Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 05 tháng 11 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải vừa ký văn bản chỉ đạo các địa phương khẩn trương kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng.
Đồng thời, huy động các lực lượng phát hiện và phòng cháy chữa cháy rừng kịp thời, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra. Đồng thời kiểm tra, giám sát việc trồng rừng thay thế đối với các dự án khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất có rừng sang xây dựng công trình thủy điện, khai thác khoáng sản và các công trình xây dựng khác; xử lý nghiêm đối với các sai phạm theo quy định…
Phó Thủ tướng giao Bộ NN&PTNT chủ trì, phối hợp với các bộ liên quan thành lập đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra tình hình thực hiện dự án trồng rừng thay thế tại các địa phương. Từ năm 2006 đến nay, cả nước đã có 160 dự án thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng rừng sang xây dựng thủy điện với diện tích 19.792ha. (Hà Nội Mới 5/11)đầu trang(
Mới đây, Bộ NN&PTNT có Thông tư 47 cho phép khai thác 160 loài động vật rừng phục vụ thương mại. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến lo ngại quy định này sẽ bị lợi dụng để hợp pháp hóa hoạt động săn bắn, nuôi nhốt động vật hoang dã (ĐVHD).
Ngày 12-10, hàng trăm con cá sấu tại trang trại của Công ty TNHH Kinh doanh - Chế biến thủy sản - Xuất nhập khẩu Quốc Việt bị sổng chuồng do sự cố sụp tường rào. Từ đó đến nay, việc truy lùng cá sấu sổng chuồng vẫn chưa kết thúc, cuộc sống của hàng nghìn hộ dân ở ấp Cây Trâm A (xã Bình Định, Tp. Cà Mau) bị đe dọa. Sự việc hàng trăm con cá sấu sổng chuồng chưa lắng xuống thì tại Đô Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, chính quyền địa phương cũng như các ngành liên quan đang phải tích cực vào cuộc truy tìm 4 cá thể hổ được cho rằng, người dân đang nuôi nhốt trái phép như nuôi lợn. Những sự việc trên cho thấy việc quản lý nuôi nhốt ĐVHD còn nhiều bất cập.
Ông Hà Công Tuấn, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT cho biết, trong lĩnh vực nuôi nhốt động vật hoang dã ĐVHD, nghị định của Chính phủ cũng như nhiều thông tư, văn bản quy phạm pháp luật khác đã quy định khá chặt chẽ về việc xử lý, chế tài xử lý. Thậm chí, về chuồng trại nuôi nhốt, lồng nuôi nhốt cũng đã có quy định cụ thể, chi tiết. Tuy nhiên, việc thực thi của các cơ sở nuôi nhốt cũng như cá nhân nuôi nhốt còn chưa được đảm bảo.
Vừa qua, Bộ NN&PTNT đã có Thông tư 47 quy định về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường, có hiệu lực từ ngày 9-11 tới đây. Theo ông Tuấn, Thông tư 47 nhằm thiết lập quy định pháp lý để đưa việc khai thác từ tự nhiên vào khuôn khổ, đồng thời lấp “khoảng trống” chế tài xử lý các vi phạm đang diễn ra trong nhiều năm qua.
Song, theo bà Vũ Thị Quyên, Giám đốc sáng lập Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV), trên thực tế, các cơ quan chức năng địa phương rất hạn chế trong việc định dạng chính xác các loài; những người khai thác, buôn bán, nhận nuôi vì mục đích thương mại lại càng thiếu kiến thức này. Vì vậy, việc khai thác và nhân nuôi vì mục đích thương mại chỉ nên hạn chế ở một số nhóm loài dễ dàng phân biệt, kể cả khi sống và chết. Còn một số loài có đặc điểm gần hay tương tự nhau như chim, cầy, chồn, rắn, thằn lằn... rất khó phân biệt thì chỉ nên cho khai thác vì mục đích nghiên cứu khoa học.
Ngoài ra, dù Thông tư 47 quy định không được khai thác thú rừng vì mục đích thương mại trong các vườn quốc gia khu bảo tồn thiên nhiên, nhưng một thực tế, đến nay, ý thức người dân trong việc bảo vệ ĐVHD chưa cao, nếu cho phép người dân vào rừng khai thác các loại động vật, do ý thức tự giác chưa cao nên gặp loài nào cũng bắt, dẫn đến nhiều loài động vật nằm trong danh mục cấm sẽ bị ảnh hưởng. (Công Lý 3/11)đầu trang(
Trên cơ sở nghiên cứu Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã có đề nghị gửi UBND TP Hà Nội.
Theo đó, để kết hợp phát triển kinh tế, xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh, Thứ trưởng đề nghị UBND TP Hà Nội trong quá trình tổ chức thực hiện quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn thành phố cần phối hợp chặt chẽ với Bộ Quốc phòng nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến quốc phòng, an ninh, không làm ảnh hưởng đến vị trí đứng chân của các đơn vị quân đội, công trình quốc phòng và quy hoạch tổng thể bố trí quốc phòng kết hợp phát triển kinh tế, xã hội đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2412/QĐ-TTg ngày 19/12/2011 trên địa bàn cả nước.
Căn cứ vào ý kiến của Bộ Quốc phòng, Phó Chủ tịch UBND Trần Xuân Việt giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu, bổ sung “Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030” theo ý kiến tham gia, chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, thống nhất trình thành phố phê duyệt. (Kinh Tế&Đô Thị 3/11)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Thời gian gần đây, dư luận rất quan tâm việc tỉnh Tây Ninh quy hoạch 365 ha đất rừng phòng hộ Dầu Tiếng làm vùng nguyên liệu phục vụ phát triển dây chuyền 2 Nhà máy Xi măng Fico Tây Ninh, có thể “có nguy cơ xóa sổ rừng phòng hộ Dầu Tiếng”. Bà Nguyễn Thị Thu Thủy- Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh- trao đổi xung quanh vấn đề này.
Từ năm 2003, tỉnh Tây Ninh chúng tôi đã có chủ trương tiếp nhận đầu tư Dự án xây dựng Nhà máy Xi măng nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phát triển công nghiệp địa phương và đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, đồng ý cho đầu tư xây dựng Nhà máy xi măng Tây Ninh công suất 1,4 triệu tấn/năm.
Đến tháng 11/2006, dây chuyền được khởi công xây dựng và đến tháng 12/2009, đã khánh thành nhà máy và chính thức đi vào hoạt động, sản xuất ổn định. Đối với dây chuyền 1, tỉnh Tây Ninh đã giao cho Cty CP Xi măng Fico Tây Ninh thuê 278,59ha đất; trong đó, có 105,06ha là đất để khai thác mỏ, hiện đã và đang khai thác trên diện tích 55,4ha và chuẩn bị khai thác mỏ diện tích 49,66ha cho giai đoạn 2.
Sang năm 2008, do nhu cầu xi măng của khu vực miền Nam thường chiếm khoảng 40% thị phần cả nước, trong khi các nhà máy xi măng chủ yếu nằm ở khu vực Bắc và Trung bộ nên hàng năm phải vận chuyển một lượng lớn clinker, xi măng từ Bắc vào Nam, cước phí cao, phương tiện và đi lại khó khăn. Nhận thức được tình hình, trên cơ sở đề nghị của Cty CP Xi măng Fico Tây Ninh, UBND tỉnh Tây Ninh thống nhất đề nghị Bộ Xây dựng bổ sung dự án dây chuyền 2 cho Nhà máy này vào Quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng.
Việc triển khai dây chuyền 2 này có nhiều điểm lợi: Tổng mức đầu tư giảm, khai thác tối đa thế mạnh của Tây Ninh về nguyên liệu; góp phần bình ổn thị trường khu vực phía Nam; giảm chi phí vận chuyển clinker, xi măng từ Bắc vào Nam ước khoảng 400 tỷ đồng/năm…
Bởi vậy, Chính phủ đã chấp thuận bổ sung dự án dây chuyền 2 Nhà máy Xi măng Fico Tây Ninh vào Quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Sau đó, Thủ tướng đã quyết định đưa dây chuyền 2 của Nhà máy xi măng Tây Ninh triển khai ở giai đoạn 2016- 2020 vào Quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và định hướng đến năm 2030.
Nhưng, dư luận lại băn khoăn nhiều về việc quy hoạch, sử dụng 365 ha đất lâm nghiệp phục vụ thăm dò, khai thác khoáng sản và các hoạt động của dây chuyền 2 này. Ý kiến của bà Thuỷ về việc này: Việc quy hoạch, bố trí sử dụng 365 ha đất lâm nghiệp ra ngoài quy hoạch lâm nghiệp giai đoạn 2011-2020 có đầy đủ các căn cứ pháp lý như Nghị quyết số 55/NQ-CP ngày 16/11/2009 của Chính phủ về xét duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối của tỉnh Tây Ninh; trong đó, có chuyển mục đích sử dụng 460 ha đất rừng phòng hộ; Quyết định số 1065/QĐ-TTg ngày 9/7/2010 của Thủ tướng về việc phê duyệt điều chỉnh bổ sung quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản làm xi măng ở Việt Nam đến năm 2020, nêu rõ vị trí 3 mỏ: Mỏ Sroc Con Trăng, mỏ Chà Và và mỏ Sroc Tâm được khai thác để cung cấp nguyên liệu cho nhà máy xi măng Tây Ninh.
Từ đó, tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quy hoạch và bảo vệ rừng giai đoạn 2011-2020; trong đó, có nội dung quy hoạch, bố trí sử dụng 365 ha đất lâm nghiệp của Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng phục vụ thăm dò, khai thác khoáng sản và các hoạt động dây chuyền 2 nhà máy xi măng Fico Tây Ninh. Diện tích này gồm 61 ha đất rừng non phục hồi trên trảng cây bụi, 100 ha đất trảng cây bụi có nhiều cây gỗ tái sinh tự nhiên, 79 ha rừng trồng, 104 ha đất chưa có rừng và 21 ha đất cây nông nghiệp chứ không hoàn toàn là rừng nguyên sinh như một số nguồn tin đã đưa.
Có thể khẳng định, việc quy hoạch 365 ha đất khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng ra ngoài quy hoạch lâm nghiệp giai đoạn 2011-2020 được thực hiện đúng trình tự, quy định của pháp luật. Diện tích này hiện tỉnh chưa giao cho Cty CP xi măng Fico Tây Ninh mà vẫn do Ban quản lý Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng thuộc Sở NN&PTNT quản lý, bảo vệ theo hiện trạng. Trước khi triển khai các dự án thuộc dây chuyền 2 nhà máy xi măng Fico, tỉnh sẽ mời các Bộ ngành liên quan, các chuyên gia đầu ngành đánh giá, xem xét toàn diện kết quả hoạt động dây chuyền 1, kết quả thăm dò đánh giá trữ lượng, phân tích hiệu quả kinh tế, đánh giá tác động môi trường…, một cách toàn diện rồi mới trình Bộ, ngành liên quan và Chính phủ xem xét quyết định.
Bà Thuỷ nói: Trước hết, tôi khẳng định một lần nữa rằng, việc thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất rừng phòng hộ sang thăm dò, khai thác khoáng sản, tỉnh Tây Ninh đã và sẽ thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
Vừa qua, một số phương tiện thông tin phản ánh Tây Ninh xóa sổ rừng phòng hộ Dầu Tiếng để làm dây chuyện 2 nhà máy xi măng Fico đã làm cho nhiều người không hiểu đúng bản chất vấn đề. Thực tế, Tây Ninh rất quan tâm đến việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; đặc biệt là giải quyết tốt tình hình bao, lấn chiếm và sử dụng đất lâm nghiệp không đúng mục đích. Đến nay, toàn tỉnh đã vận động, xử lý thu hồi được 3.816ha/4117 ha, đạt 92,6% diện tích đất lâm nghiệp bị bao, lấn chiếm sử dụng trồng cây sai mục đích để trồng lại rừng; tổng diện tích rừng đã trồng từ 2009 đến nay là 4.545 ha trong đó, riêng diện tích đã thu hồi thuộc Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng là 1.529ha và đã trồng rừng được 1804ha – diện tích trồng rừng lớn hơn diện tích thu hồi do trồng trên cả diện tích đất trống.
Trong việc xử lý hàng ngàn trường hợp bao, lấn chiếm đất lâm nghiệp như thế, chỉ có 3 trường hợp phải cưỡng chế thu hồi với diện tích là 11ha. Điều này minh chứng rằng Tây Ninh rất coi trọng việc bảo vệ tài nguyên rừng, chủ trương bảo vệ rừng, trồng rừng, phục hồi rừng chứ không phải là phá rừng. Riêng tại Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng, trong 3 năm qua diện tích rừng đã tăng thêm hơn 1.800 ha rừng trồng mới, đồng nghĩa với tính chất phòng hộ đối với hồ Dầu Tiếng được củng cố thêm. Hơn nữa, việc quy hoạch 365 ha đất lâm nghiệp – chỉ chiếm hơn 1% diện tích rừng phòng hộ - ở khá xa phía thượng nguồn… (Pháp Luật Việt Nam 5/11)đầu trang(
Tỉnh Đồng Nai hiện còn khu rừng phòng hộ ngập mặn với diện tích trên 8.611 ha, nằm tại hai huyện Long Thành và Nhơn Trạch. Đây là hệ sinh thái rừng ngập mặn có ý nghĩa rất quan trọng, có tác dụng giữ đất, ngăn gió chắn sóng, bảo vệ dân cư ven sông, ven biển. Ngoài ra, khu rừng này được coi là “lá phổi xanh” của khu vực Long Thành và Nhơn Trạch.
Theo điều tra mới nhất về tính đa dạng sinh học ở khu rừng ngập mặn này, nơi đây vẫn còn giữ được sự đa dạng về quần xã thực vật, gồm các kiểu sinh thái: quần xã cây bụi, quần xã cây Mấm, quần xã Đước và quần xã dừa nước. Trong đó, các loài thực vật đã thống kê được có 97 loài với 81 chi. Về đa dạng loại động vật, đã xác định có 6 loài thú, 52 loài chim, 14 loài bò sát, 8 loài lưỡng cư và còn nhiều loại động vật khác chưa được phát hiện.
Ông Lê Sỹ Tuấn, Ban Quản lý rừng phòng hộ Long Thành cho biết: Rừng ngập mặn này nằm dọc theo dòng sông Thị Vải giáp với huyện Cần Giờ, đây là khu vực bị tàn phá trong nhiều thập niên trước. Hiện nay, do nhu cầu phát triển kinh tế, hàng loạt cảng nước sâu, khu công nghiệp tập trung đã phát triển bên bờ sông Thị Vải, khu dân cư Nhơn Trạch đang hình thành, đường cao tốc Long Thành - Dầu Giây đang trong giai đoạn thi công. Sự phát triển của các công trình công nghiệp và dân sinh đã phát sinh các loại chất thải rắn và nguồn nước bị ô nhiễm do sinh hoạt đô thị và công nghiệp, diễn biến khí hậu phức tạp đã tác động thường xuyên, liên tục trên dòng sông Thị Vải. Đây là thách thức không nhỏ đối với rừng ngập mặn Long Thành.
Theo các nhà khoa học, biến đổi khí hậu và nhiệt độ môi trường tăng cao có thể làm cho rừng ngập mặn dịch chuyển lên những vùng vĩ độ cao hơn và thậm chí rừng sẽ không thể quang hợp được nếu nhiệt độ tăng quá cao. Hơn nữa nồng độ CO2 tăng cao cũng khiến các rặng san hô ven bờ bị suy thoái, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái rừng ngập mặn do thiếu mất rào chắn tự nhiên từ các rặng san hô này. Các nhà khoa học còn cho rằng, quá trình phát triển công nghiệp và đô thị sẽ phát sinh những hậu quả về môi trường như chất thải rắn, ô nhiễm nguồn nước, nên cần có sự đồng bộ và nhất quán trong quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội tại các địa phương theo hướng gắn với bảo vệ môi trường...
Ông Lê Sỹ Tuấn, Ban quản lý rừng phòng hộ Long Thành cho biết, tỉnh Đồng Nai đã đầu tư trên 3 tỷ đồng để triển khai mô hình trồng rừng, nhằm tạo sự đa dạng sinh học về loài và tạo mật độ thích hợp cho rừng ngập mặn từ nay đến năm 2014. Hiện nay, Ban quản lý rừng phòng hộ Long Thành đang thực hiện mô hình trồng thử nghiệm một số cây bản địa rừng ngập mặn thuộc dự án bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ. Mô hình được thực hiện trên khu vực có nhiều cây bụi, độ che phủ rừng thấp. Các loài cây được chọn trồng thử nghiệm gồm: gõ biển, su, dà và cây cóc vàng, với tổng diện tích trồng gần 70 ha.
Theo Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai, hệ sinh thái rừng ngập mặn phòng hộ Long Thành là một hệ sinh thái lồng ghép, có nhiều chức năng quan trọng, đó là chức năng ứng phó với biến đổi khí hậu, chức năng lá phổi xanh cho khu đô thị Nhơn Trạch, chức năng đa dạng sinh học đối với Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ, chức năng bảo vệ môi trường ven sông, ven biển.
Việc bảo vệ và phát triển được hệ sinh thái này theo hướng đa chức năng hoàn toàn không khó nếu chúng ta có giải pháp phù hợp. Vì vậy, trong công tác bảo vệ môi trường, Đồng Nai rất chú trọng quy hoạch kiến trúc không gian, quy hoạch hạ tầng cơ sở ở khu vực theo hướng gắn với bảo vệ đa dạng sinh học đối với khu rừng ngập mặn này và cân nhắc đưa việc bảo vệ rừng ngập mặn Long Thành lên hàng ưu tiên số một. (Tin Tức 5/11)đầu trang(
Ngày 2.11, Hạt Kiểm lâm liên huyện Trảng Bom - Thống Nhất (Đồng Nai) đã tiến hành bàn giao 2 cá thể linh trưởng vượn đen má hung cho Khu Bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai để cứu hộ, thả về môi trường thiên nhiên.
Trước đó, ngày 1.11, hạt kiểm lâm này đã kiểm tra hộ ông Phạm Viết Toàn (xã Gia Kiệm, H.Thống Nhất), phát hiện đang nuôi nhốt 2 con vượn đen má hung có trọng lượng từ 2 - 3 kg, là động vật rừng thuộc nhóm I B nên lập biên bản thu giữ. (Thanh Niên 3/11)đầu trang(
Ngày 2-11, Hội Động vật học Frankfurt - Trung tâm Cứu hộ linh trưởng nguy cấp (Vườn Quốc gia Cúc Phương, Ninh Bình) đã thả 2 con voọc mông trắng (một đực, một cái) về khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long (huyện Gia Viễn).
Đây là 2 trong số các cá thể voọc được cứu từ những vụ buôn bán động vật hoang dã, được chăm sóc tại Trung tâm Cứu hộ linh trưởng nguy cấp.
Thả voọc là một hoạt động nằm trong dự án tái hòa nhập voọc mông trắng vào tự nhiên do UBND tỉnh Ninh Bình thực hiện với mục tiêu tăng số lượng và nguồn gien di truyền cho quần thể voọc mông trắng tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long nói riêng và Việt Nam nói chung. Voọc mông trắng là một trong 4 loài linh trưởng đặc hữu của Việt Nam, có tên trong danh sách 25 loài linh trưởng nguy cấp hàng đầu thế giới của Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế. (Người Lao Động 3/11)đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Định Quán vừa phối hợp với các ngành liên quan tiến hành thả một con rắn hổ mang chúa nặng 3kg (do Công an tỉnh bàn giao) về rừng.
Trước đó, ngày 8-9, tại km42+100 quốc lộ 20 (thuộc địa bàn xã Ngọc Định, huyện Định Quán), Công an tỉnh đã bắt quả tang tài xế xe khách biển số 53N-6676 Đặng Trúc Phương đang vận chuyển một lượng lớn thú rừng, gồm: 7 con dúi, 1 con heo rừng nặng 20kg, 5 con cheo và 1 con rắn hổ mang chúa nặng 3kg. Tài xế Phương khai nhận, được một người thuê chở về TP.Hồ Chí Minh, nhưng không biết đó là hàng trái phép.
Vụ việc đã được Công an huyện khởi tố vụ án để điều tra làm rõ. (Báo Đồng Nai 3/11)đầu trang(
Trung tâm cứu hộ Động vật hoang dã - Vườn quốc gia Pù Mát (Nghệ An) đã tiến hành thả lô động vật 52 con gồm khỉ mặt đỏ, rùa, ba ba… về rừng vào ngày 1/11 vừa qua.
Ngày 1/11/2012, dưới sự giám sát, chứng kiến của Viện Kiểm sát huyện Con Cuông, Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Pù Mát, Trung tâm cứu hộ Động vật hoang dã - Vườn quốc gia Pù Mát đã tiến hành thả lô động vật do các Hạt Kiểm lâm trên địa bàn toàn tỉnh, Công an và các Trạm Quản lý bảo vệ rừng - Hạt Kiểm lâm Pù Mát bàn giao cho Trung tâm cứu hộ Vườn quốc gia Pù Mát với thành phần loài và số lượng gồm 52 con động vật các loại.
Trong đó, Rùa hộp trán vàng (Cuora galbilnirol) 7 cá thể; Rùa bốn mắt (Sacalia quadriocellata): 4 cá thể; Rùa mỏ vẹt (Platysternon megacephalum): 13 cá thể; Rùa đất lớn (Heosemys grandis): 1 cá thể; Rùa núi viền (Manouria impressa): 8 cá thể; Rùa đất Sê Pôn (Cyclemys tcheponensis): 14 cá thể; Rùa răng (Hiere mysannandalii): 1 cá thể; Ba ba gai ((Palea steindachneri): 2 cá thể và 3 cá thể Khỉ mặt đỏ(Macaca arctoides).
Các loài động vật trên trước khi thả về rừng đều đảm bảo sức khỏe để thích nghi với điều kiện sống ngoài tự nhiên và đã được thả vào Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt Vườn quốc gia Pù Mát. (Vnexpress.net 3/11)đầu trang(
Huyện Đồng Hỷ hiện có trên 24.000 ha đất lâm nghiệp, trong đó diện tích có rừng là hơn 23.000 ha, diện tích rừng dễ cháy gần 18.500 ha. Hiện nay, thời tiết đang bắt đầu bước vào mùa hanh khô nên nguy cơ xảy ra cháy rừng là rất lớn. Để đối phó với “giặc lửa”, các ngành chức năng của huyện đã chủ động tổ chức tuyên truyền và có kế hoạch về phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) đến các xã, thị trấn trên địa bàn.
Ông Đỗ Đức Thịnh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Hỷ cho biết: Huyện có 18 xã, thị trấn thì diện tích rừng tập trung chủ yếu ở các xã: Hợp Tiến, Văn Lăng, Khe Mo, Cây Thị…Để hạn chế tối đa những thiệt hại từ cháy rừng, ngay đầu mùa khô, huyện đã xây dựng phương án bảo vệ, PCCCR với phương châm: Phòng là chính, chữa cháy phải kịp thời, khẩn trương và có hiệu quả. Xác định từng vùng xung yếu và khó khăn riêng biệt của từng khu vực để có hướng chỉ đạo sát, đúng. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng kết hợp với các cuộc họp dân để triển khai lồng ghép thông báo nguy cơ cháy rừng, quy chế bảo vệ PCCCR đến cộng đồng dân cư và các chủ rừng.
Giữ vai trò là lực lượng nòng cốt trong công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR, Hạt Kiểm lâm huyện hiện có 27 cán bộ, trong đó có 14 cán bộ đã được bố trí, phân công chia thành 3 trạm kiểm lâm phụ trách địa bàn. Toàn huyện thành lập 20 ban quản lý bảo vệ và PCCCR với 187 thành viên, 225 tổ quần chúng bảo vệ rừng với gần 1.200 người. Mỗi xã, thị trấn đều có một Trung đội dân quân tự vệ gồm 30 người được huy động thường xuyên tuần tra canh gác PCCCR.
Với nhiệm vụ bám rừng, bám dân và bám chính quyền cơ sở, lực lượng này thường xuyên tuần tra, kiểm tra, kiểm soát các khu vực có nguy cơ xảy ra cháy. Phát hiện và xử lý nghiêm các vụ phá rừng, làm nương rẫy, vận chuyển lâm sản trái phép nên đã hạn chế được tối đa các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Từ đầu năm đến nay, huyện đã tổ chức được 14 lớp tập huấn, tuyên truyền phổ biến pháp luật về công tác chăm sóc, bảo vệ rừng cho gần 1.000 lượt người; Hạt Kiểm lâm huyện đã phát hiện và xử lý 38 vụ buôn bán, vận chuyển gỗ trái phép (giảm 65% so với cùng kỳ năm 2011), thu nộp ngân sách nhà nước gần 60 triệu đồng; toàn huyện không để xảy ra vụ cháy nào.
Kinh nghiệm của những năm trước đây cho thấy, một trong những yếu tố quyết định cho sự thành công của công tác PCCCR, đó là phương châm 4 tại chỗ (lực lượng tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ). Khi xuất hiện các điểm cháy, lực lượng này đã có mặt ứng cứu kịp thời và nhanh chóng dập tắt các đám cháy, không để lây lan ra diện rộng.
Năm nay, do lượng mưa ít nên mùa hanh khô được dự đoán là sẽ kéo dài và đó là điều kiện thuận lợi cho hiện tượng cháy rừng xảy ra. Do đó việc tăng cường PCCCR, đặc biệt là chủ động trong các tình huống cháy xảy ra được Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Hỷ quan tâm hàng đầu bằng cách luôn cử người thường trực ở các Trạm để tuyên truyền cảnh báo cháy rừng, đồng thời nhận thông tin ở cơ sở báo về khi có cháy rừng xảy ra, qua đó chỉ đạo các cán bộ ở dưới địa bàn để có biện pháp huy động lực lượng cứu chữa kịp thời.
Đối với các xã vùng cao, có diện tích rừng lớn như: Văn Lăng; Tân Long; Quang Sơn... là khu vực tập trung nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, thường xuyên đốt nương, làm rẫy nên thường có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao hơn các nơi khác. Lực lượng kiểm lâm của huyện đã phối hợp với cơ sở tuyên truyền, vận động người dân không phát rừng, làm nương rẫy bừa bãi, hướng dẫn kỹ thuật đốt nương, tạo đường băng cản lửa cho người dân và nghiêm cấm đốt vào những ngày nắng nóng, có gió...
Có thế thấy việc chủ động, triển khai các biện pháp PCCCR hợp lý, cụ thể và cấp bách đến các địa phương sẽ hạn chế thấp nhất tình trạng cháy rừng xảy ra. Tuy nhiên, ông Thịnh cũng cho rằng: Công tác này chỉ thực sự có hiệu quả khi mọi người dân coi đó là nghĩa vụ và trách nhiệm của mình. Các cấp ủy, chính quyền xã, thôn cùng vào cuộc và xử phạt nghiêm minh những đối tượng gây ra cháy rừng. (Báo Thái Nguyên 3/11)đầu trang(
2-11, tại Đồng Nai, Vụ Địa phương III thuộc Ủy ban Dân tộc đã tổ chức hội thảo về công tác bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững vùng dân tộc thiểu số cho Ban Dân tộc các tỉnh vùng Đông Nam bộ.
Tại hội thảo, các ý kiến tham luận đều cho rằng, để nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường tại các vùng dân tộc thiểu số cần đẩy mạnh tuyên truyền, gắn liền nhiệm vụ bảo vệ môi trường với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác, từng bước thực hiện tăng trưởng xanh. Cụ thể, các địa phương cần vận động người dân sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên rừng.
Tại Đồng Nai, chương trình bảo vệ môi trường ở nông thôn được lồng ghép trong nhiều phong trào đem lại kết quả khá cao. Hiện tỷ lệ hộ dân vùng nông thôn trong tỉnh sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 92%, số hộ có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh đạt 85,3%. (Báo Đồng Nai 3/11)đầu trang(
Số vụ cháy rừng trên địa bàn tỉnh giảm đáng kể trong mùa khô năm nay cho thấy tinh thần cảnh giác cao độ của các địa phương đối với “giặc lửa”. Việc bắt buộc người dân ký cam kết không sử dụng lửa vô tội vạ trong, ven và gần khu vực có rừng được xem như là biện pháp cứng rắn của ngành chức năng.
Thêm vào đó, sự ra đời của 14 trạm quan trắc khí tượng cảnh báo cháy rừng, xác lập bản đồ trọng điểm cháy rừng tại các địa phương có rừng đã giúp người dân nắm bắt thông tin nhanh nhạy hơn. Tuy nhiên, khép lại mùa khô hạn năm nay, Quảng Nam vẫn xảy ra 7 vụ cháy rừng, thiệt hại gần 85ha rừng trồng dự án của nhân dân. So với năm 2011, giảm 5 vụ nhưng diện tích thiệt hại tăng hơn 47ha. Khi xảy ra cháy rừng, lực lượng kiểm lâm từ tỉnh đến địa phương đều được huy động chữa cháy kịp thời. Nhiều vụ còn có sự hỗ trợ của lực lượng bộ đội, dân quân và người dân.
Ngành kiểm lâm cho biết, sở dĩ rừng trồng bị đe dọa nhiều hơn các loại rừng khác là do vật liệu cháy ở rừng sản xuất nhiều, loại cây rừng trồng lại dễ cháy nên việc dập tắt lửa gặp không ít khó khăn. Mặt khác, vị trí của rừng trồng nằm sát khu dân cư, nếu người dân sơ ý để lửa phát tán, hiểm họa cháy sẽ rất khó lường. Có một thực tế, đa số các vụ cháy rừng đều chưa tìm được thủ phạm. Riêng vụ cháy hơn 5ha rừng dự án KFW 6 tại tiểu khu 451 (thuộc thôn Phú Gia 1, xã Quế Phước, Nông Sơn) hồi tháng 6 vừa qua đã xác định danh tính của đối tượng gây cháy là bà Võ Thị Hậu (sinh năm 1980, trú tại thôn Phú Gia 1, xã Quế Phước, huyện Nông Sơn), hiện cơ quan chức năng đang xử lý. (Báo Quảng Nam 3/11)đầu trang(
4-11, Cục Khai thác và Bảo vệ Nguồn lợi thủy sản (Tổng cục Thủy sản, Bộ NN&PTNT), phối hợp với huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa) tổ chức chương trình “Rung chuông vàng” cho học sinh THCS một số xã ven biển, tìm hiểu về khu bảo tồn Hòn Mê (xã Hải Bình, Tĩnh Gia).
Hòn Mê là một trong 16 khu bảo tồn biển được Chính phủ quy hoạch đến năm 2020. Chương trình trên nằm trong các hoạt động tuyên truyền, giới thiệu về sự đa dạng phong phú về hệ thống động thực vật thủy sinh khu vực bảo tồn Hòn Mê; nâng cao hiểu biết của người dân, chính quyền các xã ven biển huyện Tĩnh Gia, nhằm bảo vệ và khai thác nguồn lợi bền vững. (Tiền Phong 5/11)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Hàng loạt cây rừng tên địa phương gọi là Chu - Ka bị người dân Quảng Ninh xâm hại, đốn hạ để lấy lá mang về bán cho các thương gia người Trung Quốc.
Theo thông tin từ người dân, phóng viên Dân Việt đã đi xuyên tuyến miền đông tỉnh Quảng Ninh để tìm hiểu việc hàng loạt cây rừng tên địa phương gọi là Chu - Ka bị người dân xâm hại, đốn hạ để lấy lá mang về bán cho các thương gia người Trung Quốc. Tại huyện Tiên Yên, từ Quốc lộ 18A, thuộc xã Đông Ngũ vào xã Đại Dực khoảng 10km, phóng viên ghi nhận được khoảng hơn chục điểm thu gom lá cây rừng kiểu này.
Chị Lý Thị Mai (45 tuổi, ngụ thôn Đông Hồng, xã Đông Ngũ) cho biết: Cách đây khoảng 1 tháng, một người chị họ làm ăn ở vùng biên về nhà bảo, chị đang thu gom lá Chu-Ka để bán cho thương nhân Trung Quốc. Theo người chị họ, giá lá tươi mua từ 3.000 đến 5.000 đồng/kg về phơi khô bán với giá 14.000 đến 22.000 đồng/kg. Trừ công sức bỏ ra cũng có lãi từ 3.000 đến 6.000 đồng/kg.
Từ đó, vợ chồng chị Mai bỏ bê việc đồng áng đi vào rừng thu gom lá Chu-Ka về bán. Mỗi ngày, chồng chị thu gom được khoảng hơn 1 tạ lá. Sau vài tháng thu gom, chị Lý Thị Mai tính toán hiệu quả gấp nhiều lần so với việc làm đồng nên từ già đến trẻ trong xã đều háo hức vào rừng tuốt lá.
Một nông dân thôn Đông Hồng kể việc bán lá kiếm bộn tiền nhưng thu gom được lá thì rất khó khăn. Sau một vài trường hợp trèo cây tuốt lá bị ngã, nhiều người đã dùng dao đốn hạ cây rừng để lấy lá. Theo tìm hiểu của phóng viên, Đông Ngũ chỉ có khoảng 500ha rừng tự nhiên nên việc thu gom lá này, bà con phải đi lấn sang nhiều cánh rừng lân cận để tìm lá.
Ông Đặng Huy Hậu - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh cho biết: Trước tình trạng thu gom ồ ạt lá Chu-Ka bất thường ở khu vực miền đông gồm: Huyện Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà, TP.Móng Cái của tỉnh ngày 1.11, UBND tỉnh đã có điện khẩn chỉ đạo cơ quan kiểm lâm và các thành phố, huyện miền đông kiểm tra, xác định rõ động cơ thu mua này báo cáo tỉnh xử lý. (Nông Thôn Ngày Nay 3/11)đầu trang(
Như đã đưa tin, vài tuần trở lại đây, tại các huyện miền núi biên giới của tỉnh Quảng Ninh gồm Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên, Hải Hà... người dân đua nhau vào rừng hái lá chu ka – theo đơn đặt hàng của thương lái Trung Quốc.
Trước thực trạng này, UBND các huyện trên đồng loạt có văn bản cấm người dân hái lá chu ka bán cho thương lái Trung Quốc.
Theo ông Nguyễn Minh Sơn – Phó Chủ tịch thường trực UBND huyện Ba Chẽ - huyện có lượng mua bán lá chu ka lớn nhất tỉnh: Lần đầu tiên chứng kiến người dân ào ạt lên rừng hái lá chu ka – một loại cây lâu nay vô giá trị – nên huyện hoàn toàn bất ngờ và hoài nghi. “Chúng tôi buộc phải ra lệnh cấm mua bán loại lá này để tìm hiểu loại lá này có công dụng gì và thương lái mua làm gì. Nếu không có vấn đề gì, huyện sẽ để bà con khai thác” – ông Sơn cho biết. Cũng theo ông Sơn, do lệnh mới ban hành được 1 ngày nên chưa biết bà con tuân thủ như thế nào, nhưng sẽ tuyên truyền sâu rộng tới các thôn bản.
Cũng ở trong tình trạng bất ngờ như Ba Chẽ, UBND huyện Tiên Yên nhanh chóng có lệnh cấm việc hái và mua bán lá chu ka. Ông Nguyễn Tiến Chộng – Chủ tịch UBND huyện Tiên Yên – cho biết ngay đầu tuần này sẽ cử một lực lượng vừa đi kiểm tra việc mua bán lá chu ka tại các thôn bản, vừa thuyết phục, vận động bà con không tham gia lên rừng hái lá chu ka. Ngoài ra, huyện cũng sẽ giao cho các cơ quan chuyên môn nghiên cứu, tìm hiểu thêm về công dụng cũng như những vấn đề liên quan đến việc mua bán loại lá này.
Trong khi đó, thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh Quảng Ninh, Chi cục Kiểm lâm tỉnh yêu cầu các đơn vị trực thuộc tăng cường kiểm tra, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hoạt động khai thác, mua bán, vận chuyển các loại cây, trong đó có chu ka.
Trong lần đi xuyên các tỉnh miền Đông của Quảng Ninh, ngày 31.10, chúng tôi đã bắt gặp hiện tượng lạ - lạ ngay với chính quyền và người dân sở tại: Dân lên rừng hái lá chu ka như “trẩy hội”, trong khi đây chỉ là loại cây “vô tích sự”. Chúng tôi cũng đã tham khảo các thầy lang, các chuyên gia đông y thì đều nhận được câu trả lời: Lá chu ka không phải là thảo dược.
Tuy nhiên, lợi nhuận cao, nguồn nguyên liệu dồi dào, dễ kiếm khiến dân làng lũ lượt đi hái lá chu ka, hoặc đứng ra làm đại lý thu mua để ăn phần trăm hoa hồng của các tư thương bên kia biên giới.
Có hộ mỗi ngày thu mua được từ 1 - 2 tạ lá chu ka tươi, với giá từ 3.000 đồng/kg. Cứ 3kg lá tươi thì được 1kg lá khô, xuất với giá 15.000 đồng/kg. Theo tính toán, mỗi ngày, người dân các huyện hái được hàng chục tấn lá chu ka tươi.(Lao Động 4/11)đầu trang(
Trưởng Công an huyện Khánh Sơn (Khánh Hòa) bị giáng chức xuống làm Phó Công an huyện và giáng cấp xuống trung tá, do mắc nhiều sai phạm nghiêm trọng, đặc biệt trong việc bảo vệ rừng.
Ngày 2.11, thượng tá Đậu Quang Tuyến - Trưởng Công an TP. Cam Ranh (tỉnh Khánh Hòa) xác nhận, ngày 1.11, Giám đốc Công an tỉnh Khánh Hòa đã công bố quyết định bổ nhiệm và điều động thượng tá Nguyễn Bá Đoàn (47 tuổi), nguyên Phó Trưởng Công an TP. Cam Ranh giữ chức Trưởng Công an huyện Khánh Sơn.
Trước đó, thượng tá Nguyễn Thành Trung bị kỷ luật giáng chức Trưởng Công an huyện Khánh Sơn xuống làm Phó Công an huyện và giáng cấp xuống trung tá, điều chuyển về công tác tại trại tạm giam công an tỉnh, do mắc nhiều sai phạm nghiêm trọng, đặc biệt trong việc bảo vệ rừng.
Mới đây, lãnh đạo huyện xác nhận, một số cán bộ công an “dính” vụ bảo kê, ăn chặn kỳ nam do phu trầm đào được ở rừng phòng hộ Gộp Ngà tối 26.9. Những cán bộ này đã nộp lại cơ quan chức năng hơn 1 tỷ đồng được chia từ tiền bán kỳ nam. (Nông Thôn Ngày Nay 3/11)đầu trang(
Sau loạt bài “Tận diệt thú rừng”, các cơ quan chức năng đã vào cuộc kiểm tra các điểm mua bán thịt thú rừng. Tuy nhiên, nhiều người vẫn cho rằng sẽ rất khó khăn để dẹp tình trạng này.
Ông Nguyễn Minh Cư (chánh văn phòng UBND thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước): Sau khi đọc thông tin trên báo Tuổi Trẻ, tôi bất ngờ trước việc tồn tại của điểm mua bán động vật hoang dã trái phép trên đường Nguyễn Huệ, phường Tân Thiện, thị xã Đồng Xoài. Tôi đã trực tiếp tham mưu chủ tịch UBND thị xã chỉ đạo kiểm tra điểm mua bán động vật hoang dã của vợ chồng ông Bình. Do phía trước không có biển hiệu kinh doanh, được ngụy trang giống như nhà người dân vùng nông thôn nên bình thường ai đi qua cũng không thể biết được đây là điểm tập kết, kinh doanh mua bán động vật hoang dã. Và việc ngụy trang này đã che giấu, qua mặt được cơ quan chức năng thời gian qua.
UBND thị xã Đồng Xoài không có chủ trương cũng như không cấp phép và nghiêm cấm các hộ dân, đơn vị tàng trữ, kinh doanh, mua bán động vật hoang dã, đặc biệt động vật hoang dã quý hiếm.
Ông Cao Văn The (phó chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Bình Phước): Chúng tôi đã từng nghe điểm mua bán động vật hoang dã của vợ chồng ông Bình và bà Hoa (đường Nguyễn Huệ thuộc phường Tân Thiện, thị xã Đồng Xoài) nhưng chưa kiểm tra vì không có đề bảng kinh doanh, còn phía trước nhà thấy... bình thường. Vả lại muốn kiểm tra phải được phép của chính quyền địa phương mới được vào nhà. Mà trong thời gian thực hiện các thủ tục lôi thôi này, chỉ cần thông tin “xì” ra thì đối tượng mua bán đã tẩu tán hết hàng hóa. Và như vậy có khi làm công cốc.
Ông Nguyễn Văn Triệu (chủ tịch UBND huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng): Chúng tôi đã trực tiếp chỉ đạo chi cục kiểm lâm, đội quản lý thị trường huyện kiểm tra, xác minh địa điểm kinh doanh thú rừng nhà bà Mai (ở ngã ba Tứ Quý, thuộc thôn 2, xã Lộc An) ngay trong chiều 2-11. Trong trường hợp phát hiện quán bà Mai có dấu hiệu buôn bán thú rừng sẽ xử lý nghiêm theo luật định.
Thực tế trước đó qua kiểm tra, nhiều chủ quán tỏ ra rất tinh vi, chỉ để hạn chế số lượng thú rừng trong quán, dùng thịt thú rừng nuôi như heo rừng, nhím rừng, kỳ đà để dễ chối tội khi có đoàn vào kiểm tra... nên chúng tôi rất khó khăn trong công tác thẩm tra, xác định.
Ông Nguyễn Đình Cương (chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP.HCM): Đơn vị đã phối hợp với chính quyền địa phương, các ngành hữu quan thường xuyên kiểm tra truy quét, kiên quyết xóa bỏ các địa điểm buôn bán thú rừng trên địa bàn. Nhưng trên thực tế có nhiều điểm nóng về động vật hoang dã tuy đã bị kiểm tra xử lý nhưng chỉ một thời gian sau vẫn tiếp tục hoạt động mua bán. Đây là do ý thức của những người mua bán còn thấp và do lợi nhuận của mặt hàng này khá lớn. Do vậy việc xóa các điểm nóng trên phải thực hiện liên tục và kiên quyết trong thời gian dài.
Tôi cũng hi vọng người dân cần nâng cao ý thức, góp phần bảo vệ động vật hoang dã. Bởi ngoài những thông tin của lực lượng chức năng phát hiện xử lý, thông tin tố giác từ phía người dân là hết sức cần thiết. Người dân có thông tin tố giác về nạn buôn bán động vật hoang dã trái phép liên lạc về số điện thoại (08) 38556274. Khi nhận được tin báo, Chi cục Kiểm lâm TP.HCM sẽ có lực lượng cơ động để kiểm tra, xử lý ngay. (Tuổi Trẻ 2/11)đầu trang(
Ban Quản lý rừng đặc dụng cảnh quan (QLRÐDCQ) Ðray Sáp (huyện Krông Nô, tỉnh Ðăk Nông) được giao quản lý hơn 1.409 ha đất rừng, trong đó có 1.203 ha rừng, còn lại là đất lâm nghiệp.
Ðể phủ xanh diện tích đất trống này, năm 2010, từ nguồn kinh phí của Chương trình 661, đơn vị đã ký hợp đồng giao khoán cho 60 hộ gia đình và một tổ chức tiến hành trồng và chăm sóc 55,10 ha rừng trong thời gian bốn năm. Kết quả năm thứ nhất, tỷ lệ cây sống đạt 96%, tương đương với diện tích 52,84 ha. Hiện nay, diện tích rừng trồng năm 2010 này đang phát triển xanh tốt.
Sau khi Chương trình 661 chấm dứt, với quyết tâm phủ xanh diện tích đất còn lại của Khu rừng đặc dụng cảnh quan Ðray Sáp, năm 2011, Ban QLRÐDCQ Ðray Sáp đã được UBND tỉnh Ðác Nông phê duyệt dự án trồng thêm 60 ha rừng với tổng kinh phí hơn một tỷ đồng, trong đó nguồn vốn đầu tư của Trung ương theo Quyết định 60/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là 600 triệu đồng, nguồn vốn hỗ trợ của địa phương là hơn 459 triệu đồng. Triển khai thực hiện dự án, Ban QLRÐDCQ Ðray Sáp đã ký hợp đồng giao khoán cho 55 hộ gia đình ở xã Nam Tân, huyện Krông Nô và một tổ chức trồng và chăm sóc. Kết quả năm thứ nhất, tỷ lệ cây sống đạt 94,8%, tương đương 56,85 ha.
Tuy nhiên, kể từ khi hoàn thành việc trồng rừng năm 2011 đến nay đã hơn một năm, nhưng Ban QLRÐDCQ Ðray Sáp chỉ mới được bố trí nguồn vốn của Trung ương là 600 triệu đồng, còn nguồn kinh phí hỗ trợ của địa phương hơn 459 triệu đồng vẫn chưa được tỉnh bố trí để thanh lý hợp đồng tiền công trồng và chăm sóc rừng cho 55 hộ dân và một tổ chức nhận khoán trồng rừng. Vì vậy, các hộ dân tham gia trồng rừng đã không ký hợp đồng chăm sóc năm thứ hai và các năm tiếp theo. Bên cạnh đó, một số hộ dân không thực hiện chăm sóc rừng, nhất là một số hộ nhận khoán trồng, chăm sóc rừng còn thể hiện thái độ không đồng tình và phản ứng hết sức gay gắt, lén lút thực hiện các hành vi phá hoại rừng trồng trong Khu rừng đặc dụng cảnh quan Ðray Sáp.
Giám đốc Ban QLRÐDCQ Ðray Sáp Võ Văn Tâm lo lắng: Do nguồn vốn của tỉnh chưa bố trí cho Ban để thanh lý hợp đồng trồng rừng năm 2011 cho các hộ dân nhận trồng cho nên trong tháng 7 vừa qua, nhiều hộ dân ở thôn Nam Tân, xã Nam Ðà, huyện Krông Nô đã có những việc làm ảnh hưởng tới chất lượng cây trồng như nhổ cây và phun thuốc cỏ làm cây chết...
Ðặc biệt, hộ gia đình ông Nguyễn Ban, ở thôn Nam Anh, xã Nam Ðà, huyện Krông Nô đã thuê người sử dụng máy cắt cỏ cắt sạch 1,87 ha rừng đặc dụng cảnh quan Ðray Sáp đã một năm tuổi tại lô a, khoảnh 9, tiểu khu 1244 đã nhận trồng trước đó, với tổng số cây bị phá trắng là 1.763 cây, bao gồm các loại dầu rái, sao đen và keo lá tràm. Trước việc vi phạm pháp luật bảo vệ rừng này, Ban QLRÐDCQ Ðray Sáp đã tiến hành lập biên bản, đồng thời buộc gia đình ông Ban phải mua cây giống mới tiến hành trồng lại toàn bộ diện tích trên trong mùa mưa năm nay.
Giám đốc Ban QLRÐDCQ Ðray Sáp Võ Văn Tâm cho biết: Chúng tôi đã nhiều lần phối hợp chính quyền địa phương tổ chức họp dân để giải thích về việc nợ kinh phí trồng và chăm sóc rừng trong năm 2011 của các hộ dân, để người dân yên tâm chăm sóc rừng năm thứ hai, nhưng người dân liên tục gọi điện để đòi nợ.
Hiện nay, các hộ dân đã nhất trí tiếp tục chăm sóc rừng trồng năm 2011 với điều kiện chủ rừng phải hoàn tất việc thanh toán và thanh lý hợp đồng trồng và chăm sóc rừng trồng cho họ, nếu không sẽ không chịu trách nhiệm về chất lượng cây đã trồng. Trước thực trạng này, Ban QLRÐDCQ Ðray Sáp đã nhiều lần gửi văn bản về Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh để hối thúc UBND tỉnh bố trí nguồn vốn nói trên nhưng đến nay vẫn chưa được bố trí.
Do đó, Ban QLRÐDCQ Ðray Sáp vẫn chưa biết lúc nào mới được bố trí nguồn vốn để... trả nợ tiền trồng rừng đặc dụng cảnh quan cho người dân, trong khi đó các hộ dân nhận trồng rừng vẫn ngày đêm... đến đòi nợ. Mặc dù số kinh phí nói trên không lớn, nhưng việc UBND tỉnh Ðác Nông chậm bố trí cho Ban QLRÐDCQ Ðray Sáp để trả tiền công trồng và chăm sóc cho các hộ dân đã gây khó khăn cho đơn vị trong công tác trồng và chăm sóc rừng trồng cũng như công tác quản lý, bảo vệ rừng ở Khu rừng đặc dụng cảnh quan Ðray Sáp, một khu rừng quý hiếm còn sót lại ở Ðác Nông.(Nhân Dân 3/11)đầu trang(
Các dự án thủy điện, công trình đầu tư phát triển miền núi đã xâm hại đáng kể diện tích rừng tự nhiên của tỉnh, nhưng trách nhiệm trả lại màu xanh cho rừng thì dường như vẫn còn bỏ ngỏ. Đã đến lúc cần sự vào cuộc mạnh mẽ của các ngành, các địa phương.
Cái lợi mà các dự án thủy điện, công trình phục vụ phát triển miền núi đem lại là điều không thể phủ nhận, nhưng mặt trái của nó là tàn phá rừng, ảnh hưởng đến môi trường, đe dọa đa dạng sinh học cũng không hề nhỏ. Có một thực tế, dự án nào, công trình nào ở miền núi cũng vẽ ra những “viễn cảnh” tốt đẹp rằng rừng xanh bị lấy đi rồi sẽ phục hồi trong ngày mai. Bản đánh giá tác động môi trường trong các dự án thủy điện, khai khoáng luôn thể hiện trách nhiệm trồng lại rừng của chủ đầu tư, với lộ trình thực hiện rất chi li. Vậy nhưng, giữa lời hứa và thực hiện vẫn còn khoảng cách quá xa. Vì sao chủ đầu tư lại thờ ơ với nghĩa vụ trồng rừng thay thế? Trả lời cho câu hỏi này không khó, bởi suốt thời gian dài chính quyền các địa phương đã không làm hết vai trò kiểm tra, giám sát việc thực thi các chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với doanh nghiệp.
Theo báo cáo mới nhất của ngành chức năng, tổng diện tích rừng bị thu hồi để thực hiện các dự án thủy điện đến nay hơn 7.000ha. Chưa kể mới đây, hơn 800ha rừng phòng hộ đầu nguồn sông Tranh phải chuyển đổi mục đích để người dân ở xã Trà Bui (Bắc Trà My) có đất sản xuất. Ngoài ra, khi mở các đường công vụ, đường tránh quốc lộ 14E, xây dựng Nhà máy Thủy điện Đắc Mi 4… đã vùi dập hơn 1.000ha đất nương rẫy của người dân, càng tạo thêm áp lực vào rừng lấy đất sản xuất. Trong số diện tích đất rừng và đất khác của các huyện miền núi bị thu hồi để phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ công tác bảo đảm an ninh quốc phòng thì đất thu hồi để xây dựng các nhà máy thủy điện chiếm khoảng gần 35%.
Theo quy định, khi lấy đi bao nhiêu diện tích rừng thì chủ đầu tư có trách nhiệm trồng lại chừng ấy rừng. Tuy nhiên, thực tế, việc trồng lại rừng còn khá khiêm tốn. Đến thời điểm này, một số dự án thủy điện được UBND tỉnh phê duyệt phương án trồng rừng thay thế như các thủy điện Sông Cùng 2, Sông Bung 4, Sông Bung 5, Đắc Mi 4, A Vương…, nhưng theo thống kê, chỉ có gần 300ha được chủ đầu tư trồng mới và khoanh nuôi tái sinh rừng. Công ty CP Thủy điện Geruco Sông Côn 2, dù đã có phương án trồng rừng thay thế được phê duyệt, nhưng vẫn chưa chịu chi trả kinh phí hơn 3,3 tỷ đồng để Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Côn thực hiện trồng thay thế 70ha rừng. Nhà máy thủy điện A Vương chỉ mới bỏ ra hơn 200 triệu đồng cho chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn xã Ma Cooih (Đông Giang)…
Trong khi đó, các nhà máy khai thác khoáng sản trong bản đánh giá tác động môi trường đều có phương án trồng rừng thay thế, song đến nay vẫn án binh bất động. Tại Phước Sơn, theo ghi nhận của chúng tôi, hiện vẫn chưa có nhà máy nào triển khai trồng lại rừng trên diện tích đã khai thác xong. Một cán bộ lâm nghiệp của Chi cục Lâm nghiệp tỉnh thông tin: “Mỗi lần kiểm tra, chúng tôi đều nhắc nhở họ phải khẩn trương trồng lại rừng nhưng rồi đâu lại hoàn đó. Nguyên nhân doanh nghiệp chây lỳ là các biện pháp chế tài xử phạt chưa nghiêm khắc”.
“Điểm nóng” xảy ra trong thời gian gần đây ở các địa phương miền núi là tình trạng xâm hại rừng tự nhiên để mở rộng diện tích đất sản xuất, đặc biệt là trồng cây cao su. Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, từ đầu năm đến nay lực lượng chức năng phát hiện 233 vụ phá rừng trái phép với diện tích 404ha. Điển hình, huyện Tiên Phước có 137ha rừng bị xâm hại trái phép, Núi Thành với 75ha, khu vực hồ chứa nước Đông Tiển (Thăng Bình) thiệt hại 49ha rừng, xâm lấn 47ha khu vực rừng phòng hộ A Vương (thuộc khu tái định cư Cút Chơ Run, Đông Giang)… Lực lượng kiểm lâm đã khởi tố 14 vụ, chuyển cơ quan công an tiếp tục điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Theo nhận định của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, điểm yếu phát sinh nhiều bất cập trong các dự án trồng cây cao su là chưa có quy hoạch tổng thể, phần lớn các dự án triển khai trồng cao su thời gian qua đều vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Ở nhiều nơi trồng cao su, người dân còn bị mất đất sản xuất; tình trạng phá rừng để lấy đất sản xuất, chờ đền bù khi Nhà nước có chủ trương trồng cao su là thực trạng đáng lo ngại ở các huyện miền núi. Trong khi đó, việc quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch 3 loại rừng (đặc dụng, phòng hộ và sản xuất) chưa phù hợp, chậm điều chỉnh, bổ sung và một phần do áp lực về nguồn nguyên liệu nên người dân thiếu đất sản xuất...
Ông Phan Tuấn - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, sắp đến, ngành kiểm lâm sẽ có cuộc tổng rà soát lại tất cả dự án tác động vào rừng tự nhiên, đặc biệt các dự án trồng cây cao su. Theo đó, sẽ kiểm tra lại toàn bộ diện tích đã hoàn tất hoặc chưa làm thủ tục hồ sơ pháp lý; chỉ đạo các hạt kiểm lâm trực thuộc cương quyết xử lý các trường hợp sai phạm. “Chúng tôi đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các ngành và địa phương giám sát việc triển khai thực hiện các dự án có tác động đến rừng và đất rừng theo đúng quy định, đồng thời hạn chế tình trạng lấy đất đang sản xuất của người dân để trồng cây cao su” - ông Tuấn nói. (Báo Quảng Nam 3/11)đầu trang(
Ông Nguyễn Tiến Dũng, Phó chủ tịch UBND xã Trường Sơn (Quảng Ninh) cho biết, UBND xã vừa có tờ trình số 37/TTr-UBND gửi UBND tỉnh kiến nghị về việc thu hồi 3.163 ha diện tích đất trồng rừng của Lâm trường Trường Sơn, Lâm trường Khe Giữa và Ban quản lý rừng phòng hộ Long Đại để giao cho người dân trong xã sản xuất.
Trước đó, theo nguyện vọng của người dân, UBND xã Trường Sơn đã có tờ trình số 26/TTr-UBND ngày 29-8-2011 gửi UBND tỉnh, UBND huyện Quảng Ninh và các sở ngành có liên quan về việc kiến nghị thu hồi một phần diện tích đất rừng của một số lâm trường để giao cho người dân sản xuất.
Sau khi có chỉ đạo của UBND tỉnh về vấn đề này, ngày 7-2-2012, UBND huyện Quảng Ninh đã có quyết định thành lập ban chỉ đạo, tổ giúp việc kiểm tra phối hợp với Trung tâm Quy hoạch địa chính tỉnh rà soát trạng thái đất, rừng tại xã Trường Sơn.
Qua 3 đợt kiểm tra rà soát, các thành phần tham gia rà soát nói trên đã thống nhất đề nghị thu hồi 3.163,3 ha diện tích đất rừng do Lâm trường Trường Sơn, Lâm trường Khe Giữa và Ban quản lý rừng phòng hộ Long Đại đang quản lý để giao cho UBND xã Trường Sơn bàn giao lại cho người dân sản xuất. Cụ thể, số diện tích đất rừng của Lâm trường Trường Sơn cần được thu hồi là 1.194ha; Lâm trường Khe Giữa 401,9ha và Ban quản lý rừng phòng hộ Long Đại 1.567,6ha. (Báo Quảng Ninh 3/11)đầu trang(
Liên quan đến loạt bài phá rừng trồng cao su ở Nông Sơn (Quảng Nam) đăng trên Tiền Phong (số ra ngày 30 và 31-10-2012), phóng viên có buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Quảng Nam cùng Sở NN&PTNT. Cả hai cơ quan này khẳng định chỉ biết vụ việc khi đọc báo .
Chiều 1-11, trao đổi với phóng viên Tiền Phong, ông Nguyễn Thanh Quang – GĐ Sở NN&PTNT Quảng Nam, cho biết: Tỉnh đã chỉ đạo Sở thành lập đoàn liên ngành kiểm tra thực tế tại xã Quế Lâm (huyện Nông Sơn) về những nội dung mà báo Tiền Phong đã phản ánh.
Thành phần gồm các Chi cục Lâm nghiệp, Kiểm lâm và Sở TN&MT phối hợp cùng UBND huyện Nông Sơn, xã Quế Lâm, Quế Ninh kiểm tra hiện trạng sử dụng đất rừng trên diện tích hơn 4 ngàn ha đất mà tỉnh đã có chủ trương cho Cty Cao su Quảng Nam quy hoạch trồng cao su.
Ngoài ra, đoàn cũng sẽ kiểm tra, rà soát lại quy trình, thủ tục cấp đất, cho thuê rừng của chính quyền cho Cty cao su.
Với câu hỏi chỉ mới có chủ trương, chưa quyết định thu hồi, cho thuê đất nhưng Cty vẫn chặt phá hơn 500ha rừng để trồng cao su, lãnh đạo Sở NN&PTNT cho rằng đó là trách nhiệm của Sở TN&MT.
“Chúng tôi chỉ quan tâm đến lĩnh vực họ tác động như thế nào đến các loại rừng, còn chuyện thủ tục, chắc là họ phải có đầy đủ rồi mới dám chặt cây, dọn dẹp để trồng chứ. Tôi khẳng định, nếu họ (Cty cao su) động vào một ha rừng tự nhiên, đặc dụng, rừng trồng 661…, tôi sẽ đề nghị xử lý nghiêm” - ông Quang nói.
Theo “phỏng đoán” của ông Quang, có lẽ do Cty cao su bị áp lực trồng cao su đúng kỳ hạn nên mới làm liều chăng ? Hỏi chuyện quy hoạch 17 ngàn ha ở khu Nà Lau cho bảo tồn voi, ông Quang cho biết toàn bộ diện tích mà tỉnh chủ trương (khoảng 4 ngàn ha) cho việc chuyển đổi rừng để trồng cao su đều là rừng sản xuất, không chạm đến vùng quy hoạch bảo tồn.
Ông Nguyễn Ngọc Quang – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam tỏ ra khá gay gắt vì những thông tin trên báo Tiền Phong.
“Có 2 khái niệm mà tôi thấy báo chí bị lẫn. Thứ nhất là đất rừng, thứ hai là rừng. Không ai cấp giấy cho người ta đi phá rừng, toàn bộ những việc liên quan đến rừng Quảng Nam tôi kiểm soát hết. Đầu tiên là quy hoạch, không thể mang dao mang búa vào rừng phang lung tung ở trong ấy được. Đất rừng tôi quy hoạch thành rừng sản xuất. Đất rừng có độ dốc thì tôi quy hoạch thành rừng phòng hộ. Trên đó không có rừng tự nhiên nữa, chỉ có vài cái cây thôi. Cũng không có rừng đặc dụng nữa”.
Tuy nhiên, trong Quyết định 48 (của UBND tỉnh năm 2007 do chính ông Quang ký) có gần 15 ngàn ha rừng đặc dụng ở xã Quế Lâm, số còn lại là rừng phòng hộ, sản xuất và tự nhiên.
Giám đốc Sở NN&PTNT cũng thừa nhận là có diện tích rừng dầu rái tự nhiên hiện người dân đang chăm sóc, khai thác.
Khi phóng viên đề cập sự việc 3 người dân bị phạt tù vì phá rừng đặc dụng ngay trên đất trồng cao su, ông Quang nói: Họ phá rừng thì bị xử là đúng rồi. Còn “ông” cao su đã có chủ trương, thủ tục đàng hoàng!.
Phó Chủ tịch tỉnh Quảng Nam khẳng định: “Toàn bộ việc này “ông” Cty cao su đã có chủ trương, có quy định cho phép chứ ông ấy không ngang nhiên. Công văn của tỉnh đồng ý như vậy thì ông ấy phải thuê tư vấn khảo sát rồi được cấp giấy chứng nhận đầu tư, thỏa thuận với dân, xong đâu đó mới đến các bước thủ tục khác để có quyết định cho thuê đất. Tôi nghĩ là họ có cả rồi đấy”.
Khi PV cho biết Đoàn giám sát HĐND huyện Nông Sơn kết luận là Cty cao su chưa hoàn thành thủ tục, ông Quang liền gọi ngay cán bộ liên quan, nhưng sau đó cho hay ông cán bộ này nói sẽ báo cáo sau.
“Không thể có chuyện mới có chủ trương mà đã ngang nhiên đi phá rừng như thế, như các anh nói thì chính quyền chả có vai trò gì à, chỉ có Cty cao su ngang nhiên múa dao trong rừng thế à”.
Nói về trách nhiệm, ông Nguyễn Ngọc Quang kết luận: Tôi ký chủ trương không có nghĩa cho họ phá rừng. Cái này, trước hết thuộc về UBND huyện Nông Sơn, sau đó Sở NN&PTNT rồi đến các ngành dọc khác như kiểm lâm, TN&MT... “Có phân cấp quản lý chứ, cái gì cũng quy cho tôi sao được” – ông Quang nói. (Tiền Phong 3/11)đầu trang(
Nhận tin từ bạn đọc, vượt trời mưa tầm tã, chúng tôi lội vào rừng Hóc Độ (thuộc thôn 4, xã Tiên Phong, huyện Tiên Phước) - nơi mà cánh rừng gỗ bạch đàn vừa bị đốn hạ nằm la liệt. Khi chúng tôi có mặt tại hiện trường cũng là lúc đoàn kiểm tra của xã Tiên Phong đang thuê ô tô vận chuyển toàn bộ số gỗ đã bị khai thác trái phép về trụ sở UBND xã chờ xử lý.
Thời điểm năm 1993-1994, khu vực núi Hóc Độ được Nhà nước triển khai dự án trồng rừng PAM 2780. Cây đến tuổi thu hoạch, địa phương đã khai thác bán lần đầu, bây giờ rừng cây tái sinh có đường kính từ 30cm trở lên, nằm phân tán nhiều khu vực.
Ngày 27.10, người dân thôn 4 phát hiện ông Bùi Văn Thanh, cán bộ phụ trách văn hóa xã Tiên Phong dẫn theo một nhóm người vào khai thác rừng ở Hóc Độ. Nghi ngờ nhóm người khai thác trái phép, người dân điện báo chính quyền địa phương. Ngay lập tức, đoàn cán bộ xã đến làm việc, lập biên bản hiện trường. Ông L.V.T, nhà ở cạnh rừng nên nắm bắt tường tận vụ phá rừng trái phép ở Hóc Độ. “Cách đây khoảng 5 ngày, tôi thấy ông Thanh dẫn theo một nhóm 4 - 5 người vào rừng khai thác. Rừng của Nhà nước mà người ta phá như chốn không người, dân ở đây ai cũng biết có cán bộ xã tham gia triệt hạ cây rừng” - ông Tri nói.
Theo nhiều người dân thôn 4, Hóc Độ là rừng phòng hộ tái sinh. Trong nhiều cuộc họp với đại biểu HĐND các cấp, người dân mong muốn được nhận giao khoán, trồng và phát triển rừng để rừng được bảo vệ tốt hơn. Tuy nhiên, lãnh đạo xã khẳng định, rừng phòng hộ đầu nguồn Tiên Phong do Nhà nước quản lý, cần được bảo vệ nghiêm ngặt nên không thể giao khoán.
Ông Phan Đức Trung - Phó Chủ tịch UBND xã Tiên Phong cho biết, rừng cây tái sinh từ dự án 2780 có 3 khoảnh khác nhau và không liền kề nhau. Chỉ có khoảnh nằm ở giữa là còn nhiều cây trồng tập trung với diện tích 2,5ha, là khu vực có 3 nhóm hộ (mỗi nhóm từ 7 - 9 hộ) có hợp đồng giao khoán, bảo vệ rừng. Khi khai thác người dân hưởng lợi 60% và trích 40% nộp cho ngân sách xã. Ngày 16.10, chính quyền địa phương mở thầu bán đấu giá cây rừng trên diện tích 2,5ha. Ông Huỳnh Văn Nam, quê ở xã Tam Lãnh (Phú Ninh) đã trúng thầu với giá hơn 158 triệu đồng. Trong thời gian 1 tháng, ông Nam có trách nhiệm khai thác xong, bàn giao mặt bằng cho địa phương.
Theo lãnh đạo xã Tiên Phong, hiện số gỗ khai thác trái phép nằm ngoài phạm vi bán đấu giá đang được tiếp tục kiểm kê, đo đếm, lập biên bản hiện trường, chuyển về địa phương niêm yết chờ xử lý. Bước đầu ông Thanh khai, đã mua lại số gỗ trên của ông Nam. “Chúng tôi đang làm rõ đâu là số gỗ nằm trong diện tích 2,5ha, đâu là số gỗ khai thác trái phép nằm ngoài khu vực đã bán. Vì trong giai đoạn điều tra, xác minh, nên chưa thể cung cấp thông tin và chưa thể khẳng định ông Bùi Văn Thanh có phá rừng không?”. Tuy nhiên, theo tìm hiểu của chúng tôi, khu vực rừng ở Hóc Độ nằm cách xa khu vực rừng mà UBND xã đã bán đấu giá. Thêm nữa, diện tích rừng này đã được ông Huỳnh Văn Nam khai thác xong cách đây hơn một tuần. (Báo Quảng Nam 3/11)đầu trang(
Tuyến đường biên giới Lâm- Liên là tuyến đường nhựa độc đạo, nối từ xã Hương Liên, qua Hương Lâm ra trung tâm huyện Hương Khê, được bộ đội Biên phòng đầu tư xây dựng từ khoảng chục năm nay, vừa kết hợp dân sinh, vừa là đường vào khu vực tuần tra biên giới, vào đồng bào dân tộc Chứt...
Trước đây, khi đường chưa được xây dựng, giao thông từ hai xã này ra trung tâm huyện cực kỳ khó khăn. Thậm chí, khi mưa lũ đến, nhiều lúc bị chia cắt hoàn toàn. Thế nhưng, khi tuyến đường mới được đưa vào sử dụng, đời sống nhân dân hai xã này như được đổi đời bởi giao thông đi lại rất thuận lợi.
Tuyến đường này được bạt rừng xẻ núi để làm nên bản thân nó đã tiềm ẩn nguy cơ sạt trượt đất rất cao. Tuy nhiên, nhờ hai bên mái ta-luy đều có cây cối giữ đất nên đã ít khi xảy ra hiên tượng này. Thế nhưng, thời gian gần đây, dọc hai bên tuyến đường này, rất nhiều chỗ người dân đã chặt phá, đốt phát hết cây cối tự nhiên, đốt đến sát mép đường (có thể để chuẩn bị cho việc làm rẫy hoặc trồng cây nguyên liệu), nên gây nguy cơ sạt lở rất cao. Nhiều người lo ngại rằng, sau khi đốt hết cây cối, người dân tác động vào ven hai bên ta-luy (đào hố trồng cây), gặp mưa, chắc chắn sẽ bị xói lở. Và, lúc đó, tuyến đường hàng chục tỷ này sẽ bị hư hỏng nghiêm trọng. Trên thực tế, đã bắt đầu xảy ra hiện tượng lở đất ở một số điểm.
Không chỉ nguy cơ lở đường, mà dọc tuyến đường này là hệ thống cột điện đưa điện về hai xã Hương Lâm, Hương Liên cũng đứng trước nguy cơ bị đổ. Và, nếu đường điện này hư hỏng, hai xã này cũng bị hoàn toàn "cô lập" về điện, nhất là trong mưa lũ!.
Có thể, trong quy hoạch 3 loại rừng, khu vực này đã được chuyển đổi thành rừng sản xuất và đã được cấp cho các hộ dân. Tuy nhiên, dù bất cứ lý do gì, thì việc đốt phá hết cây sát hai bên đường là điều không thể chấp nhận, bởi nó có thể gây ra hậu quả rất lớn. Kể cả trường hợp vùng này đã được cấp đất sản xuất, cũng phải trừ hành lang an toàn chứ không thể phá hoại hết cây cối hai bên đường như thế này được.
Đề nghị chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm Hương Khê kiểm tra, chấn chỉnh hoặc tham mưu các cấp, ngành liên quan để ngăn chặn ngay tình trạng này. Nếu sự việc vẫn tiếp diễn, nguy cơ tuyến đường này sẽ bị sạt lở nhiều đoạn trong mùa mưa bão; nguy cơ cô lập hai xã Hương Lâm, Hương Liên là rất lớn, và đặc biệt hơn, là ảnh hưởng đến công tác tuần tra biên giới của lực lượng chức năng. (Báo Hà Tĩnh 2/11)đầu trang(
1-11, các “hiệp sĩ” CLB Phòng, chống tội phạm phường Lái Thiêu (thị xã Thuận An, Bình Dương) phát hiện Đinh Quang Thiện (quê Đắk Lắk, tạm trú quận 3, TP.HCM) chở 83 kg thịt heo rừng trên đường đi giao hàng.
Toàn bộ số thịt heo rừng này đều không có giấy tờ kiểm dịch, không rõ xuất xứ nguồn gốc. Qua kiểm tra, thịt heo được đông lạnh, có mùi hôi thối, còn có cả dòi trong thịt.
Ngay sau đó, vụ việc được bàn giao cho UBND phường Lái Thiêu xử lý. Thiện khai nhận cứ khoảng 3-4 ngày, Thiện đến khu vực ngã tư An Sương (quận 12, TP.HCM) nhận hàng trăm ký thịt heo rừng chở về Tân Uyên (Bình Dương) để giao cho một người tên Hùng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) tiêu thụ.
UBND phường Lái Thiêu đã lập biên bản sự việc, đồng thời chuyển giao cơ quan chức năng xử lý. (Pháp Luật TPHCM 3/11)đầu trang(
Sau khi vay tiền tỷ của nhiều người trồng rừng ở Lâm Đồng, bà Trần Thanh Huyền ở thị trấn Mađaguôi, huyện Đạ Huoai đã bỏ trốn biệt tăm, khiến nạn nhân lâm vào cảnh tay trắng, kêu cứu…
Chị Nguyễn Thị Ngọc Bích (ở tổ 14, ấp suối Tre, thị xã Long Khánh, Đồng Nai) cho biết, trong quá trình kinh doanh mua bán cây giống cao su, chị quen bà Trần Thanh Huyền (sinh năm 1968, Việt kiều Pháp) là Giám đốc Cty TNHH Tứ Nữ đặt trụ sở tại số 17, hẻm 39, khu phố 2, thị trấn Mađaguôi, huyện Đạ Huoai.
“Bà này giới thiệu là giám đốc, có chồng người Pháp và lần đi giao dịch nào hai vợ chồng cũng đi chung với nhau nên không chỉ tôi mà nhiều khác đều tin tưởng. Sau này tôi mới biết đó cũng là mánh lừa đảo của bà này”, chị Bích kể.
Tháng 3/2011, chị Bích nhờ bà Huyền tìm giúp đất để trồng cao su giống tại huyện Đạ Huoai và theo yêu cầu của bà Huyền, tháng 4/2011 chị Bích đưa bà Huyền 300 triệu đồng để làm chi phí xin đất. Khoảng 1 tháng sau, bà Huyền trả lại tiền với lý do không xin được đất. Nhưng sau 3 tháng, bà Huyền gọi điện thông báo tìm được 1.000ha và lần này yêu cầu đưa 3,5 tỷ đồng để đi lo thủ tục xin đất; chị Bích chỉ “lo” được 3 tỷ nên bà Huyền cũng đồng ý.
Ngày 19/7/2011, chị Bích mang tiền đến thì bà Huyền nói “người thứ ba” ngại không gặp, chị Bích tin tưởng để lại tiền và bà Huyền có viết giấy biên nhận 3 tỷ để lo xin đất trồng cao su.
Trong lúc chờ đất, ngày 6/12/2011, bà Huyền mượn tiếp 600 triệu đồng, viết giấy vay hẹn đến cuối tháng 12/2011 trả đủ. Sau đó vài ngày, bà Huyền hỏi mượn tiếp 100 triệu đống và úp mở “việc xin đất dự án đã gần xong, chỉ chờ tỉnh phê duyệt”, chị Bích lại chuyển cho bà Huyền 100 triệu đồng.
Sốt ruột vì chờ mãi không thấy đất, chị Bích đòi lại tiền nhưng bà Huyền đều trốn tránh. Mãi đến ngày 27/4/2012, bà Huyền buộc phải thừa nhận nợ chị Bích tổng cộng 3,7 tỷ đồng và cam kết “trong vòng hai tháng, tới ngày 30/6/2012 sẽ hoàn trả”.
Để chủ nợ tin hơn, bà Huyền còn cam kết trong thời gian trả nợ sẽ thế chấp cho chị Bích giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Giấy chứng nhận đầu tư của Cty Việt Tiến nhưng rồi bà Huyền chỉ đưa cho chị Bích giấy chứng nhận đầu tư rồi lặn mất tăm.
“Cầm mỗi tờ giấy chứng nhận đầu tư chẳng có giá trị gì, tôi đi tìm và gặp bà Huyền tại Cty của bà nhưng bà cứ xua đuổi tôi, bảo vài hôm nữa trả tiền. Bà không cho tôi nói vì sợ người ở cùng nhà nghe thấy chuyên bà nợ nần. Từ đó đến nay, tôi liên lạc không được, không biết bà ấy đang ở đâu”.
Vì sao bà Huyền có được giấy tờ của Cty Việt Tiến đem đi thế chấp, PLVN đã liên lạc với ông Nguyễn Quốc Việt, Giám đốc Cty Việt Tiến (trụ sở ở huyện Tân Thành, Bà Rịa - Vũng Tàu) và một sự thật khác được phơi bày khi ông Việt thừa nhận ông cũng là nạn nhân trong việc này: “Năm 2008, tôi ký hợp đồng trồng rừng với lâm trường Đạ Huoai thì bà Huyền cùng ông chồng người Pháp đến gặp tôi. Chồng bà Huyền giới thiệu là chuyên gia về cây cao su, có nguồn vốn lớn từ nước ngoài và muốn góp vốn để trồng rừng chung với tôi. Bà Huyền có góp vốn và chúng tôi đã trồng được hơn 100 héc ta rừng cao su.
Sau một thời gian, bà Huyền hỏi tôi mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận đầu tư của cty tôi nói đem đi mượn tiền của nước ngoài(?). Tôi nghe nói chỉ cầm 3 tuần đem đi mượn tiền trồng rừng thì cho mượn ngay nhưng hết hạn tôi đòi thì không trả lại. Đến bây giờ tôi mới biết bà Huyền mượn để đem đi thế chấp”.
Nói thêm về Việt kiều Huyền, ông Việt cho biết: “Bà này dữ dằn lắm, lúc nào cũng hù dọa, chửi mọi người. Mới cách đây vài ngày, bà ấy nhắn tin chửi tôi sao lại cung cấp thông tin cho báo chí, cho cơ quan công an. Bà lúc nào cũng khoe khoang là tôi quen Bộ trưởng này nọ. Sau khi sự việc với cô Bích bị phát hiện, một người phụ nữ ở đường Pasteur cũng nói với tôi cô này đang “chết dở” vì bị bà Huyền lừa đưa tiền để trồng rừng chung. Cùng hoạn nạn với nhau, tôi khuyên chờ cơ quan chức năng giải quyết”.
Ông Việt cũng tâm sự vì nhận thức có hạn, trong quá trình trồng rừng ông và một số người khác đã bị lừa rất nhiều tiền khi có một vài đối tượng tung “chiêu” ra Hà Nội lấy tiền trồng rừng, phải đưa sổ đỏ, giấy chứng nhận đầu tư, tiền lộ phí nhưng kết cục chẳng được gì.
Trở lại câu chuyện vay 3,7 tỷ đồng, chị Bích đã gửi đơn tố cáo tới UBND tỉnh Lâm Đồng, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lâm Đồng, VKSND và Công an huyện Đạ Huoai. Phía UBND huyện Đạ Huoai khẳng định, trong năm 2011, cơ quan này không phê duyệt cho cá nhân nào 1000 ha đất trồng cao su. Còn Công an huyện Đạ Huoai cho biết đã nhiều lần liên lạc, triệu tập nhưng bà Huyền không có mặt ở địa phương và bà Huyền có gọi điện cho công an nói đang ở Pháp nên không về làm việc được.
Căn cứ vào thẩm quyền điều tra, từ tháng 9/2012, Công an huyện đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về trật tự xã hội (Công an tỉnh Lâm Đồng) để điều tra, giải quyết nhưng từ đó đến nay chị Bích không hề được biết kết quả điều tra như thế nào.
“Hành vi lừa đảo của bà Huyền đã rõ, tôi mong cơ quan điều tra có biện pháp để bảo vệ quyền lợi cho những người bị hại như tôi. Tài sản tôi vay mượn để trồng rừng nay bị lừa sạch, trong khi bà Huyền vẫn nhởn nhơ ngài vòng pháp luật là điều không thể chấp nhận được”, chị Bích bức xúc nói.
Với những tố cáo nói trên, Phòng Cảnh sát điều tra TP về TTXH Công an tỉnh Lâm Đồng cần mở rộng điều tra, làm rõ có không hành vi lừa đảo của bà Huyền để bảo vệ quyền lợi cho các nạn nhân, ngăn chặn tình trạng một vài cá nhân lợi dụng sự thiếu hiểu biết của những người trồng rừng để lừa đảo. (Pháp Luật Việt Nam 5/11)đầu trang(
Trong tháng 10-2012, tại huyện Kông Chro (Gia Lai) liên tiếp xảy ra tình trạng khai thác rừng trái phép.
Lực lượng chức năng làm công tác bảo vệ rừng và chính quyền địa phương tỏ ra bất lực trước thực trạng này. Chỉ trong tháng 10 tại Tiểu khu 738, cơ quan chức năng huyện đã phát hiện và thu giữ hơn 95 m3 gỗ bị khai thác trái phép. Trước đó, Hạt Kiểm lâm và Công an huyện Kông Chro cũng đã phát hiện và lập biên bản tạm giữ hơn 22 m3 gỗ căm xe (nhóm 2), cà chít (nhóm 3) chưa rõ nguồn gốc được tập kết tại khu vực làng Chrao, xã Ðak Pơ Pho, huyện Kông Chro. Số gỗ trên được khai thác thuộc địa phận do Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Ia Pa quản lý.
Liên tiếp các vụ khai thác rừng trái phép được phát hiện trong thời gian ngắn đang làm nóng lên dư luận nơi đây. Người dân đang nghi ngờ việc các ngành chức năng nơi đây bảo kê cho "lâm tặc" khai thác rừng. Ðề nghị huyện Kông Chro sớm vào cuộc và xử lý nghiêm những cá nhân, tổ chức để mất rừng. (Nhân Dân 4/11)đầu trang(
Chiều 4-11, ông Dương Ngọc Hùng, Giám đốc Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống (Nghệ An), cho biết: Công an huyện Con Cuông đang điều tra vụ Vi Văn Pháo (trú bản Mét, xã Bình Chuẩn, huyện Con Cuông) mang súng đi chặt phá rừng và chống người thi hành công vụ.
Trước đó, sáng 29-10, tổ công tác của Trạm Quản lý bảo vệ rừng Bình Chuẩn (thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống) tuần tra tại tiểu khu 728 rừng Pù Huống thì phát hiện có hai lán trại của lâm tặc và tám tấm gỗ khai thác trái phép. Khi tổ công tác tiến hành tịch thu tám tấm gỗ thì Pháo từ trong rừng chạy ra nhận đó là gỗ của mình. Tiếp đó, Pháo rút súng tự chế chĩa vào tổ công tác yêu cầu để lại số gỗ trên, nếu không sẽ “bắn bỏ”. Tổ công tác đã tước được khẩu súng và tịch thu gỗ của Pháo. (Pháp Luật TPHCM 5/11) đầu trang(
Ngày 3.11, cơ quan chức năng huyện Kông Chro đã quyết định khởi tố vụ án vi phạm các quy định về quản lý bảo vệ rừng xảy ra tại Cty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Ia Pa.
Trước đó, cuối tháng 10.2012, lực lượng chức năng đã phát hiện vụ khai thác 106 cây căm xe, cà chít tại tiểu khu 738 thuộc lâm phần quản lý của Cty Lâm nghiệp Ia Pa, thiệt hại 51,630m3. Ngày 31.10, cơ quan chức năng tiếp tục phát hiện hơn 44m3 gỗ cà chít bị đốn hạ tại tiểu khu 738 (cũng thuộc lâm phần quản lý của Cty Ia Pa). Tổng thiệt hại của 2 vụ lên tới gần 100m3 gỗ. (Nhân Dân 5/11)đầu trang(
Khai thác khoáng sản, lâm sản trái phép được ví như “căn bệnh kinh niên” ở Bắc Kạn. Những ngày này, nạn “khoáng tặc” càng phức tạp và gây bức xúc hơn với vàng thổ phỉ ở Ngân Sơn…
Trước tình hình đó, từ tháng 7/2012 Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Kạn đã ban hành Chỉ thị 08 về ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản, lâm sản trái phép gây hủy hoại môi trường. UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, ngành chức năng thành lập các tổ công tác liên ngành để “dẹp” và ra 2 văn bản để làm cơ sở pháp lý thực thi là Kế hoạch ngăn chặn khai thác khoáng sản trái phép và Kế hoạch ngăn chặn lâm sản trái phép.
Các kế hoạch đều quy định rõ chức năng của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đặc biệt là vai trò của người đứng đầu nếu để xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản, lâm sản trái phép trên địa bàn mình quản lý.
Việc khai thác, vận chuyển khoáng sản, lâm sản có giảm đi, nhưng chỉ chưa đầy một tháng, ở Ngân Sơn, một huyện có nhiều vàng sa khoáng nhất Bắc Kạn đã lại xuất hiện “vàng tặc” với mức độ khai thác quy mô lớn với hàng chục máy xúc, dàn tuyển, sên, vòi nước... tham gia đào bới nhiều ha đất đồi rồi xả thẳng xuống suối, làm dòng nước mới trong lại được ít ngày, nay lại đục ngầu. Mặc dù, tại đây đã có tổ công tác của huyện đóng chốt.
Còn tại khu vực giáp ranh giữa hai xã Thượng Quan và Đức Vân, dù không thấy có máy xúc hoạt động, không có phương tiện và người khai thác nhưng vẫn có hàng nghìn m2 đất soi bãi, đất đồi, khu vực gần sông suối bị đào xới thành những ao, hố, bên cạnh là vết bánh xích của máy xúc vẫn còn mới nguyên in trên đất; dòng nước đục ngầu loang lổ vết dầu mỡ của máy nổ, máy xúc; giàn tuyển để ở gần đó vẫn còn chưa ráo nước.
Thực tế này cho thấy, hiện tượng khai thác trái phép ở đây đã diễn ra khá nhiều ngày mà “không bị phát hiện”.
Theo ông Hoàng Ngọc Ngự, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ngân Sơn, sau hơn hai tháng triển khai Kế hoạch 64 của huyện về việc kiểm tra, xử lý các hoạt động khai thác vàng trái phép, đến nay tình trạng khai thác vàng trái phép lại xuất hiện ở một số xã như Đức Vân, Thượng Ân, Thuần Mang, Thượng Quan. Các điểm khai thác hiện nay chủ yếu là vùng có đường giao thông đi lại khó khăn, vùng sâu để tránh sự kiểm tra.
Đầu tháng 10 vừa qua, Phòng đã phối hợp với UBND huyện Na Rì kiểm tra khu vực giáp ranh, qua kiểm tra cho thấy quy mô hoạt động khai thác lớn, mức độ hủy hoại đất ven sông, suối lớn hơn nhiều lần so với trước đây, vì phương thức khai thác hiện nay là dùng máy xúc múc đất đồi nơi gần suối đổ thẳng vào giàn tuyển rồi sử dụng máy bơm nước có công suất lớn phụt nước trực tiếp vào giàn tuyển, sau đó xả ra sông, suối, gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường.
Phòng đã tham mưu cho UBND huyện tiếp tục tăng cường việc kiểm tra, kiểm soát của các tổ đội đóng tại các xã. Những xã để tái diễn hiện tượng khai thác trái phép, người đứng đầu sẽ bị kiểm điểm trách nhiệm.
UBND huyện Ngân Sơn đã có kế hoạch về việc kiểm tra, xử lý các hoạt động khai thác vàng trái phép và xử lý các hộ gia đình, cá nhân xử dụng đất sai mục đích, hủy hoại đất trên địa bàn huyện Ngân Sơn. Sau đó đã ra Quyết định số 1263 về việc trưng tập cán bộ của các phòng ban chuyên môn, các ban xây dựng Đảng, Công an, Quân đội để tham gia 4 tổ kiểm tra xử lý các hoạt động khai thác vàng trái phép và xử lý các hộ gia đình, cá nhân vi phạm tại các xã Cốc Đán, Bằng Vân, Thượng Quan, Thuần Mang, Hương Nê, Lãng Ngâm và thị trấn Nà Phặc.
Phó Chủ tịch UBND huyện Ngân Sơn, Hoàng Văn Hùng cho biết, hàng tháng huyện phải chi hơn 40 triệu đồng để hỗ trợ, phụ cấp cho các tổ chốt tại địa bàn các xã. Tuy vậy, thời gian gần đây hiện tượng khai thác vàng trái phép lại xuất hiện ở một số nơi, thuộc vùng sâu, vùng xa. Ủy ban huyện đã nắm được thông tin từ các tổ chốt đóng tại các xã trên. Trường hợp ở xã Thượng Quan, chính quyền địa phương và tổ chốt đóng tại xã để hiện tượng khai thác vàng trái phép xảy ra sẽ phải kiểm điểm trách nhiệm của tập thể và cá nhân.
Hiện nay, trên địa bàn các xã Thuần Mang, Thượng Quan, Cốc Đán, Thượng Ân, hàng chục máy xúc, giàn tuyển và trang thiết bị vẫn “nằm chờ” bên cạnh đường hoặc gần khu dân cư, để nếu chính quyền, hoặc tổ chốt của huyện “lơ là” sẽ sẵn sàng hoạt động.
Chỉ thị, kế hoạch, quyết định đều đã ban hành, mọi cơ sở pháp lý đã đầy đủ, không hểu vì sao tình trạng “vàng tặc” ở Ngân Sơn vẫn diễn ra…? (Thanh Tra 3/11)đầu trang(
Sau khi tàn phá hàng trăm hecta rừng, Dự án Thủy điện Sông Giang 2 đã trễ hẹn nhiều năm vẫn chưa thể phát điện.
UBND tỉnh Khánh Hòa vừa có văn bản đồng ý cho chuyển mục đích sử dụng đất rừng để thực hiện Dự án Thủy điện Sông Giang 1 tại xã Khánh Trung (Khánh Vĩnh, Khánh Hòa). Trong khi đó, Dự án Thủy điện Sông Giang 2 (của cùng một chủ dự án) đã trễ hẹn nhiều năm chưa thể phát điện sau khi tàn phá hàng trăm hecta rừng…
Dự án (DA) Thủy điện Sông Giang 2 có công suất 37 MW, sản lượng điện dự kiến khoảng 141 triệu kWh/năm, nằm trên lưu vực sông Giang, cách trung tâm xã Khánh Trung (huyện Khánh Vĩnh, Khánh Hòa) chừng 30km. Bắt đầu thi công từ năm 2006 trên diện tích 239ha (trong đó có trên 200ha rừng đầu nguồn), giữa năm 2007, DA này đã chính thức dẫn dòng, kế hoạch cấp phát điện vào năm 2010. Nhưng sau nhiều lần “khất” đến nay DA vẫn ỳ ạch, “giậm chân” ở khâu đào hầm.
Vượt qua hơn 30km đường núi, chúng tôi có mặt tại vùng DA Thủy điện Sông Giang 2. DA chậm tiến độ gần 3 năm này hiện ra trước mắt chúng tôi là một đại công trường mấy trăm ha rừng ngổn ngang đất, đá, sắt thép gỉ và hàng loạt máy móc, xe máy hư hỏng, gỉ sét chỏng chơ dọc công trường.
Tại khu vực nhà máy, vài ba công nhân đang ngồi vắt vẻo trên miệng tháp điều áp được thi công trên đỉnh một ngọn núi. Người dân địa phương cho biết, trước đây công trường tấp nập bao nhiêu thì nay vắng vẻ bấy nhiêu. Nhộn nhịp nhất là những năm đầu thực hiện đền bù, giải phóng mặt bằng và phóng đường vào vùng DA. Xe lớn xe bé nườm nượp chở hàng ngàn khối gỗ ra khỏi vùng rừng nguyên sinh ven sông Giang này…
Trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa hiện có 8 DA thủy điện vừa và nhỏ đã được Bộ Công Thương phê duyệt, với tổng diện tích cả ngàn ha. Trong số những DA này, Thủy điện Sông Giang 2 đang “giậm chân tại chỗ” nhiều năm nay là lớn nhất cũng chỉ 37MW, những DA khác đều “lít nhít” như Thủy điện Sông Trang 5MW, Hoa Sơn 4MW và Sông Cái chỉ 2MW, nhưng diện tích “chiếm” rừng cho mỗi DA siêu nhỏ này lên cả trăm ha. Trong số 8 DA thủy điện nói trên, hiện chỉ có DA Thủy điện Eakrông Rou 12 MW đã đi vào hoạt động. Ba dự án khác là Sông Giang 1, Sông Giang 2, Sông Chò 2 đều đã giải phóng mặt bằng xong và đang thực hiện rất chậm.
Ông Trương Tam – Trưởng phòng Quản lý điện năng Sở Công Thương Khánh Hòa - cho biết: Trong số các DA thủy điện này, UBND tỉnh Khánh Hòa đã thu hồi 3 DA thực hiện chậm, hiệu quả kém, chiếm nhiều diện tích rừng. Hiện tỉnh Khánh Hòa đang đề nghị Bộ Công Thương đưa các DA này ra khỏi quy hoạch DA thủy điện nhỏ toàn quốc. (Nông Thôn Ngày Nay 4/11)đầu trang(
Do nhu cầu sản xuất mây tre đan và cây lùng tăng cao tại tỉnh Nghệ An nên diện tích rừng tại một số huyện đang bị đe dọa.
Việc khai thác không theo quy trình, chưa đúng tuổi khai thác, khai thác tràn lan tại các huyện: Quế Phong, Quỳ Châu, đang làm cạn kiệt và nguy cơ rừng lùng sẽ sớm bị xóa sổ, báo động cho vùng nguyên liệu sản xuất mây tre đan ở tỉnh.
Ðể khôi phục, phát triển cây lùng, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất mây tre đan, Công ty TNHH Ðức Phong xây dựng dự án đầu tư, bảo vệ và phát triển cây lùng với quy mô hơn 4.926 ha thuộc hai huyện Quế Phong và Quỳ Châu. Tuy nhiên, dự án này chưa thực hiện được. Trong khi dự án chưa triển khai, tỉnh cần có những giải pháp để bảo vệ an toàn rừng lùng, tránh để khai thác tràn lan, cạn kiệt. (Nhân Dân 5/11)đầu trang(
Như đã đưa tin, lãnh đạo Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng (BCH BĐBP) tỉnh Quảng Trị (QT) vừa có báo cáo với Thường trực Tỉnh ủy QT về vụ gỗ huê tang vật bị thất thoát trong chương trình kiểm điểm “Những vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay”.
Ngoài số gỗ huê tang vật bị “cướp” (LĐ ngày 30.10 đã phản ánh), báo cáo của BCH BĐBP tỉnh cho biết, đã cho lại đối tượng bị tịch thu một lượng gỗ huê có trị giá gần 1 tỉ đồng. Người được cho lại gỗ huê, theo báo cáo, là ông Hồ Xuân Nhờ - Bí thư Huyện ủy Hướng Hóa tại thời điểm đó. Phóng viên LĐ đã liên lạc qua điện thoại với ông Nhờ ngày 31.10 để kiểm chứng thông tin, ông Nhờ hẹn làm việc vào ngày 1.11. Tuy nhiên, đúng hẹn, ông Nhờ đã khóa máy điện thoại.
Tại trụ sở Huyện ủy Hướng Hóa, một vị lãnh đạo trong cơ quan này cho biết: “Ông Hồ Xuân Nhờ vừa thôi giữ chức Bí thư Huyện ủy mấy tháng, hiện vẫn đang sinh hoạt Đảng tại cơ quan Huyện ủy”. Về thông tin cho lại gỗ huê tang vật mà người được cho là ông Nhờ, vị lãnh đạo này nói, theo hồ sơ thì ông Nhờ có bị mất gỗ huê trong vụ bắt giữ đó đâu mà cơ quan BĐBP cho lại ông Nhờ. Liên tục trong các ngày 3 và 4.11, PV Lao Động vẫn nỗ lực liên lạc với ông Nhờ để kiểm chứng xem ông có nhận số gỗ huê trị giá gần 1 tỉ đồng mà BĐBP tỉnh nói là đã cho ông không, nhưng rất tiếc là không thể liên lạc được.
Trong một tài liệu được lập vào ngày 30.12.2010 tại Trạm kiểm soát A Roòng (Đồn Biên phòng Sen Bụt), đã ghi nhận: “Lúc 19 giờ ngày 29.12.2010, cán bộ chiến sĩ trạm đã bắt giữ lô lâm sản vận chuyển trái phép gồm 18 khúc gỗ huê trọng lượng 850,9kg”. Về vụ việc này, đoàn đặc nhiệm miền Trung (ĐNMT, đóng tại TP.Đà Nẵng) thuộc Cục PCTP ma túy BĐBP đã có nhiều hoạt động kiểm tra, giám sát theo điện chỉ đạo từ Cục PCTP ma túy BĐBP. 10 ngày sau khi xảy ra vụ bắt giữ tại QT, đoàn ĐNMT đã đến làm việc với phòng PCTP ma túy BĐBP QT.
Tại đây, đoàn ghi nhận số gỗ huê tang vật bị bắt giữ là 18 khúc, khoảng 0,72m3 (văn bản báo cáo đề ngày 10.1.2011). Như vậy là, với hai bằng chứng mới này, đã góp phần khẳng định quan điểm của Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy QT rằng, số lượng gỗ huê tang vật bị thất thoát lớn hơn số lượng gỗ huê tang vật còn lại được đem ra đấu giá (425kg = gần 5 tỉ đồng) là hoàn toàn sự thật. (Lao Động 5/11)đầu trang(
Theo đánh giá của Sở NN&PTNT, từ năm 2010 đến nay công tác trồng mới rừng trên địa bàn tỉnh đạt kết quả rất khả quan do toàn tỉnh kiên quyết xử lý thu hồi các diện tích đất lâm nghiệp bị bao, lấn chiếm để chuyển sang trồng rừng. Song song đó, công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng cũng được tăng cường nên số diện tích rừng bị cháy ngày càng giảm. Tuy nhiên, trong những năm gần đây tình trạng phá rừng- đặc biệt là rừng trồng lại gia tăng đáng lo ngại.
Theo thống kê của Sở NN&PTNT, từ năm 2010 đến nay, chỉ riêng loại rừng đặc dụng và phòng hộ toàn tỉnh đã trồng mới được thêm hơn 2.600 ha, đạt 118,5% kế hoạch. Trong đó: năm 2010 trồng mới được 1.061 ha, năm 2011 trồng mới được 1.006 ha và năm 2012, đến giữa tháng 10 đã trồng mới được 540 ha. Đây là kết quả rất khả quan, vì trước năm 2009, diện tích rừng trồng mới ở Tây Ninh thường không đạt kế hoạch. Đến nay, trong tổng số hơn 42.600 ha rừng được đưa vào kế hoạch bảo vệ có hơn 7.800 ha rừng trồng. Tuy nhiên trong vài năm trở lại đây, tình trạng phá rừng trồng đang ngày càng trở thành “vấn nạn”.
Theo số liệu của Chi cục Kiểm lâm, từ năm 2010 đến nay, số vụ phá rừng trồng bị phát hiện và diện tích rừng trồng bị thiệt hại ngày càng tăng nhiều hơn. Cụ thể trong năm 2010, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện và xử lý 13 vụ phá rừng với diện tích bị thiệt hại chưa đến 3 ha. Năm 2011 tổng số vụ phá rừng bị phát hiện tăng lên đến 46 vụ, tăng gấp 3,5 lần so với năm 2010 với diện tích thiệt hại đến hơn 25 ha, tăng hơn 8 lần so với năm 2010. Năm 2012, mới đến giữa tháng 10 mà tổng số vụ phá rừng bị phát hiện lên đến 68 vụ, tăng hơn 5 lần so với năm 2010, với diện tích bị thiệt hại là 54 ha, tăng 18 lần so với năm 2010.
Hầu hết các vụ phá rừng xảy ra là rừng trồng, nhiều nhất là ở Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng. Hình thức phá rừng ngày càng đa dạng. Ngoài hình thức chặt hạ cây rừng như những năm trước, những năm gần đây nhiều hộ chuyển sang hình thức “khéo” hơn là rong nhánh cây rừng để tạo khoảng không trống trải cho cây nông nghiệp phát triển. Việc rong nhánh không làm cho cây rừng chết ngay, nhưng sẽ khiến cho cây rừng còi cọc không thể phát triển nổi.
Ngoài ra cũng có trường hợp “nặng tay” hơn là khoanh vỏ cây hoặc bơm thuốc vào gốc để cho cây chết dần. Trong thời gian qua các cơ quan chức năng đã xử phạt nghiêm khắc nhiều vụ chặt phá, rong nhánh rừng trồng, nhưng tình hình vẫn chưa được cải thiện bao nhiêu và nạn phá rừng trồng đang ngày càng làm giảm chất lượng rừng trồng ở Tây Ninh. Đến nay, ở những địa phương có rừng trên địa bàn tỉnh vẫn chưa có giải pháp hiệu quả hạn chế nạn phá rừng trồng.
Theo ngành chức năng, mục đích chính của việc phá rừng trồng là nhằm tạo không gian trống để trồng xen cây nông nghiệp, vì lợi nhuận của cây nông nghiệp lớn hơn thu nhập từ việc trồng rừng. Theo quy định, những hộ nhận khoán trồng rừng được ngân sách đầu tư 15 triệu đồng/ha để trồng rừng trong vòng 3 năm. Bình quân mỗi năm 1 ha trồng rừng chỉ được đầu tư có 5 triệu đồng là quá thấp. Sau khi cây rừng khép tán, người trồng rừng có thu nhập chủ yếu từ việc tỉa thưa cây phụ trợ.
Tuy nhiên, theo một số hộ đã trồng rừng thì thu nhập từ việc tỉa thưa cũng chẳng được bao nhiêu- trong những năm đầu khi đến tuổi tỉa thưa chỉ thu được mỗi năm có vài triệu đồng vì chủ yếu là bán nhánh để làm nguyên liệu giấy. Trong khi đó, nếu trồng mì thì thấp nhất cũng thu nhập được hơn 20 triệu đồng/ha. Thực ra, những hộ nhận khoán trồng rừng được trồng xen cây nông nghiệp trong những năm đầu khi cây rừng chưa khép tán để tăng thu nhập và đến khi cây rừng khép tán thì ngưng trồng xen. Thế nhưng nếu không trồng xen cây nông nghiệp nữa thì thu nhập từ cây rừng không đủ trang trải cuộc sống, nên nhiều hộ- tuy thừa biết phá rừng là vi phạm nhưng vẫn lén lút rong nhánh cây rừng để tiếp tục trồng xen cây nông nghiệp.
Để hạn chế tình trạng trên, trước mắt ngành chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát và xử phạt các hộ rong nhánh cây rừng để tiếp tục trồng xen cây nông nghiệp. Tuy nhiên, các biện pháp nêu trên cũng chỉ là biện pháp tạm thời, bởi vì nguyên nhân sâu xa nhất dẫn đến vi phạm phá bỏ rừng trồng là người nhận khoán trồng rừng có thu nhập từ cây rừng thấp hơn là trồng các loại cây nông nghiệp khác. Do đó giải pháp giải quyết căn cơ nhất là nâng cao thu nhập cho người nhận khoán trồng rừng. Thế nhưng nâng thu nhập bằng cách nào?
Theo Sở NN&PTNT, sắp tới người trồng rừng sẽ có thêm thu nhập từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ với mục đích tái tạo lại rừng. Ngoài ra, Sở NN&PTNT cũng đề xuất tỉnh có thêm chính sách hỗ trợ nhằm tạo điều kiện cho các hộ nhận khoán trồng rừng được vay vốn ưu đãi để trồng các loài cây chịu bóng mát dưới tán cây rừng góp phần tăng thu nhập, đồng thời phát triển rừng một cách bền vững. (Báo Tây Ninh 4/11)đầu trang(
Trong tháng qua, tại H.Kon Chro (Gia Lai) xảy ra nhiều vụ phá rừng. Ngày 19.10, tại khoảnh 2, tiểu khu 738 thuộc địa bàn xã Chư Krei, có 106 cây gỗ căm xe, cà chít bị đốn, tổng khối lượng gỗ hơn 51 m3.
Trong tháng qua, tại H.Kon Chro xảy ra nhiều vụ phá rừng. Ngày 19.10, tại khoảnh 2, tiểu khu 738 thuộc địa bàn xã Chư Krei, có 106 cây gỗ căm xe, cà chít bị đốn, tổng khối lượng gỗ hơn 51 m3.
Đáng chú ý là khu vực bị khai thác trái phép chỉ cách trục đường chính của xã chừng 500 m và cách trụ sở UBND xã khoảng 7 km. Ngày 31.10, một vụ phá rừng khác lại xảy ra ở tiểu khu 738, cũng thuộc địa bàn xã Chư Krei. 57 cây gỗ cà chít với tổng khối lượng gần 45 m3 đã bị đốn hạ. (Thanh Niên 5/11)đầu trang(
Theo ông Lê Văn Hải, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Cà Mau, nghề nuôi cá sấu đang phát triển khá nhanh ở Cà Mau. Theo thống kê, toàn tỉnh hiện đã cấp phép cho 422 hộ dân nuôi nhốt gần 30 nghìn cá sấu và gần 200 hộ nuôi nhỏ lẻ chưa được đăng ký cấp phép.
Do lợi nhuận cao, ít rủi ro cho nên gần đây nhiều hộ dân trên địa bàn tỉnh đổ xô nuôi cá sấu, đa phần hộ dân nuôi cá sấu nhỏ lẻ, tự phát, lơ là, thiếu ý thức và chưa quan tâm đến những kiến thức, quy trình cần thiết về nghề nuôi cá sấu bảo đảm an toàn.
Chính vì vậy, việc đầu tư chuồng trại cũng rất sơ sài và việc để cá sấu sổng chuồng thoát ra ngoài môi trường tự nhiên rất nguy hiểm như vừa qua tại trại nuôi cá sấu của Công ty Thủy sản Quốc Việt.
Theo quy định bắt buộc, người dân muốn nuôi cá sấu phải đăng ký; việc xây chuồng trại phải bảo đảm an toàn. Tuy nhiên, hiện nay, hầu hết các trại nuôi cá sấu trên địa bàn tỉnh nằm rải rác ở vùng nông thôn nên khâu quản lý, kiểm tra thường xuyên việc đạt tiêu chuẩn, quy trình bảo đảm an toàn trong quá trình nuôi là rất khó khăn. (Nhân Dân 3/11)đầu trang(
Ngày 2-11, hàng trăm người dân ở ấp 5, xã Tân Thành (TP Cà Mau) săn bắt trên sông Tân Thành, cách trang trại nuôi cá sấu của Cty Quốc Việt khoảng 2km.
Anh Nguyễn Văn Nghĩa là người phát hiện cá sấu dưới sông, sau nhà của mình, rồi báo tin cho mọi người biết để bắt. Bà con dùng vịt nhử bắt nhưng cá sấu không cắn mồi và lặn mất.
Trước đó, ngày 30-11, chính quyền xã Tam Giang (Năm Căn), phát hiện cá sấu, cho công an dùng súng bắn nhưng không thành vì cá sấu ở xa tầm nhìn, dân chúng tập trung đông.
Kể từ khi trang trại cá sấu Cty Quốc Việt sổng chuồng được phát hiện vào ngày 12-10, cá sấu xuất hiện trên quốc lộ, bò vô nhà dân, vào chùa, trên kinh rạch có bán kính khoảng 50 km. (Tiền Phong 3/11)đầu trang(
So với các quốc gia trong khu vực, ngành chế biến gỗ Việt Nam được đánh giá có nhiều yếu tố thuận lợi trong việc khẳng định vị thế cạnh tranh xuất khẩu và tiêu dùng nội địa. Tuy nhiên, đối mặt với tình hình kinh tế khó khăn, hiện ngành đang nỗ lực tìm lối đi mới.
Tính đến tháng 10/2012, Việt Nam đang đứng thứ sáu trên thế giới về xuất khẩu đồ gỗ, đứng thứ hai ở châu Á và đứng đầu khu vực Đông Nam Á. Hiện tổng mức sản xuất đồ gỗ của cả nước đạt gần 5,2 tỷ USD; mục tiêu phấn đấu của ngành, trong vòng 15 năm tới, giá trị sẽ tăng lên gấp 3 - 4 lần. “Xét về mặt thị trường, trong khi nhiều ngành xuất khẩu khác đang có dấu hiệu bị thu hẹp hay gặp khó khăn khi sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt, ngành gỗ vẫn lạc quan.
Cụ thể, nhiều bạn hàng truyền thống như Nhật Bản thì đang xây dựng sau thảm họa sóng thần nên nhu cầu sử dụng đồ gỗ rất lớn và kim ngạch qua thị trường này đã tăng tới hơn 30% trong 9 tháng đầu năm 2012 và sẽ còn tăng hơn nữa; còn Ôxtrâylia, Niu Dilân cũng tăng 16%...”, ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP Hồ Chí Minh (HAWA) nói.
Kết thúc năm 2011, các doanh nghiệp đã sử dụng hơn 13 triệu m³ gỗ, trong đó nguyên liệu trong nước chiếm 11 triệu m³, bao gồm: rừng trồng tập trung 6 triệu m3, gỗ cao su hơn 2 triệu m³, còn lại từ gỗ cây phân tán. Nhìn đến năm 2020, nhiều chuyên gia trong ngành khẳng định, con số 22 triệu m³ gỗ nguyên liệu trong nước cung ứng cho chế biến gỗ là có thể thực hiện được. Cụ thể, với khoảng 800.000 ha cao su, chu kỳ khai thác 25 năm, có thể khai thác 5 - 6 triệu m³ gỗ nguyên liệu. Riêng 2,3 triệu ha rừng trồng, đến năm 2020 sẽ cung cấp 15 - 16 triệu m³. Ngoài ra, chưa tính đến lượng lớn gỗ được trồng phân tán trong dân hàng năm cung cấp hàng chục triệu m3, góp phần giúp các doanh nghiệp nhẹ giảm nỗi lo về thiếu hụt nguyên liệu.
Hiện Trung Quốc đang là đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam, nhưng quốc gia này đã có thay đổi về chiến lược khi điều chuyển các doanh nghiệp sản xuất vào sâu trong nội địa đẩy chi phí lên cao. Những quốc gia khác trong khu vực như: Malaixia, Thái Lan... giá lao động đang tăng gần gấp đôi so với trước nên ảnh hưởng không nhỏ đến giá xuất khẩu. “Ngành chế biến gỗ hoàn toàn có thể trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước như kỳ vọng.
Điều quan trọng là cùng với chính sách mang tính định hướng, dài hơi của ngành chức năng, các doanh nghiệp cũng phải mạnh dạn đầu tư, thay đổi công nghệ, thiết bị. Hiện các nước có thế mạnh về chế biến gỗ ở châu Âu như Đức, Italia, Pháp..., nhiều doanh nghiệp đang bị thua lỗ, phải đóng cửa. Đây sẽ là cơ hội cho chúng ta trong việc chiếm lĩnh thị trường cũng như mua sắm, nâng cấp trang thiết bị với giá tốt...”, ông Hạnh lưu ý.
Theo số liệu thống kê của ngành nông nghiệp, đến nay cả nước có gần 6.500 doanh nghiệp chế biến gỗ thuộc các loại hình sở hữu khác nhau, trong đó tỷ lệ ngoài quốc doanh chiếm hơn 95%. Đặc biệt, số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ chiếm khoảng 15% nhưng giá trị sản lượng và kim ngạch xuất khẩu chiếm hơn một nửa.
“Những doanh nghiệp Hàn Quốc, Đài Loan... đều có đầu tư bài bản, chú trọng chất lượng và có tính dài hơi. Các khâu trong chuỗi sản xuất đều được tự động hóa từ đầu vào cho đến sản phẩm cuối cùng đã giúp họ hạ được giá thành, hoàn thiện tốt về chất lượng. Trong khi đó, không ít doanh nghiệp trong nước vẫn chưa đạt đến trình độ này, còn nặng tính ăn xổi, gia công tạm bợ...”, ông Nguyễn Mạnh Dũng, Cục trưởng Cục Chế biến, Thương mại Nông lâm sản và Nghề muối cho hay.
Đi sâu phân tích, nếu tính trên mức độ sử dụng lao động thì có đến 46% doanh nghiệp chế biến gỗ có quy mô siêu nhỏ, 49% DN quy mô nhỏ, còn lại thuộc diện vừa và lớn. Xét ở góc độ vốn đầu tư, có đến 93% số doanh nghiệp chế biến gỗ ở quy mô nhỏ và siêu nhỏ. Nhiều doanh nghiệp, cơ sở trong nước, đặc biệt ở những khu vực làng nghề, người lao động hầu như không được đào tạo cơ bản mà chủ yếu làm việc thủ công... Theo ông Dũng, chính điều này đã góp phần làm cho các sản phẩm cao cấp trong nước khó khăn trong cạnh tranh về giá, chất lượng... và cũng là nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp Việt Nam chấp nhận “phận” gia công cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Ông Hà Công Tuấn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng, khó khăn lớn nhất của ngành gỗ hiện nay là chưa giải quyết được tình trạng thiếu nguyên liệu chuyên dụng phục vụ cho chế biến những sản phẩm đồ gỗ cao cấp xuất khẩu. Hoạt động sản xuất của nhiều doanh nghiệp vẫn phụ thuộc không ít vào nguồn nguyên liệu nước ngoài, làm cho tình hình kinh doanh của doanh nghiệp bị động, tính cạnh tranh chưa cao.
Hiện mỗi năm, doanh nghiệp trong nước vẫn phải nhập khẩu phần lớn nguyên liệu gỗ để chế biến sản phẩm giành cho phân khúc trung - cao phục vụ những thị trường khó tính như: Nhật, Hoa Kỳ... “Tăng trưởng của ngành thời gian qua chủ yếu dựa vào xuất khẩu. Nhưng hiện thị trường xuất khẩu đang có nhiều khó khăn về chính sách, sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt...”, ông Tuấn nói thêm.
Tại cuộc họp về công tác chế biến gỗ được tổ chức cuối tháng 8/2012 tại TP Hồ Chí Minh, Bộ Công Thương khẳng định, việc tái cơ cấu lĩnh vực chế biến và kinh doanh lâm sản là điều quan trọng và cấp thiết trong nỗ lực nâng cao giá trị sản phẩm. Trước mắt Bộ sẽ xây dựng và triển khai quy hoạch chế biến gỗ theo hướng gắn kết chặt chẽ với những đơn vị sản xuất nguyên liệu với doanh nghiệp chế biến, nhằm sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên rừng.
Công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ và áp dụng những tiến bộ kỹ thuật tiến tới hình thành các khu chế biến lâm sản công nghệ cao, tạo ra các sản phẩm chất lượng, giá trị tăng và khả năng cạnh tranh cao sẽ được chú trọng xúc tiến. Việc phát triển nguồn nhân lực bao gồm sản xuất trực tiếp và quản lý, xúc tiến thương mại; cải thiện, xây dựng lại hệ thống phân phối sản phẩm... cũng sẽ được Bộ Công Thương triển khai nhằm đem đến sự phát triển hiệu quả, bền vững đối với các doanh nghiệp trong nước.
Ông Đinh Ngọc Minh, Vụ phó Vụ Kinh tế nông nghiệp thuộc Bộ Kế hoạch Đầu tư cho biết, phát triển ngành gỗ chế biến chính là điều kiện để giúp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ. Hiện nay hầu hết các thiết bị này phải nhập khẩu vừa gây tăng chi phí đầu ra, vừa gây lãng phí khi các doanh nghiệp trong nước vẫn có thể sản xuất. Vì vậy, hiện Bộ đang xúc tiến xây dựng một chiến lược ưu tiên cho sự phát triển của ngành này. Song song đó, những chính sách ưu đãi về thuế, đầu tư, nghiên cứu và áp dụng công nghệ, ưu đãi thu hút vốn đầu tư nước ngoài... đang được ngành chức năng xem xét triển khai trong thời gian sớm nhất.
“Điều quan trọng hơn khi phát triển được ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành chế biến gỗ, ngoài việc tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững của ngành, còn góp phần không nhỏ cho việc tạo công ăn việc làm cho người dân. Qua tính toán của chúng tôi, cứ 1 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu tạo ra khoảng 1 triệu việc làm, ngành công nghiệp phụ trợ có thể phát triển con số này lên 2 lần”, ông Minh nói thêm.
Ông Nguyễn Mạnh Dũng - Cục Chế biến Thương mại Nông lâm sản và Nghề muối: Ngành chế biến gỗ ở nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển thành ngành công nghiệp mũi nhọn khi đang có những bước phát triển vượt bậc. Chỉ tính 9 tháng đầu năm 2012, tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ đạt 3.394 triệu USD, tăng khoảng 20% so với cùng kỳ. Điều đáng quan tâm, chúng ta đã chuyển từ xuất khẩu thô, chủ yếu là gỗ cây, gỗ ván sàn, gỗ xẻ, sang xuất khẩu các sản phẩm gỗ dân dụng đã qua chế tác có kỹ thuật, mỹ thuật, từng bước khẳng định được uy tín thương hiệu.
Ông Nguyễn Chiến Thắng, Chủ tịch HAWA: Chúng ta vẫn nói ngành chế biến gỗ là ngành kinh tế mũi nhọn nhưng trong danh mục tạo điều kiện cho ngành phát triển chưa có mặt ngành chế biến gỗ. Chúng tôi đề nghị các bộ, ngành chức năng xem xét để có thể bổ sung ngành gỗ vào danh mục và đây sẽ là chất kích thích giúp các doanh nghiệp chế biến gỗ mạnh dạn đầu tư, thay đổi công nghệ, thiết bị sao cho phù hợp cũng như đẩy mạnh công tác tái cấu trúc lại dây chuyền và thiết bị nhà máy vốn đã khá cũ và lạc hậu.
Ông Võ Trường Thành, Tổng Giám đốc Công ty CP tập đoàn kỹ nghệ gỗ Trường Thành: Áp lực cạnh tranh cao nhất của doanh nghiệp gỗ hiện nay là các đối tác đòi hỏi đơn vị cung ứng phải chứng minh rõ nguồn gốc, có chứng chỉ chứng minh gỗ hợp pháp... Trong tình hình sức mua của thị trường nước ngoài giảm đáng kể, nhiều doanh nghiệp đã quay về thị trường nội địa nhưng hiện không ít vẫn loay hoay do chưa tạo ra được những sản phẩm có thiết kế phù hợp, thiếu hệ thống phân phối và giá bán bất hợp lý... (Tin Tức 3/11)đầu trang(
Ngay sau khi Diễn Đàn Doanh Nghiệp có bài viết “Giấy phép con” làm khó DN gỗ, Diễn Đàn Doanh Nghiệp có cuộc trao đổi với ông Hoàng Trung - Phó cục trưởng Cục bảo vệ thực vật, Bộ NN - PTNT về những thắc mắc của các DN NK gỗ.
Diễn Đàn Doanh Nghiệp đã nhận được một số kiến nghị của các DN nhập khẩu gỗ thuộc các tỉnh miền Trung cho rằng Giấy phép kiểm dịch thực vật là “giấy phép con”. Là cơ quan quản lý trực tiếp, ông nghĩ sao về điều này? Trả lời câu hỏi này, ông Trung cho hay: Bắt đầu từ ngày 27/9 Cục BVTV đã chỉ đạo các đơn vị thực hiện Thông tư 39/2012/TT- BNNPTNT trong đó có quy định, danh mục vật thể (lần đầu tiên NK vào VN, có xuất xứ mới) phải phân tích nguy cơ dịch hại trước khi NK vào VN.
Như vậy, đối với các loại gỗ NK lâu nay vào VN thì không thuộc đối tượng điều chỉnh, không phải phân tích nguy cơ dịch hại. Giấy phép kiểm dịch thực vật NK chỉ áp dụng cho các loại gỗ phải phân tích nguy cơ dịch hại, có xuất xứ mới, lần đầu tiên vào VN, hoặc có báo cáo chính thức từ nước NK có dịch.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các cán bộ kiểm dịch tại chi cục một số cửa khẩu (Hà Tĩnh, Quảng Bình…) đã hiểu chưa đúng nội dung trong thông tư nên mới yêu cầu tất cả các DN phải xuất trình giấy phép xin kiểm dịch các lô hàng sau đó mới kiểm dịch và thông quan, điều này đã gây khó khăn cho DN NK gỗ.
Ông Trung cho hay: Sau khi thông tư có hiệu lực 1 tuần, chúng tôi đã nhận được kiến nghị của DN. Ngay sau đó, chúng tôi đã chỉ đạo các chi cục, trạm kiểm dịch tại một số cửa khẩu nói trên phải nhận dạng rõ ràng những lô hàng mà các DN NK về có phải là các loại gỗ lâu nay vẫn nhập hay không, nếu đúng sẽ cho lưu thông bình thường. Còn trường hợp là các loại gỗ NK lần đầu tiên hoặc có xuất xứ mới thì Cục yêu cầu các chi cục phải kiểm dịch và các DN phải làm thủ tục để xin giấy phép kiểm dịch.
Tôi khẳng định rằng, Cục không yêu cầu các DN phải ra tận Hà Nội để xin giấy phép. Vì lâu nay, theo quy định tại Nghị định 02/2010/NĐ-CP của Chính phủ về khuyến nông, yêu cầu các trạm kiểm dịch tại các chi cục địa phương nơi DN NK kiểm dịch lô hàng để phân tích mức độ nguy hại. Trên cơ sở đó, chi cục hướng dẫn các DN làm hồ sơ gửi qua đường bưu điện ra Cục để xin giấy phép.
Cục bảo vệ thực vật cũng không thu một khoản phí kiểm dịch nào từ phía các DN vì đây là việc làm thuộc chuyên môn của Cục mà đã là chuyên môn thì chúng tôi phải thực hiện đầy đủ, đúng trách nhiệm. Hơn nữa, sau khi nhận được hồ sơ từ phía DN Cục bảo vệ thực vật cũng đã rất khẩn trương nghiên cứu để quyết định có cấp phép cho lưu thông hay không.
Hiện nay, cục có 90 chi cục kiểm dịch và hơn 40 trạm tại các cửa khẩu, tất cả lực lượng cán bộ công nhân viên tại các chi cục và trạm đều là người của Cục BVTV, có trình độ chuyên ngành từ đại học trở lên. Trong con số hơn 600 biên chế của Cục thì có tới ½ cán bộ công nhân viên là công tác tại các chi cục và trạm kiểm dịch, số còn lại đóng tại Hà Nội làm công tác hành chính trung gian kết nối với Bộ NN-PTNT. Vậy chúng tôi tuyệt đối không làm việc theo cảm tính để cấp giấy phép kiểm dịch!
Công tâm mà nói, để xảy ra thực trạng như các DN đã phản ánh thời gian qua, lỗi trước hết là từ phía cơ quan quản lý mà trực tiếp là Cục bảo vệ thực vật chúng tôi vì đã không hướng dẫn cụ thể cho các cán bộ chi cục và trạm kiểm dịch hiểu đầy đủ những quy định trong thông tư nên đã dẫn đến thực trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Từ đây có thể thấy rằng, để đạt hiệu quả cao trong việc cấp phép kiểm dịch đối với mặt hàng gỗ nói riêng và các sản phẩm khác nói chung không chỉ đơn giản là siết chặt quản lý DN từ phía cửa khẩu mà trước hết phải đào tạo, hướng dẫn cụ thể chính xác cho các cán bộ làm công tác trong ngành hiểu để tuyên truyền hướng dẫn DN. Có như vậy, mới mong được sự phối hợp hiệu quả giữa hai bên.
Hiện tại, Cục đang thống kê danh mục các loại gỗ NK để có được những quy định xác đáng hơn. Việc thống kê 74 danh mục gỗ NK là việc rất khó khăn vì mỗi loại gỗ đều có xuất xứ khác nhau nhưng Cục sẽ cố gắng trong thời gian sớm nhất có thể ban hành danh mục quy chuẩn các loại gỗ NK để tạo thuận lợi cho phía DN cũng như cơ quan quản lý. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 2/11)đầu trang(
Bỏ lại gia đình đề huề ở Đức, Tilo Nadler quyết định sang Việt Nam sinh sống và nguyện cắm chốt bảo vệ loài linh trưởng đã và đang bị “sát thủ thú rừng” tìm mọi cách sát hại.
Dẫu rằng, với nhiều người linh trưởng là “chiến lợi phẩm” đáng giá, đắt tiền. Song với Tilo, 20 năm gần gũi với linh trưởng, không phải để mang chúng về đất nước mình, càng không vì bán buôn, trông chờ vào lương bổng hay tham ô tham nhũng gì ở thiên nhiên. Ngược lại, ông xem chúng như thể những “đứa con” của mình.
Tilo Nadler, được gọi bằng cái tên trìu mến “người cha Tây” cũng là người đầu tiên làm hồi sinh những đàn linh trưởng tại Việt Nam mà thế giới từng cho rằng chúng sẽ tuyệt chủng. Rồi chính ông đã lăn lộn đi khắp thế giới xin kinh phí, để lập nên Trung tâm cứu hộ thú linh trưởng Cúc Phương (gồm voọc, khỉ và cu li).
Tilo Nadler năm nay đã bước sang tuổi 71, song trông ông vẫn còn rất nhanh nhẹn, vạm vỡ, phong trần với vẻ gì đó rất “bụi bặm”, “giang hồ”. Trước khi gắn bó với núi rừng Cúc Phương, Tilo đã từng đến nhiều nước ở châu Phi và Trung Quốc để nghiên cứu loài linh trưởng. Năm 1991, theo sự phân công của Trung tâm Zoologische Gesellschaft Franrfurt (Đức), Tilo đến Việt Nam tiến hành dự án nghiên cứu bảo tồn voọc mông trắng lớn nhất tại Việt Nam.
Trong những ngày lặn lội ở núi rừng Cúc Phương, Tilo đã gặp Nguyễn Thị Thu Hiền, cô sinh viên Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội khi ấy là hướng dẫn viên du lịch cho một số công ty lữ hành. Vốn có cá tính lại thích ngao du, Hiền đã cùng Tilo vào rừng, lên núi hàng tuần để tìm hiểu tập quán của loài linh trưởng tại Việt Nam. Rồi như nhân duyên tiền định, hai người đã nảy sinh tình cảm đúng nghĩa câu nói “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”.
Không chỉ vậy, tình yêu của cô hướng dẫn viên du lịch với ông Tây Tilo cũng rất đẹp, hiện đại, hay như lời Thu Hiền từng chia sẻ: “Với chúng tôi, tình yêu không có tuổi”. Song, để đến được bên nhau, họ cũng phải trải qua những thử thách không hề dễ dàng. Bởi, ngay từ khi biết con gái yêu một người đàn ông người Đức gần bằng tuổi cha, hơn cả tuổi mẹ, gia đình Hiền cũng như họ hàng đã cực lực phản đối.
Còn với Tilo, kể từ khi dự án nghiên cứu bảo tồn linh trưởng của ông được xây dựng thành công vào năm 1996, cùng với “tiếng lòng” của voọc, sự hấp dẫn của núi rừng Cúc Phương và đặc biệt là tình yêu với cô gái người Việt, Tilo càng không thể rời núi rừng Cúc Phương, bỏ mặc những con thú quý đang có nguy cơ tuyệt chủng. Tilo càng không thể lìa xa chốn rừng này, khi ở đây có một người con gái đang nặng tình với ông.
Thời gian thấm thoắt trôi qua, tình yêu của Tilo với Thu Hiền rồi cũng đến lúc “gạo đã nấu thành cơm”. Rốt cuộc, rồi cha mẹ Hiền cũng đã phải mềm lòng, chấp nhận để hai người đi tới hôn nhân, sống hạnh phúc hơn 10 năm qua. Đến nay đã cho ra hoa, kết trái với 2 mụn con kháu khỉnh với khuôn mặt Tây, tiếng nói Việt.
Dẫu rằng khác biệt chủng tộc, chênh lệch tuổi tác khi Tilo hơn hẳn Thu Hiền 31 tuổi, còn con gái riêng của ông Tây này cũng nhiều hơn 5 tuổi. Song họ vẫn gắn bó thắm thiết, sống trọn nghĩa vẹn tình cho đến ngày nay. Điều đáng trân trọng là khi Tilo quyết định rời Hà Nội vào bám Rừng quốc gia Cúc Phương để có điều kiện cứu hộ, nuôi dưỡng, bảo tồn đàn voọc tốt hơn, Thu Hiền cũng nguyện theo chồng.
Bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm ngày đầu mới đặt chân đến Rừng quốc gia Cúc Phương, Thu Hiền chia sẻ: “Chúng tôi phải dựng lều, ăn củ chuối, uống nước suối, ngủ ngay trong rừng để rình chụp ảnh voọc mông trắng. Bà con quanh vùng ai cũng trố mắt kinh ngạc, không hiểu chúng tôi làm gì. Không những vậy, do thường xuyên phải lăn lộn khảo sát, tìm hiểu tập tính của linh trưởng trong các khu rừng, vách núi cùng anh Tilo, bẩn thân tôi cũng đã mất đứa con trong bụng do quá đuối sức”.
Sau những cố gắng không biết mệt mỏi cùng với thời gian, rồi những công sức mà Tilo và Thu Hiền bỏ ra cũng được đền đáp. Tilo đã ghi lại được hình ảnh voọc mông trắng, nhưng buồn thay kèm theo đó là cảnh người ta nhốt voọc vào lồng tre, đem ra chợ cho người ta chọc tiết, ngã giá trên từng khúc thịt còn đỏ tươi.
Tuy nhiên, sau phát hiện kịp thời của ông Tilo, các nhà khoa học quốc tế đã vào cuộc nghiên cứu. Hội Động vật Frăng-phuốc ngay sau đó đã nhanh chóng đầu tư kinh phí và chuyên gia giúp Tilo đứng ra thành lập Trung tâm cứu hộ linh trưởng nguy cấp, quý hiếm tại Vườn quốc gia Cúc Phương (năm 1993). Dẫu rằng ở thời điểm bấy giờ, nhiều người cho rằng việc làm của Tilo là điên khùng và không ít người nghi ngờ thiện chí bảo tồn loài voọc của ông cùng với các cộng sự. Bởi họ sợ gã Tây râu hùm, mắt xanh, mũi nhọn sẽ ủ mưu bắt hết voọc, khỉ của Việt Nam để đưa tuốt về rừng Tây.
Thế nhưng, với tình yêu lớn lao dành cho voọc, ngay từ những ngày đầu mới hoạt động, Tilo đã nhanh chóng khuấy động rừng Việt như sự hiện diện của “cha rừng” sẵn sàng chiến đấu một mất một còn với “sát thủ thú rừng” để bảo vệ muôn loài.
Qua 2 thập kỷ, gắn bó với núi rừng Việt Nam, Tilo đã chứng kiến rất nhiều những cảnh tượng đau lòng do “sát thủ thú rừng” gây ra. Đó không chỉ là tiếng gào thét, những giọt nước mắt ngắn dài mà còn cả những giọt máu tanh tảnh mà các loài linh trưởng đã và đang phải gánh chịu.
Đúng như lời Tilo nói, mọi loài trên thế giới đều có quyền tồn tại như nhau, dẫu nó to như con voi hay bé như con kiến. Chính vì yêu thiên nhiên nên Tilo đã rất đau đớn, như cắt đứt từng khúc ruột, khi một con voọc bị mổ bụng, giết thịt, ‘ép’ hút thuốc lá rồi đưa lên mạng khoe chiến tích bởi hai quân nhân. Trông thấy những cảnh tượng ấy, Tilo không thể nào ngồi yên, bỏ mặc “những đứa con” của mình bị người ta sát hại. Bởi, Việt Nam hiện có 25 loài linh trưởng, nhưng có đến 15 loài cần phải bảo vệ nghiêm ngặt, nhất là 4 loài đặc hữu chỉ có ở Việt Nam.
Bà Hiền tâm sự: “Thời gian đầu mới đến Việt Nam, hễ ở đâu có tin báo vượn, voọc, khỉ, cu ly bị xâm hại là anh Tilo lại lên đường. Có lần anh còn tự lái ô tô suốt từ sáng đến tối, vào tận Quảng Nam, Đà Nẵng bắt một con chà vá bị thương. Dọc đường, bị kiểm lâm kiểm tra, anh bế chú vọc trọng lượng 2kg, tanh tưởi máu mủ đau thương vì trúng bẫy trên tay, trong khi bản thân mình đứng rãi nắng chày chày nhưng anh vẫn không quên bẻ cành lá tươi xoè thành cái lọng xanh che cho con vật tội nghiệp.”
Sau hàng trăm, hàng ngàn lần xuyên Việt, bảo tồn động vật hoang dã với những hành động thơm thảo như vậy, Tilo rồi đã được Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Nhì và nhiều phần thưởng xứng đáng khác. Trong suốt thời gian làm công tác bảo tồn, Tilo được xem là một “thủ lĩnh” có cốt cách sống nhân ái với muôn loài. Tilo và cộng sự, đặc biệt là người vợ thân yêu Thu Hiền đã biến Trung tâm cứu hộ của mình thành tổ ấm tin cậy cho 15 loài linh trưởng quý hiếm nguy cấp nhất Đông Dương trú ngụ.
Tuy vậy, đến nay Tilo vẫn không thể nào ngồi yên khi trong đầu ông lúc nào cũng hiện ra những cảnh tượng “đàn con” của mình bị kẻ đi săn bắn hạ; những nhà hàng mổ thịt, đem trưng bày; hay những đại gia, quan chức thu mua về “hành hạ”.
Theo bà Hiền, phần lớn các loài linh trưởng ở đây đều là nạn nhân của những vụ săn bắn và mua bán trái phép động vật hoang dã, đặc biệt nhiều linh trưởng khi được chuyển đến trong tình trạng sức khỏe rất yếu và mang trên mình nhiều thương tích. Do vậy việc phục hồi các vết thương và giúp linh trưởng tái hòa nhập với môi trường tự nhiên là việc làm hết sức khó khăn.
Thu Hiền chia sẻ: “Mặc dù mục tiêu của chương trình chăm sóc là tái hòa nhập thú linh trưởng vào tự nhiên, nhưng với hiện trạng đáng báo động như hiện nay chúng tôi vẫn cảm thấy rất lo lắng và bất an khi thả những nguồn gen vô cùng quý hiếm và đang có nguy cơ tuyệt chủng này lại tự nhiên”.
Còn với Tilo, suốt 2 thập kỷ gắn bó rừng xanh, sống với “đàn con sách đỏ”, đến nay ông vẫn đang ôm trong mình nỗi trăn trở đưa loài linh trưởng trở về rừng xanh. “Tôi rất muốn đưa ‘đàn con’ của tôi trở về với thiên nhiên, nhưng liệu nó có thể tồn tại được ở rừng bao lâu? Trong khi kẽ hở pháp luật còn rất lớn, tình trạng săn bắn thú rừng ngày càng tinh vi. Thậm chí, một số cán bộ kiểm lâm còn “vô cảm” hay không làm tốt chức trách, cũng đã khiến các loài sách đỏ phải đối mặt trước nguy cơ tuyệt chủng?”. Tilo lo ngại. (Nông Thôn Ngày Nay 5/11)đầu trang(
Vào lúc 2h13 ngày 3.11.2012, Ama Kông - huyền thoại sống của vùng đất bản Đôn (Đắc Lắc) - đã vĩnh viễn ra đi, hưởng thọ 103 tuổi. Cuộc đời ông là một câu chuyện tưởng như hoang đường mà có thật, được kết tinh từ đại ngàn Tây Nguyên hùng vĩ.
Ông Khăm Phết Lào - con trai Ama Kông - ngậm ngùi: “Từ nhiều tháng trước, khi thấy sức khoẻ cha yếu dần, tôi đã hạn chế cho khách tiếp xúc, trừ trường hợp hết sức cần thiết. Chiều 23.10, cha tôi đau bụng dữ dội, sáng hôm sau được gia đình đưa lên BVĐK Thiện Hạnh rồi chuyển sang BVĐK tỉnh Đắc Lắc.
Các bác sĩ chẩn đoán cha tôi bị thủng dạ dày gây viêm phúc mạc, nhiễm trùng ổ bụng, không sống được quá 24 giờ. Lúc đó tôi đang ở Hà Nội, vẫn gọi điện về yêu cầu bệnh viện phẫu thuật, với hy vọng kéo dài sự sống để được nhìn mặt cha lần cuối. Chiều 2.11, cha tôi được gia đình đưa về căn nhà mà cụ đã suốt đời gắn bó và cụ đã ra đi...
Ama Kông là một người đàn ông có ngoại hình hấp dẫn, sức khoẻ phi thường, tài hoa và đa tình. Từ năm 13 tuổi, Y Prung Ê ban - tên khai sinh của Ama Kông - đã làm thợ phụ trong các đoàn săn voi, đến năm 17 trở thành thợ chính, trong chuyến săn đầu tiên đã bắt được 5 con voi rừng. Theo hũ thống kê số lượng voi bắt được thì cho đến chuyến săn cuối cùng năm 1982 - năm Chính phủ ra lệnh cấm săn bắt voi rừng - thì Ama Kông đã săn được 298 con.
Đó là một cái hũ bên trong có 10 thanh gỗ, mỗi thanh dài 10cm, được vót tròn như chiếc đũa. Mỗi khi làm lễ cúng nhập buôn cho một con voi rừng, người thợ săn lại lấy một thanh gỗ ra rồi khắc một khấc để làm dấu. Cho đến khi bỏ nghề, thợ săn mới kiểm đếm xem trong cuộc đời đã săn bắt được bao nhiêu voi rừng, tương ứng với số lượng khấc trên các thanh gỗ. Với số voi săn được, Ama Kông là người kế thừa xứng đáng ngôi vương của Khul Su Nốp - ông tổ của nghề săn voi rừng bản Đôn, được Nhà vua Thái Lan phong tặng danh hiệu “vua săn voi”.
Ông từng có nhiều đóng góp cho cách mạng (dùng voi vận chuyển vũ khí, lương thực cho bộ đội, đưa bộ đội qua sông, ủng hộ lương thực, thực phẩm cho kháng chiến), nên đã được Nhà nước ta tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất...
Vẫn như lúc Ama Kông còn sống, trong ngôi nhà sàn còn trưng bày những kỷ vật gắn liền với cuộc đời săn bắt, thuần dưỡng voi rừng của ông. Khách viếng dừng lại thật lâu ở từng kỷ vật, như thể sau đó họ không còn được nhìn thấy, hoặc không có dịp quay lại ngôi nhà sàn. Đó là sợi dây thòng lọng dài 120m, bện bằng bộ da của 7 con trâu đực, được phơi trong 70 ngày nắng, 70 đêm sương, cất trên gác bếp đủ một mùa rẫy trước khi đem ra sử dụng để bắt voi rừng. Theo những người trong dòng họ Êban, nếu buộc ở ngoài trời, sợi dây này có sức bền một trăm năm không mục nát. Đây là sợi dây đã được Ama Kông sử dụng trong các chuyến săn voi. Và đây, tấm nệm lót để đặt bành trên lưng voi được làm bằng da con min (trâu rừng), chỉ được sử dụng khi đi săn voi.
Thông thường, tấm nệm lót bành được làm bằng vỏ cây lộc vừng đập xốp, phơi khô, chỉ những người săn được từ 72 con voi rừng trở lên như Ama Kông mới được ngồi trên tấm nệm lót bành bằng da con min. Còn chiếc giáo gru, theo ông Y Kông - con trai cả của Ama Kông, năm nay đã 74 tuổi - là vật được Ama Kông dùng để trợ giúp đàn voi nhà tấn công voi rừng. Cuối cùng, chiếc tù và bằng sừng trâu được “vua săn voi” báo hiệu cho buôn làng biết mỗi khi đi săn thắng lợi trở về, khi tiếng tù và im lặng thì có nghĩa chuyến săn đó không bắt được con voi rừng nào.
Cũng nhờ săn bắt được nhiều voi, Ama Kông nổi tiếng là người giàu có, ăn chơi ví như công tử Bạc Liêu của Tây Nguyên. Tương truyền, ông từng được người Pháp đưa đi học chữ Tây, nhưng ông đã trốn về bản Đôn để được săn voi và được... ăn chơi. Nhiều lần ông đi máy bay từ Buôn Ma Thuột vào Sài Gòn đánh bạc, số tiền thua bạc có khi bằng 4 con voi lớn, bằng 10 ngôi nhà gỗ quý...
Ông từng săn được voi trắng và hiến tặng cho các vua Lào, Thái và cả Ngô Đình Diệm. Ông từng bán nhiều con voi để về Nha Trang, Sài Gòn vui chơi. Với tài săn voi, sự giàu có, sành điệu các nhạc cụ dân tộc và chất đa tình, Ama Kông cũng là niềm mơ ước của vô số người đẹp. Ông đã cưới chính thức 4 người vợ, sinh hạ được 21 người con, có 118 cháu, chắt. Số con, cháu này đang sinh sống ở các tỉnh Tây Nguyên và một số vùng của Lào và Campuchia, không có điều kiện về đủ trong đám tang ông.
Ama Kông không chỉ nổi tiếng trong việc săn bắt voi mà còn nổi tiếng bởi bài thuốc gia truyền có tác dụng tráng dương bổ thận, tăng cường sinh lực, chữa đau nhức xương khớp, đặc biệt là tác dụng nâng cao “bản lĩnh đàn ông” (thuốc Ama Kông). Sinh thời ông cho biết: Nhờ sử dụng bài thuốc này mà ông luôn luôn khoẻ mạnh, đáp ứng được yêu cầu của 4 bà vợ. Ngôi nhà của ông Ama Kông nằm ở buôn Trí A, xã Krông Na là địa điểm mà bất cứ du khách nào cũng muốn tham quan khi đến buôn Đôn. Đó là ngôi nhà sàn gỗ, có tuổi thọ khoảng 130 năm, do “vua săn voi” Khul Su Nốp làm với giá tiền 12 “con voi đực có cặp ngà lớn”.
Đây cũng là ngôi nhà chứng kiến những thăng trầm trong cuộc đời của Ama Kông. Sau khi người vợ đầu là N’Nố mất năm 1941 do chứng hậu sản, ông lấy em gái vợ là H’Hốt theo tục nối dây, đến năm 1973 ông lại tiếp tục... khổ vì tình. Khi bà H’Hốt mới sinh con út được vài ngày thì Ama Kông dẫn cô người yêu H’Biai kém ông 20 tuổi cùng đứa con gái riêng 5 tuổi về ra mắt, xin cưới làm vợ ba. H’Hốt nổi cơn ghen kinh hoàng, Ama Kông phải tay trắng sang ở với mẹ con H’Biai. Bà vợ này cũng nổi tiếng ăn chơi, rượu chè, 10 năm sau bị chết vì trúng gió trong một cơn say rượu.
Năm 80 tuổi, “vua voi Ama Kông” yêu và cưới H’Khăm, một bông hoa rừng mới 25 tuổi và đã có con riêng. Đám cưới diễn ra đơn sơ, gọn nhẹ vì “nhà vua” không còn giàu có. Nhưng bà vợ thứ tư này cũng ham chơi, mê nhậu và hay... đánh “vua”. Và mặc dù Ama Kông rất yêu thương, chiều chuộng nhưng bà này cũng nhất quyết ly dị. Ama Kông lại gần như trắng tay, trở về ngôi nhà sàn cổ của mình với người vợ hai - bà H’Hốt.
Tại đây, ông đã sống những năm tháng cuối cùng, sống với nỗi nhớ những cuộc săn rung chuyển đại ngàn. Bài thuốc Ama Kông mặc dù đã được con trai Khăm Phết Lào chính thức thừa kế, song một thời gian dài cũng bị tranh chấp và kiện tụng, hiện vẫn bị “làm nhái” ở nhiều nơi buôn Đôn cũng như Đắc Lắc.
Bất chấp những được mất, thành bại, cuộc đời 103 năm tuổi của “vua săn voi” Ama Kông vẫn là một huyền thoại đẹp lung linh, một sử thi sống của Tây Nguyên hùng vĩ. Sự ra đi của ông không chỉ là tổn thất của dòng họ, du khách, mà còn là mất mát lớn của nền văn hoá Tây Nguyên. (Lao Động 5/11; Tiền Phong 5/11)đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Gần đây, vấn đề thuỷ điện đã trở thành tâm điểm của dư luận trong nước sau rất nhiều xìcăngđan như thuỷ điện sông Tranh 2, thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A, thuỷ điện Dăkrông 3.
Mới đây, báo Sài Gòn Tiếp Thị tiếp dẫn số liệu từ bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ngày 31.10.2012 cho biết “Từ năm 2006 đến nay, thuỷ điện đã lấy gần 20.000ha rừng trên cả nước, trong đó có tới trên 7.500ha rừng đặc dụng và rừng phòng hộ”.
Từ năm 2006 đến nay, thuỷ điện đã lấy gần 20.000ha rừng trên cả nước, trong đó có tới trên 7.500ha rừng đặc dụng và rừng phòng hộ.
Những vấn đề xoay quanh chất lượng công trình thuỷ điện, trách nhiệm nhà đầu tư cùng công tác dự báo đã nhanh chóng được các chuyên gia đưa ra “mổ xẻ”. Khi những vấn nạn về an ninh con người trong ngắn hạn còn chưa được giải quyết, một vấn đề có vẻ “vĩ mô” hơn cần tiếp tục được đưa lên “bàn cân”: thuỷ điện và bài toán biến đổi khí hậu.
Việt Nam bị đánh giá là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nhất từ vấn nạn biến đổi khí hậu. Nghiên cứu “Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam” của nhóm tác giả thuộc viện Khoa học khí tượng thuỷ văn và môi trường năm 2010, kịch bản biến đổi khí hậu Việt Nam 2009 (được xây dựng dựa trên các báo cáo của các cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế uy tín) chỉ ra rằng năm 2050 sẽ không còn những khu vực dưới 14oC, và sẽ xuất hiện những khu vực nhiệt độ năm trên 28oC. Năm 2100 khu vực dưới 16oC hầu như mất hẳn và khu vực trên 28oC chiếm hầu hết Nam bộ, đồng bằng duyên hải Nam Trung bộ và phần phía nam của Bắc Trung bộ. Kịch bản này cũng chỉ ra rằng tại Việt Nam, mực nước biển sẽ dâng lên 30cm năm 2050, và 75cm vào năm 2100. Như vậy, ứng với mực nước biển tương ứng, năm 2050 cả nước sẽ có trên 8.000km2 diện tích bị ngập chiếm khoảng 2,5%. Đến năm 2100, con số này lên đến trên 22.000km2, chiếm 6,7% diện tích tự nhiên.
Dựa theo báo cáo phát triển con người năm 2008 của UNDP tại Việt Nam với nhan đề “Cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu: đoàn kết nhân loại trong một thế giới phân cách”, ông Bernard O’Callaghan, điều phối viên chương trình của tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới, cho biết ở Việt Nam, nước biển dâng sẽ khiến 22 triệu người Việt Nam mất nhà cửa với thiệt hại lên tới 10% GDP. Vấn đề an ninh lương thực cũng được cảnh báo bởi nếu nước biển dâng cao 1m, 67% diện tích các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và 11,2% diện tích đồng bằng sông Hồng sẽ “biến mất”, đồng nghĩa với việc “chén cơm” của quốc gia theo đó vỡ tan tành.
Nhìn một cách tổng thể, biến đổi khí hậu tác động tiêu cực mạnh mẽ đến các vấn đề an ninh, kinh tế – xã hội của Việt Nam. Đã có nhiều biện pháp được đưa ra nhằm hạn chế tối đa những áp lực ngày càng nặng từ vấn đề biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, một cách khách quan mà nói thì Việt Nam vẫn còn khó thực thi. Điển hình là trong vấn đề cắt giảm lượng khí thải CO2 trong bối cảnh đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá. Quá trình này vẫn đang áp dụng những công nghệ còn lạc hậu, các giải pháp xử lý chất thải công nghiệp thô sơ, thiếu hiệu quả mà đằng sau nó là sự vô trách nhiệm của nhiều nhà đầu tư.
Ông Andrew Head, giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam, đánh giá: “Trong những năm qua, Việt Nam phát triển tốt về kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, lượng thải CO2 cũng gia tăng đáng báo động”. Theo ước tính của bộ Tài nguyên và môi trường Việt Nam, đến năm 2020, chỉ tính riêng trong ngành năng lượng, lượng khí thải CO2 là 224 triệu tấn. Đó là chưa kể các ngành công nghiệp chủ yếu khác cũng thải ra khoảng 10 triệu tấn/năm.
Trong bối cảnh này, vấn đề “hoàn thiện hoá lâm nghiệp” được chú trọng nhấn mạnh như một “cứu cánh” cho vấn đề giảm thiểu tác hại từ biến đổi khí hậu. Nghiên cứu “Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam” cho rằng Việt Nam cần phải: i) thực hiện chương trình 5 triệu ha nhằm tăng cường độ che phủ rừng lên 43%; ii) hạn chế khai thác rừng tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học; iii) ngăn chặn khai phá rừng ngoài kế hoạch, phục hồi rừng bằng các biện pháp tiên tiến, hiệu quả; iv) ổn định cơ cấu diện tích ba loại rừng: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất; v) xây dựng chương trình quản lý rừng hiệu quả.
Ngày 1.6.2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định “Về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 – 2020”, trong đó chỉ rõ mục tiêu “Gắn trách nhiệm của người sử dụng lợi ích của rừng với đầu tư phát triển và bảo vệ phát triển rừng đặc dụng, tăng hiệu quả vốn đầu tư của Nhà nước”.
Tuy nhiên, với thực trạng hiện nay, “mất rừng” đã trở thành “vấn nạn” và trách nhiệm của người sử dụng lợi ích của rừng với đầu tư phát triển và bảo vệ phát triển rừng càng “chẳng” thấy đâu. Điển hình như khu vực Tây Nguyên, với trên 8.000ha bị khai thác làm thuỷ điện nhưng đến thời điểm hiện nay mới chỉ có 8/29 tỉnh, thành thực hiện trồng lại 735ha rừng, chiếm khoảng 3,7% diện tích rừng đã chuyển đổi thành thuỷ điện. Tại Bình Định, tháng 3.2012 chi cục Lâm nghiệp Bình Định thống kê đã có đến 301.25ha diện tích các công trình thuỷ điện ở Bình Định ảnh hưởng đến rừng và đất rừng.
Nguồn lợi từ thuỷ điện là rất lớn, tuy nhiên người nhận được suy cho cùng là những “đại gia” mạnh tay đổ tiền đầu tư. Trong khi đó, người dân phải hứng chịu rất nhiều những thiệt hại về tài sản lẫn an ninh con người do những công trình được kỳ vọng là “phúc lợi” cho xã hội. Hơn nữa, xét xa hơn khi biến đổi khí hậu tại Việt Nam trở nên “nghiêm trọng” do rừng không còn “sức” về lượng lẫn về chất thì thảm hoạ sẽ diễn ra.
Báo cáo khoa học về quản lý ô nhiễm môi trường của sở Tài nguyên và môi trường Lâm Đồng năm 2010 cho thấy, để có 1MW điện từ các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ phải mất 16ha rừng. Sự đánh đổi này, hiện nay tại Việt Nam, dường như đang làm xấu hình ảnh thuỷ điện hơn là sự kỳ vọng của người dân. Và trong tương lai không quá xa, động thái “mua bán” này còn gây ra không ít những hệ luỵ về biến đổi khí hậu. Như vậy, mối quan hệ nhân quả giữa thuỷ điện và bài toán biến đổi khí hậu Việt Nam đang trở nên rất gần. (Sài Gòn Tiếp Thị 5/11)đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Binh lính Thái Lan vừa bắn chết ba lâm tặc người Campuchia vì đốn gỗ hồng sắc trái phép ở vùng biên giới trên lãnh thổ Thái Lan.
"Tôi nhận được thông tin rằng ba người đàn ông Campuchia bị lính Thái bắn chết", Xinhua dẫn lời Prach Chan, tỉnh trưởng tỉnh Battambang, Campuchia hôm qua cho biết. "Phía Thái tuyên bố những người đàn ông này đã xâm nhập trái phép lãnh thổ Thái Lan để đốn gỗ", ông nói và cho biết thi thể những người này hôm qua được trả về Campuchia.
Vụ việc xảy ra hôm 3/10, ở khu vực biên giới giữa huyện Samlot, tỉnh Battambang của Campuchia và Thái Lan.
Trong 6 tháng đầu năm nay, lính Thái đã làm thiệt mạng ít nhất 38 người Campuchia đốn gỗ trái phép, theo một báo cáo của Văn phòng Quan hệ Biên giới Campuchia-Thái Lan công bố hồi tháng 8. Giới chức trách Thái Lan cũng trong thời gian này đã trục xuất hơn 68.000 người Campuchia vượt biên trái phép.
Campuchia có chung đường biên giới dài 800 km với Thái Lan ở phía bắc và phía tây nước này. Trong những năm qua, biên giới hai nước liên tiếp vang tiếng súng do những tranh chấp lãnh thổ, đặc biệt là tại khu vực gần ngôi đền Preah Vihear của Campuchia. Nhiều lính của cả hai bên đã thiệt mạng, trong khi hàng trăm nghìn người dân của hai nước phải trải qua cảnh bỏ nhà đi di tản. (Vnexpress.net 5/11; Thanh Niên 5/11) đầu trang(
Người dân ở quận Baitadi, miền tây Nepal đang rất lo lắng sau khi có nhiều thông tin cho thấy một con báo có thể đã ăn thịt 15 người tại đây trong 15 tháng qua.
Nạn nhân mới nhất của nó là một cậu bé 4 tuổi. Người ta đã tìm thấy phần đầu của cậu bé tại một khu rừng, cách nhà cậu khoảng 1km sáng 3-11.
Kamal Prasad Kharel, cảnh sát trưởng quận Baitadi, cách thủ đô Kathmandu 600km về phía tây, cho biết có một nhóm đã đi tìm cậu bé và phát hiện thi thể của cậu. Ông Kamal cho rằng nếu không phải do 1 con báo thì có 2 con vật ăn thịt người đang hoành hành dữ dội ở khu vực xa xôi của Nepal.
Nhà sinh thái học Maheshwor Dhakal thuộc khu bảo tồn động vật hoang dã ở Kathmandu cũng đồng ý rằng khó có khả năng có nhiều hơn 2 con vật ăn thịt người trong 1 khu vực. Hầu hết báo đều săn mồi ở nơi hoang dã. Tuy nhiên, trong khi chưa biết thực hư ra sao thì có thể sẽ còn thêm người là nạn nhân của giống báo này, nhất là khi chúng đã ăn được thịt người thì sẽ không thích thịt động vật khác nữa.
Ông Kharel cho rằng có thể số nạn nhân còn cao hơn 15 người vì có những người mất mạng do báo ở Uttarkhand, phía bắc Ấn Độ và là nơi tiếp giáp với quận Baitadi.
Trong số 15 nạn nhân ở Nepal có 2/3 là trẻ em dưới 10 tuổi. Những người khác lớn tuổi hơn, và có cả một phụ nữ 29 tuổi đi kiếm cỏ khô cho gia súc. Con báo không săn bất kỳ con mồi là nam giới trưởng thành nào. Các nạn nhân đều từ các ngôi làng sát vùng biên, nơi có rừng rậm bao phủ. Sau khi giết con mồi, con báo thường tha vào trong rừng.
Chính quyền quận đã treo giải thưởng trị giá khoảng 300 USD cho bất kỳ ai giết được con báo. Họ cũng cảnh báo người dân không được đi một mình ở các khu rừng lân cận, huy động cảnh sát, quân đội và người dân địa phương có giấy phép dùng súng bắt hoặc giết con báo.
Thông thường thì Nepal không cho phép giết động vật hoang dã, nhưng đến nay nhà chức trách phụ trách bảo tồn chưa tìm ra được giải pháp nào khác để bảo vệ người dân ngoài việc phải giết con báo. Lãnh đạo quận Baitadi đã được phép giết con báo này. Dù trước đây cũng có một số trường hợp báo giết gia súc gia cầm, nhưng với trường hợp giết nhiều người như thế này là chưa từng xảy ra. (Tuổi Trẻ 4/11)đầu trang(
Các nhà khoa học tại Trung tâm nghiên cứu cúm gia cầm, thuộc Trường Đại học Airlangga ở Surabaya, tỉnh East Java, Indonesia vừa thông báo đã phát hiện thấy vius Ebola ở một số con đười ươi Kalimantan.
Nhà nghiên cứu cao cấp Chairil Anwar Nidom thuộc trung tâm nói trên cho biết 65 mẫu huyết thanh được lấy từ 353 con đười ươi khỏe mạnh trong giai đoạn từ tháng 12/2005-12/2006 đã cho kết quả dương tính với virus Ebola. Các mẫu này mới được đưa thử nghiệm do trước đó trung tâm chưa có đủ các điều kiện cơ sở vật chất và kỹ thuật.
Ngoài ra, 6 trong số 353 mẫu được kiểm tra dương tính với virus Marburg - một loại virus tương tự như Ebola, gây bệnh sốt xuất huyết Marburg. 60 trong số 65 mẫu dương tính với virus Ebola tương tự như virus được tìm thấy ở Zaire, Sudan, Cote d'Ivoire, Uganda của châu Phi, và 5 mẫu tương tự với siêu vi khuẩn Ebola được tìm thấy ở châu Á.
Ông Chairil và nhóm của ông nói rằng họ đang thu thập các mẫu từ lợn rừng, được nghi ngờ là đã truyền virus cho đười ươi.
Siêu vi khuẩn Ebola lần đầu tiên được phát hiện ở Congo vào năm 1976. Mới đây, đã có 16 người chết tại Uganda vì dịch bệnh do virus Ebola gây ra. (VietnamPlus.vn 3/11) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa