Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 06 tháng 11 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Thủ tướng vừa quyết định thành lập “Khu rừng bảo vệ cảnh quan đặc biệt di tích lịch sử về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội” (gọi tắt là Khu rừng K9).
Theo trang tin điện tử Ban quản lý lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, khu di tích Đá Chông là nơi được Bác Hồ chọn làm căn cứ của Trung ương (1960-1969), sau này Bộ Chính trị và Quân ủy trung ương chọn làm nơi giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh (1969-1975).
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ việc thành lập Khu rừng K9 nhằm bảo tồn, tôn tạo các giá trị về cảnh quan, môi trường của khu di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, học tập tư tưởng, đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh và ý thức bảo vệ di tích lịch sử, bảo vệ thiên nhiên, môi trường, đa dạng sinh học cho cộng đồng. Diện tích Khu rừng K9 là 234ha, trên địa bàn ba xã Ba Trại, Minh Quang, Thuần Mỹ (huyện Ba Vì, TP Hà Nội). (Tuổi Trẻ 6/11; Công An Nhân Dân 6/11; Chinhphu.vn 5/11)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Biến đổi khí hậu cùng với sự suy thoái, xâm lấn, phá hoại rừng tự nhiên đã và đang tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái. Thực trạng này gióng lên hồi chuông báo động về việc cần tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên.
Việt Nam là nước có diện tích rừng tự nhiên khá lớn trong khu vực Đông Nam Á. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tổng diện tích rừng của cả nước hiện nay là 13.258.843 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 10.339.305 ha, rừng trồng chiếm 2.919.538 ha. Rừng tự nhiên của cả nước có tổng trữ lượng gỗ là 862 triệu m3, trong đó, có 4,3 triệu ha rừng tự nhiên sản xuất với trữ lượng 350 triệu m3 gỗ, nhưng diện tích rừng giàu, có trữ lượng gỗ cao trên 250m3/ha chỉ chiếm khoảng 5%, trong khi rừng nghèo, rừng non phục hồi và rừng hỗn giao chiếm tới 80%.
Tuy diện tích rừng có tăng lên trong những năm gần đây nhưng chất lượng rừng vẫn bị suy giảm, chủ yếu do việc khai thác rừng tự nhiên không đúng quy trình và khai thác bất hợp pháp. Đáng chú ý, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng sang xây dựng thủy điện cũng là một trong các nguyên nhân khiến diện tích rừng bị thu hẹp. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ năm 2006 đến nay, cả nước có 160 dự án thuộc 29 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng sang xây dựng thủy điện với diện tích 19.792 ha. Trong đó, rừng đặc dụng hơn 3.000 ha, rừng phòng hộ hơn 4.400 ha, rừng sản xuất hơn 12.300 ha.
Trên thực tế, số diện tích đất rừng chuyển đổi sang làm thủy điện còn lớn hơn con số nêu trên do quá trình xây dựng thủy điện sẽ kèm theo nhu cầu về đất tái định cư, đất sản xuất của người dân bù vào diện tích đã bị ngập nước. Tuy nhiên, đến thời điểm này mới chỉ có 8/29 tỉnh đã thực hiện việc trồng lại rừng sau chuyển mục đích sử dụng rừng sang làm thủy điện. Diện tích trồng đạt 735ha, bằng 3,7% diện tích đã chuyển đổi.
Cuộc họp của Ban chỉ đạo Nhà nước về kế hoạch bảo vệ - phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 cuối tháng 10 vừa qua đã xem xét khả năng “đóng cửa rừng tự nhiên” như là một giải pháp thiết thực nhằm góp phần tích cực vào công tác quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên, chấn chỉnh vấn đề khai thác gỗ trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt, Chính phủ cũng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tập trung chấn chỉnh công tác bảo vệ, phát triển rừng, ngăn chặn các việc vi phạm lâm luật.
Trước thực trạng đáng báo động đối với diện tích rừng tự nhiên, Chính phủ, Ban Chỉ đạo Nhà nước đã thực hiện một loạt các chỉ đạo cần thiết nhằm chấn chỉnh công tác quản lý, bảo vệ rừng. Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương xây dựng một Đề án riêng đưa ra những phương án phù hợp về khai thác gỗ rừng tự nhiên giai đoạn 2013-2020; trong đó có đề nghị tới phương án tạm không khai thác gỗ rừng tự nhiên trên phạm vi toàn quốc, hay còn gọi là "đóng cửa rừng” với hi vọng phương án mạnh mẽ này sẽ khắc phục, tiến tới triệt tiêu tình trạng lợi dụng chỉ tiêu khai thác rừng để hợp thức hoá nguồn gốc gỗ bất hợp pháp.
Tuy nhiên, Chính phủ cũng lưu ý cần tính toán những giải pháp xử lý các hệ quả, nhất là vấn đề tổ chức, nguồn thu của các công ty quản lý rừng, trách nhiệm quản lý rừng, nguồn gỗ tự nhiên hợp pháp trong nước phục vụ nhu cầu sản xuất, đời sống… Cùng với đó, cần tính toán các chính sách khuyến khích chế biến, sử dụng gỗ rừng trồng, công tác nghiên cứu khoa học về nuôi dưỡng, phục hồi rừng tự nhiên.
Để quản lý rừng một cách bền vững, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã và đang xúc tiến giải pháp đồng quản lý rừng, nhằm phát triển tài nguyên này một cách bền vững trong giai đoạn từ nay đến năm 2020. Theo đó, trước mắt, Bộ sẽ tổ chức thực hiện thí điểm tại một số công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng đặc dụng, ban quản lý rừng phòng hộ để tổng kết, rút kinh nghiệm và hoàn thiện chính sách thực thi trong cả nước.
Thông qua cơ chế chia sẻ trách nhiệm và lợi ích tạo cho cộng đồng, các cá nhân, hộ gia đình sống trong và gần rừng (chủ yếu là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất tự nhiên) có cơ hội tiếp cận có kiểm soát các nguồn tài nguyên được chia sẻ, nâng cao động lực của cộng đồng trong bảo vệ, bảo tồn và phát triển rừng, từng bước thực hiện xã hội hóa hoạt động quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên.
Riêng với rừng phòng hộ là rừng tự nhiên, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đề xuất Nhà nước bố trí ngân sách sự nghiệp hàng năm để tiếp tục ổn định diện tích giao khoán bảo vệ rừng cho đồng bào dân tộc tại chỗ (đặc biệt là khu vực thuộc đối tượng quy định tại Nghị quyết 30a của Chính phủ) ở một số khu rừng phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển với mức khoán bình quân 200 ngàn đồng/hécta/năm. Đồng thời, tiếp tục thực hiện việc khai thác lâm sản theo phương án điều chế, tận thu, tận dụng lâm sản theo quy định của pháp luật. Người nhận khoán bảo vệ rừng cũng được hưởng lợi ích từ chi trả các dịch vụ của rừng.
Trao đổi với phóng viên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Phạm Mậu Tài, Giám đốc Quỹ phát triển nông thôn và giảm nghèo huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) cho rằng: Để quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất rừng và rừng tự nhiên, cần có chủ trương và triển khai ngay việc giao cho cộng đồng sử dụng theo mô hình rừng cộng đồng và cần có những hướng dẫn rõ ràng về hưởng lợi cho cộng đồng khi tham gia trồng rừng, làm giàu thêm vốn rừng tự nhiên thuộc diện rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn đang bị xâm lấn, khai thác và chặt phá.
Theo ông Hoàng Thế Hưng, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Hữu Lũng (Lạng Sơn), cần thiết phải nghiên cứu, đánh giá, tìm giải pháp và phương thức tiếp cận phù hợp cũng như rà soát, lập quy hoạch sử dụng, bảo vệ rừng tự nhiên có sự tham gia của cộng đồng và địa phương, gắn với chương trình phát triển nông thôn mới với tiêu chí bền vững.
Ông Trần Văn Đằng, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Lào Cai đề nghị: Cần đánh giá trạng thái rừng, xây dựng quy chế cộng đồng trong quản lý, sử dụng tài nguyên rừng dựa vào luật tục cộng đồng để đảm bảo hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên theo từng địa bàn.
Quản lý rừng bền vững và phát triển nguồn tài nguyên rừng là 1 trong 5 mục tiêu cơ bản được xác định trong Chiến lược Phát triển lâm nghiệp quốc gia đến năm 2020. Theo Chiến lược này, khoảng 30% diện tích rừng sản xuất của Việt Nam – tương đương với trên 1 triệu ha rừng sẽ đáp ứng tiêu chí quản lý rừng bền vững.
Một trong những biện pháp quan trọng hiện nay được cộng đồng quốc tế cũng như từng quốc gia đặc biệt quan tâm, đó là lập phương pháp quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng. Tuy nhiên, theo một số chuyên gia, hiện nay, Việt Nam chưa ban hành được các nguyên tắc, tiêu chí, trình tự quản lý rừng bền vững. Thêm nữa, Việt Nam cũng thiếu nguồn nhân lực về quản lý, tổ chức trong quản lý rừng bền vững; thiếu kiến thức về kinh tế và kỹ thuật. Ngoài ra, chi phí của việc đánh giá để cấp chứng chỉ không nhỏ cộng với yêu cầu minh bạch tài chính… khiến cho công việc này còn nhiều trở ngại.
Quản lý rừng bền vững là mục tiêu và yêu cầu của Chính phủ Việt Nam và cũng là xu hướng quốc tế. Để quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên một cách bền vững, hiệu quả, góp phần ứng phó với biển đổi khí hậu, Chính phủ cần có những giải pháp đồng bộ để giải quyết những khó khăn như đã nêu trên. (Đảng Cộng Sản VN 5/11)đầu trang(
5-11, UBND tỉnh Bắc Giang tổ chức đánh giá kết quả sản xuất chăn nuôi, bàn các giải pháp phòng chống nhập lậu gia cầm trên địa bàn tỉnh và tình hình cháy rừng trên dãy núi Nham Biền thuộc địa phận huyện Yên Dũng, Việt Yên và TP Bắc Giang thời gian qua.
Đối với tình trạng cháy rừng ở dãy núi Nham Biền trong 10 tháng qua đã xảy ra 8 vụ làm thiệt hại 24 ha, chiếm hơn 80% diện tích cháy rừng trong toàn tỉnh. Trong đó huyện Yên Dũng để xảy ra 4 vụ (11,7 ha), huyện Việt Yên và TP Bắc Giang 4 vụ.
Nguyên nhân trực tiếp được xác định đều do con người gây ra, trong đó có nhiều trường hợp bất cẩn khi sử dụng lửa để thu dọn vườn đồi, săn bắn, trẻ em nghịch lửa, thậm chí là cố tình gây cháy rừng. Công an huyện Yên Dũng đã điều tra làm rõ 1 đối tượng gây cháy rừng và tiến hành khởi tố vụ án, bị can, dự kiến đưa ra xét xử trong tháng 11-2012.
Trong thời gian tới, nguy cơ cháy rừng trên dãy núi Nham Biền vẫn ở mức cao do điều kiện thời tiết hanh khô, lượng thực bì dày, ý thức bảo vệ và phòng chống cháy rừng của một bộ phận người dân còn thấp, địa hình phức tạp gây khó khăn cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Đại diện các sở, ngành, huyện, thành phố đã trao đổi, phân tích và làm rõ nguyên nhân của tình trạng buôn bán, vận chuyển gia cầm nhập lậu; công tác phòng chống cháy rừng trên dãy Nham Biền.
Nhiều ý kiến cho rằng do lợi nhuận quá cao nên các đối tượng bất chấp quy định của pháp luật, liều lĩnh hoạt động; thị trường trong nước còn dễ dãi chấp nhận tiêu thụ động vật và các sản phẩm nhập lậu, không rõ nguồn gốc nên vô tình tiếp tay cho các đối tượng này. Công tác quản lý nhà nước chưa chặt chẽ; sự phối hợp của các ngành, địa phương thiếu hiệu quả; trách nhiệm của một số cán bộ, công chức đối với nhiệm vụ được giao chưa tốt dẫn đến việc hình thành những “đường dây”, tụ điểm tập kết, buôn lậu động vật và sản phẩm động vật.
Hiệu quả kinh tế của diện tích rừng Nham Biền đã giao cho các hộ dân thuộc huyện Yên Dũng, Việt Yên và TP Bắc Giang không cao; tình trạng sang nhượng rừng và đất lâm nghiệp chưa được kiểm soát… nên dễ để xảy ra cháy rừng, khi cháy khó huy động được lực lượng tại chỗ để chữa cháy, khống chế diện tích cháy.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị Sở NN&PTNT phối hợp với huyện Yên Dũng, Việt Yên, TP Bắc Giang đề cao trách nhiệm quản lý nhà nước, thực hiện tốt phương án, kế hoạch bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng. Thường xuyên tuần tra, canh gác, kịp thời nhắc nhở, phát hiện và xử lý các trường hợp vi phạm quy định bảo vệ rừng, gây cháy rừng. Quản lý chặt chẽ rừng và đất lâm nghiệp, có biện pháp xử lý đối với các đối tượng mua bán, sang nhượng trái phép, thiếu ý thức chăm sóc và bảo vệ rừng. Sở Nông nghiệp và PTNT tiếp tục nghiên cứu để tham mưu với UBND tỉnh về cơ chế quản lý diện tích rừng dãy Nham Biền theo hướng hợp lý, hiệu quả lâu dài. (Báo Bắc Giang 6/11)đầu trang(
Để chủ động phòng, chống và ngăn chặn có hiệu quả tình trạng cháy rừng, bảo vệ tài nguyên rừng và bảo vệ môi trường thiên nhiên, vừa qua UBND tỉnh Yên Bái đã ban hành chỉ thị về việc triển khai các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng; phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô hanh 2012-2013.
Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh giao cho Ban Chỉ huy thực hiện các biện pháp cấp bách bảo vệ và phát triển rừng các cấp, chủ động quán triệt thực hiện nhiệm vụ và tuyên truyền phổ biến sâu rộng đến nhân dân về diễn biến phức tạp của tình hình thời tiết để chủ động đối phó với tinh thần tích cực, cảnh giác cao, nhất là diễn biến của tình hình hạn và cháy rừng trong mùa khô năm 2012-2013. Lập kế hoạch phòng, chống cháy rừng cho từng khu vực, từng địa phương, đơn vị để chủ động ứng phó kịp thời khi có tình huống xấu xảy ra.
Các huyện, thành phố, thị xã kiện toàn và tăng cường hoạt động của Ban Chỉ huy, thực hiện các biện pháp cấp bách bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; xác định công tác phòng cháy, chữa cháy rừng là nhiệm vụ trọng tâm của Ban Chỉ huy trong suốt mùa khô hanh 2012-2013; Rà soát, bố trí phương tiện vận chuyển, thiết bị chữa cháy và lắp đặt hệ thống biển báo, biển cấm.
Chuẩn bị điều kiện vật chất và lực lượng tại chỗ để phát hiện sớm, tổ chức cứu chữa kịp thời; đồng thời có phương án thiết lập mạng thông tin liên lạc phục vụ cháy rừng và dự kiến phương án thông tin nhanh để các lực lượng phòng cháy, chữa cháy của tỉnh đến ứng cứu khi xảy ra cháy rừng vượt ngoài khả năng chữa cháy của lực lượng tại chỗ. Ban Chỉ huy Phòng cháy, chữa cháy rừng cấp huyện bố trí lực lượng tuần tra 24/24 giờ trong ngày, trong các tháng mùa khô hanh ở những nơi có nguy cơ cháy cao.
Đặc biệt, các huyện Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải tăng cường quản lý các hoạt động canh tác nương rẫy; chỉ đạo tốt công tác quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy cho đồng bào để ổn định sản xuất. Trong thời kỳ cao điểm khô hạn cần quy định cụ thể nghiêm việc cấm đốt nương làm rẫy và những hành vi dùng lửa khác ở những khu vực trọng điểm, có nguy cơ cháy rừng cao; hướng dẫn kiểm tra chặt chẽ việc đốt nương làm rẫy ở những vùng theo quy hoạch.
Lực lượng liên ngành (Kiểm lâm, Công an, Quân đội) duy trì hoạt động, thực hiện quy chế, phương án phối hợp chặt chẽ; thường xuyên phối hợp chính quyền cơ sở, hỗ trợ chủ rừng tăng cường kiểm tra, truy quét để phát hiện, ngăn chặn kịp thời hành vi lấn chiếm đất rừng, chặt phá đốt rừng, khai thác rừng trái phép. Xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm, các chủ rừng và cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm để phá rừng, cháy rừng xảy ra.
Tăng cường cán bộ xuống các vùng trọng điểm ở các huyện phía Tây của tỉnh, tổ chức tốt việc hướng dẫn nhân dân về các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng; đặc biệt trong dịp nghỉ Tết dương lịch, Tết người Mông và Tết nguyên đán. Đây là thời gian các hoạt động lợi dụng để chặt phá rừng và gây cháy rừng sẽ tăng cao; vì vậy cần tăng cường công tác kiểm tra cơ động và phân ca trực 24/24 giờ, có phương án cụ thể, triển khai đồng bộ các biện pháp để ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng, khai thác, vận chuyển, buôn bán, sử dụng lâm sản trái phép, trong đó cần áp dụng biện pháp ngăn chặn xử lý triệt để tại chỗ là chủ yếu (địa bàn xã, thôn, bản nơi để xảy ra phá rừng). Chỉ đạo tổ chức hoạt động điều tra, đấu tranh xử lý cương quyết, kịp thời với các đối tượng chống người thi hành công vụ.
Đồng thời giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục sâu rộng để nâng cao nhận thức, ý thức bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng, xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ rừng trong từng cộng đồng dân cư; Chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh thường xuyên nắm diễn biến tình hình về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; kịp thời tham mưu đề xuất các giải pháp về phòng cháy, chữa cháy rừng; theo dõi, tổ chức dự báo cháy rừng, thông tin kịp thời trên các phương tiện thông tin đại chúng để dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng trên phạm vi toàn tỉnh.
Phối hợp với lực lượng liên ngành (Công an, Quân đội) rà soát quy chế phối hợp, tổ chức lực lượng, phương tiện, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng đảm bảo kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng có thể xảy ra.
Tổ chức thường trực phòng cháy, chữa cháy rừng, xử lý các thông tin, báo cáo kịp thời và đề xuất lên Ban Chỉ huy thực hiện các biện pháp cấp bách bảo vệ rừng của tỉnh để chỉ huy khi cháy rừng xảy ra. Theo dõi, tổng hợp và báo cáo tình hình về công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng trên phạm vi toàn tỉnh. (Theo Yenbai.gov.vn 6/11)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Năm 2013, huyện có kế hoạch trồng 1.650ha rừng, trong đó có 1.500ha rừng mỡ, 100 ha rừng keo và 50ha rừng phân tán, tăng 50ha so với vụ trồng rừng 2012. Đến thời điểm này, người dân trong huyện đã đăng ký trồng được hơn 500ha, đạt khoảng 30%.
Hiện, công tác thiết kế trồng rừng của huyện đã bắt đầu được thực hiện và được chia làm hai đợt, đợt một thiết kế trồng rừng cho diện tích hơn 500ha người dân đã đăng ký, đợt hai thiết kế toàn bộ diện tích rừng đăng ký còn lại. Toàn bộ số cây giống cho vụ trồng rừng 2013 sẽ được các vườn ươm của huyện chủ động sản xuất. Trong đó 1,7 triệu cây giống được ươm gieo tại vườn ươm chính, còn lại sẽ được ươm gieo tại các vườn ươm nhân dân. (Đại Biểu Nhân Dân 5/11)đầu trang(
Khẳng định dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A không nằm ở tỉnh Đồng Nai, nhưng do là địa phương ở hạ nguồn của hai dự án này, nên Đoàn đại biểu Quốc hội Đồng Nai đã có văn bản gửi Thủ tướng và nhiều bộ ngành đề nghị Chính phủ rà soát cơ sở pháp lý, đánh giá, phân tích ảnh hưởng, tác động môi trường - xã hội của dự án trước khi thực hiện.
Đoàn đại biểu Quốc hội Đồng Nai cũng đề nghị báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định chủ trương đầu tư.
Đồng Nai đề nghị Chính phủ tiếp tục chỉ đạo các bộ ngành liên quan thực hiện chỉ đạo trước đó của Chính phủ, “trường hợp diện tích đất rừng và đất cần cho dự án có thể chuyển mục đích sử dụng mà ảnh hưởng tới tiêu chí, mục đích và nội dung xác lập vườn quốc gia Cát Tiên khu rừng phòng hộ Nam Cát Tiên thì dừng xây dựng dự án”.
Văn bản cũng nhấn mạnh vườn quốc gia Cát Tiên đã được Chính phủ công nhận là di tích quốc gia đặc biệt và hiện đang lập hồ sơ công nhận di sản thiên nhiên thế giới. Dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A thuộc phạm vi điều chỉnh của nghị quyết 49 của Quốc hội (khóa XII) “tiêu chí về dự án, công trình quan trọng quốc gia phải trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư thuộc công trình sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất rừng đặc dụng, đất vườn quốc gia từ 50ha trở lên”.
Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai nhấn mạnh thêm rằng giới khoa học đã thảo luận, nêu nhiều quan ngại về hai dự án thủy điện nói trên, những tác động tiêu cực đến hệ sinh thái khu vực sông Đồng Nai và vườn quốc gia Cát Tiên; chế độ thủy văn và chất lượng nước sông Đồng Nai, đến sinh hoạt của người dân...
UBND tỉnh Đồng Nai đã có hai văn bản khẳng định dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A khi triển khai dù có những tác động tích cực nhất định nhưng tác động tiêu cực là rất lớn, có thể đánh đổi nhiều thiệt hại chưa thể lường hết được. UBND tỉnh đã kiến nghị thường vụ Tỉnh ủy thống nhất kiến nghị trung ương không nên quyết định đầu tư các dự án này. UBND tỉnh đã đề nghị Bộ Công thương báo cáo Chính phủ trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư do dự án thuộc diện có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất rừng đặc dụng, vườn quốc gia từ 50ha trở lên phải trình Quốc hội. (Tuổi Trẻ 6/11)đầu trang(
Các dự án thủy điện, công trình đầu tư phát triển miền núi đã xâm hại đáng kể diện tích rừng tự nhiên của tỉnh, nhưng trách nhiệm trả lại màu xanh cho rừng thì dường như vẫn còn bỏ ngỏ. Đã đến lúc cần sự vào cuộc mạnh mẽ của các ngành, các địa phương.
Theo báo cáo mới nhất của ngành chức năng, tổng diện tích rừng bị thu hồi để thực hiện các dự án thủy điện đến nay hơn 7.000ha. Chưa kể mới đây, hơn 800ha rừng phòng hộ đầu nguồn sông Tranh phải chuyển đổi mục đích để người dân ở xã Trà Bui (Bắc Trà My) có đất sản xuất. Ngoài ra, khi mở các đường công vụ, đường tránh Quốc lộ 14E, xây dựng Nhà máy Thủy điện Đắc Mi 4… đã vùi dập hơn 1.000ha đất nương rẫy của người dân, càng tạo thêm áp lực vào rừng lấy đất sản xuất.
Trong số diện tích đất rừng và đất khác của các huyện miền núi bị thu hồi để phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ công tác bảo đảm an ninh quốc phòng thì đất thu hồi để xây dựng các nhà máy thủy điện chiếm khoảng gần 35%. Theo quy định, khi lấy đi bao nhiêu diện tích rừng thì chủ đầu tư có trách nhiệm trồng lại chừng ấy rừng. Tuy nhiên, thực tế, việc trồng lại rừng còn khá khiêm tốn. Đến thời điểm này, một số dự án thủy điện được UBND tỉnh phê duyệt phương án trồng rừng thay thế như các Thủy điện Sông Cùng 2, Sông Bung 4, Sông Bung 5, Đắc Mi 4, A Vương…, nhưng theo thống kê, chỉ có gần 300 ha được chủ đầu tư trồng mới và khoanh nuôi tái sinh rừng. Công ty CP Thủy điện Geruco Sông Côn 2, dù đã có phương án trồng rừng thay thế được phê duyệt, nhưng vẫn chưa chịu chi trả kinh phí hơn 3,3 tỷ đồng để Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Côn thực hiện trồng thay thế 70ha rừng. Nhà máy Thủy điện A Vương chỉ mới bỏ ra hơn 200 triệu đồng cho chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn xã Ma Cooih (Đông Giang)…
Trong khi đó, các nhà máy khai thác khoáng sản trong bản đánh giá tác động môi trường đều có phương án trồng rừng thay thế, song đến nay vẫn án binh bất động. Tại Phước Sơn, theo ghi nhận của chúng tôi, hiện vẫn chưa có nhà máy nào triển khai trồng lại rừng trên diện tích đã khai thác xong. Một cán bộ lâm nghiệp của Chi cục Lâm nghiệp tỉnh cho biết: “Mỗi lần kiểm tra, chúng tôi đều nhắc nhở họ phải khẩn trương trồng lại rừng nhưng rồi đâu lại hoàn đó. Nguyên nhân doanh nghiệp chây lỳ là các biện pháp chế tài xử phạt chưa nghiêm khắc”.
Cái lợi mà các dự án thủy điện, công trình phục vụ phát triển miền núi đem lại là điều không thể phủ nhận, nhưng mặt trái của nó là tàn phá rừng, ảnh hưởng đến môi trường, đe dọa đa dạng sinh học cũng không hề nhỏ. Có một thực tế, dự án nào, công trình nào ở miền núi cũng vẽ ra những “viễn cảnh” tốt đẹp rằng rừng xanh bị lấy đi rồi sẽ phục hồi trong ngày mai. Bản đánh giá tác động môi trường trong các dự án thủy điện, khai khoáng luôn thể hiện trách nhiệm trồng lại rừng của chủ đầu tư, với lộ trình thực hiện rất chi li.
“Điểm nóng” xảy ra trong thời gian gần đây ở các địa phương miền núi là tình trạng xâm hại rừng tự nhiên để mở rộng diện tích đất sản xuất, đặc biệt là trồng cây cao su. Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, từ đầu năm đến nay lực lượng chức năng phát hiện 233 vụ phá rừng trái phép với diện tích 404 ha. Điển hình, huyện Tiên Phước có 137 ha rừng bị xâm hại trái phép, Núi Thành với 75 ha, khu vực hồ chứa nước Đông Tiển (Thăng Bình) thiệt hại 49 ha rừng, xâm lấn 47 ha khu vực rừng phòng hộ A Vương (thuộc khu tái định cư Cút Chơ Run, Đông Giang)… Lực lượng kiểm lâm đã khởi tố 14 vụ, chuyển cơ quan công an tiếp tục điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Theo nhận định của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, điểm yếu phát sinh nhiều bất cập trong các dự án trồng cây cao su là chưa có quy hoạch tổng thể, phần lớn các dự án triển khai trồng cao su thời gian qua đều vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Ở nhiều nơi trồng cao su, người dân còn bị mất đất sản xuất; tình trạng phá rừng để lấy đất sản xuất, chờ đền bù khi Nhà nước có chủ trương trồng cao su là thực trạng đáng lo ngại ở các huyện miền núi. Trong khi đó, việc quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch 3 loại rừng (đặc dụng, phòng hộ và sản xuất) chưa phù hợp, chậm điều chỉnh, bổ sung và một phần do áp lực về nguồn nguyên liệu nên người dân thiếu đất sản xuất...
Ông Phan Tuấn - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, sắp đến, ngành kiểm lâm sẽ có cuộc tổng rà soát lại tất cả dự án tác động vào rừng tự nhiên, đặc biệt các dự án trồng cây cao su. Theo đó, sẽ kiểm tra lại toàn bộ diện tích đã hoàn tất hoặc chưa làm thủ tục hồ sơ pháp lý; chỉ đạo các hạt kiểm lâm trực thuộc cương quyết xử lý các trường hợp sai phạm. (Tài Nguyên&Môi Trường 5/11)đầu trang(
Ngày 5-11, tại TP Buôn Ma Thuột - Đắk Lắk, Hội Thủy lợi Việt Nam đã tổ chức hội thảo “Đánh giá nguồn nước các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên trong điều kiện biến đổi khí hậu”.
Thông tin từ hội thảo cho biết đỉnh lũ ở Tây Nguyên ngày càng lớn, tần suất xuất hiện nhiều và dày. Nguyên nhân là do rừng đầu nguồn bị chặt phá nghiêm trọng, không có khả năng giữ nước, điều tiết dòng chảy trong khi hệ thống thủy điện xây dựng tràn lan, hồ đập thủy lợi xuống cấp, thiếu kinh phí sửa chữa gây mất an toàn trong mùa mưa lũ.
Những khối gỗ lớn do lâm tặc xẻ trộm ở VQG Yok Đôn (Đắk Lắk) được lực lượng kiểm lâm thu hồi.
Trước tình trạng trên, hội thảo cảnh báo cần sớm trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, kiên cố hệ thống thủy lợi, xây dựng bản đồ ngập lụt… nhằm giảm thiểu thiệt hại do lũ lụt gây ra. (Người Lao Động 6/11; Sài Gòn Giải Phóng 6/11)đầu trang(
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Lắk vừa có văn bản gửi các huyện Buôn Đôn, Ea Súp cho biết hiện có một đàn voi rừng khoảng 30 con đang di chuyển, kiếm ăn ở một số tiểu khu thuộc Vườn Quốc gia Yók Đôn và các xã thuộc H.Ea Súp, từng phá nhiều hoa màu của người dân.
Đây là đàn voi có hai con voi trưởng thành bị bắn chết tại Vườn Quốc gia Yók Đôn vào tháng 8 nên rất hung dữ và đã tấn công giết chết một người vào đêm 27.10 vừa qua.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị UBND các huyện trên chỉ đạo các cơ quan chức năng có biện pháp tuyên truyền, vận động người dân không ngủ đêm tại các chòi canh rẫy, không đi rừng vào ban đêm; nếu voi về phá hoại hoa màu thì áp dụng biện pháp xua đuổi và báo cơ quan chức năng, không được sát hại hoặc làm ảnh hưởng đến đàn voi rừng. (Thanh Niên 6/11)đầu trang(
Nhắc đến kinh doanh đa cấp hẳn ai cũng nghĩ tới hàng tiêu dùng hay thương mại điện tử... Tuy nhiên, mô hình này đã lan sang cả lĩnh vực chăn nuôi, cụ thể là con chồn nhung đen với những ẩn họa chực chờ người nông dân.
Chồn nhung đen có xuất xứ từ Nam Mỹ, được Viện Chăn nuôi đưa về VN năm 2005. Sau thời gian nghiên cứu, cho thấy đây là vật nuôi phù hợp điều kiện khí hậu tại nước ta. Đáng buồn thay, qua một số tổ chức, cá nhân, mô hình nuôi chồn nhung đang bị biến tướng thành kiểu kinh doanh giống đa cấp từ hơn một năm nay.
Đối nghịch hẳn với không khí ảm đạm, trầm lắng của con lợn, con gà truyền thống, mô hình nuôi chồn nhung đen hiện đang lan rộng một cách chóng mặt không chỉ ở các làng quê mà ngay cả ven đô, nội thành Hà Nội. Tuy nhiên, để tiếp cận và tìm hiểu mô hình không hề đơn giản do có một nguyên tắc được các ông chủ của mô hình dặn dò lại người tham gia chăn nuôi, chỉ được truyền miệng và cấm treo biển hay quảng cáo trên bất cứ phương tiện thông tin đại chúng nào(?).
Phải qua rất nhiều lần thuyết phục, chúng tôi mới tiếp cận được mô hình nuôi chồn nhung của gia đình ông Trịnh Xuân Trần, thôn Xạ Hương, xã Minh Quang (Tam Đảo, Vĩnh Phúc). Ông Trần là công an xã về hưu, trong một lần sang thăm ông bạn đồng niên thấy con chồn nhung đen hay quá nên mon men tham gia. Sau khi được tư vấn chồn nhung đen là con vật cực kỳ dễ nuôi, chỉ ăn cỏ cây hoa lá và rất hiền lành. Đặc biệt, nếu tham gia vào mô hình sẽ được bao tiêu toàn bộ đầu ra trong thời gian hợp đồng, vậy là ông Trần quyết luôn không cần đắn đo suy nghĩ, bởi hiện tại ông đang chán ngấy nuôi lợn do thua lỗ triền miên mấy tháng qua.
Dẫn tôi thăm đàn chồn, ông Trần khoe: “Tôi mua 15 đôi chồn nhung đen cách đây hơn 1 tháng với giá 4 triệu đồng/cặp, tổng cộng cả tiền đầu tư chuồng trại hết 70 triệu đồng, được ông Châu cho nợ 20 triệu để tham gia vào mô hình. Chỉ vài tuần nữa tôi sẽ xuất bán 15 cặp chồn con và thu về 30 triệu đồng trong vòng chưa đầy 4 tháng, quả thực trong đời tôi chưa bao giờ nuôi con gì lãi nhanh đến thế. Tôi đang nóng ruột gọi thợ bán nốt 5 con lợn để lấy tiền đầu tư thêm 15 đôi chồn nữa nuôi cho “ra tấm món” chứ ông bạn tôi nuôi cả trăm đôi nên lợi nhuận khủng khiếp hơn nhiều.”
Qua ông Trần, chúng tôi được biết tại tỉnh Vĩnh Phúc có một hộ làm đại diện cho chủ dự án tiến hành thu mua, quản lý, giám sát các hộ chăn nuôi khác tại đây là ông Nguyễn Mạnh Hùng, thôn Tân Long, xã Hồ Sơn, huyện Tam Đảo. Gặp ông Hùng, chúng tôi ngay lập tức được nghe ông giảng giải về sự ưu việt và tính “nhân văn” có một không hai của dự án. Ông Hùng cho biết, chủ dự án này là ông Đoàn Việt Châu, cựu sỹ quan thông tin của Bộ Tư lệnh Thủ đô, quê ở Giao Thủy, Nam Định. Và theo như lời ông Hùng, may mắn nhờ quen “bồ tát sống” Đoàn Việt Châu ông mới có cơ may thoát khỏi vũng bùn nợ nần do chăn nuôi lợn thua lỗ.
Không chỉ ông Hùng, nghe đồn có rất nhiều người đã được ông Châu cứu vớt khi đang đầm đìa trong nợ như ông giám đốc một đài phát thanh huyện ở Vĩnh Phúc nợ hàng tỷ đồng ngân hàng do phá sản khi trồng cây thanh hao nay sắp hồi sinh nhờ nuôi chồn nhung đen. Thậm chí, có gia đình máu làm giàu quá đem cả sổ đỏ đi thế chấp ngân hàng vay hàng trăm triệu đầu tư nuôi chồn như hộ ông Nguyễn Xuân Hiệp, xã Tam Quan, Tam Đảo.
Chả là sau khi có trong tay mấy trăm triệu tiền đền bù đất, gia đình ông Nguyễn Xuân Hiệp xây căn nhà 3 tầng hoành tráng nhất làng. Đang xây dở dang thấy có mô hình nuôi chồn nhung, ông lập tức dừng việc xây nhà lại đem sổ đỏ ra ngân hàng thế chấp vay 200 triệu đồng đầu tư 50 cặp chồn nhung đen cho mình và 20 cặp cho con trai để nuôi. Ông Hiệp phấn khởi cho biết, vừa bán được 20 đôi chồn nhung đen thu về 40 triệu tiền tươi thóc thật hẳn hoi chứ không phải tiền ảo như nhiều người sợ. Với cái đà tiền vào như nước này, ông Hiệp dự tính từ giờ đến cuối năm sẽ trả hết tiền vay ngân hàng và sang năm sau lãi trăm triệu đơn giản như trở bàn tay.
Quay trở lại câu chuyện của ông Hùng, nhờ bỏ ra ngót nghét 500 triệu đồng để đầu tư nuôi 100 cặp chồn nhung đen và là người tham gia mô hình sớm tại Vĩnh Phúc nên ông Hùng được ông Châu tin tưởng giao làm đại diện quản lý gần 50 hộ nuôi chồn trong tỉnh. Ngoài ra, ông Hùng còn là một trong ba cơ sở chuyên làm chuồng để ông Châu phân phối tới các hộ chăn nuôi mới.
Lúc này, chúng tôi mới hay biết, ngoài việc phải mua chồn giống, các hộ tham gia còn phải mua cả chuồng bằng sắt kiên cố do ông Châu tự làm và thiết kế theo mẫu và “phong thủy” riêng với giá 2,2 triệu đồng/chuồng. Ông Hùng khoe, từ lúc tham gia mô hình ông đã có 3 lứa chồn xuất chuồng, thu về được gần 200 triệu đồng. Cứ với cái đà này, ông Hùng tin chắc chỉ hết năm sau ông sẽ thanh toán xong số nợ 1,5 tỷ đồng hiện đang khất ngân hàng vì nuôi lợn thua lỗ.
Trong quá trình tìm hiểu về con chồn nhung đen, chúng tôi được biết, hiện không chỉ có mô hình của ông Đoàn Việt Châu mà còn rất nhiều mô hình khác như của Cty Giấc mơ Việt (V-dream) cũng có cách thức vận hành tương tự theo kiểu kinh doanh đa cấp. Theo đó, giá ngoài thị trường hiện nay, một cặp chồn nhung giống chỉ 200 - 500 nghìn đồng.
Tuy nhiên, khi xem hợp đồng của một hộ tham gia mô hình của ông Châu, chúng tôi thấy người chăn nuôi phải mua với giá 4 triệu đồng/cặp (1 đực 1 cái) và được mua lại chồn con với giá 2 triệu đồng/cặp (bất kể đực cái). Tuy nhiên, mỗi một lứa chồn cái đẻ người chăn nuôi phải nộp lại cho chủ mô hình 500 nghìn đồng. Như vậy, bình quân một năm một con chồn nhung đẻ 3 - 4 lứa, người chăn nuôi phải nộp 1,5 - 2 triệu tiền gọi là chi phí vận chuyển, hội thảo và công tác thú y…
Một điểm rất “tinh vi” của mô hình nuôi chồn nhung đen của ông Châu là thời hạn hợp đồng nhận bao tiêu đầu ra chỉ kéo dài trong 28 tháng, sau 28 tháng người nuôi chồn phải tự lo đầu ra. Nếu muốn tiếp tục được bao tiêu đầu ra, người nuôi phải hủy toàn bộ đàn chồn cũ đi và mua đàn chồn mới với giá 4 triệu/cặp như ban đầu. Với đàn chồn bố mẹ hết hợp đồng, người nuôi phải tiêu hủy làm thức ăn hoặc bán lại cho mô hình với giá 500 nghìn đồng/cặp chứ không được trực tiếp bán ra thị trường.
Bên cạnh đó, quá trình tham gia, người nuôi phải thường xuyên báo cáo số lượng chồn bố mẹ đẻ ra để cán bộ kỹ thuật kiểm soát lưu vào sổ hộ khẩu, đề phòng các hộ mua chồn ngoài thị trường trà trộn vào. Nếu hộ nào vi phạm, lập tức hợp đồng sẽ bị hủy và số chồn trên sẽ trở về với giá trị ngoài đời thường.
Qua một số hộ tham gia nuôi chồn nhung đen tại xã Phú Cường, huyện Sóc Sơn và xã Xuân Đỉnh, Từ Liêm (Hà Nội), chúng tôi mới hay biết còn có mô hình nuôi chồn nhung đa cấp khác của Cty Giấc Mơ Việt. Dự án của Cty Giấc Mơ Việt có cái tên rất kêu là “Nhà nông làm giàu”.
Về bản chất, dự án của Cty Giấc Mơ Việt không khác là mấy so với mô hình của ông Đoàn Việt Châu. Chỉ khác một điều là mô hình này không bắt người dân phải mua chuồng kèm theo giống, thời gian bao tiêu đầu ra ít hơn mô hình của ông Châu 4 tháng và giá bán giống cũng như giá mua lại con giống rẻ hơn 100.000 đồng/cặp, tức là 3,9 triệu đồng/cặp bán ra và 1,9 triệu đồng/cặp mua về.
Tuy nhiên, để tham gia được mô hình này, người chăn nuôi phải mua theo từng gói mà trong kinh doanh đa cấp thường hay chia ra từng cấp bậc như bạch kim, vàng, kim cương, ruby… chẳng hạn. Với Cty Giấc Mơ Việt, người dân phải mua ít nhất 12 cặp chồn nhung đen, các cấp bậc tiếp theo là 24 cặp, 48 cặp, 96 cặp…
Do đó, để tham gia vào mô hình này người dân phải có ít nhất 50 triệu đồng, một số tiền không nhỏ với nông dân. Một điểm khác nữa là khi tham gia mô hình của Cty Giấc Mơ Việt, nếu hộ nào giới thiệu thêm được một mô hình mới sẽ được hưởng % hoa hồng trên tổng lợi nhuận thu được từ việc bán chồn và tiếp tục được hưởng thêm % cho người cấp kế tiếp. (Nông Nghiệp Việt Nam 5/11)đầu trang(
Nhờ có nhiều cơ chế chính sách cũng như làm tốt công tác quản lý bảo vệ và phát triển vốn rừng, đến nay độ che phủ của rừng Yên Bái tăng từ 37% năm 2000 lên 53,8% và là một trong những địa phương có độ che phủ cao nhất nước.
Điều dễ nhận thấy nhất là rừng và chất lượng rừng đã được nâng lên rõ rệt, trồng và phát triển vốn rừng không chỉ được xã hội hoá mà đã trở thành nghề kinh tế mũi nhọn của địa phương. Chỉ trong 10 năm, diện tích rừng toàn tỉnh đã tăng trên 129 ngàn ha.
Đó là kết quả sự đầu tư của Nhà nước thông qua dự án 327, 661 và các dự án khác của tỉnh và địa phương. Đến nay, toàn tỉnh có trên 479 ngàn ha rừng, trong đó có 36.508 ha rừng đặc dụng, 189.514 ha rừng phòng hộ và trên 253.747 ha rừng sản xuất. Hầu như các diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đã được các tổ chức, cộng đồng dân cư và người dân nhận quản lý và bảo vệ bền vững.
Song song với bảo vệ, công tác phát triển rừng cũng được đẩy mạnh, nhất là trồng rừng kinh tế. Ngoài các dự án, chương trình của Chính phủ, tỉnh cũng tuỳ các thời kỳ, tuỳ từng địa phương mà có những cơ chế chính sách thúc đẩy phát triển nghề rừng. Như trước đây các huyện thị phía Tây, người dân chưa có thói quen trồng rừng kinh tế, hàng chục ngàn ha đất lâm nghiệp bị bỏ hoang nhưng người dân vẫn ngày ngày phải lên rừng lấy củi, bẻ măng...
Trước thực trạng đó, tỉnh đã có đề án "Phát triển kinh tế xã hội miền Tây" giai đoạn 2005-2010 tập trung vào trồng rừng kinh tế và hỗ trợ kỹ thuật, giống cây lâm nghiệp và phân bón cho người dân. Đến hôm nay trồng rừng kinh tế đã trở thành một phong trào rộng khắp từ vùng thấp đến vùng cao. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác trồng và phát triển vốn rừng vẫn còn nhiều bất cập cần được tháo gỡ.
Diện tích rừng, nhất là rừng sản xuất không ngừng tăng lên mỗi năm nhưng chất lượng rừng lại chưa đồng đều, trữ lượng rừng thấp, bình quân chỉ đạt 60-70 m3/ha. Mặc dù giá trị sản xuất lâm nghiệp mỗi năm đều tăng, nhưng mới chỉ chiếm 6-7% giá trị GDP của tỉnh - một con số không lớn so với sự đầu tư và tiềm năng.
Bên cạnh đó có một điều dễ nhận thấy là chúng ta vẫn chưa khai thác hết tiềm năng hiện có, diện tích rừng thì lớn nhưng lại chưa hình thành vùng nguyên liệu tập trung. Sản xuất lâm nghiệp là kế sinh nhai của hàng nghìn, hàng vạn nhân khẩu nhưng lực lượng lao động này phần lớn lại chưa qua đào tạo. Bình quân mỗi năm chúng ta khai thác trên dưới 150.000m3 gỗ và hàng ngàn tấn nguyên liệu sợi dài nhưng lại chưa có một hệ thống chế biến tương xứng.
Số lượng doanh nghiệp, cơ sở sản xuất chế biến nhiều nhưng đa phần là nhỏ lẻ và sản xuất chế biến nguyên liệu thô là chính, giá trị không cao. Từ đó dẫn đến thị trường lâm sản thiếu ổn định khiến người trồng rừng chưa yên tâm đầu tư vào sản xuất.
Để việc trồng và phát triển rừng một cách bền vững, hiệu quả trước tiên chúng ta phải làm tốt công tác quy hoạch và tạo vùng sản xuất nguyên liệu rộng lớn, đáp ứng cho nhu cầu chế biến. Việc làm trước mắt là cần tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật cho người trồng rừng hiểu rõ lợi ích kinh tế - xã hội cũng như bảo vệ môi trường sinh thái rừng.
Ngành nông nghiệp cũng cần nghiên cứu và đưa các giống cây lâm nghiệp chất lượng tốt, năng suất cao vào trồng, tránh tình trạng trồng rừng theo tính tự phát, thị hiếu và nhu cầu của thị trường. Để làm được điều đó, chúng ta phải làm tốt công tác dự báo thị trường, vận động người trồng rừng áp dụng các biện pháp lâm sinh để tăng năng suất rừng, trong khai thác áp dụng khai thác tỉa, khai thác chọn để tăng sinh khối rừng.
Cùng với củng cố vùng nguyên liệu, chúng ta cũng nên rà soát lại các cơ sở chế biến, không nên cấp phép cho các tổ chức, cá nhân quá nhiều vào một địa phương hay một vùng nguyên liệu và không nằm trong quy hoạch. Khuyến khích các tổ chức doanh nghiệp đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến lâm sản hiện đại, làm ra sản phẩm hoàn chỉnh để tăng giá trị kinh tế.
Giải quyết tốt các vấn đề này, cùng với thực hiện tốt công tác quy hoạch, bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020; đề án giao đất, giao rừng và cho thuê rừng, tin rằng sản xuất lâm nghiệp sẽ trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương. (Báo Yên Bái 5/11)đầu trang(
Hy vọng về hướng đi mới, tương lai mới cho hàng nghìn hộ dân trồng rừng trong toàn tỉnh càng được củng cố và nhân lên gấp bội khi cuối tháng 10 vừa qua, tại xã Núa Ngam (huyện Điện Biên) Sở NN&PTNT (phối hợp cùng Công ty TNHH Hoàng Lâm Điện Biên tổ chức lễ khởi công xây dựng nhà máy sản xuất ván sàn tre và gỗ ghép thanh có quy mô sản xuất 100.000m3 sản phẩm/năm, với tổng vốn đầu tư xây dựng là 250 tỷ đồng.
Với sự chuẩn bị chu đáo về nguyên vật liệu và nhân lực, sẵn có đơn đặt hàng, nhà máy phấn đấu sẽ có sản phẩm đầu tiên chỉ sau khoảng 2 tháng - bắt đầu tính từ lễ khởi công...
Ông Cấn Thanh Dương, Giám đốc Công ty TNHH Hoàng Lâm Điện Biên cho biết: Sau khi tiến hành khảo sát, rà soát diện tích rừng và vùng nguyên liệu cho kết quả khả quan, đơn vị lập phương án xây dựng và các sản phẩm sẽ sản xuất lấy nguyên liệu từ rừng. Doanh nghiệp xác định, sản phẩm chủ lực của nhà máy là các tấm lót đường, tà vẹt đường tàu, trụ ép khối để xây dựng nhà Zamin, các sản phẩm nội thất có giá trị văn hoá cao, thân thiện với môi trường để tiêu thụ trên thị trường nội địa và xuất khẩu ra thị trường các nước Mỹ, Canada, Đức, Pháp... Ông Cấn Thanh Dương cũng cho biết thêm: Hiện nay, nội thất làm từ ván ghép thanh trở nên khá phổ biến ở hầu hết các đô thị lớn và các tỉnh công nghiệp phát triển.
Bởi các tính năng ưu việt, như: không bị mối mọt, không bị co ngót, cong vênh, mẫu mã đa dạng phong phú, bề mặt được xử lý nên có độ bền màu tốt, có khả năng chịu va đập và chống xước cao. Nổi trội hơn cả là ván ghép thanh được sản xuất chủ yếu từ gỗ khai thác rừng trồng, gỗ tận dụng nên thực sự là một loại vật liệu thay thế hoàn hảo trong lĩnh vực vật liệu nội thất khi nguồn gỗ tự nhiên đang ngày càng khan hiếm, trong khi vùng nguyên liệu tre trên địa bàn tỉnh dù được đánh giá là rất lớn nhưng giá trị khai thác chưa cao, vì chưa có nhà máy chế biến.
Ông Lò Văn Hưng, bản Pá Ngam, xã Núa Ngam (huyện Điện Biên) phấn khởi cho biết: Chúng tôi rất muốn trồng rừng, nhưng trên thực tế thời gian qua, chưa có nơi tiêu thụ sản phẩm nên chúng tôi rất lo lắng. Giờ đây, đã có nhà máy sản xuất ván sàn tre và gỗ ghép thanh thu mua sản phẩm cho bà con, gia đình tôi không chỉ tích cực trồng rừng mà còn tuyên truyền, vận động nhân dân chăm sóc và bảo vệ vùng nguyên liệu cho tốt, cung ứng nguyên liệu cho nhà máy để có việc làm, tăng thu nhập.
Với mục tiêu của dự án là giải quyết vấn đề vùng nguyên liệu cho tất cả các xã có điều kiện trồng cây tre trong toàn tỉnh và tạo chuỗi giá trị gia tăng cao cho vùng nguyên liệu các tỉnh vùng Tây Bắc như Sơn La, Điện Biên, Lai Châu. Dự án đi vào hoạt động với công suất ổn định sẽ tạo việc làm cho khoảng 500 lao động với mức lương tối thiểu 3 triệu đồng/người/tháng. Trong thời gian không xa, đơn vị sẽ phối hợp với một số địa phương vùng biên giới nước bạn Lào mở rộng và khai thác, sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có để tiếp tục đáp ứng công suất và nhu cầu tiêu thụ sản phẩm. Dự kiến, đến năm 2014, doanh thu của nhà máy đạt khoảng 300 tỷ đồng/năm, nộp ngân sách địa phương khoảng 20 đến 30 tỷ đồng/năm.
Thực tế cho thấy, trong xu thế phát triển bền vững, các sản phẩm gần gũi thiên nhiên, thân thiện môi trường càng được đưa vào sử dụng nhiều hơn. Cây tre phát triển nhanh chóng và có thể được thu hoạch trong vòng 3 đên 5 năm sau khi trồng, so với gỗ cứng phải mất đến 40 năm để trưởng thành và cho chất lượng tốt để khai thác. Mặt khác, Điện Biên cũng là vùng có nguồn tài nguyên tre tự nhiên dồi dào; chu kỳ tái sinh nhanh, việc trồng và khai thác tre đơn giản sẽ góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho hàng nghìn hộ dân vùng nguyên liệu, vùng dự án.
Như vậy, với việc khởi động Nhà máy sản xuất ván sàn tre và gỗ ghép thanh tại xã Núa Ngam là cơ sở chế biến lâm sản có quy mô lớn nhất trên địa bàn tỉnh hiện nay. Khi nhà máy đi vào hoạt động có tác động trực tiếp, thúc đẩy phát triển ngành lâm nghiệp, công nghiệp chế biến của tỉnh, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân, góp phần đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương. (Báo Điện Biên 5/11)đầu trang(
Điều rất lạ là từ năm 2009 đến nay, tất cả các vụ án liên quan đến cái chết của voi, tung tích hung thủ giết hại voi rừng vẫn luôn là…“ẩn số”!?
Theo thống kê từ Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk, chỉ tính từ năm 2009 đến nay, đã có 14 con voi rừng lìa đời, trong đó có 4 con voi trưởng thành được xác định bị bắn giết để lấy ngà, lông đuôi; 10 con chết không rõ nguyên nhân. Bên cạnh đó, đàn voi nhà bị chết cũng không thua kém khi có đến 10 con vĩnh viễn ra đi.
Chắc dư luận vẫn còn nhớ, vào cuối tháng 8/2012, người ta cùng lúc phát hiện 2 cá thế voi trưởng thành bị bắn chết tại Vường Quốc gia Yok Đôn. Hai con voi rừng, một đực, một cái nằm chết cách nhau khoảng 5m giữa rừng; mỗi con có trọng lượng lên đến hàng tấn, khắp mình đầy vết thương.
Khi được phát hiện, hai con voi đang trong quá trình phân hủy, mùi hôi thối bốc lên nồng nặc. Trong đó, thân thể con voi đực không còn nguyên vẹn khi bị thợ săn đục tung phần đầu để lấy ngà, vòi bị cắt đứt lìa, nhiều bộ phận khác cũng bị lấy mất.
Theo nhận định của Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk: đây là 2 cá thể thuộc đàn voi rừng khoảng 30 con thường xuyên sinh sống tại VQG Yok Đôn, sau khi di chuyển từ Campuchia về Vườn để kiếm ăn theo tập quán sinh sống thì bị thợ săn “phục kích” giết hại.
Trước đó, vào tháng 3/2012, một cá thể voi đực trưởng thành khác cao 2,4m, dài 4,3m, nặng khoảng 1,5 - 2 tấn, cũng thuộc đàn voi này đã bị thợ săn bắn hạ tại tiểu khu 283, thuộc địa bàn xã Ea Bung (huyện Ea Súp); khi được phát hiện, xác voi cũng đang trong tình trạng phân hủy.
Điều đáng nói là cách thức giết hại voi lần này không khác gì 2 con voi bị giết vào tháng 8/2012, với phần xương đầu bị đục tung, các bộ phận như ngà, đuôi, vòi và đế bàn chân cũng bị đánh cắp.
Lùi lại thời điểm tháng 8/2009, người ta cũng phát hiện một con voi đực nặng 2,5 tấn nằm chết tại tiểu khu 138 – thuộc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Ea H’mơ (xã Ia J’lơi, huyện Ea Súp). Khi vào cuộc điều tra, công an xác định con voi bị bắn giết để lấy ngà.
Điều rất lạ là từ năm 2009 đến nay, tất cả các vụ án liên quan đến cái chết của voi, tung tích hung thủ giết hại voi rừng vẫn luôn là…“ẩn số”!?
Không chỉ voi rừng bị sát hại, voi nhà được nuôi nhốt, chăm sóc cẩn thận cũng không thoát khỏi tay “voi tặc”. Nhiều con may mắn thoát chết, nhưng cũng có con phải bỏ mạng đau đớn, oan uổng.
Đó là trường hợp voi đực Pắk Kú thuộc sở hữu của Khu du lịch Thanh Hà (Buôn Đôn). Vào một đêm cuối mùa mưa tháng 10/2010, voi Pắk Kú được xích ăn trong rừng và đã bị những kẻ xấu tưới xăng đốt và chém trên 200 nhát nhằm cướp đi mạng sống của nó để lấy ngà, lông đuôi.
Dù bứt đứt xích chạy thoát, nhưng voi Pắk Kú vẫn phải bỏ mạng oan uổng ở tuổi 30, sau hơn 2 tháng chống chọi với những vết chém ác hiểm. Hung thủ giết voi Pắk Kú đến nay vẫn được tìm ra tung tích ?
Một con số thống kê cho thấy sự sụt giảm đến chóng mặt đàn voi nhà Đắk Lắk. Nếu như vào năm 1980, đàn voi nhà có 502 con, thì đến năm 1990 đã sụt giảm gần một nửa khi chỉ còn 298 con, đến năm 2000 chỉ còn 96 con và hiện tại chỉ còn 51 con.
Số voi nhà còn lại hiện chủ yếu tập trung phục vụ trong các khu du lịch và bị bóc lột thậm tệ.
Không chỉ ít đi về số lượng, đàn voi nhà cũng đang kém đi về chất lượng, khi khoảng 30% đã trở thành “voi cụ”, và khả năng “yêu” để cho ra thế hệ tiếp theo là rất hạn hữu.
Điều này được chứng minh, khi trong khoảng 20 năm qua, đàn voi nhà Đắk Lắk không đón nhận thêm được chú voi con nào chào đời. Điều này thật dễ hiểu - đó là voi không có môi trường, thời gian để “yêu nhau”.
Hiện nay, voi chỉ tập trung vào việc phục vụ du lịch, các chủ voi thường quản lý voi độc lập, ít thả cùng nhau, nên voi cái, voi đực không có cơ hội gặp gỡ. Nói cách khác, voi đang bị “cấm yếu”.
Trong chuyện sinh sản của voi, thường chủ voi đực không được hưởng lợi, thậm chí còn phải “chịu vạ” nếu như voi đực giao phối làm voi cái bị thương, điều này khiến chủ voi đực rất ngại khi thả voi của mình chung với voi cái của chủ khác.
Đàn voi nhà suy giảm nhanh đến chóng mặt, không có voi rừng thì không thể có voi nhà, tuy nhiên, đàn voi rừng cũng chỉ còn khoảng trên 100 cá thể, mà việc săn bắt voi rừng về thuần dưỡng hiện nay đã bị nghiêm cấm, việc bổ sung đàn voi nhà coi như đã khép lại.
Chỉ còn trên 100 cá thể, nhưng trong tự nhiên đàn voi rừng cũng đang bị “truy sát” ráo riết, khả năng sinh sản cũng rất hạn chế, hoặc nếu có sinh sản được, voi con cũng gặp rất nhiều mối nguy hiểm.
Trong số 14 con voi rừng bị chết được phát hiện từ năm 2009 đến nay, ngoài 4 con voi trưởng thành bị bắn chết như đã nói ở trên, đa số còn lại là voi con mới lớn, chúng bị chết vì rất nhiều nguyên nhân.
Việc những con voi đực trưởng thành bị giết hại, khiến nhiều chuyên gia đặt lo ngại về một quần thể voi rừng không còn bền vững, khả năng sinh sản do đó bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Ngoài giờ cõng khách du lịch, voi bị xích chân không còn thời gian chơi và “yêu đương” theo quy luật.
Theo các nhà khoa học, để một đàn voi phát triển ổn định, có thể sinh sản, tăng đàn được phải có khoảng từ 50 cá thể trở lên; nhưng tại Đắk Lắk hiện nay, theo ghi nhận có khoảng 10 đàn voi rừng, đàn nhiều nhất cũng chưa tới 30 con.
Cùng với đó, môi trường tự nhiên để voi sinh sống đang bị thu hẹp, thức ăn ngày một ít, voi liên tục phải tìm về các khu dân cư tìm thức ăn, gây nên sự xung đột người – voi dữ dội. Thực tế này khiến cả đàn voi rừng Đắk Lắk lẫn người dân tại các buôn làng gặp rất nhiều nguy hiểm.
Với việc bảo tồn vẫn ì ạch như hiện nay, đàn voi Đắk Lắk đang đặt trong tình trạng báo động và điều này khiến người ta đặt nghi ngại rằng một ngày không xa, đại ngàn Tây Nguyên rồi sẽ vắng bóng voi là có cơ sở. (Dân Trí 5/11)đầu trang(
Báo Thanh tra đã liên tục nhận đơn của ông Trần Văn Đông, số 25, hẻm 13, đường Lạc Long Quân, phường 4, thị xã Tây Ninh phản ánh quyền lợi hợp pháp tại hợp đồng giao khoán đất trồng rừng giữa ông với Ban quản lý Dự án rừng phòng hộ Dầu Tiếng (BQLDA) bị xâm hại. Đâu là sự thật?
Theo ông Trần Văn Đông, ngày 09/9/2004 BQLDA (bên A) cùng ông (bên B) ký hợp đồng số 113/HĐ.DADT về giao khoán đất rừng, cao su và cây ăn trái. Theo đó, Bên A giao khoán cho bên B 21 ha đất tại ấp 6, xã Suối Dây, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Trong đó, diện tích trồng cao su là 21 ha, thời hạn giao khoán đất 50 năm (từ ngày 09/9/2004 đến 09/9/2054). Nội dung hợp đồng nêu rõ nghĩa vụ của bên A phải xác định đúng diện tích, vị trí ranh giới đất nhận khoán trên bản đồ và trên thực địa, hướng dẫn cho bên B thực hiện theo quy chế quản lý rừng phòng hộ, về kỹ thuật trồng rừng… Bên B chịu trách nhiệm trước bên giao khoán về diện tích đất đã nhận khoán, sử dụng đất đúng mục đích, chấp hành sự hướng dẫn của bên giao khoán, tự bỏ vốn trồng cao su đúng theo diện tích, ranh giới, khu vực đã nhận khoán…
Ông Đông cho biết, sau khi ký kết hợp đồng đã thực hiện đúng những nội dung quy định tại Hợp đồng số 113, trồng đúng diện tích là 21 ha và mục đích sử dụng đất là trồng cao su. Tuy nhiên, đầu năm 2010 BQLDA rừng Dầu Tiếng và UBND xã Suối Dây nhiều lần bắt buộc tôi phải chặt bỏ và thu hồi 4,9 ha cây cao su đang thời kỳ thu hoạch và giao lại cho BQLDA rừng Dầu Tiếng quản lý để trồng rừng với lý do phần diện tích 4,9 ha trồng không đúng mục đích. Tiếp đó, UBND huyện Tân Châu đã ban hành quyết định buộc tôi phải chặt bỏ toàn bộ diện tích 4,9 ha cao su và giao trả lại cho BQLDA rừng Dầu Tiếng để quản lý với lý do vi phạm hành chính đã sử dụng đất không đúng mục đích(?!).
Lật lại hồ sơ vụ việc, ngày 26/3/1996 UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định số 30/QĐ-UB về việc thành lập BQLDA rừng Dầu Tiếng. Ngày 25/11/1997 Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 394/1997/QĐ-UB về việc giao đất lâm nghiệp cho BQLDA rừng Dầu Tiếng. Ngày 27/7/1999 Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 77/1999/QĐ-CT về việc thành lập lại BQLDA rừng Dầu Tiếng. Ngày 31/12/2007, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 54/2007/QĐ-UBND về việc thành lập Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng… Đất được giao khoán cho ông Đông tọa lạc tại thửa 524, Tờ bản đồ số 5, tiểu khu 52, ấp 6 xã Suối Dây, huyện Châu Thành năm trong diện tích mà UBND tỉnh giao cho BQLDA rừng Dầu Tiếng quản lý.
Ngày 9/9/2004, BQLDA rừng Dầu Tiếng ký Hợp đồng số 113 giao khoán đất với ông Đông với diện tích 21 ha, mục đích trồng cây cao su. Toàn bộ diện tích trên đã bàn giao cho ông Đông sử dụng và trồng duy nhất cây cao su. Tuy nhiên, ngày 25/5/2010, BQLDA rừng Dầu Tiếng lại ban hành Thông báo số 154/TB-RPHDT về việc thu hồi Hợp đồng 113 với lý do: Trước đây chưa xác định được ranh mốc cụ thể giữa khu vực trồng cao su, cây ăn trái và khu vực quy hoạch trồng rừng nên BQLDA rừng Dầu Tiếng đã lập hợp đồng giao khoán đất trồng cao su bao trùm lên khu vực đất quy hoạch trồng rừng.
Như vậy, rõ ràng với những lý giải của BQLDA rừng Dầu Tiếng nêu trên đồng nghĩa với việc thừa nhận BQLDA rừng Dầu Tiếng đã sai phạm trong quá trình giao đất cho ông Đông hay nói cách khác là đã không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình như trong Hợp đồng 113 đã quy định. Điều này cũng khẳng định, ông Đông đã không sai khi trồng cao su trên toàn bộ 21 ha được giao khoán.
Mặt khác, Ngày 19/7/2010 UBND huyện Tân Châu lại ban hành Quyết định số 1371/QĐ-KPHQ buộc ông Đông phải chặt bỏ toàn bộ diện tích 4,9 ha cao su và giao trả lại cho BQLDA rừng Dầu Tiếng để quản lý với lý do vi phạm hành chính đã sử dụng đất không đúng mục đích. Điều lạ lùng là trong Quyết định 1371 không hề nhắc tới sai phạm của BQLDA rừng Dầu Tiếng khi đã giao đất trồng cao su cho ông Đông sai so với quy hoạch (?!). Việc này đương nhiên dẫn đến ông Đông vẫn trồng cao su trên toàn bộ 21 ha đất được giao khoán mà không hề biết mình đã trồng không đúng 4,9 ha theo quy hoạch trồng rừng phòng hộ.
Như vậy, rõ ràng trong trường hợp này không thể chỉ quy trách nhiệm duy nhất một mình ông Đông trong việc trồng cao su trên 4,9 ha đất thuộc quy hoạch trồng rừng phòng hộ mà cũng cần truy cứu trách nhiệm của BQLDA rừng Dầu Tiếng khi giao đất sai cho ông Đông. Đề nghị BQLDA rừng Dầu Tiếng sớm tìm ra giải pháp hợp tình, hợp lý đảm bảo quyền lợi của ông Đông không bị xâm hại. (Thanh Tra 5/11)đầu trang(
Chiều 5-11, Cơ quan CSĐT Công an huyện Kông Chro (tỉnh Gia Lai) cho biết đang điều tra làm rõ vụ án phá rừng xảy ra tại Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ia Pa.
Đây là vụ đốn hạ 163 cây gỗ căm xe, cà chít có đường kính từ 30 đến 60 cm (loại gỗ nhóm IIIA) thuộc tiểu khu 738, khối lượng hơn 95 m3.
Trong lúc cơ quan chức năng đang điều tra làm rõ vụ phá rừng trên, chiều tối 3-11, đoàn công tác liên ngành do ông Phan Văn Trung, Chủ tịch UBND huyện, dẫn đầu đã phát hiện 60 m3 gỗ chủ yếu là căm xe, cà chít, bằng lăng... bị đốn hạ ngổn ngang tại tiểu khu 739 (cũng do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ia Pa quản lý). Vụ phá rừng này chỉ cách trụ sở UBND xã Chư Krei vài cây số. (Phapluattp.vn 6/1)đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Nhiều xe tải chạy trên quốc lộ 18A, qua huyện Tiên Yên chở động vật hoang dã trái phép. (Nhân Dân 4/11)đầu trang(
Một chiếc xe tải nhỏ dạng “thùng” được bao bọc cẩn thận chở theo nhiều phiến gỗ de lớn đi tiêu thụ đã bị kiểm lâm bắt giữ. Theo đó, kiểm lâm đề nghị UBND tỉnh xử phạt 40 triệu đồng cho hành vi chở gỗ không có nguồn gốc.
Chiều ngày 5/11, cơ quan chức năng tỉnh Nghệ An xác nhận, vụ việc trên được Đội kiểm lâm cơ động số 3 (thuộc Chi Cục Kiểm lâm Nghệ An) phát hiện và bắt giữ chiếc xe chở gỗ lậu vào sáng ngày 4/11.
Theo đó, vào sáng sớm ngày 4/11, Đội kiểm lâm cơ động số 3 trên đường làm nhiệm vụ phát hiện chiếc xe tải nhỏ dạng thùng mang BKS: 37C - 018.83 đang lưu thông trên địa bàn thị trấn Quỳ Hợp có nhiều nghi vấn.
Ngay lập tức, chiếc xe được Đội kiểm lâm cơ động số 3 tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện trên xe chở khoảng 23 tấm gỗ de lớn khoảng gần 4,5m3 không có giấy tờ, nguồn gốc xuất xứ. Theo đó, chiếc xe cùng số gỗ đã được Đội lập biên bản tạm giữ điều tra làm rõ.
Ông Phạm Đức Thành - Đội trưởng đội kiểm lâm cơ động số 3 cho biết: “Hiện tại Đội đã hoàn tất hồ sơ và đề nghị UBND tỉnh xử phạt chủ phương tiện 40 triệu đồng để răn đe và tịch thu số gỗ trên sung vào công quỹ”.
Hiện vụ việc đang được cơ quan chức năng tiếp tục làm rõ. (Dân Trí 6/11)đầu trang(
Theo Ủy ban Nhân dân huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai, từ tin báo của quần chúng nhân dân, ngày 5/11, lãnh đạo huyện đã trực tiếp đi kiểm tra và phát hiện thêm một “đại công trường gỗ” thuộc tiểu khu 739, nằm trên địa bàn xã Chư Krei.
Diện tích rừng bị phá lên đến trên một hecta với tổng khối lượng gỗ thiệt hại ước tính hơn 60m3. Đây là vụ khai thác rừng trái phép thứ ba bị Ủy ban Nhân dân huyện Kông Chro phát hiện chỉ trong vòng một tuần qua.
Ngày 3/11, đích thân ông Phan Văn Trung, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Kông Chro dẫn đầu đoàn kiểm tra vào hiện trường khai thác gỗ trái phép trên. Khu vực rừng bị tàn phá cách trục đường chính chưa đầy 400m nhưng bị khai thác trong một thời gian dài mà không một cơ quan chức năng nào phát giác.
Tại hiện trường, những cây căm xe, cà chít, dầu, bằng lăng có đường kính từ 30-80cm bị đốn hạ, nằm ngổn ngang. Hầu hết những cây gỗ đẹp, đường kính lớn đã bị lâm tặc xẻ hộp tẩu tán nhưng vẫn còn lại hiện trường khá nhiều cây lớn và gỗ xẻ hộp được tập kết thành từng điểm. Với những bãi tập kết gỗ như vậy, nhiều khả năng lâm tặc sẽ vận chuyển bằng ôtô, nếu vận chuyển bằng xe máy mỗi lần đi cũng phải vài chục chiếc.
Điều đáng nói, chỉ mới hai ngày cuối tháng 10 vừa qua, cơ quan chức năng phát hiện hai hiện trường bị lâm tặc tàn phá, với hơn 160 cây căm xe, cà chít tại lâm phần quản lý của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Ia Pa với tổng khối lượng thiệt hại hơn 95m3… Vụ việc diễn ra mới được một tuần nhưng đã có thêm một “công trường gỗ” nữa bị phát giác.
Tất cả các vụ phá rừng nghiêm trọng xảy ra tại xã Chư Krei, lực lượng kiểm lâm huyện không nhận được một tin báo nào và cũng không hề hay biết?! Những tin báo đều được quần chúng nhân dân gửi trực tiếp cho Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện, thậm chí còn có cả bản đồ chỉ rõ địa điểm rừng bị tàn phá đúng đến từng xăngtimet.
Trao đổi với ông Phan Văn Trung, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Kông Chro nói: “Chúng tôi quyết tâm làm sáng tỏ trách nhiệm của từng đơn vị và cá nhân liên quan. Huyện đã chỉ đạo Viện kiểm sát làm văn bản xin ý kiến của Viện kiểm sát tỉnh để xem đã đủ yếu tố khởi tố trách nhiệm đối với các cán bộ liên quan.
Đồng thời, huyện tiếp tục giao cho cơ quan điều tra làm sáng tỏ vụ việc, sai đến đâu, xử lý đến đó, quyết không bao che. Trong thời gian tới, huyện sẽ triển khai tổng kiểm tra công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn toàn huyện”. (VietnamPlus.vn 5/11)đầu trang(
5.11, Công an H. Vĩnh Cửu (Đồng Nai) đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam 2 tháng đối với nhóm bị can gồm 10 người cùng ngụ xã Phú Lý về hành vi “Cố ý gây thương tích” và “Chống người thi hành công vụ”.
Danh sách các bị can này gồm: Nguyễn Đức An (22 tuổi); Lê Xuân Hào (21 tuổi); Trần Hữu Tuấn (23 tuổi); Huỳnh Văn Tươi (25 tuổi); Bùi Văn Vương (24 tuổi); Đặng Văn Nghề (33 tuổi); Võ Thị Lượm (42 tuổi); Nguyễn Văn Ngọc (28 tuổi); Bùi Văn Trí (32 tuổi); Trần Minh Thành (30 tuổi), ngụ cùng địa phương.
Theo tài liệu điều tra, ngày 26.10, do bực tức vì bị Trạm Kiểm lâm Suối Ràng lập biên bản, thu giữ động vật săn bắn trái phép nên An, Tuấn, Vương, Hào, Tươi đã đánh trọng thương 2 ông Phạm Văn Nông và Nguyễn Tiến Tới, là Trạm trưởng và Phó trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Suối Ràng.
Lập tức, Công an xã Phú Lý đến hiện trường, phát hiện Bình cùng một thanh niên đi xe máy từ phía trạm ra, đã giữ Bình lại để làm việc.
Thấy vậy, hàng chục người dân đã tụ tập đến xem. Lợi dụng lúc tình hình đang lộn xộn, Lượm, Nghề, Trí, Thái, đã tấn công anh Trần Ngọc Vinh, công an xã Phú Lý gây thương tích.
Sau đó, Nghề cùng với một số người khác tiếp tục đuổi đánh anh Nguyễn Quang Sơn (28 tuổi) - cán bộ Trạm Kiểm lâm Đa Kin đóng tại địa bàn gần đó tới hỗ trợ giải quyết vụ việc - bị thương.
Một lúc sau, Công an H.Vĩnh Cửu đến hiện trường. Khi công an đang giải tỏa đám đông và đưa số cán bộ bị thương đi cấp cứu thì có khoảng 50 người dân vây quanh không cho xe đi; nhiều người đã dùng cây gỗ ném ra đường chặn xe để cho Ngọc, Thành, Trí dùng xà beng cạy cửa xe cảnh sát để giải thoát cho Bình. (Báo Đồng Nai 6/11; Thanh Niên 5/11)đầu trang(
5-11, ông Hà Công Tài, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông, cho biết gần đây tại vùng giáp ranh giữa xã Hưng Bình (Đăk R’lấp, Đắk Nông) và xã Thọ Sơn (Bù Đăng, Bình Phước) thường xuất hiện hai con voi rừng về phá rẫy.
Ông Tài cho hay đây có thể là hai con voi đang sống tại tiểu khu 1602 thuộc Ban Quản lý Rừng phòng hộ Nam Cát Tiên. Chi cục Kiểm lâm Đắk Nông khuyến cáo người dân không nên tự xua đuổi đàn voi, có thể gây nguy hiểm tính mạng, đồng thời ngăn cấm người dân sát hại voi rừng.
Cùng ngày, Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk cho biết từ tháng 8 đến nay, đàn voi rừng sinh sống ở hai huyện Buôn Đôn và Ea Sup thường về phá rẫy của người dân gây thiệt hại khoảng 12 ha bắp, mì. Đỉnh điểm, ngày 27-10, đàn voi quật chết công an viên xã Ea Lê là Cao Quang Cảnh đang đi đào gốc mai trong rừng ở xã Ya Tờ Mốt (huyện Ea Sup). (Pháp Luật TPHCM 6/11)đầu trang(
Khoảng 2 tháng nay, nhiều người dân ở huyện Krông Năng -Đắk Lắk đổ xô vào rừng khai thác một loại gỗ có đặc tính đổi màu, sau đó chế tác ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Trong khi đó, lực lượng kiểm lâm mới chỉ phát hiện, xử lý hành vi vận chuyển, tàng trữ loại gỗ này với mức phạt như... gỗ tạp.
Trong lần về xã Ea Tam mới đây, chúng tôi được ông C, chủ quán cà phê C.C.T.E cho xem 9 lóng gỗ “đổi màu” chưa chế tác, mỗi lóng có đường kính 25cm, dài khoảng 1,5m. Ông C nói chỉ mua về dùng chứ không phải buôn, nếu mua thì ông chỉ để lại 2 lóng, giá mỗi lóng là 1,4 triệu đồng. Với giá này, mỗi mét khối gỗ “đổi màu” mua ở Krông Năng khoảng 40 triệu đồng, còn vận chuyển đi nơi khác thì sẽ cao hơn nhiều.
Ông C cho biết: “Cách đây khoảng hai tháng, một số người trong xã đi rừng phát hiện cây đổi màu, sau đó dân các xã khác cũng đổ xô đi khai thác. Bây giờ hết rồi, có nhiều tiền cũng chưa chắc mua được”. Cũng theo lời ông C, cây “đổi màu” cũng quý hiếm và được săn lùng không kém cây thủy tùng.
Theo giới thiệu của một người quen, chúng tôi đến xưởng gỗ của ông D ở xã Cư K’lông hỏi mua các sản phẩm thủ công mỹ nghệ làm bằng gỗ “đổi màu”. Xưởng này gần trụ sở UBND xã Cư K’lông, bên trong có người đang đục đẽo gỗ “đổi màu” để làm các loại lục bình, tượng phật, lọ hoa...
Ông D cho biết: “Khi mới chế tác, các món đồ này cũng như gỗ thường, để khoảng một tuần thì chuyển sang màu xanh gốm, xanh ngọc, màu hồng tùy theo ánh sáng tương tác...”. Giá bán khá đắt, một chiếc lục bình bằng lọ hoa nhỏ trị giá 2 triệu đồng, bằng ly bia có giá 3 triệu đồng, loại đường kính một gang tay trở lên thì giá cả tùy thuộc vào... sự ham muốn của người mua.
Theo ông Nguyễn Văn Thắng, Chủ tịch UBND xã, xưởng mộc của ông D chưa được cấp phép, vừa qua Hạt Kiểm lâm huyện Krông Năng mới về tịch thu hơn một mét khối gỗ tròn “đổi màu” loại lớn. Mặc dù vậy, hiện trong xưởng của ông D vẫn còn khá nhiều gỗ nhỏ. Tuy rừng ở xã Cư K’lông không có cây “đổi màu”, nhưng người dân đang cất giữ khá nhiều, xã chỉ biết gỗ này được khai thác ở khu vực giáp ranh lâm phần Ban Quản lý dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng với Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô.
Ông Nguyễn Văn Kiểm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Krông Năng cho biết: “Hiện cơ quan chức năng vẫn chưa biết đây là loại gỗ gì, chỉ biết người dân gọi là gỗ “đổi màu” theo đặc tính thay đổi màu sắc. Do cây này chưa có tên trong nhóm gỗ quý hiếm nên Hạt chỉ xử lý hành vi vận chuyển, mua bán, tàng trữ như đối với gỗ tạp (nhóm V).
Trong tháng 9 và tháng 10, Hạt Kiểm lâm huyện đã phát hiện 10 trường hợp vận chuyển, mua bán, tàng trữ gỗ “đổi màu” và tịch thu toàn bộ tang vật, phạt mỗi trường hợp 6,5 triệu đồng. Ngoài ra, Hạt cũng đã phát hiện 1,195m3 gỗ “đổi màu” trên đất của ông D ở xã Cư K’lông, nhưng ông này không thừa nhận nên chỉ tịch thu như gỗ vô chủ. Trước đây Hạt có cho người vi phạm mua lại tang vật theo giá gỗ tạp do UBND tỉnh quy định, khoảng 1,9 triệu đồng/m3, sau đó sợ bị lợi dụng nên không cho mua lại nữa”.
Về xuất xứ của gỗ này, ông Kiểm cho rằng người dân huyện Krông Năng khai thác trái phép từ Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô thuộc địa bàn huyện Ea Kar. Nhưng muốn đưa gỗ về huyện phải đi qua lâm phần Ban Quản lý Rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng, vì vậy Ban này có trách nhiệm do để gỗ lậu đi qua.
Trong báo cáo gửi Chi cục Kiểm lâm tỉnh ngày 30-10, Hạt Kiểm lâm Krông Năng cũng xác nhận có tình trạng vận chuyển gỗ “đổi màu” từ rừng Ea Sô về huyện, do các trạm bảo vệ rừng của Ban Quản lý Rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng hoạt động rất kém hiệu quả.
Còn theo ông Lê Đắc Ý, Giám đốc Ban Quản lý Dự án Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, cây “đổi màu” phân bố tại tiểu khu 6xx thuộc Trạm Kiểm lâm số 3 quản lý. Nhưng từ Trạm không có đường vào, lực lượng kiểm lâm phải đi bộ khoảng 6 giờ mới đến, công tác bảo vệ rừng ở tiểu khu này rất khó khăn. Mặt khác, khu vực này giáp với lâm phần Ban Quản lý Rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng, hai bên lại tương đồng về hệ sinh thái nên chưa thể khẳng định lâm tặc khai thác cây “đổi màu” trong rừng của bên nào.
Ông Ý cũng cho biết, qua nắm tình hình tại huyện Krông Năng, lãnh đạo Ban Quản lý Dự án Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô xác định có việc vận chuyển, mua bán gỗ “đổi màu”. Hiện lãnh đạo Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô đã cử một tổ kiểm lâm đến tiểu khu 6xx để khảo sát, đồng thời lấy mẫu gửi giám định để xác định cây “đổi màu” là loài cây gì.
Về phương án bảo vệ cây “đổi màu”, ông Ý cho biết ngoài việc tăng cường bảo vệ rừng tận gốc, Ban Quản lý Dự án Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô sẽ phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Krông Năng để ngăn chặn các đối tượng từ huyện Krông Năng vào rừng đặc dụng Ea Sô khai thác cây “đổi màu” và vận chuyển về huyện này. (Người Lao Động 5/11) đầu trang(
“Vua săn voi” Ama Kông đã từ trần vào rạng sáng ngày 3.11, hưởng thọ 104 tuổi. Ông ra đi, kết thúc những câu chuyện tưởng chừng hoang đường nhưng có thực về một huyền thoại...
Ông Khăm Phết Lào - con trai thứ 10 của Ama Kông - cho biết: Ama Kông được gia đình đưa từ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đăk Lăk về nhà chiều 2.11, đến rạng sáng hôm sau thì ông tạ thế. Ngày 5.11, bà con, thân hữu, chính quyền địa phương đến tiễn biệt ông, dừng lại thật lâu trước từng kỷ vật.
Có mặt trong đoàn thăm viếng, ông Vũ Minh Thoại - Trưởng phòng Văn hóa Thông tin huyện Buôn Đôn - cho biết: “Chính quyền địa phương không tổ chức tang lễ cho cụ Ama Kông, vì tang lễ được tổ chức theo phong tục của đồng bào dân tộc bản địa. Tuy nhiên các ban ngành, đoàn thể của tỉnh Đăk Lăk, huyện Buôn Đôn đã đến viếng cụ, chia buồn cùng gia đình”.
Ama Kông tên thật là Y Prung Êban, còn Ama Kông là cách gọi theo phong tục địa phương - tức “bố của thằng Y Kông”. Theo hồ sơ căn cước thì ông sinh năm 1917, nhưng theo những người trong gia đình thì chính xác ông sinh ngày 28.1.1909 tại vùng Bản Đôn - nay là buôn Trí A, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk.
Ama Kông là người dân tộc MNông, gốc ở Pắk Xế (Lào), gia đình ông đến Bản Đôn lập nghiệp vào khoảng giữa thế kỷ XIX, vì vậy ông còn có tên Lào là Khăm Poong. Từ giữa thế kỷ trước, chàng thợ săn Y Prung Êban đã nổi tiếng là người có sức khỏe phi thường, săn được nhiều voi, giàu có và rất... đa tình. Ông làm thợ phụ trong các đoàn săn của Khun Su Nốp - người được Nhà vua Thái Lan phong tặng danh hiệu Vua săn voi - từ năm 13 tuổi.
Từ khi trở thành thợ chính vào năm 17 tuổi, Y Prung Êban liên tục tổ chức những chuyến săn kéo dài 20 - 30 ngày, sang tận vùng rừng Campuchia bắt voi. Và bao giờ cũng thế, khi tiếng tù và của Ama Kông vang lên, buôn làng biết chuyến săn của ông trở về thắng lợi - bắt được nhiều voi rừng.
Theo chiếc hũ hiện còn trong nhà Ama Kông, trong 70 năm săn bắt voi rừng, ông đã bắt và thuần dưỡng được tổng cộng 298 con voi. Đó là chiếc hũ có chứa 10 thanh gỗ, mỗi thanh dài 20cm, được vót tròn như chiếc đũa. Cứ mỗi con voi bắt được, người thợ săn lại khắc lên một thanh gỗ để làm dấu, đến khi bỏ nghề mới lấy ra kiểm đếm.
Ama Kông cũng từng đi săn với Vua Bảo Đại, từng tặng voi cho Nhà vua Thái Lan, Nhà vua Lào... Ngày 22.2.2008, ông vinh dự được Chủ tịch nước tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất, vì có thành tích đóng góp voi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Ông Y Kông - con trai cả của Ama Kông, năm nay 75 tuổi - cho biết: “Cha tôi rất muốn được bắt thêm 2 con nữa cho chẵn 300, nhưng năm 1985 Chính phủ có lệnh cấm săn voi rừng nên ông lui về nghỉ. Sau đó ông chuyển sang huấn luyện voi cho Vườn quốc gia Yók Đôn”. Với thành tích săn voi đó, Ama Kông được suy tôn là gru - dũng sĩ săn voi, Vua săn voi.
Ama Kông là người giàu có nhất vùng. Thời trai trẻ, ông xài tiền không tiếc tay. Ông từng bán voi mua xe Jeep, nhiều lần đi máy bay từ Buôn Ma Thuột vào Sài Gòn để... ăn chơi và đánh bạc.
Lại nữa, Ama Kông thạo chơi nhiều loại nhạc khí truyền thống của dân tộc mình, cả nhạc cụ của một số dân tộc khác ở Tây Nguyên. Và sự tài ba, giàu có, chất đa tình của chàng thợ săn dũng mãnh đã khiến nhiều người đẹp mê mệt.
Trong cuộc đời của mình, ông đã cưới chính thức 4 người vợ (trong đó một người kém ông 20 tuổi, một người kém ông 55 tuổi) và sinh được 21 người con (gồm 2 trai, 19 gái). Hiện số cháu, chắt của ông đã lên đến khoảng 200 người - sinh sống ở Tây Nguyên, Lào và cả Campuchia.
Ngoài sức khỏe hơn người, để đáp ứng được nhu cầu “yêu” của các bà vợ trẻ, Ama Kông còn có những bài thuốc chữa đau xương khớp, tăng cường sức khỏe, đặc biệt là bài thuốc tráng dương bổ thận nổi danh khắp thiên hạ.
Năm 1941, sau khi vợ cả HNố - vốn người cùng huyết thống - mất do chứng hậu sản, ông lấy em gái của vợ là bà HHốt theo tục nối dây của người MNông. Năm 1973, khi bà HHốt vừa sinh con út, Ama Kông đưa HBiai - một cô gái xinh đẹp kém ông 20 tuổi - về xin cưới làm vợ ba. Mọi người phát hoảng khi thấy HBiai dẫn theo một con gái đã... 5 tuổi.
Bà HHốt không chấp nhận, Ama Kông phải giao lại toàn bộ gia sản, tay không sang nhà HBiai, rồi nhanh chóng giàu có lại nhờ săn bắt voi. 10 năm sau bà này qua đời, nhưng Ama Kông không quay lại với HHốt mà cưới tiếp một cô gái 25 tuổi - lúc này ông đã 80 tuổi. Đó là đám cưới có một không hai ở vùng Bản Đôn.
Kể từ đó, Ama Kông không còn săn bắt voi, ngày ngày vào rừng hái thuốc tráng dương bổ thận về phục vụ cô vợ HKhăm, cũng là cách duy nhất có tiền chăm lo cho người đẹp.
Đến năm 2007, do bất đồng ngày càng trầm trọng, Ama Kông và HKhăm đã ly hôn, sau đó ít lâu bà HKhăm chết. Trong dịp sinh nhật lần thứ 100 của Ama Kông năm 2008, bà vợ hai HHốt mới “tha thứ” cho ông, quay lại chung sống cho đến ngày ông mất.
Ông Khăm Phết Lào cho biết, ngày 8.11 tới đây, Ama Kông sẽ được an táng tại khu nghĩa địa buôn Trí A, bên cạnh ngôi mộ của người vợ cả HNố. Mộ “vua” dự kiến được xây dựng với trị khoảng 300 triệu đồng, trong đó có 4 nồi đồng, 4 cặp ngà voi, 4 con chim công bằng... gỗ quý.
Cuộc đời Ama Kông là một huyền thoại sống, một biểu tượng của Tây Nguyên, được kết tinh bởi đại ngàn hùng vĩ. (Nông Thôn Ngày Nay 6/11)đầu trang(
Cuối tuần qua, tại Vườn quốc gia Ba Vì đã diễn ra chương trình “ Vì màu xanh trái đất” với sự góp mặt của hơn 320 em học sinh trường THCS Đoàn Thị Điểm, Hà Nội cùng gần 100 tình nguyện viên và các thầy cô giáo, phụ huynh học sinh.
Chương trình được thực hiện bởi Trung Tâm Hỗ trợ Giáo dục Thanh thiếu niên Việt Nam, với mục đích trồng 1 triệu cây phủ xanh rừng Ba Vì.
Đây là chương trình nằm trong hệ thống giáo dục ngoại khóa của Trung ương hội khuyến học Việt Nam giúp các em học sinh hiểu được tầm ảnh hưởng của thiên nhiên và lợi ích của việc trồng cây xanh. (Kinh Tế&Đô Thị 6/11)đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Năm 2011, lượng gỗ khai thác từ rừng trồng cả nước là 11 triệu m³. Để giải quyết đầu ra cho người trồng rừng, nhà nước cho phép các doanh nghiệp (DN) xuất khẩu cả chục triệu m³ gỗ dăm, đa số là gỗ tràm bông vàng, là nguyên liệu để chế biến gỗ MDF... Cũng trong năm 2011, các DN chế biến gỗ xuất khẩu lại nhập gần 4 triệu m³ gỗ nguyên liệu, tương đương khoảng 1 tỷ USD, trong đó có khoảng có 277 triệu USD từ ván gỗ MDF, ván ép và gỗ tràm để chế biến các đơn hàng xuất khẩu.
Do chính sách tín dụng chưa phù hợp, thời gian cho vay của ngân hàng không theo chu kỳ cây trồng nên bà con phải bán sớm để trang trải chi phí và trả nợ. Vì vậy, người trồng rừng tràm phải khai thác gỗ từ năm thứ 5 trở lại nên giá bán không cao, thay vì để thêm 2 - 3 năm nữa sinh khối gỗ tăng lên, giá bán sẽ cao hơn và nhiều hơn. Như vậy, người trồng rừng phải bán nguyên liệu với giá thấp trong khi DN phải nhập nguyên liệu gỗ, kể cả ván MDF với giá cao hơn rất nhiều để chế biến sản phẩm gỗ xuất khẩu. Đây chính là sự trái khoáy trong chính sách, không tạo ra được chuỗi cung ứng từ khâu trồng đến cung ứng cho DN chế biến để cả người trồng rừng và DN đều có lợi, giúp tạo ra thế cạnh tranh tốt hơn cho ngành chế biến gỗ xuất khẩu nước ta.
Nhiều người trong ngành cho rằng, nếu có chính sách, biện pháp phù hợp, kịp thời với chiến lược đúng đắn, ngành chế biến gỗ có thể đạt con số 15 - 20 tỷ USD trong 1-2 thập niên tới so với gần 4,5 tỷ USD năm 2012. Một trong những yếu tố cơ bản để phát triển bền vững là phải tự chủ nguồn nguyên liệu. Nếu xét về tiềm năng, trong 10 - 20 năm tới Việt Nam hoàn toàn có khả năng tự chủ nguồn nguyên liệu.
Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Hà Công Tuấn cho biết, khả năng đạt 22 triệu m³ gỗ nguyên liệu trong nước cung ứng cho nhu cầu chế biến gỗ vào năm 2020 là trong tầm tay. Với 800.000ha cao su, chu kỳ khai thác 25 năm, năm 2020 chỉ riêng cao su có thể khai thác 5 - 6 triệu m³ gỗ cao su nguyên liệu. Với 2,3 triệu ha rừng trồng, năm 2020 cung cấp 15 - 16 triệu m³. Chưa kể lượng gỗ phân tán cung cấp hàng chục triệu m³.
Tuy nhiên, điều này chỉ trở thành hiện thực khi nhà nước có giải pháp đồng bộ về chính sách cho người trồng rừng yên tâm, không phải khai thác sớm, cũng như việc tổ chức tốt và được quốc tế công nhận về cấp chứng chỉ rừng (FSC) để cung ứng cho ngành chế biến gỗ trong nước thay vì tiếp tục phải xuất khẩu dăm gỗ (thực chất là xuất thô - bán thành phẩm) như hiện nay. Có như vậy mới vừa phát triển ngành chế biến gỗ, vừa phủ xanh đất trống, đồi trọc và là nguồn sinh kế ổn định cho người trồng rừng.
Đây là bài toán cần sớm được giải quyết bằng chính sách. Nếu không có sự điều chỉnh phù hợp, tình trạng xuất khẩu dăm gỗ cả chục triệu m³/năm như hiện nay sẽ tiếp diễn và DN cần nguyên liệu gỗ vẫn phải tiếp tục nhập khẩu từ nước ngoài với giá ngày càng tăng trong bối cảnh, để bảo vệ môi trường, các nước nhập khẩu sản phẩm đồ gỗ ngày càng đưa ra nhiều quy định khắt khe về nguồn gốc nguyên liệu gỗ như đạo luật Lacey của Mỹ áp dụng bước đầu từ năm 2011, sắp tới là đạo luật Flegt mà các nước EU sẽ áp dụng trong năm 2013. (Sài Gòn Giải Phóng 5/11)đầu trang(
Khi chính quyền và nhà đầu tư không còn mặn mà, thậm chí “tháo chạy” khỏi thủy điện - đã để lại những câu hỏi lớn…
Thời gian gần đây, những tranh luận xung quanh câu chuyện thủy điện đã không chỉ dừng lại ở việc chỉ cho tạm dừng hay sẽ dừng hẳn không cho xây dựng thủy điện Đồng Nai 6 và 6A? Rồi, sẽ có hay không việc tích nước thủy điện Sông Tranh 2 - khi những trận động đất vẫn liên tiếp xảy ra trên địa bàn huyện Bắc Trà My?... Câu chuyện mới đây, khi chính quyền và nhà đầu tư không còn mặn mà với thủy điện, thậm chí quay lưng “tháo chạy” khỏi thủy điện - đã để lại những câu hỏi lớn hơn, những so sánh nhiều hơn về được/mất từ thủy điện, nhất là với thủy điện nhỏ.
Theo đánh giá của chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước về “Xây dựng chiến lược và chính sách năng lượng bền vững”, tiềm năng kỹ thuật thủy điện nước ta ước khoảng 123 tỷ kWh, tương đương công suất lắp đặt khoảng 31.000MW. Nếu trừ đi các tác động ảnh hưởng tới môi trường và kinh tế-xã hội, thì vẫn còn có thể khai thác được khoảng 20.000MW công suất từ nguồn thủy điện.
Bên cạnh 10 lưu vực sông chính để khai thác, phát triển thủy điện lớn thì một phần không nhỏ trong tiềm năng thủy điện Việt Nam còn nhờ vào những công trình thủy điện cỡ vừa và nhỏ, được xây dựng theo dạng bậc thang của hơn 2.000 sông, suối lớn nhỏ khác.
Tính đến nay, Việt Nam đã đầu tư, xây dựng và vận hành gần 30 công trình thủy điện lớn công suất trên 100MW, trên 200 dự án thủy điện vừa và nhỏ với tổng công suất tất cả nguồn thủy điện gần 10.000MW, tổng điện lượng trên 40 tỷ kWh. 40-50% trong số này đã được đưa vào khai thác.
Tính riêng sản lượng điện năm 2011 phát ra từ các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ đạt 7,845 tỷ kWh, chiếm 19% tổng lượng điện phát ra từ nguồn thủy điện, cung cấp 7% sản lượng điện toàn hệ thống. Nếu tính về lợi ích kinh tế của những kWh điện được sản xuất ra từ nguồn năng lượng có thể tái tạo được, trong điều kiện Việt Nam nhiều sông suối, ít nhiên liệu hóa thạch thì con số này quả là lớn! Tuy nhiên, cũng cần nhìn lại những cái mất mà nó mang đi, chúng ta phải đánh đổi từ thủy điện.
Một văn bản Bộ NN&PTNT vừa báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình chuyển mục đích sử dụng rừng sang xây dựng thủy điện trong giai đoạn 2006-2012, cho thấy: Từ năm 2006 đến nay, cả nước đã có 160 dự án (ở 29 tỉnh, thành phố) thực hiện việc chuyển gần 20.000ha đất rừng tự nhiên sang xây dựng thủy điện, trong đó hơn 3.000ha rừng đặc dụng, hơn 4.400ha rừng phòng hộ và gần 12.500ha rừng sản xuất. Thậm chí, diện tích rừng bị mất để xây dựng thủy điện có thể lớn hơn con số 20.000ha, bởi khi làm thủy điện sẽ kèm theo đất tái định cư, đất sản xuất...
Trong khi những cam kết phải trồng rừng bù lại của các dự án thủy điện còn chưa đạt được, vì thiếu tiền, thiếu cả đất để trồng bù; vì cho dù có trồng được đủ diện tích rừng tự nhiên đã bị đốn ngã cũng khó có thể tiệm cận với nơi mà nó có thể chống được sạt lở, hạn chế được lũ bão… thì thủy điện lại thêm một lần nữa làm đau đầu cơ quan quản lý, khi không chỉ chính quyền nhiều nơi cương quyết nói không với thủy điện nhỏ mà ngay cả nhà đầu tư tâm huyết giờ cũng “tháo chạy” khỏi chính những đứa con mà mình mất rất nhiều năm “ấp ủ, mang nặng đẻ đau” - những nhà máy thủy điện công suất 5MW-10MW-30MW, hay thậm chí nhiều hơn thế.
“Tháo chạy” là bởi đa số các công trình, dự án thủy điện nhỏ thuộc về các nhà đầu tư tư nhân vay vốn với lãi suất cao để đầu tư, nhưng khi đi vào hoạt động, lại bị “ông nhà đèn” ép giá, phải bán với giá thấp hơn nhiều so với quy định thực tế, trong khi thuế tài nguyên nước lại bị thu đủ theo giá điện - dẫn đến thua lỗ, phá sản. Những công trình đang triển khai đã thiếu vốn, khó vay vốn, trước tình cảnh này cũng không muốn tiếp tục đầu tư. Những nghi ngờ không ít chủ đầu tư lấy mục đích đầu tư thủy điện để “đốn rừng lấy gỗ” không phải không có lý. Nhưng vấn đề nhãn tiền là nhiều doanh nghiệp đang “tháo chạy” khỏi thủy điện còn bởi cơ chế nhiều bất cập.
Trong khi suất đầu tư cho mỗi nhà máy thủy điện nhỏ không hề nhỏ, trung bình phải vài chục tỷ đồng đổi lấy 1 MW - thì “cái chết lâm sàng” của nhiều dự án thủy điện ở miền Trung, Tây Nguyên thời gian gần đây cho thấy: đầu tư vào thủy điện nếu không tính toán kỹ, sẽ không chỉ là mất tiền, mất rừng, mất đất, mất đi sự bình an của một bộ phận người dân địa phương nơi có thủy điện… Nó còn mất đi cả sự bảo đảm cho an ninh năng lượng quốc gia, bởi chính sự phụ thuộc và niềm tin vào thủy điện.
Không chỉ những cơn đại hồng thủy giữa mùa mưa lũ cuốn đi cả hồ chứa nước của thủy điện Đắc Rông 3 hay Thủy điện Sông Tranh 2 làm xong không thể hoạt động… Nhìn lại thực tế những cơn đại hạn giữa mùa mưa 2 năm trước (năm 2010) khiến ngay cả những nhà máy thủy điện công suất lớn từ Bắc vào Nam như Hòa Bình, Thác Bà, Yaly… cũng phải “ngồi chơi” chờ trời cho nước.
Thủy điện, lợi ích khi nhìn từ sông từ suối thì khá dễ dàng. Nhưng lợi ích đạt được sau khi đã loại trừ những tác động của nó - cần phải cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng, thận trọng hơn. (Vov.vn 5/11)đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Ngà voi vẫn luôn được coi là biểu tượng của sự giàu sang của người Trung Quốc và nhu cầu ngày một tăng cao về mặt hàng này đã biến thành phố cảng Hồng Kông thành điểm trung chuyển chính cho những kẻ kinh doanh bất hợp pháp.
Hơn 20 năm sau khi quốc tế có lệnh cấm buôn bán ngà voi, ngành kinh doanh béo bở này vẫn phát triển mạnh. Tom Milliken, quan chức thuộc Tổ chức Giám sát kinh doanh động vật hoang dã (WTMN), cho biết, ngà voi được coi là sản phẩm xa xỉ giúp khẳng định vị trí xã hội của tầng lớp nhà giàu đang tăng ở Trung Quốc và "chúng tôi đang chứng kiến tình trạng săn giết voi và buôn bán ngà voi bất hợp pháp diễn biến hết sức tồi tệ trong 23 năm qua".
Và, Hồng Kông được cho là điểm trung chuyển chính cho những chuyến hàng ngà voi trong hành trình từ châu Phi đến tỉnh Quảng Châu - trung tâm kinh doanh ngà voi của Trung Quốc đại lục, bất chấp mọi biện pháp ngăn chặn của chính quyền địa phương. Sau khi đến được Quảng Châu, số ngà voi buôn lậu được gia công thành các tác phẩm nghệ thuật đủ mọi kiểu dáng và kích cỡ trong các nhà xưởng.
Bất chấp chính sách giám sát hết sức chặt chẽ của Cơ quan Thuế và hải quan Hồng Kông - tổ chức từng nhận được giấy khen về thành tích chống buôn lậu động vật hoang dã của CITES (Công ước quốc tế cấm khai thác và kinh doanh động thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng), việc ngăn chặn hoạt động buôn lậu ngà voi là vô cùng khó khăn. Theo quan chức Hải quan Hồng Kông, lượng hàng buôn lậu đi qua thành phố cảng lớn đến mức khó thể giám sát hết.
Từ năm 2010 đến 2011, Hải quan Hồng Kông đã bắt giữ được 20 lô hàng ngà voi bất hợp pháp tổng cộng gần 6.000kg, nhưng do khó truy nguyên những chuyến hàng này thuộc tổ chức buôn lậu nào nên chỉ có vài vụ bị truy tố vì vậy hiệu quả răn đe không cao. Tháng 11/2011, Hải quan Hồng Kông phát hiện 60kg đũa và vòng đeo tay gia công từ ngà voi cũng như một số chiếc sừng tê giác giấu bên trong một container chứa đầy phế liệu nhựa. Mặc dù xác định được đơn vị nhập khẩu lô hàng là một công ty có trụ sở tại Hồng Kông song chính quyền thành phố vẫn không có đủ bằng chứng để đưa vụ việc ra tòa án.
Khi hoạt động kinh doanh ngà voi bị cấm trên toàn thế giới vào năm 1989, nhiều tư thương và thợ khắc chuyển sang dùng ngà voi mammoth (hóa thạch) nhập từ Nga để thỏa mãn nhu cầu của người Trung Quốc, song dường như loại ngà này không được ưa chuộng và khó bán. Michael Lau, chủ cửa hàng Cho's Arts and Crafts trên đại lộ Hollywood ở Mỹ, cho biết người châu Á vẫn thích ngà voi hoang dã hơn sản phẩm hóa thạch. Theo báo cáo tháng 7/2012 của CITES, người Trung Quốc chi mạnh tiền bạc cho ngà voi dẫn đến tỷ lệ voi rừng bị sát hại bất hợp pháp tăng cao.
Cũng theo báo cáo của CITES, từ năm 2002 đến 2004 giá ngà voi thô bất hợp pháp tăng gấp đôi, từ 150 USD đến 300 USD/kg; và con số này tăng đến 700 USD/kg từ năm 2004 đến 2010. Còn theo dữ liệu của ETIS (Hệ thống Giám sát toàn cầu ngành kinh doanh ngà voi bất hợp pháp), từ năm 2009 đến 2011 số ngà voi buôn lậu bắt giữ được ở Trung Quốc là 29.000kg.
Tại một cuộc họp báo, Giới chức hải quan Hồng Kông trưng bày số ngà voi buôn lậu bắt giữ được.
Món lợi thu về cho bọn buôn lậu là rất lớn - năm 2011, giá ngà voi thô trên thị trường đen ở Trung Quốc đã tăng gấp 3 lần, từ 279 USD đến 900USD/500g. Trong khi chiếc ngà voi được chạm khắc cầu kỳ có giá đến hơn 1 triệu USD. Đại lộ Hollywood là điểm đến của những người giàu có muốn mua ngà voi. Đến với những cửa hàng đồ cổ và các showroom hiện đại trên đại lộ Hollywood, người mua có thể tìm thấy những món đồ trang sức bằng ngà voi được chế tác từ trước khi có lệnh cấm quốc tế vào năm 1989.
Theo Alice Chan, bà chủ của Prestige Craft, một trong những cửa hàng kinh doanh ngà voi có tiếng ở Hồng Kông, người Trung Quốc không hề tiếc tiền với mặt hàng ngà voi. Koon Yee-wan, nữ giáo sư khoa Nghệ thuật Đại học Hồng Kông, lập luận rằng nhu cầu về các sản phẩm ngà voi hiện nay phản ánh sự mê chuộng ngà voi từ ngàn xưa của người Trung Quốc. Dưới triều đại nhà Minh ở Trung Quốc, ngà voi được coi là thứ hàng hóa xa xỉ chỉ dành cho bậc thượng lưu trong xã hội. Trong xã hội hiện đại, ngà voi tiếp tục là biểu tượng cho sự thành đạt và thứ hàng hóa được giới văn nhân ưa chuộng.
Những nhà hoạt động bảo vệ môi trường thiên nhiên cho rằng chính quyền Trung Quốc có đủ sức mạnh để kiềm chế nhu cầu sở hữu ngà voi, nhưng có lẽ họ thiếu ý chí để thực hiện điều đó. Theo dữ liệu của Cơ quan Nghiên cứu môi trường (EIA), Trung Quốc đã trấn áp thành công hoạt động kinh doanh trái phép sừng tê giác vào đầu thập niên 90 thế kỷ trước và đó là bằng chứng cho thấy chính quyền nước này đủ sức để ngăn chặn mọi hoạt động buôn bán trái phép động vật hoang dã nếu muốn.
Hiện nay, phần lớn các chiến dịch nhằm làm giảm bớt nhu cầu về ngà voi ở Trung Quốc do các tổ chức phi lợi nhuận tiến hành với sự giúp đỡ của các nhân vật nổi tiếng như là ngôi sao bóng rổ Yao Ming của nước này. Trong khi chính quyền Trung Quốc đại lục chưa phát động chiến dịch triệt phá những đường dây buôn lậu ngà voi thì Hồng Kông đang cố gắng làm điều này để bảo vệ thanh danh của thành phố cảng. Và, cùng nỗ lực với nhà chức trách Hồng Kông trên mặt trận này là nhóm bảo vệ môi trường thiên nhiên gọi là WildAid. (Công An Nhân Dân 6/11) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa