện lực (Bộ Công Thương) thì chỉ tính tiền DVMTR năm 2013, nhưng không tính tiền DVMTR từ năm 2011 và 2012 đối với các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ. Một số doanh nghiệp cố tình không nộp tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng nhưng không có chế tài xử lý vì chưa có quy định của Nhà nước.
Theo Bộ Công thương, khi hệ thống điện huy động công suất từ nhà máy thủy điện nhỏ để đáp ứng nhu cầu phụ tải tăng thêm tại một thời điểm thì hệ thống sẽ tránh được việc huy động công suất từ nhà máy nhiệt điện có chi phí cao. Vì vậy, khi áp dụng cơ chế giá chi phí tránh được, hệ thống không phải trả thêm chi phí DVMTR tương ứng cho các nhà máy thủy điện nhỏ được huy động thay thế. Do đó, khi ban hành biểu giá chi phí tránh được từ năm 2009 đến nay không tính đến chi phí DVMTR.
Tuy nhiên, theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP xác định tiền chi trả DVMTR thì các nhà máy thủy điện có công suất từ 30 MW trở xuống không thuộc đối tượng được miễn giảm. Vì vậy, nhiều địa phương đề nghị sớm có quy định xử lý và yêu cầu nhà đầu tư cam kết chi trả DVMTR khi đăng ký đầu tư dự án.
Trước tình hình trên, Bộ Nông nghiệp-PTNT đã có Công văn 1773/BNN – TCLN đề nghị Bộ Công thương ban hành quyết định sửa đổi Quyết định số 18/2008/QĐ-BCT theo hướng thanh toán đầy đủ tiền DVMTR từ năm 2011 trong quy định về biểu giá chi phí cho các nhà máy thủy điện nhỏ sử dụng năng lượng tái tạo.
Đồng thời, yêu cầu hướng dẫn EVN, Công ty mua bán điện khẩn trương ký lại hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng mua bán điện. Trong đó, bao gồm đầy đủ tiền DVMTR làm cơ sở cho các nhà máy thủy điện thực hiện nghĩa vụ thanh toán kịp thời cho các Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng các tỉnh, đảm bảo thực hiện tốt chính sách chi trả DVMTR theo quy định của Chính phủ. (Công Thương 6/11) đầu trang(
UBND tỉnh Quảng Nam vừa yêu cầu các Hạt Kiểm lâm Nam Trà My, Nông Sơn và Đại Lộc có trách nhiệm lập phương án, kế hoạch đề nghị hỗ trợ kinh phí quản lý bảo vệ rừng từ nguồn thu tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng gửi Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh, Sở NN-PTNT kiểm tra, thẩm định trình UBND tỉnh phê duyệt.
Cụ thể, đối với lưu vực thủy điện Khe Diên, Hạt Kiểm lâm Nông Sơn quản lý diện tích rừng 5.521,725 ha; Hạt Kiểm lâm Đại Lộc quản lý diện tích rừng 205,136 ha. Đối với lưu vực thủy điện Sông Tranh 2 - Trà Linh 3 - Tà Vi: Hạt Kiểm lâm Nam Trà My quản lý diện tích rừng 14.572,97 ha.
Hiện số diện rừng trên chưa có chủ rừng, UBND tỉnh Quảng Nam đã giao các Hạt Kiểm lâm: Nam Trà My, Nông Sơn và Đại Lộc quản lý diện tích rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng nhưng chưa có chủ rừng quản lý tại các lưu vực thủy điện Sông Tranh 2 - Trà Linh 3 - Tà Vi, Khe Diên. (Nông Nghiệp Việt Nam 6/11) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Sở NN-PTNT Long An cho biết, tỉnh đang đầu tư chăm sóc và bảo vệ diện tích rừng tràm khoảng 29.000 ha.
Phối hợp với nhà máy chế biến gỗ MDF thuộc Cty Eco Board hình thành vùng nguyên liệu (đầu tư giống, chi phí, thu mua gỗ nguyên liệu), áp dụng kỹ thuật thâm canh trồng rừng kết hợp xen canh như nuôi thủy sản, ong lấy mật để nâng cao thu nhập từ rừng.
Hỗ trợ nhân dân trồng cây phân tán như keo lai, tràm bông vàng, bạch đàn nhằm khai thác triệt để diện tích đất chưa sử dụng tại các bờ kênh, bờ đê phục vụ chắn sóng và tăng độ che phủ rừng.
Phát triển rừng sản xuất đi đôi với xây dựng các khu rừng đặc dụng, phục vụ việc bảo tồn các động thực vật quý hiếm, phát triển du lịch sinh thái là mục tiêu của tỉnh. (Nông Nghiệp Việt Nam 6/11) đầu trang(
Đánh giá tại Hội nghị tổng kết công tác phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô 2012-2013, huyện Đăk Hà đã xảy ra 2 vụ cháy, nhưng do chủ động làm tốt công tác trực, canh gác lửa rừng và tổ chức chữa cháy rừng nên không gây thiệt hại đến tài nguyên rừng.
Mặc dù đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền và chủ động trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng, tuy nhiên tình trạng phá rừng làm nương rẫy trái phép vẫn còn xảy ra nhưng chưa được được kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý triệt để, gây khó khăn lớn trong việc kiểm soát và phòng cháy chữa cháy rừng; việc triển khai thực hiện công tác phòng cháy chữa cháy rừng của một số chủ rừng còn hạn chế…
Để thực hiện tốt công tác phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô 2013-2014, huyện Đăk Hà tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền về công tác bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng; tăng cường bám nắm địa bàn và kiểm tra xử lý dứt điểm tình trạng người dân xâm lấn đất rừng; tăng cường sự phối hợp của chính quyền xã, ngành chức năng và chủ rừng trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng.
Hội nghị đã khen thưởng cho 4 tập thể, 8 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô 2012-2013. (Đài PT - TH Kon Tum 5/11) đầu trang(
4/11, UBND tỉnh Kon Tum đã tổ chức Hội nghị sơ kết tình hình triển khai thực hiện phương án chấn chỉnh và tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh. Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh kiêm Trưởng Ban chỉ đạo công tác quản lý, bảo vệ rừng tỉnh Nguyễn Hữu Hải chủ trì hội nghị.
Theo báo cáo của UBND tỉnh: Sau hơn 6 tháng triển khai thực hiện, bước đầu cho thấy công tác quản lý bảo vệ rừng đã có nhiều chuyển biến tích cực: Tình hình phá rừng trái pháp luật tại các điểm nóng phần nào đã được hạn chế, đã kịp thời phát hiện các vụ mua bán, cất giấu, vận chuyển lâm sản trái pháp luật. Tình hình vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng giảm so với cùng kỳ 181 vụ, giảm 20%. Diện tích rừng bị phá giảm 28,595 ha. Tuy nhiên, mức độ thiệt hại về khối lượng gỗ lại tăng 232,313 m3.
Các huyện có số vụ vi phạm lâm luật bảo vệ rừng giảm với tỷ lệ cao như huyện Đăk Glei, Ngọc Hồi, Tu Mơ Rông, Kon Rẫy và thành phố Kon Tum; các huyện chưa thực hiện đúng cam kết, còn có số vụ vi phạm thiệt hại nhiều là huyện Đăk Tô (khai thác rừng trái phép), Đăk Hà (mua bán lâm sản trái phép), Kon Plông, Sa Thầy (phá rừng trái phép làm nương rẫy).
Tại hội nghị huyện Sa Thầy, Đăk Glei, Kon Plông, Đăk Tô, Đăk Hà, Tu Mơ Rông, Ban Quản lý Vườn quốc gia Chư Mom Ray và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ngọc Hồi, Công ty Nguyên liệu giấy miền Nam đã báo cáo tình hình triển khai thực hiện phương án chấn chỉnh và tăng cường công tác quản lỳ bảo vệ rừng.
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Chủ tịch UBND tỉnh biểu dương những kết quả mà các ngành, địa phương đã đạt được trong thời gian qua, đồng chí đề nghị Ban chỉ đạo của tỉnh, huyện, thành phố và các tổ công tác đặc biệt cần chấn chỉnh, kiện toàn lại Ban chỉ đạo, triển khai quyết liệt các phương án hơn nữa; các ngành chuyên môn, các lực lượng đóng chân trên địa bàn cần làm hết chức trách của mình; giải quyết triệt để các điểm nóng về vi phạm lâm luật; xử lý nghiêm minh các vụ vận chuyển trái phép lâm sản và các vụ phá rừng làm nương rẫy.
Kết luận hội nghị, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh kiêm Trưởng Ban chỉ đạo công tác quản lý, bảo vệ rừng tỉnh đề nghị: các cấp, các ngành, địa phương, các chủ rừng nghiêm túc tiếp thu ý kiến chỉ đạo của đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh để triển khai thực hiện trong thời gian tới.
Ngoài ra, các cấp, các ngành và địa phương cần tiếp tục xây dựng kế hoạch cụ thể, tăng cường các biện pháp quản lý bảo vệ rừng; phân định rõ trách nhiệm của từng thành viên trong Ban chỉ đạo; đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức, chú trọng công tác tuyên truyền tới tận người dân; rà soát lại những hộ thiếu đất để bố trí đất sản xuất cho dân, quy hoạch vùng sản xuất.
Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm minh hành vi phá rừng làm nương rẫy, buộc đối tượng phá rừng phải trồng lại rừng thay thế; các vụ án điểm về vi phạm lâm luật phải được xét xử lưu động để người dân biết; xử lý nghiêm cán bộ tiếp tay cho người thân, người nhà vi phạm lâm luật; xử lý triệt để không cho lưu thông các xe độ chế; kiểm tra lại tất cả các cơ sở chế biến gỗ, nếu vi phạm buộc phải đóng cửa. (Kontum.gov,vn 5/11; Đài PT - TH Kon Tum 5/11) đầu trang(
Ngày 31/10, UBND tỉnh có Công văn số 1151 yêu cầu các Sở, ngành, UBND các huyện, thành phố và các cơ quan truyền thông của tỉnh tăng cường công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu các Sở, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 270/2010/CT-TTg ngày 12/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng; Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ.
Bên cạnh đó, tiến hành kiện toàn Ban Chỉ đạo Kế hoạch Bảo vệ và phát triển rừng các cấp, trong đó cần ban hành quy chế hoạt động, thông báo phân công nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể đối với từng thành viên của Ban Chỉ đạo.
Rà soát phương án bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô năm 2013 - 2014 của các cấp ngành và chủ rừng. Tiến hành bố trí lực lượng, phương tiện, trang thiết bị phù hợp tại các vùng trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao, để xử lý kịp thời, tại chỗ không để xảy ra cháy và cháy lớn; bố trí lực lượng thường trực để chủ động ngăn chặn các vụ phá rừng, khai thác rừng trái pháp luật, không để xảy ra "điểm nóng"..
Ngoài ra, cần thành lập các đoàn công tác liên ngành tăng cường kiểm tra, đôn đốc các huyện, xã và chủ rừng triển khai thực hiện nghiêm túc phương án bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng. Mặt khác, các cơ quan truyền thông cần tăng thời lượng đưa tin dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng; tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm chỉnh quy định của Nhà nước về bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Tổ chức tuyên truyền sâu rộng bằng nhiều hình thức về phòng cháy, chữa cháy rừng như: Sự nguy hiểm của việc đốt đồng ruộng, đốt dọn thực bì, phát nương làm rẫy dẫn đến nguy cơ cháy rừng; thông tin, hướng dẫn biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, chống chặt phá rừng; hướng dẫn và giám sát chặt chẽ việc đốt rẫy và sử dụng lửa gần rừng để không gây cháy rừng.(Langson.gov.vn 5/11) đầu trang(
Nếu ví rừng xanh là lá phổi bảo vệ môi trường sống của chúng ta thì những người dân sống và giữ rừng có vai trò hết sức quan trọng. Dù đời sống giữa nơi bạt ngàn xanh thẳm, heo hút còn gặp không ít khó khăn nhưng bà con ở Bến Tre vẫn một lòng sống với rừng.
Trong ba huyện biển thì Thạnh Phú và Bình Đại có diện tích rừng khá lớn (gần 5.000ha). Đặc điểm chung của rừng là rừng trồng, chắn gió, chống xói mòn và xâm thực của biển… với các loại cây như bần, mắm, đước và phi lao (nhiều nhất là cây đước).
Theo Ban Quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh, Thạnh Phú có gần 3.000ha với hơn 300 hộ tham gia quản lý trồng và chăm sóc rừng. Hai huyện Bình Đại và Ba Tri, mỗi huyện cũng có hơn một trăm hộ tham gia. Ngoài ra, còn có sự tham gia tích cực của các tổ chức, đoàn thể địa phương, với phương châm là đất rừng ngay tại đầu đất giồng của hộ nào thì hộ đó quản lý trồng và chăm sóc.
Ông Nguyễn Văn Chiến - Phó Phòng Kỹ thuật Ban Quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng, cho biết, đời sống bà con lâm nghiệp hiện nay khá vất vả, những hộ có đất giồng gắn với đất rừng thì cuộc sống đỡ hơn. Những hộ không đất giồng, đất rừng lại không có ao để nuôi thủy sản, thì thật khó khăn. Các chỉ thị hay quyết định của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ NN&PTNT đều có qui định rất rõ về tỷ lệ phần đất cho người dân lâm nghiệp sử dụng để sản xuất (7/3 diện tích), hay qui định người dân được hưởng 100% sản phẩm từ khai thác, tỉa thưa rừng - nếu được phép khai thác.
Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều hộ dân có đất rừng nhưng không có đất sản xuất (đào ao nuôi thủy sản), bởi do diện tích nhỏ, lại nằm trong khu vực rừng bảo vệ nghiêm ngặt (bình quân mỗi hộ dân quản lý từ 2.000m2 đến 3ha đất rừng). Việc tỉa thưa, khai thác sản phẩm rừng để được hưởng lợi… gần như không có.
Anh Võ Văn Vũ Hoàng, ngụ tại ấp Thạnh Lộc - xã Thạnh Phong (thuộc cồn Lớn) quản lý gần 5ha rừng đước hơn 10 năm tuổi, cho biết đất rừng của nhà anh quản lý khoảng 1ha hàng năm thả tôm và nuôi cua tự nhiên (có đập bao quanh) thu lợi cũng tạm đủ sống (khoảng 20 triệu đồng/năm). Nếu được cho phép tỉa thưa rừng, thì gia đình anh sẽ có khoản thu nhập khá.
Bà Ngô Thị Thiêu - 66 tuổi, ngụ ở cồn Dài - ấp Thạnh Lộc, có tất cả 5 người con sống và lớn lên ở rừng từ mấy chục năm qua, cho biết từ thời giặc giã tới giờ, gia đình bà vẫn sống với rừng, đã gắn bó nhiều thế hệ rồi cũng quen cuộc sống ở đây. Hiện tại, gia đình bà không có đất sản xuất, chỉ có miếng đất giồng ít ỏi. Các con của bà đã có gia đình, ở riêng, bà chia đất cho các con quản lý, bà chỉ giữ lại 1.000m2 để kiếm cá ăn hàng ngày.
Bà Thiêu thuộc diện gia đình chính sách, đời sống còn khá vất vả. Bà ước mong sẽ có ngày Nhà nước cho phép tỉa thưa rừng để có thêm thu nhập, hưởng tuổi già (khu rừng đước gần 20 năm tuổi).
Ông Nguyễn Văn Chiến cho biết, phần lớn đất rừng của bà con rất ít được phép khai thác hay tỉa thưa, dù cây đã già. Nhiều hộ vì vướng những qui định của pháp luật sau này mà không thể đào ao, đắp đê nuôi trồng thủy sản. Nếu không có đất giồng trồng thêm hoa màu, thì đời sống của bà con lâm nghiệp rất vất vả.
Để quản lý và bảo vệ rừng tốt hơn, thì sự góp sức của bà con là rất quan trọng. Mới đây, ngành chuyên môn đã có văn bản xin Trung ương hỗ trợ bà con lâm nghiệp mỗi héc-ta đất rừng 100.000 đồng/năm. Đó cũng là niềm mong mỏi của những người dân sống nơi bạt ngàn, heo hút còn nhiều thiếu thốn. (Báo Bến Tre 6/11) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Ông Lê Tuấn Phong, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Năng lượng, Bộ Công thương đã khẳng định đã nộp hàng trăm tỉ về Quỹ Phát triển rừng tại buổi họp báo Bộ Công thương chiều 4/11.
Theo đó, trước thông tin cho rằng, EVN và các chủ đầu tư xây dựng thủy điện chưa đóng hàng trăm tỉ phí sử dụng môi trường, cùng với con số hàng ngàn ha rừng chuyển đổi sang làm thủy điện không được trồng hoàn lại, nhưng cũng không chịu nộp tiền về quỹ, ông Đinh Thế Phúc, Phó cục trưởng Cục điều tiết điện lực (Bộ Công thương), giải thích EVN đã hoàn trả hết nợ, các doanh nghiệp khác thuộc quản lý của địa phương.
“Năm 2012, Bộ Công thương cũng nhận được công văn từ Bộ NN&PTNT liên quan đến con số nợ đọng 300 tỷ phí sử dụng môi trường rừng của EVN và nhiều chủ đầu tư xây dựng thủy điện khác. Sau khi nhận được công văn, Bộ Công thương với trách nhiệm quản lý ngành đã chỉ đạo EVN phải hoàn trả số tiền này cho Quỹ bảo vệ và phát triển rừng.
Theo báo cáo từ 9/1/2013, EVN đã thực hiện chỉ đạo của Bộ Công thương hoàn trả toàn bộ số tiền nợ đọng năm 2011-2012, đồng thời cũng cam kết sẽ thực hiện nghiêm chi phí phát sinh nếu có theo đúng hợp đồng”, ông Phúc cho hay.
Cũng theo ông Phúc, dù Bộ Công thương đã chỉ đạo EVN thực hiện ngay trách nhiệm của mình, tuy nhiên, việc hối thúc, truy thu các chủ đầu tư khác là trách nhiệm của địa phương.
“Những doanh nghiệp này do địa phương cấp phép và quản lý thì địa phương phải có trách nhiệm yêu cầu các doanh nghiệp hoàn trả theo đúng quy định”, ông Phúc nói.
Ông Lê Tuấn Phong, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Năng lượng nói thêm, Nghị định 99/2010/NĐ-CP quy định các tổ chức cá nhân, doanh nghiệp làm thủy điện sẽ phải trả phí sử dụng môi trường rừng. Số tiền này một mặt nhằm để cải tạo, bảo vệ môi trường đồng thời cũng phục vụ mục đích xóa đói giảm nghèo.
Với trách nhiệm của Bộ Công thương, ông Phong khẳng định: “Tất cả các địa phương có các dự án thủy điện lớn, hàng năm đều thu được hàng trăm tỉ đồng phí sử dụng môi trường rừng từ các dự án thủy điện. Những địa phương có thủy điện vừa và nhỏ như Sơn La, các tỉnh miền núi phía Bắc cũng thu được hàng chục tỉ đồng. Số tiền này đều nộp về quỹ phát triển rừng của địa phương”.
Ông Phong cho rằng nhiều doanh nghiệp không nộp tiền phí môi trường là không đúng. Theo ông, chỉ có một số ít chủ đầu tư gặp khó khăn về tài chính nên khất nợ.
Tuy nhiên năm 2013 Bộ Công thương đã ban hành quy định áp dụng với các thủy điện vừa và nhỏ. Theo đó, sẽ cộng phí bảo vệ môi trường rừng 20 đồng/kwh.
“Nghĩa là các chủ đầu tư đều có nguồn thu để trả nợ. Bộ Công thương đã tính chi phí này vào trong giá điện, vậy thì không có lý do gì chủ đầu tư không nộp”, ông Phong khẳng định.
Trong khi đó, theo ông Phạm Hồng Lượng, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Tài chính, Tổng cục Lâm nghiệp, chưa có cơ chế cụ thể để quy đổi số tiền phải bồi hoàn cho 1ha rừng làm thủy điện là bao nhiêu. Mà mức bồi hoàn này chủ yếu dựa trên sự thỏa thuận giữa các doanh nghiệp và chủ đầu tư.
“Nhưng cho đến nay thì chưa có một chủ đầu tư dự án thủy điện nào nộp tiền về Quỹ. Hay nói cách khác, Quỹ chưa có một đồng nào”, ông Lượng cho hay.
Trước tình hình này, Bộ NN&PTNT đã phải nhờ tới Quốc hội can thiệp. Theo đó, những chủ đầu tư nào không thực hiện trồng hoàn rừng hoặc không nộp tiền về quỹ có thể yêu cầu địa phương can thiệp rút giấy phép đầu tư.
Theo báo cáo của Chính phủ, trong 6 năm, có hơn 20.000 ha rừng bị chuyển đổi mục đích sử dụng để xây dựng 160 dự án thủy điện. Tuy nhiên, diện tích rừng trồng bù lại chỉ được 735 ha, bằng 3,7% diện tích rừng đã bị mất.
Ông Tô Xuân Phúc - Tổ chức Forest Trends (Hoa Kỳ) cho biết, nếu tính đúng giá trị thực chưa chắc các doanh nghiệp đã dám làm vì số tiền phải bồi hoàn là quá lớn. (Công Thương 6/11) đầu trang(
Hội nghị thường niên lần thứ 21 của Hiệp hội các vườn thú Đông Nam Á với chủ đề “Các vườn thú Đông Nam Á cùng nhau phát triển” sẽ diễn ra tại TP.HCM từ ngày 18 đến 20.11.
Đây là lần thứ 3, Thảo cầm viên Sài Gòn (TCV) đăng cai hoạt động này. Ngoài 80 đại biểu là các nhà khoa học và quản lý các vườn thú trong nước, sẽ có khoảng 80 đại biểu các vườn thú đến từ 20 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký tham dự.
Các báo cáo khoa học chính của hội nghị sẽ xoay quanh những nội dung sau: Chăn nuôi thú y và thú y vườn thú; Tiếp thị và giáo dục vườn thú; Đa dạng sinh học và bảo tồn; Thiết kế vườn thú và làm phong phú môi trường; Tiêu chuẩn đạo đức trong chăm sóc động vật; Nhân giống và tập tính động vật...
Hiệp hội các vườn thú Đông Nam Á (SEAZA) là một tổ chức phi chính phủ, ra đời năm 1990 tại Bogor, Indonesia. Đến nay, đã có 12 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia thành viên, bao gồm: Brunei, Campuchia, Hong Kong, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam.
Mục đích của SEAZA là tăng cường khả năng của các vườn thú khu vực Đông Nam Á phục vụ bảo tồn động vật hoang dã, giáo dục và giải trí cho công chúng, nhằm tăng cường tiêu chuẩn, tình trạng và hình ảnh đối với công chúng của các vườn thú này.
Những hoạt động thường xuyên của tổ chức này hướng đến: Khuyến khích sự hợp tác giữa các vườn thú trong và ngoài khu vực; động viên và hỗ trợ phát triển các chương trình giáo dục nhằm nâng cao ý thức bảo tồn; khuyến khích các chương trình nhân giống bảo tồn; hỗ trợ các chương trình quản lý và nghiên cứu nguyên vị động vật hoang dã...
Khỉ sóc (tên khoa học Saimiri sciureus) sống ở rừng nhiệt đới dọc theo lưu vực sông Amazon (Nam Mỹ) được Thảo Cầm Viên tiếp nhận hồi cuối năm 2012.
Theo ông Phan Việt Lâm – giám đốc TCV đồng thời là phó chủ tịch SEAZA, TCV là một trong những thành viên sáng lập SEAZA vào năm 1990. Từ năm 1999 đến nay, TCV luôn có đại diện là ủy viên Ban chấp hành của hiệp hội. Hàng năm, TCV đền có cử đoàn cán bộ khoa học tham gia các hội nghị do hiệp hội tổ chức, thực hiện một số trao đổi động vật giữa TCV và các vườn thú trong khu vực, tham gia các chương trình điều phối sinh sản động vật.
Hiện nay, Thảo Cầm Viên Sài Gòn là nơi giữ sổ cái dữ liệu loài báo lửa của các vườn thú trong SEAZA. Ngoài ra, TCV cũng thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu khoa học hỗ trợ cho việc bảo tồn nguyên vị động vật hoang dã như: nghiên cứu huyết học ở các loài gấu, nhân giống một số động vật quý hiếm như báo lửa, cầy vằn, trĩ sao, cá sấu nước ngọt, vượn má vàng... , tham gia nghiên cứu phục hồi động vật rừng ngập mặn Cần Giờ...
Ông Lâm cho biết thêm, TCV hiện đang nuôi dưỡng gần 1.000 động vật thuộc 120 loài. Đa số đều là những loài thú quý hiếm có tên trong danh sách đỏ Việt Nam và thế giới, có nguy cơ tuyệt chủng như báo lửa, hổ Đông Dương, trĩ sao, vượn má vàng, vọoc bạc, hươu cao cổ... Hàng năm nơi này đón khoảng 80.000 sinh viên học sinh đến tham dự các khóa học chuyên đề về động thực vật, nghe giảng dạy về các chương trình nghiên cứu động vật hoang dã và bảo tồn thiên nhiên...
Thảo cầm viên Sài Gòn thành lập năm 1864, là một trong số ít vườn thú lâu đời nhất tại các quốc gia Đông Nam Á. (Sài Gòn Tiếp Thị 6/11; Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 6/11) đầu trang(
Ngày 5-11, Sở Công Thương tỉnh Đắk Lắk cho biết: Bộ TN-MT vừa có công văn số 3792 do Thứ trưởng Bùi Cách Tuyến ký đề nghị UBND tỉnh Đắk Lắk yêu cầu chủ đầu tư rà soát sự phù hợp của dự án thủy điện Đrăng Phốk (26MW, xây dựng tại vùng lõi Vườn quốc gia Yok Đôn) với quy hoạch hệ thống thủy điện bậc thang trên sông Srêpốk.
Theo Bộ TN-MT, việc xây dựng thủy điện này trong vùng lõi Vườn Quốc gia Yok Đôn, cần được cân nhắc thận trọng về khía cạnh pháp lý và tác động tiềm tàng đối với hệ sinh thái, các loại sinh vật đặc hữu và tác động đến dòng chảy của sông Srêpốk. Cũng theo công văn trên, đến nay Bộ TN-MT chưa nhận được hồ sơ, công văn, tài liệu nào liên quan đến dự án thủy điện Đrăng Phốk. (Sài Gòn Giải Phóng 6/11) đầu trang(
Năm 2007 được sự hỗ trợ của Quỹ Quốc Tế bảo vệ thiên nhiên (WWF Việt Nam ) ngành lâm nghiệp Quảng Trị đã triển khai xây dựng mô hình quản lý rừng bền vững cho nhóm hộ nông dân tham gia dự án trồng rừng Việt Đức tại địa bàn huyện Vĩnh Linh và Gio Linh . Sau 7 năm thực hiện mô hình đã phát huy hiệu quả trong phát triển kinh tế lâm nghiệp theo hướng bền vững đảm bảo các yếu tố về môi trường, xã hội và kinh tế .
Sau 3 năm xây dựng mô hình quản lý rừng trồng bền vững , năm 2010 hơn 316 ha rừng của 118 hộ trồng rừng ở xã Trung Sơn huyện Gio Linh và xã Vĩnh Thủy huyện Vĩnh Linh Quảng Trị đã được cấp chứng chỉ rừng FSC trong thời hạn 5năm từ năm 2010 đến 2015 . Đây là những nhóm hộ trồng rừng đầu tiên ở Việt Nam được cấp chứng chỉ FSC nhờ thực hiện có kết quả mô hình quản lý rừng bền vững do tổ chức Quỹ Quốc Tế Bảo Vệ Thiên Nhiên hỗ trợ về mặt kỷ thuật và kinh phí thực hiện.
Để được cấp chứng chỉ FSC các hộ tham gia xây dựng mô hình quản lý rừng bền vững phải thực hiện nghiêm túc 10 nguyên tắc 56 tiêu chí đảm bảo các yếu tố về kinh tế ,môi trường và xã hội. Sau khi được cấp chứng chỉ FSC, gỗ rừng trồng sẽ đảm bảo các qui định quốc tế về nguồn gốc chất lượng và được các doanh ghiệp thu mua với giá cao để chế biến sản phẩm xuất khẩu ra thị trường Châu âu và Mỹ
Từ kết quả ban đầu của 5 nhóm hộ tham gia thực hiện mô hình quản lý rừng bền vững ở Gio linh và Vĩnh Linh , mô hình đã được mở rộng ra các huyện Triệu Phong ,Cam Lộ và Hải Lăng . Hiện nay toàn tỉnh Quảng Trị đã có 334 nhóm hộ và 1 doanh nghiệp tham gia thực hiện mô hình với trên 10.300 ha rừng đã được cấp chứng chỉ FSC.
Đạt giá trị kinh tế cao và đảm bảo các yếu tố về môi trường xã hội ,mô hình quản lý rừng bền vững đã mở ra một hưóng đi mới trong quá trình phát triển kinh tế lâm nghiệp của tỉnh Quảng Trị . Từ hiệu quả ban đầu này thời gian tới tỉnh Quảng Trị sẽ nhân rộng mô hình quản lý rừng bền vững ra các vùng ,miền có tiềm năng, phấn đấu đến năm 2015 toàn tỉnh sẽ có khoảng 15.000 ha rừng được cấp chức chỉ FSC. (VTV Huế 5/11) đầu trang(
Vườn quốc gia Mũi Cà Mau được công nhận là khu Ramsar thứ 2.088 của thế giới, với giá trị đa dạng sinh học cao, tài nguyên đa dạng sinh học phong phú. Tuy vậy, trước tác động của việc phát triển kinh tế, sự thay đổi sinh kế của người dân, xói lở hàng năm, những bất cập trong quản lý khu bảo tồn...đã và đang làm suy giảm tính đa dạng sinh học, nhất là giảm diện tích và tính đa dạng sinh học của rừng ngập mặn nơi đây.
Hệ động, thực vật Vườn quốc gia Mũi Cà Mau tuy không đa dạng về loài, nhưng do vị trí địa lý đặc biệt đã tạo cho nơi đây một giá trị khoa học và sinh thái riêng biệt. Các nhà khoa học đánh giá rất cao hệ thực vật rừng ngập mặn của Vườn, bởi nó mang lại hiệu quả kinh tế -xã hội to lớn, cũng như tác dụng ứng phó với biến đổi khí hậu trong chắn sóng và chống xói lở bờ biển. Riêng giá trị du lịch sinh thái rừng ngập mặn Mũi Cà Mau mỗi năm đã lên tới 19,83 tỷ đồng. Ước tính 1ha rừng ngập mặn tạo ra môi trường sống cho 0,7 tấn thủy sản khai thác.
Thạc sĩ Phạm Hạnh Nguyên, Cục Bảo tồn đa dạng sinh học cho biết: Vườn quốc gia Mũi Cà Mau được thành lập theo Quyết định số 142 ngày 14/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ. Dựa trên các thông tin điều tra, thu thập được về các yếu tố ảnh hưởng đến tài nguyên đa dạng sinh học của Vườn, đã cho thấy hệ sinh thái của Vườn thuộc hạng nhạy cảm cao. Nguyên nhân là do các hoạt động phát triển kinh tế, xã hội, khai thác tài nguyên thiên nhiên của người dân ngày càng gia tăng trong khu vực.
Tuy các xã tiếp giáp Vườn quốc gia Mũi Cà Mau có mật độ dân cư thưa thớt nhưng tỷ lệ hộ nghèo khá phổ biến, trong đó có tới 14,7% số hộ không có đất sản xuất nên phần lớn hành nghề lâm-ngư nghiệp, đánh bắt thủy sản ven bờ bằng nghề đáy, lưới rê, câu mồi ảnh hưởng lớn đến nguồn lợi thủy sản và sinh thái, môi trường; còn diện tích nuôi trồng thủy sản tập trung chủ yếu ở phân khu phục hồi sinh thái của Vườn theo hình thức quảng canh cải tiến.
Chính vì vậy, nguồn lợi thủy, hải sản tại Vườn quốc gia Mũi Cà Mau không những đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi các hình thức khai thác hủy diệt, mà vấn đề tập trung quá nhiều cả người địa phương và người ngoại tỉnh vào khai thác ở những thời điểm xuất hiện con giống, cũng gây cạn kiệt dần nguồn lợi tại vùng đất ngập nước này.
Vùng bãi bồi thuộc Vườn rộng hàng chục nghìn km2, trong đó có nhiều khu vực là bãi đẻ, sinh trưởng của các giống, loài thủy sản có giá trị kinh tế cao. Lâu nay nơi đây là vùng cấm khai thác để bảo tồn tính đa dạng sinh học của các loài thủy sản có giá trị, trong đó có bãi nghêu giống với trữ lượng rất lớn nằm ở vùng bãi bồi ven biển, kéo dài gần 10km từ bãi Khai Long đến Đất Mũi, trong phạm vi quản lý của Vườn tại xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển.
Song hiện nay ở bãi nghêu giống này có đến 4.000 người cùng hàng nghìn phương tiện khai thác, có khoảng 50% trong số đó khai thác tận diệt như dùng máy hút gắn sa quạt để bắt triệt để nghêu giống. Ngoài ra còn có hàng nghìn miệng lưới, đáy với mắt lưới nhỏ như “mắt cua” vây bổ quanh năm để bắt con giống cua, cá kèo... và nghề khai thác giã cào, xung điện. Với những cách thức khai thác như vậy, nguồn lợi thủy sản ven bờ nơi đây bị tàn sát, hủy diệt nghiêm trọng.
Do đó, cần phải có các giải pháp quản lý tốt hơn đối với Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, trong đó phải đặc biệt lưu ý đến sinh kế của người dân địa phương, vì các tác động đến tài nguyên đa dạng sinh học hầu hết là do các hoạt động của con người gây ra. Trước hết là ổn định và nâng cao đời sống cho dân cư trong vùng để giúp họ tránh được các hành vi phá rừng và đánh bắt thủy, hải sản bừa bãi.
Đồng thời nghiên cứu, thực hiện việc chi trả dịch vụ hệ sinh thái, xem đây là một chiến lược tạo cơ chế tài chính cho bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân trong vùng. Cần tăng cường sự phối hợp giữa các nhà quản lý địa phương với các nhà khoa học và người dân, trong việc xác định các giải pháp ứng phó nhằm bảo vệ đa dạng sinh học của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau một cách bền vững. (Tài Nguyên&Môi Trường 5/11) đầu trang(
Cơn bão số 10 và số 11 vừa qua đã làm hàng chục ngàn ha cao su của Quảng Nam, Quảng Bình, Quảng Trị bị đổ gãy. Riêng Quảng Bình, bão số 11 đã làm 13.797 ha cao su bị gãy đổ, chiếm khoảng 60% diện tích cao su của Quảng Bình, thiệt hại ước khoảng 3.500 tỷ đồng, gần bằng 3 năm thu thuế của cả tỉnh Quảng Bình. Nói thế để thấy được mất mát quá lớn từ trận bão số 11 đã gây ra cho Quảng Bình, một tỉnh nghèo của miền Trung.
Cao su là cây thân gỗ, có chiều cao khoảng 20m, rễ trụ ăn sâu 1,5m. Cây cũng có khả năng chịu nắng hạn 4-5 tháng. Cao su thích hợp nhất là trồng ở vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, thích hợp với đất rừng, yêu cầu là đất tốt, thoát nước. Cây 5 tuổi là có thể thu hoạch mủ và thời gian thu hoạch mủ kéo dài từ vài ba chục năm.
Nhưng cây cao su có đặc điểm là giòn và dễ gãy, đặc biệt là không chịu được bão gió từ cấp 8 trở lên. Nếu gió mạnh sẽ làm cho lượng bốc hơi qua lá tăng lên, cành thân càng thêm giòn, dễ gãy. Tốc độ gió 3m/s cây phát triển không bình thường, bởi vậy nên trồng nơi kín gió.
Vài năm gần đây, mủ cao su có giá nên cao su được nhiều địa phương đua nhau trồng. Đã có nhiều phương án trồng cao su được lựa chọn: cao su tiểu điền, cao su của nông, lâm trường, của các doanh nghiệp… Tập đoàn Cao su Việt Nam với nhiều công ty thành viên cũng tỏa rộng xuống các tỉnh miền Trung, miền Bắc để mở mang diện tích.
Nghệ An cũng vậy, không ồ ạt như các tỉnh khác nhưng dự án cao su của Nghệ An cũng là một dự án tầm cỡ với qui hoạch 17.000 ha, được triển khai ở Thanh Chương, Anh Sơn, Quế Phong, Yên Thành, Quỳnh Lưu. Nghệ An hiện có 8.841 ha cao su, trong đó dự án của Công ty Cao su Nghệ An khởi động từ năm 2007, đến nay tỉnh ta mới trồng được gần 2.000 ha, tập trung ở Anh Sơn, Thanh Chương, Quế Phong.
Từ thảm cảnh cao su sau bão số 11 vừa qua ở Quảng Bình, nên chăng cần xem lại qui hoạch trồng cao su ở tỉnh ta. Năm 2010, hơn 7 vạn cây cao su ở Tân Kỳ cũng bị gãy đổ khi gặp bão. Cao su là cây khi trồng yếu tố đầu tiên cần xem xét là thời tiết rồi mới đến khí hậu, thổ nhưỡng. Liệu những vùng qui hoạch trồng cao su của tỉnh ta có kín gió, đã có rừng vành đai chắn gió bảo vệ hay chưa, đất quá dốc hay không. Đất quá dốc, không có mạch nước ngầm hay gió nhiều, gió mạnh cây cũng không phát triển được dễ đổ gãy khi gặp thiên tai.
Một yếu tố nữa để trồng cao su hiệu quả là giống. Vừa qua ở tỉnh Đắc Nông, nông dân đã chặt bỏ hàng ngàn ha cao su bởi không cho mủ, hoặc mủ ít, không hiệu quả. Đắc Nông có 5000 ha cao su tiểu điền thì được biết chỉ 40% trong đó là hiệu quả. Nguyên nhân là giống kém chất lượng. Bởi vậy, nếu trồng cao su mà người dân thiếu hiểu biết về giống hoặc doanh nghiệp cũng cấp giống không đảm bảo thì trồng xong đợi cho được đến lúc thu hoạch rồi lại thất vọng.
Quả thật không “dễ ăn” với cây cao su. Nên chăng cần cẩn trọng khi mở rộng diện tích trồng cao su. Hơn nữa cần có cam kết giữa doanh nghiệp và người trồng: Khi gặp thiên tai cao su đổ gãy hết thì chia sẻ trách nhiệm thế nào? (Báo Nghệ An 5/11) đầu trang(
Từ ngày 5 -7/11, Ban Quản lý Dự án "Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam" tỉnh Cao Bằng tổ chức hội thảo nâng cao nhận thức, năng lực quản lý rừng cộng đồng và các vấn đề liên quan với hơn 50 đại biểu tham dự.
Tại hội thảo, các đại biểu được giới thiệu tổng quan về lâm nghiệp cộng đồng; biến đổi khí hậu, biểu hiện của biến đổi khí hậu, biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng; chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, kinh nghiệm triển khai thực hiện tại một số địa phương; trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch; nguồn gốc gỗ, giới và bình đẳng giới...
Các đại biểu chia nhóm thảo luận và phân tích những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; triển vọng của Dự án tăng cường lâm nghiệp cộng đồng tại Cao Bằng; nguyên nhân và những khó khăn, giải pháp đối với biến đổi khí hậu của tỉnh; cơ hội, thách thức trong quản lý và bảo vệ rừng; cơ hội, thách thức trong triển khai trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch…
Qua hội thảo, nâng cao nhận thức và năng lực về quản lý rừng cộng đồng; nhận thức và năng lực về các vấn đề liên quan đến cộng đồng nhằm triển khai hiệu quả hiệu quả các mục tiêu Dự án đã đề ra. (Báo Cao Bằng 6/11) đầu trang(
UBND huyện An Lão vừa làm việc với Sở NN&PTNT về việc rà soát 3 loại rừng trên địa bàn huyện.
Theo đó, huyện An Lão có 2.674 ha rừng được quy hoạch lại, trong đó có 1.697 ha rừng phòng hộ chuyển sang rừng sản xuất và 977 ha rừng sản xuất chuyển sang rừng phòng hộ.
Các địa phương có diện tích rừng phòng hộ chuyển sang rừng sản xuất là: xã An Dũng 389,7 ha, An Hòa 91 ha, An Hưng 582,2 ha, An Tân 307,6 ha, An Nghĩa 125,5 ha, An Trung 201 ha. Riêng thị trấn An Lão và xã An Hưng có 977 ha rừng sản xuất chuyển sang quy hoạch rừng phòng hộ.
Hiện UBND huyện An Lão đang đề xuất Ban Thường vụ Huyện ủy về chủ trương giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp theo quy hoạch để nhân dân các địa phương phát triển sản xuất. Trước mắt, tiến hành giao 313 ha đất rừng sản xuất cho nhân dân xã An Hòa và An Tân tại tiểu khu 21, 33, 34, 48 . (Báo Bình Định 6/11) đầu trang(
Chính sách giao khoán quản lý rừng được thực hiện bài bản, khoa học đã mang lại hiệu quả “kép”: vừa bảo vệ tài nguyên rừng bền vững, vừa đem lại sinh kế ổn định cho cộng đồng dân cư sở tại.
Thời gian qua, để có cơ sở giao khoán rừng cho hộ và nhóm hộ gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), UBND tỉnh đã phê duyệt phương án điều chỉnh mở rộng lâm phận và sắp xếp, tổ chức lại các ban quản lý rừng phòng hộ trực thuộc Sở NN&PTNT.
Theo nội dung phương án, các hạt kiểm lâm Nam Trà My, Nông Sơn và Đại Lộc thực hiện nhiệm vụ chi trả DVMTR đối với phần diện tích 20.299ha rừng do UBND xã quản lý, thuộc các lưu vực thủy điện Sông Tranh 2 - Trà Linh 3 - Tà Vi và Khe Diên.
Theo thống kê của Quỹ bảo vệ - phát triển rừng, đến cuối tháng 10.2013, các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng trên địa bàn tỉnh đã tổ chức giao khoán rừng đến 528 nhóm hộ với diện tích khoảng 95.000/181.172ha theo 7 đề án chi trả DVMTR tại các lưu vực thủy điện trên địa bàn tỉnh gồm Phú Ninh, Sông Kôn 2, An Điềm - An Điềm 2, Sông Tranh 2 - Trà Linh 3 - Tà Vi, Đăk Mi 4, A Vương - Za Hung và Khe Diên.
Trong khi đó, tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ bên ngoài về thực hiện chính sách chi trả DVMTR, Quảng Nam tiếp tục phối hợp với Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) mở rộng phạm vi dự án chi trả DVMTR và hỗ trợ sinh kế tại lưu vực thủy điện Sông Bung 4. Ngoài thực hiện thí điểm thành công tại 5 thôn của xã Ma Cooih (Đông Giang), bắt đầu từ tháng 10.2013, dự án khởi động tại 2 xã Chà Vàl và Tà Pơ (huyện Nam Giang) nằm trong lưu vực thủy điện Sông Bung 4, gồm 48 nhóm hộ tham gia với tổng diện tích hơn 13.798ha.
Ngày 23.10 vừa qua, Sở NN&PTNT và đoàn công tác của ADB, sau khi kiểm tra thực địa, các bên đã chứng kiến lễ ký kết hợp đồng khoán bảo vệ rừng giữa đơn vị quản lý rừng là Hạt Kiểm lâm huyện Nam Giang với các nhóm hộ dân nhận khoán tại xã Chà Vàl và Tà Pơ.
Nhằm quản lý rừng chặt chẽ hơn, cuối tháng 10 vừa qua, UBND tỉnh còn quyết định thành lập hai ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Sông Bung và Nam Sông Bung, trực thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh. Đây là hai đơn vị sự nghiệp có con dấu riêng, có chức năng quản lý, phát triển rừng trên diện tích đã giao, đồng thời phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện chính sách chi trả DVMTR.
Ông Huỳnh Đức, Giám đốc Quỹ bảo vệ - phát triển rừng cho biết, công đoạn giao khoán rừng để chi trả DVMTR tại các lưu vực thủy điện có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với chủ trương quản lý rừng bền vững, làm cho rừng thật sự có chủ và người dân được hưởng lợi khi bảo vệ rừng, thông qua hợp đồng khoán bảo vệ, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
“Chính sách chi trả DVMTR được thực hiện trên các lưu vực phần lớn diện tích giao khoán là rừng tự nhiên nên đã mang lại hiệu quả “kép”, vừa giữ rừng bền vững vừa ổn định sinh kế lâu dài cho người dân bản địa. Hầu hết dự án đã thu hút đông đảo người dân và chính quyền các địa phương miền núi tham gia giữ rừng, lồng ghép kết hợp với các chương trình bảo vệ và phát triển rừng đang triển khai, góp phần nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện thể chế pháp luật của Nhà nước trong công tác quản lý bảo vệ rừng” – ông Đức nói.
Cũng theo ông Đức, nhờ đôn đốc, có biện pháp chế tài mạnh nên nhiều chủ đầu tư các dự án thủy điện, thủy lợi đã nghiêm túc ký kết, chi trả DVMTR. Đáng tiếc, một số đơn vị cố tình dây dưa, phớt lờ trách nhiệm “trả nợ rừng”. Sắp đến, nếu doanh nghiệp nào bị nhắc nhở nhiều lần, Quỹ bảo vệ - phát triển rừng (đơn vị ủy thác) sẽ tham mưu cho UBND tỉnh ra quyết định xử lý, chấn chỉnh kịp thời. (Báo Quảng Nam 5/11) đầu trang(
Nhóm các nhà nghiên cứu gồm: ThS Lương Văn Dũng (phó chủ nhiệm khoa sinh đại học Đà Lạt) và Trương Quang Cường, Phạm Hữu Nhân (vườn quốc gia Biduop Núi Bà, Lâm Đồng) vừa chính thức công bố đã phát hiện một quần thể trà hoa Krempf, lộ diện sau hơn 100 năm biệt tích.
Hai nhà nghiên cứu Trương Quang Cường và Phạm Hữu Nhân cho biết, trong chuyến nghiên cứu thực địa ngày 28.10, các nhà khoa học đã phát hiện một quần thể trà mi (Camellia), tại khu vực Hòn Giao (giáp ranh giữa vườn quốc gia Bidoup Núi Bà và tỉnh Khánh Hoà), ở độ cao khoảng 800m, với số lượng cá thể tương đối nhiều. Qua so sánh mẫu thu được và mẫu chuẩn, nhóm nghiên cứu xác định đây là loài trà hoa Krempf, có tên khoa học Camellia krempfii (Gagnep.) Sealy.
Trà hoa Krempf được ông M. Krempf thu mẫu lần đầu tiên tại Khánh Hoà vào năm 1912, với số tiêu bản là: Krempf. 1564, tuy nhiên tiêu bản này chỉ có lá và nụ hoa. Sau đó, dựa vào tiêu bản trên, nhà nghiên cứu Ganepain mô tả và công bố loài này vào năm 1942 với tên khoa học Thea krempfii Gagnep, nhưng từ đó đến nay vẫn không có thêm thông tin về màu sắc của hoa và hình ảnh của quả.
ThS Lương Văn Dũng cho trà hoa Krempf là tiểu mộc cao 5 – 8m, lá có phiến hình thon dài, đáy lá hình tim, hoa màu đỏ gạch, cánh hoa xếp chồng lên nhau gần giống loài trà hoa Piquet (Camellia piquetiana (Pierre) Sealy.). (Sài Gòn Tiếp Thị 6/11) đầu trang(
Các tổ chức tín dụng, các ngân hàng chỉ thích đất thổ cư. Rừng vàng, biển bạc là nói trong sách vở, với cán bộ ngân hàng thành vô nghĩa. Chủ trang trại có trong tay hàng trăm ha rừng chăng nữa cũng không thể vay vốn trong khi chỉ thế chấp vài trăm mét đất thổ cư là các ngân hàng sẵn sàng giải ngân…
Xét về diện tích rừng, có lẽ ông Đào Công Hoa ở thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn phải đứng vào hàng ngũ chủ rừng lớn nhất nhì của tỉnh Bắc Giang. Trang trại trồng rừng của ông rộng mênh mông với trên 100 ha rừng cùng hàng chục ha cây ăn quả: bưởi, hồng, ổi và cam đường Canh…
Gần chục năm qua, ông đã đổ không ít công sức, tiền của để xây dựng nên một trang trại đẹp tựa như khu du lịch sinh thái. Đến thời điểm này, thật khó xác định giá trị của trang trại mà ông đang quản lý có thể là 20 tỉ hay 50 tỉ hoặc cao hơn nữa nhưng chỉ tính sơ riêng nguồn thu gỗ keo trên 100 ha rừng đang vào chu kì khai thác thì ông Hoa đã nắm chắc trong tay trên 6 tỉ đồng, chưa kể giá trị thu nhập của vườn cây ăn quả, hoạt động chăn nuôi.
Vậy nhưng, tuy có trong tay trang trại lớn ông Hoa cũng không thể thế chấp trang trại để vay vốn ngân hàng.
Để san ủi, làm đường, đầu tư cây giống, phân bón, trả lương công nhân… ông Hoa đã phải huy động toàn bộ nguồn vốn tự có của gia đình. Nhưng trang trại càng rộng nhu cầu đầu tư càng lớn. Tiền tỉ đổ vào đầu tư cho trang trại mà cứ như muối bỏ biển.
Năm 2012, ông Hoa muốn mở rộng thêm 3 ha diện tích trồng cam đường Canh và tiếp tục mở đường vào để khai thác gỗ rừng nên ông có nhu cầu sử dụng thêm khoảng 500 triệu đồng. Ôm giấy chứng nhận quyền sử dụng của trên 100 ha rừng gõ cửa từng ngân hàng để xin vay vốn nhưng đi đến đâu cũng chỉ thấy cán bộ tín dụng lắc đầu quầy quậy, mặc cho ông giải trình hết lý lẽ.
Cũng có cán bộ tín dụng nhiệt tình đến tận nơi thăm trang trại, về thăm nhà cửa đàng hoàng rồi quay ra tư vấn: Không có chế độ cho vay sổ rừng đâu bác ạ nhưng bác có thể dùng sổ đỏ thổ cư để vay vốn.
Ông Hoa có 2 căn nhà ở huyện miền núi Lục Ngạn, mỗi căn được khoảng 300 m2 đất thổ cư nhưng cán bộ tín dụng sẵn sàng cho vay 200 triệu đồng/căn. Thế chấp 2 căn nhà ông vay được tổng cộng 400 triệu đồng.
Điều ông Hoa thấy khác biệt với các cán bộ tín dụng là ở cách đánh giá, xác định giá trị tài sản. Hầu như toàn bộ tài sản của gia đình ông đều nằm ở trang trại chứ không phải 2 căn nhà trong thị trấn. Chỉ sau một chu kì khai thác rừng keo ông đã đủ tiền mua thêm hàng chục căn nhà như thế nhưng trong mắt các cán bộ tín dụng thì trang trại của ông lại chẳng có một chút giá trị nào.
Họ chỉ thích “túm” lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà đất ở và đó là cách duy nhất để ông có thể vay vốn ngân hàng.
Vẫn biết rằng tư duy của cán bộ tín dụng là ăn chắc và việc thế chấp nhà ở phần nào còn có lợi cho bản thân hơn là phải thế chấp trang trại nhưng trong lòng lão nông Đào Công Hoa cảm thấy vô cùng bức xúc.
Trong mắt ông, đất ở chỉ là nơi để ở, phải là đất sản xuất mới thực sự có khả năng sinh lợi, phải có rừng mới thực sự có vàng. Thế nhưng, các tổ chức tín dụng, các ngân hàng hoàn toàn không quan tâm đến đất sản xuất, đất rừng… Dường như cái nghề nông nghiệp vẫn còn bị coi rẻ ở xã hội này.
Chẳng thế mà khi làm thủ tục vay vốn, cán bộ tín dụng cứ một mực bắt ông khai lệch mục đích sử dụng thành “vốn để kinh doanh ngành hàng bánh kẹo, rượu bia, nước giải khát” trong khi chắc chắn là ông sẽ dùng tiền để đầu tư cho nông nghiệp.
Hàng ngày, trên truyền hình, trên báo chí vẫn ra rả nói rằng kinh tế suy thoái, cần đặt trọng tâm vào nông nghiệp, Chính phủ ưu tiên đầu tư cho nông nghiệp, dành vốn tín dụng lãi suất thấp cho đầu tư nông nghiệp…
Thực tế ngược lại. Ông tự hỏi chính sách ưu tiên của Chính phủ ở đâu khi mà Giấy chứng nhận quyền sử dụng rừng không có giá trị vay vốn ngân hàng? Vốn tín dụng lãi suất thấp cho nông nghiệp ở đâu khi mà muốn vay vốn đầu tư cho nông nghiệp lại phải khai kinh doanh ngành hàng khác?
Là lão nông trồng rừng ở một huyện miền núi, ông Hoa không có cơ hội nói với Chính phủ rằng những người nông dân say mê và tâm huyết với nông nghiệp như ông chưa từng có cơ hội để tiếp cận nguồn vốn ưu đãi và những điều người ta đang nói ở Trung ương quá xa vời thực tiễn nên nông dân chỉ nghe mà không thấy động lòng.
Vay ngân hàng 400 triệu để đầu tư cho nông nghiệp, ông Hoa phải trả lãi suất xấp xỉ 15%/năm, tương đương với 60 triệu đồng/năm. Mức lãi suất này, các doanh nghiệp kinh doanh BĐS, chứng khoán còn đang kêu trời thì lợi nhuận của nông nghiệp liệu có kham nổi?
Nếu đầu tư trồng rừng và trả lãi dứt điểm hàng năm sau chu kì 6 năm, ông Hoa sẽ mất tổng cộng 760 triệu đồng cả gốc lẫn lãi. Mất trắng hơn chục ha rừng, gần gấp đôi khoản vay gốc. Nếu đầu tư vào cây ăn quả, lợi nhuận có thể cao hơn nhưng gặp lại nhiều yếu tố rủi ro như: rủi ro về giá, rủi ro về mùa vụ, sâu bệnh…
Lợi nhuận ít, rủi ro nhiều chính là lý do mà hầu hết các ngân hàng đều ngại cho vay đầu tư nông nghiệp, buộc cán bộ tín dụng cũng phải “lách” khi làm thủ tục cho vay.
Làm nông nghiệp khó thế, khổ thế nhưng người nông dân không làm nông nghiệp thì còn biết làm gì? Nông dân như ông Hoa chỉ còn biết oằn lưng gánh vác những thảm họa tín dụng do bong bóng BĐS, chứng khoán đem lại.
Để trụ vững, ông Hoa buộc phải tăng cường khả năng quản trị, tính toán thị trường cung, cầu hệt như các doanh nghiệp. Ví dụ, giá cam đường Canh mấy năm nay liên tục tăng cao từ 35 ngàn đồng/kg lên 45 ngàn đồng rồi tiếp tục leo tới 67 ngàn đồng/kg cắt tại vườn. Giá cam cao, người dân đua nhau trồng, các chủ vườn cũng khẩn trương mở rộng diện tích.
Chắc chắn chỉ trong vòng 4-5 năm nữa là sản lượng cam đường Canh ở Lục Ngạn sẽ tăng vọt, ảnh hưởng tới giá. Vậy nên khác với các chủ vườn ở Lục Ngạn, đang mở rộng diện tích bằng cách mua cây con về trồng, khi bắt tay vào trồng cam đường Canh ông Hoa đầu tư vốn mua hẳn những cây 3 năm tuổi có thể cho thu hoạch ngay.
Năm 2012, căn cứ vào tốc độ sinh trưởng của cây, ước tính vườn cam đường Canh của ông có thể cho 10 tấn quả, thu trên 600 triệu đồng. Nhưng ông Hoa không vội “gỡ vốn”. Ông tính cho cam ra quả trong năm thì cây sẽ dành toàn bộ dinh dưỡng nuôi quả, không phát triển nhánh. Sang năm sản lượng sẽ chỉ được 10-15 tấn quả là cùng.
Nhưng nếu bỏ qua một năm để cho cây phát triển hết sức thì sang năm vườn cam sẽ cho sản lượng 40 tấn. Lúc ấy nhân với mức giá hiện tại ông có cơ hội thu 2,4 tỷ đồng. Lợi hơn gấp 4 lần. Hoặc cho dù giá cam sang năm có giảm đi một nửa chỉ còn 30 ngàn đồng/kg thì doanh thu của ông vẫn đạt 1 tỷ 200 triệu đồng vẫn đảm bảo lợi nhuận của cả hai năm cộng lại.
Tuy nhiên, người tính không bằng trời tính. Cũng không phải người nông dân nào cũng có khả năng quản trị như ông Hoa, dám chấp nhận vay lãi suất 15%/năm để mạo hiểm đầu tư cho nông nghiệp.
Đặt giả thiết, ông Hoa và những chủ rừng khác có thể tiếp cận được nguồn vốn trồng rừng ưu đãi của Chính phủ ở mức 8%/năm thì cả chu kì rừng gia đình ông chỉ phải trả lãi suất 180/400 triệu tương đương với giá trị 3 ha rừng. Lợi nhuận nhìn thấy rõ ràng hơn, khả năng hoàn trả vốn vay cũng chắc chắn hơn. Nhưng đó chỉ là giả thiết. Giá như!… (Nông Nghiệp Việt Nam 6/11) đầu trang(
Trên các số trước, Pháp Luật TPHCM phản ánh thực trạng người trồng tràm ở U Minh Hạ (Cà Mau) bị các lâm ngư trường khống chế việc khai thác rừng làm nhiều khu rừng tràm quá tuổi, giảm giá trị. Nhiều người nóng ruột muốn thay thế bằng cây keo lai, hiệu quả cao hơn nhưng không được…
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Dương Tiến Dũng cho rằng, đã đến lúc xóa cơ chế lỗi thời để kích rừng sinh lợi. Ông Dũng nói: Từ nhiều năm qua, chúng tôi đã thấy đất rừng U Minh Hạ thực sự chưa phát huy hết tiềm năng sinh lợi. Nó không chỉ là chưa phát huy tiềm năng đất mà là một sự lãng phí lớn. UBND tỉnh vừa chỉ đạo Sở NN&PTNT tỉnh Cà Mau khẩn trương kiểm tra thực trạng lãng phí này, giải tỏa ngay những gì đang kìm hãm…
Trong một quá trình dài mấy mươi năm từ sau giải phóng đến nay, Chính phủ và địa phương luôn quan tâm đến việc phát triển rừng, phát huy tiềm năng sinh lợi của đất rừng. Nhưng trong cái vòng luẩn quẩn trúng mùa - mất giá của cả ngành nông nghiệp Việt Nam, không chỉ chúng tôi mà các địa phương có rừng khác trong cả nước cùng bị lúng túng trong việc làm gì để đẩy hiệu quả kinh tế rừng lên cao hơn. Nói chúng tôi thiếu quan tâm đến kinh tế rừng là chưa đúng.
Tại U Minh Hạ vẫn còn các cơ chế rất lạ lùng: Cấm nông dân dùng cơ giới để đào liếp trồng rừng mà chỉ được đào bằng tay; khống chế việc khai thác sản phẩm lâm nghiệp do dân làm ra? Ông Dũng khẳng định: Đó là điều vô lý! Chúng tôi vừa chỉ đạo Sở NN&PTNT phải rà soát để giải tỏa. Quan điểm của tôi là giải tỏa cơ chế lạc hậu, lỗi thời tức là giải quyết được căn bản bài toán phát huy tiềm năng đất rừng U Minh Hạ.
Còn việc nó tồn tại đến hôm nay là cũng có nguyên nhân: Trước, thị trường lâm sản ở Cà Mau bấp bênh, khai thác nhiều quá thì giá lâm sản sẽ giảm do cung vượt cầu. Còn việc cấm cơ giới là vì những khu vực đó sắp có quy hoạch mới. Tỉnh sợ nông dân đầu tư lớn, khi triển khai quy hoạch mới thì ngân sách khó đảm bảo bồi thường cho dân. Tất nhiên bây giờ thì thời thế đã khác rồi, những cơ chế đó chắc chắn sẽ được giải tỏa sớm. Ngay sau khi Sở NN&PTNT và thanh tra tỉnh có kết luận kiểm tra, thanh tra cụ thể.
Ôngg có nghĩ còn những nguyên nhân khác. Chẳng hạn một nhóm người cố tình giữ lại những cơ chế lỗi thời nhằm trục lợi cá nhân? Nhiều người dân đã nói với chúng tôi như vậy? Ông Dũng qủa quyết: Tất nhiên là không thể loại trừ khả năng đó. Nhưng tôi cam đoan nếu phát hiện, với đủ bằng chứng, chúng tôi quyết không bao che. (Pháp Luật TPHCM 6/11) đầu trang(
UBND tỉnh Bình Định vừa chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thành phố tăng cường kiểm tra hoạt động sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh.
UBND tỉnh yêu cầu phải có biện pháp xử lý nghiêm đối với các cơ sở sản xuất giống không đảm bảo chất lượng.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện nay, toàn tỉnh có 90 đơn vị, cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp với 103 vườn ươm, tổng diện tích 68,5 ha; cung ứng hàng trăm triệu cây giống phục vụ công tác trồng rừng trong và ngoài tỉnh.
Tuy nhiên, qua kiểm tra của cơ quan chức năng, một số cơ sở sản xuất giống lâm nghiệp không đảm bảo các điều kiện về sản xuất, kinh doanh, nguồn gốc giống không rõ ràng, kém chất lượng (chủ yếu là giống keo lai sản xuất bằng phương pháp giâm hom), ảnh hưởng đến chất lượng trồng rừng. (Chinhphu.vn 5/11) đầu trang(
Theo báo cáo của ngành lâm nghiệp, để chuẩn bị cho vụ trồng rừng 2014 sắp tới, toàn tỉnh Bắc Kạn sẽ tiếp tục có khoảng 100 vườn ươm cây giống tại khắp các địa phương.
Theo đó ngoài gần 10 vườn ươm lớn của các đơn vị như: Trung tâm giống cây trồng vật nuôi tỉnh, các đơn vị thuộc công ty lâm nghiệp Bắc Kạn, các vườn của các Ban phát triển rừng các huyện, thị xã…thì toàn tỉnh còn có tới hơn 90 vườn ươm lớn nhỏ của các đơn vị tư nhân khác nhằm đảm bảo tốt nhất cho việc cung ứng cây giống tại chỗ, tránh vận chuyển xa cho các đơn vị, địa phương.
Đến thời điểm này, toàn tỉnh đã chuẩn bị các loại hạt giống tương đương với gần 10.000ha, trong đó hạt mỡ là hơn 1,3 tấn tương đương với hơn 7.600ha, hạt keo cũng đảm bảo tương đương với 1.400ha khi đem trồng. Hiện hầu hết các vườn đều đã bắt đầu làm đất, đóng bầu, riêng với các loại keo lai được giâm bằng hom, việc đóng bầu đã tiến hành ngay từ khi việc trồng rừng 2013 kết thúc.
Năm 2014, toàn tỉnh dự kiến trồng mới 12.000ha, trong đó rừng sản xuất tập trung là gần 9.000ha và cây phân tán là 2.400ha còn lại là gần 600ha rừng phòng hộ đặc dụng. (Đài PT - TH Bắc Kạn 5/11) đầu trang(
Ông Đỗ Việt Hùng (xóm 1, xã Khánh Thành, huyện Yên Khánh, Ninh Bình) không chỉ là người đầu tiên mang hươu về vùng đất chiêm trũng này nuôi mà còn giúp nhiều hộ trong xã thoát khỏi đói nghèo.
Trước khi biết đến con hươu, ông Hùng đã có hơn 10 năm nuôi lợn, vịt nhưng không thành công. Đang lúc trăn trở tìm hướng đi mới, một lần tình cờ lên nhà người bạn ở thị xã Tam Điệp chơi, ông được bạn giới thiệu về nuôi hươu. “Thấy dễ nuôi, hiệu quả kinh tế cao, quê nhà chưa ai nuôi nên tôi thích ngay và nhờ bạn tư vấn kỹ thuật” - ông Hùng tâm sự.
Về nhà, ông bàn với vợ xây chuồng trại, rồi lên nhà bạn mua 3 con hươu giống (1 đực, 2 cái) về nuôi. “Ngay năm đầu tôi đã thành công. Riêng tiền bán nhung tôi đã thu hồi đủ số vốn bỏ ra. Ngoài ra tôi còn lãi 2 con hươu con”- ông Hùng khoe.
Đến nay nhà ông đã có đàn hươu 13 con, 3 hươu đực và 10 hươu cái. Mỗi hươu đực một năm cho cắt nhung 2 lần được khoảng 1,5kg, tổng cộng mỗi năm ông thu về gần 100 triệu đồng từ nhung hươu. Còn bán hươu giống, mỗi năm ông cũng thu khoảng 100 triệu đồng. Không chỉ làm giàu cho riêng mình, ông Hùng còn hướng dẫn cách nuôi, cung cấp giống cho các hộ nghèo trong xã. Nhờ nuôi hươu, nhiều gia đình đã thoát nghèo, có của ăn của để.
Hỏi về kinh nghiệm nuôi hươu, ông Hùng cho biết: Hươu là vật dễ nuôi. Chỉ cần chú ý xây dựng chuồng trại kín gió vào mùa đông và thoáng mát vào mùa hè là được. Về giống, cần chọn giống tốt có bố mẹ to khỏe. Đáp ứng được những yêu cầu này chắc chắn nuôi hươu sẽ thành công. (Hội Nông Dân VN 3/11) đầu trang(
Hiện nay, tại xã Mai Lạp, Thanh Mai của huyện Chợ Mới, sâu ong đang nở rộ, gây hại mạnh, mật độ phổ biến 30 đến 60 con/cây, nơi cao 300 con/cây, cá biệt có nơi 700 đến 800 con/cây, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát thành dịch trên diện rộng.
Sâu ong đang ở tuổi 1 tuổi 2 với diện tích bị nhiễm nặng hơn 54ha, nhiễm nhẹ và trung bình là 34ha.
Tại các địa phương trên, người dân cùng cơ quan chức năng vẫn nỗ lực dập dịch bằng cách bắt thủ công, phun thuốc hóa học, tuy nhiên diện tích bị nhiễm nhiều và nặng nên một số người dân đã có biểu hiện không còn mặn mà lắm với công tác dập dịch mà chờ đợi, ỷ lại vào cơ quan chuyên môn.
Huyện Chợ Mới cũng đã đầu tư thuốc, bình phun động cơ, hỗ trợ xăng . . . cử cán bộ chuyên môn bám sát địa bàn phục vụ việc dập dịch sâu ong để giảm thiểu thiệt cho người dân. (Đài PT - TH Bắc Kạn 5/11) đầu trang(
Ngày 5.11, Công an Quảng Ngãi đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi vụ cành cây đè khiến 2 người thương vong.
Theo thông tin ban đầu từ cơ quan chức năng, chiều 4.11, trong lúc Dương Phước Khang (ở tỉnh Đồng Nai) và Đinh Văn Neo (ở tỉnh Kon Tum) xẻ một cây gỗ lớn thì bất ngờ một cành cây có đường kính 50cm rơi xuống đè cả 2 người, khiến Khang chết ngay tại chỗ, còn Neo bị thương nặng. Được biết, trước đó Khang và Neo đã lén lút vào khu vực rừng Đắc Gia, thuộc thôn Nước Vương, xã Sơn Liên, huyện Sơn Tây cưa gỗ trái phép.
Hiện vụ việc đang được Công an huyện Sơn Tây tiếp tục điều tra làm rõ. (Nông Thôn Ngày Nay 6/11; Vietnamnet.vn 6/11) đầu trang(
Mới chừng mươi năm trước, cánh rừng phòng hộ mấy chục nghìn ha thuộc xã Suối Giàng – Văn Chấn – Yên Bái được biết đến như một khu bảo tồn thiên nhiên với hệ động thực vật khá phong phú! Giờ thì, “kho vàng xanh” đó đã bị rút ruột, cắt xén tan hoang…
Nhà cán bộ xã là điểm thu mua gỗ, con trai cán bộ huyện vác cưa máy lên phá rừng... Bởi thế, trách làm sao được khi dân địa phương đua nhau sắm cưa máy, ồ ạt tàn phá rừng!
Chuyện tưởng như nói khi uống chén nước ngoài vỉa hè ấy là sự thật. Ông S – người Mông, nguyên cán bộ kiểm lâm ở Suối Giàng chỉ tay về cánh rừng phía trước, rưng rưng: Xót lắm con ơi! Bố không muốn sau này cháu chắt lớn lên không được thấy rừng. Bố không muốn chứng kiến cảnh người Suối Giàng chỉ có thể biết đến cánh rừng già hàng trăm năm tuổi tại quê hương mình thông qua lời kể và bút chép. Các con hãy làm gì đi chứ!
Làm gì để ngăn chặn lâm tặc? - đó là trăn trở không của riêng ai. Như trước đây rừng Suối Giàng còn nhiều, nạn xẻ gỗ có từ đời xưa thì không nói làm gì, sau khi rừng được quản lý dân chỉ bám vào rừng để kiếm ngọn măng, hái lá rau dại chứ không khai thác gỗ. Nhưng rồi, nạn khai thác gỗ lại tái diễn, cụ thể thì phải quay lại chuyện cách đây 7 - 8 năm.
“Lúc đó rừng có rất nhiều gỗ quý, dân không dám chặt phá. Rồi một ngày kiểm lâm cho phép ủy ban xã khai thác, tận dụng gỗ để làm nhà văn hóa. Gỗ về kho làm nhà văn hóa thì ít mà gỗ về nhà cán bộ xã thì nhiều. Dân có kéo lên ủy ban để phản ánh, song hành vi khai thác gỗ trái phép đó không bị ngăn chặn, ngược lại còn ngang nhiên hơn, công khai và rầm rộ hơn” – ông S ngậm ngùi.
Phần vì khát gỗ, phần vì hậm hực, thấy gỗ tuôn về nhà cán bộ đều đều như thế dân mới càng thêm bực và họ quyết định đi sắm cưa, lên rừng xẻ gỗ. Có người xẻ về bán, có người xẻ làm nhà sàn. Tranh thủ xẻ, tranh nhau xẻ, xẻ từ lúc gà gáy canh tư hôm nay cho đến gà gáy hôm sau.
Nhà nhà, người người đều vác cưa lên rừng. Ai xẻ được bao nhiêu thì xẻ. Hạ cây hôm trước, hôm sau quay lại xẻ, hạ không kịp xẻ thì phát gốc đánh dấu xí phần. Ánh đèn pin chiếu rọi, tiếng cây đổ, tiếng cưa máy, tiếng người hò nhau, quát trâu kéo tựa như một công trường khai thác gỗ.
Chuyện vỡ lở, cán bộ, kiểm lâm không thể ngăn chặn dứt điểm nạn phá rừng được nữa, kết quả hàng nghìn ha rừng nguyên sinh bị phá. Nhiều nhà giầu lên nhờ bán gỗ, nhiều nhà có nhà sàn đẹp từ dịp ấy.
Khi đặt chân đến Suối Giàng, PV bị ngôi nhà nghỉ 2 tầng thênh thang bằng gỗ quý bắt mắt. Cũng như ông S, anh C – chủ nhân của ngôi nhà vỗ tay vào cột tự hào: Ngày đó mình không nhanh, không thông tầm thâu đêm suốt sáng xẻ gỗ thì làm gì có căn nhà sàn to rộng như thế này. Thời ấy nhiều nhà thiếu tiền, khai thác được miếng gỗ nào là bán hết bấy nhiêu nên không có nhà sàn đó thôi.
Ở đây nhà nào cũng có vài ba khối gỗ bên hiên, mới có, cũ có. Cũ là gỗ từ thời khai thác rầm rộ đấy, mới là do mới xẻ về. Nay người ta vẫn vào rừng xẻ gỗ ầm ầm, chỉ cần vào đến cửa rừng là nghe thấy tiếng cưa inh tai. Không tin, anh cứ mục sở thị là rõ.
Đúng như lời C nói: Nhà nào cũng có gỗ chất đống ở hiên nhà. Có khúc vuông rộng đến 30 – 40 cm, dài 3,2m, có ván rộng 35 cm, dày 6cm... Đây là những khối gỗ do người dân tự ý vào rừng khai thác, một để làm nhà, hai để bán.
Bên hiên nhà ông Giàng A Tếnh (nguyên Bí thư Đảng ủy xã Suối Giàng, Phó Trưởng ban dân vận huyện ủy Văn Chấn) cách UBND xã Suối Giàng mấy trăm mét cũng có không ít gỗ.
Theo một người dân sống ở gần đó thì số gỗ trên đa phần do người con trai của vị lãnh đạo này vào rừng xẻ. Xẻ xong, anh ta thuê cả ô tô vào rừng chở ra. Bình thường gỗ cứ để ở hiên, nhưng cách đây mấy hôm gỗ đã được chuyển đi gần hết, còn mang đi đâu không ai biết.
Mang những hình ảnh thu thập được cùng không ít thắc mắc về nguồn gốc số gỗ kia, PV đến UBND xã Suối Giàng lắng nghe lời giải đáp. Ông Sổng A Nủ - Chủ tịch UBND xã Suối Giàng thừa nhận: Vừa rồi con trai ông Tếnh là Giàng A Sềnh có vào rừng xẻ gỗ trái phép. “Chả là theo tục của người Mông, khi tách hộ, người ta sẽ ra làm nhà ở riêng. Cách để có nhà riêng là vào rừng xẻ gỗ” – ông Nủ nói.
Với lý do làm nhà, nhiều người dân địa phương ngang nhiên vác cưa máy vào rừng cưa gỗ y như vào chốn không người quản lý. Với người dân chưa nhận thức hết tầm quan trọng của việc bảo vệ rừng đã đành, với cán bộ xã cũng vận ngay cái lý do “chuẩn bị làm nhà” để lách luật kiếm lời.
PV tiếp cận ngôi nhà của anh Lờ A Dê – Kế toán ngân sách xã Suối Giàng. Phía sau nhà anh Dê có khá nhiều gỗ, nhiều tấm ván để ngoài trời và nhiều khúc gỗ vuông được để gọn bên hiên nhà. Theo người dẫn đường, thì trong nhà cũng có nhiều gỗ, tuy nhiên đó là lãnh địa “bất khả xâm phạm” nên chúng tôi không tiếp cận được.
“Đó là những cây gỗ mọc trong đồi chè, cây đã cao lớn nên anh Dê đốn hạ mang về” – ông Nủ đáp khi chúng tôi chưa dứt câu hỏi về nguồn gốc số gỗ trên sau nhà anh Dê. Khác với câu trả lời hộ của vị chủ tịch, anh Dê thừa nhận, “vừa rồi tôi có mua một ít gỗ và đó là số gỗ tôi mua”.
Cán bộ mua gỗ của dân, điều này khác gì khuyến khích người dân vào rừng khai thác gỗ? Cũng không khác mấy khi người ta dùng cụm từ dân là lâm tặc và cán bộ mua gỗ là chủ đầu nậu. Như thế, sẽ có không ít người hỏi bao nhiêu năm nữa cánh rừng nguyên sinh hàng nghìn ha ở Suối Giàng bị đốn hết!
Điều lạ nữa là, lâm tặc ở đây vẫn hoành hành từng ngày, thế nhưng hơn 1 năm nay, cơ quan chức năng không bắt được vụ nào. Đống gỗ được để dưới gầm cầu thang ủy ban xã là lần bắt cuối cùng, song từ bao giờ thì lãnh đạo xã và kiểm lâm nơi đây không nhớ chính xác!
Theo thông tin PV nhận được, tại khu rừng Suối Giàng hiện nay không chỉ có việc người dân vào rừng khai thác gỗ về dùng mà có cả việc khai thác gỗ về bán. Bên cạnh đó, khi đi rừng lâm tặc còn mang theo cả súng để săn bắn, tận thu nguồn tài nguyên thiên nhiên vốn đang ngày một cạn kiệt. Nhưng cả kiểm lâm và lãnh đạo chính quyền xã Suối Giàng phủ nhận điều này. (Nông Nghiệp Việt Nam 6/11) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, tình hình phá rừng, lấn chiếm đất rừng ở vùng giáp huyện Hàm Thuận Bắc với huyện Di Linh (Lâm Đồng) xảy ra hết sức phức tạp, nhất là tại các khu vực đất ngoài quy hoạch 3 loại rừng và các dự án lâm nghiệp ở 4 xã vùng cao Đông Giang, Đông Tiến, La Dạ, Đa Mi.
Đối tượng vi phạm chủ yếu là dân tại địa phương và các xã giáp ranh của huyện Di Linh, Bảo Lâm. Qua các đợt kiểm tra, truy quét, lực lượng kiểm lâm và các đơn vị chủ rừng đã phát hiện, xử lý 66 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu 52,4 m3 gỗ các loại, 23 phương tiện vận chuyển gỗ trái phép và lập hồ sơ chuyển các cấp có thẩm quyền xử lý 41 trường hợp lấn chiếm 168.677 m2 đất lâm nghiệp trái phép tại các xã vùng cao.
Để ngăn chặn nạn phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép, Hạt Kiểm lâm huyện đã tham mưu UBND huyện Hàm Thuận Bắc ban hành Quyết định số 1841/QĐ-UBND về kế hoạch thực hiện một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng theo Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và chỉ đạo, đôn đốc các chủ rừng, chính quyền các xã tổ chức hội nghị quán triệt, triển khai xây dựng kế hoạch bảo vệ rừng, phát triển rừng.
Tổ kiểm lâm cơ động thường xuyên phối hợp với các ngành chức năng, các đơn vị chủ rừng, chính quyền địa phương mở nhiều đợt kiểm tra, truy quét bọn phá rừng ở vùng giáp ranh với huyện Di Linh và lập hồ sơ xử lý các đối tượng lấn chiếm, mua bán đất rừng trái phép tại các xã vùng cao, vùng giáp ranh.
Xây dựng quy chế hoạt động của kiểm lâm địa bàn và quy chế phối hợp thực hiện công tác kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, chống lấn chiếm đất lâm nghiệp. Hạt Kiểm lâm huyện đã phối hợp với Ban quản lý RPH Sông Quao, lực lượng bảo vệ rừng xã Thuận Hòa tổ chức 7 đợt kiểm tra, truy quét chống phá rừng tại khu vực giáp ranh với huyện Di Linh, với 90 lượt người tham gia.
Lực lượng kiểm lâm huyện phối hợp với Ban quản lý RPH Hàm Thuận - Đa Mi, Xí nghiệp lâm nghiệp Hàm Thuận Bắc, UBND xã Đa Mi, La Dạ triển khai 13 đợt kiểm tra, truy quét bọn phá rừng tại khu vực Đa Lanh, Đa Sô, giáp ranh với huyện Tánh Linh và khu vực giáp ranh với xã Lộc Nam, Di Linh. Các đơn vị chủ rừng cùng với chính quyền địa phương tăng cường kiểm tra, xử lý, ngăn chặn tình hình lấn chiếm đất lâm nghiệp và phá bỏ cây trồng trên đất.
Bước sang đầu mùa khô, lực lượng bảo vệ rừng của huyện Hàm Thuận Bắc đã triển khai đồng bộ các giải pháp chống phá rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và tập trung thực hiện tốt quy chế phối hợp trong công tác quản lý, bảo vệ rừng vùng giáp ranh giữa 3 huyện Hàm Thuận Bắc với Di Linh, Bảo Lâm (Lâm Đồng). (Báo Bình Thuận 6/11) đầu trang(
4/11, tại Ngã ba Cao Sơn, xã Vũ Nông (huyện Nguyên Bình), Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, ma tuý môi trường, Công an huyện Nguyên Bình phát hiện và thu giữ 1,89m3 gỗ tạp, xẻ vận chuyển trái phép trên xe U oát cứu thương.
Tại cơ quan Công an. lái xe Nguyễn Hải, sinh năm 1959, thường trú tại tổ 8, thị trấn Tĩnh Túc (Nguyên Bình) khai nhận, toàn bộ khối gỗ trên vận chuyển từ xã Mai Long (Nguyên Bình) cho một người không biết tên ở thành phố Cao Bằng.
Công an huyện Nguyên Bình đã thu giữ toàn bộ số gỗ trên để tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật. (Báo Cao Bằng 6/11) đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Cây sưa đỏ lớn trước cửa số nhà 75 phố Lý Thường Kiệt bị cưa trộm. (Nhân Dân 5/11) đầu trang(
Ngày 4-11, ông Nguyễn Thanh Bình - hạt trưởng Hạt kiểm lâm TP.Vinh (Chi cục kiểm lâm Nghệ An) - cho biết vừa bắt giữ 50 kg tê tê vận chuyển trái phép trên tàu lửa.
Sau khi nhận được tin báo, Hạt kiểm lâm Vinh phối hợp lực lượng bảo vệ chuyên ngành ga Vinh kiểm soát toa số 7, đoàn tàu SE6 đi hướng TP.HCM - Hà Nội. Tại đây kiểm lâm phát hiện 50 kg tê tê giấu dưới các gầm ghế.
Chủ nhân của số tê tê này là bà Nguyễn Thị Thu Hương (35 tuổi, trú xã Sơn Tây, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh).
Hiện Hạt kiểm lâm Vinh đang điều tra xử lý theo quy định của pháp luật. (Tuổi Trẻ 5/11) đầu trang(
Sau khi VietNamNet phản ánh lô gỗ hương tròn 128,981 m3 của Cty Đức Thắng bị ách tắc trong quá trình xuất khẩu, chiều ngày 5/11, Chi cục Hải quan Cảng Đà Nẵng đã thừa nhận hồ sơ hợp pháp và đã chịu làm thủ tục xuất khẩu sau 8 ngày bị ách tắc.
Ông Nguyễn Quang Lãng, Chi cục trưởng Hải quan Cảng Đà Nẵng cho biết: Sau khi có ý kiến chỉ đạo của Cục Hải quan Đà Nẵng, lô hàng đã được thông trong chiều 5/11.
Việc DN bị “giam lỏng” hàng trong 8 ngày, thiệt hại nhiều mặt, ông Lãng khẳng định mình không sai.
Trước đó, trong sáng ngày 5/11, đại diện DN đã có cuộc tiếp xúc với Cục trưởng HQ Đà Nẵng ông Nguyễn Tiến Thọ.
Tại buổi làm việc, đại diện DN này đã bày tỏ sự bức xúc đối với cách làm việc chậm trễ, thiếu trách nhiệm của Hải quan Cảng ĐN.
“Lô hàng của DN không thuộc đối tượng điều chỉnh của thông tư 40 bởi tên khoa học rất rõ ràng nhưng hải quan lại bảo vướng và còn nói “đi được đâu xuất khẩu được thì đi”.
Không những thế, mặc dù không biết lô hàng có xuất khẩu được hay không nhưng hải quan vẫn ra quyết định cho DN đi nộp thuế xuất khẩu gần 200 triệu đồng. Đến nay đã sang ngày thứ 8 mà vẫn không chịu trả lời”, đại diện Cty Đức Thắng bức xúc.
Ông Thọ cho biết: Sau khi nghe báo cáo từ Chi cục, lô hàng bị vướng thông tư 40 nên ông đã yêu cầu Chi cục Hải quan Cảng Đà Nẵng gửi tờ khai lên để đối chiếu và ông cũng bất ngờ trước thông tin DN đã nộp thuế.
“Tôi đoán vướng mắc là do tên Latinh của lô hàng”, ông Thọ cho biết.
Trước thắc mắc của DN về lô hàng bị chậm trễ, ông Thọ thông tin: Vì thông tư 40 mới có hiệu lực, liên quan đến chủng loại gỗ rất phức tạp nên cơ quan hải quan phải thận trọng. Trong ngày 5/11 sẽ có trả lời cụ thể.
Ông Thọ cũng khẳng định: “99% các lô hàng gỗ xuất nhập khẩu đều có sai sót về hồ sơ và trọng lượng”. Và vị Cục trưởng Hải quan Đà Nẵng cũng hướng dẫn cho DN: Nếu anh em (DN) thấy có vướng mắc, trọng lượng bị dư thừa so với hồ sơ thì nên thành thật khai báo với cơ quan hải quan để giải quyết (?!).
Không như lời ông Thọ và lãnh đạo Chi cục HQ Cảng ĐN đang xác minh xem gỗ hương này có phải xin giấy phép Cites hay không thì ngày 29/10, ông Nguyễn Văn Bình, Đội trưởng Đội thủ tục đã kết luận: Lô hàng thuộc điều chỉnh của thông tư 40 nên để làm thủ tục xuất khẩu, buộc Cty Đức Thắng phải liên hệ với cơ quan Cites VN để bổ sung giấy phép.
Cán bộ Hải quan Cảng Đà Nẵng hướng dẫn cho DN đi xin giấy phép Cites mới được làm thủ tục xuất khẩu. Đến giờ Cục Hải quan ĐN lại thừa nhận lô hàng hợp pháp?
Trong lúc đó, cơ quan kiểm lâm Đà Nẵng đã xác nhận, lô hàng trên không thuộc danh mục chịu sự điều chỉnh của thông tư 40.
Ông Nguyễn Thành Kiên – Đội trưởng Đội KLCĐ phòng cháy chữa cháy – Chi cục KL Đà Nẵng cho biết: Cơ quan này chịu trách nhiệm với xác nhận lô hàng của Cty Đức Thắng.
Ông Kiên cũng nói thêm, cơ quan kiểm lâm là đơn vị đủ tư cách pháp nhân để xác định các mặt hàng gỗ. Trong trường hợp nếu cơ quan hải quan cảm thấy nghi ngờ lô gỗ này thì có thể phát văn bản gửi cơ quan chuyên môn quản lý, kiểm soát lâm sản là Cục kiểm lâm và Chi cục kiểm lâm sở tại.
“Trong trường hợp cuối cùng có thể phát văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền giám định số gỗ này. Tuy nhiên, qua các phương pháp nghiệp vụ, chúng tôi khẳng định lô gỗ hương này không nằm trong danh mục điều chỉnh của thông tư 40”, ông Kiên nói.
Được biết, Hội Doanh nghiệp Hương Khê – Hà Tĩnh cũng đã gửi công văn kiến nghị sự việc tới Tổng cục Hải quan, Cục HQ Đà Nẵng và Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng.
Trong văn bản này, Hội DN Hương Khê khẳng định, đối chiếu với các quy định thì lô hàng này không thuộc đối tượng điều chỉnh của thông tư 40.
Và Hội DN cũng đề nghị cơ quan hải quan sớm trả lời sự việc để tránh gây thiệt hại thêm cho DN. Trong trường hợp lô hàng đúng quy định thì đề nghị xử lý việc làm thiếu trách nhiệm của lãnh đạo, cán bộ Chi cục HQ Cảng Đà Nẵng.
Được biết, Cty Đức Thắng là DN thường xuyên làm thủ tục XNK tại Đà Nẵng, mỗi năm đóng thuế XK hàng tỷ đồng. Sau sự việc bị ách tắc lần này, lãnh đạo Cty cho biết sẽ tính đến việc xuất khẩu hàng trên địa bàn khác vì thủ tục hành chính phiền hà. (Vietnamnet.vn 6/11) đầu trang(
Vì lợi nhuận, hàng trăm con người đua nhau phá rừng xẻ gỗ. Hàng chục hécta rừng thông cấm khai thác thuộc huyện Đắk Glei đang bị lâm tặc “xẻ thịt” trước sự bất lực của chính quyền địa phương.
Tại tiểu khu 96, giáp ranh giữa thị trấn Đắk GLei và xã Đắk Pét của Đắk Glei, từng vạt rừng thông trưởng thành bị san phẳng. Những cây thông đường kính từ 30-50cm bị chặt hạ trơ gốc, nằm ngổn ngang. Nhiều khúc gỗ lớn đã được cắt khúc vuông vắn đang chờ được chuyển đi.
Lâm tặc ở đây chủ yếu hạ thông thành từng khúc 3-4m vào lúc chập choạng tối và ban đêm. Tại khu rừng thông thuộc địa phận thị trấn Đắk Glei, càng đến gần, tiếng cưa xăng càng đinh tai nhức óc, tiếng cây rừng đổ ào ào. Tại đây, đám lâm tặc 15 người đang dùng cưa xăng xẻ những cây thông thành khúc. Sau khi cắt được hàng chục khúc gỗ, nhóm lâm tặc nhanh chóng xếp lên xe theo con đường mòn lao ra khỏi rừng.
Tại Đắk Glei có gần 10 nhóm lâm tặc phá rừng. Chúng khai thác của rừng mà như của riêng, chẳng thấy ai ngăn cản, truy đuổi.
Theo ông Nguyễn Văn Hải - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Glei - hơn 1 năm trở lại đây rừng thông bị một số người khai thác ken cây (cắt vỏ ở gốc chờ cây chết dần để khai thác), rồi chiếm đất làm nương rẫy trái phép. Mới đây vào ngày 30.9, đám lâm tặc khai thác hơn 21m3 gỗ thông, tuy nhiên khi tuồn ra khỏi rừng đã bị kiểm lâm huyện Đắk Glei bắt giữ, nhưng lại để sổng đối tượng khai thác.
Ông Nguyễn Hữu Thành - Giám đốc Lâm trường Đắk Pô Kô (Đắk Glei), đơn vị quản lý tiểu khu 96 - thừa nhận việc ngăn chặn rất khó; bởi lâm tặc thường lợi dụng đêm tối, trời mưa để khai thác, vận chuyển.
Để ngăn chặn lâm tặc, đơn vị này đã cho đóng đinh vào thân cây nhằm làm hư hỏng phương tiện, nhưng tình hình vẫn không khả quan. Ông Thành cho hay, người của ông rất nhiều lần bị lâm tặc chống trả, đe dọa tính mạng. Vì lực lượng mỏng nên lâm trường đành bất lực để lâm tặc ung dung chở gỗ ra bìa rừng.
Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Glei, từ đầu năm đến nay đơn vị đã phát hiện xử lý 133 vụ phá, lấn chiếm rừng trái phép, trong đó có 15 vụ khởi tố hình sự; phạt hơn 1,9 tỉ đồng. Diện tích rừng bị mất 48,1ha, chủ yếu là rừng phòng hộ và rừng sản xuất. (Lao Động 5/11) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Cách đây trên vài mươi năm, quế là cây có giá trị kinh tế cao của miền núi Quảng Nam. Thời ấy, thị trấn Trà My “phất” lên nhờ quế. Các vườn quế bạt ngàn trải xanh khắp các sườn đồi ở các huyện miền núi của tỉnh. Nhưng do sự vận động của thị trường, cây quế lụi tàn như người ta thường nói “đắt quế ế củi”.
Đến cây thứ hai là cây trẩu. Nghe nói dầu trẩu làm được thứ gì đó giá trị lắm ở các nước trên thế giới. Người ta thi nhau trồng trẩu. Thế rồi cây trẩu chưa cho kết quả đã phải nhanh chóng chặt bỏ. Bây giờ chạy xe từ Trà My về Tam Kỳ, ta thấy còn một ít cây trẩu cao to trên các đồi núi ven đường, chứng tích của một thời quá vãng...
Do yêu cầu phát triển, Nhà nước cùng người dân trăn trở để tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát huy tiềm năng đất đai. Từ đó cây keo lá tràm, cây keo tai tượng xuất hiện cùng với sự phát triển của công nghiệp giấy nội địa và xuất khẩu bột làm giấy; công nghiệp đóng bao bì và nhu cầu gỗ dân dụng khi rừng tự nhiên đã bị kiệt quệ. Giá trị của cây keo không cao, một héc ta keo 5 - 6 năm thu được 30 - 40 triệu đồng, nhưng chắc ăn. Điều quan trọng là có thị trường tiêu thụ. Cây keo thịnh hành đã kéo theo bao điều thay đổi.
Quảng Nam trước đây vài mươi năm cơ man là đồi trọc. Nhưng vì miếng cơm manh áo thì dẫu có san núi bạt đồi con người cũng sẵn sàng. Và đây! Giờ đây, theo các con đường Đại Lộc - Đông Giang, Nam Giang; Thăng Bình - Hiệp Đức, Quế Sơn; Tam Kỳ - Tiên Phước, Trà My; thị trấn Núi Thành - Tam Trà, Tam Sơn, Tam Thạnh... sẽ thấy bạt ngàn keo là keo.
Cây keo xuất hiện ở Quảng Nam như một cơ hội xóa đói giảm nghèo đầy hiệu quả. Người có rừng nhiều thì làm giàu từ keo; người có năm ba héc ta thì cơ bản thay đổi được cuộc sống, người có ít hoặc không có rừng thì đi chặt cây, cưa cây thuê mướn. Cây keo đã góp phần làm thay đổi cơ cấu, tập quán lao động của người dân.
Ở miền núi, người ta đã tự động hình thành từng tổ, từng đội khai thác cây keo theo phương thức khoán sản phẩm với kỷ luật lao động khá nghiêm ngặt. Ví như có người đi trễ thì tự động ra về. Vì một người trễ là ảnh hưởng năng suất của toàn đội. Cây keo làm cho dân miền núi không còn thời gian nông nhàn. Hết mùa gieo cấy, gặt hái là họ kéo nhau đi khai thác keo, chí ít mỗi công cũng được vài trăm nghìn đồng.
Đi dọc các con đường miền núi, nhìn lên các ngọn đồi thấy dốc đứng là vậy, đường hiểm là vậy, nhưng hàng ngàn tấn keo vẫn được con người đưa xuống rồi chất lên xe được tất. Thấy và biết được những điều như thế mới ngộ rằng, cây keo đã làm cho ý chí con người cao hơn, tính hợp tác trong lao động cao hơn.
Một điều có giá trị thực tiễn nữa là đâu có cần hô hào lớn tiếng, đâu có cần chương trình quảng cáo với panô áp phích rùm beng về cải tạo môi trường nhưng vì cuộc sống, vì quyền lợi thiết thân của người dân mà hàng chục ngàn héc ta keo cứ âm thầm phủ xanh đất trống đồi trọc trên xứ Quảng! (Báo quảng Nam 6/11) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Các nhà khoa học Australia cho rằng, hóa thạch là của thú mỏ vịt sống cách đây 5-15 triệu năm, có thân dài 1m, lớn gấp đôi loài thú mỏ vịt hiện nay.
Hóa thạch được tìm thấy ở bang Queensland chỉ còn duy nhất một chiếc răng. Mặc dù nơi tìm thấy chiếc răng hóa thạch là sa mạc, nhưng hàng triệu năm trước nơi đó có thể được bao phủ bởi rừng rậm. Nhóm các nhà khoa học thuộc trường Đại học New South Wales cho rằng con vật từng sinh sống xung quanh hoặc trong khu vực có nước.
Dựa vào đặc điểm răng và hóa thạch của một số loài khác cạnh đó, có thể thấy thức ăn yêu thích của nó là các loài giáp xác, rùa, ếch và cá.
Việc tìm ra loài thú mỏ vịt mới này khiến các nhà khoa học hết sức sửng sốt. Họ cho rằng vẫn còn nhiều điều chưa biết về tổ tiên cũng như họ hàng của loài vật này. Các nhà khoa học hy vọng sẽ tìm ra thêm nhiều bằng chứng hóa thạch tại cùng một địa điểm nữa để giải đáp những bí ẩn về các loài động vật tại Australia. (Chinhphu.vn 6/11) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||