|
Ngày 04 tháng 09 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Dự án nhằm phục hồi và quản lý bền vững diện tích rừng phòng hộ và cải thiện sinh kế tại 11 tỉnh vay vốn ODA của Nhật Bản vừa được Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế quản lý về tài chính.
Theo đó, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 118/2013 hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính vốn vay ODA của Chính phủ Nhật Bản cho Dự án Phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ (Dự án JICA2).
Nguồn vốn này được cân đối vào Ngân sách Nhà nước để cấp phát cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để thực hiện các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong các hoạt động dự án (bao gồm cả hoạt động tư vấn nước ngoài cho toàn dự án) và các địa phương theo hình thức ngân sách trung ương bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương để thực hiện các dự án thành phần tại địa phương.
Theo quy định của Thông tư, nguồn vốn của JICA thuộc Hiệp định vay được sử dụng để thanh toán cho các nội dung như: Hợp đồng thuê tư vấn nước ngoài; Hợp đồng nhập khẩu, mua sắm vật tư, hàng hoá, thiết bị trong và ngoài nước cho Dự án; Thanh toán cho khối lượng xây lắp, công trình lâm sinh và dịch vụ khác theo các Hợp đồng của Dự án và các khoản phí cam kết và lãi khoản vay trong thời gian giải ngân theo quy định tại Hiệp định vay.
Vốn vay JICA không được sử dụng để thanh toán các hạng mục đền bù giải phóng mặt bằng, các loại thuế, chi phí quản lý Dự án, phí dịch vụ ngân hàng, phí bảo hiểm công trình.
Bộ Tài chính cũng hướng dẫn các vấn đề liên quan đến hợp đồng kinh tế. Theo đó, thủ tục phê duyệt hợp đồng của JICA thực hiện theo quy định của Hiệp định vay. Hợp đồng có trị giá từ 0,5 tỷ Yên Nhật trở lên phải được gửi đến Ban quản lý các dự án lâm nghiệp/Ban quản lý dự án trung ương để tổng hợp gửi JICA làm thủ tục thông qua từng hợp đồng.
Các hợp đồng có giá trị dưới 0,5 tỷ Yên Nhật được Ban quản lý dự án các tỉnh đưa vào danh mục hợp đồng sử dụng vốn JICA ban hành kèm theo Thông tư này. Ban quản lý Dự án tỉnh gửi danh mục hợp đồng đã được ký kết cho Ban quản lý Dự án trung ương. Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ khi nhận được danh mục, nếu Ban quản lý dự án trung ương không có ý kiến phản đối, các hợp đồng trong danh mục hợp đồng đã được chấp thuận và sẽ được thanh toán bằng vốn vay của JICA.
Thông tư có hiệu lực từ ngày 9/10/2013. (Hải Quan 3/9) đầu trang(
Ngoài số tiền khoán bảo vệ hàng năm theo quy định của Nhà nước, từ năm 2012, người dân trồng rừng, bảo vệ rừng ở 21 xã có cung ứng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) ở Văn Chấn (Yên Bái) còn được chi trả thêm tiền phí DVMTR. Số tiền chi trả tuy không lớn, chỉ gần 34.000 đồng/ha nhưng đó là nguồn động lực cho nghề rừng phát triển.
Là địa phương có diện tích rừng khá lớn, với trên 72.000 ha, trong đó có trên 45.000 ha rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, những năm gần đây, người dân Văn Chấn đã biết bảo vệ, quản lý và tu bổ rừng. Ngoài lực lượng kiểm lâm, người dân đã "xã hội hóa" trong trồng và bảo vệ rừng (BVR). Toàn bộ diện tích rừng được các hộ, nhóm hộ và cộng đồng dân cư nhận quản lý, bảo vệ nghiêm ngặt. Đã một thời Văn Chấn là điểm nóng trong khai thác chặt phá rừng, nhất là tình trạng xâm chiếm đất rừng làm nương rẫy.
Trước thực trạng đó, huyện Văn Chấn, lực lượng kiểm lâm tăng cường tuyên truyền, vận động nhân dân cùng tham gia bảo vệ rừng, phòng chống chữa cháy rừng. Huyện yêu cầu UBND các xã phải vào cuộc để bảo vệ và phát triển vốn rừng, xã nào để xảy ra tình trạng khai thác, chặt phá rừng thì bí thư, chủ tịch xã đó phải chịu trách nhiệm trước lãnh đạo huyện.
Bên cạnh đó, đẩy mạnh công tác xây dựng và thực hiện quy ước BVR trong cộng đồng dân cư. Việc xây dựng quy ước BVR phải phù hợp với phong tục, tập quán của từng địa phương, thôn, bản, thể chế hóa Luật Bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao chất lượng khoán và BVR tới hộ, nhóm hộ dân. Hàng năm, lực lượng kiểm lâm tiến hành nghiệm thu chất lượng BVR, hộ, nhóm hộ nào có chất lượng rừng tốt mới được chi trả tiền công theo quy định.
Qua đó, trách nhiệm người dân được nâng cao, chất lượng rừng được giao khoán, bảo vệ được tăng lên rõ rệt. Bên cạnh đó, lực lượng kiểm lâm còn tăng cường kiểm tra, giám sát, quản lý khai thác, vận chuyển, chế biến, tiêu thụ lâm sản trên địa bàn.
Từ năm 2012, cũng như nhiều địa phương khác của tỉnh, Văn Chấn thực hiện Nghị định 99/2010/NĐ-CP về thực hiện chính sách chi trả DVMTR. Tuy số tiền chi trả không lớn nhưng đó là động lực để phát triển nghề rừng.
Qua rà soát, đánh giá, toàn huyện có trên 17.042 ha rừng có cung ứng DVMTR trong lưu vực sông Hồng thuộc 21 xã là: Nậm Búng, Gia Hội, Tú Lệ, Nậm Lành, Sùng Đô, Nghĩa Sơn, An Lương, Suối Quyền, Phù Nham, Thạch Lương, Sơn Thịnh, Suối Giàng, Đồng Khê, Suối Bu, Sơn Lương, Nậm Mười, Sơn A, Phúc Sơn, Hạnh Sơn, thị trấn Nông trường Nghĩa Lộ, thị trấn Nông trường Liên Sơn; trong đó có 14.770 ha rừng tự nhiên, 2.272 ha rừng trồng kinh tế. Toàn bộ diện tích rừng tự nhiên đang giao khoán cho 67 nhóm hộ với 711 hộ gia đình quản lý và bảo vệ, diện tích rừng trồng thuộc 1.944 chủ hộ gia đình.
Trong năm 2012, Ban chi trả tiền DVMTR huyện đã phối hợp với UBND các xã tiến hành nghiệm thu và chi trả trên 515 triệu đồng cho các nhóm hộ, chủ rừng đảm bảo đúng quy định. Năm 2013 này, huyện đang lập hồ sơ, hợp đồng tới từng chủ rừng để ký hợp đồng giao khoán làm cơ sở thanh toán trong năm.
Tuy nhiên, công tác chi trả phí DVMTR ở Văn Chấn cũng gặp những khó khăn nhất định như: Diện tích rừng nằm trong lưu vực không nhiều lại rất nhỏ lẻ, xa khu dân cư rất khó khăn cho công tác quản lý, kiểm tra, giám sát; quy hoạch phát triển lâm nghiệp trên địa bàn độ chính xác chưa cao, hầu hết các xã chưa có quy hoạch phát triển lâm nghiệp; chưa thực hiện giao rừng gắn với đất lâm nghiệp, ranh giới giữa các khu rừng, chủ rừng chưa rõ ràng dẫn đến chi trả rất phức tạp và mất nhiều công sức, trong khi cán bộ làm công tác chi trả phí DVMTR chủ yếu là kiêm nhiệm. (Báo Yên Bái 3/9) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Ngày 2-9, đại diện Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (ENV) cho biết, ENV vừa ra lời kêu gọi các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tiếp tục Chương trình Hỗ trợ các Dự án Hành động vì động vật hoang dã.
Chương trình do ENV điều phối với sự hỗ trợ, hợp tác của tổ chức Humane Society International (HSI), trong khuôn khổ chương trình WAPG nhằm tài trợ cho các hoạt động thúc đẩy việc thi hành pháp luật và làm giảm nhu cầu tiêu thụ động vật hoang dã (ĐVHD) tại Việt Nam.
Các khoản tài trợ sẽ được trao cho các dự án có khả năng tác động trực tiếp đến công cuộc bảo vệ ĐVHD tại Việt Nam, thông qua quy trình xét duyệt đơn giản và nhanh gọn. Mọi cá nhân, tổ chức có thể nộp đơn xin tài trợ, tuy nhiên chương trình ưu tiên cho các dự án do người Việt Nam thực hiện. Các dự án được hỗ trợ sẽ phải hoàn thành trong vòng một năm kể từ ngày được duyệt. (Đại Đoàn Kết 3/9) đầu trang(
UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũng vừa phê duyệt Dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, giai đoạn 2013-2015.
Theo quy hoạch này, đối tượng phạm vi đầu tư của dự án nằm trong lâm phận của Ban Quản lý rừng phòng hộ tỉnh đang quản lý là trên 10 nghìn ha. Trong đó, rừng phòng hộ đầu nguồn là trên 4 nghìn ha. Rừng phòng hộ chắn sóng biển là trên 4.600 ha và rừng phòng hộ chắn cát ven biển là trên 1 nghìn ha.
Được biết, tổng vốn đầu tư bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ giai đoạn 2013-2015 của Bà Rịa - Vũng Tàu là gần 10 tỷ đồng, lấy từ ngân sách của địa phương.
Dự án bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chú trọng tới việc bảo tồn và phát triển các loại thực vật rừng đặc hữu đang có nguy cơ tuyệt chủng như cây cẩm lai Bà Rịa, cây dẻ núi Dinh, cây cẩm liên núi Minh Đạm, cây dầu long Long Sơn và các cây khác như gõ đỏ, dáng hương, dầu cát, sến cát...
Dự án này cũng nhằm để bảo vệ nơi cư trú của các loài động vật rừng, thủy sản, nguồn gen thực vật, giống cây trồng và các sinh cảnh tự nhiên. Góp phần nâng cao chất lượng môi trường, giảm thiểu ô nhiễm, phục hồi hệ sinh thái, điều tiết dòng chảy, hạn chế các tác động của thiên tai, đồng thời cũng hướng tới việc tạo thêm điểm đến cho du khách.
Ngoài hiệu quả về mặt môi trường, bảo tồn gen và đa dạng sinh học, thông qua việc thực hiện Dự án sẽ tạo công ăn việc làm cho khoảng 700 lao động địa phương, tương đương khoảng 300 hộ vào làm nghề rừng mỗi năm.
Theo Ban Quản lý rừng phòng hộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, hiện, tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp đã giao khoán cho các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh này là 8.710ha/1.213 hộ. Tuy nhiên, do lực lượng bảo vệ của chủ rừng còn mỏng và hạn chế, chưa tổ chức được lực lượng đủ mạnh để bảo vệ diện tích rừng được giao, dẫn tới nhiều vụ phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái pháp luật chưa được phát hiện và ngăn chặn kịp thời.
Với việc tỉnh phê duyệt Dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ giai đoạn 2013-2015, dự kiến, mỗi năm sẽ có khoảng 500 ha diện tích rừng ở Bà Rịa – Vũng Tàu tiếp tục đưa vào giao khoán bảo vệ.
Từ năm 2008 đến nay, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đã trồng được trên 4 nghìn ha rừng tập trung, gần 10 nghìn ha rừng được khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ, tỷ lệ che phủ của cây xanh là 44%, trong đó tỷ lệ che phủ của rừng là 13%. (Cpv.org.vn 1/9) đầu trang(
Thời gian gần đây, UBND huyện An Lão đã thực hiện nhiều biện pháp quyết liệt, triệt để trong công tác quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR); góp phần giảm đáng kể tình trạng chặt phá rừng, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy.
Từ đầu năm 2013 đến nay, UBND huyện An Lão chỉ đạo các lực lượng chức năng phối hợp với chính quyền địa phương tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý các đối tượng có hành vi chặt phá, lấn chiếm đất rừng; đồng thời, phát huy vai trò, trách nhiệm của chủ rừng và người nhận khoán trong công tác QLBVR. Bên cạnh đó, ngành chức năng tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người dân về công tác QLBVR, ngăn chặn có hiệu quả việc một số người dân phá rừng tự nhiên để trồng rừng kinh tế.
Đáng chú ý, UBND huyện An Lão thành lập chốt barie tại thôn 3, xã An Toàn để kiểm soát hoạt động khai thác, vận chuyển gỗ và các loại lâm sản tại khu vực rừng nơi đây. Ngoài ra, huyện còn thành lập Đội phản ứng nhanh để kịp thời xử lý các trường hợp khai thác, vận chuyển, tàng trữ lâm sản trái phép trên địa bàn.
Theo thống kê của ngành chức năng huyện An Lão, từ tháng 1.2013 đến tháng 8.2013, lực lượng chức năng trên địa bàn huyện tổ chức 67 đợt tuần tra, kiểm soát và truy quét tại các khu rừng trọng điểm; qua đó phát hiện 46 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu 39m3 gỗ các loại, 22 kg thịt động vật rừng, 12 xe mô tô…
Ông Bùi Tiến Dũng, Phó Chủ tịch UBND huyện An Lão, cho biết: “Nhờ thực hiện nhiều giải pháp quyết liệt nên từ đầu năm đến nay, tình trạng phá rừng, lấn chiếm rừng tại địa phương đã giảm đáng kể. So với 8 tháng đầu năm 2012, hiện nay, số vụ vi phạm lâm luật tại An Lão giảm 8 vụ; hiện tượng một số hộ dân phát rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp làm nương rẫy cũng giảm mạnh”.
Tuy chính quyền địa phương và các ngành chức năng có nhiều nỗ lực, nhưng thực tế hiện nay, công tác QLBVR trên địa bàn huyện An Lão vẫn gặp không ít khó khăn, bất cập.
Theo ông Bùi Tiến Dũng: Khó khăn nhất hiện nay là các chế tài xử phạt những đối tượng vi phạm chưa thật sự nghiêm minh nên tính răn đe, giáo dục chưa cao. Chính vì vậy, nhiều đối tượng phá rừng sẵn sàng chống đối quyết liệt người thi hành công vụ; tình trạng cán bộ kiểm lâm bị tấn công phải đi cấp cứu tại bệnh viện vẫn còn diễn ra. Ngoài ra, Quyết định số 07/QĐ-TTg (QĐ 07) ngày 8.2.2012 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng đã có hiệu lực hơn 1 năm nhưng đến nay chưa có hướng dẫn cụ thể để thực hiện.
Theo thống kê, hiện nay, toàn huyện An Lão có 26 ngàn ha rừng đặc dụng và 22 ngàn ha rừng phòng hộ, nhưng mới chỉ giao cho người dân quản lý, bảo vệ, chăm sóc 21 ngàn ha rừng các loại; diện tích còn lại do ngành chức năng và địa phương quản lý với mức hỗ trợ 100 ngàn đồng /ha/năm. Dự kiến, năm 2013, ngành chức năng tiến hành giao 800 ha đất rừng cho người dân quản lý, sản xuất, nhưng do kinh phí đo đạc chưa có nên đến thời điểm hiện nay vẫn chưa thực hiện. (Báo Bình Định 31/8) đầu trang(
Ngày 30/8, Bảo tàng Đồng Nai đã khai mạc triển lãm chuyên đề “Sưu tập thủy sản sông Đồng Nai”. Đây là bộ sưu tập mẫu động vật thủy sản đặc hữu mà Bảo tàng Đồng Nai và ngành thủy sản tỉnh đã dày công nghiên cứu, sưu tầm từ nhiều năm nay.
Ông Nguyễn Văn Du, Giám đốc Bảo tàng Đồng Nai cho biết: Tình trạng ô nhiễm môi trường và xây quá nhiều đập thủy điện trên hệ thống sông Đồng Nai là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều loài cá đặc hữu của dòng sông này đang đứng bên bờ vực tuyệt chủng. Nếu như trước đây trên sông Đồng Nai, ngư dân thường bắt gặp những loài cá như cá ngựa xám, ngựa xương, cá cóc đậm, các loài cá trèn, những loài thuộc họ cá lăng và cá chạch sông… thì nhiều năm trở lại đây, những loài đặc hữu này rất hiếm khi gặp.
Từ năm 2006, Bảo tàng Đồng Nai được sự giúp sức của Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Đồng Nai thực hiện việc sưu tầm và nghiên cứu để bảo tồn giống, nguồn gen và các mẫu cá của dòng sông này. Đến nay, bộ sưu tập đã có trên 1.000 con thuộc 84 loài khác nhau.
Theo điều tra, nghiên cứu của các chuyên gia về thủy sinh, trên hệ thống sông Đồng Nai có khoảng 300 loài cá, trong đó có 17 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam ở các mức độ khác nhau, cần được bảo vệ. (Công An Nhân Dân 321/8) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Một cuộc khảo sát tại 56 nông-lâm trường quốc doanh tại 15 tỉnh, thành phố cho thấy, do năng lực quản trị yếu kém, 50% trong tổng số gần 150 nông-lâm trường quốc doanh hoạt động thua lỗ. Trong khi người dân địa phương nơi công ty lâm trường đóng quân đang “khát” đất sản xuất thì mỗi công ty lâm nghiệp lại nắm trong tay hàng nghìn hécta rừng.
Để từng bước tháo gỡ những bất cập trong quản lý đất nông-lâm trường quốc doanh, tạo cơ hội cho người dân có đất ổn định sinh kế về lâu dài, các chuyên gia cho rằng, cần có một cuộc cải cách đất nông-lâm trường, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên.
Trong khi bà con nông dân ở một số địa phương đua nhau bỏ ruộng thì ở miền núi, nhu cầu đất sản xuất (đất rừng) của người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu vẫn là “tấc vàng” khiến tình trạng tranh chấp, lấn chiếm ngày càng phổ biến.
Để từng bước tháo gỡ những bất cập trong quản lý đất nông-lâm trường quốc doanh, tạo cơ hội cho người dân có đất ổn định sinh kế về lâu dài, các chuyên gia cho rằng cần có một cuộc cải cách đất nông-lâm trường, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên.
Theo các chuyên gia nghiên cứu về đất rừng, sau 10 năm đổi mới, mặc dù các nông-lâm trường quốc doanh đã đạt được một số kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn bộc lộ rất nhiều hạn chế, yếu kém.
Ông Phạm Quốc Doanh, Phó Trưởng ban Chỉ đạo đổi mới và Phát triển doanh nghiệp (đơn vị trực thuộc Chính phủ) cho biết, cái được của việc đổi mới nông-lâm trường quốc doanh là đã từng bước tách bạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh với nhiệm vụ công ích, làm rõ hiện trạng đất đai, lập quy hoạch sử dụng đất. Cùng với đó, các nông-lâm trường tự tổ chức sản xuất hoặc giao khoán cho các hộ thành viên trồng và bảo vệ rừng, khuyến khích phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Tuy nhiên, một cuộc khảo sát tại 56 nông-lâm trường quốc doanh tại 15 tỉnh, thành phố do Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp triển khai cho thấy, do năng lực quản trị yếu kém, các nông-lâm trường tổ chức sản xuất chưa hiệu quả, 50% trong tổng số gần 150 nông-lâm trường quốc doanh hoạt động thua lỗ.
Bở vậy, để tồn tại, nhiều nông-lâm trường quốc doanh không còn cách “hóa phép” nào khác là phải sống nhờ vào việc giao khoán bảo vệ rừng hoặc cho thuê đất trồng rừng của mình cho các hộ dân sản xuất, quản lý.
Điều đáng nói, trong khi người dân địa phương nơi công ty lâm trường đóng quân đang “khát” đất sản xuất thì mỗi công ty lâm nghiệp lại nắm trong tay hàng nghìn hécta rừng. Thậm chí có lâm trường ở Quảng Bình quản lý gần 91,5 nghìn hécta rừng, chiếm 91% diện tích rừng của một huyện nhưng lại hoạt động không hiệu quả, thậm chí là bỏ đất hoang.
Về hiện trạng sử dụng đất, báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) thừa nhận, đất ở hầu hết các nông-lâm trường quốc doanh chưa được đo đạc, cắm mốc trên thực địa. Tình trạng tranh chấp lấn chiếm, cho thuê mướn đất đai trái pháp luật, xâm hại rừng diễn ra khá phổ biến chưa được giải quyết triệt để, có nơi tình trạng ngày càng nghiêm trọng.
Hơn nữa, đất giao cho các nông lâm trường có nơi giao trùng với diện tích giao cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức khác; quyền sử dụng đất không rõ ràng, khó tạo động lực phát triển. Nông-lâm trường quốc doanh được giao quản lý diện tích đất lớn nhưng không có vốn đầu tư, năng lực tổ chức sản xuất yếu kém, nên chưa phát huy được hiệu quả sử dụng đất.
Ngoài ra, nhiều công ty cổ phần hiện nay không có vốn nhà nước, quản lý sử dụng hàng ngàn ha đất, nhưng vẫn chưa thực hiện thuê đất theo quy định. Cơ sở hạ tầng kém, trình độ khoa học công nghệ áp dụng trong sản xuất còn lạc hậu, sản xuất kinh doanh có nhiều rủi ro… Do đó, lợi nhuận chưa cao so với nguồn lực đất đai được giao.
Ông Phạm Quang Tú, Phó Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển (CODE) nhận định, hiện nay các nông-lâm trường đang được giao nguồn lực đất đai quá lớn, trong khi nhân lực, tài chính hạn chế.
Theo ông Tú, trước kia, các nông-lâm trường được Nhà nước bao cấp, nay phải tự chủ, nên đã rơi vào tình trạng khó khăn về tài chính. Quá trình sắp xếp, đổi mới từ các nông-lâm trường sang công ty nông-lâm nghiệp cũng chỉ là hình thức thay đổi kiểu “bình cũ rượu mới”.
“Thực tế, quá trình thu hồi đất của các nông-lâm trường trả lại cho địa phương rất chậm. Hiện mới chỉ thu hồi được 200.000 ha chứ không phải hơn 700.000 ha như báo cáo nêu. Hơn nữa, việc thu hồi đất lâu nay vẫn áp dụng ‘khoán trắng’ cho các nông-lâm trường dẫn đến các đơn vị này chỉ trả ‘đất xấu,’ đất ở những nơi xa đường giao thông, vách núi khó canh tác,” ông Tú nhìn nhận.
Để tháo gỡ khó khăn nêu trên đồng thời để quản lý đất nông-lâm trường hiệu quả, Phó Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển cho rằng việc cần thiết là bóc tách các phần diện tích tranh chấp, lấn chiếm trả lại cho chính quyền địa phương làm cơ sở giao cho các hộ dân đảm bảo diện tích canh tác.
Mặt khác, ông Tú cũng đề xuất khi đã thực hiện các bước trên, đối với phần quỹ đất còn lại của lâm trường, tổ chức cần tiến hành thực hiện cho thuê đất trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng giữa các nhóm đối tượng, nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh rừng.
Ở góc độ cơ quan chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, ông Phạm Quốc Doanh cho rằng một trong những nội dung cốt lõi về đổi mới nông-lâm trường quốc doanh là đổi mới về cơ chế quản lý sử dụng đất, mô hình nào thì kèm theo cơ chế quản lý sử dụng ấy.
Theo ông Doanh, nếu các đơn vị tổ chức sản xuất kinh doanh theo quy định phải chuyển sang thuê đất, trước khi chuyển sang thuê đất thì cần tiếp tục rà soát lại một lần nữa để nắm bắt thực sự nhu cầu sử dụng đất cả công ty là bao nhiêu, và quản lý phải hiệu quả. Đối với diện tích còn lại cần chuyển hết đất cho địa phương để rà soát lại từng đối tượng, cấp đất và quản lý nhằm đảm bảo công bằng cho người dân.
“Tiếp đến, khi đã rà soát lại rồi, đơn vị nào có nhu cầu cần bao nhiêu thì phải thuê đất của Nhà nước, cắm mốc rõ ràng và được cấp giấy chứng nhận sử dụng đất. Nếu làm như thế thì chặt chẽ ngay. Ngày xưa, thực hiện giao đất không thu tiền thì chẳng có nông lâm trường nào không ‘ôm’ nhiều đất cả. Bây giờ siết chặt như thế sẽ buộc các công ty phải tính toán lại cho phù hợp với năng lực của họ,” ông Doanh nói.
Đồng tình với quan điểm này, Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường khẳng định, vấn đề đổi mới nông-lâm trường đã nhiều lần được các cơ quan đặt lên bàn “mổ xẻ,” nhưng kết quả chưa được gì đáng kể. Câu chuyện cũ vẫn còn nguyên, hiệu quả nông-lâm trường dù không có tiêu chí đánh giá nhưng ai cũng thấy hoạt động kém hiệu quả.
“Tôi nghĩ, một trong những giải pháp ưu tiên để góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng chính là thu hồi một phần diện tích rừng tự nhiên từ lâm trường để giao lại cho cộng đồng, nhóm hộ trong từng trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, quá trình giao đất cũng cần kết hợp mô hình hợp tác xã để bảo vệ nguồn đất không bị thất thoát,” Giáo sư Đặng Hùng Võ kiến nghị. (Báo Thừa Thiên Huế 3/9) đầu trang(
Theo Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, đến nay, các tỉnh Tây Nguyên đã xóa bỏ triệt để 218 cơ sở chế biến gỗ trong rừng, gần rừng tự nhiên, góp phần lập lại trật tự trong công tác chế biến gỗ, hạn chế các điểm nóng về phá rừng trái phép trên địa bàn.
Trong đó, tỉnh Đắk Lắk đã đình chỉ hoạt động 67 cơ sở chế biến gỗ, tập trung nhiều nhất ở các huyện Ea Súp, Buôn Đôn, Ea H’Leo, Cư M’gar. Đây là những địa bàn lâu nay thường xảy ra tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác gỗ trái phép nhiều nhất tỉnh.
Tỉnh Gia Lai, Đắk Nông cũng đình chỉ hoạt động hàng trăm cơ sở chế biến gỗ trong rừng, gần rừng, các cơ sở vi phạm pháp luật trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chế biến gỗ.
Hiện nay, các tỉnh Tây Nguyên kiên quyết không cấp mới Giấy đăng ký kinh doanh đối với các cơ sở chế biến gỗ không đảm bảo nguồn nguyên liệu hợp pháp hoặc không phù hợp với quy hoạch các cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn.
Các tỉnh Tây Nguyên cũng thành lập các đội liên ngành tăng cường quản lý chặt chẽ, kiểm tra thường xuyên, đột xuất các cơ sở chế biến gỗ, xử lý nghiêm, đình chỉ hoạt động các cơ sở chế biến gỗ mua bán, nhập hóa đơn chứng từ gỗ không có nguồn gốc hợp pháp, nhà xưởng xây dựng tạm bợ, không được cơ quan thẩm quyền cấp phép xây dựng, không có giấy xác nhận cam kết bảo vệ môi trường…
Cũng theo Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, trước đây, các tỉnh Tây Nguyên phát triển các cơ sở chế biến gỗ một cách ồ ạt, thiếu quy hoạch, không gắn với nguồn nguyên liệu lên đến trên 1.510 cơ sở; trong đó, tỉnh Đắk Lắk có 522 cơ sở, Gia Lai có 483 cơ sở, Lâm Đồng có 423 cơ sở chế biến gỗ…
Trong khi đó, công tác quản lý các cơ sở chế biến gỗ ở các tỉnh Tây Nguyên lại kém hiệu quả, thiếu kiểm tra, giám sát, nhất là các xưởng chế biến gỗ gần rừng, đặt trong rừng nên một số xưởng đã trở thành điểm tiêu thụ gỗ khai thác bất hợp pháp. Thậm chí, có địa bàn rừng trọng điểm ở Tây Nguyên trở thành “đường dây” theo chuỗi hành vi vi phạm từ khai thác, vận chuyển đến chế biến gỗ trái phép. (Tin Tức 4/9) đầu trang(
Kiểm soát nguồn gene và chia sẻ lợi ích là một trong những ưu tiên cao nhất trong chính sách bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học (ĐDSH) ở nước ta. Kiểm soát thế nào và chia sẻ ra sao vẫn là câu hỏi còn bỏ ngỏ khi tồn tại nhiều quy định bất hợp lý, xa rời thực tiễn.
Chính sách pháp luật muốn điều chỉnh có hiệu quả một vấn đề, trước tiên phải đưa ra khái niệm rõ ràng, mạch lạc làm cơ sở để xác định những đối tượng cụ thể. Đây cũng là mặt hạn chế trong quy định về kiểm soát nguồn gene. Khái niệm về nguồn gene, mẫu vật di truyền được đề cập trong Luật ĐDSH 2008 còn nhiều điểm mù mờ, gây khó hiểu.
Theo đó, “nguồn gene bao gồm các loài sinh vật, mẫu vật di truyền trong khu bảo tồn, cơ sở bảo tồn ĐDSH, cơ sở nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và trong tự nhiên”. Nếu định nghĩa như vậy thì nguồn gene sẽ bao gồm tất cả thực vật, động vật, vi sinh vật đồng nghĩa với mọi hoạt động của con người đều là tiếp cận nguồn gene.
“Hệ quả là muốn quản lý cũng không thể quản lý hết được vì đối tượng quá rộng. Thực tế đó đòi hỏi cần thu hẹp đối tượng nguồn gene định quản lý, nên chăng chỉ quản lý những nguồn gene quý hiếm có giá trị kinh tế cao, những nguồn gene có tiềm năng khai thác sử dụng” - Nguyên Cục trưởng Cục Bảo tồn ĐDSH, Bộ Tài nguyên – Môi trường Lê Thanh Bình nhấn mạnh.
Điều 55, 56 Luật ĐDSH quy định phân công các cấp trong quản lý nguồn gene bao gồm Nhà nước quản lý chung, ban quản lý khu bảo tồn, chủ cơ sở bảo tồn, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao đất rừng, mặt nước và UBND xã. Như vậy, bất cứ nguồn gene nào cũng có chủ quản lý, song công cụ kỹ thuật để họ thực hiện nghĩa vụ của mình vẫn còn bỏ ngỏ.
Đơn cử như chưa có quy định về hợp đồng tiếp cận nguồn gene cũng như mẫu của hợp đồng, giấy phép tiếp cận nguồn gene khiến cho tổ chức, hộ gia đình và chính quyền cơ sở lúng túng không biết phải giữ nguồn gene như thế nào. Hay như quy định giao cho hộ gia đình, cá nhân có chức năng quản lý phải thông tin về nguồn gene cũng là điểm còn hạn chế bởi “không ai bắt anh nông dân có giống lúa phải thông tin cụ thể về nguồn gene giống lúa của mình” - Ts Nguyễn Đình Hòe, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam nói.
Theo nhiều địa phương, thách thức lớn trong quá trình thực thi các quy định của pháp luật về chia sẻ lợi ích từ việc tiếp cận nguồn gene là nước ta chưa có kinh nghiệm thực tiễn, còn thiếu nhiều chuyên gia về lĩnh vực này. Vấn đề đặt ra hiện nay là chưa có căn cứ chia sẻ lợi ích cho cộng đồng ở vùng đệm của các khu bảo tồn, mặc dù cộng đồng là đối tượng cần được ưu tiên, nhằm khuyến khích họ tham gia bảo tồn.
Ban quản lý, tổ chức khu bảo tồn nguồn gene sẽ được chia sẻ lợi ích từ nguồn gene đó theo quy định tại Khoản 2, Điều 61 Luật ĐDSH. Như vậy, cộng đồng sinh sống ở khu bảo tồn sẽ không được chia sẻ lợi ích từ nguồn gene nếu không thuộc đối tượng được giao quản lý.
Hơn nữa, theo quy định pháp luật hiện hành thì diện tích vùng đệm không được tính vào diện tích khu bảo tồn nên càng không có căn cứ để chia sẻ lợi ích cho cộng đồng từ nguồn gen của khu bảo tồn. Giải pháp tốt nhất để bảo đảm được lợi ích của cộng đồng là phải có văn bản hướng dẫn thi hành Luật ĐDSH về quản lý và chia sẻ lợi ích từ nguồn gene, xác định cụ thể cộng đồng tại vùng đệm là một bên liên quan trong ba bên được chia sẻ lợi ích theo quy định tại Điều 61.
Một nội dung liên quan đến tiếp cận nguồn gene và chia sẻ lợi ích là quyền tác giả giống cây trồng, vật nuôi. Bảo hộ tốt quyền này sẽ bảo đảm cho việc chia sẻ công bằng lợi ích từ nguồn gene, đồng thời phát huy sức sáng tạo, tìm ra các giống cây trồng, vật nuôi hữu ích, từng bước phát triển bền vững đa dạng nguồn gene. Điều đó được cụ thể hóa trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Nghị định 104/2006 và Pháp lệnh Giống cây trồng 2003 nhưng mới chỉ đề cập tới nghiên cứu, chọn, tạo, đặt tên, công nhận giống cây, giống con mới còn quyền tác giả đối với giống cây trồng, vật nuôi vẫn chưa có quy định cụ thể, rõ ràng.
Với phương pháp liệt kê truyền thống như đưa ra danh mục các đối tượng hoặc trường hợp không được phép xuất khẩu, vấn đề xuất khẩu nguồn gene đã bước đầu được kiểm soát. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, Danh mục những giống cây trồng và vật nuôi quý hiếm không được xuất khẩu ra nước ngoài do Bộ NN&PTNT ban hành hay Danh mục những loài động vật, thực vật quý hiếm ban hành theo Nghị định 32/2006 vẫn chưa bao quát tất cả những nguồn gene quý hiếm thuộc chủ quyền nước ta.
Hệ quả là các nguồn gene sinh vật nằm ngoài những đối tượng nêu trên chỉ cần qua cửa kiểm dịch có thể mang ra nước ngoài. Thực tế cho thấy, không ít tổ chức, cá nhân nước ngoài trên danh nghĩa nghiên cứu khoa học, sưu tầm, du lịch đã mang nguồn gene của nước ta về để kinh doanh, tiến hành lai tạo giống mới hoặc khôi phục giống cho mục đích thương mại. (Đại Biểu Nhân Dân 31/8) đầu trang(
Trong khi UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết sẽ đề nghị dừng dự án thủy điện Ea K’tuor thuộc Vườn Quốc gia Chư Yang Sin thì Bộ Công Thương lại khẳng định sẽ tiếp tục thực hiện
Tại cuộc họp báo thường kỳ tháng 8-2013 của Bộ Công Thương vào chiều 3-9, ông Nguyễn Khắc Thọ, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng, cho biết bộ này sẽ phối hợp với UBND tỉnh Đắk Lắk thực hiện dự án thủy điện Ea K’tuor theo đúng quy định.
Theo ông Thọ, Ea K’tuor nằm trong quy hoạch dự án thủy điện vừa và nhỏ được UBND tỉnh Đắk Lắk phê duyệt. Mới đầu, chủ đầu tư dự kiến lập quy mô dự án là 9,3 MW, chiếm 64 ha diện tích đất rừng trong Vườn Quốc gia (VQG) Chư Yang Sin. Tuy nhiên, với lý do chiếm nhiều diện tích thuộc khu vực đất rừng quốc gia, UBND tỉnh Đắk Lắk vẫn chưa cho phép triển khai dự án.
Qua rà soát các dự án thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn Đắk Lắk, Bộ Công Thương đã đề nghị UBND tỉnh này chỉ đạo chủ đầu tư điều chỉnh dự án theo hướng giảm chiếm dụng đất của VQG Chư Yang Sin. Bộ Công Thương đã báo cáo Thủ tướng và Thủ tướng đã đồng ý giao UBND tỉnh Đắk Lắk triển khai thực hiện nội dung này. Theo chỉ đạo của Thủ tướng, hiện nay, chủ đầu tư đang xem xét giảm quy mô công suất dự án xuống còn 5 MW, tương ứng diện tích đất VQG bị chiếm dụng khoảng 6 ha.
"Với dự án này, Bộ Công Thương sẽ xem xét quyết định về quy hoạch, đồng thời phối hợp với UBND tỉnh Đắk Lắk chỉ đạo thực hiện theo đúng quy định hiện hành, bảo đảm hiệu quả kinh tế mà không làm ảnh hưởng đến môi trường" - ông Thọ nói.
Cùng ngày, ông Trần Hiếu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, cho biết cơ quan này vừa có công văn gửi Văn phòng Chính phủ, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chủ đầu tư về việc không thống nhất cho Công ty TNHH Hoàng Nguyên triển khai xây dựng Nhà máy Thủy điện Ea K’tuor.
"Kết quả kiểm tra hiện trạng và báo cáo của các sở, ngành cho thấy việc xây dựng Nhà máy Thủy điện Ea K’tuor sẽ ảnh hưởng đến sự đa dạng sinh học của VQG Chư Yang Sin và khu di tịch lịch sử cách mạng cấp quốc gia là hang đá Đắk Tuor" - ông Hiếu khẳng định.
Trước đó, như đã thông tin, VQG Chư Yang Sin và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đều phản đối việc thực hiện dự án này với lý do đây là dự án nhỏ, nằm trong phân khu nghiêm ngặt của VQG Chư Yang Sin nên sẽ ảnh hưởng đến đời sống tự nhiên của các loài động - thực vật hoang dã, gây ô nhiễm môi trường. (Người Lao Động 4/9; VOV 4/9; Sài Gòn Giải Phóng 4/9) đầu trang(
Sau một thời gian lắng xuống, mới đây dư luận lại bùng lên khi có tin Công ty CP Tập đoàn Đức Long Gia Lai - đơn vị lập dự án đầu tư Thủy điện Đồng Nai 6, 6A trên sông Đồng Nai - xin rút lại báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã gửi Bộ Tài nguyên - Môi trường để “bổ sung, chỉnh sửa cho phù hợp…”. Một lần nữa sự việc lại được dư luận và giới chuyên môn trong lĩnh vực môi trường lên tiếng phản ứng về 2 dự án đầy tai tiếng này…
Theo một thành viên Hội đồng thẩm định Dự án Thủy điện Đồng Nai 6, 6A, đây là lần thứ ba Công ty CP Tập đoàn Đức Long Gia Lai (Công ty Đức Long) xin rút lại ĐTM để chỉnh sửa, bổ sung các số liệu đánh giá được cho là “có sơ sót” mà báo chí và các nhà khoa học lên tiếng thời gian qua.
Trong đó, nội dung cần làm rõ về diện tích rừng và đất rừng khu vực lõi của Vườn Quốc gia Cát Tiên sẽ bị mất đi để xây dựng hồ chứa, đập chính, đập dâng, đập tràn, kênh xả, cống dẫn dòng, các khu phụ trợ, đường thi công, đường vận hành… bị tác động lên hệ sinh thái tự nhiên thì không được đưa vào chỉnh sửa như đề xuất của các nhà khoa học ở các bản ĐTM trước.
Một chi tiết khác “vẫn tồn tại” trong 3 bản ĐTM nói về các nhà máy thủy điện phía thượng lưu của Đồng Nai 6, 6A, bao gồm: Đồng Nai 2, Đồng Nai 3, Đồng Nai 4, Đồng Nai 5 được tính toán, thiết kế theo phân phối dòng chảy tại Trạm Thủy văn Tà Lài, nên phụ thuộc vào chế độ vận hành của thủy điện bậc thang. Do vậy, cũng sẽ không ảnh hưởng đến dòng chảy và sự tác động đến môi trường và hệ sinh thái khu vực.
Cách dẫn giải này ngay lập tức bị các nhà môi trường lật tẩy tính chính xác của nó khi đưa ra bộ số liệu của các bản ĐTM có từ trước năm 2007. Cụ thể, lưu lượng lũ thiết kế dựa vào chuỗi số liệu thực đo năm 1989 - 2006 - thời điểm chưa có công trình thủy điện nào ở thượng lưu sông Đồng Nai được xây dựng. Đây là khiếm khuyết rất cơ bản mà bản ĐTM lần này (lần thứ tư) nếu có điều chỉnh, bổ sung cũng không thể dẫn giải được tính chính xác do thực trạng dòng chảy đã bị biến đổi rất lớn từ nhiều năm qua.
Về cách tính toán lưu lượng nước mùa cạn kiệt của các tháng trong năm cũng được các nhà khoa học đưa ra có nhiều điểm thiếu chính xác, được sao chép, cập nhật số liệu từ nhiều nguồn khác nhau và tất cả đều chưa được đánh giá đầy đủ. Trong đó, số liệu cho rằng các công trình thủy điện ở thượng lưu sẽ làm tăng thêm đến 68,7m3/s lưu lượng nước ở thời điểm tháng 3 trong năm tại Trạm Thủy văn Tà Lài. Do vậy, tình trạng cạn kiệt vào mùa khô là không có.
Thế nhưng, các bản ĐTM lại không nói được trên lưu vực sông Đồng Nai rộng khoảng 3.000km2 từ sau vị trí của Thủy điện Đồng Nai 6, 6A đến Trạm Thủy văn Tà Lài lượng nước bổ sung về là bao nhiêu. Nếu không có số liệu chính xác sẽ không nói hết được sự cạn kiệt của sông Đồng Nai khi có thêm Thủy điện Đồng Nai 6, 6A và tác động của nó đến môi trường, đặc biệt là hệ sinh thái tự nhiên trên lưu vực hàng ngàn km2 này.
Tính đến nay, sau gần 4 năm triển khai, giai đoạn tiền khả thi của Dự án Thủy điện Đồng Nai 6, 6A vẫn “vướng” ở khâu lập và thẩm định ĐTM và không biết đến bao giờ sẽ được phê duyệt.
Theo TS Vũ Ngọc Long, Viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam, thành viên Hội đồng Thẩm định ĐTM Dự án Thủy điện Đồng Nai 6, 6A, có rất nhiều câu hỏi lớn về pháp lý và tính xác thực của các bản ĐTM được đặt ra nhưng chưa có câu trả lời có thể chấp nhận được từ phía Công ty Đức Long. Nếu số liệu của ĐTM lần này được chỉnh sửa, bổ sung mà thiếu thực tế, không minh bạch và chính xác thì cũng sẽ rất khó thuyết phục được cấp thẩm quyền phê duyệt. Chưa kể, 2 dự án này còn phải thông qua Chính phủ và Quốc hội xem xét, quyết định trước khi triển khai thực hiện.
Một thông tin khác mà trong quá trình theo dõi việc triển khai 2 dự án này chúng tôi có được, đó là sở dĩ quá trình khảo sát, lập ĐTM của Công ty Đức Long có nhiều sai sót là do nguồn lực từ tài chính, phương tiện, nhân lực đến kinh nghiệm thực tế… quá yếu kém. Điều chắc chắn là nếu được phê duyệt thực hiện 2 dự án này, Công ty Đức Long cũng không thể triển khai được do nguồn vốn quá lớn và phương tiện, thiết bị thi công và đội ngũ kỹ sư, công nhân không đáp ứng nổi.
Một lãnh đạo của Tổng Công ty Xây dựng Thủy lợi 4 (Bộ NN&PTNT) - đơn vị chuyên xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi cho biết, rất có thể Công ty Đức Long sau khi được phê duyệt thực hiện dự án sẽ bán cho một doanh nghiệp có đủ năng lực, hoặc liên kết với một đơn vị tổng thầu xây dựng để mời gọi các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước huy động vốn đầu tư công trình.
Dù với phương thức và nguồn lực triển khai dự án được thực hiện ra sao, nhưng ở giai đoạn lập dự án tiền khả thi, thiết nghĩ Công ty Đức Long - đơn vị lập dự án đầu tư cần tuân thủ một cách nghiêm ngặt, đúng pháp luật các quy định hiện hành; đồng thời bảo đảm tính xác thực, khoa học về số liệu đánh giá hiệu quả về nhiều mặt của dự án để các cơ quan thẩm quyền, các nhà khoa học và xã hội đánh giá, xem xét một cách chính xác nhất trước khi triển khai thực hiện, tránh những thiệt hại về kinh tế, xã hội cho đất nước hôm nay và nhiều năm tiếp theo. (Sài Gòn Giải Phóng 3/9) đầu trang(
Ngày 2/9, tỉnh Lâm Đồng cho biết sẽ nghiêm cấm hoạt động săn bắt và mua bán chim cảnh, thú cảnh trên toàn địa bàn.
Nguyên nhân là tình trạng trên đang làm cạn kiệt nguồn chim và thú rừng của địa phương; đặc biệt trong đó có loài chim đặc hữu của Đà Lạt là sẻ langbian (chỉ ở vùng rừng Đà Lạt mới có). (Lao Động 3/9) đầu trang(
Đến nay, huyện Thạch Thành đã trồng mới được 820 ha rừng sản xuất, đạt 137% kế hoạch năm. Trong đó, một số xã có diện tích trồng rừng lớn như Thành Long 292 ha, Thành An 92 ha, Thạch Sơn 86 ha, Thạch Bình 70 ha.
Năm 2013, Ban Quản lý Dự án phát triển ngành lâm nghiệp (Dự án WB3) huyện Thạch Thành được tỉnh giao trồng 800 ha rừng sản xuất trên địa bàn 9 xã, với 915 hộ tham gia bằng nguồn vốn vay của Ngân hàng Thế giới (WB).
Để hoàn thành kế hoạch được giao, ngay từ đầu năm, ban quản lý dự án huyện đã tiến hành rà soát diện tích đất đai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia trồng rừng; tổ chức các lớp tập huấn hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc cây lâm nghiệp cho hộ dân tham gia dự án; đồng thời, đấu mối với 6 vườn ươm cây giống trên địa bàn tỉnh cung ứng đủ số lượng, chất lượng cây giống cho các hộ.
Hiện nay, Ban Quản lý Dự án WB3 huyện Thạch Thành đang chỉ đạo các xã kiểm tra, đánh giá chất lượng rừng trồng, chăm sóc, tra dặm cây trồng, đồng thời rà soát quỹ đất cho kế hoạch trồng rừng vụ xuân năm 2014. (Báo Thanh Hóa 1/9) đầu trang(
Ở xã Liễu Đô (huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái) hầu như người dân nào cũng biết đến anh Hoàng Kim Sơn, một nông dân sáng tạo đã biết thâm canh trồng sắn xen lẫn keo mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Mô hình này đã giúp gia đình anh Sơn thoát nghèo, vươn lên làm giàu bền vững và tạo công ăn việc làm với thu nhập ổn định cho gần 50 lao động trong xã.
Cụ thể, năm 1989, anh Sơn mạnh dạn nhận 5ha đồi trồng keo, cùng với đó anh đầu tư xây dựng hệ thống đập thủy lợi để nuôi cá, tập trung hình thành mô hình trang trại tổng hợp. Cuối năm 2009, anh tiếp tục nhận thêm 8ha đồi, đến nay anh có tổng số 13ha. Qua tìm hiểu học hỏi nhiều nơi, anh quyết định chọn cây ngắn ngày để quay vòng vốn nhanh. Ban đầu anh Sơn mua hơn một vạn cây sắn cao sản và thuê nhân công trồng và chăm sóc, làm cỏ với thu nhập ổn định.
Được biết, trung bình mỗi năm thu hoạch gần 200 tấn sắn tươi, với giá bán như hiện nay khoảng 150.000 đồng/tạ, trừ các khoản chi phí mỗi năm gia đình anh Sơn thu về khoảng 100 triệu đồng.
Thành công từ mô hình trồng rừng xen sắn đã đưa anh Hoàng Kim Sơn trở thành tấm gương nông dân tiêu biểu trong phong trào thi đua sản xuất, xóa đói giảm nghèo ở địa phương. (Quân Đội Nhân Dân 4/9) đầu trang(
Đến hết tháng 8, huyện Ba Bể đã trồng được hơn 2.600/2.520 ha kế hoạch, bằng 103,56 % kế hoạch năm 2013.
Để đáp ứng đủ cây giống cho trồng rừng theo kế hoạch, năm nay, huyện Ba Bể đã xây dựng được hơn 40 vườn ươm ở các xã, với hơn 4,7 triệu cây giống, trong đó có hơn 3,6 triệu cây mỡ, 280.000 cây keo, 200.000 cây lát.
Hiện nay, huyện đang tích cực chỉ đạo việc chăm sóc rừng trồng những năm trước và diện tích rừng trồng mới, tiến hành trồng dặm để đảm bảo tỷ lệ cây sống đạt tiêu chuẩn nghiệm thu, chất lượng rừng trồng. (Báo Bắc Kạn 4/9) đầu trang(
Những năm qua, Ban Quản lý rừng phòng hộ Thạch Thành hiện đã thực hiện giao đất cho các gia đình nông dân trên địa bàn theo quy định của Nhà nước, mang lại hiệu quả cao. Nổi bật là việc tổ chức sản xuất theo cơ cấu nông, lâm kết hợp.
Từ năm 2006, đơn vị đã đưa vào trồng khảo nghiệm cây mac ca, một loại cây đặc sản xuất khẩu, nay đã cho thu hoạch 4 tạ quả, bán được gần 100 triệu đồng. Nhận thấy cây mac ca không chỉ cho hiệu quả kinh tế cao, mà còn có tác dụng bảo vệ đất, chống xói mòn, chống khô kiệt nguồn nước, Ban Quản lý rừng phòng hộ Thạch Thành đã trồng mới thêm 30 ha.
Ban đã chỉ đạo công nhân viên của đơn vị, các hộ nhận khoán thực hiện thâm canh cây mía giống mới, như: Rooc 22, Quế Đường 94-119,Viên Lâm 6, QĐ93... trên diện tích 420 ha, tập trung chăm sóc nên năng suất mía bình quân đạt 80 tấn/ha, nâng tổng sản lượng mía niên vụ 2012 – 2013 đạt hơn 31.000 tấn; đồng thời, thực hiện trồng rừng sản xuất, rừng phòng hộ với các loại cây trồng phù hợp như: trám trắng, sấu, lim xanh, keo tai tượng, keo Úc... có tác dụng phòng hộ dài ngày, bảo vệ môi trường, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. (Báo Thanh Hóa 1/9) đầu trang(
Ngày 3/9, ông Huỳnh Minh Nguyên, GĐ Vườn quốc gia U Minh Hạ (tỉnh Cà Mau) cho biết, qua kiểm tra trong lâm phần rừng tràm tại Vườn quốc gia U Minh Hạ, đơn vị đã phát hiện cây tràm bị héo đọt và chết bất thường (tập trung chủ yếu ở tiểu khu 059) trên phạm vi rộng khoảng 100 ha, mức độ cây tràm bị chết từ 10 – 20%.
“Ngay khi phát hiện cây tràm bị chết, chúng tôi đã có báo cáo đến Sở NN-PTNT Cà Mau”, ông Nguyên nói.
Ông Lê Văn Hải, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Cà Mau, thông tin, vừa qua Chi cục phối hợp với các đơn vị có liên quan thành lập đoàn đến kiểm tra tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ để tìm nguyên nhân.
Qua kiểm tra, ở khu vực rừng tràm bị chết có địa hình là vùng trũng nên cây tràm chết có thể là do “ngộp nước”. “Tuy nhiên đây chỉ là nhận định ban đầu, Chi cục Kiểm lâm đã có đề xuất với cấp trên thành lập đề tài ngiên cứu khoa học để tìm ra nguyên nhân chính xác”, ông Hải cho biết. (Nông Nghiệp Việt Nam 4/9) đầu trang(
Từ đầu tháng 6 đến nay, trên địa bàn xã Mỹ Hiệp (huyện Phù Mỹ) rộ lên tình trạng một số người dân đua nhau lấn chiếm đất lâm nghiệp, chặt phá cây rừng, đốt thực bì để trồng cây nguyên liệu giấy tại khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn quanh hồ chứa nước Đại Sơn thuộc tiểu khu 192, khiến dư luận địa phương bức xúc, và chính quyền địa phương dường như “bất lực” trước tình trạng này...
Ngày 30/8, Văn phòng UBND tỉnh Bình Định cho biết: Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định vừa ban hành văn bản yêu cầu Chủ tịch UBND huyện Phù Mỹ kiểm tra thông tin trên; khẩn trương làm rõ trách nhiệm và có biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với các tập thể, cá nhân có liên quan và báo cáo kết quả cho Chủ tịch UBND tỉnh trước ngày 5/9. (Công An Nhân Dân 1/9; Kinh Tế Việt Nam&Thế Giới 3/9) đầu trang(
Vừa qua, trên đường từ huyện Sông Hinh về TP Tuy Hòa, khi đến ngã ba đường vào thủy điện Sông Hinh, hai chiếc xe máy chở hai khúc gỗ to, dài từ hướng thủy điện Sông Hinh chạy ra quốc lộ 29, vượt qua trạm kiểm lâm xuôi về Sơn Thành (Tây Hòa).
Bất chấp có nhiều người và phương tiện đang xuôi ngược, hai chiếc xe chở gỗ đeo bám nhau rất sát, phóng bạt mạng, ngông nghênh lạng lách trên đường, rất nguy hiểm. Nhìn vào đồng hồ công tơ mét của ô tô, ước vận tốc của hai chiếc xe này không dưới 60km/g.
Theo người dân địa phương, đây là “chuyện thường ngày ở huyện”. (Quân Đội Nhân Dân 1/9) đầu trang(
Thông tin từ đường dây nóng báo Quân Đội Nhân Dân phản ánh: Thời gian gần đây, trên địa bàn huyện Văn Bàn có một số đối tượng vẫn buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. (Quân Đội Nhân Dân 1/9) đầu trang(
Trong tháng 8, Chi cục kiểm lâm (Sở NN&PTNT) Hà Nội đã tăng cường kiểm tra việc vận chuyển, kinh doanh lâm sản trên địa bàn, phát hiện và xử lý 8 vụ vi phạm về mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, thu nộp ngân sách 25,4 triệu đồng. (Hà Nội Mới 2/9) đầu trang(
UBND tỉnh Gia Lai vừa ra quyết định xử phạt hành chính, phạt 75 triệu đồng đối với ông Nguyễn Tấn (trú tại xã Ia Piơr, huyện Chư Prông) về hành vi vận chuyển trái phép 15,830m3 gỗ cà chít và gỗ dầu (thuộc nhóm III và nhóm V), tịch thu toàn bộ số gỗ tang vật vi phạm, tước giấy phép lái xe của ông Tấn trong 6 tháng.
UBND tỉnh Gia Lai cũng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt 45 triệu đồng đối với ông Phan Minh Thông (trú tại xã Chư Rcăm, huyện Krông Pa) về hành vi vận chuyển trái phép 4,390m3 gỗ giáng hương (thuộc nhóm I); tịch thu toàn bộ số gỗ tang vật và tước giấy phép lái xe của ông Thông trong 6 tháng. (Quân Đội Nhân Dân 3/9; Báo Gia Lai 3/9) đầu trang(
Chuyện doanh nghiệp lợi dụng chủ trương phát triển kinh tế, tránh lãng phí tài nguyên đất rừng rồi “phù phép” để phá rừng giàu lấy gỗ không còn là mới.
Giáo sư Nguyễn Ngọc Lung, Viện trưởng Viện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ đã chia sẻ với Đất Việt xung quanh việc hô biến “rừng giàu” thành “rừng nghèo” để lấy gỗ.
Giáo sư Nguyễn Ngọc Lung cho biết: Không phải bây giờ người ta mới làm chuyện này. Thường thì có 2 cách để khai thác gỗ. Cách khai thác gỗ thứ nhất là theo đúng phương pháp khoa học là quản lý rừng. Tức là muốn quản lý rừng thì phải xây dựng các kế hoạch, phương án quản lý.
Khi đó phải biết tổng số rừng là bao nhiêu, một năm sinh trưởng bao nhiêu và chỉ khai thác trong phạm vi sinh trưởng hoặc là dưới chỉ số đó. Từ đó rừng còn có thể sinh sôi nảy nở, tích lũy.
Đó là tôi đang nói tới cách khai thác chính đáng, được nhà nước cấp phép đàng hoàng, được kiểm tra theo luật.
Cách thứ hai là dựa trên lý do muốn cải tạo lại diện tích rừng này. Ví dụ làm phương án cải tạo 1.000 ha và lập hồ sơ trong diện tích này chỉ còn rất ít gỗ và xin chặt hết để trồng lại.
Trong cách này thường là lợi dụng chặt cây để lấy gỗ. Với cách này thì rất dễ, cứ lấy lý do rừng nghèo rồi chặt để cải tạo.
Dựa trên hồ sơ này, ông chủ tịch tỉnh đồng ý ký và họ sẽ chặt gỗ, phá rừng cũ để trồng cây. Còn phần chính là lấy gỗ thì họ không nói điều này trên hồ sơ.
Nói như vậy nghĩa là cách làm kiểu lợi dụng chính sách khoanh nuôi trồng mới rừng để lấy gỗ là không mới? Và trên thực tế đã có nhiều cánh rừng gỗ lớn đã bị chặt hạ, phá tan hoang núp dưới ý nghĩa tốt đẹp là trồng mới để làm giàu có rừng? Trả lời câu hỏi này, Giáo sư Nguyễn Ngọc Lung nói: Đúng là cách làm này không mới vì từ xưa tới nay họ vẫn làm. Nhất là vừa rồi khi trồng 100.000 ha cao su, người ta chủ yếu làm kiểu này.
Các tỉnh Tây Nguyên đã chuyển đổi hàng trăm ngàn hécta rừng để trồng cao su theo chủ trương này. Lợi dụng việc này, nhiều doanh nghiệp không chuyển đổi rừng “nghèo” mà tập trung chuyển đổi rừng “giàu”.
Theo Giáo sư Lung, người có thẩm quyền phê duyệt những dự án này là ông chủ tịch tỉnh. Dưới ông chủ tịch tỉnh là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong đó có chi cục lâm nghiệp, viện điều tra quy hoạch rừng. Cơ quan này có trách nhiệm đi làm các số liệu.
Chỉ cần các cơ quan này “nhắm mắt”, có những khu rừng rất tốt sẽ trở thành nghèo kiệt. Nghĩa là ông chủ tịch phê duyệt nhưng cũng phải có người chứng minh rừng đó là nghèo kiệt. Đó mới là vấn đề.
Thế thì không khó để các cơ quan này nói rừng đó là rừng gì thì nó sẽ là cái đó. Chẳng lẽ không có bên giám sát thứ ba đứng ra trong việc này hay sao? Liên quan đến vấn đề này, ông Lung khẳng định: Có chứ. Có giám sát nhưng chúng ta hãy nhìn theo quy luật của Năm Cam. Ít tiền không mua được thì dùng nhiều tiền. Nhiều tiền không mua được thì dùng rất nhiều tiền.
Ví dụ bản thân tôi từng ngồi trong hội đồng xét duyệt trồng cây cao su ở Tây Nguyên. Khi đưa ra ý kiến ở khu vực này không thích hợp cho sự phát triển của cao su.
Với cây này chỉ cần úng 2-3 ngày là chết nhưng có khu vực vào mùa mưa úng tới 2-3 tuần. Và cả mùa khô ở Tây Nguyên 6 tháng không mưa mà lại không tưới thì cây không sống được. Bản thân cây cao su đã được trồng với chế độ chăm sóc quá tốt nên rất dễ chết.
Thế nhưng khi hội đồng đưa ra các căn cứ khoa học về lượng mưa, độ sâu của đất, thời tiết nắng… khiến cây cao su không thể sống được ở đất Tây Nguyên. Thì ngay lập tức họ đưa ra giấy chứng nhận của Viện nghiên cứu cao su kết luận rằng khu vực đó có thể trồng được cao su.
Tức là phía doanh nghiệp đã “chạy” trước cái kết quả này, và biết trước kiểu gì thì hội đồng cũng sẽ lấy ý kiến của Viện Nghiên cứu cao su.
Tức là phía doanh nghiệp đã biết trước quy trình của hội đồng. Khi đó chỉ còn cách là bắt họ cam kết nếu trồng cao su không sống thì phải bồi hoàn lại diện tích đã trồng mà nhà nước không trả tiền nữa. (Đất Việt 4/9) đầu trang(
Lợi dụng việc mở đường khai thác rừng trồng của các doanh nghiệp, "lâm tặc" mở nhiều đường nhánh xuyên thẳng vào rừng sâu, dùng máy móc hiện đại chặt phá những cánh rừng nguyên sinh ở vùng giáp ranh giữa hai tỉnh Phú Yên - Đắk Lắk.
Anh Tuấn, cán bộ Trạm Kiểm lâm số 2, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ núi Vọng Phu (thuộc Ban quản lý Dự án rừng phòng hộ núi Vọng Phu, Đắk Lắk) cho biết, đầu năm 2013, các doanh nghiệp của tỉnh này đã mở con đường rộng từ 3 đến 5m vào khu vực trên để vận chuyển gỗ và hiện đã có hàng trăm héc-ta keo được khai thác. Tuy nhiên trên thực tế, không chỉ rừng trồng được khai thác mà rừng tự nhiên giáp ranh giữa Sông Hinh (Phú Yên) với M’Đrắc (Đắk Lắk) cũng đang bị tàn phá nặng nề và sắp bị “xóa sổ”.
Anh Tuấn thừa nhận, cách đây vài năm, trong lâm phần quản lý, đơn vị phát hiện 95 hộ với hơn 580 nhân khẩu di dân tự do vào rừng sinh sống, chủ yếu là từ tỉnh Cao Bằng và Hà Giang. Gần đây nhất, đơn vị phát hiện "lâm tặc" vận chuyển gần 4,5m3 gỗ chò tập kết tại khu vực giáp ranh giữa hai tỉnh Đắc Lắc và Phú Yên.
Ông Võ Trọng Bình, Phó giám đốc phụ trách Ban quản lý Rừng phòng hộ Sông Hinh (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phú Yên) cho biết, đơn vị được giao quản lý gần 20.000ha rừng giáp ranh với tỉnh Đắk Lắk, chủ yếu là rừng tự nhiên (16.597ha). Trong đó, Trạm kiểm lâm buôn Đức được giao trọng trách giữ hơn 3000ha và có nhiều tiểu khu giáp ranh với huyện M’Đrắc.
Tại các tiểu khu 299, 305, 309 rừng phong phú, đa chủng loại gỗ có giá trị kinh tế cao, như chò, trâm, gõ… trữ lượng gỗ trung bình hơn 200m3/ha, nhiều cây có đường kính từ 40cm đến hơn 1,3m nên đã "thu hút" nhiều "lâm tặc" đến đây. Trong khi đó, lực lượng bảo vệ quá mỏng, chưa được trang bị công cụ hỗ trợ nên thường xuyên bị "lâm tặc" uy hiếp. Mặt khác, do địa hình núi cao, hiểm trở, bị chia cắt bởi các con suối, muốn tuần tra, kiểm soát rừng, kiểm lâm phải đi đường vòng hàng chục ki-lô-mét qua huyện M’Đrắc nên gặp rất nhiều khó khăn.
Theo các kiểm lâm viên của Trạm kiểm lâm buôn Đức, "lâm tặc" thường tập trung từng nhóm, phân chia thành nhiều khu vực, dùng cưa máy đốn ngã hàng loạt cây gỗ lớn. Khi bị phát hiện, chúng chống trả quyết liệt, thậm chí dùng cả súng kíp để tấn công lại lực lượng chức năng.
“Chỉ cần 3 máy cưa, một đêm lâm tặc có thể "hạ gục" từ 50 đếm 60 cây gỗ có đường kính lớn, xẻ hộp tại chỗ rồi mở đường, dùng xe cơ giới vận chuyển ra bìa rừng”-ông Bình cho hay. “Trong một đợt tuần ra mới đây, bốn người chúng tôi đi hai xe mô tô đến cửa rừng. Sau khi vượt dốc, xuyên rừng sâu kiểm tra thực tế, khi quay trở ra thì hai chiếc xe đã bị "lâm tặc" cắt lốp, đổ đất cát vào máy”, anh Hiếu kể.
Ông Cao Hữu Lộc, Phó giám đốc Sở NN-PTNT thừa nhận, mặc dù UBND hai huyện Sông Hinh, M’Đrắc và Chi cục Kiểm lâm hai tỉnh Phú Yên, Đắk Lắk đã nhiều lần làm việc, đưa ra nhiều biện pháp, quy chế phối hợp ngăn chặn tình trạng khai thác, tập kết, vận chuyển gỗ trái phép vùng rừng giáp ranh nhưng hiện vẫn chưa mang lại hiệu quả, nhất là vùng rừng tiếp giáp với đường giao thông, khu vực sản xuất và khu dân cư của tỉnh Đắk Lắk.
Theo ông Lộc, UBND tỉnh Phú Yên cần sớm làm việc với UBND tỉnh Đắk Lắk để cùng tìm giải pháp phối hợp ngăn chặn nạn phá rừng hiện nay ở vùng giáp ranh giữa Sông Hinh với M’Đrắc và Khu bảo tồn thiên nhiên tỉnh Đắk Lắk. Tập trung rà soát diện tích rừng hiện có để xác định rõ lâm phần ổn định của từng tỉnh; quản lý chặt chẽ, kiểm tra thường xuyên, đột xuất các cơ sở chế biến gỗ; kiên quyết đình chỉ hoạt động, xử lý nghiêm các cơ sở chế biến gỗ vi phạm pháp luật; chủ động xây dựng chính sách phù hợp trong quản lý, bảo vệ nhằm bảo đảm phát triển rừng bền vững.
Đồng tình với các giải pháp trên, nhưng theo Phó chủ tịch UBND huyện Sông Hinh Trần Thanh Định, hiệu quả nhất vẫn là “tự bảo vệ”.
Ông Định đề nghị, ngoài việc trang bị công cụ hỗ trợ cho lực lượng tuần tra, kiểm soát và giải quyết tốt chế độ chính sách cho cán bộ quản lý, bảo vệ rừng, Chính phủ, các bộ, ngành và UBND tỉnh cũng cần xem xét đặc thù rừng phòng hộ giáp ranh, cho thành lập Hạt Kiểm lâm trực thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ; đồng thời thí điểm giao một số diện tích rừng cho đơn vị quốc doanh quản lý, bảo vệ, như vậy hiệu quả mang lại sẽ cao hơn. (Quân Đội Nhân Dân 4/9) đầu trang(
Quảng Bình: Bắt 3m3 gỗ lậu trong xe... chở dừa
Ngày 3.9, Công an tỉnh Quảng Bình cho biết, vừa phát hiện và xử lý vụ vận chuyển 3m3 gỗ lậu bằng xe tải.
Theo đó, ngày 2.9, trong lúc tuần tra kiểm soát trên Quốc lộ 1A tại Km 628 (thuộc địa phận xã Bắc Trạch, huyện Bố Trạch), tổ tuần tra đã phát hiện xe ô tô tải mang BKS 29Z - 0161 chạy hướng nam - bắc đang dừng đỗ bốc dỡ dừa quả bên đường.
Phát hiện có dấu hiệu nghi vấn, tổ tuần tra đã tiến hành kiểm tra và phát hiện trên xe ngoài dừa quả còn có 25 tấm gỗ Dổi (khoảng 3m3, thuộc gỗ nhóm 3).
Lái xe Đinh Xuân Dương (SN 1986, trú tỉnh Hải Dương) và phụ xe Lê Văn Huy (SN 1978, trú tỉnh Thanh Hóa) không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp số gỗ nói trên.
Sau khi tiến hành lập biên bản và niêm phong phương tiện, tang vật, vụ việc đã được bàn giao cho lực lượng kiểm lâm tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định. (Lao Động 4/9; Nhân Dân 4/9; An Ninh Thủ Đô 4/9) đầu trang(
Đường Hồ Chí Minh đoạn Quảng Nam - Kon Tum vẫn sửa chữa chưa xong nhưng hàng đêm xe chở gỗ vẫn ầm ầm kéo về.
Những chiếc xe tải hạng nặng chở những cây gỗ dài hàng chục mét ì ạch di chuyển, bằng mắt thường cũng biết là quá tải gấp nhiều lần theo quy định tải trọng xe. Theo tìm hiểu của phóng viên, đoàn xe gỗ được chở từ Lào qua cửa khẩu Bờ Y (Kon Tum) dọc đường Hồ Chí Minh rồi xuôi xuống Đà Nẵng. (Giao Thông Vận Tải 3/9) đầu trang(
Ngày 3/9, Hạt Kiểm lâm liên huyện Tuy Phước - thành phố Quy Nhơn cùng các lực lượng chức năng liên ngành đã có quyết định tạm giữ xe tải vận chuyển một lượng lớn gỗ tang vật bằng giấy tờ không hợp lệ.
Theo hồ sơ, xe tải 81L-2347 do tài xế Phạm Văn Dũng, 35 tuổi, trú thành phố Pleiku (Gia Lai) điền khiển vận chuyển 11 m3 gỗ hương và 22 tấn cành, nhánh, gốc rễ gỗ trắc (cả 2 đều là gỗ nhóm 1). Số gỗ trên được vận chuyển từ thành phố Ban Mê Thuột (Đăk Lăk) đến ga xe lửa Diêu Trì (huyện Tuy Phước, Bình Định) đề vận chuyển ra phía Bắc tiêu thụ.
Vào ngày 24/8, khi xe tải đang đậu tại khu kho vận Ga Diêu Trì thì lực lượng chức năng đến kiểm tra. Tài xế xe tải đã trình cho lực lượng chức năng các hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của số gỗ trên. Tuy nhiên, ông Trung cho biết, khi xác minh tại địa bàn xuất phát, Hạt Kiểm lâm thành phố Ban Mê Thuột chưa hề cấp giấy cho số lượng gỗ trên được vận chuyển mua bán.
Đối chiếu con dấu thật và con dấu trên hóa đơn chứng từ cũng không trùng khớp. Nhiều khả năng, các hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc đã được làm giả. Trong chứng từ, hóa đơn, số gỗ lớn trên được vận chuyển cho doanh nghiệp tư nhân Lâm Dũng, trụ sở đăng ký tại TP Ban Mê Thuột.
Hiện, Hạt Kiểm lâm liên huyện Tuy Phước - thành phố Quy Nhơn đang phối hợp cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ - Công an huyện Tuy Phước thực hiện các bước điều tra, xử lý theo luật định. (Tin Tức 4/9; Thời Báo Kinh Doanh 4/9; Công an TPHCM 4/9) đầu trang(
Xã thấy có lợi nên muốn người dân thực hiện “dự án” và photo công chứng toàn bộ 298 sổ đỏ đất lâm nghiệp (tổng diện tích 1.320,19ha, thời hạn sử dụng 50 năm) đưa cho một giáo viên.
Ông Hà Thanh Khang - chủ tịch UBND xã Xuân Cẩm, huyện miền núi Thường Xuân - cho biết: tháng 1-2010, ông Đỗ Văn Bằng (giáo viên Trường THPT Cầm Bá Thước, trú tại khu 4, thị trấn huyện Thường Xuân) đến gặp lãnh đạo xã nói rằng ông có quan hệ với Công ty cổ phần chuyển giao công nghệ quốc tế ASEAN (có địa chỉ tại Âu Cơ, phường Quảng Bá, quận Tây Hồ, Hà Nội) có thể “chạy” được dự án “đầu tư phát triển rừng đầu nguồn các tỉnh miền Trung”, với kinh phí hỗ trợ 200.000 đồng/ha/năm của một tổ chức phi chính phủ cho người dân.
UBND xã thấy có lợi cho dân nên xã cũng muốn người dân thực hiện “dự án” này và đã photo công chứng toàn bộ 298 sổ đỏ đất lâm nghiệp (tổng diện tích 1.320,19ha, thời hạn sử dụng 50 năm) đưa cho ông Bằng theo yêu cầu. Ngày 30-12-2010, ông Bằng lại yêu cầu phải nộp sổ đỏ gốc để cho công ty đối chiếu, triển khai “dự án” trên.
Thế nhưng đã gần ba năm trôi qua, chờ mãi không thấy “dự án” nào triển khai, UBND xã Xuân Cẩm đã nhiều lần mời ông Bằng đến làm việc để đòi lại sổ đỏ trả cho dân, nhưng ông Bằng nói “dự án” vẫn đang chờ phê duyệt vốn để thực hiện, toàn bộ số sổ đỏ của người dân xã Xuân Cẩm đang được công ty trên giữ.
Bà Lê Thị Hường - phó chủ tịch UBND huyện Thường Xuân - cho biết UBND huyện đã chỉ đạo, yêu cầu lãnh đạo xã Xuân Cẩm kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của cá nhân chủ tịch, phó chủ tịch UBND xã và các cán bộ xã có liên quan đến vụ việc trên. UBND huyện đã chỉ đạo chính quyền xã phối hợp với công an huyện, các ngành, cá nhân có liên quan nhanh chóng thu hồi số sổ đỏ trên để trả lại cho người dân.
Ông Hà Thanh Khang cũng cho biết cuối tháng 6 ông đã trực tiếp ra gặp đại diện Công ty cổ phần chuyển giao công nghệ quốc tế ASEAN để đòi sổ đỏ cho dân. Đại diện công ty trên hứa sẽ trả lại sổ đỏ trong tháng 7, nhưng đến ngày 1-9 công ty vẫn chưa trả. Chính gia đình ông Khang cũng có sổ đỏ diện tích 5ha đất lâm nghiệp đang bị giữ ở công ty. (Tuổi Trẻ 3/9) đầu trang(
Giáp ranh giữa phường Mỹ Hòa (TP.Long Xuyên) và thị trấn Phú Hòa (Thoại Sơn) có một phụ nữ bán hơn 15 con chim “lạ”, nhìn hao hao cò nhạn, cân nặng từ 1,2 -1,5kg.
Chúng cao hơn loại chim thường thấy, với mỏ dài, lông đen trắng, sãi cánh dài hơn 1m. Một số con bị “ngộp” chết được tiểu thương nhổ lông, bán với giá 150.000 đồng/con (còn sống giá 180.000 đồng). (Báo An Giang 3/9) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||