Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 06 tháng 09 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Đây là quyết định mới được UBND tỉnh Thái Nguyên phê duyệt ngày 4/9. Theo Quyết định này, UBND tỉnh còn hỗ trợ cho Phó ban lâm nghiệp xã, thị trấn và Tổ trưởng tổ Bảo vệ rừng - phòng cháy, chữa cháy rừng thôn, bản trên địa bàn tỉnh.
Cụ thể, những xã, thị trấn có diện tích đất lâm nghiệp từ 3.000ha trở lên hoặc là xã vùng cao, mức hỗ trợ là 500.000 đồng/người/tháng. Với những xã, thị trấn có diện tích đất lâm nghiệp từ 2.000 ha đến dưới 3.000ha, hoặc là xã miền núi, mức hỗ trợ là 450.000 đồng/người/tháng.
Đối với những xã, thị trấn có diện tích đất lâm nghiệp từ 1.000ha đến dưới 2.000ha, mức hỗ trợ là 400.000 đồng/người/tháng. Riêng những xã, thị trấn đã thành lập Ban lâm nghiệp có diện tích đất lâm nghiệp dưới 1.000ha được hỗ trợ ở mức 350.000 đồng/người/tháng.
Các tổ trưởng tổ bảo vệ rừng - phòng cháy chữa cháy rừng thôn, bản cũng được hỗ trợ 70.000 đồng/người/tháng.
Nguồn kinh phí hỗ trợ thuộc ngân sách Nhà nước (được trích từ nguồn kinh phí sự nghiệp kinh tế hàng năm giao cho Chi cục Kiểm lâm hằng năm). Các nội dung chi theo quy định trên sẽ được thực hiện từ ngày 1/1/2014. (Báo Thái Nguyên 5/9) đầu trang(
Theo Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung, thực hiện chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), từ năm 2012 đến nay, Khu bảo tồn đã được nhận trên 1,7 tỷ đồng và tổ chức chi trả trên 264 triệu đồng cho các hộ nhận khoán bảo vệ rừng.
Ngoài chi trả tiền khoán bảo vệ rừng, Khu bảo tồn còn trích kinh phí từ nguồn DVMTR hỗ trợ cho 3 bon trên 30 triệu đồng để mua sắm ti vi, đầu đĩa, trang bị cho các nhà văn hóa cộng đồng.
Theo ghi nhận, thì từ khi được chi trả DVMTR, đồng bào có thêm động lực để giữ rừng, nâng cao ý thức phòng cháy, chữa cháy rừng hơn trước. Các hộ dân đều tập trung sản xuất ổn định trên diện tích đất hiện có, không xâm hại đến diện tích rừng, không chặt phá, khai thác rừng trái phép. Hoặc khi làm rẫy, bà con đã nắm rõ thời gian và phạm vi được phép đốt rẫy để đám cháy không lan ra diện rộng.
Điển hình như buôn Choi, có 100% hộ đồng bào dân tộc thiểu số tham gia nhận khoán bảo vệ rừng của Khu bảo tồn. Những năm qua, chính quyền địa phương, cán bộ kiểm lâm đẩy mạnh công tác tuyên truyền việc giữ rừng cũng như mục tiêu cung ứng DVMTR là vừa bảo tồn được đa dạng sinh thái rừng vừa tăng nguồn thu nhập, nên giờ đây những cánh rừng tự nhiên luôn được bảo vệ và phát triển xanh tốt.
Ông Nguyễn Lên, Tổ trưởng Tổ quản lý rừng buôn Choi cho biết: “Hầu hết các hộ nhận khoán rừng của Khu bảo tồn đều có ý thức cao khi làm nhiệm vụ giữ rừng cũng như tham gia cùng lực lượng chức năng phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm lâm luật. Đặc biệt, khi đồng bào nhận được khoản kinh phí từ chi trả DVMTR đã có thêm động lực để yên tâm tham gia quản lý, bảo vệ rừng”.
Theo ông Huỳnh Tấn Lộc, Trạm kiểm lâm khu vực xã Đức Xuyên thì việc thanh toán kịp thời tiền DVMTR cũng đã giúp đồng bào có thêm khoản thu nhập đáng kể cho gia đình. Chẳng hạn, bon Đắk Prí nhận gần 1.000 ha rừng, buôn Choi nhận trên 2.000 ha rừng, thì mỗi năm, một hộ nhận khoán có thu nhập trên 4 triệu đồng tiền khoán bảo vệ rừng.
Theo ông Huỳnh Công Cẩn, Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung thì trong năm 2013 này, đơn vị đang phấn đấu thực hiện chi trả DVMTR theo định mức 200.000 đồng/ha/năm đối với những diện tích rừng giao khoán cho người dân. Như vậy, nguồn thu của đồng bào sẽ được nâng lên đáng kể. B
ên cạnh đó, Khu bảo tồn cũng sẽ tiếp tục điều chỉnh và chủ động hơn trong công tác tuyên truyền về chính sách chi trả DVMTR tới người dân, nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng, góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho đồng bào. (Báo Đăk Nông 5/9) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Tình trạng cháy rừng ngày càng diễn biến phức tạp gây nhiều tổn thất về người và của cho người dân, doanh nghiệp,… Xe chuyên dụng chữa cháy rừng của TS. Dương Văn Tài và cộng sự đã mang đến một giải pháp mới cho việc chữa cháy rừng hiệu quả cao hơn, giảm thiệt hại cho người dân và doanh nghiệp. Sản phẩm bước đầu đã ra thị trường và hứa hẹn khả năng thương mại hóa lớn trong thời gian tới.
Theo số liệu thống kê của Cục Kiểm lâm, hàng năm tại Việt Nam xảy ra hàng trăm vụ cháy rừng, làm mất hàng ngàn hécta rừng, gây thiệt hại hàng trăm tỷ đồng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sinh thái.
Cháy rừng thường diễn ra ở những nơi có địa hình phức tạp, độ dốc lớn, xa nguồn nước, giao thông khó khăn và diễn ra trên phạm vi rộng lớn, đòi hỏi phải có nghiên cứu về công nghệ chữa cháy, các thiết bị chữa cháy chuyên dụng phù hợp với điều kiện địa hình và điều kiện về chất chữa cháy rừng có thể cung cấp được.
Tuy nhiên trên thực tế, việc quản lý phòng chống cháy rừng ở nước ta gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi đó, khi xảy ra cháy rừng thì việc dập lửa lại rất nan giải vì chúng ta còn thiếu nguồn nhân lực, chưa chủ động được nguồn nước, thiếu trang thiết bị dập lửa, địa hình rừng núi thường khó khăn, phức tạp.
Bên cạnh đó, nguy cơ cháy có thể xảy ra tại các nông trường cây công nghiệp như mía, cao su, hồ tiêu,… sẽ gây thiệt hại rất nặng nề cho các doanh nghiệp và địa phương.
Nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng phương án chữa cháy tại chỗ, ngoài việc tăng cường công tác đảm bảo an ninh, tập huấn chữa cháy thì việc tăng cường năng lực cho các đơn vị, cá nhân tham gia phòng, chữa cháy rừng song song với việc áp dụng các công nghệ và thiết bị chữa cháy rừng mới là hết sức cần thiết.
Từ yêu cầu thực tế này, năm 2008, Bộ Khoa học và Công nghệ đã giao Trường Đại học Lâm Nghiệp, chủ trì thực hiện đề tài trọng điểm cấp nhà nước “Nghiên cứu công nghệ và thiết kế chế tạo các thiết bị chuyên dụng chữa cháy rừng”, nhằm xây dựng công nghệ chữa cháy rừng cho phù hợp với mọi địa hình, loại rừng và phù hợp với thiết bị chữa cháy hiện có, đồng thời nghiên cứu thiết kế chế tạo ra một số thiết bị chuyên dụng chữa cháy rừng phù hợp với địa hình và chất chữa cháy tại chỗ.
Thực hiện đề tài trên, nhóm nghiên cứu của trường đã tiến hành tính toán thiết kế, chế tạo được xe chữa cháy rừng đa năng bao gồm: hệ thống cắt cây lắp ở phía trước xe và làm sạch cỏ rác lắp ở phía sau xe để tạo băng trắng cách ly đám cháy; hệ thống cắt, hút, phân phối và phun đất vào đám cháy để dập lửa; hệ thống chứa nước, bơm và phun nước vào đám cháy để dập tắt đám cháy.
Các hệ thống trên được lắp ráp cố định trên xe, khi hoạt động mở ra, khi không sử dụng thu gọn lại, nguồn động lực để cho các hệ thống hoạt động được lấy từ động cơ xe ôtô.
TS. Dương Văn Tài, chủ nhiệm đề tài, cho biết sáng chế xe chữa cháy rừng đa năng và giải pháp thiết bị chữa cháy rừng bằng đất cát là công nghệ hoàn toàn mới, chữa cháy rừng có hiệu quả trên nguyên lý sử dụng các chất chữa cháy tại chỗ như đất, cát, không khí nên không phụ thuộc vào nguồn nước để chữa cháy.
Xe chữa cháy còn có khả năng di chuyển trong rừng không có đường, những địa hình có độ dốc cao, có tính năng làm sạch cỏ rác để tạo băng cản lửa cô lập đám cháy, chữa cháy hiệu quả, hạn chế nguy hiểm cho những người tham gia chữa cháy.
Sau khi thiết kế, chế tạo thành công máy chữa cháy rừng, đề tài tiến hành khảo nghiệm các thiết bị tại ba miền có địa hình, loại vật liệu cháy đặc trưng (vùng núi phía Bắc, khu vực Tây Nguyên và vùng rừng tràm U Minh) cho thấy xe chữa cháy rừng đa năng của nhóm nghiên cứu đã đạt được một số thành công trong việc tính toán và giảm nhẹ nguy cơ cháy rừng.
TS. Dương Văn Tài chia sẻ, sáng chế về thiết bị chữa cháy rừng và xe chữa cháy rừng là sản phẩm của dự án cấp nhà nước phối hợp với công ty cổ phần cơ điện Cổ Loa đăng ký dự án sản xuất thử nghiệm cấp nhà nước. Sản phẩm được đánh giá cao với nhiều ưu điểm vượt trội trong việc chữa cháy rừng, đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của cuộc sống.
Vì trên thực tế, tại các địa phương có rừng và các cơ sở chế biến lâm sản trong cả nước có nhu cầu lớn trang thiết bị chữa cháy mới và có hiệu quả cao nhưng thường phải nhập khẩu công nghệ của nước ngoài với chi phí cao nên việc trang bị thiết bị chữa cháy gặp nhiều khó khăn.
Ngoài ra, tiềm năng xuất khẩu các thiết bị chữa cháy rừng đa năng sang các nước như Lào, Campuchia là rất lớn. Các quốc gia này có điều kiện khí hậu và địa hình rừng tương tự với nước ta. Đây là những yếu tố quan trọng khẳng định khả năng thương mại hóa của sáng chế này là rất lớn.
Trước mắt, nhóm dự án đã xây dựng dự án trang thiết bị xe chữa cháy rừng cho các đơn vị kiểm lâm và bảo vệ rừng đồng thời hướng tới việc truyền thông và kết nối tác giả với một số công ty sản xuất mía đường và một số nông trường trồng rừng, sản xuất cây công nghiệp tại Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.
Từ tháng 2/2012 đến tháng 8/2012, nhóm dự án đã tiếp xúc gặp gỡ, kết nối thương mại hóa sản phẩm với một số doanh nghiệp như công ty mía đường nhiệt điện Gia Lai, công ty Bourbon Tây Ninh, công ty cổ phần đường nước trong Tây Ninh, Tổng công ty cao su Việt Nam, công ty cao su Tây Ninh.
Bên cạnh đó, nhóm dự án cũng quan tâm tới công tác truyền thông, quảng bá sản phẩm với công chúng thông qua việc tham gia chương trình “Sáng tạo Việt” trên truyền hình. Sau khi phát sóng chương trình, đã có khá nhiều nhà đầu tư quan tâm tới công nghệ. Để xúc tiến việc triển khai hợp tác giữa các bên, nhóm dự án đã tổ chức kết nối gặp gỡ các nhà đầu tư để bàn phương án hợp tác hiệu quả nhất. (Đất Việt 5/9) đầu trang(
Chi cục Biển và hải đảo (Sở Tài nguyên – môi trường) vừa tổ chức buổi thảo luận tham vấn cộng đồng với nội dung “Xây dựng quy ước quản lý, bảo vệ và khai thác hợp lý rừng ngập mặn”.
Tham gia buổi thảo luận xây dựng quy chế có đại diện chính quyền và các hội, đoàn thể xã Tam Hải (Núi Thành) và 50 bà con sinh sống tại đảo Cồn Si (thôn 6 - xã Tam Hải) được hưởng lợi trực tiếp từ rừng ngập mặn.
Nhiều nội dung đã được thống nhất ban hành như không được chặt cây, hái lá trong khu vực rừng ngập mặn; không được dùng xung điện đánh bắt cá, tôm, đào trùn và các loại hải sản có giá trị trong khu vực rừng ngập mặn; không được đổ rác thải trong khu vực rừng ngập mặn và phải có trách nhiệm dọn vệ sinh chung trong khu vực rừng ngập mặn… (Báo Quảng Nam 6/9) đầu trang(
Ngày 3/9, Khoa Sinh học và Khoa Nông lâm - Trường Đại học Đà Lạt đã tổ chức hội thảo về định hướng bảo tồn và phát triển một số loài thực vật quý hiếm có giá trị tại Lâm Đồng.
Báo cáo tại hội thảo cho biết, hiện Khoa Sinh học và Nông lâm đang lưu giữ khoảng 100 loài thực vật có giá trị như: 4 giống dâu, 3 giống atiso, 6 giống cúc, 10 loài trà my, 14 loài lan hài, 7 loài đỗ quyên cùng với các loại cây thuốc và những giống cây quý các loại lan gấm, các loại sâm...
5 năm trở lại đây, Khoa Sinh học và Khoa Nông lâm đã cung cấp trên 300 ngàn cây giống cho nông dân địa phương và 60 ngàn cây lan cho Sở Khoa học công nghệ tỉnh Đồng Nai.
Trên cơ sở điều tra, đánh giá về thực trạng các loại thực vật quý hiếm tại địa bàn tỉnh Lâm Đồng, hội thảo đã đề xuất một số giải pháp để bảo tồn và phát triển các loài thực vật như: bảo vệ môi trường sinh thái, khoanh vùng phân bố của các quần thể; xây dựng và phát triển vườn cây giống đầu dòng để bảo tồn các loại giống; bổ sung các cá thể non, tăng số lượng và cấp tuổi trong quần thể. Bên cạnh đó, cần có các biện pháp hỗ trợ khuyến khích phát triển vùng nguyên liệu để sản xuất hàng hóa, phát triển các loại cây có giá trị phục vụ tốt nhu cầu của người dân.
Được biết, trong thời gian tới, Khoa Sinh học và Khoa Nông lâm của Đại học Đà Lạt sẽ tiếp tục, sưu tầm, bảo tồn và phát triển thêm nhiều giống cây quý hiếm khác trên địa bàn Lâm Đồng và các vùng lân cận. (Báo Lâm Đồng 6/9) đầu trang(
Không chỉ rừng tự nhiên bị lâm tặc khai thác trái phép, trên địa bàn huyện Sông Hinh còn nhiều diện tích rừng và đất lâm nghiệp bị người dân xâm chiếm. Trước tình hình trên, UBND huyện Sông Hinh đang chỉ đạo các ngành chức năng của huyện và UBND các xã kiểm tra, thống kê lại số hộ, số diện tích đất rừng bị lấn chiếm trái phép để có biện pháp xử lý.
Từ đầu năm đến nay, các ngành chức năng của huyện Sông Hinh đã kiểm tra, phát hiện, lập biên bản trên 10 vụ phá rừng với diện tích gần 5ha và tình hình phá rừng làm rẫy trên địa bàn huyện này vẫn đang diễn biến hết sức phức tạp.
Theo Ban quản lý Rừng phòng hộ Sông Hinh, đơn vị này đang quản lý và bảo vệ hơn 19.630ha, trong đó đất có rừng gần 17.390ha. Trong đó, có nhiều diện tích đất rừng màu mỡ, tài nguyên rừng phong phú, có giá trị kinh tế cao nên thu hút sự chú ý của người dân địa phương và các tỉnh lân cận. Hiện lực lượng nhân viên bảo vệ rừng của Ban quản lý Rừng phòng hộ Sông Hinh quá mỏng, không có các tuyến đường tuần tra bảo vệ rừng nên công tác quản lý và bảo vệ rừng hiện nay đang gặp nhiều khó khăn, trong khi lâm tặc ngày càng tinh vi, có nhiều phương tiện để phá rừng.
Ông Võ Trọng Bình, Phó giám đốc phụ trách Ban quản lý Rừng phòng hộ Sông Hinh, cho biết: “Lực lượng cán bộ bảo vệ rừng của đơn vị quá mỏng nên không thể ngăn chặn được nhiều người dân phá rừng như trường hợp ở xã Ea Trol. Đơn vị đã đề nghị UBND huyện, Sở NN-PTNT và các cơ quan chức năng hỗ trợ, phối hợp để ngăn chặn tình trạng phá rừng tại tiểu khu V7.14.
Đồng thời, đề nghị chính quyền địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và phát triển rừng để người dân am hiểu, thực hiện và có biện pháp xử lý nghiêm đối với những trường hợp vi phạm.
Hiện Ban quản lý Rừng phòng hộ Sông Hinh đang phối hợp với UBND huyện và UBND xã Ea Trol tiến hành kiểm tra hiện trạng đất, rừng để tiến hành bàn giao 2.349,9ha cho địa phương quản lý, sử dụng theo Quyết định 143 ngày 17/1/2013 của UBND tỉnh. Khi nào bàn giao xong số diện tích này, UBND xã Ea Trol sẽ tiến hành lập phương án sử dụng đất, giao đất cho các hộ dân thiếu đất sản xuất và trình UBND huyện phê duyệt, thực hiện. Nếu trường hợp người dân ở buôn Thinh thiếu đất sản xuất thì làm đơn gửi đến UBND xã Ea Trol và UBND huyện Sông Hinh để được xem xét, giải quyết”.
Mới đây, Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng huyện Sông Hinh cũng đã có văn bản yêu cầu các ngành chức năng của huyện và UBND các xã tiếp tục phổ biến, triển khai các chủ trương từ Trung ương đến địa phương về các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng.
Ông Trần Thanh Định, Phó chủ tịch UBND huyện Sông Hinh, cho biết: “UBND huyện chỉ đạo và đã thành lập 3 tổ để tiến hành kiểm tra hiện trạng đất, rừng trong tổng số 2.349,9ha đất theo Quyết định 143 ngày 17/1/2013 của UBND tỉnh. Các tổ này có nhiệm vụ kiểm tra, thống kê lại số hộ, số diện tích đất rừng bị lấn chiếm trái phép để UBND huyện có biện pháp xử lý trước khi bàn giao đất cho chính quyền xã Ea Trol quản lý, sử dụng.
UBND huyện sẽ triển khai quyết liệt các biện pháp nhằm hạn chế tình trạng phá rừng trên địa bàn huyện. Kiên quyết xử lý các trường hợp phá rừng, các chủ rừng thiếu trách nhiệm để xảy ra cháy rừng, phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, khai thác lâm sản trái pháp luật mà không chủ động kiểm tra, ngăn chặn kịp thời..." (Báo Phú Yên 5/9) đầu trang(
Nhờ có phương pháp làm việc khoa học, bài bản, sự phối hợp đồng bộ với chính quyền địa phương các cấp, các lực lượng, bà con nông dân nên rừng phòng hộ (RPH) lưu vực sông Thạch Hãn (Quảng Trị) luôn xanh tươi, xứng đáng phòng hộ, bảo vệ mạch nguồn cho hai vựa lúa Triệu Phong, Hải Lăng và hàng chục vạn dân thuộc nửa tỉnh phía Nam Quảng Trị.
Toàn bộ diện tích RPH của BQL nằm trên các huyện Triệu Phong, Hải Lăng và thị xã Quảng Trị, là những nơi xa dân cư từ 40 - 50 km. Hơn 8.400 ha rừng, chủ yếu rừng trồng (nên rất dễ cháy) lại ở địa bàn hiểm trở, giao thông khó khăn, cán bộ chuyên trách thiếu, trang thiết bị phương tiện phục vụ công tác QLBVR hầu như không có gì.
Hơn nữa, do điều kiện xã hội để lại nên nhiều người dân làm nhà sinh sống trong rừng, đời sống khó khăn nên mọi sinh hoạt hàng ngày đều dựa vào rừng như gánh củi, tấm tranh lợp nhà. Việc khai thác lâm sản trái phép còn xảy ra nhiều trên lâm phần... đã đe dọa đến sự an toàn cho như cánh RPH.
Luôn nhận thức được mất rừng là mất nguồn nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, cuộc sống nên anh em BQL RPH lưu vực sông Thạch Hãn đã xác định dù khó khăn, vất vả cũng phải giữ lấy rừng, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Để được vậy, ban luôn chủ động có phương án QLBVR sát với tình hình thực tế. Chủ động công tác tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia BVR, thành lập các tổ nhận khoán, BVR. Tạo điều kiện cho người dân tham gia vào dự án bảo vệ và phát triển rừng để tạo thêm thu nhập, nâng cao đời sống cũng như nhận thức...
Ông Trần Xuân Dưỡng, Giám đốc BQL Rừng phòng hộ lưu vực sông Thạch Hãn cho biết, do điều kiện địa hình phức tạp nên Ban phải xác định các vùng trọng điểm rừng dễ cháy và luôn có người ngoài xâm nhập vào khai thác lâm sản trái phép để có phương án bảo vệ tốt hơn. Đặc biệt ở Quảng Trị vào thời điểm từ tháng 4 đến cuối tháng 9 hằng năm là mùa khô nên công tác BVR lại cam go hơn.
Các chòi canh lửa của ban là địa điểm trực PCCCR luôn có người trực 24/24 giờ để kịp thời phát hiện, kiểm tra, nhắc nhở người dân vào rừng hết sức cẩn thận dùng lửa trong sinh hoạt, nếu phát hiện có lửa cháy kịp thời báo cho người trực ở các chòi canh để từ chòi kịp thời báo về trung tâm chỉ huy, huy động lực lượng chữa cháy với phương châm “4 tại chỗ”.
Nhờ làm tốt công tác PCCC và BVR nên nhiều năm rồi rất ít khi có đám cháy xảy ra ở trên lâm phần của BQL. Nếu có xảy ra cháy ngay lập tức được dập tắt nên không có thiệt hại lớn. Tuy nhiên, BQL đang gặp không ít khó khăn như địa bàn hiểm trở nhưng lực lượng bảo vệ chuyên trách mới có 6 người nên rất trở ngại cho việc quản lý địa bàn rừng rộng lớn.
Ông Dưỡng cho biết, theo QĐ 186/2006 của Thủ tướng Chính phủ thì định suất tối thiểu 1.000 ha có 1 chuyên trách BVR nhưng hiện BQL của ông chỉ có 6 chuyên trách BVR. Cùng với đó là công việc thường xuyên túc trực 24/24 giờ ngoài rừng, kể cả ngày lễ tết, nhưng anh em không có chế độ phụ cấp ưu đãi, thâm niên nghề, công vụ, độc hại...
Ông Nguyễn Quân Chính, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị đã đánh giá cao kết quả mà BQL RPH lưu vực sông Thạch Hãn đạt được. Theo ông Chính, BQL người ít, quản lý rừng nhiều, ngân sách đầu tư lại ít nhưng công việc họ đã hoàn thành như bấy lâu nay là sự cố gắng rất đáng ghi nhận. Tỉnh sẽ nghiên cứu giúp BQL tháo gỡ dần những khó khăn để hoạt động hiệu quả tốt hơn nữa. (Nông Nghiệp Việt Nam 5/9) đầu trang(
Nhờ tạo điều kiện sinh kế ổn định, cùng với lực lượng chức năng, cộng đồng dân cư của tỉnh Quảng Nam tham gia rất tích cực trong công tác quản lý, bảo vệ rừng (BVR).
Vùng tây Quảng Nam đã có những gam màu sáng về phát triển kinh tế rừng. Sự “lên ngôi” của các loại cây trồng phục vụ nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến đã vực dậy, hồi sinh bao vùng đất nghèo. Người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số bây giờ hưởng lợi từ nhiều chính sách hỗ trợ của Nhà nước về công tác khuyến lâm. Tuy nhiên, đồng bào không thể gắn bó lâu dài với rừng nếu rừng chưa đem lại lợi ích thiết thực cho cuộc sống của họ.
Tính đến thời điểm này, người dân được nhận tiền quản lý BVR nhiều nhất là từ chủ đầu tư các dự án thủy điện (số tiền thực nhận của mỗi hộ thấp nhất vài triệu đồng/năm). Đây là trách nhiệm chi trả dịch vụ môi trường rừng mà các dự án thủy điện bắt buộc phải thực hiện. Trước đây, tiền hỗ trợ BVR rất thấp (25 nghìn/ha/năm), tuy nhiên đã cắt chi phí này từ lâu. Hầu hết người dân xem giữ rừng chỉ là nghề “tay trái”. Những sản vật từ rừng mới chính là “nồi cơm bát gạo” của đồng bào dân tộc thiểu số.
Theo một cuộc khảo sát mới đây của Trung tâm Phát triển sáng kiến cộng đồng và môi trường (C&E) thuộc Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam tại một số xã thuộc hai huyện Đông Giang và Nam Giang, có hơn 76% người dân cho rằng đã trực tiếp phá rừng, hoặc khai thác củi, dược liệu, thức ăn trong rừng tự nhiên.
Các huyện Nam Trà My, Tây Giang bước đầu đã thành công trong triển khai trồng sâm, ba kích dưới tán rừng. Các mô hình như trồng mây, cây dược liệu ở một số huyện miền núi khác cũng chỉ mang tính nhỏ lẻ, thực nghiệm.
Theo ngành chức năng, sự vận dụng mô hình nông – lâm kết hợp sẽ là giải pháp tối ưu để đồng bào miền núi giảm nghèo nhanh, bền vững. Lấy rừng nuôi rừng, tạo ra sự đa dạng sinh học trong rừng, mạnh dạn đưa các mô hình sản xuất, chăn nuôi vào rừng, giúp đồng bào ổn định sinh kế là cách tốt nhất để họ không “quay lưng” lại với rừng.
Thời gian qua, thông qua đơn vị C&E, các huyện miền núi tổ chức nhiều lớp tập huấn, đào tạo nâng cao năng lực quản lý, BVR dựa vào cộng đồng cho cán bộ lâm nghiệp, kiểm lâm địa bàn, trưởng thôn, bí thư chi bộ, già làng, trưởng ban công tác mặt trận thôn, các nhóm hộ, hộ có tham gia BVR. Nội dung chính để trang bị kiến thức cho cộng đồng tiếp cận toàn diện các kỹ năng về BVR; hướng dẫn một số kỹ thuật trồng trọt, đem lại thu nhập cho người dân.
Theo C&E, phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng tây Quảng Nam đều nghèo nên cốt lõi phải giải quyết việc an sinh tại chỗ. Đơn vị phối hợp với các địa phương mở hàng loạt lớp đào tạo các kỹ năng cơ bản về quản lý, BVR cho người dân như kỹ thuật trồng, chăm sóc cây, con trong rừng tự nhiên để giúp họ có thể khai thác được các sản vật khác trong rừng như mật ong, măng rừng, khai thác song mây…
Đến nay, toàn tỉnh có 249 đơn vị cộng đồng dân cư của 46 xã, thuộc 8 huyện miền núi được giao 160.540ha đất rừng. Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, các huyện miền núi có địa hình đồi dốc trắc trở nên việc xác định ranh giới cho từng loại rừng gặp khó khăn, nhất là thông tin về trạng thái rừng giàu – nghèo.
Trong khi đó, nhu cầu sử dụng gỗ rất lớn làm tăng sức ép vào rừng, dẫn đến tình trạng khai thác, vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép ngày càng phức tạp. Các công trình phát triển cơ sở hạ tầng miền núi như đường giao thông, nhà máy thủy điện mọc lên là điều kiện thuận lợi để lâm tặc lợi dụng phá rừng.
Thêm nữa, phần lớn người dân miền núi còn nghèo, sống chủ yếu dựa vào rừng. Ngành kiểm lâm cũng thừa nhận, cơ chế, chính sách hiện nay chưa thể khuyến khích người dân tham gia BVR, hoặc mạnh dạn trồng các loại cây có hiệu quả kinh tế khác xen trong rừng tự nhiên.
Những năm gần đây, ngành kiểm lâm chủ động dựa vào sức mạnh của cộng đồng dân cư để giữ rừng. Nhiều quy chế phối hợp giữa kiểm lâm với các hội, đoàn thể, mặt trận trong công tác BVR được triển khai rất hiệu quả.
Theo ông Từ Văn Khánh, Trưởng phòng Quản lý - bảo vệ rừng (Chi cục Kiểm lâm tỉnh), từ quy chế phối hợp, kiểm lâm đã có thêm nhiều lực lượng đồng hành tham gia giữ rừng. Chỉ tính từ đầu năm 2012 đến nay, cả tỉnh có 223 thôn và cộng đồng dân cư xây dựng quy ước BVR; 15.360 hộ sống trong, ven, gần rừng ký cam kết thực hiện công tác quản lý BVR; 537 bản cam kết đã ký với các nhà hàng và các hộ dân không săn bắt, buôn bán trái phép động vật hoang dã và sản phẩm của chúng; 689 chủ cơ sở cưa xẻ gỗ cam kết không vi phạm lâm luật.
“Trước đây, kiểm lâm đơn độc giữ rừng thì nay từ sự kêu gọi cộng đồng xã hội chung tay góp sức giữ rừng nên số vụ vi phạm lâm sản đã giảm rõ rệt. Một số “điểm nóng” phá rừng trọng điểm đã hạn chế, thay vào đó là nhận thức về BVR trong cộng đồng dân cư đã chuyển biến tích cực” – ông Khánh nói. (Báo Quảng Nam 6/9) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
"Ở đây có chuyện phục vụ lợi ích nhóm, còn người nghèo, người phụ thuộc vào rừng thì bị ảnh hưởng trực tiếp mà không ai để ý" -GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh, Hội Bảo vệ thiên nhiên môi trường Việt Nam đã chia sẻ với Đất Việt xung quanh câu chuyện phù phép rừng giàu thành rừng nghèo đế lấy gỗ.
Mấy ngày gần đây, báo chí liên tục phơi bày sự thật về việc lợi dụng danh nghĩa trồng rừng hoặc chuyển đổi rừng nghèo để khai thác gỗ. Các tỉnh Tây Nguyên đã chuyển đổi hàng trăm ngàn ha rừng để trồng cao su theo chủ trương này. Giáo sư có bất ngờ với thông tin này không và vì sao? Trả lời câu hỏi này,GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh nói: Câu chuyện này không có gì là mới hay bất ngờ với tôi cả. Lâu nay người ta cứ lấy lý do là rừng nghèo rồi xâm lấn dần.
Trước đây, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa ra tiêu chí cứ dưới 100m3/ha gỗ được cho là rừng nghèo, thành thử các công ty, doanh nghiệp cứ thế xin phá để trồng cây công nghiệp, cao su, tiêu, điều…
Bản thân tôi và nhiều nhà khoa học đã nhiều lần nêu và không tán thành việc này. Dù biết rằng quan điểm phát triển kinh tế là quan trọng nhưng phải cân nhắc và kiểm soát kỹ chứ không phải cứ nói nghèo là phá, thậm chí phá cả cái không nghèo.
Hiện nay diện tích rừng của chúng ta còn hơn 10 triệu ha, chủ yếu là rừng nghèo, thứ sinh. Còn rừng giàu thì chỉ khoảng 0,7-0,8% chứ không nhiều. Nhưng không vì vậy mà có thể phá hết bởi cũng những cánh rừng này giữ lại khoảng 10 – 15 năm nữa lại trở thành rừng giàu.
Thế nhưng về quan điểm phát triển kinh tế tôi thấy rằng rất nhạy cảm, khó nói. Đáng lẽ những người lãnh đạo phải có quan điểm phát triển bền vững, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu như hiện nay. Nhưng rồi không biết vì lý do gì mà rừng vẫn bị phá. Dứt khoát phải có người cho thì họ mới dám làm.
Hơn 10 năm nay nhà nước giao đất giao rừng cho các địa phương tự quản lý, như vậy đồng nghĩa với việc phải bảo vệ. Chứ không nên vì cái này, cái kia, bùi tai thì cứ thế cho làm.
Phóng viên hỏi: Dường như đã có sự "phù phép" từ rừng giàu thành rừng nghèo trước mắt người dân, đại biểu hội đồng nhân dân, đại biểu quốc hội, các vị lãnh đạo tỉnh... Ông có thể lý giải nguyên do từ đâu có sự phù phép kỳ lạ này? Liệu có lợi ích nhóm ở đây không khi thực tế biết rõ phá rừng là lũ lụt, hạn hán tàn phá mà các nhà khoa học đã cảnh báo nhiều năm nay. Ông có biết rừng ở khu vực nào bị tàn phá nhiều nhất, thưa ông?
Trả lời những vẫn đề trên, GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh cho biết: - Về điều này chúng tôi đã nhiều lần đề nghị với nhà nước, Bộ NN&PTNT, Bộ Tài nguyên và Môi trường thế nhưng hình như những cảnh báo không đến được tai các vị lãnh đạo.
Đôi khi cảnh báo của các nhà khoa học không có giá trị. Giống như hiện tượng nóng lên, biến đổi khí hậu được cảnh báo từ 20 năm trước bây giờ đã trở thành hiện thực. Lũ lụt, thiên tai khắc nghiệt, bất thường thì đã thấy rõ. Thế nhưng hình như với các vị thì điều này vẫn xa vời.
Việc khai thác rừng quá mức đã chứng minh sự khủng hoảng năng lượng, khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học quá rõ ràng.
Dù rằng quốc tế, trong nước đã đầu tư rất nhiều tiền mà đây chính là tiền của dân bỏ ra để đầu tư khắc phục nhưng hiệu quả không cao.
Chỉ có một số nơi rất ít bảo vệ được như Đồng Tháp với Vườn quốc gia Tràm Chim ngày càng thu hút được nhiều sếu đầu đỏ trở về.
Những tỉnh phá rừng nhiều là Tây Nguyên, đây là điểm nóng về phá rừng. Trong khi môi trường rừng, hệ sinh thái ở Tây Nguyên cực kỳ quan trọng đối với con người Việt Nam nói chung, đồng bào Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long… bởi vì đây là vùng hạ lưu sông Mê Kông nên rất quan trọng.
Thế nhưng cứ dựa vào mục đích chuyển đổi, địa phương cho phép các doanh nghiệp phá rừng. Chuyện lợi ích nhóm nếu thẳng thắn cũng có thể chỉ ra được nhưng trên thực tế mới chỉ nói mà chưa làm được.
Ở đây có chuyện phục vụ lợi ích nhóm, còn người nghèo, người phụ thuộc vào rừng thì bị ảnh hưởng trực tiếp mà không ai để ý.
GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh khẳng định: Nếu phá như thế này thì vài chục năm nữa rừng rất nguy hiểm. Khi đó sẽ là thảm họa quốc gia chứ không của riêng ai. Người hứng chịu nhiều nhất là người nghèo, phụ nữ và trẻ em.
Các nước bị thảm họa môi trường đã chứng minh rõ rồi. Vì vậy bài học lớn là không thể tùy tiện phá rừng chúng ta cần học hỏi. (Đất Việt 6/9) đầu trang(
UBND tỉnh Quảng Nam vừa phê duyệt Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng Quảng Nam giai đoạn 2011 - 2015 với mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 độ che phủ của rừng đạt khoảng 50%; công tác khoán bảo vệ rừng thực hiện bình quân 169.300ha/năm; khoanh nuôi tái sinh rừng đạt 31.100ha/năm; nuôi dưỡng rừng 85ha/năm...
Kế hoạch đặt ra yêu cầu bảo vệ tốt hệ sinh thái rừng của các khu bảo tồn, nâng cao số lượng và chất lượng rừng phòng hộ, đặc biệt là rừng phòng hộ đầu nguồn các hồ thủy lợi, thủy điện lớn như Phú Ninh, Sông Tranh 2, Đăk Mi, A Vương, Sông Bung. Bình quân mỗi năm trong giai đoạn này trồng và khai thác khoảng 12.500ha rừng trồng, cung cấp đủ gỗ và lâm sản phục vụ chế biến và nhu cầu của người dân.
Đồng thời nâng cao giá trị của gỗ rừng trồng, thông qua việc thực hiện các tiêu chí của quản lý rừng bền vững và công nghiệp chế biến đồ gỗ nội - ngoại thất phục vụ xuất khẩu. Thông qua các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng, sẽ tạo thêm việc làm cho người dân, góp phần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo tại địa phương. (Báo Quảng Nam 6/9) đầu trang(
Ngày 5-9 tại xã Hồ Thị Kỷ (Thới Bình, tỉnh Cà Mau), Công ty Xuất nhập khẩu và chế biến gỗ Cà Mau đã khởi công xây dựng nhà máy than viên và gỗ với tổng mức đầu tư 185 tỉ đồng, dự kiến hoàn thành và đưa vào hoạt động cuối năm 2013.
Khi hoàn thành nhà máy sử dụng khoảng 150.000 tấn gỗ nguyên liệu các loại/năm, bao gồm cả lau sậy và phế phẩm rừng tràm. Hai sản phẩm cho ra từ nhà máy này là than viên và gỗ ghép thanh. (Tuổi Trẻ 6/9) đầu trang(
Năm 2012, Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư tỉnh triển khai mô hình trồng rừng thâm canh keo tai tượng tại xã Trương Lương (Hòa An) với 25 hộ tham gia tại các thôn: Nà Ngàn, Nà Roọc, Bản Chang, Nà Mừa, theo phương thức Nhà nước hỗ trợ giống và phân bón.
Tham gia mô hình, bà con được tập huấn kỹ thuật, quy trình trồng rừng thâm canh. Trước tiên là lựa chọn đúng giống cây tốt, chuẩn bị đất trồng, đào hố đạt tiêu chuẩn, bón phân, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, tỉa dặm hợp lý. Nhờ đó, diện tích trồng keo tai tượng đã sinh trưởng và phát triển nhanh.
Sau 2 năm triển khai dự án cho thấy đây là loại cây dễ trồng, sinh trưởng, phát triển nhanh phù hợp với điều kiện khí hậu, đất rừng và tập quán canh tác của địa phương. Thông qua việc thực hiện dự án giúp nông dân trong xã nhận thức được ý nghĩa của việc trồng rừng, có thêm kiến thức, kỹ thuật để phát triển mạnh nghề trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần cải tạo, bảo vệ đất, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và bảo vệ môi trường. (Báo Cao Bằng 5/9) đầu trang(
Hiện nay, tại xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp (GCN) còn gặp nhiều khó khăn.
Xã có trên 90 ha đất lâm nghiệp, nhưng mới chỉ có 15 ha đã được cấp GCN. Căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp còn gặp rất nhiều khó khăn. Khó khăn nhất trong cấp GCN đất lâm nghiệp đó là gần 31 ha chuyển sang trồng chè có diện tích manh mún, mỗi hộ có từ 3 đến 4 thửa đất, và nhiều thửa có diện tích dưới 0,5 ha nên công tác đo đạc và cấp GCN gặp khó.
Không chỉ với diện tích đất trồng chè mà nhiều diện tích đất lâm nghiệp còn lại cũng có tình trạng 5 đến 6 hộ chung nhau một thửa đất, nhưng chỉ có một người đại diện đứng tên. Nhiều trường hợp chủ hộ đứng tên và có quyết định giao đất nhưng không muốn làm GCN nên gây khó khăn cho các hộ còn lại.
Mặt khác, trước đây chia đất lâm nghiệp lại dựa vào bản đồ tỷ lệ 1/10.000 nên ranh giới không chính xác, không rõ ràng, thời điểm hiện tại đo đạc và xác định lại ranh giới không phải đơn giản. Chi phí đo đạc với đất đồi rừng cao hơn so với các loại đất khác và một phần diện tích đất dốc, xấu nên người dân không mặn mà với việc cấp GCN. Đó là chưa kể một bộ phận nhỏ chưa hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ của việc cấp GCN hoặc không canh tác và đã cho mượn đất, nên vẫn không tự giác đến kê khai, làm thủ tục cấp GCN. (Báo Phú Thọ 5/9) đầu trang(
Chủ trương sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh là đúng đắn, nhưng thực tế, quá trình sắp xếp, đổi mới nông, lâm trường quốc doanh chỉ mới ở mức độ “bình mới rượu cũ”…
Ông Phạm Đăng Hân - Giám đốc Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Yên Bình, tỉnh Yên Bái (Công ty Yên Bình) cho biết: Khi chuyển từ mô hình lâm trường quốc doanh sang công ty TNHH một thành viên, vốn điều lệ của công ty là hơn 3,5 tỷ đồng, nhưng vốn thực tế để hoạt động là không có, trong khi còn phải "ôm" khoản nợ lên tới hơn 6 tỷ đồng. Bởi thế, công ty đã nhiều lần buộc phải khai thác rừng non 4 - 5 tuổi (chưa đến tuổi khai thác) với giá trị thấp, hoặc thế chấp cây trồng trước kỳ thu hoạch.
Theo tính toán của ông Hân, nếu khai thác rừng keo và bạch đàn từ 8 - 10 tuổi thì sản lượng sẽ đạt từ 100 - 150m3/ha, giá bán từ 70 - 100 triệu đồng. Còn khai thác ở thời điểm mới 4 - 6 tuổi thì sản lượng chỉ đạt 30 - 60%/ha và giá bán chỉ ở mức 15 - 30 triệu đồng.
“Từ năm 2004 trở lại đây, nhà nước không cho vay vốn, muốn duy trì hoạt động, công ty phải huy động toàn bộ vốn từ người dân và thậm chí từ chính cán bộ, công nhân viên công ty với hình thức vay lương của họ”, ông Hân nói.
Không chỉ “ôm” nợ, với 17 cán bộ, công nhân viên thuộc diện biên chế, từ năm 2010 đến nay, do không có vốn, số cán bộ khung chỉ còn 8 biên chế, cộng với các diện hợp đồng khác, công ty có 47 lao động, quản lý sử dụng gần 600ha diện tích đất rừng đang chờ đến tuổi khai thác.
Để tháo gỡ khó khăn, nhanh chóng xóa nợ, ông Hân cho biết hiện công ty đang áp dụng 2 hình thức giao khoán trên cơ sở cả 2 bên đều có lợi, thậm chí tạo sự chủ động, tâm lý thoải mái cho người dân nhận khoán.
Đó là, khoán 50/50 trên cơ sở công ty hỗ trợ đất, giống, phân bón còn người nhận khoán chăm sóc và bảo vệ, hưởng lợi ích ngang nhau sau khi thu hoạch. Riêng đối với diện tích ở những khu vực khó khăn, công ty chỉ hưởng lợi 40%, còn lại 60% dành cho người nhận khoán. Hình thức thứ hai là giao khoán thẳng, công ty nhận về 20 - 25% và chỉ làm công tác tư vấn về giống, kỹ thuật và kiểm tra, còn lại khoán toàn bộ cho người nhận khoán.
Với hình thức này, người nhận khoán phải đặt cọc một khoản nhất định với công ty để bảo đảm không bỏ đất và rừng giữa chừng. Đối tượng nhận khoán, ưu tiên công nhân công ty, sau đó mới tính đến phương án giao khoán cho người dân.
Trước đây, Lâm trường Yên Bình hoạt động theo vốn ngân sách nhà nước, được bao tiêu sản phẩm và quản lý 4.442ha. Năm 2006, sau khi sắp xếp lại nông, lâm trường quốc doanh, Công ty Yên Bình chốt sổ diện tích quản lý cuối cùng là 1.800ha. Nhưng đến nay, Công ty Yên Bình chỉ quản lý được hơn 600ha, diện tích còn lại người dân đang khai thác, sử dụng.
Phó Chủ tịch UBND xã Đại Đồng, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái cho rằng, Công ty Yên Bình không đủ sức quản lý, dẫn tới tình trạng dân lấn chiếm đất rừng sản xuất, nhất là khi phần lớn hộ dân trong xã chủ yếu sống dựa vào trồng rừng, còn diện tích đất nông nghiệp rất ít (chỉ có 66ha).
Ông Bùi Xuân Ứng, Trưởng thôn Hồng Bàng, xã Đại Đồng cho biết dân trên địa bàn mà không có rừng thì đói nặng. Trong vòng 2 năm trở lại đây, kinh tế rừng ngày càng phát triển, đời sống người dân được cải thiện rất nhiều.
Anh Nguyễn Cao Sơn, hộ dân có 3ha rừng trên địa bàn bày tỏ, hiện nay, bản thân mỗi người dân cũng được trang bị khá đủ các kiến thức kỹ thuật nên không gặp nhiều khó khăn về kỹ thuật trồng keo, bạch đàn, bồ đề... Nếu so sánh về năng suất, dân còn có thể làm tốt hơn các công nhân của công ty lâm nghiệp. “Chúng tôi mong muốn được giao đất giao rừng lâu dài và ổn định để yên tâm sản xuất, phát triển kinh tế rừng nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung bền vững”.
Để giả quyết mối lo trên, đồng thời góp phần đẩy lùi tình trạng tranh chấp, xâm lấn đất rừng, Giám đốc Công ty Yên Bình và Phó Chủ tịch UBND xã Đại Đồng đều đề xuất cần phải quy hoạch lại lâm trường theo hướng quy hoạch vùng, làm rõ vùng thuộc dân cư, các loại đất xen kẽ khác và đất rừng để quản lý được đồng bộ và hiệu quả.
Ông Hân cho biết thêm, phần diện tích đất rừng tranh chấp, nếu để từng hộ quản lý phần diện tích được giao nhưng nhà nước thắt chắt cơ chế quản lý thì vừa bảo đảm lợi ích của các bên, vừa bảo vệ phát triển rừng bền vững. (Thanh Tra 5/9) đầu trang(
Ngày 5-9 ông Hồ Văn Nam, Trưởng bản Đá Chát (Trường Sơn, Quảng Ninh, Quảng Bình) cho biết, tại phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Ban quản lý rừng phòng hộ Long Đại có 50 hộ dân tràn vào chặt phá rừng nguyên sinh để chiếm đất trồng keo lai.
Tại đây hàng ngàn cây rừng loại lớn bị chặt trụi, nhiều khoảnh rừng bị đốn hạ không thương tiếc. 50 hộ dân vào phá rừng đầu nguồn thuộc hai bản Đá Chát và Bến Đường. Khu vực rừng bị phá là rừng Lệc Doong. Mỗi hộ tự động vào chiếm 2,5ha, hiện cả 50 hộ dân đã chiếm 100ha rừng đầu nguồn, hơn 20ha rừng đã bị phát trắng.
Nơi phát trắng rừng cách chốt kiểm lâm của Hạt kiểm lâm huyện Quảng Ninh và chốt tiền tiêu của Ban quản lý rừng phòng hộ Long Đại hơn 1km nhưng các đơn vị này vẫn không hề hay biết. Lợi dụng tình trạng này, hàng chục lâm tặc đã lẻn vào rừng triệt hạ một lượng lớn gỗ lim, táu và nhiều loại gỗ khác. Có những gốc lim lên đến 2m đường kính. (Sài Gòn Giải Phóng 6/9) đầu trang(
Từ nguồn vốn chương trình giảm nghèo năm 2013, huyện Đông Giang đã hỗ trợ 26 hộ khó khăn của xã Ba 26 cặp nhím giống (mỗi cặp nhím có giá hơn 16 triệu đồng).
Ngoài ra, địa phương còn hỗ trợ 1,2 triệu đồng cho các hộ xây dựng chuồng trại, tập huấn kỹ thuật nuôi nhím. (Báo Quảng Nam 6/9) đầu trang(
Nhằm giúp bà con nông dân trong xã tiếp cận với khoa học kỹ thuật lâm nghiệp, phát triển rừng nguyên liệu, lựa chọn được những giống cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu địa phương, năm 2012 Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Cao Bằng đã triển khai mô hình trồng rừng thâm canh keo tai tượng tại xã Chương Lương.
Mô hình trồng rừng cây nguyên liệu thâm canh (keo tai tượng) đã được thực hiện tại xã Chương Lương từ năm 2012 với 25 hộ tham gia tại các thôn Nà Ngàn, Nà Roọc, Bản Chang, Nà Mừa theo phương thức Nhà nước hỗ trợ giống và phân bón. Khi tham gia mô hình, bà con được tập huấn kỹ thuật, nắm vững quy trình trồng rừng thâm canh từ chọn đúng giống cây tốt, chuẩn bị đất trồng, đào hố đạt tiêu chuẩn, bón phân, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, tỉa dặm hợp lý. Nhờ đó, số diện tích keo tai tượng đã sinh trưởng và phát triển nhanh.
Sau hai năm triển khai dự án cho thấy đây là loại cây dễ trồng, sinh trưởng, phát triển nhanh phù hợp với điều kiện khí hậu, đất rừng và tập quán canh tác của địa phương. Thông qua việc thực hiện dự án đã giúp nông dân trong xã nhận thức được ý nghĩa của việc trồng rừng, có thêm kiến thức, kỹ thuật để phát triển mạnh nghề trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần cải tạo, bảo vệ đất, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và bảo vệ môi trường. (Khuyến Nông VN 6/9) đầu trang(
Thực tiễn sau nhiều năm thực hiện trồng rừng, người dân ở Xín Mần, Hà Giang vẫn chưa sống được từ rừng trồng. Nguyên nhân là do hàng ngàn ha rừng đến tuổi khai thác bán nhưng không có người mua.
Chủ tịch UBND xã Khuôn Lùng (Xín Mần), Hoàng Trung Đức và Bí thư Đảng uỷ xã Nà Chì (Xín Mần), Hoàng Xuân Cởi cho biết: Tới đây có lẽ các chỉ tiêu giao trồng rừng khó có thể thực hiện được. Lý do là: Hiện nay, nếu tính 3 xã phía Nam huyện Xín Mần là Nà Chì, Khuôn Lùng, Quảng Nguyên còn tồn đọng hàng ngàn ha rừng đến tuổi khai thác bán không có người mua. Còn nếu có người mua gỗ rừng trồng thì rẻ như bèo, người trồng rừng không sống nổi từ rừng trồng.
Anh Đức cho biết, nhà anh mới khai thác 1 ha rừng trồng keo gần bước sang tuổi thứ 8. Tổng khai thác được trên 40 m3 gỗ từ rừng mang xuống bán tận xe cho người mua mới được giá 400.000đ/m3. Doanh thu sau gần 8 năm trồng được 32 triệu đồng, trừ chi phí công khai thác, vận chuyển cho người làm và bữa cơm gia đình cảm ơn anh em về giúp còn đút túi gần 7 triệu đồng tiền lãi dòng. Bẩy năm trồng rừng kinh tế, mong ngày mong đêm đến ngày thu hoạch chỉ được có 1 triệu đồng/ha/năm. Anh Đức xót xa, làm rừng vất vả là thế, thu về như vậy, thử hỏi ai sẽ là người trồng rừng tiếp theo?
Ông Hoàng Văn Tị, thôn Nậm Phang cho hay, gia đình ông vận động anh em họ hàng về giúp trồng trên 10 ha rừng keo lai từ năm 2007 đến nay, cây đã đến tuổi khai thác bán nhưng không ai mua, để thời gian nữa cây sẽ rỗng ruột.
Ông Tị than: Ngày trước hăng hái trồng rừng là thế... Bây giờ người ta vẫn tuyên truyền vận động người dân trồng rừng, nhưng hít không khí, uống nước suối trước nhà để trồng rừng nữa hay sao? Không riêng gia đình ông Tị, thôn Nậm Phang hiện có cả trăm ha rừng trồng keo lai nay bán không ai mua. (Báo Hà Giang 5/9) đầu trang(
Nguồn tài nguyên rừng suy giảm, hệ sinh thái rừng đang bị mất đi, nguồn đa dạng sinh học rừng đang có nguy cơ mất cân bằng và có khả năng bị phá vỡ… đó là những gì đang diễn ra trên những cánh rừng của khu vực huyện Mường Chà và các vùng lân cận.
Từ năm 1990 đến nay, dưới sức ép gia tăng dân số cùng tình trạng khai thác lâm sản, săn bắn thú rừng trái phép và phá rừng làm nương đã làm cho tài nguyên rừng của huyện Mường Chà bị suy giảm một cách nhanh chóng. Nhiều diện tích rừng phòng hộ, rừng nguyên sinh, rừng già, rừng tái sinh bị tàn phá và xóa sổ.
Cũng vì thế các loại cây gỗ quý gần như không còn. Hiện chỉ còn lại một số loại cây lấy gỗ như: Pơ mu, Lim, Mạy phay… song số lượng cũng không còn đáng kể. Đặc biệt, cây Pơ mu chỉ còn số lượng ít ỏi và tập trung ở những nơi địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn. Còn đối với loại cây lấy gỗ khác như: Chò chỉ, Lát hoa, Dổi hương thì đã bị xóa khỏi danh sách.
Hiện nay, công tác bảo vệ và phát triển vốn rừng trên địa bàn huyện Mường Chà còn gặp rất nhiều khó khăn như: Diện tích và chất lượng rừng còn nghèo, khả năng hồi phục yếu, nhiều loại động, thực vật quý hiếm và sinh vật đã bị mất đi; trình độ dân trí còn hạn chế, tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao; nguồn kinh phí đầu tư khoanh nuôi bảo vệ quá thấp, chưa thật sự khuyến khích được người dân tham gia bảo vệ rừng; tình trạng khai thác lâm sản trái phép vẫn còn diễn ra; một số cấp ủy chính quyền địa phương vẫn chưa thật sự quan tâm đến việc phát triển nguồn tài nguyên rừng.... (Đài PT - TH Điện Biên 6/9) đầu trang(
Tin từ Phòng Cảnh sát giao thông (CSGT), Công an tỉnh Quảng Bình ngày 4.9 cho biết, đã làm thủ thục bàn giao số gỗ lậu bắt giữ được cho Đội kiểm lâm cơ động số 1, Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình tiếp tục điều tra, xử lý.
Trước đó, ngày 2.9, tại Km 628 trên QL 1 (đoạn qua địa phận xã Bắc Trạch, huyện Bố Trạch), tổ tuần tra kiểm soát của Phòng CSGT phát hiện xe ô tô tải mang biển số 29Z-0161 do Đinh Xuân Dương (ở Hải Dương) điều khiển đi theo hướng nam - bắc đang dừng bên đường với những dấu hiệu nghi vấn.
Tổ CSGT tiến hành kiểm tra phương tiện và phát hiện trên xe chở 25 tấm gỗ dổi (khoảng 3 m3) nhưng không có nguồn gốc, thủ tục giấy tờ hợp pháp. Tổ CSGT đã lập biên bản và niêm phong phương tiện, tang vật, đưa về trụ sở. (Thanh Niên 5/9) đầu trang(
Trong lúc dọn nhà, ông Lưu Đình Võ (51 tuổi, trú tại Tổ dân phố I, Phường Ngọc Xuyên, Quận Đồ Sơn, Thành Phố Hải Phòng) đã phát hiện trên cầu thang gỗ hoa Ưu Đàm 3.000 năm mới nở một lần.
Kể về loài hoa này, ông Võ cho biết: “Trong lúc lau cầu thang ở tầng 3 nhà mình, thì bất ngờ ông phát hiện ra 3 nhánh hoa nhỏ li ti, thân mảnh có màu trắng rất nhỏ và dài khoảng gần 1cm mọc trên thanh gỗ cầu thang. Theo quan sát, hoa chỉ có duy nhất 1 thân và 1 hoa mọc ngang ra song song với mặt đất.
Nghi đây là loài hoa Ưu Đàm, ông đã vào mạng tìm hiểu thông tin và thấy hình ảnh hoa Ưu đàm giống y hệt 3 nhánh hoa nở ở nhà mình. Từ khi thấy hoa lạ nở ở gia đình, tin tức đồn xa, đã có đông đảo gia đình, bạn bè hiếu kỳ tìm đến xem. (Theo Infonet 5/9) đầu trang(
Ngày 5/9, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum cho biết: 8 tháng đầu năm 2013, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 342 vụ phá rừng trái phép, với diện tích thiệt hại là 75,25ha.
Trong đó, phá rừng làm nương rẫy là 336 vụ, với tổng diện tích 75,19ha (diện tích rừng tự nhiên 72,97ha; rừng trồng 2,22ha) và phá rừng với mục đích khác là 6 vụ, với diện tích 0,06ha (diện tích rừng tự nhiên).
Trong các vụ vi phạm phá rừng nêu trên, huyện Tu Mơ Rông có 31 vụ, với tổng diện tích thiệt hại 0,77ha; huyện Kon Rẫy 6 vụ, tổng diện tích 0,64ha; huyện Sa Thầy 40 vụ, tổng diện tích 5,35ha; huyện Ngọc Hồi 1 vụ, tổng diện tích 0,2ha; huyện Đắk Hà 6 vụ, tổng diện tích 0,57ha; huyện Đắk Glei 133 vụ, tổng diện tích 48,13ha; huyện Kon Plông 123 vụ, tổng diện tích 19,5ha; thành phố Kon Tum 1 vụ, tổng diện tích 0,06ha; huyện Đắk Tô 1 vụ, tổng diện tích 0,018ha.
Theo nhận định, dẫu lực lượng kiểm lâm trong tỉnh đã tăng cường trách nhiệm trong công tác quản lý và bảo vệ rừng, song tình hình phá rừng trái phép trên địa bàn tỉnh Kon Tum có chiều hướng tăng hơn trước. (Thanh Tra 6/9) đầu trang(
Ngày 5/9, Công an huyện Quế Võ cho biết, trong khi kiểm tra nhà Phạm Thị Tình, ở huyện Quế Võ đã phát hiện và bắt đối tượng Phạm Văn Minh, trú ở TP Bắc Ninh về hành vi tàng trữ, mua bán 14 cá thể rắn hổ mang chúa quý hiếm. (Nhân Dân 6/9) đầu trang(
Mới đây, Công huyện Vân Canh đã phát hiện và ngăn chặn kịp thời việc một số người lén lút tự chế súng bắn đạn bi bằng hơi cồn để săn bắn thú rừng.
Từ tháng 8.2013 đến nay, trên địa bàn huyện Vân Canh chưa phát hiện người lén lút sử dụng loại súng tự chế vào việc săn bắn thú rừng. Tuy nhiên, CA huyện Vân Canh vẫn tiếp tục tăng cường vận động quần chúng cảnh giác phát hiện, báo cáo cho CA địa phương các trường hợp tự chế và sử dụng súng tự chế săn bắn trái phép. (Báo Bình Định 6/9) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Ngày 2/9, một vụ tràn dầu quy mô lớn đã xảy ra gần bờ biển phía Bắc đảo Corsica của Pháp, theo đánh giá ban đầu vết dầu loang rộng tới hơn 40km2.
Lực lượng tuần tiễu trực thăng là đơn vị đầu tiên phát hiện vệt dầu trên mặt biển có chiều dài 43km và rộng 1km, vùng nước bị ô nhiễm loang về phía Tây, là hướng khu bảo tồn thiên nhiên Scandola, được Tổ chức Khoa học, Giáo dục, Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là di sản thiên nhiên thế giới.
Khu vực trên gồm 2.000ha trên đất liền và 2.400ha mặt biển, riêng vùng biển rất giàu cá, ngoài ra cách bờ biển vài chục hải lý còn là nơi trú ngụ của các đàn cá heo.
Đại diện Cơ quan quản lý bờ biển thành phố Toulon Yann Bizien cho biết hiện chưa xác định được nguồn gốc tràn dầu, nhưng có thể là hệ quả của việc bốc dỡ hàng từ trên tàu thủy xuống, do đó vệt dầu loang không quá rộng và sâu, và còn quá sớm để lo sợ một nguy cơ đe dọa môi trường và khu vực di sản thiên nhiên UNESCO.
Hiện Pháp đã cử hai tàu hải quân đến hỗ trợ việc thu dầu bị tràn, làm sạch nước vùng biển bị ô nhiễm, tuy nhiên bờ biển vùng đảo Corsica là bờ biển núi đá nên rất khó tiếp cận để đưa ra các chỉ số chính xác về thành phần chất ô nhiễm có trong nước. (VietnamPlus.vn 5/9) đầu trang(
Theo nghiên cứu mới của các nhà khoa học Mỹ, hành tinh ấm hơn sẽ làm cho số vụ cháy rừng tại Mỹ xảy ra nhiều hơn.
Các nhà khoa học môi trường tại Trường Đại học Havard của Mỹ dự báo, đến năm 2050, mùa cháy rừng sẽ kéo dài thêm 3 tuần, với tần suất các vụ cháy rừng tăng và sẽ thiêu rụi một vùng rộng lớn tại miền Tây nước Mỹ.
Dựa trên đánh giá điều kiện thời tiết và các đám cháy rừng, các nhà khoa học Mỹ kết luận, kể từ những năm 1970, cháy rừng ở miền Tây nước Mỹ ngày càng tồi tệ. Cuối tháng 6 năm nay, một đội lính cứu hỏa tinh nhuệ cuả Mỹ gồm 19 người đã thiệt mạng khi chống chọi với trận cháy rừng dữ dội ở bang Arizona do thời tiết nắng nóng và hanh khô.
Cháy rừng cũng gây ảnh hưởng tới chất lượng không khí. Chính phủ Mỹ mới đây đã đặt mục tiêu giảm 3 tỉ tấn khí thải CO2 vào năm 2030 và đầu tư 8 tỉ USD vào các ngành công nghệ phát triển năng lượng xanh.
Cơ quan Bảo vệ môi trường cũng đưa ra những quy định mới để buộc các nhà máy điện cũ và mới phải hạn chế đốt nhiên liệu hóa thạch, qua đó giảm khí thải CO2 xả ra môi trường. (VOV 6/9) đầu trang(
Tờ China News ngày 5/9 đưa tin, hôm 3/9 ông Lương Tài, một người dân thôn Đông Sơn thị trấn Tây Cảng huyện Tu Thủy tỉnh Giang Tây, Trung Quốc khi đi đào cát ở con suối trong thôn phát hiện ra một thân cây cổ thụ khổng lồ.
Thân cây này dài 20 mét, đường kính thân cây 1,6 mét. Theo các chuyên gia lâm nghiệp địa phương, cây gỗ này có tuổi đời từ 700 đến 800 năm, theo phán đoán ban đầu thì đây là một cây phong dương, nặng khoảng 80 tấn và đã bị chôn vùi trong lòng đất khoảng 500 năm.
Toàn bộ phần rễ cây đã hóa lũa có màu đen hoặc xám tro. Ông Viên Kiến Căn, một kỹ sư lâm nghiệp huyện Tu Thủy cho biết, hơn 1000 năm trước khu vực này là một cánh rừng nguyên sinh có nhiều gỗ lớn.
Cây gỗ được phát hiện có giá trị nghiên cứu khá cao về những biến thiên địa chất, khí hậu trong khu vực.
Chính quyền địa phương đã phái người canh giữ, bảo vệ cây gỗ quý và lên phương án vận chuyển nó bàn giao cho sở Lâm nghiệp Giang Tây nghiên cứu. (Giáo Dục VN 5/9) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa