|
Ngày 04 tháng 09 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
4/9, tại đường 74 (thuộc địa phận xã A Roàng, huyện A Lưới), lực lượng CSMT đã mật phục tiến hành bắt giữ xe ô tô mang BKS 75C 00989 do tài xế Đoàn Quang Viễn (SN 1971, trú tại TP. Huế) chở 28 phách gỗ chò (thuộc nhóm 3) với khối lượng hơn 2,5m3.
Số gỗ trên được tài xế vận chuyển từ trong đường 74 hướng về TP. Huế để tiêu thụ. Khi lực lượng CSMT kiểm tra, tài xế xe không xuất trình được giấy tờ, hồ sơ hợp lệ, lô gỗ trên không có dấu búa của kiểm lâm.
Theo khai nhận ban đầu của tài xế Viễn, số gỗ trên được vận chuyển cho một người ở TP. Huế. Hiện, số gỗ trên đã bàn giao cho Hạt Kiểm lâm huyện A Lưới để tiến hành xử lý. (Nông Nghiệp Việt Nam 4/9) đầu trang(
Cá thể thông nước (thủy tùng) cuối cùng trên thế giới hiện chỉ còn ở rừng đặc dụng Ea Ral (huyện Ea-H’leo) và Trấp K'sơr (huyện Krông Nang) với tổng cộng 161 cá thể, những cá thể thông nước này đang được bảo vệ vô cùng nghiêm ngặt.
Để bảo vệ loài cây quý hiếm này, ngày 19-1-2011, UBND tỉnh Đắc Lắc phê duyệt Dự án bảo tồn loài - sinh cảnh thông nước giai đoạn 2010-2015. Mặc dù vậy, mãi đến tháng 8-2012, dự án này mới chính thức được triển khai hoạt động với việc ra mắt Ban quản lý Khu bảo tồn loài - sinh cảnh thông nước với vẻn vẹn chín biên chế chính thức.
Ngày đầu thành lập, ban nhận bàn giao khu rừng đặc dụng Ea Ral này từ Hạt Kiểm lâm Ea H'leo. Theo quy hoạch, khu rừng này có diện tích 40 ha, trong đó thông nước tập trung chủ yếu trong 3 ha khu vực hồ Ea Ral.
Vì đặc tính của thông nước sinh trưởng trong sình lầy, rất khó đi tuần tra cho nên các cán bộ kiểm lâm đã có sáng kiến mua ván bìa, tận dụng gỗ tạp... để đóng thành những "con đường nổi" ngoằn ngoèo trong bãi sình đến từng gốc thông. Gọi là đường đi nhưng nó giống một cái cầu nổi thô sơ hơn, luôn dập dềnh trên bùn nước. Bảo vệ thông nước khó khăn vất vả là vậy, anh em lại còn phải đối diện với áp lực từ bên ngoài nên vô cùng căng thẳng.
Anh Phạm Văn Quang, cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Lắc cho biết: Thông nước mọc nhỏ lẻ tại các buôn làng xa xôi, hạt kiểm lâm tiến hành giao và thuê chính những hộ gia đình có cây sống trên phần đất của họ trông giữ, trả lương cho họ và yêu cầu họ phải làm chòi cạnh gốc để bảo vệ cây.
Tại thị xã Buôn Hồ có hai cây thông nước được giao cho hai gia đình ông Vĩnh Bảo Hùng và bà Nguyễn Thị Mai quản lý. Mỗi tháng, kiểm lâm trả lương bảo vệ cho mỗi gia đình. Gia đình ông Hùng đã dọn cỏ sạch sẽ chung quanh gốc cây. Cây thông nước cổ thụ thuộc phần đất của gia đinh bà Nguyễn Thị Mai mọc ngay đầu cầu gần thị xã Buôn Hồ và ngay sát mé suối. Để bảo vệ cây quý, bà Mai đã làm hẳn một cái lán ngay dưới gốc cây, cử chồng ra trông coi.
Mới đây, UBND tỉnh Đắc Lắc tiếp tục ban hành Quyết định số 1283/QĐ-UBND, ngày 16-6-2014, về việc phê duyệt Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Khu bảo tồn loài và sinh cảnh thông nước đến năm 2020.
Theo đó, địa điểm quy hoạch tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh thông nước nằm trên địa giới hành chính xã Ea Ral thuộc huyện Ea H'leo; thôn Trấp K'sor, xã Ea Hồ thuộc huyện Krông Năng; xã Cư Né thuộc huyện Krông Búc, tỉnh Đắc Lắc.
Mục tiêu của Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững là: Thiết lập hệ thống quản lý, giám sát và bảo tồn lâu dài loài và sinh vật cảnh quần thể thông nước trên địa bàn tỉnh Đắc Lắc để duy trì và hướng đến phát triển quần thể cây thông nước bền vững phục vụ nghiên cứu khoa học và đời sống; tiến hành các giải pháp bảo tồn cá thể và quần thể thông nước; tạo ra môi trường nghiên cứu khoa học, đào tạo và hợp tác quốc tế để thu hút nguồn lực phục vụ bảo tồn, nâng cao năng lực và giáo dục môi trường...
Tổng mức vốn đầu tư cho Quy hoạch bảo tồn hơn 76 tỷ đồng (bằng nguồn vốn Nhà nước và nguồn khác). Hy vọng với sự quan tâm đặc biệt, thông nước sẽ được bảo vệ và phát triển để phục vụ nghiên cứu khoa học. (Nhân Dân 4/9, tr2) đầu trang(
Tình trạng khai thác rừng trái phép ở nhiều địa phương đang dấy lên hồi chuông cảnh báo về công tác bảo vệ rừng tại những khu bảo tồn, rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng.
Tuy nhiên, lực lượng kiểm lâm và người dân sống quanh khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Ngọc Sơn - Ngổ Luông (Hòa Bình) đã có cách làm riêng trong việc bảo tồn, giữ gìn, phát huy những tài sản vốn có từ rừng.
Khi đến Khu BTTN Ngọc Sơn- Ngổ Luông chỉ bắt gặp một màu xanh ngút ngàn. Vậy mà ít ai biết được, từ đây đã có hàng nghìn m3 gỗ bị đốn chặt hàng năm, cho thấy mức độ tàn phá rừng ghê gớm. Mặc cho thời tiết vùng cao thay đổi liên tục, ngày nắng gối ngày mưa nhưng đã một thời từng tốp đàn anh, đàn chị giang hồ vẫn kéo quân "nằm vùng”, sẵn sàng điều quân vào rừng khai thác gỗ khi có cơ hội.
Kiểm lâm viên Nguyễn Trung Thành, hạt Kiểm lâm Ngọc Sơn – Ngổ Luông nhớ lại: Những đối tượng này thường thuê bà con người dân tộc vận chuyển gỗ lậu ra bìa rừng. Người Mường ở đây vốn là những tộc người quen đi rừng, am hiểu địa thế, nắm được những đường đi, lối mòn và các cửa ngõ dẫn vào rừng. Thấy được ưu điểm đi rừng của người bản địa, lâm tặc thường đến tận nhà lân la hỏi chuyện. Khi quen thân, chúng đặt vấn thuê người làm công. Thật thà, chân chất cộng thêm "tiền tươi, thóc thật” được trả hàng ngày, chúng đã lôi kéo được khá nhiều bà con tham gia vào đường dây khai thác, vận chuyển gỗ trái phép của mình.
Nằm trong nhóm lực lượng kiểm lâm thường xuyên tham gia bảo vệ rừng, kiểm lâm viên Nguyễn Bình Định bộc bạch: Rừng chủ yếu trên núi đá vôi, đá tai mèo nên việc tuần tra, bảo vệ rừng không dễ. Anh em kiểm lâm thường phải tổ chức các đợt đi xuyên rừng với những phương tiện được trang bị lạc hậu trong khi lâm tặc sử dụng hệ thống định vị, thông tin liên lạc hết sức hiện đại. Trong rừng, gỗ và nhiều loài động thực vật có giá trị kinh tế cao nên khi bị bắt các đối tượng sẵn sàng chống trả cướp gỗ và phương tiện. Cho đến giờ, anh Định cũng không thể nhớ hết số lần đụng độ với lâm tặc.
Hàng trăm chiếc xe máy, hàng chục m3 gỗ là những tang vật mà hạt kiểm lâm Ngọc Sơn - Ngổ Luông thu giữ được, hiện đang "tập kết” tại sân trụ sở hạt kiểm lâm một lần nữa dấy lên hồi chuông đầy cảnh báo về tình trạng khai thác gỗ trái phép, trong đó có sự tiếp tay của không ít người dân địa phương.
Giám đốc Hạt trưởng hạt Kiểm lâm Ngọc Sơn - Ngổ Luông, Bùi Bình Yên cho biết, cách đây vài năm khi thành lập BQL Khu bảo tồn, tình trạng người dân khai thác rừng tại đây có thể nói vô cùng nghiêm trọng. Cộng với việc đầu tư mở đường từ huyện Tân Lạc sang Lạc Sơn xuyên qua rừng càng làm cho rừng bị tàn phá. Cảnh gỗ rừng chất thành từng đống, ngổn ngang khắp các ngả đường. Mỗi ngày có hàng chục chiếc xe máy tham gia vận chuyển gỗ trái phép ra khỏi rừng.
Trao đổi về vấn đề này, ông Bùi Văn Tường, PGĐ Sở NN&PTNT tỉnh Hòa Bình cho biết: Hòa Bình có 4 Khu bảo tồn thiên nhiên với tổng diện tích 30.000ha, trong đó khu bảo tồn Ngọc Sơn - Ngổ Luông chiếm gần 13.000ha và là khu bảo tồn đa dạng, phong phú nhất. Đây là tuyến đầu dãy Trường Sơn kéo dài từ tỉnh Sơn La cho đến các tỉnh Miền Nam nối liền với rừng Cúc Phương. 4 Khu bảo tồn này chiếm gần 10% diện tích đất trên toàn tỉnh nên đời sống của người dân còn rất khó khăn.
Nhận rõ tầm quan trọng trong việc bảo vệ, gìn giữ rừng, BQL khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông đã tích cực làm tốt công tác tham mưu, phối hợp tuyên truyền, vận động đến hàng nghìn hộ gia đình trong khu vực khu bảo tồn nhằm nâng cao ý thức bảo vệ rừng. Bình quân hàng năm, BQL đã phối hợp với UBND các xã mở hàng chục lớp tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến cộng đồng dân cư, thôn, bản về giá trị của tài nguyên rừng. Mặt khác, xác định việc ngăn chặn, bắt giữ các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng ngay tận gốc luôn là nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị.
Ông Bùi Bình Yên, Giám đốc Hạt trưởng hạt kiểm lâm Ngọc Sơn – Ngổ Luông cho biết: BQL thường xuyên chỉ đạo kiểm lâm đảm bảo 2/3 thời gian có mặt tại địa bàn. Đồng thời, thành lập nhiều chốt kiểm tra cơ động 24/24 tại xã Tự Do, Ngọc Sơn, Ngọc Lâu kết hợp với sự tham gia của chính quyền địa phương nhằm ngăn chặn, bắt giữ và xử lý các hành vi vi phạm rừng. Luật Môi trường sắp tới được thông qua sẽ tạo thuận lợi cho công tác bảo tồn.
Với những cách thức bảo vệ như mời gọi, thu hút đầu tư để bảo tồn, thu hút đầu tư để bảo vệ rừng, động thực vật, nguồn gen quý, thành lập các tổ tự quản, ban tự quản bảo vệ rừng để người dân trực tiếp tham gia... cũng là một trong những biện pháp cần thiết để bảo vệ, giữ gìn tài sản vốn có của rừng. (Đại Đoàn Kết 4/9, tr7) đầu trang(
Theo Sở NNPTNT tỉnh Phú Yên, suốt thời gian qua do lượng mưa quá ít, nắng nóng kéo dài triền miên dẫn đến nguồn nước cạn kiệt, gây ra hạn hán trên địa bàn toàn tỉnh.
Tính đến nay, đã có khoảng 8.720ha lúa hè thu bị thiếu nước phải bơm tưới và triển khai các phương án chống hạn khẩn cấp. Trong đó, TP Tuy Hòa 295ha, TX Sông Cầu 159ha, còn lại các huyện Đông Hòa 972ha, Tây Hòa 1.101ha, Đồng Xuân 868ha, Tuy An 724ha, Sông Hinh 140ha, Sơn Hòa 350ha (nằm trong hệ thống tưới thủy nông Đồng Cam 4.109ha).
Ngoài ra, còn hơn 534ha lúa thuộc các huyện Tây Hòa, Đông Hòa, TX Sông Cầu bị khô cháy nặng, có khả năng mất trắng, các loại cây trồng khác như mía 3.225ha bị hạn, giảm năng suất từ 15-30%; và trên 4.800ha sắn bị hạn không mọc hoặc không phát triển được; hơn 7.000 hộ thiếu nước sinh hoạt, tăng gần 1.000 hộ so với trung tuần.
Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã xảy ra 14 vụ cháy rừng, tăng 10 vụ so với cùng kỳ năm 2013, làm thiệt hại gần 250ha rừng trồng. Ngoài ra đã có hơn 1.460ha rừng trồng bị chết khô do nắng nóng, chủ yếu tại huyện Đồng Xuân, huyện Tuy An và TX Sông Cầu.
Theo phản ánh của các địa phương, do thời tiết khô hạn kéo dài đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến cây trồng, vật nuôi, nguồn nước sinh hoạt của các hộ dân, là nguyên nhân chính dẫn đến các vụ cháy rừng, nhiều nhất là huyện Đồng Xuân có gần 1.000ha.
Tới nay, các địa phương đã phải trích ngân sách gần 29 tỷ đồng tu bổ, nạo vét kênh mương, khơi thông dòng chảy thượng lưu đập dâng, đào kênh dẫn dòng tập trung nước về các bể hút; tăng ca, tăng giờ bơm vượt định mức từ 20 đến 30%; bổ sung các trạm bơm dã chiến, khoan, đào thêm các giếng nước…
Đồng thời chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp các địa phương tăng cường kiểm tra, đôn đốc các chủ rừng thực hiện đúng quy định về bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng; tích cực tuyên truyền, giáo dục nhân dân giữ gìn môi trường rừng, đốt dọn thực bì đúng quy định không xây ra cháy rừng. (Đại Đoàn Kết 4/9, tr5) đầu trang(
Tin từ Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Quảng Bình cho biết, mặc dù đã thắng kiện nhưng ông Nguyễn Văn Toàn (nhân viên Trạm y tế xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch) không yêu cầu bồi thường đối với Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia (VQG) Phong Nha - Kẻ Bàng (xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch).
Trước đó, Hội đồng xét xử TAND tỉnh Quảng Bình đã tuyên hủy quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ lâm sản của Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đối với ông Toàn. Theo đó, ông Nguyễn Văn Toàn là bên khởi kiện, bên bị kiện là ông Đinh Huy Trí - Phó giám đốc Ban quản lý VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, Hạt phó Hạt Kiểm lâm vườn. Tại phiên tòa, ông Đoàn Thanh Bình - cán bộ pháp chế của Hạt Kiểm lâm vườn được ủy quyền làm đại diện tại tòa.
Sự việc xảy ra vào khoảng 9h30 ngày 26.2, tại Trạm Kiểm lâm số 6 (trên đường 20 - Quyết Thắng, xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch), ông Toàn bị lực lượng kiểm lâm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng phát hiện đang vận chuyển trái phép 4kg thịt - được cho là thịt sơn dương trên xe máy mang BKS 73K6 – 3281.
Ông Toàn khai nhận số thịt trên được lấy từ xã Thượng Trạch (huyện Bố Trạch) đem về nhà để ăn. Sau khi phát hiện sự việc, các kiểm lâm viên của Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, bằng mắt thường dùng “nghiệp vụ”, đã khẳng định đây là thịt... sơn dương, sau đó lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ lâm sản đối với ông Nguyễn Văn Toàn, số tiền xử phạt là 15 triệu đồng.
Tuy nhiên, sau khi nhận quyết định xử phạt, ông Toàn đã gửi đơn lên TAND tỉnh Quảng Bình khởi kiện Hạt kiểm lâm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng với lý do số thịt ông vận chuyển trên là... thịt bò chứ không phải thịt sơn dương.
Tại phiên tòa, đại diện cho Hạt kiểm lâm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng là ông Đoàn Thanh Bình - cán bộ pháp chế cho rằng, quyết định trên đúng theo các thủ tục hiện hành và khẳng định tang vật là... thịt sơn dương. Nguyên nhân vì có da, có lông, có hình ảnh chứng minh, còn giá được xác định theo giá thị trường tại thời điểm thu giữ tang vật và đề nghị hội đồng xử lý nghiêm minh người vi phạm.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử lại cho rằng, quy trình xử phạt của Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng thiếu chặt chẽ và chưa đủ cơ sở để xử phạt ông Nguyễn Văn Toàn, như: Không giám định số thịt được phát hiện, bắt giữ là thịt gì mà bằng trực quan và... kinh nghiệm của kiểm lâm viên đã khẳng định đây là thịt sơn dương; khi tự khẳng định đây là thịt... sơn dương, Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đã không lập hội đồng thẩm định giá, trong khi thịt sơn dương không có giá thị trường vì bị cấm buôn bán; tang vật bị bắt giữ không niêm phong; biên bản xử phạt của Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng không ghi rõ thời hạn xử lý và quyền hạn của người vi phạm; không ghi rõ việc Hạt phó được giao quyền trong quyết định xử phạt...
Trước việc hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính của Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng thiếu chặt chẽ như trên, Hội đồng xét xử TAND tỉnh Quảng Bình đã tuyên hủy quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Văn Toàn vì chưa đủ cơ sở để kết luận 4kg thịt động vật mà ông Toàn vận chuyển trên là thịt sơn dương hay... thịt bò.
Tại phiên tòa, đại diện Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng cho rằng trong biên bản giải quyết sự việc hiện trường, ông Nguyễn Văn Toàn đã ký khẳng định số thịt trên là sơn dương và công nhận hành vi vi phạm pháp luật.
Tuy nhiên giải thích về vấn đề trên, ông Toàn cho rằng mình ký vì... bận công việc gấp phải đi. Sau khi nhận quyết định xử phạt, ông Toàn lại khẳng định đây là thịt bò chứ không phải thịt... sơn dương. (Lao Động 4/9) đầu trang(
3-9, Đội Quản lý thị trường số 1, Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Quảng Ngãi đã phát hiện và bắt giữ một xe khách vận chuyển một lượng lớn gỗ trái phép.
Xe tải bị bắt giữ mang biển số 79C-04907 do tài xế Trần Trung Hiếu (29 tuổi), quê tỉnh Phú Yên điều khiển. Chiếc xe khách này vận chuyển 58 phách gỗ (khoảng 4 mét khối) đi từ tỉnh Khánh Hòa ra Bắc, khi qua đến địa bàn tỉnh Quảng Ngãi thì bị Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Quảng Ngãi kiểm tra.
Tài xế mở cửa sau xe thì phát hiện bên ngoài chất hàng trăm vỏ thùng bia, giấy catton cùng nhiều thùng thức ăn, thuốc thủy sản. Lực lượng quản lý thị trường tiếp tục kiểm tra kỹ thì phía giữa thùng xe có rất nhiều phách gỗ được che giấu khá tinh vi.
Qua kiểm không có hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ. Ngay sau đó, Đội Quản lý thị trường số 1, Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Quảng Ngãi đã yêu cầu tài xế đưa xe về bến xe Quảng Ngãi, đồng thời lập biên bản tạm giữ toàn bộ số gỗ này.
Trong sáng cùng ngày, Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Quảng Ngãi đã bàn giao toàn bộ hồ sơ và số gỗ lậu này cho Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục xử lý, xác định loại gỗ và làm rõ vụ vận chuyển gỗ lậu này.
Ông Ngô Tấn Ảnh, Đội trưởng Đội Quản lý thị trường số 1, Chi cục Quản lý thị trường Quảng Ngãi cho rằng, đây là cách vận chuyển gỗ lậu rất tinh vi, nếu không có các biện pháp nghiệp vụ thì rất khó phát hiện. (Khám Phá 3/9; Nhân Dân 4/9, tr7) đầu trang(
Trên Quốc lộ 15A, đoạn qua đèo Khe Nét (thuộc địa phận xã Kim Hóa, huyện Tuyên Hóa), gần chỗ treo khẩu hiệu tuyên truyền “Toàn dân quyết tâm thực hiện tốt Luật Phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ, phát triển, rừng bền vững” có một đống gỗ lớn.
Khi hỏi những người dân ở đây về chủ nhân của số gỗ trên thì họ không cung cấp danh tính. Được biết, Khe Nét thuộc rừng phòng hộ, do Ban Quản lý Rừng phòng hộ Tuyên Hóa quản lý.
Khu rừng này đã được Thủ tướng Chính phủ đưa vào quy hoạch thành khu bảo tồn thiên nhiên. Thế nhưng, những năm gần đây, “lâm tặc” vẫn ngang nhiên phá rừng.
Đề nghị chính quyền địa phương sớm điều tra, làm rõ nguồn gốc đống gỗ nằm cạnh khẩu hiệu tuyên truyền về bảo vệ rừng, đừng để khẩu hiệu này trở thành phản tác dụng! (Quân Đội Nhân Dân 2/9, tr6) đầu trang(
Hơn 1 năm trước, khu du lịch Phù Sa (trên cồn Ấu, P.Hưng Phú, Q.Cái Răng, TP.Cần Thơ) đóng cửa do kinh doanh lỗ lã. Đàn khỉ ở đây từ đó bị lãng quên, bỏ đói nên chúng qua xóm làng lân cận tìm thức ăn, quậy phá.
Khu du lịch (KDL) Phù Sa cách xóm dân cư trên cồn Ấu một con rạch nhỏ. Ven rạch là những dãy bần cao. Người dân ở đây cho biết khỉ từ KDL hay theo những nhánh bần để qua khu dân cư. Khi các hộ dân chặt bỏ nhánh bần để cách ly, đàn khỉ đợi lúc nước xuống thấp lũ lượt lội qua rạch. “Có lẽ chúng đói quá nên mới vậy”, một người dân cồn Ấu nói.
Ông Lê Ngọc Hòa (55 tuổi, ngụ khu vực 1, P.Hưng Phú) cho hay dân cồn Ấu chủ yếu sống bằng nghề nuôi cá và trồng cây ăn trái. Thế nhưng, từ chuối, nhãn, chôm chôm, tới dừa, hoa màu... đều bị “con cháu Tề Thiên” phá. “Hồi trước KDL Phù Sa còn hoạt động, mỗi ngày người ta cho khỉ ăn 2 lần, đàn khỉ thỉnh thoảng có qua quấy phá nhưng ít. Bây giờ bị bỏ đói, chúng đi kiếm ăn khắp nơi”, ông Hòa nói.
Ông Nguyễn Quốc Kia (58 tuổi, bảo vệ ao cá đối diện KDL Phù Sa), kể: “Tháng trước, tôi phát hiện 2 con khỉ rất to đang rình bắt gà của ông Hai Dẫn. Tôi phải rọi đèn pin đuổi thì chúng mới bỏ đi”. Nguy hiểm hơn, ông Kia kể có lần bầy khỉ ngồi trên nóc chòi của KDL, khi khách đi xuồng ngang, chúng gỡ ngói chọi xuống, rất may là không trúng ai... “Trong đàn có con khỉ mặt trắng to gần bằng con người. Cỡ đó nó mà vật con nít là chết”, một người dân ở cồn Ấu lo ngại.
Trước nạn khỉ quấy khá, người dân cồn Ấu tìm nhiều cách để đối phó nhưng không hiệu quả. Nhà ông Tư T. trồng dừa, chuối, cam, đu đủ... liên tục bị khỉ phá, đã giăng bẫy thòng lọng để bắt. Sáng ra, ông T. thấy chiếc bẫy bị gỡ, dây treo lủng lẳng, còn cây trái trong vườn tiếp tục bị phá. Theo những người dân ở cồn Ấu, đàn khỉ tại KDL Phù Sa có đến hàng trăm con, nhưng có nhóm thợ săn từ nơi khác đến bắn hạ hàng loạt khi chúng qua cồn Ấu kiếm thức ăn.
Trên thực tế, KDL Phù Sa vẫn có một nhóm người trông giữ. Ngày 27.8 chúng tôi đến liên hệ nhưng vừa nghe xưng nhà báo thì nhóm người này hung hăng đuổi đi.
Theo ông Hồ An Phước, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP.Cần Thơ, KDL Phù Sa trước đây của Công ty TNHH MTV nông súc sản XNK Cần Thơ (Cataco), được cấp sổ nuôi khỉ phục vụ du lịch. Thế nhưng đàn khỉ được nuôi thả nên sinh sôi rất khó kiểm soát số lượng. Liên hệ với Cataco, chúng tôi được một nhân viên công ty cho biết “công ty sắp giải thể rồi. Tụi tôi còn... chưa biết về đâu, nói gì đến đàn khỉ”. (Thanh Niên 4/9, tr13) đầu trang(
3-9, ông Nguyễn Đại Phú, Giám đốc Vườn quốc gia Bù Gia Mập (huyện Bù Gia Mập) cho biết, sau khi Báo đăng bài "Bình Phước: Nhà máy thủy điện nợ tiền dịch vụ môi trường rừng, 152 hộ nhận khoán bảo vệ rừng khốn đốn", vừa qua quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Bình Phước đã tạm ứng gấp 1,4 tỉ đồng, từ nguồn ngân sách tỉnh cho Vuờn để chi trả tiền lương cho các hộ nhận khoán bảo vệ rừng theo đúng qui định.
Các hộ nhận khoán bảo vệ rừng đã đuợc chi trả trung bình 2 triệu đồng/tháng/hộ (tương đương 6 triệu đồng/hộ/3tháng).
"Sau khi được nhận lương đã giúp các hộ có tiền chi trả các khoản nợ mua gạo, thức ăn trước đó, đồng thời có tiền mua quần áo, tập vở cho con vào năm học mới. Vuờn cũng đã kiến nghị quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng hàng quý để kịp thời giải quyết khó khăn cho các hộ tham gia bảo vệ rừng, thay vì hằng năm cơ quan điều hành quỹ chi trả cho chủ rừng (Ban quản lý Vườn quốc gia Bù Gia Mập) 2 lần/năm trên cơ sở kết quả kiểm tra, nghiệm thu của cơ quan chức năng có thẩm quyền như hiện nay", ông Phú nói. (Công An Nhân Dân 4/9, tr7) đầu trang(
Đó là anh Đặng Xuân Hoài-Tổ trưởng Tổ bảo vệ rừng của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Trạm Lập bị Nguyễn Xuân Lân (thôn Điện Biên, xã Sơn Lang, huyện Kbang) đánh gãy tay, hiện đang nằm điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Kbang.
Sự việc xảy ra như sau: Vào khoảng 17 giờ ngày 1-9, nhận được tin báo của Phòng Bảo vệ rừng về việc Đội Kiểm lâm Cơ động-Hạt Kiểm lâm huyện Kbang yêu cầu phối hợp bắt gỗ tại nhà ông Đậu Xuân Chiến (làng Điện Biên, xã Sơn Lang, huyện Kbang) lãnh đạo Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Trạm Lập đã cử Đặng Xuân Hoài-Tổ trưởng Tổ bảo vệ rừng và 3 tổ viên: Vũ Xuân Mười, Mai Thế Sáu, Huỳnh Hồng Dương đi làm nhiệm vụ.
Khi đến nơi, mới có anh Luân-Kiểm lâm viên trong Đội cơ động, còn những người khác chưa tới. Lúc này tại nhà ông Lân có anh Thêm-bảo vệ Trường Tiểu học Trạm Lập.
Anh Hoài và anh Luân sang sân nhà ông Đào (cách nhà ông Chiến khoảng 20 mét) đứng chờ anh em trong Đội cơ động đến để làm việc thì ông Nguyễn Xuân Lân (cùng thôn với Đậu Xuân Chiến) đến chỗ anh Hoài gặng hỏi. Thấy anh Hoài không tiếp chuyện, ông Lân cứ bám riết và yêu cầu gặp riêng. Thấy thái độ khó chịu của ông Lân, anh Hoài trả lời không muốn gặp và không có điều gì nói với ông cả. Hai bên lời qua, tiếng lại, ông Lân đã lấy cây vụt tới tấp vào người anh Hoài. Anh Hoài giơ tay đỡ, bị ông Lân đánh mạnh vào tay và bả vai.
Lãnh đạo Công ty đã báo với Trưởng Công an xã Sơn Lang và cho xe chở anh Hoài lên Trung tâm Y tế huyện Kbang cấp cứu. Tại đây, anh Hoài được các y-bác sĩ chẩn đoán bị gãy tay trái và đã được bó bột kịp thời.
Tại nhà ông Chiến, Đội Kiểm lâm Cơ động đã lập biên bản thu giữ 2 sập gỗ dổi (gỗ nhóm III), 1 tấm dài 3,4 mét, rộng 1 mét, dày 0,25 mét; 1 tấm dài 3,4 mét, rộng 0,8 mét, dày 0,24 mét; tổng khối lượng 1,5 m3. Hiện tang vật đã đưa về tạm giữ tại Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Trạm Lập. Vụ việc đang được cơ quan chức năng tiếp tục xử lý theo quy định của pháp luật. (Báo Gia Lai 3/9) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Tại các khu rừng ven biển thuộc đại bàn các huyện Phù Cát, Tuy Phước diễn ra tình trạng chặt phá rừng để đốt lò hầm than. (Nhân Dân 4/9, tr7) đầu trang(
Người dân thôn Uyên Phong (xã Châu Hóa, huyện Tuyên Hóa) vừa được Nhà nước trao quyền sử dụng khu rừng nguyên sinh rộng trên 50ha. Đây là khu rừng mà người dân đã giữ được từ hàng trăm năm nay…
PV được ông Phan Văn Thành – Phó thôn, kiêm tổ trưởng bảo vệ rừng thôn Uyên Phong dẫn vào khu rừng cấm Khe Trổ. Điều làm PV thực sự ngạc nhiên, khi chỉ nằm cách khu vực dân cư non một cây số, nhưng ở đây vẫn tồn tại một khu rừng gần như nguyên sinh.
Ngay ở cửa rừng đã có một gốc một cây sú cao đến hàng chục mét đứng sừng sững, tỏa bóng xuống dòng suối bên cạnh. Càng vào sâu trong rừng, chúng tôi không giấu được sự kinh ngạc bởi rất nhiều cây cổ thụ chắc hẳn có hàng trăm, thậm chí hàng ngàn năm tuổi mọc ken dày, kéo dài tít tắp. Nhiều cây có đường kính trên dưới 1m, cao đến 40m, với dây leo, tầm gửi chen dày.
Thấy PV cứ xuýt xoa vì cây rừng quá đẹp, ông Thành nói như khoe: “Ở đây cũng còn lưu giữ được nhiều loại cây bản địa quý hiếm lắm. Có cả lim xẹt, giẻ lim, nao, sú, dổi, gõ... Nhiều cây có đường kính gốc gần 2m đó. Trên kia có cây nao cao to lắm, ước tính đến hàng chục mét khối gỗ…”.
Theo các cụ cao niên ở làng Uyên Phong, rừng Khe Trổ là nơi cung cấp nguồn nước tưới cho khoảng 50ha ruộng lúa của thôn Uyên Phong và một phần đất sản xuất của thôn Kinh Châu. Đã bao đời nay, nhờ khu rừng mà chưa năm nào diện tích lúa của làng bị thiếu nước.
Ngoài ra, rừng cấm Khe Trổ còn có tác dụng điều hoà khí hậu, giữ môi trường trong sạch, bảo vệ cuộc sống của người dân. Vì vậy từ xưa đến nay, người dân Uyên Phong coi khu rừng như là báu vật của cha ông để lại…
Từ bao đời nay, người dân thôn Uyên Phong giữ được rừng Khe Trổ nhờ một bản hương ước truyền đời của làng. Hương ước với những điều khoản rất nghiêm ngặt; tất cả mọi hành vi xâm hại đến rừng cấm dù chỉ săn bắn một con chim hay chặt một que củi, cũng bị xử phạt nặng. Tuy nhiên, theo ông Thành, hương ước chỉ có tác dụng mạnh với người dân trong làng, còn những “lâm tặc” đến từ các làng, các xã khác thì cũng rất khó để xử lý họ, vì làng không biết lấy “cái lý” gì để phạt họ.
Thế nhưng tình hình hiện nay đã khác, khi thôn Uyên Phong chính thức được UBND huyện Tuyên Hóa ra quyết định trao quyền sử dụng đất và toàn bộ khu rừng trên 50ha này. Đây là kết quả của sự tham gia và phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, cán bộ tư vấn Trung tâm Nghiên cứu kiến thức bản địa và phát triển (CIRD), người dân thôn Uyên Phong và các cơ quan tư vấn lập hồ sơ giao đất.
Ông Châu Văn Huệ - Phó Giám đốc CIRD cho biết, đây là mô hình thứ 2 sau mô hình giao đất rừng cho cộng đồng dân cư người Mã Liềng ở xã Lâm Hóa mà CIRD phối hợpUBND huyện Tuyên Hóa thực hiện thành công, được người dân rất ủng hộ.
Với người dân thôn Uyên Phong, kể từ đây họ thực sự là chủ nhân của rừng Khe Trổ, báu vật của làng giờ đã có chủ. Điều này sẽ giúp người dân có điều kiện giữ gìn và phát triển khu rừng Khe Trổ. (Dân Việt 2/9) đầu trang(
Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Đặng Huy Huỳnh, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường cho biết, trong số 72 cây cổ thụ vừa được Hội đồng Cây Di sản Việt Nam công nhận đủ tiêu chuẩn, có 4 cây lâu năm ở huyện đảo Trường Sa của tỉnh Khánh Hòa.
Cụ thể là 2 cây Mù u ở đảo Sơn Ca và đảo Sinh Tồn; 1 cây Bàng vuông ở đảo Nam Yết và 1 cây Phong ba ở đảo Song Tử Tây. Những cây này đều trên 30 năm tuổi và có những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, sinh học và cảnh quan môi trường.
Ở vùng địa đầu Tổ quốc, Hội đồng cũng xét, chọn được 13 cây trên 500 năm và trên 600 năm tuổi, đủ tiêu chuẩn là Cây Di sản Việt Nam, đó là 4 cây Đa có chu vi thân từ 7m đến 9m, cao trên 30m ở thôn Thiên Hương, thị trấn Đồng Văn; cùng 9 cây Chò chỉ khổng lồ (cao trên 45m, chu vi thân hơn 6m) ở thôn Tắn Khâu, xã Phú Nam, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
Đặc biệt, lần này Hội đồng Cây Di sản Việt Nam còn lựa chọn được 54 cây cổ thụ đủ tiêu chuẩn, trong tổng số 135 hồ sơ cây ở vùng phụ cận chiến khu D, nay là tiểu khu 379 Mã Đà, xã Tân Hòa, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước, do Công ty B58 vừa gửi tới. Đáng chú ý là thành phần những Cây Di sản Việt Nam ở đây khá phong phú (gồm 13 loài), trong đó có 2 cây Kơ Nia ở khoảnh 3 và 1 cây Chiêu liêu ở khoảnh 4 có chiều cao hơn 50m. Ở khoảnh 4 còn có cây Tùng cao 40m, chu vi gốc 11,7m.
Hà Nội cũng có thêm 1 cây được công nhận Cây Di sản Việt Nam lần này, đó là cây Đa hơn 200 năm tuổi, trong khuôn viên đình làng Thọ Sơn, thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức. Nếu tất cả những cây này đều được Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam thông qua, sẽ đưa danh sách Cây Di sản Việt Nam trên cả nước chạm mốc 700 cây. (Quân Đội Nhân Dân 3/9) đầu trang(
Tối 30/8, tại bản Khe Trăn (Phong Mỹ - Phong Điền), Hội khoa học kỹ thuật lâm nghiệp tỉnh, Trung tâm phát triển sáng kiến cộng đồng và môi trường Hà Nội phối hợp Ban quản lý rừng cộng đồng bản Khe Trăn tổ chức Hội thi “Cộng đồng bản Khe Trăn với công tác bảo vệ rừng”.
Đây là cuộc thi giữa các tổ tự quản của bản Khe Trăn với những nội dung: Thi kiến thức, thi năng khiếu - tiểu phẩm, thi múa tập thể và hát. Tất cả các phần thi trên nói về chủ đề lâm nghiệp, về công tác quản lý bảo vệ rừng.
Bên cạnh nâng cao ý thức và trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, hội thi Đồng thời, là dịp để các tổ tự quản giao lưu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm, cách làm sáng tạo trong công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy chữa cháy và phát triển rừng một cách hiệu quả. (Báo Thừa Thiên Huế 31/8) đầu trang(
PơMu, một loài thực vật bậc cao không chỉ có giá trị về đa dạng sinh học mà còn là nguồn gien quý hiếm nằm trong sách đỏ Việt Nam cần được bảo vệ khẩn cấp.
Tuy nhiên, vì là nhóm gỗ quý hiếm có giá trị cao về kinh tế nên những năm gần đây, tình trạng khai thác gỗ Pơ Mu trái phép đã tạo thành điểm nóng của nạn phá rừng tại một số tỉnh Miền Trung – Tây Nguyên.
Thế nhưng, ở tỉnh Ninh Thuận, hiện rừng PơMu vẫn là những cánh rừng nguyên sinh có độ che phủ cao nhất trong hệ thống rừng đặc dụng thường xanh ở đây. Và đây cũng chính là kết quả của việc phát huy sức dân trong công tác quản lý bảo vệ rừng ở vườn quốc gia Phước Bình, tỉnh Ninh Thuận. (VTV Phú Yên 3/9) đầu trang(
Tây Nguyên là quê hương của nghề thuần dưỡng voi, nuôi voi và Hội Ðua Voi mang một nét đặc trưng không thể thiếu của đồng bào Tây Nguyên. Bởi theo quan niệm của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên, voi là con vật linh thiêng, là hiện thân của sức mạnh và sự giàu có của mỗi gia đình, mỗi buôn làng.
Từ một giống vật hoang dã khi được bắt về và thuần dưỡng, dần dần voi trở thành người bạn thân thiết với con người trong đời sống sinh hoạt hằng ngày.
Ðiều đáng tiếc là thời gian gần đây, những cánh rừng Tây Nguyên, quê hương sinh tồn của loài voi đang bị con người tàn phá nghiêm trọng. Ðàn voi rừng phải sống du canh du cư, đàn voi nhà cũng mai một theo thời gian.
Hơn ai hết, những người già ở Nhơn Hòa biết rõ những bước thăng trầm của đàn voi gần 50 con của những năm 70 thế kỷ trước. Số chết vì đạn giặc, số chết vì bệnh hay gục ngã vì bị bòn rút sức lực. Sức voi, thời của voi ở Nhơn Hòa dần đổ theo thời gian.
Năm 2000, một tin vui đến, thắp lên hy vọng cho đàn voi nhà. Công ty Du lịch Gia Lai phối hợp với những chủ voi ở Nhơn Hòa đưa gần 20 con voi vào sử dụng trong các tour du lịch sinh thái.
Nhưng rồi du lịch vắng khách, sự kết hợp đó cũng lụi dần. Voi lần lượt bị bán sang vùng khác. Trong những nỗ lực cuối cùng, công ty này đã thương lượng mua lại 3 con voi, mỗi con có giá 40-50 triệu đồng khi chúng sắp có chủ khác. Sáu nài voi được trả 3 triệu đồng/tháng để giữ voi và phục vụ khi có khách tham quan.
Cả đàn voi nhà gần 50 con từng là niềm kiêu hãnh của người dân Nhơn Hòa nay chỉ còn lại là con số 0 (không). Con voi chỉ còn là một hoài niệm buồn trong từng câu chuyện, qua các bưu ảnh ố màu. Huyền thoại về làng voi duy nhất ở vùng Bắc Tây Nguyên này gần như bị mai một.
Không giấu được nỗi buồn trên khuôn mặt già Nây Tơr bộc bạch: “Ngày trước các làng quanh Nhơn Hòa này đều có voi, làng ít 5-7 con làng nhiều đến 40 voi. Mỗi con voi phải đổi từ 50 đến 100 con trâu, bò.Voi mua về phải cúng nhập gia, được đặt tên như người, khi voi chết được làm lễ cúng an táng một cách thành kính. Với người dân Tây Nguyên, voi không chỉ có công đối với mỗi gia đình, dòng tộc, buôn làng. Voi còn có công đối với đất nước, với lịch sử chống giặc nữa đấy. Mai này Tây Nguyên mất hết voi rồi, mình là người có tội…! Ðến đây tôi thấy khóe mắt ông đỏ lên, giật giật và những giọt nước mắt chực lăn xuống, già làng Nây Tơr thực sự xúc động”.
Theo Trung tâm Bảo tồn voi tỉnh Ðắk Lắk, trong những năm qua, số lượng voi hoang dã lẫn voi nhà của tỉnh giảm rất nhanh. Năm 1980 có trên 550 con thì hiện nay toàn tỉnh chỉ còn khoảng 5 đàn, với số lượng 60-70 cá thể hoang dã. Từ năm 2009 đến nay đã có 17 con voi rừng bị chết, trong đó có nhiều cá thể voi bị săn bắn trái phép để lấy các sản phẩm có giá trị như ngà, lông, da…cũng đang làm cho số lượng voi hoang dã giảm đi nhanh chóng.
Ðàn voi nhà ở Ðắk Lắk cũng đang sụt giảm nghiêm trọng. So với năm 1980 là 502 con thì hiện nay chỉ còn 49 con. Tính riêng từ năm 2007 đến nay, đã có 21 voi nhà bị chết. Voi chết chủ yếu là do bị giết hại; thiếu thức ăn; kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng còn lạc hậu; làm du lịch quá mức dẫn đến kiệt sức... Dự báo, khoảng 20 đến 30 năm nữa voi không sinh sản thì đàn voi nhà ở Ðắk Lắk sẽ hết sạch. Với tốc độ suy giảm như hiện nay, nhiều người đã đặt câu hỏi: Liệu mai này, Ðắk Lắk có còn voi?
Gặp PV tại Buôn Ðôn, ông Ama Thu - già làng ở Bản Ðôn - đã gần 90 tuổi kể về những chuyến săn voi, thuần phục voi cách đây vài chục năm. Ông nói trong giọng tiếc nuối: Voi ngày ấy nhiều vô kể, sống ở rừng, chúng hung dữ và khỏe lắm. Còn bây giờ…
Câu nói bỏ lửng và thay vào đó là tiếng tù người già làng thổi lên - hiệu lệnh của những chuyến săn voi ngày ấy. Cái tù cũ kỹ ngả màu làm từ ngà voi. Ngà voi - hơn hết là thứ mà mọi người ngày nay coi là quý nhất của một con voi to lớn. Ý nghĩ đó đặc biệt hấp dẫn với các thợ săn. Và để có một cặp ngà ưng ý, giá phải trả là một con voi ngã xuống, là tiếng rống lên thống thiết giã từ đồng loại vào giây phút sinh tử cảnh báo đàn voi nên tránh xa lũ thợ săn độc ác, dã man. Voi ngày càng ít đi và phải lẩn tránh con người trong rừng sâu.
Trong những năm qua, hàng chục ngàn hécta rừng ở Buôn Ðôn, Ea Súp, Ea H’leo (ÐắK Lắk), Chư Prông (Gia Lai), nơi nhiều voi rừng sinh sống, đã bị khai tử do tình trạng khai thác rừng trái phép, giao đất rừng cho doanh nghiệp để trồng cao su, cà phê...
Từ năm 2005 đến 2014, diện tích rừng tự nhiên của các địa phương trên có voi hoang dã sinh sống đã giảm trên 20.000ha. Không gian sinh tồn của voi đang bị thu hẹp dần và chúng ngày càng trở nên hung dữ hơn. Ðây cũng chính là lý do khiến cho xung đột giữa voi và người ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó, việc săn bắn trái phép cũng làm giảm đi quần thể voi hoang dã vốn đã ít ỏi.
Thế nhưng tới nay, các vụ voi bị chết, bị bắn giết cơ quan chức mới chỉ tiến hành các bước điều tra rồi để đấy; vẫn chưa có nhóm thủ phạm nào bị các cơ quan tư pháp truy tố, xét xử công khai dù chỉ để trấn an dư luận xã hội.
Trong hành trình nhọc nhằn kiếm cái ăn, voi phải đi dài hơn, đói hơn khiến đàn voi rừng trở nên bạo hơn trong thế quẫn của sự sinh tồn... đã dẫn đến nhiều chuyện đau lòng xảy ra như voi nhà thì dùng vòi quật chết quản tượng (Ðắk Lắk); voi rừng thì hung dữ tấn công con người như ở Gia Lai, Quảng Nam… và đặc biệt là tàn sát cây trồng hoa màu những vùng ven sông, suối và rừng núi ở Ea Súp (Ðắk Lắk); Chư Prông (Gia Lai)…
Voi nhà của cả Gia Lai và Ðắk Lắk đầy vẻ nặng nhọc, già cỗi vì đã qua rồi cái thời phong độ huy hoàng của thứ phong vị đặc trưng - voi Tây Nguyên. Việc nuôi voi ở một số địa phương cũng trái với sự sinh tồn, phát triển của voi vì chúng bị buộc riêng lẻ vào một sợi xích, dài khoảng 50m và thả trong rừng.
Ðôi khi đến phiên mình cho ăn nhưng người chủ ham uống rượu là lập tức... quên ngay. Vậy là voi nhịn đói…Vào độ tháng 4, voi động dục. Chúng hẳn bắt được "hương tình" của nhau nhưng đành bất lực bởi những sợi dây xích oan nghiệt. Tiếng voi nhà động dục rống lên hằng đêm vẫn vọng về, dội vào núi rừng thâm u, vào mỗi vách nhà một cách bi thiết, bất lực.
Theo già làng Kpăh Kleng, một người có nhiều kinh nghiệm nuôi và thuần dưỡng voi, nếu không có một sinh cảnh thích hợp voi khó thụ thai khi nuôi nhốt. Ðiều đó giải thích tại sao trong ngần ấy năm, chúng ta chưa ghi nhận một voi con nào chào đời trong điều kiện nuôi nhốt. Ðã có ý kiến mạnh dạn đề xuất như thụ tinh nhân tạo cho voi; tạo cho voi một không gian để chúng có thể "gần" nhau... Ðặc biệt, chính quyền hai tỉnh Gia Lai và Ðắk Lắk đã tổ chức những Hội thảo xác định những bước đi đầu tiên trong nỗ lực bảo tồn, phát triển voi nhưng vẫn còn... chờ!
Theo PV, biện pháp khoa học và thật khẩn trương để cứu đàn voi nhà trước nguy cơ đàn voi của các tỉnh Tây Nguyên (cũng là của cả nước) khỏi nguy cơ tuyệt chủng nhanh chóng. Ðó là vấn đề bảo tồn phát triển rừng tự nhiên quanh đàn voi nhà, chế độ chăm sóc chu đáo, tăng trưởng sinh sản số lượng voi nhà... và trước mắt nên bớt tận dụng quá tải sức voi và chớ nên để đàn voi nhà bị bán, hoặc hành hương đi xa…
Cứ đà này, hậu thế hẳn ai còn biết đến làng voi Nhơn Hòa từng một thời nổi tiếng ở Tây Nguyên. Rồi những hoạt động lễ hội liên quan đến voi cũng mất dần trong tâm thức người làng voi. Mất voi, có nghĩa là mãi mãi mất luôn "văn hóa voi", mất đi một bản sắc Tây Nguyên. (Năng Lượng Mới 4/9) đầu trang(
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), virus Ebola có thể có trên tinh tinh, vượn, linh dương, nhím, lợn rừng… và thói quen ăn thịt thú rừng là một nguyên nhân dẫn đến đại dịch. Trong khi đó, tại Việt Nam, thú rừng vẫn được người dân vô tư mua bán, giết mổ, tiêu thụ...
Nhà hàng Tây Bắc (khu Văn Mỗ, Hà Đông, Hà Nội) vốn có tiếng về thịt thú rừng. Anh Tuấn, quản lý nhà hàng cho biết, các loại như nhím, lợn rừng vốn là món tủ của nhà hàng thì lúc nào cũng có sẵn, nếu khách hành thích don, dúi hay cầy hương thì phải đặt trước.
Theo báo giá của anh Tuấn, cầy hương 2 triệu đồng/kg (2kg/con), có thể làm hai món hấp và rựa mận; don, dúi khoảng 1,8 triệu đồng/kg, chế biến được nhiều món hơn như: Nấu măng, xả ớt, canh đắng, còn với nhím 440.000đ/kg (10kg/con) thường làm 7 món, như: Cháo, hấp, rựa mận, nậm pịa, nướng, xào lăn và tiết canh. Mỗi ngày nhà hàng có hàng chục lượt khách, ngày cuối tuần nhiều khi phải đặt chỗ trước và đặc biệt những dịp lễ, Tết như 2/9 vừa qua thì nhân viên “bở hơi tai” cũng không kịp phục vụ.
Khi được đặt câu hỏi, thông tin dịch bệnh Ebola có khả năng lây nhiễm qua động vật hoang dã như nhím, lợn rừng… có ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh, anh Tuấn vui vẻ: “Từ trước đến giờ, lúc nào món nhím cũng thu hút khách hàng. Mà Ebola ở tận châu Phi cơ mà, liên quan gì đến mình chứ”.
Không chỉ với Nhà hàng Tây Bắc, ở rất nhiều nhà hàng đặc sản thịt thú rừng tại Hà Nội cũng như khắp các tỉnh, TP khác đều có tình trạng chủ quán vô tư bán, khách vô tư… ăn, bất chấp khuyến cáo từ các chuyên gia y tế về nguy cơ lây truyền bệnh từ động vật hoang dã.
Tại Đà Nẵng, thịt thú rừng chủ yếu bán ở những nhà hàng sang trọng hoặc quán xá ở ngoại ô TP, song hầu như từ thực khách đến người tận tay giết thịt thú rừng đều thờ ơ với khuyến cáo của cơ quan y tế.
“Người ta đặt hàng làm thịt rừng thì mình làm thôi, dịch Ebola chưa lây sang Việt Nam đâu mà sợ. Nghe nói cơ quan chức năng đã chặn đứng dịch từ sân bay cơ mà” - Linh, đầu bếp một nhà hàng trên đường Ngô Quyền, TP Đà Nẵng nói.
Quan sát cách làm thịt thú rừng tại nhà hàng N.K trên đường Nguyễn Tất Thành cho thấy, các đầu bếp tay không đánh vật với các con thú còn sống. Với con dao sắc và đôi tay trần, đầu bếp cắt tiết con vật rồi chế biến, máu me, lông thú bê bết dưới sàn nhà ẩm ướt. Tại TP HCM, nạn buôn bán thú rừng theo kiểu “du kích” đang có dấu hiệu hoạt động rầm rộ trở lại trên vỉa hè một số tuyến đường. Động vật hoang dã dù được bày bán công khai nhưng cơ quan chức năng rất khó truy bắt vì chỉ thoáng thấy lực lượng Công an, Thú y là những đối tượng này xách lồng bỏ chạy hoặc bỏ của chạy lấy người.
Đoạn đường Lê Hồng Phong, thuộc phường 2, quận 10, chưa đến 200m nhưng có đến hai điểm bán thịt thú rừng. Những con khỉ, rùa, rắn… được nhốt trong những chiếc lồng sắt tỏ ra mệt mỏi, nằm bẹp dưới sàn.
Hoạt động mua bán thịt thú rừng diễn ra tương tự trên vỉa hè, lề đường một số tuyến đường như: Góc giao lộ Lê Hồng Phong - 3 tháng 2, Nguyễn Kiệm, Hồng Bàng - Thuận Kiều (quận 10)…
Ngoài ra những tuyến đường cửa ngõ TP HCM khu vực quận Bình Tân, QL22 thuộc địa bàn huyện Hóc Môn, Củ Chi… cũng là những địa điểm giao dịch thịt thú rừng quen thuộc. (Giao Thông 4/9) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
3-9, Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa (Quảng Trị) cho biết, từ ngày 30-8 đến nay, có hơn 30 xe tải, xe container chở gỗ (tạm nhập tái xuất) từ Lào về qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo tập trung tại khu vực cửa khẩu.
Thực hiện Công văn số 8307/BTC-TCHQ của Bộ Tài chính ngày 23-6 gửi Cục Hải quan các tỉnh, thành phố nêu rõ: “Không giải quyết thủ tục thông quan nhập cảnh, thủ tục kẹp chì hải quan đối với trường hợp xe ô tô chở hàng hóa vượt quá trọng tải thiết kế được ghi trong giấy đăng ký xe”, Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Lao Bảo đã nghiêm túc thực hiện việc buộc các doanh nghiệp có xe chở gỗ quá tải trọng phải hạ tải theo đúng quy định trước lúc làm thủ tục thông quan vào nội địa Việt Nam.
Tuy nhiên, do bãi hạ tải ở khu vực cửa khẩu nhỏ hẹp, các phương tiện chở gỗ đi lại khó khăn, các chủ doanh nghiệp chưa thuê được xe để sang tải nên đến thời điểm này chỉ có một số xe đã hạ tải và làm thủ tục thông quan qua cửa khẩu.
Trên tuyến Quốc lộ 9 từ thị trấn Lao Bảo về TP Đông Hà mặc dù các lực lượng chức năng không đặt trạm cân tải trọng, các xe chở gỗ nói trên vẫn chấp hành khá nghiêm túc việc bảo đảm tải trọng để xe được lưu thông thông suốt. (Nhân Dân 4/9; Công An Nhân Dân 4/9; Đại Đoàn Kết 4/9, tr11) đầu trang(
Được hỗ trợ từ Chương trình mục tiêu Quốc gia về nâng cấp và bảo vệ đê điều của Trung ương, với số vốn đầu tư gần 20 tỷ đồng, trong những năm qua, việc trồng và phát triển rừng ngập mặn tại xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong đã đem lại những lợi ích thiết thực cho người dân địa phương.
Sau hơn 4 năm (2009-2014) trồng và phát triển, hiện nay, toàn xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong có hơn 35 hecta diện tích rừng ngập mặn nằm trải dài theo tuyến đê của xã.
Những diện tích rừng ngập mặn được trồng hầu hết đều sinh trưởng và phát triển tốt, góp phần tạo nên vành đai phòng hộ vững chắc, vừa hạn chế xâm nhập mặn, tác động của sóng, triều cường, bảo vệ các công trình thủy lợi, ruộng đồng, vừa cải thiện môi trường sinh thái, gia tăng tính đa dạng sinh học trong vùng.
Đồng thời, đây cũng là môi trường sinh trưởng thuận lợi của các loại thủy hải sản, qua đó tạo thêm nguồn thu nhập đáng kể cho người dân. (Xây Dựng 3/9) đầu trang(
Huyện Na Rì có diện tích rừng tự nhiên và đất lâm nghiệp trên 74.700ha, trong đó có hơn 14.00ha rừng núi đá, là địa phương có tiềm năng và lợi thế rõ rệt về phát triển rừng, những năm qua sản lượng khai thác gỗ trung bình đạt trên 3.100m3/năm.
Để phát huy những tiềm năng đó, Đảng bộ huyện luôn chú trọng chỉ đạo thực hiện công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Để thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn, Đảng bộ huyện đã có sự chỉ đạo quyết liệt trong công tác quản lý khai thác, vận chuyển lâm sản trên địa bàn.
Đặc biệt là với các xã nằm trong Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ và các xã có nhiều lâm sản như Kim Hỷ, Ân Tình… Từ khi có Chỉ thị số 08-CT/TU ngày 02/7/2012 của Ban Thường vụ của Tỉnh ủy về ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản, lâm sản trái phép gây hủy hoại môi trường trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn thì công tác này càng được tăng cường.
Theo đó, trong thời gian qua các ngành chức năng và chính quyền địa phương đã tổ chức 435 lượt truy quét, lập biên bản xử lý 390 vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng; thực hiện xử lý hình sự 04 vụ về hành vi vi phạm các quy định khai thác và bảo vệ rừng.
Bên cạnh đó, cấp uỷ, chính quyền và ngành chức năng của huyện đã đặc biệt chú trọng đến công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia quản lý, bảo vệ rừng. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền các văn bản pháp luật để người dân biết và hiểu được lợi ích của việc quản lý, bảo vệ rừng.
Do đó, cấp ủy các cấp và trực tiếp là Ban Dân vận đã thường xuyên có những buổi thăm nắm tình hình tại các xã có tài nguyên rừng, trực tiếp tuyên truyền đến nhân dân. Các ngành chức năng trên địa bàn huyện cũng đã tổ chức được 260 cuộc tuyên truyền nội dung của Luật Bảo vệ phát triển rừng; tăng cường công tác tuyên truyền về phòng, chống cháy rừng ở khu dân cư.
Công tác trồng rừng được cấp uỷ, chính quyền huyện quyết liệt chỉ đạo thực hiện. Mục tiêu Đại hội Đảng bộ huyện đề ra là mỗi năm sẽ trồng mới 1.700ha rừng, để thực hiện được điều đó các ngành, cấp chính quyền, địa phương đã tập trung triển khai thực hiện Dự án 147; tích cực tuyên truyền, vận động bà con tham gia trồng rừng, tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng trồng cho bà con nông dân, cung ứng đầy đủ giống trong các cụ trồng rừng. Bởi vậy mà trong 2 năm 2011 và 2012 huyện đã thực hiện vượt chỉ tiêu kế hoạch mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện đã đề ra.
Tuy vậy, bước sang năm 2013 vì nhiều lý do cả chủ quan và khách quan, diện tích trồng rừng có phần thuyên giảm, cả huyện chỉ trồng được 839ha. Khắc phục những hạn chế đó, Đảng bộ huyện đã và đang tăng cường chỉ đạo công tác trồng rừng, nỗ lực đạt kết quả cao nhất. Hiện tổng diện tích rừng trồng dự ước đến năm 2015 là hơn 7.500ha.
Xã Hảo Nghĩa có diện tích đất lâm nghiệp là hơn 1.600ha là địa phương có tiềm năng về lâm nghiệp, đặc biệt là tiềm năng về rừng trồng. Trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2010 - 2015, Đảng bộ xã đã đề ra chỉ tiêu là trồng mới 10ha rừng mỗi năm, đến nay qua 4 năm triển khai thực hiện xã đã trồng được hơn 300ha rừng, vượt chỉ tiêu đề ra.
Ông Nông Văn Tuyên- Bí thư Đảng ủy xã Hảo Nghĩa cho biết: Để thực hiện tốt công tác trồng rừng trước tiên phải tăng cường công tác chỉ đạo, tuyên truyền vận động bà con tích cực tham gia; đôn đốc bà con tiến hành tốt các khâu chuẩn bị, xử lý thực bì, trồng đúng kỹ thuật và chăm sóc giai đoạn đầu mới trồng thật tốt.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác quản lý, bảo vệ rừng và trồng rừng trên địa bàn huyện còn một số hạn chế như tình trạng khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép ở các xã có rừng giáp ranh và trong Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ vẫn diễn ra; một số cấp ủy và quần chúng nhân dân chưa thật sự quyết liệt trong việc ngăn chặn các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, còn nể nang ngại va chạm; công tác tuyên truyền, vận động của Ban phát triển rừng xã, thôn đến các chủ rừng chưa được thường xuyên…
Ông Nông Văn Lung- Bí thư Huyện ủy Na Rì cho biết: Để thực hiện tốt hơn nữa các chỉ tiêu phát triển nông - lâm nghiệp trên địa bàn mà Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII nhiệm kỳ 2010 - 2015 đã đề ra, từ nay đến cuối nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện tiếp tục đẩy mạnh công tác lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, ngành chuyên môn đẩy nhanh tiến độ thực hiện, tăng cường công tác kiểm tra, truy quét hoạt động khai thác, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm… (Báo Bắc Kạn 3/9) đầu trang(
30-8, tại địa bàn thị trấn Plei Kần, huyện biên giới Ngọc Hồi (nằm gần vùng ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia), lực lượng Thanh tra giao thông tỉnh phát hiện xe tải 82S-018.34 kéo theo rơmoóc 82R-000.76 có dấu hiệu chở gỗ quá tải, nên đã phối hợp với lực lượng CSGT - Trạm CSGT Ngọc Hồi (Công an tỉnh) tổ chức kiểm tra tải trọng xe.
Qua kiểm tra, xe tải này chở đến 76,43m³ gỗ đã xẻ thành tấm, với các loại gỗ nhóm 3 đến gỗ nhóm 6. Tổng trọng tải xe lên tới trên 70 tấn, trong đó chở đến 53 tấn gỗ, vượt 82% so với tải trọng cho phép. Tài xế Lê Quy Quang (34 tuổi) cho biết, xe này chở gỗ từ địa bàn Kon Tum đi theo đường Hồ Chí Minh xuống Đà Nẵng, sau đó đi theo quốc lộ 1 ra Hà Nội.
Tuy nhiên, xe chưa kịp ra khỏi địa bàn Kon Tum đã bị bắt giữ. Hiện, Thanh tra giao thông tỉnh Kon Tum đã áp tải xe gỗ này quay lại bãi gỗ Đắk Mốt (giáp ranh huyện Ngọc Hồi và Đắk Tô) để hạ tải. (Sài Gòn Giải Phóng 31/8, tr7; Quân Đội Nhân Dân 3/9) đầu trang(
Chiều 3/9, Sở NN&PTNT tổ chức hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Ông Đinh Viết Hồng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh dự và chỉ đạo hội nghị.
Theo báo cáo của Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng, sau 3 năm thực hiện, tổng kinh phí thu được từ các cơ sở dịch vụ môi trường rừng đạt trên 100 tỉ đồng (tính đến tháng 7/2014). Kết quả giải ngân tính đến này là 28.666.762.000 đồng. Trong đó, chi nguồn thu 2 năm 2012, 2013 là 22.255.384.000 đồng; chi tạm ứng nguồn năm 2014 của lưu vực thủy điện Hủa Na và Cửa Đạt là 6.411.378.000 đồng.
Thông qua việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, đã có những tác động tích cực tới các cấp ngành, địa phương và người dân, góp phần đẩy mạnh công tác bảo vệ, phát triển rừng. Tình trạng phá rừng, lấn chiến đất rừng, khai thác lâm sản trái phép giảm đáng kể. Năm 2011, toàn tỉnh xẩy ra 1.366 vụ vi phạm trong quản lý bảo vệ rừng, năm 2012 còn 1313 vụ, năm 2013 giảm còn 1141 vụ...
Bên cạnh đó, nhiều khó khăn, bất cập đã được nêu rõ. Đó là về công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện; công tác phối hợp giữa các sở, ban ngành, các địa phương có liên quan; vướng mắc trong cơ chế chính sách, đơn giá;....
Đặc biệt là cho đến nay vẫn chưa xác định, thống kê xong danh sách các chủ rừng, diện tích rừng trong các lưu vực thủy điện để cấp thẩm quyền phê duyệt; nhất là phần diện tích do UBND xã, hộ gia đình, cá nhân, công đồng thôn bản quản lý (diện tích đã có hồ sơ phê duyệt mới chỉ đạt gần 90.000 ha/315.000 ha).
Đây là nguyên nhân chính của việc thực hiện giải ngân chậm. Hội nghị cũng giành thời gian để đại diện các huyện, chủ rừng; đại diện đơn vị cung ứng và sử dụng dịch vụ môi trường rừng; đại diện tổ nhóm tham gia bảo vệ rừng phát biểu ý kiến. Các ý kiến tập trung nêu lên những vấn đề thực tế phát sinh từ cơ sở và một số kiến nghị, đề xuất cấp thẩm quyền xem xét giải quyết.
Thay mặt UBND tỉnh, ông Đinh Viết Hồng ghi nhận những kết quả đã đạt được, đồng thời chỉ ra những tồn tại hạn chế trong việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Để công tác này được thực hiện tốt hơn trong thời gian tiếp theo, ông Đinh Viết Hồng yêu cầu các cơ quan liên quan cần phải đẩy mạnh công tác truyên truyền, đặc biệt tập trung tuyên truyền trong nhân dân, để nhân dân tham gia bảo vệ rừng tốt hơn; Tổ chức thu đúng, thu đủ và chi kịp thời, đảm bảo đúng theo quy định; Sở NN&PTNT cần tập trung chỉ đạo, huy động nhân lực rà soát ranh giới, diện tích rừng trong lưu vực các thủy điện, hoàn chỉnh hồ sơ giao khoán để UBND tỉnh phê duyệt, tiến tới thực hiện tốt công tác chi trả.
Bên cạnh đó, phối hợp tốt với các sở, ban, ngành liên quan để giải quyết các vướng mắc; Tăng cường công tác thanh, kiểm tra việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng; Làm rõ những khó khăn vướng mắc từ cơ chế chính sách để tỉnh báo cáo chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương xem xét điều chỉnh...
Dịp này, UBND tỉnh đã tặng Bằng khen cho các tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Báo Nghệ An 3/9) đầu trang(
Trong những năm gần đây, nhận thức về vai trò của rừng đã được xã hội quan tâm, đặc biệt việc thực hiện chi trả phí dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) được xem là một trong những giải pháp nhằm duy trì giá trị của rừng, đảm bảo sự công bằng cho chủ rừng, giảm thiểu chi phí hỗ trợ từ ngân sách cho các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR).
Sau gần 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn, huyện Trạm Tấu đã tạo thêm nguồn tài chính bền vững cho công tác BV&PTR, góp phần đáng kể vào cải thiện sinh kế, ổn định đời sống người làm nghề rừng, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số.
Năm 2012, khi bắt đầu thực hiện chính sách, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Trạm Tấu luôn coi trọng công tác tuyên truyền tới người dân các thôn, bản hiểu rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của môi trường rừng, thông tin kịp thời các chủ chương, chính sách của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực BV&PTR. Huyện Trạm Tấu đã tổ chức vận động nhân dân học tập quy chế bảo vệ rừng, Luật BV&PTR, tham mưu cho chính quyền địa phương tuyên truyền rộng rãi về vai trò và tác dụng với xã hội, môi trường, cảnh quan và ảnh hưởng trực tiếp đối với đời sống con người.
Ban quản lý rừng phòng hộ huyện - đơn vị được giao trực tiếp thực hiện chi trả DVMTR đã hướng dẫn các nhóm hộ nhận khoán xây dựng kế hoạch tuần tra canh gác kịp thời phát hiện và xử lý các vi phạm liên quan đến công tác bảo vệ rừng. Qua các đợt tuyên truyền, nhận thức người dân từng bước được nâng lên, hạn chế tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, phát nương...
Ông Đinh Thanh Ba, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Trạm Tấu cho biết: "Với gần 33.000 ha nằm trong lưu vực được chi trả DVMTR, mỗi năm người dân sống bằng nghề rừng ở Trạm Tấu có thêm 645 triệu đồng. Số tiền chưa phải là lớn, nhưng kết hợp với các nguồn thu khác cũng góp phần không nhỏ ổn định sinh kế cho người dân.
Việc thực hiện chính sách chi trả ở Trạm Tấu cũng còn nhiều khó khăn, với địa hình núi cao, độ dốc lớn và bị chia cắt mạnh bởi các hệ thống suối nhỏ, đất đai dễ bị xói mòn, rửa trôi, gây sạt lở đất, lũ ống, lũ quét vào mùa mưa, trong khi đó, diện tích rừng bảo vệ nằm xa khu dân cư dẫn đến nhiều khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng. Đặc biệt, tập quán du canh du cư lâu đời, người dân sống phân tán trên núi cao nên công tác tuyên truyền còn nhiều hạn chế".
Sau gần 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR, hoạt động này ở Trạm Tấu bước đầu đã đi vào quỹ đạo. Tuy nguồn thu còn khiêm tốn nhưng cũng góp phần tăng thêm thu nhập cho người dân. Theo ông Đinh Thanh Ba, việc gắn kết công tác chi trả DVMTR với các chương trình phát triển sinh kế khác là hết sức cần thiết nhằm tạo thêm thu nhập bền vững cho các cộng đồng dân cư sống phụ thuộc vào rừng. Khi được nhận một khoản tiền từ phí DVMTR thì nhận thức và trách nhiệm của người dân được nâng lên.
Để thực hiện tốt công tác chi trả phí DVMTR và nâng cao nhận thức người dân trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, trong năm 2014, huyện Trạm Tấu tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính sách đến người dân các thôn bản vùng sâu, vùng xa, ưu tiên các hộ nhận khoán là các hộ nghèo ở gần rừng và hộ đã nhận khoán rừng trước đây đã thực hiện tốt thì tiếp tục nhận khoán bảo vệ và được hưởng chính sách DVMTR.
Tuy nhiên, để thực hiện tốt chính sách này cần quan tâm hơn nữa tới công tác đào tạo, tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ thực thi chính sách, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân phải được thực hiện thường xuyên, trong quá trình lập hồ sơ chi trả phải có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ từ thôn, bản đến xã, huyện, công tác chi trả phải công khai, minh bạch, đúng đối tượng và chi trả đầy đủ nhằm giảm thiểu khúc mắc, khiếu nại trong nhân dân. (Báo Yên Bái 3/9) đầu trang(
Đây là một trong những nội dung về lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp trong thông báo số 217/TB-VPUBND của Văn phòng UBND tỉnh về ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh Doãn Văn Hưởng làm việc với Sở Nông nghiệp & PTNT mới đây.
Theo đó, Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND các huyện, thành phố triển khai thực hiện chủ trương về hỗ trợ sau đầu tư đối với trồng mới rừng sản xuất, quy định tại Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ngày 10/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ và theo chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh tại văn bản số 3182/UBND-NLN ngày 18/8/2014 để từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả rừng trồng.
Trước mắt, năm 2014-2015 thực hiện thí điểm tại 2 huyện Bảo Thắng, Bảo Yên để sơ kết rút kinh nghiệm, sau đó mới nhân rộng ra toàn tỉnh.
Cũng về lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp, Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì phối hợp với UBND huyện Văn Bàn thường xuyên tiến hành kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện Dự án thí điểm khoán quản lý bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn suối Nậm Tha (xã Nậm Tha – huyện Văn Bàn). (Báo Lào Cai 1/9) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Quố lộ 1A, đoạn qua xã Quỳnh Thạch, huyện Quỳnh Lưu bị nhiều doanh nghiệp kinh doanh gỗ chiếm dụng làm bãi đỗ xe ô tô tải, gây ùn tắc giao thông. (Nhân Dân 4/9, tr7) đầu trang(
3/9, BQL dự án phát triển lâm nghiệp (Kfw7) Hòa Bình tổ chức hội nghị sơ kết công tác 8 tháng năm 2014, triển khai nhiệm vụ 4 tháng cuối năm và lập kế hoạch năm 2015.
8 tháng năm 2014, hợp phần thiết lập rừng đã hoàn thiện hồ sơ đo đạc thiết kế trồng rừng, KNTS có trồng bổ sung năm 2014 là 555,35 ha; thiết lập được 12 vườn ươm phân tán nghiệm thu xuất vườn trên 1,2 triệu cây giống các loại; cấp phát trên 79 tấn phân bón các loại cho các hộ dân; chăm sóc, bảo vệ 4.593 ha rừng trồng và KNTS các năm.
Về hợp phần bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu BTTN Thượng Tiến hỗ trợ xây dựng thoả thuận quản lý đường ranh giới khu vực giáp ranh khu bảo tồn Thượng Tiến tại 3 thôn, bản điểm nóng.
Về hợp phần quản lý rừng cộng đồng đã mở và chuyển trên 1,4 tỉ đồng vào 8 tài khoản tiền gửi cho 8 mô hình quản lý rừng cộng đồng diện tích 1.171 ha tại các huyện Kim Bôi, Lương Sơn, Lạc Sơn. Về hợp phần phát triển cộng đồng kiểm tra hoạt động vận hành, quy chế sử dụng 96 tiểu dự án hoàn thành tại 2 huyện Kim Bôi và Kỳ Sơn... Đến hết tháng 8, dự án đã giải ngân 6.314 triệu đồng, trong đó vốn vay KfW 6.314 triệu đồng, chưa có vốn đối ứng của tỉnh.
Hội nghị đã đề ra nhiệm vụ trọng tâm 4 tháng cuối năm 2014 và lập kế hoạch năm 2015 tập trung vào: Tiếp tục trồng dặm, chăm sóc, bảo vệ rừng trồng mới, khoanh nuôi tái sinh các năm đảm bảo theo yêu cầu của dự án; chuẩn bị hiện trường và thiết kế trồng rừng năm 2015.
Tiếp tục hỗ trợ xây dựng thoả thuận quản lý đường ranh giới khu vực giáp ranh khu bảo tổn Thượng Tiến 5 thôn, bản điểm nóng còn lại; lập kế hoạch và triển khai các tiểu dự án đã thực hiện tại huyện Lạc Sơn sau khi có quyết định bổ sung nguồn vốn chính thức; tiếp tục chỉ đạo các xã làm tốt công tác chăm sóc, bảo vệ rừng, không để tái diễn tình trạng gia súc phá hoại và các tác nhân khác làm ảnh hưởng đến chất lượng rừng trồng... (Báo Hòa Bình 3/9) đầu trang(
Thường Xuân, Thanh Hóa: Trồng mới 338 ha rừng
Đến hết tháng 7, huyện Thường Xuân đã trồng mới được 338 ha rừng, đạt 56,3% kế hoạch; 180.000 cây phân tán các loại, đạt 90% kế hoạch. Công tác khoanh nuôi bảo vệ và chăm sóc rừng trồng được thực hiện có hiệu quả.
Cùng với đó, huyện cũng làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ, phòng chống cháy rừng, đồng thời tăng cường chỉ đạo công tác kiểm tra, xử lý vi phạm trong quản lý, bảo vệ rừng.
Từ đầu năm đến nay, các cơ quan chức năng đã xử lý 36 vụ vi phạm hành chính, vận chuyển, khai thác lâm sản trái phép, tịch thu hơn 24 m3 gỗ các loại, xử phạt hành chính và nộp ngân sách Nhà nước 153,8 triệu đồng.
Để hoàn thành kế hoạch trồng 600 ha rừng năm 2014, huyện chỉ đạo các ban, ngành chức năng và UBND các xã, thị trấn tiếp tục nâng cao hơn nữa trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp; chú trọng hướng dẫn nhân dân trồng theo hướng thâm canh, xen canh, gắn với tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. (Báo Thanh Hóa 1/9) đầu trang(
Đông đảo đoàn viên thanh niên Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sóc Trăng và Thị đoàn Vĩnh Châu (Sóc Trăng) vừa ra quân trồng hơn 20.000 cây đước trên diện tích 2 ha tại bãi biển P.2, TX.Vĩnh Châu.
Đây là hoạt động thiết thực của tuổi trẻ Sóc Trăng nhằm thực hiện phong trào xung kích bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; đồng thời góp phần nâng cao ý thức cộng đồng dân cư trong vùng phòng hộ ven biển, trồng và bảo vệ cây rừng chắn sóng khu vực ven biển. (Thanh Niên 1/9) đầu trang(
Tính từ đầu năm đến nay, các Ban quản lý dự án rừng đã gieo ươm được 567.000 cây rừng giống phục vụ cho công tác trồng rừng năm 2014.
Các dự án rừng của tỉnh đã trồng được 290 ha các loại, tăng gần 90% so cùng kỳ. Hiện nay đã hoàn tất công tác chăm sóc đợt 1 năm 2014 với diện tích chăm sóc 2.359 ha, đạt 100% kế hoạch năm; trong đó rừng phòng hộ, đặc dụng 1.773 ha, rừng sản xuất 480 ha, rừng trồng ngoài quy hoạch hơn 100 ha.
Ngoài ra, trong tháng 8, ngành Kiểm lâm thường xuyên thực hiện công tác tuần tra, kiểm tra và truy quét phá rừng; đã phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính 8 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng; đã phát hiện xử lý 7 vụ vi phạm về quản lý động vật hoang dã và mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép… (Báo Tây Ninh 2/9) đầu trang(
Theo thông lệ quốc tế, giá gỗ bán từ rừng trồng được cấp chứng chỉ FSC trung bình ở mức từ 150 đến 200 triệu đồng/ha, cao hơn nhiều so với rừng bình thường. Quảng Trị là địa phương đầu tiên của cả nước thực hiện mô hình canh tác rừng theo chu trình văn minh và thân thiện với môi trường này.
Theo Sở NN và PTNT Quảng Trị, phấn đấu đến năm 2020, toàn tỉnh có hơn 42 ngàn ha rừng trồng theo tiêu chí FSC.
Nông dân Lê Biên Hoà ở thôn Kinh Môn, xã Trung Sơn nhiều lần hẹn PV về thăm cánh rừng của gia đình ông được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (gọi tắt là rừng FSC). Về đến nơi, không đợi PV hỏi thêm, ông Hoà liền giải thích nội dung thực hiện của rừng FSC khá dài song lợi ích thiết thực nhất là trồng rừng theo các tiêu chí hiện đại này, rừng được quản lý bền vững hơn, đất đai được bảo vệ, hạn chế xói mòn, môi trường được cải thiện và khi rừng có chứng chỉ FSC giá gỗ bán sẽ cao hơn rừng thường từ 30 đến 50%.
Trăm nghe không bằng một thấy, ông Hoà dẫn PV lên thăm rừng FSC của ông đang vào thời kỳ bón phân. Đây là lứa rừng mới trồng sau khi đã thu hoạch chu kỳ đầu. Ông Hoà cho biết mỗi ha rừng được cấp chứng chỉ FSC thu hoạch bán có giá đến 210 triệu đồng, gấp hơn 3 lần rừng trồng bình thường tại địa phương cùng thời điểm. Ông Hoà vừa thu hoạch 10 ha rừng bán hơn 2,1 tỷ đồng. Rừng của ông sau mười năm cây rất to, bốn cây keo đã đến hai khối gỗ. Bán rừng được giá cao ông Hoà có tiền làm nhà, nuôi con ăn học.
Niềm vui từ rừng FSC như ngày một nhân lên tại xã Trung Sơn của ông Hòa. Sau mấy năm làm mô hình đã có 23 hộ gia đình ở xã Trung Sơn khai thác hơn 63 ha rừng FSC bán cho Công ty Thanh Hoà, đơn vị mua bán gỗ có chứng chỉ FSC. Theo nhiều người đánh giá thì rừng chất lượng tốt như của ông Hoà bán được giá rất cao, nhưng rừng chất lượng thấp hơn một tí cũng bán đến hơn 150 triệu đồng/ha, một mức giá người trồng rừng sản xuất nào cũng mơ ước.
Theo tính toán của những hộ gia đình tham gia trồng rừng FSC thì chi phí ban đầu để trồng mỗi héc-ta rừng hết 14 triệu đồng. Đến năm thứ sáu tỉa thưa kỹ thuật một phần rừng lấy gỗ bán được khoản tiền đủ trang trải cho vốn đầu tư. Đến năm thứ mười trở đi khai thác trắng số tiền bán gỗ rừng thu về là lãi ròng. Tính trung bình mỗi năm trồng rừng FSC hộ nông dân lãi từ 15 đến 20 triệu đồng/ha, đây là một nguồn thu không nhỏ so với trồng các loại cây khác.
Trở lại câu chuyện rừng FSC ở Quảng Trị, ông Nguyễn Văn Bài - Giám đốc Sở NN-PTNT Quảng Trị cho biết, nhờ sự giúp đỡ về mặt kỹ thuật và kinh phí của Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) Việt Nam, năm 2007, Tổng cục Lâm nghiệp, Sở NN-PTNT Quảng Trị đã chỉ đạo Chi cục Lâm nghiệp tỉnh triển khai thực hiện mô hình quản lý rừng trồng bền vững để cấp chứng chỉ FSC cho nhóm hộ gia đình nông dân đã tham gia dự án trồng rừng Việt - Đức tại địa bàn 2 xã Trung Sơn (Gio Linh) và Vĩnh Thuỷ (Vĩnh Linh).
Đến năm 2010, mô hình được đánh giá lần đầu tiên, cấp chứng chỉ thời hạn 5 năm (2010 - 2015) cho 316 ha rừng của 118 hộ gia đình thuộc 5 thôn của hai xã trên. Đây là mô hình quản lý rừng bền vững của nhóm hộ nông dân đầu tiên của Việt Nam được cấp chứng chỉ FSC.
Trong hai năm 2011 và 2012, thông qua công tác tuyên truyền, vận động mô hình trồng rừng FSC cho nhóm hộ gia đình nên đã mở rộng cả về diện tích và số hộ gia đình tham gia. Trên địa bàn ba huyện Gio Linh, Vĩnh Linh và Triệu Phong, đã có 232 hộ với tổng diện tích rừng trồng được cấp FSC gần 600 ha. Năm 2013, dự án tiếp tục mở rộng đến nhiều địa phương với 17 nhóm hộ của 8 xã tham gia.
Hiện tại Quảng Trị có hơn 15.500 ha rừng trồng được cấp chứng chỉ FSC, trong đó rừng Công ty Lâm nghiệp Bến Hải gần 10 ngàn ha, Công ty Lâm nghiệp Triệu Hải hơn 5.200 ha và số hộ gia đình có 861 ha.
Rõ ràng, rừng FSC có lợi thế hơn rất nhiều so với các loại rừng trồng theo cách làm truyền thống. Ngoài việc đem đến nhiều lợi ích từ cải tạo môi trường, môi sinh, bảo vệ đất, tăng thu nhập, cải thịên đời sống cho nông dân trồng rừng.
Tại cuộc hội thảo về Lâm nghiệp tại Quảng Trị mới đây, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Hà Công Tuấn đánh giá cao những kết quả của tỉnh Quảng Trị đạt được trong việc phát triển rừng FSC, đây là một bước đi mới rất phù hợp với chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam, theo đó phấn đấu đến năm 2020 phải có 30% diện tích rừng trồng cả nước được cấp FSC.
Thực tế, mỗi năm tỉnh Quảng Trị trồng mới gần 6 ngàn ha rừng sản xuất và 1 ngàn ha rừng phòng hộ. Độ che phủ rừng Quảng Trị hiện đạt 49%, mục tiêu phát triển lâm nghiệp của tỉnh duy trì sự ổn định đến 2020 độ che phủ rừng đạt 50%. Theo tính toán mỗi năm sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng Quảng Trị đạt gần 500 ngàn m3 gỗ nguyên liệu chủ yếu bán cho Nhà máy chế biến gỗ MDF trên địa bàn và làm gỗ dăm xuất khẩu...
Những năm qua, với nhiều chính sách phát triển của địa phương phong trào trồng rừng kinh tế ở Quảng Trị đã có những chuyển biến tích cực, đặc biệt là nhận thức và phương pháp kinh doanh rừng để tiến tới làm giàu từ sản phẩm lâm nghiệp. Từ chỗ trồng rừng giảm nghèo, nông dân Quảng Trị đã chuyển sang phát triển rừng bền vững, nâng cao giá trị kinh tế do rừng mang lại.
Theo giám đốc Sở NN-PTNT Nguyễn Văn Bài, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ XV đã chỉ rõ phát triển lâm nghiệp phải dựa trên cơ sở quản lý, bảo vệ tốt tài nguyên rừng. Để thực hiện tốt mục tiêu đề ra, ngành NN-PTNT Quảng Trị đã xây dựng kế hoạch phát triển rừng đến năm 2020, phấn đấu có hơn 42 ngàn ha rừng trồng sản xuất được cấp chứng chỉ FSC, trong đó diện tích rừng hộ gia đình chiếm 50%.
Quảng Trị hiện có 75 ngàn ha rừng sản xuất, trong đó của hộ gia đình đến 40 ngàn ha. Với các nhóm hộ gia đình, ngành Nông nghiệp tiếp tục vận động mở rộng diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC. Với doanh nghiệp, tiếp tục hỗ trợ cho Công ty Lâm nghiệp Đường 9 thực hiện mô hình quản lý rừng bền vững với diện tích khoảng 4 ngàn ha.
Đặc biệt, phải xây dựng mô hình Hội quản lý rừng bền vững tỉnh Quảng Trị để duy trì và phát triển mô hình FSC cho nhóm hộ gia đình. Cũng theo ông Nguyễn Văn Bài, cái khó là rừng đạt chứng chỉ FSC đòi hỏi có chu kỳ kinh doanh hơn 10 năm. Trong khi đó rừng trồng sản xuất bán gỗ dăm chu kỳ chỉ từ 6 đến 7 năm. Người trồng rừng thuộc đối tượng gia đình đa số đang khó khăn về kinh tế, thu nhập thấp.
Trong khi nhà nước chưa có cơ chế trợ giúp người trồng rừng sản xuất khai thác khi gỗ đạt tiêu chuẩn, giải quyết các khó khăn lúc cần thiết nên có tình trạng lúc đầu nông dân hăng hái tham gia vào các nhóm chứng chỉ FSC nhưng khi kinh tế khó khăn họ xin rút lui để khai thác rừng bán giải quyết nhu cầu bức thiết của gia đình.
Ngoài ra, người dân khó tiếp cận các ngân hàng thương mại vay vốn trồng rừng. Cùng với đó, chi phí đánh giá định kỳ 5 năm/lần và đánh giá hàng năm khá cao nên các hộ gia đình, các tổ chức gặp khó khăn về kinh phí để thuê chuyên gia đánh giá cấp chứng chỉ.
Ngoài ra, thị trường nguyên liệu từ rừng trồng hiện nay chủ yếu là cây keo, nghèo về chủng loại và chất lượng để sản xuất hàng xuất khẩu. Việc đưa cây bản địa vào trồng đang gặp khó khăn do chu kỳ kinh doanh dài, chưa có chính sách khuyến khích hỗ trợ người nông dân tham gia. Để phát triển lâm nghiệp bền vững, hiệu quả, đề nghị Bộ NN-PTNT sớm ban hành các văn bản hướng dẫn liên quan đến quản lý rừng bền vững, ban hành bộ tiêu chí quản lý rừng bền vững của Việt Nam để các địa phương có cơ sở tổ chức thực hiện.
Chính phủ sớm ban hành các chính sách khuyến khích người dân đầu tư trồng rừng, phát triển sản xuất, có chính sách phát triển công nghiệp chế biến gỗ từ rừng trồng, ưu đãi về thuế sử dụng đất đối với người trồng rừng kinh doanh gỗ lớn và xây dựng thương hiệu đối với sản phẩm xuất khẩu, đẩy mạnh nghiên cứu sớm tìm ra tập đoàn cây giống cây rừng trồng có năng suất, chất lượng, giá trị kinh tế cao để nông dân sử dụng vào các chương trình trồng rừng.
Một điều quan trọng nữa là phát triển rừng sản xuất kinh doanh gỗ lớn và cấp chứng chỉ FSC đòi hỏi phải có chu kỳ dài, gặp nhiều rủi ro thiên tai nên cần có chính sách bảo hiểm rủi ro đối với loại hình kinh doanh này để người dân yên tâm phát triển rừng bền vững. (Báo Quảng Trị 2/9) đầu trang(
Các địa phương miền núi xác định phát triển kinh tế rừng đóng vai trò then chốt, tạo ra đòn bẩy để giảm nghèo bền vững. Tuy nhiên, dấu ấn phát triển kinh tế rừng vẫn chưa tương xứng với nguồn lực đất đai và bộc lộ một số bất lợi cần khắc phục.
Tốc độ che phủ rừng thời gian qua tăng trưởng nhanh nhờ chủ trương xã hội hóa nghề rừng. Nếu như trước đây, người dân không thiết tha canh tác trên những đồi núi lô nhô do chi phí đầu tư lớn, đi lại khó khăn thì bây giờ họ không ngần ngại khai phá đất trồng rừng.
Báo cáo của ngành nông nghiệp huyện Hiệp Đức cho thấy, trong số hàng trăm nông dân sản xuất – kinh doanh giỏi các cấp đều có trang trại trồng cây lâm nghiệp. Đến nay, địa phương này hình thành được vùng chuyên canh cây công nghiệp với gần 19.571ha. Nhiều mô hình trồng rừng quy mô trên 30ha (thu nhập bình quân hơn 100 triệu đồng/ha/năm).
Ngoài vốn đất tự có của người dân, dự án trồng rừng WB3 phủ xanh 590ha, dự án KFW6 thực hiện hơn 1.231ha… nâng tỷ lệ che phủ rừng trên địa bàn huyện Hiệp Đức đạt 54,6%, góp phần chuyển dịch mạnh mẽ ngành lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa.
Theo ông Huỳnh Đức Viên - Trưởng phòng NN&PTNT huyện Hiệp Đức, kinh tế vườn rừng là “cứu cánh” của nông dân. Cây keo và cây cao su là hai cây trồng chủ lực, đem lại giá trị lớn, giúp nhiều hộ thoát nghèo, vươn lên làm giàu.
Khi có được vùng nguyên liệu tại chỗ, các doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư, kéo theo loại hình dịch vụ công nghiệp phát triển. Thành công bước đầu dễ thấy nhất là sự liên kết, hợp tác làm ăn giữa nông dân với nông dân, giữa nông dân với doanh nghiệp; tạo ra thị trường cung – cầu ổn định.
Tại huyện nghèo Nông Sơn, gần 900ha cây cao su đại điền và tiểu điền đang chờ ngày thu hoạch, cùng với hàng trăm héc ta cây keo nguyên liệu khai thác mỗi năm đã giải quyết khá lớn nguồn lao động. Không bỏ phí rừng nghèo, mới đây Nông Sơn đã chuyển đổi hơn 4.000ha trước đây đã quy hoạch rừng phòng hộ chuyển sang rừng sản xuất cho người dân.
Ở các xã Quế Ninh, Quế Trung, Quế Lâm và Phước Ninh (Nông Sơn), kinh tế rừng trở thành nguồn thu nhập chính của người dân. Ông Nguyễn Văn Lanh - Phó phòng NN&PTNT huyện Nông Sơn khẳng định, 10 năm nay vẫn chưa có cây trồng nào thay thế vị trí cây keo. Ngoài cái lợi phủ xanh đất trống đồi trọc, loại cây này còn kéo theo hàng loạt dịch vụ khác phát triển như trồng, chăm sóc cây và chế biến các sản phẩm từ rừng.
Sở Công Thương cho biết, giá trị sản xuất công nghiệp về gỗ rừng 6 tháng đầu năm 2014 đạt hơn 1,3 triệu đô la Mỹ (tăng 314% so với cùng kỳ năm trước). Từ việc chế biến gỗ thô, bán rẻ nguồn nguyên liệu, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh có xu hướng chuyển sang đầu tư chế biến sâu lâm sản.
Một thực tế là các địa phương miền núi phụ thuộc quá nhiều vào kinh tế rừng, quan tâm vào độ che phủ rừng mà chưa đầu tư vào cải thiện chất lượng rừng trồng. Phần lớn cây trồng cung cấp làm nguyên liệu giấy, dăm gỗ nên giá trị kinh tế thấp; trong khi đó ngành lâm nghiệp chưa có các giải pháp về kỹ thuật và chính sách để phát triển rừng trồng gỗ lớn phục vụ cho xuất khẩu với giá trị cao hơn.
Năng suất và chất lượng gỗ rừng trồng thấp, trung bình chỉ đạt 10 - 13m3/ha/năm, sản lượng gỗ khai thác chưa đáp ứng cho các nhà máy chế biến quy mô lớn. Nghịch lý ở chỗ, một số địa phương miền núi có thế mạnh về kinh tế rừng, song vẫn “trắng” nhà máy chế biến. Chính điều này đã tăng chi phí đầu tư, khai thác, tiêu thụ rừng và ngược lại làm giảm giá trị rừng.
Ông Nguyễn Văn Lanh - Phó Trưởng phòng NN&PTNT Nông Sơn cho rằng, rất khó kêu gọi doanh nghiệp lên đây đầu tư, hiện địa phương vẫn không có một nhà máy nào tham gia chế biến các sản phẩm từ rừng. Mặc dù keo là cây trồng chủ lực, nhưng lại không bền vững, hiệu quả kinh tế đem lại thấp nhất.
“Mỗi héc ta keo sau 6 năm mới thu hoạch, bán được khoảng 30 triệu đồng. Nghĩa là 1 năm chỉ thu về 5 triệu đồng/ha. Nếu đem so sánh với các loại cây trồng khác thì nó thuộc loại thấp nhất về hiệu quả kinh tế” – ông Lanh phân tích. Trong khi đó, Chủ tịch UBND huyện Đông Giang Đỗ Tài kiến nghị, Nhà nước chỉ cần hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số bảo vệ, trồng rừng, sống được với rừng là đủ rồi, chứ không cần thiết khuyến khích họ… làm rẫy.
Khó khăn chung của không ít địa phương trong phát triển kinh tế rừng bắt đầu từ khâu quy hoạch chi tiết 3 loại rừng, thiết kế quỹ đất trồng rừng cũng như các thủ tục tiếp cận nguồn vốn và ký kết hợp đồng tiêu thụ rừng. Phát triển rừng quá nặng về độ che phủ mà chưa cân nhắc kỹ bài toán kinh tế, tăng thu nhập. Hệ thống cơ chế, chính sách trong lĩnh vực lâm nghiệp thiếu đồng bộ và chưa được thực hiện một cách triệt để như giao đất, giao rừng, chính sách hưởng lợi, khuyến lâm, chuyển giao lâm nghiệp, chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật...
Theo ngành nông nghiệp tỉnh, không thể phủ nhận sự đóng góp to lớn của lâm nghiệp trong cơ cấu kinh tế miền núi, nhưng lĩnh vực này vẫn chưa có đột phá lớn. Nhiều rào cản như định mức đầu tư cho lâm nghiệp thấp, chưa quan tâm đến đặc thù của lâm nghiệp là chu kỳ dài và chủ yếu hoạt động ở những vùng khó khăn, hạ tầng vùng sản xuất lâm nghiệp yếu kém. Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp ở nhiều địa phương thiếu khoa học và thường xuyên bị phá vỡ; quản trị tài nguyên rừng còn bất cập… (Báo Quảng Nam 2/9) đầu trang(
Khác với những chuyến đi lần trước, lần này đến với rừng Phia Oắc thuộc huyện Nguyên Bình (tỉnh Cao Bằng), PV được chứng kiến một Phia Oắc thực sự thay da đổi thịt.
Rừng Phia Oắc không còn cảnh bị chặt phá bừa bãi để khai thác quặng trái phép, mà thay vào đó là những một màu xanh bao la trải từ ngọn núi này sang ngọn núi khác. Những ngọn đồi bát úp xưa kia vốn bị bỏ hoang là bãi chăn thả trâu bò tự nhiên giờ đã được quy hoạch đâu ra đấy, phía dưới là những vạt nương dong riềng đỏ thắm và cao hơn nữa là những đồi chè đặc sản trải dài bát ngát, những rừng trúc đẹp như trong phim làm nức lòng du khách.
Cũng giống như Sa Pa, Mẫu Sơn, Tam Đảo…, Phia Oắc là một trong những "miền đất lạnh" với hệ thống đỉnh núi cao, khí hậu quanh năm mát mẻ, trong lành, không gian nguyên sinh và thảm động, thực vật đa dạng. Đặc biệt, nơi đây còn được thiên nhiên ban tặng cho nhiều loại khoáng sản quý hiếm như: Vomfram, titan, đồng, chì, kẽm…
Bên cạnh đó, Phia Oắc còn có nhiều loại cây thuốc quý như thất diệp nhất chi hoa, hà thủ ô, mãnh huyết, tim pất đeng… Tuy nhiên, cũng chính vì những tài vật quý hiếm ấy mà trong một thời gian dài, Phia Oắc bị “quặng tặc” và “lâm tặc” tấn công không thương tiếc. Những cây được liệu quý bị đào tận gốc, chốc tận dễ; những cánh rừng nguyên sinh bị đốn hạ để khai thác khoáng sản phái phép. Điều đáng nói, trong một thời gian dài rừng Phia Oắc gần như vô chủ.
Nhằm tránh tình trạng vô chủ tại rừng đặc dụng Phia Oắc - Phia Đén, ngày 27/12/2011, UBND tỉnh Cao Bằng đã ra quyết định thành lập Ban quản lý khu rừng đặc dụng Phia Oắc - Phia Đén trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
Theo ông Long Văn Bằng , Giám đốc Rừng đặc dụng Phia Oắc - Phia Đén, tình trạng chặt phá rừng và khai thác khoáng sản đã xảy ra từ năm 1999 khi trữ lượng mỏ thiếc Tĩnh Túc đã cạn kiện, quy mô khai thác, chế biến bị thu hẹp, công nhân thiếu việc làm, không về quê mà bám trụ tại mỏ. Trong khi đó, các dự án đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng chưa được quan tâm, nhân dân trong vùng chưa được hưởng lợi từ các chương trình đầu tư mới về quản lý bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng. Nhân dân trong vùng và các vùng lân cận không có việc làm ổn định hoặc sau mùa vụ, những lúc nông nhàn thì lên núi khai thác quặng kiếm sống tăng thu nhập.
Kể từ khi được thành lập, Ban quản lý phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường và Hạt Kiểm lâm huyện Nguyên Bình xây dựng quy chế phối hợp trong công tác bảo vệ rừng và tài nguyên khoáng sản. Từ khi Ban quản lý khu rừng đặc dụng đi vào hoạt động tháng 3/2012 đến nay, tình trạng chặt phá rừng đã được ngăn chặn đáng kể; nạn khai thác khoáng sản trái phép đã giảm hẳn. Tuy nhiên, việc ngăn chặn những hành vi phá rừng cũng chỉ là việc giải quyết đằng ngọn, vì khi "cái bụng" người dân chưa "no", thu nhập không ổn định thì họ lại lên rừng kiếm ăn.
Đưa PV xem những nương chè xanh ngát, những vùng nguyên liệu miến dong rộng lớn, những vườn dược liệu mới ươm…, ông Nguyễn Hoàng Anh, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng, tươi cười cho biết, đây chính là giải pháp giữ rừng Phia Oắc - Phia Đén một cách bền vững.
"Phương châm của chúng tôi là phải làm cho cái bụng người dân no rồi mới tính đến chuyện giữ rừng. Cây đầu tiên chúng tôi chọn là cây rong riềng, sau là cây chè đặc sản như ô long, bát tiên… Hiện nay, hai loại cây này sau một thời gian đã cho ra những sản phẩm có giá trị cao và đem lại thu nhập đáng kể cho người dân. Trong thời gian sắp tới, chúng tôi đang nghiên cứu đưa mốt số loại cây dược liệu, hoa, các loại rau sạch tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương. Có như vậy người dân mới yên tâm làm ăn và mới vững lòng tham gia bảo vệ rừng”, ông Hoàng Anh chia sẻ.
Gặp chị Nông Thị Tròn, xóm Pù Vài, xã Thành Công bên nương chè, chị vui vẻ cho biết, hàng ngày chị đến hái chè thuê cho Công ty TNHH Kolia với giá 10.000 đồng/kg chè tươi. Nếu chịu khó, mỗi ngày chị cũng kiếm được 100.000 - 200.000 đồng. Từ ngày Công ty TNHH Kolia đầu tư phát triển trồng chè tại địa phương, cuộc sống đồng bào nơi đây có nhiều đổi thay, người dân có thêm việc làm.
Ngoài ra, Công ty còn hỗ trợ cây giống và phân bón, kỹ thuật trồng chè cho bà con để phát triển vùng nguyên liệu chè trong dân. Chị Tròn cho biết: "Gia đình tôi được hỗ trợ trồng hơn 6.000 cây chè, nay đã bắt đầu cho thu hái bói. Với giá 45.000 đồng/kg chè tươi như hiện nay, chắc chắn gia đình tôi sẽ có thu nhập cao hơn trồng sắn và ngô".
Ông Hoàng Mạnh Ngọc, Giám đốc Công ty TNHH Kolia, người đi đầu trong sự nghiệp phát triển vùng chè đặc sản Phia Đén khẳng định, dù phát triển loại cây con gì cũng phải tính đến lợi ích lâu dài và bền vững. Từ lâu đời bà con nơi đây đã biết trồng cây dong riềng để làm miến dong, trồng chè và chế biến chè bằng phương pháp thủ công…
Tuy nhiên, những việc làm của bà con chủ yếu là tự phát, manh mún, không có đầu ra và thương hiệu ổn định. Chính vì vậy, các sản phẩm của bà con dù là đặc sản nhưng không có giá trị cao. Việc Công ty đầu tư vùng nguyên liệu chè tại Phía Oắc - Phia Đén chính là để giúp nhân dân nơi đây phát huy tiềm năng thế mạnh của vùng đất, cho ra những sản phẩm có giá trị kinh tế cao và có nguồn thu nhập một cách ổn định.
Hiện Công ty đang phấn đấu đến năm 2015, sẽ trồng thêm 10 ha và triển khai trồng 50 ha chè nguyên liệu trong dân. Cùng với đó, Công ty tiếp tục khảo sát thị trường, trong đó chú trọng thị trường ngoài nước nhằm tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm. Ngoài ra, Công ty TNHH Kolia còn đầu tư Khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái Phia Đén tọa lạc trên núi cao, với nhiều hạng mục như lầu ngắm cảnh, vườn hoa, nhà nghỉ… (Tin Môi Trường 2/9) đầu trang(
Là địa phương có diện tích đất lâm nghiệp lớn, trong những năm qua, người dân xã Đạo Trù (Tam Đảo) đã mạnh dạn đầu tư nhiều mô hình phát triển kinh tế đồi, rừng như trồng cây lâm nghiệp, trồng rừng kết hợp với chăn nuôi và trồng cây ăn quả mang lại hiệu quả cao.
Từ đó, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, gắn việc phát triển kinh tế với công tác bảo vệ rừng. Đạo Trù là xã miền núi khó khăn của huyện Tam Đảo với gần 90% là người dân tộc Sán Dìu, số hộ nghèo chiếm tới hơn một nửa. Dân số đông, diện tích bình quân đầu người thấp, cả xã có 13 thôn trong đó có tới 8 thôn giáp ranh với Rừng Quốc gia Tam Đảo, vì thế diện tích đất nông nghiệp chủ yếu là đất rừng đặc dụng.
Trước đây, trình độ canh tác của người dân địa phương còn lạc hậu, sống dựa vào việc khai thác tài nguyên rừng nên dẫn tới nhiều loài cây, con bị suy giảm do khai thác quá mức, tràn lan. Những năm gần đây, cùng với công tác tuyên truyền, nhận thức của người dân dần thay đổi.
Thấy được lợi ích thiết thực của rừng, các hộ gia đình mạnh dạn đầu tư, mở rộng diện tích trồng những cây lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao như: Bạch đàn, keo, thông, …; phát triển nhiều mô hình kinh tế đồi rừng như: Nuôi ong, gà đồi, lợn rừng, dê núi và trồng cây dược liệu, trồng cây dưới tán rừng… bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế cao. Qua đó, phát huy tiềm năng và lợi thế về rừng, đất rừng của địa phương, góp phần nâng cao thu nhập, đời sống cho người dân.
Đến thăm gia đình anh Lương Văn Man (thôn Phân Lân Hạ), một trong những hộ đi đầu trong việc đưa các loại cây mới vào sản xuất. Trước đây, với diện tích vườn đồi gần 8 ha, gia đình anh Man chỉ trồng các loại cây lâm nghiệp như: Keo, bạch đàn. Tuy nhiên, hiệu quả từ các loại cây này không cao do tốn nhiều thời gian và công chăm sóc.
Năm 2012, gia đình anh đã mạnh dạn cải tạo lại đất vườn và đưa cây chuối tiêu hồng vào trồng thử nghiệm. Sau một thời gian, cây chuối tiêu hồng đã cho giá trị kinh tế cao do chi phí đầu tư mua giống, phân bón không cao, cây sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao. Hiện nay, gia đình anh Man đang trồng hơn 100 gốc chuối, tính trung bình mỗi năm cho thu hoạch 2 vụ, trừ chi phí cho thu lãi 20 triệu đồng/ vụ.
Đối với anh Nguyễn Văn Xô ở thôn Đồng Giếng, việc tham gia mô hình nhân giống cây ba kích của Hội Nông dân tỉnh bằng phương pháp giâm hom đã mở ra hướng phát triển mới cho kinh tế gia đình. Nhận thấy nhu cầu về cây giống cũng như củ ba kích thương phẩm lớn, nhiều hộ dân trong xã đã tham gia mô hình.
Đến nay, trên địa bàn xã Đạo Trù có 7 hộ đang thực hiện mô hình trồng cây ba kích thương phẩm với diện tích hơn 2 ha, 4 hộ tham gia ươm, nhân giống ba kích với diện tích 1 ha. Năm 2013, với việc bán cây ba kích giống, anh Xô đã bán được hơn 20 vạn cây giống, với giá bình quân 2.000 đồng/cây, thu lãi hàng chục triệu đồng với thị trường tiêu thụ phong phú, từ trong huyện đến nhiều tỉnh thành trên cả nước.
Nhờ có mô hình này, không chỉ hộ anh Xô mà nhiều nông dân trong xã Đạo Trù đã có việc làm quanh năm, thu nhập cao và ổn định hơn rất nhiều so với trước kia. Dự kiến, sau 4 năm trồng, cây ba kích sẽ cho thu hái củ, hiện, giá bán củ tươi là 250.000 đồng/kg.
Trước đây, người dân các thôn Lục Liễu, Tân Tiến có địa phận giáp ranh VQG Tam Đảo chủ yếu để diện tích dưới tán rừng cho cỏ dại mọc, vừa không có hiệu quả về mặt kinh tế lại gây khó khăn cho việc quản lý, bảo vệ rừng. Song, hiện nay, nhiều hộ đã chuyển sang trồng các loại cây mới mang lại hiệu quả kinh tế cao, trong đó phải kể đến cây dứa.
Ông Nguyễn Văn Quý, thôn Tân Tiến chia sẻ, trồng xen canh dứa dưới tán rừng vừa góp phần bảo vệ rừng, vừa tận dụng đất lâm nghiệp, phát triển kinh tế hộ, tăng giá trị khai thác trên một đơn vị diện tích. Với 4 ha đất rừng, năm 1993, ông Quý đã đưa giống dứa mới vào trồng. Kết quả thu hoạch cho thấy, cây sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất cao.
Với giá bán tại vườn từ 6.000 – 8.000 đồng/quả vụ dứa, vụ dứa vừa qua, gia đình ông Quý thu về trên 10 triệu đồng. Trong thời gian tới, ông Quý dự định sẽ mở rộng quy mô trồng dứa trên diện tích đất còn lại để tăng thêm thu nhập cho gia đình.
Bên cạnh các mô hình sản xuất còn phải kể đến nghề nuôi ong lấy mật tại địa phương. Vốn đầu tư không cao lại có thể tận dụng được diện tích, ít tốn thời gian chăm sóc, giá bán mật ổn định..., nghề nuôi ong đã giúp nhiều hộ trong xã vươn lên làm giàu, phát triển kinh tế ngay tại địa phương. Điển hình như gia đình ông Hoàng Minh Tân (thôn Lục Liễu). Bắt đầu nuôi ong từ năm 1987, đến nay, ông Tân đã có 140 thùng ong.
Với giá bán hiện tại là 150 ngàn đồng/ lít, trừ chi phí, trung bình mỗi năm, ông Tân thu lãi từ 200 – 250 triệu đồng từ việc bán mật, bán ong giống và tầng ong cho các nhà hàng ngâm rượu. Ngoài ra, các mô hình: Nuôi lợn nái thương phẩm; nuôi dê, gà trên đất vườn đồi… đã giúp nhiều hộ trong xã vươn lên phát triển kinh tế, từng bước xóa đói giảm nghèo, góp phần đưa Đạo Trù ra khỏi danh sách các xã miền núi đặc biệt khó khăn của huyện Tam Đảo năm 2013.
Có thể nói, việc phát triển các mô hình kinh tế đồi rừng đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhâp cho người dân. Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để bà con bảo vệ, chăm sóc tốt diện tích rừng được giao. Tuy nhiên, số hộ nghèo trong xã còn nhiều, việc tham gia các mô hình này chưa nhiều, trình độ canh tác, áp dụng khoa học kỹ thuật của bà con còn thấp nên hiệu quả kinh tế thu được chưa cao. Bên cạnh đó, do thiếu vốn mở rộng sản xuất, cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn, chưa đáp ứng nên việc sản xuất cũng như tiêu thụ các sản phẩm còn gặp nhiều khó khăn.
Để nâng cao hiệu quả kinh tế đồi rừng, trong thời gian tới, xã Đạo Trù cần tiếp tục nhân rộng những mô hình kinh tế có hiệu quả, khuyến khích các hộ đưa các giống cây trồng, vật nuôi có giá trị cao vào sản xuất; hỗ trợ người dân về giống, vốn, kỹ thuật, tập trung cải thiện hạ tầng giúp việc vận chuyển hàng hóa được dễ dàng. Từ đó, góp phần phát triển kinh tế rừng bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân. (Báo Vĩnh Phúc 3/9) đầu trang(
Những năm vừa qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn về nguồn lực nhưng cán bộ, công nhân viên Chi cục đã đoàn kết hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao như: Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn; chương trình, đề án, dự án về trồng rừng, phát triển tài nguyên rừng, khai thác lâm sản trên địa bàn toàn tỉnh.
Hướng dẫn việc lập và thẩm định quy hoạch, kế hoạch trồng rừng, phát triển tài nguyên rừng của các địa phương; tổ chức phân loại rừng, xác định ranh giới các loại rừng; thống kê, kiểm kê, lập bản đồ rừng theo hướng dẫn của Bộ NN-PTNT.
Triển khai giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng rừng, công nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu rừng SX là rừng trồng cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thực hiện dự án đầu tư về lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Đồng thời, xây dựng phương án, biện pháp, chỉ đạo, kiểm tra và chịu trách nhiệm về SX giống cây trồng lâm nghiệp và sử dụng vật tư lâm nghiệp; trồng rừng; chế biến và bảo quản lâm sản; phòng chống dịch bệnh gây hại rừng tại các địa phương. Hướng dẫn, kiểm tra việc cho phép mở của rừng khai thác và giao kế hoạch khai thác cho chủ rừng sau khi được phê duyệt...
Bên cạnh thực hiện các nhiệm vụ trên, công tác phát triển rừng trồng hằng năm theo Quyết định 147/2007/QĐ-TTg; dự án WB3; JICA Nhật Bản… luôn được Chi cục đặt lên hàng đầu.
Đặc biệt, từ đầu năm đến nay, dù nguồn kinh phí từ các dự án phân bổ cho địa phương chưa đủ để hoàn thành kế hoạch giao trồng rừng, nhưng nhờ chủ động trong việc định hướng kế hoạch nên tính đến hết tháng 7/2014, Thanh Hóa đã trồng được hơn 8.000/10.860 ha rừng(đạt trên 75% kế hoạch). Trong đó, dự án JICA đạt 77,2%; Quyết định 147 đạt 80,7%; WB3 trên 60%; DN và nhân dân tự trồng trên 65%.
Thời gian tới, Chi cục Lâm nghiệp Thanh Hóa tiếp tục tham mưu cho Sở NN-PTNT thực hiện các chương trình, dự án phát triển và bảo vệ rừng. Đồng thời, hoàn thành kế hoạch trồng rừng đã được giao từ đầu năm. (Nông Nghiệp Việt Nam 3/9) đầu trang(
Sau 4 năm triển khai thực hiện Quyết định số 65 của UBND tỉnh về việc giao rừng trồng gắn với giao đất lâm nghiệp thuộc Chương trình 327, Dự án 661, huyện Yên Sơn đã đạt những kết quả tốt.
Tình trạng lấn chiếm, phát rừng làm nương được hạn chế; công tác quản lý, bảo vệ rừng được thuận lợi và hiệu quả hơn. Từ giữa năm 2011, UBND huyện Yên Sơn đã thành lập tổ thẩm định phương án giao rừng trồng gắn với giao đất lâm nghiệp thuộc Chương trình 327 và 661 quy hoạch thành rừng sản xuất thay tổ công tác cấp huyện trước đó.
Tổ gồm cán bộ thuộc các đơn vị: Hạt Kiểm lâm; các phòng: Tài nguyên - Môi trường; Tài chính - Kế hoạch; Nông nghiệp - PTNT đã khắc phục được một số khó khăn như công tác lập phương án giao đất, giao rừng, xác minh và đánh giá trữ lượng gỗ; giải quyết dứt điểm tranh chấp đất giữa các hộ dân, giữa hộ dân và Công ty Lâm nghiệp, giải quyết việc trồng lấn thuộc các chương trình khác như 672, dự án RIDP… đến nay huyện đã giao được 2.638 ha, trong đó đã cấp giấy chứng nhận QSDĐ được 1.824 ha cho 1.334 hộ ở 26 xã.
Tân Tiến là xã thực hiện thí điểm việc giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp của huyện, đã rà soát diện tích sau khi quy hoạch lại trên địa bàn 13 thôn có tổng số gần 380 ha đất lâm nghiệp, trong đó có 231,8 ha đất có rừng. Xã đã giao 326,62 ha, trong đó cấp được 299 giấy chứng nhận QSDĐ cho 178 hộ với diện tích 200 ha. Toàn bộ diện tích rừng 327 và 661 giao cho các hộ dân đã khai thác và trồng mới.
Tại xóm 11, có gần 30 ha rừng Dự án 327 và Chương trình 661 quy hoạch lại thành rừng sản xuất, nhiều nhất xã; ông Ma Xuân Nhị là người bảo vệ và chăm sóc rừng 327 từ năm 2006, cho biết hiệu quả kinh tế rừng đem lại khá lớn nên khi có chủ trương của Nhà nước, tỉnh giao rừng gắn với đất lâm nghiệp cho hộ dân ông đã nhận 5 ha rừng 327. Sau khi khai thác ông đã tiến hành trồng rừng ngay, đến nay 5 ha rừng của ông đã khép tán, hứa hẹn nguồn thu trong nay mai.
Ông Đỗ Duy Nam, là một trong số 20 hộ của thôn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, với 5,1 ha rừng Chương trình 327, Dự án 661 đã quy hoạch là rừng sản xuất. Đối với những người nông dân gắn với rừng từ lâu như ông Nam thì đây thực sự là một niềm vui lớn, tạo niềm tin vững chắc để ông yên tâm theo đuổi giấc mơ phát triển kinh tế rừng.
Sau hơn 3 năm thực hiện các quy trình trồng, chăm sóc, bảo vệ, đến nay, hơn 5 ha rừng keo tai tượng của gia đình ông Nam sinh trưởng, phát triển tốt, nhiều cây đã cao tới 10 m và có đường kính từ 50 đến 80 cm, hứa hẹn sẽ mang lại nguồn thu lớn trong vài năm tới…
Xã Trung Trực cũng có 200 ha rừng từ Dự án 327 và Chương trình 661 đã được rà soát và giao về tay nhân dân, người dân đã tự nguyện hoàn trả vốn đầu tư ban đầu của dự án để được khai thác và trồng mới.
Giao rừng gắn với giao đất nông nghiệp đã tạo điều kiện cho người dân phát triển kinh tế từ đất rừng; người dân yên tâm sản xuất, tập trung phát triển kinh tế rừng. Trong xã sẽ hình thành nên những nghề mới, như: Sản xuất, chế biến đồ gỗ, đồ gỗ gia dụng... Chắc chắn kinh tế địa phương sẽ có những chuyển biến tích cực. (Tuyenquang.gov.vn 3/9) đầu trang(
Vụ hè thu năm nay, nông dân thị xã La Gi đã xuống giống trên 1.020 ha mì. Những địa phương có nhiều người trồng mì là Tân An, Tân Phước, Tân Bình…
Anh Lê Văn Lục, ở khu phố 8, phường Tân An có diện tích mì 3 ha trồng ở bờ Nam sông Dinh cho biết: Do đất đai quá bạc màu, việc đầu tư trồng mì của nông dân mấy năm gần đây chi phí rất cao, 1 ha mì chi phí tiền công, giống, cày đất, thuốc diệt cỏ, thuốc sâu và nhất là phân bón cũng phải đến 30 triệu đồng. Nếu mì trúng, 1 ha chừng 30 tấn tươi, bán với giá 1.500 – 1.800 đồng/ký tươi hoặc trên 4.500 đồng/ký khô mới mong có lãi, còn dưới mức ấy, may thì lấy công làm lời còn tệ hơn thì lỗ nặng.
La Gi tiếng là đô thị, nhưng kinh tế nông nghiệp, đặc biệt với cây mì chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Lượng mì khô ở thị xã mỗi năm xuất bán có vài chục nghìn tấn. Đây là nguồn thu nhập chính của bà con nông dân.
Nhưng ngặt nỗi, đất đai ngày càng bạc màu, cây mì đầu tư cao nhưng cho năng suất thấp, giá cả lại luôn theo chiều hướng xấu. Bám mãi theo cây mì không lợi lộc gì, còn chuyển trồng cây lương thực khác cũng không hiệu quả.
Lựa chọn tốt nhất của bà con là trồng rừng bằng cây keo lai. Với chọn lựa này, hiện nay hàng trăm ha mì đã được bà con đưa cây keo vào trồng xen. Theo tính toán của bà con, keo lai phát triển nhanh, chỉ sau 5 năm là có thể thu hoạch. 1 ha keo, chăm sóc tốt sẽ bán có giá không dưới 50 - 60 triệu đồng.
Trồng keo chi phí đầu tư thấp, không lo sâu bệnh, đầu ra lại ổn định, càng kéo dài thời gian hiệu quả càng cao, lá keo rụng xuống lại cải tạo được đất, sau một mùa keo có thể lấy đất trồng lại cây lương thực.
Trong điều kiện diện tích rừng phủ xanh của thị xã không nhiều, đất đai bị xói lở, sông suối, ao hồ ngày càng cạn kiệt, thì giải pháp trồng rừng để vừa có thu nhập vừa cải tạo được đất của nông dân hiện nay là giải pháp tối ưu. (Báo Bình Thuận 1/9) đầu trang(
Xác định tầm quan trọng từ việc trồng rừng kinh tế, thời gian qua, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đã xuất hiện nhiều mô hình trồng rừng đem lại hiệu quả kinh tế cao, điển hình là mô hình của ông Đinh Xuân Niệm, ở thôn Bán Hà Sơn, xã Thanh Hóa (huyện Tuyên Hóa).
Là một cựu chiến binh từng tham gia chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị, sau khi xuất ngũ, ông Đinh Xuân Niệm trở về quê hương và bắt đầu triển khai trồng rừng từ năm 1987. Sau hơn 25 năm trồng rừng, đến nay diện tích rừng kinh tế của ông đã lên đến 06 ha với trên 5.000 cây các loại như: Lim, dó, keo, bạch đàn... Lợi ích từ việc trồng rừng đã đem lại nguồn thu nhập cao cho gia đình ông, với thu nhập ước tính trên 400 triệu/năm.
Hiện nay, chính quyền xã Thanh Hóa đang tích cực tuyên truyền về mô hình trồng rừng kinh tế có hiệu quả của ông Đinh Xuân Niệm đến nhân dân trên địa bàn, đồng thời động viên người dân thay đổi tập quán canh tác lạc hậu, phương thức sản xuất truyền thống kém hiệu quả sang phương thức sản xuất trồng rừng và bảo vệ môi trường.
Để nâng cao hiệu quả cây trồng, ngoài kỹ năng, kinh nghiệm thu được từ thực tế, ông say mê nghiên cứu kỹ thuật ươm giống qua sách vở. Hàng năm, ông tham gia những lớp tập huấn kỹ thuật trồng cây tại các Trung tâm Khuyến nông huyện.
Ông cho biết: "Thời gian vào mùa trồng cây là tháng 7, cây phát triển tốt vào tháng Giêng, tháng Hai và sau 05 năm cây cho thu hoạch. Nghề này tuy thấy dễ nhưng lại khó làm nếu mình không hiểu được đặc tính, quy trình của cây. Khi đã nắm vững được các kiến thức cơ bản thì việc trồng, chăm sóc các loại cây trên địa bàn vùng đồi hoang hóa sẽ mang lại hiệu kinh tế quả cao cho bà con sống ven rừng. Nghề trồng rừng không khó nhưng đòi hỏi người trồng rừng phải chịu khó…".
Chọn cho mình hướng đi riêng từ nghề trồng rừng, ông Đinh Xuân Niệm đã làm giàu từ nghề này khi những cánh rừng mang lại cho gia đình ông nguồn thu đáng kể. Trải qua quãng thời gian dài vất vả với những cố gắng của ông trong nghề trồng rừng đã được đền đáp.
Nhiều năm liền, ông được bình chọn là hộ sản xuất kinh doanh, gương điển hình làm kinh tế giỏi cấp xã, huyện, được bà con trong vùng trìu mến gọi là "Người hùng trồng rừng" như một cách biết ơn công sức mà ông đem lại cho bà con ở vùng đất miền núi còn lắm khó khăn này. (Quangbinh.gov.vn 3/9) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Người dân ở gần một con sông tại Serbajadi, huyện East Aceh, tỉnh Aceh, gần khu bảo tồn rừng sinh thái Leuser trên đảo Sumatra, Indonesia đã hết sức phẫn nộ khi phát hiện ra xác của một chú voi con nhiều khả năng bị những kẻ phá rừng sát hại.
Theo các quan chức của tổ chức động vật hoang dã, hàng chục con voi đã bị giết hại dã man trên đảo Sumatra những năm qua. Việc mở rộng các đồn điền dầu cọ gây ảnh hưởng tới môi trường sống của những con voi và khiến chúng phải "đụng độ" nhiều hơn với con người.
Trước đó, hồi tháng 2, nhà chức trách Indonesia đã tìm thấy xác 7 con voi Sumatra quý hiếm tại khu vực phía ngoài công viên quốc gia Tesso Nilo (tỉnh Riau, thuộc miền Tây nước này) và nghi chúng bị đầu độc. (VietnamPlus 4/9) đầu trang(
Trung tâm động vật hoang dã Shaldon ở hạt Devon, Anh Quốc đã chứng kiến sự sinh trưởng và phát triển của 3 chú khỉ đuôi sóc sinh ba khỏe mạnh.
Đây được coi là trường hợp cực hiếm xảy ra ở loài khỉ đuôi sóc và cũng là trường hợp sinh ba đầu tiên trên thế giới ở loài này.
Julie Matthews, Nhân viên Huấn luyện tại trung tâm Shaldon cho biết, trường hợp sinh đôi ở khỉ đuôi sóc xảy ra khá nhiều nhưng sinh ba thì rất ít. Các trường hợp ghi nhận được đều không sống sót. Vì vậy, khả năng sống sót của 3 chú khỉ con 2 tháng tuổi này được coi là một kỳ tích.
Ba chú khỉ đuôi sóc con được đặt tên là Meeny, Miny và Mo. Gần đây, chúng bắt đầu biết khám phá môi trường xung quanh, biết nhảy lên rồi nhảy xuống lưng bố.
Khỉ đuôi sóc là loài khỉ hoang dã nhỏ nhất thế giới với chiều dài chưa tới 15cm. Tuy nhiên, hiện nay loài khỉ này đang nằm trong danh sách có nguy cơ tuyệt chủng do môi trường sống của chúng bị phá hủy.
Chúng chỉ có thể sống được trong môi trường đồng loại đông đúc với chế độ dinh dưỡng bao gồm đầy đủ côn trùng sống, nhựa cây keo để khuyến khích các hành vi tự nhiên. (Dân Việt 3/9) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||