|
Ngày 05 tháng 11 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Thực hiện Nghị định số 99/2010 ngày 24-9-2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; Chỉ thị số 2362 ngày 16-7-2013 của Bộ NN&PTNT về tăng cường thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, UBND tỉnh Quảng Bình đã có văn bản số 1224 ngày 25-10-2013, về việc Thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, yêu cầu:
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lựa chọn, đề xuất đơn vị trực thuộc thực hiện nhiệm vụ của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh, báo cáo UBND tỉnh xem xét, quyết định; Chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ, Sở Tài chính tham mưu, đề xuất UBND tỉnh phê duyệt chức năng, nhiệm vụ, kinh phí hoạt động của đơn vị được giao thực hiện nhiệm vụ của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh;
Chủ trì, phối hợp với Đài Phát thanh-Truyền hình, Báo Quảng Bình, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Văn hoá-Thể thao và Du lịch, UBND các huyện, thành phố tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng để nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân cung ứng, sử dụng dịch vụ môi trường rừng.
Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch và Đầu tư tham mưu, đề xuất bố trí kinh phí từ ngân sách Nhà nước; cân đối các nguồn vốn thông qua các chương trình, dự án và huy động các nguồn kinh phí khác để thực hiện đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ các cấp trong việc thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và một số hoạt động khác có liên quan.
Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo chức năng và nhiệm vụ được giao tham mưu, đề xuất UBND tỉnh đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng; UBND các huyện, thành phố phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan thực hiện công tác giao đất, giao rừng trên địa bàn theo quy định làm cơ sở cho việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Báo Quảng Bình 4/11) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Năm 2013, tỉnh Thanh Hóa chi hơn 130,2 tỷ đồng cho công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Trong đó, vốn đầu tư từ ngân sách Trung ương là 97,452 tỷ đồng, vốn từ ngân sách địa phương là 10,175 tỷ đồng, vốn từ việc chi trả dịch vụ môi trường theo Nghị định số 99 là 7,642 tỷ đồng, vốn đối ứng thực hiện Dự án KFW4 là 3,138 tỷ đồng, vốn từ Dự án WB3 là 10,430 tỷ đồng và vốn đối ứng thực hiện Dự án JICA2 là 1,385 tỷ đồng.
Từ đầu năm đến nay, ngành lâm nghiệp đã thực hiện trồng mới được 10.696,4 ha rừng (trong đó, rừng phòng hộ 93,5 ha, rừng sản xuất 10.602,9 ha), thực hiện chăm sóc 2.233,7 ha rừng; khai thác lâm sản ước đạt 179.270 m3 gỗ, 157 triệu cây luồng, 37.170 tấn nứa, vầu, 20,5 tấn dược liệu, 142 tấn nhựa thông. Cùng với đó, ngành lâm nghiệp cũng đã lựa chọn được 8 thôn trong vùng đệm để triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ cộng đồng vùng đệm. (Báo Thanh Hóa 4/11) đầu trang(
Ngày 31/10, tại xã Trân Châu, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện, phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy (PCCC) số 8 vừa tổ chức tập huấn nghiệp vụ PCCC rừng năm 2013 cho các chủ rừng, các đồng chí trong Ban chỉ huy PCCC rừng, tổ xung kích quản lí bảo vệ rừng và các hộ trồng rừng của các xã, thị trấn khu Cát Bà.
Tại đây, các đại biểu đã được nghe cán bộ Phòng Cảnh sát PCCC số 8 giới thiệu những nội dung cơ bản về công tác PCCC, các văn bản chỉ đạo của Nhà nước về công tác PCCC rừng cũng như giới thiệu dụng cụ chữa cháy và cách thức sử dụng. Là địa phương có diện tích trồng thông lấy nhựa trên 100 ha và trên 84 ha thông đang được khai thác lấy nhựa nhưng tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng rất cao, tại đây cán bộ Hạt kiểm lâm Cát Hải đã khuyến cáo các chủ rừng thông về các biện pháp quản lý, khai thác và bảo vệ an toàn PCCC rừng.
Thông qua lớp tập huấn nhằm trang bị kiến thức cơ bản về công tác quản lý, bảo vệ rừng, nâng cao năng lực, nghiệp vụ PCCC rừng, góp phần hạn chế thấp nhất những thiệt hại khi xảy ra cháy. (Haiphong.gov.vn 4/11) đầu trang(
Theo tin từ Sở NN&PTNT tỉnh Thanh Hóa, đơn vị này đang phối hợp với các địa phương triển khai Dự án lâm nghiệp, xây dựng 12 chòi canh lửa phòng chống cháy rừng tại các địa phương có nguy cơ cháy rừng cao với tổng mức đầu tư 1,2 tỷ đồng, huy động từ nguồn vốn vay của Ngân hàng thế giới.
Các chòi canh lửa được xây dựng tại 6 huyện thuộc dự án là: Tĩnh Gia; Thạch Thành; Ngọc Lặc; Triệu Sơn, Hà Trung và Như Thanh. Chòi canh lửa được thiết kế giúp lực lượng ứng trực phòng chống cháy rừng có thể quan sát trong bán kính từ 7 - 10km. (Thanh Niên 5/11) đầu trang(
Ngày 4.11, tại Hà Nội, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV), tổ chức WildAid và tổ chức African Wildlife Foundation đã giới thiệu phim ngắn mới về hậu quả nghiêm trọng từ nhu cầu tiêu thụ sừng tê giác đang gia tăng tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Phim ngắn có những hình ảnh đau lòng về một cá thể tê giác bị bỏ mặc đến chết sau khi bị lấy đi phần lớn khuôn mặt và chiếc sừng.
Theo Phó giám đốc ENV Nguyễn Phương Dung, “Trung bình, cứ mỗi 9,5 giờ lại có một cá thể tê giác bị giết hại ở Nam Phi để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ tại các quốc gia. Với sự hỗ trợ của các đài truyền hình trên cả nước, phim ngắn này sẽ truyền tải thông điệp sâu sắc tới cộng đồng, nhằm giảm thiểu nhu cầu tiêu thụ sừng tê giác tại Việt Nam”. (Đại Biểu Nhân Dân 5/11) đầu trang(
Vượn đen tuyền cư trú tại rừng phòng hộ Mường La (Sơn La) là niềm phấn khởi của các chuyên gia bảo tồn thiên nhiên thế giới. Một thời loài vượn này bị săn bắn không thương tiếc. Cánh thợ săn bắn từng là nỗi khiếp đảm của rừng xanh, thế nhưng khi “hạ súng”, duyên phận đã đưa họ trở thành kiểm lâm bảo vệ rừng già.
Hai trong số xạ thủ từng chuyên săn bắn động vật quý hiếm là anh Lò Văn Đoàn người dân tộc Thái ở bản Ít, xã Nậm Păm và anh Sùng A Giạng người dân tộc Mông ở bản Chom Khâu, xã Ngọc Chiến.
Trước khi làm kiểm lâm, họ đều là những xạ thủ bậc nhất về săn bắn động vật. Anh Lò Văn Đoàn nhớ lại: “Trước đây, chúng tôi sống bằng nghề săn bắn hái lượm nên việc giết động vật là chuyện hết sức bình thường”.
Quả thật, với đồng bào dân tộc nơi đây, việc trưởng thành của một con người một thời từng được “đo” bằng khả năng săn bắn và tự kiếm ăn trong rừng sâu. Anh Đoàn sinh năm 1975, khi đất nước vừa thống nhất, những cánh rừng già còn đầy rẫy muông thú. Thế nên, anh lớn lên dưới sự huấn luyện của những người có kinh nghiệm trong bản về cách săn bắn.
Anh Đoàn thành thật: “Ngày trước, tôi giết gấu dễ như việc ăn cơm. Ở đây người ta sợ con vật này, chứ với tôi chỉ “đoàng” một phát trúng đầu là con vật ngã khuỵ”. Anh cho biết thêm, để cải thiện cuộc sống, ngoài gấu thì nai, hoẵng, sóc, chim… đều bị anh bắn hạ. Con thú to thì đem bán lấy tiền mua gạo, con thú nhỏ thì để ăn.
Anh Đoàn kể: “Rừng Mường La vừa rộng vừa rậm rạp, rắn rết nhiều vô kể. Có loại rắn độc, bị nó cắn chỉ một phát là chết ngay lập tức. Nhưng chúng tôi kinh nghiệm rồi nên ít khi bị chúng tấn công. Con thú ngày trước cũng nhiều, hổ, báo gầm rền vang suốt đêm ngày. Có người chỉ chuyên đi săn hổ, báo lấy xương và da. Tôi thì con nào cũng bắn, đấy là cái nghề để sống mà”.
Anh Sùng A Giạng là một cao thủ chuyên bắn vượn đen tuyền. Để đạt được đến trình độ này, Giạng đã phải luyện tập cùng người anh trai cũng là một thợ săn nổi tiếng ở bản Mông. Giạng bảo: “Bắn con vượn khó hơn những con thú khác. Vượn đen khôn lắm. Mình phải trườn bò như con rắn dưới đất thì nó mới không phát hiện ra”.
Ở Mường La và khu vực tiếp giáp là cánh rừng rộng đến 20.000ha ở Mù Cang Chải - Yên Bái (hiện được nâng cấp thành khu bảo tồn - PV) tập trung rất nhiều cá thể vượn đen tuyền. Đây là “nguồn sống” của Giạng và gia đình nên ngay từ nhỏ, Giạng đã được anh trai đưa đi theo trong những chuyến săn bắn.
Anh Giạng cho biết, có chuyến đi kéo dài hàng tháng mới săn được một con vượn đen. Thịt vượn đen tuy không ngon nhưng rất hợp khẩu vị của những người Mông bản địa.
Có những lần anh Giạng và đội thợ săn bắn được một con vượn đen cái. Tuy nhiên, khi Giạng chạy lại thu “chiến lợi phẩm”, anh đã bật khóc khi thấy con vượn này đang ôm một con vượn mới sinh. Ánh mắt cầu khẩn của vượn mẹ đã ám ảnh Giạng suốt những năm tháng còn lại. Anh quyết tâm “hạ súng”, không bao giờ săn bắn nữa.
Năm 2003, Tổ chức bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế (FFI) chính thức công bố khu bảo tồn Mù Cang Chải (Yên Bái) và rừng phòng hộ Mường La với tổng diện tích 25.000ha là nơi cư ngụ lớn nhất Đông Nam Á của loài vượn đen tuyền - loài linh trưởng được xếp vào bậc nguy cấp trong sách đỏ Việt Nam và thế giới.
Các chuyên gia thế giới đã tìm gặp hai xạ thủ là anh Lò Văn Đoàn và Sùng A Giạng để được nghe những câu chuyện về loài vượn đen tuyền quý hiếm này. Đồng thời, hai xạ thủ cũng là “nhân chứng” để tổ chức bảo tồn xác định số lượng cá thể vượn đen cư ngụ tại khu vực còn bí ẩn như Mường La.
Không lâu sau đó, Lò Văn Đoàn và Sùng A Giạng được mời hợp tác với nhóm bảo tồn với mục đích bảo vệ loài vượn đen tuyền quý hiếm. Chẳng cần đắn đo suy nghĩ, hai xạ thủ “hạ súng”, gật đầu làm kiểm lâm. Từ đó đến nay, hàng tháng họ vẫn tổ chức tuần rừng, chống lâm tặc để bảo vệ động thực vật của rừng Mường La.
Ấy vậy, mà mỗi người chỉ nhận được mức lương khiêm tốn 1,4 triệu đồng mỗi tháng. Nhưng họ bảo, lương không phải là thứ quan trọng, bảo vệ rừng và loài vượn đen tuyền mới đáng quan tâm. Đó âu cũng là những hành động đẹp để “trả nợ” rừng xanh, trả lại những năm tháng tàn phá bắn giết khốc liệt muông thú của rừng. (An Ninh Thủ Đô 5/11) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo quy định, đất rừng các loại được chuyển đổi mục đích sử dụng để xây dựng thủy điện chủ đầu tư phải thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm trồng bù lại rừng hoặc phải nộp tiền về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng. Tuy nhiên ông Phạm Hồng Lượng, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Tài chính, Tổng cục Lâm nghiệp cho biết, "tới nay chưa có một doanh nghiệp nào nộp tiền về quỹ".
Theo báo cáo của Chính phủ, từ năm 2006 đến nay, có hơn 20.000 ha đất rừng các loại được chuyển đổi mục đích sử dụng để xây dựng thủy điện nhưng chủ đầu tư chỉ trồng bù gần 1.000 ha. Nhìn vào con số này ông có suy nghĩ gì? Ông Phạm Hồng Lượng: Việc chuyển đổi rừng trồng sang làm thủy điện đã được đề cập tại NĐ 23, và điều 10, NĐ 05/2008 của Chính phủ.
Trong đó quy định Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng được thành lập do các địa phương trực tiếp quản lý. Song do sự chỉ đạo tại các địa phương chưa thực sự quyết liệt nên đến nay rất ít chủ đầu tư có dự án chuyển đổi mục đích để xây dựng thủy điện tự giác đi nộp tiền vào quỹ này.
Con số này chứng minh hai vấn đề: Một là việc phê duyệt dự án thủy điện tại địa phương có nhiều bất cập; hai là các chủ đầu tư xây dựng các dự án thủy điện không thực sự quan tâm tới việc trồng hoàn rừng.
Đặc biệt, việc chỉ đạo các chủ đầu tư, dự án thực hiện nhiệm vụ của mình là trồng lại rừng, hoặc lên phương án trồng lại rừng, hoặc nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tại các địa phương là không hiệu quả.
Số tiền thu trồng hoàn rừng là rất nhỏ, không đáng kể. Chính vì vậy họ không có nguồn quỹ để trồng hoàn rừng, mà nguồn quỹ chủ yếu là chi trả các dịch vụ môi trường rừng.
Trước thực tế đó, đầu năm 2013, Bộ NN&PTNT mới ban hành Thông tư 24 hướng dẫn về chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, trồng bù rừng.
Theo đó, địa phương nào không cân đối đủ quỹ đất khi chuyển đổi đất rừng cho doanh nghiệp làm thủy điện sẽ phải nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam để Quỹ điều tiết cho những địa phương đủ quỹ đất để trồng lại rừng. Nhưng cho đến nay thì chưa có một chủ đầu tư dự án thủy điện nào nộp tiền về Quỹ. Hay nói cách khác, Quỹ chưa có một đồng nào.
Quy định là vậy nhưng tới nay Quỹ vẫn “rỗng” và vẫn có chuyện 20.000ha rừng chuyển đổi mới chỉ trồng lại được gần 1.000ha, khó khăn là gì? Ông Phạm Hồng Lượng: Đúng vậy. Cho tới thời điểm này, chưa có một doanh nghiệp nào nộp vào quỹ theo quy định. Chỉ có một số ít địa phương doanh nghiệp thực hiện nộp tiền như Nghệ An, Kontum để phục vụ cho công tác trồng lại rừng tại địa phương nên mới có số liệu đó.
Nhưng phải nói rõ, không phải địa phương họ không trồng lại rừng mà các chủ đầu tư xây dựng dự án thủy điện không nộp tiền vào quỹ nên địa phương họ không có tiền để trồng lại. Vì khi thỏa thuận, lên phương án chủ đầu tư nào cũng hứa trồng hoàn rừng nhưng khi duyệt dự án thông qua thì không một chủ đầu tư nào thực hiện trách nhiệm trồng rừng, cũng không nộp tiền về quỹ.
Một Khó khăn nữa là việc không xác định được ranh giới diện tích tới từng chủ rừng. Nếu không cẩn thận có thể sẽ xảy ra tình trạng kiện tụng, gây bất ổn tại địa phương.
Càng không thể lấy tiền từ quỹ này đi trồng rừng của địa phương khác, mà nằm trong lưu vực nào thì phải trả cho lưu vực đó.
Ông Phạm Hồng Lượng chia sẻ: Vừa rồi chúng tôi có gửi công văn sang Bộ Công thương, đề nghị chỉ đạo EVN, cũng như các công ty thủy điện vừa và nhỏ phải thực hiện trách nhiệm đóng góp số tiền gần 300 tỷ từ dịch vụ môi trường rừng.
Còn với số tiền chuyển đổi đất rừng sang làm dự án thủy điện thì chưa có được con số chính thức. Trong hơn 20.000ha mới trồng được gần 1000ha, số tiền trồng hoàn rừng còn lại đương nhiên phải nộp về quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam nhưng chưa có tính toán con số cụ thể vì nó phụ thuộc vào các cơ quan thẩm định tại địa phương.
Theo ông Phạm Hồng Lượng: Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng trung ương được thành lập theo Quyết định 114 ngày 28/11/2008. Theo đó, Quỹ được coi là một tổ chức tài chính nhà nước có nhiệm vụ huy động các nguồn lực cho phát triển rừng. Nguồn thu gồm rất nhiều nguồn, hỗ trợ vốn nhà nước 100 tỷ, các nguồn tài trợ, các khoản đóng góp tự nguyện.
Hoạt động chủ yếu của quỹ tới thời điểm này là thực hiện ủy thác các chính sách chi trả dịch vụ rừng.
Từ năm 2008, nguồn thu của cả hệ thống quỹ khoảng 2.300 tỷ, chi ra khoảng 65%. (Theo cơ chế, quỹ trung ương được giữ lại 5% quản lý, quỹ địa phương được giữ lại 5% quản lý, 5% dự phòng. 85% trả các chủ rừng, hộ gia đình, cá nhân giao khoán phát triển rừng).
Tôi cũng phải khẳng định quỹ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam là tổ chức tài chính thực hiện chức năng huy động, quản lý và sử dụng hoạt động cho bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng chứ không làm nhiệm vụ thay cho các cơ quan quản lý về lâm nghiệp từ trung ương tới địa phương.
Bởi vậy, việc thu và chi dựa trên những quyết định của các cơ quan có thẩm quyền về lâm nghiệp, không thể nói, địa phương không thực hiện, vi phạm lại đổ lỗi cho quỹ. Quỹ chỉ là nơi nhận tiền.
Trong quản lý lâm nghiệp có hai hình thức: Nếu hệ thống theo ngành dọc thì giao theo nhiệm vụ. Nếu công việc có sự tham gia của rất nhiều bên thì mới sử dụng hình thức đấu thầu.
Ví dụ, chỉ thuần túy là không có quỹ đất giao cho doanh nghiệp trồng hoàn rừng thì đương nhiên phải giao cho họ. Không thể bảo một đơn vị bên ngoài trồng trên đất của đơn vị khác.
Tổng Cục lâm nghiệp chính là đơn vị chịu trách nhiệm giám sát tình hình thực hiện tại các địa phương, tuy nhiên, trách nhiệm quản lý tại địa phương là rất lớn. Nếu thuần túy chỉ là trồng lại rừng đương nhiên cơ quan quản lý lâm nghiệp sẽ thực hiện giám sát, quản lý chức năng này.
Và việc giám sát được thực hiện tới khi rừng trồng hoàn phát triển thành rừng, tức là 1 năm trồng phải có 5 năm chăm sóc. Trong khoảng thời gian này, chủ đầu tư, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trong trường hợp có rủi ro.
Ông Phạm Hồng Lượng cũng cho hay: Chúng tôi đã có báo cáo gửi Chỉnh phủ, Ủy ban môi trường của QH nêu rõ những bất cập trong việc trồng bù rừng và chuyển đổi đất rừng. Trong đó có đề cập tới việc thực hiện trồng bù rừng tại các địa phương còn chậm trong khi đó chế tài của chúng ta chưa đủ mạnh.
Ví dụ, chậm nộp, không nộp cũng không có một cơ chế nào bắt họ phải phạt, hay xử lý thế nào.
Hay quy định chỉ trả dịch vụ môi trường rừng, tiền chuyển đổi mục đích rừng và đất rừng nhưng lại không có cơ chế nộp vào.
Theo đó, Bộ NN&PTNT đã xin ý kiến Quốc hội cho phép phối hợp cùng các bộ ngành, địa phương xây dựng các quy định chế tài cụ thể xử lý những chủ đầu tư, doanh nghiệp đối với những trường hợp này.
Nếu thực hiện đúng các quy định, chủ đầu tư, doanh nghiệp phải có phương án trồng bù rừng mới được cấp phép chuyển đổi dự án đất rừng sang làm thủy điện. Trong trường hợp chủ đầu tư không thực hiện đúng địa phương có quyền rút giấy phép đầu tư.
Đây là trách nhiệm của các địa phương, bởi hầu hết các dự án thủy điện đều do địa phương trực tiếp cấp giấy phép và địa phương phải chịu trách nhiệm. (Đất Việt 5/11) đầu trang(
Trung ương Đoàn vừa triển khai chương trình hành động về việc phát huy vai trò xung kích của thanh niên trong ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường.
Chương trình sẽ bao gồm: tuyên truyền nâng cao nhận thức cho đoàn viên, thanh thiếu nhi về ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường; chủ động tham gia các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu, xung kích phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai; duy trì, nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, khắc phục ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường, điều kiện sống của người dân, tổ chức trồng - bảo vệ rừng; phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức phi chính phủ trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường.
Chương trình này gắn với phong trào “Tuổi trẻ chung tay xây dựng nông thôn mới” và “Thanh niên tham gia xây dựng văn minh đô thị”. Trong đó, Trung ương Đoàn yêu cầu phải có các đội hình tình nguyện phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, bảo vệ môi trường cấp xã, phường, các cơ sở Đoàn cả nước tham gia trồng rừng, cây xanh khi có điều kiện và tuyên truyền tốt để đông đảo thanh thiếu nhi tham gia chương trình. (Tuổi Trẻ 5/11) đầu trang(
Theo thống kê của Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam (VRG), sau 2 cơn bão vừa qua đổ bộ vào miền Trung đã gây thiệt hại khoảng 1.400 ha cao su tại một số nông trường ở Hà Tĩnh và Quảng Trị.
Phần lớn vườn cây thiệt hại đang trong thời kỳ khai thác, trong đó có 130 ha mới trồng được 7 năm, bắt đầu vào giai đoạn khai thác; một số vườn cây đã khai thác 29 năm, chuẩn bị vào giai đoạn thanh lý. Ước tính thiệt hại sơ bộ khoảng 200 tỉ đồng. Tình hình trên đã gây ảnh hưởng nặng nề đến đời sống và sản xuất của nhân dân, người lao động.
Trước tình hình này, tại Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10 mới ban hành, Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phối hợp với các Bộ, ngành cơ quan có liên quan xem xét xử lý các kiến nghị, thực hiện chính sách khoanh nợ, cho vay tiếp đối với các hộ trồng cao su bị thiệt hại nặng sau 2 cơn bão mạnh liên tiếp đổ vào miền Trung vừa qua.
Đồng thời, Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan, địa phương tiếp tục rút kinh nghiệm để thực hiện tốt hơn công tác phòng, ứng phó với thiên tai. Bộ NN&PTNT, Bộ Tài chính, Bộ LĐ-TB&XH và các địa phương khẩn trương triển khai hỗ trợ kịp thời giống và lương thực từ nguồn dự trữ quốc gia để nhân dân nhanh chóng ổn định đời sống và khôi phục sản xuất.
Cũng tại Hội thảo “Phát triển cây cao su các tỉnh Bắc Trung Bộ” được tổ chức mới đây, đa số người dân tại các địa phương có thiệt hại về sao su đã có nguyện vọng muốn khôi phục lại sản xuất. Các phương án và đề xuất của các địa phương sẽ được Cục Trồng trọt tiếp thu để trình Thủ tướng, Bộ NN&PTNT xem xét, thực hiện theo đúng quy định trên cơ sở đảm bảo quyền lợi, ổn định sản xuất cho nhân dân. (VOV 4/11) đầu trang(
Bão, rét và gió Lào thường xuyên tại Bắc Trung bộ không phù hợp với điều kiện trồng và phát triển cây cao su. Nhưng hiện chưa có cây trồng nào cho hiệu quả kinh tế bằng cây cao su. Vì vậy, cao su vẫn là cây trồng chủ lực khi có một quy trình kỹ thuật đặc thù cho việc trồng và khai thác mủ.
Thống kê của Cục Trồng trọt Bộ NN-PTNT, tính đến năm 2013, diện tích cây cao su từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên - Huế đạt 82 ngàn hécta. Trong đó, quy hoạch phát triển cao su đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là 80 ngàn hécta.
Nguyên nhân, hiệu quả trước mắt từ việc trồng và khai thác mủ cao su được ví như “vàng trắng” khiến người dân, nhất là các tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh bất chấp khuyến cáo từ phía cơ quan chức năng không ngừng mở rộng diện tích. Đặc biệt, việc cạo mủ theo kiểu “vắt kiệt” cây cao su trong sáu ngày liền mới nghỉ một ngày, trong khi kỹ thuật canh tác yêu cầu hai ngày khai thác, một ngày nghỉ không chỉ khiến cây cho năng suất thấp mà còn dễ bị đổ gãy trong gió bão vì thân yếu.
Ông Nguyễn Văn Bài, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Quảng Trị cho biết, chỉ tính riêng 2 cơn bão số 10 và 11 vừa qua, Quảng Trị có gần 8.000ha cao su bị quật đổ gãy, chiếm 37% diện tích cây cao su của địa phương. Trong đó, diện tích đổ gãy trên 70% không thể khôi phục lại được là 4.116ha. Nhiều ý kiến bắt đầu hoài nghi về loại cây trồng này có phải là hướng xóa nghèo bền vững hay là một “canh bạc” với trời?
Tuy nhiên, kiểm tra tình hình thiệt hại sau bão, tiếp xúc với người trồng cao su cũng như so sánh hiệu quả kinh tế với các cây trồng khác trên cùng vùng gò đồi như ngô, lạc, sắn khoai, môn… thì cây cao su vẫn có nhiều lợi thế về kinh phí đầu tư thấp, hiệu quả kinh tế cao hơn, tạo nguồn thu và tạo việc làm quanh năm, đặc biệt sản phẩm cao su gắn với tiêu thụ, chế biến thuận lợi.
Theo ý kiến của các chuyên gia, vùng gò đồi đất cằn sỏi đá, không có công trình thủy lợi tưới tiêu như khu vực phía Tây Bắc Trung bộ chỉ có 2 cây trồng hiệu quả là cao su và keo lai. Nhưng 2 loại cây này chung nhược điểm là dễ đổ gãy trong gió bão. Dù rằng cây keo lai ưu điểm đầu tư ít, giá trị sau 6 năm trồng có thể thu được 60 - 80 triệu đồng/ha. Nhưng nhược điểm là từ lúc trồng đến thu hoạch, không thể trồng xen kẽ được các loại cây ngắn ngày, sau khi khai thác xong, trồng tái canh lại mất 6 năm nữa mới cho thu hoạch.
Trong khi đó, cao su trồng 6 năm đi vào khai thác liên tục được 20 năm, bình quân mỗi năm thu nhập từ 60 - 80 triệu đồng/ha từ tiền khai thác mủ và lại xen canh cây ngắn ngày từ lúc cao su từ 1 đến 4 năm tuổi, tạo nguồn thu thường xuyên, giảm bớt chi phí đầu tư cho người làm vườn.
Theo ông Phạm Đồng Quảng, Phó Cục Trồng trọi Bộ NN-PTNT, về lâu dài Bộ NN-PTNT cần có chiến lược phát triển giống cây cao su phù hợp với điều kiện khí hậu Bắc Trung bộ như; chọn giống chịu gió bão tốt, tạo hình cho cây thấp, chủ động tỉa cành trước mùa mưa bão, dùng cọc để chống đỡ cho cây cao su trước mùa mưa bão... Ngoài ra, mức hỗ trợ 4 triệu đồng/ha cao su thiệt hại hơn 70% trong bão gió như hiện nay là thấp so với chi phí đầu tư trồng và chăm sóc.
Ông Lại Văn Lâm, Trưởng ban kỹ thuật Tập đoàn công nghiệp Cao su Việt Nam cho rằng, khu vực Bắc Trung bộ là vùng ngoài truyền thống đối với cây cao su nên không hoàn hảo trong việc trồng cây cao su như các tỉnh Đông Nam bộ. Song thực tế người dân đã lựa chọn thì chúng ta phải chấp nhận những giới hạn về khí hậu.
Trong đó, bão, rét và khô hạn đều ảnh hưởng không tốt tới việc sinh trưởng và năng suất cao su. Trong khi trên thế giới, chưa một quốc gia nào nhân tạo được giống cây cao su chống được bão, có chăng chỉ là khả năng chống chịu được một phần gió bão để giảm thiệu thiệt hại.
Trước mắt, cần thiết lập vành đai chắn gió đối với diện tích cao su đại điền (diện tích lớn). Còn đối với cao su tiểu điền thì không nên kỳ vọng hoàn toàn vào đai chắn gió. Do đó, cần tăng thêm mật độ trồng và trồng xen ghép các loại cây ngắn ngày để khấu bù trừ thiệt hại trong thiên tai cũng như tạo tán chắn gió. Sở NN-PTNT các địa phương và người trồng cao su nên lưu tâm đến vấn đề cây giống, kỹ thuật cạo mủ vì cạo mủ sớm thì năng suất thấp và dễ gãy hơn vì gió. (Sài Gòn Giải Phóng 5/11) đầu trang(
Quyết định số 19/2013 của UBND tỉnh Đắk Lắkngày 16-7-2013 quy định áp dụng khung giá các loại rừng và xác định giá cho thuê rừng trên địa bàn Đắk Lắk được xem là cơ sở để ngành chức năng làm căn cứ xử lý các vụ vi phạm lâm luật, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của chủ rừng trong việc giữ gìn, bảo vệ giá trị kinh tế và môi trường rừng.
Theo Quyết định trên, giá cho thuê rừng được xác định tùy thuộc vào loại rừng, trạng thái rừng, trữ lượng, chất lượng lâm sản và mục đích sử dụng rừng. Đối với các khu rừng cùng loại, cùng chức năng, có trạng thái rừng, trữ lượng, chất lượng lâm sản như nhau và cùng mục đích thuê thì giá cho thuê rừng là như nhau.
Khung giá các loại rừng sẽ là cơ sở để xác định giá trị tài sản là rừng của Nhà nước khi giao, cho thuê rừng cũng như xác định giá trị đền bù phải trả của tổ chức, cá nhân khi chuyển đổi mục đích sử dụng hoặc cải tạo rừng tự nhiên; khung giá được áp dụng cho rừng tự nhiên và cả rừng trồng. Việc xác định giá rừng cũng là cơ sở để xác định mức độ, hậu quả đối với hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại về rừng, làm căn cứ buộc người có hành vi vi phạm phải bồi thường cho chủ sở hữu, chủ quản lý cả về giá trị lâm sản và giá trị môi trường của diện tích rừng bị thiệt hại.
Khung giá rừng mà UBND tỉnh đã ban hành quy định rất cụ thể, chi tiết từng loại rừng và chia theo khu vực, đối với rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại khu vực huyện M’Drak, Ea Kar, Krông Bông, giá rừng áp dụng để tính tiền bồi thường thiệt hại với người gây thiệt hại về rừng là từ 10 – 44 triệu đồng (rừng nghèo trữ lượng từ 10-50 m3/ha) và trên 500 triệu đồng/ha (rừng rất giàu có trữ lượng 401-500 m3/ha).
Hay rừng tự nhiên lá rộng rụng lá tại khu vực Ea H’leo, Krông Buk, Krông Năng, Buôn Hồ, giá rừng được tính 10-59 triệu đồng/ha đối với rừng nghèo có trữ lượng từ 10-50 m3/ha, và đối với rừng rất giàu có trữ lượng 400-500 m3/ha, khung giá rừng được tính lên đến 902 triệu đồng…
Ông Lê Cước, Trưởng phòng Quản lý bảo vệ rừng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, hiện toàn tỉnh đã giao trên 226 nghìn ha rừng cho các ban quản lý rừng phòng hộ đặc dụng quản lý gồm: Ban QLR đặc dụng Nam Ka (18.646,50ha), Vườn Quốc gia Chư Yang Sin (59.405,70ha), Ban QLDA khu rừng lịch sử văn hóa môi trường hồ Lak (7.358,40ha), Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô (22.599,40ha), Vườn Quốc gia Yok Đôn (109.651,80ha), Ban QLR phòng hộ Núi Vọng Phu (2.957,67ha), Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh (5.795,5ha).
Từ năm 2011 đến tháng 12-2012, tỉnh đã có quyết định cho thuê rừng, đất rừng đối với 14 doanh nghiệp sử dụng vào mục đích trồng cao su, trồng, khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng, với tổng diện tích 7.620,07 ha. Như vậy, việc xử lý đối với những trường hợp vi phạm lâm luật theo Quyết định trên chỉ áp dụng từ 26-7-2013 trở đi, còn đối với những diện tích rừng bị mất vào thời gian trước đó đang được các cơ quan chuyên môn xem xét, đề xuất phương án xử lý.
Việc triển khai thực hiện quy định định giá rừng, giá cho thuê rừng trên địa bàn tỉnh sẽ góp phần đẩy mạnh sản xuất lâm sản và phát triển các dịch vụ lâm nghiệp trên cơ sở vốn rừng và tài nguyên rừng được quản lý bền vững, tổ chức thực hiện một hệ thống chính sách lâm nghiệp có khả năng thu hút cao sự tham gia của người dân và các thành phần kinh tế; nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, sử dụng và bảo vệ rừng cho các chủ rừng, góp phần thúc đẩy phát triển ngành lâm nghiệp…
Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc như diện tích rừng giao cho doanh nghiệp thuê trước đây, khi chưa có Quyết định 19 bị biến động do sự xâm canh, lấn chiếm đất rừng và rừng của người dân vùng dự án, nhưng do tỉnh vẫn chưa thành lập được Hội đồng định giá rừng nên gây nhiều khó khăn khi áp dụng Quyết định này vào thực tế, nhất là đối với những diện tích rừng đã có Quyết định cho thuê vào trước thời điểm Quyết định 19 có hiệu lực.
Để Quyết định 19 nhanh chóng được áp dụng vào thực tế cần sự nỗ lực của các ngành chức năng, nhất là trong công tác tuyên truyền, vận động để chủ rừng và người dân hiểu rõ về những quy định trong Quyết định, cũng như quyết liệt trong việc xử lý đối với những trường hợp vi phạm. Có như vậy, rừng mới thực sự có chủ, công tác quản lý bảo vệ rừng được siết chặt. (Báo Đắk Lắk 5/11) đầu trang(
Theo phương án kiểm kê rừng vừa được tỉnh Thanh Hóa phê duyệt, toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiêp thuộc quy hoạch 3 loại rừng và diện tích nằm ngoài quy hoạch 3 loại rừng của tỉnh sẽ được kiểm kê trong thời gian 3 năm (2013 - 2015).
Hoạt động kiểm kê rừng nhằm xác định chính xác toàn bộ diện tích rừng; chất lượng rừng và diện tích chưa có rừng được quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp gắn với chủ quản lý cụ thể trên địa bàn, phục vụ công tác bảo vệ và phát triển rừng. (Nông Nghiệp Việt Nam 5/11) đầu trang(
Chiều 4.11, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Ngọc Quang chủ trì hội nghị triển khai quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng; công bố quyết định của UBND tỉnh về việc sắp xếp, tổ chức lại các ban quản lý rừng.
Theo phê duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020, Quảng Nam sẽ trồng rừng tập trung trên diện tích đất trống quy hoạch cho lâm nghiệp, rừng trồng kém chất lượng và sau khi khai thác là 177.316ha (bình quân mỗi năm trồng 17.700ha).
Trong đó, trồng mới 30.654ha rừng đặc dụng, phòng hộ và sản xuất; trồng cao su hơn 27.000ha. Phấn đấu đến năm 2020, sẽ có 8.800ha rừng trồng của nhóm hộ được cấp chứng chỉ đạt chuẩn quốc tế. Điều chỉnh quy hoạch rừng đặc dụng hơn 133.547ha, phòng hộ 327.641ha và sản xuất hơn 258.733ha.
Diện tích rừng, đất rừng của các ban quản lý rừng phòng hộ sau khi rà soát, điều chỉnh mở rộng là 271.532ha. Đất sản xuất nông nghiệp, đất chưa có rừng và rừng trồng được quy hoạch là rừng sản xuất, đất thổ cư và đất khác giao lại cho địa phương quản lý là 27.304ha.
Theo Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Ngọc Quang, nhiệm vụ quan trọng sắp đến là rà soát lại đất rừng cho phù hợp với quy hoạch, kiện toàn quản lý lâm phận các ban quản lý mới thành lập, quy hoạch trồng cây cao su, giám sát chất lượng nguồn giống…(Báo Quảng Nam 5/11) đầu trang(
UBND tỉnh Đồng Tháp vừa có văn bản chỉ đạo về việc tăng cường công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép động vật hoang dã.
Công văn yêu cầu các sở, ngành tỉnh tăng cường công tác phối hợp liên ngành, xử lý triệt để các đường dây vận chuyển buôn lậu, vận chuyển trái phép động vật và sản phẩm động vật, đặc biệt là trâu, bò, gia cầm nhập lậu qua biên giới. Tăng cường công tác điều tra nắm tình hình, đấu tranh và triệt phá các đối tượng đầu nậu, các điểm tập kết, thu gom động vật, sản phẩm động vật nhập lậu qua biên giới.
Nghiêm cấm việc xác nhận để hợp thức hóa nguồn gốc động vật, sản phẩm động vật không rõ nguồn gốc, nhập lậu qua biên giới. Tăng cường hoạt động liên ngành, hỗ trợ lực lượng thú y trong công tác kiểm dịch, kiểm soát giết mổ động vật, sản phẩm động vật tại các trạm kiểm dịch đầu mối giao thông; xử lý nghiêm các trường hợp vận chuyển, kinh doanh động vật, sản phẩm động vật không rõ nguồn gốc, không có giấy chứng nhận kiểm dịch theo quy định.
Yêu cầu UBND các huyện, thị xã, thành phố thực hiện tốt công tác tuyên truyền cho người dân về các nguy cơ lây lan dịch bệnh động vật, nguy cơ mất an toàn thực phẩm của việc sử dụng các sản phẩm động vật nhập lậu, không rõ nguồn gốc, nâng cao nhận thức của tổ chức, cá nhân trong việc buôn bán, vận chuyển, kinh doanh, tiêu thụ động vật và sản phẩm động vật. (Báo Đồng Tháp 4/11) đầu trang(
Dự án Tăng cường quản lý rừng có trách nhiệm và phục hồi rừng tại Việt Nam do Tập đoàn Chế biến và kinh doanh đồ gỗ Thụy Điển (IKEA) tài trợ thông qua tổ chức WWF Thụy Điển vừa được UBND tỉnh phê duyệt.
UBND tỉnh giao Sở NN&PTNT tiếp nhận và thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh đến năm 2014. Tổng giá trị viện trở hơn 146,7 nghìn USD. Dự án sẽ duy trì bền vừng và mở rộng quy mô rừng keo được cấp chứng chỉ; tăng cường giá trị về đa dạng sinh học trong cảnh quan Trung Trường Sơn thông qua chứng chỉ rừng; phục hồi rừng bị suy thoái trong hàng lang đa dạng sinh học trong cảnh quan Trung Trường Sơn.
Ngoài ra, dự án còn giúp nâng cao nhận thức tuân thủ đạo luật lâm nghiệp và quản trị rừng của Ủy ban Châu Âu cho các nhà cung cấp lâm sản của Tập đoàn IKEA và Mạng lưới kinh doanh lâm sản toàn cầu tại Việt Nam. (Báo Quảng Nam 4/11) đầu trang(
Công ty TNHH Sản xuất dăm gỗ Bình Định và Công ty cổ phần Cảng Quy Nhơn vừa tổ chức đón tàu Green Pegasus, của hãng tàu biển Hachiuma Steamship (Nhật Bản) chuyên vận chuyển dăm gỗ.
Tàu Green Pegasus có tải trọng 36.000 tấn, vừa được đóng mới và hạ thủy vào ngày 25.10.2013 tại Nhật Bản, rồi đến thẳng cảng Quy Nhơn để vận chuyển dăm gỗ. Đây là một trong những chiếc tàu chuyên vận chuyển dăm gỗ loại lớn đã cập cảng Quy Nhơn làm hàng.
Sự kiện hãng tàu Hachiuma Steamship đóng tàu chuyên vận chuyển dăm gỗ loại lớn, đến Quy Nhơn vận chuyển dăm gỗ xuất khẩu thể hiện sự quan tâm của hãng tàu biển này với thị trường dăm gỗ Bình Định. Việc vận chuyển dăm gỗ bằng tàu chuyên dụng sẽ góp phần hạ giá thành, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm dăm gỗ Bình Định trên thị trường quốc tế. (Báo Bình Định 4/11) đầu trang(
Điện Biên có thế mạnh phát triển kinh tế rừng. Do vậy, hàng năm tỉnh dành nguồn kinh phí khá lớn để khoanh nuôi, tái sinh và trồng rừng. Cùng với đó là thực hiện giao khoán rừng tới nhóm hộ, mô hình thôn, bản.
Tỉnh giao ngành NN&PTNT là đơn vị thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo thực hiện rà soát, đánh giá, phân loại các loại rừng, từ đó có kế hoạch ngắn hạn, dài hạn để đầu tư kinh phí bảo vệ và phát triển rừng.
Trong điều kiện còn nhiều khó khăn về kinh phí cũng như lực lượng liểm lâm tham gia bảo vệ rừng mỏng, để nâng tỷ lệ che phủ rừng đạt theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XII đề ra, giúp nhiều hộ dân gắn bó, sống được nhờ kinh tế rừng, năm 2013 tỉnh thực hiện giao khoán 46.343ha, trong đó rừng phòng hộ 17.000ha, rừng tự nhiên chuyển tiếp tại các huyện thụ hưởng Nghị quyết 30a là 29.343ha, tổng vốn đầu tư gần 9,4 tỷ đồng.
Tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các địa phương tổ chức kiểm tra, rà soát các vùng trọng điểm về phá rừng, khai thác rừng, buôn bán lâm sản trái phép, xây dựng phương án truy quét các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng. Thành lập các tổ liên ngành và chỉ đạo cấp huyện thành lập tổ công tác để kiểm tra, xác minh, làm rõ các đối tượng phá rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất lâm nghiệp trái phát luật.
Mặc dù vậy, rừng xanh vốn kín tiếng như bưng. Lợi dụng những bất cập về giao thông, địa giới hành chính, sông suối; không ít hộ dân di cư tự do, thiếu đất sản xuất nên họ đã chặt phá rừng trái phép để làm nương, là nguyên nhân ảnh hưởng đến kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng hàng năm của tỉnh. Thống kê cho thấy, từ đầu năm đến nay toàn tỉnh xảy ra 259 vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và quản lý lâm sản. Trong đó, đã xử lý 202 vụ, số tiền xử phạt hành chính nộp ngân sách Nhà nước trên 1,7 tỷ đồng.
Giải quyết những bất cập nói trên, trước nhất cần đầu tư thêm vốn để khoanh nuôi, tái sinh và bảo vệ rừng, nhất là với diện tích rừng đặc dụng quy định tại Quyết định 60/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Được biết, năm 2013, nguồn vốn thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng quá thấp (chỉ được 6 tỷ đồng), thấp hơn năm 2012 là 16 tỷ đồng nên không khuyến khích được người dân tham gia trồng rừng. Cùng với đó là sớm giao đất cho các doanh nghiệp trồng rừng sản xuất.
Hiện nay, tỉnh có 13 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đầu tư trồng rừng sản xuất, nhưng phần lớn diện tích quy hoạch trồng rừng sản xuất do người dân bao chiếm nên việc thực hiện thuê đất rất khó khăn. Trong việc thu hút doanh nghiệp tham gia trồng rừng thì trọng tâm là hướng dẫn doanh nghiệp liên kết hợp tác trồng rừng với người dân có đất, gắn với thực hiện quy chủ để doanh nghiệp thuê đất trồng rừng. Việc kiện toàn bộ máy chỉ đạo, quản lý các dự án bảo vệ và phát triển rừng cần thực hiện đồng bộ, nhất quán.
Vì hiện tại, có huyện giao cho ban quản lý rừng phòng hộ, có huyện giao cho phòng NN&PTNT quản lý. Một mặt, cần nhanh chóng thực hiện xong Kế hoạch 388/KH-UBND về rà soát, xác định chủ rừng, giao đất giao rừng đối với toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp có rừng vùng lưu vực sông Đà để thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho người dân.
Trong 2 năm 2011 - 2012, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh đã nhận từ Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam số tiền 100 tỷ đồng, nhưng đến nay mới giải ngân được khoảng 13,6% kinh phí. Khi được trực tiếp hưởng thụ các nguồn lợi từ rừng, người dân sẽ nâng cao ý thức bảo vệ rừng, chắc rằng tỷ lệ che phủ rừng ngày càng tăng lên. (Báo Điện Biên 4/11) đầu trang(
Vườn quốc gia Mũi Cà Mau được công nhận là khu Ramsar thứ 2.088 của thế giới, với giá trị, tài nguyên đa dạng sinh học phong phú. Tuy vậy, trước tác động của việc phát triển kinh tế, sự thay đổi sinh kế của người dân, xói lở hàng năm, những bất cập trong quản lý khu bảo tồn... đã và đang làm suy giảm tính đa dạng sinh học, nhất là giảm diện tích và tính đa dạng sinh học của rừng ngập mặn nơi đây.
Hệ động, thực vật Vườn quốc gia Mũi Cà Mau tuy không đa dạng về loài, nhưng do vị trí địa lý đặc biệt đã tạo cho nơi đây một giá trị khoa học và sinh thái riêng biệt. Các nhà khoa học đánh giá rất cao hệ thực vật rừng ngập mặn của Vườn, bởi nó mang lại hiệu quả kinh tế -xã hội to lớn, cũng như tác dụng ứng phó với biến đổi khí hậu trong chắn sóng và chống xói lở bờ biển. Riêng giá trị du lịch sinh thái rừng ngập mặn Mũi Cà Mau mỗi năm đã lên tới 19,83 tỷ đồng. Ước tính 1ha rừng ngập mặn tạo ra môi trường sống cho 0,7 tấn thủy sản khai thác.
Thạc sĩ Phạm Hạnh Nguyên, Cục Bảo tồn đa dạng sinh học cho biết: Vườn quốc gia Mũi Cà Mau được thành lập theo Quyết định số 142 ngày 14/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ. Dựa trên các thông tin điều tra, thu thập được về các yếu tố ảnh hưởng đến tài nguyên đa dạng sinh học của Vườn, đã cho thấy hệ sinh thái của Vườn thuộc hạng nhạy cảm cao. Nguyên nhân là do các hoạt động phát triển kinh tế, xã hội, khai thác tài nguyên thiên nhiên của người dân ngày càng gia tăng trong khu vực.
Tuy các xã tiếp giáp Vườn quốc gia Mũi Cà Mau có mật độ dân cư thưa thớt nhưng tỷ lệ hộ nghèo khá phổ biến, trong đó có tới 14,7% số hộ không có đất sản xuất nên phần lớn hành nghề lâm-ngư nghiệp, đánh bắt thủy sản ven bờ bằng nghề đáy, lưới rê, câu mồi ảnh hưởng lớn đến nguồn lợi thủy sản và sinh thái, môi trường; còn diện tích nuôi trồng thủy sản tập trung chủ yếu ở phân khu phục hồi sinh thái của Vườn theo hình thức quảng canh cải tiến.
Chính vì vậy, nguồn lợi thủy, hải sản tại Vườn quốc gia Mũi Cà Mau không những đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi các hình thức khai thác hủy diệt, mà vấn đề tập trung quá nhiều cả người địa phương và người ngoại tỉnh vào khai thác ở những thời điểm xuất hiện con giống, cũng gây cạn kiệt dần nguồn lợi tại vùng đất ngập nước này.
Do đó, cần phải có các giải pháp quản lý tốt hơn đối với Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, trong đó phải đặc biệt lưu ý đến sinh kế của người dân địa phương, vì các tác động đến tài nguyên đa dạng sinh học hầu hết là do các hoạt động của con người gây ra. Trước hết là ổn định và nâng cao đời sống cho dân cư trong vùng để giúp họ tránh được các hành vi phá rừng và đánh bắt thủy, hải sản bừa bãi.
Đồng thời nghiên cứu, thực hiện việc chi trả dịch vụ hệ sinh thái, xem đây là một chiến lược tạo cơ chế tài chính cho bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân trong vùng. Cần tăng cường sự phối hợp giữa các nhà quản lý địa phương với các nhà khoa học và người dân, trong việc xác định các giải pháp ứng phó nhằm bảo vệ đa dạng sinh học của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau một cách bền vững. (Tin Tức 5/11) đầu trang(
Rừng phòng hộ đầu nguồn Mường La hiện đang lưu giữ một phần vùng rừng á nhiệt đới ở Việt Nam với loài vượn đen tuyền nằm trong sách đỏ thế giới... Đây là khu vực có cảnh quan độc đáo, tài sản toàn cầu có giá trị đa dạng sinh học cao. Việc chuẩn bị quy hoạch nơi đây thành “Khu bảo tồn thiên nhiên Mường La” là chủ trương đúng và rất cấp thiết.
Tỉnh Sơn La có 4 khu bảo tồn thuộc địa bàn các huyện: Phù Yên, Bắc Yên, Mộc Châu, Thuận Châu, Sông Mã và Sốp Cộp. Tuy nhiên, nếu so sánh thì vùng rừng phòng hộ Mường La thuộc 3 xã Ngọc Chiến, Nặm Păm và Hua Trai chứa đựng trong mình một cảnh quan có tính đa dạng sinh học cao. Đặc biệt, nơi đây còn có 20-30 cá thể vượn đen tuyền, loài vượn đang bị đe dọa tuyệt chủng cao, hiện chỉ có ở Việt Nam và Trung Quốc.
Bởi vậy, rừng nơi đây là một tài sản quý hiếm, thu hút sự chú ý không chỉ cấp quốc gia. Đây còn là nơi cư trú của các quần thể voọc xám, niệc cổ hung, gà lôi hồng tía và beo lửa (tuy nhiên đang ở mức độ nguy cấp).
Ông Đỗ Văn Ánh, Trưởng phòng Bảo tồn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: Một số khu vực của rừng phòng hộ Mường La đã bị suy thoái bởi tình trạng khai thác và phá rừng trước đó, nhưng nơi đây còn có những thung lũng hiểm trở, khó vào vẫn lưu giữ được tính nguyên sinh. Rừng nơi đây đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho các hồ chứa ở Mường La, các nhà máy thủy điện và việc canh tác nông nghiệp khu vực xung quanh.
Do vậy, rất nhiều người dân sống quanh khu vực đã có tác động ảnh hưởng tới hệ sinh cảnh của rừng, đe dọa sự sinh tồn của các loài động, thực vật quý hiếm, nhất là loài vượn đen tuyền. Hiện tại, lực lượng Kiểm lâm đã và đang cùng nhóm giám sát cộng đồng tăng cường kiểm soát hoạt động có ảnh hưởng đến sự đa dạng sinh thái của khu vực này.
Cách đây gần 2 năm, tham gia một chuyến xuyên rừng với khoảng thời gian 5 ngày, tôi đã được chứng kiến và cảm nhận giá trị của vùng rừng phòng hộ Mường La. Ngoài việc được chiêm ngưỡng vẻ đẹp nguyên sinh tại một số cánh rừng với những loài thực vật cổ thụ quý hiếm chỉ nơi đây mới có, còn tận mắt thấy loài vượn đen tuyền đang nằm trong sách đỏ thế giới và nghe tiếng hót cuốn hút của loài linh trưởng này.
Tuy nhiên, bên cạnh chứa đựng trong mình sự đa dạng sinh học, thì rừng nơi đây đang bị xâm lấn bởi tình trạng khai thác lâm sản, phá rừng trồng thảo quả, phát triển thủy điện hay thu hái lâm sản phụ đã ảnh hưởng và tác động tới cảnh quan, sinh cảnh các loài hoang dã...
Trong khi việc địa phương được khuyến khích tham gia công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng còn nhiều hạn chế. Phần lớn người dân không nắm rõ về các kế hoạch sử dụng đất ở xã, bản. Qua thực tế cho thấy chính người dân địa phương tự quyết định việc sử dụng rừng, xác định nơi nào để chăn thả gia súc, cây nào có thể khai thác nhưng chưa có sự định hướng của chính quyền và cơ quan kiểm lâm. Do vậy, rừng nơi đây đứng trước nguy cơ suy thoái ngày một nhanh.
Việc UBND tỉnh có quyết định cho cơ quan chuyên môn lập đề án xác lập để tiến tới thành lập “Khu bảo tồn thiên nhiên Mường La” là một chủ trương đúng, đón nhận sự ủng hộ không chỉ ở cấp quốc gia mà cả quốc tế. Bởi lẽ, ngoài giá trị đa dạng sinh học, thì chủ trương này còn góp phần vào bảo vệ và phát triển quần thể vượn đen tuyền tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải (Yên Bái) giáp với rừng phòng hộ đầu nguồn Mường La.
Việc thành lập “Khu bảo tồn thiên nhiên Mường La” ngoài việc bảo tồn và phát triển các loài động, thực vật quý hiếm, còn góp phần cùng địa phương đưa ra được kế hoạch phù hợp trong việc tái định cư, sử dụng rừng hay vấn đề sinh kế của người dân sống quanh khu vực này. Đồng thời, đưa ra được giải pháp hữu hiệu trong việc ngăn chặn những tác động ảnh hưởng tới rừng, gìn giữ được những giá trị nguyên sinh của vùng rừng nơi đây. (Báo Sơn La 5/11) đầu trang(
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Thị Thu Hà vừa chỉ đạo Sở NN-PTNT phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thành phố tăng cường kiểm tra hoạt động sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh; có biện pháp xử lý nghiêm đối với các cơ sở sản xuất giống không đảm bảo chất lượng.
Theo Sở NN-PTNT, hiện nay, toàn tỉnh có 90 đơn vị, cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp với 103 vườn ươm, tổng diện tích 68,5 ha; cung ứng hàng trăm triệu cây giống phục vụ công tác trồng rừng trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên, qua kiểm tra của cơ quan chức năng, một số cơ sở sản xuất giống lâm nghiệp không đảm bảo các điều kiện về sản xuất, kinh doanh, nguồn gốc giống không rõ ràng, kém chất lượng, ảnh hưởng đến chất lượng trồng rừng. (Báo Bình Định 5/11) đầu trang(
Trong tháng 10-2013, Ban quản lý rừng ven biển Ninh Phước trồng được 151.060 cây xanh phủ xanh đất trống đồi trọc trên địa bàn huyện Thuận Nam.
Trong đó trồng tập trung 41.060 cây Neem với diện tích 10 ha tại xã Phước Dinh và trồng 80.000 cây trôm, 30.000 cây phi lao phân tán tại 6 xã trong huyện. (Báo Ninh Thuận 3/11) đầu trang(
Theo ông Mai Tấn Lên, Giám đốc Quỹ Bảo vệ - Phát triển rừng Phú Yên, hiện 2 nhà máy thủy điện Sông Hinh và Krông H’năng vẫn chưa chịu trả phí dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trong suốt 3 năm qua. Phí DVMTR đã được Chính phủ quy định và có hiệu lực từ ngày 1-1-2011.
Theo quy định, phí DVMTR được thu để chi trả cho chủ rừng nằm trong lưu vực mà chủ đầu tư dự án thủy điện đang được thụ hưởng. Theo UBND tỉnh Phú Yên, phí này hiện được tạm tính 20 đồng/KWh. Ông Huỳnh Xuân Sơn, Phó Chánh Văn phòng UBND tỉnh Phú Yên, cho biết tỉnh đã có văn bản yêu cầu phải nộp đủ phí DVMTR nhưng 2 nhà máy thủy điện Sông Hinh và Krông H’năng vẫn chây ì.
Ba năm qua, dựa trên sản lượng điện sản xuất hằng năm, 3 nhà máy thủy điện đã đi vào hoạt động ở Phú Yên là Sông Ba Hạ, Sông Hinh và Krông H’Năng phải nộp phí DVMTR lên đến trên 70 tỉ đồng. Thế nhưng, hiện chỉ có Nhà máy Thủy điện Sông Ba Hạ đã nộp đủ - gần 36 tỉ đồng. “Hai nhà máy thủy điện còn lại chưa nộp đồng nào. Họ phải biết nguồn nước để chạy ra điện lấy từ đâu và phải có trách nhiệm với chủ rừng chứ?” - ông Lên băn khoăn.
Ông Phạm Phong, Tổng Giám đốc Công ty CP Sông Ba (chủ đầu tư Nhà máy Thủy điện Krông H’năng), than vãn: “Năm nay khô hạn quá, không đủ nước chạy điện, chúng tôi còn phải vay thêm tiền để hoạt động nên chưa thể trả phí được”. Ông Phong hứa trong tuần này sẽ sắp xếp trả dần khoảng 400 triệu đồng phí DVMTR, 9,6 tỉ đồng còn lại phải khất đến năm 2014.
Trong khi đó, ông Võ Thành Trung, Tổng Giám đốc Công ty CP Thủy điện Vĩnh Sơn - Sông Hinh (chủ đầu tư Nhà máy Thủy điện Sông Hinh), cho rằng công ty chưa trả phí là do chưa hợp đồng được giá bán điện với Tập đoàn Điện lực Việt Nam. “Chúng tôi đang sống dở, chết dở vì từ năm 2010 đến nay chưa ký được hợp đồng bán điện, chỉ mới tạm tính giá điện để nộp thuế thôi” - ông nói.
Theo ông Trung, cả Nhà máy Thủy điện Vĩnh Sơn ở Bình Định do công ty của ông làm chủ đầu tư cũng chưa nộp đồng phí DVMTR nào suốt 3 năm nay.
Để xây dựng 3 nhà máy thủy điện Sông Ba Hạ, Sông Hinh và Krông H’năng, các chủ đầu tư đã phá trắng trên 2.400 ha rừng, chủ yếu là rừng đặc dụng và phòng hộ. Trong đó, riêng thủy điện Sông Hinh đã “nuốt” gần 1.900 ha rừng phòng hộ. Theo quy định, các chủ đầu tư phải trồng lại đúng số rừng đã mất. Thế nhưng, 4 năm qua, chỉ có... 22 ha rừng được trồng mới.
Giải thích về điều này, ông Phạm Phong đổ lỗi cho chính quyền địa phương không bố trí đất để trồng lại rừng. “Chẳng ai cấp đất, chúng tôi phải mày mò, tự trồng rừng dần dần” - ông phân bua. Hiện Nhà máy Thủy điện Krông H’năng mới trồng được 7 ha rừng, dự kiến sẽ trồng thêm khoảng 15 ha trong năm nay.
Ông Đặng Văn Tuần, Tổng Giám đốc Công ty CP Thủy điện Sông Ba Hạ, cũng cho rằng công ty đang vướng ở khâu tìm đất. “Vì không có đất nên chúng tôi đã đề xuất quy đổi việc trồng rừng ra tiền để nộp nhưng chưa được tỉnh chấp thuận” - ông nói.
Theo ông Đỗ Duy Vinh, Chánh Văn phòng kiêm người phát ngôn UBND tỉnh Phú Yên, tỉnh chưa đồng ý quy đổi ra tiền vì muốn nhà đầu tư phải có trách nhiệm với rừng trồng lại.
“Đâu phải trồng lại là xong, rồi bỏ đó, rừng sống chết không quan tâm? Chúng tôi muốn nhà đầu tư bảo đảm rừng lên xanh rồi tỉnh mới nghiệm thu” - ông Vinh giải thích. Theo ông, UBND tỉnh Phú Yên đang giao các sở, ngành, địa phương liên quan tiếp tục tìm đất để chủ đầu tư các thủy điện trồng lại rừng.
Trong khi đó, ông Hoa Minh Châu, Trưởng Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện Sông Hinh, địa phương đặt cả 3 dự án thủy điện nêu trên, cho biết huyện chẳng còn quỹ đất để bố trí trồng lại rừng. “Thủy điện lấy hết đất rồi!” - ông khẳng định. (Người Lao Động 5/11) đầu trang(
Người dân và cán bộ ở xã Hiệp Hoà Trung đều khẳng định gần 3000m2 đất bà Nguyễn Thị Xao khai hoang năm 1972 và sản xuất, trồng cây ổn định từ đó tới nay. Nhưng khi giải toả, Chủ tịch UBND xã lại bảo đây là đất nghĩa địa, và đền bù theo giá …đất rừng sản xuất!
Năm 2009 tỉnh Phú Yên chuẩn bị đầu tư làm đường qua xã Hoà Hiệp Trung (nay là thị trấn Hoà Hiệp Trung- HHT) huyện Đông Hoà, Phú Yên. Để thực hiện Tiểu dự án 3, huyện Đông Hoà thu hồi nhiều phần đất để xây dựng công trình giao thông và làm dự án tái định cư. Việc định giá đất đền bù tùy tiện đã phát sinh oan trái.
Bà Trà Thị Minh Nam- con gái bà Nguyễn Thị Xao ở thôn Phú Thọ 1, thị trấn HHT bức xúc: “Đất này bố mẹ tôi khai hoang từ năm 1972 trồng hoa màu sinh sống. Năm 2009, mẹ mất để lại hơn 3.000m2 cho 7 anh chị em tiếp tục canh tác. Khi có dự án mở đường, năm 2011 UBND huyện Đông Hoà ra 2 quyết định thu hết đất của chúng tôi.
Trong đó QĐ số 1208/QĐ-UBND thu hồi 1.129,8m2 để làm đường, và QĐ số 1079/QĐ-UBND thu hồi toàn bộ 1.789,5m2 đất mà 7 anh chị em chúng tôi sinh sống để làm khu tái định cư! Trong khi các hộ xung quanh đều được bồi thường theo giá đất thổ cư, giá đất nông nghiệp và được cấp đất tái định cư, thì gia đình tôi chỉ được bồi thường theo giá đất rừng sản xuất, chỉ có 15.000đ/m2”.
Ngày 21/9/2011 khi đường mới đã phóng tuyến, làm nền xong, dân khiếu nại về công tác đền bù, UBND huyện Đông Hoà mới cùng UBND xã Hoà Hiệp Trung họp xét việc bồi thường thu đất. Cuộc họp xác minh nguồn gốc đất của bà Nguyễn Thị Xao do bà Nam đại diện có mặt phó Chủ tịch UBND huyện Đông Hoà, cán bộ phòng Tài nguyên Môi trường; Ban chuyên trách Bồi thường Hỗ trợ tái định cư, đại diện chính quyền, các tổ chức đoàn thể … đều khẳng định toàn bộ diện tích đất bà Xao là đất trồng hoa màu, đủ điều kiện đền bù.
Biên bản cuộc họp có chữ ký của đại diện cả chục cơ quan, đóng 5 dấu đỏ hẳn hoi. Nhưng khi làm văn bản gởi cấp trên, ông Trần Phú Sơn- Chủ tịch UBND xã HHT vẫn yêu cầu bồi thường cho bà Nam theo giá đất rừng.
Bức xúc kéo dài, bà Nam đại diện 7 anh em khiếu nại lên UBND huyện Đông Hoà và các cấp liên quan, đề nghị áp giá đền bù thoả đáng khi thu hồi đất, đồng thời xin bố trí 489,5m2 ngay trong diện tích đất bị thu hồi làm Khu tái định cư để gia đình bà Nam có nơi thờ cúng bố mẹ, tổ tiên.
Khi nhận được đơn khiếu nại, ngày 8/5/2013, ông Nguyễn Tài- Chủ tịch UBND huyện Đông Hoà ký QĐ số 335/QĐ-UBND bác đơn bà Nam, cho rằng đây là đất… nghĩa địa !?
Ngày 19/8/2013 Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên có văn bản nêu rõ: Quá trình tham mưu cho Chủ tịch UBND huyện Đông Hoà thu hồi đất, Phòng TNMT huyện Đông Hoà chưa kiểm tra, đo đạc, đối chiếu hồ sơ để xác định cho đúng vị trí thửa đất, loại đất bà Nam bị thu hồi… Mặt khác, Chủ tịch UBND huyện Đông Hoà cho rằng đất của bà Xao là đất nghĩa địa nhưng lại bồi thường theo giá đất rừng sản xuất là không chính xác.
Mới đây, ngày 26/9/2013 UBND huyện Đông Hoà khi ra QĐ giải quyết khiếu nại đối với 7 hộ gia đình do bà Nam làm đại diện vẫn giữ nguyên quan điểm cũ, không làm rõ chỉ đạo của UBND tỉnh Phú Yên.
Diện tích đất thu hồi thực hiện đường giao thông thuộc Tiểu dự án 3 là 104.484m2 (trong đó 8.635m2 đất thổ cư và 95.680m2 nông nghiệp), kinh phí bồi thường 51,303 tỷ đồng nhưng diện tích đất thu hồi thực hiện dự án khu Tái định cư lên đến… 117.860m2 (trong đó 1.950m2 đất thổ cư và 115.850m2 đất nông nghiệp), kinh phí bồi thường chỉ có 8,6 tỷ đồng ! (Tiền Phong 4/11) đầu trang(
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (WWF) và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam vừa khởi động chương trình phục hồi rừng ở dãy Trường Sơn, khu vực biên giới Lào và Việt Nam.
Chương trình được thực hiện tại 20 xã thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam, đây là một hoạt động của Dự án “Dự trữ các-bon và bảo tồn đa dạng sinh học” (CarBi) do WWF khởi xướng. Trong đợt trồng rừng này, các cây bản địa sẽ được trồng mới trên 200 ha và hơn 430 ha rừng tại những điểm trọng yếu của hai tỉnh.
Năm 2014, chương trình sẽ tiếp tục trồng thêm cây bản địa trên 250 ha và xúc tiến tái sinh rừng tại 2.970 ha cũng tại khu vực trên.
Theo đánh giá của chuyên gia bảo tồn, trung Trường Sơn là một trong những nơi có độ đa dạng sinh học cao của khu vực và trên thế giới, với rất nhiều loài thú quý hiếm và chỉ có thể tìm thấy tại đây như sao la, voọc, mang Trường Sơn, mang lớn và thỏ vằn. Tuy nhiên, rừng đang bị phân mảnh do nhiều hoạt động của con người, đặc biệt là khai thác gỗ trái phép, săn bắn động vật hoang dã cũng như các phương pháp lâm nghiệp thiếu bền vững.
Sinh cảnh bị phân mảnh là một trong những nguyên nhân chính đe doạ “hành lang” sinh học tự nhiên, hạn chế các loài di chuyển và phối giống. Những hành lang sinh học là nền tảng cho sự sống còn của các loài quý hiếm sinh sống trong điểm nóng đa dạng sinh học này. Hiện có nhiều loài bị đẩy đến bờ vực tuyệt chủng. Nếu không có những nỗ lực tái tạo rừng, hệ sinh thái khu vực sẽ không thể phục hồi.
“WWF đang nỗ lực kết nối các mảng rừng bị chia cắt tại khu vực trung Trường Sơn để tạo ra những “hành lang” tự nhiên, nơi có thể đảm bảo sự di chuyển an toàn cho các loài quý hiếm của khu vực trong đó có loài sao la", tiến sĩ Lê Thuỷ Anh, Quản lý chương trình trung Trường Sơn của WWF-Việt Nam nói.
"Trồng các cây bản địa là một trong những hoạt động WWF đang thực hiện trong chương trình CarBi để tái tạo sự liên kết liền mạch của khu vực đa dạng sinh học độc đáo này", tiến sĩ Anh nói thêm.
Hợp phần Phục hồi rừng của dự án là một chiến lược bảo vệ và phát triển rừng dựa vào cộng đồng và được thực hiện với sự hợp tác của các hộ gia đình địa phương. Các hộ dân chính là những người sẽ thực hiện việc phục hồi rừng, nơi cung cấp sinh kế cho họ. (Vnexpress.net 4/11) đầu trang(
UBND huyện An Lão vừa có buổi làm việc với Sở NN&PTNT Bình Định để thống nhất việc rà soát soát 3 loại rừng trên địa bàn huyện trong thời gian qua.
Theo đó huyện An Lão có 2.674ha rừng được quy hoạch lại, trong đó có 1.697ha rừng phòng hộ chuyển sang rừng sản xuất và 977ha rừng sản xuất chuyển sang rừng phòng hộ.
Cụ thể các địa phương có diện tích rừng phòng hộ chuyển sang rừng sản xuất là: xã An Dũng 389,7ha, An Hòa 91ha, An Hưng 582,2ha, An Tân 307,6ha, An Nghĩa 125,5ha, An Trung 201 ha. Riêng thị trấn An Lão và xã An Hưng có 977ha rừng sản xuất chuyển sang quy hoạch rừng phòng hộ.
Hiện nay UBND huyện An Lão đang trình Ban Thường vụ Huyện ủy cho chủ trương về giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp theo quy hoạch để nhân dân các địa phương phát triển sản xuất. Trước mắt, huyện An Lão tiến hành giao 313ha đất rừng sản xuất cho nhân dân xã An Hòa và An Tân tại tiểu khu 21, 33, 34, 48. (Hội Nông dân Bình Định 5/11) đầu trang(
UBND tỉnh Quảng Nam vừa thông qua quyết định phê duyệt báo cáo kinh tế - kỹ thuật: Chăm sóc rừng trồng thuộc kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2013 do BQL rừng phòng hộ Phú Ninh làm chủ đầu tư nhằm mục tiêu đầu tư phòng hộ và nâng cao độ che phủ rừng của hồ Phú Ninh.
Theo đó, sẽ tiến hành trồng rừng tại các xã Tam Dân, Tam Đại, huyện Phú Ninh; các xã Tam Xuân I, Tam Xuân II, huyện Núi Thành trong năm 2013, với diện tích chăm sóc rừng trồng năm thứ hai là 83,81 ha; Diện tích chăm sóc rừng trồng năm thứ ba: 115 ha. Tổng mức đầu thực hiện dự án hơn 276 triệu đồng, từ nguồn vốn kế hoạch bảo vệ phát triển rừng năm 2013. (Quangnam.gov.vn 5/11) đầu trang(
Vẽ ra viễn cảnh hoành tráng về một dự án trồng cây dược liệu quý dưới tán rừng, nhằm chống xói mòn đất, tăng cường độ che phủ rừng và hỗ trợ người dân vùng rừng có cuộc sống ổn định…, Công ty cổ phần Vina Anh Linh (trụ sở tại 184 Thái Thịnh - TP.Hà Nội) đã thuyết phục nhiều ban ngành tỉnh Bắc Giang cho khảo sát, điều tra hệ thống sinh thái và địa chất tại khu vực rừng phòng hộ Cấm Sơn với diện tích 500ha.
Tuy nhiên, thay vì khảo sát, điều tra địa chất như cam kết, doanh nghiệp này lại có những hành động “bất thường”, khiến cơ quan chức năng phải “tuýt còi”.
Văn bản 125 của Công ty cổ phần Vina Anh Linh gửi cơ quan chức năng tỉnh Bắc Giang nêu rõ: Doanh nghiệp kết hợp với một số tổ chức phi chính phủ và các nhà khoa học tại các trường đại học triển khai chương trình “Phát triển kinh tế bền vững trên vùng rừng nghèo Việt Nam”.
Mục đích dự án mà Anh Linh “vẽ” ra là hỗ trợ người dân vùng rừng nghèo kiến thức bảo vệ và phát triển kinh tế rừng bền vững, chống xói mòn, thoái hóa đất, nâng cao độ che phủ rừng, từ đó mang lại lợi ích thiết thực cho Nhà nước, người dân, doanh nghiệp và môi trường...
Để có đủ căn cứ khoa học và thực tiễn triển khai dự án, doanh nghiệp có nguyện vọng thực hiện tại khu rừng phòng hộ thuộc địa bàn xã Tân Sơn (huyện Lục Ngạn). Theo đó, Công ty cổ phần Vina Anh Linh đưa ra những nội dung khảo sát cụ thể gồm: Điều tra tình hình dân số, tập quán sinh hoạt và thói quen phát triển kinh tế gia đình từ rừng, quan hệ xã hội của người dân địa phương; đào thăm dò một số vị trí để xác định tầng địa chất, lấy mẫu đất phân tích, xác định thành phần dinh dưỡng, khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp với cây trồng trong dự án.
Công ty cũng sẽ khảo sát, lập dự toán và quyết định đầu tư cải tạo nâng cấp tuyến giao thông từ trung tâm xã Tiên Sơn đến các vùng dự án. Thậm chí, Anh Linh còn khẳng định sẽ hỗ trợ địa phương xây dựng thêm lớp học, trạm y tế, khám - chữa bệnh miễn phí cho nhân dân... Ngoài ra, còn cam kết thực hiện nghiêm túc, không gây ảnh hưởng tới rừng.
Tuy nhiên, ngay sau khi được các cơ quan chức năng tỉnh Bắc Giang chấp thuận cho khảo sát, điều tra hệ thống sinh thái và địa chất tại khu vực rừng phòng hộ Cấm Sơn với diện tích 500ha trên địa bàn xã Tân Sơn thì doanh nghiệp lại có nhiều hành động “bất thường”. Ngoài việc đào hố lấy đất, doanh nghiệp không khảo sát bất kỳ số liệu nào khác để phục vụ cho việc lập dự án đầu tư trồng cây dược liệu dưới tán rừng.
Công văn 357/UBND-TNMT, ngày 5/9/2013 của UBND huyện Lục Ngạn gửi UBND tỉnh Bắc Giang, Sở NN&PTNT Bắc Giang nêu rõ: Hiện, công ty đã đào 2 hố sâu vào rừng phòng hộ tự nhiên khi chưa có ý kiến của cơ quan quản lý. Ngày 27/8, Ban quản lý rừng phòng hộ Cấm Sơn đã lập biên bản đình chỉ việc khảo sát của Công ty cổ phần Vina Anh Linh.
Ngày 3/9/2013, các cơ quan chức năng của huyện Lục Ngạn đã tiến hành thực địa khu vực khảo sát của công ty này và phát hiện tại hiện trường có 2 lán trại, diện tích khoảng 30m2, đào 2 hố có diện tích khoảng 36m2, trong đó 1 hố vuông có chiều rộng 6m, sâu 6m, thuộc khoảnh 1 thôn Bắc Hoa, xã Tân Sơn. Hố còn lại đào cách đó khoảng 500m.
Lực lượng thuê khảo sát (đào đất) khoảng 15 người đến từ Thái Nguyên, Hà Nội, Thái Bình và cả người dân địa phương. Mẫu đất được đóng thành các túi khoảng 15kg và chuyển đi khỏi địa phương. Hơn nữa, ngoài việc đào lấy đất mang đi, công ty không khảo sát bất kỳ số liệu nào khác để phục vụ cho việc đầu tư lập dự án trồng cây dược liệu dưới tán rừng như xin phép ban đầu.
Ông Dương Xuân Bánh, Phó giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Bắc Giang cho biết: Ngay sau khi nhận được báo cáo của UBND huyện Lục Ngạn về việc làm của doanh nghiệp này, Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Giang đã lập đoàn thanh tra hoạt động của Công ty cổ phần Vina Anh Linh, đồng thời đình chỉ hoạt động của đơn vị này để tiếp tục điều tra, làm rõ.
Ngay sau khi bị cơ quan chức năng “tuýt còi”, doanh nghiệp này cũng chạy mất tăm, chúng tôi liên hệ nhiều lần để yêu cầu có giải trình sự việc nhưng vẫn chưa có kết quả. “Hiện, cơ quan chức năng tỉnh Bắc Giang đã niêm phong hiện trường, máy móc của Công ty cổ phần Vina Anh Linh và báo cáo UBND tỉnh Bắc Giang để có hướng xử lý theo quy định pháp luật”, ông Bánh cho biết thêm.
Trong buổi làm việc với phóng viên, nhiều lãnh đạo và cán bộ Sở NN&PTNT Bắc Giang cũng tỏ ra bức xúc về thái độ, cách làm việc của Công ty cổ phần Vina Anh Linh, và cho rằng: Hành động của doanh nghiệp này có nhiều mờ ám, không thật sự phục vụ cho phát triển kinh tế địa phương mà có thể vì một mục đích khác của công ty đã định sẵn. (Kinh tế Nông thôn 4/11) đầu trang(
Ngày 10/10/2013, tại Tiểu khu 340A đã xảy ra cháy rừng. Một điều lạ là ba địa điểm cháy rừng cùng một lúc. Chính quyền địa phương xã Quỳnh Lập phải huy động hàng trăm người.
Sau cơn “đại hồng thủy” do hậu quả của cơn bão số 10 và sự xả lũ bất ngờ của hồ Vực Mấu, người dân xóm Đồng Thanh, xã Quỳnh Lập, thị xã Hoàng Mai ở vùng hạ lưu đang dần dần ổn định cuộc sống thì lại xuất hiện nạn đốt rừng ở vùng rừng núi, do những kẻ “trả thù cá nhân”, “ghen ăn tức ở” gây nên, khiến nhân dân hoang mang, lo lắng về an ninh trật tự cũng như thiệt hại kinh tế, ảnh hưởng môi trường sinh thái nơi đây.
Ông Nguyễn Văn Thỏa (SN 1956) trú xóm Đồng Thanh, xã Quỳnh Lập cho biết, ông là Tổ phó Tổ trồng rừng gồm 23 người, được thành lập năm 1993, với diện tích 150 ha.
Rừng trồng chủ yếu là cây thông bắt đầu khai thác từ năm 2010. Vào khoảng 1 giờ ngày 10/10/2013, tại Tiểu khu 340A đã xảy ra cháy rừng. Một điều lạ là ba địa điểm cháy rừng cùng một lúc.
Chính quyền địa phương xã Quỳnh Lập phải huy động hàng trăm người, dùng mọi dụng cụ thô sơ như cành cây đến xô, chậu để lên rừng dập lửa. Sau hơn 3 giờ đồng hồ mới khống chế được đám cháy. Diện tích bị cháy khoảng 3 ha, ước tính thiệt hại nhiều trăm triệu đồng.
Sáng cùng ngày, UBND xã Quỳnh Lập phối hợp với Kiểm lâm đóng trên địa bàn, Công an xã, đại diện Tổ trồng rừng, Xóm trưởng xóm Đồng Thanh lập biên bản kiểm tra về vụ cháy rừng, đồng thời thống kê thiệt hại ban đầu.
Theo đó, diện tích bị cháy khoảng 3 ha, chủ yếu là cây thông đang bắt đầu thu hoạch. Thống kê số cây thông nhựa bị cháy là 2.900 cây, trong đó số nhựa bị cháy chưa kịp lấy là 450 kg, khoảng 2.000 bát lấy nhựa bị cháy, vỡ. Ước tính thiệt hại khoảng 500 triệu đồng.
Chiều 31/10/2013, chúng tôi có mặt tại địa phương xảy ra cháy rừng. Ông Nguyễn Văn Phơn (63 tuổi) trong Tổ trồng rừng, xóm Đồng Thanh vẫn chưa hết lo lắng: “Dân chúng tôi nghèo lắm, vùng dưới trồng lúa thì bị mất sạch do vừa rồi bị lũ lụt, còn vùng chúng tôi đang ở đây chỉ biết bám rừng mà sống.
Nhưng rừng trồng vừa đến thời kỳ thu hoạch thì lại bị chính người dân mình hại mình… Chúng tôi rất mong cơ quan Công an tìm ra thủ phạm, xử lý nghiêm kẻ đốt rừng để dân an tâm trồng, bảo vệ rừng, ổn định cuộc sống”.
Còn ông Thỏa cho biết thêm, trước đây Tổ trồng rừng gồm 24 hộ gia đình, riêng hộ ông Phùng xin làm riêng thì Tòa án đã giải quyết xong rồi. Thời gian này, giữa các nhóm trong tổ có nhiều mâu thuẫn do việc ăn chia không đều, tranh chấp đất rừng dẫn đến khiếu kiện kéo dài.
Chính quyền địa phương đã nhiều lần hòa giải, đến nay mọi việc đã được giải quyết ổn thỏa. Tuy nhiên, những người “ghen ăn tức ở” hoặc “trả thù cá nhân” vẫn đang rình rập. Chỉ cần một mồi lửa trong đêm trên rừng vắng là công sức làm mấy chục năm trời của cả tổ đều đổ xuống sông, xuống biển.
Chính điều đó gây khó khăn cho công tác điều tra, tìm ra thủ phạm. Rất may là thời điểm vụ cháy rừng nói trên chưa phải là cao điểm của mùa nắng nóng, nếu không hậu quả sẽ còn nặng nề hơn nhiều.
Đại tá Trần Sơn - Phó Trưởng Công an thị xã Hoàng Mai cho biết: Sau khi nhận được tin báo, các trinh sát tại địa bàn nhanh chóng vào cuộc. Một mặt, động viên bà con an tâm sản xuất, mặt khác lấy lời khai của những người chứng kiến vụ cháy ban đầu và nhiều thông tin khác để phục vụ cho công tác điều tra.
Theo nhận định ban đầu của đại tá Sơn, có thể do ăn chia không đều trong quá trình thu hoạch rừng hoặc do “ghen ăn tức ở” của một số đối tượng trong khu vực, dẫn đến việc đốt rừng, cho nên giải quyết mâu thuẫn ngay từ khi mới hình thành tại cơ sở là rất cần thiết. (Công An Nghệ An 4/11) đầu trang(
Ông Đinh Ngọc Thanh, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu Lao Bảo-Cục Hải quan Quảng Trị cho biết, đơn vị vừa phát hiện, bắt giữ 1,398 m3 gỗ hương nhập lậu.
3-11, qua công tác thu thập thông tin, Chi cục Hải quan cửa khẩu Lao Bảo đã triển khai lực lượng phát hiện 5 xe thồ chở gỗ lậu. Tại hiện trường, lực lượng Hải quan thu giữ 1,398 m3 gỗ hương xẻ các loại. Số gỗ trên có giá thị trường khoảng 90,8 triệu đồng (65 triệu đồng/m3) đều không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp, vô chủ.
Chi cục Hải quan cửa khẩu Lao Bảo báo cáo Cục Hải quan Quảng Trị để xử lý.
Trước đó, ngày 22-8, tại khu vực kiểm tra phương tiện nhập cảnh, Chi cục Hải quan cửa khẩu Lao Bảo phối hợp với Biên phòng cửa khẩu Lao Bảo phát hiện bắt giữ 523 kg gỗ hương (gỗ nu, đe), xuất xứ từ Lào, không có giấy tờ hợp lệ, không khai báo hải quan. Số gỗ trên được cất giấu dưới thùng xe ô tô, dưới hành lý cá nhân của hành khách. Trị giá số gỗ này ước tính 75 triệu đồng. (Hải Quan 4/11) đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Nhiều xe ô tô lưu thông qua huyện Đức Phổ chở động vật hoang dã trái phép. (Nhân Dân 4/11) đầu trang(
Trong tuần cuối tháng 10, Chi cục kiểm lâm Hà Nội vừa phát hiện 4 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, với khối lượng 3,2m3 gỗ thông tường, xử lý vi phạm và nộp ngân sách nhà nước 47 triệu đồng. (Kinh Tế&Đô Thị 4/11) đầu trang(
Thời gian gần đây, Ban Quản lý Rừng phòng hộ (BQLRPH) Chư A Thai, không khỏi lo lắng trước tình trạng người dân có diện tích đất nương rẫy cũ canh tác gần rừng dùng thuốc diệt cỏ phun chết cây rừng. Sau đó cơi nới biến thành của riêng mình.
Tình trạng này dù chủ rừng đã kịp thời phát hiện và ngăn chặn nhưng vẫn thường xuyên tái diễn vào mỗi mùa mưa khiến công tác quản lý bảo vệ rừng của đơn vị gặp không ít khó khăn.
Đứng chân trên địa bàn huyện Phú Thiện, BQLRPH Chư A Thai có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ gần 18.000 ha rừng phòng hộ ở 18 tiểu khu nằm rải rác khắp các xã, thị trấn.
Những năm qua, công tác quản lý bảo vệ rừng được các lực lượng chức năng của huyện, BQLRPH và các xã có lâm phần thường xuyên tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đến người dân. Bên cạnh đó, thực hiện nghiêm các chỉ thị, công văn chỉ đạo của cấp trên, nhằm hạn chế tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng gây thiệt hại đến tài nguyên rừng.
Tuy nhiên, thời gian gần đây 18 tiểu khu của BQLRPH Chư A Thai đã xuất hiện tình trạng người dân lợi dụng trời mưa, dùng thuốc cỏ phun vào diện tích rừng giáp ranh. Sau thời gian chờ cây chết, họ đốt và phát diện tích này để mở rộng diện tích nương rẫy của mình. Khi lực lượng chức năng kiểm tra thì mới phát hiện đất rừng đã bị xâm lấn. Hành vi này rất khó phát hiện và bắt quả tang các đối tượng xâm lấn đất rừng, ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý bảo vệ rừng.
Ban Quản lý Rừng phòng hộ Chư A Thai đã kiên quyết xử lý các trường hợp xâm lấn đất rừng trái phép. Mới đây đơn vị lập biên bản buộc 2 hộ gia đình có nương rẫy cũ trong khu vực giáp ranh với rừng ký cam kết không được xâm lấn đất rừng. Phối hợp với Hạt Kiểm lâm và Công an huyện kiểm tra thu giữ một số bình phun thuốc diệt cỏ và máy cưa xăng.
Thống kê của BQLRPH Chư A Thai, trong tổng số 18 tiểu khu của đơn vị quản lý, hầu hết đều có đất canh tác nương rẫy và đất nông nghiệp của người dân nằm xen kẽ với rừng. Hiện tại có khoảng 700 hộ sống ở những khu vực này. Họ làm nhà rẫy và sinh sống trên đất sản xuất của mình nên rất khó kiểm soát.
Ông Phan Văn Vinh-Phó Trưởng ban phụ trách BQLRPH Chư A Thai tâm sự: “Hiện nay, công tác quản lý bảo vệ rừng của đơn vị gặp không ít khó khăn, bất cập như: đơn vị hành chính sự nghiệp nhưng với chức năng và nhiệm vụ gần như làm không có ngày nghỉ. Đặc biệt, cứ vào mùa mưa người dân địa phương dùng bình bơm thuốc xịt thuốc cỏ để lấn chiếm đất rừng, rất khó bắt quả tang và khó bắt giữ người dân xâm hại rừng trái phép.
Phần lớn trong số này là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Nếu phát hiện thường lợi dụng chính sách dân tộc để gây khó hoặc cản trở chống đối lực lượng thi hành nhiệm vụ bảo vệ rừng.
Bên cạnh đó, chế tài xử lý những đối tượng này về hành chính cũng như hình sự có tính thực thi không cao đã ảnh hưởng không nhỏ đến răn đe, giáo dục với người dân địa phương. Phần lớn các tiểu khu quản lý của đơn vị có nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số cư trú sản xuất nông nghiệp từ lâu. Nhiều hộ thiếu đất sản xuất, gỗ làm nhà, các nương rẫy cũ nay nới rộng thêm…”.
Trước những hành vi xâm lấn đất rừng bằng nhiều hình thức khác nhau, BQLRPH Chư A Thai đã có nhiều giải pháp để nhằm hạn chế như: đang triển khai công tác giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số theo hướng chi trả dịch vụ môi trường. Tăng cường các hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho người dân. Thường xuyên kiểm tra các lâm phần để phát hiện và ngăn chặn kịp thời các vụ vi phạm. (Báo Gia Lai 4/11) đầu trang(
Các quyết định và hồ sơ ghi rất rõ thu hồi tại khoảnh 2 nhưng doanh nghiệp lại cho máy móc vào chặt cây tại khoảnh 1. Để hậu thuẫn doanh nghiệp, Chủ tịch UBND huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh) ra lệnh điều động hàng chục người đến để bảo vệ đơn vị thi công.
Năm 2005, bà Lê Thị Phượng, trú tại thị trấn Kỳ Anh nhận chuyển nhượng 2 thửa đất trồng rừng của hai nhân viên Cty CP Nông Lâm sản Hà Tĩnh (nay là Cty Rau quả Hà Tĩnh) là bà Nguyễn Thị Tĩnh 11ha và Lê Thị Nga 8,5ha, tại khu vực núi Đá Mài, Kỳ Liên, Kỳ Anh. Cả hai lô đất này đều được ghi rõ trong hợp đồng chuyển nhượng tại vị trí khoảnh 1PK1, tiểu khu 389A, thời hạn nhận khoán 40 năm, thuộc đất khoán lâu dài cho hộ dân trồng rừng phòng hộ.
Từ khi nhận đất, bà Phượng chạy vạy khắp các ngân hàng cầm cố tài sản để vay vốn đầu tư cải tạo đất dưới sự giám sát chặt chẽ của Cty Rau quả Hà Tĩnh. Sau gần 6 năm lặn lộn gây dựng trồng rừng, bà Phượng được Đài truyền hình tỉnh nêu gương là hộ điển hình trồng rừng giỏi của huyện.
Đã nhiều lần phóng viên trực tiếp đăng ký làm việc, gọi điện cho Chủ tịch huyện Kỳ Anh Nguyễn Văn Bổng nhưng không được, sau đó ông Bổng nhắn tin hướng dẫn gặp ông Nguyễn Minh Hoàn – Phó Chủ tịch huyện. Liên hệ với ông Hoàn thì phóng viên lại được hướng dẫn gặp ông Nguyễn Hoài Sơn, cũng là Phó chủ tịch huyện. Tuy nhiên, khi chúng tôi liên hệ với ông Sơn thì ông khất lần và cuối cùng cáo bận vào chiều ngày 1/11.
Năm 2011, UBND tỉnh Hà Tĩnh ra quyết định thu hồi 83.886,2m2 đất tại khu vực núi Đá Mài, xã Kỳ Liên (Kỳ Anh) của Cty CP Rau quả Hà Tĩnh (trùng với diện tích đất của bà Phượng) và giao toàn bộ diện tích đất thu hồi trên cho Ban Quản lý Khu kinh tế Vũng Áng quản lý để cho Cty CP Việt Gia - Song Hui thuê lại đất khai thác đá xây dựng. Theo bà Phượng, sau nhiều cuộc họp bàn về phương án bồi thường, đại diện Cty Việt Gia - Song Hui không đưa ra một thỏa thuận gì.
Khi chưa có phương án thống nhất về việc bồi thường, bất ngờ ngày 10/10 vừa qua, rất nhiều người lạ mặt đưa xe cơ giới, cưa máy vào chặt phá khu rừng của gia đình bà trồng hơn 8 năm nay.
Khi hai vợ chồng bà Phượng vào để hỏi rõ nguồn cơn sự việc, liền bị lực lượng công an huyện chốt chặn không cho vào vì thực hiện theo lệnh cấp trên giao.
“Công sức hơn 8 năm trời ăn ngủ ở rừng để có được khu rừng phòng hộ như hôm nay. Vậy mà họ ngang nhiên đưa người đến tàn phá, đưa công an, xe cứu thương đến thị uy vợ chồng tôi”, bà Phượng khóc bên những gốc keo đang dính đầy nhựa vừa bị đốn hạ.
Theo tìm hiểu của PV Tiền Phong, trong tất cả các hồ sơ, thủ tục giữa bà Lê Thị Phượng với Cty Rau quả Hà Tĩnh đều thể hiện rõ vị trí khu vực đất của bà Phượng được giao là tại khoảnh 1PK1, tiểu khu 389A, thuộc khu vực rừng phòng hộ. Thế nhưng, tại các hồ sơ thu hồi của UBND tỉnh và huyện Kỳ Anh ghi tại khoảnh 2, tiểu khu 389A.
Như vậy, căn cứ trên hồ sơ khu vực đất rừng của bà Phượng không liên quan đến diện tích thuộc diện thu hồi của UBND tỉnh Hà Tĩnh để nhường đất cho Cty Việt Gia - Song Hui thuê khai thác đá?
Ông Võ Xuân Sơn, Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Hà Tĩnh cho biết, nếu căn cứ trên hồ sơ, đây là hai khoảnh hoàn toàn khác nhau. “Đối chiếu các hồ sơ, rõ ràng có dấu hiệu bất thường ở đây. Để biết chính xác từng vị trí, khoản nào, tiểu khu nào, phải dùng bản đồ lưới để rà xét lại”, ông Sơn nói.
Ngày 8/10, UBND huyện Kỳ Anh gửi giấy mời bà Phượng chiều 9/10 lên UBND huyện để giải quyết việc bồi thường. Cũng trong ngày 8/10, Chủ tịch UBND huyện Kỳ Anh, ông Nguyễn Văn Bổng lại ký quyết định điều động lực lượng để “bảo vệ đơn vị thi công”.
Quyết định ghi rõ: Công an huyện Kỳ Anh cử 30 cán bộ chiến sỹ và các công cụ, phương tiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, trong đó có 01 xe đặc chủng. Đối với xã Kỳ Liên, UBND xã điều động 35 người (gồm công an viên, đội cơ động mạnh, lực lượng khác) cùng với lãnh đạo xã và các ban ngành, tổ chức đoàn thể. Và dưới sự bảo vệ của huyện, Cty này đã huy động máy móc vào chặt phá rừng của bà Phượng và toàn bộ số gỗ cây chặt hạ đã bị di chuyển khỏi hiện trường. (Tiền Phong 5/11) đầu trang(
Nông dân nóng ruột muốn khai thác rừng tràm quá tuổi hoặc cải tạo trồng keo lai nhưng bị trói chặt với cơ chế “xin-cho”.
Trên số trước Pháp Luật TPHCM đề cập chuyện người dân U Minh Hạ là chủ của nhiều hecta rừng tràm nhưng nhiều người trong số họ là những hộ “nghèo có sổ”. Có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân người dân không được khai thác rừng trồng vì cơ chế “xin-cho” đang buộc chặt họ…
Nhiều người cam chịu việc trồng tràm nhưng không được các lâm ngư trường cho khai thác nhưng cũng có người manh nha khiếu nại việc bất hợp lý này.
Ông Hồ Phát Triển có 28 ha đất rừng sản xuất ở xã Khánh Lâm, huyện U Minh. Suốt bảy năm qua, ông làm đơn xin khai thác cánh rừng tràm đã quá già của mình và năm nào cũng bị lâm ngư trường (nay là Công ty Lâm nghiệp U Minh Hạ) không cho với lý do hết chỉ tiêu, chờ năm sau. Ông nói như thét với chúng tôi: “Tôi thề là năm sau không được khai thác tôi sẽ kiện Công ty Lâm nghiệp U Minh Hạ. Những việc làm vô lý của họ đã khiến tôi mất hơn nửa tỉ đồng trong bảy năm qua”.
Từ năm 2005, Chính phủ đã quy hoạch lại ba loại rừng, gồm rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất. Với rừng sản xuất, Chính phủ chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế rừng, đa dạng các hình thức như giao khoán, cấp cho dân, hợp tác đầu tư với dân, với doanh nghiệp… Thế nhưng đã gần chục năm trôi đi, Cà Mau vẫn tồn tại hàng ngàn hecta rừng sản xuất không sinh lợi.
Ông Triển nói tiếp: “Khi cây tràm đang hút hàng, giá cao, chúng tôi xin khai thác thì không cho. Đến khi cây bị tụt giá thì cho khai thác với quy định thời gian khai thác hai tháng, ba tháng, năm tháng tùy theo diện tích lớn nhỏ. Những quy định đó khiến chúng tôi thiệt hại và cứ mặc nhiên tồn tại”.
Còn ông Đỗ Quang Thanh ở xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời chua xót: “Tôi có hợp đồng rõ ràng với Lâm ngư trường Trần Văn Thời là trồng rừng tràm thâm canh 21 năm ba chu kỳ, tức bảy năm mỗi chu kỳ. Nhưng nay rừng tràm của tôi đã chín tuổi mà Công ty Lâm nghiệp U Minh Hạ vẫn chưa cho khai thác dù tôi đã làm đơn liên tục ba năm qua.
Khi chúng tôi sai hợp đồng bị phạt hành chính, bị hăm cắt hợp đồng nhưng công ty sai, chẳng ai nói lời xin lỗi chứ nói gì đến việc chịu trách nhiệm. Tôi thấy vô lý khi rừng sản xuất mà lại khống chế việc mua bán của người dân. Nó đã làm nghèo chúng tôi biết bao năm qua”.
Phần lớn dân cư dưới tán rừng tràm cam phận đợi chờ. Ông Năm Ổi ở Nguyễn Phích than: “Thấy người ta rầm rộ trồng keo làm giàu, nóng ruột quá nhưng Nhà nước cứ kêu chờ, không cho ai làm gì cả. Chúng tôi đã chờ mỏi mòn bao nhiêu năm nay”.
Trong khi người dân ngồi nhìn những cánh rừng tràm già cỗi, nhiều người ở nơi khác về U Minh Hạ sang đất để trồng keo lai. Người ta tính ra mỗi hecta đất rừng U Minh Hạ, sau năm năm trồng keo lai sẽ cho thu hoạch không dưới 300 triệu đồng.
Ông Nguyễn Hoài Tâm, một nông dân có khu rừng sản xuất 60 ha ở xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời (Cà Mau), kể: “Đầu năm 2012, có hai ông nọ hỏi mua toàn bộ khu đất rừng của tôi với giá 2,5 tỉ đồng, trong khi đất của tôi chỉ đáng giá sáu, bảy trăm triệu đồng là cùng. Lúc đó tôi nghĩ hai ông này bị điên nhưng khi tìm hiểu thì họ không điên tí nào. Họ đi mua đất để trồng keo lai và nhiều công ty ở TP.HCM, Bình Dương về đây sang, thuê đất để trồng loài cây này”.
Trước đây, chủ trương đưa keo lai thay cho cây tràm bản địa trên khu vực rừng sản xuất đã bị thất bại vì không được dư luận ủng hộ. Sau đó, một cán bộ âm thầm trồng keo lai trên 5 ha của mình. Sau năm năm (2010) diện tích keo lai của vị cán bộ ấy đã cho thu hoạch trên 1 tỉ đồng.
Từ việc này, đầu tháng 10-2013, khi thông tin trồng keo lai rầm rộ ở U Minh Hạ thì 14 vị nguyên là Thường vụ Tỉnh ủy Cà Mau đã vào rừng và những vị này đã bị thuyết phục với việc trồng keo lai, nhắc nhở: “Hãy kéo tất cả nông dân vào cuộc, hỗ trợ và giúp họ cùng phát triển cây keo lai”.
Vì chuyện trồng keo lai này mà giá đất ở U Minh Hạ từ 30-40 triệu đồng/ha nay lên gần 100 triệu đồng/ha.
Trong khi người dân nóng ruột muốn khai thác rừng tràm để chuyển trồng keo lai mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn thì các lâm trường, công ty lâm nghiệp không cho khai thác. Vô hình trung biến những cánh rừng tràm có giá thành củi! (Pháp Luật TPHCM 5/11) đầu trang(
4/11, ngay dưới chân phía bắc đèo Phú Gia (Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế), hàng trăm ôtô tải từ nhiều tỉnh, từ Quảng Trị vào Quảng Nam xếp hàng chờ nhập gỗ (keo và tràm) vào nhà máy của Công ty Liên doanh trồng và chế biến cây nguyên liệu giấy xuất khẩu Huế.
Gần đó, trên con đường dẫn từ quốc lộ 1A vào cảng Chân Mây, ôtô tải cũng rồng rắn xếp hàng chờ đưa gỗ vào nhập cho nhà máy của Công ty cổ phần Chế biến lâm sản xuất khẩu Pisico Huế. Các tài xế cho xe đậu lộn xộn hai bên đường ngay dưới chân đèo Phú Gia chờ đến phiên mình được gọi đưa gỗ vào nhà máy vào bất cứ thời điểm nào trong ngày. (Giao Thông 5/11) đầu trang(
Thời gian gần đây, khu vực rừng phòng hộ ở các xã Trà Thọ, Trà Trung (Quảng Ngãi) liên tục bị khai thác gỗ trái phép, trong khi đó việc ngăn chặn gặp nhiều khó khăn.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến nạn phá rừng thuộc khu vực rừng phòng hộ thuộc các xã Trà Thọ, Trà Trung (huyện Tây Trà) là do công tác phối hợp của lực lượng chức năng chưa chặt chẽ và đồng bộ.
Ngoài ra, lực lượng kiểm lâm của hai huyện Tây Trà và Sơn Hà chưa được trang bị phương tiện ghe, thuyền nên việc tuần tra kiểm soát hết sức khó khăn. Chính vì vậy, khi phát hiện lực lượng kiểm lâm những kẻ khai thác gỗ trái phép đã dìm gỗ xuống lòng hồ, khi lực lượng kiểm lâm đi qua họ lại vớt lên, vận chuyển đưa vào bờ tiêu thụ... (VOV Giao thông 5/11) đầu trang(
Quần thể di tích đền thờ và lăng mộ Ngô Quyền ở làng cổ Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội) đang được đầu tư gần 30 tỉ đồng để tu bổ, nhưng hai trong số 18 cây duối khổng lồ ở di tích này là Cây di sản VN (tương truyền là nơi vua Ngô Quyền buộc voi và ngựa chiến năm xưa) bị héo rụng hết lá.
Sáng 4-11, những người dân Đường Lâm bán hàng phục vụ khách du lịch tại rặng duối di sản VN cho biết: Hai cây duối cổ bắt đầu bị héo rụng lá từ khoảng bốn tháng trước, hiện nay nhiều cành đã khô. Nếu không được “cấp cứu” kịp thời, hai cây duối hàng nghìn năm tuổi này có nguy cơ... thành củi. Ba năm trước, cây đa lớn ở cổng làng cổ Đường Lâm cũng suýt “thiệt mạng”. Các nhà khoa học cùng chính quyền địa phương phải rất tích cực vào cuộc mới cứu được cây đa. (Tuổi Trẻ 5/11) đầu trang(
4/11, trên tuyến QL49A đoạn qua xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên - Huế, chiếc ôtô khách do tài xế Nguyễn Chi (48 tuổi, trú ở xã Bình Điền, thị xã Hương Trà) chạy từ xã Bình Điền về TP Huế, khi xuống dốc đến đoạn cua gấp thuộc Km 28+50, đã lao về bên phải và rơi xuống một cái cống nằm sát khu rừng trồng của người dân.
Hậu quả, do chiếc ôtô không chở khách nên vụ tai nạn làm một người phụ nữ tên Tý (chủ xe) bị gãy chân, tài xế Chi bị xây xát, đầu chiếc ôtô bị hưng hỏng.
Tuy nhiên, lực lượng chức năng khi khám nghiệm hiện trường đã phát hiện trên xe có chở 30 khung gỗ và 6 lá gỗ kiền (khối lượng khoảng 0,4m3) không có giấy tờ vận chuyển hợp pháp. (Công An Nhân Dân 5/11) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
25.000 cá thể voi châu Phi bị giết hại hàng năm. 2.000 cá thể tê giác bị đánh bắt tại 11 trong tổng số 12 nước có phân bố trong khoảng thời gian từ 2006 đến 2011.
Đây thực sự là những con số nhức nhối đối với cộng đồng quốc tế khi cùng lúc các hoạt động buôn bán bất hợp pháp các loài hoang dã gia tăng hơn bao giờ hết.
Nhằm thúc đẩy sự tăng cường hợp tác, đặc biệt giữa các quốc gia châu Á và châu Phi, Liên minh phòng chống tội phạm về các loài hoang dã toàn cầu (ICCWC) với sự hỗ trợ tài chính của Chính phủ Hoàng gia Thụy Điển đã tổ chức cuộc họp chuẩn bị Chương trình “Hành động Hổ mang” tại thủ đô Nairobi, Kenya vào đầu tháng 11.
Cuộc họp nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới thể hiện qua sự tham gia dự của 13 quốc gia châu Phi (Botswana, Burundi, Congo, Ethiopia, Ghana, Kenya, Liberia, Malawi, Mozambique, Nam Phi, Tanzania, Uganda, Zambia), sáu quốc gia châu Á (Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Nepal, Thái Lan và Việt Nam) và CH Séc.
Cùng chia sẻ và trao đổi các thông tin về hiện trạng săn bắt, buôn bán bất hợp pháp các loài hoang dã mà điểm đầu là các quốc gia châu Phi và điểm kết thúc là châu Á, các đại biểu đã thể hiện nỗ lực cũng như quyết tâm của quốc gia trong cuộc đấu tranh chống tội phạm các loài hoang dã.
Với đặc điểm giàu tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là động vật hoang dã, nhiều quốc gia châu Phi đang phải đối mặt với tình trạng suy giảm nghiêm trọng các loài động vật hoang dã nguy cấp. Sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia tại lục địa đen luôn gắn liền với sự đi xuống của các quần thể tê giác, voi, sư tử, tê tê, các loài rùa…
Cơ quan bảo vệ các loài hoang dã Tanzania cho biết, chỉ trong vòng hai tháng qua, các cơ quan chức năng nước này đã thẩm vấn 952 đối tượng bị tình nghi liên quan đến săn bắt voi bất hợp pháp. Lực lượng quân đội, cảnh sát Tanzania cũng đã tịch thu 104 chiếc ngà, 631 khẩu súng (bao gồm cả súng quân đội chuyên dụng), 1.458 viên đạn. Điều này phản ánh một số liệu chưa chính thức: mỗi ngày có khoảng từ 30 đến 50 cá thể voi châu Phi ở Tanzania bị săn bắt, giết hại.
Xuyên suốt lục địa đen là những tuyến đường nối liền với châu Âu và châu Á luôn tiềm ẩn những hoạt động buôn bán bất hợp pháp các loài hoang dã đi kèm với hoạt động buôn bán vũ khí, ma túy với sự tham gia của nhiều tổ chức tội phạm xuyên quốc gia, xuyên lục địa. Do đó, kiểm soát – ngăn chặn – triệt phá các hoạt động bất hợp pháp trên rất cần sự hợp tác của các quốc gia xuất xứ, quốc gia trung chuyển và quốc gia tiêu thụ.
Với vai trò điều phối, ICCWC (được sáng lập bởi các thành viên gồm Ban thư ký CITES quốc tế, Interpol, Hải quan toàn cầu, Cơ quan Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm và ma túy, Ngân hàng thế giới) khuyến khích Mạng lưới thực thi các loài hoang dã các nước Đông - Nam Á (ASEAN-WEN), Mạng lưới thực thi các loài hoang dã các nước Nam Á (SA-WEN), Lực lượng đặc nhiệm Lusaka, Trung Quốc, Nam Phi và Mỹ tiếp tục cùng phối hợp tổ chức chương trình đào tạo “Hành động Hổ mang” lần II.
Dự kiến chương trình đào tạo “Hành động Hổ mang” lần II sẽ được tổ chức đồng thời ở châu Á (Thái Lan) và châu Phi (Kenya) từ ngày 30-12-2013 đến 26-1-2014. (Nhân Dân 34/11) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||