Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 04 tháng 10 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Trong 9 tháng năm 2016, do thời tiết nắng hạn kéo dài nên tình trạng cháy rừng vẫn xảy ra ở một số địa phương.
Đã có 4.359 ha rừng, gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 3.256 ha, tăng gấp 3 lần; diện tích rừng bị chặt, phá là 1.103 ha, tăng 67,9%. Một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy nhiều là Điện Biên (969 ha); Sơn La (919 ha). Các tỉnh Hà Giang; Yên Bái; Bình Định; Hà Tĩnh... mỗi tỉnh cũng bị thiệt hại hàng trăm ha rừng.
Trong khi đó, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 151,9 nghìn ha, giảm 7,3% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do mưa bão, lũ lụt xảy ra vào đúng thời vụ trồng rừng; số cây lâm nghiệp trồng phân cũng giảm. (Báo Quảng Ninh 3/10) đầu trang(
Hàng trăm người của lực lượng phòng cháy chữa cháy, quân đội, kiểm lâm và dân phòng được huy động để dập tắt đám cháy.
Theo người dân địa phương, vụ cháy bùng phát vào khoảng 18h tối 3/10 tại khu vực đồi Hùng Thắng, TP Hạ Long, Quảng Ninh. Bắt đầu chỉ là một đám lửa nhỏ trên đỉnh đồi, sau đó nhanh chóng lan ra cả một vạt rừng khoảng vài chục hec-ta, cháy dữ đội trong vòng gần 2 tiếng đồng hồ sau đó.
Đây là khu vực rừng đặc dụng bao gồm thông và nhiều loại cây gỗ khác, nằm liền kề ngay khu vực dân cư dưới chân đồi.
Ngay sau khi nhận tin báo, hơn 30 chiến sĩ cảnh sát PCCC, lực lượng quân đội, kiểm lâm và dân phòng đã được huy động để dập lửa. Tuy nhiên, đám cháy xảy ra tại khu vực đỉnh đồi, cách mặt đất khoảng 30m-40m đường dốc nên việc tiếp cận hiện trường hết sức khó khăn.
Đại tá Vũ Hồng Phương - Trưởng phòng Cảnh sát PCCC số 3, Cảnh sát PCCC tỉnh cho biết, để chống cháy lan, các chiến sĩ phải dùng quạt thổi gió, chặt cây tạo đường băng cản lửa.
Tới 21h30, đám cháy cơ bản được khống chế, một số tàn lửa đang được dập tắt hoàn toàn. Ước tính nhiều hec-ta rừng thông đã bị thiêu rụi. Người dân địa phương cho biết, khu vực này thường xuyên xảy ra cháy rừng, làm mất nhiều diện tích rừng cảnh quan. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 3/10) đầu trang(
Thời gian qua, công tác bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng luôn được các cấp, các ngành, đặc biệt là ngành chức năng của huyện Yên Lập quan tâm triển khai thực hiện. Nhờ vậy, nhiều vụ cháy rừng được phát hiện sớm và chữa cháy kịp thời nên đã hạn chế được thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Duy Vững – Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Yên Lập cho biết: Yên Lập là một trong những địa phương có diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn của tỉnh với 26 nghìn ha đất có rừng và trên 30 nghìn ha đất lâm nghiệp. Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thời tiết trong những năm qua diễn biến phức tạp, tình trạng khô hạn diễn ra làm cho hệ thảm thực vật bị khô, nỏ, nguồn vật liệu gây cháy gia tăng.
Bên cạnh đó, trong quá trình canh tác, người dân thường xuyên đốt nương làm rẫy; một số người khi đi rừng sử dụng lửa một cách bất cẩn; một số khác thiếu ý thức như vứt tàn thuốc, đốt than, đốt rác hoặc gây cháy trong lúc khai thác gỗ... điều này làm cho nguy cơ cháy rừng luôn tiềm ẩn ở mức độ cao. Trong 9 tháng đầu năm 2016 trên địa bàn huyện xảy ra 1 vụ cháy rừng.
Nguyên nhân được xác định là do người dân bất cẩn khi sử dụng lửa để xử lý thực bì. Ngay sau khi phát hiện, lực lượng kiểm lâm và chính quyền địa phương đã kịp thời huy động lực lượng dập tắt đám cháy, không để xảy ra cháy lớn, cháy lan gây thiệt hại lớn đến tài nguyên rừng.
Để bảo đảm cho diện tích rừng trên địa bàn sinh trưởng và phát triển tốt, mang lại hiệu quả kinh tế cao, với vai trò là lực lượng nòng cốt trong công tác quản lý và bảo vệ rừng, ngay từ đầu năm, Hạt kiểm lâm của huyện đã triển khai nhiều giải pháp trồng, chăm sóc, quản lý và đặc biệt là các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Cùng với việc tham mưu cho Huyện ủy, UBND huyện ban hành các văn bản về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; bố trí cán bộ thường xuyên tuần tra, canh gác, Hạt kiểm lâm đã thống kê toàn bộ số nương rẫy của người dân đang sản xuất để xây dựng các phương án bảo vệ.
Đặc biệt, nhằm nâng cao nhận thức trong nhân dân về công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng, Hạt kiểm lâm đã phối hợp với các ngành chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về rừng; thường xuyên cập nhật diễn biến thông tin của thời tiết, các bản tin dự báo, cảnh báo cấp độ nguy cơ cháy rừng cho từng khu vực để chủ rừng, người dân biết và chủ động thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng.
Để chủ động với các tình huống, Hạt kiểm lâm đã phối hợp với UBND các xã có rừng xây dựng lực lượng tại chỗ, bám sát địa bàn, khu vực có rừng nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Tổ chức huấn luyện nghiệp vụ bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng cho lực lượng kiểm lâm cơ sở; đồng thời theo dõi thông tin dự báo, cảnh báo cháy rừng để kiểm tra, phát hiện sớm các điểm cháy rừng, qua đó huy động lực lượng, phương tiện chữa cháy trong trường hợp cần thiết.
Song song với đó, Hạt kiểm lâm tổ chức hướng dẫn các chủ rừng về công tác vệ sinh, chăm sóc rừng trồng và thu dọn thực bì, các vật liệu dễ cháy ra khỏi phạm vi rừng. Kiểm tra, đôn đốc, vận động các hộ dân sống gần rừng thực hiện tốt công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng.
Tổ chức ký cam kết với các đơn vị, chủ rừng, hộ nhận giao khoán đất trồng rừng và người dân sinh sống khu vực ven rừng. Tiến hành xử lý dứt điểm, kịp thời và nghiêm minh đối với các trường hợp vi phạm về Luật Bảo vệ và phát triển rừng, đốt rừng làm nương rẫy nhằm giáo dục, răn đe những đối tượng vi phạm gây ra các vụ cháy rừng.
Đặc biệt trong thời điểm hanh khô có nguy cơ cháy rừng cao, lực lượng kiểm lâm phối hợp với chính quyền các địa phương tăng cường tuần tra, kiểm soát tại các khu rừng xung yếu, những khu vực trọng điểm dễ bị xâm hại, dễ xảy ra cháy để kịp thời phát hiện và xử lý khi cháy rừng xảy ra.
Hướng dẫn các địa phương, nhất là các xã nằm trong vùng trọng điểm cháy rừng bổ sung kế hoạch phòng cháy, chữa cháy rừng. Bố trí lực lượng chốt trạm ở các cửa rừng và trực 24/24 giờ để kiểm soát người ra vào rừng, tuần tra kiểm tra ở các khu vực trọng điểm cháy rừng, bảo đảm sẵn sàng chữa cháy trong mọi thời điểm.
Duy trì chế độ thông tin báo cáo theo đúng quy định về công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng. Chủ động lực lượng và đảm bảo phương tiện, dụng cụ chữa cháy phù hợp với từng loại địa hình, loại rừng của các khu vực, đảm bảo hạn chế mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Với việc chủ động, triển khai các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng hợp lý, cụ thể, lực lượng kiểm lâm huyện Yên Lập quyết tâm hạn chế thấp nhất tình trạng cháy rừng xảy ra, góp phần nâng cao độ che phủ rừng trên địa bàn, đảm bảo nguồn sinh thủy phục vụ tăng vụ sản xuất. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Phú Thọ 3/10) đầu trang(
Gò Công Đông hiện có 524 ha rừng, trong đó diện tích rừng ngập mặn ở các xã ven sông như: Tân Phước, Gia Thuận, Tăng Hòa, Phước Trung và thị trấn Vàm Láng là 412 ha; các xã ven biển như: Kiểng Phước, Tân Điền, Tân Thành là 112 ha được tổ chức quản lý, bảo vệ một cách nghiêm ngặt thông qua lực lượng chuyên trách là Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tiền Giang phối hợp với Hạt Quản lý đê và rừng phòng hộ thuộc Chi cục Thủy lợi tỉnh và các Đồn Biên phòng đóng trên địa bàn.
Hàng năm, UBND huyện đều ban hành văn bản về công tác phòng, chống cháy rừng và triển khai đến các ban ngành, đoàn thể từ huyện đến xã, thị trấn chủ động tổ chức thực hiện nhiệm vụ và tuyên truyền sâu rộng đến nhân dân về diễn biến phức tạp của tình hình thời tiết để chủ động ứng phó, phòng chống cháy rừng, nhất là trong mùa khô. Tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiến thức về phòng cháy và chữa cháy rừng cho cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân, xây dựng phong trào quần chúng tham gia hoạt động phòng cháy và chữa cháy rừng.
Song song đó, Công an huyện phối hợp với Đội Phòng cháy, chữa cháy rừng và lực lượng Biên phòng thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm soát để phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm quy định về phòng cháy, Công an huyện phối hợp với Đội Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ khu vực Gò Công xây dựng kế hoạch, phương án cụ thể đối với các khu vực có rừng, nhằm chủ động ứng cứu kịp thời khi có cháy xảy ra. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Tiền Giang 3/10) đầu trang(
Nghiêm túc thực hiện các quy định của pháp luật về PCCC là một trong những yếu tố quan trọng góp phần trong hạn chế cháy rừng ở Mù Cang Chải thời gian qua.
Mù Cang Chải có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Nhiệt độ vào các tháng cao điểm trong mùa khô hanh từ 30oC đến 33oC, độ ẩm xuống từ 30% đến 35%.
90% diện tích địa bàn là đồi núi đất lâm nghiệp, chịu ảnh hưởng của nắng nóng kèm gió lào kéo dài từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau, tạo sự khô hanh đối với các thảm thực vật trên toàn diện tích đất rừng thuộc các xã, thị trấn nên nguy cơ cháy rừng ở cấp độ cao.
Bên cạnh đó, việc giao đất, giao rừng chưa đồng bộ, chặt chẽ tới từng hộ dân; giao thông đi lại khó khăn; dân cư sống không tập trung đã gây khó khăn cho công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR). Mặt khác, Mù Cang Chải có 91% dân số là đồng bào dân tộc Mông, nhận thức về pháp luật còn hạn chế, tập quán canh tác còn lạc hậu, tập tục phá rừng làm nương rẫy còn khá phổ biến. Vì vậy, công tác PCCCR luôn là một trong những vấn đề đặt ra đối với huyện, đòi hỏi phải chấp hành tốt các quy định của pháp luật về PCCC.
Thực hiện nghiêm túc nội dung này, những năm qua, cùng với ban hành các văn bản chỉ đạo, kiện toàn và ban hành quy chế hoạt động của Ban Chỉ huy PCCCR huyện, UBND huyện Mù Cang Chải đã tích cực chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn tuyên truyền giáo dục pháp luật và tổ chức thực hiện công tác PCCCR. UBND huyện đã tập trung chỉ đạo xây dựng phương án PCCCR tại 14 xã, thị trấn và Ban quản lý Rừng phòng hộ huyện.
Công tác tuyên truyền về bảo vệ rừng, PCCCR được tăng cường về số lượng, nâng cao chất lượng và đạt hiệu quả. Huyện chỉ đạo các xã tuyên truyền Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của các cấp về công tác bảo vệ rừng, PCCCR với các hình thức như: thông qua các hội nghị của xã, họp chi bộ, thôn, bản, qua phương tiện thông tin đại chúng; tập trung vào tuyên truyền những việc người dân được làm và không được làm nhằm giúp người dân thay đổi nhận thức và hình thức sản xuất du canh, du cư xâm lấn rừng.
Dưới sự chỉ đạo của UBND huyện, lực lượng kiểm lâm Mù Cang Chải đã tham mưu, phối hợp với UBND các xã, thị trấn xây dựng bổ sung phương án, kế hoạch PCCCR; tổ chức tuyên truyền, học tập các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, PCCCR; tổ chức cho nhân dân ký cam kết thực hiện, thường xuyên theo dõi và báo cáo kịp thời việc triển khai  công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR tại cơ sở.
Đồng thời, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn các chủ rừng, các tổ nhóm bảo vệ rừng thực hiện phương án, kế hoạch PCCCR đã xây dựng, bổ sung; nắm bắt các thông tin về diễn biến thời tiết và kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo, các bản tin thông báo về nguy cơ xảy ra cháy rừng. UBND huyện cũng chỉ đạo các UBND các xã, thị trấn và các chủ rừng trên địa bàn thực hiện tuần tra, kiểm tra 24/24 giờ tại các khu vực trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao.
Các hoạt động làm mới, tu sửa đường băng cản lửa, các biển báo, chỉ dẫn, pa nô, áp phích, nội quy về bảo vệ, PCCCR thường xuyên được thực hiện. Năm 2016, làm mới 6,56 km đường ranh cản lửa tại các điểm trồng rừng năm 2015, tu sửa 44,9 km đường ranh cản lửa tại các điểm có nguy cơ  cao xảy ra cháy rừng tại các khu rừng tập trung; tu sửa hệ thống đường ranh cản lửa tại diện tích rừng chăm sóc 11,23 km.
Ngoài ra, còn tu sửa đường bao lô, bao khoảnh và các đường băng cản lửa phân chia ranh giới giữa các bản, giữa các loại rừng, tu sửa hệ thống đường ranh cản lửa trong rừng giao khoán bảo vệ; tu sửa, làm mới hệ thống, bảng biểu phục vụ công tác quản lý bảo vệ rừng. Các phương tiện, dụng cụ, tài liệu tuyên truyền về PCCCR được huyện tiếp nhận và cấp phát đầy đủ.
Trong xây dựng và thực tập phương án chữa cháy, UBND huyện thành lập ban chỉ đạo và ban hành kế hoạch, giao nhiệm vụ cho các cơ quan về tổ chức diễn tập PCCCR, đồng thời chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp cùng Ban Chỉ huy Quân sự huyện khảo sát thực địa, tiến hành xây dựng kế hoạch, bản đồ PCCCR.
Từ năm 2014 đến nay, huyện đã chỉ đạo triển khai thực hiện thành công 2 cuộc diễn tập PCCCR, gồm tổ chức diễn tập cấp xã tại xã Lao Chải và tổ chức diễn tập cấp huyện tại xã Kim Nọi. Cùng với chủ động phòng tránh cháy rừng, khi có các vụ cháy xảy ra, huyện đã tích cực chỉ đạo chữa cháy, điều tra nguyên nhân và khắc phục hậu quả các vụ cháy.
Năm 2014, trong thời gian cao điểm, thời tiết hanh khô kéo dài kèm theo sương muối và gió lào thổi mạnh đã làm thảm thực vật khô rụi nên đã xảy ra 4 vụ cháy làm thiệt hại 100,8 ha rừng trồng phòng hộ tại các xã Dế Xu Phình, Lao Chải, Kim Nọi.
Tại xã Kim Nọi, cơ quan điều tra đã điều tra ra đối tượng cố tình đốt rừng hủy hoại tài sản Nhà nước với diện tích 5,1 ha, đưa ra truy tố xử lý theo pháp luật. Huyện đã chỉ đạo chính quyền và nhân dân các xã thực hiện trồng khắc phục diện tích rừng bị cháy được 70,2 ha, còn lại 30,6 ha tại xã Lao Chải chưa thực hiện do thiếu cây giống đã được trồng khắc phục trong năm 2015.
Năm 2016, trên địa bàn huyện tiếp tục xảy ra 4 vụ cháy rừng, làm thiệt hại 112,4 ha rừng trồng phòng hộ, sản xuất và 13,3 ha rừng đặc dụng, tập trung chủ yếu tại các xã Nậm Có, Púng Luông, Chế Tạo, Lao Chải.
Ngay sau khi nhận được thông tin về các vụ cháy, các đồng chí lãnh đạo huyện đã kịp thời xuống hiện trường, chỉ đạo công tác chữa cháy theo phương châm “4 tại chỗ” nhằm hạn chế mức thấp nhất thiệt hại. Các cơ quan điều tra cũng đã điều tra ra đối tượng cố tình đốt rừng, hủy hoại tài sản Nhà nước với diện tích 58,9 ha tại bản Háng Cơ Bua xã Púng Luông để đưa ra truy tố, xử lý theo pháp luật.
Nghiêm túc thực hiện các quy định của pháp luật về PCCC là một trong những yếu tố quan trọng góp phần trong hạn chế cháy rừng ở Mù Cang Chải thời gian qua. (Báo Yên Bái 3/10) đầu trang(
Theo báo cáo của Hạt Kiểm lâm Cam Lâm (Khánh Hòa), từ đầu năm đến nay, đơn vị đã tổ chức 129 lượt tuần tra, kiểm soát lâm sản.
Qua đó, đã lập biên bản 12 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Hạt đã tiến hành xử lý 11 vụ vi phạm, tịch thu phương tiện gồm: 1 xe ô tô, 1 máy cưa xăng cầm tay; tịch thu lâm sản gồm: 0,4m3 gỗ tròn và 18,1m3 gỗ xẻ hộp các loại.
Thời gian qua, trên địa bàn Cam Lâm đã xảy ra 1 vụ cháy cây bụi, dây leo tại khu vực núi Hòn Khô (xã Cam An Nam), trên diện tích đất ngoài quy hoạch 3 loại rừng, không gây thiệt hại đến tài nguyên rừng. (Báo Khánh Hòa 3/10) đầu trang(
Mới đây, Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR số 1 – Kiểm lâm Thanh Hóa được Trạm CSGT Quảng Xương thông tin, đơn vị vừa tiến hành bắt giữ chiếc xe ô tô mang BKS 89C-113.30 vì hành vi vận chuyển lâm sản trái phép.
Theo biên bản báo cáo của Đội Kiểm lâm cơ động và PCCR số 1, sau khi bị phát giác, ông Nguyễn Văn Hợp (lái xe) đã xuất trình 1 bộ hồ sơ bao gồm: 2 tờ hóa đơn GTGT do Cty TNHH MTV Phương Ngân - Chi nhánh Đà Nẵng lập ngày 25/12/2014 (số 0000018) và 28/5/2015 (số 0000142); cùng với đó là 1 tờ bảng kê lâm sản có xác nhận của Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng ngày 17/11/2014.
Quá trình kiểm tra lâm sản thực tế trên xe, lực lượng chức năng phát hiện tổng cộng 20 thanh, tấm gỗ xẻ gụ lau, thuộc nhóm 1 với tổng khối lượng là 1,332m3 (quy tròn = 2,131m3). Điều đáng nói số lâm sản nói trên không hề có dấu búa kiểm lâm.
Theo giấy tờ do ông Nguyễn Văn Hợp xuất trình: chiếc xe ô tô nêu trên thuộc sở hữu của Công ty cổ phần XNK nông sản Hoàng Gia, địa chỉ đóng tại Trung Hưng, Yên Mỹ, Hưng Yên. Bản thân ông Hợp được thuê làm lái xe cho công ty, ngày 28/9/2016, lợi dụng việc được công ty giao xe đi vận chuyển bánh kẹo từ Hà Nội vào Quảng Nam, sau khi giao hàng xong ông Hợp đã tự ý nhận vận chuyển số gỗ có nguồn gốc bất hợp pháp nêu trên của một người đàn ông (không rõ tên và địa chỉ).
Trước hành vi vận chuyển lâm sản trái phép của ông Hợp, đơn vị đã lập biên bản vi phạm hành chính, đồng thời tạm giữ toàn bộ tang vật và phương tiện để tiếp tục điều tra mở rộng. (Nông Nghiệp Việt Nam 4/10) đầu trang(
Năm 2005, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng chính thức có hiệu lực, tạo hành lang pháp lý quan trọng để huy động các tổ chức, cá nhân, cộng đồng, các thành phần kinh tế tham gia bảo vệ và phát triển rừng.
Ông Phạm Văn Phát, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm khẳng định: Từ khi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng có hiệu lực, cái được lớn nhất là rừng đã được đánh giá, phân loại rõ ràng, được giao cho chủ cụ thể, được hoạch định chiến lược phát triển để nâng cao giá trị, độ che phủ rừng ngày càng được nâng cao...
Có thể thấy đến thời điểm hiện nay, toàn tỉnh đã xác định 3 loại rừng: Rừng đặc dụng, phòng hộ và rừng sản xuất với tổng diện tích gần 426.000ha. Trong đó rừng đặc dụng 25.046ha; rừng phòng hộ 136.254ha; còn lại 264.284ha là rừng sản xuất. Phần lớn diện tích trên đã được giao cho các chủ rừng, là các tổ chức, cá nhân quản lý.
Cụ thể 39.035 hộ gia đình quản lý 139.339ha; 70 cộng đồng dân cư quản lý 4.492ha và 79 các ban quản lý rừng, vườn quốc gia, công ty lâm nghiệp quốc doanh quản lý 182.942ha, diện tích còn lại được giao cho 170 UBND cấp xã quản lý.
Qua kiểm tra cho thấy, các chủ rừng đã bảo vệ và phát triển rừng tốt, hạn chế khai thác rừng trái phép, cháy rừng, chủ rừng tăng thu nhập, cải thiện đời sống... Từ hiệu quả trong công tác giao đất giao rừng đã góp phần thúc đẩy công tác cấp quyền sử dụng đất rừng, tạo cho các chủ rừng quyền lợi cũng như trách nhiệm thực sự gắn với diện tích rừng đã được giao.
Cụ thể, tính đến năm 2015, toàn tỉnh đã đăng ký quyền sử dụng đất rừng cho 39.035 hộ gia đình với diện tích 139.339ha; cấp quyền sử dụng đất rừng cho 79 tổ chức, doanh nghiệp với diện tích 182.942,5ha.
Từ khi có Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, việc phòng chống cháy rừng, xử lý vi phạm rừng cũng được triển khai hiệu quả hơn. Theo thống kê của đơn vị chuyên môn, số vụ cháy rừng và mức độ thiệt hại do cháy rừng trên địa bàn Quảng Ninh trong những năm gần đây đã giảm mạnh. Nếu như giai đoạn 2005-2010 trung bình mỗi năm xảy ra 40 vụ cháy, làm thiệt hại trên 180ha rừng thì cả giai đoạn 5 năm gần đây mới chỉ xảy ra 7 vụ cháy rừng, thiệt hại tổng số 27ha rừng.
Ðặc biệt những năm gần đây, Quảng Ninh ngày càng mở rộng được diện tích rừng, từ đó nâng cao độ che phủ rừng. Sau dự án 5 triệu ha rừng (giai đoạn 2004-2010) toàn tỉnh đã trồng mới và tái sinh trên 92.000ha rừng, trồng 6 triệu cây phân tán (mật độ 1.650 cây/ha): 5 năm gần đây trồng thêm được 63.680ha rừng và 2 triệu cây phân tán. Nhờ đó độ che phủ rừng của tỉnh Quảng Ninh đã tăng từ 43,1% (năm 2004) lên 53,6% như hiện nay.
Bên cạnh đó lực lượng kiểm lâm cũng đã thể hiện tốt chức năng ngăn chặn tình trạng xâm hại rừng. Tính từ năm 2005 đến năm 2015, Chi cục Kiểm lâm đã bắt giữ, phối hợp bắt giữ, xử lý 5.040 vụ vi phạm liên quan tới lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng (trong đó xử lý hành chính 4.961 vụ; xử lý hình sự 79 vụ); tịch thu 6.628,3m3 gỗ các loại; 76.480,7kg động vật rừng các loại; thu về ngân sách nhà nước gần 59,5 tỷ đồng.
Ðáng mừng hơn, hiện nay công tác bảo vệ và phát triển rừng ngày càng đi vào chiều sâu, với hiệu quả mang lại không chỉ là những thông số về sản lượng, giá trị lâm sản mà còn phát huy được thế mạnh, lợi ích nhiều mặt của rừng, từ đó tác động tổng thể đến phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội khác.
Bà Nguyễn Thị Thanh Hà, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm cho biết: Những lợi ích nhiều mặt của rừng như những giá trị về sinh thái, đa dạng sinh học, đảm bảo về môi trường, giữ đất, nước, cảnh quan, làm nơi cư trú và sinh sôi các nguồn lợi thuỷ sản... vốn là “đầu vào” quan trọng, điều kiện mang tính quyết định của rất nhiều các ngành nghề, loại hình kinh tế khác.
Có thể thấy hiện Quảng Ninh đã bước đầu triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, đó chính là bước hiện thực hoá các nguồn lợi ngoài gỗ và lâm sản phụ mà rừng đã và đang mang lại.
Cũng theo bà Hà, với xu thế hiện nay, càng về sau này thì những lợi ích nhiều mặt của rừng càng được phát huy và hiện thực hoá bằng những chính sách cụ thể, mang lại lợi ích thiết thực cho các đơn vị, cá nhân thực thi bảo vệ và phát triển rừng cũng như các đối tượng hưởng lợi từ rừng nói chung. (Báo Quảng Ninh 3/10) đầu trang(
Trong 9 tháng của năm 2016, diện tích rừng bị thiệt hại ước tính 125 ha, trong đó 91 ha rừng bị chặt phá, tăng hơn 30% so với cùng kỳ...
Đó là số liệu báo cáo của sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam tình hình kinh tế- xã hội 9 tháng đầu 3.10.
Theo đó, diện tích trồng rừng mới tập trung ước đạt 7.000 ha tăng gần 4% so với cùng kỳ năm trước. Lượng gỗ khai thác khoảng 650 nghìn m3, tăng gần 7%. Diện tích rừng bị thiệt hại gần 125 ha. Trong đó, diện tích rừng bị chặt phá gần 91%, tăng hơn 30% so với cùng kỳ năm ngoái.
Đáng chú ý là vụ phá rừng Pơ mu, các cơ quan chức năng đang củng cố hồ sơ, đưa các đối tượng liên quan ra xét xử. (Lao Động 3/10) đầu trang(
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh (PC46) đã tiến hành dựng lại một phần hiện trường vụ phá rừng pơ mu gây xôn xao dư luận thời gian qua.
Theo đó, đoàn công tác gồm các cán bộ của cơ quan điều tra cùng 11 đối tượng trong nhóm vận chuyển thuê đã ra đầu thú trước đó, tất cả đều quê quán tỉnh Quảng Bình băng rừng vào lại hiện trường để mô tả lại hành vi vận chuyển gỗ.
Theo đó, các đối tượng đã mua dây dù và dây bố đang bán tại cửa hàng tạp hóa trên địa bàn rồi được đối tượng Nguyễn Văn Quang dẫn cắt rừng vào dựng lán trại, ở lại tổ chức ăn ở gần con suối cách đường tuần tra biên giới không xa với phương thức ngày làm đêm nghỉ.
Các đối tượng đã dùng hai cây đinh, loại 10 phân đóng vào phần dưới phách gỗ pơ mu. Sau đó dùng dây dù buộc chặt ngang hai vòng nửa phần trên. Các dây này được may với phần dây dù bảng to rồi cột chặt với hai cây đinh 10. Rất nhanh chóng, các đối tượng đã thuần thục buộc một phách gỗ pơ mu nặng từ 70 đến 100kg rồi đưa lên vai như cái gùi của người đồng bào dân tộc.
Theo ước tính, khoảng cách từ hiện trường ra đến khu vực tập kết gỗ khoảng từ 4 đến 6km đường rừng dốc, hiểm trở, rất nguy hiểm. Mỗi ngày các đối tượng vận chuyển được khoảng 1 - 2 phách gỗ, từ hiện trường ra đến khu vực tập kết gỗ với tiền công 1 triệu đồng/m3. Bình quân, mỗi ngày các đối tượng vận chuyển như vậy được khoảng 300 nghìn đồng. Cho đến ngày bị cơ quan công an vận động đầu thú, mỗi đối tượng đã nhận được 10 triệu đồng.
“Thật sự gia cảnh rất khó khăn, vợ không có việc làm, 3 con nhỏ đang tuổi ăn học nên em mới làm nghề vất vả và nguy hiểm này. Nhiều lúc đêm về cơ thể đau ê ẩm không chịu nổi... Qua vụ việc bọn em cũng thấy được sai trái của mình, hợp tác tốt với cơ quan chức năng và mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật” - Hoàng Văn Luận, đối tượng vận chuyển gỗ thuê nói.
Vụ phá rừng pơ mu tại khu vực vành đai biên giới Nam Giang được xem là vụ việc có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Sau khi có chỉ đạo của UBND tỉnh, các lực lượng chức năng vào cuộc điều tra, khởi tố vụ án, tạm đình chỉ công tác và bắt tạm giam một số đối tượng có liên quan.
Như vậy, tính đến cuối tháng 9 vừa qua, Ban chuyên án đã bắt tổng cộng 5 đối tượng cộm cán trong vụ án có vai trò cung cấp tiền bạc, tổ chức nhân lực đốn hạ và vận chuyển gỗ pơ mu tại khoảnh 5, tiểu khu 351 thuộc rừng phòng hộ Nam Sông Bung, nằm trong vành đai biên giới Việt - Lào. Có 9  đối tượng trong tổng số 15 đối tượng trong nhóm khai thác và vận chuyển gỗ đã đến trình diện công an. (Báo Quảng Nam 3/10) đầu trang(
Vụ việc gia đình lãnh đạo thị trấn phá bay hàng chục nghìn m2 rừng tự nhiên tại huyện Sơn Động (Bắc Giang) đã được Báo Dân trí điều tra, thông tin trong hơn 10 kỳ báo.
Từ đó, Công an huyện Sơn Động đã chính thức kết luận Báo Dân trí đăng tải thông tin chính xác và kiến nghị xử lý hàng loạt cán bộ liên quan.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Sơn Động (Bắc Giang) vừa có Công văn hồi âm đến Báo Dân trí thông báo kết quả điều tra vụ việc gia đình ông Phạm Văn Thắng - Chủ tịch UBND thị trấn Thanh Sơn phá hàng chục nghìn m2 rừng.
Theo kết luận của Công an huyện Sơn Động: Việc công dân tố cáo Phạm Văn Cương (Con ông Phạm Văn Thắng) ở thôn Nòn, thị trấn Thanh Sơn, thuê người phát rừng để trồng cây Keo tại khu Khe Lê, thôn Tân Thanh - Tuấn Mậu khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng là đúng.
Đối với Hạt Kiểm lâm Sơn Động để xảy ra việc phá rừng của ông Phạm Văn Cương ở thôn Nòn, thị trấn Thanh Sơn, nhưng cán bộ kiểm lâm không phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời, là vi phạm khoản 2, Điều 81 - Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, quy định về quyền hạn và trách nhiệm của kiểm lâm.
Việc UBND xã Tuấn Mậu để gia đình ông Phạm Văn Cương phát rừng trồng keo trên địa bàn nhưng chưa phát hiện để có biện pháp ngăn chặn là vi phạm vào Điều 38 - Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, quy định trách nhiệm bảo vệ rừng của UBND các cấp (Điểm C, khoản 3, Điều 38 quy định: UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với lực lượng kiểm lâm, công an, quân đội, tổ chức lực lượng quần chúng bảo vệ rừng trên địa bàn; phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi xâm phạm, hủy hoại rừng).
Việc ông Hoàng Văn Tuệ - Phó Chủ tịch UBND xã Tuấn Mậu ký xác nhận vào giấy ủy quyền của ông Phạm Văn Thắng cho con là Phạm Văn Cương là chưa đúng với nội dung ghi trong giấy ủy quyền, vì trong giấy ghi ngày ủy quyền là 24/2/2014 nhưng ông Tuệ ký xác nhận là ngày 25/01/2016, lúc này ông Tuệ đã là Phó Chủ tịch UBND xã Tuấn Mậu. Do vậy việc ông Tuệ ký là không trái thẩm quyền, nhưng do sơ xuất không kiểm tra tài liệu đã ký xác nhận dẫn đến sai phạm đã nêu trên.
Đối với ông Phạm Văn Thắng được Nhà nước giao cho quản lý, bảo vệ, sử dụng rừng, trong quá trình quản lý ông Thắng đã họp gia đình và thống nhất làm giấy ủy quyền chia cho các con một phần diện tích 8,6 ha là có thật, tuy nhiên sau khi ủy quyền đã chủ quan, thiếu kiểm tra, giám sát dẫn đến sai phạm của Phạm Văn Cương.
Đối với Phạm Văn Cương là người được bố là ông Phạm Văn Thắng ủy quyền quản lý, bảo vệ, sử dụng rừng, khi chưa có hồ sơ cho phép cải tạo rừng theo quy định đã thuê người phát dọn rừng để trồng cây Keo là vi phạm Điều 37 - Luật bảo vệ và phát triển rừng, quy định trách nhiệm bảo vệ rừng của chủ rừng. Tuy hành vi trên chưa đủ yếu tố xử lý về hình sự, nhưng phải được xem xét xử lý về hành chính theo quy định của pháp luật.
Mặc dù, Cơ quan CSĐT Công an huyện Sơn Động xem xét không xử lý hình sự vụ án phá rừng. Tuy nhiên, cơ quan này đã có công văn số 256/CV-CQĐT đề nghị Huyện ủy, UBND huyện Sơn Động xem xét trách nhiệm của các tập thể, cá nhân có liên quan trong vụ việc trên để có hình thức xử lý nghiêm khắc như sau:
Đối với các cơ quan Thanh tra Nhà nước huyện, Hạt Kiểm lâm Sơn Động cần xem xét làm rõ trách nhiệm của tập thể, những cá nhân có liên quan trong việc tiếp nhận, giải quyết đơn của ông Phạm Văn Thắng; khi có vụ việc chặt phá rừng như trên xảy ra không lập hồ sơ xem xét giải quyết theo quy định pháp luật dẫn đến khiếu kiện phức tạp, ảnh hưởng xấu đến tình hình ANTT ở địa phương.
Trách nhiệm của Chủ tịch UBND xã Tuấn Mậu khi tiếp nhận các văn bản chỉ đạo của đồng chí Chủ tịch UBND huyện về việc chuyển đơn của ông Phạm Văn Lợi cho UBND xã Tuấn Mậu giải quyết theo thẩm quyền nhưng chưa tập trung chỉ đạo, kiểm tra việc giải quyết nên dẫn đến chưa phát hiện, lập hồ sơ tham mưu, giải quyết chính xác vụ việc nêu trên.
Đối với ông Hoàng Văn Tuệ - Phó Chủ tịch UBND xã Tuấn Mậu trong khi thực hiện nhiệm vụ chưa kiểm tra kỹ tài liệu đã ký xác nhận dẫn đến sai phạm nêu trên.
Đối với ông Phạm Văn Thắng hiện là Phó Bí Thư đảng ủy - Chủ tịch UBND thị trấn Thanh Sơn và Phạm Văn Cương là cán bộ tư pháp UBND thị trấn Thanh Sơn, quá trình quản lý, bảo vệ, sử dụng rừng chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của chủ rừng, gây ra khiếu kiện phức tạp làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, của chính quyền và ảnh hưởng không tốt đến tình hình ANTT ở địa phương.
Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, công việc và trách nhiệm của chính quyền cấp huyện được phân cấp và xác định rất rõ: "Tổ chức hoạt động có hiệu quả của các tổ đội quần chúng bảo vệ rừng với nòng cốt là lực lượng dân quân tự vệ; huy động các lực lượng trên địa bàn kịp thời ngăn chặn các hành vi phá rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng theo phương án bốn tại chỗ (chỉ huy, lực lượng, phương tiện, hậu cần); kịp thời báo cáo lên cấp trên đối với vụ việc khi vượt quá tầm kiểm soát của xã; giám sát hoạt động của các cơ sở chế biến gỗ, lâm sản theo quy định của pháp luật.
Địa phương nào để xảy ra tình trạng phá rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng, giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp trái quy định pháp luật, cháy rừng nghiêm trọng, kéo dài mà trong phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của mình không có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời, triệt để, thì lãnh đạo địa phương đó phải kiểm điểm và bị xử lý trách nhiệm quản lý theo quy định của pháp luật".
Được biết, ông Trần Công Thắng hiện đang giữ cương vị Bí thư huyện ủy Sơn Động, ông Nguyễn Quang Ngạn đang giữ cương vị Chủ tịch UBND huyện Sơn Động. (Dân Trí 4/10) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, tại các xã vùng giáp ranh, lực lượng chức năng hai địa phương đã tổ chức được 23 đợt tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, thu hút gần 1.200 lượt người nghe; tổ chức 43 cuộc tuần tra, truy quét với 392 lượt người tham gia...
Thành phố Kon Tum và huyện Chư Păh (tỉnh Gia Lai) có 7 xã giáp ranh; rừng giáp ranh giữa 2 địa phương được đánh giá có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, tính đa dạng sinh học cao, có nhiều loài động thực vật quí hiếm; một số khu vực còn có tác dụng phòng hộ đầu nguồn. Cho nên, công tác quản lý bảo vệ rừng, lâm sản ở khu vực giáp ranh luôn được các cấp chính quyền và cơ quan chức năng quan tâm, chú trọng.
Ông Phạm Ngọc Nhẫn - Phó hạt trưởng Hạt Kiểm lâm thành phố Kon Tum cho biết: Thành phố Kon Tum có 4 xã là Ia Chim, Hoà Bình, Chư Hreng và Đăk Rơ War giáp ranh với 3 xã của huyện Chư Păh là Hà Tây, Ia Khươl, Ia Phí. Tài nguyên rừng khu vực này chủ yếu là rừng phòng hộ đầu nguồn có trữ lượng tương đối lớn, phong phú về chủng loại, đặc biệt một số loài có giá trị về mặt kinh tế.
Nhằm hạn chế tình trạng khai thác lâm sản, phá rừng làm rẫy, tiêu thụ lâm sản bất hợp pháp, lực lượng kiểm lâm hai địa phương đã thường xuyên phối hợp trao đổi thông tin, tăng cường kiểm tra, truy quét ở mỗi địa bàn; phối hợp xác minh các đối tượng, phương tiện vi phạm, tạo điều kiện thuận lợi và kịp thời cho các đơn vị trong quá trình xử lý vi phạm; hạn chế bỏ sót hành vi vi phạm, đối tượng vi phạm.
Bên cạnh đó, hằng năm, UBND thành phố Kon Tum và huyện Chư Păh đều xây dựng quy chế phối hợp quản lý bảo vệ rừng và lâm sản nhằm huy động sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền các địa phương và tất cả các lực lượng chức năng, nâng cao trách nhiệm trong quản lý bảo vệ rừng và nguồn lâm sản thuộc khu vực giáp ranh. Nhìn chung, việc phối hợp thực hiện bước đầu đem lại hiệu quả đáng kể, các hành vi xâm hại tài nguyên rừng vùng giáp ranh đã hạn chế.
Công tác tuyên truyền, phổ biến những quy định của nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng, phát triển rừng và quản lý lâm sản được hai bên khai thực hiện sâu rộng đến từng thôn, xã và cộng đồng dân cư vùng giáp ranh với nhiều hình thức phù hợp, nội dung phong phú, sát tình hình thực tiễn. Từ năm 2011 đến nay, lực lượng QLBVR cùng các cấp, ngành trong vùng giáp ranh đã tổ chức tuyên truyền được 296 đợt với hơn 16.000 lượt người tham gia. Từ đó, đã từng bước nâng cao nhận thức, ý thức và trách nhiệm cho người dân, cộng đồng trong việc thực hiện chủ trương, chính sách bảo vệ, phát triển rừng.
Đặc biệt, lực lượng chức năng hai địa phương đã thường xuyên tăng cường tổ chức tuần tra, truy quét các đối tượng xâm hại tài nguyên rừng tại vùng giáp ranh; phối hợp kiểm tra, ngăn chặn, xử lý việc vận chuyển lâm sản trái pháp luật bằng đường sông từ xã Hà Tây về địa bàn xã Đăk Rơ War và vận chuyển lâm sản trái pháp luật bằng xe máy từ xã Ia Khươl qua địa bàn xã Hòa Bình để tiêu  thụ.
Nhờ đó, thời gian gần đây, tình trạng vận chuyển lâm sản trái pháp luật từ huyện Chư Păh về thành phố Kon Tum đã được hạn chế. Bên cạnh đó, lực lượng kiểm lâm hai địa phương cũng tăng cường kiểm tra các cơ sở chế biến lâm sản, cơ sở mộc, đình chỉ hoạt động các xưởng hoạt động nằm ngoài quy hoạch, không gắn với nguồn nguyên liệu ổn định; không cấp mới giấy phép kinh doanh đối với cơ sở chế biến lâm sản không chứng minh được nguồn nguyên liệu hợp pháp, ổn định lâu dài.
Đồng thời, các lực lượng chức năng hai bên cũng chủ động điều tra, nắm rõ các đối tượng “đầu nậu” chuyên mua, bán, cất giữ, vận chuyển lâm sản không có nguồn gốc mang đi tiêu thụ; thường xuyên tổ chức kiểm tra, thanh tra nguồn gốc nguyên liệu đưa vào sản xuất, chế biến.
Từ năm 2011 đến nay, các lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 80 vụ vi phạm các quy định về quản lý bảo vệ rừng, với tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính trên 300 triệu đồng và tịch thu một lượng gỗ lớn. Trong đó, lực lượng chức năng thành phố Kon Tum đã xử lý được 50 vụ với số tiền xử phạt vi phạm hành chính khoảng 180 triệu đồng.
Song song với các biện pháp tuyên truyền, quản lý bảo vệ rừng và lâm sản; thời gian qua, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng cũng được thành phố Kon Tum và huyện Chư Păh phối hợp thực hiện có hiệu quả. Đặc biệt, hai bên luôn chú trọng, đề cao cảnh giác tại các khu vực rừng giáp ranh có nguy cơ cháy cao vào mùa khô như: Tiểu khu 197, 198, 199, 200, 204... nằm trên địa giới hành chính xã Ia Khươl, Hà Tây và một số khu vực rừng rừng tự nhiên, rừng trồng tại các xã Ia Chim, Hoà Bình, Chư Hreng, Đăk Rơ War.
Để thực hiện tốt công tác phòng chống cháy rừng, hàng năm, Hạt Kiểm lâm hai địa phương cùng các đơn vị chủ rừng, UBND các xã, thị trấn phối hợp xây dựng kế hoạch và thực hiện phương án phòng chống cháy rừng; tuyên truyền, vận động người dân cùng hợp sức trong việc thực hiện các biện pháp. Nhờ đó, trong thời gian hơn 5 năm qua, trên địa bàn vùng giáp ranh chỉ xảy ra 5 vụ cháy làm thiệt hại 8,5ha rừng.
Tuy nhiên, theo đánh giá của Hạt Kiểm lâm thành phố Kon Tum, do khu vực giáp ranh giữa 2 địa phương địa hình bị chia cắt nhiều bởi các sông, suối, đi lại rất khó khăn nên công tác tuần tra, truy quét bảo vệ rừng gặp nhiều trở ngại. Trong khi đó, hoạt động phá rừng, khai thác rừng trái phép của các đối tượng lâm tặc ngày càng tinh vi, táo tợn, manh động, có tổ chức và quy mô chặt chẽ nên việc đấu tranh ngăn chặn gặp khó khăn.
Bên cạnh đó, lực lượng kiểm lâm tại các xã vùng giáp ranh còn mỏng so với diện tích rừng hiện có, cũng như áp lực về nhu cầu gỗ, lâm sản, đất sản xuất của người dân trong giai đoạn hiện nay làm cho công tác bảo vệ rừng càng khó khăn hơn. Do vậy, tình trạng xâm canh, phá rừng lấn chiếm đất lâm nghiệp để làm nương rẫy ở các địa phương vẫn còn xảy ra; tình trạng khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật ở khu vực giáp ranh chưa được xử lý dứt điểm...
“Việc xác định rõ những khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong thời gian vừa qua nhằm đưa ra định hướng và những giải pháp thực hiện hữu hiệu là biện pháp mà lực lượng chức năng thành phố Kon Tum và huyện Chư Păh đang và sẽ thực hiện nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác bảo quản lý, bảo vệ rừng và lâm sản vùng giáp ranh” – ông Phạm Ngọc Nhẫn cho biết thêm. (Báo Kon Tum 3/10) đầu trang(
Khi những cánh rừng hương cổ thụ ở đại ngàn Gia Lai chỉ còn sót lại vài trăm cây thì việc bảo vệ càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Bởi số phận những cây hương cổ thụ đang bị đe dọa từng giờ, từng ngày và nếu không có biện pháp triệt để thì có thể sẽ bị xóa sổ trong nay mai. Trong khi đó, nguồn lợi lớn từ lâm sản khiến những đối tượng “lâm tặc” bất chấp, kể cả manh động chống đối để khai thác trái phép.
Sau khi bài báo “Rừng hương trăm tuổi kêu cứu” được đăng tải, P.V Báo Công an TP Đà Nẵng tiếp tục nhận được thông tin phản ánh của người dân về việc những cây hương cổ thụ tại lâm phần quản lý của Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa vẫn bị tàn phá. Nhận được thông tin, chúng tôi tiếp tục trở lại xã Krong (H. Kbang) - nơi còn 299 cây hương cổ thụ nằm rải rác trong khoảng 8.000ha. Con đường từ trung tâm xã dẫn vào khu vực nhà đầm La Hách (làng La Hách, xã Krong) mùa mưa trơn trượt và lầy lội với nhiều vết xe độ chế từng ra vào khu vực này.
Ngay tại khu vực nhà đầm La Hách, những cánh rừng cũng dần hiện ra 2 bên. Ngay bên cạnh thượng nguồn con sông Ba là vách núi còn hiện rõ những vết trượt gỗ được vận chuyển từ rừng ra và cả những đống mùn nức mùi gỗ hương bên bờ sông.
Bơi qua dòng sông Ba với dòng nước đổ về cuồn cuộn đục ngầu vì mưa lớn, chúng tôi tiếp cận với hiện trường nơi một cây hương đổ xuống đã khá lâu nhưng vết xẻ thành hộp vẫn còn mới. Hiện trường chỉ còn lại những miếng bìa mà “lâm tặc” vứt ngổn ngang vì ít giá trị nhưng bề ngang cũng đã gần 1m, chứng tỏ cây hương bị đốn hạ ở đây có tuổi đời cả trăm năm.
Không chỉ thế, càng đi lên cao càng nhiều miếng bìa nằm rải rác, còn gỗ hộp đã được vận chuyển đi. Cạnh đó rải rác là những cây gỗ khác cũng bị cưa hạ. Trượt dọc theo đường vận chuyển xuống sông Ba, ngay bờ sông, một số hộp gỗ Hương và cả thân cây hương đường kính khoảng 40cm được giấu dưới nước mà “lâm tặc” khi biết chúng tôi vào đã “phi tang”.
Từ thông tin phản ánh của người dân, chúng tôi bơi ngược trở lại bên kia bờ dòng sông Ba, bởi ngay vách núi chỉ cách khoảng 500m so với đường đi vào khu nhà đầm La Hách cũng là hiện trường có nhiều cây hương bị đốn hạ. Sau gần 1 giờ đồng hồ vượt qua con dốc dựng đứng và len lỏi giữa cánh rừng đầy vắt và thảm mục, chúng tôi cũng dần tiếp cận những cây hương cổ thụ còn sót lại tại khoảnh rừng này. Dù nhìn bên ngoài cây cối ken dày, thế nhưng bên trong đầy những lối mòn khai thác.
Đúng như thông tin phản ánh của người dân, những cây hương bị đốn hạ nằm rải rác ở khu vực này. Chỉ trong vòng bán kính khoảng 300m, chúng tôi đã đếm được khoảng 5 cây hương đã bị cưa, chặt. Trong số đó có những cây mới chặt trong vòng 1-2 tháng nay, có cây bị xẻ đã lâu và vẫn còn sót lại những tấm gỗ, gốc cây hương lớn đường kính khoảng 1m. Có cây vừa mới bị chặt, gốc vẫn màu đỏ quạch như máu bầm và còn vương mùi thơm đặc trưng của gỗ hương. Điều đó, chứng tỏ “lâm tặc” cũng chỉ mới đốn hạ thời gian gần đây.
Theo lời ông Đinh Ích Hiệp - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm H. Kbang, do đặc điểm diện tích rừng rộng lớn, còn nhiều lâm sản có giá trị kinh tế cao nên rừng Kbang, đặc biệt là gỗ hương luôn là mục tiêu, thu hút nhiều đối tượng “lâm tặc” trong và ngoài địa bàn tìm mọi cách lén lút thâm nhập vào rừng để khai thác. Nhất là các xã vùng xa, các khu vực giáp ranh với tỉnh bạn. Đã xảy ra nhiều vụ các đối tượng “lâm tặc” liều lĩnh chống trả người thi hành công vụ trên địa bàn khi bị phát hiện đang khai thác, vận chuyển gỗ hương.
Cụ thể, như vào lúc 23 giờ ngày 14-11-2015, phát hiện một nhóm đối tượng đang dùng cưa xăng khai thác một cây gỗ hương trái phép tại Tiểu khu 94 lâm phần Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa với khối lượng gỗ tròn gần 5m3, lực lượng chức năng đã vây bắt được Hà Văn Quy (1974, trú làng Hro, xã Krong) và Trần Đức Tuấn (1991, trú TDP 14, TT Kbang, H. Kbang). Trên đường đưa 2 đối tượng này về làm việc thì có 7 đối tượng khác mang theo dao, rựa chặn trước đầu ô-tô đe dọa, uy hiếp, khống chế lực lượng chức năng rồi đưa Quy, Tuấn tẩu thoát.
Hay mới đây, TAND H. Kbang đã tuyên phạt Trương Văn Hà (1974, trú TDP 21, TT Kbang, H. Kbang) 40 tháng tù về hành vi “Chống người thi hành công vụ”. Trước đó, ngày 29-4-2016, Hà cùng Nguyễn Văn Trung (1981, trú TDP 6, TT Kbang) vận chuyển 2 khúc gỗ hương thì bị anh Dương Hồng Tâm (1993, nhân viên quản lý, bảo vệ rừng Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa) phát hiện, ngăn chặn. Xin xỏ anh Tâm không được, Hà rút dao (dài khoảng 35cm) trong người ra chém trúng cổ anh Tâm gây thương tích rồi cả hai bỏ trốn. Đến ngày 9-5, Hà đã đến CAH Kbang đầu thú, còn Nguyễn Văn Trung vẫn bỏ trốn.
Trao đổi với P.V, ông Võ Văn Phán - Chủ tịch UBND H. Kbang cho biết: “Huyện đã có nhiều biện pháp từ quản lý cư trú đối với các đối tượng ngoại địa bàn, phối hợp các lực lượng chức năng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Đồng thời, huyện cũng thành lập Ban chỉ đạo, tổ liên ngành trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Dù thời gian vừa qua đã giảm nóng tình trạng phá rừng nhưng nó vẫn âm ỉ, nhức nhối”.
Đồng thời, ông Phán cũng cho biết thêm: Người dân có phản ánh việc cán bộ làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng tiếp tay cho lâm tặc. Tuy nhiên, để phát hiện là chưa có. Vấn đề làm trong sạch đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ này đã được triển khai tại nhiều cuộc họp và sẵn sàng loại bỏ những cán bộ thoái hóa này.
Trước tình hình trên, UBND tỉnh Gia Lai vừa có Công văn số 4351 về việc tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng và xây dựng phương án quản lý, bảo vệ những cây hương cổ thụ còn sót lại ở H. Kbang. Theo đó, UBND tỉnh Gia Lai chỉ đạo chính quyền địa phương tiếp tục tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ chặt chẽ những cây hương trên.
Đồng thời, về lâu dài, tỉnh Gia Lai giao Sở NN&PTNT, Sở Tài chính, UBND H. Kbang và Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa tiến hành kiểm tra thực tế và xây dựng phương án cụ thể để quản lý bảo vệ chặt chẽ số cây hương còn lại.
Có thể thấy, “cuộc chiến” bảo vệ rừng hương vẫn là bài toán nan giải đối với các cơ quan chức năng tỉnh Gia Lai khi chưa có giải pháp căn cơ, triệt để. Nếu không có phương án cụ thể, có lẽ chỉ thời gian ngắn nữa, số phận của những cây hương cổ thụ cũng bị xóa sổ như những cây gỗ quý trắc, huỳnh đàn từng một thời hiện hữu ở đây. (Công An TP.Đà Nẵng 3/10) đầu trang(
Chiều 3-10, Công an huyện Ea Kar, tỉnh Đác Lắc cho biết, vừa tiến hành bắt tạm giam các đối tượng La O Y Lem (SN 1999), Ha Ra Y Trang (SN 1993) và Lê Mô Y Cường (SN 1980), đều trú tại buôn Zô, xã Ea Ly, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên để điều tra, làm rõ hành vi chặt phá rừng xảy ra tại Tiểu khu 622, thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, huyện Ea Kar, tỉnh Đác Lắc.
Trước đó, vào khoảng 9 giờ ngày 28-9-2016, trong lúc tuần tra tại Tiểu khu 622, lực lượng kiểm lâm của Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Ea Sô đã phát hiện một số đối tượng đang có hành vi kéo gỗ trong rừng. Thấy bị phát hiện, các đối tượng đã bỏ chạy, còn lại La O Y Lem, Ha Ra Y Trang và Lê Mô Y Cường đã bị lực lượng kiểm lâm của khu bảo tồn bắt giữ.
Tại hiện trường, theo lời khai của các đối tượng và xác định ban đầu của Hạt Kiểm lâm Khu BTTN Ea Sô, các tượng đã chặt hạ 26 cây giáng hương (thuộc nhóm IIA) và đã xẻ thành 23 hộp gỗ, có khối lượng là 1,452 m3; tám lóng gỗ xẻ thành hình lục giác, khối lượng 0,665 m3; khối lượng gỗ còn lại chưa xẻ là 5,714 m3. Tổng khối lượng gỗ bị thiệt hại (quy tròn) tại hiện trường là 8,702 m3.
Ngay sau đó, toàn bộ hồ sơ vụ việc và các đối tượng bị bắt giữ đã được Hạt Kiểm lâm Khu BTTN Ea Sô bàn giao cho Công an huyện Ea Kar tiến hành điều tra, làm rõ theo quy định của pháp luật.
Như vậy, chỉ trong hai ngày cuối tháng 9-2016, các ngành chức năng của tỉnh Đác Lắc liên tiếp phát hiện hai vụ chặt phá rừng tự nhiên với khối lượng gỗ khá lớn tại các khu BTTN gồm vụ chặt phá 26 cây giáng hương nói trên và vụ phá rừng tại Tiểu khu 718 của Ban Quản lý rừng phòng hộ núi Vọng Phu, huyện M’Đrắc với 65 lóng gỗ, khối lượng 35 m3 từ nhóm III đến nhóm IV.
Hiện cả hai vụ chặt phá rừng này đang được các cơ quan chức năng tỉnh Đác Lắc điều tra, làm rõ. (Nhân Dân 3/10) đầu trang(
Ngày 30-9, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hồ Kỳ Minh đã có buổi làm việc với Đoàn công tác Chương trình Quỹ môi trường toàn cầu của Liên Hiệp quốc về Dự án “Bảo vệ đa dạng sinh học vùng đệm của Khu Bảo tồn thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa và Vườn quốc gia Bạch Mã kết hợp với bảo tồn văn hóa của đồng bào dân tộc Cơ Tu hướng tới phát triển du lịch sinh thái cộng đồng”.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Huyền – Điều phối viên quốc gia Quỹ môi trường toàn cầu (GEF), dự án nhằm nâng cao nhận thức cho cộng đồng 2 thôn Tà Lang, Giàn Bí và các thôn lân cận về bảo tồn ĐDSH, bảo vệ tài nguyên rừng, xây dựng và vận hành mô hình du lịch sinh thái, giao rừng cho cộng đồng và khoanh vùng bảo tồn đa dạng sinh học tại 2 thôn.
Đồng thời, nhân rộng các mô hình tạo sinh kế mới cho người dân tộc bản địa như: trồng trọt, chăn nuôi, nông lâm kết hợp; hỗ trợ giống cây lâm nghiệp phục vụ trồng mới rừng để bảo tồn giống cây địa phương… Dự án dự kiến thực hiện trong 24 tháng, kinh phí dự án thực hiện là 2 tỷ đồng.
Bà Huyền cho rằng, các cộng đồng người dân tộc Cơ Tu sinh sống ở Tà Lang, Giàn Bí (huyện Hòa Vang) có truyền thống và vai trò quan trọng trong quản lý tài nguyên và bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực này. Tuy nhiên, họ vẫn chưa được tham gia trực tiếp vào những hoạt động bảo tồn. Việc tạo điều kiện cho họ sinh kế mới từ tiềm năng và thế mạnh hiện có sẽ tăng cường vai trò của cộng đồng, giảm áp lực đối với tài nguyên vào bảo tồn đa dạng sinh học.
Tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hồ Kỳ Minh đánh giá cao chương trình hoạt động của dự án, đặc biệt là cải thiện sinh kế của đồng bào dân tộc Cơ Tu tại 2 thôn Tà Lang, Giàn Bí. Về công tác giao rừng để cộng đồng quản lý và sản xuất cũng như tổ chức quản lý rừng theo hình thức cộng đồng, Phó Chủ tịch cho rằng trong thời gian tới, cần có sự phối hợp đồng bộ từ các cơ quan, tổ chức và cộng đồng để giải quyết các vấn đề quản lý tài nguyên rừng Bà Nà – Núi Chúa và bảo vệ đa dạng sinh học một cách bền vững.
Do đó, Phó Chủ tịch giao các sở ngành phối hợp Quỹ môi trường toàn cầu lập kế hoạch hành động cụ thể, giám sát triển khai hoạt động, tài chính dự án… để đánh giá các hoạt động đã triển khai và kế hoạch thực hiện các hoạt động tiếp theo.
Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) là một cơ chế tài chính được xây dựng nhằm cung cấp viện trợ cho các nước đang phát triển và những nước đang trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế để xây dựng và thực hiện các dự án và hoạt động nhằm bảo vệ môi trường toàn cầu, nâng cao vai trò quan trọng của cộng đồng trong việc tham gia bảo tồn đa dạng sinh học, hạn chế khả năng thay đổi theo hướng bất lợi của khí hậu và bảo vệ các vùng nước quốc tế... (Cổng Thông Tin Điện Tử TP.Đà Nẵng 3/10) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chỉ thị số 28/CT-TTg ngày 17-9-2016 về một số giải pháp cấp bách phòng ngừa, đấu tranh với hành vi xâm hại các loài động vật hoang dã (ĐVHD).
Đây được xem là một trong những động thái mạnh của Chính phủ nhằm bảo vệ ĐVHD trước tình trạng săn bắt, buôn bán, sử dụng các sản phẩm từ ĐVHD đang diễn biến phức tạp với nhiều thủ đoạn tinh vi.
Mới đây, tại huyện Thanh Trì (Hà Nội), các cơ quan chức năng đã bắt giữ hàng chục cá thể ĐVHD thuộc diện nguy cấp, quý hiếm cho thấy cuộc chiến với tội phạm buôn bán trái phép ĐVHD vẫn đang diễn ra phức tạp.
Cụ thể, ngày 15-7-2016, Đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng (Chi cục Kiểm lâm Hà Nội) phối hợp với Đội cảnh sát kinh tế (Công an huyện Thanh Trì) tạm giữ 16 cá thể rùa đất lớn, trọng lượng 44,7kg; 3 cá thể rùa núi vàng trọng lượng 3,1kg thuộc nhóm ĐVHD nguy cấp, quý hiếm; 4 cá thể rùa đất Pulkin, trọng lượng 2,5kg thuộc nhóm ĐVHD thông thường.
Qua xác minh cho thấy, số động vật trên được xếp lẫn vào hành lý vận chuyển trên xe khách và không có hồ sơ chứng minh nguồn gốc hợp pháp. Đối tượng vận chuyển là bà Triệu Thị Duyên ở thôn Cầu Sắt, xã Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
Đây chỉ là một trong nhiều vụ vi phạm được bắt giữ từ đầu năm đến nay. Trong đó, 9 tháng của năm 2016, Chi cục Kiểm lâm Hà Nội đã phối hợp với cơ quan chức năng bắt giữ được 10 vụ buôn bán ĐVHD với tổng số 263 cá thể, trọng lượng hơn 123kg, trong đó có 203 cá thể ĐVHD thông thường và 60 cá thể ĐVHD nguy cấp, quý hiếm.
Đáng chú ý, các đối tượng vi phạm đều sử dụng thủ đoạn rất tinh vi như vận chuyển trên các phương tiện hiện đại, xé lẻ và giấu lẫn với hàng hóa hoặc hành lý nhằm qua mặt cơ quan chức năng nên việc quản lý và truy bắt gặp khó khăn.
Theo Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (ENV), các cá thể ĐVHD được buôn bán, phục vụ cho nhu cầu làm thức ăn, làm cảnh, làm thuốc, xuất khẩu... và được rao bán khá công khai trên nhiều diễn đàn, các trang mạng rao vặt, quảng cáo... mà chưa bị xử lý. Có lẽ vì vậy mà số vụ vi phạm vẫn tiếp tục diễn ra.
Giám đốc Trung tâm Cứu hộ ĐVHD Hà Nội Ngô Bá Oanh cho biết: Từ đầu năm đến nay, Trung tâm đã tiếp nhận 49 vụ với tổng số 436 cá thể ĐVHD và 7,5kg rắn, trong đó số vụ do cơ quan chức năng bắt giữ bàn giao là 33 vụ với 419 cá thể ĐVHD. So với cùng kỳ năm 2015, tổng số vụ tiếp nhận tăng 6 vụ.
Thực tế tại Hà Nội, các hành vi vi phạm liên quan đến ĐVHD đã được TP Hà Nội xử lý nghiêm. Đơn cử như vụ vận chuyển rùa trái phép nêu trên, ngày 9-9-2016, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Lê Hồng Sơn đã ký quyết định xử phạt hành chính đối với bà Triệu Thị Duyên với số tiền 78 triệu đồng và tịch thu toàn bộ tang vật vi phạm, chuyển giao Trung tâm Cứu hộ ĐVHD Hà Nội theo quy định.
Tuy nhiên, Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hà Nội Lê Minh Tuyên nhận định, việc xử lý vi phạm đối với các hành vi buôn bán, xâm hại ĐVHD nguy cấp, quý hiếm còn nhẹ, chưa được coi là loại hình tội phạm nghiêm trọng, làm giảm tính răn đe của pháp luật đối với người vi phạm.
Đặc biệt, ở các làng nghề chế tác xương, sừng, nhiều hộ còn sử dụng ngà voi, sừng tê giác pha trộn với một số nguyên liệu khác để chế tác nên khó kiểm tra, phát hiện vì các hộ làm nghề đa phần sản xuất nhỏ lẻ trong khu dân cư. Điều này đòi hỏi phải có sự vào cuộc đồng bộ của các cơ quan chức năng và các cấp chính quyền, đặc biệt là chính quyền cơ sở mới ngăn chặn kịp thời và hiệu quả.
Chỉ thị số 28/CT-TTg về một số giải pháp cấp bách phòng ngừa, đấu tranh với hành vi xâm hại các loài ĐVHD trái pháp luật ra đời thực sự là chế tài quan trọng giúp các địa phương và cơ quan chức năng tăng cường quản lý, xử phạt vi phạm trong lĩnh vực này, đặc biệt là lấp "lỗ hổng" trong quản lý hiện nay.
Ngoài việc phân định rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành và các cấp chính quyền đối với việc quản lý, đấu tranh với các hành vi buôn bán trái phép ĐVHD, Chỉ thị còn chỉ rõ các ngành chức năng cần tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hoạt động quảng cáo, bày bán, buôn bán qua mạng ĐVHD, đồng thời quy rõ trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp khi để xảy ra vi phạm tại địa bàn do mình quản lý...
Ông Lê Minh Tuyên cho rằng, để hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật về ĐVHD, các địa phương cần tập trung tuyên truyền để nhân dân hiểu và chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật.
Đặc biệt, đối với các làng nghề chế tác thủ công mỹ nghệ có sử dụng nguyên liệu liên quan đến ĐVHD, ngoài tuyên truyền, cần xây dựng, đề xuất phương án chuyển đổi nghề và có biện pháp mạnh tay hơn trong xử lý các vi phạm liên quan đến buôn bán ĐVHD... trên địa bàn. Có như vậy mới mong hoạt động buôn bán, sử dụng trái phép ĐVHD "giảm nhiệt". (Hà Nội Mới 4/10) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Sẽ đầu tư 61.000 tỷ đồng cho giai đoạn 2016-2020 để thực hiện Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg, ngày 14/9/2016 ban hành một số chính sách bảo vệ, phát triển rừng và đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng,...
Vốn đầu tư phát triển khoảng 9.000 tỷ: Sẽ đầu tư 61.000 tỷ đồng cho giai đoạn 2016-2020 để thực hiện Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg, ngày 14/9/2016 ban hành một số chính sách bảo vệ, phát triển rừng và đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng, giao nhiệm vụ công ích đối với các Cty nông, lâm nghiệp, có hiệu lực từ ngày 1/11/2016.
Hỗ trợ đầu tư và đặt hàng đối với các Cty nông lâm nghiệp thực hiện nhiệm vụ công ích như sau:
Hỗ trợ đối với trồng rừng phòng hộ, đặc dụng:  Mức vốn kế hoạch hỗ trợ từ ngân sách trung ương là 30 triệu đồng/ha; mức đầu tư cụ thể được xác định trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật và dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Phần vốn vượt mức vốn được giao, chủ rừng lồng ghép và huy động, sử dụng các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện.
Giao kế hoạch đặt hàng nhiệm vụ công ích: Đối với diện tích rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên chưa đến thời kỳ khai thác do công ty nông, lâm nghiệp trực tiếp quản lý được hỗ trợ chi phí khoán quản lý bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng mức khoán bằng 50% so với mức bình quân khoán quản lý bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng cho hộ gia đình, cá nhân và các cộng đồng.
Hỗ trợ xây dựng trạm quản lý bảo vệ rừng, các công trình phòng chống cháy rừng, nhà tập thể cho người lao động.
Cơ chế đầu tư thực hiện Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg như sau: Nguồn vốn hỗ trợ đầu tư gồm ngân sách TƯ và ngân sách địa phương. Căn cứ vào quy định tại Quyết định này, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm sử dụng nguồn thu từ bán cây đứng, thuế tài nguyên rừng, tiền thu từ xử phạt các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, nguồn thu được để lại từ các nhà máy thủy điện và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật để bảo đảm nguồn vốn thực hiện tại địa phương. Ngoài ra còn nguồn vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án khác có cùng mục tiêu.
Tổng nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2016 - 2020 để thực hiện Quyết định này khoảng 61.000 tỷ đồng, trong đó huy động các thành phần kinh tế khác 45.000 tỷ đồng (chi trả dịch vụ môi trường rừng 8.000 tỷ đồng; tín dụng 10.000 tỷ đồng; vốn của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình 27.000 tỷ đồng).
Vốn nhà nước: Vốn đầu tư phát triển ngân sách nhà nước khoảng 9.000 tỷ đồng (ngân sách trung ương 8.000 tỷ đồng, ngân sách địa phương 1.000 tỷ đồng); vốn sự nghiệp kinh tế 5.115 tỷ đồng, vốn ODA 3.000 tỷ đồng. (Nông Nghiệp Việt Nam 4/10) đầu trang(
Làm cách nào để tránh được họa mắt ghép giả trên cây mắc ca? Tôi sẽ bán “nữ hoàng hạt khô” cho ai? Và ai sẽ bảo hiểm, hỗ trợ vốn vay cho chúng tôi? – Đó là 3 câu hỏi lớn mà phóng viên NTNN ghi nhận trong 4 ngày cùng các chuyên gia Hiệp hội Mắc ca Việt Nam điền dã dọc theo 4 tỉnh Tây Nguyên để gặp gỡ, lắng nghe và trao đổi với những người tiên phong trồng mắc ca.
Trong 4 ngày, đã có 2 hội thảo đầu bờ do Hiệp hội Mắc ca Việt Nam tổ chức, trực tiếp hướng dẫn cụ thể, giải đáp chi tiết qua 2 vòng: Tại hội trường xã và tại vườn cây mắc ca của nông dân. Hàng trăm nông dân của huyện Lâm Hà (Lâm Đồng) và Krông Năng (Đăk Lăk) hào hứng tham gia.
Chúng tôi đến Lâm Đồng vào giữa tháng 9, khi mùa thu hoạch chính của mắc ca năm 2016 ở đây đang bước vào những ngày cuối. Rất nhiều nông dân mảnh đất cao nguyên này phấn chấn vì được mùa mắc ca.
Anh Nguyễn Hữu Việt (ở  thôn Phúc Thọ 2, xã Tân Hà, huyện Lâm Hà), có 200 cây mắc ca đã cho thu hoạch được hơn 2 tấn hạt, thu về hơn 200 triệu đồng. Anh Trần Phúc Nguyên (ở huyện Đam Rông) có vườn cây 4-5 tuổi đã cho thu hoạch bình quân 5-6kg hạt/cây, tổng thu mùa bói năm nay đã được hơn 1 tấn, bán ra hơn 100 triệu đồng.
“Tôi sẽ trồng thêm 500 cây nữa, tất cả đều xen với cà phê...” – anh Nguyên cười sảng khoái, tự tin nói với chúng tôi.
Nhưng niềm vui được mùa không đến với tất cả mọi người. Một số người trồng mắc ca ở xã Liên Hà, huyện Lâm Hà lại rầu rĩ vì cây không có quả, hoặc quả rất ít. Chẳng  hạn như anh Nguyễn Việt Hùng, dù vườn cây đã 5 năm tuổi, nhưng lác đác vài trái. Anh Hùng cho hay, 5 năm trước, lúc mua cây giống của một công ty đến xã bán cây, anh và một số người trong xã mua theo hợp đồng chung.
Khi nhận cây, thấy có biểu hiện  mắt ghép sơ sài, vết khứa và quấn giấy bóng sơ sài, anh Hùng và một số người có ý kiến, công ty trên cho người đến kiểm tra, có xác nhận nhiều cây không có mắt ghép, nhưng sau đó họ cũng không ghép lại cho anh. Lúc đó anh mua để trồng xen vào cà phê, độ quan tâm cũng chưa nhiều, nên cứ để vậy đến nay. Từ 50 cây trồng xen  vườn cà phê vào năm 2011, đến nay trong vườn anh chỉ còn 10 cây.
“Giá mua cây hồi đó là 55.000 đồng/cây, chúng tôi đã thanh toán 50% (27.500 đồng/cây) và giao kèo khi có quả sẽ trả hết tiền giống. Đến nay cây không có quả, công ty ấy không đòi trả tiếp nữa... Tôi dự kiến chặt bỏ nốt 10 cây giống kém này, sau đó sẽ mua 200 cây giống tốt về trồng mới xen vào cà phê” - anh Hùng cho hay.
Ông Đoàn Văn Thực, cũng ở xã Liên Hà, khi tham gia hội thảo đầu bờ đã nêu thẳng với chúng tôi tên của đơn vị bán giống cho mình là Công ty Đức Anh và cho biết hiện ông chỉ còn 8 cây, 3 cây có trái, 5 cây không có trái. Lúc mua giống, ông thấy bán rẻ 30.000-40.000 đồng/cây nên mua (trong khi giá thị trường cho mỗi cây ghép tốt là 80.000 đồng/cây).
Một số nông dân cùng rơi vào cảnh tương tự ông Hùng và ông Thực đã hỏi các chuyên gia cách phân biệt mắt ghép thật và giả, nông dân có tự ghép được không? Với cây thực sinh đã  trồng 4-5 năm, nếu không chặt bỏ mà ghép lại được không?
Thảo luận trực tiếp với hơn 200 nông dân huyện Lâm Hà, GS Hoàng Hòe – Phó Chủ tịch Hiệp hội Mắc ca Việt Nam chia sẻ, nguyên nhân chính dẫn đến các vườn mắc ca không ra quả kể trên là do bà con mua phải giống dởm, giống kém chất lượng của một số tổ chức, cá nhân tham lợi và gian lận.
Thủ đoạn của bọn họ là bán cây thực sinh với giá rẻ đến mức chỉ bằng 50% giá thị trường. Do không có vườn cây đầu dòng, hoặc vườn cây đầu dòng không đủ mắt ghép, họ dùng dao khía vài đường trên thân cây con, tạo hình như cây ghép thật.
Thậm chí, có thể lấy luôn “mắt ghép” từ chính cây giống đó rồi ghép trở lại với gốc cũ, về bản chất vẫn là từ một thân cây thực sinh; hoặc cắt mắt ghép của cây giống này ghép chéo vào cây giống khác cho nhanh, nhưng không phải mắt ghép từ cây đầu dòng. Nếu nông dân ham rẻ mua vào, tốn công chăm sóc mấy năm trời không có trái rồi chặt bỏ, thì không còn là rẻ nữa, mà tính ra là quá đắt.
“Tại Úc, Nam Phi và gần chúng ta hơn là Trung Quốc, Thái Lan cũng đã từng trải qua giai đoạn này, và giờ đây nông dân các nước đó đã thông minh hơn, biết chủ động tìm đến những cơ sở có uy tín để mua cây giống. Ngay với nước ta, nạn cây giống dởm cũng từng xảy ra với cà phê và một số cây khác. Giờ đây người trồng cà phê đã khôn hơn rất nhiều trong khâu chọn giống”  - GS Hòe cho biết thêm.
Tại hội thảo đầu bờ, các chuyên gia từ Hiệp hội Mắc ca Việt Nam khuyến cáo bà con nông dân  nên tìm đến những công ty giống có vườn cây mắc ca đầu dòng có quy mô thương mại, được Sở NNPTNT chứng nhận mới mua (ở Tây Nguyên có thể đến Công ty Vinamacca ở huyện M’Đrăk, Đăk Lăk; ở miền Bắc có thể đến Công ty Đầu tư Xuất nhập khâu nông lâm sản ở Ba Vì, Hà Nội...).
Nếu cơ sở bán giống nào không có chứng nhận của Sở NNPTNT thì không nên mua. Vì khoản đầu tư hàng chục, hàng trăm triệu đồng, đem lại thu nhập hàng tỷ đồng trong hàng chục năm, tại sao bà con phải tiếc một cuộc điện thoại hỏi chuyên gia hoặc cơ quan chức năng? Hơn nữa, khi mua bán cây giống, người mua có quyền đàm phán hợp đồng và giao kết nội dung bảo đảm cây có quả và bao tiêu đầu ra. Nông dân chỉ nên chấp nhận thanh toán đủ 100% giá trị hợp đồng sau khi cây có quả (sau 3- 4 năm). Những doanh nghiệp làm ăn đàng hoàng sẵn sàng cam kết điều này.
Liên quan đến nội dung hợp đồng mua cây giống, trong hội thảo đầu bờ ở Lâm Hà, chúng tôi được biết có một công ty đã đến bán giống mắc ca tại một số xã của huyện này cách đây 5 năm, có làm hợp đồng bán giống. Người mua thanh toán 50% khi nhận cây, đến khi có trái mới thanh toán hết 50% còn lại.
Tuy nhiên, gần đây, bằng cách nào đó, đơn vị này đã thanh lý hợp đồng mà chấp nhận không thu nốt số tiền cây giống nông dân còn nợ. Điều này đồng nghĩa người đã bỏ tiền mua giống không còn cơ sở để yêu cầu trách nhiệm của công ty bán giống, khi cây không ra quả như trường hợp anh Hùng, anh Thực.
Thực tế này đặt ra vấn đề cần có sự hỗ trợ của đại diện chính quyền địa phương, đoàn thể chính trị xã hội cơ sở, hoặc các chi nhánh của Hiệp hội Mắc ca Việt Nam trong việc giúp người dân nâng cao nhận thức về hợp tác làm ăn thông qua hợp đồng kinh tế.
Cùng với quy hoạch và kế hoạch phát triển cây mắc ca, lãnh đạo các địa phương từ cấp xã, cấp huyện cho đến cấp tỉnh được trông đợi sẽ có tiếng nói quan trọng trong kiểm soát chất lượng mắc ca giống hoặc tham gia đại diện, làm chứng cho giao dịch cây giống giữa công ty và người dân trên địa bàn.
Ông Nguyễn Ngọc Long - Chủ tịch UBND huyện Tuy Đức (Đăk Nông): Hướng dẫn chọn giống rất cần thiết!.
Theo quy hoạch của tỉnh Đăk Nông, cây mắc ca sẽ trồng tập trung tại huyện Tuy Đức với diện tích hơn 10.000ha. Để thực hiện quy hoạch này, trước mắt, UBND huyện nói riêng và các ngành chức năng nói chung đang khuyến cáo nông dân phát triển một cách thận trọng, không trồng ồ ạt...
Đồng thời địa phương tích cực tuyên truyền nhân dân thận trọng khi mua giống mắc ca. Việc tổ chức tập huấn, hướng dẫn nông dân trong việc chọn giống là hết sức cần thiết, khuyến cáo nông dân chọn những giống đáng tin cậy nhất để trồng, tránh thiệt hại về sau. (Dân Việt 4/10) đầu trang(
Chúng tôi về xóm Đồng Nghè II, xã Động Đạt, huyện Phú Lương, Thái Nguyên vào một ngày đầu thu 2016. Bản làng nơi đây giờ đã có nhiều khởi sắc, những ngôi nhà khang trang mới cất nóc thấp thoáng dưới nắng chiều, bao quanh là một màu xanh trù phú, bạt ngàn của những cánh rừng phòng hộ.
Câu chuyện của chúng tôi với những người trồng rừng trở nên rôm rả khi cán bộ xã Đào Đình Quý nhắc đến dự án VM055. Dự án do Trung tâm phát triển nông thôn bền vững (SRD) phối hợp với UBND huyện Phú Lương triển khai thực hiện từ năm 2013 đến nay.
Nằm trọn trong thung lũng Làng Cam, Đồng Nghè II có 379,4 ha rừng phòng hộ. 100% số dân nơi đây đều là người dân tộc nùng nhưng có nhận thức rất tốt về giá trị của đất và vai trò của việc trồng rừng trong phát triển sinh kế, thích ứng với biến đổi khí hậu trên vùng đất của bản mình.  Mấy năm trở lại đây, dân bản đã cùng nhau bảo vệ rừng phòng hộ và thực hiện theo đúng quy định của Quyết định 327/CT và Quyết định 661/QĐ-TTg của Nhà nước.
Ông Đào Đình Quý, vui mừng cho biết: Dự án VM055 đã mở ra hướng đi mới trong quản lý, bảo vệ bền vững rừng tại Đồng Nghè II nói riêng và nhiều nơi khác trên địa bàn huyện Phú Lương nói chung. Những cán bộ của SRD đã cẩm tay chỉ việc. Mưa rầm thấm lâu, người dân tộc nơi đây giờ đã tự tin về nhận thức đúng, phát triển sinh kế dưới chính những tán rừng phòng hộ. Do vậy, công tác thực thi nhiệm vụ của chính quyền trong quản lý cũng được thông thuận, người dân nhiệt tình thực hiện.
Người Nùng ở Đồng Nghè II hôm nay không chỉ biết về lý thuyết mà còn giỏi cả thực hành. Họ hiểu được vai trò và lợi ích của việc trồng rừng phòng hộ, phát triển sinh kế. Hành động, cách làm rất bài bản, bởi họ đã nhận thức được rằng, bảo vệ môi trường rất cấp thiết, biến đổi khí hậu đã hiện hữu ngay trong cuộc sống của mình, mất rừng đất đồi sẽ nứt nẻ, nắng nóng càng gay gắt. Mưa bão đến, không có rừng cây chắn gió thì gió to, nước lũ sẽ tràn về làm mất hết nhà cửa…
Do vậy, họ không chỉ biết trồng rừng, chọn những loại cây có giá trị kinh tế mà người Đồng Nghè còn biết tự ươm được những giống cây phù hợp với chất đất bản địa để bảo đảm chất lượng, giảm chi phí về giá thành. Anh Hoàng Văn Cảnh là một hộ gia đình điển hình như vậy. Trước đây, gia đình anh trồng chủ yếu bằng cây keo. Nay chuyển sang trồng trám đen, trám trắng, sấu, giổi.
Theo anh Cảnh, những loại này có thể  giữ vững rừng đầu nguồn, lại cho thu hoạch được quả, hạt và nhựa… hiệu quả kinh tế cao. Nhiều gia đình trong thôn đã làm theo mô hình của anh Cảnh.
Dự án VM055 đã hỗ trợ Đồng Nghè II một vườn ươm- mô hình rất thành công, người dân đã tự chuyển giao kỹ thuật và hướng dẫn nhau nhân rộng để ươm nhiều loại cây giống khác nhau phục vụ nhu cầu trồng rừng của bà con nhân dân trong xóm cũng như các xã vùng lân cận. Đến nay sau 6 tháng triển khai, đã có thêm nhiều vườn ươm cộng đồng khác được xây dựng và bắt đầu đi vào hoạt động tại xóm Thâm Trung, Na Pặng của Ôn Lương; xóm Ó và Đồng Xiền.
Cùng cán bộ SRD dạo một vòng quanh các diện tích rừng phòng hộ mới được trồng thay thế bên những mầm cây dổi xanh tốt đang vươn cao dưới cái nắng vàng đầu thu, chúng tôi hiểu với sự hỗ trợ của những tấm lòng tâm huyết từ những cán bộ dự án cùng với nỗ lực của người bản nùng thì không xa nữa sẽ có thêm nhiều mầm cây mới tiếp tục phát triển, nhân rộng. Những mầm cây sẽ phát triển mạnh mẽ và vươn cao.
Bà Vũ Thị Bích Hợp – Giám đốc SRD cho biết: SRD triển khai dự án ở đây, mong muốn người nghèo chủ động bảo vệ rừng và được hưởng lợi từ rừng thông qua chương trình VM055. Các hoạt động như thay thế rừng keo bằng rừng cây bản địa, cây lâu năm, những cây này về trước mắt, có thể chưa mang lại lợi ích cho người dân, nhưng về lâu dài, trong 10 năm tới, không chỉ riêng họ và cộng đồng của chúng ta sẽ một môi trường rừng xanh hơn, sạch hơn và đẹp hơn để thích ứng với những biến đổi của khí hậu.
Theo phân tích của cán bộ Lâm nghiệp xã Đào Đình Quý: Mấy năm gần đây, Đồng Nghè II là thôn ít xảy ra những vụ đốt phá rừng phòng hộ vì người dân đã được nâng cao nhận thức. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, người dân và chính quyền địa phương vẫn không tránh khỏi những khó khăn trong chính sách giữa quy định của Nhà nước và thực tế của người trồng rừng. Một trong những bất cập là việc đưa giống keo vào trồng rừng phòng hộ là chưa hợp lý bởi đây là giống cây có tuổi khai thác từ 7 - 10 năm.
Nếu quá độ tuổi ấy, lõi keo sẽ bị xốp và rỗng giữa, dần dần bị khô và chết. Theo quy định của Bộ NN-PTNT thì với rừng phòng hộ sẽ được phép khai thác tỉa thưa không quá 20% diện tích mỗi năm và phải trồng bù diện tích đã khai thác ngay trong vụ kế tiếp. Đây là quy định phù hợp bởi nếu khai thác quá tỷ lệ, rừng sẽ mất đi giá trị phòng hộ (giữ nguồn nước,  chống xói mòn, bảo vệ môi trường sinh thái...).
Tuy nhiên, nếu mỗi năm khai thác 20% diện tích và sau 5 năm mới khai thác hết 100% diện tích cây trồng ban đầu thì sẽ có nhiều diện tích keo quá tuổi, hiệu quả sử dụng thấp hoặc không thể sử dụng được nữa. Rõ ràng, đang có sự bất hợp lý giữa quy định và thực tế.
Bên cạnh đó, mức thu nhập của người dân tộc thấp, không có nghề phụ, kinh phí chi trả cho bảo vệ rừng thấp, không liên tục, đó là lý do cần bàn đến cho sự bền vững của những cánh rừng, vì không ai dám chắc, một thời điểm nào đó họ quay lại nghề khai thác trộm.
Theo Ông Quý: Muốn quản lý, bảo vệ rừng hiệu quả cần phải gắn với lợi ích sinh kế, chỉ có phát triển tiềm năng sinh kế của cộng đồng hiệu quả và ổn định thì người dân mới có trách nhiệm và cam kết tham gia quản lý, bảo vệ rừng bền vững. Trong đó, xác định phát triển sinh kế là đòn bẩy để người dân sống dựa vào rừng yên tâm với nguồn thu nhập ổn định.
Đồng Nghè II hiện là mô hình đã thực hiện được theo mong đợi này của dự án và tôi tin rằng, những việc người dân nơi đây đã, đang làm sẽ khẳng định rằng, những cánh rừng sẽ mãi xanh theo mong đợi, đời sống của họ  tiếp tục đổi mới, phát triển. (Tài Nguyên Và Môi Trường 3/10) đầu trang(
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 9 tháng năm 2016, tiến độ trồng rừng đang giảm so với cùng kỳ năm trước.
Tính đến 20/9, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 148,6 nghìn ha, giảm 15% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 11,4 ngàn ha, giảm 3,9% so với cùng kỳ năm trước; Trồng mới rừng sản xuất đạt 137,2 ngàn ha, giảm 16,3% so với cùng kỳ năm trước sản lượng gỗ khai thác ước đạt 6.521 nghìn m3 , tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước.
Cụ thể, tại miền Bắc, các địa phương đang ở cuối giai đoạn trồng rừng chính vụ. Tính đến ngày 20/9, các tỉnh miền Bắc đã trồng được 130.396 ha rừng, giảm 14,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Bắc Trung Bộ có tiến độ trồng rừng giảm ít nhất, đạt 31.535 ha (giảm 2,5%) so với cùng kỳ năm trước. Đồng bằng sông Hồng đạt 13.465 ha (giảm 8,2%), Trung du và miền núi phía Bắc đạt 85.396,1 ha (giảm 19,6%).
Những tỉnh có diện tích trồng rừng nhiều và tiến độ nhanh hơn so với cùng kỳ năm trước là Nghệ An đạt 15.304 ha (tăng 12,2%), Hòa Bình đạt 12.126 ha (tăng 51,4%), Yên Bái đạt 11.088,2 ha (tăng 8,3%). Bên cạnh công tác trồng rừng tập trung, các địa phương tiếp tục gieo ươm và chăm sóc cây giống, trồng cây phân tán, chăm sóc diện tích rừng trồng.
Còn tại miền Nam, các tỉnh đã triển khai trồng rừng chính vụ. Đến ngày 20/9, các địa phương trồng đạt 18.254 ha, giảm 16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số tỉnh có diện tích trồng rừng khá và tăng so với cùng kỳ năm trước là: Quảng Nam trồng đạt 3.450 ha (tăng 2,4%), Đắk Nông trồng đạt 2.513 ha (tăng 94,5%), Kon Tum trồng đạt 1.266 ha (Cùng kỳ năm trước chưa trồng rừng).
Bên cạnh công việc trồng rừng, các địa phương tiếp tục gieo ươm và chăm sóc cây giống phục vụ cho kế hoạch trồng rừng năm 2016. Ngoài ra, các địa phương tiếp tục thực hiện giao khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh và chăm sóc rừng đã trồng. (Đảng Cộng Sản Việt Nam 3/10) đầu trang(
Tặng 500 triệu đồng thực hiện dự án trồng cây xanh ở Hậu Giang, Lãnh sự Nam Phi tại TP.HCM hy vọng sẽ sớm nhìn thấy một Hậu Giang "thay áo mới".
Chiều ngày 2/10, tại Khu Công nghiệp sông Hậu (huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang), bà Đỗ Thị Kim Liên, Lãnh sự Nam Phi tại TP.HCM - Chủ tịch Quỹ Hỗ trợ xây dựng môi trường xanh Việt Nam đã tặng 500 triệu đồng cho tỉnh Hậu Giang nhân sự kiện Khánh thành khu văn phòng Nhà máy nước AquaOne và động thổ dự án xử lý rác thải của Công ty Greenity Hậu Giang.
Hoạt động phi lợi nhuận, Quỹ Hỗ trợ xây dựng môi trường xanh Việt Nam được thành lập vì mục tiêu xây dựng và bảo vệ môi trường xanh, vì tương lai môi trường Việt Nam.
Chủ tịch Đỗ Thị Kim Liên chia sẻ: Hậu Giang là một tỉnh nghèo do mới thành lập chỉ hơn 12 năm, nhưng là vùng đất nhiều tiềm năng. Người dân nơi đây thân thiện, hiếu khách và rất kiên cường mặc dù đời sống còn khó khăn, chật vật.
Trong thời gian qua, chúng tôi đã hỗ trợ Tỉnh xây dựng nhiều căn nhà tình thương cho hộ gia đình nghèo thuộc diện chính sách tại các huyện Phụng Hiệp, Long Mỹ, Vị Thủy,... góp phần giúp bà con ổn định cuộc sống, được an cư lạc nghiệp.
Bên cạnh đó, chúng tôi tham gia nâng cấp trùng tu Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Hậu Giang trong tâm nguyện tri ân đồng bào, chiến sĩ đã chiến đấu hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.
Với khát vọng phủ xanh môi trường sống, chúng tôi tiếp tục trao tặng 500 triệu đồng thực hiện dự án hạ tầng kỹ thuật trồng cây xanh tại Hậu Giang. Tôi hi vọng, sẽ sớm nhìn thấy một Hậu Giang "thay áo mới" trong tương lai gần.
Thay mặt địa phương, ông Trần Công Chánh – Bí thư tỉnh ủy Hậu Giang, cho biết: Hậu Giang vẫn còn là một tỉnh nghèo, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội mặc dù được quan tâm đầu tư nhưng nhìn chung vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ, nhưng may mắn nhận được sự quan tâm từ nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh chung tay cùng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Hậu Giang góp sức tạo thêm nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng, an sinh phúc lợi xã hội trên địa bàn tỉnh.
"Nhân sự kiện này, chúng tôi muốn gửi lời cảm ơn đến Quỹ hỗ trợ xây dựng môi trường xanh Việt Nam và cá nhân bà Đỗ Thị Kim Liên về những hoạt động chứa đựng nhiều ý nghĩa nhân văn sâu sắc", ông Trần Công Chánh nói.
Nhà máy nước AquaOne được quy hoạch trên diện tích gần 70 ha, công suất thiết kế 1.000.000 m3/ngày đêm phục vụ nước sạch cho các tỉnh Tây Nam sông Hậu, sẽ phát nước giai đoạn 1 là 100.000 m3/ngày đêm vào tháng 1/2017, với tổng vốn đầu tư 1.984 tỷ đồng.
Theo đó, đây là một trong những đơn vị đi tiên phong trong lĩnh vực cung cấp nước sạch sinh hoạt và nước sạch phục vụ sản xuất cho Khu đô thị công nghiệp Sông Hậu và các khu dân cư lân cận, góp phần ổn định an ninh nước vùng Đồng bằng Sông Cửu Long trước nguy cơ nhiễm mặn đang ngày càng gia tăng.
Dự án Nhà máy xử lý rác thải của Công ty Greenity Hậu Giang, tại Vị Thanh, có công suất 300 tấn/ngày, vốn đầu tư 300 tỷ đồng.
Đây là 1 trong 4 đơn vị vừa được địa phương cấp phép đầu tư trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác kinh tế ĐBSCL 2016 (MDEC 2016) vừa diễn ra tại Hậu Giang vào tháng 7 năm nay. (Đất Việt 3/10) đầu trang(
Tranh thủ thời tiết thuận lợi, nhân dân các địa phương ở Tân Kỳ (Nghệ An) nỗ lực khép kín hơn 1.000 ha rừng vụ Thu.
Gia đình ông Lưu Văn Năm ở xóm Điện Lực xã Kỳ Sơn (Tân Kỳ) đang tập trung trồng 3,5 ha rừng vụ Thu và chăm sóc hơn 10 ha rừng trồng từ 2 đến 4 năm tuổi. Gắn bó với nghề trồng rừng hơn 10 năm nay, trên tổng diện tích hơn 16 ha ông Năm trồng keo với cách quy hoạch từng vùng trồng xen giữa các năm nên hầu như năm nào gia đình cũng có diện tích rừng đến kỳ khai thác đem lại nguồn thu nhập để trang trải cuộc sống.
Qua thực tế, mỗi ha keo từ lúc trồng đến lúc khai thác mất quảng thời gian 5 năm và đem lại thu nhập 100 triệu đồng, trừ chi phí thu lãi ròng 60 triệu đồng. Trên vùng đồi, không có cây gì thay thế được cây Keo và ngoài trồng rừng bà con còn kết hợp chăn nuôi để tăng hiệu quả kinh tế. Nếu như những năm trước gia đình ông tự túc kinh phí để trồng nhưng năm nay được dự án bảo vệ và phát triển rừng hỗ trợ cây giống, phân bón và hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc 3,5 ha rừng.
Thời điểm hiện tại, những đợt sau mưa, độ ẩm đất đảm bảo cho trồng cây nên hàng trăm hộ dân ở các địa phương của huyện huyện Tân Kỳ đang tập trung trồng mới hơn 1.000 ha rừng vụ Thu, trong đó có 100 ha rừng phòng hộ, 355 ha rừng trồng theo dự án bảo vệ và phát triển rừng. Số diện tích còn lại bà con tự túc kinh phí để trồng.
Để hoàn thành kế hoạch đề ra, thời gian qua, UBND huyện Tân Kỳ đã chỉ đạo các cơ quan chức năng, chính quyền các xã có kế hoạch trồng rừng vụ Thu tăng cường công tác tuyên truyền nhằm giúp người dân nắm vững chính sách hỗ trợ của chương trình trồng rừng phòng hộ, dự án bảo vệ và phát triển rừng. Đồng thời tiến hành đo thực địa, hướng dẫn quy trình kỹ thuật đào hố, trồng, chăm sóc, khoanh nuôi bảo vệ rừng cho bà con.
Để cung ứng nguồn cây giống đảm bảo chất lượng phục vụ tốt cho việc trồng rừng, Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Kỳ đã chủ động ươm và chăm sóc 60 vạn cây giống các loại, trong đó chủ yếu là keo Úc, keo cành. Hơn 150 hộ dân ở 2 xã Tân Hương và xã Kỳ Sơn chuyên sản xuất cây giống đã chủ động ươm hàng triệu cây giống các loại để cung ứng cho bà con trong và ngoài huyện trồng rừng vụ Thu.
Thời tiết thuận lợi, đến thời điểm này, bà con Tân Kỳ đã khép kín hơn 70% diện tích và phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng 1.040 ha rừng trước ngày 20/10/2016, đồng thời làm tốt công tác chăm sóc hơn 4.500 ha rừng trồng và khoanh nuôi bảo vệ hơn 25.000 ha rừng các loại. (Báo Nghệ An 4/10) đầu trang(
Thực hiện công tác phát triển rừng, những tháng gần đây, thời tiết có mưa, các chủ rừng nhà nước đã triển khai việc phát dọn thực bì và tiến hành trồng rừng theo kế hoạch của Dự án Bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2016 - 2020 đã được UBND tỉnh Khánh Hòa phê duyệt.
Theo đó, có hơn 40ha rừng phòng hộ, hơn 250ha rừng sản xuất được trồng mới; hơn 390ha rừng sau khai thác đã được trồng lại. Về công tác chăm sóc rừng trồng, các đơn vị đã tiến hành chăm sóc hơn 2.517ha, trong đó có hơn 722ha rừng phòng hộ và hơn 1.795ha rừng sản xuất.
Tuy nhiên, do việc phân bổ kế hoạch năm 2016 của Dự án Bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2016 - 2020 chậm nên một số hạng mục như: chăm sóc rừng, khoán bảo vệ rừng, bảo dưỡng đường ranh cản lửa… chưa được triển khai đúng tiến độ. (Báo Khánh Hòa 3/10) đầu trang(
Hiện nay, huyện Sơn Dương đã hoàn thành và vượt kế hoạch trồng rừng năm 2016, các xã, thị trấn, Công ty Lâm nghiệp trên địa bàn đang tập trung chăm sóc, đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt.
Kết thúc lịch trồng rừng năm 2016, toàn huyện Sơn Dương đã trồng được trên 1.900 ha rừng sản xuất tập trung và trên 25 ha rừng phân tán. Đạt được kết quả đó là do ngay từ khi bước vào vụ trồng rừng huyện Sơn Dương đã phối hợp với các xã, thị trấn, Công ty Lâm nghiệp, Hạt Kiểm lâm huyện tổ chức tuyên truyền tới người dân về lợi ích của rừng, đẩy mạnh công tác trồng rừng theo hướng hàng hoá, trồng rừng thâm canh.
Bên cạnh việc quản lý bảo vệ, khai thác các sản phẩm của rừng trồng, hiện nay nhân dân trên địa bàn và các công ty lâm nghiệp đang chú trọng đến việc chăm sóc bảo vệ rừng để các diện tích rừng phát triển tốt, đảm bảo chất lượng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Tuyên Quang 3/10) đầu trang(
Để khắc phục tình trạng biến đổi khí hậu, huyện Tiền Hải đã tăng cường công tác trồng rừng phòng hộ tại các xã ven biển, từng bước góp phần làm giảm thiệt hại do bão, lụt, hạn hán, chống xói mòn đất gây ra.
Những năm gần đây, Tiền Hải gặp không ít khó khăn do biến đổi khí hậu gây ra như tình trạng bão, lụt, đặc biệt là nước biển dâng dẫn đến tình trạng xâm nhập mặn ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân một số xã ven biển.
Vì vậy, Tiền Hải đã triển khai nhiều giải pháp chống biến đổi khí hậu, đặc biệt là dự án trồng rừng ven biển. Trong đó, huyện đã làm tốt công tác tuyên truyền đến nhân dân tham gia tích cực trồng rừng, phủ xanh rừng ngập mặn và rừng ven các tuyến đê biển.
Tính đến thời điểm này, diện tích rừng phòng hộ ven biển của Tiền Hải là 3.700ha, trung bình hàng năm nhân dân các địa phương ven biển trồng mới được từ 30 - 40ha. Ngoài ra, huyện còn hỗ trợ về sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu cho nhân dân.
Đồng thời xây dựng các tổ quản lý bảo vệ rừng ngập mặn với sự tham gia của công an xã và những người dân thường xuyên đi rừng để có thể nắm bắt thông tin quản lý chặt chẽ hơn tình trạng xâm hại, tổn thương tới rừng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Thái Bình 3/10) đầu trang(
Hai hàng cây với khoảng 100 cây xanh được trồng ngay dưới gầm đường sắt Cát Linh - Hà Đông, đoạn thuộc phố Yên Lãng, gây bất ngờ cho nhiều người. Thế nhưng, giải thích về việc này, đại diện công ty cây xanh Hà Nội lại cho hay, đó là kinh nghiệm học từ nước ngoài.
Những ngày này, người dân sinh sống trên phố Yên Lãng (Đống Đa, Hà Nội) không khỏi ngạc nhiên trước sự việc hàng cây xanh mọc dưới gầm tuyến đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông. Theo ghi nhận của PV, trên tuyến phố Yên Lãng, đoạn dài khoảng 300m, ngay dưới dải phân cách gầm đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông, hai hàng cây cao lớn với khoảng 100 cây xanh đã được trồng.
Điều đáng nói, nhiều cây xanh mới trồng, thậm chí đã chạm nóc bê tông của tuyến đường sắt, số còn lại cũng “chới với” chạm đến trần đường tàu. Việc trồng cây kỳ lạ của Hà Nội khiến nhiều người dân sống ven phố cũng như những người qua lại không khỏi ngạc nhiên đặt câu hỏi vì sao Hà Nội trồng cây dưới gầm đường sắt trên cao?
Chia sẻ với PV báo ĐS&PL, cô Nguyễn Thị Hương - một người dân sống trên phố Yên Lãng cho hay, hàng cây trên mới được trồng cách đây vài ngày và gây cho người dân nhiều bỡ ngỡ. Cũng theo cô Hương, cách trồng cây kỳ lạ này khiến người dân cả phố phải thắc mắc, phì cười: “Chúng tôi phải phì cười vì không biết họ có kiến thức trồng cây không? Trồng như thế thì cây phát triển thế nào?”.
Anh Phan Tuyến, một người qua đường bày tỏ: “Trồng cây như thế là bất hợp lý? Liệu khi cây lớn lên có ảnh hưởng đến đường tàu, ảnh hưởng đến hoạt động của tàu?”. Nhiều người khác thì đặt nghi vấn “không biết có phải Hà Nội trồng cây để cho đủ chỉ tiêu?”.
Đem thắc mắc về việc trồng cây có một không hai trên liên hệ với công ty TNHH MTV Công viên – cây xanh Hà Nội, chúng tôi lại nhận được lời khẳng định của ông Vũ Kiên Trung - Tổng Giám đốc rằng: Việc trồng cây dưới gầm đường tàu là học từ nước ngoài.
Theo ông Vũ Kiên Trung, ở các nước như Nhật, Trung Quốc, Singapore và những thủ đô phát triển trên thế giới, câu chuyện trồng cây ở gầm đường sắt trên cao, gầm cầu vượt là câu chuyện bình thường. “Những nơi ấy, bằng kỹ thuật hiện đại, họ phủ xanh hết cả đường sắt, cầu vượt... tạo ra hàng cây rất đẹp. Ở các nước tiên tiến họ làm được thì mình cũng làm được” – vị lãnh đạo công ty TNHH MTV công viên - cây xanh Hà Nội khẳng định với PV báo ĐS&PL.
Cũng theo ông Trung, đây là chủ trương của TP, đơn vị chỉ thực hiện và công ty có xe chuyên dụng, để khống chế chiều cao liên tục. “Bây giờ mình cắt tỉa liên tục chứ không như trước nên không lo ngại”, Tổng Giám đốc công ty nói. Cũng theo đơn vị này, loại cây trồng ở tuyến trên là cây chiêu liêu. Vị này cho biết, cây chiêu liêu như bàng, lá tán nhỏ đẹp và việc trồng cây như thế đã được nghiên cứu.
Trao đổi cùng PV báo ĐS&PL, chuyên gia sinh học nông nghiệp Nguyễn Lân Hùng cho biết, cây chiêu liêu còn được gọi là cây bàng Đài Loan. Đây là loại cây tán đẹp, lá nhỏ và có thể hoàn toàn khống chế được chiều cao. Cũng theo chuyên gia Nguyễn Lân Hùng, loại cây này thường được trồng nhiều ở phía Nam và phù hợp với khí hậu Hà Nội. Cây này mới đây được đưa vào trồng ở các đô thị.
Theo đó, chiêu liêu là cây gỗ trung bình, rụng lá mùa khô, cao 10-20cm, đường kính 40-80cm. Tán cây phân tầng, nhiều cành lá như cây bàng. Vỏ thân màu xám nhạt, nứt sâu 4-8mm tạo thành các hình chữ nhật không đều; thịt vỏ dày 1,5-1,8cm, có nhiều lớp đỏ và nâu xen kẽ; khi mới chặt có ít dịch vỏ màu đỏ nhạt, vị chát. Cũng cần nói thêm, cây chiêu liêu có cụm hoa hình chùm bông, nhiều hoa, ở các nách lá gần đầu cành, dài 5-10cm, trục cụm hoa có lông.
Đánh giá về cách trồng cây ngay dưới gầm đường sắt trên cao, chuyên gia – TS.Nguyễn Tiến Hiệp (trung tâm Bảo tồn Thực vật Việt Nam) cho biết: “Thông thường ở gầm cầu vượt hay đường sắt, thì họ trồng cây ưa bóng như hoa, cỏ chứ không ai trồng những cây gỗ lớn”.
Ông Hiệp cũng giải thích thêm, loại cây nói trên là cây bàng Đài Loan và tên gọi chiêu liêu là tên gọi địa phương. “Loại cây này tán thưa, cây này là cây nhập vào”, chuyên gia Hiệp nói. Về việc cây chiêu liêu hay bàng Đài Loan được trồng gầm đường sắt, ông Hiệp nói: “Có thể họ có nghiên cứu khác nên chưa thể đưa ra bình luận”.
Trao đổi về vấn đề này, Phó Giám đốc sở Giao thông vận tải (GTVT) Hà Nội Ngô Mạnh Tuấn cho biết: “Sở GTVT Hà Nội sẽ kiểm tra xem việc trồng cây như thế có ảnh hưởng đến công trình và việc hoạt động của đường tàu sau này không? Tuy nhiên, nếu các cây nói trên mà mọc cao thì đơn vị trồng cây phải cắt tỉa để tránh ảnh hưởng”.
Theo tìm hiểu của PV, cây chiêu liêu có tên gọi khác là cây Kha Tử, cây chiêu liêu xanh, cây tiếu, cây sang hay cây Bana. Đây là một loại cây thây gỗ trung bình. Cây có tán rộng có thể trồng trong khuôn viên ngoại thất hay trong các khu đô thị, vỉa hè đường phố. Tán cây phân nhiều tầng giống cây bàng hay cây hoa sữa. Cây thường mọc hoang và được trồng nhiều ở các tỉnh miền Nam nước ta.
Cũng trao đổi với PV, GS. TS. Lê Đình Khả, hội Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Việt Nam cho biết: Trong trồng cây đô thị, chúng ta phải có tầm nhìn 7-10 năm. Việc Hà Nội trồng cây dưới gầm cầu đường sắt trên cao là rất kỳ lạ, bởi, theo tôi cây chiêu liêu có thể đạt độ cao đến cả chục mét. Tuy vậy, về chiều cao có thể khống chế.
Theo ông Khả, một bất cập khác từ việc trồng cây chiêu liêu là cây này thuộc họ bàng. Tuy có tán rất đẹp nhưng mùa đông sẽ rụng lá và làm mất mỹ quan đô thị. Còn trong mùa mưa bão cây dễ đổ làm cản trở giao thông. Vị này cũng đặt dấu hỏi về mục đích trồng cây này. Cây chiêu liêu tuy có tán đẹp nhưng chỉ phù hợp với trồng ở công viên chứ không phải ở lề đường. “Có rất nhiều chỗ để trồng cây nên Hà Nội không thể cứ chỗ nào cũng trồng được”, ông Khả nói. (Đời Sống Và Pháp Luật 4/10) đầu trang(
Với lợi thế đất rừng chiếm tới hơn 90% diện tích tự nhiên, điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp cho phát triển trồng rừng và các loài dược liệu quý, nhiều năm nay người dân Ba Chẽ đã nắm bắt ưu thế đó để làm giàu, đi lên từ rừng.
Anh Nịnh Văn Trắng, xã Ðạp Thanh là một trong những hộ tiêu biểu làm kinh tế giỏi từ rừng. Với diện tích hơn 30ha rừng như hiện nay, bình quân mỗi năm anh Trắng có thể thu hoạch từ 3-4ha với thu nhập vài trăm triệu đồng/năm.
Ngoài trồng rừng, hiện nay “cơ ngơi” của gia đình anh Trắng còn có 4ha trà hoa vàng, hiện 1ha đã cho thu hoạch với giá bán rất cao từ 500.000 - 600.000 đồng/kg hoa tươi và 14-15 triệu đồng/kg hoa khô, trừ chi phí gia đình anh cũng thu được khoảng 300 triệu đồng/ha.
Nhiều gia đình đã thoát nghèo, đi lên từ rừng, có cuộc sống ổn định như hộ gia đình các ông: Ðặng Văn Minh, thôn Bằng Lau, xã Nam Sơn; Nguyễn Văn Bình, thôn Sơn Hải, xã Nam Sơn; Lý Văn Bảng, thôn Khe Hố, xã Nam Sơn; Triệu Xuân Hải, thôn Làng Cổng, xã Ðồn Ðạc.
Nếu trước đây, người dân hoàn toàn trông chờ vào các dự án trồng rừng của Nhà nước, thì nay nhiều hộ dân đã tự bỏ vốn hoặc vay ngân hàng để trồng rừng. Hiện Ba Chẽ có khoảng 90% dân số tham gia phát triển lâm nghiệp với hàng nghìn ha rừng trồng. Với mức thu nhập từ 40-45 triệu đồng/ha keo, trồng rừng đã và đang góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập đáng kể cho người dân địa phương.
Cũng vì lẽ đó, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, lâm nghiệp đóng vai trò quan trọng và cũng là yếu tố quyết định để huyện từng bước giảm nghèo bền vững. Huyện đã có nhiều chính sách khuyến khích, bảo vệ và phát triển kinh tế rừng như: Chú trọng giao đất, giao rừng; chính sách vay vốn phát triển vùng nguyên liệu, chính sách khuyến khích phát triển sản xuất hàng hoá nông nghiệp chủ lực huyện Ba Chẽ, giai đoạn 2015-2016...
Các dự án trồng rừng phòng hộ lồng ghép với các Chương trình 135, chính sách xoá đói giảm nghèo, vay vốn ưu đãi để trồng rừng từ nguồn vốn Trung ương, ngân sách địa phương, vốn tín dụng, đã tạo điều kiện cho người dân phát triển kinh tế rừng, gắn bó với rừng.
Ðặc biệt, Ba Chẽ đã xây dựng quy hoạch các vùng trồng rừng nguyên liệu tập trung với hơn 29.000ha và khoảng 3.000ha cây dược liệu quý. 5 năm qua (2010-2015) huyện đã tập trung cho phát triển lâm nghiệp, trồng mới gần 16.000ha rừng. Từ đầu năm đến nay, huyện đã trồng được hơn 3.000ha rừng.
Với vùng dược liệu, Ba Chẽ quyết tâm đến năm 2020 phát triển được 3.000ha trồng các loại dược liệu quý có giá trị kinh tế cao như trà hoa vàng, nấm linh chi, ba kích... Hiện Ba Chẽ đã phát triển được khoảng 300ha diện tích dược liệu và có gần 400 loại dược liệu tự nhiên ở dưới tán rừng.
Tiềm năng lợi thế ấy của Ba Chẽ đã thu hút nhiều doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư sản xuất kinh doanh phát triển kinh tế rừng; trong đó tập trung cả về việc trồng rừng và xây dựng các nhà máy chế biến lâm sản, dược liệu trên địa bàn huyện. Ðiển hình, Công ty CP Kinh doanh lâm sản Ðạp Thanh phối hợp với Công ty Dược khoa Pharma thực hiện dự án phát triển cây trà hoa vàng để tạo ra các sản phẩm trà túi lọc, trà ép viên và một số sản phẩm khác từ loài trà này.
Công ty Chế biến lâm sản Việt Nam đầu tư nhà máy chế biến gỗ công suất 10.000 tấn/tháng, các sản phẩm được chế biến từ gỗ keo gồm ván bóc, ván ghép, viên nén đốt (viên năng lượng)...
Huyện đã ký biên bản ghi nhớ với các doanh nghiệp: Công ty CP Dược Trung ương Mediplantex hợp tác trong lĩnh vực trồng, chế biến, tiêu thụ sản phẩm và đầu tư vùng trồng dược liệu với quy mô 200ha theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới; Công ty CP Dược - Vật tư y tế Quảng Ninh về phát triển vùng trồng dược liệu và tiêu thụ sản phẩm dược liệu trên địa bàn.
Có thể thấy, Ba Chẽ đã phát huy hiệu quả tiềm năng lợi thế từ rừng, tạo ra sức sống mới cho nhiều vùng đất trống, đồi núi trọc, góp phần xoá đói, giảm nghèo, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân ở vùng sâu, vùng xa. Ðặc biệt đã cải thiện đáng kể về môi trường sinh thái và tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. (Báo Quảng Ninh 3/10) đầu trang(
Xã Trung Tâm, huyện Lục Yên là xã vùng 3, có 1.003 hộ, 4.327 nhân khẩu cư trú tại 10 thôn và chủ yếu là đồng bào dân tộc Dao, Nùng, Tày...
Ông Đặng Văn Thông, dân tộc Dao là hộ có cuộc sống khá giả ở thôn Ngòi Thìu và là một trong những hộ đầu tiên chọn hướng phát triển kinh tế bằng trồng rừng. Sau nhiều năm vất vả, vượt khó, nay gia đình ông đã có trên 12 ha rừng trồng, chủ yếu là keo và bồ đề. Hiện tại, keo, bồ đề đã được khai thác và mỗi năm ông Thông thu nhập hàng trăm triệu đồng từ rừng trồng.
Ông Đặng Văn Thông phấn khởi cho biết: “Gia đình tôi phát triển kinh tế đồi rừng từ năm 1995. Sau khi rừng trồng được khai thác, đời sống của gia đình tôi đã được nâng lên rõ rệt. Tôi thấy trồng rừng không cần nhiều vốn, nhưng cho lợi nhuận cao. Thời gian tới, tôi trồng thêm cây trẩu, vì trẩu cũng là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao và phù hợp với thổ nhưỡng tại địa phương”.
Thấy ông Thông trồng rừng có được cuộc sống đổi thay, ông Lý Văn Thắng cùng thôn Ngòi Thìu cũng làm theo và đã trồng được 6 ha rừng, trong đó có hơn 3.000 cây quế đang trong giai đoạn phát triển. Với diện tích rừng đã có, mỗi năm gia đình tỉa thưa để bán cũng thu về khoảng 50 triệu đồng. Đầu năm 2016, ông Thắng đã làm được ngôi nhà sàn khang trang bằng khung bê tông trị giá trên 400 triệu đồng.
Là địa bàn có nhiều đồi núi, phù hợp với việc phát triển rừng trồng, xã Trung Tâm đã xác định phát triển kinh tế đồi rừng là thế mạnh trong xóa đói giảm nghèo. Vì vậy, cùng với việc bảo vệ rừng tự nhiên, xã đã tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực trồng rừng để có nguồn thu nhập, nâng cao đời sống. Để việc trồng rừng đạt hiệu quả cao, xã đã phối hợp với cơ quan chuyên môn tổ chức tập huấn chuyển giao khoa học, kỹ thuật về trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng, tạo điều kiện cho người dân vay vốn đầu tư phát triển sản xuất...
Nhờ đó, những năm gần đây, phong trào phát triển kinh tế đồi rừng đã được người dân thực hiện một cách tích cực. Sau nhiều năm thực hiện phát triển kinh tế rừng, nhiều gia đình đã có thu nhập ổn định, từng bước vươn lên làm giàu. Địa phương đã tạo điều kiện cho những hộ có điều kiện mở xưởng chế biến gỗ, tạo việc làm thường xuyên cho nhiều lao động.
Hiện nay, xã Trung Tâm đã có 6 cơ sở chế biến gỗ rừng trồng, góp phần tăng thu ngân sách cho địa phương. Điển hình như cơ sở chế biến gỗ rừng trồng của bà Nguyễn Thị Hồng ở thôn Sài Dưới, có hai máy bóc gỗ đã tạo việc làm thường xuyên cho 30 người với mức thu nhập bình quân từ 4 đến 4,5 triệu đồng/người/tháng.
Bà Nguyễn Thị Hồng cho hay: “Nhằm tiêu thụ những sản phẩm rừng mà nhân dân  làm ra, tôi đã mạnh dạn vay vốn đầu tư mua máy móc mở xưởng bóc gỗ để vừa có lợi ích kinh tế cho gia đình vừa giúp đỡ người dân tiêu thụ gỗ. Tôi đang tiến hành mở rộng xưởng và mua thêm máy móc chất lượng để nâng công suất chế biến”.
Thực tế cho thấy, việc phát triển kinh tế đồi rừng không chỉ tạo việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần ổn định đời sống cho người dân địa phương mà còn mang lại nhiều lợi ích thiết thực về môi trường... Trong 6 tháng đầu năm 2016, nhân dân đã khai thác trên 1.000 m3 gỗ.
Ông Lý Văn Quy - Chủ tịch UBND xã Trung Tâm cho biết: “Xã sẽ tiếp tục quan tâm tạo điều kiện giúp dân vay vốn trồng rừng, mở các lớp tập huấn chuyển giao  khoa học, kỹ thuật trồng rừng, chủ động cây giống, đặc biệt là các loại giống mới, năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao như: quế, keo lai, bồ đề... để tiếp tục nâng cao hiệu quả kinh tế rừng, giúp nhân dân tăng thu nhập, cải thiện đời sống”. (Báo Yên Bái 4/10) đầu trang(
Khác với nhiều HTX nông nghiệp trong tỉnh, HTX Dịch vụ nông nghiệp Hòa Định Tây (HTX Hòa Định Tây) ngoài sản xuất lúa 2 vụ còn có thu nhập từ trồng rừng và các dịch vụ hỗ trợ hoạt động lâm nghiệp. Từ đây, HTX giúp thành viên có thêm thu nhập, tạo doanh thu cao cho nhiều hộ có rừng.
Năm 2015, HTX Hòa Định Tây được sáp nhập từ 2 HTX là Hòa Định Tây 1 và Hòa Định Tây 2, nâng phạm vi hoạt động lên toàn xã. Ngày 30/9/2015, HTX chuyển đổi hoạt động theo Luật HTX 2012. Theo HTX Hòa Định Tây, đơn vị quản lý 1.106 thành viên ở 3 thôn là Cẩm Thạch, Phú Sen Đông và Phú Sen Tây.
Người dân ở đây chủ yếu sống bằng sản xuất nông, lâm nghiệp, với diện tích lúa 2 vụ gần 497ha và 2.600ha đất lâm nghiệp. Ông Nguyễn Hữu Thành, Giám đốc HTX Hòa Định Tây, cho biết: Hiện hơn 2.500ha đất rừng đã được trồng keo lai và bạch đàn, trong đó cây keo lai hơn 800ha, bạch đàn 1.700ha.
Hộ sở hữu diện tích trồng rừng ít nhất 1,5ha và nhiều nhất là 20ha. Riêng HTX sở hữu 7ha rừng do khai hoang từ những năm 1979. Trồng rừng cần thời gian (từ 3-6 năm) và tốn công đầu tư chăm sóc nhưng cho thu nhập cao hơn gấp 10 lần trồng lúa.
Hiện HTX Hòa Định Tây cung cấp các dịch vụ phục vụ hoạt động lâm nghiệp gồm ươm giống cây, khai thác và thu mua sản phẩm. Nhờ làm tốt các khâu này nên đơn vị đã thu hút được 531 thành viên có rừng ký hợp đồng bán và tiêu thụ sản phẩm. Theo ông Nguyễn Văn Sương, Trưởng Ban Kiểm soát HTX, dịch vụ ươm cây giống bán cho bà con đã duy trì ở HTX được 5 năm nay.
HTX có diện tích vườn ươm 1,5 sào; mỗi năm, xuất bán từ 500.000-700.000 cây giống các loại. Ngoài ra, HTX còn có đội khai thác rừng gồm 20 người làm nhiệm vụ hỗ trợ bà con cắt tỉa thưa, cưa gỗ đưa về nhà… Hàng năm, HTX khai thác trên diện tích rừng trồng 151ha. Đối với khâu tiêu thụ sản phẩm cho bà con, từ đầu năm 2016, HTX ký hợp đồng với Công ty TNHH Á Châu (TX Sông Cầu) thu mua toàn bộ lượng gỗ của thành viên HTX với giá hợp lý.
Bà Nguyễn Thị Lanh ở thôn Phú Sen Đông, cho hay: Gia đình tôi có 3ha rừng bạch đàn. Nhiều năm nay, tôi vẫn mua giống của HTX về trồng rừng. HTX ươm giống từ hạt nên khi cây lớn, gặp gió bão ít ngã đổ. Những năm trước, sau thu hoạch rừng, gia đình tôi phải tự liên hệ thương lái bán nên nhiều khi bị ép giá. Năm nay, HTX đã liên hệ được với doanh nghiệp để đảm bảo đầu ra nên tôi rất yên tâm.
Ngoài hộ bà Lanh, nhiều hộ thành viên HTX khác cũng có thu nhập cao từ hoạt động lâm nghiệp. Điển hình như hộ ông Mai Tố Hoài ở thôn Cẩm Thạch. Ông Hoài cho biết: Gia đình tôi có 1 sào vườn ươm, cùng 20ha rừng trồng. Hàng năm, gia đình tôi nhận làm dịch vụ ươm cây giống cho HTX để cung cấp cây giống cho bà con trong xã và mở rộng tiêu thụ ở các xã lân cận như Hòa Hội, Hòa Quang Nam… Cây rừng thì sau 5 năm thu hoạch 1 lần, nên trung bình mỗi năm, gia đình tôi thu nhập từ 300-500 triệu đồng.
Theo ông Phạm Trọng Yêm, Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh, trồng rừng và làm các dịch vụ từ rừng đang mang lại thu nhập cao cho các hộ thành viên và HTX. HTX Hòa Định Tây là một trong 19 HTX lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh có hoạt động dịch vụ lâm nghiệp hiệu quả. Mô hình ở HTX Hòa Định Tây cần nhân rộng ra các địa phương khác. (Báo Phú Yên 4/10) đầu trang(
Nhà máy chế biến gỗ Nghệ An, nằm trên trục đường trung chuyển gỗ nguyên liệu của tuyến QL 48, QL 7, được kỳ vọng tạo ra chuỗi liên kết phát triển bền vững giữa doanh nghiệp và người trồng rừng.
Đầu tháng 9/2016, Cty CP Lâm nghiệp Tháng Năm tổ chức khánh thành Nhà máy chế biến gỗ Nghệ An. Nhà máy đặt tại KCN Nghĩa Đàn (huyện Nghĩa Đàn), nằm trên trục đường trung chuyển gỗ nguyên liệu của tuyến QL 48, QL 7, được kỳ vọng tạo ra chuỗi liên kết phát triển bền vững giữa doanh nghiệp và người trồng rừng.
Dự án Nhà máy chế biến gỗ Nghệ An thuộc Cty CP Lâm nghiệp Tháng Năm khởi công xây dựng từ tháng 2/2013, có tổng mức đầu tư gần 5.000 tỷ đồng (gần 250 triệu USD).
Giai đoạn 1 của dự án có mức đầu tư 100 triệu USD, xây dựng 2 dây chuyền chế biến gỗ thanh với công suất 12.000 m3/năm và chế biến ván sợi MDF với công suất 130.000 m3/năm. Giai đoạn 2 của dự án có tổng mức đầu tư 150 triệu USD, nâng công suất của nhà máy gỗ thanh lên 40.000 m3/năm và nhà máy ván sợi MDF lên 400.000 m3/năm.
Đây là nhà máy chế biến gỗ ván sợi sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, có quy mô lớn của Việt Nam. Nhà máy đi vào hoạt động hứa hẹn sẽ đóng góp mạnh mẽ vào sự phát triển bền vững và chuyển dịch cơ cấu kinh tế miền Tây Nghệ An nói riêng cũng như vùng kinh tế trọng điểm Tây Bắc nói chung.
Nhà đầu tư đã lựa chọn những nhà cung cấp hàng đầu thế giới từ Đức với công nghệ tiên tiến, hiện đại bậc nhất châu Âu. Các sản phẩm của nhà máy đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của Mỹ, EU và Nhật Bản, phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, đem lại nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia.
Với quy trình khép kín, tự động hóa hoàn toàn từ khâu nguyên liệu đầu vào tới sản phẩm hoàn thiện đầu ra, Nhà máy chế biến gỗ Nghệ An có ưu thế công nghệ vượt trội so với các doanh nghiệp tương tự trên thị trường Việt Nam.
Bên cạnh đó, nhà máy còn áp dụng và tuân thủ tiêu chuẩn môi trường chặt chẽ nhất của châu Âu, “xanh” và thân thiện với môi trường khi áp dụng mô hình thiết kế liên hoàn 2 nhà máy nhằm tối ưu hóa việc sử dụng nguyên liệu đầu vào.
Với lợi thế của mảnh đất Nghệ An nhiều nắng gió, các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời sẽ được sử dụng tối đa để vận hành nhà máy.
Bên cạnh việc xây dựng nhà máy chế biến, hiện Cty CP Lâm nghiệp Tháng Năm đã hoàn tất việc ký hợp đồng với các địa phương, các đối tác cung cấp trên vùng quy hoạch nguyên liệu để thực hiện đồng bộ công tác trồng, bảo vệ và khai thác rừng bền vững.
Cty đang liên doanh liên kết với các nông lâm trường, các hợp tác xã và các hộ cá thể trồng rừng trong địa bàn quy hoạch, chính sách khuyến khích và hỗ trợ trồng rừng do công ty ban hành vừa qua đã được các đơn vị nói trên và bà con trong vùng nguyên liệu đồng tình, phấn khởi đón nhận.
Theo ông Nguyễn Công Vĩnh, Tổng Giám đốc Cty CP Lâm nghiệp Tháng Năm, Cty đang thực hiện theo mục tiêu không chỉ đảm bảo nguồn cung nguyên liệu cho nhà máy, mà còn đảm bảo sự phát triển bền vững và chuẩn hóa nguồn giống lâm nghiệp cho toàn bộ vùng nguyên liệu gỗ miền tây Nghệ An.
Được biết, để thực hiện dự án này, UBND tỉnh Nghệ An đã quy hoạch vùng nguyên liệu 45.000ha cho Cty.
Trong đó có 11.000ha đất rừng của Cty, số còn lại sẽ được liên kết với các hộ trồng rừng trong tỉnh, tập trung ở 12 huyện. Mục tiêu của nhà máy là đủ nguyên liệu để hoạt động hết công suất thiết kế.
Tuy nhiên, mục tiêu lớn hơn là hướng tới một việc phát triển rừng nguyên liệu bền vững, gắn liền với sự phát triển và nâng cao đời sống người trồng rừng.
Ông Nguyễn Công Vĩnh cho biết thêm, qua khảo sát cho thấy, năng suất rừng nguyên liệu ở Nghệ An đang ở mức thấp, hiệu quả kinh tế thấp, rừng phân tán, đời sống người trồng rừng còn nhiều khó khăn.
Mục tiêu của Cty là cải thiện sinh kế người dân thông qua trồng rừng nguyên liệu, lấy khâu giống làm khâu đột phá, coi trọng liên doanh liên kết với người dân. (Nông Nghiệp Việt Nam 3/10) đầu trang(
Ngày 3-10, Văn phòng UBND tỉnh Đắk Nông cho biết: Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Bốn vừa có văn bản đề nghị Thường trực Tỉnh ủy yêu cầu ông Nguyễn Thanh Sơn (nguyên Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Đắk Nông, vừa nghỉ hưu vào tháng 2-2016) báo cáo giải trình việc việc sử dụng đất rừng của gia đình tại lâm phần xã Trường Xuân (huyện Đắk Song) mà báo chí đã phản ánh trong thời gian qua.
Như báo SGGP Online đã phản ánh, vào năm 2014, UBND huyện Đắk Song làm tờ trình đề nghị UBND tỉnh Đắk Nông thu hồi hơn 13,5ha đất lâm nghiệp tại tiểu khu 1665 (thuộc lâm phần Công ty TNHH lâm nghiệp Trường Xuân) về cho huyện quản lý để huyện cấp sổ đỏ cho vợ chồng ông Nguyễn Thanh Sơn và bà Từ Thị Khanh (Chánh Văn phòng Sở LĐ-TBXH tỉnh Đắk Lắk).
Dù đây là diện tích đất lâm nghiệp thuộc quy hoạch 3 loại rừng của tỉnh Đắk Nông vào năm 2013, nhưng không hiểu sao cả UBND xã Trường Xuân, Công ty lâm nghiệp Trường Xuân, Sở NN-PTNT và Sở TN-MT tỉnh Đắk Nông đều đồng ý việc này. Nhưng đến nay, UBND tỉnh Đắk Nông vẫn chưa đồng ý việc thu hồi diện tích này để giao cho UBND huyện Đắk Song quản lý và cấp sổ đỏ cho vợ chồng ông Nguyễn Thanh Sơn.
Trả lời báo chí về lý do lúc bấy giờ chưa đồng ý việc này, ông Nguyễn Đức Luyện (nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông, hiện làm Phó Trưởng ban Thường trực  Ban chỉ đạo các dự án và xúc tiến đầu tư trọng điểm tỉnh Đắk Nông), cho biết: “Lúc đó tôi có nhận được hồ sơ đề nghị thu hồi đất của Công ty lâm nghiệp Trường Xuân, giao huyện Đắk Song cấp sổ đỏ cho ông Sơn. Nhưng tôi không ký, vì nguồn gốc là đất rừng, cái này tôi nắm rất rõ... Cho nên ông ấy có vẻ không ưng tôi lắm, cứ ì xèo suốt, gây sức ép...”.
Về tờ trình của UBND huyện Đắk Song, Công ty lâm nghiệp Trường Xuân, Sở NN-PTNT và Sở TN-MT tỉnh Đắk Nông, ông Luyện cho rằng: “Tôi nghĩ họ làm chưa hết trách nhiệm, chưa đúng quy định, chứ nếu đúng thì tôi đã phải ký rồi”.
Vậy một cán bộ Tỉnh ủy canh tác trên đất rừng là đúng hay không đúng? Ông Luyện nói: “Không đúng. Không đúng tôi mới không ký. Tôi cũng báo cáo với Chủ tịch UBND tỉnh đàng hoàng, cái này là đất lâm nghiệp, làm như thế là chuyển đất công thành đất tư nhân...”. (Sài Gòn Giải Phóng 3/10) đầu trang(
Xuất khẩu đồ gỗ và các sản phẩm từ gỗ (bao gồm đồ gỗ nội thất) của Việt Nam sang thị trường Mỹ liên tục tăng trưởng mạnh mẽ trong vòng hơn một thập kỷ qua.
Đồ gỗ nội thất hiện tại đã vươn lên vị trí thứ ba trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực Việt Nam sang thị trường Mỹ, với kim ngạch trên dưới 3 tỉ đô la Mỹ doanh thu hàng năm (chỉ sau dệt may và thủy sản).
Xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ nội thất đặc biệt tăng trưởng mạnh mẽ kể từ sau khi Hiệp định Thương mại song phương Việt - Mỹ có hiệu lực, giúp cắt giảm thuế nhập khẩu từ khoảng 50% xuống thấp đáng kể, thậm chí có dòng thuế được đưa về 0%. Bên cạnh đó, một yếu tố nữa được cho là góp phần quan trọng làm tăng thị phần đồ gỗ nội thất “made in Vietnam” tại Mỹ là việc mặt hàng này nhập từ Trung Quốc bị Mỹ điều tra và áp thuế chống bán phá giá từ năm 2004.
Thị phần đồ gỗ nội thất Việt Nam tăng từ 1,7% trong năm 2003 lên 19,1% trong năm 2012. Về mặt giá trị, nhập khẩu từ Việt Nam từ con số khiêm tốn 364 triệu đô la Mỹ năm 2003 đã lên đến hơn 3 tỉ đô la Mỹ vào năm 2015; trong khi Trung Quốc sụt giảm đến 79% giá trị xuất khẩu mặt hàng này vào Mỹ trong cùng thời kỳ.
Một bài viết trên Furniture Today từng nói đùa rằng có lẽ Việt Nam đã gửi thiệp mừng Giáng sinh cho các doanh nghiệp nguyên đơn trong vụ kiện điều tra chống bán phá giá đồ gỗ nội thất từ Trung Quốc. Thực tế là Trung Quốc bị áp thuế chống bán phá giá mặt hàng này từ năm 2004 với mức thuế suất toàn quốc là 198% và tăng lên 216% trong kỳ rà soát một năm sau đó.
Nói gì thì nói, không thể phủ nhận là việc áp thuế chống bán phá giá đối với Trung Quốc có tác động không nhỏ trong tăng trưởng xuất khẩu mặt hàng này từ Việt Nam trong giai đoạn này.
Cùng với niềm vui từ việc tăng trưởng xuất khẩu, các doanh nghiệp Việt Nam cũng luôn phải lo lắng dõi theo nhiều tin đồn về một vụ kiện chống lại đồ gỗ nội thất của Việt Nam, như Mỹ đã làm với Trung Quốc. Mặc dù có nhiều ý kiến trái chiều về khả năng Mỹ tiến hành một vụ kiện tương tự đối với đồ gỗ nội thất Việt Nam, với một thị trường có truyền thống tích cực sử dụng phòng vệ thương mại như Mỹ, mọi khả năng cho đến lúc này đều được bỏ ngỏ.
Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam, trong lúc hy vọng cho điều tốt đẹp nhất, cần chuẩn bị cho khả năng xấu nhất có thể xảy ra. Tích cực và chủ động nghiên cứu luật pháp và thực tiễn phòng vệ thương mại của Mỹ để sớm có những bước chuẩn bị cho khả năng xảy ra một vụ kiện là điều thiết thực và hoàn toàn trong khả năng của doanh nghiệp Việt Nam lúc này.
Điều tra chống bán phá giá hay chống trợ cấp của Mỹ có thể nói là phức tạp bậc nhất về mặt pháp lý và kỹ thuật, vượt xa thực tiễn chúng ta thường thấy tại các quốc gia trong vùng hay, thậm chí là Úc và Liên hiệp châu Âu. Trong giới hạn của bài viết này, chúng tôi chỉ có thể nêu ra hai vấn đề bao quát và cũng mang tầm quan trọng bậc nhất trong việc chuẩn bị của ngành công nghiệp Việt Nam.
Do hiện tại Mỹ vẫn xem Việt Nam (cũng như Trung Quốc) là nền kinh tế phi thị trường cho mục đích điều tra phòng vệ thương mại, giá bán và chi phí của các doanh nghiệp Việt Nam tại Việt Nam sẽ không được xem xét khi tính toán biên độ bán phá giá. Thay vào đó, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) lựa chọn một nước thứ ba để thu thập thông tin về giá cả ở đó để tính toán giá thành sản xuất cho doanh nghiệp Việt Nam.
Chẳng hạn, nếu lấy Indonesia làm quốc gia thay thế, DOC sẽ lấy giá nguyên liệu gỗ, giá nhân công, giá điện nước tại Indonesia để tính giá thành sản xuất cho doanh nghiệp Việt Nam, căn cứ trên số liệu định mức tiêu thụ nguyên liệu để sản xuất một đơn vị thành phẩm do doanh nghiệp Việt Nam báo cáo. Do đó, mục tiêu của chúng ta là làm sao để DOC sử dụng giá trị thay thế thấp nhất có thể!
Khi các bên khởi kiện Mỹ nộp đơn khởi kiện chống bán phá giá, các bên đó sẽ “gợi ý” một nước thay thế cho DOC. Tuy nhiên, DOC không bắt buộc phải chấp nhận nước thay thế đó. Trong thực tế, DOC sẽ để cho các bên liên quan có ý kiến về nước thay thế nào là phù hợp nhất cho vụ việc. Nếu chúng ta không làm gì hết trước đơn khởi kiện được nộp, các luật sư đại diện cho Việt Nam sẽ khó mà tranh luận về nước thay thế, thậm chí không biết cả nước thay thế nào là tốt nhất để tranh luận!
Trong vụ kiện chống Trung Quốc, DOC ban đầu chọn Ấn Độ làm nước thay thế chính. Gần đây, DOC chuyển sang chọn Philippines. Một điều đáng lưu ý là Phillipines và Indonesia đều được DOC xem xét để quyết định nước thay thế trong vụ cá da trơn và tôm nước ấm liên quan đến Việt Nam.
Tại thời điểm này, chúng ta không biết việc chọn Philippines để thay thế cho Việt Nam có tốt hơn Ấn Độ, Indonesia, thậm chí Bangladesh hay không. Điều này chỉ có thể biết sau khi nghiên cứu thực tế. Nghiên cứu sơ bộ về giá trị thay thế có thể được thực hiện bằng cách:
Thứ nhất, xây dựng một danh mục các yếu tố sản xuất (nguyên liệu, nhân công, hóa chất...) của mình trong sản xuất đồ gỗ nội thất xuất khẩu sang Mỹ.
Kế tiếp, tìm kiếm thông tin đã công bố (số liệu về nhập khẩu, các ấn phẩm của ngành công nghiệp...) để tìm hiểu giá cả của các yếu tố sản xuất này tại một số nước có thể được chọn là nước thay thế (Philippines, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh...).
Ngoài ra, ngành công nghiệp Việt Nam cũng cần tìm kiếm báo cáo tài chính của các nhà sản xuất đồ nội thất tại mỗi nước nói trên, phục vụ cho việc tính toán các hệ số tài chính về sau,
Sau khi đã thu thập và xem xét, đối chiếu tất cả các thông tin nói trên, ngành công nghiệp Việt Nam có thể quyết định một cách hợp lý nước nào sẽ mang lại kết quả có lợi nhất trong vụ kiện. Sau đó, khi đến thời điểm thích hợp, nước đó sẽ được chúng ta đề xuất. Nếu không làm gì cả từ đây cho đến khi đơn kiện được nộp, chúng ta sẽ không có đủ thời gian để làm việc này một cách chín chắn và có hiệu quả.
Thứ hai là chuẩn bị phản bác các cáo buộc về thiệt hại kinh tế.
Bên khởi kiện Mỹ sẽ phải chứng minh được họ đang bị thiệt hại kinh tế do hiện tượng bán phá giá thông qua các chỉ số như hoạt động lỗ, giá bán không thể tăng hoặc liên tục giảm, mất thị phần... Vì vậy, việc của chúng ta là cung cấp thông tin, hồ sơ chứng minh cho luận điểm ngược lại rằng ngành công nghiệp Mỹ đã và đang ở trong tình trạng sức khỏe tốt.
Về vấn đề này, Ủy ban Thương mại quốc Tế Mỹ (ITC) phải đưa ra quyết định sơ bộ về thiệt hại kinh tế trong vòng 45 ngày kể từ khi đơn khởi kiện được nộp. Đây là khoảng thời gian rất ngắn. Nếu ngành công nghiệp Việt Nam không làm gì cho đến khi đơn kiện được nộp, thật khó để xây dựng luận điểm chắc chắn chống lại cáo buộc có thiệt hại kinh tế ở giai đoạn đó của vụ kiện. Do đó, ngành công nghiệp Việt Nam nên tiến hành chuẩn bị sớm cho giai đoạn đó của vụ kiện chứ không nên chậm trễ. Việc chuẩn bị có thể bao gồm:
Phân tích hiện trạng của ngành công nghiệp đồ nội thất Mỹ.Phân tích chiều sâu số liệu về nhập khẩu hàng tháng theo thời gian. Trao đổi với các khách hàng tại Mỹ để tìm hiểu thêm về các nhà sản xuất đồ nội thất Mỹ. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 3/10) đầu trang(./.