Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 05 tháng 10 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Những năm qua, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tập trung đổi mới và tăng cường công tác đối thoại với nhân dân nhằm tạo sự đồng thuận trong thực hiện các nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR).
Huyện Lang Chánh có 49.600 ha rừng, chiếm 84% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, trong đó, rừng tự nhiên 31.145 ha, rừng trồng 18.455 ha, diện tích rừng tự nhiên tập trung ở các xã Yên Khương, Yên Thắng, Trí Nang, Lâm Phú, Tam Văn và Giao Thiện. Với vai trò là lực lượng nòng cốt trong công tác quản lý, BVR, Hạt Kiểm lâm huyện Lang Chánh đã triển khai thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về BV&PTR được đơn vị xác định là nhiệm vụ trọng tâm.
Bên cạnh việc tham mưu cho cấp ủy đảng, chính quyền thực hiện tốt công tác quản lý, BVR, đơn vị tập trung triển khai thực hiện Đề án “Tiếp nhận và xử lý thông tin, phản ánh, kiến nghị, đề nghị của nhân dân về công tác kiểm lâm” của Chi cục Kiểm lâm. Để triển khai đề án có hiệu quả, Hạt Kiểm lâm huyện Lang Chánh đã chỉ đạo kiểm lâm viên địa bàn phối hợp với khối dân vận tham mưu cho đảng ủy, UBND các xã tổ chức 30 cuộc đối thoại với nhân dân tại 30 thôn, bản trọng điểm của 10 xã với 3.304 lượt người tham gia.
Lãnh đạo hạt kiểm lâm trực tiếp dự, lắng nghe ý kiến và trả lời những câu hỏi của nhân dân về công tác kiểm lâm nói riêng và lĩnh vực lâm nghiệp nói chung. Trong quá trình đối thoại, hạt kiểm lâm huyện cũng đã phổ biến cho nhân dân về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực lâm nghiệp và một số vấn đề về công tác kiểm lâm. Thông qua các cuộc đối thoại, nhiều thắc mắc, bức xúc của người dân đã được giải đáp kịp thời, từ đó tình trạng khiếu nại, phán ánh vượt cấp không còn xảy ra.
Ông Nguyễn Duy Vĩnh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Lang Chánh, cho biết: Trong thời gian tới, đơn vị sẽ triển khai đối thoại với nhân dân ở tất cả các thôn trên địa bàn huyện để kịp thời giải quyết các vấn đề còn vướng mắc ở địa bàn và lắng nghe ý kiến của nhân dân để có những chỉ đạo phù hợp với tình hình thực tế nhằm giữ vững ổn định an ninh rừng.
Trong 9 tháng năm 2016, toàn ngành kiểm lâm đã tiếp nhận 824 thông tin phản ánh (trong đó có 316 tin đúng sự thật và 508 tin sai sự thật), 16 kiến nghị, 297 đề nghị, 5 thông tin tố cáo; tổ chức được 255 cuộc đối thoại với nhân dân; tổ chức 48 cuộc kiểm tra, rà soát và chỉnh sửa bảng niêm yết công khai nội dung, hình thức tiếp nhận và xử lý thông tin, số điện thoại đường dây nóng.
Trong thời gian tới, để nâng cao chất lượng, hiệu quả việc thực hiện Đề án “Tiếp nhận và xử lý thông tin, phản ánh, kiến nghị, đề nghị của nhân dân về công tác kiểm lâm”, ngành kiểm lâm tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền và hướng dẫn triển khai thực hiện đề án đến toàn thể kiểm lâm viên để việc đối thoại trực tiếp với nhân dân trở thành công tác thường xuyên. Từ đó xây dựng tác phong “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”.  (Báo Thanh Hóa 4/10) đầu trang(
Ngày 4/10, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Phước cho biết trong 9 tháng đầu năm đã phát hiện 117 vụ vi phạm quản lý rừng.
Theo đó, tổng số vụ vi phạm trên địa bàn là 117 vụ, giảm 90 vụ so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, quản lý lâm sản 107 vụ, 4 vụ phá rừng thiệt hại 0,47 ha đất sản xuất, giảm 5 vụ so với cùng kỳ năm 2015.
Trong 9 tháng đầu năm là lúc cao điểm mùa khô, công tác phòng cháy chữa cháy được tăng cường. Tuy nhiên vẫn xảy ra 7 vụ cháy rừng với diện tích gần 15 ha. So với năm trước, cháy rừng tăng 5 vụ, diện tích bị cháy tăng 14,267 ha, rất may không ảnh hưởng đến tính mạng con người.
Hiện các vụ cháy rừng đang được Hạt kiểm lâm phối hợp với công an các huyện, thị xã điều tra, xác minh làm rõ. (Tầm Nhìn 4/10) đầu trang(
Dù cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng với người dân xã Nậm Ban (huyện Nậm Nhùn), bảo vệ rừng đã trở thành nhiệm vụ thường xuyên để rồi rừng trả ơn bằng cung cấp nguồn nước sinh hoạt, sản xuất ổn định, điều hòa môi trường. Và, hơn hết giúp người dân được hưởng lợi từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Đến Nậm Ban, qua các bản Nậm Ô, Hua Pảng, Pa Pảng, Nậm Vạc chúng tôi ngỡ ngàng trước màu xanh của những cánh rừng nơi đây. Qua lời người dân, rừng đã và đang trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của bà con.
Ông Tào A Thắng - Chủ tịch UBND xã Nậm Ban cho biết: “Để bảo vệ và phát triển rừng, xã quan tâm củng cố, kiện toàn Ban Chỉ đạo bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng với 24 thành viên; tăng cường tuyên truyền Luật Bảo vệ và Phát triển rừng tới người dân. Tại các bản cũng thành lập tổ chuyên trách bảo vệ rừng”.
Trước tình trạng nguồn tài nguyên rừng suy giảm do bà con đốt rừng làm nương, chặt phá rừng lấy gỗ… xã phối hợp với Hạt Kiểm lâm, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện thường xuyên tuyên truyền tác hại của việc đốt, phá rừng ảnh hưởng đến cuộc sống; lợi ích thiết thực rừng mang lại. Cùng với đó, hướng dẫn quy trình đốt nương cho bà con; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm lâm luật hay đốt nương gây cháy rừng.
Anh Liều A Mãng (bản Nậm Vạc 2) chia sẻ: Do cuộc sống của đồng bào Mông chúng tôi gắn với rừng núi, nên vẫn có suy nghĩ những thứ có trong rừng là của mình, nên muốn làm gì thì làm. Do vậy, không chỉ chặt hạ cây to làm nhà, bán gỗ mà một số hộ còn đốt nương bừa bãi gây cháy lan sang rừng. Khi có thiên tai gây lũ lụt, hạn hán, sạt lở đất lại đổ tội cho con ma làm. Được cán bộ xã, huyện tuyên truyền, ý thức người dân nâng lên. Giờ đây tích cực bảo vệ rừng, bà con còn đưa vào quy ước bản và nghiêm túc thực hiện, đến mùa làm nương đều báo cho xã lịch đốt để có biện pháp xử lý nếu xảy ra cháy lan sang rừng”.
Được biết thêm, tổ chuyên trách bảo vệ rừng của 6 bản trong xã hoạt động khá hiệu quả bởi từ nguồn hỗ trợ dịch vụ bảo vệ môi trường rừng, các thành viên trong bản có thêm động lực làm tốt hơn nhiệm vụ được giao. Mỗi tổ được trang bị các phương tiện: cuốc, dao phát, trang phục, đèn pin... thuận lợi cho việc tuần tra, kiểm soát và chữa cháy rừng. Qua đó, hạn chế tối đa các vụ cháy rừng xảy ra. Một số bản làm tốt công tác phòng cháy chữa cháy rừng như: Nậm Ô, Hua Pảng, Nậm Vảng.
Với 1.083,7ha rừng, bản Nậm Vảng tổ chức cho các hộ dân ký cam kết bảo vệ rừng; xây dựng các phương án phòng cháy chữa cháy rừng; không công nhận gia đình văn hóa cũng như xử lý nghiêm những cá nhân, hộ gia đình gây ảnh hưởng tới rừng.
Anh Giàng A Khai - Bí thư Chi bộ bản Nậm Vảng cho biết: “Rừng là nguồn sống, vì vậy bảo vệ và phát triển rừng là trách nhiệm của tất cả bà con trong bản. Ngoài thành lập tổ chuyên trách, bản còn vận động bà con tham gia phối hợp chặt chẽ trong công tác tuần tra, kiểm soát, kịp thời phát hiện những trường hợp xâm phạm rừng. Qua đó, 4 năm qua, bản không để xảy ra phá rừng”.
Với diện tích 6.394,8ha rừng (rừng phòng hộ 4.808,7ha, rừng sản xuất 1.586,1 ha), độ che phủ đạt 46% - là những minh chứng rõ nét hiệu quả công tác bảo vệ, phát triển rừng của Nậm Ban. (Báo Lai Châu 4/10) đầu trang(
Sau gần 3 tháng điều tra, xác minh vụ việc phá rừng tại xã Tuấn Mậu, công an huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang đã có kết luận số 260/CV-CQĐT ngày 29/9/2016 về vụ việc này.
Theo đó, việc ông Phạm Văn Cương – đang là cán bộ Tư pháp thị trấn Thanh Sơn, con trai ông Phạm Văn Thắng – Chủ tịch UBND thị trấn Thanh Sơn phá gần 3 ha rừng tự nhiên là không đủ dấu hiệu của vụ án hình sự.
Sau khi báo TN&MT có loạt bài điều tra phản ánh về việc ông Phạm Văn Thắng – Chủ tịch UBND thị trấn Thanh Sơn buông lỏng quản lý để con trai là Phạm Văn Cương – Cán bộ Tư pháp thị trấn phá gần 3 ha rừng tự nhiên được nhà nước giao bảo vệ, chăm sóc tại xã Tuấn Mậu nhưng không bị xử lý theo quy định của pháp luật đã gây bức xúc trong dư luận.
Theo điều tra từ phía công an Sơn Động, việc người dân tố cáo ông Phạm Văn Cương – Cán bộ Tư pháp Thị trấn Thanh Sơn phá rừng khi chưa được các cơ quan quản lý nhà nước cho phép là đúng. Tuy nhiên, do vụ việc phá rừng diễn ra từ năm 2014, hồ sơ pháp lý để xác định hiện trạng rừng, trạng thái rừng không có, hiện trường không còn nguyên vẹn mà chỉ căn cứ vào lời khai của bên liên quan nên phía cơ quan công an gặp nhiều khó khăn để làm căn cứ xem xét có dấu hiệu của vụ án hình sự hay không.
Vì vậy, sau gần 3 tháng điều tra, công an huyện Sơn Động đã ban hành kết luận việc bố con ông Chủ tịch thị trấn Thanh Sơn phá gần 3 ha rừng tự nhiên và gian lận giấy ủy quyền không đủ dấu hiệu của vụ án hình sự hủy hoại rừng quy định tại Điều 189 – Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 2, Điều 107 – Bộ luật Hình sự, công an huyện Sơn Động đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 19 đối với việc phá rừng tự nhiên trái pháp luật và gian lận giấy ủy quyền mà chỉ xem xét xử lý hành chính. Ngoài ra, công an huyện Sơn Động cũng đề nghị Huyện ủy, UBNND huyện Sơn Động xem xét trách nhiệm đối với tập thể, cá nhân có liên quan.
Cụ thể, đối với Hạt Kiểm lâm Sơn Động cần phải xem xét làm rõ trách nhiệm của tập thể, những cá nhân liên quan khi để xảy ra việc chặt phá rừng nhưng không lập hồ sơ xem xét dẫn tới khiếu kiện phức tạp, ảnh hưởng xấu tới tình hình ANTT ở địa phương.
Đối với ông Phạm Văn Tuệ - Phó Chủ tịch UBND xã Tuấn Mậu trong khi thực hiện nhiệm vụ chưa kiểm tra kỹ tài liệu đã ký xác nhận dẫn đến sai phạm. Ngoài ra, phải xem xét trách nhiệm của UBND xã Tuấn Mậu khi để gia đình ông Thắng phá rừng trồng keo mà không có biện pháp ngăn chặn, xử lý là vi phạm vào Điều 38 – Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004.
Đối với ông Phạm Văn Thắng – Phó Bí thư Đảng ủy – Chủ tịch UBND thị trấn Thanh Sơn và ông Phạm Văn Cương – cán bộ Tư pháp thị trấn, trong quá trình quản lý, bảo vệ sử dụng rừng chưa thực hiện đúng nghĩa vụ, trách nhiệm của chủ rừng, gây khiếu kiện phức tạp làm ảnh hưởng tới uy tín của Đảng và chính quyền.
Tại Kết luận số 460 của UBND huyện Sơn Động, công an huyện Sơn Động cho rằng, báo cáo xác minh của cơ quan Thanh tra huyện nêu diện tích gia đình nhà ông Thắng phá 29.000 m2 rừng tại Khe Lê, xã Tuấn Mậu là chưa đúng thực tế dẫn đến việc tham mưu cho UBND ban hành văn bản là chưa chính xác.
Được biết, ngày 26/9/2016 Viện Kiểm sát Nhân dân huyện Sơn Động đã có phiếu kiểm sát không khởi tố vụ việc phá rừng trên. Phía Viện Kiểm sát cho rằng việc Cơ quan điều tra không khởi tố vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.
Trước đó, ngày 15/7/2016 Cục Kiểm lâm (Tổng cục Lâm Nghiệp – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) có văn bản số 404/ KL-ĐT đề nghị công an huyện Sơn Động chỉ đạo Cơ quan Cảnh sát điều tra khẩn trương điều tra, xác minh xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Chủ tịch UBND huyện Sơn Động Nguyễn Quang Ngạn cũng ban hành văn bản kết luận số 460/KL-UBND yêu cầu phải xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bố con nhà ông Phạm Văn Thắng. (Tài Nguyên Và Môi Trường 4/10) đầu trang(
Với tội danh hủy hoại rừng, hai bị cáo là: Rơ Mah Loan và Siu Khik vừa bị tòa án nhân dân huyện Chư Prông – Gia Lai đưa ra xét xử lưu động.
Theo cáo trạng, thời gian từ tháng 9 năm 2015 đến cuối tháng 3 năm 2016, bị cáo Rơ Mah Loan cùng với con rể là Siu Khik cùng trú tại huyện Chư Prông đã dùng cưa xăng và rựa chặt cây, phá rừng sản xuất thuộc lô 4, khoảnh 10, tiểu khu 1011 do Ủy ban nhân dân xã Ia Mơr, huyện Chư Prông có trách nhiệm quản lý và bảo vệ.
Ngày 30 tháng 3 năm 2016, Tổ công tác quản lý, bảo vệ rừng xã Ia Mơr khi tuần tra, kiểm tra đã phát hiện hai đối tượng trên đang có hành vi phá rừng trái pháp luật. Lực lượng chức năng tiến hành lập biên bản, thu giữ tang vật là hơn 14 m3 gỗ.
Tại phiên tòa, hai bị cáo trên đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hội đồng xét xử đã tuyên án: bị cáo Rơ Mah Loan với mức án 24 tháng tù giam, bị cáo Siu Khik 18 tháng tù treo, thời gian thử thách là 36 tháng.
Cùng với đó, hai bị cáo trên phải bồi thường cho Ủy ban nhân dân xã Ia Mơr với số tiền trên 20 triệu đồng. (ANTV 4/10) đầu trang(
Chỉ chưa đầy 2 năm, 100 cây gỗ hương cổ thụ thuộc lâm phần Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Krông Pa (huyện Kbang, Gia Lai) đã bị lâm tặc xóa sổ. Số phận những cây sống sót cũng đang rất mong manh khi mới đây đã có thêm 2 cây nữa bị lâm tặc “khai tử”.
Hiện 300 cây gỗ hương còn lại nằm rải rác trên 27 khoảnh của 7 tiểu khu trong khu vực có diện tích hơn 8.000ha, địa hình phức tạp. Trong khi đó, lực lượng bảo vệ rừng mỏng, nguy cơ mất thêm nhiều cây hương nữa là điều khó tránh khỏi, nếu không có phương án bảo vệ tốt hơn.
Sau huỳnh đàn, trắc đã bị xóa sổ gần như hoàn toàn, đến lượt những cây hương cổ thụ ở rừng Kbang đang là mục tiêu tiếp theo của bọn lâm tặc. Do giá thị trường hiện nay của mặt hàng này quá cao (lên đến 100 triệu đồng/m3, tùy đường kính), cộng với nhu cầu sử dụng gỗ của những "đại gia" đã khiến những cây hương cổ thụ ở địa bàn này “rơi rụng” dần.
Hiện tại, Công an huyện Kbang vẫn tiếp tục truy bắt 13/21 đối tượng liên quan vụ cưa trộm 2 cây gỗ hương tại khoảnh 6, tiểu khu 90 thuộc lâm phần Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa (Công ty Lâm nghiệp Krông Pa).
Ông Võ Ngộ-Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Krông Pa cho biết: Trong 2 năm (2014-2015), có 101/407 cây gỗ hương trong lâm phần do Công ty quản lý bị lâm tặc cưa hạ. Cụ thể: Từ tháng 1 đến tháng 11- 2014, lâm tặc đã cưa hạ trái phép 73 cây gỗ hương. Tiếp đến, từ tháng 1 đến tháng 8- 2015, lâm tặc tiếp tục cưa hạ trái phép 28 cây. Chưa dừng lại ở đó, từ tháng 10 đến tháng 11-2015, lại có thêm 3 cây gỗ hương nữa bị "xẻ thịt".
Trong thời gian này, rừng gỗ hương thuộc lâm phần Công ty Lâm nghiệp Krông Pa quản lý liên tục bị lâm tặc “xâu xé”. Có đến 59 vụ cưa hạ cây gỗ hương xảy ra, gần 300m3 gỗ tròn bị thiệt hại nhưng Công ty này chỉ phát hiện, bắt quả tang 9 vụ, bắt giữ 19 đối tượng và thu giữ 9 cưa xăng.
Ông Đinh Ích Hiệp-Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Kbang thừa nhận: Gỗ hương là mục tiêu thu hút nhiều đối tượng lâm tặc trong và ngoài địa bàn, nhất là ở vùng sâu vùng xa, vực giáp ranh tỉnh bạn. Các đối tượng này hoạt động có tổ chức, tinh vi và hết sức manh động, sẵn sàng liều lĩnh chống trả khi bị phát hiện. Đơn cử như vụ bắt giữ 2 đối tượng Hà Văn Quy (SN 1974, trú làng Hro, xã Krong), Trần Đức Tuấn (SN 1991, trú thị trấn Kbang) đang khai thác trái phép 1 cây gỗ hương.
Trên đường áp tải 2 đối tượng này về huyện thì bất ngờ có 7 đối tượng dùng dao, rựa chặn đầu xe, uy hiếp giải thoát cho đối tượng Tuấn. Khi được lực lượng Công an huyện Kbang tiếp ứng bắt được 2 đối tượng chặn xe trước đó đưa về trạm cửa rừng làng Hro (xã Krong), nhóm đối tượng này tiếp tục cầm dao rựa khống chế cả cán bộ, chiến sĩ Công an huyện giải thoát cho đồng bọn.
Mới đây, anh Dương Hồng Tâm-nhân viên bảo vệ rừng của Công ty lâm nghiệp Krông Pa-trong lúc tuần tra phát hiện 2 đối tượng Trương Thanh Hà (SN 1974) và Nguyễn Văn Trung (SN 1981) đang vận chuyển gỗ trái phép. Khi anh Tâm chặn xe để kiểm tra, 2 đối tượng trên xin bỏ qua nhiều lần không được, đối tượng Hà tức giận rút dao chém sượt qua cổ anh Tâm gây thương tích. Tiếp đó, đối tượng Trung đá trúng vào mặt anh Tâm, rồi cả 2 bỏ trốn. Tòa án Nhân dân huyện Kbang đã tuyên phạt Hà 40 tháng tù về hành vi "Chống người thi hành công vụ".
Dẫn chúng tôi trở lại hiện trường sau khi 2 cây gỗ hương bị lâm tặc cưa hạ, anh Trương Xuân Hinh-Đội trưởng Đội Bảo vệ rừng Công ty lâm nghiệp Krông Pa cho biết: Chỉ một lúc rời chốt canh giữ mà 2 cây gỗ hương đã bị "khai tử". Tại hiện trường, cây hương cổ thụ có đường kính 1,2 m, dài hơn 20m chưa bị lâm tặc xẻ thịt, nằm chỏng chơ giữa rừng. Cách đó hơn 100m, cây hương có đường kính 90 cm đã bị lâm tặc xẻ hộp vận chuyển đi chỉ còn sót lại những tấm gỗ, mảnh bìa nằm ngổn ngang.
Theo anh Hinh, mặc dù lực lượng bảo vệ rừng trực ngày đêm, nhưng chỉ cần lơ là một chút là có thêm một cây gỗ hương bị mất. Những cây gỗ hương mất dần theo kiểu nhỏ giọt như thế này không có gì khó hiểu khi lực lượng bảo vệ rừng ở đây quá mỏng: chỉ 16 người phụ trách đến 2 trạm gác cửa rừng và 9 chốt trọng điểm có gỗ hương trên tổng diện tích hơn 8.000 ha.
“Mỗi chốt chỉ có một người, trong tay không tấc sắt, trong khi lâm tặc luôn ở thế đông người, dao rựa luôn sẵn sàng chống trả. Nếu có gặp lâm tặc thì cũng chỉ biết gọi điện thoại cầu cứu. Đến lúc tập hợp được lực lượng đến nơi thì chúng đã cao bay xa chạy”-anh Hinh chia sẻ.
Còn anh Lượng Hồng Sơn thì than thở: Một tuần chỉ được nghỉ về nhà 24 tiếng đồng hồ, thời gian còn lại đều ở rừng. Công việc vất vả nhưng lương hàng tháng của anh chỉ khoảng 2,5 triệu đồng. Trừ tiền ăn, tiền xăng xe, điện thoại thì chẳng còn gì. “Thấy Công ty làm phương án phụ cấp, nâng lương cho anh em lâu rồi mà đến nay vẫn vậy, người thì cứ mất dần”-anh Sơn nói.
Trong khi đó, ông Võ Ngộ-Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Krông Pa cho biết: Hiện Sở Nông nghiệp-PTNT đang khẩn trương xây dựng phương án quản lý bảo vệ 300 cây gỗ hương còn lại theo chỉ đạo của UBND tỉnh. Trước đó, Công ty đã đề xuất xin thêm kinh phí khoảng 300 đến 400 triệu đồng để bổ sung thêm 6 hợp đồng bảo vệ rừng; đề nghị thêm các chế độ phụ cấp vì hiện tại lương của nhân viên bảo vệ rừng rất thấp, chỉ tầm 3 triệu đến 3,5 triệu đồng/tháng; cung cấp các công cụ hỗ trợ cho lực lượng bảo vệ rừng. “Lực lượng bảo vệ rừng ngày đêm bám rừng nhưng chế độ đãi ngộ thì rất thấp, chúng tôi chỉ biết động viên anh em cố gắng, chứ chẳng còn cánh nào khác”-ông Ngộ nói.
Liên quan đến việc 2 cây gỗ hương bị cưa hạ, trao đổi với P.V, ông Võ Văn Phán-Chủ tịch UBND huyện Kbang, cho biết: Huyện đã làm hết khả năng, tỉnh có kiểm điểm thì cũng đành chịu. Huyện cũng đã thành lập ban chỉ đạo, tổ liên ngành trong công tác quản lý, bảo vệ rừng nhưng tình trạng phá rừng vẫn còn âm ỷ, chưa chấm dứt.
Ngoài việc làm trong sạch đội ngũ giữ rừng, sẵn sàng loại bỏ những cán bộ thoái hóa tiếp tay cho lâm tặc, ông Phán đề xuất ý tưởng sát nhập 7 Công ty Lâm nghiệp trên địa bàn lại thành 1 đơn vị; từ đó thành lập một đội chuyên làm nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng… (Báo Gia Lai 4/10) đầu trang(
Ngày 4/10, Công an huyện Ea Kar, tỉnh Đăk Lăk cho biết, đã ra lệnh bắt tạm giam một nhóm đối tượng về hành vi chặt phá rừng.
Các đối tượng gồm: La O Y Lem (SN 1999), Ha Ra Y Trang (SN 1993) và Lê Mô Y Cường (SN 1980), đều thường trú tại buôn Zô, xã Ea Ly, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. Các đối tượng này bị bắt để điều tra, làm rõ hành vi chặt phá rừng xảy ra tại tiểu khu 622, thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, tỉnh Đăk Lăk.
Cách đây 1 tuần, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện một nhóm người đang có hành vi kéo gỗ trong rừng. Ngoài 3 đối tượng bị bắt giữ, một số đối tượng khác đã bỏ chạy. Các đối tượng khai nhận đã chặt hạ 26 cây Giáng Hương và đã xẻ thành 23 hộp gỗ. Tổng thiệt hại là gần 9m3 gỗ. (Đài Truyền Hình Việt Nam 5/10) đầu trang(
Tài nguyên rừng và khoáng sản trên địa bàn tỉnh liên tiếp bị khai thác vô tội vạ, ngoài gây thất thoát tiền của Nhà nước còn để lại hậu quả xấu về môi trường. Vì vậy, đề xuất những giải pháp bảo vệ hữu hiệu, mới mẻ là hết sức cần thiết.
Thời gian qua, liên tiếp xảy ra những vụ phá rừng tập trung ở các nơi đa dạng hệ sinh học. Trên hồ sơ giấy tờ, các khu rừng có chủ là các tổ chức, đơn vị quản lý bảo vệ rừng (BVR), hay đã được giao khoán cho cộng đồng dân cư. Hơn 5 năm trở lại đây, rừng phòng hộ Sông Tranh không bình yên bởi hàng trăm hộ dân tái định cư ở xã Trà Bui (Bắc Trà My) sinh sống trong rừng nhưng lại thiếu đất sản xuất, buộc họ bất đắc dĩ “quay lưng” lại với rừng tìm sinh kế.
Đại diện chủ rừng - Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh thừa nhận: “Nếu người dân tiếp tục khan hiếm đất sản xuất và các làng tái định cư còn hiện hữu tại đây thì không ai dám chắc rằng tài nguyên sẽ được bảo vệ nghiêm ngặt”.
Bước đầu cơ quan chức năng xác nhận có hàng chục hộ dân ở xã Trà Bui là đối tượng xâm hại trực tiếp với diện tích mà Nhà nước đã giao cho họ nhận khoán BVR.  Hay tại rừng phòng hộ Phú Ninh, thống kê 10 năm nay có ít nhất 2.000ha đất rừng bị người dân xâm hại. Nóng nhất là ở tiểu khu 688 (thuộc thôn 8, xã Phước Hiệp, Phước Sơn), lực lượng chức năng huyện Phước Sơn vừa phát hiện tại các khoảnh 8, 9 của tiểu khu này diện tích rừng trồng bị phá trái phép gần 17ha.
Vì sao nạn phá rừng tồn tại dai dẳng? Ông Phan Tuấn - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm lý giải, có nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, song cái chính là phân định ranh giới, đóng mốc đất rừng phòng hộ, đặc dụng và rừng sản xuất chưa thể hiện rõ trên bản đồ và ngoài thực địa. Điều này dẫn đến hậu quả diện tích rừng, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm.
Cạnh đó, chính quyền lẫn ngành chức năng thiếu kiểm tra, giám sát các hợp đồng giao khoán BVR. Diện tích quản lý ở các chủ rừng còn quá lớn trong khi chế tài, trách nhiệm lại không cụ thể. Thu nhập của người dân tham gia BVR thấp; quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy, phát triển vùng nguyên liệu gỗ rừng trồng chưa đáp ứng với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Và nữa, tội phạm phá rừng gia tăng, song quá trình điều tra phá án, đưa ra xét xử lại quá ít ỏi. Đơn cử, từ năm 2015 đến nay, trong số 59 vụ cơ quan kiểm lâm chuyển cơ quan điều tra, có đến 53 vụ chưa xử lý (26 vụ công an đình chỉ điều tra do lâm tặc “bỏ của chạy lấy người”).
Những năm trước đây, do “sát hạch” các dự án thăm dò, khai thác khoáng sản  (KTKS) còn dễ dãi, nhiều đơn vị đã bất chấp quy định pháp luật, ồ ạt khai thác để thu hồi vốn nhanh, khai báo không trung thực để “chạy” thuế, phí môi trường.  Hệ lụy để lại nặng nề, nhà nước ngoài mất nguồn thu ngân sách còn tốn công sức và tiền của giải quyết những vấn nạn về ô nhiễm môi trường, an sinh xã hội. Nhiều dự án công trình trọng điểm, đặc biệt dự án đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi khiến nhiều nơi lúng túng trong tìm mỏ đất nguyên liệu phục vụ thi công.
Ông Nguyễn Viễn - Giám đốc Sở TN-MT cho hay, dù đã cấp phép theo quy hoạch để dễ quản lý nhưng không ít doanh nghiệp khai thác ngoài ranh giới mỏ, vượt công suất cho phép; hoặc tranh thủ tận thu khi giấy phép đã hết hạn; thực hiện chưa đầy đủ nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường cũng như cam kết bảo vệ môi trường.
Sở TN-MT thống kê, đến tháng 8.2016 có tổng cộng 157 quyết định phê duyệt cấp quyền KTKS với tổng số tiền gần 180 tỷ đồng. Tuy nhiên, nguồn thu này là không lớn, chưa tương xứng với giá trị tài nguyên các loại khoáng sản trên địa bàn tỉnh. “Chảy máu” tài nguyên phổ biến nhất là hoạt động trái phép xảy ra ở hầu hết địa phương, chủ yếu khoáng sản vàng, thiếc, cát sỏi lòng sông, đất sét làm gạch, đất san lấp, cát trắng...
Các huyện Phước Sơn, Nam Giang, Bắc Trà My, Phú Ninh... là những nơi tái diễn tình trạng xâm hại rừng, tận thu khoáng sản trái phép. Khó khăn chung của các địa phương là thiếu kinh phí cho tần suất truy quét liên tục. Cho nên, UBND tỉnh đã cho “cơ chế thoáng” bằng cách trích lại 50% khoản thu từ tiền cấp quyền KTKS; 100% từ tiền thu phạt hành chính và bán tang vật, phương tiện tịch thu vi phạm về lĩnh vực lâm - khoáng sản cho UBND cấp huyện để đảm bảo kinh phí cho công tác quản lý BVR, khoáng sản.
Theo ông Viễn, các khoản doanh nghiệp khai khoáng đóng góp cho địa phương không phải là nhỏ nên sắp tới phải công khai, minh bạch hóa thông tin về khoản thu - chi từ hoạt động KTKS. Thường xuyên kiểm tra, thu hồi ngay các “giấy phép con” của chính quyền huyện, xã cấp không đúng thẩm quyền và quy định pháp luật. Thực hiện đấu giá quyền sử dụng KTKS để lựa chọn doanh nghiệp có năng lực, sử dụng công nghệ tốt nhất, tiến tới loại bỏ hoàn toàn công nghệ lạc hậu trong ngành khai khoáng.
Nỗi lo bây giờ ở các địa phương là làm thế nào để giữ được nguồn cát sỏi lòng sông. Ông Trần Úc - Chủ tịch UBND thị xã Điện Bàn kiến nghị, cát sỏi lòng sông phục vụ xây dựng ngày càng khan hiếm nên không thể tận thu cát cho mục đích san nền các dự án công trình trọng điểm.
“Về lâu dài, nên hạn chế; riêng phía hạ lưu tuyệt đối không cấp phép khai thác cát sỏi” - ông Úc kiến nghị. Đề cập giải pháp cứng rắn hơn, Chủ tịch UBND tỉnh Đinh Văn Thu cho rằng, tỉnh chỉ cho phép khai thác vận chuyển cát sỏi vào ban ngày để tránh tình trạng các đối tượng lợi dụng ban đêm để khai thác, vận chuyển trái phép. Quan điểm chung là không xuất bán ra khỏi địa bàn tỉnh nguyên liệu thô hoặc chỉ qua sơ chế đối với các loại khoáng sản cát trắng, đá vôi, ti tan.
Các doanh nghiệp hoạt động KTKS phải có đăng ký doanh nghiệp hoặc thành lập chi nhánh tại Quảng Nam để có cơ sở quản lý việc chấp hành pháp luật, nghĩa vụ với Nhà nước. “Chính quyền sẽ lựa chọn doanh nghiệp có thương hiệu, sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường để tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao.
Nguyên tắc là chỉ xem xét, giải quyết hồ sơ xin cấp mới giấy phép thăm dò, KTKS thuộc trường hợp trúng đấu giá quyền KTKS. Nói chung muốn không trôi chảy tài nguyên khoáng sản, phải bảo vệ được rừng” - Chủ tịch UBND tỉnh Đinh Văn Thu quả quyết.
Nêu lại các giải pháp tuy không mới nhưng rất thiết thực về giữ rừng hiện nay, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh cho rằng, chính quyền cấp huyện phải xây dựng phương án quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng một cách cụ thể. Thực hiện điều tra, kiểm kê rừng đảm bảo chất lượng.
Tiến tới hoàn thiện cắm mốc ranh giới các loại rừng rự nhiên ngoài thực địa, đồng thời đẩy nhanh tiến độ giao đất, xây dựng phương án giao rừng phòng hộ phân tán và rừng sản xuất cho cộng động dân cư, hộ gia đình gắn với chính sách hỗ trợ  vùng dân tộc và miền núi. (Báo Quảng Nam 4/10) đầu trang(
Bằng các biện pháp nghiệp vụ, lực lượng chống buôn lậu của ngành Hải quan đã phát hiện 213 khúc ngà voi, có tổng trọng lượng 309kg núp bóng đá trang trí, được vận chuyển qua đường hàng không từ Nigeria về Việt Nam.
Thực hiện chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan về việc tăng cường công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại trong những tháng cuối năm 2016, Cục Điều tra chống buôn lậu đã tích cực, chủ động nắm tình hình, tập trung rà soát, phân tích, đánh giá tình hình trên từng tuyến, địa bàn trọng điểm.
Qua công tác nắm tình hình, khoảng thời gian 1 tháng trở lại đây, hoạt động buôn bán, vận chuyển các sản phẩm động vật hoang dã, đặc biệt là ngà voi có xu hướng gia tăng, với nhiều diễn biến phức tạp, tập trung nhiều vào tuyến đường hàng không. Các đối tượng thường sử dụng phương thức, thủ đoạn cố tình khai báo sai về xuất xứ lô hàng nhằm mục đích rửa tuyến (sửa thông tin cảng xếp hàng trên vận đơn), sau đó lợi dụng hệ thống phân luồng để nhanh chóng thông quan cho các lô hàng nghi vấn…
Trước tình hình trên, Cục Điều tra chống buôn lậu đã xem xét xác lập chuyên án và xây dựng kế hoạch, tổ chức đấu tranh với hành vi buôn bán, vận chuyển động thực vật hoang dã qua tuyến hàng không. Vào những ngày cuối tháng 9-2016, nguồn tin trinh sát báo về có một lô hàng ngà voi đi từ cảng Lagos, Nigeria về Nội Bài, thông tin thể hiện trên chứng từ vận tải là đá trang trí. Tuy nhiên, khó khăn cho lực lượng Hải quan khi chưa xác định được các đối tượng sẽ sử dụng pháp nhân nào để làm thủ tục, cũng như cách thức khai báo cho lô hàng.
Để nắm rõ các di biến động về lô hàng trên, lãnh đạo Cục Điều tra chống buôn lậu lập tức chỉ đạo một mũi trinh sát tiếp cận kho hàng có chứa lô hàng nghi vấn, tổ chức giám sát chặt chẽ. Đồng thời, cắt cử một nhóm trinh sát rà soát, phân tích thông tin về từng chuyến bay, các điểm xuất phát, chuyển tải, từ đó truy xuất nguồn gốc của từng lô hàng.
Sau khi sàng lọc, xác định được một số lô hàng nghi vấn, đến 8 giờ 30 phút ngày 30-9-2016, qua hệ thống thông tin nghiệp vụ hải quan, các trinh sát Cục Điều tra chống buôn lậu xác định được Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ và Đầu tư Gia Huy đã mở tờ khai cho lô hàng có số vận đơn 60712573094 khai báo hàng hóa là băng tải có xuất xứ Italia, điểm xếp hàng là Milano, Malpensa (Italia).
Tuy nhiên, qua rà soát, đối chiếu thì trên vận đơn của lô hàng thể hiện thông tin hàng hóa là “Decorative stones” (đá trang trí), đúng như nguồn tin trinh sát ban đầu, cảng xếp hàng là từ Lagos, Nigeria. Nhận thấy có nhiều dấu hiệu bất thường trong việc khai báo của doanh nghiệp, thông tin lô hàng lại trùng khớp với nguồn tin trinh sát báo về trước đó, các mũi trinh sát một mặt giám sát chặt chẽ lô hàng nghi vấn, mặt khác tiến hành các thủ tục cần thiết theo quy định để kiểm tra, khám xét lô hàng.
Ngày 1-10-2016, Cục Điều tra chống buôn lậu đã phối hợp với Cục Hải quan TP.Hà Nội (Đội Kiểm soát Hải quan, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài) tiến hành khám xét lô hàng trên.  Mở 4 kiện hàng thuộc lô hàng nêu trên, lực lượng Hải quan thấy bên trong lớp bao tải dứa bọc bên ngoài 4 kiện hàng có một lớp bọt biển và nilon, trong lớp bọt biển và ni lông là thùng tôn được gia cố bằng dây kim loại và có khóa sắt. Tiến hành cắt dây kim loại gia cố và mở khóa các thùng tôn, các lực lượng khám phát hiện bên trong các thùng tôn này chứa các sản phẩm động vật dạng khúc (nghi là ngà voi).
Khi mở khám có sự có mặt của ông Đặng Tất Thế - Giám định viên công tác tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, là cơ quan được Cục Điều tra chống buôn lậu trưng cầu giám định. Kết quả giám định tại chỗ xác định các sản phẩm động vật dạng khúc là ngà voi.
Các lực lượng khám đã tiến hành kiểm tra, phân loại, để riêng các bao tải dứa, lớp bọt biển, nilon, làm sạch và đánh số từng khúc ngà voi, tiến hành lấy mẫu để phân tích phân tử ADN nhằm xác định tên loài. Sau đó hàng hóa được đưa trở lại vào 4 thùng tôn, niêm phong Hải quan. Kết quả, 4 kiện hàng trên chứa tổng số 213 khúc ngà voi, tổng trọng lượng 309kg.
Ngày 3-10, trao đổi với phóng viên Báo Hải quan, lãnh đạo Đội Kiểm soát chống buôn lậu khu vực miền Bắc (Đội 1, Cục Điều tra chống buôn lậu) cho biết, căn cứ vào thông tin trên hệ thống, lực lượng Hải quan đã tiến hành xác minh và không có trụ sở Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ và Đầu tư Gia Huy tại địa chỉ ghi trên vận đơn. Hiện lực lượng Hải quan vẫn đang tiếp tục điều tra, tìm chủ nhân cho 309kg ngà voi.
Cục Điều tra chống buôn lậu đang tiếp tục chỉ đạo xác minh các đối tượng có liên quan đến vụ việc đồng thời mở rộng điều tra đối với các đối tượng hoạt động buôn bán, vận chuyển các lô hàng động thực vật hoang dã trên tuyến hàng không.
Giám định viên tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật cho biết, hiện đơn vị đang hoàn tất việc giám định lô hàng để có kết quả trong thời gian sớm nhất. Qua kiểm tra sơ bộ, lô hàng ngà voi mà lực lượng Hải quan bắt giữ (ngày 1-10-2016) có nguồn gốc từ châu Phi.
Tính từ đầu năm 2016 đến nay, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã tiếp nhận, xử lý mẫu vật của 20 vụ ngà voi (gồm: Ngà voi cắt khúc, sản phẩm chế tác từ ngà voi) cũng đều cho kết quả tương tự (có xuất xứ từ châu Phi). Hiện giá thành ngà voi thường xuyên dao động từ 10 triệu đến 30 triệu đồng/kg. (Hải Quan 4/10) đầu trang(
Nông dân các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau là những nơi mạnh dạn đầu tư nuôi cá sấu thương phẩm. Hiện nay tại Bạc Liêu tổng đàn lên đến hơn 300.000 con, tập trung nhiều ở huyện Phước Long. Còn tại Cà Mau, tập trung nhiều ở huyện Thới Bình.
Vài năm gần đây, cá sấu thương phẩm giá rất cao khiến người nuôi hào hứng. "Lúc trước giá cá sấu từ 250.000 đồng đến 300.000 đồng/ kg khiến chúng tôi khấn khích đầu tư. Nhà nào nuôi cá sấu cũng có lãi to và có điều kiện chăm lo cuộc sống gia đình, con cái học tâp. Còn giờ đây thì thân tàn ma dại cũng vì cá sấu", ông Đoàn Vũ Phong ở Cà Mau buồn nói.
Người dân cho biết, giá cá sấu cao hay thấp phụ thuộc vào thương lái Trung Quốc. Gần đây, các thương lái Trung Quốc đã bắt đầu ép giá nông dân khi số lượng nuôi cá sấu tại miền Tây đang lớn dần.
“Muốn xuất khẩu cá sấu, người nuôi phải chứng minh được nguồn gốc, xuất xứ hợp pháp, đúng tiêu chuẩn, đúng thế hệ F2 và có hạn ngạch…Cá sấu hầu hết chỉ xuất khẩu theo đường tiểu ngạch sang Trung Quốc. Người dân đồng loạt nuôi theo kiểu tự phát, không có hợp đồng bao tiêu sản phẩm nên đến thời điểm thu hoạch rất khó bán khi thương lái trở kèo ngưng mua”, ông Đỗ Văn Đồng, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm Cà Mau phân tích và khuyến cáo người dân. (Người Tiêu Dùng 5/10) đầu trang(
"Số phận của những con tê giác châu Phi đang phụ thuộc phần lớn vào Việt Nam”.
Đó là thông điệp mới nhất từ siêu sao Hollywood Jared Leto và Chủ tịch Carter Roberts của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên Nhiên (WWF), được đăng tải trên tạp chí Time hồi tuần trước. Leto và Roberts nhắn nhủ thêm: “Việt Nam có thể dẹp bỏ hoạt động buôn bán sừng tê và viết lại một tương lai mới cho loài tê giác”.
Tại Việt Nam, con tê giác một sừng cuối cùng đã bị giết chết vào năm 2010, với một viên đạn trong chân và chiếc sừng bị cưa mất. Còn ở quốc gia có nhiều tê giác nhất thế giới là Nam Phi, có tới gần 6.000 con tê giác đã bị giết để lấy sừng kể từ năm 2007, tương đương 20% số lượng tê giác toàn châu Phi.
Trong những năm gần đây, bình quân mỗi năm có khoảng 1.200 con tê giác bị giết tại Nam Phi, nghĩa là cứ mỗi 8 giờ thì lại có một con tê giác trở thành nạn nhân của các tay săn trộm. Hồi năm 2008, một cán bộ đại sứ quán Việt Nam tại Nam Phi đã bị triệu hồi về nước sau khi bị truyền hình địa phương ghi hình lại cảnh mua bán sừng ngay trước cửa cơ quan.
Một công bố trong tháng 9 từ Ủy ban Công lý động vật hoang dã (WJC) của Hà Lan cho thấy làng Nhị Khê ở huyện Thường Tín, Hà Nội, là điểm nóng hàng đầu về buôn bán sừng tê giác. Sau quá trình điều tra kéo dài 1 năm tại đây, WJC đã phát hiện thấy hàng trăm sừng tê và ngà voi, tương đương gần một nửa lượng thú bị săn trộm ở Nam Phi trong năm 2015. Tổng trị giá lượng sản phẩm này lên tới hơn 53 triệu USD, một phần đáng kể trong số đó được chế biến lại để phục vụ cho khách Trung Quốc.
WJC cho biết, họ đã gửi một báo cáo dài 5.000 trang cho chính quyền địa phương hồi tháng 1 năm nay, nhưng không thấy có phản ứng gì. Vì vậy, đến tháng 11 này, tên họ 51 người Việt tham gia buôn bán sừng tê Nam Phi sẽ được WJC công bố cho toàn cầu tại một phiên điều trần ở tòa án quốc tế La Haye (Hà Lan).
Bất chấp việc chưa hề có bằng chứng khoa học nào cho thấy sừng tê giác có chứa thứ gì khác ngoài calcium, sắc tố melanin và keratin (chất tạo thành móng tay chân và tóc), nhiều người vẫn nghĩ rằng sừng tê giác là vị thuốc thần Đông y có thể chữa bách bệnh, kể cả ung thư. Tuy nhiên, sự thực là giờ đây ngay cả các chuyên gia Đông y hàng đầu cũng chẳng còn khuyến khích sử dụng sừng tê giác.
Tại Đài Loan, một thời là nơi tiêu thụ sừng tê giác nhiều nhất thế giới, các nghiên cứu đã cho thấy tác dụng y học của sừng tê là rất ít. Tiêu thụ sừng tê có thể làm giảm sốt, nhưng cũng chỉ ngang thuốc paracetamol hoặc sừng trâu bình thường. Khảo sát các tác dụng y học khác cũng cho thấy sừng tê không hơn gì sừng trâu. Việc sử dụng sừng tê còn có thể dẫn đến hậu quả khôn lường.
Từng có một người Đài Loan đang khỏi dần bệnh đột quỵ nhưng sau khi sử dụng sừng tê theo lời khuyên của bạn bè thì bệnh lại tái phát nặng hơn. Khi đó, một bác sĩ Đông y đã giải thích rằng sừng tê gây tắc mạch máu, rất nguy hiểm cho người bị đột quỵ. Một trường hợp khác ở Hà Nội thì bị nhiễm độc dị ứng da, phải nhập viện sau khi dùng sừng tê giác.
Thực ra, Đông y cũng đã tìm thấy rất nhiều loại thảo dược khác có thể dễ dàng thay thế sừng tê. Chuyên gia Đông y Lixin Huang, Chủ tịch Hiệp hội Đông y Mỹ, khuyên rằng cây Bản Lam Căn (Radix Isatidis) là một lựa chọn rất tốt để thay cho sừng tê trong các công thức truyền thống. Còn về việc trị được ung thư, cũng chẳng có công thức Đông y nào cho thấy sừng tê có thể trị loại bệnh này.
Sừng tê giác tác dụng thì ít, nhưng tác hại thì nhiều. Việc săn bắn tê giác không chỉ làm đổ máu tê giác, mà còn làm đổ máu người. Theo thống kê mới nhất từ tổ chức Công ước Buôn bán Quốc tế các loài động, thực vật hoang dã (CITES), trong 10 năm qua đã có hơn 1.000 nhân viên kiểm lâm thiệt mạng trong lúc bảo vệ các loài thú quý hiếm, chủ yếu là ở châu Phi. Chỉ riêng công viên quốc gia Virunga ở Congo đã có tới 150 kiểm lâm thiệt mạng, trong đó có 2 người bị giết hồi tháng 3.2016. Còn tại công viên quốc gia Kruger ở Nam Phi, đã có gần 500 thợ săn trộm bị bắn chết trong vòng 5 năm qua.
Với giá sừng tê giác lên tới hơn 66.000 USD/kg tại thị trường chợ đen Trung Quốc, các nhóm săn trộm ngày càng trở nên cực kỳ liều lĩnh và nguy hiểm, được trang bị không chỉ súng đạn mà còn có lựu đạn, tên lửa và thậm chí là trực thăng.
Việc buôn bán và sử dụng sừng tê giác không chỉ phá hoại hệ sinh thái và gây thiệt hại sinh mạng con người, mà về lâu dài còn có thể mang đến nhiều hậu quả xã hội không ai ngờ tới. Hồi tháng 10 năm ngoái và tháng 1 năm nay, website của sân bay quốc tế Narita tại Tokyo (Nhật) đã có 2 lần bị tê liệt hoàn toàn do các cuộc tấn công của nhóm tin tặc nổi tiếng Anonymous.
Nhóm này cho biết, họ thực hiện các vụ tấn công nhằm phản đối việc người Nhật săn bắn cá heo, cũng như ngăn chặn các nhà hoạt động bảo vệ môi trường nhập cảnh vào Nhật. Nếu một ngày nào đó, một nhóm tin tặc như Anonymous “nổi hứng” muốn lặp lại chuyện tương tự ở Việt Nam với lý do bảo vệ tê giác thì hậu quả cũng thật khó lường. Còn nhớ hồi tháng 7 vừa qua, một nhóm tin tặc được cho là có nguồn gốc từ Trung Quốc đã tấn công và làm tê liệt hệ thống thông tin của sân bay Nội Bài và sân bay Tân Sơn Nhất hàng giờ đồng hồ liền.
Nghiêm trọng hơn, việc buôn lậu sừng tê giác cùng với ngà voi đang là nguồn thu nhập rất lớn cho các nhóm phiến loạn và khủng bố ở châu Phi. Trong đó, đặc biệt nguy hiểm nhất là nhóm khủng bố Al-Shabaab, hoạt động rất mạnh tại Kenya và Somalia. Rất nhiều các nhóm săn bắn trộm tại châu Phi hoạt động nhờ vào “vốn đầu tư” của Al-Shabaab.
Theo ước tính của các chuyên gia, doanh thu của tổ chức này vào khoảng 100 triệu USD mỗi năm, trong đó gần phân nửa đến từ việc buôn lậu sừng tê và ngà voi. Đầu năm nay, nhiều thành viên của Al-Shabaab đã chuyển sang liên minh với tổ chức khủng bố khét tiếng ISIS và trở nên nguy hiểm gấp bội. Nói một cách khác, những đồng tiền bỏ ra mua sừng tê giác ở Việt Nam và Trung Quốc đang góp phần vào sự trỗi dậy của ISIS.
Tại Việt Nam, tình trạng buôn bán và sử dụng sừng tê kéo dài đã buộc CITES nhiều lần phải lên tiếng cảnh báo. Gần đây nhất vào giữa tháng 9 này, CITES đã đưa ra cảnh báo có thể tính đến việc đưa ra các lệnh trừng phạt nghiêm trọng đối với Việt Nam kể từ đầu năm sau. Đây không phải là lời đe dọa suông, vì theo thông tin từ WWF thì Mỹ và Anh là 2 nước đang gây áp lực mạnh nhất cho việc này.
Việc xử lý tệ nạn này không phải là khó, nếu các cơ quan chính phủ có thể phối hợp cùng nhau xử lý triệt để. Đài Loan từng có thời là điểm nóng buôn bán sừng tê của thế giới: vào năm 1992, có tới 77% số hiệu thuốc trên hòn đảo này có trữ sừng tê giác. Tuy nhiên, khi chính quyền mạnh tay xử lý các điểm buôn bán và giáo dục người dân, đến tháng 3.1994, con số này giảm xuống còn 6,5%; sang tháng 4 cùng năm, chỉ là 0,22%.
Ở Hàn Quốc, tỉ lệ này cũng đã giảm từ 53% hồi năm 1993 xuống còn gần như bằng không vào năm 2003. Những kinh nghiệm đó cho thấy, việc xóa bỏ tình trạng buôn bán sừng tê hoàn toàn nằm trong tầm tay. Đã đến lúc phải đối diện sự thật rằng, sừng tê giác không chỉ quá đắt, mà còn quá nguy hiểm cho cả Việt Nam và thế giới. (Nhịp Cầu Đầu Tư 4/10) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Gần 20.000 tỷ đồng là số tiền dự kiến thực hiện Đề án bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng bền vững vùng Tây Nguyên giai đoạn 2016-2025.
Đề án trên vừa được Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đề án này được xem là giải pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ, khôi phục rừng tại Tây nguyên, vốn đang bị xâm hại nghiêm trọng trong những năm gần đây.
Ngoài tập trung khôi phục, phát triển rừng phù hợp với nguồn lực, điều kiện tự nhiên của vùng Tây Nguyên, nâng diện tích rừng của Tây Nguyên từ 2,6 triệu ha hiện nay lên 2,76 triệu ha, độ che phủ từ 46% lên 49,6%. Đồng thời, đề án sẽ góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống người dân, bảo vệ môi trường sinh thái, đa dạng sinh học.
Theo Tổng cục Lâm nghiệp, tổng kinh phí dự kiến thực hiện Đề án cần khoảng 20.000 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách nhà nước là khoảng 7.300 tỷ đồng, vốn ODA hơn 3.300 tỷ đồng, còn lại là vốn ngoài ngân sách từ nguồn xã hội hóa. (Đài Truyền Hình Việt Nam 4/10) đầu trang(
Ông Lê Văn Tần - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Cát Tiên cho biết, 9 tháng đầu năm 2016, các đơn vị chủ rừng trên địa bàn huyện đã chi trả dịch vụ môi trường với số tiền 2.833.284.500 đồng, cho 18.823,475 ha rừng giao khoán quản lý bảo vệ (QLBV).
Trong đó, Vườn Quốc gia Cát Tiên đã tiến hành nghiệm thu 18.511,03 ha/18.654,50 ha và chi trả bổ sung quý I và tạm ứng quý II/2016 với số tiền 2.776.654.500 đồng cho 21 cộng đồng nhận khoán QLBV tại các xã Phước Cát 2, Gia Viễn, Tiên Hoàng, Đồng Nai Thượng.
Hạt Kiểm lâm huyện đã tiến hành nghiệm thu 392,445 ha/392,738 ha và chi trả bổ sung quý I, tạm ứng quý II/2016, với số tiền 56.630.000 đồng cho 35 hộ nhận khoán tại thôn 6, xã Tiên Hoàng. Riêng diện tích 3.822,747 ha rừng sản xuất đã giao cho hộ gia đình cấp giấy chứng nhận QSD đất, hiện hạt kiểm lâm đã lập hồ sơ chi trả tiền cho 808 hộ tại các xã Quảng Ngãi, Tư Nghĩa, Mỹ Lâm, Nam Ninh, Tiên Hoàng, nhưng đợi nghiệm thu, chi trả dịch vụ môi trường rừng một lần vào thời điểm cuối năm 2016. (Báo Lâm Đồng 4/10) đầu trang(
Tại các xã vùng đệm Vườn Quốc gia (VQG) Xuân Thủy (huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định), bảo vệ và phát triển những cánh rừng ngập mặn là cách người dân sống chung với tác động của biến đổi khí hậu.
Ông Nguyễn Phúc Hội, Phó Giám đốc VQG Xuân Thủy cho biết: Việc trồng mới và bảo vệ rừng đạt hiệu quả khi gắn với nâng cao đời sống của người dân trong vùng. Hơn 10 năm qua, VQG đã cùng với chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể trên địa bàn đã thực hiện thành công cơ chế chia sẻ lợi ích nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Người dân ổn định cuộc sống nhờ phát triển nhiều mô hình kinh tế dưới tán rừng ngập mặn như: Nuôi ngao, tôm, nuôi ong lấy mật, trồng nấm, khai thác rau câu… Đáng chú ý, sản lượng nuôi ngao ở khu vực này được xếp loại hàng đầu cả nước, ổn định khoảng 12.000 tấn với mức thu nhập từ 150 - 200 tỷ đồng/năm.
Thành công nữa phải kể đến là mô hình du lịch sinh thái công đồng. Người dân địa phương tham gia các khóa đào tạo, tập huấn được trang bị những kĩ năng cơ bản, được hỗ trợ cải tạo nhà cửa để đón khách du lịch và phát triển các đặc sản địa phương. Họ đã dần làm chủ được mô hình và tạo được thu nhập thay thế cho canh tác lúa, hoa màu, khai thác hải sản thủ công như trước.
Song song phát triển kinh tế, VQG rất chú trọng đến công tác tuyên truyền, giáo dục  về môi trường cho cộng đồng địa phương. Một thuận lợi đó là hầu hết người dân đều nắm khá rõ về biến đổi khí hậu và họ hiểu được, việc trồng rừng ngập mặn chính là để hạn chế những tác động tiêu cực do BĐKH gây ra, bảo vệ cuộc sống của chính mình. Người dân đã hình thành và nâng cao ý thức trân trọng rừng ngập mặn và thiên hướng sử dụng rừng khôn khéo, bền vững nguồn tài nguyên đất ngập nước.
Đến hết năm 2015, toàn tỉnh có trên 3.110ha rừng; trong đó rừng phòng hộ là 1.955ha, tập trung ở các xã vùng đệm VQG Xuân Thủy (Giao Thủy) gần 585ha, các xã của Nghĩa Hưng: Nam Điền 186ha, Nghĩa Lâm 275ha, Nghĩa Hải 221ha, Nghĩa Thành 282ha… và rải rác tại các xã, thị trấn ven biển. Tại khu vực VQG Xuân Thủy, đã tạo được bức tường rừng ngập mặn dày khoảng 1 - 2km tính từ đê biển đến rìa của khu rừng.
Đặc biệt, thực tế các cơn bão những năm gần đây cho thấy, nơi nào có rừng phòng hộ che chắn thì hạn chế được rất nhiều thiệt hại, còn nơi nào không có rừng thì thiệt hại rất lớn: đê biển bị sạt lở nghiêm trọng, các công trình ao và đầm nuôi trồng thủy sản (NTTS) bị phá hủy, nước mặn tràn vào đồng ruộng, thiệt hại rất lớn, tính mạng của con người bị đe dọa…
Là lá chắn trước tác động của BĐKH, nước biển dâng nên những cánh rừng ngập mặn không tránh khỏi bị thiệt hại do bão lớn, áp thấp nhiệt đới, triều cường, thậm chí là rét đậm, rét hại.
Theo ông Nguyễn Phúc Hội, khảo sát tháng 7/2016 cho thấy, thiên tai đã làm chết hơn 200 ha rừng vùng đệm VQG Xuân Thủy. May mắn là các loài cây ngập mặn có khả năng hồi sinh mạnh mẽ, nhiều diện tích mọc chồi non mới nên đã giảm con số thiệt hại xuống còn khoảng 110 ha.
Một nguyên nhân nữa là sự biến động của các yếu tố tự nhiên như: dòng chảy sông Hồng qua cửa Ba Lạt, sự biến động của các dòng hải lưu… đã làm thay đổi tính chất đất ở một số bãi triều. Theo ông, nhiều diện tích bãi triều trước đây có rừng trồng sinh trưởng tốt, nhưng nay, có hiện tượng cốt đất tôn cao và pha cát (vùng cửa sông Trà huyện Giao Thủy) hoặc đất bị xói lở (Cồn Mờ, Nghĩa Hưng) làm cây còi cọc và chết, dẫn đến diện tích rừng giảm.
Diện tích trồng rừng phòng hộ ven biển đang có tình trạng suy giảm về diện tích và chất lượng rừng còn do một số địa phương phá rừng để chuyển đổi sang mục đích phát triển kinh tế - xã hội (NTTS, du lịch, xây dựng các công trình…). Ngoài ra, có hiện tượng một số người thiếu ý thức đã phá rừng khi khai thác hải sản ven bờ cũng dẫn đến suy giảm diện tích rừng… Chính vì vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay là đẩy mạnh công tác khôi phục và phát triển rừng ngập mặn, không chỉ khu vực VQG mà cho toàn tỉnh Nam Định.
Theo ông Bạch Văn Chiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nam Định, hiện nay, UBND tỉnh Nam Định đã phê duyệt Chương trình hành động ứng phó BĐKH, ưu tiên nhiệm vụ phát triển diện tích rừng phòng hộ ven biển. Quy hoạch lâm nghiệp của tỉnh giai đoạn 2011 - 2020 xác định tổng diện tích 11.850ha rừng và đất rừng, trong đó rừng đặc dụng (VQG Xuân Thủy) 7.100ha, rừng phòng hộ và rừng sản xuất là 4.750ha (tập trung tại các huyện Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Giao Thủy 4.540ha).
Hiện, tỉnh Nam Định đang triển khai 2 dự án về phát triển rừng ngập mặn là “Bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ ven biển tỉnh Nam Định giai đoạn 2015 - 2020” và dự án “Giảm sóng ổn định bãi và trồng rừng ngập mặn bảo vệ nam Cồn Xanh, huyện Nghĩa Hưng”.
Ngoài ra, còn có dự án “Trồng rừng phòng hộ ứng phó với BĐKH” của Ngân hàng Tái thiết Đức trong năm tới. VQG Xuân Thủy cũng nằm trong quy hoạch các dự án này để trồng mới, khôi phục và phát triển rừng phòng hộ ven biển, nhằm hạn chế tác động của BĐKH toàn cầu, nước biển dâng; chắn sóng, gây bồi lấn biển, bảo vệ đê biển, phòng chống thiên tai; tăng cường đảm bảo an toàn cho cộng đồng dân cư ven biển; tôn tạo vẻ đẹp cảnh quan góp phần cải thiện, nâng cao môi trường sinh thái; tăng cường bảo vệ an ninh biên giới ven biển, đảm bảo an ninh quốc phòng của địa phương. (Tài Nguyên Và Môi Trường 4/10) đầu trang(
Trước câu hỏi của một số nông dân các tỉnh Lâm Đồng, Đăk Lăk về giải pháp cải tạo vườn cây thực sinh, hoặc cây ghép dởm đã trót trồng lên 4-5 năm mà không ra quả, chặt đi thì tiếc, chuyên gia Nguyễn Lân Hùng - Tổng thư ký các Hội sinh học Việt Nam nêu ý kiến: Đã trồng mắc ca thì phải chọn giống ghép, cả thế giới đều làm như thế, chứ không riêng gì ta.
Nếu dùng giống thực sinh, thì bị phân ly tính trạng, có thể cây con giống “bố” hoặc giống “mẹ”, chậm ra trái và có thể có nhiều hoặc ít quả. Nhưng khi ghép gốc thực sinh với chồi cây mắc ca đầu dòng đạt chất lượng, thì cây mới sẽ mang được sức sống mạnh mẽ của cây thực sinh và toàn bộ tính trạng tốt của chồi ghép. Nếu bà con tiếc cây thực sinh đã trồng, muốn tận dụng bộ rễ rất khỏe của chúng, có thể dùng chúng làm gốc ghép và ghép các mắt ghép tốt vào, để hình thành cây mới.
Cũng theo ông Lân Hùng, Hiệp hội Mắc ca đang cân nhắc việc cử cán bộ kỹ thuật đến tập huấn giúp bà con nắm kỹ thuật ghép để có thêm giải pháp cải tạo lại vườn cây.
Tuy nhiên, kỹ thuật ghép mắc ca phức tạp hơn nhiều so với ghép cam hay bưởi. Với điều kiện người nông dân thông thường, khó mà làm hành công ngay. Cho dù nhà nông đã có nắm vững kỹ thuật ghép, điều kiện tiếp theo là cần có vườn cây đầu dòng đạt chất lượng để lấy chồi ghép.
Với cây thực sinh 4-5 tuổi, mỗi cây có thể phải cần 5-10 chồi ghép. Nếu trong vườn bà con đã có hàng trăm cây thực sinh, thì việc kiếm đủ số lượng mắt ghép cũng là vấn đề không nhỏ, khi các vườn mắc ca đầu dòng hiện nay đang ưu tiên mắt ghép cho cây con (mỗi cây chỉ cần 1 mắt ghép).
“Theo tôi, bà con nên cân nhắc mục tiêu lâu dài, có điều kiện thì nên đầu tư trồng cây mới, vì cây mắc ca có thể khai thác quả tới hơn 60 năm” – GS Hoàng Hòe khuyến cáo. (Dân Việt 4/10) đầu trang(
Viện Khoa học lâm nghiệp Nam Trung Bộ và Tây Nguyên vừa nghiên cứu và tuyển chọn một số loài cây thông caribe , bạch tùng và thông năm lá để bổ sung vào tập đoàn cây trồng rừng kinh tế tại Lâm Đồng.
Ngoài ra, viện cũng xây dựng kỹ thuật nhân giống, trồng rừng trên các lập địa, trạng thái rừng khác nhau góp phần bảo tồn, phát triển các loài thông caribe, bạch tùng và thông năm lá; xác định các vùng sinh thái thích hợp để trồng và làm giàu rừng tự nhiên.
Hiện viện đã xây dựng thành công kỹ thuật nhân giống vô tính và hữu tính; kỹ thuật gây trồng trên các vùng sinh thái; trồng thử nghiệm trên các lập địa chính ở Lâm Đồng các giống cây này.  (Khoa Học Phát Triển 4/10) đầu trang(
Quan Sơn là xã còn nhiều khó khăn của huyện Chi Lăng, những năm qua từ chú trọng phát triển kinh tế đồi rừng, trên địa bàn xã đã xuất hiện nhiều mô hình trồng rừng, trồng cây ăn quả cho thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm. Qua đó, đời sống nhân dân ngày càng được nâng lên.
Gia đình ông Lý Văn Báo, thôn Đồng Ghè trước đây có hoàn cảnh khó khăn, từ mạnh dạn đầu tư trồng rừng, đến nay cho thu nhập kinh tế ngày càng khá. Bắt tay vào trồng rừng từ những năm 1995 (trồng theo dự án 327) với không ít khó khăn, không lùi bước, ngày ngày, ông Báo cõng cây, gùi phân, cuốc hố, trồng rừng. Đất chẳng phụ công người, rừng cây đánh bật cỏ dại, lau lách, sim mua, vươn lên xanh tốt.
Sau nhiều năm lặn lội với rừng, đến nay, gia đình ông có khoảng 10 ha rừng thông. Trong khoảng 3 năm trở lại đây, cây thông cho gia đình ông thu nhập hơn 100 triệu đồng/năm. Ông Báo cho biết: “Nhờ trồng rừng, gia đình đã có của ăn của để, không chỉ thoát được nghèo mà còn từng bước làm giàu”.
Ông Lý Văn Mão, trưởng thôn Đồng Ghè cho biết: Toàn thôn có 75 hộ dân, trước đây chủ yếu trồng lúa, ngô, đời sống khó khăn, tỉ lệ hộ nghèo chiếm trên 60%. Những năm đầu mới triển khai trồng rừng người dân chưa chú trọng, thôn phải đến từng nhà để vận động. Từ những năm 2000 phong trào trồng rừng bắt đầu diễn ra mạnh mẽ. Trong khoảng 5 năm trở lại đây, người dân không chỉ trồng thông mà còn trồng bạch đàn, keo và cây ăn quả như nhãn, bưởi, vải ở những chân đồi, vạt đồi thấp. Đến nay, cơ bản diện tích đất trống đồi núi trọc đã được phủ xanh.
Từ đó, nhiều diện tích rừng thông, keo, bạch đàn cho khai thác đem lại thu nhập khá cho người dân, có những hộ thu nhập trên 100 triệu đồng/năm, như: hộ ông Hoàng Văn Sao, Lý Văn Hổ, Lăng Văn Phóng,… Đặc biệt, cây ăn quả ngày càng được mở rộng, hiện toàn thôn có khoảng 40 ha cây ăn quả được trồng ở các chân đồi, vạt đồi thấp gồm: cây bưởi, nhãn, vải, chanh đào. Từ cây ăn quả, có hộ thu nhập hàng trăm triệu đồng, như: hộ ông Lăng Văn Thượng, Vi Văn Tuấn,…
Theo trưởng thôn Mão, khai thác rừng đến đâu, bà con trồng luân canh đến đó, không cho đất trống, đất nghỉ. Bình quân mỗi năm, nhân dân trong xã trồng mới trên 30 ha rừng chủ yếu là thông, keo, bạch đàn; từ 6 đến 8 ha cây ăn quả.
Không chỉ thôn Đồng Ghè, các thôn khác phong trào trồng rừng cũng diễn ra mạnh mẽ. Người dân không chỉ trồng cây thông mà còn phát triển trồng cây keo, bạch đàn. Đến nay, toàn xã có khoảng 1.400 ha rừng sản xuất, nhiều diện tích cho khai thác. Trong 9 tháng đầu năm 2016, xã trồng mới được 200 ha rừng, chủ yếu là bạch đàn, keo. Cùng với đó, ở những chân đồi thấp, bà con trồng các loại cây ăn quả như: vải thiều, nhãn, bưởi, chanh đào. Hiện tại diện tích trồng cây ăn quả toàn xã lên tới khoảng 200 ha và một số diện tích đã cho thu hoạch.
Ông Hoàng Văn Ty, Chủ tịch UBND xã cho biết: Để phát huy thế mạnh kinh tế rừng, xã đã giao diện tích đất lâm nghiệp cho các hộ dân quản lý và canh tác; đưa các chương trình, dự án trồng rừng của tỉnh, huyện vào triển khai thực hiện; vận động nhân dân phủ xanh đất trống, đồi núi trọc. Sau khi một số hộ tiên phong về trồng rừng cho giá trị kinh tế cao, bà con bắt đầu thay đổi tư duy. Đến nay, phong trào trồng rừng phát triển mạnh mẽ, cho hiệu quả kinh tế cao.
Từ phát triển kinh tế đồi rừng hiệu quả, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, thu nhập bình quân đạt gần 20 triệu đồng/người/năm (so với năm 2011 đạt 9 triệu đồng/người/năm).  (Báo Lạng Sơn 4/10) đầu trang(
Ngày 30/9, Huyện Đoàn Tân Phú Đông phối hợp với Tỉnh Đoàn tổ chức ra quân thực hiện công trình thanh niên trồng rừng ngập mặn năm 2016 tại xã Phú Tân.
Đến dự có ông Cao Văn Thật, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh; chị Nguyễn Thị Mỹ Nương, Phó Bí thư Tỉnh Đoàn, đại diện Đảng ủy, chính quyền địa phương và 50 đoàn viên, thanh niên các cơ sở Đoàn trên địa bàn huyện.
Chị Nguyễn Thị Mỹ Nương, Phó Bí thư Tỉnh Đoàn nêu ý nghĩa của việc bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng ngập mặn, đồng thời kêu gọi các cấp bộ Đoàn và đoàn viên, thanh niên tiếp tục phát huy tinh thần xung kích, tình nguyện của tuổi trẻ tham gia tích cực các hoạt động bảo vệ, quản lý tài nguyên rừng, đấu tranh mạnh mẽ với các hành vi gây nguy hại đến tài nguyên rừng và tài nguyên môi trường.
Ngay sau lễ ra quân, các bạn đoàn viên, thanh niên đã trồng 300 cây bần tại rừng ngập mặn thuộc xã Phú Tân, số còn lại khoảng 2.200 cây sẽ được tiếp tục trồng trong thời gian tới với tổng diện tích rừng ngập mặn dự kiến được trồng là 1,3 ha. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Tiền Giang 4/10) đầu trang(
Tỉnh Trà Vinh vừa hoàn thành dự án trồng mới gần 230 ha rừng phòng hộ ven biển trên địa bàn các huyện Cầu Ngang, Duyên Hải, Châu Thành và thị xã Duyên Hải sau 2 năm triển khai thực hiện.
Ông Dương Văn Điện, Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Trà Vinh cho biết, dự án trồng rừng phòng hộ ven biển Trà Vinh có tổng vốn đầu tư gần 6,5 tỷ đồng; trong đó, nguồn vốn trồng mới diện tích gần 230 ha rừng bần, đước và phi lao hơn 6,1 tỷ đồng; nguồn vốn còn lại được dành cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc hơn 323 ha rừng ngập mặn nguyên sinh.
Cùng với dự án trồng rừng phòng hộ ven biển, tỉnh Trà Vinh cũng đang thực hiện Dự án “Đầu tư xây dựng và phát triển bền vững rừng phòng hộ tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2015 - 2020", với tổng nguồn vốn hơn gần 14,7 tỷ đồng từ nguồn vay ODA và ngân sách của tỉnh đầu tư. Dự án này sẽ trồng mới 292 ha rừng bần, đước, phi lao và trên 300.000 cây phân tán; tổ chức giao khoán cho đơn vị, hộ dân chăm sóc và bảo vệ trên 1.179 ha rừng nguyên sinh và đã được trồng những năm trước.
Tỉnh Trà Vinh hiện có trên 8.622 ha rừng ngập mặn và rừng phòng hộ ven biển. Mục tiêu phát triển rừng được tỉnh Trà Vinh đề ra đến năm 2020 là nâng diện tích rừng lên khoảng 9.000 ha và nâng độ che phủ của rừng đạt 4,6 %. (Báo Ảnh Dân Tộc Và Miền Núi 5/10) đầu trang(
Nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, trong thời gian qua, Hội Chữ thập đỏ huyện Hải Hà đã phối hợp với Tổ chức “Hành động để phục hồi rừng ngập mặn” (ACTMANG) của Nhật Bản triển khai dự án phục hồi rừng ngập mặn trên địa bàn huyện. Qua đó đã mang lại lợi ích thiết thực cho người dân và góp phần cải thiện môi trường sinh thái biển.
Dự án phục hồi rừng ngập mặn được Hội Chữ thập đỏ huyện Hải Hà và Tổ chức ACTMANG của Nhật Bản triển khai tại hai xã Quảng Minh và Quảng Phong với diện tích là 350ha, trong đó tập trung trồng mới 65ha và bảo vệ 280ha rừng ngập mặn hiện có, tổng kinh phí thực hiện dự án gần 300 triệu đồng. Dự án được triển khai từ đầu năm 2015, đến nay các cánh rừng đang phát triển rất tốt và đã mang lại nguồn lợi thuỷ sản không nhỏ cho người dân, đồng thời trở thành vành đai chắn sóng bảo vệ các tuyến đê biển của huyện Hải Hà.
Ông Asano Tetsumi, thành viên Tổ chức ACTMANG của Nhật Bản, cho biết: Hội Chữ thập đỏ huyện Hải Hà rất nhiệt tình, tích cực tham gia trồng rừng ngập mặn cũng như tuyên truyền cho các hộ dân ven biển bảo vệ môi trường. Hy vọng khi rừng ngập mặn tốt sẽ góp phần cho cuộc sống người dân ven biển được nâng cao và làm phong phú hệ sinh thái và môi trường sẽ trở nên trong lành, sạch đẹp.
Cùng với việc trồng mới diện tích rừng ngập mặn, huyện Hải Hà cũng đã thành lập các đội tình nguyện viên, thường xuyên kiểm tra, tuần tra, tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân trong việc tham gia bảo vệ diện tích rừng ngập mặn. Như vậy, đến thời điểm hiện nay, trên địa bàn huyện Hải Hà đã phát triển và phục hồi được gần 1.000ha rừng ngập mặn, góp phần phòng ngừa thảm hoạ thiên nhiên.
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Khắc Thanh, Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ huyện Hải Hà cho biết: Hiện nay, các thảm hoạ do biến đổi khí hậu thường xuyên xảy ra, để chủ động phòng chống, chúng tôi sẽ phối hợp tốt với các tổ chức của Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Tổ chức ACTMANG của Nhật Bản tiếp tục trồng rừng ngập mặn; đồng thời tuyên truyền cho nhân dân bảo vệ tốt diện tích rừng ngập mặn để tạo ra môi trường xanh - sạch - đẹp.
Có thể nói, dự án phục hồi rừng ngập mặn do Hội Chữ thập đỏ huyện Hải Hà và Tổ chức ACTMANG của Nhật Bản triển khai đang đem lại hiệu quả thiết thực, các cánh rừng ngập mặn đã trở thành “bức tường xanh” vững chắc ven biển.
Với mục tiêu phục hồi và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ bờ biển và cải thiện đời sống cho cộng đồng dân cư, trong thời gian tới huyện Hải Hà sẽ tiếp tục triển khai nhiều dự án trồng mới cũng như bảo vệ và phát triển diện tích rừng ngập mặn nhằm hưởng ứng chiến lược quốc gia về phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu tại địa phương. (Báo Quảng Ninh 5/10) đầu trang(
Khu du lịch của vị Phó Công an huyện tại xã Hương Phong, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế chưa được cấp phép nhưng đã tiến hành xây dựng nhiều hạng mục hoành tráng và đã đi vào hoạt động.
Những ngày qua, người dân trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế xôn xao về việc một khu rừng được giao cho nhiều hộ gia đình ở xã Hương Phong, huyện A Lưới (Thừa Thiên - Huế) quản lý bỗng nhiên biến thành một khu du lịch của một vị phó công an tên Sinh đang công tác tại huyện này.
Theo sự chỉ dẫn của người dân, PV đi theo con đường bê tông vào đến khu rừng S8 cách đường mòn Hồ Chí Minh khoảng chừng 2km là một khu du lịch giống như một "thiên đường" và biển chỉ dẫn rõ ràng vào khu du lịch suối Cân Te.
Quan sát của PV cho thấy, khu du lịch rộng khoảng 3 - 4 hecta là rừng tái sinh thuộc tiểu khu 316. Tại đây, nhiều cây gỗ lớn lâu năm bị đốn hạ để phục vụ cho việc xây dựng các công trình của khu du lịch.
Điểm nhấn của khu du lịch này chính là dòng suối Cân Te thơ mộng, bên cạnh con suối là hàng chục chòi, lán được làm rất đẹp để phục vụ cho khách đến du lịch.
Theo đó, là những tờ rơi quy định các mức giá cả cho các dịch vụ du lịch được niêm yết khắp nơi như ngồi nhà sàn 300 nghìn đồng, sạp lớn 100 nghìn đồng, sạp nhỏ 50 nghìn đồng; đậu xe ôtô 10 – 15 nghìn đồng, xe máy 5 nghìn đồng; câu cá thư giãn 10 nghìn đồng/giờ... Tuy nhiên, người dân ở đây cho biết con suối Cân Te là nơi cung cấp nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số ở xã Hương Phong.
Tiếp tục đi tới, PV chứng kiến một con mương bao quanh một khu đất có tên là "đảo khỉ" và phát hiện 4 con khỉ (khá giống loài khỉ mặt đỏ, một trong những loài nằm trong Sách Đỏ của Việt Nam - PV) được nuôi nhốt trong lồng sắt khá to.
Trao đổi với PV, đại diện lãnh đạo UBND xã Hương Phong cho biết, công trình khu du lịch nói trên thuộc sở hữu của ông Nguyễn Nam Sinh - Phó Trưởng công an huyện A Lưới. Đây là khu đất nằm trong khu vực đất rừng tái sinh, đất trống D2 (có một số cây sống lâu năm nằm rải rác và cần được bảo vệ - PV), được giao cho các hộ gia đình quản lý và bảo vệ từ nhiều năm nay.
Khu vực này xã chỉ mới có chủ trương làm du lịch chứ chưa có quy hoạch và quyết định cụ thể - Lãnh đạo UBND xã Hương Phong cho biết thêm.
Khi trao đổi nhanh với PV, ông Nguyễn Nam Sinh đã phủ nhận việc cho xây dựng các công trình phục vụ du lịch trên khu đất này và cho biết, khu đất nói trên ông đang đợi cấp phép và chờ quyết định triển khai làm khu du lịch chứ chưa xây dựng gì và các cá thể khỉ đang được nuôi nhốt thì đã bàn giao cho Hạt Kiểm lâm A Lưới từ tháng 8/2016. (Tầm Nhìn 4/10) đầu trang(
Nhiều người dân ở thôn Huỳnh Giản Bắc, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước (Bình Định) ngang nhiên lấn chiếm một số diện tích đất rừng dương phòng hộ ven biển thuộc hành lang tỉnh lộ 639 nằm trên địa bàn thôn Huỳnh Giản Bắc và thôn Phú Hậu, xã Cát Chánh, huyện Phù Cát (Bình Định) để xây dựng nhà ở trái phép. Chính quyền các địa phương và ngành chức năng liên quan chưa có biện pháp kiên quyết để ngăn chặn, xử lý hiệu quả.
Theo UBND xã Phước Hòa và Cát Chánh, từ năm 2014 đến nay, có 17 trường hợp xâm lấn, chiếm dụng đất rừng dương nằm trong hành lang tỉnh lộ 639 để xây dựng nhà ở trái phép.
Trong đó, 12 ngôi nhà nằm trên phần đất thuộc địa phận thôn Huỳnh Giản Bắc, 5 ngôi nhà còn lại “mọc” trên đất thuộc địa bàn thôn Phú Hậu. Những đối tượng thực hiện hành vi lấn chiếm đa số là người dân ở thôn Huỳnh Giản Bắc; mỗi hộ chiếm diện tích đất từ 20 - 150m2.
Sau khi phát hiện các trường hợp lấn chiếm đất để cất nhà, chính quyền 2 xã Phước Hòa và Cát Chánh kiểm tra, lập biên bản đình chỉ xây dựng công trình, xử phạt vi phạm hành chính và buộc tháo dỡ.
Tuy nhiên đến nay, chưa có trường hợp nào tự nguyện tháo dỡ, còn chính quyền địa phương cũng không thực hiện biện pháp cưỡng chế. Những ngôi nhà xây dựng trên đất lấn chiếm vẫn tồn tại; thực tế này khiến không ít người bất bình, hoài nghi.
Ông P.H.T, ở xã Cát Chánh, bức xúc: “Họ vô tư xí phần, lấn chiếm nhiều diện tích đất thuộc khu vực rừng dương phòng hộ ven biển nằm trong hành lang tỉnh lộ 639 để cất nhà trái phép. Lạ hơn nữa, những ngôi nhà này vẫn tồn tại dù khi phát hiện hành vi vi phạm, chính quyền địa phương đã lập biên bản đề nghị ngừng xây dựng và buộc tháo dỡ. Phải chăng động thái kiểm tra, lập biên bản chỉ là hình thức, lấy lệ?”.
Lý giải thực tế này, ông Phan Trần Phú, Trưởng thôn Huỳnh Giản Bắc, cho biết: “Nhiều người dân lấn chiếm đất rừng cất nhà trái phép là do khó khăn về chỗ ở. Có gia đình 3 - 4 thế hệ ở chung một nhà; nhà chật, người đông nên họ “liều” ra rừng chiếm đất cất nhà, bất chấp pháp luật. Cứ chiếm đất xây nhà ở cái đã, khi nào bị cưỡng chế mới hay”.
Đồng quan điểm, ông Phan Đình Cảnh, cán bộ địa chính xã Cát Chánh, cho rằng: “5 trường hợp chiếm đất, xây nhà trái phép nằm trên phần đất thuộc thôn Phú Hậu là người dân đến từ thôn Huỳnh Giản Bắc. Những trường hợp này đều khó khăn về chỗ ở; do vậy, xã cũng chỉ dừng ở mức kiểm tra, lập biên bản vi phạm, rồi cho tạm tồn tại, chứ từ trước đến nay chưa thực hiện cưỡng chế tháo dỡ trường hợp nào (!?)”.
Về việc này, ông Nguyễn Văn Nhâm, Chủ tịch UBND xã Phước Hòa, thẳng thắn nhìn nhận: Rất khó xử lý dứt điểm các trường hợp lấn chiếm đất rừng xây nhà ở trái phép, bởi sự phối hợp giữa 2 địa phương và ngành chức năng liên quan chưa đồng bộ. Bên cạnh đó, hầu hết các trường hợp vi phạm đều khó khăn về chỗ ở, nếu quyết liệt cưỡng chế tháo dỡ nhà thì họ không còn nơi ở khác.
“Xã đã có báo cáo gửi UBND huyện Tuy Phước về các trường hợp vi phạm để xin ý kiến chỉ đạo xử lý. Quan điểm của chúng tôi là sẽ kiên quyết xử lý, nhưng thời gian cụ thể để thực hiện việc cưỡng chế tháo dỡ nhà thì chưa biết. Trước mắt, đối với những trường hợp đã xây nhà xong, chúng tôi xin ý kiến huyện tạm cho tồn tại. Đồng thời, kịp thời, kiên quyết xử lý đối với những trường hợp lấn chiếm mới nhằm ngăn chặn, không để các ngôi nhà và công trình xây dựng trái phép tiếp tục “mọc” lên”, ông Nhâm cho biết thêm.
Tương tự xã Phước Hòa, UBND xã Cát Chánh cũng gặp không ít khó khăn trong xử lý dứt điểm các trường hợp lấn chiếm đất xây dựng nhà ở. Hiện địa phương đã có báo cáo gửi UBND huyện Phù Cát và đang chờ chủ trương từ cấp trên để xử lý các trường hợp vi phạm đúng theo trình tự pháp luật.
Trong khi đó, qua tìm hiểu được biết, UBND huyện Phù Cát và Tuy Phước đều yêu cầu UBND xã Cát Chánh và Phước Hòa thực hiện vai trò “chủ công” trong xử lý các trường hợp vi phạm.
Ông Tạ Công Thượng - Trưởng phòng TN&MT huyện Phù Cát và ông Nguyễn Đình Thuận - Chủ tịch UBND huyện Tuy Phước, đều cho rằng: Việc kiểm tra, ngăn chặn, xử lý các trường hợp lấn chiếm đất rừng để xây dựng nhà đã được UBND huyện giao Chủ tịch UBND các xã thực hiện theo đúng thẩm quyền quy định.
Nhưng các địa phương chưa xử lý rốt ráo, để những ngôi nhà trái phép tồn tại. Tới đây, UBND 2 huyện sẽ kiểm tra, đôn đốc Chủ tịch UBND xã Phước Hòa và Cát Chánh thực hiện nghiêm việc xử lý.
Có thể thấy, trong khi cấp xã xin chủ trương, hướng xử lý từ cấp huyện, thì huyện lại giao vai trò “chủ công” cho cấp xã. Với điều này, việc xử lý dứt điểm các trường hợp lấn chiếm đất rừng dương để xây dựng nhà ở xem ra còn nhiều trắc trở và kéo dài.
Và nếu thiếu kiên quyết trong xử lý các trường hợp vi phạm, những ngôi nhà xây dựng trái phép tiếp tục “mọc” trong phạm vi rừng dương thuộc hành lang tỉnh lộ 639 là điều khó tránh khỏi.
Do đó, huyện Tuy Phước, Phù Cát và ngành chức năng liên quan cần quyết liệt hơn nữa trong ngăn chặn, xử lý để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật; đồng thời, tránh tình trạng các trường hợp vi phạm tiếp tục tăng, gây khó khăn, phức tạp trong việc xử lý về sau. (Công An Nhân Dân 2/10) đầu trang(
Những trận mưa rừng của mùa thu làm tơi xốp lớp đất đai sau những tháng ngày nắng hạn. Không khí ẩm ướt mang theo mùi lá mục ngai ngái đã đánh thức những mầm cây ẩn mình dưới lớp đất sâu. Mùa tìm lộc rừng của những người dân trên vùng núi Ka Đay thuộc dãy Trường Sơn lại bắt đầu.
Chuyến công tác về với người dân xã Hương Liên (Hương Khê) của chúng tôi dường như bị vỡ kế hoạch, bởi đợt mưa rừng không báo trước. Nhưng đó cũng là cơ duyên để chúng tôi thêm một lần trải nghiệm những cảm giác mới mẻ khi chìm đắm trong câu chuyện từ những người con của rừng.
Hơn 50 tuổi đời, gắn bó với rừng từ thuở ấu thơ, nhưng với bà Nguyễn Thị Khẩn (xã Hương Liên) thì rừng xanh luôn có sức hấp dẫn kỳ diệu với những sản vật phong phú: “Sống với rừng, rừng luôn bảo vệ, che chắn cho chúng tôi, ban tặng những sản vật quý giá theo mùa. Với những người phụ nữ vùng sơn cước, mùa hái lộc có lẽ là khoảng thời gian đáng mong chờ nhất. Đó là những gùi măng trĩu nặng mang về bữa cơm no ấm cho gia đình trong ngày giáp hạt”.
Theo người dân nơi đây, mùa măng kéo dài từ tháng 7 đến cuối tháng 10 và cao điểm là sau những ngày mưa tầm tã thuộc trung tuần tháng 9. Măng nứa ở phía Đông Trường Sơn vùng rừng núi Ka Đay dẫu không còn dồi dào như trước, nhưng cũng đủ làm ấm lòng những người năng tìm kiếm.
8h sáng, khi cơm nước xong xuôi, từng nhóm 2-3 người lại nắm cơm, xách nước mang gùi lên rừng. Điểm đến của họ là những vạt rừng nơi có các loại tre, nứa, luồng, giang… để tìm măng. Kể thì đơn giản nhưng thực tế, ăn được lộc rừng cũng rưng rưng nước mắt.
Đó là cảm giác xót, ngứa rất khó chịu khi bị gai măng, gai tre đâm rách da thịt; là những cơn mưa rừng ào ào bất chợt tiềm ẩn nhiều nguy cơ khiến đất rừng trơn nhẫy, chỉ còn nước đi chân trần, bấm từng ngón chân xuống đất, dồn hết sức lực để bước đi trong khi vai vác nặng; rồi còn phải đối phó với muỗi, vắt… Nhưng biết làm sao được, ở rừng, sống phải nhờ rừng và niềm vui được bù đắp là những buổi chiều trở về với chiếc gùi trĩu nặng vài ba chục ký măng trên lưng.
Trong đội đi rừng hái lộc, ngoài những gương mặt thân quen, vài ba năm trở lại đây, đã có thêm chị Hồ Thị Lĩnh, Hồ Bắc Khâm ở bản Rào Tre. Tuy nói tiếng Kinh còn trọ trẹ, nhưng khi kể chuyện về những chuyến đi rừng, chị Hồ Thị Lĩnh hồ hởi: “Chúng tôi không đi được thường xuyên như bà con người Kinh, chỉ khi nào hết cái ăn hay khi có người đặt hàng thì mới vào rừng. Mỗi chuyến từ 20-30 kg, tính ra cũng được khoảng 100.000 đồng”.
Từ những chiếc gùi trĩu nặng băng rừng, vượt suối, đặc sản măng muối, măng luộc theo chân thực khách về xuôi, làm phong phú thêm bữa cơm trong những ngày se lạnh.
Niềm vui mùa hái lộc còn là nụ cười rạng rỡ trên môi của các mẹ, các chị khi tìm được những loại thuốc dân gian. Không nhiều để có thể đem bán, nhưng lộc của rừng cũng đã làm vơi bớt những cơn đau, đặc trị những loại bệnh thông thường cho bà con. Chị Đậu Thị Nga (xã Hương Liên) cho biết: “Cùng với hái củi, mỗi chuyến từ rừng trở về của tôi còn lỉnh kỉnh các loại cây như mốc đen, dung, ối… Đó là loại thuốc thông thường chữa căn bệnh dạ dày cho chồng. Những dược liệu đơn giản này ngày xưa mọc nhiều ven bờ bụi, nhưng đến nay cũng phải vào rừng mới có”.
Mùa mưa rừng cũng là mùa hứa hẹn nguồn thu nhập đáng mơ ước của những trụ cột gia đình với nghề mót rễ cây lim. Anh Nguyễn Phượng (xã Hương Lâm) cho biết: “Những cánh rừng già bạt ngàn gỗ lim ngày xưa đã dần biến mất do nạn chặt phá của lâm tặc. Thế nhưng, trong một lần đi rừng cách đây vài ba năm, tôi nhìn thấy những gốc cây lim còn trơ rễ và ý tưởng mót rễ cây làm đồ gia dụng được hình thành”.
Anh Dũng - một người mót rễ gỗ lim ở Hương Lâm chia sẻ: “Mùa mưa đất bở nên không mất công đào xới nhiều. Khó nhất là công đoạn cõng hàng tạ rễ cây lấm lem bùn đất vượt hàng cây số, nhưng bù lại, mỗi ngày cũng cho chúng tôi từ 400-500 ngàn đồng”.
Nghe có vẻ dễ dàng nhưng nghề cũng rất kén chọn người. Đó phải là những người có con mắt nhìn rễ cây để phân biệt gỗ, lại cần cù, chịu thương chịu khó và sức khỏe dẻo dai. Hội tụ những yếu tố ấy nên chỉ sau 3 mùa mưa, ngoài chăm lo cuộc sống gia đình, anh Phượng đã xây dựng được nhà cửa khang trang trị giá khoảng 600-700 triệu đồng. Những người bạn đi rừng với anh cũng đã bắt đầu có cuộc sống ổn định, sung túc nhờ lộc rừng.
Trên cung đường vắt vẻo dài hơn 20 km vào chân núi Ka Đay có hàng trăm hộ dân được rừng xanh bao bọc. Với họ, mùa lộc rừng đã trở thành mùa hò hẹn với những chuyến đi. (Báo Hà Tĩnh 5/10) đầu trang(
Việc trồng thêm cây xanh là hướng đúng nhưng cần được tính toán khoa học và hiệu quả, đảm bảo yêu cầu về môi trường cảnh quan và an toàn khi mùa mưa bão đến.
Đường Trần Khát Chân, đoạn nối với phố Lò Đúc là đoạn đường mới mở có diện tích vỉa hè và không gian rộng. Loại cây được chọn trồng ở đây là cây lát hoa, được đánh giá khá phù hợp với đô thị. Tuy nhiên, theo đánh giá của ông Lê Huy Cường - chuyên gia lâm nghiệp, cây trồng hiện nay vẫn cần được tính toán thêm.
Ngoài lát hoa và phượng vĩ là 2 loại cây được trồng nhiều ở các tuyến phố, lộc vừng, hoa ban cũng được lựa chọn để trồng thêm trên tuyến đường Bờ Hồ, quận Hoàn Kiếm. Theo quy định của Bộ Xây dựng và UBND TP Hà Nội, Công ty Công viên cây xanh Hà Nội được phép trồng khoảng 35 chủng loại cây trong dự án 1 triệu cây xanh. Tuy nhiên, trồng cây nào, trên tuyến phố nào là phù hợp, đảm bảo tỉ lệ sống cao và an toàn khi mùa mưa bão đến là vấn đề công ty đã tính toán cẩn thận.
Thực hiện chương trình 1 triệu cây xanh, từ đầu năm đến nay, công ty Công viên cây xanh Hà Nội đã trồng được khoảng 60.000 cây xanh ở 60 tuyến phố. Các cây đang được trồng ở các tuyến phố Hà Nội có đường kính từ 10 - 12 cm.
Theo Bộ Xây dựng, chỉ tiêu về diện tích cây xanh trên đất tự nhiên đô thị Việt Nam thấp so với khu vực và thế giới. Ngay cả ở thành phố lớn như Hà Nội và TP.HCM, cây xanh cũng đạt khoảng xấp xỉ 2m2/người, chỉ mới bằng 1/10 chỉ tiêu cây xanh của các thành phố hiện đại trên thế giới. Vì vậy, việc trồng thêm cây xanh là hướng đúng nhưng cần được tính toán khoa học và hiệu quả, đảm bảo yêu cầu về môi trường, cảnh quan và an toàn khi mùa mưa bão đến. (Đài Truyền Hình Việt Nam 4/10) đầu trang(
Theo báo cáo của Hạt Kiểm lâm Hoài Ân, 9 tháng đầu năm, Tổ công tác liên ngành của huyện đã phá bỏ trên 107 ha rừng trồng trái phép trên diện tích lấn chiếm; tập trung chủ yếu ở các xã: Bok Tới (40,67 ha), Đăk Mang (28 ha), Ân Tường Đông (17 ha), Ân Tín (7,5 ha).
Hiện nay, tình hình lấn chiếm đất lâm nghiệp tại Hoài Ân vẫn còn diễn biến phức tạp. Riêng trong tháng 9, lực lượng chức năng đã phát hiện 3 vụ, với diện tích trên 7 ha, tại xã Bok Tới. Theo kế hoạch, từ nay đến cuối năm, Tổ công tác liên ngành của huyện tiếp tục phá bỏ hơn 60 ha diện tích lấn chiếm, tập trung tại các xã: Đăk Mang, Bok Tới, Ân Sơn.
Sáng 4.10, Hạt Kiểm lâm huyện Tây Sơn phối hợp cùng UBND xã Tây Thuận (huyện Tây Sơn) và UBND xã Cửu An (TX An Khê, tỉnh Gia Lai) đã nhổ bỏ 1 ha cây keo lai trồng trái phép tại khoảnh 1 và khoảnh 5, tiểu khu 235 (khu vực giáp ranh giữa 2 xã Tây Thuận và Cửu An).
Hôm nay (5.10), lực lượng Kiểm lâm huyện cùng chính quyền các địa phương tiếp tục phá bỏ 2,6 ha cây keo lai trồng trái phép khác tại khoảnh 1, tiểu khu 248 (khu vực giáp ranh giữa xã Tây Thuận với xã Song An (TX An Khê).
Diện tích cây keo lai bị nhổ bỏ lần này do người dân 2 xã Cửu An và Song An trồng trái phép năm 2016, trên diện tích đất rừng do UBND xã Tây Thuận quản lý. (Báo Bình Định 4/10) đầu trang(
Gần đây, dư luận ở xã Mỹ Hòa, huyện Phù Mỹ (Bình Định) xôn xao việc một số người dân ở địa phương vào khu vực hồ đập Lồi, thôn Hội Phú, xã Mỹ Hòa để phát cây rừng, lấn chiếm đất để chuẩn bị trồng cây keo lai. Trước thông tin này, phóng viên đã về địa phương tìm hiểu thực hư vụ việc.
Qua trao đổi ông Trương Quang Hùng, Chủ tịch UBND xã Mỹ Hòa, xác nhận: “Việc người dân phát, dọn cây lâm nghiệp ở khu vực hồ đập Lồi, thôn Hội Phú là có thật”. Qua kiểm tra, bước đầu UBND xã Mỹ Hòa nhận định, vụ việc trên xảy ra tại khoảnh 3, tiểu khu 173 và khoảnh 1, tiểu khu 179; thời điểm diễn ra vào khoảng tháng 6 và tháng 7-2016.
Sau khi phát hiện vụ việc, UBND xã Mỹ Hòa đã báo cáo UBND huyện Phù Mỹ để xin ý kiến xử lý. Từ thông tin này, ông Hà Ngọc Tân, Phó Chủ tịch UBND huyện Phù Mỹ đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện Phù Mỹ, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phù Mỹ phối hợp cùng UBND xã Mỹ Hòa vào cuộc kiểm tra, xử lý.
Theo nguồn tin riêng mà chúng tôi nắm được, đến nay, cơ quan chức năng huyện Phù Mỹ đã xác định được đối tượng tham gia vụ phát, dọn cây rừng để chiếm đất trồng rừng nguyên liệu giấy. Cụ thể, tại khoảnh 1, tiểu khu 179, đối tượng vi phạm được xác định là ông Phạm Đình Giáo, trú thôn Hội Khánh, xã Mỹ Hòa; tại khoảnh 3, tiểu khu 173 là ông Nguyễn Văn Điệp, trú thôn Hội Phú, xã Mỹ Hòa.
Bước đầu ngành chức năng của huyện xác định ông Giáo xâm hại 1.467m2 đất rừng (cây bụi, dây leo). Ông Điệp xâm hại trên 9.000m2 đất và đất có rừng; trong đó, có 6.100m2 đất lâm nghiệp quy hoạch chức năng phòng hộ và 3.700m2đất có rừng, trạng thái rừng IIA”, một cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Phù Mỹ, thông tin.
Liên quan về vụ việc này, ngày 4-10, ông Hà Ngọc Tân, Phó Chủ tịch UBND huyện Phù Mỹ, cho biết: “Vụ phá rừng ở tiểu khu 173 và tiểu khu 179 có dấu hiệu vi phạm theo điều 189 của Bộ Luật Hình sự. Vì thế, để có đủ cơ sở pháp lý, huyện đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện Phù Mỹ mời Trung tâm Quy hoạch nông nghiệp, nông thôn tỉnh về giám định lại loại rừng một cách kỹ lưỡng. Sau đó, căn cứ vào kết quả giám định, chúng tôi sẽ đưa ra quyết định xử lý; nếu đủ cơ sở sẽ khởi tố hình sự”. (Tài Nguyên Và Môi Trường 4/10) đầu trang(
Đây là quan điểm của nhiều đại biểu đưa ra tại Hội thảo ngành công nghiệp chế biến gỗ “Mở rộng cơ hội xuất khẩu” sáng 4/10 tại Hà Nội.
Theo thông tin tại Hội thảo, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang Hoa Kỳ liên tục tăng trong những năm vừa qua, ở mức trên 10%/năm. Năm 2015, lượng gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu vào Hoa Kỳ đạt 2, 45 tỷ USD, tăng 17% so với con số 2,1 tỷ USD của năm 2014.
Trong đó, các mặt hàng quan trọng được xuất khẩu sang Mỹ bao gồm: ván ghép, đồ mộc xây dựng, khung tranh, ảnh, gương, ván sàn, gỗ dán...
Trong 7 tháng đầu năm 2016, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đạt 1,4 tỷ USD, chiếm trên 50% trong tổng kim ngạch của năm 2015. Các sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu cao bao gồm: khung tranh, ảnh, gương, ván ghép, đồ mộc xây dựng, ván sàn, đồ dùng, trang trí bằng gỗ...
Đến thời điểm này, Hoa Kỳ đã và đang tiếp tục là quốc gia quan trọng nhất cho ngành gỗ của Việt Nam cả trên phương diện nguồn cung gỗ nguyên liệu và là thị trường lớn nhất trong tiêu thụ gỗ và các sản phẩm gỗ của Việt Nam. Mức thặng dư trong thương mại giữa hai quốc gia tiếp tục gia tăng. Đây là những tín hiệu tích cực, phản ánh rõ nét việc mở rộng nhu cầu tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam tại Mỹ trong tương lai.
Theo các đại biểu, thiếu hụt về nguồn cung gỗ nguyên liệu trong nước trong bối cảnh ngành chế biến gỗ xuất khẩu đang tiếp tục mở rộng đòi hỏi mỗi năm Việt Nam cần phải nhập khẩu gỗ từ trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, với khoảng 160-170 loài và lượng nhập khoảng 4-4,5 triệu m3 gỗ quy tròn.
Ông Tô Xuân Phúc - chuyên gia chính sách của Tổ chức Forest Trends - cho rằng, xu hướng tiêu dùng các sản phẩm gỗ hiện nay tại các thị trường lớn như: Mỹ, Châu Âu, Úc...cho thấy những đòi hỏi về tính hợp pháp của nguồn gỗ nguyên liệu đầu vào ngày càng chặt chẽ hơn. Điều này có nghĩa rằng, các sản phẩm đáp ứng được các yêu cầu của thị trường có cơ hội được chấp nhận tại các thị trường này. Ngược lại, các sản phẩm không đáp ứng được với các yêu cầu thị trường sẽ đặt doanh nghiệp đối mặt với các rủi ro.
“Các rủi ro này không chỉ đơn thuần là mất thị trường tiêu thụ sản phẩm mà còn liên quan đến các trách nhiệm pháp lý như hình thức xử phạt đối với doanh nghiệp”, ông Phúc nhấn mạnh.
Đại diện này cho biết, theo số liệu của Tổng cục Hải quan, đã có sự sụt giảm trọng lượng nhập khẩu gỗ quý từ các nước tiểu vùng sông MeKong. Đây là sự sụt giảm đáng mừng bởi đây là loại gỗ có rủi ro cao. Dù vậy, sự sụt giảm này cũng ảnh hưởng đến nguồn nguyên liệu của các làng nghề truyền thống của Việt Nam.
“Việc loại bỏ những rủi ro này chúng ta hoàn toàn có thể làm được. Bên cạnh những nỗ lực của các doanh nghiệp cũng cần có sự đồng hành của các Hiệp hội ngành hàng gỗ và cơ quan quản lý Nhà nước. Một trong những mảng chính sách cần phát triển đó là cập nhật thông tin thị trường cho các doanh nghiệp về những loại hình rủi ro, trong đó có những rủi ro về những loại gỗ nhập khẩu làm nguyên liệu”, ông Tô Xuân Phúc nói.
Tại Hội thảo, ông Nguyễn Tôn Quyền, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cũng chia sẻ, trong các Hiệp định song phương và đa phương như TPP có lộ trình cam kết giảm thuế như ngành gỗ Việt Nam từ năm 2006 đến nay, thuế xuất khẩu bằng 0, thuế nhập khẩu nguyên liệu bằng 0, cùng với đó những rào cản phi thuế quan không tác động lớn đến xuất khẩu. Điều này có tác động tích cực đến xuất khẩu của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó những cơ chế chính sách cho ngành gỗ hiện rất thông thoáng, tạo điều kiện để doanh nghiệp xuất khẩu hoạt động thuận lợi là những điều kiện góp phần cho mở rộng xuất khẩu.
“Với tốc độ tăng trưởng từ 15% đến 20% mỗi năm, cơ hội ngành gỗ mở rộng xuất khẩu là rất lớn khi chúng ta tham gia các Hiệp định thương mại song phương và đa phương”, ông Quyền nhấn mạnh. (Tổ Quốc 5/10) đầu trang(
Xuất khẩu gỗ sẽ đạt 7,3 tỷ USD?
Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ cả năm nay dự kiến đạt con số 7,3 tỷ USD và trong năm tới xuất khẩu mặt hàng này cũng khá khả quan khi kim ngạch thậm chí có thể đạt 8 tỷ USD.
Trao đổi với báo chí bên lề hội thảo “Ngành công nghiệp chế biến gỗ mở rộng cơ hội xuất khẩu” diễn ra sang 4-10 ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết: Những năm gần đây, ngành gỗ có sự tăng trưởng khá khả quan ở mức 15-20%/năm.
Nếu như năm 2015, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt mức 6,9 tỷ USD thì dự kiến cả năm nay số này có thể đạt tới 7,3 tỷ USD. Thậm chí, trong năm 2017, dự kiến xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ có thể cán mốc 8 tỷ USD.  Hiện nhu cầu sử dụng gỗ và sản phẩm gỗ của thị trường thế giới rất rộng lớn, không dưới 240 tỷ USD/năm, riêng thị trường Mỹ không dưới 30 tỷ USD/năm, thị trường EU không dưới 85 tỷ USD/năm. Vấn đề là làm thế nào để Việt Nam có thể tiếp cận được thị trường tốt hơn.
Cũng theo ông Quyền, gỗ Việt hiện đã có mặt trên 120 quốc gia và vùng lãnh thổ nhưng gỗ xuất khẩu chủ yếu bán được giá FOB (là giá tại cửa khẩu của bên xuất. Giá này chưa bao gồm chi phí bảo hiểm và vận chuyển hàng hoá tới cảng của bên nhập) chứ chưa bán được giá CIF (là giá tại cửa khẩu của bên nhập. Giá này đã bao gồm chi phí bảo hiểm, vận chuyển hàng hoá tới cửa khẩu của bên nhập…
Giá FOB rẻ hơn nhiều lần so với bán theo giá CIF. Đây là điều mà nhiều doanh nghiệp trăn trở. Muốn khắc phục điều này khá gian nan bởi doanh nghiệp phải nâng cao sự chuyên nghiệp, hiểu rành rọt thương mại quốc tế, giải trình tất cả các yêu cầu của phía nhập khẩu...
Đề cập tới tác động của các Hiệp định thương mại tự do (FTA) như Việt Nam-EU, Việt Nam-Hàn Quốc, Việt Nam-Nhật Bản, đặc biệt là việc tham gia Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)… tới ngành gỗ, ông Quyền cho rằng: Trong các hiệp định song phương và đa phương như TPP có lộ trình cam kết giảm thuế nhưng bản thân ngành gỗ Việt Nam từ 2006 đến nay, thuế xuất khẩu bằng 0%, thuế nhập khẩu nguyên liệu bằng 0% nên sự tác động không lớn. Các rào cản phi thuế quan cũng không gây nhiều khó khăn cho ngành gỗ.
Ngoài ra, thời gian qua, nhiều cơ chế chính sách cho ngành gỗ khá thông thoáng, tạo điều kiện để doanh nghiệp xuất khẩu hoạt động thuận lợi. Tất cả các yếu tố này góp phần mở rộng cơ hội xuất khẩu cho toàn ngành.
Đồng tình với quan điểm của ông Quyền, xung quanh câu chuyện xuất khẩu gỗ, ông Tô Xuân Phúc, chuyên gia chính sách của Tổ chức Forest Trends nhận định: Mỹ và Nhật Bản hiện là thành viên của TPP nên các doanh nghiệp cần thúc đẩy xuất khẩu vào hai thị trường này. Điều đó có ý nghĩa quan trọng trong quảng bá thương hiệu, nâng cao vị thế mặt hàng gỗ của Việt Nam trên thế giới.
Tuy nhiên, vấn đề hiện nay các doanh nghiệp cần lưu ý là sử dụng gỗ nguyên liệu có nguồn gốc rõ ràng, đặc biệt là các loại gỗ có nguồn gốc từ rừng tự nhiên, khu vực rừng nhiệt đới….
“Muốn loại bỏ rủi ro trong nguồn gốc gỗ nguyên liệu, ngoài nỗ lực của các doanh nghiệp cũng cần có sự đồng hành của các hiệp hội ngành hàng gỗ và cơ quan quản lý Nhà nước. Một trong những mảng chính sách cần phát triển là cập nhật thông tin thị trường cho các doanh nghiệp về những loại hình rủi ro, trong đó có những rủi ro về những loại gỗ nhập khẩu làm nguyên liệu”, ông Phúc nhấn mạnh.
Ông Quyền bổ sung thêm: Thời gian tới, để có thể tận dụng những cơ hội trong hội nhập, thúc đẩy xuất khẩu gỗ, doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu gỗ còn khá nhiều việc phải làm.
Một trong những khâu quan trọng là đào tạo nguồn nhân lực, bởi nguồn nhân lực hiện khá hạn chế. Ở Việt Nam hầu hết chưa có trường đào cạo công nhân lành nghề cho ngành gỗ. Điều này dẫn tới tình trạng tính chuyên nghiệp của công nhân ngành gỗ còn yếu, gây ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng và gián tiếp tác động tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp… (Hải Quan 4/10) đầu trang(
Thiếu hụt về nguồn cung gỗ nguyên liệu trong nước trong bối cảnh ngành chế biến gỗ xuất khẩu đang tiếp tục mở rộng đòi hỏi mỗi năm Việt Nam cần phải nhập khẩu gỗ từ trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, với khoảng 160-170 loài và lượng nhập khoảng 4-4,5 triệu m3 gỗ quy tròn.
Đây là khẳng định của ông Tô Xuân Phúc (tổ chức Forest Trends) cùng nhóm tác giả tại báo cáo Thương mại gỗ Việt Nam – Hoa Kỳ (giai đoạn 2013-2016).
Riêng đối với thị trường Hoa Kỳ, nhóm tác giả khẳng định, Hoa Kỳ đã và đang tiếp tục là quốc gia quan trọng nhất cho ngành gỗ của Việt Nam cả trên trên phương diện nguồn cung gỗ nguyên liệu và là thị trường lớn nhất trong việc tiêu thụ gỗ và các sản phẩm gỗ của Việt Nam.
Cho đến nay, cán cân thương mại gỗ và sản phẩm gỗ giữa xu thế chung của ngành chế biến gỗ xuất khẩu - với giá trị thặng dư nghiêng về phía Việt Nam. Tuy nhiên, mức thặng dư của Việt Nam trong thương mại gỗ với thị trường Hoa Kỳ cao nhất trong số tất cả các thị trường xuất khẩu, với giá trị kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam vào thị trường này cao gấp khoảng 10 lần so với giá trị kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này.
Đến nay mức thặng dư trong thương mại giữa hai quốc gia tiếp tục gia tăng. Đây là những tín hiệu tích cực, phản ánh rõ nét việc mở rộng nhu cầu tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam tại Hoa Kỳ trong tương lai.
Tuy nhiên, nhóm tác giả cũng cho rằng, sự thiếu hụt về nguồn cung gỗ nguyên liệu trong nước trong bối cảnh ngành chế biến gỗ xuất khẩu đang tiếp tục mở rộng đòi hỏi mỗi năm Việt Nam cần phải nhập khẩu gỗ từ trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, với khoảng 160-170 loài và lượng nhập khoảng 4-4,5 triệu m3 gỗ quy tròn .
“Trong khi, xu hướng tiêu dùng các sản phẩm gỗ hiện nay tại các thị trường lớn, như Mỹ, Châu Âu hay Úc cho thấy những đòi hỏi về tính hợp pháp của nguồn gỗ nguyên liệu đầu vào ngày càng chặt chẽ hơn. Điều này có nghĩa rằng các sản phẩm đáp ứng được các yêu cầu của thị trường có cơ hội được chấp nhận tại các thị trường này; ngược lại, các sản phẩm không đáp ứng được với các yêu cầu của thị trường đặt doanh nghiệp đối mặt với các rủi ro. Các rủi ro này không chỉ đơn thuần là mất thị trường tiêu thụ sản phẩm mà còn liên quan đến các trách nhiệm pháp lý như các hình thức xử phạt đối với doanh nghiệp”, nhóm tác giả này phân tích.
Cụ thể, trong các nguồn cung gỗ cho Việt Nam, Hoa Kỳ là quốc gia cung cấp nguồn gỗ nguyên liệu lớn và an toàn nhất về mặt pháp lý cho Việt Nam. Tính bình quân hàng năm Hoa Kỳ cung cấp cho Việt Nam khoảng gần 500.000 m3 gỗ xẻ, tương đương với khoảng 700.000 m3 gỗ quy tròn. Nếu gộp cả lượng gỗ tròn nhập khẩu từ thị trường này (khoảng dưới 100.000 m3/năm) thì lượng gỗ nguyên liệu được nhập khẩu từ Hoa Kỳ chiếm gần 20% trong tổng lượng gỗ nguyên liệu nhập khẩu vào Việt Nam.
Trong khi đó, Hoa Kỳ là thị trường quan trọng nhất cho việc tiêu thụ các mặt hàng gỗ Việt Nam. Hàng năm kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng gỗ của Việt Nam đạt được từ thị trường này chiếm trên 30% trong tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng gỗ của Việt Nam từ tất cả các thị trường xuất khẩu.
Xu hướng xuất khẩu cho thấy kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng gỗ của Việt Nam đạt được từ Hoa Kỳ vẫn tiếp tục tăng, trung bình khoảng trên dưới 15%/năm. Đây là những tín hiệu rất mừng cho ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng gỗ của Việt Nam vào thị trường EU – thị trường lớn thứ 2 của Việt Nam sau Hoa Kỳ - có dấu hiệu chững lại, thậm chí tụt giảm tại một số quốc gia thành viên trong khối. (Thời Báo Kinh Doanh 4/10) đầu trang(
Nhiều DN và làng nghề gặp rủi ro khi xuất khẩu vì mua phải gỗ nguyên liệu không có nguồn gốc hợp pháp. Muốn tránh rủi ro, DN cần có cơ sở dữ liệu để tra cứu thông tin, loại bỏ những quốc gia cung cấp gỗ không có nguồn hợp pháp.
“Làng nghề chúng tôi đang rất gay go khi hàng loạt sản phẩm gỗ trắc làm ra 4-5 năm nay không xuất khẩu được. Lượng sản phẩm này quy ra khoảng 50.000 m3 gỗ và giá trị rất lớn. Làm sao chúng tôi xuất được số hàng này bây giờ, các cơ quan chức năng hãy giúp chúng tôi”, ông Vũ Quốc Vương – Chủ tịch Hiệp hội Gỗ Đồng Kỵ “kêu trời”.
Một DN khác cũng dở khóc dở cười vì lô hàng gỗ nội thất bị khách hàng Hoa Kỳ từ chối bởi hàng được làm từ gỗ căm xe nhập khẩu từ Lào. Lượng gỗ căm xe này được khai thác từ dự án thủy điện, mà quá trình xin phép và thực hiện dự án này liên quan đến một số vấn đề như vi phạm các quy định có liên quan đến cộng đồng và các khoản thuế phí…
Việc của DN, chuyện của Đồng Kỵ cũng là chuyện rủi ro của nhiều DN và làng nghề khác: Chỉ vì không thể chứng minh được nguồn gốc hợp pháp của gỗ nguyên liệu, chỉ vì gỗ nguyên liệu nhập khẩu từ nhiều năm trước, nhập từ thị trường rủi ro cao không thể xuất khẩu vì không đáp ứng được yêu cầu chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp. Mức độ rủi ro mà những nhà sản xuất đồ gỗ Việt Nam phải đối mặt đang rất rộng.
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, hàng năm Việt Nam nhập khẩu khoảng 160-170 loài gỗ nguyên liệu (là gỗ tròn và gỗ xẻ) từ hơn 100 quốc gia với khoảng 4-4,5 triệu m3, tương đương trên 1,5 tỷ USD. Xu hướng nhập khẩu gỗ ngày càng tăng cả về lượng và ngày càng đa dạng trong các loài nhập khẩu không chỉ thể hiện qua con số tổng số loài nhập khẩu hàng năm mà còn qua góc độ cùng một loài được nhập khẩu từ nhiều quốc gia khác nhau. Ví dụ trong năm 2015 cùng một loài gỗ hương xẻ được nhập khẩu từ 28 quốc gia; Trong 7 tháng đầu 2016, cùng loài gỗ lim tròn được nhập khẩu từ 20 quốc gia.
Theo ông Tô Xuân Phúc, đại diện của Tổ chức Forest Trends, sự đa dạng trong nguồn gỗ nhập khẩu có thể giúp DN giảm rủi ro trước những thay đổi về nguồn cung. Nhưng “tính đa dạng trong các loài nhập khẩu và quốc gia nhập khẩu là một thách thức vô cùng lớn đối với việc kiểm tra tính hợp pháp của nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu” - ông Nguyễn Tôn Quyền – Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam (VIFORES) nhấn mạnh.
Nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu đang và sẽ tiếp tục có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của ngành gỗ. Sản xuất gỗ càng phát triển, nhu cầu nhập khẩu gỗ nguyên liệu càng lớn.
Vì vậy, kiểm soát tính hợp pháp của nguồn gỗ nhập khẩu đã được Forest Trends cùng Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), VIFORES, Hiệp hội gỗ và lâm sản Bình Định (FPA Bình Định) và Hội mỹ nghệ và chế biến gỗ TPHCM (HAWA) quan tâm từ nhiều năm nay.
Để kiểm soát loài và nguồn gốc gỗ, kiểm soát hiệu quả tính hợp pháp của gỗ nhập khẩu, tránh cho DN gặp rủi ro như Đồng Kỵ đòi hỏi cần có đầy đủ thông tin có liên quan đến các khâu của chuỗi cung nơi gỗ được khai thác và xuất khẩu. Một cơ sở dữ liệu xuất, nhập khẩu gỗ, trong đó có dữ liệu cho từng loài gỗ cụ thể và từng quốc gia xuất khẩu gỗ đang là một nhu cầu cấp thiết.
Hiện các loài gỗ nhập khẩu vào Việt Nam được chia làm 2 nhóm chính. Nhóm thứ nhất bao gồm các loài như tần bì, bạch đàn, sồi, dương, thông… có nguồn gốc từ các khu rừng trồng hoặc/và các nước ôn đới, nơi gỗ nguyên liệu được coi là có độ rủi ro thấp về mặt pháp lý.
Nhóm gỗ thứ hai được nhập khẩu vào Việt Nam là các loài gỗ có nguồn gốc từ các khu rừng nhiệt đới, phần lớn là các loài được cho là có độ rủi ro pháp lý cao. Lượng nhập khẩu nhóm này vẫn ở mức cao, 20-30% trong tổng lượng gỗ xẻ nhập khẩu và 60-70% trong tổng lượng gỗ tròn nhập khẩu.
Tỷ trọng này đồng nghĩa với việc nhiều DN chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam không chỉ đối mặt với các rủi ro về mặt pháp lý mà còn tiếp tục bị ảnh hưởng đến hình ảnh thương hiệu khi xuất khẩu.
Các DN cho biết đây là vấn đề rất thời sự và rất nóng, rất phức tạp.“Tôi đã trực tiếp gặp tham tán thương mại Hoa Kỳ. Vị này cảnh báo TPP được ký kết thì nguy cơ chống bán phá giá đối với sản phẩm gỗ tăng lên bởi họ luôn luôn đề cao việc bảo hộ sản xuất trong nước. Gỗ mà bị kiện bán phá giá thì nguy hiểm hơn chuyện cá basa và hàng dệt may bị kiện rất nhiều”, một DN xuất khẩu gỗ ở TP.Hồ Chí Minh phát biểu.
Bộ dữ liệu về thương mại gỗ Việt Nam và thế giới được VCCI , VIFORES, FPA Bình Định, HAWA nghiên cứu từ nhiều năm và đang tiếp tục được cập nhật thường xuyên. Bộ dữ liệu này điểm lại thương mại gỗ từng năm, thương mại gỗ với từng quốc gia và các thông tin về địa bàn khai thác của từng loại gỗ, tên của các loài gỗ, bao gồm tên địa phương, tên tiếng Anh và tên La tinh, tình trạng đất đai, tình trạng sở hữu đối với cây đứng… đối với từng loài gỗ nhập khẩu.
Các thông tin sẽ góp phần quan trọng trong việc xác định các rủi ro có liên quan trực tiếp nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu, giúp các DN có được sự chuẩn bị tốt hơn khi tham gia hội nhập, đồng thời mở rộng hơn nữa cơ hội xuất khẩu sang các thị trường Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu… (Thời Báo Ngân Hàng 4/10) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Theo phóng viên TTXVN tại Nam Phi, ngày 2/10, các đoàn đại biểu tham dự Hội nghị các nước tham gia Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật nguy cấp (CITES) lần thứ 17 đang diễn ra tại thành phố Johannesburg (Nam Phi) đã bỏ phiếu thông qua lệnh cấm buôn bán trên thế giới loài vẹt xám châu Phi, hiện là một trong những loài động vật hoang dã quý hiếm đang bị săn bắt nhiều nhất tại châu Phi và trên thế giới.
Các chuyên gia động vật hoang dã quốc tế nhấn mạnh loài vẹt xám châu Phi là một trong rất ít loài chim có khả năng "bắt chước" giọng nói con người và tiếng hót của các chim khác.
Với đặc tính có một không hai này, nên thời gian gần đây, loài vẹt quý hiếm này đang bị săn bắt trộm trên phạm vị rộng lớn, cộng thêm với việc phá hủy môi trường sống, nên số lượng loài chim quý hiếm này đang sụt giảm mạnh, nhất là ở khu vực châu Phi.
Theo các chuyên gia trên, việc thông qua lệnh cấm buôn bán trên toàn cầu loài vẹt xám châu Phi sẽ đưa loài chim quý hiếm này vào Phụ lục 1 nghĩa là được "bảo vệ ở mức cao nhất," vì nếu không được bảo vệ nghiêm thì loài vẹt xám này có nguy cơ bị tuyệt chủng trong tương lai không xa.
Phát biểu tại cuộc họp báo sau cuộc bỏ phiếu này, tiến sỹ Colman O'Criodain, người đứng đầu Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên (WWF), cho rằng quyết định quan trọng này của Hội nghị CITES lần này là "một bước tiến quan trọng" trong việc tăng cường bảo vệ các loài động vật hoang dã quý hiếm, trong đó có loài vẹt xám châu Phi vì việc cấm buôn bán sẽ làm giảm đáng kể nạn săn bắt trộm và thúc đẩy việc bảo vệ có hiệu quả các loài động, thực vật hoang dã quý hiếm có nguy cơ "bị xóa sổ" trong thời gian tới.
Trước đó, Quỹ Quốc tế Bảo vệ Động vật (IFAW) ước tính có khoảng từ 2,1 triệu đến 3,2 triệu cá thể vẹt xám châu Phi đã bị săn bắt trong thời gian từ năm 1975 đến năm 2013.
Đặc biệt, thời gian gần đây, loài vẹt hoang dã quý hiếm này đã bị săn bắt trộm nhiều, dẫn đến số lượng giảm mạnh tại các quốc gia châu Phi như Benin, Burundi, Guinea, Guinea-Bissau, Kenya, Rwanda, Tanzania và Togo.
Dự kiến, Hội nghị này sẽ kết thúc vào ngày 5/10 với việc thông qua khoảng 62 văn kiện liên quan đến việc bảo vệ các loài động thực vật hoang dã quý hiếm trên thế giới có nguy cơ bị tuyệt chủng. (Vietnam + 3/10) đầu trang(./.