Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 06 tháng 10 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đồng ý chủ trương xây dựng Dự án bảo vệ và phát triển rừng bền vững huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên thuộc Chương trình mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng bền vững giai đoạn 2016-2020.
Phó Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với UBND tỉnh Điện Biên rà soát nội dung, quy mô và đối tượng áp dụng các chính sách hiện hành (Nghị định 75/2015/NĐ-CP, Quyết định 40/2015/QĐ-TTg), đảm bảo phù hợp với thực tế, tránh chồng chéo với các đề án, dự án đang thực hiện trên địa bàn. Trên cơ sở đó, UBND tỉnh Điện Biên căn cứ Luật đầu tư công và các quy định hiện hành để tổ chức thực hiện.
Bộ Y tế phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu phát triển cây dược liệu phù hợp với điều kiện gây trồng và giá trị kinh tế cao trên địa bàn huyện Mường Nhé để tạo việc làm và thu nhập ổn định, lâu dài cho người dân.
Phó Thủ tướng cũng đề nghị Ban Chỉ đạo Tây Bắc chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương liên quan tổ chức hội nghị bàn về các giải pháp bảo vệ và phát triển rừng khu vực Tây Bắc và giải quyết vấn đề dân di cư tự do đến địa bàn huyện Mường Nhé.
Trên cơ sở đó, giao nhiệm vụ cụ thể cho các tỉnh có dân di cư đến địa bàn huyện Mường Nhé có phương án đón, bố trí, sắp xếp ổn định cuộc sống cho số hộ dân của địa phương đã di cư đến huyện Mường Nhé thời điểm sau ngày 30/4/2011; đồng thời, có giải pháp nhằm ngăn chặn có hiệu quả tình trạng dân di cư tự do từ các địa phương khác đến địa bàn huyện Mường Nhé.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương thẩm định điều chỉnh Đề án sắp xếp ổn định dân cư, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh huyện Mường Nhé, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định. (Chính Phủ 5/10) đầu trang(
Ngày 4/10, UBND huyện Ia H’Drai tổ chức Hội nghị tổng kết công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng năm 2016 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm 2017.
Theo đánh giá, trong năm 2016, được sự chỉ đạo của Ban chỉ đạo bảo vệ và phát triển rừng tỉnh, Huyện ủy, UBND huyện, Ban chỉ huy về các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng huyện đã tích cực chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với các ngành, UBND các xã, các chủ rừng phối hợp triển khai thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng.
Theo đó, Hạt Kiểm lâm, các ngành, các chủ rừng, UBND các xã chủ động triển khai xây dựng phương án, xác định các điểm nóng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tổ chức tuần tra, kiểm tra bảo vệ rừng và phóng cháy chữa cháy rừng; xây dựng được 22 tổ đội phòng cháy chữa cháy rừng...
Trong năm, toàn huyện xảy ra 1 vụ cháy thiệt hại 32,09ha cao su của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đăk Hà quản lý; phát hiện 57 vụ vi phạm trên 365m3 gỗ các loại, 1,36ha rừng bị thiệt hại.
Hội nghị tập trung thảo luận, rút kinh nghiệm và nêu lên những vấn đề tồn tại như: tình trạng phát rừng làm nương rẫy, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, xâm canh của các hộ dân của huyện Chư Păh, Ia Grai (Gia Lai) sang địa bàn huyện vẫn còn xảy ra… nhằm tìm các giải pháp khắc phục trong thời gian đến.
Hội nghị triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm 2017: Kiện toàn ban chỉ huy về các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng; đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật giúp người dân nâng cao nhận thức công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng; tăng cường triển khai các biện pháp bảo vệ rừng, quản lý lâm sản và phòng cháy chữa cháy rừng; phân công người trực phòng cháy chữa cháy rừng; theo dõi diễn biến tài nguyên rừng; rà soát quỹ đất lâm nghiệp và quy hoạch vùng nương rẫy giải quyết đất cho nhân dân sản xuất...
Hội nghị biểu dương, tổ chức khen thưởng cho nhiều tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn. (Báo Kon Tum 5/10) đầu trang(
Theo UBND tỉnh Nghệ An, trong tháng 9.2016, cơ quan chức năng đã phát hiện và xử lý 75 vụ vi phạm lâm luật, trong đó phá rừng 4 vụ; vi phạm chế biến gỗ và lâm sản khác 2 vụ; mua bán tàng trữ, vận chuyển lâm sản trái phép 58 vụ;...
Các ngành chức năng đã tịch thu 137,47m3 gỗ các loại; 6 con và 69kg động vật rừng... thu nộp ngân sách 500 triệu đồng, trong đó tiền phạt 428,3 triệu đồng. Tính chung 9 tháng đầu năm, phát hiện và xử lý 661 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu 1165,44m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 7,78 tỉ đồng.
9 tháng đầu năm, do thời tiết nắng nóng, đã xảy ra 46 vụ cháy rừng ở các huyện Đô Lương, Thanh Chương, Diễn Châu, Nam Đàn, Hưng Nguyên,... với diện tích bị cháy 87,38ha. (Lao Động 5/10) đầu trang(
Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Phú Yên kỷ luật, đề nghị kỷ luật nhiều cán bộ tiếp tay tạo dựng hồ sơ, cấp giấy chứng nhận, chuyển nhượng đất rừng trái quy định để người dân triệt phá, phát trắng gần 110 ha rừng.
Ngày 5-10, Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Tỉnh ủy Phú Yên phát đi kết luận về xử lý kỷ luật đối với nhiều cán bộ liên quan đến vụ triệt phá, phát trắng 110 ha rừng tại xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân.
Theo đó, UBKT thống nhất kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với các ông Nguyễn Hồng Đức, nguyên giám đốc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đồng Xuân; So Bếp - huyện ủy viên, bí thư Đảng ủy xã Phú Mỡ.
Theo kết luận của UBKT, ông Nguyễn Hồng Đức đã cùng một số cán bộ xã Phú Mỡ và Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đồng Xuân lập khống bảy hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp (GCN), xác nhận không đúng nguồn gốc đất, không đúng đối tượng để Phòng TN&MT tham mưu UBND huyện cấp GCN với diện tích hơn 126 ha rừng tại xã Phú Mỡ.
UBKT xác định hành vi của ông Đức là cố ý làm trái quy định pháp luật về đất đai, quyết định của UBND tỉnh, dẫn đến nhiều diện tích rừng bị chặt phá gây hậu quả nghiêm trọng.
Ông So Bếp biết hiện trạng là đất có rừng do Ban Quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân giao UBND xã Phú Mỡ quản lý không phải đất khai hoang nhưng vẫn ký xác nhận đơn xin cấp GCN cho các hộ dân; ký hợp thức hóa biên bản niêm yết, kết thúc niêm yết công khai, tạo điều kiện để Phòng TN&MT lập khống ba hồ sơ tham mưu UBND huyện cấp GCN sai quy định. UBKT xác định việc làm của ông So Bếp là thiếu trách nhiệm, gây hậu quả nghiêm trọng, khiến dư luận bất bình.
UBKT yêu cầu Ban Thường vụ Huyện ủy Đồng Xuân chỉ đạo tổ chức kiểm điểm nghiêm túc, rút kinh nghiệm đối với ông Đặng Văn Trọng - huyện ủy viên, phó Ban Tổ chức Huyện ủy, nguyên phó chủ tịch UBND huyện.
Khi làm phó chủ tịch UBND huyện, ông Trọng đã thiếu trách nhiệm khi không kiểm tra kỹ hồ sơ, không phát hiện hồ sơ khống, không đúng quy định, đã ký cấp ba GCN trái quy định cho ba hộ dân với diện tích 43 ha rừng.
UBKT đề nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy xem xét xử lý nghiêm đối với ông Cao Thanh Lương - huyện ủy viên, trưởng Phòng TN&MT huyện Đồng Xuân. Ông Lương cùng một số cán bộ xã Phú Mỡ, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đồng Xuân lập khống bảy hồ sơ cấp GCN, xác nhận không đúng nguồn gốc đất, không đúng đối tượng, tham mưu UBND huyện cấp GCN với diện tích hơn 126 ha rừng tại xã Phú Mỡ. UBKT xác định hành vi của ông Lương là cố ý làm trái quy định pháp luật về đất đai, quyết định của UBND tỉnh, dẫn đến nhiều diện tích rừng bị chặt phá, gây hậu quả nghiêm trọng.
Liên quan đến vụ phá rừng trên, đầu tháng 8-2016, Cơ quan CSĐT tỉnh Phú Yên khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với Phạm Xuân Trình (40 tuổi, ngụ thôn Kỳ Lộ, xã Xuân Quang 1, huyện Đồng Xuân) để điều tra về tội hủy hoại rừng.
Theo kết quả điều tra ban đầu, sau khi được các cán bộ trên tiếp tay cấp GCN, trong tháng 3 và 4-2016, Phạm Xuân Trình (cháu của nguyên bí thư Huyện ủy Đồng Xuân) thuê hàng chục người chặt hạ, phát trắng trái phép 53 ha rừng ở xã Phú Mỡ. Thấy Trình chặt phá rừng, nhiều người dân cũng góp tiền thuê nhân công phát dọn hàng chục ha rừng.
Tổng diện tích rừng do Trình và những người khác đốn hạ, phát trắng trong thời gian trên tại xã Phú Mỡ là gần 110 ha, trong đó có nhiều diện tích rừng phòng hộ. Hiện cơ quan công an đang điều tra mở rộng, làm rõ hành vi của những người tham gia hủy hoại rừng. (Pháp Luật TP.HCM 5/10; Tuổi Trẻ 6/10) đầu trang(
Ngày 5.10, Tỉnh ủy Gia Lai cho biết, đã yêu cầu Bí thư Huyện ủy K'Bang - ông Trương Văn Đạt và Chủ tịch huyện K'Bang - ông Võ Văn Phán kiểm điểm, tự xét kỷ luật vì để mất rừng.
Tỉnh ủy Gia Lai đã chỉ đạo ông Nguyễn Duy Khánh - Chủ nhiệm UBKT Tỉnh ủy - xuống kiểm tra, truy xét trách nhiệm ông Đạt và ông Phán trong công tác quản lý bảo vệ rừng.
Trao đổi với Lao Động, Chủ tịch huyện K'Bang Võ Văn Phán nói, đã làm bản kiểm điểm gửi Tỉnh ủy. "Trách nhiệm kiểm điểm thì Bí thư, Chủ tịch huyện phải nhận, còn kỷ luật thì Tỉnh ủy quyết định như thế nào, chúng tôi nhận như thế đó", ông Phán ưu tư.
Trước đó, Tỉnh ủy Gia Lai đã ra kết luận số 60-KL/TU nêu rõ: Nếu huyện K'Bang để xảy ra phá rừng, sẽ xử lý nghiêm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với mức thấp nhất là Khiển trách trong Đảng. Năm 2015, UBND tỉnh Gia Lai cũng đã có chỉ thị 2565: Huyện nào để xảy ra nạn phá rừng thì Chủ tịch huyện đó phải chịu trách nhiệm.
Liên quan đến vụ đốn hạ 30,166m3 gỗ hương, Công an (CA) huyện K'Bang đã bắt được 12 trong tổng số 21 đối tượng. Các đối tượng khác hiện đang được truy tìm, vận động ra đầu thú.
Như Lao Động đã thông tin, 3h sáng 9.9, tại khoảnh 6, tiểu khu 90 lâm phần Cty Lâm nghiệp Krông Pa (huyện K'Bang), 2 cây gỗ hương bị 21 đối tượng dùng cưa lốc đốn hạ. Khối lượng bị thiệt hại là 30,166m3 (60-70 triệu đồng/m3).  Vụ án được khởi tố ngay sau đó, CA tỉnh được lệnh vào cuộc, truy bắt các đối tượng. Tỉnh Gia Lai đã đề nghị Sở NNPTNT, sở Tài chính và huyện K'Bang lên phương án bảo vệ 300 cây gỗ hương còn lại. (Lao Động 5/10) đầu trang(
Dự án đường lâm nghiệp do Sở NN&PTNT Hà Tĩnh làm chủ đầu tư, dẫn vào thượng nguồn rừng phòng hộ sông Tiêm (xã Hương Vĩnh, huyện Hương Khê) với mục đích góp phần quản lý bền vững rừng phòng hộ. Tuy vậy, khi đưa vào sử dụng, đã vô tình “tiếp tay” cho lâm tặc vận chuyển gỗ lậu, triệt hạ rừng một cách dễ dàng hơn…?!.
Báo Tài nguyên và Môi trường đã phản ánh, thời gian qua, hoạt động khai thác, vận chuyển gỗ diễn ra tại rừng phòng hộ sông Tiêm diễn ra công khai. Theo con đường mới mở thẳng vào thượng nguồn được đầu tư hàng chục tỷ đồng, gỗ lậu cứ thế vượt rừng về xuôi dễ dàng mà không gặp trở ngại nào.
Theo tìm hiểu, dư luận tại Hà Tĩnh bức xúc cho rằng, rừng phòng hộ sông Tiêm bị tàn phá trước hết là do quản lý lỏng lẻo của chủ rừng và lực lượng chức năng, nhận thức của một số bộ phận nhân dân về công tác bảo vệ rừng còn nhiều hạn chế khiến cho cây rừng đối mặt nguy cơ tận diệt. Mặt khác, việc đầu tư dự án mở đường vào rừng phòng hộ sông Tiêm là một sai lầm đáng tiếc.
Năm 2015, đoạn đường có chiều dài hơn 4km, với số vốn đầu tư không dưới 20 tỷ đồng được mở thẳng vào rừng phòng hộ sông Tiêm, dự án do Sở NN&PTNT Hà Tĩnh làm chủ đầu tư từ Quỹ Phát triển lâm nghiệp. Tuy vậy, sau khi đưa vào sử dụng, dự án này đã gặp nhiều phản ứng trái chiều vì cho rằng vô tình “tiếp tay” cho lâm tặc phá rừng.
Ông Hoàng Quốc Huấn - Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh nhấn mạnh: “Đối với những người làm công tác bảo vệ rừng, mở đường vào rừng là điều tối kỵ, không khuyến khích, bởi lẽ sẽ gặp bất lợi cho ngăn chặn lâm tặc phá rừng ”.
“Hoạt động khai thác, vận chuyển gỗ lậu ở rừng phòng hộ sông Tiêm có diễn ra, Chi cục Kiểm lâm đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện Hương Khê, phân công lực lượng bám sát địa bàn để phối hợp, ngăn chặn, xử lý. Về dự án đường lâm nghiệp được đầu tư vào năm 2015, thông tin cụ thể, tôi không nắm rõ nhưng chắc chắn khi triển khai phải được đánh giá tác động môi trường… ”, ông Huấn chia sẻ thêm.
Gỗ lậu ngày đêm được chuyển ra khỏi rừng phòng hộ, trong khi đó, chủ rừng lại thờ ơ, thiếu trách nhiệm phối hợp xử lý. Ông Nguyễn Hữu Thinh - Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ sông Tiêm đã lên tiếng thừa nhận hoạt động vận chuyển gỗ bằng xe kéo, trâu kéo diễn ra trong thời gian qua. Tuy vậy, công tác bảo vệ rừng trên địa bàn, đang gặp nhiều khó khăn, do lực lượng mỏng, đối tượng khai thác gỗ ngày càng manh động…”.
Vị đại diện chủ rừng này thừa nhận, để mở được con đường này phải hy sinh khá lớn diện tích đất rừng. Mặc dù, là đại diện của chủ rừng nhưng ông Thinh cũng không nắm được về chủ trương đầu tư của dự án này.Ông Thinh cho rằng, mở đường vào rừng có nghĩa đang đánh đổi rừng, đường vào đến đâu, rừng sẽ hết đến đó. Theo lời ông Thinh, dự án đường lâm nghiệp đang gây trở ngại lớn đối với chủ rừng trong việc khống chế lâm tặc vận chuyển, khai thác gỗ ra khỏi rừng phòng hộ sông Tiêm trong thời gian qua.
Lê Đức Khang - Trưởng Ban Quản lý các dự án xây dựng cơ bản của huyện Hương Khê cho hay, con đường mở vào rừng phòng hộ sông Tiêm là một công trình có vốn đầu tư khá lớn trên địa bàn huyện Hương Khê, được triển khai thi công và đưa vào sử dụng 2015, với hiện trạng nền đất, dự án nhằm phục vụ phát triển lâm nghiệp. Đây là công trình Sở NN&PTNT làm chủ đầu tư, nên địa phương không được biết nhiều nhưng chắc chắn phải có đánh giá tác động môi trường (ĐTM) rồi mới triển khai thi công.
Tuy vậy, ông Phan Quốc Lập - Trưởng Phòng TN&MT huyện Hương Khê, khẳng định: “Chắc chắn là chưa. Nếu họ (chủ đầu tư - PV) thực hiện, ít nhất tôi phải là thành viên Hội đồng thẩm định. Thế nhưng, đến nay, chúng tôi không hề biết về việc thực hiện báo cáo ĐTM của chủ đầu tư”.
Ông Lập nói, thời gian qua, Phòng TN&MT huyện Hương Khê đã tiếp nhận, kiểm tra, thẩm định hồ sơ thủ tục bảo vệ môi trường của các dự án đầu tư trên địa bàn huyện. Tuy vậy, đối với các dự án đầu tư có hạng mục xây dựng công trình thuộc đối tượng phải xin giấy phép xây dựng trên địa bàn đều không lập hồ sơ, thủ tục bảo vệ môi trường.
Ông Dương Văn Kỷ - Chủ tịch UBND xã Hương Vĩnh cũng cho hay, riêng về dự án mở đường vào rừng phòng hộ sông Tiêm sẽ làm thay đổi kết cấu của đất rừng, dễ gây sạt lở, nhiều diện tích rừng đã thu hồi nhường chỗ cho dự án, lượng nước từ thượng nguồn đổ về, vì thế cũng bị điều tiết do tác động của dự án…
Theo ông Phan Quốc Lập - Trưởng Phòng TN&MT huyện Hương Khê, quy định của luật bảo vệ môi trường, nếu thực hiện dự án khi chưa có báo cáo ĐTM là sai, cần phải xử lý. Tuy vậy, việc đánh giá báo cáo ĐTM hay không, còn tùy thuộc vào quy mô, cấp độ đầu tư của dự án. Còn đây là dự án do Sở NN&PTNT làm chủ đầu tư, Sở TN&MT phải là đơn vị chủ trì Hội đồng phê duyệt báo cáo ĐTM”. Ông Lập cho rằng, cần phải kiểm tra lại ảnh hưởng của dự án này. (Tài Nguyên Và Môi Trường 5/10) đầu trang(
Mới đây, TAND huyện Buôn Đôn (Đăk Lăk) mới mở phiên tòa sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Văn Vượng và các đồng phạm khác cùng trú tại Đăk Lăk.
Tòa đã tuyên án các bị cáo về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng. Nhưng điều đáng nói, đây là những người làm thuê cho một DN, còn vị Tổng giám đốc - người trực tiếp thuê ông Vượng - thì bỗng nhiên “mất tích” khiến vụ án còn nhiều điểm chưa sáng tỏ.
Ngày 20/9/2016, sau 3 năm kể từ ngày điều tra, TAND huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk mới mở phiên tòa sơ thẩm xét xử các bị cáo nói trên và tuyên án phạt Vượng 1 năm 6 tháng tù; Lam 2 năm tù; Tiến, Danh và Cưu mỗi người 9 tháng tù.
Theo cáo trạng, tháng 7/2012 CTCP Thương mai - Du lịch Bản Đôn (Công ty Bản Đôn) đã lập phương án gửi UBND tỉnh Đăk Lăk xin thuê lại toàn bộ diện tích đất rừng do Công ty TNHH MTV cao su Đăk Lăk quản lý nhưng chưa được chấp thuận.
Tháng 4/2013, sau khi được bổ nhiệm làm Tổng giám đốc Công ty Bản Đôn, ông Nguyễn Quang Đức (ngụ quận Thủ Đức, TP. HCM) chỉ đạo tạm ngừng kinh doanh 1 tháng để vệ sinh, thu gom cành, cây rừng gãy đổ ở khu vực trung tâm DN. Sau đó, ông Đức thuê ông Vượng thu gom giúp hoặc tìm người thu gom, dọn vệ sinh rừng cho DN.
Ông Đức và ông Vượng thống nhất, số tiền bán phế liệu, bán củi thu gom sẽ nộp về cho DN. Đầu tháng 5/2013, Lam nghe tin Vượng đang tìm người thu gom củi, cây đổ, khai thác gỗ nên tới gặp và thống nhất sẽ khai thác gỗ đem đi bán. Để tiến hành việc này, Lam đã thuê Tiến, Danh, Cưu với tiền công thỏa thuận 500.000 đồng/người/xe gỗ khai thác được.
Từ ngày 15-31/5/2013, Lam, Danh, Cưu và Tiến đã khai thác trái phép 221 cây, trong đó có 138 cây lấy đi phần gỗ, 83 cây bị cắt hạ, cưa khúc gồm các loại cây giáng hương, căm xe, cà chít, chiêu liêu, cẩm sừng, gáo vàng. Tổng số gỗ mà Lam bán đi và số gỗ thu gom sau khi phát hiện là hơn 84m3.
Riêng khoảng 30m3 gỗ mà Lam đã bán được 122 triệu đồng, Lam đã trả cho Vượng 80 triệu đồng, Vượng nộp vào công ty 59,5 triệu đồng. Số tiền còn lại, Lam trả công cho Danh và Cưu mỗi người 2,5 triệu đồng; Tiến 1,6 triệu đồng và các chi phí khác.
Bản cáo trạng kết luận, do coi thường pháp luật, cụ thể là các quy định về quản lý và bảo vệ rừng nên sau khi được ông Đức thuê thu gom, dọn vệ sinh cây rừng cho công ty, lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo, Vượng đã thuê các đối tượng trên vừa thu gom, khai thác trái phép gỗ tại khoảnh 6, tiểu khu 469 rừng sản xuất do công ty quản lý. Tổng khối lượng gỗ khai thác trái phép là 37m3. Lam đã bán khoảng 30m3 gỗ tròn thu lợi bất chính được 122 triệu đồng, còn 4,1m3 gỗ hộp Lam cất giấu tại nhà.
Tuy nhiên, sau một thời gian điều tra, Vượng gửi đơn tố cáo, khiếu nại lên nhiều cơ quan chức năng yêu cầu làm sáng tỏ một số vấn đề liên quan đến vụ án. Trong đó, Vượng cho rằng ông Đức là người tổ chức, chủ mưu chỉ đạo việc khai thác gỗ thì bị bỏ lọt, và cố tình vắng mặt để che đậy hành vi phạm pháp.
Tại phiên tòa ngày 20/9/2016, Vượng một mực khẳng định DN bán gỗ cho người khai thác trước đó nhưng giá cả thấp, nên ông Đức mới nhờ Vượng tìm mối giá cao hơn để khai thác. Bằng chứng là có nhiều cây đã bị cưa hạ từ trước và gỗ được gom bằng voi để lại dấu vết tại hiện trường. Điều này đại diện Hạt kiểm lâm huyện Buôn Đôn cũng đã xác nhận.
Theo Vượng, tại vị trí khai thác nằm gần DN thì chỉ có một con đường đi lại duy nhất, nên xe gỗ muốn vận chuyển ra phải có bảo vệ mở cổng. Khi bán được gỗ, bị cáo nộp tiền vào công ty bằng 8 hóa đơn và những người thu tiền cũng khai nhận làm theo chỉ đạo của tổng giám đốc.
Bị cáo Vượng cho biết: “Ông Đức là người trực tiếp nhờ chúng tôi khai thác gỗ, do tin tưởng ông ấy nên mới nhận lời làm. Toàn bộ số gỗ đều được vận chuyển qua trạm kiểm soát của công ty, được bảo vệ mở cổng và kéo rào chắn cho đi qua. Thậm chí tiền bán gỗ cũng nộp lại cho công ty.
Do đó, để không bỏ lọt người có tội, tôi yêu cầu cơ quan chức năng khởi tố về hành vi vi phạm quy định về khai thác và bảo vệ rừng và tội đưa hối lộ đối với ông Nguyễn Quang Đức. Đồng thời, khởi tố ông Trương Văn Thêm, Đội trưởng Đội Điều tra kinh tế huyện Buôn Đôn về tội nhận hối lộ để làm sai lệch hồ sơ vụ án…”.
Trong phần tuyên án, HĐXX cho biết cơ quan điều tra đã tới nơi ông Đức sinh sống để xác minh. Nhưng đến nay không biết ông Đức ở đâu. Do đó, tòa sẽ gửi bản án đến cơ quan chức năng và đề nghị Cơ quan điều tra và Viện KSND huyện Buôn Đôn làm rõ hành vi đồng phạm của ông Nguyễn Quang Đức.
Đồng thời, kiến nghị Cơ quan điều tra, Viện KSND Tối cao điều tra làm rõ hành vi đưa nhận hối lộ giữa ông Đức và ông Trương Văn Thêm (nguyên Đội trưởng Đội kinh tế Công an huyện Buôn Đôn) để làm sai lệch hồ sơ vụ án. (Thời Báo Ngân Hàng 6/10) đầu trang(
Mặc dù đã triển khai nhiều biện pháp để ngăn chặn tình trạng vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, nhưng đến nay trên địa bàn tỉnh Đắk Nông vẫn còn tồn tại bốn "điểm nóng" phá rừng.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Nông, vào cuối năm 2015, trên địa bàn tỉnh tồn tại 11 “điểm nóng” phá rừng. Trước tình hình đó, Sở đã tham mưu Ủy ban Nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 42/QĐ-UBND ngày 8/1/2016, về kế hoạch ngăn chặn các "điểm nóng" phá rừng trên địa bàn.
Sau chín tháng triển khai lực lượng chức năng của tỉnh và các chủ rừng đã ngăn chặn được bảy "điểm nóng" về phá rừng, hiện vẫn còn tồn tại bốn điểm. Các điểm nóng phá rừng gồm tiểu khu 1685 và 1697, do Xí nghiệp Lâm nghiệp Đắk Ha (thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Gia Nghĩa) quản lý; tiểu khu 1507 thuộc lâm phận của Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Quảng Tín; tiểu khu 1506 do Công ty trách nhiệm hữu hạn Thiện Hưng (Tuy Đức) quản lý; tiểu khu 1529 do Công ty Cổ phần Địa ốc Khang Nam (Tuy Đức) quản lý.
Theo ông Lê Trọng Yên, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Nông, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng liên quan vẫn đang tập trung thực hiện kế hoạch của Ủy ban Nhân dân tỉnh, cũng như tăng cường các biện pháp để ngăn chặn, không để phát sinh thêm "điểm nóng" về phá rừng.
Tỉnh Đắk Nông tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật bằng nhiều hình thức, nhiều kênh thông tin để nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, mỗi chủ rừng, mỗi người dân và toàn xã hội trong việc bảo vệ và phát triển rừng; ký cam kết thực hiện pháp luật của Nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng.
Đồng thời, quản lý chặt chẽ, kiểm tra thường xuyên, đột xuất các cơ sở chế biến gỗ; xử lý nghiêm và kiên quyết đình chỉ hoạt động đối với các xưởng chế biến gỗ sử dụng gỗ bất hợp pháp hoặc cố tình không chấp hành quy định về quản lý, báo cáo thống kê theo quy định hiện hành.
Cùng với đó, tỉnh chỉ đạo các đơn vị bố trí lực lượng chủ động ngăn chặn các vụ phá rừng, cháy rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác, vận chuyển, buôn bán, chế biến gỗ và lâm sản trái pháp luật; tổ chức cắm chốt gồm lực lượng kiểm lâm, chính quyền địa phương, chủ rừng và tổ chức tuần tra, kiểm tra, trực 24/24 tại các "điểm nóng," để ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ vi phạm.
Theo thống kê chưa đầy đủ, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn Đắk Nông đã xảy ra 302 vụ phá rừng, làm thiệt hại gần 120ha rừng. (Vietnam + 6/10) đầu trang(
Bình Dương là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam bộ, địa hình tương đối bằng phẳng, không bị chia cắt bởi sông, biển.
Tuy nhiên, Bình Dương cũng có sựđa dạng về thực vật và động vật. Theo số liệu điều tra của tỉnh, về thực vật có 1.084 loài thực vật bậc cao chủ yếu tập trung ở khu vực Núi Cậu - Dầu Tiếng, Lâm trường Phú Bình và khu vực giáp ranh với khu rừng lịch sử Mã Đà; có các loài cây gỗ có giá trị bảo tồn theo Sách đỏ Việt Nam năm 2007, như gõ đỏ, sến mủ, chò chai, cẩm lai, dáng hương, trắc…
Về động vật có 248 loài, gồm 23 loài thú, 99 loài chim, 40 loài bò sát và 19 loài lưỡng cư, 67 loài cá; trong đó có 30 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007) và 33 loài có trong danh sách Sách đỏ IUCN-2007.
Để bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) hiện có và phát triển ĐDSH trong tương lai theo hướng gắn kết với các hoạt động phát triển kinh tế- xã hội nhằm phát triển bền vững đô thị Bình Dương, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch hành động ĐDSH đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 tại Quyết định số183/QĐ-UBND ngày 17-11-2011. Kế hoạch đặt ra nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách và thể chế về bảo vệĐDSH; bảo vệ ĐDSH trên cạn, tăng cường bảo tồn nguyên vị và bảo tồn chuyển vị; tăng cường bảo tồn ĐDSH ở các hệsinh thái thủy vực; bảo tồn ĐDSH trong nông nghiệp; sử dụng hợp lý và phát triển tài nguyên sinh vật; tăng cường năng lực về bảo vệ ĐDSH; nghiên cứu biện pháp thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu; nghiên cứu phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn vốn cho bảo tồn ĐDSH.
Thực hiện Kế hoạch hành động ĐDSH của tỉnh, thời gian qua, nhiều đề tài, dự án đã được các ngành của tỉnh triển khai và hoàn thành, như bảo tồn ĐDSH và phát triển các loài động vật hoang dã có xương sống trong danh sách ưu tiên bảo tồn trên địa bàn tỉnh Bình Dương; Dự án nghiên cứu quy hoạch chi tiết về quản lý, khai thác 2 khu vực quan trọng trong bảo tồn ĐDSH ở tỉnh Bình Dương, đó là khu di tích rừng Kiến An, khu vực Núi Cậu theo hướng bảo tồn và phát triển cảnh quan du lịch; Dự án mô hình quản lý, bảo vệ rừng và sử dụng rừng bền vững dựa vào cộng đồng; dự án phát triển hành lang cây xanh giao thông đô thị và liên tỉnh…
Qua đó, góp phần bảo đảm ĐDSH ở Bình Dương được bảo tồn và phát triển bền vững. (Báo Bình Dương 6/10) đầu trang(
Từng là cánh rừng bị tàn phá tan hoang, ngót nghét hơn 3 thập kỷ trôi qua, bằng sự nỗ lực của chính quyền địa phương lẫn người dân, cánh rừng ngập mặn nối dài hàng hécta trên vùng đầm phá Tam Giang dần được hồi sinh mạnh mẽ, trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn tại địa phương này.
Rú Chá (xã Hương Phong, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên- Huế) được biết đến là cánh rừng ngập mặn nguyên sinh duy nhất còn lại trên phá Tam Giang - khu đầm phá lớn nhất Đông Nam Á. Thế nhưng ít ai biết được rằng, từ những năm 80 trở về trước, khu rừng ngập mặn này từng đứng trước nguy cơ bị “xóa sổ”.
Ông Nguyễn Lợi, một cao niên ở thôn Thuận Hòa, xã Hương Phong cho biết, do sự quản lý lỏng lẻo cộng thêm việc người dân chưa có ý thức bảo vệ rừng ngập mặn nguyên sinh nên đã có thời điểm, rừng Rú Chá bị người dân đốn hạ không thương tiếc để lấy cây làm củi đốt hoặc lất đất nuôi tôm, gây nên tình trạng đất rừng bị xói lở nặng nề, mất cân bằng sinh thái hệ đầm phá...
“Từ chỗ là nơi trú ngụ của nhiều loài chim, thủy sản nên khi những cây chá bị đốn chặt, chim chóc lẫn các loài tôm cá cũng dần biến mất, Rú Chá ngày ấy gần như là khu rừng “chết”. Thế nhưng, kể từ khi Nhà nước quy hoạch vùng bảo vệ rừng thì người dân địa phương đã biết chung tay bảo vệ, rừng Rú Chá dần được hồi sinh từ đó”, ông Thành chia sẻ.
Theo UBND xã Hương Phong, sau nhiều năm nỗ lực bảo vệ rừng, hiện khu rừng Rú Chá còn giữ được diện tích gần 5ha, trong rừng có nhiều cây chá cổ thụ gần 100 năm tuổi. Khu rừng được người dân địa phương ví như bức bình phong che chắn gió bão, ngăn lũ lụt và trở thành nơi cư ngụ của nhiều loại tôm, cá, chim, cò, diệc, vạc...
Một trong những người có công lao giữ gìn để khu rừng ngập mặn trên phá Tam Giang hồi sinh như bây giờ đó chính là vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Đáp (72 tuổi, ở thôn Thuận Hòa, Hương Phong). Nhận thấy cánh rừng không có người giữ như “nhà vắng chủ” nên năm 1988, vợ chồng ông Đáp đã tình nguyện ra khu rừng này dựng căn nhà tre nứa tạm bợ để ở và giữ rừng, ngăn cản những ai có ý định đốn hạ cây chá...
“Lúc đầu vợ chồng tôi chuyển ra khu rừng sinh sống thì làng xóm bảo chúng tôi bị điên khi đất liền không ở lại ra ở giữa đầm phá mênh mông, biết lấy gì mà sống? Nhưng lúc ấy tôi đâu nghĩ nhiều như thế, thấy rừng bị chặt hạ xơ xác mà xót lắm. Lo sợ cánh rừng biến mất nên vợ chồng tôi bàn nhau ra đây ở để giữ rừng...”, ông Đáp nói.
Thời gian thấm thoắt thoi đưa, vợ chồng ông Đáp đã có gần 30 năm gắn bó với từng mảnh đất, từng gốc cây để bảo vệ khu rừng ngập mặn Rú Chá. Từ việc làm ý nghĩa của vợ chồng ông Đáp nên đến nay, người dân ở Hương Phong đã nâng cao được ý thức bảo vệ rừng, cánh rừng Rú Chá vì thế dần được hồi sinh mạnh mẽ.
Ngoài nỗ lực tuyên truyền, vận động người dân giữ gìn và bảo vệ rừng Rú Chá ngập mặn nguyên sinh, mới đây Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên - Huế còn đầu tư nhiều tỷ đồng để trồng 10.000 cây dừa nước, đước, bần trên diện tích 4,6ha, góp phần mở rộng diện tích rừng Rú Chá lên trên 9ha.
Ông Phạm Ngọc Dũng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Giám đốc Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Thừa Thiên- Huế cho hay, với mục đích phát triển rừng ngập mặn cùng với xây dựng mô hình thủy sản, tạo sinh kế cho người dân nên trong năm 2017, đơn vị sẽ tiến hành trồng mới thêm 10ha rừng ở vùng Rú Chá, tạo vành đai bảo vệ khu dân cư, diện tích nuôi trồng thủy sản của người dân.
“Ngoài khu rừng Rú Chá, Chi cục còn tiến hành trồng mới 50ha rừng ngập mặn trên phá Tam Giang tại xã Quảng Lợi, tổ chức phân phát 100.000 cây ngập mặn để các địa phương trồng tại các cửa sông, cửa biển và ven vùng phá Tam Giang. Qua đó sẽ góp phần hạn chế tình trạng xói lở, tạo môi trường tốt cho các loài thủy sản cư ngụ và hình thành điểm xanh trên vùng đầm phá rộng lớn bậc nhất Đông Nam Á này để phục vụ phát triển du lịch sinh thái”, ông Dũng cho biết thêm. (Công An Nhân Dân 6/10) đầu trang(
Vào tối ngày 4/10, Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn Động vật hoang dã (SVW) và Vườn quốc gia Cúc Phương đã tiếp nhận 61 cá thể tê tê Java từ Công an tỉnh Thái Bình và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Bình bàn giao. Những cá thể tê tê này sau đó đã được cứu hộ và đưa về Trung tâm tại Cúc Phương để kiểm tra và chăm sóc sức khỏe ngay trong đêm.
Trước đó, vào 5h sáng ngày 4/10, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Thái Bình đã bắt giữ xe ô tô tải do tài xế Ngô Văn Hạnh và Lê Đức Anh điều khiển. Trên xe, hai đối tượng này dùng thùng kín và đá lạnh để vận chuyển trái phép 61 cá thể tê tê Java và 37 cá thể rùa. Vụ việc đã bị lập biên bản và tiếp tục điều tra xử lý theo quy định.
12h trưa cùng ngày, sau khi hoàn thành biên bản xử lý tang vật, Công an tỉnh và Chi cục Kiểm lâm Thái Bình đã liên lạc với SVW và Vườn quốc gia Cúc Phương để chuyển giao toàn bộ số động vật vừa bắt giữ.
Theo ông Lâm Kim Hải, Bác sĩ Thú y của SVW cho biết, hầu hết các cá thể tê tê vẫn trong tình trạng sức khỏe ổn định khi về đến Trung tâm, chỉ có 3 cá thể đã chết và 1 con rất yếu do bị xếp quá gần thùng chứa đá lạnh.
Cũng theo ông Hải, chỉ trong 2 tháng vừa qua, SVW đã tiến hành cứu hộ và tái thả được 53 cá thể tê tê, là một trong những công tác của Trung tâm và Vườn quốc gia Cúc Phương trong hoạt động bảo tồn loài vật đang có nguy cơ tuyệt chủng này.
Vào đầu tháng 10/2016, tại hội nghị lần thứ 17 của Công ước CITES (Công ước quốc tế về Buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp), toàn bộ 8 loài tê tê trên thế giới được thông qua để đưa lên Phụ lục I của Công ước, đồng nghĩa với việc buôn bán tê tê sẽ chính thức bị nghiêm cấm trên toàn thế giới. (Thanh Tra 5/10) đầu trang(
Những con khỉ lớn, hung dữ trong Nội ô Tòa Thánh cao Đài Tây Ninh về Vườn Quốc gia Lò Gò Xa Mát để bảo vệ an toàn cho trẻ em, học sinh và du khách đến tham quan chùa.
Ông Mang văn Thới, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh cho biết, từ nay đến cuối năm, tỉnh sẽ tiếp tục phối hợp với Tổ chức Bảo vệ Động vật hoang dã Wildlife At Risk (WAR) tại Tp. Hồ Chí Minh di dời hết những con khỉ lớn, hung dữ trong Nội ô Tòa Thánh cao Đài Tây Ninh về Vườn Quốc gia Lò Gò Xa Mát để bảo vệ an toàn cho trẻ em, học sinh và du khách đến tham quan chùa.
Trước đó, trong 3 ngày (từ ngày 25 đến 27/9/2016), được sự hỗ trợ của Tổ chức WAR, Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh và Ban trật tự Nội ô Tòa thánh đã bắt được 7 con khỉ hung dữ, có trọng lượng trên 7 kg/con, bao gồm 2 con khỉ đuôi dài, 5 khỉ đuôi lợn đưa về thả tại Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát (huyện Tân Biên, Tây Ninh).
Gần đây, theo phản ánh của người dân và hiệu trưởng các trường học trong khu vực Nội ô Tòa Thánh như: Trường mẫu giáo 19 tháng 5, Trường trung học cơ sở Mạc Đĩnh Chi về một số trường hợp bị khỉ trong rừng thiên nhiên Nội ô Tòa Thánh cắn, gây thương tích học sinh và một số người dân. Chi cục Kiểm lâm đã kiểm tra, xác minh, ghi nhận 13 trường hợp bị khỉ cắn, gây thương tích gồm học sinh, cô giáo, phụ huynh học sinh và khách du lịch.
Theo nhận định của Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh, đàn khỉ xuất phát từ các hộ dân nuôi lâu năm, nay người dân không tiếp tục nuôi nữa và tự ý lén thả vào rừng thiên nhiên của Nội ô Tòa Thánh.
Đàn khỉ này ngày càng sinh sôi nhiều (hiện đã lên trên 100 con). Do thiếu thức ăn, lại bị một số người thường xuyên chọc phá nên những con khỉ to trở nên hung giữ, tấn công, cắn người... (Bnews 5/10) đầu trang(
Từ chiều tối ngày 5.10, trên mạng xã hội xôn xao với hình ảnh một xác cá sấu rất to nổi trôi lờ đờ trên dòng sông.
Những hình ảnh này được xác định do chủ nhân tài khoản Facebook mang nick Ngoc Phúc Nguyễn tải lên với lời bình: cá sấu nổi ở sông Cái, An Giang đó trời…, cháu ông Năm Chèo.
Hình ảnh và thông tin cá sấu đã thu hút nhiều lượt xem, like. Tuy nhiên khi cư dân mạng hỏi xác cá sấu ấy nổi ở đâu thì chủ tài khoản trả lời khá lập lờ: nổi trên đoạn qua sông Hậu.
Khi các cư dân mạng truy tiếp rằng sông Hậu đoạn nào thì chủ nhân cứ nói sông Hậu đó nằm ở An Giang, rồi nào là gần bờ kè…, rồi “hê” lên chia sẻ hình ảnh này cảnh báo cho người dân ra sông tắm.
Cũng có cư dân mạng nghi ngờ hình ảnh là giả mạo, ghép ảnh...
Ngày 5.10, trao đổi với Thanh Niên, ông Bành Thanh Hùng, Trưởng phòng bảo vệ rừng - Bảo tồn thiên nhiên, Chi cục Kiểm lâm nói thông tin xác cá sấu dài trên 6m nổi trên sông ở An Giang ồn ào trên mạng xã hội là thông tin không chính xác.
Ông Hùng cho biết, qua kiểm tra, thời gian gần đây không có xác cá sấu nào nổi trên sông, rạch ở An Giang. Như vậy, người đưa thông tin đó lên để đùa vui hoặc câu like. (Thanh Niên 5/10) đầu trang(
Loạt phỏng vấn “Hãy lên tiếng, hãy bảo vệ tê giác!” với sự tham gia của nhiều doanh nhân, chính trị gia, bác sĩ và người nhà các bệnh nhân tới đây sẽ được công bố rộng rãi.
Đây là hoạt động truyền thông của chiến dịch “Chấm dứt sử dụng sừng tê” do CHANGE phối hợp cùng WildAid và African Wildlife Foundation thực hiện nhằm huy động tiếng nói từ các cộng đồng khác nhau trong xã hội để cùng ngăn chặn thực trạng buôn bán và sử dụng sừng tê giác trái phép tại Việt Nam hiện nay.
Với tổng cộng 21 người tham dự thuộc ba nhóm đối tượng chủ đạo là doanh nhân, chính trị gia, bác sĩ và người nhà bệnh nhân, loạt phỏng vấn đã khắc họa rõ nét những niềm tin, động cơ khác nhau trong việc mua bán và tiêu thụ sừng tê giác, đồng thời làm sáng tỏ những thắc mắc, trăn trở của công chúng sản phẩm này.
Từng là người đã mua sừng tê giác để chữa bệnh cho cả bố và bà của mình, ông Trần Song Hải - Tổng Giám đốc Cty Greenlines DP – DP Consulting kể lại: “Thực tế tôi thấy rằng bà của tôi đã qua đời sau đó cho dù cũng đã sử dụng rất nhiều sừng tê giác, ba của tôi bệnh tình cũng là như thế. Cá nhân tôi thấy sừng tê giác không có những tác dụng như người ta đồn thổi”.
Các bác sĩ và những người nhà của bệnh nhân cũng đã chia sẻ các câu chuyện thật liên quan đến những niềm tin vào các lời đồn thổi vô căn cứ để rồi họ mua sừng tê giác với hy vọng chúng có thể giúp chữa khỏi bệnh.
Với mong muốn chữa bệnh ung thư gan giai đoạn 3 cho bố, ông Nguyễn Hải Thanh hiện đang sinh sống tại quận 2, TP HCM đã mua sừng tê giác sau khi được giới thiệu về tác dụng kỳ diệu giải độc của sừng tê giác.
Ông Thanh chia sẻ: “Sừng tê giác không có một tác dụng gì, thậm chí người bệnh có thể hưởng các phương thức chữa khác vì với số tiền đó có thể dành chữa cách khác. Người bệnh thì vẫn mất, gia đình mất số tiền lớn. Nó còn ảnh hưởng đến thiên nhiên môi trường và các loài động vật hoang dã”.
Để các nỗ lực bảo tồn đạt được thành công thì không thể thiếu sự tham gia của các cơ quan chính quyền. Tiếng nói từ đại diện của các cơ quan nhà nước trực tiếp tham gia vào công cuộc ngăn chặn và triệt phá các vụ buôn lậu sừng tê sẽ có sức ảnh hưởng lớn đến những người vì nhận thức sai lầm, vẫn đang tiếp tục tiếp tay cho các băng nhóm tội phạm. Tham gia loạt phỏng vấn có  đại diện của Sở Tài nguyên và Môi trường TP HCM, Cục Hải quan TP HCM…
Loạt phỏng vấn này sẽ được phát sóng trong thời gian tới trên các đài truyền hình, các trang báo trực tuyến cũng như các mạng xã hội chia sẻ tin tức và video để tiếp cận được đến đông đảo công chúng, nhất là những người vẫn còn những niềm tin, nhận thức sai lầm về sừng tê giác và có ý định mua bán, sử dụng sừng tê giác. (Pháp Luật Việt Nam 6/10, Hải quan 6/10) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm TP. Nha Trang vừa phối hợp với Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà thả 1 cá thể khỉ mặt đỏ Macaca arctoides về rừng tự nhiên của khu bảo tồn (ảnh) sau khi tiếp nhận từ người dân tự nguyện giao nộp.
Cá thể khỉ mặt đỏ này có giới tính cái, thuộc loại động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (nhóm II B), trọng lượng 2kg. Từ đầu năm đến nay, đây là lần thứ 4 Hạt Kiểm lâm TP. Nha Trang tiếp nhận và thả cá thể khỉ về lại môi trường tự nhiên tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà. (Báo Khánh Hòa 5/10) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg, ngày 14/9/2016 ban hành một số chính sách bảo vệ, phát triển rừng và đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng có hiệu lực từ ngày 1/11/2016 với việc hỗ trợ 20 tỷ đồng/nhà máy sản xuất gỗ MDF.
Nhà đầu tư trong nước có dự án đầu tư nhà máy chế biến gỗ rừng trồng; tre công nghiệp tại các tỉnh Tây Bắc, Tây Nguyên và các tỉnh có huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ được ngân sách nhà nước hỗ trợ như sau:
Hỗ trợ 20 tỷ đồng/nhà máy sản xuất gỗ MDFquy mô trên 30.000 m3 MDF/năm trở lên; hỗ trợ đầu tư 10 tỷ đồng/nhà máy đối với các nhà máy chế biến ván dăm, tre ép công nghiệp có quy mô trên 20.000 m3 trở lên; hỗ trợ 10 tỷ đồng/nhà máy đối với nhà máy ván dán quy mô trên 100.000 m3 để xây dựng cơ sở hạ tầng về giao thông, điện, nước, nhà xưởng và xử lý chất thải.
Sau đầu tư, hỗ trợ sau đầu tư tính theo khoảng cách vận chuyển sản phẩm với mức 1.500 đồng/tấn/km; khoảng cách được tính từ địa điểm đặt nhà máy đến trung tâm TP Hà Nội, hoặc trung tâm thành phố Đà Nẵng, hoặc trung tâm TP Hồ Chí Minh theo đường ô tô gần nhất; khối lượng hỗ trợ tính theo công suất thiết bị thực tế nhà máy; nhân với thời gian tính hỗ trợ là 5 năm, kinh phí hỗ trợ ngay sau khi hoàn thành nhà máy bảo đảm tối thiểu 70% tổng số kinh phí hỗ trợ.
Các dự án đầu tư được hưởng hỗ trợ quy định trên phải bảo đảm các điều kiện sau:
Dự án có chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư công.
Các nhà máy sản xuất ván MDF, ván dăm phải kết hợp với sản xuất ít nhất một trong các sản phẩm ván sàn, ván thanh, ván ghép thanh để tránh lãng phí tài nguyên; sản lượng của sản phẩm kết hợp này được tính vào công suất hỗ trợ.
Thiết bị được sản xuất tại các nước phát triển (thu nhập bình quân đầu người trên 10.000 USD/năm); trường hợp sản xuất tại các nước đang phát triển thì thiết bị phải mới 100%. Nhà máy không được dời địa bàn đăng ký sản xuất trong vòng 20 năm.
Diện tích rừng trồng và nguyên liệu hiện có trên địa bàn tỉnh phải đủ cho nhà máy hoạt động tối thiểu 60% công suất trong 5 năm đầu tiên. Dự án phải sử dụng tối thiểu 30% lao động địa phương.
Tổng công suất thiết bị thực tế của các nhà máy được hỗ trợ không quá 200.000 tấn/tỉnh. Công suất thiết bị được tính bằng: Sản lượng sản phẩm được nghiệm thu của một ca sản xuất x 3 ca/ngày x 300 ngày/năm.
Ngoài ra phải bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật bảo vệ môi trường. (Nông Nghiệp Việt Nam 6/10) đầu trang(
Đây là con số được đưa ra tại Hội thảo “Tham vấn quốc gia về kết quả đánh giá 8 năm tổ chức hoạt động Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng và 5 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR)” do Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam (VNFF) tổ chức sáng 5/10, tại Hà Nội.
Theo đại diện Tổng cục Lâm nghiệp, sau 5 năm triển khai, chính sách chi trả DVMTR đã thể hiện tính khả thi cao, nhanh chóng đi vào cuộc sống, tạo lập một nguồn lực tài chính mới, ổn định, bền vững phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ rừng; góp phần nâng cao đời sống người dân gắn bó với rừng.
Đến 30/6/2016, cả nước đã có 41 tỉnh thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng trong đó có 38 tỉnh đã ổn định bộ máy hoạt động; toàn quốc đã ký được 464 hợp đồng ủy thác DVMTR với các cơ sở sử dụng DVMTR thu tiền DVMTR để chi trả cho chủ rừng. Thu tiền DVMTR của cả nước hàng năm lên tới trên 1.000 tỷ đồng; lũy kế đến nay cả nước đã thu được hơn 5.744 tỷ đồng từ 3 nhóm đối tượng sử dụng DVMTR gồm: Thủy điện (97,25%), nước sạch (2,59%) và du lịch (0,16%).
Tỷ lệ giải ngân bình quân chung đến các chủ rừng đạt khoảng 87%. Nguồn tiền này thực sự đóng góp rất lớn vào công tác bảo vệ và phát triển rừng; góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ hơn 5 triệu ha rừng trong các lưu vực cung ứng DVMTR (chiếm tỷ lệ khoảng 38% tổng diện tích rừng hiện có)...
Bên cạnh đó, chính sách đã góp phần tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người làm nghề rừng, đặc biệt là đồng bào dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa. Mức thu nhập bình quân hàng năm của các hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng từ Chính sách chi trả DVMTR của cả nước đạt 2 triệu đồng/hộ/năm, góp phần cải thiện thu nhập, tạo sinh kế ổn định cho bà con ở vùng miền núi trên phạm vi cả nước.
Không chỉ có ý nghĩa với đời sống đồng bào, nguồn tiền DVMTR còn góp phần giải quyết, tháo gỡ khó khăn về kinh phí cho 199 Ban quản lý rừng, 84 công ty lâm nghiệp trong bối cảnh Chính phủ có chủ trương rừng khai thác chính gỗ từ rừng tự nhiên.
Mặc dù đã đạt được kết quả khả quan, quá trình thực hiện chính sách đã bộc lộ những khó khăn, tồn tại, hạn chế trong công tác chỉ đạo điều hành, tổ chức thực hiện. Cụ thể: Việc huy động hệ thống chính trị, các cấp chính quyền tại một số địa phương chưa thực sự quyết liệt, thiếu gắn kết, thiếu nguồn lực thực thi chính sách; một số địa phương chậm triển khai, chưa hoàn thành việc rà soát, xác định ranh giới, diện tích rừng đến từng chủ rừng; làm ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân tiền DVMTR đến các chủ rừng. Hơn nữa, do chính sách mới nên quá trình xây dựng và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật có những điểm chưa hoàn toàn phù hợp với thực tiễn và nhu cầu mong mỏi của người dân.
Theo các chuyên gia, chi trả DVMTR là một chính sách đúng đắn, một biện pháp thực sự có hiệu quả đã được thực tế chứng minh qua 5 năm triển khai. Cần làm cho chính sách này ngày càng phát huy hiệu quả về kinh tế, xã hội, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. (Công Thương 5/10; Chính Phủ 5/10) đầu trang(
Mặc dù chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đã góp phần bảo vệ và phát triển rừng nhưng sau một thời gian tạm lắng, nạn phá rừng ở Kon Tum đã bùng phát trở lại. Số vụ vi phạm lâm luật tăng đột biến, thậm chí xảy ra tại những khu rừng có chủ, cho thấy sự chủ quan và thiếu trách nhiệm của các cấp, ngành và địa phương.
Chính sách chi trả DVMTR đã tạo lập cơ sở kinh tế bền vững, góp phần tăng thu nhập, ổn định cuộc sống nên người dân yên tâm và có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ rừng. Chủ rừng là các tổ chức nhà nước đã chủ động về nguồn tài chính hàng năm để triển khai thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ rừng, góp phần ổn định diện tích rừng hiện có cả về số lượng, chất lượng và phát triển rừng mới.
Diện tích rừng khoán cho hộ gia đình, cộng đồng dân cư để bảo vệ của các Ban Quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, các công ty lâm nghiệp được nâng cao cả về quy mô, đa dạng về đối tượng. Đến nay, tổng diện tích rừng cung ứng DVMTR hơn 360.103 =ha, đạt khoảng 60% tổng diện tích rừng toàn tỉnh.
Khi chưa thực hiện chính sách chi trả DVMTR, đời sống của người tham gia quản lý, bảo vệ rừng hết sức khó khăn, nhận thức về việc bảo vệ rừng rất hạn chế. Khi được hưởng lợi từ chính sách chi trả DVMTR, người tham gia quản lý bảo vệ rừng, nhất là người dân được thụ hưởng chính sách này đã ý thức rất rõ vai trò và trách nhiệm của mình đối với việc bảo vệ và phát triển rừng. Các chủ rừng đã tăng cường công tác tuần tra, giám sát, chăm lo bảo vệ và phát triển rừng. Nhờ đó, số vụ vi phạm lâm luật đã giảm rõ rệt.
Năm 2011, trên địa bàn tỉnh Kon Tum có 528 vụ phá rừng trái phép, với diện tích rừng bị tàn phá là 84,30ha thì đến năm 2015 là 33 vụ (giảm 425 vụ), với diện tích rừng bị phá là 8,8ha, giảm 75,50ha so với năm 2011. Theo đó, số vụ khai thác rừng trái phép từ 153 vụ năm 2011 giảm còn 46 vụ năm 2015 (giảm 107 vụ); số vụ cháy rừng từ 19 vụ giảm còn 3 vụ (giảm 16 vụ); diện tích rừng bị cháy từ 321,34ha giảm còn 34,30ha (giảm 287,05ha).
Sau một thời gian lắng dịu, nạn phá rừng ở Kon Tum lại bùng phát. Theo báo cáo của Sở NN - PTNT, trong 9 tháng năm 2016 đã có 416 vụ vi phạm lâm luật, tăng khoảng 334 vụ so với năm 2015.
Các vụ vi phạm xảy ra trên lâm phần của các Ban Quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và các Công ty lâm nghiệp quản lý là 178 vụ, chiếm 43%; diện tích rừng do UBND xã quản lý để xảy ra 238 vụ, chiếm 57%. Đến nay, tỉnh đã xử lý kỷ luật 6 công chức ngành kiểm lâm và 18 viên chức của các đơn vị chủ rừng từ hình thức khiển trách, cảnh cáo trở lên.
Nguyên nhân khách quan do nhu cầu sử dụng gỗ trong sinh hoạt và phục vụ đời sống của nhân dân chưa giảm; người dân còn nghèo, nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của rừng của họ rất hạn chế… Nhưng số vụ vi phạm lâm luật tăng đột biến trong 9 tháng năm 2016, thậm chí xảy ra tại những khu rừng có chủ đã cho thấy sự chủ quan và thiếu trách nhiệm của các cấp, các ngành, các địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Để giữ rừng và làm tốt công tác quản lý và bảo vệ rừng, việc cần làm trước mắt là phải mạnh dạn rà soát và loại những kẻ nhăm nhe “xẻ thịt rừng” ra khỏi bộ máy quản lý, bảo vệ rừng; thực hiện đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho các tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư ở thôn về tầm quan trọng của tài nguyên rừng và chính sách chi trả DVMTR; giải quyết dứt điểm đất chồng lấn, đất lấn chiếm tại lâm phần của các đơn vị chủ rừng; rà soát, quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy cho nhân dân nhằm hạn chế, ngăn chặn tình trạng người dân phá rừng làm rẫy trái phép; thực hiện việc trồng rừng thay thế; quản lý chặt chẽ các hoạt động mua bán, chế biến gỗ; xử lý nghiêm các hành vi chặt, phá rừng, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép...
Bên cạnh đó, cần làm tốt công tác khoán diện tích rừng có cung ứng DVMTR cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn bảo vệ với quy mô phù hợp với từng chủ rừng; tổ chức giám sát công tác quản lý, bảo vệ và chi trả tiền DVMTR đối với diện tích rừng được giao khoán; kịp thời chấn chỉnh các hành vi vi phạm nhằm góp phần bảo vệ và phát triển vốn rừng trên địa bàn. (Đại Biểu Nhân Dân 5/10) đầu trang(
Ngày 5/10, phản ánh trên báo VietNamNet, đã gần 6 tháng kể từ hạn chót phải tháo dỡ biệt phủ trái phép trên núi Hải Vân, đại gia vàng vẫn chưa hoàn tất việc di dời, trả lại mặt bằng theo quy định.
Đến thời điểm hiện tại, khuôn viên khu biệt phủ trái phép của ông Ngô Văn Quang trên núi Hải Vân vẫn chưa được tháo bỏ, di chuyển hoàn toàn theo quy định.
Cụ thể, bên trong vẫn còn nguyên một căn nhà gỗ, các vật dụng tháo bỏ nằm chất đống chưa được di chuyển đi. Ở đây vẫn luôn có người túc trực, có nuôi cả chó để canh giữ cùng ao cá, cây trái. Bao quanh khu biệt phủ vẫn là bờ tường rào kiên cố, cùng cánh cổng sắt luôn được đóng kín.
Trước thông tin trên, ngày 5/10, trao đổi với Đất Việt, ông Đàm Quang Hưng - Chủ tịch UBND quận Liên Chiểu cho biết: "Khu biệt phủ đã tháo dỡ hoàn toàn, báo cáo tiến độ lên HĐND TP. Còn căn nhà gỗ cấp 4 và các đồ đạc là do vị đại gia xin tạm gửi lại, chờ tìm vị trí ở mới.
Căn này hiện nay chỉ còn là nơi chứa đồ dùng và để làm nơi thờ tự, chứ đã hoàn thiện trả lại quỹ đất vi phạm, chấp hành lệnh phá dỡ".
Ông Hưng cũng tiết lộ, vị đại gia này cũng đau ốm nhiều, nên đang đi chữa bệnh. Vì thế nên phải thuê người trông giữ giúp tài sản ở đó, trong thời gian đi tìm vị trí mới để xây dựng nhà. Được biết, gia đình cũng đã tìm được một số địa điểm nhưng còn chờ đợi làm thủ tục.
Theo ông Hưng, cũng nên tạo điều kiện giúp đỡ để cho gia đình ông Quang có thời gian sắp xếp và tìm được nơi ở mới, không nên quá khắt khe.
Bên cạnh đó, ông Hưng cho hay: "Diện tích đất trồng rừng không vi phạm, ông Quang vẫn có thể tiếp tục trồng rừng nguyên sinh, bởi vì, ông Quang chỉ vi phạm hơn 1000m2 đất xây nhà không phép, giờ đã tháo dỡ hết.
Với diện tích đất đã phá dỡ, thì giữ toàn bộ hiện trạng, giao cho địa phương quản lý, giám sát môi trường, tránh lặp lại tình trạng như vừa qua, còn lại sau này cần làm thủ tục giao đất, giao rừng thì chỉ cần thực hiện theo thủ tục của thành phố".
Mặt khác, nói về quá trình tháo dỡ biệt thự này, theo ông Hưng cũng mất vài tháng, đến ngày 15/4 đã tháo dỡ xong.
"Ông Quang vi phạm nhưng chấp hành, tự giác tháo dỡ theo đúng yêu cầu của địa phương, do gia đình có nhiều tài sản lớn nên phải tháo dỡ rồi bảo quản, cho nên mới xin thêm thời gian để nhờ đồ đạc, nhưng làm được như vậy là rất tốt, đúng với tinh thần một công dân. Thực ra, nếu ông Quang không chịu phá dỡ thì chính quyền địa phương phải vào cuộc, tự phá dỡ khi đó cũng rất mất thời gian và công sức", ông Hưng nhấn mạnh.
Trong khi đó, được biết, bản cam kết tận dụng 2 nhà gỗ để chứa đồ đã được ông Quang ký từ 16/4 (một ngày sau hạn chót dỡ bỏ). Đến nay sau hơn nửa năm, chủ nhân khu công trình trái phép này vẫn chưa có động thái chuyển đi.
Trong bản cam kết cũng không ghi rõ thời hạn sẽ hoàn tất việc tháo dỡ, chuyển đi theo đúng yêu cầu trước đó của chính quyền Đà Nẵng.
Theo yêu cầu này, ông Quang phải dỡ bỏ hoàn toàn công trình trái phép, trả lại nguyên trạng cho khu vực rừng Hải Vân. (Vietnamnet 6/10) đầu trang(
Cả nước có gần 8 triệu ha đất nông lâm trường (NLT), nhưng chỉ nộp ngân sách 180 tỷ đồng/năm (bằng một nhà máy cỡ vừa). Ngân sách nhà nước thất thu, vậy lợi tức từ đất NLT đã bị ai thâu tóm? Các doanh nghiệp NLT thực sự tồn tại để làm gì? PV Tiền Phong đi tìm câu trả lời này.
Bức tranh quản lý đất NLT tại huyện Quỳ Hợp (tỉnh Nghệ An-nơi có khoảng 70.000 ha đất NLT) dường như chia thành 2 mảng sáng-tối. Trong khi người dân chật vật với mảnh đất mưu sinh  thì dường như có hiện tượng những khoảng rừng NLT rơi vào tay quan chức…
Xã Tam Hợp (huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An) là điểm nóng về tranh chấp giữa người dân và NLT nhiều năm qua. Câu chuyện bắt nguồn từ cách quản lý đất NLT.
Giữa các khoảnh rừng tốt là những mái nhà đơn sơ. Ngày nắng, ô tô gầm cao vào còn khó, ngày mưa, coi như họ bị biệt lập.
Ông Nguyễn Bá Hải-Trưởng thôn Hợp Thành, xã Tam Hợp cho hay: Nhiều năm, ông cùng các hộ dân ngược xuôi để đòi tỷ lệ ăn chia sản phẩm rừng của chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc theo Quyết định 327 của Chính phủ với Lâm trường Đồng Hợp. Lâm trường có đất, dân có sức. Thế nhưng theo ông, lợi dụng sự thiếu hiểu biết và thông tin của người dân,  lâm trường chia phần như bố thí.
Lâm trường Đồng Hợp mới đầu chia cho người dân được giao khoán đất trồng 10%. Nhiều người dân xã Tam Hợp thấy không thể tin nổi khi mình là người trực tiếp sản xuất, nhưng lại được trả công ít ỏi. Ông Hải thay mặt những người dân nghèo tự nghiên cứu chính sách và bắt đầu hành trình đi đòi quyền lợi.
Đòi mãi qua các cấp chính quyền, tỷ lệ chia được nâng lên 25% và cuối cùng lên mức hơn 60%. Tuy nhiên, dù có được mức hơn 60%, chắc chắn người dân vẫn còn thua thiệt do còn phụ thuộc vào việc định giá trị mỗi hécta đất NLT của chính “ông chủ”. Ông Hải nói: “Người dân trồng cây có thể thu được 150 triệu đồng/ha/năm trong khi lâm trường báo doanh thu chỉ 50 triệu đồng/ha. Chúng tôi vẫn thấy chưa minh bạch, tiếc cho đất”.
Việc thu hồi đất của NLT thực tế hết sức khó khăn. Cũng tại Quỳ Hợp, hồ chứa nước bản Mồng (trị giá gần 4.500 tỷ đồng) là trường hợp phức tạp nhiều năm. Dân không chịu giao đất, đưa quan tài ra ngã ba đường, ra điều kiện với chính quyền. Bí thư huyện Quỳ Hợp Võ Thị Minh Sinh từng nhiều lần vào gặp dân thuyết phục với lời hứa sẽ đổi cho người dân một diện tích tương đương để sản xuất.
Dân chấp nhận giao đất; tuy nhiên, công cuộc tìm được đất để đổi cho dân không dễ dàng. “Hầu hết đất của NLT đã được giao khoán; giờ ai chịu bỏ đất ra? Lấy của người này lại phải kiếm đất khác để đổi thành ra vòng luẩn quẩn, không lối thoát” - Trưởng phòng Tài nguyên môi trường huyện Quỳ Hợp Lê Sỹ Hào nói. Quỳ Hợp đang gặp khó khăn tương tự tại dự án làm bãi xử lý rác thải.
Phó chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Đinh Viết Hồng ký quyết định thu hồi hơn 5 hécta đất của NLT Quỳ Hợp. Khi triển khai, diện tích đất đó lại có nhiều gia đình đã gắn liền với đất hàng chục năm qua. Huyện lại xin tỉnh cơ chế đất đổi cho dân (Phó chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Huỳnh Thanh Điền đã ký văn bản đồng ý). Nhưng hầu hết đất lâm trường đã được giao khoán.
Gia đình bà Hoàng Thị Quế đến bản Thung Khẳng (xã Thọ Hợp, Quỳ Hợp) làm kinh tế từ năm 1993. Cả nhà có 8 sào vườn nhận thầu của lâm trường với tỷ lệ 49/51 (người làm hưởng 49%, lâm trường hưởng 51%). Nhà 5 miệng ăn, đất hẹp không nuôi nổi người, phải làm thuê, trông nom đất rừng cho người khác.
Chỉ vào khu đất ngút tầm mắt cạnh nhà, bà Quế nói đó là đất rừng của các lãnh đạo huyện chung nhau làm trang trại. “Cả khu này có diện tích khoảng 4 ha. Hàng tuần các ông ấy xuống thăm nom và trả tiền công cho tôi” - bà Quế nói. Theo tìm hiểu của chúng tôi, những người thường đến thăm nom trang trại, trả tiền cho bà Quế là ông Phan Đình Đạt - Phó Bí thư Huyện ủy Quỳ Hợp, ông Vũ Quang Minh cán bộ công tác tại Trường Chính trị huyện Quỳ Hợp.
Người đứng tên chính thức thửa rừng này là ông Nguyễn Văn Hiền, lái xe của Huyện ủy Quỳ Hợp. Khi được hỏi về những khoảng rừng trù phú, Phó Bí thư Huyện ủy Quỳ Hợp xác nhận: “Tôi có hợp tác với ông Minh, ông Hiền cùng nhau trồng cam trên diện tích hơn 4 ha ở Thung Khẳng (Thọ Hợp). Đây là đất của bố anh Hiền canh tác chứ không phải đất của nông lâm trường. Hiện nay chúng tôi đang trồng lứa cam đầu tiên và thuê bà Quế trông nom”.
Tại bản Nát (xã Châu Cường, Quỳ Hợp), chúng tôi được người dân ở đây cho biết, đất của cán bộ huyện khá nhiều. Chỉ vào mảnh đất đẹp gần con suối, chị Hồng, một người dân ở đây cho hay: “Khoảng 6 ha rừng đó là của ông Tùng (chủ tịch UBND huyện Quỳ Hợp - PV).
Tuần nào ông ấy cũng đánh ô tô xe vào đây để thăm nom. Rừng keo này mới bán, đang trồng đợt mới”. Tại bản Huổi Trục (xã Châu Cường), người dân cho biết, gia đình nguyên Bí thư huyện ủy Quỳ Hợp cũng có nhiều hécta rừng, đang thuê người phát cỏ.
Để làm rõ sự việc, chúng tôi liên lạc với ông Lê Thanh Hải, Giám đốc Lâm trường Quỳ Hợp. Qua điện thoại, ông Hải tuyên bố: “Không có việc gì không thể công khai”. Tuy nhiên, về tận nơi, nhiều lần thuyết phục, ông này viện lý do hồ sơ không còn lưu trữ để từ chối. Ông Hải thừa nhận một số lãnh đạo NLT nhận khoán với diện tích lớn (cá nhân ông Hải thừa nhận có nhận khoán “vài ba” hécta).
Trả lời câu hỏi vì sao giao khoán diện tích đất cho những cán bộ, đơn vị không trực tiếp sản xuất nông nghiệp; trong đó có cả đơn vị thuộc Công an tỉnh Nghệ An, ông Hồ Đình Thế - GĐ Cty Nông lâm nghiệp Sông Hiếu (quản lý hơn 50% đất NLT của tỉnh Nghệ An) cho hay: Trước đây, Nhà nước không cấm giao đất cho các tổ chức, cá nhân không trực tiếp đất nông nghiệp nên công ty có giao khoán cho lực lượng Cảnh sát 113 của tỉnh Nghệ An trên địa bàn (được biết, đơn vị này từng gác cửa rừng - PV). Vừa qua, khi Chính phủ ra quy định, công ty đã thanh lý hợp đồng này.
Khi đề cập tới việc là quan chức đầu huyện, có thể nhận nhiều ưu đãi, ông Nguyễn Đình Tùng-Chủ tịch UBND huyện Quỳ Hợp (nguyên là Trưởng phòng TNMT huyện) cho biết: Năm 2009, kinh tế gia đình khó khăn, có nhận mua lại 4 ha của một hộ tại bản Nát (xã Châu Cường). Ông Tùng nói năm 2015 đã bán cho một người khác và không kê khai tài sản.
Tuy vậy, trong nhiều ngày có mặt tại Quỳ Hợp, nhóm PV thường thấy một chiếc xe bán tải qua lại chăm “rừng ông Tùng”. Tìm hiểu chủ nhân chiếc xe này và trực tiếp hỏi (được biết đây là một doanh nghiệp chuyên trồng rừng và làm công trình trên địa bàn), vị này nói: “Doanh nghiệp đang trồng khoảng 70 ha rừng tại huyện Quỳ Hợp. Hiện công ty đang làm kế hoạch để trồng thêm trên đất rừng của ông Tùng - Chủ tịch huyện Quỳ Hợp ở xã Châu Cường và của ông Hải (GĐ Lâm trường Quỳ Hợp)”. Tuy vậy, trao đổi gần nhất với Tiền Phong, Chủ tịch Tùng “thề” không sở hữu mảnh rừng nào nữa.
Cuối năm 2013, Thanh tra tỉnh Nghệ An thanh tra 21 NLT trên địa bàn, cho thấy: 100% các đơn vị sai phạm về đất đai trên tổng số diện tích hơn 28,4 nghìn ha (chiếm 40% diện tích đất đang sử dụng). Đặc biệt, tất cả các đơn vị đều chưa trả tiền thuê đất theo quy định. (Tiền Phong 6/10) đầu trang(
Đó là câu hỏi thẳng thắn mà anh Phan Thế Cửu - nông dân thôn Lộc Xuân, xã Phú Lộc, huyện Krông Năng, Đăk Lăk, và nhiều nông dân (ND) khác nêu ra sau khi nghe các chuyên gia phân tích về cơ hội, thách thức của ngành mắc ca (được ví là hoàng hậu của các loại hạt khô) tại các tỉnh Tây Nguyên.
Anh Cửu hiện đã trồng 100 cây mắc ca trồng xen cà phê trong vườn nhà. Dù tỏ ra rất “máu lửa” với giống cây trồng mới này, nhưng trong bối cảnh cây hồ tiêu đang được giá trở lại, vợ anh lại thiên về trồng tiêu. Gia đình anh đang phân thành 2 hướng chưa ngã ngũ.
Trong các câu hỏi trực diện đặt ra với lãnh đạo Hiệp hội Mắc ca Việt Nam, anh Cửu nêu vấn đề quan trọng: “Tôi sẽ bán mắc ca ở đâu, bán cho ai?”.
Ý anh Cửu nêu ra không phải chỉ cho 100 cây mắc ca của gia đình mình, hay cả 7.000 cây mắc ca trồng xen của toàn huyện Krông Năng, mà là đầu ra bền vững cho ngành này, một khi ND Tây Nguyên đã trồng với quy mô lớn. Với người ND, cây gì cũng có thể trồng được, và trồng rất giỏi, vấn đề là bán được không.
Do vậy chỉ khi họ thấy “mặt mũi, hình hài” của một nhà máy chế biến mắc ca trên địa bàn cùng với doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm hàng năm mới có sức thuyết phục mạnh mẽ.
Ngay trong hội thảo đầu bờ, những ND tiên phong trồng loại cây này từ 5 năm trước đã đem đến một phần của câu trả lời. Ông Đinh Minh Đại và những người con của ông ở xã Ea Kar (Krông Năng) đã trồng xen mắc ca vào 12ha cà phê, năm nay ngoài hơn 20 cây mắc ca 5 năm tuổi đã cho thu hoạch vụ 2, hàng trăm cây khác trong tổng số gần 800 cây mắc ca đến tuổi thứ 4 đã cho quả bói.
Tính đến cuối tháng 9.2016, ông thu hoạch được hơn 5 tấn hạt, thu về gần 500 triệu đồng. Không chỉ bán sản phẩm của mình làm ra, ông còn nhận làm đại lý thu mua hạt mắc ca của bà con ND trong vùng cho một công ty ở Lâm Đồng.
Tuy nhiên, không phải hạt mắc ca cũng bán được. Chỉ những hạt nguyên vỏ đạt đường kính tối thiểu 23mm, tỷ lệ nhân đạt tối thiểu 33% và phải thu hoạch khi trái đã chín nhưng không bị chảy dầu. Còn mắc ca thu hoạch non thì coi như bỏ đi.
Anh Đỗ Đình Dũng – Giám đốc Công ty TNHH thương mại dịch vụ tổng hợp Việt Xanh ở thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng (gọi tắt là Công ty Việt Xanh) kể về việc một cặp vợ chồng ở xã Phi Liêng, vượt 70km đường rừng chở ra 30kg hạt mắc ca bán cho cho công ty, nhưng do không được chăm sóc tốt, kích cỡ hạt mắc ca thu được quá nhỏ, anh không mua. Vợ chồng kia ứa nước mắt, nên cuối cùng anh đồng ý mua ủng hộ vì thương bà con, nhưng không thể chế biến thành hàng hóa tiêu chuẩn.
Giá hạt mắc ca nguyên vỏ cứng, độ ẩm ở mức 15-17% mà nông dân Tây Nguyên bán xô cho các công ty bình quân khoảng 90.000 đồng/kg, sau khi thải loại hạt xấu và chi phí sấy khô đến độ ẩm tiêu chuẩn 10%, mức giá này thậm chí còn “được giá” hơn so với giá mắc ca tại Úc (khoảng 5,2 AUD/kg, tương đương 88.000 đồng/kg). Đó là chưa tính với những hạt mắc ca có đường kính lớn hơn 27mm, hoặc loại hạt mắc ca có tỷ lệ nhân vượt xa trên 33%, sẽ có giá mua vào cao hơn, có thể đến 115.000 đồng/kg.
So sánh hạt mắc ca nguyên vỏ cứng của Việt Nam và mắc ca cùng loại nhập từ Úc, các chuyên gia và doanh nhân thấy rõ là hạt mắc ca trồng từ Tây Nguyên có nhân đẹp và cân đối, tỷ trọng của nhân cao, hương vị thơm ngon hơn so với mắc ca Úc.
Đặc biệt, kích cỡ hạt nhân của hàng xuất xứ Việt Nam lớn hơn (bình quân 70-80 hạt/kg) so với mắc ca tiêu chuẩn xuất khẩu của Úc, Nam Phi (100-110 hạt/kg). Những điểm vượt trội này đã được chính GS Hoàng Hòe – chuyên gia hàng đầu về mắc ca với hơn 20 năm nghiên cứu mắc ca thế giới và trong nước – xác nhận. Đây chính là một trong những lợi thế cạnh tranh của hạt mắc ca Việt Nam.
Về câu chuyện nhà máy chế biến, ông Huỳnh Ngọc Huy – Tổng Thư ký Hiệp hội Mắc ca Việt Nam phân tích, để xây dựng được một nhà máy quy mô sản xuất hàng xuất khẩu như Úc, Nam Phi, thì ngoài các yếu tố thị trường, yêu cầu phải có vùng nguyên liệu cung cấp đủ cho công suất của nhà máy. Chẳng hạn, để xây một nhà máy ở Đăk Lăk, cần có vùng nguyên liệu tối thiểu 10.000ha mắc ca. Do đó, doanh nghiệp phải cân nhắc quy mô, thời điểm và địa điểm nhà máy phù hợp với tốc độ phát triển của vùng nguyên liệu.
Trong chuyến đi thực địa tại Lâm Đồng, phóng viên NTNN được anh Đỗ Đình Dũng – Giám đốc Công ty Việt Xanh mời tham quan xưởng chế biến mắc ca mà anh đã đầu tư với tổng trị giá gần 6 tỷ đồng. Đây là nhà máy quy mô nhỏ, nhưng nhập khẩu dây chuyền công nghệ hiện đại, từ máy sấy, máy cắt vỏ, dây chuyền đóng gói, hệ thống kho lạnh... được đầu tư đồng bộ.
Năm 2015, xưởng của anh Dũng chế biến được gần 50 tấn, làm 7 tháng rồi chơi 5 tháng vì không có đủ nguyên liệu. Năm nay, công ty có kế hoạch chế biến đạt khoảng 80 tấn. Tại đây, anh Dũng đã cho chúng tôi được thưởng thức cả 2 loại hạt mắc ca chế biến từ hạt nhập từ Úc và hạt của Việt Nam để thấy sự vượt trội kha rõ ràng về chất lượng của mắc ca Việt Nam như đã phân tích ở trên.
Trước một doanh nghiệp đã có dây chuyền công nghệ chế biến đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, một câu hỏi quan trọng được nêu ra: Xu hướng thị trường xuất khẩu mắc ca có bền vững trong dài hạn hay chỉ là nhất thời? Để trả lời câu hỏi này, GS Hoàng Hòe đã chia sẻ về số liệu nghiên cứu, thống kê của Hiệp hội Mắc ca thế giới (INC).
Theo đó, thế giới hiện có khoảng 78 triệu người đang dùng mắc ca hằng ngày và con số này tiếp tục tăng. Tổng nguồn cung của thế giới hiện nay đạt gần 50.000 tấn nhân mắc ca/năm, tương đương khoảng 150.000 tấn hạt khô nguyên vỏ. Trong tương lai, Trung Quốc sẽ là thị trường tiêu thụ mắc ca lớn nhất thế giới (hiện tiêu thụ 1.790 tấn/năm, chưa kể nhập khẩu hạt nguyên vỏ 40.000 tấn).
Số liệu phân tích của INC cũng cho thấy, sản lượng hạt mắc ca mới chỉ chiếm 1% thị phần của các loại hạt và tổng giá trị thương mại trên thế giới mới chỉ đạt 650 triệu USD/năm (chỉ bằng 10% của hạnh nhân, trong khi loại hạt này ngon hơn hạnh nhân và những loại hạt khô khác).
INC dự báo, trong 10 năm tới, tổng nhu cầu mắc ca sẽ tăng lên 5 lần so với hiện nay (800.000 tấn). Trong khi đó, các nước trên thế giới (kể cả Việt Nam), cho đến năm 2030 sẽ chỉ mới sản xuất được 500.000 tấn. Nếu thực tế đúng như dự báo này, thị trường thế giới cho đến năm 2030, cung vẫn chưa đáp ứng cầu (thiếu khoảng 300.000 tấn hạt). (Dân Việt 5/10) đầu trang(
Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc có tổng diện tích đất tự nhiên 791.488,9 ha, trong đó, diện tích rừng và đất qui hoạch cho phát triển lâm nghiệp là 563.139,3 ha, chiếm gần 71,2% diện tích đất tự nhiên của tỉnh.
Trong 6 năm vừa qua (từ 2010 – 2015), rừng của Hà Giang đã được đầu tư từ các chương trình, dự án của Trung ương như: Chương trình 135, Chương trình 30a, Chương trình phục hồi và phát triển rừng tại 4 huyện vùng cao nguyên đá….Nhờ đó, độ che phủ của rừng không ngừng được nâng lên, trữ lượng lâm sản ngày càng lớn.
Tuy nhiên, diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng của Hà Giang còn khá lớn, vào khoảng trên 58.230 ha. Vì vậy, tỉnh Hà Giang đã có nhiều chính sách nhằm khuyến khích hộ và các nhóm hộ, các doanh nghiệp đầu tư vào công tác phát triển trồng rừng.
Theo kết quả báo cáo của UBND tỉnh Hà Giang, trong 6 năm (từ 2010 – 2015), toàn tỉnh đã trồng được 69.279,6 ha rừng, đạt 95,8% so với kế hoạch đề ra. Độ che phủ của rừng tăng từ  51,16% vào cuối năm 2009 lên 54,4% vào cuối năm 2015. Tổng kinh phí được hỗ trợ cho công tác trồng, quản lý và bảo vệ rừng là 136,084 tỷ đồng, đạt 98,5% kế hoạch. Bên cạnh đó, cho đến thời điểm hiện nay, 100% các thôn, bản có rừng đã xây dựng xong các qui ước và hương ước bảo vệ rừng.
Cũng trong 6 năm qua, các lực lượng chức năng của Hà Giang đã phát hiện được 2.698 vụ vi phạm lâm luật; trong đó đã xử lý 2.540 vụ, nộp ngân sách nhà nước trên 18,3 tỷ đồng; đã thực hiện được 979.729 lượt bảo vệ rừng với 50.770 hộ và nhóm hộ tham gia; khoanh nuôi bảo vệ được 166.894 lượt ha rừng; cấp phát hỗ trợ cho người dân được 9.723 tấn gạo cho trên 60 nghìn hộ để phục vụ cho công tác trồng và bảo vệ rừng. Số tiền quỹ được ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng từ năm 2013 đến thời điểtm cuối tháng 6/2016 đạt trên 160,6 tỷ đồng, trong đó đã giải ngân 128,5 tỷ đồng.
Tuy nhiên, qua 6 năm triển khai, công tác trồng rừng của Hà Giang vẫn còn bộc lộ một số mặt hạn chế như: Một số huyện triển khai công tác trồng rừng chưa đạt so với kế hoạch được giao; việc đôn đốc một số công ty khai thác khoáng sản trồng rừng thay thế chưa đạt yêu cầu, chất lượng trồng rừng thay thế kém; một số công ty được giao đất để trồng rừng nhưng không triển khai thực hiện; mốc giới của 3 loại rừng (rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất) đã được qui hoạch tại một số vùng chưa được xác định cụ thể; một số nhà máy thủy điện chậm nộp tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng; công tác tuyên truyền, phổ biến về trồng và bảo vệ rừng hiệu quả chưa cao...
Nhằm khắc phục những tồn tại trong công tác trồng rừng những năm qua, UBND tỉnh Hà Giang tiếp tục chỉ đạo các huyện rà soát lại kế hoạch phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2016 – 2020 nhằm phù hợp với kế hoạch giao đất và sử dụng đất lâm nghiệp; qui hoạch lại 3 loại rừng của tỉnh; đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của người dân về giá trị của rừng trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành về trồng, bảo vệ và phát triển rừng; nâng cao chất lượng của cây giống trong trồng rừng và công tác chăm sóc, bảo vệ rừng sau khi trồng… (Đảng Cộng Sản Việt Nam 5/10) đầu trang(
Diện tích keo của tỉnh Cà Mau thời gian gần đây tăng mạnh. Tuy nhiên, do phát triển nhanh và tự phát nên nhiều người dân lo lắng.
Thực tế, cây keo lai đang chứng minh được hiệu quả kinh tế với những ưu điểm là sản phẩm thương mại, giá bán cao. Loại cây này đã góp phần lớn vào nâng cao thu nhập cho nhiều hộ dân trồng rừng ở U Minh Hạ. Đặc biệt, sự sinh trưởng của cây keo lai ở đây được đánh giá là nhanh nhất so với các vùng trong cả nước.
Theo tính toán của bà con địa phương, cây keo lai trồng chỉ 4 - 5 năm cho thu hoạch, mỗi ha cho sản lượng khoảng 200 - 250m3 gỗ (mỗi m3 nặng 800kg). Giá gỗ mấy năm nay ổn định trên dưới 1.000 đồng/kg. Các phụ phẩm cành, nhánh cũng bán được giá 500 đồng/kg. Bình quân mỗi ha cho tổng thu khoảng 200 triệu đồng.
Trong khi đó, chi phí đầu tư kê liếp khoảng 35 triệu đồng/ha, trừ tiền cây giống, chăm sóc… còn lời hơn 100 triệu đồng/ha. So với cây tràm truyền thống, giá trị kinh tế gấp khoảng 2 - 3 lần, thời gian trồng cũng rút ngắn được khoảng 2 năm trên mỗi chu kỳ thu hoạch.
Cũng từ hiệu quả rất thiết thực trên, thời gian qua, việc trồng keo phát triển nhanh đến chóng mặt, nguy cơ phá vỡ quy hoạch của tỉnh này. Năm 2014, diện tích keo lai của Cà Mau khoảng 4.000ha và chủ yếu do doanh nghiệp trồng. Đến nay, diện tích keo lai đã trồng tập trung thay thế rừng tràm là hơn 7.300ha. Trong đó, Cty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ 3.346ha (đơn vị trực tiếp sản xuất, hợp tác đầu tư 2.200ha; hộ nhận khoán trồng 1.146ha); các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 2.820ha; hộ gia đình 1.134ha.
Diện tích trồng keo lai quy mô hộ gia đình đã tăng rất mạnh nhưng chưa đi cùng với liên kết để đảm bảo đầu ra. Nhiều người dân lo lắng, sẽ lại như bao nông sản khác, đổ xô trồng dẫn đến được mùa mất giá?
Đã đầu tư trồng 5ha keo lai được gần 3 năm, ước tính chỉ cần khoảng 2 năm nữa có thể thu hoạch nhưng chú Trần Trọng Nghĩa (xã Nguyễn Phích, huyện U Minh) vẫn canh cánh nỗi lo.
Theo chú Nghĩa, gia đình đã đầu tư gần 200 triệu đồng để cải tạo hết diện tích đất trồng keo.
Loại cây này rất dễ trồng, chi phí rất thấp, công chăm sóc chủ yếu ở khâu tỉa cành. Cứ vài tháng bà con tỉa cành một lần, chẳng phân thuốc gì, cây cứ lớn vùn vụt trên mặt đất phèn.
“Tôi thấy người ta làm hiệu quả cũng làm, khi trồng bà con phát triển rất nhiều. Bây giờ đi đâu cũng thấy toàn keo là keo thôi.
Duy trì được giá như hiện nay thì quá tốt, nhưng lỡ cung vượt quá cầu lúc đó không ai mua thì chết”, chú Nghĩa băn khoăn nói.
Từ việc nhà nhà đổ xô trồng, nguồn giống không đáp ứng đủ yêu cầu dẫn tới thực trạng giống chất lượng thấp, chưa được chọn lọc. Bà con chủ yếu mua cây con giâm hom trôi nổi về trồng tự do, dễ bị hao hụt. Thực tế Cà Mau cũng chưa có cơ sở sản xuất giống tốt, chất lượng cao, sạch bệnh để làm nền tảng cung ứng giống cho công tác trồng rừng. (Nông Nghiệp Việt Nam 6/10) đầu trang(
Ngày 5/10, nguồn tin từ Văn phòng UBND tỉnh cho biết Chủ tịch UBND tỉnh Hoàng Văn Trà vừa chấp thuận cho Công ty TNHH Chế biến gỗ xuất nhập khẩu Phú Thịnh (huyện Phú Hòa) đầu tư dự án Nhà máy chế biến gỗ rừng trồng. Dự án này được triển khai trên diện tích hơn 5ha tại cụm công nghiệp Ngọc Sơn Đông, xã Hòa Quang Bắc, huyện Phú Hòa với tổng vốn đầu tư 88,4 tỉ đồng.
Theo đó, nhà đầu tư sẽ xây dựng một nhà máy chế biến gỗ rừng trồng với công suất thiết kế khoảng 7.200m3/năm đối với sản phẩm chính là đồ gỗ nội, ngoại thất như giường, tủ, bàn ghế, ván ghép thanh...; đồng thời tận dụng phế phẩm trong sản xuất và gỗ thứ phẩm trong khai thác (cành, ngọn…) để sản xuất dăm gỗ, công suất khoảng 6.000 tấn/năm.
Dự kiến, từ tháng 2-8/2017, Công ty TNHH Chế biến gỗ xuất nhập khẩu Phú Thịnh sẽ xây xưởng dăm, xưởng xẻ gỗ, nhà sấy, bãi dăm, bãi gỗ nguyên liệu và hệ thống vận chuyển nội bộ. Từ tháng 6-12/2017, doanh nghiệp này tiếp tục xây nhà xưởng sản xuất, văn phòng, nhà lưu trú…
Nhà máy được đưa đi vào hoạt động sẽ góp phần tạo thêm giá trị gia tăng sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh; đồng thời tạo thêm việc làm cho lao động và tăng thu cho ngân sách địa phương. (Báo Phú Yên 6/10) đầu trang(
Nhằm thực hiện tốt Kế hoạch số 46/KH-UBND ngày 26.3.2014 của UBND tỉnh ban hành về công tác quản lý lâm sản (QLLS) trên địa bàn toàn tỉnh; trong hơn 2 năm qua, các huyện, thành phố đã bám sát kế hoạch này và chỉ đạo các ngành chức năng của mình thành lập các Ban, Tổ công tác chỉ đạo bảo vệ phát triển rừng và đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ.
Đặc biệt, Kế hoạch số 46 đã được tuyên truyền triển khai tới tất cả các thôn, bản, cộng đồng người dân sống liền rừng; nhất là các xã có diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng tự nhiên có nhiều loại lâm sản quý hiếm; nhằm giúp người dân hiểu và biết được chủ trương của Kế hoạch số 46 của UBND tỉnh về công tác bảo vệ rừng (BVR) và QLLS.
Thực tế cho thấy, qua hơn 2 năm triển khai công tác QLLS trên địa bàn toàn tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực. Các huyện, thành phố đã tổ chức nhiều đợt tuyên truyền Kế hoạch số 46 và kế hoạch QLLS của từng huyện đến toàn thể người dân tại các cộng đồng thôn, bản; kết quả 11/11 huyện, thành phố đã tổ chức tuyên truyền đến 1.200 thôn, bản, tổ dân phố; với 115.580 lượt người tham gia. Cùng với công tác tuyên truyền, công tác kiểm tra, quản lý các cơ sở chế biến, kinh doanh lâm sản cũng được quan tâm chặt chẽ.
Tính đến tháng 6.2016, toàn tỉnh có 310 cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh lâm sản; tổng khối lượng gỗ các loại còn tồn tại các cơ sở qua kiểm tra, thống kê theo Kế hoạch là 9.098,361 m3. Tổng khối lượng gỗ bị gãy đổ còn nằm trên rừng các huyện, thành phố từ nhóm II đến nhóm VI là 4.653,226 m3. Toàn bộ số gỗ sau thống kê, kiểm đếm đã được lập hồ sơ và bàn giao lại cho chính quyền địa phương sở tại nơi có gỗ kiểm đếm quản lý tại cơ sở.
Tổng khối lượng gỗ các loại theo các Quyết định tịch thu của các cấp có thẩm quyền chuyển giao cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tỉnh tổ chức bán đấu giá sung quỹ Nhà nước là 530,067 m3, tổng số tiền thu nộp ngân sách Nhà nước trên 3 tỷ 834 ngàn đồng.
Các Tổ công tác của huyện đã vận động các hộ có gỗ cất giữ tại gia đình thống kê, kê khai để quản lý, sử dụng tại chỗ; không trao đổi, mua, bán, vận chuyển ra khỏi địa bàn. Kết quả kiểm kê, kê khai được 5.313 hộ tại 113 xã, thị trấn thuộc 9 huyện, thành phố với tổng khối lượng gỗ các loại đang được cất giữ và sử dụng tại các hộ từ nhóm II đến nhóm VIII là 18.761,352 m3; công tác quản lý cưa xăng (QLCX) cũng được triển khai chặt chẽ.
Cho đến nay, 11/11 huyện, thành phố đã xây dựng phương án và phê duyệt kế hoạch QLCX tại địa phương triển khai xuống từng thôn, bản. Tổng số máy cưa xăng đã thống kê được là 3.988 máy tại 9/11 huyện, trong đó, quản lý tập trung tại trụ sở xã, thôn, bản là 241 máy; kê khai quản lý theo mô hình nhóm hộ, gia đình để quản lý là 3.747 máy...
Với sự chỉ đạo chặt chẽ, sát sao từ tỉnh đến các huyện, thành phố, sự vào cuộc của các ban, ngành, đoàn thể; công tác quản lý, BVR, QLLS trên địa bàn toàm tỉnh đã có bước chuyển biến tích cực, không còn tình trạng lợi dụng việc xin khai thác tận thu, tận dụng gỗ trong rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; gỗ và lâm sản được kiểm soát chặt chẽ.
Việc khai thác gỗ trong dân đã tạo ra một bước chuyển biến sâu sắc về nhận thức của từng cán bộ và nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số trong công tác bảo vệ tài nguyên rừng. Đặc biệt là khắc phục được tư tưởng, nhận thức của một bộ phận nhân dân sống gần rừng từ xưa đến nay cứ thiếu gỗ để làm nhà, sửa chữa chuồng trại là lên rừng khai thác mà không biết mình đã vi phạm pháp luật.
Nếu như năm 2013 xảy ra 463 vụ vi phạm, thì trong 7 tháng đầu năm 2016 chỉ còn 189 vụ, giảm 121 vụ so với năm 2013; các vụ xảy ra chủ yếu là nhỏ lẻ, không có điểm nóng bùng phát. Đặc biệt, công tác quản lý gỗ trong các hộ đã giúp cấp ủy, chính quyền cơ sở, cơ quan chức năng quản lý nắm bắt được các loại gỗ tồn trong nhân dân trên cơ sở các hộ tự giác kê khai với UBND các xã từ đó yên tâm sử dụng hợp pháp để xây dựng nhà cửa, làm chuồng trại.
Công tác điều tra, thống kê các loại gỗ còn nằm trên rừng do gẫy đổ giúp cho cấp ủy, chính quyền địa phương quản lý tốt hơn; chấm dứt được tình trạng lợi dụng khai thác gỗ tận thu, tận dụng, vận chuyển trái phép. Công tác QLCX được quản lý chặt chẽ cũng đã giúp cho việc quản lý BVR ngày càng hiệu quả hơn.
Có thể nói, với sự chỉ đạo quyết liệt của tỉnh, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở; công tác quản lý BVR, QLLS trên địa bàn tỉnh ta trong hơn 2 năm qua đã đạt được những kết quả đáng phấn khởi. Với sự cố gắng nỗ lực đó, chắc chắn, công tác quản lý BVR, QLLS trên địa bàn toàn tỉnh sẽ có nhiều chuyển biến tích cực hơn nữa trong những năm tới, góp phần nâng tỷ lệ che phủ rừng ngày càng cao... (Báo Hà Giang 5/10) đầu trang(
“Làng nghề chúng tôi đang rất gay go khi hàng loạt sản phẩm gỗ trắc làm ra 4 năm năm nay không xuất khẩu được. Lượng sản phẩm này quy ra khoảng 50.000 m3 gỗ và giá trị rất lớn. Làm sao chúng tôi xuất được số hàng này bây giờ? Các cơ quan chức năng hãy giúp chúng tôi!”, ông Vũ Quốc Vương - Chủ tịch Hiệp hội Gỗ Đồng Kỵ (Bắc Ninh) cho biết.
Ông Vương cho biết, đây là số gỗ trước đây nhập khẩu từ Lào, Campuchia, khi đó theo Văn bản số 4719/VPCP –NN ngày 22/8/2007 của Văn phòng Chính phủ về việc giải quyết ách tắc trong việc xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ, đồ gỗ cao cấp thì đối với hàng gỗ thủ công mỹ nghệ, hàng gỗ cao cấp, từ nhóm gỗ 1A trở lên, đã được chế biến hoàn chỉnh, khi xuất khẩu chỉ cần kê khai với Hải quan đầy đủ số lượng, chủng loại, không phải xuất trình nguồn gốc gỗ. Việc kiểm tra nguồn gốc gỗ phải được thực hiện tại cơ sở sản xuất (đầu nguyên liệu vào xưởng).
Thông tin này khiến không ít người bất ngờ. Ông Võ Đình Tuyên - Vụ Kinh tế ngành, Văn phòng Chính phủ ngạc nhiên: “Chứng tỏ làng nghề không cập nhật thông tin. Cites đã có quy định về nguồn gốc gỗ xuất khẩu từ cách đây mấy năm, đây là gỗ đã nhập khẩu từ trước, nhưng làng nghề phải báo cáo lên chứ! Bây giờ mới nói là quá muộn!”.
“Cách đây 3 năm, Cites Quốc tế đã  đưa ra lệnh cấm với gỗ trắc. Cấm có nghĩa là cấm kêu, không bàn cãi gì, một số loại gỗ trắc khác phải xin phép. Khi Cites Quốc tế đưa ra lệnh này, Cites Việt Nam cũng đã công bố rồi. Làng nghề phải thường xuyên cập nhật thông tin. Bây giờ phải thống kê lại xem có những loại trắc gì, chủng loại ra sao…” - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt nam (VIFORES), ông Nguyễn Tôn Quyền đề nghị.
Trao đổi với Báo PLVN,  Chủ tịch Hiệp hội Gỗ Đồng Kỵ Vũ Quốc Vương  cho biết, nếu quy ra giá trị thì giá trị thành phẩm của 50.000 m3 gỗ trắc đó là khoảng 10.000 tỷ đồng, trong đó doanh nghiệp tồn nhiều lên tới 500 tỷ đồng, doanh nghiệp tồn ít cũng ngót nghét 5 tỷ đồng. Được biết, không chỉ tồn đọng vốn, số hàng thành phẩm này đã “đắp chiếu” hàng năm nay,  ảnh hưởng đến công ăn việc làm của khoảng 8.000 lao động và phương hướng phát triển của làng nghề.
“Thực ra cũng có khách hàng muốn mua nhưng doanh nghiệp không thể xuất qua biên giới được. Còn bán trong nước thì không khách hàng nào kham nổi bởi gỗ trắc nguyên liệu khi mua vào đã 250 triệu đồng/m3, có thời điểm lên tới 1 tỷ đồng/m3…” - Ông Vương cho biết.
Theo Chủ tịch Hiệp hội Gỗ Đồng Kỵ, do lượng hàng  hoá tồn đọng tại làng nghề Đồng Kỵ còn nhiều nên cần phải tiếp tục xuất khẩu số hàng tồn để thay thế nhóm gỗ mới trong 3 năm tới …
Theo ông Nguyễn Tôn Quyền, câu chuyên làng nghề Đồng Kỵ cũng là bài học chung cho các làng nghề và doanh nghiệp. “Các loại gỗ quý hiếm như gỗ hương, gỗ trắc, gỗ gụ… sẽ ngày càng hiếm đi, vì vậy doanh nghiệp cần tính đến các lọai gỗ thay thế. Như một số làng nghề ở miền Nam đã chuyển sang dùng gỗ xà cừ…” - ông Quyền cho nói. Đặc biệt, ông Quyền lưu ý, nhiều làng nghề, doanh nghiệp hiện nay quá phụ thuộc vào thị trường Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc nên các thị trường này “dừng là chết”.
Nghiên cứu của Tổ chức Forest Trends cũng cho thấy, trong những năm qua, cầu đối với các loài gỗ quý, đặc biệt là cầu tại thị trường Trung Quốc giảm rất lớn đã làm chững lại các hoạt động thương mại các loài gỗ quý giữa Việt Nam và các nước trong Tiểu vùng sông Mê Công. Cầu tại Trung Quốc giảm cũng làm tê liệt các hoạt động tại nhiều làng nghề gỗ của Việt Nam.
“Hiện chưa có tín hiệu rõ ràng rằng cầu tại Trung Quốc về các sản phẩm gỗ quý sẽ không tăng trở lại trong tương lai…” - Ông Tô Xuân Phúc, Tổ chức Forest Trends nhận định.
“Các doanh nghiệp cần phải liên kết với nhau thành doanh nghiệp lớn, liên kết với vùng nguyên liệu để tự chủ nguồn nguyên liệu. Cần đổi mới mô hình hoạt động, có thể thành lập mô hình hợp tác xã kiểu mới, đứng ra làm “bà đỡ” cho nông dân. Đặc biệt, Chính phủ đang khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào vùng di dân tái thủy điện, các doanh nghiệp cần tiếp cận theo hướng này…” - ông Võ Đình Tuyên - Vụ Kinh tế ngành, Văn phòng Chính phủ đưa ra lời khuyên.
Cũng theo đại diện Văn phòng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ rất quan tâm và chỉ đạo sát sao để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, bởi sự phát triển của doanh nghiệp cũng chính là góp phần vào tăng trưởng GDP… (Pháp Luật Việt Nam 6/10) đầu trang(
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, số lượng các loại gỗ quý được nhập khẩu từ các nước Tiểu vùng sông Mekong về Việt Nam đang giảm dần.
Lãnh đạo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES) cho hay, hàng  năm, Việt Nam nhập khẩu khoảng 160-170 loại gỗ nguyên liệu, trong đó có 20-30 loại có số lượng nhập khẩu trên 10.000 m3/loại/năm.
Hiện nay, tỷ trọng gỗ tròn nhập khẩu từ các nguồn có độ rủi ro cao giảm từ 60% trong tổng lượng gỗ tròn nhập khẩu từ năm 2013-2014 xuống còn 50% trong những năm gần đây; tỷ trọng các loài gỗ xẻ nhập khẩu từ nguồn rủi ro cao giảm từ trên 30% năm những năm 2013-2014 xuống còn khoảng trên 20% kể từ 2015 đến nay.  Đây là những tín hiệu tốt, thể hiện những thay đổi tích cực của ngành gỗ trong việc đáp ứng các quy định về tính hợp pháp của gỗ tại các thị trường xuất khẩu, đặc biệt tại Mỹ và châu Âu.
Tính đa dạng trong các loại nhập khẩu và số lượng lớn gỗ nguyên liệu nhập khẩu vào Việt Nam hằng năm sẽ tạo ra những thách thức lớn trong việc thiết lập các cơ chế kiểm soát gỗ nhập khẩu hiệu quả trong tương lai. Để xây dựng các cơ chế hiệu quả nhằm kiểm soát tính hợp pháp của gỗ nhập khẩu đòi hỏi những cơ sở dữ liệu có liên quan đến từng loại gỗ cụ thể nhập khẩu. Điều này không chỉ đòi hỏi nỗ lực của tất cả các bên liên quan và không chỉ đơn thuần là công việc của cơ quan quản lý.
Ông Nguyễn Tôn Quyền - Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho rằng, với tốc độ tăng trưởng 15-20% mỗi năm, cơ hội ngành gỗ mở rộng xuất khẩu là rất lớn khi chúng ta tham gia các hiệp định thương mại song phương và đa phương.
Ông Quyền nhấn mạnh trong các hiệp định song phương và đa phương (như Hiệp định TPP) có lộ trình cam kết giảm thuế. Nhưng với ngành gỗ Việt Nam từ 2006 đến nay, thuế xuất khẩu đã bằng 0, thuế nhập khẩu nguyên liệu cũng bằng 0, cùng với đó những rào cản phi thuế quan không tác động lớn đến xuất khẩu. Điều này tác động tích cực đến xuất khẩu của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, những cơ chế chính sách cho ngành gỗ hiện đã rất thông thoáng, tạo điều kiện để doanh nghiệp xuất khẩu hoạt động thuận lợi.
Theo ông Tô Xuân Phúc (chuyên gia chính sách của Tổ chức Forest Trends), Mỹ và Nhật Bản hiện là thành viên của Hiệp định TPP, việc thúc đẩy xuất khẩu vào 2 thị trường này có ý nghĩa quan trọng trong quảng bá thương hiệu, nâng cao vị thế mặt hàng gỗ của Việt Nam trên thế giới. Vấn đề hiện nay các doanh nghiệp cần lưu ý trong xuất khẩu là việc sử dụng gỗ có nguồn gốc rõ ràng, đặc biệt là các loại gỗ có nguồn gốc từ rừng tự nhiên, khu vực rừng nhiệt đới… (Dân Việt 6/10) đầu trang(
Chính phủ áp thuế 2% đối với mặt hàng dăm gỗ xuất khẩu ngay đúng vào thời điểm lượng cung trên thế giới dư thừa khiến cho các DN xuất khẩu dăm gỗ trong nước không thể đẩy hàng đi.
Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, lượng dăm gỗ xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2015 đã tăng cao lên trên 8 triệu tấn, với kim ngạch đạt trên 1,2 tỷ USD và Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu dăm gỗ lớn nhất thế giới.
Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm 2016, lượng dăm xuất khẩu giảm mạnh chỉ đạt gần 1,9 triệu tấn, với giá trị xuất khẩu ở mức 248 triệu USD. Đặc biệt, giá dăm xuất khẩu giảm mạnh xuống 125 USD/tấn khô và dự báo kim ngạch xuất khẩu dăm sẽ chỉ bằng một nửa so với cùng kỳ.
Theo ông Ngô Sỹ Hoài, Phó tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, sở dĩ có tình trạng sụt giảm nhanh như vậy bởi ngành dăm gỗ xuất khẩu đang gặp phải hai vấn đề khó khăn lớn, gây cản trở, sụt giảm kim ngạch xuất khẩu. Cụ thể, việc Chính phủ áp thuế 2% đối với mặt hàng dăm gỗ xuất khẩu ngay đúng vào thời điểm lượng cung trên thế giới dư thừa khiến cho các DN xuất khẩu dăm gỗ trong nước không thể đẩy hàng đi.
Ngoài ra, còn phải kể đến nguyên nhân nữa là do một số vùng trồng, cung cấp nguyên liệu chính ở Nghệ An, Thanh Hóa... bị đóng cửa hoặc diễn ra tình trạng bảo hộ độc quyền cho một số DN lớn khai thác.
Xét từ hoạt động sản xuất trực tiếp, một phó giám đốc Công ty chế biến xuất khẩu dăm gỗ tại tỉnh Bình Dương phân tích, việc áp thuế 2% không chỉ làm tăng chi phí sản xuất gần 3 USD/đơn vị sản phẩm, đẩy giá thành lên cao, lợi nhuận DN sụt giảm. Mà nhìn sâu rộng hơn, chính những người nông dân lao động trồng rừng mới phải gánh chịu thiệt thòi nặng nhất khi giá thu mua nguyên liệu buộc phải giảm theo.
Như vậy, rõ ràng việc tăng 2% thuế xuất khẩu dăm gỗ đã bị đẩy về phía nông dân trồng rừng, do các DN chế biến phải hạ giá thu mua nguyên liệu khoảng 20 - 30% để cân đối giá thành đầu ra. Điều này cũng lý giải cho thực trạng tại sao người nông dân thời gian qua lại thu hẹp diện tích trồng rừng do vất vả ươm trồng, chăm sóc nhiều năm trời nhưng khi thu hoạch thì giá thành chẳng được là bao, mà chỉ chủ yếu lấy công làm lãi...
Chưa hết, trong nước tình trạng các DN xuất khẩu cạnh tranh thiếu lành mạnh, chào giá thấp với đối tác, nhà nhập khẩu cũng khiến hoạt động của các DN cùng ngành càng gặp nhiều khó khăn.
Vấn đề này cũng đã được Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cảnh báo khi gần đây nhiều nhà xuất khẩu dăm gỗ trên thế giới như Úc, New Zealand... cho rằng Việt Nam đang phá giá thị trường. Và nếu như tình trạng này kéo dài họ sẽ có những động thái thích hợp, thậm chí là kiện chống bán phá giá.
Bên cạnh đó, còn phải kể đến việc Việt Nam quá phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc, xuất khẩu trên 40% vào thị trường này cũng khiến cho các DN dăm gỗ trong ngành dễ bị tổn thương khi có sự thay đổi, không hấp thụ nguồn hàng.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện cả nước có 130 cơ sở chế biến xuất khẩu dăm trực tiếp thu mua nguyên liệu của hàng triệu hộ gia đình trồng rừng cung cấp dăm cho ngành công nghiệp sản xuất chế biến gỗ. Nên việc tăng thuế cần tính tác động sâu rộng đến những đối tượng này chứ không chỉ đơn thuần là nhắm đến đối tượng là các DN. Một chuyên gia của ngành nông - lâm nghiệp nhận định, rõ ràng chính sách đưa ra nhằm hạn chế khai thác và chế biến xuất khẩu thô nguyên liệu gỗ.
Đồng thời hướng ngành xuất khẩu gỗ chú trọng phát triển theo chiều sâu, tạo ra nhiều giá trị gia tăng chứ không nhằm gây khó cho bất kỳ một lĩnh vực, ngành nghề nào. Việc đóng góp của dăm gỗ trong duy trì tăng trưởng xuất khẩu của ngành hàng nông - lâm sản là không thể phủ nhận nhưng nếu chỉ chú trọng xuất thô thì ngay cả đến ngành sản xuất đồ gỗ nội thất, thủ công mỹ nghệ trong nước cũng thiếu nguyên liệu chứ chưa nói gì đến những hệ lụy chặt phá rừng, tác động môi trường, công ăn việc làm...
Vì vậy, DN xuất khẩu dăm gỗ cần nhìn nhận, đánh giá từ cái nhìn vĩ mô, lâu dài chứ không vì lợi ích trước mắt mà kêu khó hoặc mạnh tay hạ giá thu mua, cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các DN với nhau khiến ngành gỗ xuất khẩu chịu thiệt hại. (Thời Báo Ngân Hàng 5/10) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Nghiên cứu của Viện nghiên cứu nhiệt đới Smithsonian (Mỹ) thực hiện tại Panama hồi tháng Chín vừa qua đã phát hiện ít nhất 30 loài thực vật mới tại quốc gia Trung Mỹ này.
Nhà sinh vật học Rodolfo Flores, một chuyên gia tham gia công trình nghiên cứu, cho biết nổi bật trong số các loài thực vật mới phát hiện là cây bụi Eugenia veraguensis, thuộc họ ổi.
Loài này được phát hiện tại vịnh Chiriqui, tỉnh miền Trung Veraguas và có đặc tính là có thể phát triển tới kích thước lớn bất thường so với các loại cây bụi.
Ông Flores để ngỏ khả năng con số các loài thực vật mới của Panama sẽ còn tăng lên do hiện tại nhóm nghiên cứu mới chỉ xác định được 50% trong số các mẫu thực vật thu thập được tại Panama, chứng tỏ tiềm năng đa dạng sinh học to lớn của “đất nước kênh đào”. (Vietnam + 6/10) đầu trang(./.