Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 07 tháng 11 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Ngày 5.11, UBND tỉnh phê duyệt danh sách 22 đơn vị trên địa bàn tỉnh phải chi trả tiền sử dụng dịch vụ môi trường rừng năm 2014, với tổng số tiền phải nộp gần 48 tỉ đồng.
Trong đó, có 17 nhà máy thủy điện phải chi trả hơn 47,6 tỉ đồng, còn lại là 4 đơn vị sản xuất nước sinh hoạt phải chi trả gần 371 triệu đồng và 1 doanh nghiệp du lịch phải chi trả 19,2 triệu đồng.
UBND tỉnh giao cho Sở NN- PTNT chủ trì, phối hợp với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh cùng các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng triển khai thực hiện việc chi trả dịch vụ môi trường rừng nêu trên.. (Quangnam.gov.vn 6/11; Lao Động 6/11; Báo Quảng Nam 7/11) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Trong năm 2013, Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh (trụ sở tại huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai) thực hiện việc giao khoán quản lý và bảo vệ rừng đối với 320 hộ đồng bào Ba Na của 15 làng thuộc các xã Ayun, Đắk Jơ Ta (huyện Mang Yang); xã Hà Đông (huyện Đắk Đoa); các xã Kon Pne, Krong, Đắk Roong (huyện Kbang), với diện tích là 8.000ha.
Tổng kinh phí chi trả cho việc khoán quản lý và bảo vệ rừng gần 1,8 tỷ đồng, từ nguồn Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng.
Ông Nguyễn Văn Hoan, Giám đốc Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh cho biết, trước mỗi đợt phát tiền cho những hộ nhận giao khoán, cán bộ của Vườn, kiểm lâm phụ trách khu vực cùng người dân kiểm tra từng diện tích giao khoán, đồng thời phải có biên bản xác nhận, đánh giá lại thực trạng của rừng so với thời điểm trước khi giao khoán. Ngoài việc được hưởng lợi những nông sản phụ (mật ong, nấm, măng, củi khô, đót…), có thêm thu nhập từ diện tích nhận khoán, người dân còn được Nhà nước đầu tư cho cộng đồng thôn, làng vùng đệm của Vườn Quốc gia, với mức hỗ trợ 40 triệu đồng/thôn, làng/năm để quản lý rừng đặc dụng.
Đây là năm đầu tiên Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh triển khai thực hiện Quyết định 24 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020. Trong năm 2013 có 20 làng đồng bào dân tộc thiểu số thuộc vùng đệm của Vườn sẽ được hỗ trợ xây dựng các công trình công cộng như nhà rông, đường sá, giếng nước, tường rào, được hỗ trợ phân bón, giống cây con để phát triển sản xuất, hỗ trợ hệ thống loa phát thanh phục vụ cộng đồng…
Việc Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh giao khoán cho người dân tham gia quản lý, bảo vệ rừng không những giúp rừng khỏi bị xâm hại, được bảo vệ tốt hơn mà người dân còn có thêm nguồn thu nhập, cải thiện đời sống. Đây là những hộ được trưởng thôn, già làng đề cử sau khi đã tổ chức họp dân bình xét, lựa chọn đứng ra ký hợp đồng nhận giao khoán với Vườn. (Thanh Tra 7/11) đầu trang(
Đến hết tháng 10-2013, Ban Quản lý rừng phòng hộ Tĩnh Gia đã thiết kế, hướng dẫn cho các hộ nhận khoán đất sản xuất lâm nghiệp trồng mới được 84 ha rừng, trong đó có 64 ha rừng sản xuất, hoàn thành kế hoạch trồng mới rừng năm 2013 do UBND tỉnh giao.
Cùng với tập trung trồng mới và chăm sóc hơn 500 ha rừng sản xuất và rừng phòng hộ trồng trong các năm vừa qua, Ban Quản lý rừng phòng hộ Tĩnh Gia đã thực hiện nhiều giải pháp quản lý, bảo vệ an toàn 6.163,9 ha rừng.
Ban đã chủ động làm tốt công tác tuyên truyền cho các đơn vị, người dân chủ động thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng; phối hợp với hạt kiểm lâm và chính quyền địa phương kiểm tra các khu rừng trọng điểm, kiểm soát nghiêm nguồn lửa đem vào rừng; phát thực bì tạo ra hơn 67,3 km đường băng trắng cản lửa và đường cơ động tuần tra, chữa cháy rừng tại các khu rừng thông thuần loài, khu vực trọng điểm dễ cháy.
Đồng thời, phát dọn thực bì và đốt cháy trước dưới tán rừng thông 913 ha để giảm vật liệu cháy trong mùa nắng nóng, khô hanh. Do chủ động phát hiện sớm và triển khai kịp thời các biện pháp phòng, trừ sâu róm hại rừng thông, hiện nay hơn 2.500 ha rừng thông thuần loài của huyện Tĩnh Gia đã được bảo vệ an toàn, cây thông đã xanh tốt trở lại. (Báo Thanh Hóa 7/11) đầu trang(
UBND tỉnh Bình Phước vừa yêu cầu UBND các huyện, thị xã, sở ngành liên quan chủ động và tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô 2013 và 2014.
UBND tỉnh yêu cầu UBND các huyện, thị xã hướng dẫn xây dựng phương án bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng năm 2014 của các xã và các đơn vị chủ rừng; tăng cường thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong cộng đồng dân cư về bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng.
Sở NN&PTNT phối hợp Cảnh sát phòng cháy chữa cháy Công an tỉnh và Ban chỉ đạo bảo vệ rừng các huyện, thị xã tổ chức các đợt kiểm tra tại các vùng có nguy cơ cháy cao, yêu cầu các chủ rừng thực hiện việc bố trí lực lượng, phương tiện tại các khu vực trọng điểm về phá rừng, cháy rừng để kịp thời phát hiện, xử lý; phối hợp Trung tâm khí tượng thủy văn, Đài PTTH tỉnh thực hiện công tác dự báo cháy rừng trên địa bàn tỉnh…
Cùng với đó, UBND tỉnh cũng yêu cầu UBND các huyện, thị xã, sở ngành liên quan tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ theo Chỉ thị số 1685 ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ. (Binhphuoc.gov.vn 7/11) đầu trang(
TP Kon Tum hiện có gần 7.000 ha diện tích rừng và đất lâm nghiệp, trong đó, diện tích đất có rừng trên 1.000 ha được phân bố rải rác, xen nương rẫy. Để bảo vệ diện tích rừng trong thời điểm giao mùa, thành phố Kon Tum đang chỉ đạo cơ quan chức năng tích cực triển khai các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), đặc biệt công tác tuyên truyền luôn đặt lên hàng đầu.
Với đặc thù là rừng xen nương rẫy của đồng bào dân tộc thiểu số nên việc giữ rừng được Hạt kiểm lâm thành phố xác định ngoài cơ quan chức năng thì chính bà con sống gần rừng đóng vai trò hết sức quan trọng. Qua nghiên cứu thực tế tập quán sinh hoạt, Hạt kiểm lâm thành phố đã đa dạng hóa phương thức tuyên truyền từ cổ động trực quan, lồng ghép tuyên truyền miệng trong các buổi sinh hoạt, hội họp của thôn, làng hay đến tận từng gia đình.
Trung bình hàng năm Hạt kiểm lâm Thành phố đã tổ chức trên 60 đợt tuyên truyền, qua đó đã truyền tải những nội dung quan trọng quy định công tác QLBVR như những điều cấm không được làm, trách nhiệm của người dân trong việc tham gia cùng chính quyền địa phương quản lý, bảo vệ rừng, ngăn chặn những hành vi xâm phạm đến diện tích rừng, thực hiện đúng quy trình phát nương làm rẫy có điều khiển, tránh tình trạnh để cháy lan sang rừng, không được sử dụng lửa trong rừng qua đó đã nâng cao trách nhiệm của người dân tham gia tích cực trong việc giữ rừng, PCCCR mùa khô.
Bên cạnh công tác tuyên truyền, Hạt kiểm lâm còn tham mưu Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong QLBVR-PCCCR thành phố xây dựng phương án phòng cháy chữa cháy rừng từ thành phố đến các xã có rừng và chủ rừng, chỉ đạo kiểm tra liên ngành những khu vực trọng điểm, dễ cháy, phân công trực chỉ huy, giám sát, đôn đốc chủ rừng, UBND các xã có rừng thực hiện tốt phương án đã xây dựng.
Củng cố và đi vào hoạt động hiệu quả 33 tổ đội quần chúng phòng cháy, chữa cháy rừng tại các khu dân cư với tổng số 320 người, chuẩn bị phương tiện, vật dụng, chủ động đối phó khi có cháy rừng xảy ra. Nhờ chú trọng triển khai đồng bộ các biện pháp nên trong mùa khô 2012- 2013 trên địa bàn thành phố chỉ xảy ra 2 vụ cháy rừng và được huy động dập tắt kịp thời nên thiệt hại không đáng kể.
Để giảm thiểu thiệt hại do cháy rừng gây ra, trong thời điểm này, Hạt kiểm lâm thành phố đang tiếp tục đẩy mạnh triển khai các phương án phòng cháy, chữa cháy rừng, chuẩn bị tốt phương tiện, vật dụng và nhân lực để sẵn sàng đối phó khi có cháy rừng xảy ra. (Kontumcity.kontum.gov.vn 5/11) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Trong hai ngày 29-30/10, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và Bộ Nông-Lâm nghiệp Lào đã tiến hành buổi Đối thoại chính sách về quản lý rừng và thương mại lâm sản.
Buổi đối thoại này nằm trong khuôn khổ chương trình EU FAO FLEGT Châu Á hỗ trợ cho Việt Nam là quốc gia đàm phán Hiệp định Đối tác Tự nguyện VPA/FLEGT với EU. Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng góp phần làm sâu sắc thêm hiệp định hợp tác song phương về Lâm nghiệp đã ký giữa Việt Nam và Lào, đồng thời thể hiện cam kết của hai quốc gia trong việc thực hiện Kế hoạch hành động FLEGT nhằm bảo vệ rừng, thực thi pháp luật lâm nghiệp, kiểm soát, ngăn chặn những hành vi buôn bán, vận chuyển gỗ, lâm sản và các loài hoang dã trái phép.
Phát biểu tại buổi Đối thoại ông Võ Đại Hải- Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, Việt Nam đã nhấn mạnh: Cả hai quốc gia đều nhận thức được vai trò quan trọng của ngành lâm nghiệp đối với phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường bền vững. Buổi đối thoại này thể hiện nỗ lực của hai Chính phủ trong việc thúc đẩy hợp tác song phương nhằm mục đích đề xuất các biện pháp hữu hiệu hơn trong lĩnh vực bảo vệ rừng.
Ông Thongphanh Ratanalangsy, Phó cục trưởng Cục Thanh tra Lâm nghiệp Lào đã chia sẻ “Hiện nay một lượng gỗ lớn của Lào còn được khai thác từ các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng đất và vấn đề này là không bền vững. Trong thời gian qua Chính phủ Lào đã và đang nỗ lực lập qui hoạch, xây dựng khung pháp lý để quản lý rừng tốt hơn.
Do vậy, buổi đối thoại này là cơ hội rất tốt để hai bên cập nhật và trao đổi thông tin về khuôn khổ pháp lý, chính sách hiện hành liên quan đến quản lý rừng, thương mại gỗ và lâm sản hai quốc gia. Buổi đối thoại này cũng tạo điều kiện cho các cơ quan chuyên ngành của Lào trao đổi, học hỏi kinh nghiệm của phía Việt Nam trong quản lý rừng, thực hiện các sáng kiến quốc tế đặc biệt là đàm phán Hiệp định Đôi tác Tự nguyện VPA/FLEGT.
Ông Jong-ha Bae, trưởng Đại diện FAO tại Việt Nam, đại diện Chương trình EU FAO FLEGT đã đánh giá cao sáng kiến tổ chức buổi Đối thoại này của hai nước. Ông nhấn mạnh: Việt Nam đang trở thành một đối tác quan trọng mới nổi trong lĩnh vực chế biến và xuất khẩu đồ gỗ trong khu vực và trên thế giới, trong khi đó Lào là một trong quốc gia xuất khẩu gỗ chính cho Việt Nam.
Sự kiện này khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa hai nước láng giềng đồng thời cũng nêu bật tầm quan trọng và qui mô của hoạt động mà hai phía thực hiện để giải quyết các vấn đề liên quan đến quản trị rừng.
Hai bên đã đánh giá cao sáng kiến tổ chức buổi đối thoại này cũng như những hoạt động hợp tác ở cả cấp trung ương và địa phương trong lĩnh vực bảo vệ rừng và thương mại lâm sản của hai quốc gia trong thời gian qua.
Qua đó đã góp phần giảm đáng kể các vụ cháy rừng, các vụ vi phạm pháp luật về khai thác, vận chuyển và buôn bán gỗ, động vật hoang dã dọc tuyến biên giới Việt Nam- Lào.
Hai bên nhất trí tăng cường triển khai các giải pháp nhằm cụ thể hóa các hoạt động đã được nêu trong MOU. Cụ thể hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa trong việc trao đổi thông tin liên quan đến luật pháp, chính sách, tiến trình đàm phán VPA/FLEGT, công tác bảo vệ rừng, thương mại lâm sản.
Hai bên nhất trí giao Vụ Khoa học, Công nghệ và Hợp tác quốc tế của Tổng cục Lâm nghiệp và Cục Thanh tra Lâm nghiệp Lào là hai cơ quan đầu mối trong việc trao đổi thông tin giữa hai bên. Hai bên cũng nhất trí xây dựng mô hình hợp tác điểm giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bollikhămxay, tỉnh Quảng Bình với tỉnh Khăm Muộn về bảo vệ rừng và chống khai thác, vận chuyển và buôn bán lâm sản trái phép dọc biên giới.
Hai bên cũng kêu gọi các tổ chức, chương trình quốc tế tiếp tục hỗ trợ nguồn lực cho cả hai bên để thực hiện các hoạt động hợp tác đã được nhất trí trong buổi đối thoại này. (Nông Nghiệp Việt Nam 7/11) đầu trang(
Khí hậu vùng Bắc Trung Bộ không lý tưởng cho việc trồng cây cao su. Tuy nhiên, do chưa tìm được loại cây trồng nào cho hiệu quả kinh tế cao bằng loại cây trồng này nên người dân nơi đây vẫn trồng cao su như một cách “đánh cược” với sự khắc nghiệt của thời tiết.
Theo Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), việc trồng cao su ở các tỉnh Bắc Trung Bộ là có quy hoạch theo chủ trương của Chính phủ. Cụ thể, theo quy hoạch đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020, khu vực này có khoảng 80.000 ha.
Tuy nhiên, hiện các tỉnh trồng vượt quy hoạch, đưa tổng diện tích cao su toàn vùng lên tới 80.500 ha. Đặc biệt, cao su tiểu điền phát triển vượt kiểm soát của địa phương, nhất là giai đoạn từ 2009-2011, khi giá cao su đạt mức cao kỷ lục (120 triệu đồng/tấn).
Thực tế, cây cao su đã giúp người dân xóa đói giảm nghèo, thậm chí là làm giàu. Tuy nhiên, cái giá mà họ “đặt cược” khi trồng cao su tại vùng đất thường xuyên phải hứng chịu mưa bão, gió Lào, khô hạn không hề rẻ. Sau hai cơn bão số 10 và 11, toàn vùng Bắc Trung Bộ có hơn 10.000 ha cao su bị gãy đổ hoàn toàn không thể phục hồi. Riêng cơn bão số 10 đã ảnh hưởng tới 22.000 ha cao su của 5 tỉnh từ Nghệ An đến Thừa Thiên- Huế (trong đó có một phần bị thiệt hại hoàn toàn và một phần có thể phục hồi).
Bộ trưởng NN&PTNT Cao Đức Phát lý giải: “Cơn bão số 10 là cơn bão mạnh nhất 30 năm qua. Gió cấp 10, 11, có lúc giật cấp 13, 14 bao phủ toàn bộ địa bàn tỉnh Quảng Bình và một phần tỉnh Quảng Trị, chứ không chỉ ở vùng ven biển. Khi rà soát lại diện tích trồng cao su, chúng tôi thấy có nơi trồng quá gần biển, trồng bằng những giống cho năng suất cao nhưng cây cao, dễ gãy đổ”.
Với hơn 70.000 ha cao su còn lại, nhiều địa phương đã có các phương án để chăm sóc, bảo vệ như vun lại gốc những cây bật rễ, cưa cành gãy, bôi thuốc để ra mầm mới. Nhiều tỉnh đã chủ động hỗ trợ bà con tiền mua máy cưa, mua thuốc, hỗ trợ nhân công và tiêu thụ gỗ cao su. Bên cạnh đó, để đối phó các cơn bão sắp tới, các địa phương đã lên phương án bảo vệ như chằng chống cây ở vùng có nguy cơ bão lớn, điều chỉnh lại mật độ thâm canh...
Ông Nguyễn Văn Bài, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Trị cho biết, chủ trương trồng cây cao su trên địa bàn tỉnh là đúng đắn. Chủ trương này đã khai thác được tiềm năng lợi thế, hình thành vùng chuyên canh gắn với công nghệp chế biến và thị trường, góp phần xóa đói giảm nghèo...
Tuy nhiên, để đảm bảo cho cây cao su phát triển bền vững, Quảng Trị đang rà soát lại quy hoạch chi tiết các vùng trồng cao su, không mở rộng thêm diện tích trồng cao su ở vùng ven biển. Đồng thời, tỉnh cũng có chính sách hỗ trợ khi người dân chuyển đổi một số diện tích bị thiệt hại trên 70% do ảnh hưởng của cơn bão sang trồng hồ tiêu, sắn, khoai, trồng cỏ nuôi bò, trồng rừng. Mặt khác, việc tăng cường trồng và bảo vệ các vành đai rừng chắn gió cho các vườn cao su và vành đai rừng phòng hộ ven biển cũng sẽ được tính đến.
Sau khi người dân trồng cao su bị thiệt hại nặng sau bão, Cục Trồng trọt đã đặt vấn đề có nên tiếp tục trồng cao su hay trồng loại cây trồng khác. Nếu không trồng cao su thì chọn cây trồng nào thay thế cho phù hợp? Tuy nhiên, tại thời điểm này, ngành nông nghiệp chưa đưa ra được loại cây trồng nào (có hiệu quả kinh tế tương tự) có thể thay thế được cây cao su cho vùng đất này.
Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết, trước mắt, trong điều kiện biến đổi khí hậu với tần suất và cường độ gió bão tăng lên, Bộ NN&PTNT sẽ rà soát lại toàn bộ diện tích trồng cao su ở khu vực này, sau đó sẽ khuyến cáo người dân nên trồng ở vùng nào và hạn chế trồng ở vùng nào để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Ông Phạm Đồng Quảng, Cục phó Cục Trồng trọt khuyến cáo, bà con nên tận thu mủ và chặt lấy gỗ để bán trước khi cây chết hoàn hoàn. Sau đó, có thể xem xét trồng một vụ cây ngắn ngày như ngô, khoai lang, rau... để cứu vãn tình thế. Cục cũng đề xuất với lãnh đạo Bộ và Chính phủ trợ cấp thóc giống, hạt giống cây trồng cho người dân và kinh phí khôi phục lại hệ thống thủy lợi cho các vùng chịu tác động mạnh của cơn bão số 10, số 11.
Về việc trồng lại cao su, ngành nông nghiệp và chính quyền địa phương sẽ tính toán kỹ trước khi đưa ra quyết định. Các địa phương cần cụ thể hóa khu vực nào nên trồng lại, áp dụng biện pháp kỹ thuật mới nào để giảm thiểu rủi ro do bão lớn có thể xảy ra; khu vực nào nên chuyển sang trồng loại cây trồng khác. Trên cơ sở đó, ngành nông nghiệp sẽ thống nhất quan điểm về phát triển cao su tại khu vực này.
Về lâu dài, Bộ sẽ nghiên cứu chiến lược phát triển giống cây cao su phù hợp với điều kiện khí hậu Bắc Trung Bộ như: chọn giống chịu gió bão tốt, tạo hình cây thấp, tỉa cành và dùng cọc chống đỡ cho cây trước mùa mưa bão (Tin Tức 7/11) đầu trang(
Thu vắt và phân tích ADN, thu âm tiếng hót tại các đỉnh núi, sử dụng micro định hướng... là những phương pháp hiện đại đã được áp dụng để phát hiện về sự tồn tại nhiều loại động vật tại các khu rừng dọc biên giới Việt - Lào thuộc hai tỉnh Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam.
Phương pháp giám sát vượn thông qua việc thiết lập 10 điểm thu âm tiếng hót tại các đỉnh núi, sử dụng micro định hướng Mke 300 do Đức sản xuất và máy ghi âm IC Recorder của Hãng Sony để ghi âm vượn vào sáng sớm.
Bước đầu ghi nhận được rất nhiều đàn vượn đen má trắng hiện diện trong các khu vực giám sát thuộc các khu bảo tồn sao la Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam và vườn quốc gia Bạch Mã. Từ kết quả ban đầu này, cán bộ kiểm lâm đang phân tích để xác định kết quả cụ thể hơn về số lượng và cơ cấu bầy đàn.
Ngoài ra, qua ghi âm giọng hót cũng đã ghi nhận sự có mặt của các loài chim trĩ đặc hữu, quý hiếm như trĩ sao và các loài gà lôi.
Phương pháp bẫy ảnh và khảo sát theo các tuyến điều tra cũng đã ghi nhận sự có mặt của các loài mang Trường Sơn (Metiacus truongsonensis), sơn dương (Naemorhedus sumatraensis), thỏ vằn (Nesolagus timminsi), mang (Muntiacus muntjak), khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides), khỉ đuôi dài (Macaca fascicularis), tê tê (Manis javanica)…
Đặc biệt, dự án đã cử chuyên gia quốc tế có kinh nghiệm tập huấn cho cán bộ kiểm lâm của khu bảo tồn, phương pháp thu thập các mẫu vắt để lấy máu phân tích ADN. Cơ sở khoa học của phương pháp này là loài vắt hút máu các động vật và máu của các loài thú (bị vắt hút máu) sẽ được lưu giữ trong cơ thể vắt tới 3 tháng.
Việc thu vắt và phân tích ADN sẽ giúp xác định được sự có mặt của các loài thú tại khu vực thu vắt. Phương pháp thu mẫu vắt sẽ tập trung tại các địa điểm có phân bố (tiềm năng) của các loài cần nghiên cứu (trong trường hợp này là loài sao la) và mở rộng tại các địa điểm khác nằm trên các tuyến tuần tra của nhân viên bảo vệ rừng.
Kết quả đạt được đến thời điểm này là 647 ống mẫu máu vắt đã được thu trên địa bàn Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam, với số vắt 19.000 cá thể và đã lựa chọn để gửi đi phân tích 75 ống mẫu (từ 1.332 cá thể vắt) tại Viện Động vật học Côn Minh (Trung Quốc) và Đại học Frankfurt, Đức.
Kết quả phân tích ADN 20 ống mẫu máu vắt ban đầu đã ghi nhận sự có mặt của các loài quan trọng như lợn rừng (Sus scrofa), sơn dương (Capricornis sumatraensis), chồn (Melogale moschata), mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis), mang (Muntiacus muntjak), sóc bụng đỏ (Dremomys rufigenis), khỉ (Macaque spp).
Tuy kết quả ban đầu chưa ghi nhận sự có mặt của loài sao la, một loài thú mới phát hiện và là “nhân vật chính” cho mục tiêu của dự án này, tại các khu rừng dọc biên giới Việt - Lào, nhưng với phương pháp giám sát hiện đại này, hi vọng câu trả lời về số phận của loài thú quý hiếm này sẽ được giải đáp trong thời gian sớm nhất.
Dự án dự trữ carbon và bảo tồn đa dạng sinh học rừng do Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) tại vùng sông Mêkông phối hợp với Chi cục Kiểm lâm Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam thực hiện từ năm 2011-2014, nhằm giám sát các chỉ số về đa dạng các loài động vật các khu rừng dọc biên giới Việt - Lào thuộc hai tỉnh Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam. (Tuổi Trẻ 6/11) đầu trang(
Ông Lê Xuân Sơn - Giám đốc Ban quản lý Dự án Thủy lợi thuộc Sở NN&PTNT cho biết: Trong vụ trồng rừng năm nay, đơn vị sẽ đầu tư 5 tỷ đồng để trồng 36,3 ha rừng ngập mặn ven đầm Thị Nại.
Hiên nay, việc thiết kế trồng rừng và chuẩn bị cây giống đã được chuẩn bị xong với tổng số khoảng 180.000 cây giống; gồm 2 loại cây bần trắng và mắm trắng. Dự kiến cuối tháng 11 đơn vị sẽ bắt đầu xuống giống. (Nông Thôn Ngày Nay 7/11) đầu trang(
Để tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; sử dụng rừng bền vững, ổn định cuộc sống của cư dân lâm nghiệp, UBND tỉnh vừa quyết định thành lập mới 2 ban quản lý rừng phòng hộ là Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Sông Bung và Nam Sông Bung.
Đồng thời UBND tỉnh cũng phê duyệt phương án điều chỉnh mở rộng lâm phận và sắp xếp, tổ chức lại 4 ban quản lý rừng phòng hộ trực thuộc Sở NN&PTNT gồm: Đăk Mi, A Vương, Sông Kôn và Sông Tranh. Theo đó, các ban quản lý rừng phòng hộ có hơn 271.500ha rừng sau khi đã rà soát, điều chỉnh mở rộng.
Theo đề án “Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2020” vừa được UBND tỉnh phê duyệt, toàn tỉnh sẽ quản lý, bảo vệ toàn bộ diện tích đất có rừng; khoán quản lý và bảo vệ hơn 2,1 triệu lượt héc ta rừng; khoanh nuôi, tái sinh hơn 232.600 lượt héc ta rừng; trồng hơn 177.300ha rừng; giao và cho thuê gần 359.000ha rừng.
Quyết định cũng điều chỉnh quy hoạch hơn 719.900ha 3 loại rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. (Báo Quảng Nam 7/11) đầu trang(
Để phục vụ cho kế hoạch trồng rừng năm 2013, huyện Lạc Sơn đã gieo ươm được 90 vạn cây lát, 150 vạn cây keo đủ tiêu chuẩn xuất vườn. Theo đó, kết thúc thời vụ, các xã, thị trấn trong huyện đã trồng được 1.423 ha rừng, đạt 173,54% kế hoạch, tăng 53,62% so với cùng kỳ năm 2012.
Trước đó, thực hiện tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ”, toàn huyện đã trồng được 38.250 cây lâm nghiệp và cây ăn quả các loại, vượt 6,3% kế hoạch, tăng 6,2% so với năm 2012.
Bên cạnh đó, từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm và chính quyền các xã cùng các thôn, bản tăng cường quản lý, bảo vệ rừng nên trên địa bàn huyện không có điểm nóng về chặt phá, buôn bán, vận chuyển gỗ trái phép. (Báo Hòa Bình 6/11) đầu trang(
10 tháng qua, huyện Đông Triều đã phối hợp với công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Triều và vận động bà con nông dân trong huyện tổ chức trồng mới thêm được gần 51 ngàn cây lấy gỗ, cây bóng mát với tổng 230 ha để bổ sung vào diện tích rừng lâm nghiệp tập trung của huyện.
Hiện nay, toàn huyện Đông Triều có khoảng 20 ngàn ha diện tích rừng. Trong đó tập trung chủ yếu ở 6 xã gồm Hoàng Quế, Hồng Thái Đông, Hồng Thái Tây, Bình Khê, An Sinh và Tràng Lương. Ngoài công tác khai thác và phát triển trồng rừng theo đúng quy định, huyện cũng đang chỉ đạo Hạt kiểm lâm huyện và các xã quan tâm hướng dẫn bà con cách bảo vệ rừng và ngăn chặn không để hiện tượng cháy rừng xảy ra.
Thời gian tới, huyện Đông Triều sẽ phối hợp với các cơ quan chuyên môn của huyện và các xã, thị trấn trên địa bàn tăng cường vận động người dân tiếp tục trồng rừng bổ sung vào vùng rừng mới khai thác và những vùng đất đã được chuyển đổi từ diện tích trồng cây ăn quả kém hiệu quả sang…nhằm góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân. (Đài PT - TH Quảng Ninh 6/11) đầu trang(
Ngày 1-11, Ban Quản lý Dự án tăng cường lâm nghiệp cộng đồng tỉnh đã tổ chức Hội thảo nâng cao năng lực quản lý rừng cộng đồng và các vấn đề liên quan tới biến đổi khí hậu.
Hội thảo tập trung thảo luận, trao đổi các vấn đề về biến đổi khí hậu, công tác quản lý rừng cộng đồng trong cả nước nói chung và Sơn La nói riêng; chỉ ra những nguyên nhân, thực trạng, các giải pháp về quản lý rừng cộng đồng và biến đổi khí hậu.
Đại diện Chi cục Kiểm lâm, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh đã tham luận về các vấn đề như: thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực quản lý rừng cộng đồng trên địa bàn tỉnh; chi trả dịch vụ môi trường rừng và giải pháp thời gian tới; nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu với ngành lâm nghiệp Sơn La; vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh trong ứng phó với biến đổi khí hậu... (Báo Sơn La 6/11) đầu trang(
Là huyện nghèo thuộc chương trình 30a duy nhất của tỉnh Bắc Giang, Sơn Động có hơn 60.000ha rừng và đất lâm nghiệp. Xác định rõ những tiềm năng, thế mạnh đó nên Đảng bộ, chính quyền huyện Sơn Động đã huy động các nguồn lực tài chính đầu tư phát triển kinh tế rừng là hướng đi đúng.
Giai đoạn 2006 - 2010, toàn huyện đã trồng được khoảng 9.000ha rừng tập trung, 446ha rừng phân tán và khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh gần 24.000ha bằng các nguồn vốn Dự án 661, Dự án Việt Đắc, vốn tự có của nhân dân, trong đó: vốn ưu đãi chiếm tỷ lệ hơn 40%, tạo điều kiện để phát triển kinh tế rừng.
Ông Nguyễn Ngọc Dân - Phó Chủ tịch UBND xã Long Sơn phấn khởi cho biết: “Long Sơn giờ không còn đất trống, đồi núi trọc. Toàn xã đã sử dụng hơn 14 tỷ đồng vốn vay của Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH) trồng được gần 2.000ha rừng kinh tế. Khai thác đến đâu, người dân vừa trả nợ cũ vay của ngân hàng khi đến hạn, vừa tích luỹ chuẩn bị năng lực để trồng mới ngay đến đó.
Một số hộ nhờ sử dụng vốn ưu đãi làm kinh tế vườn đồi, vườn rừng thoát cảnh nghèo khó, làm nhà mới, mua cả ô tô bán tải nhờ có tiền bán gỗ. Ngoài nguồn lợi từ rừng trồng, đồng bào dân tộc trong xã còn có thu nhập khá từ làm sản phẩm phụ như ba kích, nấm lim, nhựa thông, măng tre…”.
Ông Nguyễn Văn Nạp sinh sống ở thôn Thượng, xã Long Sơn trước đây chưa chú trọng đến trồng rừng và thiếu vốn, lo ngại đầu ra bấp bênh. Năm 2007, được Hội cựu chiến binh xã động viên và NHCSXH cho vay vốn ưu đãi kịp thời, ông đã trồng 3,8ha thông.
Vào năm sau thấy thị trường lâm sản khởi sắc, gỗ được giá, tiêu thụ dễ dàng, ông vay tiếp 20 triệu đồng từ chương trình giải quyết việc làm, mở rộng diện tích rừng, đến nay có tổng số 15ha. Mỗi năm ông bán 2ha keo 5 tuổi, thu lãi hơn 70 triệu đồng. Diện tích trồng thông ông coi như “của để dành”. Dự định 3 năm nữa mới khai thác, nhẩm tính sẽ có số tiền vài trăm triệu đồng.
Cũng như Long Sơn, kinh tế rừng ở Dương Hưu có chuyển biến tích cực. Chính quyền xã vận động, hướng dẫn các hộ mạnh dạn đầu tư vốn vay ưu đãi trồng rừng, ươm cây giống tại chỗ để giảm chi phí vận chuyển. Hiện tại, xã Dương Hưu có hơn 3.500ha rừng kinh tế, trong đó có 1.200ha đến tuổi khai thác.
Gia đình ông Bàn Vũ Quyền ở thôn Mùng, xã Dương Hưu đầu tư toàn bộ vốn vay ưu đãi cùng số tiền tiết kiệm của gia đình đã trồng được 25ha keo lá tràm. Năm ngoái, ông đã khai thác hơn 10ha, thu lợi nhuận 350 triệu đồng. Nguồn thu từ rừng có được từ sự tiếp sức của đồng vốn chính sách đã giúp cuộc sống của gia đình ông Quỳnh và nhiều hộ khác trong thôn, xã giảm nghèo nhanh, no ấm, sung túc và thúc đẩy thương mại, dịch vụ phát triển. Đến nay, vùng quê nghèo khó đã thay đổi từng ngày, có gần 40 ô tô đáp ứng nhu cầu vận chuyển gỗ.
Nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế rừng và cải tạo rừng tự nhiên trong giai đoạn tiếp theo, UBND huyện Sơn Động tập trung thực hiện các giải pháp đẩy mạnh giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, khuyến khích tích tụ đất để hình thành các vùng nguyên liệu tập trung…
“Căn cứ vào Đề án phát triển kinh tế rừng của huyện, NHCSXH chúng tôi thời gian qua đã giải ngân cho các xã, các hộ trồng rừng hơn 90/282 tỷ đồng tổng dư nợ của 8 chương trình tín dụng. Hướng tới, NHCSXH sẽ chủ động đổi mới công tác cho vay, tăng nguồn vốn vào sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng độ che phủ của rừng lên 78%, vượt 4,5% so với mục tiêu đề ra” - ông Giám đốc NHCSXH huyện Sơn Động cho biết. (Theo Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội 6/11) đầu trang(
Theo đánh giá, rừng ngập mặn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với vùng ven biển, đảo ở tỉnh Khánh Hòa. Tuy nhiên, diện tích rừng ngập mặn ở Khánh Hòa liên tục bị suy giảm; trong khi việc khôi phục lại đang rất khó khăn.
Tại khu vực đầm Bấy thuộc vịnh Nha Trang, các đoàn thể trong tỉnh vừa tổ chức trồng rừng trên 10.000 cây ngập mặn, với diện tích 2 ha, trong đó chủ yếu là cây đước. Việc khôi phục và trồng rừng ngập mặn tại vịnh Nha Trang được thực hiện từ năm 2002. Đến nay, khu vực này đã có hơn 10 ha rừng ngập mặn; trong đó 7 ha là do các đơn vị, tổ chức trồng và chăm sóc; qua đó góp phần quan trọng vào việc bảo vệ cảnh quan, môi trường, hệ sinh thái và tạo sinh kế cho người dân.
Hiện nay, tỉnh Khánh Hòa chỉ còn lại khoảng 78 ha rừng ngập mặn so với khoảng gần 2.500 ha rừng ngập mặn trước những năm 1990. Rừng ngập mặn ở Khánh Hòa bị suy giảm mạnh là do phong trào nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh trong thời gian gần đây.
Việc khôi phục lại rừng ngập mặn cũng gặp không ít khó khăn do đất ngập mặn trước đây đã biến đổi khiến cây giống ngập mặn khó thích nghi. Đây cũng là nguyên nhân chính khiến số cây ngập mặn được trồng mới cho tỷ lệ sống chỉ từ 50% đến 60%, có nơi từ 10% đến 20%.
Rừng ngập mặn có vai trò rất quan trọng đối với Khánh Hòa, tỉnh có 385 km đường bờ biển. Diện tích rừng ngập mặn phân bố ở 18 xã thuộc 5 huyện, thị xã, thành phố ven biển của tỉnh giúp chắn sóng, chắn gió, bảo vệ đường bờ biển, đê điều; môi trường sinh thái; các loài động-thực vật; ứng phó với biến đổi khí hậu…
Theo kế hoạch, từ nay đến năm 2015, tỉnh sẽ trồng khoảng 1,2 triệu cây để phủ kín diện tích đất ngập mặn còn lại, kinh phí thực hiện khoảng 26 tỷ đồng. (Báo Gia Lai 5/11) đầu trang(
Dưới sự chủ trì của ông Đinh Viết Hồng - Phó chủ tịch UBND tỉnh, sáng 6/11, UBND tỉnh họp để cho ý kiến vào quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng tỉnh Nghệ An đến năm 2020; điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng của các huyện Quỳnh Lưu và Tân Kỳ.
Theo quy hoạch, toàn tỉnh có 6 khu rừng đặc dụng gốm vườn Quốc gia Pù Mát, 2 khu bảo tồn thiên nhiên là Pù Huống và Pù Hoạt; Khu cảnh quan rừng săng lẻ Tương Dương; 2 khu rừng đặc dụng gắn với lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh là Nam Đàn và Yên Thành. Tổng diện tích 6 khu rừng đặc dụng là trên 172.460ha.
Tại cuộc họp, các thành viên cũng đã cho ý kiến vào kết quả rà soát, điều chính quy hoạch 3 loại rừng của huyện Quỳnh Lưu và Tân Kỳ. Việc điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng đối với 2 huyện này được thực hiện trước vì đây là những địa phương có nhiều dự án sử dụng rừng và đất lâm nghiệp. Theo điều chỉnh thì diện tích đất lâm nghiệp của huyện Tân Kỳ giảm hơn 619 ha, huyện Quỳnh Lưu giảm gần 785ha.
Sau khi nghe ý kiến góp ý của các thành viên dự họp, ông Đinh Viết Hồng yêu cầu Sở Nông nghiệp và PTNT - đơn vị xây dựng quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng cần sắp xếp lại các giải pháp theo thứ tự ưu tiên, trong đó chú trọng vào các giải pháp kỹ thuật lâm sinh, khoa học công nghệ, giao khoán đất lâm nghiệp vùng đệm, công tác khuyến nông – khuyến lâm, phòng chống cháy rừng, và đào tạo phát triển nguồn nhân lực…
Từ quy hoạch chung của tỉnh, ban quản lý 6 khu rừng đặc dụng sẽ tiến hành quy hoạch chi tiết và thực hiện đúng theo quy hoạch đã được phê duyệt. Về điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng của 2 huyện Quỳnh Lưu, Tân Kỳ, ông Đinh Viết Hồng đề nghị Sở NN&PTNT bổ sung ý kiến góp ý của các ngành và các địa phương để hoàn chỉnh quy hoạch. (Đài PT - TH Nghệ An 7/11) đầu trang(
Ngày 6/11, UBND tỉnh phối hợp với Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), Viện Sinh thái rừng và Môi trường đã tổ chức Hội nghị triển khai Dự án tổng điều tra, kiểm kê rừng trên địa bàn tỉnh, nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Hội nghị có sự tham dự của lãnh đạo các sở, ngành, địa phương, “chủ rừng” và các chuyên gia lâm nghiệp hỗ trợ quá trình điều tra, kiểm kê rừng.
Theo đó, Dự án tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc (giai đoạn 2013-2016) sẽ được triển khai trên địa bàn tỉnh trong các năm 2013-2014. Mục tiêu của dự án nhằm xác định chính xác diện tích rừng, chất lượng rừng và diện tích đất chưa có rừng; thiết lập hồ sơ quản lý rừng để phục vụ theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp hàng năm; đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Việc kiểm kê rừng được tiến hành trên phạm vi 71 xã, phường, thị trấn; trong đó đối tượng áp dụng gồm các “chủ rừng” nhóm I là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, “chủ rừng” nhóm II gồm các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng và các công ty lâm nghiệp nhà nước, tư nhân…
Tổng kinh phí để thực hiện điều tra, kiểm kê rừng trên địa bàn toàn tỉnh là 18,75 tỷ đồng. Theo phương án kiểm kê rừng, UBND tỉnh là cơ quan chủ quản, đơn vị thực hiện gồm Sở Nông nghiệp- PTNT, UBND các huyện, thị xã.
UBND tỉnh cũng có quyết định thành lập Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng của tỉnh do đồng chí Nguyễn Đức Luyện, Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng Ban; Tổ công tác kiểm kê rừng cấp tỉnh do ông Hà Công Tài, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm làm Tổ trưởng. Ngoài ra, ở địa phương có Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng huyện, tổ công tác xã. (Báo Đăk Nông 7/11) đầu trang(
Để quản lý tốt việc trồng cao su trên đất lâm nghiệp của các chủ đầu tư trên địa bàn tỉnh, hôm 5/11, UBND tỉnh Quảng Nam yêu cầu Sở NN&PTNT chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên và môi trường, các địa phương liên quan kiểm tra tình hình thực tế và trình tự, thủ tục liên quan đến việc trồng cao su trên đất lâm nghiệp của các chủ đầu tư trên địa bàn tỉnh.
Bên cạnh đó, chấn chỉnh ngay đối với các đơn vị không thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định trong quá trình thực hiện việc trồng cây cao su trên đất lâm nghiệp và tác động đến rừng khi chưa được cấp có thẩm quyền cấp phép, cho phép thực hiện trồng cao su.
UBND tỉnh giao Sở Tài nguyên và môi trường có trách nhiệm kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện công tác thu hồi đất, cho các chủ đầu tư thuê đất để thực hiện việc trồng cây cao su tại các địa phương trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua, gửi Sở NN&PTNT trước ngày 25.11 để tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh trước ngày 30.11.2013. (Nông Nghiệp Việt Nam 7/11; Báo Quảng Nam 7/11) đầu trang(
Tính đến thời điểm này, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Chi Lăng năm 2013 được địa phương đánh giá là được mùa. Trong đó, nhiệm vụ trồng rừng mới có nhiều khởi sắc, huyện thực hiện đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch được giao.
Tính đến hết tháng 10/2013, huyện Chi Lăng đã trồng rừng mới được 1.260,58 ha, đạt trên 105% kế hoạch, gồm: 596.750 cây thông mã vĩ, 517.930 cây keo lai, 377.501 cây bạch đàn hom. Trong đó, một số chỉ tiêu về trồng rừng mới đạt khá cao như: trồng cây phân tán tỉnh và huyện giao 280ha, huyện đã thực hiện được 780ha, đạt gần 280% kế hoạch; trồng rừng phòng hộ được 60ha, đạt 100% kế hoạch. Ngoài ra, huyện còn chủ động phối hợp với Công ty Cổ phần thuốc lá Ngân Sơn – Chi nhánh Lạng Sơn trồng được trên 157ha rừng...
Hiện huyện Chi Lăng đã và đang rà soát, tiến hành đúc rút kinh nghiệm nhằm phát huy những mặt mạnh, khắc phục những hạn chế để công tác trồng rừng tiếp tục mang lại hiệu quả thiết thực. (Báo Lạng Sơn 6/11) đầu trang(
Phú Thọ có 17.300ha rừng đặc dụng có hệ sinh thái đa dạng, phong phú có giá trị bảo tồn nguồn gen, đa dạng sinh học, gắn với danh lam thắng cảnh phục vụ du lịch, nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường sinh thái, làm giảm các tác động và những rủi ro của thiên tai. Để khai thác hết giá trị các khu rừng đặc dụng góp phần vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội lâu dài cần tiến hành quy hoạch, đầu tư phát triển.
Qua tổng hợp và khảo sát tổng diện tích 17.301,7ha rừng đặc dụng gồm đất lâm nghiệp: 16.578,4ha, đất ngoài lâm nghiệp: 723,3ha. Trong đó, Vườn quốc gia Xuân Sơn 15.048,0ha, Khu rừng Quốc gia Đền Hùng 538ha; Khu cảnh quan Núi Nả huyện Hạ Hòa 670,0 ha và Khu vực văn hóa lịch sử Phục Cổ huyện Yên Lập 330,0 ha.
Thực vật rừng đặc dụng có 2.245 loài, 1.164 chi và 399 họ; 71 loài thực vật quý hiếm. Động vật có 514 loài, 115 họ và 36 bộ; 52 loài động vật quý hiếm. 3 khu rừng đặc dụng có bộ máy tổ chức quản lý (Vườn quốc gia Xuân Sơn, Khu DTLS Đền Hùng, Trung tâm khoa học lâm nghiệp vùng Trung tâm Bắc bộ) còn 2 khu do chính quyền địa phương quản lý.
Mục tiêu quy hoạch nhằm bảo tồn và phát triển bền vững các khu rừng đặc dụng đến năm 2020 theo mục tiêu: Bảo tồn các hệ sinh thái ,nguồn gen đặc hữu, quý, hiếm và tính đa dạng sinh học của rừng, đồng thời khai thác lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, tài nguyên rừng, giá trị di tích lịch sử, văn hóa bản địa và các nguồn lực... để phát triển du lịch, tạo việc làm nâng cao đời sống nhân dân trong vùng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương, giữ vững trật tự xã hội và an ninh quốc phòng.
Về lâm nghiệp các khu bảo tồn tập trung nghiên cứu tập đoàn cây trồng mọc nhanh và cây trồng bản địa, thông qua các biện pháp kỹ thuật công nghệ trồng, phục hồi, làm giàu, cải tạo và quản lý bền vững rừng tự nhiên, rừng trồng và nông lâm kết hợp.
Để đạt mục tiêu của chương trình cần tập trung quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng và trang thiết bị phục vụ hoạt động bảo tồn và phát triển rừng gồm: Nhà làm việc cho cán bộ quản lý bảo tồn và phát triển rừng, các trạm bảo vệ rừng kết hợp với điểm dừng chân của khách du lịch sinh thái trên các tuyến đường đi bộ, mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác bảo tồn và phát triển rừng và phát triển kinh tế xã hội vùng đệm cải thiện đời sống kinh tế của người dân, đồng thời nâng cao nhận thức của người dân về lợi ích trong công tác bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng. (Báo Phú Thọ 6/11) đầu trang(
Trong tiềm thức của nhiều người, khoảng hơn 20 năm trước ở Tiên Yên hay Ba Chẽ có rất nhiều cánh rừng nguyên sinh. Xen kẽ trong các loại gỗ quý hiếm thì phổ biến là cây tre. Thế nhưng, giờ đây diện tích của những cánh rừng bản địa này đang bị thu hẹp dần để thay thế cho những cánh rừng keo - một thời được cho là “cây xoá đói, giảm nghèo”. Tuy nhiên, không phải ở nơi nào, cây keo cũng có thể phát huy được vai trò ấy.
Việc phát triển các rừng keo có ưu điểm là tiêu thụ được với số lượng lớn. Mặt khác, khi trồng keo người dân được hỗ trợ về vốn giống. Do vậy, ở Tiên Yên, Ba Chẽ rất nhiều người dân tham gia trồng keo. Các rừng keo vụ đầu, thời gian thường kéo dài từ 5-6 năm mới cho khai thác. Từ vụ thứ hai là từ 7-10 năm. Keo lại là loài “phàm ăn” nên đất nhanh bạc màu. Vì thế, sau mỗi vụ thu hoạch keo, bà con thường phải đốt rừng.
Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến thảm thực vật trên mặt đất. Thế nhưng người trồng keo không phải ai cũng “trúng”. Vì chỉ những nơi có đường giao thông thuận tiện, keo mới bán được giá. Còn những nơi heo hút, xa xôi, đường giao thông khó khăn, bà con phải bán rẻ vì thương lái ép giá.
Tiên Yên và Ba Chẽ có nhiều khu vực bị chia cắt bởi các con sông, suối lớn, nhỏ khiến giao thông đi lại rất khó khăn. Nhiều cánh rừng keo đến mùa thu hoạch chỉ bán được từ 15-20 triệu đồng/ha. Vậy là, nhiều người trồng rừng lại nhớ đến cây tre.
Ông Chìu Phu Hếnh, người sống lâu năm ở thôn Loong Toỏng (xã Thanh Sơn, Ba Chẽ) nằm bên kia con sông Ba Chẽ bảo: “Tre đóng bè vận chuyển qua sông dễ dàng, thậm chí thả trôi theo đường sông. Trước đây, khi chưa có đường 330 nối liền thị trấn Ba Chẽ với xã Lương Mông, người dân vẫn vận chuyển tre theo cách này. Các đoạn đường rừng nhỏ hẹp thì việc vận chuyển tre ra khỏi rừng cũng dễ hơn gỗ keo, vì tre có thể bó thành những bó rồi cho trâu kéo.
Các cánh rừng tre còn góp phần bảo vệ môi trường cao do việc khai thác tre không phải đốt rừng như khi khai thác gỗ keo. Không phải trồng mới khi khai thác xong vì “tre già măng mọc”. Thêm nữa, cây tre không cần phải chăm bón và đây còn là nơi bảo tồn các loại gỗ quý, các loại thảo dược có khả năng chữa bệnh cao. Trước đây chúng tôi hàng ngày vào rừng lấy cây thuốc để bán, bây giờ trong rừng keo có gì đâu”.
Việc giữ gìn và phát triển các cánh rừng tre ở Tiên Yên, Ba Chẽ còn góp phần phát triển kinh tế cho bà con vì ở hai địa phương này hiện đều có các cơ sở, nhà máy sản xuất giấy của Công ty TNHH MTV Sản xuất hàng xuất khẩu ANT với nhu cầu tiêu thụ tre làm nguyên liệu rất lớn. Trong mấy năm gần đây, Công ty luôn đứng trong tình trạng thiếu nguyên liệu sản xuất giấy là tre rừng.
Ông Phạm Đình Tuân, Phó giám đốc Công ty ANT cho biết: “Hai xưởng giấy của chúng tôi có công suất khoảng 1.300 tấn giấy sản phẩm/năm. Để có khối lượng sản phẩm như vậy, chúng tôi phải dùng đến khoảng 13.000 tấn tre/năm. Thế nhưng, nếu nguồn nguyên liệu dồi dào thì chúng tôi sẽ nâng công suất sản phẩm giấy lên cao hơn.
Việc sản xuất giấy từ tre của Công ty đã tạo công ăn việc làm cố định cho 92 công nhân được đóng bảo hiểm, thu nhập trung bình hơn 3,5 triệu đồng/người/tháng và chúng tôi có khoảng 600 công nhân lao động theo thời vụ như thu hoạch vận chuyển tre, chăm sóc tre và họ cũng có thu nhập khoảng 3 triệu đồng/người/ tháng theo thời vụ”.
Thị trường giấy xuất khẩu của Công ty chủ yếu sang thị trường Đài Loan, dù trong thời điểm kinh tế toàn cầu bị ảnh hưởng nhưng vẫn thuận lợi. Cũng theo ông Tuân thì giá cả hiện nay Công ty thu mua tre tương đương với giá keo người nông dân bán ra cho các đơn vị thu mua keo (khoảng 800 - 900 đồng/kg tre). Trong khi giá tre Công ty mua vào hàng năm là ổn định, còn giá keo lên xuống thất thường và ở các địa điểm khác nhau giá keo cũng khác nhau.
Hiện tại Công ty còn phải ra tỉnh ngoài mua tre, giá cả cũng tương đương trong tỉnh, nhưng việc vận chuyển vất vả và tốn kém hơn nhiều. Khác với cây keo, cây tre có thể sử dụng được gần hết chỉ vất đi cành lá, ngoài làm giấy ra tre còn dùng làm bàn, ghế, đũa, phoi từ các công nghệ này lại tận dụng được để làm giấy. Do vậy, việc mở rộng hơn các cánh rừng tre cũng là yếu tố rất khả quan vì ngoài việc bán tre trong tỉnh, các chủ rừng còn có thể bán tre ở tỉnh ngoài.
Xem ra việc phục hồi các rừng tre trước mắt ở các thôn bản cách trở sông suối ở hai huyện Tiên Yên, Ba Chẽ có hướng đi khả quan hơn là cứ tiếp tục phát triển các rừng keo. Trong khi các rừng keo ở các khu vực này chưa trở thành nguồn thu nhập chính để giúp người dân các vùng đất này thoát nghèo. (Báo Quảng Ninh 7/11) đầu trang(
Cuối năm 2011, Trạm khuyến nông Yên Thành phối hợp các xã Bắc Thành và Xuân Thành xây dựng mô hình trồng rừng cây nguyên liệu thâm canh trên diện tích 30ha keo tai tượng. 20 hộ dân tham gia mô hình.
Mô hình được thực hiện theo quy trình kỹ thuật thâm canh, cùng với một phần kinh phí hỗ trợ phân bón, giúp bà con thay đổi tập quán trồng rừng theo phương pháp quảng canh sang trồng rừng thâm canh đạt hiệu quả kinh tế cao. Tỷ lệ cây sống đạt trên 95%, không có sâu bệnh hại, chiều cao của cây đạt 4-5m đường kính từ 0,6-0,7m.
So với đối chứng các diện tích rừng trồng truyền thống thì mô hình trồng rừng thâm canh bằng cây keo phát triển nhanh, cải tạo đất, chống xói mòn và tăng nhanh độ che phủ của rừng.
Từ mô hình này, Trạm khuyến nông Yên Thành cũng đang đề nghị cấp trên tiếp tục phối hợp và tạo mọi điều kiện để việc trồng rừng cây nguyên liệu thâm canh được mở rộng trên địa bàn các miền núi trong huyện. (Đài PT - TH Nghệ An 7/11) đầu trang(
Đoàn giám sát của HĐND tỉnh Đăk Nông do ông Điểu K’Ré, Chủ tịch HĐND tỉnh làm trưởng đoàn đã tiến hành giám sát tình hình quản lý, sử dụng nguồn vốn phát triển rừng và công tác giao đất rừng, sử dụng đất rừng của Công ty TNHH MTV Gia Nghĩa.
Tại buổi làm việc, lãnh đạo Công ty TNHH MTV Gia Nghĩa đã báo cáo những kết quả đạt được, cũng như những khó khăn trong quản lý, sử dụng nguồn vốn phát triển rừng và giao đất rừng, sử dụng đất rừng của Công ty.
Hiện nay, Công ty quản lý hơn 19 nghìn ha đất tự nhiện. Diện tích rừng được bảo vệ theo phương án bảo vệ rừng tập trung năm 2013 là 9.423 ha. Tổng diện tích rừng, cao su được trồng là 477 ha. Công ty cơ bản giữ được rừng, đất rừng tạo môi trường sinh thái cho khu vực. Tuy nhiên, do địa bàn quản lý rừng và đất rừng xen kẽ trong khu dân cư, nương rẫy của người dân nên một số hộ lợi dụng cơi nới diện tích canh tác; công tác phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong bảo vệ rừng còn lỏng lẻo; quyền xử phạt của chủ rừng còn thấp, những tang vật thu được như lâm sản không được sử dụng nên không bù đắp chi phí trong quá trình xử lý khắc phục hậu quả.
Công ty đề nghị điều chỉnh chế tài xử phạt vi phạm hành chính tại Nghị định 99 của Chính phủ trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng và kiểm soát lâm sản; hỗ trợ ngân sách đầu tư cho việc bảo vệ và trồng rừng; quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư phát triển một số mô hình sản xuất nông lâm nghiệp tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm cải thiện đời sống, tạo việc làm cho người dân sống gần rừng, để họ gắn bó với công tác trồng rừng.
Tại buổi làm việc, Đoàn giám sát đề nghị Công ty cần quản lý chặt chẽ các xí nghiệp lâm nghiệp; quan tâm hơn nữa đến công tác trồng rừng; tập trung nâng cao chất lượng cả 3 loại rừng phòng hộ, đặc dụng và rừng sản xuất.
Ngoài ra, Đoàn giám sát cũng đề nghị Công ty cần quản lý rừng tại gốc, trồng tái tạo lại rừng trên diện tích rừng bị phá theo chỉ đạo của UBND tỉnh; tập trung các nguồn lực để bảo vệ diện tích rừng hiện có của đơn vị; sắp xếp bố trí lại nhân lực phù hợp với chuyên môn, sức khỏe, phát huy tinh thần nhiệt tình tự giác của lực lượng trực tiếp làm công tác bảo vệ rừng và chủ động làm tốt công tác phòng chống cháy rừng trong mùa khô. (Đài PT - TH Đăk Nông 6/11) đầu trang(
Một số cán bộ, đội viên của Tổng đội Thanh niên xung phong 6 (Tổng đội 6 - Nghệ An) rất bức xúc, bởi lãnh đạo đơn vị này đã “bắt tay” với Ban quản lý rừng phòng hộ, huyện Yên Thành lập khống hồ sơ để rút hàng trăm triệu đồng tiền chăm sóc, bảo vệ rừng trong suốt 3 năm qua...
Tổng đội 6 được thành lập năm 2001 với nhiệm vụ tập hợp giải quyết việc làm cho hơn 600 đoàn viên thanh niên, nhân dân vùng Tây Bắc, huyện Yên Thành và phía Nam huyện Quỳnh Lưu.
Ngoài nhiệm vụ xây dựng kinh tế mới, khi dự án trồng mới 5 triệu ha rừng triển khai, thì Tổng đội 6 được tỉnh Nghệ An giao thực hiện dự án này. Sau khi dự án nói trên kết thúc vào năm 2011, tỉnh Nghệ An còn vốn kết dư của dự án này số tiền là 5,2 tỷ đồng.
Sau khi xin ý kiến của Trung ương, số tiền nói trên được giữ lại để thanh toán các hạng mục công trình đã hoàn thành; Kinh phí còn lại đề nghị chuyển sang thực hiện các hạng mục thuộc dự án Bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2012-2020 theo Quyết định 57/QĐ-TTg ngày 9/1/2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Tổng đội 6 là một trong số những đơn vị nhận triển khai việc chăm sóc rừng theo quy định của Nhà nước. Cụ thể, năm 2011, đơn vị nhận thực hiện việc chăm sóc với diện tích 60ha. Chiếu theo quy định sẽ được nhận số kinh phí hỗ trợ đối tượng triển khai công việc là 96 triệu đồng.
Chăm sóc năm thứ 2 (2012), Tổng đội 6 nhận thực hiện 60ha, tương đương với số tiền nhận hỗ trợ 104,4 triệu đồng. Năm thứ 3 (2013), đơn vị này nhận thực hiện việc chăm sóc 120ha, tương đương với số tiền hỗ trợ trên 94 triệu đồng.
Như vậy, trong 3 năm chăm sóc, Tổng đội 6 phải triển khai thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ số diện tích rừng phòng hộ là 240ha với số tiền hỗ trợ tương đương trên 294,4 triệu đồng. Tuy nhiên, theo đơn tố cáo của ông Nguyễn Duy Tiến, Trưởng phòng kế hoạch của Tổng đội 6, thì những số liệu như vừa trình bày ở trên đều là số liệu mà lãnh đạo đơn vị này lập khống để nhận tiền hỗ trợ trái pháp luật?
Ông Tiến bức xúc trình bày: “Là một trưởng phòng kế hoạch, đáng lẽ ra tất cả những số liệu này tôi phải nắm được cũng như được triển khai thực tế trên thực địa. Có nghĩa là Tổng đội 6 phải thực hiện các bước từ hợp đồng bảo vệ, chăm sóc rừng đến bản thiết kế lô thửa rõ ràng và quan trọng nhất là phải được chăm sóc rừng thực sự...
Đằng này, tự dưng thấy thông báo đến họp rồi ép ký danh sách nhận tiền. Là cán bộ đảng viên lâu năm, tôi không thể nhắm mắt làm dối được!”.
Cũng theo ông Tiến, số tiền chăm sóc rừng năm 1 thì hầu như không có cán bộ đội viên nào biết gì về việc có dự án nói trên. Riêng số tiền chăm sóc rừng năm 2, Ban quản lý rừng phòng hộ, huyện Yên Thành có đưa danh sách xuống và nhờ lãnh đạo tổng đội mời những ai có danh sách ký nhận tiền đến ký xác nhận.
Thế nhưng, ký xong thì chẳng có người nào được nhận tiền. Vì thế, anh Tiến đã kiên quyết không ký nhận nhưng sau đó trong danh sách vẫn có tên và chữ ký mà theo anh Tiến thì đó là người ta giả mạo chữ ký của anh.
Số tiền chăm sóc rừng năm 3 vừa qua, Tổng đội 6 đưa một danh sách đã điền sẵn họ tên, diện tích chăm sóc và số tiền từng hộ gia đình được nhận đến và gọi những cán bộ có tên trong danh sách đến để ký nhận tiền. Sau một hồi đắn đo, tất cả 20/21 người có danh sách nhận tiền đã ký và nhận tiền, riêng anh Tiến kiên quyết từ chối ký nhận với lý do “không được chăm sóc thực tế thì không việc gì đi ký nhận tiền khống của Nhà nước”.
“Khi đó ông Đào Quang Ngọc, Tổng đội trưởng Tổng đội 6 nói ai ký tên thì cho nhận tiền ngay, nhiều anh em có tên trong danh sách lo lắng không dám ký vì họ cho rằng họ không chăm sóc rừng thực tế thì nhận tiền khống làm gì? Nhưng, sau đó lãnh đạo tổng đội đã gây sức ép nên hầu hết những ai có tên trong danh sách đều ký tên và nhận tiền. Riêng tôi không ký thì ông Ngọc đã nhắn tin có lời lẽ khiếm nhã ý trách móc tôi...”, anh Tiến kể lại.
Theo những phản ánh và bức xúc của anh Tiến và một số cán bộ đội viên Tổng đội 6 là có cơ sở. Bởi, trên thực tế Tổng đội 6 không triển khai chăm sóc rừng theo hợp đồng đã ký với Ban quản lý rừng phòng hộ Yên Thành. Đồng thời, danh sách những đối tượng nhận tiền cũng không hề hay biết gì về việc này mà lãnh đạo tổng đội cũng như Ban quản lý rừng phòng hộ Yên Thành đã tự dựng lên số liệu cũng như danh sách “ảo” để rút khống tiền dự án chăm sóc rừng của Nhà nước.
Đặc biệt, khi tìm hiểu thực tế số diện tích nằm trong dự án chăm sóc rừng mà Tổng đội 6 và Ban quản lý rừng phòng hộ Yên Thành tự “vẽ” ra thực chất đã bị UBND tỉnh Nghệ An thu hồi từ năm 2012 và bàn giao cho dự án của Tập đoàn TH để triển khai các dự án trồng cỏ nuôi bò sữa, trồng dược liệu và nhà máy chế biến gỗ…
Hiện, cơ quan chức năng tỉnh Nghệ An đã vào cuộc. Một cán bộ của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghệ An cho biết, chậm nhất là đến cuối tháng 12/2013 vụ việc sẽ được xử lý. Song, đây cũng là bài học về công tác quản lý và chăm sóc rừng cho ngành. (Thời Báo Ngân Hàng 6/11) đầu trang(
Nhờ triển khai quyết liệt các nhóm giải pháp của Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 6/5/2013 của Tỉnh ủy về ngăn chặn phá rừng, phát triển rừng bền vững giai đoạn 2013-2015 và những năm tiếp theo.
Tính đến tháng 9/2013, tình trạng phá rừng trên địa bàn toàn tỉnh Đăk Nông đã có sự chuyển biến, giảm 11,59% về số vụ và giảm 39% về diện tích rừng bị phá so với cùng kỳ năm trước; 34.426 ha rừng được giao khoán quản lý và bảo vệ đạt 99,7% kế hoạch năm 2013; diện tích rừng trồng mới được 977,4 ha/838,5ha, đạt 116,6% kế hoạch năm. (Báo Đăk Nông 6/11) đầu trang(
Để “bảo vệ thi công đường vào mỏ đá” cho một doanh nghiệp tư nhân, UBND huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh) đã huy động gần trăm người, gồm cán bộ, chiến sỹ công an, xe đặc chủng, cán bộ huyện, xã. Xung quanh sự việc này, chủ hộ sở hữu đất rừng bị thu hồi đã bày tỏ sự bức xúc và tố cáo nhiều dấu hiệu bất thường.
Theo phản ánh của bà Lê Thị Phượng (trú thị trấn Kỳ Anh), hai khu đất rừng 19,5ha đất rừng tại khu vực núi Đá Mài được bà nhận chuyển nhượng lại từ 2 nhân viên Cty CP Nông lâm sản Hà Tĩnh (nay là Cty Rau quả Hà Tĩnh).
Cả hai lô đất này đều được ghi rõ trong hợp đồng chuyển nhượng tại vị trí khoảnh 1PK1, tiểu khu 389A, thời hạn nhận khoán 40 năm, thuộc đất khoán lâu dài cho hộ dân trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng phòng hộ.
Chồng bà Phượng, ông Võ Xuân Lý chua xót bên gốc keo 8 năm tuổi bị chặt hạ tại khu rừng được giao 40 năm, nay tỉnh thu giao cho mỏ đá.
Sau khi hồ sơ thủ tục đầy đủ, bà Phượng đã vay vốn đầu tư cải tạo đất dưới sự giám sát chặt chẽ của Cty Rau quả Hà Tĩnh. Sau gần nhiều năm lặn lộn gây dựng trồng rừng, bà Phượng được nêu điển hình trồng rừng giỏi của huyện.
Đến năm 2011, UBND tỉnh Hà Tĩnh ra quyết định thu hồi 83.886,2m2 đất tại khu vực núi Đá Mài, xã Kỳ Liên (Kỳ Anh) của Cty CP Rau quả Hà Tĩnh (không ghi rõ lô, khoảnh) và giao toàn bộ diện tích đất thu hồi trên giao lại BQL Khu kinh tế Vũng Áng, để cho Cty CP Việt Gia - Song Hui thuê lại đất để khai thác đá.
Theo bà Phượng, sau nhiều lần huyện Kỳ Anh đứng ra tổ chức để bà và Cty Việt Gia – Song Hui họp bàn đưa ra mức giá đền bù. Tuy nhiên, do cách tính đề bù quá thấp so với công sức tiền của đã đổ ra nên hai bên chưa thống nhất.
Ngày 8/10, bà Phượng nhận được giấy mời làm việc với Hội đồng bồi thường hỗ trợ tái định cư huyện Kỳ Anh, UBND xã Kỳ Liên để làm việcvì gia đình có đất bị ảnh hưởng của dự án. Thời gian làm việc vào 14h ngày 9/10.
Theo như lý giải của ông Nguyễn Việt Đức, Phó chủ tịch Hội đồng BT-HT-TĐC huyện Kỳ Anh, cuộc làm việc này để thống nhất lần cuối. Và ông Đức cũng đã ra thông báo buộc bà Phượng phải thu hoạch cây cối toàn khu rừng trong thời gian 8-10/10, để bàn giao cho DN.
Trong khi chủ hộ và xã huyện đang làm việc lần cuối thì cũng trong ngày 8/10, Chủ tịch UBND huyện Kỳ Anh, ông Nguyễn Văn Bổng đã ký quyết định số 2504 “Về việc điều động lực lượng bảo vệ thi công tuyến đường vào mỏ đá Việt Gia – Song Hui tại xã Kỳ Liên”.
Quyết định ghi rõ: Công an huyện Kỳ Anh cử 30 cán bộ chiến sỹ và các công cụ, phương tiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, trong đó có 01 xe đặc chủng.
Đối với xã Kỳ Liên, UBND xã điều động 35 người (gồm công an viên, đội cơ động mạnh, lực lượng khác) cùng với lãnh đạo xã và các ban ngành, tổ chức đoàn thể.
Tại UBND huyện, lệnh điều động ghi rõ: Trưởng các phòng Kinh tế - hạ tầng, TN&MT, Hội đồng BT-HT-TĐC, bố trí cử cán bộ tham gia theo dõi việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ thi công. Quyết định của Chủ tịch huyện cũng đã điều 03 y bác sỹ cùng xe cứu thương có mặt tại hiện trường.
Để bảo vệ thi công cho 1 doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch UBND huyện Kỳ Anh còn chỉ đạo: Giao chủ tịch xã Kỳ Liên trực tiếp chỉ huy các lực lượng và giao cho Công an huyện cử 01 Phó trưởng CA huyện phụ trách lực lượng CA phối hợp với UBND xã chỉ huy các lực lượng thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ thi công tại hiện trường.
Và đúng sáng ngày 10/10, toàn bộ lực lượng, phương tiện hùng hậu gần 100 người theo lệnh của Chủ tịch huyện đã có mặt để bảo vệ thi công cho DN này.
Và dưới sự bảo vệ của huyện, Cty này đã huy động máy móc vào chặt phá rừng của bà Phượng, và toàn bộ số gỗ cây chặt hạ đã bị di chuyển khỏi hiện trường.
Đến ngày 24/10 (sau 14 ngày), khi nhóm PV các báo có mặt tại đây thì cũng đang có 03 chiến sỹ công an và 01 xe đặc chủng đang làm nhiệm vụ bảo vệ, theo như lệnh điều động của Chủ tịch UBND huyện.
Văn bản của chủ tịch huyện Kỳ Anh giao thời gian triển khai vào 7h30 sáng 10/10 và không có hạn.
Văn bản cũng đã "căn dặn" sát sao các lực lượng “chịu sự chỉ huy thống nhất của chỉ huy và trưởng các bộ phận. Đoàn kết thống nhất trong tư tưởng và hành động, phối hợp, hỗ trợ tích cực cùng UBND xã để hoàn thành tốt nhiệm vụ đề ra”.
“Kinh phí và các điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ thi công của các lực lượng tham gia, giao Cty Việt Gia – Song Hui giải quyết”, quyết định chủ tịch huyện có ghi. (Vietnamnet.vn 6/11) đầu trang(
Những năm gần đây, lực lượng Hải quan liên tục phát hiện, bắt giữ những chuyến hàng buôn lậu ngà voi, tê tê…với khối lượng rất lớn. Số hàng cấm này được giấu trong các container hàng hóa tạm nhập - tái xuất (TNTX) mà doanh nghiệp (DN) Việt Nam chỉ khai báo là vỏ ốc, rong biển, cá mực, sắt thép...
Tình trạng buôn lậu hàng cấm, động vật hoang dã, rác thải nguy hại "núp bóng" hàng hóa TNTX ngày càng phức tạp, thủ đoạn tinh vi, tính chất nghiêm trọng. Các DN đứng tên nhập khẩu tỏ ra "thuộc bài" quản lý rủi ro đối với hàng hóa TNTX của cơ quan Hải quan nên dễ dàng "né" kiểm tra, hoặc rũ bỏ trách nhiệm khi bị phát hiện, bắt giữ.
Cho đến nay, chưa có số liệu thống kê chính xác về số lượng ngà voi được vận chuyển qua khu vực cảng biển Hải Phòng. Nhưng trong vòng 3 năm qua, theo nhận định của Cục Hải quan Tp.Hải Phòng, các đối tượng buôn lậu chủ yếu lợi dụng chính sách TNTX hàng hóa thông thoáng của Việt Nam để đưa ngà voi về Hải Phòng, sau đó tái xuất sang nước thứ 3. Vì ngà voi nằm trong danh mục động vật hoang dã và sản phẩm bị cấm buôn bán, vận chuyển theo công ước quốc tế CITES.
Mới đây nhất, ngày 21/10, Cục Hải quan Tp.Hải Phòng đã bắt giữ một lô hàng lớn ngà voi nhập lậu, khối lượng khoảng 2,4 tấn. Lô hàng này được hãng tàu P.T.L vận chuyển từ Malaysia về Hải Phòng, do Công ty CP Hoàng Gia Exim (địa chỉ tại Hải Phòng) đứng tên nhận hàng. Để che mắt lực lượng kiểm tra, bọn buôn lậu đã giấu ngà voi trong các bao vỏ ốc để làm thủ tục hải quan cho lô hàng. Tuy nhiên, lô ngà voi này đã bị phát hiện, bắt giữ để điều tra làm rõ.
Bằng thủ đoạn tương tự, lô hàng 2,1 tấn ngà voi nhập lậu vào cảng Hải Phòng cũng bị lực lượng Hải quan phát hiện, tóm gọn. Trong đó, có 1.167 khúc ngà voi, 145kg vảy đồi mồi được giấu lẫn trong vỏ ốc.
Trong năm 2010 – 2012, Cục Hải quan Tp.Hải Phòng liên tiếp bắt giữ 6 vụ vận chuyển trái phép ngà voi từ nước ngoài vào Việt Nam. Mặc dù số vụ bắt giữ còn ít, nhưng tổng lượng ngà voi bị thu giữ rất lớn, gần 6,34 tấn với trị giá hàng trăm tỷ đồng. Ngà voi nhập lậu về Việt Nam chủ yếu có nguồn gốc từ các nước Malaysia, Kenya, Tanzania… hoặc không thể xác định được xuất xứ.
Vụ buôn lậu ngà voi lớn nhất bị Hải quan phát hiện là vào năm 2010, cũng núp dưới danh nghĩa lô hàng TNTX. Khi làm thủ tục hải quan, Công ty CP XNK Thanh Long (Quảng Ninh) khai báo hàng hóa gồm 2 container chứa 25 tấn rong biển khô. Tuy nhiên, kiểm tra thực tế, ngoài số rong biển khô còn có 985 khúc ngà voi châu Phi, với tổng trọng lượng gần 2,2 tấn. Một lô ngà voi có trọng lượng hơn 1,5 tấn cũng được giấu trong các container chứa rau câu khô, do chi nhánh Công ty Thương mại xây dựng Hải Phòng mở tờ khai tạm nhập về.
Trong các vụ nhập lậu ngà voi bị phát hiện sau đó, bọn buôn lậu còn cất giấu ngà voi trong các container chứa sắt thép phế liệu, các bao đậu tương, ngô hạt… Mỗi chuyến hàng như vậy có thể vận chuyển từ 500kg đến 1,4 tấn ngà voi. Điều này cho thấy, các đối tượng buôn lậu ngà voi từ châu Phi, Malaysia đã và đang nhắm đến các cảng biển lớn ở Việt Nam, nhất là khu vực Hải Phòng như một điểm trung chuyển hàng cấm ở khu vực Đông Nam Á.
Không chỉ mặt hàng ngà voi, Cục Hải quan Tp.Hải Phòng còn bắt giữ nhiều vụ vận chuyển trái phép số lượng rất lớn vẩy tê tê, đồi mồi… Đây đều là những hàng hóa bị cấm nhập khẩu vào Việt Nam. Đơn cử, vào tháng 5/2012, phát hiện hơn 5,5 tấn thịt tê tê, 316 kg vẩy tê tê nhập lậu được giấu trong các container cá đông lạnh, tảo biển khô… Vì sao ngà voi, tê tê lại dễ dàng "đổ bộ" vào Việt Nam như vậy?
Trong vòng 3 năm qua, cơ quan Hải quan đã phát hiện hơn 7.000 vụ vi phạm trong quá trình làm thủ tục hải quan điện tử, trị giá ước tính gần 450 tỷ đồng. Số liệu này cho thấy, đã có những kẽ hở trong hình thức hải quan điện tử, giúp DN nhập khẩu hàng lậu, hàng cấm khá dễ dàng. Chẳng hạn, lợi dụng hình thức phân luồng tờ khai tự động, DN cố tình khai báo sai tên hàng, mã số hàng, thuế suất, khai tên hàng nằm ngoài danh mục quản lý rủi ro… để được phân luồng xanh (miễn kiểm tra thực tế khi thông quan). Khi ấy, những lô hàng tảo khô, rong biển, vỏ ốc… giấu hàng tấn ngà voi trái phép nghiễm nhiên được cho thông quan.
Nếu tờ khai bị phân luồng đỏ, DN lập tức xin rút tờ khai cũ, mở tờ khai mới. Hoặc không xuất trình hàng hóa, tìm cách kéo dài thời gian để hợp thức hóa hồ sơ, giấy tờ cho lô hàng. Ngay cả khi lô hàng đã về tới cửa khẩu, nếu DN thấy cơ quan chức năng nghi vấn thì lập tức có đơn từ chối nhận hàng, đề nghị cho tái xuất với lý do "gửi nhầm" hoặc "hàng không đúng yêu cầu".
Bằng thủ đoạn này, DN dễ dàng rũ bỏ trách nhiệm mà cơ quan khó lòng xử phạt được. Chưa kể, việc cắt dán, tẩy xóa hồ sơ, làm giả chữ ký, con dấu của cán bộ Hải quan… cũng được DN áp dụng triệt để.
Những điều này đặt ra nghi vấn, phải chăng các đối tượng buôn lậu và DN làm thủ tục nhập khẩu đã "thuộc bài" phân luồng rủi ro của Hải quan, dễ dàng "lách" việc kiểm tra hàng hóa? Sự rò rỉ thông tin cùng việc thiếu gắn kết giữa các khâu quản lý rủi ro, giám sát hàng… đã tạo kẽ hở cho DN buôn lậu hàng cấm. (Thời Báo Kinh Doanh 6/11) đầu trang(
Ngày 6-11, một nguồn tin cho biết giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Bình Thuận vừa có quyết định cách chức trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy đối với ông Huỳnh Thanh Tuấn vì đã để xảy ra nhiều vụ triệt hạ rừng nghiêm trọng trên lâm phần ông quản lý.
Theo kết luận, năm 2012, Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy kiểm kê, giao khoán cho các hộ dân 42 cây dầu cổ thụ và hai cây bằng lăng với trữ lượng lên đến hơn 500 m3 tại xã Phan Sơn để bảo vệ. Sau đó toàn bộ số cây cổ thụ này biến mất nhưng đơn vị này chỉ báo cáo có… 23 cây bị triệt hạ nhưng không nêu vị trí, trữ lượng.
Theo quy định, với khối lượng gỗ bị thiệt hại trên, ban quản lý rừng phải lập hồ sơ, chuyển xử lý hình sự nhưng không làm và cũng không có biện pháp xử lý với những cá nhân liên quan đến công tác bảo vệ rừng. (Pháp Luật TPHCM 7/11) đầu trang(
Rừng miền Tây Nghệ An thời gian qua đã và đang bị xâm hại nghiêm trọng nên sự xuất hiện của 4 chiếc xe này không loại trừ khả năng là phương tiện đắc lực trong công cuộc phá rừng của lâm tặc.
Công an huyện Anh Sơn (Nghệ An) vừa phát hiện, bắt giữ 4 chiếc xe Reo không có biển kiểm soát. Đây là những chiếc xe được xem là “hung thần” chuyên dụng để chở gỗ, kéo gỗ được các chủ xe độ lên từ những chiếc xe cũ.
Theo đó, trong quá trình tuần tra kiểm soát trên địa bàn, lực lượng Cảnh sát giao thông huyện Anh Sơn đã phát hiện 4 chiếc xe Reo không mang BKS ngang nhiên lưu thông nên bắt giữ đưa về trụ sở để làm rõ.
Theo một số người dân, đây là những chiếc xe cũ không có biển kiểm soát hoặc hết hạn đăng ký được "độ" thêm tời kéo và nhiều phương tiện khác để phục vụ tối đa cho việc khai thác gỗ nên "giới" lâm tặc rất ưa chuộng.
Việc bắt giữ, tịch thu những chiếc xe độ này góp phần giảm tình trạng phá rừng đang nóng bỏng như hiện nay.
Công an huyện Anh Sơn tiếp tục hoàn tất hồ sơ, xử lý 4 chiếc “hung thần” nói trên. (Pháp Luật Việt Nam 7/11) đầu trang(
Viện KSND huyện Buôn Đôn vừa có văn bản kiến nghị đến Chủ tịch UBND huyện Buôn Đôn đề nghị chính quyền địa phương tăng cường chỉ đạo công tác đấu tranh phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm liên quan đến lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn.
Trong những năm gần đây, tình trạng khai thác gỗ lậu, săn bắt động vật hoang dã, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy trái phép trên địa bàn huyện Buôn Đôn diễn biến hết sức phức tạp, khiến diện tích và tài nguyên rừng bị suy giảm nghiêm trọng. Chỉ trong 9 tháng đầu năm 2013, các cơ quan chức năng đã phát hiện và lập biên bản xử lý 664 vụ vi phạm lâm luật (tăng 185 vụ so với cùng kỳ năm 2012), tịch thu 674,537 m3 gỗ các loại (tăng 160,269 m3) và 571 phương tiện các loại dùng để khai thác gỗ trái phép.
Cùng với thực trạng tài nguyên rừng đang bị xâm hại nghiêm trọng thì việc khai thác ồ ạt nguồn lợi thủy sản trên địa bàn Buôn Đôn cũng đang ở mức báo động. Những năm gần đây, nhiều đối tượng đã sử dụng các phương tiện đánh bắt cá mang tính “tận diệt” trên sông Sêrêpốk như nổ mìn, dí điện hoặc sử dụng chất độc, thực vật có chứa độc tố để đánh bắt cá. Điều này đã làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, huỷ diệt môi trường sống của các loài thuỷ sản, gây thiệt hại nghiêm trọng đến nguồn lợi thuỷ sản trên địa bàn của huyện.
Theo đánh giá của Viện KSND huyện Buôn Đôn thì nguyên nhân xảy ra tình trạng trên là do người dân chỉ thấy cái lợi trước mắt mà không lường hết những hậu quả lâu dài. Trong khi đó công tác quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ lâm sản và nguồn lợi thuỷ sản của các cơ quan chức năng trên địa bàn huyện vẫn còn nhiều thiếu sót, sơ hở, dẫn đến tình hình vẫn diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng.
Viện KSND huyện Buôn Đôn đề nghị Chủ tịch UBND huyện chỉ đạo chính quyền các xã, các cơ quan, ban ngành có liên quan thực hiện đồng bộ các giải pháp tuyên truyền, vận động, tăng cường công tác tuần tra, canh gác để bảo vệ rừng, bảo vệ lâm sản, thuỷ sản; tìm giải pháp để tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho các hộ dân sống ở vùng đệm, vùng ven rừng. Bên cạnh đó, chính quyền cũng cần phải quản lý chặt các đối tượng vi phạm đã bị xử phạt hành chính, kiên quyết lập hồ sơ xử lý hình sự nếu các đối tượng này tiếp tục vi phạm… (Báo Đắk Lắk 7/11) đầu trang(
Sáng 6 -11, Chi cục trưởng Kiểm lâm Bắc Cạn Hoàng Văn Hải cho biết, trong ngày hôm nay, Chi cục sẽ chuyển toàn bộ hồ sơ, tang vật vụ việc giả mạo dấu búa kiểm lâm đóng trên 14,3 mét khối gỗ tại huyện Chợ Đồn cho Công an tỉnh xử lý theo pháp luật.
Trước đó, Hạt Kiểm lâm huyện Chợ Đồn đã kiểm tra, phát hiện 89 khúc gỗ tròn (tổng cộng 14,3 mét khối), đang được chuyển lên ô-tô BKS 20C- 034.59, đỗ trong khuôn viên của doanh nghiệp tư nhân Mỹ Sơn, có trụ sở tại Bản Lự, xã Yên Mỹ, huyện Chợ Đồn.
Hạt Kiểm lâm huyện Chợ Đồn đã lập tức đưa chiếc xe cùng số gỗ trên về kiểm tra. Trong quá trình, do nghi dấu búa kiểm lâm, ký hiệu số KL1003, đóng trên số gỗ này là giả mạo, lực lượng chức năng Hạt đã đề nghị Phòng Kỹ thuật hình sự (Công an tỉnh Bắc Cạn) giám định.
Qua đó, Phòng Kỹ thuật hình sự kết luận dấu búa đóng trên số gỗ này là giả mạo. Sau khi nhận chuyển giao toàn bộ hồ sơ, tang vật vụ việc, Công an tỉnh Bắc Cạn chỉ đạo các lực lượng chức năng điều tra, làm rõ vi phạm của những có liên quan để xử lý theo pháp luật.
Theo ông Hải, nếu không được phát hiện kịp thời việc giả mạo dấu búa nhằm “qua mặt” kiểm lâm và các cơ quan chức năng trên, thì toàn bộ số gỗ này sẽ được vận chuyển đi bất cứ đâu để tiêu thụ. (Nhân Dân 6/11) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằngđã xử lý 203 vụ vi phạm về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Trong đó, có 140 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép; 19 vụ vi phạm về phòng cháy, chữa cháy rừng; 8 vụ vi phạm về khai thác gỗ, lâm sản. Tịch thu 62,22 m3 gỗ tròn; 40,90 m3 gỗ xẻ các loại; 20,25 m3 gỗ quý hiếm. Xử phạt hành chính và thanh lý tang vật tịch thu nộp ngân sách Nhà nước gần 1 tỷ 900 triệu đồng. (Báo Cao Bằng 7/11) đầu trang(
Ngày 5/11, UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết, đã ra quyết định xử phạt 75 triệu đồng đối với ông Huỳnh Văn Kiệt vì vi phạm khai thác rừng tráp phép.
Ông Kiệt , trú tại huyện Di Linh, mới đây, ông đã vào rừng khai thác trái phép ơn 4m3 gỗ lim xanh. Cùng với phạt tiền, tỉnh Lâm Đồng cũng đã tịch thu toàn bộ số gỗ vi phạm và máy cưa cầm tay để bổ sung công quỹ. (Nông Thôn Ngày Nay 7/11) đầu trang(
Theo đề án sắp xếp, đổi mới lâm trường quốc doanh thì Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Bắc Kạn phải trả lại cho các địa phương hàng nghìn héc ta đất rừng. Việc hoàn trả thực hiện xong sớm sẽ là điều kiện cơ bản để tỉnh hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các diện tích này để quản lý, sử dụng. Thế nhưng đã qua nhiều năm mà việc hoàn trả vẫn chưa hoàn thành…
Số diện tích đất mà Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Bắc Kạn phải hoàn trả là hơn 10.931ha trên địa bàn các huyện Chợ Đồn, Na Rì, Ba Bể và Ngân Sơn. Việc hoàn trả bắt đầu thực hiện từ năm 2005 nhưng đến nay mới chỉ hoàn trả được hơn 5.821ha, làm ảnh hưởng không nhỏ tới tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và việc quản lý, sử dụng.
Năm 2001, UBND tỉnh ban hành quyết định 2554/QĐ- UBND thành lập Công ty Nguyên liệu giấy Sông Cầu trên cơ sở sáp nhập các lâm trường quốc doanh trên địa bàn. Tổng diện tích đất công ty được giao quản lý là hơn 28.659ha.
Thực hiện Nghị quyết 28-NQ-TW năm 2003 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh; Nghị định số 200/2004/NĐ- CP năm 2004 của Chính phủ về sắp xếp đổi mới các lâm trường quốc doanh, UBND tỉnh đã xây dựng đề án đổi mới sắp xếp lâm trường quốc doanh và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào năm 2005. Theo đó, Công ty Nguyên liệu giấy Sông Cầu được đổi tên thành Công ty Lâm nghiệp Bắc Kạn. Năm 2010, công ty thực hiện chuyển đổi sang mô hình Công ty TNHH Một thành viên.
Theo đề án sắp xếp, công ty trả lại địa phương hơn 10.931ha. Trong đó, lâm trường Chợ Đồn hơn 4.747ha; lâm trường Na Rì hơn 1.073ha; lâm trường Ba Bể hơn 1.955ha và lâm trường Ngân Sơn hơn 3.154ha. Sau khi rà soát, công ty đang lập thủ tục trả lại địa phương một số diện tích cấp trùng và đất quốc doanh. Cụ thể, đất quốc doanh tại lâm trường Ba Bể hoàn trả hơn 288ha trên địa bàn các xã Bành Trạch, Thượng Giáo và thị trấn Chợ Rã. Đất quốc doanh tại lâm trường Bạch Thông hoàn trả 615ha gồm 212ha tại xã Nông Thượng, Xuất Hóa (thị xã Bắc Kạn); Nguyên Phúc, Quang Thuận, Dương Phong, Đôn Phong (Bạch Thông). Đất quốc doanh do lâm trường Ngân sơn quản lý hoàn trả hơn 1.325ha tại thị trấn Nà Phặc, Đức Vân và Bằng Vân.
Theo Quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến năm 2015 của công ty được UBND tỉnh phê duyệt vào năm 2007, trong tổng số hơn 10.931ha phải trả thì có hơn 6.596ha đất lâm nghiệp; hơn 4.329ha đất chưa có rừng và hơn 5ha đất chuyên dùng. Trong phần đất lâm nghiệp có hơn 5.340ha đất rừng tự nhiên và đáng chú ý là có hơn 1.255ha là đất rừng trồng. Cụ thể, lâm trường Chợ Đồn hoàn trả hơn 521ha đất rừng trồng; Trạm Lâm nghiệp Na Rì hoàn trả hơn 53ha rừng trồng; lâm trường Ba Bể hoàn trả hơn 337ha đất rừng trồng và lâm trường Ngân Sơn hoàn trả hơn 343ha đất rừng trồng.
Lộ trình hoàn trả đất như vậy đã rõ và diện tích nào phải trả cũng đã được khoanh định. Tuy nhiên, không hiểu vì lý do gì mà việc thực hiện các thủ tục hoàn trả đất của Công ty Lâm nghiệp tiến hành rất chậm. Trong khi tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của tỉnh đang được đo đếm từng ngày và không ít địa phương mong muốn được giao thêm đất rừng để trồng rừng thì việc chậm trả này làm ảnh hưởng không nhỏ. Ngoài ra, chậm trả còn là nguyên nhân dẫn tới phát sinh nhiều hệ lụy như tranh chấp, lấn chiếm…
Trong quá trình giám sát về nội dung này, HĐND tỉnh Bắc Kạn đã đánh giá, một số diện tích đất lâm nghiệp đã giao nay trả lại cho địa phương hoặc thu hồi nhưng chưa kịp thời làm thủ tục giao đất theo quy định dẫn tới quản lý đất trên giấy tờ và thực tế có sự khác biệt khó theo dõi.
Đơn cử, theo bản đồ quy hoạch đất lâm trường giai đoạn 2007 - 2015 được UBND tỉnh phê duyệt năm 2007, tổng diện tích đất đề nghị được giữ lại của lâm trường Ngân Sơn là hơn 2.020ha, diện tích đề nghị trả lại hơn 3.146ha. Đến tháng 3/2012, UBND tỉnh đồng ý chủ trương bổ sung phương án quy hoạch sử dụng đất cho công ty với diện tích hơn 1.549ha đồng nghĩa số diện tích công ty phải trả là hơn 1.597ha. Tuy nhiên, đến nay việc hoàn trả vẫn chưa hoàn thành.
Theo thông báo của UBND tỉnh vào tháng 3/2013 tại cuộc họp bàn giải quyết việc điều chỉnh diện tích đất lâm trường Bạch Thông tại các xã Dương Phong, Đôn Phong, Quang Thuận (Bạch Thông) thì công ty phải hoàn thiện và nộp hồ sơ điều chỉnh diện tích đất giao lại cho các hộ dân hiện đang trồng cam, quýt tại đây với diện tích 253ha cho Sở Tài nguyên và Môi trường trước ngày 20/4/2013.
Tuy nhiên, phải đến tháng 9 thì những thủ tục này mới hoàn thành. Tại Thông báo số 64/TB-UBND ngày 29/7/2013, UBND tỉnh yêu cầu công ty phải hoàn trả 3.146ha tại Ngân Sơn xong trong tháng 10/2013 nhưng điều này đến nay vẫn chưa được thực hiện.
Mặc dù, về cơ bản công ty đã sử dụng đất đúng mục đích, mang lại hiệu quả kinh tế nhưng có rất nhiều vấn đề bức xúc trong quá trình quản lý và sử dụng đất. Chẳng hạn như, diện tích đất lâm nghiệp đã thống kê, rà soát nhưng chưa hoàn thiện việc trích lục lập hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cho thuê đất còn tới hơn 5.650ha.
Công ty còn khoảng hơn 7.749ha chưa được trồng rừng. Một số diện tích đất như tại xã Ngọc Phái (Chợ Đồn) do công ty trực tiếp quản lý nhưng sử dụng sai mục đích… Những tồn tại đó khiến dư luận không khỏi băn khoăn và thắc mắc trước tình trạng chậm trả đất theo đề án đã được duyệt từ năm 2005.
HĐND tỉnh đã kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo công ty làm thủ tục trả lại 2.000m2 đất tại phường Nguyễn Thị Minh Khai (thị xã Bắc Kạn) sử dụng không đúng mục đích để giao UBND thị xã Bắc Kạn quản lý; trả lại 253ha đất tại huyện Bạch Thông do không quản lý được và hơn 1.597ha đất tại huyện Ngân Sơn. (Báo Bắc Kạn 7/11) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Mới đây, tạp chí khoa học PLos ONE đã công bố những hình ảnh quý giá ghi lại sự xuất hiện hiếm hoi của loài beo (báo) Borneo ở rừng rậm nhiệt đới thuộc hòn đảo lớn thứ 3 trên thế giới - Borneo (Malaysia).
Beo Borneo có tên khoa học Pardofelis badia hay còn được gọi là bay cat (beo hồng). Chúng là loài động vật họ mèo bí ẩn và ít được biết đến nhất cho đến nay. Với lông màu hạt dẻ sáng, đuôi có sọc trắng, nhiều răng, Beo Borneo được liệt vào danh sách một trong những loài động vật hoang dã họ mèo tuyệt đẹp.
Các nhà nghiên cứu lần đầu tiên chụp ảnh được loài beo này vào năm 2003, kể từ đó tới nay, số lượng hình ảnh về chúng chỉ vỏn vẹn trên đầu ngón tay. Beo Borneo phải đối mặt với nguy cơ suy giảm cá thể nghiêm trọng khi ước tính cả loài chỉ có khoảng 2.500 con (năm 2007). Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng suy giảm cá thể loài là do chúng bị mất dần môi trường sống.
Hình ảnh mới thu thập được về beo Borneo đã cho thấy hiện nay có ít nhất 5 loài mèo quý hiếm đang sinh sống trên đảo Borneo. Bốn loài khác là báo gấm Borneo (tên khoa học Neofelis diardi), mèo báo (tên khoa học Prionailurus bengalensis), mèo đầu phẳng (tên khoa học Prionailurus planiceps) và mèo gấm (tên khoa học Pardofelis marmorata).
Ông Robert Ewers từ ĐH Hoàng gia London, đồng thời là người phụ trách dự án bảo tồn rừng rậm nhiệt đới Borneo cho biết: "Chúng tối rất ngạc nhiên khi chứng kiến số lượng beo Borneo có trên hòn đảo này. Rừng rậm trên đảo Borneo đã bị khai thác gỗ cho mục đích thương mại quá đà, mà theo lý thuyết, những loài động vật hoang dã như beo Borneo sẽ không thể tồn tại ở môi trường bị xâm lấn bởi con người như vậy. Tuy nhiên, những hình ảnh này đã khẳng định, ngay cả những loài ăn thịt lớn như beo hồng cũng có khả năng sinh tồn ở môi trường rừng bị thâm nhập”.
Tuy nhiên, đây cũng là hồi chuông cảnh tỉnh về nạn khai thác gỗ và dầu bừa bãi ở khu rừng rậm nhiệt đới như Borneo. Loài beo hồng vẫn đang gồng mình nỗ lực sinh tồn, tuy nhiên sự tồn tại của chúng cần phụ thuộc nhiều vào tác động từ phía con người. (Tri Thức Trẻ 6/11) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa