Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 03 tháng 09 năm 2013
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Tình trạng phá rừng nguyên sinh thuộc huyện Sông Hinh (tỉnh Phú Yên) giáp ranh với huyện M a Đ r ắk (tỉnh Đắk Lắk) ngày càng diễn biến phức tạp, nhất là hơn một năm gần đây. Dù vậy, việc ngăn chặn tình trạng trên đang gặp nhiều khó khăn do chưa có sự phối hợp giữa hai tỉnh.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phú Yên, trong thời gian qua, ngày càng có nhiều vụ lâm tặc phá rừng gây thiệt hại lớn. Năm 2012, không kể các vụ nhỏ lẻ, các cơ quan chức năng huyện Sông Hinh và Ma Đrắk phát hiện vụ phá 7.348 m2 rừng nguyên sinh thuộc địa bàn xã Ea Ly, huyện Sông Hinh. Các đối tượng đã dùng phương tiện mở đường dài hơn 1.436 mét, rộng từ 5 đến 6 mét từ tiểu khu 707 thuộc địa bàn xã Cư Prao vào tiểu khu 296 để phá rừng.
Mới đây, lâm tặc tiếp tục thâm nhập tiểu khu 309 thuộc địa bàn xã Ea Trol (huyện Sông Hinh) dùng cưa lốc, dao, rựa triệt hạ hàng chục cây gỗ lớn đường kính từ 0,8 mét đến 1,3 mét, dài khoảng 20 mét.
Thống kê bước đầu cho thấy có ít nhất 63 cây gỗ bị chặt hạ với khối lượng hơn 286m 3 . Trong đó 28 cây đã xẻ thành gỗ hộp, cắt ngọn với khối lượng hơn 75 m3, 35 cây đã chặt đổ còn nguyên cành ngọn với khối lượng gần 211 m3. Sau khi phát hiện, lực lượng chức năng huyện Sông Hinh phải điều phương tiện đào nhiều lỗ sâu gần 3 mét ngay giữa những con đường vào rừng để đề phòng lâm tặc tẩu tán những cây gỗ tròn và tiếp tục triệt hạ những cây khác.
Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến lâm tặc hoành hành thời gian qua là do ranh giới rừng tiếp giáp giữa huyện Sông Hinh và huyện Ma Đrắk dài 20 km. Phía huyện Sông Hinh hầu hết là rừng tự nhiên hơn 19.600 ha có trữ lượng lớn với nhiều loại gỗ có giá trị như Chò, Huỳnh, Trâm, Gõ…. Khu vực này chưa có đường giao thông, kể cả đường lâm nghiệp, lại xa khu dân cư.
Muốn tuần tra, lực lượng bảo vệ rừng huyện Sông Hinh phải đi theo tuyến đường từ huyện Ma Đrắk mới đi vào được vùng rừng của tỉnh Phú Yên. Riêng Trạm bảo vệ rừng buôn Đức (Ban quản lý bảo vệ rừng Sông Hinh) được giao quản lý 3.000 ha rừng nguyên sinh trong đó có các khu rừng tiếp giáp với huyện Ma Đrắk nhưng chỉ có 4 cán bộ nên việc kiểm soát nạn phá rừng rất khó khăn.
Trong khi đó, phía rừng Ma Đrắk hầu như đã bị “triệt hạ” và đã chuyển mục đích sang rừng sản xuất. Khu vực này địa hình thuộc kiểu cao nguyên nên tương đối bằng phẳng, dân cư tập trung và hệ thống giao thông phát triển.
Do đó, có thể nói đây là “điều kiện” lý tưởng để lâm tặc phá rừng giáp ranh bằng lợi dụng việc mở đường khai thác rừng trồng bên phía tỉnh Đắk Lắk rồi mở các đường nhánh xuyên thẳng vào rừng nguyên sinh thuộc địa bàn các xã Ea Trol, Ea Ly (huyện Sông Hinh) dùng máy móc, thiết bị phá rừng quy mô lớn.
Phó chủ tịch UBND huyện Sông Hinh ông Trần Thanh Định cho biết, khu vực rừng giáp ranh giữa hai tỉnh quá dài lại quản lý diện tích rừng nguyên sinh khá lớn trong khi lực lượng bảo vệ rừng của huyện chỉ có 15 biên chế, trang bị phương tiện hầu như không có gì, nên việc hạn chế nạn phá rừng đã là khó chứ đừng nói đến chuyện bảo vệ. Chính vì vậy, tỉnh Đắk Lắk cũng rất cần sự phối hợp của tỉnh Phú Yên bảo vệ các vùng rừng giáp ranh khác, chứ không riêng gì diện tích rừng thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh quản lý.
Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phú Yên, ông Cao Hữu Lộc thừa nhận, mặc dù UBND hai huyện Sông Hinh và Ma Đrắk cũng như Chi cục Kiểm lâm hai tỉnh Phú Yên-Đắk Lắk đã nhiều lần làm việc, đưa ra các biện pháp, quy chế phối hợp ngăn chặn tình trạng khai thác, tập kết, vận chuyển gỗ trái phép vùng rừng giáp ranh nhưng hiện vẫn chưa mang lại hiệu quả, nhất là vùng rừng tiếp giáp với đường giao thông, khu vực sản xuất và khu dân cư của tỉnh Đắk Lắk.
Từ thực tế trên, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề xuất UBND tỉnh Phú Yên sớm làm việc với UBND tỉnh Đắk Lắk để phối hợp ngăn chặn nạn xâm hại các vùng rừng giáp ranh giữa huyện Sông Hinh với huyện Ma Đrắk và Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô (tỉnh Đắk Lắk). Trên cơ sở đó, Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh phối hợp với Ban quản lý rừng núi Vọng Phu (Đắc Lắk) xây dựng quy chế phối hợp trong tuần tra bảo vệ rừng, thường xuyên thông tin những dấu hiệu vi phạm và phương thức, thủ đoạn hoạt động của các đối tượng.
Cùng với đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị UBND tỉnh Phú Yên nên kiểm tra, đánh giá thực tế trữ lượng, trên cơ sở đó có thể cho chủ trương khai thác chọn lọc gỗ rừng tự nhiên quá tuổi thành thục sinh học tại khu vực rừng giáp ranh thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh quản lý để hạn chế tình trạng các đối tượng khai thác gỗ trái phép từ phía tỉnh Đắc Lắk lợi dụng xâm hại tài nguyên rừng, đồng thời để tạo nguồn kinh phí tái đầu tư bảo vệ rừng.
Ngoài ra, ông Trần Thanh Định cũng đề nghị, ngoài việc tăng cường tuần tra, kiểm soát của lực lượng bảo vệ rừng và kiểm lâm, tỉnh Phú Yên cần xem xét và giải quyết một số chế độ chính sách cho cán bộ quản lý, bảo vệ rừng.
Cùng với việc đã đề xuất tăng lên 2 biên chế/1.000 ha rừng phòng hộ thay vì 1 biên chế như hiện nay và bổ sung thêm 1 biên chế/1.000 ha rừng sản xuất, UBND tỉnh Phú Yên cũng cần xem xét đặc thù rừng phòng hộ giáp ranh ở Sông Hinh để kiến nghị Bộ NN&PTNT nên thành lập Hạt Kiểm lâm trực thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh; đồng thời thí điểm giao một số diện tích rừng cho đơn vị quốc doanh quản lý thì việc bảo vệ rừng mới mang lại hiệu quả. Nếu không, nạn phá rừng sẽ còn tiếp diễn./. (Tầm Nhìn 31/8) đầu trang(
Ngày 31.8, tại rừng bạch đàn và keo lá tràm thuộc tiểu khu 330 trên núi Bà Hỏa thuộc P.Quang Trung, TP.Quy Nhơn (Bình Định) xảy ra cháy dữ dội, đe dọa hàng chục hộ dân sống dưới chân núi.
Nhận được tin báo, ngành chức năng và chính quyền địa phương đã huy động lực lượng tổ chức chữa cháy, đến 18 giờ cùng ngày dập tắt được ngọn lửa. Vụ cháy đã làm thiệt hại ước tính ban đầu hơn 2 ha rừng bạch đàn và keo lá tràm 5 năm tuổi. Nguyên nhân cháy được xác định là đốt tổ ong nhưng bất cẩn gây ra cháy lan. Thủ phạm gây ra cháy rừng đã bỏ trốn. (Thanh Niên 1/9) đầu trang(
Từ bao đời nay, người dân xã Đức Thạnh, huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi, đã ra sức gìn giữ khu rừng Nà nằm ngay giữa làng. Khu rừng có diện tích 17ha này được 300 hộ dân trong xã xem như một phần máu thịt không thể thiếu đối với cuộc sống của họ.
Ông Huỳnh Văn Đủ đã hơn 80 tuổi, cư dân của Đức Thạnh cho hay: “Theo những bậc tiền bối kể lại, rừng này có từ thời cha ông dựng làng mở đất, đã có từ nhiều trăm năm trước…”. Theo lịch sử Đảng bộ xã Đức Thạnh, trong những năm 1930- 1931, rừng Nà đã là căn cứ hoạt động, nơi trú ẩn của lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi. Đến năm 1965, rừng Nà được xây dựng thành căn cứ vách mạng của tỉnh cho đến ngày giải phóng (1975).
Ông Đào Bá (58 tuổi), cựu thanh niên xung phong ở xã Đức Thạnh kể: “Hồi đó, chúng tôi đào địa đạo sâu trong rừng để có nơi trú ẩn. Chúng tôi lấy rừng Nà làm lá chắn để chiến đấu, khiến địch bao phen khiếp sợ. Năm 1974, địch bắt dân trong xã phải tự tay phá hết rừng Nà nhưng bà con phản kháng quyết liệt, nhiều người chấp nhận hy sinh chứ không phá rừng. Nhờ vậy, rừng Nà vẫn mãi xanh tốt đến ngày đất nước giải phóng”.
Theo đề tài “Nghiên cứu tạo lập cơ sở dữ liệu, đề xuất giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học, môi trường và lịch sử khu sinh thái rừng Nà”, các cơ quan chuyên môn tỉnh Quảng Ngãi ghi nhận rừng Nà có 123 loài động vật có xương sống, 52 loài thực vật, trong đó có nhiều loài quý hiếm... Tại đây, có nhiều chim cò, vạc... sinh sống với số lượng lớn đến hàng nghìn cá thể. Về quần thể thực vật, rừng Nà gồm các loại cây trâm, sanh, gáo, sợp, dành dành, dứa dại...
Ông Nguyễn Văn Năm- Chủ tịch UBND xã Đức Thạnh cho biết: “Rừng Nà được ví như “lá phổi xanh” của xã, góp phần không nhỏ trong việc điều tiết nước, giữ ẩm cho 100ha hoa màu trong xã. Chúng tôi đang làm đề án giao từng diện tích rừng cụ thể cho các thôn để việc bảo vệ rừng được tốt hơn. Bên cạnh giá trị về lịch sử, rừng Nà có nhiều giá trị về tự nhiên.
Nguyện vọng của bà con trong xã mong muốn UBND tỉnh quy hoạch, xây dựng rừng Nà thành khu du lịch sinh thái nhằm phát huy hết những giá trị sẵn có, đồng thời cũng là cách giáo dục về lịch sử cho thế hệ con cháu mai sau”. (Nông Thôn Ngày Nay 2/9) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 31.8, UBND tỉnh Quảng Nam cho biết, địa phương tiếp tục bảo vệ quan điểm điều chỉnh ranh giới Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, cắt 7 tiểu khu ra khỏi khu bảo tồn và quy hoạch là rừng sản xuất phục vụ cho thăm dò khoáng sản tại khu vực mỏ vàng của Công ty TNHH vàng Phước Sơn.
Các tiểu khu này thuộc địa bàn H.Phước Sơn, gồm tiểu khu 622, 630, 631, 673, 674, 675, 677. Tương tự, tại H.Phú Ninh, sau khi “rà soát, đánh giá thực tế hiện trường”, 2 tiểu khu 590, 591 thuộc khu vực mỏ vàng Bồng Miêu cũng được địa phương cho phép Công ty khai thác vàng Bồng Miêu tiến hành hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản.
Trước đó, Thanh tra Chính phủ đánh giá việc UBND tỉnh Quảng Nam cho phép chuyển rừng phòng hộ và rừng đặc dụng để cho thăm dò, khai thác khoáng sản trong các trường hợp tại Phước Sơn, Phú Ninh là trái quy định. Tuy nhiên, chính quyền địa phương khẳng định các tiểu khu trên không có rừng đặc dụng mà chỉ có rừng phòng hộ (theo giấy phép thăm dò do Bộ TN-MT cấp). (Thanh Niên 1/9) đầu trang(
Dám nghĩ, dám làm, kiên trì vượt khó. Ðó là những tình cảm của bà con nông dân vùng quê lúa Thái Bình dành cho ông Trần Ngọc Hiếu, ở xã Thụy Duyên, huyện Thái Thụy. Khởi nghiệp nuôi cá sấu từ hai bàn tay trắng, giờ ông Hiếu là Chủ tịch Hội đồng quản trị một công ty chuyên cung cấp thịt cá sấu và nguyên liệu thuộc da cho thị trường trong và ngoài nước.
Thụy Duyên là vùng quê nghèo thuần nông, xa trung tâm huyện, đời sống nhân dân trông vào cây lúa nên thu nhập rất thấp. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, năm 1983, ông Hiếu trở về quê hương tham gia sản xuất nông nghiệp. Cảnh nghèo khó đeo đẳng gia đình khiến ông nảy ra ý tưởng muốn làm giàu chính đáng ngay trên mảnh đất này. Ông nghĩ, muốn vậy, phải dám nghĩ, dám làm, mạnh dạn học hỏi và tiếp thu tiến bộ khoa học - kỹ thuật một cách sáng tạo để phát triển kinh tế gia đình.
Từ năm 1996 đến năm 2005, ông Hiếu tổ chức nuôi cá sấu, kỳ đà, nhím với quy mô nhỏ, lẻ, cho nên hiệu quả không cao. Ðược sự động viên, giúp đỡ của Hội Nông dân, chính quyền địa phương và gia đình, bạn bè, năm 2006 ông mạnh dạn chuyển đổi một ha đất cấy lúa năng suất thấp, kém hiệu quả sang mô hình sản xuất các loại cây, con đặc sản.
Ðể có thêm kiến thức, ông Hiếu được Hội Khoa học kỹ thuật trang trại tỉnh Thái Bình, Phòng Nông nghiệp và Hội Nông dân huyện Thái Thụy tạo điều kiện tham dự các lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật xây dựng chuồng trại, nuôi trồng thủy sản, phương pháp hạch toán, quản lý kinh tế hộ gia đình kết hợp đi tìm hiểu, học tập kinh nghiệm các mô hình, điển hình làm kinh tế giỏi ở trong và ngoài tỉnh.
Qua tham quan, học hỏi, ông Hiếu quyết định chọn hướng đi cho mình là nuôi trồng các cây, con đặc sản như ba ba, cá sấu, nhím, kỳ đà... kết hợp trồng hoa, cây cảnh. Tuy nhiên, sau một thời gian hoạt động, nhận thấy đầu tư vào nuôi cá sấu để cung cấp giống, thịt thương phẩm và nguyên liệu thuộc da đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nên ông đã tập trung đầu tư gần ba tỷ đồng xây dựng hơn hai nghìn m2 chuồng nuôi cá sấu thương phẩm, ao nhân giống.
Với hướng đi đúng đắn, từ năm 2007 đến 2009, bình quân thu nhập từ mô hình trang trại nuôi cá sấu của ông Hiếu đạt hơn 400 triệu đồng/năm; năm 2010 đạt 700 triệu đồng/năm và năm 2012 đạt hơn hai tỷ đồng/năm sau khi đã trừ chi phí. Là đơn vị đầu tiên ở miền bắc nuôi thành công cá sấu trong cả mùa lạnh bằng cách quây bạt kín ao nuôi, lắp mái nhựa tránh mưa phùn, tăng nồng độ muối trong nước và thắp đèn điện, năm 2012, ông Trần Ngọc Hiếu được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen Lao động sáng tạo.
Là hội viên Hội Nông dân sản xuất kinh doanh giỏi nhiều năm, vừa trực tiếp tham gia Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh Thái Bình khóa 9 (nhiệm kỳ 2013-2018), ông Hiếu là tấm gương sáng trong lao động, được bà con nông dân vùng quê lúa mến phục. (Nhân Dân 30/8) đầu trang(
Ngày 30/8, ông Nguyễn Lộc, Giám đốc Ban quản lý Rừng phòng hộ Đồng Xuân cho biết: Đơn vị vừa giao lại 12.571ha rừng thuộc các xã Xuân Quang 1, Phú Mỡ, Xuân Lãnh và Đa Lộc cho địa phương quản lý, sử dụng; đồng thời nhận bổ sung hơn 10.000ha để chăm sóc, bảo vệ.
Hiện lâm phần do Ban quản lý Rừng phòng hộ Đồng Xuân quản lý có tổng diện tích 22.133ha, chủ yếu thuộc địa bàn xã Phú Mỡ. Hầu hết người dân xã này là đồng bào dân tộc thiểu số thuộc diện nghèo, thu nhập còn thấp, ý thức chấp hành pháp luật về rừng còn hạn chế… nên ảnh hưởng không nhỏ đến công tác bảo vệ, phát triển rừng của đơn vị.
Theo ông Lộc, đến nay, Ban quản lý Rừng phòng hộ Đồng Xuân đã lập hồ sơ, chuyển cho UBND xã xử lý hơn 120 vụ lấn chiếm đất lâm nghiệp, vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Đất đai nhưng vẫn chưa được thực hiện. (Báo Phú Yên 31/8) đầu trang(
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hòa Bình, đến cuối tháng 8, toàn tỉnh đã trồng được 7.336ha rừng sản xuất, vượt 4,8% kế hoạch trồng rừng năm 2013.
Trong đó, các huyện có diện tích trồng rừng cao nhất: Kim Bôi (1.840ha), Lương Sơn (900ha), Đà Bắc (885ha), Lạc Sơn (862ha), Lạc Thủy (860ha).
Sau khi hoàn thành vượt mức kế hoạch trồng rừng năm nay, các địa phương tập trung chăm sóc diện tích rừng trồng, đồng thời đẩy mạnh công tác quản lý, bảo vệ và phòng, chống cháy rừng. (Đại Biểu Nhân Dân 3/9) đầu trang(
Ngày 2-9, Vườn quốc gia U Minh Hạ (tỉnh Cà Mau) cho biết gần đây cây tràm tại tiểu khu 059 của Vườn quốc gia U Minh Hạ đột nhiên bị héo đọt và chết hàng loạt trên phạm vi rộng hơn 100ha. Mật độ cây tràm bị chết từ 10-20%.
Một lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm Cà Mau cho biết đã kiểm tra và tìm hiểu nguyên nhân cây tràm chết tại Vườn quốc gia U Minh Hạ. Qua kiểm tra, môi trường nước tại khu vực trên không có bất thường, còn đất tại khu vực này trũng nên có thể cây tràm chết do “ngộp” nước.
“Tuy nhiên đây chỉ là nhận định ban đầu, chúng tôi đang đề nghị Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh nhờ các viện, trường hoặc các chuyên gia hỗ trợ tìm hiểu nguyên nhân chính xác” - vị lãnh đạo này nói. (Tuổi Trẻ 3/9) đầu trang(
TS Vũ Ngọc Long - Viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam, thành viện Hội đồng Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A - cho rằng dù chủ dự án có chỉnh sửa bao nhiêu lần đi nữa thì vẫn không đạt chất lượng.
Chiều 30-8, ông Mai Thanh Dung - Cục trưởng Cục Thẩm định và Ðánh giá tác động môi trường, Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) - cho biết Công ty CP Tập đoàn Ðức Long Gia Lai vừa có công văn xin rút lại hồ sơ thẩm định đánh giá tác động môi trường (ÐTM) 2 dự án thủy điện Ðồng Nai 6, 6A để xem xét bổ sung.
Theo ông Dung, sau khi nhận văn bản, Bộ TN-MT đã dừng công tác thẩm định và trả hồ sơ ÐTM 2 dự án này. Hiện nay chưa thể khẳng định chủ đầu tư có rút khỏi 2 dự án này không. "Việc rút lại hồ sơ là quyền của chủ dự án, Bộ TN-MT chỉ có nhiệm vụ kiểm định ÐTM. Còn có rút khỏi dự án hay không thì chủ dự án không phải thông qua Bộ TN-MT mà đề xuất để Chính phủ quyết định" - ông Dung nói.
Ông Trần Viết Ngãi, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, cũng cho rằng 2 dự án thủy điện trên phá tới trên 300 ha rừng nên phải trình Thủ tướng, sau đó đưa ra Quốc hội xem xét và biểu quyết. "Bất kỳ bộ, ngành nào cũng không có quyền hạn trong việc này" - ông Ngãi nhận định.
Theo ông Ngãi, trước đây đã rộ lên phong trào làm thủy điện nhưng mục đích thực sự là để phá rừng. Sau đó, các chủ đầu tư sẽ rao bán các dự án này, đơn cử như Hoàng Anh Gia Lai đã công bố bán được 6 dự án. Ðiều này đã tạo ra một cuộc tháo chạy của chủ đầu tư đối với một loạt các dự án thủy điện.
"Ðến năm 2017, thủy điện gần như hết tiềm năng, không được làm tiếp nữa. Mới đây đã loại bỏ đến 338 dự án thủy điện vừa và nhỏ. Với các dự án còn lại, nếu không hiệu quả mà còn xâm hại đến rừng quốc gia thì cũng nên loại bỏ luôn, không cho làm nữa" - ông Ngãi đề nghị.
TS Vũ Ngọc Long - Viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam, thành viện Hội đồng Thẩm định ÐTM dự án thủy điện Ðồng Nai 6 và 6A - cho biết đã được mời dự khá nhiều hội đồng thẩm định ÐTM nhưng trường hợp sửa tới, sửa lui nhiều lần thì ông chưa gặp bao giờ.
"Tôi đã đọc cả ba lần ÐTM của hai dự án thủy điện Ðồng Nai 6 và 6A. Về cơ bản, ÐTM lần 3 không khác lần 2, có chăng chỉ là dùng nhiều tiểu xảo như: giảm số lượng thuốc nổ hay làm mờ các hạng mục để giảm bớt tác động tiêu cực. Tuy nhiên, bản chất của các tác động này là không thể bù đắp nên dù chủ dự án có chỉnh sửa bao nhiêu lần đi nữa thì vẫn không tìm ra giải pháp. Do đó, ÐTM không đạt chất lượng".
Theo PGS-TS Lê Trình, Chủ tịch Hội Ðánh giá tác động môi trường Việt Nam, việc ÐTM chưa làm rõ nhiều vấn đề, có thể là do đơn vị thực hiện thiếu thông tin, kinh phí thấp... bởi bản chất ÐTM là đoán trước những điều chưa xảy ra. Quy định hiện nay cũng không giới hạn số lần chủ dự án chỉnh sửa ÐTM.
Tuy nhiên, ông Trình khẳng định cho dù ÐTM được thông qua thì ông vẫn phản đối việc thực hiện 2 dự án thủy điện Ðồng Nai 6 và 6A. Thứ nhất, về pháp lý, 2 dự án được xây dựng trong Vườn Quốc gia Cát Tiên - nơi đang làm nhiệm vụ bảo tồn đa dạng sinh học - là vi phạm Luật Ða dạng sinh học. Thứ hai, những tác động kèm theo không bao giờ được lượng giá hết. Ví dụ, thủy điện Trị An cam kết chỉ mất 200 ha rừng nhưng thực tế con số lên đến hàng ngàn.
TS Nguyễn Khắc Kinh, Phó Chủ tịch Hội Ðánh giá tác động môi trường Việt Nam, cho biết Thông tư 26 của Bộ TN-MT chỉ quy định cơ quan nhà nước được yêu cầu đơn vị báo cáo ÐTM chỉnh sửa một lần nhưng không quy định các doanh nghiệp được chỉnh sửa bao nhiêu lần.
"Cần khống chế số lần chỉnh sửa để đơn vị thực hiện ÐTM tập trung, nghiêm túc hơn, tránh làm mất thời gian của cả cơ quan nhà nước và doanh nghiệp. Ở khía cạnh nào đó, việc chỉnh sửa ÐTM nhiều lần cũng phản ánh sự yếu kém của đơn vị thực hiện" - ông Kinh nói. (Người Lao Động 31/8) đầu trang(
UBND tỉnh Đồng Nai vừa kiến nghị loại bỏ hai dự án và tạm ngưng ba dự án trong số năm dự án Quy hoạch thủy điện bậc thang trên địa bàn nhưng không có tên dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A.
Theo UBND tỉnh Đồng Nai, việc kiến nghị loại khỏi quy hoạch hai dự án Thủy điện Tà Lài, huyện Tân Phú và Thủy điện Ngọc Định, huyện Định Quán do các dự án này có công suất nhỏ, hiệu quả thấp.Trong khi hai dự án này lại nằm gần Vườn quốc gia Cát Tiên và Nhà máy thủy điện Trị An, phải chiếm dụng nhiều đất sản xuất.
Tỉnh Đồng Nai cũng kiến nghị bộ Công thương đưa ba dự án thủy điện, Phú Tân 1, Phú Tân 2, Thanh Sơn vào danh sách các dự án tạm dừng.
Ba dự án này chỉ được cho phép đầu tư sau năm 2015 nếu đảm bảo có hiệu quả kinh tế và ít tác động đến môi trường - xã hội, phải có đánh giá tác động môi trường trước khi triển khai.
Cả 5 dự án trên thuộc Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2010-2020, có xét tới 2030 (gọi tắt là Tổng sơ đồ 7), đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2011.
Nhiều người thắc mắc không biết vì cớ gì mà lần này danh sách xin bỏ lại không có 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A trong khi đó Công ty CP Tập đoàn Ðức Long Gia Lai đã có công văn xin rút lại hồ sơ thẩm định đánh giá tác động môi trường (ÐTM) 2 dự án thủy điện Ðồng Nai 6, 6A để xem xét bổ sung.
TS Vũ Ngọc Long, Viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam, thành viên Hội đồng Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A cho rằng dù chủ dự án có chỉnh sửa bao nhiêu lần đi nữa thì vẫn không đạt chất lượng.
Trước đó, tại cuộc họp báo thường kỳ Chính phủ tháng 7/2013, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam cho biết, về hai thủy điện 6 và 6A, Chính phủ khẳng định, không có vướng mắc gì. Theo đúng quy định, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ xem xét, đánh giá, sẽ có báo cáo và dựa trên mọi mặt có tính thuyết phục, công khai, nếu đảm bảo làm được thì sẽ làm, không làm được thì sẽ không làm.
Những động thái nói trên khiến dư luận một lần nữa đặt câu hỏi, vì sao vẫn chưa dừng Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A? (Đất Việt 2/9) đầu trang(
Trong khi dư luận đang quan tâm việc Công ty TNHH Hoàng Nguyên (TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Ðắk Lắk) tiến hành các thủ tục pháp lý để xây dựng Nhà máy Thủy điện Ea K’tuor trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn Quốc gia (VQG) Chư Yang Sin thì có một dự án thủy điện khác của doanh nghiệp này đang từng ngày làm khổ người dân.
Gần 2 năm nay, kể từ ngày Nhà máy Thủy điện Ea Kha (xã Yang Mao, huyện Krông Bông, tỉnh Ðắk Lắk) tích nước, cứ ngày 3 lần, chị H’Van Êban (ngụ buôn M’ghí, xã Yang Mao) phải mang can nhựa đi bộ ra khu vực đập thủy điện Ea Kha cách nhà khoảng 1 km để lấy nước về sinh hoạt. Tính chung cả ngày, chị H’Van phải mất hơn 3 giờ chỉ để lấy nước về dùng. Là hộ nghèo, gia đình chị H’Van vay mượn hàng xóm hơn 10 triệu đồng để đào giếng lấy nước sinh hoạt. Tuy nhiên, do sống ở khu vực đồi núi, giếng đã đào được 15 m nhưng vẫn chưa có nước. Cạn tiền, gia đình chị đành bỏ cuộc.
"Mỗi lần đi chỉ lấy được vài chục lít nước, đủ dùng nấu ăn; còn việc tắm giặt phải nhờ mương nước thủy lợi gần nhà. Vẫn biết là nguồn nước này không hợp vệ sinh, thường xuyên gây ngứa ngáy nhưng gia đình tôi không còn cách nào khác" - chị H’Van nói.
Cũng từ khi Nhà máy Thủy điện Ea Kha tích nước làm khô cạn hệ thống nước tự chảy của người dân, gia đình chị H’Quyn B’krông (ngụ buôn M’ghí) đã phải vay mượn tiền để mua một chiếc xe công nông chuyên chở nước sinh hoạt cho gia đình 6 người. Là hộ nghèo, việc mỗi ngày gia đình chị H’Quyn phải mất khoảng 30.000 đồng tiền dầu đổ xe công nông chở nước là một gánh nặng. Cái đói, cái nghèo của người dân buôn M’ghí vì thế cứ luẩn quẩn quanh năm.
Ông Y Nguyên Byă, Phó Chủ tịch UBND xã Yang Mao, cho biết năm 1998, dự án Danida (Ðan Mạch) đã tài trợ gần 1 tỉ đồng để xây dựng chương trình nước sinh hoạt bảo đảm vệ sinh cho người dân xã Yang Mao. Năm 2007, do mưa lũ làm hỏng gần 100 m đường ống dẫn nước nên nhà nước hỗ trợ 950 triệu đồng từ vốn Chương trình 135 để sửa chữa.
Ðến tháng 11-2011, Công ty TNHH Hoàng Nguyên chặn dòng phát điện thì nguồn nước khô cạn, không còn hộ nào sử dụng được nguồn nước này. "Chúng tôi đã nhiều lần kiến nghị cơ quan chức năng nhưng đến nay, chủ đầu tư vẫn chưa khắc phục như cam kết trước khi xây dựng" - ông Y Nguyên Byă nói.
Không chỉ làm mất nước sinh hoạt của hàng trăm hộ dân, việc xây dựng Nhà máy Thủy điện Ea Kha (công suất 3 MW) đã xóa sổ hàng chục hécta rừng và nhiều thác nước đẹp.
Ông Ðoàn Văn Thành, Trưởng Phòng Quản lý bảo vệ rừng Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp huyện Krông Bông, cho biết: Dự án thủy điện Ea Kha chiếm 44,5 ha đất lâm nghiệp, trong đó có 31 ha rừng tại các tiểu khu 1212 và 1218 do công ty và UBND xã Yang Mao quản lý. Về hiện trạng, theo kết quả đánh giá của cơ quan chức năng vào thời điểm đó, có 5,8 ha rừng giàu, còn lại là rừng trung bình và rừng nghèo.
Việc dùng ống dẫn nước dài hơn 1 km để tạo áp lực phát điện đã làm một đoạn suối dài khô cạn. Ðiều đáng nói, khu vực này có nhiều thác nước đẹp vốn là tiềm năng du lịch của xã nghèo Yang Mao. Khi Nhà máy Thủy điện Ea Kha tích nước thì những thác nước này cũng biến mất.
Theo một cán bộ địa chính xã Yang Mao, trước đây khu vực này có nhiều thác nước đẹp và hùng vĩ. Vào dịp lễ, tết, du khách từ khắp nơi đến ngắm thác và du lịch mạo hiểm. Chính quyền xã dự kiến làm khu du lịch, cải thiện đời sống của người dân. Ðùng một cái nhà máy xây dựng, dự án cũng tan theo. (Người Lao Động 2/9) đầu trang(
Theo các chuyên gia nghiên cứu về đất rừng, sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết 28/NQ-TW ngày 16/6/2003 của Bộ Chính trị về sắp xếp, đổi mới nông-lâm trường quốc doanh, đến nay tình trạng tranh chấp, xâm chiếm đất đai vẫn diễn ra gay gắt, đặc biệt là ở những vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.
Con số mà Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa ra cho thấy, diện tích đất xảy ra tranh chấp giữa công ty lâm trường và người dân tính đến tháng 12/2012 là gần 31.000 ha; trong đó có nhiều trường hợp ngày càng diễn biến phức tạp, khó giải quyết. Song, theo các chuyên gia thì con số này chỉ là phần nhỏ của “tảng băng chìm,” chưa phản ánh được tính phức tạp của các nguyên nhân dẫn đến tranh chấp, hay cách thức giải quyết tranh chấp tại các địa phương.
Vietnam+ xin gửi tới độc giả chùm bài viết “Bất cập trong quản lý, sử dụng đất lâm trường quốc doanh” nhằm phản ánh toàn diện về vấn đề này.
Theo Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường, thời gian qua, nhiều diện tích đất nông-lâm trường trên phạm vi cả nước đã và đang bị “xẻ thịt” nghiêm trọng. Tại Lạng Sơn, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Đông Bắc được giao quản lý gần 22.000 ha đất rừng, song nhiều năm qua nơi đây cũng là điểm nóng về tranh chấp, lấn chiếm.
Điều đáng nói, mặc dù tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất rừng diễn ra ở hầu hết các thôn, xã-nơi công ty lâm trường quản lý với quy mô ngày càng phức tạp, diện tích đất cũng thu hẹp dần. Song nhờ sở hữu “con át chủ bài” (quy định người dân nộp sản lượng) nên công ty lâm trường vẫn “sống khỏe,” kể cả trên những phần diện tích đất bị dân lấn chiếm.
Với mục đích tháo gỡ mâu thuẫn về tranh chấp đất nông-lâm trường đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh và xóa đói giảm nghèo cho người dân, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Đông Bắc dự kiến phải trả về cho địa phương gần 13.000 ha; trong đó dự kiến trả cho tỉnh Lạng Sơn hơn 11.000 ha, tỉnh Bắc Giang hơn 1.500 ha.
Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu, đánh giá của Viện Tư vấn phát triển (CODE) thì diện tích dự kiến công ty này phải trả lại tại các tỉnh đến nay vẫn chưa được thu hồi, hoặc đã thu hồi nhưng không giao lại được cho người dân, vì phần đất này đang bị các hộ dân lấn chiếm.
Cụ thể, chỉ tính riêng địa bàn thôn Cốt Cối, xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng (Lạng Sơn) với khoảng 400 ha đất do Công ty Đông Bắc quản lý thì diện tích bị các hộ dân lấn chiếm là 272 ha (chiếm 68%), diện tích đất đang tranh chấp khoảng 70ha.
Về thực tế này, ông Lăng Văn Chiến, Phó Chủ tịch xã Tân Thành cho biết xuất phát từ việc công ty lâm trường "ôm" quá nhiều đất, một số nơi sản xuất cho hiệu quả thấp, trong khi người dân xã Tân Thành lại thiếu đất sản xuất (trung bình khoảng 1-2 sào/hộ). Thêm nữa, diện tích đất nương rẫy cũng ngày ít đi (trung bình mỗi hộ chỉ có khoảng 0,3 đến 0,4 ha) nên đã xảy ra tình trạng lấn chiếm đất đai.
Theo ông Chiến, khởi điểm của tình trạng tranh chấp đất đai tại địa phương xảy ra từ năm 2000, đặc biệt nhất là năm 2005. Vấn đề này từ đó đến nay vẫn không ngừng xảy ra, khiến bản thân vị Phó Chủ tịch này mỗi ngày phải dành 70% thời gian cho việc hòa giải mâu thuẫn tranh chấp đất đai giữa các hộ dân và công ty.
“Đáng buồn là Ủy ban Nhân dân xã lại không có cái quyền xử lý. Về mặt pháp lý, công ty lâm trường không trực thuộc chính quyền địa phương mà do Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam quản lý. Hơn nữa, chính quyền địa phương chỉ có trách nhiệm hòa giải, do đó việc chỉ đạo giải quyết tranh chấp rất hạn chế và không khả thi,” ông Chiến nêu khó khăn.
Ở chiều ngược lại, ông Nguyễn Tân Việt, Giám đốc Công ty Đông Bắc cho biết, đơn vị này đang được giao gần 22.000 ha đất rừng. Tuy nhiên, việc giao đất trước đây thực hiện chưa được bài bản, chưa chính xác, hều hết số diện tích chỉ giao được trên bản đồ, sách mà không được giao trên thực địa, không cắm mốc giải thửa.
“Tình trạng lấn chiếm đất, chặt phá rừng thực tế đã xảy ra từ nhiều năm trước đây nhưng chính quyền địa phương lại chưa vào cuộc quyết liệt, nên đến nay vẫn chưa được giải quyết,” ông Việt phân bua.
Theo thống kê của Ủy ban Nhân dân xã Tân Thành, toàn xã hiện có hơn 7.000 hộ dân với 80% hộ dân sinh sống chủ yếu dựa vào sản xuất lâm nghiệp, trong đó hơn 200 hộ dân đang có mâu thuẫn gay gắt với công ty lâm trường.
Ghi nhận từ địa phương này cho thấy, về cơ chế giao khoán rừng, hiện Công ty Đông Bắc đang có 2 đội sản xuất, mỗi đội quản lý trồng rừng khoảng 3,7 nghìn hécta, công ty đã thực hiện khoán hộ hơn 2,7 nghìn hécta (chiếm 72%). Tuy nhiên, vấn đề gây bức xúc bất bình giữa người dân và công ty lâm trường là cơ chế cho đối tượng nhận khoán và định mức khoán (quy mô/hộ, định mức khoán sản lượng).
Đáng nói hơn, về việc giao khoán trồng và bảo vệ rừng theo chương trình 327 và 661 trước đây (195 ha) người dân tại chỗ cũng không được nhận khoán. Đối với định mức khoán sản phẩm, các hộ dân và chính quyền xã cũng cho rằng mức khoán sản lượng (26m3 cây gỗ đứng/ha, tương đương theo hợp đồng dân hưởng 30%, công ty hưởng 70%) là quá cao, nên thu nhập của người dân về trồng rừng thấp (trung bình chỉ khoảng 2-2,5 triệu đồng/ha/năm).
Cùng với đó, mâu thuẫn về suy thoái môi trường từ kinh doanh trồng rừng cũng diễn ra phức tạp. Thông thường chỉ 2-3 chu kỳ trồng bạch đàn đất đai sẽ bị bạc màu và khô cằn không trồng được cây khác, kể cả cây sẵn cũng không phát triển được. Do đó, nhiều hộ dân cho rằng việc duy trì tỷ lệ như trong hợp đồng giao khoán là không hợp lý và đã vùng lên lấn chiếm đất lâm trường.
Trái với “cơn khát” đất sản xuất của người dân, Công ty Đông Bắc lại “ôm” trong tay quá nhiều đất. Theo anh Phạm Đăng Khoa, Đội trưởng đội sản xuất lâm nghiệp (Công ty Đông Bắc), hiện nay đội có 3 người nhưng quản lý tới 700 ha đất sản xuất, chưa kể diện tích bị người dân lấn chiếm.
“Cũng vì thiếu người nên toàn bộ diện tích đội quản lý đã được giao khoán cho người dân trong và ngoài xã Tân Thành. Trong đó một phần lớn diện tích đang bị các hộ dân lấn chiếm. Tuy nhiên, tới kỳ thu hoạch các hộ nhận giao khoán và hộ lấn chiếm đất của lâm trường sẽ nộp sản lượng,” anh Khoa nói.
Đặt câu hỏi làm sao công ty có thể thu được sản từ các hộ dân lấn chiếm? anh Khoa bật mí: “Thông thường các hộ dân muốn vận chuyển lâm sản (gỗ) đi tiêu thụ thì phải có bộ thủ tục cấp phép khai thác gồm: Đơn xin khai thác, biên bản xác minh hiện trường cùng với biên bản thỏa thuận giữa công ty và người dân.”
Trong khi đó, ông Đoàn Quốc Anh, Bí thư chi bộ thôn Cốt Cối, xã Tân Thành cho biết, quy định các hộ nhận khoán, hay không nhận khoán mà chỉ tìm cách sở hữu, tới lúc thu hoạch, vận chuyển vẫn phải nộp sản cho công ty mới được xuất gỗ đi tiêu thụ, ra khỏi địa bàn là không hợp lý.
“Rõ ràng, với lợi thế sở hữu ‘con át chủ bài’ trong tay, Công ty Đông Bắc dù bị người dân ‘cướp’ đất, có tiếng quản lý kém hiệu quả nhưng vẫn được ‘thu tô.’ Trong khi đó, người dân thiếu đất vẫn là đối tượng bị thiệt thòi,” ông Anh bức xúc nói. (VietnamPlus.vn 30/8) đầu trang(
Trong khi người dân tại nhiều tỉnh miền núi đang lâm vào tình trạng thiếu đất canh tác trầm trọng, bởi áp lực gia tăng dân số, dẫn tới tình trạng di dân tự do thì không ít công ty lâm nghiệp được Nhà nước giao quản lý hàng nghìn hécta đất lại “ngại” đầu tư, phát triển cây rừng với lý do thiếu… vốn.
Để tìm hiểu vấn đề này, phóng viên Vietnam+ đã tiếp cận với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Gia Nghĩa ( Đắk Nông), một trong những đơn vị trồng rừng kém hiệu quả đã quyết định “thay máu” bằng cách phát triển nghề tay trái “nuôi” công nhân viên.
Được giao quản lý hơn 19.000 ha đất để phát triển kinh doanh cây rừng, song nhiều năm nay Công ty Gia Nghĩa sản xuất kém hiệu quả. Toàn bộ diện tích mà công ty này sở hữu, đến nay đã giao thẳng cho toàn bộ công nhân; trong đó có một phần bỏ hoang với lý do thiếu vốn, không thể đầu tư sản xuất.
Tuy nhiên, qua cuộc trao đổi với ông Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty Gia Nghĩa, được biết để giúp công ty có vốn sản xuất, một số ngân hàng trên địa bàn tỉnh đã đồng ý cho doanh nghiệp này vay nhiều tỷ đồng. Nhưng thay vì “dốc” vào phát triển trồng rừng thì công ty quyết định dành khoảng 10 tỷ đồng vào việc đầu tư nhà hàng-khách sạn, với lý do “nuôi” công nhân viên.
Lý giải cho việc làm trên, ông Quân cho rằng đầu tư và chăm sóc 1 ha rừng sẽ mất khoảng 30 triệu đồng gồm cây giống, phân bón và thiết kế địa hình, song phải mất 7 năm mới thu hoạch được 100 khối, với giá bán 60 triệu đồng. “Như vậy, trừ các khoản chi phí, công ty chỉ lãi được 20-30 triệu đồng/7 năm, rõ ràng là quá thấp, thậm chí không thể trả tiền lương cho công nhân viên,” ông Quân nói.
Mặt khác, ông Quân cũng khẳng định do thiếu vốn và thu nhập thấp, nên công ty không chuyển đổi đất trồng, bởi không có vốn thì rất khó tạo ra hiệu quả. Mặt khác, công ty cũng không giao khoán cho các hộ dân vì phải chi các khoản đầu tư như: Phân bón, kỹ thuật, nghiên cứu địa hình…
Tuy nhiên, theo cách tính của các chuyên gia nghiên cứu về đất rừng thì với 10 tỷ đồng, một công ty lâm nghiệp có thể đầu tư và trồng được hơn 300 ha rừng (tính vốn đầu tư 30 triệu đồng/ha). Còn nếu công ty liên kết với người dân (tức giao thẳng cho người dân, không phải bỏ vốn, mà chỉ nhận 20-25% sản lượng) thì phần diện tích cần giao khoán sẽ tăng lên hàng chục, thậm chí hàng trăm lần.
Nhìn nhận thực tế, ông Nguyễn Chí Thung, Chủ tịch xã Quảng Thành, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông cho biết, từ những năm 90 trở về trước, quả thực các nông-lâm trường (nay là công ty lâm nghiệp) thực sự đã phát huy vai trò là “bà đỡ” phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương.
“Tuy nhiên, trong những năm 90 trở lại đây, vai trò ‘bà đỡ’ đó đã không được khẳng định nữa, khi bản thân việc quan tâm, chăm lo cho chính đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, công nhân viên trong các công ty này còn chưa xong,” ông Thung nói.
Thực tiễn tại địa bàn xã Quảng Thành cũng cho thấy, Xí nghiệp Lâm nghiệp Nghĩa Tín thuộc Công ty Gia Nghĩa chỉ có 12 người, nhưng chịu trách nhiệm quản lý 2.700 ha diện tích rừng tự nhiên.
“Có thể khẳng định, với kiểu ‘ôm’ nhiều đất nhưng sản xuất kém hiệu quả trên là một trong những căn nguyên mà rừng vẫn bị mất, dân vẫn lấn chiếm. Trong khi đó, Nhà nước thì vẫn phải dành một khoản kinh phí nhất định để duy trì một mô hình không hiệu quả,” ông Thung đánh giá.
Trong khi Công ty Gia Nghĩa quản lý kém hiệu quả, có phần “ngại” đầu tư trồng rừng thì theo kết quả nghiên cứu của Viện Tư vấn phát triển, người dân ở nhiều xã, điển hình như xã Quảng Thành lại đang thiếu đất sản xuất. Đây cũng là địa phương đang có nhiều vấn đề bức xúc về lấn chiếm đất đai, cấp đất, chuyển nhượng đất trái phép giữa Công ty Gia Nghĩa và người dân.
Cụ thể, theo số liệu báo cáo của Công ty Gia Nghĩa, trong năm 2012 có 118 ha đất bị lấn chiếm, nhưng thực tế là khoảng hơn 7.000 ha, chỉ tính riêng xã Quảng Thành đã có hơn 2.000 ha rừng bị phá và lấn chiếm, để chuyển đổi sang trồng cây càphê, cao su.
Ngoài ra, Quảng Thành cũng là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao (chiếm hơn 11% dân số của xã). Điều đáng lo là hiện xã đang có tình trạng di dân tự do của đồng bào dân tộc ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc đến khai phá đất rừng để canh tác, nhưng vẫn chưa thể kiểm soát.
Thống kê của vị Chủ tịch xã Quảng Thành cho thấy, hiện địa phương có gần 300 hộ di dân tự do, trong đó chỉ có gần 150 hộ có nhà ở, còn lại đang sống rải rác trong rừng (làm nhà chòi tạm để ở). Nguyên nhân dẫn tình trạng này là do giá càphê tăng, nạn di dân tự do nhiều đã khiến tình trạng lấn chiếm, tranh chấp đất đai diễn ra ngày càng phổ biến.
Điển hình như hộ ông Nguyễn Hữu Đại, quê gốc ở tỉnh Cao Bằng, vì sống nơi vùng đất khó, nhà đông con, nên năm 2003 ông đã quyết định bán toàn bộ tài sản với 7 triệu đồng để vào thôn Nghĩa Tín, xã Quảng Thành, thị xã Gia Nghĩa đổi lấy 4 ha đất, trồng càphê với hi vọng thoát nghèo.
Cũng như ông Đại, hàng trăm hộ dân ở khắp các huyện vùng sâu, vùng xa tại nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, vì cuộc sống khó khăn, nên đã “ôm” một ít tài sản thẳng tiến vào xã Quảng Thành mua đất của đồng bào ở đây, để an cư lập nghiệp.
Đánh giá về việc người dân di cư vào địa phương sinh sống, ông Thung cho biết, đa phần các hộ di dân tự do từ Bắc vào đều thiếu đất sản xuất, nên đã sử dụng các đồi núi trọc, hoặc đất kém chất lượng mà công ty lâm trường quản lý để sản xuất, trồng cây càphê, cao su và các cây nông sản.
Để tránh tình trạng xâm lấn tràn lan, đảm bảo an ninh địa phương, ông Thung kiến nghị công ty lâm nghiệp nên bàn giao lại một phần đất cho địa phương để quản lý và phân chia lại cho các hộ dân trên cơ sở từ chính nhu cầu cần đất để sản xuất nông nghiệp, ổn định cuộc sống.
“Là một xã thân thiện với rừng, tôi tin chắc trong công tác bảo vệ rừng, xã cũng có thể làm tốt với chức năng vừa kiểm tra, đôn đốc thậm chí quản lý người dân trong công tác bảo vệ,” ông Thung nói. (VietnamPlus 31/8) đầu trang(
Để góp phần phát triển kinh tế, tránh lãng phí tài nguyên đất rừng theo chủ trương của Chính phủ, thời gian qua, tỉnh Lâm Đồng đã chuyển đổi hàng nghìn hécta rừng nghèo để trồng cây cao su.
Lợi dụng việc này, nhiều doanh nghiệp không chuyển đổi rừng nghèo mà tập trung vào “xẻ thịt” rừng giàu. Để rồi không ít cánh rừng tự nhiên xanh tốt nằm trên địa bàn hai xã Lộc Bảo và Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm đã phải nhường chỗ cho những dự án mới.
Theo báo cáo nghiên cứu của Viện Tư vấn phát triển (CODE), xã Lộc Bảo là địa phương có diện tích đất lâm nghiệp rất lớn, chiếm 91% diện tích đất tự nhiên của xã. Tuy nhiên, hầu hết diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn lại thuộc quyền quản lý của Công ty Lộc Bắc.
Thống kê của Ủy ban nhân dân xã Lộc Bảo cho thấy, dân số toàn xã là 826 hộ, gần 3.400 người. Trong đó người dân tộc Châu Mạ chiếm 61%, còn lại là các dân tộc khác như Kinh, H’Mông, Dao, Tày, Nùng.
Đến nay, sinh kế của phần lớn các hộ dân ở địa phương này đã chuyển đổi từ sản xuất tự cung tự cấp sang trồng cây công nghiệp hàng hóa như: Càphê, điều, chè… nhưng cuộc sống còn nhiều khó khăn, đặc biệt là đồng bào dân tộc.
Được biết, khu vực sinh sống của cộng đồng dân tộc Châu Mạ tại xã Lộc Bảo từng là căn cứ cách mạng từ thời kháng chiến. Do đó, đồng bào ở đây luôn có ý thức chấp hành pháp luật và rất ít xảy ra xâm lấn đất rừng do Nhà nước quản lý.
Tuy nhiên, mấy năm gần đây, do thiếu đất canh tác trầm trọng, trong khi nhu cầu “thoát nghèo” tăng cao, nên nhiều hộ dân đã quay lại canh tác trên diện tích đất rẫy cũ của mình (nay giao cho Công ty Lộc Bắc quản lý, hoặc đã được chuyển cho các công ty cao su, bao gồm Công ty cao su Bảo lâm, thuộc Tổng công ty Cao su Đồng Nai) đã khiến địa phương này trở thành điểm nóng về mâu thuẫn đất đai.
Mâu thuẫn càng tăng lên, đặc biệt là từ khi Ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng quyết định giao 5.000 ha đất rừng tự nhiên, được cắt từ Công ty Lộc Bắc để giao cho các công ty cao su khai thác. Trong khi đó, vì thiếu đất sản xuất, không ít hộ dân đã nhiều lần trình đơn kiến nghị với chính quyền cấp đất sản xuất, để đảm bảo cuộc sống.
Tuy nhiên, kiến nghị của người dân đã không được các cấp chính quyền chấp thuận với lý do: Diện tích này có rừng giàu (rừng có hàng ngàn cây gỗ quý, đường kính rất lớn) và thuộc đất di tích cách mạng. Trong bối cảnh như vậy, nhiều hộ dân sinh sống lâu năm trên địa bàn đã lấn chiếm diện tích đất của các công ty cao su, để duy trì sinh kế và thoát nghèo.
Thừa nhận thực tế này, ông K’Lý, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Lộc Bảo và bà K’Rong, Phó Bí thư Đảng ủy xã cho biết hiện địa phương có hơn 200 hộ nghèo (chiếm ¼ tổng số hộ trong xã) đang thiếu đất canh tác. Cũng vì thiếu đất, nên người dân buộc lòng phải lấn chiếm đất đai của các công ty cao su.
Bày tỏ chính kiến trước thực tế trên, bà K’Rong cho rằng chuyển đổi đất rừng nghèo sang trồng cây cao là chủ trương đúng đắn. Tuy nhiên, nếu phần đất được xem là đất di tích cách mạng-nơi có rừng giàu đang “bị” các công ty khai thác mà giao cho dân quản lý theo cơ chế chi trả phí dịch vụ môi trường thì rừng vẫn còn, cuộc sống của các hộ nghèo sẽ dần được cải thiện.
Ông K’Ba, Trưởng thôn 3, xã Lộc Bảo (thôn có hơn 80% hộ dân thiếu đất sản xuất) cho rằng, phá rừng trồng cây cao su thì lợi ích đem lại cho chính công ty tư nhân, chứ không phải cộng đồng, trong khi xã đang có hơn 200 hộ nghèo vì thiếu đất canh tác.
Ở góc độ đơn vị nghiên cứu chính sách, Viện Tư vấn phát triển cũng nhận định, chuyển đổi đất rừng sang trồng cao su đồng nghĩa với việc chặt bỏ toàn bộ cây rừng trên đất. Điều đáng nói, phần đất rừng mà tỉnh Lâm Đồng giao cho 19 công ty cao su khai thác, chuyển đổi trồng cây cao su không đơn thuần là rừng nghèo kiệt, mà có cả rừng giàu, đất cách mạng.
Về thực tế trên, nhiều hộ dân và ngay cả lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã Lộc Bảo cho rằng việc tàn phá rừng của các công ty cao su là hành động khổng thể chấp nhận. Một câu hỏi đặt ra là công ty phá rừng để làm giàu được, tại sao Nhà nước lại không giao cho người dân bảo vệ, trong khi đến nay, một số công ty được cấp đất trồng cao su cũng mới chỉ dừng lại ở việc khai thác gỗ?.
Do vậy, người dân xã Lộc Bảo khẳng định chuyển đổi rừng nghèo kiệt trên địa bàn sang trồng cây cao su đối với các công ty cao su chỉ là cái cớ để “xẻ thịt” rừng giàu. Thậm chí, vị Trưởng thôn 3 cũng lo ngại rằng công ty cao su sẽ bán đất cho người khác khi cánh rừng bạt ngàn gỗ chỉ còn trơ gốc.
Để nắm bắt thực tế, phóng viên Vietnam+ đã có mặt tại khu rừng già nằm đối diện với Ủy ban nhân dân xã Lộc Bảo đã và đang được các công ty cao su ra sức “xẻ thịt.”
Tại hiện trường, những gốc cây bị đốt thành than, hàng trăm ngàn khúc gỗ lớn được bày la liệt dọc hai bên đường. Ở xa giữa cánh rừng, cả khu vực heo hút bấy lâu, nay cũng đã trở thành một “đại công trường” khai thác kiểu “chuyển đổi đất rừng sang trồng cao su” theo dự án?
Trên con đường liên huyện nằm ngay chính giữa khu rừng “nghèo kiệt,” hàng chục chiếc xe tải chất đầy gỗ tấp nập vào ra. Xung quanh đó, những túp nhà tạm bợ dựng lên ven đường cũng chỉ để phục vụ cơm, nước cho đội ngũ đốn hạ cây rừng.
Ông Phạm Quang Tú, Phó viện trưởng Viện Tư vấn phát triển cho rằng phát triển cây cao su mang lại giá trị kinh tế cho doanh nghiệp cũng là góp phần vào sự phát triển của các địa phương và đất nước. Song không thể vì thế mà đánh đổi bằng mọi giá, để lại hệ lụy về sau.
“Do đó, tỉnh Lâm Đồng cần nhìn nhận lại hiệu quả và tác động của các dự án chuyển đổi rừng nghèo trồng cây cao su để kịp thời điều chỉnh, tìm hướng đi bền vững và phù hợp với thực tiễn địa phương,” vị đại diện Viện tư vấn phát triển kiến nghị. (VietnamPlus.vn 1/9) đầu trang(
Quá trình sắp xếp, đổi mới các lâm trường quốc doanh đã chuyển sang dạng thức Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, việc chuyển đổi này bản chất vẫn chỉ là “bình mới rượu cũ” đã khiến không ít doanh nghiệp gặp khó khăn trong quản lý đất và thua lỗ kéo dài từ việc trồng rừng.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Yên Bình (Yên Bái) là một ví dụ điển hình về thực trạng sử dụng đất rừng kém hiệu quả, dẫn tới việc "ôm" nợ suốt những năm qua.
Theo báo cáo của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Yên Bái, dư nợ của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên lâm nghiệp Yên Bình đến ngày 19/8/2011 là gần 4 tỷ đồng; trong đó nợ gốc là 2,74 tỷ, nợ lãi hơn 1,2 tỷ. Ngoài ra, công ty lâm nghiệp này còn nợ Công ty Việt-Nhật (ViJachip CL) khoảng 1 tỷ tiền vay chưa thể thanh toán.
Ông Phạm Đăng Hân, Giám đốc Công ty Yên Bình cho biết, tính đến nay công ty đang "ôm" khoản nợ lên tới gần 6 tỷ đồng. Nợ mới đè lên nợ cũ đã gây sức ép rất lớn đến khả năng làm việc cũng như tình yêu nghề rừng của toàn thể công nhân viên. Hơn nữa, cũng vì khó khăn quá, nên công ty đã nhiều lần buộc phải khai thác rừng non 4-5 tuổi (chưa đến tuổi khai thác) với giá trị thấp, hoặc thế chấp cây trồng trước kỳ thu hoạch.
Theo tính toán của ông Hân, nếu khai thác rừng keo và bạch đàn từ 8-10 tuổi thì sản lượng sẽ đạt từ 100-150m3/ha, giá bán từ 70-100 triệu đồng. Còn khai thác ở thời điểm mới 4-6 tuổi thì sản lượng chỉ đạt 30-60%/ha và giá bán ở mức 15-30 triệu đồng.
Không chỉ “ôm” nợ, Công ty Yên Bình còn thiếu trầm trọng lực lượng quản lý. Hiện công ty chỉ còn 8 cán bộ khung (trung bình mỗi người kiêm 3-4 chức vụ về mặt hành chính, kỹ thuật của công ty), nhưng hai năm nay cũng từng ấy con người phải quản lý hàng trăm hécta rừng trồng.
Để tháo gỡ khó khăn trên đồng thời duy trì sản xuất, các tài sản đáng giá công ty đều đã cầm cố ở ngân hàng, hiện cán bộ và công nhân cũng đang phải thế chấp nhà cửa gia đình để vay vốn giúp công ty trồng rừng, chờ ngày “xóa” nợ.
Ngoài ra, ông Hân cũng cho rằng đất rừng sản xuất của công ty đã qua nhiều chu kỳ (mỗi chu kỳ 7-8 năm) đã bạc màu, độ dốc lớn, phân bổ nhỏ xen kẽ với nhân dân trong vùng, nên quá trình quản lý gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt là trong công tác bảo vệ, khai thác, diện tích rừng của công ty ở chân ven thường bị dân xâm lấn, chặt phá.
“Cũng vì nhiều năm nay công ty không được tiếp cận vốn từ các ngân hàng, trái lại còn phải ‘gánh’ khoản nợ cũ lâm trường để lại, nên năm 2012 công ty hầu như không thể tổ chức trồng rừng tập trung được. Do đó, công ty buộc phải giao khoán 100% phần diện tích cho công nhân và nhân dân địa phương có đủ tiềm lực về vốn và quản lý giữ rừng, giữ đất cho công ty,” ông Hân thở dài nói.
Nhìn thẳng thực tế, vị Giám đốc Công ty Yên Bình bày tỏ quan điểm, trong bối cảnh công ty gặp khó khăn về vốn, sức ép về nhu cầu đất sản xuất của người dân tăng cao thì việc giao đất cho các hộ dân quản lý là một hướng đi đúng đắn.
“Hơn nữa, nếu không giao khoán đất cho các hộ dân sản xuất, xóa đói giảm nghèo thì sớm muộn họ cũng sẽ lấn chiếm hết đất của công ty. Như vậy, tình hình về mâu thuẫn, tranh chấp sẽ rối hơn,” ông Hân lo lắng.
Theo báo cáo của Viện Tư vấn phát triển (CODE), kể từ khi sắp sếp rà soát lại diện tích đất nông-lâm trường, Công ty Yên Bình được giao quản lý gần 1.400 ha nhưng đến nay vẫn chưa đo đạc cắm mốc ranh giới; trong đó, rừng sản xuất hơn 1.000 ha (lâm trường quản lý được 613 ha, dân đang lấn chiếm 779 ha), rừng trồng phòng hộ 335 ha.
Thực tế, hiện đất đai do Công ty Yên Bình quản lý đã bị người dân bản địa lấn chiếm hơn 80% diện tích đất rừng và vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp tại nhiều thôn, xã nơi có đất công ty lâm nghiệp quản lý.
Trong khi đó, ông Phạm Quốc Thắng, Phó Chủ tịch xã Đại Đồng, huyện Yên Bình cho biết phần lớn hộ dân trong xã chủ yếu sống dựa vào trồng rừng, còn diện tích đất nông nghiệp rất ít (chỉ có 66 ha), trong khi xã đang có trên 130 hộ nghèo (chiếm 16%).
Một điểm khúc mắc khác là phần lớn đất rừng do Công ty Yên Bình quản lý và đất chính quyền địa phương quản lý thường xen kẽ nhau. Do đó, việc phân chia, phân định ranh giới diện tích giao khoán gặp rất nhiều khó khăn vì không có sổ đỏ. Nhiều hộ dân xã Đại Đồng cũng không giám dồn vốn vào đầu tư, chăm rừng, kể cả những hộ lấn chiếm từ xưa, dù rằng công ty lâm trường không đòi lại đất.
Điển hình như gia đình ông Nguyễn Cao Sơn, ở thôn Hồng Bàng, xã Đại Đồng được sử dụng 3 ha đất rừng, nhưng do phần đất đang sử dụng nguồn gốc không rõ ràng và không có sổ đỏ, nên gia đình cũng không giám đầu tư lớn, hay khai thác đúng chu kỳ.
Ông Sơn cho rằng, 3 ha đang trồng rừng đã được gia đình khai phá từ xưa (từ lúc còn là đồi trống núi trọc), nhưng không có sổ đỏ và lẫn với đất lâm trường quản lý. Vì vậy, dù đang trồng rừng rất tốt, nhưng gia đình ông vẫn khổng thể yên tâm, bởi nhiều đối tượng lợi dụng kẽ hở này để lấn chiếm, chặt phá rừng.
Cũng như ông Sơn, 60 hộ gia đình ở thôn Hồng Bàng bình quân đang sử dụng từ 2-3 ha rừng/hộ (hộ ít thì 0,5 ha, hộ quản lý tốt có tới 15 ha). Song, tất cả đều chung cảnh bất an về quyền sở hữu, lo mất đất, mất cây rừng vì không có sổ đỏ.
Để giả quyết mối lo trên đồng thời góp phần đẩy lùi tình trạng tranh chấp, xâm lấn đất rừng, vị Giám đốc Công ty Yên Bình và ông Phó Chủ tịch xã Đại Đồng đều thẳng thắn kiến nghị đối với những phần diện tích đất đồi trống núi trọc hiện vẫn chưa có sổ đỏ, Nhà nước nên giao lâu dài cho tổ chức cá nhân quản lý. Tuy nhiên, ranh giới đất đai phải được khoanh vùng và có sổ đỏ rõ ràng.
“Tôi nghĩ, nếu để từng hộ quản lý phần diện tích được giao, nhưng thắt chắt cơ chế quản lý nhà nước thì sẽ không có tình trạng thất thoát đất đai, mà cây rừng vẫn phát triển tốt,” ông Hân cho biết thêm. (VietnamPlus.vn 3/9) đầu trang(
Trong khi bà con nông dân ở một số địa phương đua nhau bỏ ruộng thì ở miền núi, nhu cầu đất sản xuất (đất rừng) của người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu vẫn là “tấc vàng” khiến tình trạng tranh chấp, lấn chiếm ngày càng phổ biến.
Để từng bước tháo gỡ những bất cập trong quản lý đất nông-lâm trường quốc doanh, tạo cơ hội cho người dân có đất ổn định sinh kế về lâu dài, các chuyên gia cho rằng cần có một cuộc cải cách đất nông-lâm trường, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên.
Theo các chuyên gia nghiên cứu về đất rừng, sau 10 năm đổi mới, mặc dù các nông-lâm trường quốc doanh đã đạt được một số kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn bộc lộ rất nhiều hạn chế, yếu kém.
Ông Phạm Quốc Doanh, Phó Trưởng ban Chỉ đạo đổi mới và Phát triển doanh nghiệp (đơn vị trực thuộc Chính phủ) cho biết, cái được của việc đổi mới nông-lâm trường quốc doanh là đã từng bước tách bạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh với nhiệm vụ công ích, làm rõ hiện trạng đất đai, lập quy hoạch sử dụng đất. Cùng với đó, các nông-lâm trường tự tổ chức sản xuất hoặc giao khoán cho các hộ thành viên trồng và bảo vệ rừng, khuyến khích phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Tuy nhiên, một cuộc khảo sát tại 56 nông-lâm trường quốc doanh tại 15 tỉnh, thành phố do Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp triển khai cho thấy, do năng lực quản trị yếu kém, các nông-lâm trường tổ chức sản xuất chưa hiệu quả, 50% trong tổng số gần 150 nông-lâm trường quốc doanh hoạt động thua lỗ.
Bở vậy, để tồn tại, nhiều nông-lâm trường quốc doanh không còn cách “hóa phép” nào khác là phải sống nhờ vào việc giao khoán bảo vệ rừng hoặc cho thuê đất trồng rừng của mình cho các hộ dân sản xuất, quản lý.
Điều đáng nói, trong khi người dân địa phương nơi công ty lâm trường đóng quân đang “khát” đất sản xuất thì mỗi công ty lâm nghiệp lại nắm trong tay hàng nghìn hécta rừng. Thậm chí có lâm trường ở Quảng Bình quản lý gần 91,5 nghìn hécta rừng, chiếm 91% diện tích rừng của một huyện nhưng lại hoạt động không hiệu quả, thậm chí là bỏ đất hoang.
Về hiện trạng sử dụng đất, báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) thừa nhận, đất ở hầu hết các nông-lâm trường quốc doanh chưa được đo đạc, cắm mốc trên thực địa. Tình trạng tranh chấp lấn chiếm, cho thuê mướn đất đai trái pháp luật, xâm hại rừng diễn ra khá phổ biến chưa được giải quyết triệt để, có nơi tình trạng ngày càng nghiêm trọng.
Hơn nữa, đất giao cho các nông lâm trường có nơi giao trùng với diện tích giao cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức khác; quyền sử dụng đất không rõ ràng, khó tạo động lực phát triển. Nông-lâm trường quốc doanh được giao quản lý diện tích đất lớn nhưng không có vốn đầu tư, năng lực tổ chức sản xuất yếu kém, nên chưa phát huy được hiệu quả sử dụng đất.
Ngoài ra, nhiều công ty cổ phần hiện nay không có vốn nhà nước, quản lý sử dụng hàng ngàn ha đất, nhưng vẫn chưa thực hiện thuê đất theo quy định. Cơ sở hạ tầng kém, trình độ khoa học công nghệ áp dụng trong sản xuất còn lạc hậu, sản xuất kinh doanh có nhiều rủi ro… Do đó, lợi nhuận chưa cao so với nguồn lực đất đai được giao.
Ông Phạm Quang Tú, Phó Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển (CODE) nhận định, hiện nay các nông-lâm trường đang được giao nguồn lực đất đai quá lớn, trong khi nhân lực, tài chính hạn chế.
Theo ông Tú, trước kia, các nông-lâm trường được Nhà nước bao cấp, nay phải tự chủ, nên đã rơi vào tình trạng khó khăn về tài chính. Quá trình sắp xếp, đổi mới từ các nông-lâm trường sang công ty nông-lâm nghiệp cũng chỉ là hình thức thay đổi kiểu “bình cũ rượu mới”.
“Thực tế, quá trình thu hồi đất của các nông-lâm trường trả lại cho địa phương rất chậm. Hiện mới chỉ thu hồi được 200.000 ha chứ không phải hơn 700.000 ha như báo cáo nêu. Hơn nữa, việc thu hồi đất lâu nay vẫn áp dụng ‘khoán trắng’ cho các nông-lâm trường dẫn đến các đơn vị này chỉ trả ‘đất xấu,’ đất ở những nơi xa đường giao thông, vách núi khó canh tác,” ông Tú nhìn nhận.
Để tháo gỡ khó khăn nêu trên đồng thời để quản lý đất nông-lâm trường hiệu quả, Phó Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển cho rằng việc cần thiết là bóc tách các phần diện tích tranh chấp, lấn chiếm trả lại cho chính quyền địa phương làm cơ sở giao cho các hộ dân đảm bảo diện tích canh tác.
Mặt khác, ông Tú cũng đề xuất khi đã thực hiện các bước trên, đối với phần quỹ đất còn lại của lâm trường, tổ chức cần tiến hành thực hiện cho thuê đất trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng giữa các nhóm đối tượng, nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh rừng.
Ở góc độ cơ quan chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, ông Phạm Quốc Doanh cho rằng một trong những nội dung cốt lõi về đổi mới nông-lâm trường quốc doanh là đổi mới về cơ chế quản lý sử dụng đất, mô hình nào thì kèm theo cơ chế quản lý sử dụng ấy.
Theo ông Doanh, nếu các đơn vị tổ chức sản xuất kinh doanh theo quy định phải chuyển sang thuê đất, trước khi chuyển sang thuê đất thì cần tiếp tục rà soát lại một lần nữa để nắm bắt thực sự nhu cầu sử dụng đất cả công ty là bao nhiêu, và quản lý phải hiệu quả. Đối với diện tích còn lại cần chuyển hết đất cho địa phương để rà soát lại từng đối tượng, cấp đất và quản lý nhằm đảm bảo công bằng cho người dân.
“Tiếp đến, khi đã rà soát lại rồi, đơn vị nào có nhu cầu cần bao nhiêu thì phải thuê đất của Nhà nước, cắm mốc rõ ràng và được cấp giấy chứng nhận sử dụng đất. Nếu làm như thế thì chặt chẽ ngay. Ngày xưa, thực hiện giao đất không thu tiền thì chẳng có nông lâm trường nào không ‘ôm’ nhiều đất cả. Bây giờ siết chặt như thế sẽ buộc các công ty phải tính toán lại cho phù hợp với năng lực của họ,” ông Doanh nói.
Đồng tình với quan điểm này, Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường khẳng định, vấn đề đổi mới nông-lâm trường đã nhiều lần được các cơ quan đặt lên bàn “mổ xẻ,” nhưng kết quả chưa được gì đáng kể. Câu chuyện cũ vẫn còn nguyên, hiệu quả nông-lâm trường dù không có tiêu chí đánh giá nhưng ai cũng thấy hoạt động kém hiệu quả.
“Tôi nghĩ, một trong những giải pháp ưu tiên để góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng chính là thu hồi một phần diện tích rừng tự nhiên từ lâm trường để giao lại cho cộng đồng, nhóm hộ trong từng trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, quá trình giao đất cũng cần kết hợp mô hình hợp tác xã để bảo vệ nguồn đất không bị thất thoát,” Giáo sư Đặng Hùng Võ kiến nghị. (VietnamPlus.vn 3/9) đầu trang(
Xã Đức Xuân, huyện Hòa An có địa hình núi cao, thiếu đất nông nghiệp, điều kiện sản xuất khó khăn nên được tỉnh Cao Bằng lập dự án (D.A) bố trí dân cư tại xóm Bốc Thượng B, xã Bạch Đằng.
Mục tiêu của D.A nhằm di chuyển 20 hộ dân ra khỏi vùng đặc biệt khó khăn đến sinh sống tại vùng D.A. Tuy nhiên, do khảo sát, thiết kế quá kém nên đến nay, D.A sắp hoàn thành mà vẫn chưa có hộ dân nào đăng ký chuyển đến ở dù chính quyền đã nhiều lần vận động, thuyết phục.
D.A bố trí dân cư vùng đặc biệt khó khăn xóm Bốc Thượng B được UBND tỉnh Cao Bằng phê duyệt tháng 8/2010, vốn đầu tư gần 2,5 tỷ đồng, thời gian thực hiện từ 2010 - 2012.
Mục tiêu của D.A là bố trí đất ở cho 20 hộ dân sống tập trung thành 2 nhóm, mỗi nhóm 10 hộ. Điểm bố trí dân cư phải tương đối thuận lợi, là nơi có đủ điều kiện đất đai để sản xuất, có nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất, có đủ không gian để phát triển và các công trình công cộng như nhà trẻ, lớp học, nhà văn hóa... được bố trí khoa học, thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt hằng ngày. Giao thông trong khu dân cư phải được bố trí thuận tiện cho việc đi lại của nhân dân và được nối với đường giao thông liên vùng.
Thế nhưng, trên thực tế, địa điểm được chọn làm khu tái định cư lại không được như mục tiêu của D.A. Anh Đặng Văn Thắng, 35 tuổi, 1 người ở gần khu vực dự kiến bố trí dân cư, cho biết: Trước kia, gia đình tôi cũng ở nơi khác di cư đến đây.
Nhưng, ở đây, đất đai cằn cỗi lắm. Tôi tìm mãi cũng chỉ chọn được một khe đồi nhỏ, khai phá được 1.000m2 đất ruộng, không làm được rẫy. Với diện tích nhỏ hẹp ấy, gia đình tôi cố gắng cày cấy nhưng cũng không đủ ăn. Thế mà không hiểu sao, người ta (chính quyền - PV) lại chọn đỉnh đồi ấy để làm nơi tái định cư. Định cư chỗ khô cằn thế thì người dân biết trồng cây gì, nuôi con gì để sinh sống?
Ông Nông ích Hoán, Chủ tịch UBND xã Bạch Đằng, cho biết, đã có nhiều người dân từ xã Đức Xuân, xã Quang Trung đến đây để tìm hiểu điều kiện sản xuất, sinh hoạt ở khu tái định cư, nhưng khi xem xong, họ đều lắc đầu quay đi không bao giờ thấy trở lại. Xã đã vận động, giải thích cho nhiều hộ dân nghèo, thiếu đất sản xuất về cơ chế chính sách hỗ trợ, nhưng họ đều cho rằng địa hình quá cao, đồi núi dốc, lại xa trung tâm nên không muốn đến ở.
Qua nghiên cứu các văn bản, tìm hiểu tình hình, tiến độ triển khai thực hiện D.A, chúng tôi nhận thấy khâu khảo sát, thiết kế D.A có nhiều điểm bất cập, thiếu tính khả thi. D.A không có hệ thống điện sinh hoạt; địa hình độ dốc lớn, khu vực bố trí khu dân cư diện tích quá hẹp chỉ bố trí được từ 3 - 5 hộ; nguồn nước thấp hơn khu dân cư, phải sử dụng máy bơm...
Tuyến đường giao thông nông thôn đã hoàn thành đưa vào sử dụng, không hiểu sao lại có khoảng hơn 700m dẫn xuống khe đồi (không phải chỗ bố trí dân cư) nhưng vẫn được nghiệm thu, thanh quyết toán? Trong khi tính khả dụng của D.A còn đang được tranh cãi, tiến độ D.A “rùa bò” thì ngành chức năng đã cho phép đơn vị thi công chặt trắng 20ha rừng. Điều này làm dư luận đặt câu hỏi: Phải chăng người ta chọn địa điểm trên để lập D.A chỉ để chặt phá rừng bán gỗ?
Trước thực trạng trên, UBND huyện Hòa An đã tổ chức nhiều cuộc làm việc với các ngành chức năng khảo sát thực địa và rút ra kết luận rằng: Vùng D.A đồi núi cao, độ dốc lớn, địa hình chia cắt mạnh; độ dày lớp đất màu trên đồi trung bình khoảng 15cm, do vậy, không kiến tạo ruộng bậc thang để sản xuất, canh tác; D.A chưa có điện sinh hoạt... nên khiến người dân không muốn đến ở.
Đến đầu tháng 8, nhiều đoàn công tác của tỉnh, huyện, xã đã đến khảo sát thực tế và thống nhất đề xuất UBND tỉnh xem xét dừng hoặc điều chỉnh D.A.
Được biết, việc bố trí sắp xếp, ổn định dân cư cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, nhằm tạo điều kiện cho đồng bào nghèo có nơi ở ổn định, có đủ điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, góp phần bảo vệ rừng, môi trường sinh thái và giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Thế nhưng, câu chuyện ở xã Bạch Đằng lại cho thấy những yếu kém trong khâu khảo sát thiết kế, tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân và tổ chức thực hiện của Ban Quản lý D.A.
Người dân đang đặt câu hỏi: D.A thiếu tính khả dụng, tiền Nhà nước bị thất thoát, ai sẽ là người chịu trách nhiệm, ai sẽ bồi hoàn tiền cho Nhà nước? (Thanh Tra 30/8) đầu trang(
Cùng 2 cán bộ kiểm lâm và Trạm quản lý, bảo vệ rừng buôn Đức, nhóm phóng viên Báo Phú Yên quyết định thâm nhập tiểu khu 309 thuộc địa bàn xã Ea Trol (Sông Hinh) giáp ranh với xã Ea M’Doal (M’Đrắk, Đắk Lắk) để “mục sở thị” nạn phá rừng già nơi đây.
Theo quan sát của PV, riêng tại tiểu khu 309, lâm tặc đã mở hàng chục lối mòn xuyên thẳng vào giữa rừng già để khai thác và vận chuyển gỗ, nên rất có thể lượng gỗ trên chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm” được phát hiện, vì diện tích rừng tự nhiên giáp ranh với tỉnh Đắk Lắk do Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh quản lý rộng tới gần 16.600ha với trữ lượng gỗ lớn. Đây là “miếng mồi” ngon cho lâm tặc hoạt động có tổ chức, quy mô lớn.
Anh N.V.T, cán bộ Trạm Kiểm lâm số 2, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ núi Vọng Phu, thuộc Ban quản lý dự án Rừng phòng hộ núi Vọng Phu (Đắk Lắk) cho biết, trạm có 10 người, quản lý hơn 19.000ha rừng tự nhiên và khoảng 10.000ha rừng trồng, nằm ở địa bàn các xã Ea Trang, Cư Róa, Ea M’Lay, Chư M’Ta và Ea M’Doal; trong đó rừng thuộc địa bàn xã Ea M’Doal và Ea M’Lay giáp ranh với rừng Phú Yên.
Anh T. thừa nhận, thời gian gần đây, nhiều người dân của tỉnh Đắk Lắk qua địa bàn Phú Yên phá rừng, khai thác gỗ trái phép. Mặc dù đơn vị đã nhiều lần phối hợp với các trạm quản lý, bảo vệ rừng của huyện Sông Hinh tuần tra, kiểm soát nhưng nạn phá rừng giáp ranh vẫn diễn biến phức tạp.
Theo Ban quản lý rừng phòng hộ núi Vọng Phu, cách đây vài năm, trong lâm phần quản lý, đơn vị này phát hiện 95 hộ với hơn 580 nhân khẩu di dân tự do, chủ yếu là từ các tỉnh Cao Bằng và Hà Giang. Gần đây nhất, trong tháng 11/2012, đơn vị tiếp tục phát hiện lâm tặc vận chuyển gần 4,5m3 gỗ chò tập kết tại khu vực giáp ranh giữa hai tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên. Đây mới chỉ là những vụ điển hình được phát hiện, còn trên thực tế thì không thể thống kê, kiểm soát hết được. (Báo Phú Yên 30/8) đầu trang(
Dù lực lượng kiểm lâm 2 tỉnh Phú Yên và Đắk Lắk đã nhiều lần phối hợp ngăn chặn nạn phá rừng, nhưng xem ra chưa hiệu quả. Hiện rừng tự nhiên ở phía huyện M’Đrắk (Đắk Lắk) gần như không còn, vì vậy lâm tặc “dòm ngó” sang lâm phần Phú Yên, khiến dư luận lo ngại: Liệu có cách nào trị được?!
Theo Sở NN-PTNT Phú Yên, ngoài những vụ vi phạm khác, năm 2012, các cơ quan chức năng huyện Sông Hinh và M’Đrắk phát hiện 2 đối tượng Y Tai Niê (trú buôn Pa, xã Cư Prao, huyện M’Đrắk, Đắk Lắk) và Đinh Văn Đệ (trú thôn Xuân Hòa, xã Hòa Kiến, TP Tuy Hòa, Phú Yên), ngang nhiên dùng máy đào, mở đường dài hơn 1,4km, rộng gần 6m, từ tiểu khu 707 thuộc địa phận xã Cư Prao vào tiểu khu 296 thuộc địa phận xã Ea Ly, Sông Hinh (gần các tiểu khu 229, 305, 309), phá hoại gần 7.350m2 rừng.
Các đối tượng trên đã bị cơ quan chức năng xử phạt từ 1 đến 2 năm tù do hủy hoại rừng, đồng thời phải bồi thường thiệt hại hơn 171 triệu đồng, trong đó bồi thường cho Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh hơn 82 triệu đồng.
Mới đây, lâm tặc tiếp tục thâm nhập tiểu khu 309, xã Ea Trol, dùng cưa lốc triệt hạ hàng chục cây gỗ lớn với gần 300m3; trong đó hơn 75m3 đã được chúng phát hộp, chưa kịp vận chuyển ra khỏi rừng tiêu thụ thì bị phát hiện. Vụ việc đã được Hạt Kiểm lâm huyện Sông Hinh khởi tố vụ án hình sự, đồng thời chuyển hồ sơ, vật chứng sang cơ quan công an tiếp tục mở rộng điều tra.
Theo Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh, trong quá trình phối hợp truy quét, đơn vị này đã ghi lại được một số hình ảnh các đối tượng phá rừng có hành vi chống đối lực lượng làm nhiệm vụ, cùng nhiều phương tiện phá rừng trái phép. Đây là cơ sở để cơ quan điều tra vào cuộc truy bắt, đưa thủ phạm ra xét xử trước pháp luật.
Bộ NN-PTNT nhận định, thời gian qua, Tây Nguyên là vùng trọng điểm về vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Tại khu vực này, bình quân hàng năm lực lượng chức năng phát hiện hàng chục nghìn vụ vi phạm. Ở một số trọng điểm, tụ điểm phá rừng nghiêm trọng đã hình thành đường dây phá rừng có hệ thống; tình trạng suy giảm diện tích, chất lượng rừng đang ở mức báo động.
Trước thực trạng trên, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đã chỉ đạo Bộ NN-PTNTkhẩn trương hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ Đề án quản lý khai thác rừng sản xuất là rừng tự nhiên; đồng thời chuẩn bị tốt các điều kiện để năm 2014 đóng cửa rừng, dừng khai thác rừng tự nhiênmột thời gian.
Ngoài ra, Phó thủ tướng cũng yêu cầu UBND các tỉnh Tây Nguyên phối hợp với các bộ, ngành liên quan và chính quyền các địa phương vùng giáp ranh tăng cường quản lý Nhà nước đối với rừng và đất lâm nghiệp; tập trung rà soát diện tích rừng hiện có để xác định rõ lâm phần ổn định của từng tỉnh, có kế hoạch quản lý chặt chẽ; tăng cường kiểm tra thường xuyên, đột xuất các cơ sở chế biến gỗ, kiên quyết đình chỉ hoạt động, xử lý nghiêm các cơ sở chế biến gỗ vi phạm quy định của Nhà nước…
Theo nhận định của các ngành liên quan và chính quyền địa phương huyện Sông Hinh, khi các tỉnh Tây Nguyên, trong đó có tỉnh Đắk Lắk thực hiện việc đóng cửa rừng tự nhiên, đồng nghĩa với việc lâm tặc mất “cơ hội” phá rừng trái phép tại đây thì chúng sẽ tràn qua các khu rừng giáp ranh để tàn phá. Thực tế cho thấy, nhiều vụ mở đường sang địa phận tỉnh Phú Yên phá rừng giáp ranh với tỉnh Đắk Lắk vừa qua là một minh chứng.
Ông Cao Hữu Lộc, Phó giám đốc Sở NN-PTNT Phú Yên thừa nhận, mặc dù UBND 2 huyện Sông Hinh và M’Đrắk, Chi cục Kiểm lâm 2 tỉnh Phú Yên và Đắk Lắk đã nhiều lần làm việc, đưa ra những biện pháp, quy chế phối hợp ngăn chặn tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép vùng rừng giáp ranh nhưng hiệu quả chưa như mong muốn, nhất là vùng rừng tiếp giáp với đường giao thông, khu sản xuất và khu dân cư của tỉnh Đắk Lắk.
Từ thực tế trên ông Lộc đề xuất, UBND tỉnh Phú Yên sớm làm việc với UBND tỉnh Đắk Lắk để cùng phối hợp ngăn chặn nạn xâm hại rừng ở vùng giáp ranh giữa Sông Hinh với M’Đrắk và Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô (Đắk Lắk); đồng thời đề nghị UBND tỉnh cho chủ trương khai thác chọn lọc gỗ rừng tự nhiên quá tuổi để lấy kinh phí tái đầu tư bảo vệ rừng, ngăn chặn nạn phá rừng trái phép.
Đây cũng là quan điểm của ông Trần Thanh Định, Phó chủ tịch UBND huyện Sông Hinh. Tuy nhiên, khi chúng tôi hỏi liệu tỉnh bạn có “mặn mà” phối hợp ngăn chặn, ông Định cho biết, hiệu quả nhất vẫn là “tự mình bảo vệ rừng mình”.
Theo ông Định, ranh giới rừng giáp ranh giữa 2 tỉnh quá dài, trong khi đó Đắk Lắk cũng rất cần sự phối hợp của Phú Yên để bảo vệ các vùng rừng giáp ranh khác, chứ không riêng gì rừng thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh quản lý.
Ông Định đề nghị, ngoài việc rất cần sự hỗ trợ thường xuyên, thời gian dài trong tuần tra, kiểm soát của lực lượng kiểm lâm và giải quyết một số chế độ chính sách cho cán bộ quản lý, bảo vệ rừng, Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương và UBND tỉnh cũng cần xem xét có chính sách đặc thù rừng phòng hộ khu vực giáp ranh như thành lập Hạt Kiểm lâm trực thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ; đồng thời thí điểm giao một số diện tích rừng cho đơn vị quốc doanh quản lý, bảo vệ sẽ mang lại hiệu quả cao hơn. (Báo Phú Yên 31/8) đầu trang(
Theo Sở NN-PTNT, 8 tháng đầu năm, tổng số vụ vi phạm Luật Quản lý và bảo vệ rừng là 523 vụ, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm 2012. Đến nay, ngành chức năng đã xử lý 508 vụ, tịch thu 537,5m3 gỗ các loại và thu nộp ngân sách hơn 6,4 tỉ đồng.
Hiện toàn tỉnh đã triển khai chăm sóc được 12.000ha rừng trồng, bằng 100% so cùng kỳ; sản lượng gỗ rừng trồng khai thác được hơn 22.000m3, tăng hơn 41%.
Ngoài ra, các đơn vị lâm nghiệp tổ chức lực lượng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ lâm phần được giao; các ban quản lý lâm nghiệp, doanh nghiệp, hộ gia đình chăm sóc diện tích rừng đã trồng các năm trước, chăm sóc cây giống lâm nghiệp đã gieo ươm, lập hồ sơ thiết kế trồng rừng và tổ chức phát dọn thực bì, chuẩn bị hiện trường phục vụ trồng mới rừng tập trung năm 2013... (Báo Phú Yên 30/8) đầu trang(
Liên quan đến vụ nổ súng của cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ Kiến Vàng (H.Ngọc Hiển, Cà Mau) gây chết người, ngày 30/8, tin từ Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Cà Mau, cho hay cơ quan này vừa khởi tố vụ án làm chết người trong khi thi hành công vụ và chuyển toàn bộ hồ sơ cho Công an H.Ngọc Hiển điều tra theo thẩm quyền.
Theo thông tin ban đầu, khoảng 23 giờ ngày 18.5, ông Phạm Văn Bờ (35 tuổi, cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ Kiến Vàng) và Phạm Đăng Vệ (32 tuổi) được phân công cùng 3 cán bộ khác và 2 người điều khiển phương tiện đi tuần tra, kiểm soát rừng. Khi tuần tra đến ấp Xẻo Mắn (xã Tân Ân, H.Ngọc Hiển) thì phát hiện một vỏ lãi.
Biết có người trộm cây rừng, Vệ ra hiệu cho tài công đi chậm lại, còn ông Bờ cầm khẩu súng M16 có 6 viên đạn, kêu ông Lê Văn Vui (42 tuổi, ngụ ấp Hiệp Dư, xã Nguyễn Huân, H.Đầm Dơi, Cà Mau) lại để kiểm tra, nhưng ông Vui nổ máy tháo chạy. Ông Bờ bắn 2 phát súng chỉ thiên nhưng ông Vui vẫn bỏ chạy. Sau đó, ông Bờ bắn tiếp 1 phát làm ông Vui tử vong.
Làm việc với cơ quan điều tra, hai con ông Vui là Lê Văn Tèo và Lê Chí Linh thừa nhận có vào rừng chặt cây rừng trái phép về sửa nhà. Khi đến địa điểm trên, ông Vui ở lại giữ xuồng, Tèo và Linh vào rừng đốn cây. Nghe tiếng súng nổ, anh em Tèo nghĩ ông Vui bị bắt và dẫn giải về Ban Quản lý rừng phòng hộ Kiến Vàng nên chờ đến sáng đi tìm, nhưng sau đó nhận tin cha đã chết. (Thanh Niên 31/8; Sài Gòn Giải Phóng 31/8; Vnexpress.net 31/8; Tuổi Trẻ 31/8) đầu trang(
Ngày 30-8, cơ quan chức năng TP Đà Lạt (Lâm Đồng) đã bắt quả tang một chiếc máy xúc của Công ty Thông Nữ do gia đình ông Phan Đình Thông, Chủ tịch UBND phường 2, TP Đà Lạt (Lâm Đồng), làm chủ đang san lấp đất rừng.
Vị trí được phát hiện là tại khoảnh 6, tiểu khu 266A, gần đèo Prenn - cửa ngõ đi vào TP Đà Lạt do Ban Quản lý Rừng phòng hộ Lâm Viên quản lý. Theo ông Thông, chiếc máy xúc trên vừa được một hộ dân thuê để múc đất vào sáng 30-8. Ông Thông cho biết sẽ kiểm tra lại vụ việc và thông tin sau.
Ngay sau khi có sự xuất hiện của lực lượng chức năng, chiếc máy xúc này đã được điều khiển xuống giấu ở một thung lũng kề đó. Một số người đã kéo tới gây khó khăn, trong đó có một phụ nữ tự xưng là “chủ đất” dùng những lời lẽ khiếm nhã, nhất quyết không chịu ký vào văn bản hiện trường. Diện tích đất rừng bị san ủi khoảng 400 m2, thuộc khu vực rừng trồng năm 1982, bị chặt phá dần và mới được trồng lại năm 2012. (Pháp Luật TPHCM 31/8; Nhân Dân 31/8; VietnamPlus.vn 31/8; Sài Gòn Giải Phóng 30/8; Thanh Niên 30/8) đầu trang(
Ngày 30/8, Hạt Kiểm lâm Phong Nha-Kẻ Bàng (thuộc Vườn Quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng-tỉnh Quảng Bình) cho biết đã phát hiện và bắt giữ một xe ô tô vận chuyển gỗ lậu đi qua địa bàn.
Trước đó, lực lượng kiểm lâmđã phát hiện xe ô tô mang biển số 36C-010.28 do Trương Văn Nghị (sinh năm 1972, trú tại Hoằng Hóa- Thanh Hóa) điều khiển đang lưu thông trên tuyến đường từ bản Ón (xã Thượng Hóa- huyện Minh Hóa) ra đường Hồ Chí Minh có dấu hiệu nghi vấn nên dừng xe kiểm tra. Cơ quan chức năng đã phát hiện trên xe vận chuyển gần 5 m3 gỗ không có giấy tờ hợp lệ.
Hiện vụ việc đang được xử lý theo pháp luật. (Nông Nghiệp Việt Nam 31/8) đầu trang(
Dù bị pháp luật nghiêm cấm, xử phạt nhưng do siêu lợi nhuận, các loài chim thú quý hiếm vẫn bị săn bắt, buôn bán đến tuyệt chủng. Những ngày gần đây, tại các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, TPHCM, một số đối tượng ngang nhiên mang động vật hoang dã ra giữa phố xá đông người mời chào bán.
Đối với tội buôn bán động vật hoang dã, mức xử phạt cao nhất hiện nay là 7 năm tù và 500 triệu đồng. Dù mức xử phạt khá nặng nhưng do sự quản lý lỏng lẻo và siêu lợi nhuận, một vốn... hàng trăm lời, nên nhiều đối tượng vẫn bất chấp pháp luật, liều lĩnh hành nghề. Bên cạnh đó, một số người dân cũng chưa hiểu biết về việc mua bán động hoang dã là vi phạm pháp luật nên “vô tư” phạm tội. (Công an TPHCM 31/8) đầu trang(
Ngày 30/8, tại cầu Yên Lệnh thuộc địa bàn thành phố Hưng Yên, đội chống buôn lậu, Phòng Cảnh sát điều tra (CSĐT) tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (Công an tỉnh Hưng Yên) đã bắt giữ một ô tô đang vận chuyển hơn 100 con tê tê vàng là động vật hoang dã quý hiếm thuộc nhóm II B.
Bằng biện pháp nghiệp vụ, các trinh sát phát hiện xe ô tô BKS 30V-3569 đang vận chuyển hàng hoá trốn lậu thuế. Đội chống buôn lậu đã phối hợp với lực lượng chuyên trách dừng xe, kiểm tra phương tiện.
Khi phát hiện thấy công an, lái xe và phụ xe đã lập tức bỏ chạy về phía bên kia cầu Yên Lệnh, thuộc địa phận huyện Duy Tiên (Hà Nam). Lực lượng công an đã tạm giữ phương tiện và phối hợp với Chi cục kiểm lâm tỉnh xác định số hàng hoá vận chuyển trên xe có 104 con tê tê vàng, tổng trọng lượng 233 kg. Qua kiểm tra trên xe còn có 10 BKS xe ô tô của cơ quan nhà nước và các tỉnh, thành phố như Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hoá…
Ngay sau đó, Công an Hưng Yên đã phối hợp Công an tỉnh Hà Nam kịp thời bắt giữ được 2 đối tượng bỏ trốn là Nguyễn Đình Thương và Phạm Quang Hưng, đều sinh năm 1977 ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện vụ án đang được cơ quan cảnh sát điều tra tỉnh Hưng Yên tiếp tục làm rõ. (Tin Tức 31/8; An Ninh Thủ Đô 31/8) đầu trang(
Đất rừng đã chuyển đổi nhưng hàng chục tỷ đồng tiền mua bán gỗ tận thu của các doanh nghiệp vẫn chây ì không nộp; nhiều doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết tuyển công nhân đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ vào làm công nhân mà còn chuyển giao vườn cao su cho doanh nghiệp khác với danh nghĩa “liên kết đầu tư”…
Tìm hiểu dư luận phố núi gần đây râm ran câu chuyện về Công ty TNHH 30-4 Gia Lai đã “bán” hết vườn cao su cho một doanh nghiệp tư nhân khác. Có người cho rằng, doanh nghiệp tư nhân họ muốn bán vườn cao su cho người khác là chuyện bình thường.
Nhưng có người bức xúc, vì dự án chuyển rừng nghèo sang trồng cao su ở Tây Nguyên được Chính phủ chủ trương phải giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo ưu tiên cho người dân tộc thiểu số tại chỗ chứ không phải mua đi bán lại trục lợi… Trước khi lập dự án, giao đất chuyển rừng, các doanh nghiệp cũng đã cam kết phải thực hiện đầy đủ các quy định về triển khai dự án, ưu tiên tuyển người dân tộc thiểu số tại chỗ vào làm công nhân để xóa đói giảm nghèo…
Ông Nguyễn Sinh - Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Công ty TNHH 30-4 Gia Lai cho biết, doanh nghiệp không bán vườn cao su mà chỉ chuyển giao theo kiểu “góp vốn liên doanh”.
Cụ thể là toàn bộ diện tích vườn cao su, nhà đất được UBND tỉnh Gia Lai quyết định giao đất cho Công ty TNHH 30-4, chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su tại các dự án trồng cao su xã Ia Pnôn (Đức Cơ, Gia Lai) 849ha; dự án trồng cao su tại xã Ia Ga (Chư Prông, Gia Lai) 1.234,4ha, với tổng giá trị 92,4 tỷ đồng được doanh nghiệp góp vốn liên kết với Công ty Kinh doanh xuất nhập khẩu Quang Đức (Gia Lai).
Theo hợp đồng góp vốn giữa 2 công ty, từ 9/2012, Công ty Kinh doanh xuất nhập khẩu Quang Đức (Gia Lai) là chủ đầu tư mới của các dự án cao su do Công ty TNHH 30-4 giao và toàn quyền quản lý, sử dụng, đăng ký, điều chỉnh, thay đổi chủ đầu tư dự án… Cũng theo ông Nguyễn Sinh, việc chuyển giao toàn bộ các dự án cao su này là do doanh nghiệp khó khăn về vốn để tiếp tục đầu tư…
Tại nhiều cuộc họp, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai, Phạm Thế Dũng chỉ đạo ngành Lao động-Thương binh và Xã hội, UBND các huyện, thị xã và các đơn vị có dự án trồng cao su phải nghiêm túc thực hiện việc tiếp nhận đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ vào làm công nhân cao su để xóa đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống. Chính quyền địa phương và ngành chức năng cần phối hợp rà soát danh sách người đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn có nhu cầu làm công nhân cao su và đề nghị đăng ký giới thiệu cho các doanh nghiệp sử dụng.
Trường hợp ngay tại địa bàn không có người đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ mới được tiếp nhận đồng bào ở địa bàn khác. Trong trường hợp các doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết về đầu tư phát triển dự án cao su, xóa đói giảm nghèo cho người dân tộc thiểu số tại chỗ thì cần thiết phải thu hồi dự án… nhưng thực tế đến nay, bài toán giải quyết người lao động dân tộc thiểu số tại chỗ vào làm công nhân cao su ở các doanh nghiệp tư nhân vẫn chưa có lời giải.
Trong khi đó, tại tỉnh Đắk Lắk, qua kiểm tra đã đình chỉ, thu hồi 21 dự án chuyển đổi 16.036ha rừng tự nhiên sang trồng cao su. Sở dĩ các dự án trên bị thu hồi do các doanh nghiệp triển khai dự án quá chậm, công tác quản lý bảo vệ rừng trong vùng dự án chưa tốt dẫn đến tình trạng để người dân chặt phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép.
Nhiều dự án chuyển đổi rừng tự nhiên sang trồng cao su, sau khi được tỉnh giao đất, giao rừng, các doanh nghiệp vẫn để người dân tự ý vào khai thác rừng, lấn chiếm đất rừng xâm canh trái phép, đòi đền bù gây khiếu kiện phức tạp. Có doanh nghiệp lợi dụng chủ trương chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su để sang nhượng, mua bán dự án trái pháp luật.
Tỉnh Đắk Lắk đang tiếp tục chỉ đạo các ngành chức năng tiến hành rà soát, đánh giá tình hình triển khai thực hiện của các dự án chuyển đổi rừng sang trồng cao su và kiên quyết xử lý nghiêm khi phát hiện doanh nghiệp nào có sai phạm, thực hiện dự án không hiệu quả, có biểu hiện vi phạm pháp luật về bảo vệ phát triển rừng… sẽ kiên quyết đình chỉ, thu hồi đất dự án theo đúng quy định… (Công An Nhân Dân 30/8) đầu trang(
Sau vùng lõi rừng cấm Bạch Mã, PV Tiền Phong phát hiện thêm các vụ phá rừng tự nhiên tại thượng nguồn sông Bồ, huyện Phong Điền, TT-Huế.
Sáng cuối tuần, đường vào rừng Phong Sơn (huyện Phong Điền) qua con dốc Bê Tông tấp nập người đi chăm sóc, khai thác cây lâm nghiệp, cạo mủ cao su. Lẫn vào đó là nhóm lâm tặc di chuyển bằng xe máy trực chỉ hướng rừng tự nhiên cộng đồng thôn Thanh Tân (rộng hơn 200 ha, thuộc xã Phong Sơn).
Ông Phan Dũng, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Phong Sơn, giải thích: “Chúng tôi xuất quân ngay sau tin báo của nhà báo, nhưng không thể nào tìm ra hiện trường phá rừng. Trong lúc vội vàng, tôi còn bị ngã xe máy suýt nguy hiểm tính mạng”. Dù Kiểm lâm huyện nhận được tin phá rừng từ khá sớm, nhưng đến hơn 12 giờ 30 trưa, ông Nguyễn Văn Hùng, Phó hạt trưởng Hạt KL Phong Điền mới đủng đỉnh về đến trạm.
Ông Hùng phân trần: “Việc phá rừng xảy ra ngoài ý muốn. Chúng tôi khó tránh khỏi sơ suất trong quản lý, bảo vệ”. Vị này còn “đá bóng” trách nhiệm bảo vệ rừng sang người dân: “Rừng này chủ yếu thuộc cộng đồng dân cư quản lý, kiểm lâm chỉ đóng vai trò hỗ trợ”.
Cũng tại địa bàn Phong Sơn, rừng tự nhiên Khe Thai rộng hơn 18ha vừa bị tàn sát. Hàng nghìn cây rừng tự nhiên, cổ thụ bị đốn hạ, đốt cháy. Tháng 6/2013, một chủ rừng tại thị xã Hương Trà (TT-Huế) có đơn gửi chính quyền địa phương, kiểm lâm tại Phong Điền xin tận thu gỗ rừng trồng, nhằm mục đích phát thực bì trồng rừng kinh tế. Mặc dù là rừng tự nhiên, cây lớn, nhưng cơ quan chức năng lại cho chuyển đổi thành rừng sản xuất và ký xác nhận cho phép tận thu gỗ… (Tiền Phong 31/8) đầu trang(
Gần đây, tình hình buôn lậu lâm sản, chủ yếu là gỗ nghiến (thuộc nhóm 2A) tại các huyện vùng biên Hà Giang đang có chiều hướng gia tăng.
Nguyên nhân chính bởi, một số thương lái bên kia biên giới đang đẩy giá thu mua lâm sản lên cao. Còn các “đầu nậu”, lâm tặc trong nội địa thì không ngừng sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi nhằm chặt phá, buôn bán vận chuyển trái phép lâm sản – gỗ nghiến có tuổi thọ hàng trăm năm tuổi qua bên kia biên giới. Tuy nhiên, “vỏ quýt dày có móng tay nhọn”, lần lượt các đường dây “tuồn” lậu lâm sản đã bị bóc gỡ.
Có mặt trên trục QL2 – đoạn thuộc địa bàn huyện Vị Xuyên (Hà Giang) dẫn ra khu vực Cửa khẩu Thanh Thủy thông thương với Trung Quốc, PV nhận thấy, địa hình ở đây khá hiểm trở. Hệ thống đường mòn “vắt” trên đỉnh đồi – núi chằng chịt.
“Đường biên kéo dài trên 30km, thêm vào đó, địa hình hiểm trở, đường mòn chằng chịt, nên tội phạm buôn lậu lâm sản thời gian qua tại khu vực này luôn tiềm ẩn đòi hỏi lực lượng chức năng phải căng mình đấu tranh, ngăn ngừa tội phạm”, Trung tá Phạm Tuấn Anh – Đồn trưởng Đồn Công an Thanh Thủy (Vị Xuyên), đơn vị quản lý địa bàn 4 xã biên giới và một xã nội địa cho hay.
Cũng theo Trung tá Phạm Tuấn Anh, để “né” lực lượng chức năng, các “đầu nậu” buôn lậu lâm sản (chủ yếu gỗ nghiến thuộc nhóm 2A) đã sử dụng hàng loạt thủ đoạn tinh vi. Không như trước đây, thời gian qua, các đối tượng thường chia nhỏ các cây gỗ nghiến ra thành các dạng thớt có độ dày từ 10 - 50cm để vận chuyển thay vì chở cả khúc dài với khối lượng lớn.
Loại phương tiện mà các đối tượng dùng vận chuyển thớt nghiến chủ yếu là các loại xe máy rẻ tiền với mục đích sẵn sàng bỏ lại phương tiện khi bị bắt giữ. Đáng chú ý, mỗi chuyến vận chuyển lâm sản trái phép dạng này đều có đối tượng “chim mồi” đi trước làm nhiệm vụ cảnh giới, cấp báo cho xe chở gỗ tháo chạy khi có lực lượng chức năng chốt chặn phía trước.
Ghi nhận thực tế tại cung đường mòn thuộc bản Giang Nam, xã Thanh Thủy vùng biên của huyện Vị Xuyên (Hà Giang) vào một tối cuối tháng 7, PV chứng kiến hình ảnh, hai pha đèn xe máy sáng rực, xé toang màn đêm tối vùng biên nơi đây. Trong chốc lát, chúng tôi nhận ra, cảnh một người đàn ông bịt khẩu trang kín mít, đi trên chiếc xe máy hiệu Wave RS, phía sau chở 3 - 4 thớt gỗ nghiến được buộc chặt bởi dây chun đang phi như tên theo chiếc xe môtô xuôi hướng Cửa khẩu Thanh Thủy phía trước. Nhìn hình ảnh này, chúng tôi giật mình trước độ liều lĩnh của các đối tượng buôn bán, vận chuyển lậu lâm sản.
Đại tá Lê Thanh Hà, Trưởng Phòng CSGT – Công an tỉnh Hà Giang, người nhiều năm chỉ đạo lực lượng CSGT bám trụ trên tuyến, đấu tranh phòng chống tội phạm vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng cũng cho hay, các đối tượng buôn lậu lâm sản từ nội địa ngược lên khu vực vùng biên để “tuồn” hàng qua bên kia biên giới thời gian qua chủ yếu hoạt động về ban đêm, vắng người qua lại. Các đối tượng thường xé lẻ, vận chuyển bằng môtô, xe máy. Mục đích sau khi đã vận chuyển đến khu vực vùng biên, các “đầu nậu” sẽ giao hàng qua biên giới.
Tại đây, khi nhận hàng và đưa vào sâu trong nội địa, các chủ hàng thu mua sẽ cho lắp ráp thành các trụ nghiến cố định có hình khối lớn. Lúc này giá thành của nó tăng gấp nhiều lần so với ban đầu. Đây cũng chính là lý do lý giải vì sao, mỗi cục thớt nghiến, các “đầu nậu” trả số tiền công vận chuyển là 500 - 800 ngàn đồng cho quãng đường dài chỉ 2 - 3km đến điểm tập kết là khu vực giáp biên.
Đại tá Lê Thanh Hà, Trưởng phòng CSGT đường bộ - đường sắt (Công an tỉnh Hà Giang) cũng đưa ra đánh giá: Khi bị phát hiện, số đối tượng này sẵn sàng bất chấp hiệu lệnh, vứt bỏ hàng – lâm sản xuống dọc đường, và phớt lờ như không phải “hàng” của mình. Nhiều trường hợp còn đâm thẳng phương tiện vào lực lượng chức năng làm nhiệm vụ trên tuyến, gây khó khăn cho công tác bắt giữ, truy đuổi.
Đáng kể, các “đầu nậu” còn đưa cả chị em phụ nữ vào đường dây hoạt động buôn lậu lâm sản của mình. Khi lưu thông trên đường, ít ai nghĩ rằng, số chị em này lại chính là các đối tượng vận chuyển thuê lâm sản trái phép qua biên giới.
Cũng theo đánh giá của Phòng CSGT Công an tỉnh Hà Giang, có thời điểm chỉ trong vòng chưa đầy 1 tuần, tổ công tác của đơn vị này đã lập biên bản xử lý 6 vụ vận chuyển trái phép lâm sản. Cả trăm thớt gỗ nghiến đã bị thu giữ.
Theo con số thống kê chưa đầy đủ, trong 7 tháng đầu năm 2013, các lực lượng chức năng của tỉnh Hà Giang đã lập biên bản, xử lý gần 200 vụ việc liên quan đến hành vi khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật.
Đáng chú ý, chỉ tính riêng Đồn Công an Thanh Thủy – nơi vốn luôn tiềm ẩn nguy cơ buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép qua biên giới, trong 6 tháng đầu năm 2013, đơn vị này phối hợp với lực lượng chức năng hữu quan đã khám phá, bắt giữ 28 vụ với 5 đối tượng có hành vi vận chuyển lâm sản trái phép qua biên giới. Tang vật thu giữ gồm 150 cục gỗ nghiến dạng thớt thuộc nhóm 2A, 5 thớt thành phẩm, 7 xe máy… (Công An Nhân Dân 30/8) đầu trang(
Ngày 23/8 báo Tiền Phong có đăng bài “ Vì sao dân tái định cư phá rừng” phản ánh tình trạng chặt phá rừng lấy đất sản xuất tại xã Đăk Rong, huyện Kbang, Gia Lai.
Ngay trong ngày 23/8, UBND tỉnh Gia Lai đã có công văn khẩn gửi UBND huyện Kbang nêu rõ: Vừa qua phương tiện thông tin đại chúng có phản ánh tình trạng chặt phá rừng tại địa bàn huyện Kbang. Để kịp thời chấn chỉnh xử lý nghiêm đối với vụ việc nêu trên, UBND tỉnh yêu cầu UBND huyện Kbang tiến hành kiểm tra xác minh ngay, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật; đồng thời triển khai ngay các biện pháp ngăn chặn, không để tình trạng chặt phá rừng tiếp tục xảy ra. Báo cáo kết quả kiểm tra, xác minh, xử lý về UBND tỉnh. (Tiền Phong 31/8) đầu trang(
Có nhiều ý kiến khẳng định việc chuyển đổi đất rừng nghèo kiệt sang trồng cây cao su tại các tỉnh Tây Nguyên được xem là một chủ trương đúng đắn, góp phần thúc tiến sự phát triển kinh tế-xã hội, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao đời sống người dân, đặc biệt với đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.
Tuy nhiên, tình trạng chuyển đổi ồ ạt, thậm chí thiếu quy hoạch và có phần lợi dụng chủ trương trong quá trình chuyển đổi để “rút ruột” đất rừng, khai thác lâm sản trái phép đã và đang gây ra nhiều hệ lụy về môi trường và bất bình an ninh xã hội.
Cũng vì cách làm việc thiếu cơ sở, có phần nóng vội, nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng lập hồ sơ để “hô biến” rừng giàu thành rừng nghèo kiệt, nhằm khai thác lâm sản công khai núp dưới danh nghĩa…“tận thu.”
Điển hình như tại tỉnh Lâm Đồng, kết quả kiểm tra các dự án trồng cao su tại huyện Bảo Lâm cho thấy, các doanh nghiệp chỉ chú trọng đến việc khai thác những cây gỗ lớn chứ không tập trung khai thác các loại gỗ tận dụng, gỗ nguyên liệu.
Tại xã Lộc Bảo, huyện Bảo Lâm, cả cánh rừng bạt ngàn cây gỗ quý nằm đối diện Ủy ban nhân dân xã Lộc Bảo, cách đây vài năm còn bạt ngàn màu xanh, nay đã bị chặt hạ, đốt gốc, gỗ vứt ngổn ngang hai bên lề đường.
Cũng như Lâm Đồng, tình trạng lập dự án khoanh nuôi bảo vệ rừng và trồng cao su nhưng thực chất để lấn chiếm rừng, khai thác gỗ cũng xảy ra tương tự tại các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai.
Một điều trớ trêu là rừng giàu bị “biến” thành rừng nghèo để trồng cao su, trong khi các địa phương này lại đi khoanh nuôi những cánh rừng nghèo. Thực tế hết sức phi lý trên đã phần nào khiến không ít cánh rừng bạt ngàn cây xanh ở Tây Nguyên đang đứng trước nguy cơ bị… “xóa sổ”. (VietnamPlus.vn 1/9; Đất Việt 1/9) đầu trang(
Cùng với hàng loạt cây rừng cổ thụ đường kính cả mấy người ôm không xuể bị đốn hạ là nạn đào vàng trái phép đang diễn ra tại vùng lõi Vườn quốc gia Bạch Mã.
Khi phóng viên hỏi: Vì sao lâm tặc và vàng tặc lại dễ dàng hoạt động trong Vườn quốc gia Bạch Mã? Ông Huỳnh Văn Kéo, Giám đốc Vườn quốc gia Bạch Mã không đi vào vấn đề chính mà lại quay sang thắc mắc về việc các phóng viên đóng làm khách du lịch để tiếp cận rừng sâu, khi chưa có ý kiến trao đổi trước với lãnh đạo vườn. Ngoài ra, thực tế phá rừng, đào vàng tại vùng Khe Mù và số liệu xử lý các vụ vi phạm trong vùng lõi do Vườn quốc gia Bạch Mã cung cấp, cho thấy một độ vênh khó hiểu.
Theo Hạt kiểm lâm Vườn quốc gia Bạch Mã, từ đầu năm 2013 đến nay, chỉ có một vụ khai thác lâm sản trái phép tại Tiểu khu 375 - Khe Mù bị phát hiện, xử lý. Lâm sản tịch thu là gỗ tròn nhỏ lẻ, khai thác bằng phương pháp thủ công. Về khai thác vàng, lực lượng kiểm lâm vườn cũng chỉ xử lý hai vụ, trong khi thời điểm phóng viên tiếp cận vùng lõi Bạch Mã, vàng tặc vẫn ngang nhiên hoạt động.
“Tình trạng khai thác lâm sản tại vườn đã giảm đi khá nhiều so với trước đây. Việc quản lý người ra vào rừng rất phức tạp, do khách tham quan hồ Truồi số lượng lớn mỗi ngày, cùng với người vào rừng để thu hái lâm sản. Đây là mâu thuẫn giữa phát triển du lịch với quản lý bảo vệ rừng. Nếu cắm biển nội quy tại lối vào rừng thuộc hồ Truồi thì làm sao thu hút được khách du lịch” - ông Huỳnh Văn Kéo phân trần.
Trong khi Phó hạt trưởng Hạt kiểm lâm Vườn quốc gia Bạch Mã Lê Văn Tự lại giải thích: “Lực lượng bảo vệ rừng của vườn còn mỏng, các đối tượng tác động vào rừng rất tinh vi; sóng di động phủ rộng, dễ lộ thông tin khi tổ chức truy quét”.
Vườn quốc gia Bạch Mã diện tích gần 37.500ha. Đây là vùng rừng nổi tiếng về vẻ đẹp tự nhiên hoang sơ và tài nguyên đa dạng sinh học, với nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Khai thác vàng và nạn chặt phá cây rừng trái phép đang khiến môi trường vườn quốc gia này bị đe dọa nghiêm trọng. Đặc biệt, đối tượng vi phạm còn sử dụng hóa chất cyanua để đãi vàng ngay tại hiện trường hoặc ở những con suối quanh vùng. (Sài Gòn Giải Phóng 3/9) đầu trang(
Theo UBND huyện Đồng Xuân, trong 8 tháng đầu năm 2013, các lực lượng liên ngành của huyện đã phá hủy 36 lò than, tiêu hủy khoảng 7 tấn than, 25 ster củi cùng một số dụng cụ để đốt than tại rừng.
Ngoài ra, Hạt Kiểm lâm huyện còn tịch thu 8.220kg than hầm của những người chuyên làm nghề mua bán than. Hiện tình trạng khai thác rừng trái phép, trong đó có đốt than đã giảm so với cùng kỳ năm trước.
Nguyên nhân là do công tác tuyên truyền, vận động người dân chấp hành các quy định về bảo vệ rừng có hiệu quả nên nhiều trường hợp đã chuyển nghề; các lực lượng chức năng của địa phương tăng cường kiểm tra, truy quét, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Tuy nhiên, tình trạng đốt than vẫn còn diễn ra tại các xã Xuân Sơn Bắc, Xuân Lãnh, Xuân Long, Xuân Quang 2, Xuân Phước, Đa Lộc.
Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Xuân đang tăng cường lực lượng, phối hợp với các xã tiếp tục xử lý các trường hợp đốt than. (Báo Phú Yên 3/9) đầu trang(
Hàng chục hộ dân ở xã Ea Tam, huyện Krông Năng (Đắk Lắk) bỗng dưng có tiền tỉ sau một đêm ngủ dậy chỉ với việc tháo dỡ cột nhà, cọc tiêu, chuồng trâu... rồi mang những cây gỗ đen đúa, cong queo ra bán.
Chính quyền huyện cũng rối như canh hẹ, huy động hết các ban ngành vào cuộc mà vẫn chưa biết hành xử thế nào với hiện tượng xưa nay chưa từng có, bèn ra lệnh... tạm dừng mua bán khiến người dân bức xúc.
Hơn 30 năm sau lần di cư vào Tây Nguyên, phần lớn những đồng bào Tày - Nùng quê Bắc Cạn định cư ở xã Ea Tam, huyện Krông Năng (Đắk Lắk) vẫn còn rất nghèo. Họ làm thủy lợi nhỏ, nhặt đá khai hoang ruộng nước, lên đồi trồng ngô, trồng sắn suốt mấy chục năm nay cũng chỉ đủ ăn.
Ở cái xã mới ra khỏi danh sách đặc biệt khó khăn này, của chìm của nổi đâu chẳng biết, nhưng giàu nghèo phân biệt rất rõ ở cái nhà. Người giàu ở biệt thự, trung lưu xây nhà cấp bốn, hộ nghèo ở nhà gỗ.
Song, trong những nhà gỗ lụp xụp, nền đất hoặc ximăng, mái ngói hoặc tôn ấy đều ít nhiều... có gỗ trắc. Rồi vài tháng nay, những người nghèo bỗng nhao nhao, mất ăn mất ngủ khi có người đến hỏi mua nhà gỗ với số tiền mà họ chưa bao giờ dám nghĩ đến.
Một khúc gỗ trắc bằng cổ chân thì 500.000 đồng một cân, loại đường kính từ đủ 15cm trở lên thì một triệu, triệu rưỡi một cân. Trắc là loại gỗ nặng nhất trong các loại gỗ, một cái cột ngắn hai người khỏe mạnh khiêng mệt nghỉ, dễ bảy tám mươi cân. Và hiện ở Ea Tam, mỗi nhà có vài chục cái cột như thế. Nó như một “phép lạ” biến những người nghèo ở Ea Tam thành tỉ phú chỉ sau một đêm.
Ông Nguyễn Ngọc Thuận - Chủ tịch UBND xã Ea Tam cho biết, từ tháng 3.2013 đến nay, toàn xã có 30 hộ bán cột nhà hoặc cọc tiêu, hàng rào bằng gỗ trắc. Khi bán xã có xác nhận hộ khẩu, Hạt Kiểm lâm về xác minh, chuyển Chi cục Thuế huyện thu thuế là cho đi. Nhưng ngày 16.8, Hạt Kiểm lâm lại có công văn đề nghị xã tổng hợp các hộ dân có nhu cầu bán gỗ trắc đã qua sử dụng báo cáo huyện, để huyện xin tỉnh cho chủ trương. Đến đây thì sự việc bắt đầu rắc rối.
Tiếp đó, đêm 23.8, kiểm lâm lại bắt giữ một xe tải chở 8 cột gỗ trắc mua của nhà ông Điệp, giấy tờ mua bán đã được xã xác nhận. Ba ngày sau, huyện ra văn bản chỉ đạo tạm dừng việc mua bán, vận chuyển gỗ trắc, nếu phát sinh giao dịch, chủ tịch xã phải chịu trách nhiệm.
Theo tôi lệnh cấm này không đúng, đây là gỗ trắc đã qua sử dụng lâu năm chứ không phải mới khai thác từ rừng, mà trong rừng cũng đâu còn nữa. Việc thu thuế tài nguyên đối với đồ gỗ đã qua chế biến, sử dụng cũng cần phải xem lại. Ông Thuận cũng xác nhận, hiện địa phương có rất nhiều hộ nghèo muốn bán nhà hoặc hàng rào, cọc tiêu, nhà xí để làm nhà xây hoặc lấy vốn làm ăn. Lệnh cấm vừa rồi làm dân rất bức xúc.
Ông Nguyễn Kỳ - Phó Chủ tịch UBND huyện Krông Năng cho biết, theo Thông tư 01/2012/TT-BNNPTNT thì việc bán lâm sản đã qua sử dụng chỉ cần xã và kiểm lâm xác nhận là được. Công văn của Hạt Kiểm lâm đề nghị xã đưa lên huyện, huyện báo cáo tỉnh cho dân bán gỗ trắc đã qua sử dụng là không phù hợp. Huyện đã yêu cầu xem xét lại văn bản này, nếu sai phải thu hồi. Mặc dù nói vậy, nhưng chính ông Kỳ cũng chỉ đạo... xin chủ trương của tỉnh mới cho dân bán.
Theo ông Kỳ, đến nay đã có 33 hộ dân ở xã Ea Tam và xã Ea Púk bán hơn 55m3 gỗ trắc đã qua sử dụng, nộp thuế hơn 300 triệu đồng nhưng các xã và Hạt Kiểm lâm không báo cáo huyện. Qua làm việc với ngành thuế thì được biết, nếu giá mua bán trong hợp đồng cao hơn giá quy định của tỉnh thì thu thuế theo hợp đồng, ngược lại thì thu theo giá tỉnh.
Ông Kỳ phân bua: “Chúng tôi thấy việc mua bán có thể ảnh hưởng đến an ninh trật tự, gây thất thu cho ngân sách, tiềm ẩn tiêu cực... nên tạm dừng để báo cáo tỉnh. Đồng thời lập đoàn kiểm tra liên ngành thanh tra toàn bộ việc mua bán, vận chuyển gỗ trắc trên địa bàn xã Ea Tam có đúng pháp luật hay không. Mặc dù việc mua bán là quyền của dân, nhưng nếu thấy ảnh hưởng, ví dụ như dân bán nhà rồi không có chỗ ở thì mình vẫn có thể điều chỉnh”.
Trong khi chờ UBND huyện hiểu rõ các quy định của pháp luật, chờ tỉnh có ý kiến, không ít người nghèo ở Ea Tam đang thấp thỏm lo âu. Gỗ trắc đã qua sử dụng, “phép lạ” đổi đời của họ có thể mất giá hoặc không bán được nữa như cảnh báo của một vài thương lái. Dù không phải như thế, thì cả huyện với đầy đủ ban bệ họp hành, “tranh cãi” chán vẫn chưa biết đúng sai có phải là chuyện lạ không? (Lao Động 3/9) đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Theo Bộ NN&PTNT, cả nước có tới 317 hồ bị hư hỏng các công trình đầu mối, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn. Đây là mối lo thường trực bên cạnh nguy cơ làm thủy điện phá rừng, “rước” lũ lụt, hạn hán tàn phá đời sống của nhân dân.
Hiện cả nước có gần 7.000 hồ chứa thủy điện, thủy lợi. Thế nhưng kết quả Tổng cục Thủy lợi vừa kiểm tra về công tác quản lý, bảo đảm an toàn hồ chứa tại các tỉnh miền Trung-Tây Nguyên trước mùa mưa bão cho thấy một số công trình thủy điện xảy ra hiện tượng nứt, thấm nước thân đập gây lo ngại cho người dân.
Điển hình là thân đập thủy điện Sông Tranh 2 (huyện Bắc Trà My, Quảng Nam) bị thấm qua các khe nối với lưu lượng 75 lít/giây. Ngoài ra, quanh thủy điện này còn xảy ra hiện tượng động đất kích thích.
Chẳng hạn, thủy điện Đăk Rông 3 (Quảng Trị) bị vỡ tường chắn bê tông; thủy điện Đăm Bol - Đạ Tẻl (Lâm Đồng) vỡ đường ống áp lực; thủy điện Đăk Mêk 3 (Kon Tum) vỡ đập khi thi công; thủy điện Ia Krêl 2 (Gia Lai) vỡ đập khi bắt đầu tích nước; thủy điện Ea Súp 3 (Đắk Lắk) vỡ bể áp lực trong quá trình chạy thử…Nhiều công trình thủy điện có quy mô nhỏ do doanh nghiệp tư nhân làm chủ đầu tư cũng xảy ra các sự cố nghiêm trọng.
Theo Bộ Công Thương, nguyên nhân dẫn tới các sự cố trên do một số chủ đầu tư chưa thực hiện đầy đủ quy định về quản lý an toàn đập. Cụ thể, có tới 69/114 đập đã đến hoặc quá kỳ kiểm định, kiểm tra tính toán lại dòng chảy lũ nhưng vẫn chưa thực hiện. Trong 166 đập được kiểm tra, có tới 76 đập chưa xây dựng phương án bảo vệ đập.
Cả nước có tới 317 hồ bị hư hỏng các công trình đầu mối, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn (tập trung vào nhóm hồ chứa dưới 3 triệu m3, chiều cao đập nhỏ hơn 15 m). Ngoài ra, còn có các công trình xuống cấp, nước thấm qua thân đập, hư hỏng cống, tràn xả lũ nhưng chưa được sửa chữa kịp thời.
Có lẽ cũng chính vì những lý do này, mới đây Bộ Công thương và 20 địa phương đã thống nhất loại khỏi quy hoạch 338 dự án thủy điện với tổng công suất 1.088,9 MW (gồm 2 dự án thủy điện bậc thang và 336 dự án thủy điện nhỏ); đồng thời không tiếp tục xem xét đưa vào quy hoạch 169 vị trí tiềm năng thủy điện (362,5 MW).
Cũng vì thủy điện và sự an toàn lâu dài khiến câu chuyện của dự án Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A kéo dài hơn 6 năm với 3 lần chủ đầu tư dự án phải làm đi làm lại báo cáo đánh giá tác động môi trường.
Mới đây nhất ông Mai Thanh Dung, Cục trưởng Cục Thẩm định và Ðánh giá tác động môi trường, Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN-MT), cho biết Công ty CP Tập đoàn Ðức Long Gia Lai vừa có công văn xin rút lại hồ sơ thẩm định đánh giá tác động môi trường (ÐTM) 2 dự án thủy điện Ðồng Nai 6, 6A để xem xét bổ sung.
Tuy nhiên, TS Vũ Ngọc Long - Viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam, thành viện Hội đồng Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A - cho rằng dù chủ dự án có chỉnh sửa bao nhiêu lần đi nữa thì vẫn không đạt chất lượng.
Cái lý mà các nhà khoa học đưa ra ở đây là vấn đề thủy điện phá rừng sẽ là một chuỗi nguy hại về sau chứ không đơn giản là những gì thấy trước mắt.
Và có lẽ vốn các nhà khoa học vẫn nói thủy điện không thực sự có lỗi, nhưng với cách phá rừng, xây dựng kiểu ăn bớt, rút lõi dẫn đến lũ lụt phá hoại tàn phá lớn hơn, công trình chưa đi vào sử dụng được bao lâu đã có biểu hiện thấm, nứt… mất an toàn. Lúc này cái “tội” của thủy điện sẽ không có ai chữa nổi và dừng lại, chọn an toàn cho cộng đồng là hơn tất cả. (Đất Việt 2/9) đầu trang(
- Báo đài đưa tin dân 6 xã ở Phù Mỹ, Phù Cát (Bình Định) từ tháng 6 tới nay đã ồ ạt rủ nhau vào phá rừng ở Tiểu khu 192. Đây là khu rừng phòng hộ đầu nguồn ven hồ chứa nước Đại Sơn. Có lẽ đến hôm nay đã “hoàn thành kế hoạch” cạo trọc rừng. Thế mà tuần này UBND tỉnh mới yêu cầu huyện, xã báo cáo tình hình báo nêu. Chả nhẽ cả nước biết mà địa phương không biết?
- Rất có thể cán bộ ta không nắm được tình hình. Có bác Phó GĐ Sở VHTTDL trả lời hồn nhiên là chẳng bao giờ đọc báo, nghe đài, đọc sách. Gần 2 vạn nhà báo, nhà đài của nước ta nghĩ sao khi mình nai lưng ra làm việc 24/24h mà đến cán bộ cũng chả thèm nhìn đến?
- Bác nói thế thì chả cứ cánh nhà báo, lãnh đạo từ trên xuống dưới cần xem lại cụm từ “xã hội thông tin”. Hàng nghìn tỉ đồng mỗi năm bỏ ra làm truyền thông đủ kiểu mà hễ có chuyện gì lại phải phát công văn hỏi xem có hay không? Mà là chỉ để biết “có hay không?” đấy nhá, còn xử lý thế nào lại là “tập 2”.
- Đừng quan trọng hóa vấn đề. Người ta đã giải mã vụ này rồi. Số là dự án JICA 2 của Nhật Bản đến năm 2014 sẽ đầu tư khu vực này trồng lại rừng phòng hộ đầu nguồn. Dự án chưa triển khai nhưng thông tin (không qua đường chính thống) đã vèo một cái đến dân. Thế là một, hai, ba cả làng cùng phá rừng. Xe tải chở gỗ, chở củi rầm rập ngày đêm. Đơn giản vậy thôi.
- Và cán bộ không biết?
- Nếu nói không biết chẳng ai tin, còn nói biết cũng chẳng có gì mới.
- Thế là thế nào?
- Là xã hội ta vẫn là một “xã hội thông tin” nhưng thông tin nội bộ nhanh hơn thông tin chính thống, công khai.
- Hai thứ thông tin này em nghĩ đâu có khác nhau?
- Rõ là tầm nhìn của chú, một gã đài phường chỉ đến cuối đường dây kéo loa. Thông tin công khai là thông tin sau khi sự kiện xảy ra. Đó là nguyên tắc truyền thông hiện đại. Còn thông tin nội bộ là thông tin làm ăn, kiếm chác, chia chác, “suất ngoại giao, suất ưu tiên nội bộ”, ta thường gọi là “đi trước đón đầu”.
- Đa tạ đại ca! Đa tạ! Nếu thỉnh thoảng đại ca không chỉ giáo thì đệ lại quên chuyện “xã hội thông tin”. Nhưng nói cho đại ca hay, kiểu thông tin nội bộ em biết thừa, biết từ lâu.
- Sao không alô cho bà con hay?
- Hehe! Chỗ này thì em đành nói hỗn, bác chẳng hiểu thế nào là mánh mối làm ăn ở đời cả. Thử hỏi một dự án JICA từ trên xuống đến tỉnh, huyện, xã ai chả biết: Người Nhật sang ta giúp phát triển KTXH VN công khai. Còn phía ta thì bí mật hóa cái công khai để… Thôi, chả nói, nói hết hóa ra em thông minh hơn bác à?! (Lao Động 31/8) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Ngày 30-8, hải quan Thái Lan tuyên bố bắt giữ hai hành khách đi máy bay người Việt Nam vì mang trong vali 100 kg ngà voi trên chuyến bay từ Angola đến Bangkok.
Theo hãng tin AFP, hải quan Thái Lan cho biết bắt giữ một người đàn ông và một phụ nữ Việt Nam sau khi họ đến Bangkok trên chuyến bay của hãng hàng không Ethiopian Airlines từ thành phố Luanda, thủ đô Angola.
Số ngà voi trong hành lý của họ có giá trị thị trường lên tới 500.000 USD. Trước khi bị bắt, hai người Việt này định bay sang Campuchia. “Họ bị bắt trong sân bay và bị buộc tội vận chuyển lậu các sản phẩm bị cấm” - hải quan Thái Lan cho biết.
Các tổ chức bảo vệ động vật hoang dã quốc tế đánh giá Thái Lan là một địa điểm trung chuyển quan trọng của các đường dây buôn bán ngà voi quốc tế. Nhu cầu ngà voi từ Trung Quốc là rất lớn.
Ước tính mỗi năm 30.000 con voi châu Phi bị săn bắn bất hợp pháp để lấy ngà. Ngoài voi, tê giác châu Phi cũng đang bị tàn sát để lấy sừng. Trong năm 2012, 668 con tê giác Nam Phi đã bị sát hại. (Tuổi Trẻ 30/8) đầu trang(
700 lính cứu hỏa Bồ Đào Nha vừa được điều động tới khu vực miền Bắc và miền Trung nước này nhằm đối phó với các vụ cháy rừng đang bùng phát trở lại.
Các đám cháy tưởng chừng như đã được khống chế, tuy nhiên ngày 1/9 lại có dấu hiệu bùng phát trở lại. Khoảng 700 nhân viên cứu hỏa, dưới sự hỗ trợ của 5 máy bay của Pháp và Croatia vừa được điều động tham gia công tác dập lửa.
Hơn 250 lính cứu hỏa, cùng các máy bay cứu hộ và 2 trực thăng của quân đội Bồ Đào Nha vừa được được triển khai tới dập tắt các đám cháy gần Gondomar, thuộc quận Poto.
Trong khi đó, 100 lính cứu hỏa Bồ Đào Nha dưới sự hỗ trợ của các máy bay của Croatia cũng đang nỗ lực khống chế một đám cháy rừng khác xảy ra gần Sever do Vouga khu vực miền Nam nước này. Tuy nhiên, theo lực lượng cứu hỏa, gió thổi mạnh đã gây cản trở lớn tới việc dập tắt các đám cháy.
Ngày 30/8, Bồ Đào Nha đã tạm thời khống chế được các đám cháy lớn ở khu vực miền núi Caramulo đã khiến ít nhất 3 người chết, 5 người mất tích. Giới chức trách Bồ Đào Nha xác nhận đã có hơn 300 đám cháy mới kể từ ngày 31/8 vừa qua. (VOV 2/9)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa