Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 05 tháng 09 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Bộ NNPTNT chỉ đạo các Sở NNPTNT tại các tỉnh chủ trì phối hợp để thực hiện hoạt động xây dựng phương án kiểm kê rừng và lập khái toán kinh phí thực hiện việc kiểm kê trước ngày 15/9/2013.
Bộ NNPTNT đã có yêu cầu và hướng dẫn các địa phương thành lập ban chỉ đạo, tổ công tác kiểm kê rừng và lập khái toán kinh phí kiểm kê rừng của từng địa phương.
Các ban chỉ đạo và tổ kiểm kê này sẽ được thành lập từ cấp tỉnh, huyện đến xã. Hoạt động chủ yếu của các đơn vị này là tập hợp và xử lý các thông tin phục vụ kiểm kê; kiểm kê diện tích; kiểm kê trữ lượng và tổng hợp kết quả kiểm kê rừng.
Các hoạt động kiểm kê diện tích đối với chủ rừng theo trình tự: Sau khi họp phổ biến và hướng dẫn cập nhật phiếu kiểm kê, xác minh sơ bộ ranh giới rùng và đất của từng chủ rừng (nhóm chủ rừng) thì sẽ tiến hành xác minh và bổ sung ngoài thực địa về trạng thái, trữ lượng và ranh giới rừng…
Sau khi tổng hợp kết quả kiểm kê rừng, kết quả của kiểm kê sẽ được cập nhật vào hồ sơ quản lý rừng cho từng chủ rừng trên phạm vi hành chính xã, từ đó có cơ sở để lập hồ sơ quản lý cho cấp huyện và cấp tỉnh.
Hoạt động này nhằm xác định và nắm bắt được diện tích rừng; trữ lượng rừng và diện tích đất chưa có rừng được quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp gắn với chủ quản lý cụ thể trên phạm vi cả nước; thiết lập được hồ sơ quản lý rừng và xây dựng cơ sở dữ liệu rừng và đất chưa có rừng.
Đây là cơ sở để thực hiện theo dõi diễn biến rừng và đất rừng hàng năm và việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng từ Trung ương đến địa phương. Đồng thời, là thông tin phục vụ cho công tác giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp và làm căn cứ thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng quy định tại Nghị định số 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ. (Chinhphu.vn 4/9) đầu trang(
Gỗ sưa là điểm ngắm của bọn trộm gỗ trong nhiều năm nay. Bọn sưa tặc dùng nhiều thủ đoạn để có được loại cây này. Sưa trở thành một loại cây quý hiếm cần phải được bảo vệ chặt chẽ. Tuy nhiên, việc tỉnh Quảng Nam tính thuế lên đến 1 tỷ đồng/khối khiến nhiều người lo ngại.
Mới đây, UBND tỉnh Quảng Nam đã ban hành bảng giá tính thuế 6 nhóm tài nguyên trên địa bàn tỉnh, trong đó loại gỗ qúy hiếm huỳnh đàn (gỗ sưa) thuộc nhóm sản phẩm rừng tự nhiên có giá lên đến 1 tỷ đồng/khối gỗ phách, gỗ xẻ.Loại gỗ này đang ở dạng gỗ tròn có mức thuế 600 triệu đồng/khối; phần gốc rễ tính thuế 50.000 đồng/kg.
Múc tính thuế trên của UBND tỉnh Quảng Nam gây xôn xao dư luận. Bởi từ trước đến nay, gỗ sưa tuy là loại gỗ qúy nhưng không ai biết vì sao thương lái Trung Quốc mua với giá cao chót vót. Cũng chính vì thế mà tình trạng trộm sưa, trộm đồ vật làm bằng gỗ sưa diễn ra ở nhiều địa phương, gây mất trật tự xã hội, quân chúng nhân dân bức xúc.
Trước việc làm của UBND tỉnh Quảng Nam, Giáo sư Nguyễn Lân Dũng (Chủ tịch Hôi các ngành sinh học VN) cho rằng, đánh thuế tài nguyên gỗ sưa la một việc làm cần thận trọng vì nó mang tính hai mặt. Ông cho hay, thời xưa khi các vị vua chúa băng hà, người ta thường lấy gỗ sưa để đóng quan tài, mài cây gỗ sưa thành bột để rác vào bên trong quan tài với niềm tin rằng linh hồn người nằm trong quan tài sẽ sớm được siêu thoát.
Ngày nay, người ta cho là quan tài đóng bằng gỗ sưa có khả năng giữ được xác lâu không bị phân huỷ nên có lúc thương lái nước ngoài đổ xô đi săn lùng gỗ sưa nói là để ướp xác như các vị hoàng đế trước đây, có lúc đưa gía lên tới 130 triệu đồng/m3.
Theo ông Dũng, sưa thuộc vào diện những loại cây đặc biệt quý hiếm và cần được bảo vệ chặt. Tuy nhiên, dù sưa là loại gỗ quý nhưng chúng ta đưa giá thuế quá cao thì coi như khẳng định giá trị tâm linh của loại gỗ này. Thực ra đó là gía trị ảo, không phải giá trị thật cho nên mức thuế khai thác chỉ nên ngang bằng với các loại gỗ tứ thiết như đinh, lim, sến và táu. Việc đánh thuế quá cao một mặt hạn chế việc khai thác chặt trộm gỗ sưa nhưng nếu không quản lý chặt được thì lại lâm vào tình trạng khai thác các loại cây quý hiếm này. (Đất Việt 2/9) đầu trang(
Quỹ Bảo vệ & phát triển rừng tỉnh Nghệ An được thành lập ngày 16/11/2011 nhằm thực hiện Nghị định số 99/2010/NĐ-CP, ngày 24/9/2010 của Chính phủ.
Theo đó, Quỹ BV&PTR Nghệ An là đơn vị làm nhiệm vụ trực tiếp thu tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) của các tổ chức, cá nhân có sử dụng và hưởng lợi từ DVMTR trên địa bàn tỉnh (các nhà máy thủy điện, nhà máy sản xuất và cung ứng nước sạch, cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nguồn nước, các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ DVMTR...).
Nguồn thu của Quỹ để thực hiện việc chi trả DVMTR cho các chủ rừng (doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư) được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, nhận khoán bảo vệ rừng sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp và các chủ rừng là tổ chức tự đầu tư trồng rừng trên diện tích đất lâm nghiệp được giao.
Sự ra đời của Quỹ BV&PTR Nghệ An nhằm thực hiện chính sách mới của Chính phủ là huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt từ các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ DVMTR, tạo nguồn tài chính, để đầu tư trực tiếp cho việc bảo vệ và phát triển rừng, nhằm giúp các địa phương thực hiện chủ trương xã hội hóa nghề rừng của Đảng và Chính phủ trên địa bàn Nghệ An.
Việc chi trả DVMTR là một chính sách mới, được triển khai trong điều kiện hồ sơ thiết kế, kỹ thuật trong quá trình thực hiện giao khoán rừng cho các chủ rừng trước đây tại các địa phương còn sơ sài, chưa đảm bảo tính pháp lý đã khiến công tác rà soát, xác định chính xác ranh giới, hiện trạng rừng của toàn tỉnh bị chậm lại...
Thực hiện tốt chính sách chi trả DVMTR sẽ từng bước giúp UBND tỉnh quản lý tốt hơn tài nguyên rừng, giảm gánh nặng ngân sách cho hoạt động BVR. Thông qua đó đảm bảo cho người lao động lâm nghiệp tại những khu vực có rừng ở Nghệ An có thu nhập; cải thiện đời sống và tiếp tục làm tốt hơn công tác bảo vệ và phát triển rừng bền vững, tiếp tục nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ, đặc biệt là bảo đảm nguồn nước cho các công trình thủy điện, nước cho sinh hoạt và các hoạt động kinh doanh, du lịch...
Việc thực hiện chi trả DVMTR sẽ góp phần nâng cao nhận thức của người dân trong bảo vệ hệ sinh thái, giữ gìn bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hạn chế các hành vi gây tổn hại đến môi trường. Từ đó tiếp tục củng cố niềm tin của người dân vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, củng cố an ninh trật tự, an toàn xã hội...
Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên, Quỹ BV&PTR Nghệ An thiết tha đề nghị các đơn vị đang sử dụng và hưởng lợi từ DVMTR chuyển trả đầy đủ và đúng thời gian các khoản chi phí DVMTR đã được thẩm định và phê duyệt.
Các tổ chức, cá nhân là chủ rừng được nhận tiền DVMTR cũng phải tích cực phối hợp với các cơ quan chức năng để thực hiện nhanh, hoàn thành sớm thiết kế hồ sơ kỹ thuật, xác định chính xác phạm vi, ranh giới, hiện trạng rừng của đơn vị mình quản lý, trình các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để có cơ sở pháp lý cho Quỹ BV&PTR giải ngân nguồn tiền thu được tại ngân hàng và Kho bạc Nhà nước Nghệ An.
Ông Nguyễn Mạnh Cường, Giám đốc Quỹ BV&PTR Nghệ An cho biết: “Trong thời gian qua, nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Sở NN-PTNT, tỉnh Nghệ An đã chính thức phê duyệt hồ sơ thiết kế kỹ thuật giao khoán rừng tại vùng lòng hồ nhà máy Thủy điện Bản Vẽ (giai đoạn 2013-2015) để phục vụ chi trả DVMTR cho hai huyện Kỳ Sơn và Tương Dương.
Theo đó, huyện Kỳ Sơn đã phê duyệt được 25.732/27.555 ha, trong đó Ban Quản lý rừng phòng hộ Kỳ Sơn được phê duyệt 24.866 ha, Tổng đội Thanh niên xung phong 8- xây dựng kinh tế được phê duyệt 870 ha. Số diện tích còn lại 1.823 ha đang tiếp tục được hoàn tất hồ sơ thiết kế để phê duyệt tiếp.
Tại huyện Tương Dương hiện có 22.422/34.127 rừng đã được phê duyệt. Trong đó, Ban Quản lý rừng phòng hộ Tương Dương có gần 6.805 ha, các hộ gia đình đã được phê duyệt 15.638 ha. Hiện UBND tỉnh Nghệ An đang tiến hành phê duyệt đơn giá chính thức để Quỹ BV&PTR có cơ sở tiến hành chi trả cho các đối tượng vào cuối tháng 8 và đầu tháng 9/2013...” (Nông Nghiệp Việt Nam số đặc biệt ngày 2/9) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Ngày 4-9, tin từ UBND xã Hải Ba, huyện Hải Lăng cho biết, khoảng 3 ha rừng tràm tự nhiên quý trên vùng cát của xã này đã bị thiêu cháy bởi tàn thuốc của người dân bất cẩn.
Vụ cháy xảy ra vào trưa 3-9, tại khu vực vùng cát thuộc đội 2, thôn Phương Lang, xã Hải Ba. Ngay sau khi xảy ra vụ cháy, người dân đã báo cáo với chính quyền địa phương.
Ngay sau đó, lực lượng gồm Công an xã Hải Ba, dân quân tự vệ, chính quyền thôn Phương Lang phối hợp với người dân đã khẩn trương tổ chức dập lửa, khống chế đám cháy. Sau nhiều giờ nỗ lực, đến khoảng 14h30 cùng ngày, đám cháy mới cơ bản được khống chế, không để lan rộng qua khu vực rừng lân cận. Theo thống kê sơ bộ, vụ cháy đã làm thiêu rụi khoảng 3 ha rừng tràm tự nhiên tại khu vực này.
Theo Công an xã Hải Ba, nguyên nhân ban đầu của vụ cháy được xác định xuất phát từ một số người tham gia làm lăng mộ lân cận đó vứt tàn thuốc bất cẩn gây ra cháy. Hiện vụ việc đang tiếp tục được điều tra làm rõ. (An Ninh Thủ Đô 5/9; Nhân Dân 4/9) đầu trang(
Mô hình sản xuất tôm, cua kết hợp dưới tán rừng phát triển mạnh ở Bạc Liêu giúp không ít hộ dân thoát nghèo, vươn lên làm giàu, với nguồn thu lợi nhuận trên dưới khoảng 100 triệu đồng/năm.
Đối với mô hình tôm - cua - cá - rừng, bà con nông dân nhận đất rừng khoán lựa chọn các đối tượng nuôi phù hợp để góp phần tăng hiệu quả kinh tế cao. Hiện nay, mô hình tôm - cua - rừng ở Bạc Liêu có tổng diện tích hơn 8.000 ha đa số nằm ngoài đê bao biển Đông - khu vực rừng phòng hộ.
Diện tích thực hiện mô hình tập trung ở các huyện Đông Hải (2.202 ha), TP Bạc Liêu (1.082 ha), Hòa Bình (4.800 ha). Theo nhiều nông dân, đối với mô hình thả tôm dưới tán rừng bà con thả với mật độ từ 1 - 2 con/m2 mặt nước, cua 500 - 700 con/ha. Áp dụng quy trình nuôi thả thưa, lấy nước ra vào theo thủy triều. Ở những nơi không lấy nước theo thủy triều được thì bà con dùng máy bơm.
Ngành chức năng cho biết, hiện tại hiệu quả từ mô hình này rất khả quan. Năng suất chung mà người dân thu hoạch từ các loài thủy sản khoảng 400 - 500 kg/ha/năm; số hộ có lãi từ mô hình này chiếm đến 95%, trung bình mỗi hộ lãi từ 30 - 40 triệu đồng.
Điển hình như hộ anh Nguyễn Văn Trường, ấp 12, xã Vĩnh Hậu A, huyện Hòa Bình. Anh Trường cho biết, năm 2003, gia đình anh nhận 3 ha rừng phòng hộ, anh Trường đã áp dụng mô hình nuôi tôm - cua dưới tán rừng. Mỗi năm, anh thả nuôi tôm bốn đợt tôm và mỗi tháng thả 1 đợt cua giống.
Sau khi cải tạo và cho nước vào, anh Trường thả nuôi 150.000 con tôm sú giống/đợt và 2.000 con cua biển giống/tháng. Cứ hàng tháng anh Trường thả cua giống gối đầu. Sau 3 tháng nuôi, anh bắt đầu thu hoạch tôm, cua lớn để bán. Tôm nuôi thả lan dưới tán rừng thu hoạch kéo dài và liên tục.
Bên cạnh đó, hàng ngày, anh Trường đặt lú bắt tôm, cua bán bình quân 300.000 đồng/ngày, 1 tháng được 9 triệu đồng. Như vậy, mỗi năm, trừ tất cả chi phí đầu tư, anh Trường còn lãi trên 100 triệu đồng.
Nhờ bảo vệ tốt rừng phòng hộ nên tôm, cua sống dưới tán rừng ít bị dịch bệnh; đồng thời rừng đước ngày một phát triển. Anh Trường nói: “Mô hình nuôi tôm - cua dưới tán rừng đã giúp gia đình tôi và nhiều hộ dân vùng ven biển thoát nghèo, có cuộc sống ổn định”.
Ông Nguyễn Văn Đước, ấp Canh Điền, xã Long Điền Tây, huyện Đông Hải là người thành công trong việc đưa mô hình sinh thái tôm - cua - rừng đạt hiệu quả và khẳng định tính bền vững từ mô hình.
Năm 2007, ông mạnh dạn bỏ vốn mướn sên vét bùn, cải tạo làm bờ bao khép kín, đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống cấp thoát nước nhằm giữ mức nước ra vào ổn định, kết hợp tỉa cây, dọn dẹp vệ sinh bờ mương bao để cho ánh sáng chiếu xuống đáy ao diệt mầm bệnh.
Với hơn 5 ha diện tích mặt nước ông thả tôm với mật độ 1 - 2 con/m2, cua với mật độ 500 - 1.000 con/ha (chia thả 6 - 8 đợt/năm). Tính tổng các chi phí đầu tư mô hình khoảng 80 - 90 triệu đồng/năm, nhưng mỗi con nước trung bình ông thu trên 15 triệu đồng từ nguồn lợi tôm, cua, cá. Hằng năm, ông thu nhập lãi gần 300 triệu đồng/năm, trừ chi phí lãi gần 150 triệu đồng. (Nông Nghiệp Việt Nam 4/9) đầu trang(
Sì Lờ Lầu là xã biên giới xa nhất của huyện Phong Thổ, Lai Châu, nơi đa số là bà con dân tộc Dao Đỏ sinh sống bên những cánh rừng. Nằm trên đỉnh "12 tầng dốc" (Sì Lờ Lầu nghĩa là 12 tầng dốc) nhưng nơi đây là điểm sáng trong phát triển kinh tế của huyện. Đáng mừng hơn là bà con đã biết giữ rừng để làm giàu.
Sì Lờ Lầu có 3.458ha rừng, chiếm tới hơn 72% diện tích xã, thế nhưng ở đây vẫn có chuyện ngược đời ấy là vẫn có hộ dân vẫn bị thiếu củi đốt. Chuyện tưởng như đùa nhưng lại là một "thực trạng".
Tình hình thiếu củi đốt lâu nay đã trở thành vấn đề đáng quan tâm của mỗi hộ dân, chả thế mà mới đây vào ngày được phép đi lấy củi nhưng 11 hộ dân ở bản Sín Chải vẫn bị phạt vì vi phạm hương ước.
Anh Lý Vần Teo, Phó Chủ tịch HĐND xã giải thích: "Tuy là ngày mở cửa rừng để bà con lấy củi nhưng 11 hộ vào rừng trước "kẻng" nên bị phạt đến cả trăm nghìn đấy. Mức phạt khá nặng nên bây giờ hễ ở đâu có điện lưới, ở đâu lắp được máy phát điện mini là bà con mua nồi cơm điện để “đỡ tốn củi".
Ông Phàn Chin Hoà (bản Lả Nhì Thàng) cho hay: Trước đây còn du canh du cư, rừng bị đốt, rừng cứ ngày một "teo" đi. Nước ăn, nước cày cấy không có, muốn lấy cây gỗ làm nhà chẳng được, con chim, con thú rồi đến con cá con tôm mỗi ngày một cạn kiệt, lúc đó mọi người mới tá hoả bàn chuyện giữ rừng. Mới đây việc giữ rừng đã được đưa vào hương ước của tất cả các thôn bản. Ai vi phạm bị “phạt nặng lắm".
Tìm hiểu được biết, Sì Lờ Lầu có 6 bản thì bản nào cũng có "cán bộ" bảo lâm. Nói là "cán bộ" bảo lâm cho sang, chứ thực tế đây là nhiệm vụ và cũng là trách nhiệm của bản giao cho. Người này cũng được nhận một khoản thù lao khoảng mấy trăm ngàn đồng cho một năm bảo vệ rừng.
Người là “bảo lâm” có nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ rừng, nếu phát hiện sai phạm thì báo trưởng bản để phạt, nếu để xảy ra cháy rừng, phá rừng mà không tìm được thủ phạm thì "cán bộ" bảo lâm cũng bị phạt. Ngoài ra "cán bộ" bảo lâm còn có nhiệm vụ mở cửa rừng vài ngày cho bà con lấy củi, ghi tên những gia đình tham gia quá đông hoặc gian lận trong lấy củi… Tuỳ diện tích rừng mà từng bản cử ra tổ bảo lâm nhiều hay ít và "nhiệm kỳ" ngắn hay dài.
Những quy định trong xử phạt đối với người vi phạm hương ước giữ rừng của các bản cũng rất "nghẹt thở". Có bản tính rằng cứ 1 phân đường kính cây bị chặt hạ thì bị phạt 20 ngàn đồng, vậy cứ thế mà nhân lên.
Ông Phàn Chin Hoà, công an viên bản Lả Nhì Thàng đồng tình: "Phải phạt nặng mới giữ được rừng. Bản thân tôi trước đây cũng bị phạt mười mấy triệu đồng vì không quản được được con, cháu để họ phạm vào rừng cấm đấy. Số tiền thì lớn nhưng tôi cũng vui vẻ làm theo lệ làng thôi. Ai cũng phải vậy mà".
Một số bản khác thì lại có "đơn vị" tính mức phạt đơn giản hơn nhưng cũng là một cái giá đắt đối với những ai phá rừng, ấy là một con lợn lớn, làm một bữa cơm tạ lỗi với bản. Có bản thì lại yêu cầu trong buổi họp đầu năm, dân bản ăn hết bao nhiêu thì đó là số tiền người vi phạm hương ước về giữ rừng phải nộp.
Hàng năm hầu hết các bản đều "mở cửa rừng" hai lần, mỗi lần 2 đến 3 ngày cho bà con lấy củi đốt. Tuy nói là mở cửa nhưng cũng rất nghiêm. Người vào rừng lấy củi phải đi về đúng giờ, ngoài giờ đánh kẻng mà không về kịp thì cũng bị phạt. Vào rừng chỉ được lấy củi khô, cành gẫy, cho dù là một cây tươi bé bằng ngón tay mà lọt vào mắt "cán bộ" bảo lâm thì cũng là một vấn đề hệ trọng.
Đối với những người có nhu cầu làm nhà thì phải xin ý kiến của xã, được đồng ý mới được vào rừng lấy gỗ. Thế nhưng chỉ được lấy đủ số lượng làm nhà, cấm lấy thêm, không được dùng gỗ đó để bán. Riêng cành, ngọn, phần phụ của cây không sử dụng làm nhà được thì phải để nguyên hiện trạng, đến ngày mở cửa rừng cho bà con vào lấy. “Làm chặt” như vậy nên hàng chục năm nay ở xã không cháy rừng và vi phạm luật bảo vệ rừng.
Vì "lệ làng" quá chặt nên dân thiếu củi. Thế nhưng nhờ giữ rừng mà Sì Lờ Lầu ngày một ấm no. Những thân gỗ, trảng rừng không trực tiếp mang tiền về cho bà con, nhưng dưới tán rừng là 136ha thảo quả, cây chủ lực, cây làm giàu, xoá đói nghèo của đồng bào nơi đây.
Nhờ có tán rừng tốt, lại biết cách bảo tồn rừng nên thảo quả của bà con ở đây ít mất mùa. Mỗi năm rừng đem đến những "mùa vàng" từ thảo quả. Có nhà, có năm thu cả trăm triệu đồng, nhà ít thì cũng vài chục triệu đồng.
Rừng còn mang ánh sáng cho những bản vùng sâu, vùng xa qua những chiếc máy phát điện mini. Năm 2012, rừng cũng mang lại cho bà con hơn 1 tỷ đồng từ tiền dịch vụ môi trường rừng do các nhà máy thủy điện chi trả. Nhiều hộ xây nhà dựng cửa đã thảnh thơi hơn, chẳng phải lo đến chuyện tìm gỗ ở xa. (Chinhphu.vn 5/9) đầu trang(
Mô hình trồng cây sa nhân tại huyện Kbang, tỉnh Gia Lai đang giúp nâng cao đời sống, góp phần bảo vệ tài nguyên rừng.
Làm kinh tế dưới tán rừng là lợi thế của nhiều địa phương ở khu vực Tây Nguyên, nơi có diện tích rừng lớn nhất cả nước với khoảng 2 triệu ha. Tại huyện Kbang, tỉnh Gia Lai, mô hình trồng cây sa nhân của bà con dân tộc Ba Na đã giúp nâng cao đời sống, đồng thời góp phần bảo vệ tài nguyên rừng.
Sau 5 năm trồng, 8 sào sa nhân dưới tán rừng của gia đình anh Đinh Văn Khoai, dân tộc Ba Na, ở làng Hà Nừng, xã Sơn Lang, huyện Kbang đã cho thu hoạch ổn định, mỗi năm mang lại khoản thu nhập bình quân khoảng 50 triệu đồng. Anh Khoai cho biết, so với các loại cây trồng khác, trồng cây sa nhân tím, anh không phải làm cỏ mà chỉ phải bón phân một lần duy nhất vào lúc mới trồng, nên ít tốn chi phí đầu tư, hiệu quả kinh tế cao.
Anh Khoai cho rằng, cây sa nhân tím rất phù hợp với bà con ở đây: “Sa nhân tím được thu 3 lần/năm; làm không tốn công nhiều và có hiệu quả. Nếu không có cây che phủ, sa nhân không lên, cho nên phải trồng kết hợp với giữ rừng.”
Từ hiệu quả mô hình của gia đình anh Đinh Văn Khoai, nhiều bà con trong xã Sơn Lang đã mạnh dạn nhân giống và trồng dưới tán rừng. Đến nay, đã có hàng chục hộ ở xã Sơn Lang trồng cây sa nhân dưới tán rừng với diện tích gần 20ha, tất cả đều phát triển tốt. Ông Đinh Dương, dân tộc Ba Na, ở làng Hà Nừng, xã Sơn Lang cũng đã trồng 1 ha sa nhân tím dưới tán rừng và rất hài lòng với loại cây này: “Trồng sa nhân giúp bà con có thêm thu nhập, rất phấn khởi. ”
Để khuyến khích việc trồng sa nhân, Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Hà Nừng và Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Trạm Lộc, huyện Kbang đã tạo điều kiện cho một số hộ dân vào phát dọn dưới tán rừng để trồng sa nhân.
Theo bà Trương Thị Huệ, ở thôn 3, xã Sơn Lang, chính sách này của các công ty lâm nghiệp vừa giúp bà con có nguồn thu ổn định, vừa bảo vệ được rừng: “Trồng sa nhân giúp thu nhập của gia đình đảm bảo khi vụ mùa chưa tới. Nhà nước tạo kiện cho trồng dưới tán rừng là rất tốt, tạo thêm thu nhập cho người dân đỡ vất vả. Mà trồng cây sa nhân vẫn bảo vệ rừng, vì phát cây dây leo, không lấy gỗ, không ảnh hưởng gì đến rừng.”
Sa nhân tươi hiện có giá khoảng 15.000 đồng/kg, còn phơi khô có giá khoảng 160.000 - 180.000 đồng/kg. Nếu được chăm sóc tốt, mỗi sào đất rừng trồng sa nhân có thể cho thu hoạch tới hơn 1 tạ quả khô, mang lại khoản thu 16 triệu đồng mỗi năm. Với lợi thế là vùng có diện tích rừng lớn, huyện Kbang nói riêng và nhiều địa phương khác trong vùng Tây Nguyên, có thể phát triển loài sa nhân vừa giúp phát triển kinh tế người dân, vừa giữ rừng hiệu quả. (VOV 4/9) đầu trang(
Đến nay, đã qua 31 năm, rừng Bản Lọt, xã Bản Cầm (Bảo Thắng) vẫn ngày càng xanh tốt và trù phú hơn. Bởi người Dao ở Bản Lọt gìn giữ rừng một cách thiêng liêng như báu vật, khó bề đánh mất.
Năm 1982, toàn thôn có 43 hộ đói, nghèo, rừng không có, nên nguồn nước sinh hoạt và sản xuất cũng thiếu hụt, khiến cho cuộc sống của đồng bào Dao tuyển nơi đây đã khó khăn, lại càng khó khăn hơn. Bởi vậy, người dân Bản Lọt thấu hiểu việc giữ rừng quan trọng thế nào đối với đời sống của họ.
Cho nên, khi những cánh rừng bắt đầu hồi sinh, người dân trong thôn đã ý thức bảo nhau và cùng cam kết bảo vệ rừng. Đến nay, đã qua 31 năm, rừng vẫn ngày càng xanh tốt và trù phú hơn. Bởi người Dao ở Bản Lọt gìn giữ rừng một cách thiêng liêng như báu vật, khó bề đánh mất...
Trưởng thôn Đặng Văn Quang cho biết: Nhà nào làm nhà hoặc cần một vài cây gỗ để sửa sang lại nhà, bếp thì báo cáo với thôn và tổ tự quản. Thôn và tổ tự quản đồng ý sẽ được vào rừng lấy gỗ về làm. Trước kia, rừng có nhiều nứa, hằng năm cứ đến mùa măng, người dân trong thôn lại thi nhau vào rừng lấy măng về bán, có năm cả thôn thu được mấy chục tấn măng khô từ rừng. Thế nhưng, giờ đây nhiều cây gỗ rừng tái sinh, diện tích cây nứa không còn mấy nữa, nên thôn quy ước chỉ cho phép người dân được vào rừng lấy cành củi khô về đun, không lấy củi để bán.
Nhà nào có việc cưới, việc tang thì được vào rừng lấy măng, nhưng cũng chỉ được lấy đủ làm cỗ mà thôi... Trong hương ước, quy ước của thôn về bảo vệ rừng ghi rõ, nếu ăn trộm măng, lấy măng trong rừng không được sự đồng ý của thôn, tổ tự quản thì sẽ bị phạt tiền.
Cái quy ước bất thành văn ấy bao năm nay vẫn được chính người dân đề ra, rồi thực hiện, thế nên, dù từ những đứa trẻ chăn trâu gần rừng cũng luôn có ý thức bảo vệ rừng... Giờ được thôn thống nhất xây dựng thành hương ước, quy ước của thôn, nên được người dân cùng nhau cam kết thực hiện.
Ông Châu Đức Thanh, Chủ tịch UBND xã Bản Cầm cho biết thêm: Trước năm 1979, những cánh rừng này có cả những cây gỗ to, một người ôm không xuể, nhưng sau thời gian bị cháy rụi, rừng đã không còn nữa. Sự hồi sinh đến hôm nay cũng là một kỳ tích không dễ gì làm được. Nói là rừng tái sinh chủ yếu là gỗ tạp như cây giàng giàng, ba soi, xoan đào, phay; nhưng rừng Bản Lọt vẫn còn có nhiều loại cây gỗ quý như: Sến, gù hương, lát...
Hiện tại, trăn trở của lãnh đạo xã cũng như của người dân nơi đây mong muốn có những giống cây lâm nghiệp mới trồng xen ở một số diện tích đất còn trống... để rừng Bản Lọt mãi xanh tốt, đồng thời, cũng từ đó mà người dân trồng rừng sẽ có thu nhập và sống được bằng nghề rừng… (Người Lao Động 5/9) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
UBND tỉnh Kon Tum vừa ban hành Quyết định số 34 về việc phê duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020.
Theo đó, quy hoạch đặt ra nhiệm vụ bảo vệ 631.954 ha rừng hiện có và diện tích rừng trồng, rừng khoanh nuôi thành rừng trong kỳ quy hoạch; khoán quản lý 1.953.266 ha rừng; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh 9.476 ha rừng; trồng mới 50.000 ha rừng; trồng lại 35.669 ha rừng sau khai thác; trồng 10 triệu cây phân tán; chuyển đổi 10.129,5 ha rừng và đất lâm nghiệp sang trồng cao su; trồng 23.801 ha cao su trên đất lâm nghiệp; làm giàu 5000 ha rừng...
Mục tiêu của việc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng là nhằm thiết lập hệ thống quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng bền vững trên diện tích rừng hiện có; bảo vệ nguồn nước và môi trường sinh thái; bảo tồn và tăng cường đa dạng sinh học..., nâng độ che phủ của rừng đạt trên 68% vào năm 2015 và trên 70% vào năm 2020.
Tổng nguồn vốn đầu tư cho việc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng trên 10 tỷ đồng. UBND tỉnh Kon Tum giao Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan, UBND các huyện, thành phố công bố quy hoạch, hướng dẫn kiểm tra đôn đốc quá trình thực hiện quy hoạch; tham mưu UBND tỉnh ban hành cơ chế, chính sách liên quan để thực hiện quy hoạch. (Tài Nguyên&Môi Trường 1/9) đầu trang(
UBND tỉnh Đồng Tháp vừa chính thức ban hành Quyết định số 481 về việc phê duyêt quy hoạch bảo tồn phát triển bền vững Vườn quốc gia Tràm Chim giai đoạn 2013-2020.
Theo đó, Đồng Tháp huy động gần 208 tỉ đồng từ ngân sách và hợp tác quốc tế đầu tư thực hiện các giải pháp bảo vệ và bảo tồn khu rừng đặc dụng với các cảnh quan tiêu biểu, các hệ sinh thái đất ngập nước đặc thù, các loài động, thực vật quý, hiếm của vùng Đồng Tháp Mười, như một mẫu chuẩn quốc gia về một vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế của một khu Ramsar.
Nội dung quy hoạch tập trung việc xây dựng hệ thống vận hành và cơ chế quản lý chế độ ngập nước trong mùa khô; bảo tồn và phát triển bền vững các sinh cảnh rừng tràm, đồng cỏ ngập nước theo mùa và các sinh cảnh đất ngập nước khác; bảo tồn các loài chim nước quý, hiếm, đặc biệt là loài chim sếu đầu đỏ; hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu; bảo tồn các giá trị của khu Ramsar đã được công nhận; quy hoạch các giải pháp phòng cháy, chữa cháy rừng và đồng cỏ trong mùa khô.
Bên cạnh đó, nội dung được chý ý đặc biệt là quy hoạch vùng đệm Vườn Quốc gia Tràm Chim nhằm góp phần thu hút sự tham gia của cộng đồng dân cư sống giáp ranh vào việc bảo vệ Vườn quốc gia. (Tài Nguyên&Môi Trường số đặc biệt ngày 2/9) đầu trang(
Hàng ngàn héc-ta đất nông nghiệp trên các lâm phần rừng tràm ở huyện U Minh hiện vẫn còn sản xuất bằng cách phát cỏ để cấy lúa, năng suất rất bấp bênh, đời sống người dân chưa được cải thiện nhiều.
Nguyên nhân chính dẫn đến sự chậm trễ trong chuyển đổi tập quán sản xuất là do việc quy hoạch sản xuất ở khu vực này không còn phù hợp. Từ đó gây khó khăn trong khâu cơ giới hoá đồng ruộng, cũng như việc đưa tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất.
Tỷ lệ hộ nghèo ở huyện U Minh hiện còn rất cao, chiếm 15,64%, tương đương hơn 3.700 hộ; hộ cận nghèo cũng gần 1.500 hộ. Số hộ nghèo và cận nghèo tập trung ở các xã có nhiều ấp nằm trên lâm phần rừng tràm như: Khánh Thuận, Nguyễn Phích, Khánh Lâm.
Kết cấu hạ tầng ở khu vực rừng tràm những năm gần đây được tỉnh và huyện quan tâm đầu tư nhiều hơn nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực này. Tuy nhiên, một khi sản xuất nông nghiệp không hiệu quả thì đời sống của người dân sẽ khó được cải thiện.
Ông Ngô Thanh Điều, Phó Chủ tịch UBND huyện U Minh, cho biết, huyện U Minh đang triển khai thực hiện Đồ án quy hoạch tổ chức lại sản xuất và bố trí dân cư khu vực rừng tràm của UBND tỉnh. Khi đồ án được thực hiện thì khu vực rừng tràm sẽ có nhiều khu dân cư mới hình thành, dân cư ở một số khu vực phía trong sẽ được di dời về khu ở mới.
Diện tích đất sản xuất sẽ được quy hoạch tập trung, thuận lợi cho các loại máy nông nghiệp hoạt động. Kết cấu hạ tầng cơ sở khu vực này như: đường, điện, trường học cũng sẽ được ngân sách đầu tư. Nhưng điều quan trọng vẫn là khâu bố trí lại sản xuất nông nghiệp sao cho có hiệu quả nhất.
“Điều mà huyện quan tâm hàng đầu là khi bố trí lại sản xuất phải phát huy tối đa tiềm năng của đất, giúp nông dân làm giàu được trên mảnh đất của mình. Do đó, đòi hỏi phải cơ giới hoá đồng ruộng và áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất. Chúng tôi sẽ làm tham mưu cho UBND tỉnh sớm đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện Đồ án này”, ông Điền thông tin thêm. (Báo Cà Mau 3/9) đầu trang(
Viện Sinh thái học Miền Nam vừa công bố loài thực vật mới thuộc họ gừng trong rừng sâu Vườn quốc gia Bù Gia Mập.
Theo thông tin đăng trên website của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST), loài thực vật mới tên nghệ Leonid (Curcuma leonidii Škorničk. & Lưu), thuộc họ gừng (Zingiberaceae). Loài mới mang tên giáo sư người Nga Leonid Averyanov, ông nhà nghiên cứu hàng đầu thế giới về hệ thực vật Việt Nam.
Tiến sĩ Lưu Hồng Trường cùng các đồng nghiệp Viện Sinh thái học Miền Nam đã phân tích, đánh giá các mẫu vật mới thu được tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập trong những năm gần đây. Đồng thời, nhóm khoa học cũng kết hợp thêm các bằng chứng thuyết phục khi mô tả về giải phẫu học và phân tích di truyền học của các nhà nghiên cứu tại Vườn thực vật Singapore.
Từ đó, nhóm khoa học cho biết, loài trên thuộc chi Curcuma, chi phụ Hitcheniopsis, vì đặc điểm hình thái học của chúng thiếu những tuyến đính trên bầu và nhị đực không có cựa. (Vnexpress.net 4/9) đầu trang(
Chiều 6/8, Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng cho biết, đã vận động ông Nguyễn Văn Viện (phường Hòa An, quận Cẩm Lệ) tình nguyện giao nộp một cá thể vượn đen má trắng Siki, có tên khoa học Nomascus leucogenys siki, thuộc nhóm IB (động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm).
Trước đó đầu tháng 8/2013, cơ quan chức năng phát hiện ông Viện nuôi cá thể vượn trên, giống đực, có trọng lượng khoảng 3kg. Theo ông Viện, ông mang cá thể này từ Lào về khi đang còn nhỏ, nuôi dưỡng 3 năm nay và không biết đây là động vật quý hiếm.
Được cơ quan chức năng vận động, chủ nhân của cá thể vượn đen má trắng Siki đã làm đơn tự nguyện giao nộp cho Chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng. Hiện cá thể vượn này được đưa về Vườn quốc gia Cúc Phương cứu hộ trước khi thả về môi trường tự nhiên. (Vnexpress.net 4/9) đầu trang(
Theo Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Bình, 5 năm qua, các địa phương trong tỉnh đã trồng mới hơn 29.000 ha rừng; giao khoán bảo vệ gần 108.000 ha rừng tự nhiên, góp phần nâng độ che phủ rừng đạt 70%, cao nhất cả nước.
Cùng với trồng rừng, Quảng Bình đưa vào khai thác rừng kinh tế với sản lượng bình quân mỗi năm trên 20.000m3 gỗ sản phẩm, thu về hàng tỷ đồng. Ngoài ra, gần 10.000 ha rừng được chuyển giao về cho các địa phương quản lý; trong đó chú trọng việc chuyển giao rừng, đất rừng cho các hộ đồng bào dân tộc sản xuất để ổn định cuộc sống. (Nông Nghiệp Việt Nam 5/9) đầu trang(
Một chú cá voi xanh nặng 2 tấn bị mắc cạn trên vùng biển Quảng Ninh vừa được nhân dân tỉnh này cứu thoát và trả về biển.
Trước hành động này, chiều 4/9, Chủ tịch tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Văn Đọc gửi thư khen cán bộ, nhân dân huyện đảo Cô Tô vì hành động đầy tính nhân văn, đã góp phần bảo vệ động vật hoang dã.
Ngày 3/9, sau khi phát hiện con cá voi xanh nặng hơn 2 tấn bị mắc cạn trên bờ biển Nam Hải, thị trấn Cô Tô, huyện Cô Tô, cán bộ và nhân dân huyện đảo Cô Tô đã khẩn trương tiến hành các biện pháp để giải cứu con cá bị mắc cạn. Hàng trăm người cùng với sự hỗ trợ của 2 máy xúc đã đào một con kênh để đưa được cá voi xuống nước. Đến khoảng 22 giờ 10 cùng ngày, việc cứu hộ cá đã thành công, cá voi đã trở về với biển.
Đáng quý hơn hơn, sau khi cá voi đã bơi được ra biển, người dân huyện Cô Tô tiếp tục chia nhau, người bơi thuyền trong mưa gió, người đi dọc bãi biển kiểm tra để nếu thấy chú cá vì lý do nào đó quay lại bờ thì tiếp tục giúp đưa cá ra biển.
Người dân trên đảo Cô Tô đã nhiều lần giải cứu các loại động vật quý hiếm như cá heo, rùa, vích… về với biển khi gặp nạn.
Nhân dịp này, Chủ tịch tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Văn Đọc cũng kêu gọi Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân các địa phương trong tỉnh học tập tấm gương bảo vệ môi trường thiên nhiên của huyện đảo Cô Tô, trên cơ sở đó thực hiện tốt Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, các chính sách pháp luật liên quan, trong đó chú trọng việc bảo vệ các loài động vật hoang dã để góp phần bảo vệ môi trường, bảo vệ động vật hoang dã và đa dạng sinh học. (VietnamPlus.vn 4/9) đầu trang(
Là xã có tỷ lệ đồng bào dân tộc Dao Trắng lớn của huyện, xã Trung Tâm- huyện Lục Yên, trước đây được biết đến là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất, nhì huyện, tuy nhiên khoảng 10 năm trở lại đây, nhờ biết phát huy thế mạnh diện tích đồi rừng nên cuộc sống của bà con nhân dân xã Trung Tâm ngày càng khấm khá, nhiều hộ đã thoát nghèo và vươn lên làm giàu từ trồng rừng kinh tế.
Với 13 thôn bản, địa hình chủ yếu là đồi núi, xã Trung Tâm đã tận dụng tối đa những diện tích rừng sẵn có để phát triển trồng rừng, mặc dù nằm cách xa trung tâm xã nhất nhưng thôn Khe Hùm được biết đến là thôn có nhiều rừng, nhiều hộ giàu nhất nhờ phát triển trồng rừng kinh tế.
Thôn có 74 hộ với trê 350 nhân khẩu, 100% người dân là dân tộc Dao Trắng, hiện nay toàn thôn đã mở rộng được trên 200ha rừng kinh tế chủ yếu tập trrung nhiều khu vực ven hồ Thác Bà, với các loại cây trồng chính như: keo, bồ đề, mỡ… hộ ít cũng có 2-3ha rừng, hộ nhiều cũng có tới 8 đến 10ha. Qua khảo sát, mỗi năm từ trồng rừng kinh tế hộ ít trong thôn cũng bán được khoảng 20 triệu đồng, hộ nhiều nhất cũng bán được cả trăm triệu đồng.
Riêng 8 tháng đầu năm nay nhân dân trong xã đã trồng được trên 220ha, các cây keo, bồ đề, quế tiếp tục là cây kinh tế mũi nhọn được xã triển khai thực hiện, tập trung ở 13/13 thôn bản, trong đó nhiều nhất tại các thôn Khe Hùm, Ngòi Thìu, Vạn Thìu…
Để tăng hiệu quả trong nghề trồng rừng cho người dân, song song với việc trồng rừng nhiều hộ dân đã mạnh dạn mở xưởng sản xuất gỗ bóc nhằm tận thu nguồn nguyên liệu sẵn có, hiện nay, toàn xã có 6 xưởng gỗ bóc hàng năm không chỉ đạt hiệu quả trong sản xuất mà còn giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động địa phương. (Hội nông dân VN 3/9) đầu trang(
Năm 2013, Ban Quản lý rừng phòng hộ Sim được giao trồng mới 30 ha cao su trên đất rừng nghèo kiệt chuyển đổi.
Để người dân trong vùng đồng thuận và thực hiện kế hoạch, ngay từ những ngày đầu năm, đơn vị đã triển khai họp dân, thông báo các chính sách hỗ trợ của tỉnh và vai trò của cây cao su để người dân tham gia.
Bên cạnh đó, ban đã cử hàng chục lượt cán bộ đến từng hộ gia đình để vận động trồng cao su theo chính sách của tỉnh; mở các lớp tập huấn trồng và chăm sóc cao su. Ban đã liên hệ ký hợp đồng mua giống cung ứng cho các hộ dân.
Sau 3 năm thực hiện chính sách của tỉnh, ban đã quy hoạch và đôn đốc để các hộ nhận khoán đất thuộc 3 xã: Thượng Ninh (Như Xuân), Xuân Thọ và Phượng Nghi (Như Thanh) trồng mới được 112 ha cao su. Theo ông Trịnh Ngọc Lương, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Sim, cho biết: Cây cao su đang thích ứng rất tốt với vùng đất này. Những cây trồng năm 2011, nay đã cao 2 đến 3m.
Dự kiến năm 2014, Ban Quản lý rừng phòng hộ Sim sẽ phát triển thêm 50 ha cao su. Hiện ban đang triển khai các thủ tục, nhất là chuyển đổi diện tích rừng nghèo kiệt để trồng cao su theo hướng dẫn của ngành nông nghiệp. (Báo Thanh Hóa 5/9) đầu trang(
Sau một thời gian sa sút, gần đây, thị trường đồ gỗ đã khởi sắc, sức mua đang tăng trở lại giúp các cơ sở, doanh nghiệp (DN) chế biến gỗ ổn định sản xuất. Thị trường phục hồi đã giúp cho một số DN ngành gỗ đứng vững, mở rộng quy mô hoạt động.
Giai đoạn mới thành lập (2010 - 2011), Công ty TNHH An Lâm (xã Đại Lâm, Lạng Giang) chủ yếu sản xuất ván bóc. Năm 2012, DN tiếp tục đầu tư dây chuyền mới sản xuất ván ép. Gần đây, do nhu cầu sử dụng sản phẩm gỗ trên thế giới tăng trở lại, DN ký được nhiều đơn hàng mới xuất khẩu sản phẩm sang Ấn Độ và một số nước châu Âu, doanh thu bán hàng 8 tháng đầu năm nay tăng hơn 20% so với cùng kỳ năm ngoái, duy trì việc làm ổn định cho 70 lao động.
Những tín hiệu tốt từ thị trường giúp cho Công ty An Lâm lạc quan hơn khi thực hiện kế hoạch sản xuất những tháng cuối năm. Hiện DN đang đàm phán bán ván ép cho một đối tác Nhật Bản.
Công ty TNHH Vũ Thịnh (thị trấn Vôi, Lạng Giang) chuyên sản xuất đồ gỗ nội thất đã nhiều năm và không tránh khỏi ảnh hưởng của suy thoái kinh tế trong hơn hai năm qua. Hướng đến thị trường tiêu dùng nội địa, Công ty sản xuất các mặt hàng thông dụng như giường, tủ, bàn, ghế, cửa, sàn, trần gỗ từ ván ghép thanh, một trong những công nghệ mới của ngành chế biến gỗ.
Từ đầu năm đến nay, doanh thu bán hàng của DN đạt gần 10 tỷ đồng, tăng hơn 10% so với cùng kỳ năm ngoái. DN đang tiếp tục tuyển dụng thêm lao động, chuẩn bị nguyên liệu cho những đơn hàng cuối năm.
Những chuyển động tích cực ở các DN gỗ chế biến gỗ đã giúp người trồng rừng trong tỉnh tiêu thụ sản phẩm dễ dàng, tăng thu nhập và cải thiện đời sống. Theo thông tin từ Chi cục Phát triển Lâm nghiệp (Sở Nông nghiệp và PTNT), 8 tháng qua, toàn tỉnh đã khai thác gần 1.300 ha rừng, tổng sản lượng hơn 98,7 nghìn m3, tăng hơn 14 nghìn m3 so với cùng kỳ năm 2012, trong đó sản phẩm gỗ 82,7 nghìn m3.
Nghề chế biến gỗ đang đứng trước những cơ hội mới. Chính sách thuế, thương mại do Nhà nước ban hành tạo thuận lợi cho chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu sản phẩm từ gỗ. Bắc Giang với tiềm năng về lâm nghiệp đang là "điểm đến” của nhiều DN vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong ngành lâm sản. Giá trị xuất khẩu sản phẩm từ gỗ toàn tỉnh ước đạt hơn 4,4 triệu USD, tăng hơn 65% so với 8 tháng năm 2012. Kinh tế thế giới, trong nước hồi phục giúp thị trường gỗ "ấm” lại, sức mua tăng.
Tuy nhiên, dù có những cơ hội mới song các DN, cơ sở sản xuất, chế biến gỗ vẫn đang đối mặt với không ít thách thức. Đó là tình trạng khan hiếm nguyên liệu cục bộ, nhất là trong mùa mưa, khi việc khai thác rừng trồng gặp khó khăn. Chất lượng gỗ nguyên liệu ngày càng kém đi do nhiều chủ rừng bán gỗ non.
Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu mới qua sơ chế. Trong tỉnh mới có số ít DN ký kết hợp đồng trước khi xuất hàng. Hầu hết các cơ sở chế biến gỗ quy mô nhỏ bán hàng cho đối tác nước ngoài không có hợp đồng, tiềm ẩn rủi ro.
Để nghề chế biến gỗ phục hồi vững chắc, chính quyền các cấp, người trồng rừng cần quan tâm nâng cao chất lượng nguồn nguyên liệu, chú trọng phát triển rừng gỗ lớn, thực hiện tốt khâu quy hoạch trồng rừng gắn với quy hoạch phát triển các cơ sở chế biến gỗ hướng tới mục tiêu hạn chế xuất khẩu thô, tăng sản phẩm chất lượng cao đã qua chế biến, tạo mối liên kết chặt chẽ trong khâu tiêu thụ sản phẩm từ gỗ. (Báo Bắc Giang 3/9) đầu trang(
Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 28/NQ-TW ngày 16/6/2003 của Bộ Chính trị, việc sắp xếp, đổi mới nông - lâm trường quốc doanh phần nào đã có kết quả nhất định. Tuy nhiên, mâu thuẫn, tranh chấp đất đai giữa lâm trường với người dân vẫn “nóng” và diễn biến phức tạp.
Tại Lạng Sơn, trên địa bàn huyện Hữu Lũng, Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đông Bắc (Công ty Đông Bắc) được giao quản lý gần 22.000ha đất rừng, song nhiều năm qua, nơi đây cũng là điểm nóng về tranh chấp, lấn chiếm.
Thực hiện theo Nghị quyết số 28/NQ-TW của Bộ Chính trị về sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh; Nghị định số 200/NĐ-CP ngày 3/12/2004 về sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh, Công ty Đông Bắc đã tiến hành rà soát, dự kiến trả lại cho Hữu Lũng 11.260ha đất lấn chiếm, đất lâm trường sử dụng không hiệu quả.
Nhưng thực tế, diện tích dự kiến này vẫn chưa được thu hồi do đang thuộc khu vực dân lấn chiếm, khó giải quyết; việc rà soát chỉ thực hiện trên bản đồ, giấy tờ mà không khảo sát thực địa; các bên không có kinh phí để tổ chức rà soát, đo đạc trên thực địa...
Chỉ tính riêng địa bàn thôn Cốt Cối, xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, với khoảng 400 ha đất do Công ty Đông Bắc quản lý thì diện tích bị các hộ dân lấn chiếm là 272ha (chiếm 68%), diện tích đất đang tranh chấp khoảng 70ha.
Về vấn đề này, ông Lăng Văn Chiến, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Thành cho biết: Hiện nay, người dân trên địa bàn xã không có đất để sản xuất. Nhiều người nhận giao khoán trồng rừng của công ty thì lại bất đồng về tỷ lệ khoán, khiến mâu thuẫn, tranh chấp cứ dai dẳng, khó giải quyết. “Với thẩm quyền của mình, chúng tôi chỉ tuyên truyền, vận động, hòa giải mà không có chế tài cưỡng chế hay xử phạt nào cả, do đó, không giải quyết dứt điểm được các tranh chấp”, ông Chiến nói.
Từ năm 2005 trở lại đây, dân số trong địa bàn xã không ngừng gia tăng, trong khi đó diện tích rừng giao cho Công ty Đông Bắc quản lý thì lỏng lẻo. Ông Chiến bày tỏ, công ty này chỉ có 2 đội sản xuất, mỗi đội có 3 người mà quản lý tới 3.700ha rừng nên cần quy hoạch gọn lại diện tích đất lâm trường giao cho dân.
Ông Nguyễn Tân Việt, Giám đốc Công ty Đông Bắc thì cho rằng, việc giao đất trước đây thực hiện chưa được bài bản, chưa chính xác, hều hết số diện tích chỉ giao được trên bản đồ, sổ sách mà không được giao trên thực địa, không cắm mốc giải thửa. Tình trạng lấn chiếm đất, chặt phá rừng thực tế đã xảy ra từ nhiều năm trước đây, nhưng chính quyền địa phương lại chưa vào cuộc quyết liệt, nên đến nay vẫn chưa được giải quyết.
Ông Lăng Văn Chiến, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Thành (ngoài cùng bên phải) thừa nhận khó lòng giải quyết dứt điểm tranh chấp đất giữa người dân với lâm trường. Ảnh: Thảo Nguyên
Ghi nhận tại địa phương cho thấy, không ai muốn vi phạm pháp luật, nhưng “đói” đất sản xuất, nhiều người dân phải liều xâm lấn. Bà Bùi Thị Thúy, bà Nguyễn Thị Hương, người dân thôn Cốt Cối chia sẻ, năm 1983, các bà đều là công nhân của lâm trường. Đến năm 1991 - 1992 thì nghỉ không có chế độ gì cả. Do không có đất rừng sản xuất nên 2 bà khai hoang phần đất gần chỗ gia đình ở để sản xuất. Tuy nhiên, phần khai hoang đó vẫn thuộc quyền quản lý của lâm trường.
Theo ông Đoàn Quốc Anh, Bí thư Chi bộ Cốt Cối, đa phần người dân trong thôn là công nhân lâm nghiệp, đã nghỉ hưu hoặc thôi việc, không có đất sản xuất, thiếu đất sản xuất. Phần đất hiện nay họ đang canh tác do công sức khai hoang và cải tạo từ lâu, nhưng trên giấy tờ vẫn thuộc quản lý của công ty lâm nghiệp. Vì thế mà phát sinh mâu thuẫn. Ông Anh đề xuất, Nhà nước nên quy hoạch lại lâm trường. Diện tích đất rừng sản xuất giao lại cho người dân và Nhà nước thu thuế sử dụng đất như đối với phân chia đất ruộng.
Cùng với đó, cơ chế khoán, tỷ lệ nộp sản quá cao (26m3 cây đứng/1ha, tương đương theo hợp đồng dân hưởng 30% còn lâm trường hưởng 70%) cũng khiến người dân bức xúc. Thông thường chỉ 2 - 3 chu kỳ trồng bạch đàn, đất đai sẽ bị bạc màu và khô cằn, do đó, nhiều hộ dân cho rằng việc duy trì tỷ lệ như trong hợp đồng giao khoán là không hợp lý.
Bà Lý Thị Hương, Trưởng thôn Cốt Cối cho biết, các bức xúc bắt đầu dồn dập từ năm 2007. Diện tích đất rừng do công ty lâm nghiệp quản lý nhưng không kiểm soát hết được, giao khoán cho dân nhưng lại không bảo vệ được quyền lợi của người giao khoán. Do đó, càng khiến các tranh chấp căng thẳng hơn. (Thanh Tra 5/9) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum vừa cho biết, trong 8 tháng đầu năm 2013, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 342 vụ phá rừng trái phép, với diện tích thiệt hại là 75,25 ha.
Trong đó, phá rừng làm nương rẫy là 336 vụ, với tổng diện tích 75,19 ha (diện tích rừng tự nhiên 72,97 ha; rừng trồng 2,22 ha) và phá rừng với mục đích khác là 6 vụ, với diện tích 0,06 ha (diện tích rừng tự nhiên).
Trong các vụ vi phạm phá rừng nêu trên, huyện Tu Mơ Rông có 31 vụ, với tổng diện tích thiệt hại 0,77 ha; huyện Kon Rẫy 6 vụ, tổng diện tích 0,64 ha; huyện Sa Thầy 40 vụ, tổng diện tích 5,35 ha; huyện Ngọc Hồi 1 vụ, tổng diện tích 0,2 ha; huyện Đăk Hà 6 vụ, tổng diện tích 0,57 ha; huyện Đăk Glei 133 vụ, tổng diện tích 48,13 ha; huyện Kon Plông 123 vụ, tổng diện tích 19,5 ha; thành phố Kon Tum 1 vụ, tổng diện tích 0,06 ha; huyện Đăk Tô 1 vụ, tổng diện tích 0,018 ha.
Theo nhận định, dẫu lực lượng kiểm lâm trong tỉnh đã tăng cường trách nhiệm trong công tác quản lý và bảo vệ rừng, song tình hình phá rừng trái phép trên địa bàn tỉnh Kon Tum có chiều hướng tăng hơn trước. (Tài Nguyên&Môi Trường 1/9) đầu trang(
Hiện nay, những người Cơ Tu (huyện Tây Giang, Quảng Nam) bắt đầu hành trình đi săn lùng những chú chồn bay quý hiếm. Loài chồn có cánh tuyệt đẹp này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng trước sự săn bắt ráo riết của con người
Người Cơ Tu không những ăn thịt chồn bay mà chúng được người ta biết đến như một biệt dược chữa bệnh đường ruột. Chính vì sự quý của loài động vật hiếm này nên khi dùng làm thực phẩm, người Cơ Tu dùng luôn phần ruột và những túi đựng thức ăn bên trong của nó.
Ngày xưa, chồn bay chỉ dành để đãi khách quý trong làng, những người cao niên hoặc những người bệnh tật mới được dùng. Bây giờ, loài chồn bay đang bị đe dọa bởi các lái buôn và hàng quán nên chúng không còn phổ biến trong những cánh rừng này. (Tuổi Trẻ 4/9) đầu trang(
Ngày 3/9, các cán bộ Hạt Kiểm lâm liên huyện Tuy Phước - TP. Quy Nhơn (Bình Định) phối hợp cùng Đội cảnh sát Điều tra tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ Công an huyện Tuy Phước tiến hành kiểm đếm số lượng gỗ thực tế vận chuyển trái phép trên một xe ô tô tải do Hạt Kiểm lâm liên huyện Tuy Phước -TP. Quy Nhơn phát hiện và bắt giữ để tiếp tục củng cố hồ sơ xử lý theo qui định của pháp luật.
Trước đó, vào khoảng 10h ngày 24/8, lực lượng Hạt Kiểm lâm liên huyện Tuy Phước – TP. Quy Nhơn đã phát hiện xe ô tô tải mang biển số 81L-2347, do tài xế Phạm Văn Dũng, trú TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai điều khiển trên xe chở 22 tấn cành, nhánh và gốc rễ gỗ trắc và 11 m3 gỗ hương (đều thuộc nhóm 1) từ TP. Buôn Mê Thuột (tỉnh Đắk Lắk) về đậu tại kho hàng ga Diêu Trì, thuộc địa bàn thôn Ngọc Thạnh 1, xã phước An, huyện Tuy Phước đề chuẩn bị trung chuyển đi các tỉnh phía Bắc tiêu thụ.
Qua kiểm tra, tài xế xe không xuất trình được giấy tờ liên quan đến số gỗ nói trên. Hạt Kiểm lâm liên huyện Tuy Phước - TP. Quy Nhơn đã tạm giữ phương tiện và tang vật để điều tra xử lý. (Nông Nghiệp Việt Nam 4/9) đầu trang(
Hàng ngàn m2 đất trong Vườn quốc gia Tam Đảo đã bị xẻ thịt để nhường chỗ cho hai ngôi chùa xây trái phép. Sự việc kéo dài đã 6 năm, chính quyền địa phương đã biết nhưng tất cả vẫn cứ làm ngơ. Chỉ đến khi ngôi chùa được hoàn thành, cơ quan chức năng mới tìm cách đù đẩy trách nhiệm cho nhau.
Ông Trần Quang Thà, Phó Chủ tịch thị trấn Tam Đảo cho biết, chùa Vàng và chùa Thiên Phúc được xây trái phép từ năm 2007 do chủ nhang là bà Hoàng Thị Tâm tiến hành, đến nay cơ bản đã xong. Ngay khi vừa khởi công, thị trấn đã báo cáo với huyện Tam Đảo, Sở nội vụ, Sở VHTT&DL Vĩnh Phúc để xin ý kiến chỉ đạo. Tuy nhiên, không có cơ quan nào phản hôi nên UBND thị trấn không thể làm khác!?
Ông Thà cũng thừa nhận, việc chặt phá cây để mở rộng diện tích là có nhưng UBND thị trấn không nắm rõ được diện rừng, số cây bị chặt là bao nhiêu…
Bà Nguyễn Thị Diện - Trưởng Ban quản lý di tích (Sở VHTT&DL) Vĩnh Phúc cho biết: Việc xây chùa Thiên Phúc và chùa Vàng, Sở VHTT&DL không nhận được bất kỳ báo cáo của đơn vị nào. Năm 2008, khi đi kiểm tra các di tích ở thị trấn Tam Đảo, thấy chùa Thiên Phúc đang tập kết tượng và nguyên vật liệu để xây chua bà đã gửi Công văn yêu cầu UBND thị trấn kiểm tra, báo cáo với cấp trên nhưng không nhận được hồi âm.
Bà Diện cũng cho hay, Sở VHTT&DL chỉ quản lý những di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng và những di tích đã được kiểm kê nhưng chưa được xếp hạng. Còn hai ngôi chùa này được xây mới hoàn toàn, do đó, giấy phép, thẩm quyền quản lý thuộc Sở Nội vụ và Sở Xây dựng.
Việc chặt phá rừng ở Vườn quốc gia Tam Đảo đã rõ ràng,thế nhưng cơ quan nào cũng cho rằng không phải lỗi của đơn vị mình.
Ông Nguyễn Minh Tuấn - Phó Giám đốc Vườn quốc gia Tam Đảo cho biết, vườn quốc gia Tam Đảo có điểm khác với vườn quốc gia khác là UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã quy hoạch vùng lõi với diện tích hơn 150 ha gồm toàn bộ thị trấn TamĐảo và vùng phụ cận và vùng trực tiếp quản lý thông qua Ban quản lý các khu du lịch Tam Đảo. Vì vậy, dù vẫn nằm trong vườn quôc gia nhưng mọi vấn đề xảy ra trong khu vực đã quy hoạch thì vườn quốc gia không được can thiệp ma do Hạt kiểm lâm Vĩnh Phúc xử lý.
Còn ông Lưu Xuân Nghĩa - Hạt trưởng kiểm lâm Tam Đảo thừa nhận, có chuyện xây chùa trái phép trên địa phận vườn quôc gia do Hạt kiểm lâm quản lý. Năm 2008, Hạt kiểm lâm phát hiện bà Tâm tập kết vật liệu để xây chùa, ông đã nhắc nhở và yêu cầu bà Tâm dừng lại. Hạt cũng cử người theo dõi một thời gian dài, thấy xi măng cứ vơi dần, tưởng họ không xây nữa nên thôi. Không ngờ họ lam từng tí một, làm ban đêm nên cán bộ Hạt không nắm được.
Để lấn chiếm diện tích rừng, ông Nghĩa cho rằng, mỗi ngày họ chặt một cây hoặc lấn đất theo khoảng trống nên rất khó phát hiện và do cơ chế. "Trên địa bàn huyện Tam Đảo, Hạt kiểm lâm quản lý 13.000 ha, nhưng chỉ có 7 cán bộ, hếu hết lại sắp nghỉ hưu, sức khỏe yếu. Hơn nữa, cơ sở vật chất, trang thiết bị không đủ" - ông Nghĩa lý giải. (Phụ Nữ Việt Nam 4/9) đầu trang(
Ngày 4-9, UBND huyện Hàm Thuận Nam cho biết, đang kiểm tra làm rõ vụ ông Lê Quốc Chánh, nguyên Trưởng Công an xã Hàm Minh, đã xác nhận trái pháp luật, “bảo kê” cho việc mua bán trái phép hơn 10 ha đất lâm nghiệp của Nhà nước.
Được biết phần đất trên nằm ở tiểu khu 291B khu vực hồ Đu Đủ, xã Hàm Minh, đã được UBND tỉnh Bình Thuận giao cho DNTN Thuận Nam thuê trồng rừng. Tháng 7-2013, Hạt Kiểm lâm huyện Hàm Thuận Nam phát hiện có người đến cất nhà và tổ chức trồng thanh long tại phần đất trên. Đoàn kiểm tra đã lập biên bản yêu cầu đình chỉ để chờ các cơ quan có trách nhiệm xử lý.
Qua xác minh, người chủ nhà khai đã mua diện tích đất trên từ năm 2009 với giá gần 300 triệu đồng của ông Đặng Tấn Long ở xã Hàm Minh. Bên mua đất cho rằng dù họ mua đất bằng giấy tay nhưng hợp pháp bởi trưởng công an xã lúc đó là ông Chánh đã ký xác nhận với nội dung “Theo giấy chuyển nhượng đất của hai bên là đúng nhưng vì điều kiện chưa làm được sổ đỏ (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) nên công an xã xác nhận để hai bên thuận tiện các thủ tục về sau”.
Ngày 4-9, ông Lê Vinh Chi, Chủ tịch UBND xã Hàm Minh, cho biết việc mua bán đất năm 2009 và xác nhận trái thẩm quyền của ông Chánh là có thật. Tuy nhiên vào năm 2010, ông Chánh đã bỏ vợ con, đến nay vẫn chưa trở về địa phương. (Pháp Luật TPHCM 5/9) đầu trang(
Một vùng rừng tự nhiên với cây lâu năm tuổi tại huyện Phong Điền, tỉnh TT-Huế đã bị lâm tặc vào phá tan dù trạm kiểm lâm cách đó không xa.
Phóng viên Dân Trí điện thoại cho Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Phong Điền, ông Mai Chiến để báo tình hình về việc PV đã tiếp cận được cánh rừng tự nhiên đang bị phá, ông Chiến nói sẽ điều động ngay kiểm lâm viên ở trạm Phong Sơn gần đó (cách khoảng hơn 3km – PV) lên. Nhưng phải đến sau 2 tiếng đồng hồ, khi PV đi xe máy về quá nửa đường, mới thấy một tốp kiểm lâm 3 người lên tới.
Về tại trạm kiểm lâm Phong Sơn, ông Phan Dũng, trưởng trạm cùng các nhân viên giải thích cho lý do vào chậm là vì “không tìm thấy đường vào nên đi lòng vòng”. Sau đó vài phút, ông Nguyễn Văn Hùng, Hạt phó Hạt kiểm lâm Phong Điền đi xe máy tới, thay cho cấp trên là ông Mai Chiến đang nằm viện vì đau nặng.
Sau khi giở bản đồ, ông Hùng cho hay, đây là “Khu vực giao rừng tự nhiên cho nhóm hộ quản lý thuộc thôn Thanh Tân” với diện tích rừng tự nhiên là 211 hecta. “Mười năm trước, trữ lượng rừng tự nhiên không cao, nhưng cho đến năm nay, trữ lượng rừng tự nhiên đã lên tới trên 70m3/hecta. Ở đây cây lâu năm nhiều, nhiều nhất là tim lan, dẻ. Từ lúc giao cho dân năm 2003 đến giờ thì hiện tượng phá rừng này là không có.
Trong quá trình đi tuần tra, đánh giá, chúng tôi cũng không thấy hiện tượng này, kể trong cả thời gian vừa rồi. Ngành đã có họp với 3 cộng đồng dân cư tại khu vực, cộng đồng cũng đều có đi tuần tra, và không hề phát hiện phá rừng. Lần tuần tra mới nhất gần đây là tháng 7/2013. Tuy nhiên, không thể tránh khỏi sự sơ suất vì có thể hôm nay đi không thấy phá, nhưng ngày mai thì có” – ông Hùng trao đổi.
Đặt câu hỏi, “Báo chí phát hiện ra phá rừng, các anh nghĩ sao?”, ông Hùng trả lời “Về phía kiểm lâm trong công tác quản lý rừng chưa thật sâu sát với cộng đồng. Chúng tôi sẽ tổ chức với cộng đồng để kiểm tra lại”.
Ông Phan Dũng, Trưởng trạm kiểm lâm Phong Sơn cho rằng, có thể người dân địa phương vào rừng khai thác trái phép gỗ tự nhiên với tính chất nhỏ lẻ. Nhưng với những gì PV chứng kiến được, đây là vụ khai thác có tính chất quy mô và có tổ chức. Vì với hiện trường bị phá rừng, con đường nơi dẫn vào đã khác xa so với những gì gọi là “nhỏ lẻ”.
Ngay trong ngày, ông Hùng đã điều động các kiểm lâm viên lên kiểm tra lại hiện trường. Vào ngày 25/8, ông Mai Chiến, Hạt trưởng Kiểm lâm Phong Điền cho biết, lực lượng đang vào rừng đưa gỗ bị khai thác bất thường trên ra trạm Phong Sơn, tiếp tục có kế hoạch để xử lý. (Dân Trí 4/9) đầu trang(
Thông tin từ Công an huyện Đức Cơ cho biết: Đêm 3/9, sau nhiều giờ mật phục, bằng biện pháp nghiệp vụ và kiên quyết, các cán bộ, chiến sĩ Công an huyện đã chặn bắt được 2 xe ô tô chở gỗ lậu khi xe này vừa đến địa phận xã Ia Kêl.
Tại hiện trường, lái xe đã bỏ chạy, còn lại 2 xe ô tô BKS 72LD-0068 và 51D-007.16 các xe này đều đã tháo bỏ hết ghế, chở đầy gỗ phía trong. Hiện chủ phương tiện, chủng loại và số lượng gỗ đang được tìm hiểu và bàn giao cho cơ quan chức năng xử lý. Ước tính số gỗ vận chuyển bị bắt giữ khoảng 3 đến 4 m3/xe. (Báo Gia Lai 5/9) đầu trang(
Gần ba năm qua, hàng nghìn “đá tặc” lũ lượt tìm về núi đá xanh thuộc làng Bèn, xã Xuân Lẹ (Thường Xuân - Thanh Hóa) lập lán ở và đốt phá, đào khoét khu rừng nguyên sinh cả ngày lẫn đêm để tìm đá xanh quý hiếm dẩu sâu bên trong lòng đất.
Hàng ngày khu rừng nguyên sinh này phải hứng chịu cảnh đào xới hàng 100 hầm khai thác đá, có độ sâu 1,5m, dài gần 20m trong lòng đất và trên 500m3 đất được múc lên hàng ngày và đổ thành núi cao, khiến cả khu rừng nguyên sinh ngày đêm đang “oằn mình rỉ máu” vì đá tặc.
Đánh nói, tình trạng trên diễn ra tấp nập, tự do va huyên náo trên địa bàn làng Bèn trong suốt thời gian dài nhưng không hề bị chính quyền địa phương cũng như các cơ quan chức năng có thẩm quyền phát hiện để ngăn chặn và xử lý kịp thời. (Tài Nguyên&Môi Trường 5/9) đầu trang(
Ngày 4/9, Cơ quan CSĐT, Bộ Công an đề nghị truy tố Phạm Mạnh Hùng (ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) về hành vi vận chuyển, buôn bán hàng cấm.
Theo kết luận điều tra, ngày 31/1, Cơ quan CSĐT Bộ Công an phối hợp an ninh Sân bay Tân Sơn Nhất, TPHCM phát hiện 95,2 kg sản phẩm chế tác từ ngà voi có nguồn gốc Châu Phi trong va ly hành lý của Hùng và 2 hành khách khác.
Hùng khai, ngày 29/1 được một đối tượng tên Quang (quê ở Ninh Bình, làm việc ở Angola) thuê vận chuyển số sản phẩm ngà voi trên từ Angola về Việt Nam với tiền công 2.000 USD. Sau khi vận chuyển trót lọt lô hàng về TPHCM, ngày 31/1 Hùng tiếp tục làm thủ tục bay ra Hà Nội. Tại Sân bay Tân Sơn Nhất, Hùng nhờ 2 hành khách cùng chuyến bay đứng tên 2 va ly nhằm giảm tiền quá cước hành lý, song bị công an bắt giữ. (Tiền Phong 5/9; Tuổi Trẻ 5/9) đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Trong việc quản lý sử dụng đất của các nông, lâm trường và công ty được chuyển đổi từ các nông, lâm trường trên phạm vi cả nước hiện có tới 41/73 đơn vị đang xảy ra tranh chấp, lấn chiếm đất đai; 23/73 nông, lâm trường đã tự ý chuyển đổi trái phép từ đất nông nghiệp, đất rừng sang đất ở, đất sản xuất kinh doanh, nhà ở trái phép, gây thiệt hại nghiêm trọng về tài nguyên đất, ảnh hưởng tới công tác quản lý nhà nước.
Theo thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường, liên quan tới việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất trái pháp luật, qua thanh tra tại 37/50 tỉnh, thành phố trên cả nước đối với 73/99 nông, lâm trường đã phát hiện 23/73 đơn vị tự ý chuyển đổi hơn 1.000 ha đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp; trong đó chuyển sang đất ở là 156,12 ha, đất xây dựng trụ sở và đất sản xuất kinh doanh là 911,46 ha. Đặc biệt, nhiều nông, lâm trường tự ý chuyển đổi, chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; liên doanh, liên kết trong việc chuyển nhượng sử dụng đất trái pháp luật.
Đáng chú ý, có 6/73 đơn vị đem thế chấp giá trị quyền sử dụng đất tại các ngân hàng, với diện tích gần 52.000 ha; có 15/73 đơn vị liên doanh, liên kết trong việc sử dụng đất, trong đó 9 đơn vị liên kết với hơn 2.000 hộ gia đình, cá nhân sử dụng hơn 9.000 ha đất vào mục đích nông nghiệp…
Theo xác định của thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường, nguyên nhân cơ bản là do một số cơ quan quản lý nhà nước có chức năng chưa quyết liệt trong việc chỉ đạo, kiểm tra, giám sát. Thậm chí, nhiều địa phương còn có biểu hiện buông lỏng việc quản lý đất đai tại khu vực nông, lâm trường. Sự thiếu liên kết giữa chính quyền địa phương và các cơ quan chủ quản trong công tác quản lý, kiểm tra đã làm gia tăng các trường hợp lấn chiếm, tranh chấp, sử dụng không đúng mục đích, cho thuê, mượn, chuyển nhượng, xây dựng nhà ở sai luật.
Tuy nhiên, điều đáng nói, không chỉ sai phạm trong việc quản lý sử dụng đất mà các nông, lâm trường còn sản xuất chưa hiệu quả. Một cuộc khảo sát tại 56 nông, lâm trường quốc doanh tại 15 tỉnh, thành phố do Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp triển khai cho thấy, do năng lực quản trị yếu kém, 50% trong tổng số gần 150 nông, lâm trường quốc doanh hoạt động thua lỗ.
Đó thực sự là một nghịch lý, trong khi người dân địa phương nơi công ty lâm trường đóng quân đang không có đất để sản xuất thì mỗi công ty lâm nghiệp lại nắm trong tay hàng nghìn hécta rừng. Cùng với đó là, nhiều công ty cổ phần hiện nay không có vốn nhà nước, quản lý sử dụng hàng ngàn ha đất, nhưng vẫn chưa thực hiện thuê đất theo quy định.
Theo GS.TSKH Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, tình trạng tiêu cực xảy ra như hiện nay là do chúng ta đã quá chậm trễ trong việc đổi mới các nông, lâm trường. Tới nay, chúng ta cũng mới chỉ chủ yếu chuyển đổi tên gọi, trong khi đó, điều quan trọng là đánh giá hiệu quả hoạt động, tác dụng của các nông, lâm trường này.
Đặc biệt, vừa qua, trong phần trả lời chất vấn tại phiên họp thứ 20 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang cũng thừa nhận rằng: "thực tế hiệu quả sử dụng đất tại các nông, lâm trường thời gian qua rất thấp”.
Sai phạm trong việc quản lý sử dụng đất của các nông, lâm trường và công ty được chuyển đổi từ các nông, lâm trường thì đã rõ. Nhưng vấn đề đặt ra là phải xử lý thế nào? Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, cần thống nhất một cơ chế cho thuê đất trả tiền, thuê đất hàng năm đối với từng khu vực để phù hợp với thực tế.
Đồng thời, UBND các tỉnh cần tập trung giải quyết dứt điểm các vụ lấn, chiếm, tranh chấp đất đai nằm trong quy hoạch sử dụng đất chi tiết; thực hiện giao đất, cho thuê đất, hoặc điều chỉnh giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tạo điều kiện về kinh tế để đảm bảo cho việc đo đạc, rà soát, quy hoạch sử dụng chi tiết, cắm mốc ranh giới đất giao, cho thuê.
Trong khi đó, GS.TSKH Đặng Hùng Võ cho rằng, một trong những giải pháp ưu tiên để góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng chính là thu hồi một phần diện tích rừng tự nhiên từ lâm trường để giao lại cho cộng đồng, nhóm hộ trong từng trường hợp cụ thể. Quá trình giao đất cũng cần kết hợp mô hình hợp tác xã để bảo vệ nguồn đất không bị thất thoát.
Còn Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang hứa: "Chính phủ sẽ tiếp tục rà soát để điều chỉnh và sắp xếp lại hoạt động của các nông, lâm trường, đồng thời thu hồi đất nông, lâm trường không hiệu quả, hoặc bỏ hoang để có kế hoạch sử dụng hiệu quả, đúng mục đích”. (Đại Đoàn Kết 4/9) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa