Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 03 tháng 09 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Do buông lỏng quản lý, mất nhiều báo ít dẫn đến việc hơn 3.500 ha rừng tự nhiên và đất lâm nghiệp bị lấn chiếm. Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Trường Xuân (xã Trường Xuân, huyện Đắk Song), đang đối mặt với trách nhiệm pháp luật nghiêm khắc nhất.
Từ năm 1993 đến 2013 Bộ Lâm nghiệp, UBND tỉnh Đắk Lắk và UBND tỉnh Đắk Nông giao đất, giao rừng cho Lâm trường Trường Xuân nay là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Trường Xuân (gọi tắt là Cty Trường Xuân) quản lý và bảo vệ hơn 15.000 ha (bao gồm hơn 14.000 ha rừng tự nhiên, gần 240 ha rừng trồng, còn lại đất trống đồi núi trọc).
Qua 16 lần quyết định thu hồi để giao cho các địa phương, đơn vị quản lý, đến năm 2013, diện tích Cty quản lý là hơn 8.500 ha, tuy nhiên, con số này chỉ trên giấy tờ, thực tế rừng đã mất hơn 3.500 ha.
Khảo sát thực tế tại tiểu khu 1687 thuộc quản lý của Cty Trường Xuân, tận mắt chứng kiến toàn bộ diện tích rừng bị xóa trắng, nhường chỗ cho khoai lang, sắn mì xen lẫn cao su, cà phê.
Anh Y Thái (thôn 3, xã Trường Xuân) hiện đang canh tác gần 2 ha đất thuộc quản lý của Cty này cho hay: "Năm 2002 thấy đất trống nên gia đình khai hoang, bỏ trống một thời gian rồi trồng hoa màu. Từ lúc khai phá tới nay không có ai (cơ quan chức năng, chính quyền địa phương - PV) tới hỏi han, người của lâm trường thì càng không".
Cùng thôn, anh Ma Khánh cũng đang "sở hữu" gần 1,5 ha đất hồn nhiên cho biết: "Đất này anh mua từ năm 2006 từ một người với giá 4 triệu/sào, việc mua bán chủ yếu do hai bên tự thỏa thuận, không thông qua chính quyền cũng không quan tâm đến sự hiện hữu của chủ quản lý rừng Cty Trường Xuân. Hiện gia đình đã xuống giống trồng hơn 1,2 ha cà phê, 4 sào sắn mì".
Cùng chung số phận, các tiểu khu còn lại gồm: 1676, 1677, 1678, 1689, 1708 do Cty này quản lý rừng cũng bị phá, người dân thản nhiên phát canh trồng hoa màu, cà phê, cao su, mà không gặp phải sự can thiệp từ các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương và đơn vị quản lý rừng.
Từ năm 2009 đến nay để phá mất hơn 3.500 ha rừng nhưng Cty Trường Xuân chỉ báo cáo 181 ha, còn lại hơn 3.300 ha không báo cáo. Do vậy, các cơ quan quản lý nhà nước không nắm được tình hình, đưa ra biện pháp ngăn chặn kịp thời nạn phá rừng.
Theo kết luận thanh tra của UBND tỉnh Đắk Nông: "Từ năm 2008 đến nay, UBND tỉnh Đắk Nông đã có nhiều văn bản chỉ đạo các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã và chủ rừng thực hiện việc rà soát, thống kê diện tích rừng bị mất, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm, tiến hành cưỡng chế, giải tỏa thu hồi, lập phương án khoanh nuôi, tái tạo rừng. Nhưng diện tích thuộc Cty Trường Xuân quản lý chưa có diện tích nào bị cưỡng chế thu hồi để trồng rừng".
Lý giải việc để mất rừng, ông Thái Gia Hoan, Trưởng phòng tổ chức hành chính Cty Trường Xuân bao biện: "Nạn dân di cư tự do kéo đến ngày càng nhiều, lực lượng bảo vệ rừng quá mỏng, diện tích rừng dàn trải, nhiều tiểu khu nên chúng tôi không thể bao quát hết được. Việc bàn giao đất, giao rừng chỉ diễn ra trên giấy tờ, nên chúng tôi khó xác định được diện tích rừng bị phá trước khi được bàn giao cho Cty".
Tuy nhiên, kết luận thanh tra cho thấy mất rừng là do Cty chủ quan, buông lỏng quản lý. Từ năm 2008 đến năm 2013, Cty Trường Xuân có 159 báo cáo gửi các cơ quan Công an, UBND huyện Đắk Song và Sở NN&PTNT tỉnh chứ không hề gửi báo cáo lên UBND tỉnh Đắk Nông.
Ngoài ra, Cty này khai báo không đúng diện tích rừng bị mất hàng năm dẫn đến mất rừng trên diện rộng. Cụ thể từ năm 2009 đến nay để phá mất hơn 3.500 ha rừng nhưng Cty Trường Xuân chỉ báo cáo 181 ha, còn lại hơn 3.300 ha không báo cáo. Do vậy, các cơ quan quản lý nhà nước không nắm được tình hình, đưa ra biện pháp ngăn chặn kịp thời nạn phá rừng.
Trước những sai phạm trên, theo UBND tỉnh Đắk Nông trách nhiệm trước tiên thuộc về Giám đốc công ty ông Trần Quyết Tâm và cán bộ quản lý rừng của Cty Trường Xuân. Những người liên quan sẽ phải chịu mức xử lý kỷ luật nghiêm khắc.
Đồng thời Sở NN&PTNT tỉnh, Chi cục Kiểm lâm, UBND, Công an, Hạt Kiểm lâm huyện Đắc Song và UBND xã Trường Xuân cũng phải chịu trách nhiệm liên đới. Liệu có hay không việc một số người cố tình phớt lờ công tác quản lý bảo vệ rừng để trục lợi? (Tiền Phong 3/9, tr10) đầu trang(
"Theo xác nhận từ Chủ tịch UBND xã Cầm Bá Nhang, đã tự ý ký cho 4 hộ dân khai thác rừng trái thẩm quyền… Chúng tôi sẽ xử lý nghiêm sau khi có kết luận chính thức.” – Đó  là trao đổi của bà Lê Thị Hường, Phó chủ tịch UBND huyện Thường Xuân với báo chí.
Thời gian qua, khi dư luận rộ lên chuyện vị Chủ tịch UBND xã tự ý ký xác nhận cho người dân khai thác rừng, thuộc diện tích rừng phòng hộ xung yếu, PV đã tìm đến thôn Cụt Ạc (xã Xuân Chinh, huyện Thường Xuân) – nơi diễn ra tình trạng trên để làm rõ.
Để tới được thôn Cụt Ạc, phải vượt qua  4 con suối – nơi mà người dân cho biết họ thường xuyên chứng kiến lâm tặc và đầu nậu vận chuyển gỗ trái phép. Tại đây, theo tìm hiểu của PV, đầu nậu là người dưới Bái Thượng (huyện Thọ Xuân) thường xuyên lên thôn đấu mối với các hộ dân, thuê họ chặt phá rừng với mức bồi dưỡng cao, sau đó lợi dụng thời tiết mưa nhiều, vận chuyển gỗ bằng đường suối xuống dưới xuôi.
Gần đây, khi có sự xúi giục của đầu nậu, một số hộ dân được nhận khoanh giao bảo vệ một phần diện tích thuộc rừng phòng hộ đã nghe theo đầu nậu viết đơn xin UBND xã được phép tận dụng khai thác một phần diện tích gỗ trong diện tích được giao. Vị Chủ tịch UBND xã, ông Cầm Bá Nhang không hiểu có sự "mập mờ” gì không, đã tự ý ký xác nhận cho 4 hộ dân được phép khai thác theo đơn trình.
Tìm đến gia đình anh Lê Văn Cói, thôn Cụt Ạc, một trong 4 hộ dân được chủ tịch xã "cấp phép” khai thác, anh cho biết: "Phô tô cái bìa đỏ và một cái đơn thôi! Xã cho phép tận dụng khai thác một số cây gỗ để bán kiếm thêm thu nhập”. Cũng theo anh Cói, tình trạng khai thác rừng diễn ra mạnh, anh đã vào rừng và tận dụng lấy được một số gỗ về làm bộ trường phản.
Trong khi đó, nhà nằm ngay ở gần con suối, ông Vy Văn Trường - Trưởng bản Cụt Ặc bức xúc: "Tôi thấy họ thường xuyên vận chuyển gỗ qua suối xuống phía dưới rồi bốc lên xe. Không hiểu chính quyền địa phương, lực lượng chức năng ở đâu?”
Trước thực trạng nhức nhối trên, sau khi PV liên hệ với văn phòng UBND huyện Thường Xuân về xã Xuân Chinh để làm việc, tuy nhiên sau nhiều lần liên lạc (có chuông), vị chủ tịch UBND xã này vẫn không cầm máy.
Tìm đến UBND xã Xuân Chinh, PV đã có buổi làm việc, trao đổi với ông Cầm Bá Quân - Phó Chủ tịch phụ trách mảng nông nghiệp. Ông Quân cho biết: "Việc chủ tịch xã ký xác nhận cho 4 hộ dân khai thác là có thật. Hiện tại chủ tịch xã đang cùng lực lượng kiểm lâm xuống địa bàn để xác minh và kiểm tra thiệt hại”. Cũng theo ông Quân, thời gian qua địa bàn xã là một trong những điểm nóng về khai thác gỗ trái phép. Rằng, "gần đây nhất, vào hồi tháng 7, chính quyền xã đã phối hợp với lực lượng kiểm lâm bắt giữ cả chục mét khối gỗ nhóm 6, hiện vẫn đang để sau công sở, chưa được giải quyết”.
Xung quanh vụ việc, ông Lê Phú Vẽ, Hạt trưởng hạt kiểm lâm huyện Thường Xuân thừa nhận: "Hiện các anh em vẫn đang xuống thực tế tại địa bàn, chưa có thống kê chính thức thiệt hại”. Ông cũng cho biết: "Thời gian qua, lợi dụng thời tiết mưa nhiều, lâm tặc phá rừng vận chuyển qua suối hòng che mắt cán bộ kiểm lâm. Việc chủ tịch xã ký xác nhận cho người dân khai thác rừng là sai”.
Bà Lê Thị Hường, Phó Chủ tịch UBND huyện Thường Xuân khẳng định: Việc ký xác nhận của Chủ tịch UBND xã Xuân Chinh như vậy là sai hoàn toàn. Bà nhấn mạnh: Ngoài rừng trồng ra thì tất cả các loại rừng muốn khai thác phải có chỉ đạo của chính quyền huyện mà cụ thể là thông qua bà: "Chúng tôi vẫn đang xác định cụ thể mức độ sai phạm, ngoài sai phạm của cấp chính quyền địa phương còn phải có báo cáo Hạt kiểm lâm về trách nhiệm và mức độ sai phạm của kiểm lâm địa bàn. Sau khi có kết luận cuối cùng sẽ xử lý theo mức độ. Nhất định sẽ xử lý nghiêm!”. (Đại Đoàn Kết 3/9, tr10) đầu trang(
Ít ai biết rằng, ở ngay ngoại ô TP. Thanh Hóa, có một cánh rừng sưa rộng tới 10 ha, từng có cả ngàn cây sưa.
Trong một bữa nhậu ở TP. Thanh Hóa, anh bạn, là trùm buôn gỗ ở xứ Thanh tiết lộ: “Trên núi Hàm Rồng có đến cả ngàn cây sưa. Chuyện này ngay cả người dân Thanh Hóa cũng không biết, nhưng bọn trộm sưa thì không tên nào không biết. Rừng sưa bị trộm suốt, giờ vãn rồi, còn vài trăm cây thôi”.
Ở đâu đó có vài cây sưa thôi, đã thành sự kiện ầm ĩ. Đằng này, cả một cánh rừng với hàng trăm, thậm chí cả ngàn cây sưa hiện diện ngay thành phố đông đúc, mà không ai biết, quả là chuyện lạ. Dù không tin lắm câu chuyện của anh bạn lái gỗ, xong PV và đồng nghiệp cũng lò dò tìm lên núi Hàm Rồng xem xét sự tình.
Từ chân cầu Hàm Rồng, di tích lịch sử nổi tiếng, đi vòng vèo con đường nhỏ, xuyên qua những vạt đồi, rừng cây rậm rạp, dẫn lên sườn bên kia núi Hàm Rồng. Đường vắng bóng người. Rừng cũng im ắng. Đến tiếng chim hót cũng hiếm hoi.
Đi loanh quanh mãi mới gặp được một người đàn ông dắt trâu từ rừng ra. Hỏi thăm rừng sưa, ông này nhìn với con mắt cảnh giác, rồi chỉ đường một cách hờ hững. Đi được một đoạn, thì thấy tiếng xe máy nổ phía sau, đi chầm chậm, giữ khoảng cách với PV độ 200m. Có lẽ, việc hỏi thăm rừng sưa đã đến tai ai đó. Đi chừng vài trăm mét theo chỉ tay của người chăn trâu, thì thấy hiện ra căn nhà lúp xúp ngay vệ đường. Một người đàn ông đang ngồi vo gạo chuẩn bị bữa ăn.
Biết là nhà báo, anh dừng tay tiếp đón trên chiếc bàn cũ ngay bìa rừng. Anh giới thiệu là Mai Xuân Sơn, nhân viên bảo vệ Vườn thực vật Hàm Rồng. Anh Sơn bảo rằng, ngay khi PV rẽ vào rừng, trạm phía dưới đã nắm thông tin và theo sát di biến động của PV. Theo anh Sơn, khu rừng sưa có tên là Vườn thực vật Hàm Rồng. Vườn thực vật bao trùm toàn bộ quả núi Hàm Rồng. Khu rừng sưa rộng chừng 10 héc-ta, nằm trên sườn của núi, gồm 2 khu là Thung Xanh và Sao Đen.
Số lượng cây sưa từng có bao nhiêu thì anh không rõ, nhưng hiện tại, theo đánh số thì có gần 500 cây. Mỗi cây đều được đánh số riêng và được gắn biển phản quang. Núi Hàm Rồng vốn được giao cho các hộ dân từ 40 năm trước. Mỗi hộ dân được chia một vài ha để trồng rừng, phủ xanh đồi trọc. Khu vực Thung Xanh và Sao Đen đất đai cằn cỗi, dốc, lẫn nhiều đá tảng, lại không có nước, không trồng cây gì được, nên các hộ dân trồng sưa.
Ngày đó, cây sưa chẳng có công dụng gì. Cây lớn chậm, thân cành cong queo nên làm gỗ không đắt. Gỗ lại cứng như đá, đun không cháy, nên không có giá trị gì cả. Người dân trồng sưa cốt để phủ xanh đồi, giữ ẩm cho đất. Thế nhưng, đùng một cái, cách đây hơn chục năm, gỗ sưa có giá, bị săn lùng ráo riết. Những cây gỗ sưa do người dân trồng khi đó đã được 30 tuổi, thân to một người ôm, lõi bằng thân luồng, thậm chí bằng cái phích, rất có giá trị, bị đám sưa tặc nhòm ngó, cưa trộm liên tục.
Thấy giá trị rất lớn của rừng sưa cả ngàn cây, mà rừng sưa lại nằm trên quả đồi lịch sử, tỉnh Thanh Hóa đã nhanh chóng thu hồi đất rừng, đền bù cho dân, di dân ra khỏi rừng và thành lập Vườn thực vật Hàm Rồng, tổ chức kiểm lâm, bảo vệ trông giữ.
Theo anh Mai Xuân Sơn, mặc dù có đến 15 kiểm lâm, bảo vệ, chia làm hai trạm, trông coi suốt ngày đêm, song không giữ nổi khu rừng sưa này. Từng ngày, từng giờ sưa bị bọn lâm tặc chặt trộm. Anh Sơn bảo, người Thanh Hóa ít biết đến rừng sưa này, nhưng bọn trộm khắp miền Bắc đều rành.
Thời điểm năm 2011 và 2012, cơn sốt gỗ sưa lên đến đỉnh điểm, đám sưa tặc khắp cả nước đổ về nhòm ngó suốt ngày đêm. Bảo vệ đóng chốt ở chỗ này, chúng lại xẻ gỗ ở chỗ kia. Giá gỗ sưa đắt như vàng ròng, nên tội phạm càng manh động. Bọn chúng thường tổ chức một nhóm, ít nhất cũng phải 4 tên. Chúng dùng cưa tay, loại cưa Cá Mập rất sắc, chỉ kéo đi kéo lại vài lần là cây sưa một vòng tay ôm đã đổ kềnh.
Trong khi một số tên hạ cây, xẻ gỗ, thì những tên còn lại với mã tấu, kiếm dài cả mét, tuýp nhọn, thậm chí là súng đứng cảnh giới, sẵn sàng đâm chém lực lượng kiểm lâm, bảo vệ. Vì thế, chỉ tính năm 2011, hàng chục cây sưa tiếp tục bị đốn hạ.
Không đấu lại với bọn lâm tặc manh động, kiểm lâm đã kiến nghị với lãnh đạo tỉnh. Năm 2012, lãnh đạo Công an tỉnh Thanh Hóa đã vào cuộc, giao cho lực lượng công an phối hợp với kiểm lâm bảo vệ khu rừng này.
Lực lượng bảo vệ đã đốn hạ toàn bộ cây tạp trong khu rừng sưa để mở rộng tầm quan sát. Các cây sưa được đánh số, gắn biển phản quang. Các đội bảo vệ, kiểm lâm bảo vệ sưa 24/24. Ban ngày, hễ đội này nghỉ, thì đội kia đi tuần. Tại nhà trạm, lúc nào cũng có một đồng chí ngồi quan sát tứ phía. Đêm thì lia đèn pin công suất lớn liên tục khắp rừng để tìm biển phản quan. Chỉ cần điểm nào đó không phản quang, y rằng cây sưa đã bị đốn hạ.
Nếu phát hiện có sưa tặc, lực lượng bảo vệ sẽ điện thoại, lập tức công an, cơ động, dân quân sẽ bao vây tứ phía, tóm sống bọn trộm. Mặc dù có sự phối hợp tốt, nhưng việc tóm được bọn sưa tặc không phải dễ dàng. Tháng 5/2012, sau cả chục ngày đêm thay nhau mật phục, mặc cho muỗi vắt, mưa gió, mới tóm được nhóm sưa tặc gồm 5 tên.
Bọn chúng đến từ Nam Định, Thanh Hóa, phần lớn đều nghiện hút, nên rất manh động. Nhóm sưa tặc này đã tổ chức 3 lần cưa trộm, và đã đốn hạ tổng cộng 15 cây sưa ở núi Hàm Rồng. Mặc dù tổ chức bảo vệ rất công phu, nhưng trong 2 năm sốt gỗ sưa (2011 và 2012), sưa tặc hoành hành, núi Hàm Rồng vẫn mất khoảng 200 cây, một con số quá khủng khiếp và tiếc nuối.
Bọn sưa tặc toàn chọn những đêm mưa lớn, giông bão để thực hiện trộm cắp. Những đêm mưa, gió, lực lượng kiểm lâm, bảo vệ cứ mỗi người ôm một cây thì may ra mới bảo vệ được rừng sưa này.
Anh Sơn đưa PV đi một vòng rừng sưa, PV đếm không xuể những gốc sưa bị cắt sát mặt đất, vẫn còn trơ ra lõi đỏ. Mặc dù gốc, rễ có giá trị rất lớn, nhưng không ai đào lên đem bán. Điều đáng ngạc nhiên là vô số gốc sưa lớn quanh trạm kiểm lâm, chỉ cách vài bước chân, cũng bị sưa tặc đốn hạ. (VTC News 3/9) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa vừa có báo cáo tóm tắt về việc phá rừng phòng hộ ở thôn Cụt Ạc, xã Xuân Chinh, huyện Thường Xuân, gửi tới Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng UBND tỉnh Thanh Hóa.
Hiện cơ quan này đang tiếp tục phối hợp với cấp cơ sở kiểm tra lại số rừng bị tàn phá để củng cố hồ sơ, xử lý trách nhiệm của những người liên quan.
Để chứng kiến những khu rừng bị tàn phá ở thôn Cụt Ạc, phải đi bộ 10 km đường rừng từ thôn Cụt Ạc mới đến được điểm tập kết gỗ. Dọc lối mòn hun hút, thấy rất nhiều khúc gỗ tươi rói, chất đống nằm bên đường hay dưới những suối nhỏ chưa được lâm tặc đưa ra khỏi rừng.
Sau nhiều giờ luồn rừng dưới mưa và con đường nhầy nhụa đất đỏ, trước mắt là bãi gỗ vừa được bóc vỏ trắng tinh, cắt khúc dài khoảng 5-7 m nằm la liệt dưới lòng suối. Xa xa, một số người lúi húi đưa những khúc gỗ dưới suối lên bờ. Theo người dẫn đường, tình trạng phá rừng phòng hộ diễn ra khoảng 1 tháng trở lại đây vì thời điểm này nhiều mưa, họ đốn hạ rồi thả xuống suối, gỗ trôi đến bìa rừng thì sẽ có đội quân tập kết lại rồi đêm khuya đưa ô tô vào chở.
Men theo một lối mòn khoảng vài trăm mét, trước mắt PV là hàng loạt gốc cây mới đốn hạ đang rỉ nhựa. Đếm sơ qua có trên 20 gốc đường kính 30-50 cm, có gốc ôm không xuể.
Ông Cầm Bá Nhang, Chủ tịch UBND xã Xuân Chinh, cho biết người dân lợi dụng vào việc một số hộ được xã cấp phép khai thác để phá rừng. “Tôi đã cấp phép cho 4 hộ dân khai thác gỗ nhưng họ khai thác không đúng cây, đúng vị trí nên lợi dụng việc này lâm tặc đã khai thác tràn lan, chính quyền không kiểm soát được nên sinh ra phá rừng” - ông Nhang thừa nhận.
Theo người dân bản địa, lâm tặc khét tiếng ở khu Cụt Ạc chính là Tùng “điếc” (ngụ xã Xuân Bái, huyện Thọ Xuân), là cháu ruột của một phó chủ tịch UBND huyện Thường Xuân. Theo ông Nhang, khi phát hiện phá rừng, chính quyền địa phương đã lập đoàn đến kiểm tra và đưa số gỗ trên về, Tùng “điếc” đứng ra nhận là gỗ của mình và còn đe dọa cả tài xế (được chính quyền địa phương thuê vào chở gỗ), bắt phải đổ xe gỗ xuống cho y.
Bà Lê Thị Hường, Phó Chủ tịch UBND huyện Thường Xuân, cho biết xã Xuân Chinh ký giấy xác nhận cho người dân vào rừng khai thác là sai nguyên tắc. Đây là rừng phòng hộ, không phải rừng trồng nên người dân muốn khai thác thì phải lập danh sách số cây, vị trí khai thác; khi được huyện đồng ý và cán bộ kiểm lâm xuống đo đếm vị trí và số cây thì mới được khai thác. Cấp xã tham mưu không đến nơi đến chốn còn người dân thì hiểu biết ít nên mới xảy ra tình trạng phá rừng.
Liên quan đến người có tên là Tùng “điếc”, bà Hường khẳng định Tùng là cháu ruột của bà. Tuy nhiên, bà Hường nói không dung túng cho Tùng làm những việc trái pháp luật và sẽ xử nghiêm những người vi phạm, dù đó là ai.
Ông Lê Phú Vẽ, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Thường Xuân, thừa nhận việc khai thác rừng trái phép ở Cụt Ạc là có thật. “Qua kiểm tra, chúng tôi phát hiện có hơn 20 m3 gỗ được khai thác trái phép trong thời gian này. Trong đó, hơn 10 m3 đã được tập kết về UBND xã Xuân Chinh để xử lý, số còn lại khoảng 9 m3 đã bị “lâm tặc” lấy mất khỏi rừng. Đây toàn là gỗ tạp thuộc nhóm 7-8, chúng tôi đang cùng với công an huyện xuống địa bàn để điều tra, vận động người dân tố giác để tìm ra thủ phạm” - ông Vẽ nói.
Liên quan đến vụ này, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa cho biết đang chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện Thường Xuân hoàn thiện hồ sơ, xem xét trách nhiệm của trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Bù Đồn, kiểm lâm viên địa bàn xã Xuân Chinh.
Trong năm 2013 và đầu năm 2014, ở tỉnh Thanh Hóa xảy ra 2 vụ phá rừng quy mô lớn. Tháng 5-2013, tại khu vực rừng phòng hộ xã Xuân Hòa, huyện Như Xuân, lâm tặc triệt hạ và san phẳng 10 ha rừng. Sau đó, nhiều cán bộ kiểm lâm tại Hạt Kiểm lâm huyện Như Xuân bị xử lý và thuyên chuyển công tác.
Đầu năm 2014, trên địa bàn bản Na Đang, xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh xảy ra phá rừng phòng hộ Sông Lò. Qua kiểm tra, có gần 10 m3 gỗ bị khai thác trái phép. Đến ngày 22-5, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa đã cách chức đối với ông Trương Tiến Quân, Trạm trưởng Trạm Hón Sài (thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Lò). (Người Lao Động 30/8) đầu trang(
Khi gùi gỗ hương cho các đầu nậu buôn gỗ vào lúc rạng sáng, 6 người dân bị nước lũ cuốn trôi ở đập tràn của Trạm kiểm lâm. 5 người may mắn thoát chết, còn một người mất tích là Y Sunh H’Đớt (24 tuổi ở buôn K’nia, xã Ea Bar).
Ngày 1/9, lực lượng chức năng huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk cho biết: Họ đã tìm thấy thi thể nạn nhân Y Sunh H’Đớt trong vụ 6 người dân bị nước cuối trôi.
Trước đó, vào khoảng 3h ngày 30/8, 6 người dân xã Ea Bar đi gùi gỗ hương tại khu vực Trạm Kiểm lâm số 2 của Vườn Quốc gia Yok Đôn cho các đầu nậu buôn gỗ.
Khi đi qua đập tràn của Trạm Kiểm lâm số 2, cả 6 người bị nước cuốn. 5 người may mắn thoát chết, còn một người mất tích là Y Sunh H’Đớt (24 tuổi ở buôn K’nia, xã Ea Bar).
Sau 2 ngày tìm kiếm, lực lượng chức năng đã tìm thấy thi thể Y Sunh H’Đớt và đưa về an táng. (Tiền Phong 1/9) đầu trang(
30/8, Đội Kiểm lâm cơ động số 2, Chi cục Kiểm lâm Gia Lai cho biết, vừa phối hợp với Công an TP Pleiku, phát hiện thu giữ tổng cộng 11,6 m3 gỗ xẻ hộp ở địa bàn phường Phù Đổng, TP Pleiku, Gia Lai.
Trong đó, số gỗ trái phép của Công ty TNHH MTV Bảo Thanh (TP Pleiku) được phát hiện 6,12m3; số gỗ còn lại hơn 5,5m3 được cơ quan chức năng thu giữ ngoài khu đất trống, không rõ chủ nhân.
Hiện cơ quan chức năng đang tiến hành làm rõ, xử lý theo quy định. (Công An Nhân Dân 30/8) đầu trang(
30/8, Chi cục Kiểm lâm Phú Yên cho biết, UBND tỉnh này đã ra quyết định tịch thu gần 1,2 tấn gỗ hương có hình thù phức tạp thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm 2A.
Trước đó, lực lượng kiểm lâm phát hiện, tạm giữ số gỗ trên tại khu dân cư gần rừng thuộc xã Ea Lâm, huyện miền núi Sông Hinh (Phú Yên) nhưng không có chủ.
Theo Chi cục Kiểm lâm Phú Yên, trong vòng một tuần qua, đơn vị này phát hiện 9 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, xử lý 8 vụ, phạt tiền gần 200 triệu đồng; tịch thu hơn 2 tấn quả ươi, gần 1 tấn cành nhánh gỗ hương.
Hiện tình trạng rừng khai thác quả ươi trái phép tại Phú Yên đã cơ bản chấm dứt, song nhiều đối tượng vẫn còn cất giữ, vận chuyển, mua bán trái phép liên tỉnh. Trong khi đó, nạn chặt phá cây xay rừng hái quả lại mới diễn ra tại các huyện miền núi Sơn Hòa, Đồng Xuân, Sông Hinh, nhưng chưa được ngăn chặn. (Đời Sống & Pháp Luật 30/8) đầu trang(
Lâm tặc đốn hạ hơn 50 gốc cây Pơ mu nguyên sinh (ước tính hơn 150 m3 gỗ) mà lực lượng chức năng không hề hay biết. Đầu tháng 8, trong một lần đi tuần tra, tình cờ kiểm lâm địa bàn phát hiện sự việc, đã báo lên chính quyền xử lý. Nhưng đã gần một tháng nay, sự việc chưa được xử lý.
Sau khi nhận được tin báo của người dân địa phương về việc rừng phòng hộ thuộc khu vực biên giới Việt - Lào bị lâm tặc ngang nhiên đốn hạ, PV đã có mặt tại xã Tam Hợp, huyện Tương Dương.
Đặt câu hỏi vì sao rừng phòng hộ bị lâm tặc chặt phá nhưng chính quyền địa phương không hề hay biết, ông Vi Văn Toàn - Chủ tịch UBND xã Tam Hợp từ chối cung cấp thông tin cho PV, với lý do các cơ quan chức năng đang điều tra vụ việc.
Theo tìm hiểu của PV, vụ việc xảy ra cuối tháng 7; đến đầu tháng 8, hai kiểm lâm địa bàn là anh Hoàng Minh Ngọc và Nguyễn Văn Cường đi tuần tra rừng phòng hộ phát hiện khoảng 50 cây Pơ mu cách trụ sở UBND xã Tam Hợp chừng hơn 2km bị lâm tặc đốn hạ và đã kịp thời báo cáo sự việc này cho lãnh đạo đơn vị.
Đầu tháng 8, Chủ tịch UBND huyện Tương Dương ông Trịnh Minh Châu đã thành lập đoàn kiểm tra liên ngành gồm Hạt Kiểm lâm, BQL rừng phòng hộ Tương Dương, kiểm lâm địa bàn xã Tam Hợp, UBND xã Tam Hợp, cán bộ Đồn Biên phòng Tam Hợp và Công an huyện vào thị sát hiện trường.
Được biết, khu vực rừng bị chặt phá là rừng phòng hộ thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Tương Dương quản lý, bảo vệ. Tuy nhiên khu rừng này đã và đang bị lâm tặc “xẻ thịt” hơn 150 m3 gỗ Pơ mu mà các cơ quan chức năng không hề hay biết.
Ông Võ Sỹ Lâm - Hạt trưởng hạt kiểm lâm Tương Dương cho biết: “Hiện vụ việc đang được Công an huyện, Ban QL rừng phòng hộ và Kiểm lâm huyện phối hợp xử lý. Chưa thể cung cấp thông tin vì trong giai đoạn điều tra…”.
Ông Ngũ Văn Trị - Trưởng BQL rừng phòng hộ Tương Dương cho hay: “Chúng tôi đã phối hợp với các ngành chức năng bảo vệ hiện trường, không cho lâm tặc tẩu tán số gỗ trên, đồng thời truy tìm các đối tượng phá rừng…”.
Bước đầu, Công an huyện Tương Dương đã xác định được có 4 nhóm người liên quan đến việc chặt phá rừng phòng hộ, đa số họ thuộc 2 bản Phà Lỏm và bản Văng Môn của xã Tam Hợp.
Đã gần 1 tháng kể từ khi phát hiện vụ việc, hơn 150 m3 gỗ Pơ mu bị chặt phá vẫn còn nằm ở trong rừng, dù đã được kiểm đếm nhưng vẫn chưa được đưa ra khỏi hiện trường đã điều tra xử lý. Dư luận đặt câu hỏi đằng sau những đối tượng tham gia chặt phá rừng có sự tiếp tay của những “ông trùm” buôn bán gỗ lậu ở địa phương hay không? (Tiền Phong 1/9) đầu trang(
30-8, Cơ quan Công an huyện Thanh Chương và Hạt Kiểm lâm huyện Thanh Chương (Nghệ An) đang điều tra, truy tìm hành khách vứt 22 chân, tay gấu rồi chạy trốn.
Trước đó, trên quốc lộ 46 (thuộc địa phận xã Thanh Khai, huyện Thanh Chương), lực lượng Đội CSGT 1/46 (thuộc Phòng CSGT, Công an tỉnh Nghệ An) phát hiện xe khách mang biển số Lào un-6868, chạy hướng đường mòn Hồ Chí Minh về TP Vinh (Nghệ An) trả khách và giao hàng dọc đường.
Trong khi Đội CSGT 1/46 kiểm tra chiếc xe này thì một hành khách vứt hai chiếc bao tải rồi tháo chạy thoát thân. Kiểm tra hai chiếc bao tải này thì phát hiện phía trong đựng 22 chân, tay gấu ướp đá đang bốc mùi hôi thối. (Pháp Luật TPHCM 31/8) đầu trang(
Cách suối Ea Khal (tiểu khu 207, xã Cư Kbang, H. Ea Súp) khoảng 2km, có một con đường đất đỏ nối từ tiểu khu 207 chạy về trung tâm xã Cư Kbang, xã Ea Lê (H. Ea Súp), trước khi dẫn về H. Ea Súp được gọi là "con đường gỗ lậu".
Cả ngày 27-8, PV bám theo một nhóm lâm tặc chở gỗ lậu. Gần 12 giờ cùng ngày, cách phân trường Ea Khal (tiểu khu 207, thuộc quản lý của Cty TNHH MTV Rừng Xanh) khoảng 3km, chúng tôi nghe tiếng xe máy nổ ì ạch. 5 phút sau, 3 lâm tặc điều khiển 3 chiếc xe máy độ chế lù lù xuất hiện từ suối Ea Khal, sau đó rẽ về con đường mà PV nói trên.
Trên xe, mỗi lâm tặc chở theo 3 lóng gỗ vuông có đường kính khoảng 40cm, chiều dài khoảng 1,2m. PV vốn người lạ, lại ăn bận "sơ vin" rất giống... cán bộ nhưng nhóm lâm tặc không hề lo sợ, có người còn ngoái đầu nhìn cười và rồ ga để tiếp tục cuộc hành trình. PV bám theo.
Nhóm lâm tặc di chuyển với tốc độ 30km/h. Thấy PV nối đuôi, lâm tặc vẫn di chuyển bình thường như không có chuyện gì. Đi được 6km thì đến đoạn đường lầy lội, một chiếc xe chở gỗ đi tiên phong lui số, tăng ga vượt qua nhưng bị mắc kẹt dưới vũng lầy.
Thấy thế, 2 chiếc xe chở gỗ còn lại dừng xe, tiến đến tìm cách vượt điểm lầy. Áp sát, trực tiếp đối mặt với lâm tặc. 3 lâm tặc tuổi còn rất trẻ (khoảng từ 17 đến 25 tuổi), trên gương mặt dính dầu luyn, mùn cưa dính đầy áo, riêng những khúc gỗ còn tươi rói chứng tỏ các đối tượng vừa khai thác gỗ trong ngày.
Gặp người lạ, lâm tặc không hề nao núng, thậm chí còn ngõ ý nhờ "người lạ" đẩy xe gỗ qua đoạn đường lầy. Khi cả 3 xe chở gỗ đã vượt qua, lâm tặc mới sực nhớ sự có mặt của "người lạ". Một lâm tặc hất hàm hỏi: "các anh đi đâu qua đường này?". PV nói về trung tâm xã Cư Kbang. "Vậy thì đi theo chúng tôi", lâm tặc này nói. Trước khi đi theo lâm tặc, PV lân la dò hỏi thì được biết số gỗ trên là gỗ sao. Còn về chỗ khai thác, nhóm lâm tặc chỉ tay về khu vực suối Ea Khal.
Sau khi vượt qua vũng lầy, 3 người đi trên 3 chiếc xe máy độ chế khác (gồm phụ nữ và đàn ông) chở theo cưa lốc, can nhựa chứa dầu luyn chạy đến nhập hội. Cả nhóm di chuyển khoảng 3km thì 3 người chở cưa máy đi sau rẽ sang con đường bên trái, còn 3 chiếc xe chở gỗ bon bon đi thẳng vào hướng trung tâm xã Cư Kbang.
Càng đi vào trong càng gần trung tâm xã, nhà cửa, dân cư nhiều hơn. Tiếng xe máy chở gỗ lậu gầm rú đi giữa hàng trăm người nhưng hầu như chẳng có ai thèm nhìn hay để ý đến sự có mặt của 3 chiếc xe chở gỗ lậu? Lúc đến ngã ba thôn 12, xã Cư Kbang, nhóm lâm tặc bất ngờ rẽ về hướng thôn Ba Tiến (xã Cư Kbang) khiến PV mất dấu.
PV tiếp tục di chuyển thêm 7km thì bất ngờ đụng nhóm lâm tặc trên tại cánh đồng thuộc thôn 5, xã Cư Kbang, trước khi lâm tặc chạy mất hút trên con đường liên xã Cư Kbang qua xã Ea Lê để về H. Ea Súp.
Quá trình theo đuôi lâm tặc, điều làm PV khó hiểu là gỗ lậu đi qua khu đông dân cư nhưng người dân chẳng thèm để ý.  Phải chăng, họ đã quen với hình ảnh xe gỗ lậu đi qua đây, rằng tuyến đường này thường xuyên được lâm tặc dùng để tuồn gỗ lậu sau khi "xẻ thịt" rừng? Nghi vấn của PV càng có cơ sở khi một số người dân sống ở đây cho biết họ hay thấy xe chở gỗ chạy qua, bao gồm xe tải chở gỗ loại lớn và xe máy độ chế chở gỗ như 3 lâm tặc mà PV phản ánh trên.
Ngay cả ông Đàm Văn Hà, Chủ tịch UBND xã Cư Kbang cũng xác nhận có tình trạng vận chuyển gỗ lậu trên tuyến đường liên xã từ xã Ea Rốc sang xã Cư Kbang, xã Ea Lê trước khi đi vào các xưởng gỗ. Theo ông Hà, lâm tặc chở gỗ nhiều vào mùa khô, mùa mưa ít hơn vì đường lầy lội. Gỗ lậu được chở bằng xe độ chế có thể chở được 6 đến 7m3 gỗ, chủ yếu chuyển vào rạng sáng, còn ban ngày "cho thêm tiền không dám đi!?".
PV hỏi "biết rõ đường đi của lâm tặc, sao không tiến hành vây bắt"? ông Hà giải thích: Cũng có bắt. Với lại lâm tặc vận chuyển vào ban đêm, vào thứ bảy-chủ nhật, lúc cán bộ xã nghỉ, hoặc đi học nên cũng khó!
Theo tìm hiểu của PV, trên tuyến đường mà lâm tặc vận chuyển gỗ có 1 trạm kiểm lâm địa bàn liên xã (quản lý địa bàn 5 xã Ia Jlơi, Ia Lốp, Ia Rvê , Ea Rốc, Ea Lê), đóng gần nghĩa địa thuộc xã Ea Lê. Điều khó hiểu là làm sao lâm tặc có thể lọt qua được trạm này?
Về điều này, ông Nguyễn Văn Thuấn, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm H. Ea Súp cho biết: "Hạt cũng đã nhiều lần bắt giữ gỗ trên tuyến đường đó. Thực tế, đơn vị cũng ít người, lại nhiều việc nên có nhiều lúc làm chưa hết, đâu đó còn sổng, còn lọt nhưng kiểm lâm làm cương quyết chứ không dung túng ai cả", ông Thuấn nói.
PV thông báo cho ông Nguyễn Trọng Hải, Phó giám đốc Cty TNHH  MTV Lâm nghiệp Rừng Xanh vụ việc nhóm lâm tặc vô tư vận chuyển gỗ lậu từ lâm phần thuộc quản lý của Cty Rừng Xanh.
Từ thông tin do P.V cung cấp, ông Hải cho biết có thể lâm tặc đã cắt trộm gỗ từ tiểu khu 216, 192, 193.  Ông Hải còn nói do đường sá đi lại khó khăn, lực lượng bảo vệ rừng phải quản lý ở nhiều nơi nên có thể không phát hiện được trường hợp trên. Việc lâm tặc vận chuyển gỗ cách phân trường Ea Khal khoảng 3km nhưng không biết những nhân viên bảo vệ rừng của phân trường này có thấy không?
Rồi chuyện cơ quan chức năng "làm chưa hết, đâu đó để sổng để lọt" gỗ có nhiều không, chỉ biết rằng tại các Cty lâm nghiệp đóng ở H. Ea Súp như Cty Cư Mlan, Cty Ea H'mơ, Cty Rừng xanh, Cty Ya Lốp đã có hàng nghìn héc-ta rừng bị mất từ 5-6 năm nay. (Công An TP Đà Nẵng 1/9) đầu trang(
29.8, ông Nguyễn Văn Hùng - Giám đốc Vườn quốc gia Tràm Chim - VQGTC (huyện Tam Nông) cho biết, sau thời gian cứu hộ tích cực, sức khoẻ của cá thể bồ nông được người dân ở thị trấn Tràm Chim giao nộp cho vườn đang tiến triển khá tốt.
Hiện chim đã có thể đạp cánh, ăn uống nhẹ. Dự kiến tuần tới, khi sức khoẻ chim ổn định, sẽ tổ chức thả về thiên nhiên. Được biết, 3 ngày trước, vợ chồng ông Nguyễn Minh Khánh phát hiện và bắt được chim lạ trong tình trạng sức khoẻ nguy kịch, nên đã chủ động đưa đến Trung tâm Du lịch và Giáo dục môi trường (VGQTC) cứu hộ.
Xác định đây là chim bồ nông, có tên khoa học là pelecaniformes nằm trong sách Đỏ Việt Nam, nên đội ngũ nhân viên của trung tâm kết hợp với kỹ sư của VQGTC tổ chức cứu hộ tích cực. Qua đo đạc nghiệp vụ, bước đầu xác định bồ nông khoảng 5 năm tuổi, nặng hơn 2,5kg, cao gần 1m.
Ông Hùng cho biết, đang làm thủ tục khen thưởng đột xuất cho vợ chồng ông Khánh, nhằm động viên khích lệ ý thức bảo tồn quần thể các loài động vật hoang dã. Được biết, nhờ có chính sách khen thưởng, động viên kịp thời, nên thời gian qua, cư dân sống quanh khu vực VQGTC nhiều lần tự nguyện mang động vật hoang dã đến vườn cứu hộ, thả về thiên nhiên. (Lao Động 30/8) đầu trang(
Với số tiền bán hạt từ 150-300.000 đồng/ngày/người, nên nhiều người dân ở nhiều huyện miền núi của Quảng Ngãi còn ví cây khổ sâm, còn gọi là cứt chuột là cây "xóa đói".
Theo lời người dân ở xã Trà Thọ, huyện Tây Trà thì không phải đến bây giờ mà việc thu mua hạt khổ sâm đã diễn ra từ nhiều năm qua. Tuy nhiên trước đó giá khá thấp, chỉ từ 5-10.000 đồng/kg.
Thế nhưng gần đây, giá mua đã được nâng lên 20.000 đồng/kg, thậm chí có thời điểm lên đến 27.000 đồng/kg. Cho nên người dân mới đổ xô lên nương, vào núi để tìm hái.
Bà Hồ Thị Kin, người dân ở thôn Tre, xã Trà Thọ cho biết: Mỗi buổi đi hái cũng được 5-10 kg, bán được từ 100-200.000 đồng/ngày. Nhiều hôm gặp điểm khổ sâm mọc nhiều, tiền thu hoạch hạt bán từ 300-400.000 đồng/ngày/người. Không biết thương lái mua về làm gì, nhưng cứ đến chiều là họ cỡi xe máy vào tận các nhà để hỏi mua. Người dân hái được bao nhiêu là thương lái mua hết. Nhiều người nếu cần thì còn được thương lái cho ứng tiền trước, ông Hồ Minh Trí, cán bộ thôn Tre kể.
Theo lời người dân, thì khổ sâm là loại cây mọc tự nhiên trong rừng, ven bìa nương rẫy... Từ tháng 5 đến tháng 8 âm lịch hàng năm là khổ sâm trổ hoa và cho trái, vì vậy đây cũng là thời gian thu hoạch hạt khổ sâm của người dân trong vùng. Tuy nhiên trước sự truy tìm của đông đảo người dân nên lượng khổ sâm ngày càng ít dần.
Qua quan sát, thì cây khổ sâm khá thấp, với chiều cao chừng 1,5-2 m, lá hình mũi, đầu nhọn. Hai mặt lá có lông mịn, hoa nhỏ trắng mọc thành chùm ở nách lá hoặc đầu cành. Hạt nếm có vị rất đắng và nhìn có hình dáng giống như phân con chuột, nên bà con gọi là cây cứt chuột.
Theo ông Vũ Văn Anh, Chủ tịch Hội Đông y T.p Quảng Ngãi, thì khổ sâm  mọc nhiều ở những khu rừng mát mẻ, ẩm ướt như huyện Trà Bồng và Tây Trà. Đây là loại dược liệu quý, chữa các bệnh đường ruột như tiêu chảy, kiết lỵ, viêm loét dạ dày-tá tràng, đau bụng, tiêu hoá kém…
Ngoài ra nó cũng có tác dụng chữa sốt rét.  Vì vậy không chỉ cả thị trường nội địa, mà Trung Quốc rất chuộng hạt cây này nên mua giá cao. Thiết nghĩ cơ quan chức năng Quảng Ngãi cần có biện pháp để ngăn chặn, bảo tồn; tránh tình trạng dược liệu quý “đội nón” sang Trung Quốc. (Công An TPHCM 30/8) đầu trang(
Do thời tiết nắng nóng kéo dài cộng với việc ý thức phòng cháy của người dân và khách du lịch chưa cao nên đã liên tục xảy ra những vụ cháy rừng, nhất là các địa điểm du lịch có rừng…
Núi Thiên Ấn, thuộc phường Trương Quang Trọng, TP Quảng Ngãi, trên đỉnh có ngôi chùa cổ Thiên Ấn; mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng và gần chục héc-ta rừng già lâu năm, được xếp hạng di tích và thắng cảnh cấp quốc gia. Tại đây, mỗi ngày có hàng trăm du khách và người dân địa phương đến ngắm cảnh, viếng chùa. Cũng vì thế, dưới chân núi “mọc lên” nhiều hàng quán tạp hóa, ăn uống. Tuy nhiên, do thiếu ý thức về công tác phòng cháy của người dân và du khách nên đã dẫn đến những vụ cháy rừng.
Chỉ tính từ đầu năm 2014 đến nay, đã xảy ra 6 vụ cháy rừng, gây thiệt hại đến nhiều héc-ta rừng. Hòa thượng Thích Hạnh Trình, trụ trì chùa Thiên Ấn, cho biết: Đa phần các vụ cháy thường xảy ra ở hướng Đông, do một số quán ăn uống mọc trái phép dưới chân núi, khách đến ăn uống rồi vứt tàn thuốc bừa bãi gây ra cháy. Nhiều héc-ta rừng cây không mọc lên nổi do năm nào cũng xảy ra cháy. Vì vậy, nhà chùa cắt cử người tuần tra, đặc biệt vào các ngày rằm hằng tháng để nhắc nhở người dân ý thức bảo vệ rừng…
Tương tự, tại núi Long Đầu, thuộc phường Trương Quang Trọng, TP Quảng Ngãi, từ đầu năm đến nay cũng đã xảy ra nhiều vụ cháy. Có ngày khu vực núi này xảy ra liên tiếp 3 vụ cháy. Nguy hiểm hơn đây là khu vực nằm giữa khu dân cư, cơ quan và doanh trại quân đội.
Nguyên nhân xảy ra cháy được xác định do người dân trong lúc khai thác rừng trồng, đốt hương, giấy vàng mã khi viếng mộ vô ý để xảy ra cháy lan. Hoặc như gần đây nhất là vụ cháy gần 10 héc-ta rừng trồng tại khu vực gần núi Lớn, thuộc thôn Vạn Lý, xã Phổ Phong, huyện Đức Phổ. Do gặp gió lớn nên ngọn lửa lan ra diện rộng; mặt khác đây là khu vực có đồi núi hiểm trở nên công tác chữa cháy gặp rất nhiều khó khăn...
Thống kê của Phòng Cảnh sát PCCC và cứu nạn cứu hộ Công an tỉnh Quảng Ngãi, từ đầu năm 2014 đến nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã xảy ra 50 vụ cháy, trong đó 20 vụ cháy rừng. Nguyên nhân dẫn đến cháy rừng chủ yếu là do người dân không ý thức trong việc đốt thực bì, đốt rác dẫn ra cháy. Hoặc do khách du lịch vứt tàn thuốc; người đi thăm mộ thắp hương, đốt vàng mã gây cháy.
Hiện nay đang vào giai đoạn cao điểm của mùa nắng nóng, nguy cơ xảy ra cháy rừng là rất lớn. Bên cạnh sự chủ động phòng chống cháy rừng của cơ quan chức năng và chính quyền địa phương thì mỗi người dân và khách du lịch cần phải nâng cao ý thức, trách nhiệm trong công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng… (Công An Nhân Dân 1/9) đầu trang(
Điểm nóng của tình trạng khai thác lâm sản trái phép thuộc khu vực giáp ranh giữa các H.Đức Trọng, Di Linh (Lâm Đồng) và H.Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc (Bình Thuận).
Ông Đinh Tiến Hùng, Hạt trưởng hạt Kiểm lâm H.Di Linh, cho biết Di Linh có 95 ngàn ha rừng/ 164 ngàn ha đất tự nhiên, trong đó diện tích rừng giáp ranh tỉnh Bình Thuận kéo dài hàng chục km. Khó khăn lớn nhất trong việc giữ rừng là địa bàn rộng, địa hình trắc trở.
Từ trung tâm H.Di Linh muốn đến các điểm nóng phá rừng phải đi gần 100km. Quá trình di chuyển của đoàn công tác rất dễ bị lâm tặc theo dõi, báo động cho nhau lẩn trốn. Rất nhiều lần tổ công tác đến được hiện trường, thấy gỗ mới cưa nằm lăn lóc nhưng lại không thấy lâm tặc đâu. Do không thể vận chuyển số gỗ lậu nên đành phải cưa nhỏ và đốt hủy tại chỗ.
Khi Hạt kiểm lâm Di Linh lập chốt tại các điểm Km 52, Km 70, QL 28, thuộc xã Gia Bắc và Sơn Điền để ngăn chặn việc vận chuyển gỗ lậu đi H.Hàm Thuận Bắc (Bình Thuận), thì lâm tặc chuyển hướng qua H.Bắc Bình. Khi huyện lập chốt chặn tại TK 701, thì lâm tặc mở đường mới từ TK 706 xa hàng chục km, rồi vòng ngược lên các TK 723, 724, 777 để khai thác gỗ. Chúng tự độ chế xe cải tiến để vận chuyển gỗ về xã Phan Sơn (H.Bắc Bình) hoặc Ninh Loan (H.Đức Trọng).
Ông Trần Anh Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH lâm nghiệp Tam Hiệp, đơn vị quản lý các điểm nóng nói trên, kể: “Có lần anh em bắt giữ 1 chiếc xe chở gỗ trái phép, khoảng 2 giờ sáng có số điện thoại lạ gọi cho tôi rồi “mặc cả” thả xe với giá 50 triệu đồng, chúng còn lên giọng thách thức, hăm dọa nữa. Một lần khác, đoàn công tác liên ngành bắt giữ 1 xe cải tiến chở gần 3m3 gỗ nhóm II, khi đưa xe vi phạm ra tới cửa rừng thì có gần 100 lâm tặc và người nhà bao vây dùng mã tấu, gạch đá gây áp lực để “cướp” lại xe, có kẻ manh động giật cả súng AK của cán bộ bảo vệ rừng vứt xuống suối. Lâm tặc còn cởi trần nằm dưới bánh xe đoàn công tác để yêu sách thả người vi phạm”.
Cuối tháng 2.2014, hai cán bộ của Công ty TNHH lâm nghiệp Tam Hiệp phát hiện K’ Joan (xã Tam Bố) vận chuyển gỗ lậu nên yêu cầu đưa xe về trụ sở giải quyết thì bị y chửi bới, xúc phạm rồi vứt gỗ xuống đường, lái xe bỏ đi. Tối hôm sau, K’Joan cùng 3 người khác “mời” 2 cán bộ trên uống rượu. Chúng thu điện thoại của 2 cán bộ, ép uống rượu rồi lăng mạ, đánh đập…
Vụ việc được trình báo cơ quan công an. Sau gần 3 tháng điều tra, Công an H.Di Linh chỉ xử phạt hành chính K’ Joan 2,5 triệu đồng, vì chưa cấu thành tội phạm! Trước tình hình đó, tỉnh Lâm Đồng phối hợp với tỉnh Bình Thuận quyết định cho xây dựng trạm kiểm soát liên ngành tại TK 726 để ngăn chặn tình trạng phá rừng giáp ranh.
Tuy vậy, ông Đinh Tiến Hùng cho biết cuộc chiến giữ rừng trên địa bàn giáp ranh vẫn còn nhiều gian nan và khốc liệt. Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng, trong 5 năm gần đây, toàn tỉnh xảy ra hơn 11.200 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, trong đó mua bán vận chuyển lâm sản trái phép 4.950 vụ, khai thác lâm sản trái phép 2.152 vụ. (Thanh Niên 29/8) đầu trang(
Hơn 60 phóng viên, bác sĩ và nghệ sĩ tại TP.HCM vừa tham gia thảo luận, gợi ý giải pháp xoay quanh chủ đề “Vai trò của truyền thông trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng và cải thiện hình ảnh VN trong mắt bạn bè quốc tế về vấn nạn sử dụng sừng tê giác”.
Chương trình trên là hoạt động nằm trong chuỗi chiến dịch “Chấm dứt sử dụng sừng tê giác” được phối hợp thực hiện bởi WildAid (Tổ chức Bảo vệ động vật hoang dã), African Wildlife Foundation (Quỹ hoang dã châu Phi) và Change (Trung tâm Hành động và liên kết vì môi trường và phát triển).
Tại chương trình, bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng (chủ tịch Hội Ung thư VN) đã đưa ra nhiều tư liệu khẳng định sừng tê giác hoàn toàn không có tác dụng trong điều trị ung thư.
Theo Bộ Môi trường Nam Phi, đã có 1.004 con tê giác bị giết để lấy sừng trong năm 2013, con số này trong năm 2014 là 668 (tính đến tháng 8). Hiện nay, VN và Trung Quốc được coi là hai thị trường tiêu thụ sừng tê giác lớn nhất thế giới.
Bà Hoàng Thị Minh Hồng, Giám đốc Trung tâm Change chia sẻ: “Một thử thách đối với chúng tôi là người tiêu dùng Việt Nam thường hay tin vào những lời đồn thổi, những thông tin ngoài lề hơn là vào chứng cứ khoa học. Bộ Y tế đã khẳng định, sừng tê không phải là một thần dược có thể chữa các bệnh nan y. Nếu như mọi người không quan tâm đến việc mình đang đẩy một loài vật quý báu của thiên nhiên hoang dã đến nguy cơ tuyệt chủng, thì mọi người cũng nên biết rằng mình đang mất rất nhiều tiền vào một thứ vô bổ”.
Được biết, trong 6 tháng qua, chiến dịch “Chấm dứt sử dụng sừng tê giác” đã phối hợp với các đối tác truyền thông để sản xuất và phát sóng 9 thông điệp truyền hình trên hơn 20 kênh truyền hình; hơn 3.000 ấn phẩm quảng cáo in được xuất bản bởi gần 10 đầu báo.
Các cơ quan thông tin truyền thông như đài truyền hình, đài phát thanh, báo giấy, báo điện tử, tạp chí và các đơn vị truyền thông khác trong nước đã cam kết hỗ trợ chiến dịch, đóng góp gần 65 tỷ đồng cho chiến dịch thông qua hình thức hỗ trợ đăng tải miễn phí các thông điệp truyền hình và quảng cáo in có sự xuất hiện của các đại sứ thiện chí nổi tiếng kêu gọi công chúng thay đổi niềm tin và hành vi để bảo vệ loài tê giác đang trong tình trạng nguy cấp.
Trong những tháng tiếp theo, ban tổ chức chiến dịch mong muốn được tiếp tục phối hợp chặt chẽ hơn với nhà báo để đưa thông điệp của chương trình đến với cộng đồng rộng khắp hơn nữa. (Tuổi Trẻ 30/8; Sài Gòn Giải Phóng 1/9, tr10) đầu trang(
Những tưởng nơi thượng nguồn sông Re (thuộc xã Hiếu, H. Kon Plông) xa xôi sẽ không bị xâm phạm bởi bàn tay con người. Thế nhưng, những điều chứng kiến hoàn toàn ngược lại: Thượng nguồn dòng sông bị băm nát bởi vàng tặc. Súng đã nổ, máu đã đổ ở nơi đây!
Sau nhiều lần làm quen, vừa làm “công tác tư tưởng”, A P. một cư dân địa phương mới đồng ý dẫn PV vượt rừng tiếp cận bãi vàng tại khu vực thôn Kon Piêng, thôn Kon Plinh (xã Hiếu). Có đi mới biết, nếu không có người bản địa dẫn đường, khó có thể tìm đến nơi “vàng tặc” đóng đô.
Sau khi “dụi” vội 2 chiếc xe máy vào cuối con đường bị chắn bởi đá và dòng suối, A P. dẫn PV nhảy qua những tảng đá vượt dòng sông qua con đường mà “vàng tặc” mở vào bãi vàng trái phép. Để có đường đưa máy móc vào làm vàng, các chủ bãi đưa máy múc, máy đào vào múc đất, hạ cây để làm đường. A.P nhận định: “Trữ lượng phải lớn lắm mới đầu tư như thế này”.
Sau gần 2 giờ vượt qua nhiều con suối, các cánh rừng đầy vắt, dần tiếp cận bãi vàng ở thung lũng Kon Plinh. Hai bên bờ suối bị băm nát như bom cày, với hố, hầm sâu hút, ống hút nhựa, dàn sàng vàng vứt lăn lóc khắp nơi. A P. chỉ về phía những hầm vàng sâu 10m, rộng hàng chục mét cho biết: “Cách đây mấy tháng ở đây họ (vàng tặc) làm nhiều lắm. Giờ vừa bị truy quét, vừa hết vàng nên họ chuyển xuống phía dưới”.
Những lán trại đã được tháo dỡ, nhưng xung quanh vẫn ngổn ngang hàng trăm nghìn mét khối đã bị đào xới, hàng trăm gốc cây rừng bị đốn hạ phục vụ cho việc bới đất hút vàng, vừa làm lán trại. Dòng sông Re gần như bị vùi lấp hoàn toàn bởi đất mà “vàng tặc” đào bới ra.
Chỉ chưa đầy 1km đã có đến 3 bãi vàng khai thác dang dở, mùi xyanua còn bốc nồng nặc và bám vết ố đỏ trên những viên đá dọc bờ sông. Tưởng chừng như những cuộc truy quét của chính quyền địa phương đã đẩy đuổi “vàng tặc” ra khỏi nơi đây, song A P. nói: “Còn đấy! Đi xuống dưới nữa vẫn còn bãi họ đang làm! Nhưng cẩn thận, bọn chúng có cả dao, súng, anh em mình không cẩn thận là nằm lại giữa rừng sâu đó!”.
A.P lo ngại, nên A.P quyết định tiếp cận bãi vàng này bằng con đường vòng đi xuyên qua những cánh rừng đầy gai mây và vắt để ghi hình. 15 phút sau, đã ở đối diện bên kia bãi vàng, nơi “vàng tặc” vẫn ngang nhiên hoạt động. Máy hút được đẩy sát vào bìa rừng dọc suối, lán trại vẫn được dựng lên và có khoảng 8-10 lao động công khai khai thác.
Bên triền sông, chiếc máy hút nổ chọc ống vào hầm vàng bên bờ suối, ầm ì hoạt động hết công suất hút từng dòng nước đục ngầu đất lên máng đãi. Thi thoảng, từ trong lán trại một người đàn ông khoảng 30 tuổi đi ra kiểm tra bên máng. Bên trong lán, vài người đàn ông khác đang ngủ vật vạ trên sàn.
A P. chỉ lên bầu trời: “Sắp mưa rừng rồi, ra nhanh không chứ không có đường về đâu! Mình dẫn lên trên kia, bãi của hai “ông trùm” lớn nhất ở đây!”. PV lại nhón từng bước chân về lại bên bờ sông. A P. tiếp tục dẫn PV đi men theo con đường mòn ven suối mà lâm tặc đã mở để vận chuyển lương thực, mắm muối, xăng dầu vào tận nơi cũng như tránh cơn mưa rừng về đột ngột.
Gần 2 tiếng đồng hồ sau, tiếp tục chứng kiến một bãi vàng khác với quy mô khá lớn ngay tại thung lũng núi Kon Piêng, nơi đánh dấu lãnh địa của 2 “ông trùm” làm vàng Ngàn - Thùy và những trận thanh toán nhau đổ máu. Tương tự sông Re, nơi này cũng như trải qua một trận “mưa bom” với những hố, hầm, những đống đất, đá được đào lên để tìm vàng chất cao như núi và trải rộng trên hơn 500m2.
Lán trại, nơi in trận thanh toán nhau giữa 2 “ông trùm” vẫn còn đó trong việc tranh giành lãnh địa, mua đất sản xuất của người dân để “bới” vàng. Qua tìm hiểu thông tin, được biết “vàng tặc” vừa rút hết máy đào, máy múc cách đây vài hôm, bởi thời điểm cao nhất ở khu vực dọc sông Re này có 5 máy đào, hàng chục máy hút, máy sàng và hàng trăm người làm vàng ở đây. (Công An TP Đà Nẵng 29/8) đầu trang(
Với hành vi khai thác gỗ trái phép, ngày 29-8, Mai Văn Lựu (1991, trú thôn Dốc Kiền, xã Ba, H. Đông Giang, Quảng Nam) bị Hạt Kiểm lâm H. Hòa Vang (Đà Nẵng) xử phạt hành chính 2,1 triệu đồng và tịch thu toàn bộ số gỗ.
Trước đó, lực lượng liên ngành kiểm lâm, dân quân xã Hòa Phú (H. Hòa Vang) mở đợt truy quét tình trạng khai thác rừng trái phép tại các Tiểu khu 57, 58 (vùng giáp ranh với xã Ba) thì phát hiện Lựu dùng trâu kéo 4 cây xà gồ nên lập biên bản vi phạm và tạm giữ tang vật. (Công An TP Đà Nẵng 30/8) đầu trang(
Hoàng hôn xuống nhanh, thoáng chốc tất cả chìm trong mù sương. Ksor Chăm xoa tay lên làn da thô ráp của con voi già Ya Tao tạm biệt, cùng bước nhanh ra khỏi cánh rừng già ở xã Chư Mố, H.Ia Pa (Gia Lai).
Bắc Tây nguyên mấy trăm năm trước là vùng thuần dưỡng voi có tiếng ở cao nguyên. Những địa danh như Plei Lao, Plei Thơ Ga ở xã Nhơn Hòa, H.Chư Pưh và một số làng ở xã Chư Mố, H.Ia Pa thuộc Gia Lai đã hằn in dấu vết của những đàn voi hùng tráng.
Quản tượng già Nay Tơr ở xã Nhơn Hòa nhớ lại: “Mỗi năm, cứ đến dịp là cả làng rộ lên lễ cúng tuổi mới cho voi. Nhà mình cùng những người anh em trong làng có 5 con voi. Nhưng rồi cũng hết voi, con thì chết vì bệnh, chết vì bom đạn chiến tranh. Chúng cũng chả có đẻ con, rừng bị băm nát, vậy là hết”.
Làng voi ở Chư Mố cũng lụi tàn nhanh chóng. Ksor Chăm, người quản tượng cuối cùng ở Chư Mố, kể năm 1973, ông mang 1,5 triệu đồng (một số tiền lớn lúc bấy giờ, tương đương với khoảng 150 con bò) lặn lội sang buôn Đôn (Đắk Lắk) mua con voi đực 3 tuổi, đặt tên là Bak Xom về nuôi.
30 năm sau, vì muốn se duyên cho Bak Xom, ông lại sang Đắk Lắk mua tiếp một con voi cái, đặt tên là Ya Tao. Niềm mong đợi của Ksor Chăm đã bị dập tắt khi Bak Xom ngã bệnh lăn ra chết. Từ đó, Ya Tao trở thành con voi duy nhất ở vùng bắc Tây nguyên.
Để đến được chỗ voi Ya Tao, phải theo chân Ksor Chăm vào tận rừng sâu. Con rể ông, Siu Kiêm, độ một tuần lại mang thức ăn vào cho Ya Tao. Cứ tết đến, cả voi và người lại cùng nhau về nhà. Một nghi lễ cúng được thực hiện để cầu sức khỏe cho mọi người, cho voi.
Ngọn núi Chư Cố gần lại theo mỗi bước chân băng rừng của PV. Đột ngột, Siu Kiêm dừng lại, gọi lên thành tiếng vang núi rừng prừ, prừ... Rồi từ trong khoảng rừng cách chỗ PV đứng hơn 100 m, Ya Tao lừng lững bước ra, tai phe phẩy. Rất thành thục, Siu Kiêm tiến tới, đưa mấy cây mía chuẩn bị sẵn, Ya Tao mừng chủ đưa vòi đón mía bỏ vào miệng. Ksor Chăm đưa tay vuốt ve tai voi, cúi xuống tháo khóa sợi xích dài hơn 30 m ở chân voi, ra hiệu cho voi cúi xuống rồi nhảy lên bành.
Suốt nhiều năm nay, Ya Tao phải làm những việc vất vả như kéo gỗ, thồ nông sản từ rừng ra... Sức voi cũng đổ theo những bước chân. Cách đây hơn chục năm, trong một lần thồ hàng như thế, Ya Tao bị trượt chân trật khớp lúc xuống con dốc trơn. Tai nạn để lại di chứng đến ngày nay cho voi qua những bước chân khập khiễng. Năm 2000, Ya Tao bị kẻ xấu bắn, trúng hơn 20 viên đạn chì ở má phải, nhưng nhờ Ksor Chăm chạy chữa và nhờ sức... voi, Ya Tao cũng qua khỏi.
Hơn 60 tuổi, con voi già ngày càng lầm lũi giữa khoảng rừng cô quạnh. Ksor Chăm chia sẻ: “Mình già rồi. Con Ya Tao đã đi với mình gần cả quãng đời. Nhiều quản tượng ngày xưa đã bỏ nghề vì vắng bóng voi trong các buôn làng. Mình còn may là có Ya Tao. Tiếc rằng con voi đực mình mua về để cho chúng gặp nhau đã không thành hiện thực. Ý yàng đã vậy, chịu thôi”. (Thanh Niên 1/9, tr5) đầu trang(
Đội Kiểm lâm cơ động số 2 (Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai) ngày 29-8 xác nhận đã lập biên bản, tịch thu hơn 11m3 gỗ không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp tại Cty TNHH MTV Bảo Thanh (tại P. Phù Đổng, TP Pleiku).
Trước đó, Đội Kiểm lâm cơ động số 2 phối hợp với CATP Pleiku kiểm tra Cty Bảo Thanh do bà Nguyễn Thị Thanh Bảo (1985) làm giám đốc thì phát hiện 34 hộp gỗ xẻ Chò Xót (khoảng 6,126m3) không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp.
Ngoài ra, tại bãi đất trống gần Cty Bảo Thanh, lực lượng chức năng còn thu giữ thêm 44 hộp gỗ (khoảng 5,518m3) không có chủ sở hữu. (Công An TP Đà Nẵng 30/8; Lao Động 30/8, tr8) đầu trang(
Xã Xuân Chinh, Xuân Lẹ (Thường Xuân) từng được mệnh danh là thủ phủ “vàng tặc” của vùng Bắc Trung Bộ. Không ít lần chính quyền địa phương đã huy động cả lực lượng vũ trang để càn quét, phá dỡ, đánh sập các hầm vàng trái phép.
Không ít bi kịch, sự tan hoang, xơ xác khi cơn lốc vàng đi qua ở Xuân Chinh. Nhiều người đã rơi vào trạng thái ảo tưởng đổi đời, bỏ bê hết công việc đồng áng, lao động mưu sinh hàng ngày.
Tại thời điểm nóng nhất của công cuộc lật tung tất thảy để kiếm vàng, PV đã có mặt tại đây để tận mắt chứng kiến công trường. Ấn tượng đầu tiên khi xâm nhập vào điểm nóng này là hình ảnh những thanh niên, phụ nữ và cả trẻ em, cùng các phương tiện thô sơ, máy móc đang ngụp lặn dưới các vũng nước, đào xới đất.
Bên cạnh đó là những thửa ruộng, chân đồi đã bị đào xới thành những vũng lớn, ổ voi để khai thác vàng. Tại những bãi vàng, ngoài bóng dáng của những người phụ nữ, thanh niên trai tráng còn có cả các em nhỏ cũng đang lúi húi đào đãi. Nhiều lán trại được dựng xung quanh bãi vàng ở những vị trí hiểm trở, khó phát hiện, có những lán trên núi, ẩn mình trong rừng cây, khe đá.
Nghe theo những lời đồn về việc vàng nhiều vô kể, không ít người may mắn đã trở thành triệu phú khi bắt được cả cục vàng lớn khiến người dân kéo nhau tìm cơ hội thoát nghèo, đặc biệt là vào thời kỳ giáp hạt. Khi những con suối, dòng sông, ruộng vườn đã tan hoang, vàng đâu chẳng thấy mà chỉ thấy kéo theo đó là nhiều hệ lụy. Trong phút chốc, người dân Xuân Chinh, Xuân Lẹ đã bị cột chặt vào đói nghèo, túng quẫn...
Đa phần người dân địa phương là người dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức còn hạn chế nên sau cú vấp đó, họ càng khép mình, không tiếp nhận thông tin, phương thức sản xuất mới từ bên ngoài. Vì vậy, nghèo đói, lạc hậu, thất học là cái vòng luẩn quẩn mà người dân nơi đây chưa biết đến khi nào mới bứt phá ra được.
Vì miếng cơm manh áo, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên không ít người dân đã bước sang một hướng rẽ đầy nguy hiểm, bất chấp pháp luật khi nhận vận chuyển, chỉ đường, thậm chí là trực tiếp làm “lâm tặc”.
PV trở lại Xuân Chinh vào những ngày giữa tháng 8. Từ trung tâm xã Xuân Chinh vào thôn Cụt Ạc chừng 5km đường đất, sỏi và bị chia cắt bới các con suối, chỉ cần mưa nhẹ là bị cô lập. PV vào nhà Trưởng thôn Vi Văn Trường để tìm hiểu thông tin. Thấy khách lạ với bộ dạng lấm lem, đeo máy ảnh trước ngực, ông cũng ngờ ngợ rồi niềm nở mời PV vào nhà.
Ông Trường phân trần: “Các chú vào đây mới thấy dân vất vả, khổ sở. Thôn có 108 hộ, 565 khẩu toàn dân tộc Thái, hộ nghèo chiếm hơn 50%. Toàn thôn chỉ có 12,5ha đất trồng lúa năng suất thấp, diện tích cây trồng sắn, ngô rất ít vì đây là rừng đặc dụng. Không đất canh tác, người dân vốn sống khép mình nên nghèo đói cứ bám lấy họ…”.
Đang trò chuyện thì ông Cầm Bá Quân, Phó Chủ tịch UBND xã Xuân Chinh xuất hiện, ông cho biết: Địa phương có 7 thôn thì Cụt Ạc là thôn có địa bàn chia cắt, đường sá đi lại khó khăn, người dân thiếu đất sản xuất, không có việc làm. Hàng năm, chính quyền xã có giới thiệu đưa một số ngành, nghề mới về để bà con học tập hoặc định hướng đi xuất khẩu nhưng đều thất bại. Người dân ngoài trông chờ vào mấy thửa ruộng thì vào rừng trồng ít sắn, bẻ măng về sống qua ngày.
Thời gian gần đây, nghe theo lời xúi giục của một số đối tượng xấu nên người dân có chặt trộm gỗ. UBND xã phát hiện, đã báo cáo với Kiểm lâm, UNBD huyện Thường Xuân để lập biên bản, xử lý theo quy định. Nhưng về lâu dài phải tìm hướng xóa đói, giảm nghèo cho dân một cách bền vững thì mới mong giữ được rừng.
Trao đổi với PV, ông Lê Phú Vẽ, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Thường Xuân cho biết: Sau khi nhận được thông tin người dân khai thác gỗ trái phép, Hạt đã lập đoàn kiểm tra, xác minh. Toàn bộ số gỗ đã được lập biên bản, tạm giữ, chờ xử lý theo quy định.
Thời gian tới, bên cạnh việc tăng cường kiểm lâm viên kiểm tra, giám sát địa bàn, Hạt Kiểm lâm đã làm việc với cấp ủy, chính quyền địa phương nghiêm túc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp; phối hợp với cơ quan, đoàn thể tuyên truyền, vận động người dân về pháp luật bảo vệ rừng.
Xử lý nghiêm những hộ nhận rừng để xảy ra khai thác gỗ trái phép, xem xét trách nhiệm kiểm lâm địa bàn không phát hiện, ngăn chặn kịp thời các vụ phá rừng ở các thôn trọng điểm…
Việc người dân vì bức bách kế sinh nhai đã bất chấp pháp luật, vào rừng khai thác gỗ trái phép diễn ra tại Xuân Chinh thêm một lần nữa cho thấy, sự cấp thiết của việc tìm lối ra cho địa phương này. Có như vậy, đời sống nhân dân mới ổn định, rừng mới được bảo vệ một cách bền vững. (Công Lý 29/8, tr9) đầu trang(
Từ năm 2013 đến nay, khi Khu du lịch sinh thái – văn hóa Bản Đôn, trực thuộc Công ty TNHH MTV Cao su Đắk Lắk chuyển thành Công ty CP Thương mại – Du lịch Bản Đôn, thì hơn một nghìn ha rừng sinh thái phục vụ khai thác du lịch hầu như không có người bảo vệ, nên bị tàn phá tan hoang.
Những ngày trung tuần tháng 8 vừa qua, có dịp trở lại Khu du lịch sinh thái – văn hóa Bản Đôn, trên địa bàn xã Krông Na, huyện Buôn Đôn (Đắk Lắk) và thật xót xa khi chứng kiến cảnh hàng nghìn ha rừng tự nhiên ở đây không được quản lý, bảo vệ và khai thác du lịch theo đúng mục đích. Qua quan sát thực tế, rừng ở khu du lịch này hiện nay là vô chủ, dẫn tới lâm tặc ngang nhiên tận diệt cả những cây gỗ non, miễn là tiêu thụ được.
Vào rừng Khu du lịch sinh thái – văn hóa Bản Đôn, không khó để tìm ra những vị trí lâm tặc khai thác gỗ. Từ khu vực đồi Tâm Linh, theo con đường lát đá xanh phục vụ khách du lịch đạp xe thăm quan rừng, đi khoảng 500m là đã nghe tiếng máy nổ của cưa xăng lâm tặc khai thác gỗ. Đang là mùa mưa, các loại cây ở tầng thấp rậm rạp, nên việc truy tìm nhóm lâm tặc đang đốn hạ cây rừng không phải dễ. Nhất là khi lâm tặc đã quá dày dạn kinh nghiệm trong việc phòng tránh lực lượng chức năng truy đuổi.
Ngay cả việc giấu những chiếc xe cày, xe máy trong bụi cây cũng kín đáo đến mức những công an viên xã Krông Na đã nhiều lần truy bắt lâm tặc cũng khó tìm ra dấu vết. Nghe thấy tiếng cưa xăng nổ đấy, nhưng tìm vị trí chính xác của nó cũng không phải dễ. Hơn nữa, trong những trường hợp khai thác gỗ kiểu này, lâm tặc còn sử dụng mạng lưới “cảnh giới từ xa”, khi thấy động là báo cho nhau bằng điện thoại di động thì thật khó để bắt giữ quả tang.
Theo lời của một người dân địa phương đã có kinh nghiệm “nghề rừng” thì vào thời điểm mùa mưa, cây cối rậm rạp, lâm tặc thường đi bộ lội rừng để “cõng gỗ”. Cái ưu thế của đi bộ là có thể cắt rừng, không để lại dấu vết trên đường. Và khi bị truy đuổi dễ lẩn trốn, dễ tẩu tán tang vật. Còn nếu vận chuyển bằng xe máy độ chế, thì mỗi xe thường có 2 người: Một người điều khiển xe, người còn phụ phía sau, khi bị lực lượng chức năng đuổi bắt, người phụ xe dùng dao chặt cho gỗ rơi khỏi xe để phi tang.
Cũng tại Khu rừng sinh thái – văn hóa Bản Đôn này, cách đây 2 năm một nhóm lâm tặc đã ngang nhiên khai thác trái phép trên quy mô lớn với hàng chục m3 gỗ bị phát hiện. Vụ việc đã bị cơ quan chức năng khởi tố. Tuy nhiên, không vì vậy mà lâm tặc chùn tay, nhất là vào thời điểm gỗ đang có giá cao, chủ rừng lại buông lỏng quản lý như hiện nay.
Sau một buổi sáng lội rừng ở vùng trung tâm khu du lịch, tận mắt chứng kiến nhiều cánh rừng cạn kiệt gỗ do lâm tặc đã hoàn thành việc khai thác, đầu giờ chiều, tiếp tục đi theo hướng tỉnh lộ 1 để vào rừng sinh thái – văn hóa Bản Đôn. Từ trạm bảo vệ rừng của công ty CP Thương mại – Du lịch Bản Đôn (hiện đã bỏ hoang), theo con đường tuần tra đi gần 1km là tới địa điểm lâm tặc vừa khai thác gỗ giáng hương (nhóm 2A), cà chít, căm xe (nhóm 2B). Thật xót xa khi tận mắt chứng kiến những cây gỗ giáng hương còn non, đường kính gốc chỉ 15-30cm mà đã bị đốn hạ không thương tiếc. Mỗi cây Giáng hương, lâm tặc chỉ lấy được khoảng 3-4m chiều dài từ gốc trở lên.
Theo lời của người dẫn đường, gỗ giáng hương non thế này, tùy vào kích thước của lõi gỗ (phần sử dụng được), giá bán ngoài bìa rừng xê dịch từ 10-15 nghìn đồng/kg. Bình quân một lâm tặc trong ngày ngùi đượng khoảng 50kg sẽ có thu nhập 500-700 nghìn đồng. Có lẽ chính từ nguồn thu “khá ổn”, nên không khó để lý giải tại sao ở xã Krông Na này, lâu nay đội ngũ lâm tặc luôn hùng hậu (!).
Tùy vào đặc điểm địa hình, độ cao, độ ẩm mà cây rừng sinh thái Bản Đôn phân ra từng khu vực. Có khu vực toàn cây giáng hương, khu toàn cà chít, khu khác lại là nơi phân bố chủ yếu của căm xe, chiu liu, bồ kết, cẩm lai. Tại vị trí cách tỉnh lộ 1 chưa đầy 1km, đo đếm cả trăm cây căm xe, cà chít có đường kính gốc 30-40cm đã bị lâm tặc đốn hạ, lấy đi toàn bộ phần thân, để lại hện trường là bìa gỗ và cành, ngọn. Với những cây gỗ cà chít, căm xe này, khai thác và vận chuyển ra khỏi rừng sẽ bán được từ 10 triệu đồng/m3.
Qua quan sát những dấu vết để lại hiện trường, cán bộ công an xã Krông Na nhận định: “Tại các bãi khai thác này, lâm tặc sử dụng xe cày để vận chuyển gỗ ra khỏi rừng. Vì gỗ được cưa cắt có chiều dài mỗi khúc 3-4m, thì không thể vận chuyển bằng xe máy được”. Điều này cho thấy, việc lâm tặc tổ chức khai thác gỗ ở đây là rất quy mô, có tổ chức, và đã lấy được khối lượng gỗ rất lớn. Có tới hàng trăm cây giáng hương, căm xe, cà chít mới bị khai thác trong khoảng thời gian từ cuối năm 2013 đến nay. Nhiều cây giáng hương bị đố hạ nay cành, lá vẫn còn tươi.
Có thể nói, thực trạng trên cho thấy, rừng tự nhiên ở huyện Buôn Đôn đã suy kiệt hết mức, đã bị khai thác đến tận diệt. Ngay trong khu rừng sinh thái Bản Đôn, một người dân địa phương có kinh nghiệm đi rừng cho biết: “Nếu không khai thác non, thì rừng ở đây chẳng còn cây gỗ nào có thể khai thác được!”.
Ông Y Thông Khăm Niê Kđăm, Chủ tịch UBND xã Krông Na bức xúc: Tình trạng 1.360 ha rừng giao cho Khu du lịch sinh thái – văn hóa Bản Đôn khai thác du lịch từ năm 2005 đến nay, nhưng bị buông lỏng quản lý, dẫn tới bị lâm tặc khai thác ồ ạt đã diễn ra lâu nay.
Trước đây do Công ty TNHH MTV Cao su Đắk Lắk làm chủ quản cũng bị khai thác, một số vụ đã bị khởi tố. Từ năm 2013 đến nay, do Công ty CP Thương mại – Du lịch Bản Đôn quản lý thì tình trạng khai thác trái phép càng phức tạp hơn. Riêng năm 2013, Công an xã Krông Na đã phát hiện và bắt 5 vụ. Mới đây, UBND huyện đã phải bố trí lực lượng chốt chặn trong rừng. Nhưng khi lực lượng của huyện rút đi, thì lâm tặc lại lộng hành. Chủ tịch UBND xã Krông Na cũng kiến nghị, trong trường hợp Công ty CP Thương mại – Du lịch Bản Đôn không quản lý nổi 1.360 ha rừng sinh thái thì UBND tỉnh nên thu hồi để bàn giao cho đơn vị khác quản lý.
Theo tìm hiểu của phóng viên được biết, từ đầu năm 2014 đến nay Công ty CP Thương mại – Du lịch Bản Đôn làm ăn èo uột, bảo vệ và nhân viên thiếu việc làm, không có lương. Đa phần đã bỏ việc, nay cả công ty chỉ còn hơn chục người, trong đó chỉ có 1 bảo vệ làm nhiệm vụ bảo vệ tài sản và bảo vệ rừng.
Trong khi đó, chỉ riêng việc bảo vệ tài sản thôi, 1 bảo vệ đã không kham nổi, dẫn tới gần đây xảy ra một số vụ kẻ gian đột nhập trộm cắp tài sản. Vì vậy, công tác quản lý, bảo vệ rừng hầu như đơn vị này không thực hiện. Rừng vô chủ, dẫn tới bị khai thác trái phép theo kiểu tận diệt mà không ai chịu trách nhiệm.
PV cho rằng UBND tỉnh Đắk Lắk sớm vào cuộc, xử lý quyết liệt để cứu hơn nghìn ha rừng có giá trị du lịch và sinh thái. (Tin Môi Trường 28/8) đầu trang(
29-8, CSĐT Công an huyện Quế Phong đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can Nguyễn Xuân Thuận (30 tuổi) và Trần Thế Anh (31 tuổi) về tội “chống người thi hành công vụ”.
Trước đó, như đã đưa tin khoảng 20g40, 4-8, trong lúc làm nhiệm vụ tuần tra quản lý bảo vệ rừng tại bản Mường Piệt, xã Thông Thụ, huyện Quế Phong, ông Lưu Nhật Thành (36 tuổi, Hạt phó Hạt kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, kiêm trạm trưởng trạm bảo vệ rừng Thông Thụ) phát hiện Thuận và Anh đang bốc gỗ lên xe bán tải.
Ông Thành yêu cầu hai đối tượng dừng việc bốc gỗ và kiểm tra giấy tờ, nguồn gốc số gỗ nói trên thì tên Thuận nói: “Anh thông cảm bỏ qua cho, bọn em cũng chỉ kiếm ít tiền xăng xe thôi”.
Không xuất trình được giấy tờ nguồn gốc hợp pháp của số gỗ trên và bị ông Thành từ chối lời yêu cầu nên Thuận và Anh xông vào đánh ông Thành đến ngất xỉu, chấn thương nặng nhiều chỗ trên người. Đánh ông Thành xong, hai đối tượng bỏ trốn khỏi hiện trường.
Tối 4-8, ông Thành được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong rồi chuyển xuống bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An điều trị.
Sau khi xảy ra sự việc, Hạt Kiểm lâm Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt đã kết hợp cùng Công an huyện Quế Phong tiến hành thu giữ tang vật (gỗ lậu) nơi xảy ra vụ việc hành hung ông Lưu Nhật Thành. (Tuổi Trẻ 29/8; Người Lao Động 30/8) đầu trang(
Chiều 28/8, tại Văn phòng Vườn quốc gia Yok Don đã diễn ra Lễ ký kết Quy chế phối hợp trong công tác quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản giữa Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Yok Don, UBND xã Ea Huar và Ea Wer huyện Buôn Đôn tỉnh.
Tham dự buổi lễ có ông Nguyễn Hữu Thiện - Bí thư Đảng ủy, Giám đốc, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Yok Don; bà Ngô Lan Anh - Chủ tịch UBND xã Ea Wer; ông Đoàn Văn Hưng - Phó Chủ tịch UBND xã Ea Huar; ông Bùi Đức Thiện - Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Buôn Đôn cùng các đồng chí là Công an, Xã Đội ở 02 xã và cán bộ Kiểm lâm của Vườn quốc gia Yok Don.
Việc ký kết quy chế phối hợp này nhằm tăng cường mối quan hệ trong công tác, đảm bảo phối hợp chặt chẽ trong trao đổi và cung cấp thông tin giữa Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Yok Don và UBND hai xã Ea Huar, Ea Wer về những hoạt động liên quan đến lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Quy chế phối hợp quy định rõ các vấn đề như: mục đích yêu cầu của việc phối hợp; nội dung phối hợp công tác; trách nhiệm phối hợp của các đơn vị và tổ chức thực hiện. Theo quy chế phối hợp, định kỳ hàng tháng các đơn vị sẽ chủ động trao đổi thông tin cho nhau về những vấn đề liên quan đến công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn; các chủ trương, chính sách mới của ngành Lâm nghiệp; 6 tháng và một năm ba đơn vị sẽ tổ chức sơ kết và tổng kết để đánh giá kết quả thực hiện công tác phối hợp, đề ra phương hướng hoạt động hiệu quả hơn nữa trong thời gian tiếp theo.
Phát biểu tại buổi lễ, Giám đốc, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Yok Don Nguyễn Hữu Thiện nêu rõ, trong thời gian qua Vườn cũng đã triển khai ký kết quy chế phối hợp trong công tác quản lý bảo vệ rừng với các cơ quan, đơn vị ở huyện, tỉnh... và việc thực hiện Quy chế đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.
Ông mong muốn tất cả các cấp các ngành cùng chung sức, chung lòng, phối hợp chặt chẽ để triển khai các nội dung một cách thường xuyên và có hiệu quả. Đồng thời nhấn mạnh việc ký kết quy chế phối hợp lần này giữa Vườn và UBND hai xã là rất cần thiết nhằm tăng cường hơn nữa sự phối kết hợp của các cấp, các ngành, chính quyền địa phương, đặc biệt là cả hệ thống chính trị cùng nhau chung tay bảo vệ hệ sinh thái rừng Khộp đặc trưng và duy nhất trên cả nước. (Vườn Quốc Gia Yok Don 28/8) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Như Xuân đã phát hiện và bắt quả tang xe tải vận mang biển kiểm soát 37V-1064 đang vận chuyển trái phép lâm sản trên đoạn đường lưu thông thuộc địa phận xã Thanh Lâm, huyện Như Xuân.
Điều đáng nói ở đây là đối tượng đã xử dụng việc vận chuyển gỗ keo rừng trồng để trà trộn và chở lâm sản trái phép.
Do kể từ khi Thông tư số 42/2012/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2012/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản có hiệu lực thi hành, việc quản lý, giám sát khai thác, vận chuyển lâm sản rừng trồng bằng vốn tự có của hộ gia đình không còn chặt chẽ như trước kia. Lợi dụng điều này các đối tượng đã trà trộn gỗ rừng tự nhiên vào gỗ keo rừng trồng để qua mắt địa phương và cơ quan chức năng.
Trước tình hình đó, Hạt Kiểm lâm huyện Như Xuân đã tham mưu cho UBND huyện chỉ đạo các ban ngành, địa phương cảnh giác với phương thức, thủ đoạn vi phạm nêu trên; tăng cường giám sát chặt chẽ việc khai thác gỗ rừng trồng nhất là khâu vận chuyển, tránh để lợi dụng trà trộn vận chuyển trái phép lâm sản rừng tự nhiên, tuyên truyền phổ biến rộng rãi việc cung cấp thông tin tố giác các đối tượng vi phạm đồng thời chủ động phòng ngừa và tham gia phòng chống các biểu hiện vi phạm nêu trên. (Kiểm Lâm Thanh Hóa 27/8) đầu trang(
Phát hiện mỏ vàng trữ lượng lớn tại xã Hiếu, huyện Kon Plông (Kon Tum), các "ông trùm" vàng từ Bắc Giang, Nam Định, Nghệ An, Kon Tum... ồ ạt đem máy móc, nhân công vào phá từng khoảnh rừng, mở đường vào tận các bãi vàng.
Mỗi “ông trùm” phân chia một khu vực, lật tung, băm nát sông Hre (xã Hiếu, huyện Kon Plông) tìm vàng. Súng đã nổ, máu đã đổ khi các “ông trùm” tranh giành lãnh địa.
Các trùm vàng còn đe dọa 13 hộ dân xã Hiếu phải bán đất rẫy cho chúng tìm vàng và cầm hung khí vào tận từng thôn, bản tìm cán bộ tham gia truy đuổi làm náo loạn một vùng.
Tỉnh Kon Tum, đoàn liên ngành huyện Kon Plông nhiều lần truy quét, thậm chí đã nổ súng… nhưng “vàng tặc” vẫn hoạt động. (Lao Động 30/8) đầu trang(
Tính từ đầu năm đến cuối tháng 8, các đơn vị thuộc BĐBP Nghệ An đã phát hiện, xử lý 67 vụ/29 đối tượng liên quan đến hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép.
Tang vật thu được gồm: 251, 55 m3 gỗ các loại, 77,5 kg pháo, 1,725 kg thuốc nổ, 11 kíp nổ, 1 con gấu nặng 85 kg, 16 kg beo, 7 kg rùa cùng một số tang vật liên quan khác.
Trong số đó, BĐBP tỉnh đã tiến hành khởi tố, bàn giao cho lực lượng Công an 3 vụ/3 đối tượng, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 21 vụ/22 đối tượng, thu nộp ngân sách nhà nước 84 triệu đồng, còn lại bàn giao cho cơ quan có thẩm quyền tiếp tục điều tra, xử lý. (Biên Phòng 30/8) đầu trang(
Nhiều năm trước, buôn Jang Lành (xã Krông Na, huyện Buôn Đôn) được biết đến là nơi có nhiều “lâm tặc” nhất vùng, và cái nghèo ở đây cũng từng “nổi tiếng” không kém. Vậy mà những năm gần đây, đời sống của người dân trong buôn đang từng bước “thay da đổi thịt.
Nhắc đến cái nghèo của Jang Lành, Trưởng buôn Y Nhem Rya hồi tưởng câu chuyện cách đây khoảng 10 năm về trước… Ngày ấy, cuộc sống của người Jang Lành chủ yếu phụ thuộc vào rừng. Quanh năm, phụ nữ trong buôn chỉ biết lên rẫy trồng sắn, trỉa ngô. Nhưng với tập quán canh tác lạc hậu, sản phẩm làm ra năng suất thấp lại bị sâu bệnh hại, chim và thú rừng ăn hết nên mang về nhà chẳng được là bao.
Vì vậy, cái nghèo, cái đói vẫn đeo bám mãi. Còn những đàn ông trai tráng trong buôn thì chủ yếu vào rừng khai thác gỗ, săn bắt thú rừng. Mỗi chuyến đi rừng của họ thường kéo dài từ 2-3 tuần mới về, ở nhà được một ngày rồi lại phải đi tiếp. Vậy mà những sản phẩm lấy được từ rừng ấy lại bị các đầu nậu thu mua với giá rẻ mạt, thậm chí, họ còn tìm cách quy đổi sang gạo, muối để dụ dỗ các “lâm tặc”.
Do không có công việc nào khác để làm nên hầu hết đàn ông của Jang Lành phải bám víu lấy “nghề đi rừng” mà không biết rằng mình đang bị các đầu nậu lợi dụng. Chưa kể, công việc nơi “rừng thiêng nước độc” rất nguy hiểm. Mùa trăng nào cũng có người trong buôn bị chết vì bị cây đè, thú rừng cắn… Từ khoảng năm 2000 trở về trước, gần như cả buôn không có hộ nào khá giả. Đã vậy, những phần tử Fulro lưu vong luôn tìm cách chống phá chính quyền, quấy rối cuộc sống người dân nơi đây. Jang Lành còn được biết đến là “điểm nóng” về tình hình an ninh trật tự…
Xác định mấu chốt của cái nghèo ở Jang Lành là do nhận thức của người dân còn thấp, những năm qua, chính quyền xã Krông Na đã phối hợp với các hội, đoàn thể của xã đẩy mạnh công tác dân vận, tuyên truyền người dân bằng những việc làm cụ thể. Theo đó, các hội viên, đoàn thể của xã cùng với già làng, trưởng buôn Jang Lành “đi từng ngõ, gõ từng nhà”, tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người dân thay đổi nhận thức, tập quán sản xuất lạc hậu, nhất là những đối tượng “lâm tặc”.
Anh Y Trul Niê chia sẻ: “Tôi đã nhiều năm tham gia phá rừng, săn bắt thú nhưng rồi cuộc sống của gia đình vẫn nghèo đói, vợ con ở nhà bơ vơ vì thiếu bóng đàn ông. Khi được chính quyền địa phương tuyên truyền, vận động làm theo những điều hay, lẽ phải thì tôi và nhiều người đàn ông khác trong buôn đều đã thay đổi nhận thức. Biết được rằng những việc làm của mình là trái pháp luật, nên chúng tôi đã không đi rừng nữa”.
Bên cạnh công tác tuyên truyền, chính quyền địa phương còn triển khai các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là các chính sách dân tộc, nông thôn của Đảng và Nhà nước, nên đời sống của người dân Jang Lành đã được cải thiện đáng kể. Ông Y Lươm Knul, Phó Chủ tịch UBND xã Krông Na cho biết, để hỗ trợ bà con trong xã nói chung và buôn Jang Lành nói riêng xóa bỏ tập quán sản xuất lạc hậu, xã Krông Na đã triển khai các hoạt động khuyến nông, tập huấn chuyển giao ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, đẩy mạnh phát triển kinh tế đồi rừng, kết hợp trồng trọt với chăn nuôi gia súc gia cầm.
Từ nguồn vốn đầu tư của Nhà nước và huy động công sức của nhân dân, xã đã hoàn thành nhựa hóa nhiều tuyến đường giao thông trong buôn; đầu tư xây dựng lưới điện hạ thế cho 100% hộ gia đình trong buôn có điện thắp sáng; xây dựng nhà văn hóa cộng đồng, tạo điều kiện cho bà con trong buôn có nơi sinh hoạt, giao lưu, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống...
Cùng với đó là việc chú trọng phát triển cây lúa nước, cây ngô và chăn nuôi gia súc làm đòn bẩy thúc đẩy kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ... Theo đó, những diện tích đất rẫy không có nước thường xuyên thì chuyển sang trồng hoa màu, ngô và sắn, còn những khu vực gần sông, suối có nguồn nước tưới tiêu thường xuyên thì tập trung trồng lúa, nhằm đa dạng sản phẩm nông nghiệp.
Buôn Jang Lành hiện có 183 hộ với 778 nhân khẩu, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ chiếm tới 97%. Giờ đây, cuộc sống của người dân trong buôn có nhiều cải thiện rõ nét. Mọi người đã có ý thức hơn trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống, xóa bỏ những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan; xây dựng các hương ước, quy ước của buôn để gìn giữ, bảo vệ rừng; cùng nhau đoàn kết phát triển kinh tế...
Từ một buôn “nổi tiếng” là nghèo (với trên 50% hộ nghèo và cận nghèo) đến nay Jang Lành chỉ còn 23% số hộ nghèo và cận nghèo (tỷ lệ giảm 3%/năm), thu nhập bình quân đầu người tăng từ 10 triệu đồng/người/năm (năm 2010) lên 16,5 triệu đồng/người/năm (năm 2014).
Nhiều hộ đã vượt khó vươn lên làm giàu như hộ ông Y Nẹ H’Mốk, Y Jih Êban, bà H’Pẹn H’Mốk… thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm nhờ phát triển kinh tế trồng trọt kết hợp chăn nuôi và kinh doanh nhỏ lẻ... (Đắc Lắc 24h 29/8) đầu trang(
28/8, Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre tổ chức hội nghị triển khai điều chỉnh Qui hoạch thăm dò, khai thác cát lòng sông đến năm 2020 và bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Bến Tre giai đoạn 2010-2015, định hướng đến năm 2020.
Nội dung điều chỉnh Quy hoạch thăm dò khai thác cát lòng sông Bến Tre đến năm 2020 là: bổ sung vào quy hoạch (năm 2009) 16 vùng cấm và tạm thời cấm hoạt động thăm dò khai thác cát; đưa ra khỏi quy hoạch 7 khu mỏ với diện tích gần 555,7 ha; giảm một phần diện tích 3 khu mỏ với 35 ha. Giai đoạn 2014 – 2015 giảm 2 vùng quy hoạch thăm dò, khai thác cát với diện tích khoảng 368 ha; giai đoạn 2016 – 2020 điều chỉnh giảm 4 vùng quy hoạch thăm dò và khai thác cát với tổng diện tích gần 450 ha; tăng diện tích 10 vùng dự trữ khoảng 2.330 ha; bổ sung 9 vùng dự trữ với diện tích khoảng 737 ha.
Riêng các vùng quy hoạch dự trữ khoáng sản cát lòng sông bổ sung trên sông Ba Lai; khu vực các xã Phong Nẫm, Phong Mỹ, Châu Hòa, Châu Bình (huyện Giồng Trôm), Long Hòa, Châu Hưng, Thới Lai, Lộc Thuận, Phú Long (huyện Bình Đại) và Tân Mỹ (huyện Ba Tri), khi tiến hành khai thác phải thông qua HĐND tỉnh.
Đối với Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học, từ nay đến năm 2030, Bến Tre thực hiện thành lập mới 3 khu bảo vệ cảnh quan gồm: khu ven biển cù lao An Hóa; vùng cửa sông Hàm Luông; vùng cửa sông Ba Lai (diện tích quy hoạch mỗi khu là 10.000 ha đất ngập nước). Phân kỳ quy hoạch khu dự trữ thiên nhiên Thạnh Phú từ nay đến năm 2020 với diện tích 2.584 ha.
Ông Trần Anh Tuấn – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre nhấn mạnh đến tính cấp thiết của việc điều chỉnh quy hoạch thăm dò, khai thác cát lòng sông nhằm sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản, đảm bảo cho sự phát triển bền vững. Phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị, ngành tài nguyên môi trường, các huyện, thành phố phải công khai quy hoạch một cách sâu rộng, dễ hiểu; chủ động thông tin tuyên truyền thường xuyên bằng nhiều hình thức để các cơ sở khai thác hiểu rõ và chấp hành đúng pháp luật; tăng cường giám sát việc tuân thủ quy định của các cơ sở khai thác.
Về Quy hoạch bảo tồn dạng sinh học, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre cho rằng, đây là việc làm cần thiết nhằm bảo vệ môi trường sống, bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái và cảnh quan thiên nhiên đặc thù của Bến Tre; tăng cường khả năng chống chịu của các tài nguyên đa dạng sinh học trước tình hình biến đổi khí hậu.
Trên cơ sở đó, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre đề nghị, các địa phương thực hiện lồng ghép nội dung phát triển và bảo tồn đa dạng sinh học vào kế hoạch của các sở ban ngành liên quan; chú trọng phát triển các khu bảo tồn, các cảnh quan hiện có; thường xuyên tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân trong bảo vệ các loài động thực vật hoang dã quý hiếm, bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường. (Đài PTTH Bến Tre 29/8) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Đây là một trong những kết luận quan trọng được rút ra từ nghiên cứu vừa công bố trên Tạp chí Tropical Conservation Science (Khoa học Bảo tồn Rừng nhiệt đới) do ông Ngô Thế Long (Khoa Lâm nghiệp, Đại học Hùng Vương) và Dirk Hölscher (Khoa Lâm nghiệp và Sinh thái Rừng nhiệt đới, Đại học Göttingen, Đức) phối hợp thực hiện.
Nghiên cứu khẳng định các khu rừng nhiệt đới ở Việt Nam có mức độ đa dạng sinh học cao với nhiều loài đa dạng, song số lượng cá thể các loài còn tương đối ít. Phạm vi địa lý giới hạn, môi trường sống đặc trưng cao, quy mô cá thể nhỏ lẻ – tất cả đã góp phần vào sự khan hiếm tự nhiên của nhiều loài cây.
Đặc biệt, hoạt động khai thác gỗ chọn lọc của con người khiến các loài cây thuộc loại hiếm ngày càng trở nên hiếm hơn do môi trường sống của chúng bị thay đổi, sự cạnh tranh cân bằng giữa các loài cây cũng theo đó bị phá vỡ.
Tiến hành nghiên cứu tại VQG Xuân Sơn, nhóm nghiên cứu nhận thấy hoạt động trạng khai thác gỗ trước đó ở khu vực này đã và đang đặt các loài cây quý hiếm đứng trước nguy cơ cạn kiệt do bị giảm mật độ cây, kích thước, độ che phủ, sự đa dạng loài cũng như khả năng tái sinh của các loài cây.
Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu 05 loài cây có giá trị bảo tồn cao, gồm cây Nghiến (Excentrodendron tonkinense), Lát hoa (Cukrasia tabularis), Trai lí còn gọi là Rươi (Garcinia fagraeoides), Chò chỉ (Parashorea chinensis) và Sắng (Melientha suavis).
Cách thức nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp ghi chép cụ thể các chỉ số đường kính ngang ngực, chiều cao, đặc tính loài, số lượng cây mở tán và độ che phủ của cây trong 20 ô rừng mẫu ngẫu nhiên thuộc cả khu vực từng bị chặt phá và khu vực chưa bị can thiệp. Tiếp đó, các chuyên gia đo đạc đất và các yếu tố địa hình ảnh hưởng đến sự phát triển của các loài cây như độ dốc, hướng, độ cao và độ sâu của đất.
Trong số 05 loài được lựa chọn thì có ba loài (Nghiến, Lát, Trai lí) mang đặc trưng của rừng núi đá vôi và cần điều kiện đặc biệt để phát triển, hai loài còn lại (Chò chỉ, Sắng) phân tán phổ biến hơn và không cho thấy bất kì xu hướng phát triển cụ thể nào.
Điểm phát hiện thú vị là những thích nghi hẹp và quý hiếm tuy có những dấu hiệu tái sinh ở những vùng rừng từng bị chặt phá, song tốc độ tái sinh của chúng chậm hơn nhiều so với những vùng rừng không bị chặt phá. Trong khi đó, hai loài cây phân tán phổ biến gồm Chò chỉ và Sắng xét ở cả khu vực từng bị chặt phá hay không thì đều tái sinh nhanh hơn so với các loài cây thích nghi hẹp, tất nhiên tốc độ tái sinh ở vùng bị chặt phá vẫn chậm hơn.
Lý giải sự khác biệt về tốc độ tái sinh hai nhóm loài nêu trên, các nhà nghiên cứu cho rằng chúng bị chi phối bởi một số yếu tố. Trước tiên, do các loài đặc trưng ưa sinh sống ở vùng rừng núi đá vôi trên cao, nơi còn nhiều lô rừng chưa bị chặt phá.
Thứ hai, nhiều loài cây có hạt phải nhờ các loài động vật phân tán giống nên hoạt động đốn hạ rừng khiến các loài động vật sợ hãi và thay đổi địa điểm sinh sống cũng như phát tán giống cây. Thứ ba, các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng những đối tượng chặt phá rừng thường chọn những cây lớn, cây có hạt do đó hạn chế sự tái sinh của các loài cây.
Cũng theo các nhà nghiên cứu, nhiều khu vực rừng từng bị khai thác ở Xuân Sơn đang dần hồi phục và chúng sẽ còn tiếp tục được cải thiện khi vùng rừng này vẫn là rừng thuộc VQG. (Con Người & Thiên Nhiên 3/9) đầu trang(
Nhờ Lù A Sáy dám nghĩ, dám làm, nhẫn nại nhặt từng hạt pơmu về trồng mà những quả đồi khô hạn vùng núi cao Tà Xùa (Sơn La) lại xanh ngát. Mong muốn lớn nhất của chàng trai H’mông này là tái sinh hàng vạn hécta rừng huyền thoại, giữ lấy giống gỗ quý cho con cháu đời sau…
Ngoài đặc sản chè cổ thụ thơm ngon, xã Tà Xùa (Bắc Yên – Sơn La) còn được nhiều người biết đến bởi… sự tàn phá không thương tiếc của lâm tặc đối với hàng vạn hécta rừng pơmu nguyên sinh những năm trước.
Vừa đặt chân lên thị trấn Bắc Yên, PV đã may mắn gặp Lù A Sáy (sinh năm 1979, bản Tà Xùa C, xã Tà Xùa), nhân vật “nổi tiếng” bởi kỳ tích tiên phong đem hạt cây pơmu về trồng và có lẽ cũng là người giữ “kỷ lục” có nhiều rừng pơmu nhất trên khắp dải đất hình chữ S thương yêu này.
Từ thị trấn về nhà Lù A Sáy gần 20 cây số. Con đường trải nhựa uốn lượn như trong truyện cổ tích, cảm giác có thể chạm vào những đám mây trắng xóa dày đặc xung quanh. Đặt chân đến đỉnh Tà Xùa, khách phải rẽ đường đất để tới đồi pơmu của Lù A Sáy. Đường dốc hun hút, lởm chởm đá sau trận mưa đêm càng trở nên nguy hiểm. Xe nhiều lúc quay ngang bánh như muốn lao xuống vực.
Sau gần 30 phút vật lộn tưởng như phó thác tính mạng cho số phận, PV cũng được tận mắt thấy cánh rừng huyền thoại. Lù A Sáy khoát tay tự hào giới thiệu: “Cây pơmu đấy. Nó gần chục năm tuổi rồi. Quả đồi này được 4ha. Còn quả đồi bên kia nhiều cây to hơn và cũng rộng hơn quả đồi này”. Trước mắt PV là quả đồi với những hàng pơmu thẳng tắp, như muốn nhắc nhở người dân Tà Xùa nói riêng và người dân Tây Bắc nói chung, hãy cùng Lù A Sáy giữ lấy giống gỗ quý cho con cháu đời sau.
Lù A Sáy dẫn khách thăm quả đồi pơmu kế tiếp. Những hàng cây pơmu to như cột nhà kiêu hãnh vươn lên từ đất mẹ. Lù A Sáy khoe: “Không dễ để trồng được cây như thế này đâu. Đời mình trồng, đời con mình chăm sóc thì đời cháu mình mới được khai thác”.
Về nhà Lù A Sáy thưởng thức ly trà nóng của xứ sở sương mù. Quả đúng như những gì người ta thường nói về chè Tà Xùa. Bên ly trà thơm ngon, bố của Lù A Sáy, ông Lù A Chống ôn lại buổi ban đầu Lù A Sáy đem hạt pơmu về trồng: “Ban đầu, tôi cũng không đồng ý cho thằng Sáy trồng cây pơmu, bởi chẳng biết nó có lên nổi hay không, mà nếu có lên được thì biết đến bao giờ mới được thu. Trong khi cây chè đang đem lại hiệu quả kinh tế...
Tuy nhiên về sau, tôi cũng bị nó thuyết phục vì ý nghĩa của việc trồng cây pơmu, nó muốn bảo tồn giống gỗ quý của Tây Bắc và nó muốn mọi người cùng nhau trồng cây pơmu trên những quả đồi khô hạn để khôi phục cánh rừng nguyên sinh ngày nào. Gia đình tôi hết sức ủng hộ nó. Bây giờ nhìn thấy gần chục hécta pơmu mỗi ngày một lớn, tôi vui lắm!”.
Ông Đinh Thế Anh, Phó Chủ tịch UBND xã Tà Xùa cũng chia sẻ: “Lù A Sáy là một tấm gương điển hình của xã Tà Xùa và của huyện Bắc Yên. Đồi pơmu anh tự lấy hạt trong rừng về trồng cây phát triển rất tốt và có thể nhân rộng cho bà con trồng ở những vùng đất xấu. Lù A Sáy nhận nhiều giấy khen của huyện, của tỉnh và anh cũng thường xuyên được tỉnh, huyện cho tham quan thực tế ở nhiều nơi. Xã đang xem xét giao một vài quỹ đất cho Lù A Sáy trồng pơmu”.
Rời Tà Xùa, hình ảnh người đàn ông H’mông trẻ tâm huyết tái sinh rừng pơmu vẫn lưu mãi tâm trí. Giá nhiều người quản lý rừng chung chí hướng như Lù A Sáy, một ngày không xa sẽ có những cánh rừng quý như pơmu tái sinh… (Pháp Luật VN 1/9) đầu trang(
Qua 3 năm triển khai thực hiện chi trả Dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh, đã khẳng định tính khả thi và hiệu quả trong thực tế. Từ chính sách đã tạo ra một nguồn lực về tài chính có tính ổn định và bền vững cho công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Quan trọng hơn là chính sách này đã và đang góp phần cải thiện và ổn định đời sống của người dân làm nghề rừng và sống gần rừng, đặc biệt là tăng thêm thu nhập cho người dân tộc thiểu số vốn còn nhiều khó khăn. Báo Gia Lai có cuộc trao đổi với ông Võ Văn Hạnh-Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng về vấn đề này.
Ông Võ Văn Hạnh cho biết: Có thể khẳng định rằng, chi trả Dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là một chính sách mới, bước đầu trong tổ chức triển khai thực hiện còn nhiều lúng túng. Bộ máy quản lý và điều hành Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh mới được thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 8-2012.
Thời gian đầu gặp phải không ít khó khăn, cán bộ, công chức, viên chức hầu như mới, trong khi triển khai chính sách đòi hỏi giải quyết nhiều nội dung có tính cấp bách, tiền đề như: Xác định diện tích rừng trong lưu vực chi trả; rà soát rừng và xác định ranh giới diện tích rừng trong lưu vực cung ứng cho mỗi chủ rừng; xây dựng phương án quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) gắn với rà soát rừng cấp xã; điều tra, thống kê và tiến hành ký kết hợp đồng ủy thác với các cơ sở sử dụng DVMTR, đồng thời đôn đốc thu nộp kịp thời tiền chi trả DVMTR vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh, nhằm phục vụ việc chi trả cho các chủ rừng…
Mặt khác, sự nhận thức về chính sách chưa được thông suốt, đặc biệt đối với một số cơ sở thủy điện, nên việc chấp hành nghĩa vụ chi trả còn chưa nghiêm túc, dẫn đến tình hình nợ đọng tiền DVMTR, đồng thời chưa giải quyết dứt điểm khoản nợ đọng của năm 2011, 2012. Ngoài ra, đối với UBND cấp xã, quản lý sử dụng tiền DVMTR cũng là một nhiệm vụ mới trong hoạt động tài chính-ngân sách xã nên bước đầu triển khai thực hiện gặp nhiều trở ngại trong bố trí, sử dụng nguồn tiền này.
Tuy nhiên, điều quan trọng nhất đối với cấp xã, tỉnh đã triển khai và hoàn thành công tác xây dựng phương án QLBVR cấp xã gắn với công tác rà soát rừng, đảm bảo điều kiện chi trả theo quy định đối với UBND cấp xã. Đến nay, UBND tỉnh đã phê duyệt phương án QLBVR cho 90 xã giai đoạn 2013-2017. Đây là cơ sở để UBND các xã xúc tiến việc xây dựng kế hoạch hằng năm cho công tác QLBVR gắn với công tác lập và thực hiện dự toán hằng năm đối với tiền DVMTR và nguồn ngân sách hỗ trợ cho xã.
Bên cạnh đó, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã tiến hành đàm phán, ký kết và phối hợp ký kết hợp đồng ủy thác chi trả với 20 cơ sở sử dụng DVMTR gồm 32 nhà máy thuộc lưu vực nội tỉnh và với 6 nhà máy thủy điện thuộc lưu vực liên tỉnh (Gia Lai, Kon Tum, Bình Định, Phú Yên). Công tác này nhằm tạo lập cơ sở pháp lý trong việc huy động nguồn thu từ bên sử dụng dịch vụ để thực hiện chi trả theo chính sách.
Mục tiêu của chính sách chi trả DVMTR hướng đến sự bền vững trên các mặt: Thúc đẩy kinh tế rừng phát triển, môi trường rừng không bị xâm hại, nâng cao dần chất lượng cung ứng dịch vụ; ổn định xã hội thông qua việc cải thiện sinh kế, ổn định đời sống của người làm nghề rừng, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa.
Điểm nổi bật là chính sách này đã góp phần thúc đẩy hỗ trợ công tác QLBVR ngày càng tốt hơn, cụ thể: diện tích giao khoán bảo vệ rừng của các chủ rừng là tổ chức Nhà nước được tăng cường từ 39.372,6 ha lên 63.632,5 ha; từ 1.267 hộ nhận khoán của năm 2012 tăng lên 3.009 hộ nhận khoán trong năm 2013 (tăng 24.184,4 ha với 1.742 hộ nhận khoán). Độ che phủ rừng được duy trì ở mức 45,4% vào cuối năm 2013. Số vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng giảm 13,7%; trong 8 tháng năm 2014 không xảy ra cháy rừng.
Ngoài ra, với chủ trương xã hội hóa nghề rừng, “lấy rừng nuôi rừng”, trong 3 năm qua tổng thu từ  493.579,3 ha rừng cung ứng DVMTR đối với 36 nhà máy thủy điện và 2 nhà máy sản xuất cung ứng nước sạch được hơn 133,3 tỷ đồng. Đến cuối tháng 4-2014, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh cũng đã chi thanh toán cho 37 chủ rừng là tổ chức nhà nước, 90 UBND cấp xã và 7 cộng đồng dân cư thôn với tổng số tiền 103,169 tỷ đồng, giải ngân 100% theo kết quả nghiệm thu...
Thêm một điều quan trọng nữa là, các chủ rừng là tổ chức nhà nước có thêm nguồn lực về tài chính để chủ động bố trí những nhiệm chi thiết yếu mà trước đây chưa có điều kiện, đặc biệt đối với các công ty lâm nghiệp trong điều kiện cắt giảm và dừng việc khai thác lâm sản nay đã có hướng tháo gỡ khó khăn về tài chính từ nguồn DVMTR.
Theo đó, bình quân của 37 chủ rừng trong 3 năm mỗi đơn vị nhận khoảng 2 tỷ đồng. Trong đó, chủ rừng được chi trả cao nhất trên 13 tỷ đồng, thấp nhất 80 triệu đồng. Có được nguồn tiền DVMTR, các chủ rừng đã chủ động chi trả cho các hộ nhận khoán bảo vệ rừng và các nhiệm vụ chi thiết yếu cho công tác QLBVR.  Mức chi trả cho cộng đồng dân cư thôn tính trong 3 năm, hộ nhận được cao nhất là 4,5 triệu đồng, thấp nhất 255 ngàn đồng.
Có thể nói, nguồn tiền DVMTR chi trả cho 90 xã có rừng cung ứng dịch vụ là nguồn tài chính quan trọng cho công tác QLBVR cấp xã, tạo điều kiện thuận lợi chính quyền cấp xã triển khai công tác tổ chức bảo vệ rừng ngay tại cơ sở theo quy định.
Hiện tỉnh cũng đang gặp một số vướng mắc, tồn tại cần được các bộ ngành tháo gỡ như: Xem xét lại về tỷ lệ phân chia tiền DVMTR thuộc lưu vực liên tỉnh của các thủy điện bậc thang trên dòng sông Sê San sao cho hợp lý và công bằng hơn trong phân chia tỷ lệ %.
Về mức chi trả tiền DVMTR đối với thủy điện hiện còn chưa phù hợp với sự biến động tăng của giá điện tiêu dùng. Theo thống kê giá điện bán ra cho người tiêu dùng năm 2012 đã tăng lên 16,14% so với giá bán điện năm 2008 (nếu tính đến năm 2014 thì còn cao hơn nhiều) trong khi mức chi trả đối với các cơ sở thủy điện vẫn duy trì ở mức 20 đ/kW.
Đối với lưu vực sông Kôn (lưu vực liên tỉnh), khi công bố diện tích rừng cung ứng DVMTR của Nhà máy Thủy điện Vĩnh Sơn A-tỉnh Bình Định thì vẫn còn thiếu diện tích rừng cung ứng. Đề nghị sớm điều chỉnh, bổ sung phần thiếu để có cơ sở tiến hành xác định diện tích rừng trong lưu vực chi trả đến từng chủ rừng, xây dựng phương án chi trả cho các chủ rừng khi thu được tiền. Sớm có hướng dẫn về cơ chế thu, sử dụng tiền DVMTR đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước từ môi trường rừng, để có thêm nguồn lực cho công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Thêm một khó khăn nữa là, chế tài xử lý đối với cơ sở sử dụng DVMTR mới chỉ quy định áp dụng trường hợp chậm nộp tiền DVMTR bằng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố, còn các vi phạm khác như không ký hợp đồng ủy thác, không đăng ký kế hoạch nộp, không kê khai nộp, dây dưa hoặc không nộp tiền DVMTR… chưa có qui định cụ thể để bảo đảm hiệu lực thực thi của chính sách. (Báo Gia Lai 1/9) đầu trang(
Trên con đường vào xã Đông La, huyện Hoài Đức (Hà Nôi) có đến hàng chục tấm biển ghi danh những vườn lan khác nhau. Và nghề trồng hoa lan những năm gần đây mang lại sự giàu có cho người dân xã Đông La.
Và trong số đó, có vợ chồng anh Hoàng Ngọc Trường, chị Trần Thị Uyên- chủ vườn lan Trường Uyên, người đã từng trải qua rất nhiều nghề trước khi đến với cây hoa lan...
“Trồng hoa lan không quá khó, chỉ cần chú ý đến 3 yếu tố quan trọng - độ ẩm, ánh sáng và độ thông thoáng là lan sẽ sống tốt. Từ việc trồng và bán hoa lan mà gia đình tôi có nguồn thu nhập cao và ổn định”- anh Hoàng Ngọc Trường - chủ vườn lan Trường Uyên, xã Đông La, huyện Hoài Đức (Hà Nội) chia sẻ.
Năm 1989, từ mối duyên tình cờ, Trường được tiếp xúc với những nhánh lan rừng từ thú vui của một gia đình giàu có trong làng. Anh cũng yêu thích và đam mê những nhánh lan rừng từ đó và như duyên nghề nghiệp, anh gắn bó với cây lan rừng. Rồi anh Trường cùng theo lên rừng tìm kiếm để bán lẻ dọc những phố phường nội thành Hà Nội. Và chàng thanh niên trẻ 20 tuổi luôn không chỉ coi đó làm thú vui mà còn luôn tâm niệm rằng anh sẽ kinh doanh thành công thứ hoa này.
Ban đầu, anh cùng chiếc xe đạp rong ruổi trên khắp các con phố Hà Nội để rao bán hoa lan. Số tiền lãi thu được tính ra nhiều hơn những công việc khác mà anh đã từng làm. Hơn nữa, anh nhận ra mô hình trồng lan rất phù hợp với điều kiện ở nông thôn, nơi có diện tích đất rộng, không gian tốt để lan phát triển.
Dám nghĩ, dám làm, anh đã bắt đầu tiến hành mô hình trồng hoa lan ngay trên chính mảnh đất quê hương mình. Ngày qua ngày, nhìn những cây hoa lan mình trồng cứ chết dần chết mòn, anh nhận ra việc không hiểu biết gì về kỹ thuật là một thiếu sót vô cùng lớn. Hai năm đầu trôi qua, anh luôn cặm cụi, chăm chỉ tìm ra nguyên nhân tại sao trên rừng không có ai chăm thì hoa lan lại sống tốt, còn ở nhà, anh luôn chăm sóc chúng hàng ngày, hàng giờ mà chúng lại chết hết như vậy.
Và rồi anh nhận ra rằng, trên rừng vách đá cheo leo, lan thích hợp ở môi trường đó và sẽ sống tốt trong khi ở nhà anh, độ ẩm quá cao, khiến cho phần giữa cây lan bị chết hết chứ những phần xung quanh thì vẫn sống. Từ đó, anh đầu tư mua tre, cây cắm cà về để làm giàn, mày mò kỹ thuật điều tiết độ ẩm, ánh sáng phù hợp với từng loại lan và bước đầu đã gặt hái được những thành công nhất định.
Đến nay, tổng diện tích mô hình trồng lan của anh lên tới trên 2.000m2, vườn lan có vài trăm loài lan rừng như đai trâu, quế lan hương, tam bảo sắc, lan đuôi cáo, lan đuôi sóc... rất quý hiếm. Doanh thu hàng năm vào khoảng 3 tỷ đồng, thu nhập đã trừ chi phí lên tới gần tỷ đồng.
Nghề trồng lan Đông Lan nói chung và vườn lan Trường Uyên nói riêng phát triển mạnh, lan Đông La chu du khắp các tỉnh, thành, xuất ra cả thị trường nước ngoài, với hàng trăm chủng loại lan khác nhau, chủ yếu là các giống lan rừng với nhiều giống quý hiếm như lan đuôi chồn, lan đuôi sóc, lan tai trâu....
Anh Trường còn cho biết muốn chơi lan trước hết phải hiểu lan, nhận biết rõ các loại lan, từ đó nắm được đặc tính của từng loại để chăm sóc. Hoa lan đẹp đến vậy nhưng không phải ai cũng biết chơi và điều khiển cho lan ra hoa đúng dịp mình muốn. "Để có được giỏ đai trâu nở hoa, phải điều chỉnh nhiệt độ, ánh sáng và áp dụng kỹ thuật cao".
Đặc biệt, để có được giống lan như ý, anh phải lặn lội vào tận rừng. Có những đợt, anh phải đi vài tháng mới kiếm được số lượng và chủng loại lan như ý. Có lan giống rồi, anh lại nghiên cứu để ghép lên giá thể (gốc cây, mảnh xơ dừa...) rồi tỉ mẩn chăm chút từng ngày. Và rồi lan rừng đã không phụ lòng người chăm sóc, nhiều loại lan mới được ra đời, đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường và đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Theo anh Trường, trồng hoa lan không khó, chỉ cần quan tâm đến 3 yếu tố cơ bản- độ ẩm, ánh sáng, độ thông thoáng và một yếu tố nữa quan trọng không kém 3 yếu tố trên- đó là tình yêu đối với cây hoa lan thì cây lan nhất định sẽ sống tốt. Lan cần thoáng khí nên tránh để lan vào góc nhà hoặc nơi ít người qua lại.
Khi tưới, dùng bình xịt phun vào gốc và lá, không nên phun nước vào hoa. 1-2 ngày hãy dùng thuốc dưỡng phun vào hoa để hoa tươi lâu. Lan không thích nghi với không khí ô nhiễm… nên cần trồng và chăm sóc trong môi trường thiên nhiên trong sạch. Kiến thức chung để trồng lan thì ở mọi nơi đều có những nét tương đồng, tuy nhiên đối với từng loại lan mà lại có cách chăm khác nhau.
Ở thời điểm hiện tại, sau gần 25 năm gắn bó với cây hoa lan, anh Trường đã trở thành một trong những người kỳ cựu trong nghề. Có được những thành quả như ngày hôm nay là nhờ quá trình đam mê học hỏi và chịu khó áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất. Thêm vào đó, anh còn thường xuyên đi học hỏi những mô hình trồng lan đạt hiệu quả cao trong và ngoài nước.
Đồng thời, anh Trường và những người trồng lan xã Đông La còn xây dựng thương hiệu trên các trang mạng xã hội, tổ chức diễn đàn trên mạng để cùng giao lưu, trao đổi những kinh nghiệm trồng trọt và kinh doanh. Họ đã biết thích nghi với điều kiện mới, nỗ lực vươn lên để cùng viết lên kỳ tích, kỳ tích không chỉ cho riêng họ mà cho cả quê hương mình. (Nông Thôn Ngày Nay 30/8, tr12) đầu trang(
Ông Lê Tiến Thắng, Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh cho biết thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2014, đến nay Tuyên Quang đã hoàn thành kế hoạch trồng gần 13.870ha (đạt 100,5% so với kế hoạch). Trong đó, diện tích trồng rừng tập trung hơn 13.300ha, rừng phân tán trên 560ha.
Theo đó, 6 địa phương đã hoàn thành vượt kế hoạch gồm các huyện: Yên Sơn đã trồng trên 4.100ha, Chiêm Hóa trên 3.037ha; Hàm Yên trên 2.232ha; Sơn Dương trên 2.014ha; Lâm Bình đạt 960ha; thành phố Tuyên Quang 177ha. Riêng huyện Na Hang mới trồng được hơn 1.341ha, đạt 99% kế hoạch.
Để đảm bảo đạt và vượt kế hoạch trồng rừng năm 2014, từ đầu năm, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Tuyên Quang đã chỉ đạo Ủy ban Nhân dân các xã, các công ty lâm nghiệp đẩy nhanh tiến độ khai thác rừng trồng, giải phóng đất trồng rừng.
Chi cục Lâm nghiệp phối hợp với các cơ quan liên quan đôn đốc tiến độ trồng rừng, chủ động nguồn giống, quản lý chất lượng cây giống, đề xuất giải quyết khó khăn tại cơ sở.
Bên cạnh đó, việc lập hồ sơ xử lý trường hợp sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích được chú trọng. Các công ty lâm nghiệp có phương án huy động nguồn vốn, đẩy mạnh liên doanh, liên kết trồng rừng hoàn thành kế hoạch được giao.
Ngoài ra, công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân và toàn xã hội về vai trò, giá trị của rừng cũng được các cấp đẩy mạnh đã thu hút mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư và hưởng lợi từ rừng.
Là một trong những tỉnh có độ che phủ của rừng lớn nhất cả nước (trên 60%), rừng đang được coi là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Tuyên Quang.
Địa phương đã thu hút nhiều nhà đầu tư lớn với dây chuyền công nghiệp hiện đại như Nhà máy giấy và bột giấy An Hòa, với tổng vốn đầu tư giai đoạn 1 là 3.200 tỷ đồng và trên 50 nhà máy, cơ sở chế biến với các sản phẩm chủ lực có khả năng tiêu thụ trên thị trường trong nước và thế giới. (VietnamPlus 29/8) đầu trang(
Là một trong những tỉnh đi đầu về thực hiện Dự án”Rừng ngập mặn và giảm thiểu rủi ro thảm họa’’(RNM &GTRRTH), hiệu quả của Dự án này trên đất Thanh Hóa đang ngày càng rõ nét, mang lại những lợi ích cho nhân dân vùng hưởng lợi cũng như đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn Thanh Hóa nói chung.
Để giúp bạn đọc hiểu thêm về quá trình, cách thức triển khai và kết quả thực hiện Dự án năm qua trên đất xứ Thanh, Báo NĐ & ĐS xin giới thiệu nội dung bài trả lời phỏng vấn của bà Trịnh Thị Tiếp, Chủ tịch Hội CTĐ tỉnh Thanh Hóa.
Bà Trịnh Thị Tiếp cho biết: Thanh Hóa là một tỉnh có địa bàn rộng, dân số đông. Trải dài  tới 102km ven biển và có 11 huyện miền núi, trong đó có hàng chục xã vùng cao biên giới, chiều giáp giới với nước bạn Lào cũng khá dài, địa hình, địa bàn này là một điều kiện thuận lợi, song cũng đầy những thách thức khó khăn khi liên tục phải đối diện với những thảm họa từ thiên nhiên, trong phát triển kinh tế xã hội của Thanh Hóa.
Nhằm tiếp tục giúp đỡ bà con các dân tộc ven biển và các vùng còn khó khăn của Thanh Hóa ứng phó với nguy cơ, giải quyết các hậu quả do thiên tai, thảm họa mang lại, một cách hiệu quả hơn, T.Ư Hội CTĐ VN cùng với Nhà tài trợ CTĐ Nhật Bản, thông qua Hiệp hội CTĐ – TLLĐ Quốc tế đã phối hợp với Hội CTĐ Thanh Hóa triển khai Dự án RNM&GTRRTH, giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015…
Về tài chính thực hiện Dự án tại Thanh Hóa, trong năm 2013, kinh phí là 473.675.000đ.Các hoạt động của dự án năm 2013 được triển khai dựa trên 4 mục tiêu sau đây:
Một là: Các xã thực hiện dự án nâng cao được tình trạng an toàn trước thảm họa và thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH).
Hai là: Nâng cao kiến thức của cộng đồng về GTRRTH và các tác động của BĐKH.
Ba là: Nâng cao năng lực của cộng đồng về phòng ngừa và ứng phó thảm họa.
Bốn là: Nâng cao năng lực của cán bộ Hội CTĐ các cấp về GTRRTH, BĐKH và quản lý dự án.
Trên cơ sở các mục tiêu chính đó,chúng tôi đã  tập trung vào các công việc cụ thể như: Trồng và bảo vệ RNM; Trang bị các phương tiện cho đội bảo vệ rừng; Thực hiện các Tiểu dự án GTRR thiên tai; Tập huấn về Quản lý RRTH dựa vào cộng đồng và thích nghi với BĐKH cho các cán bộ chính quyền; Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và khả năng (VCA) ở các xã trọng điểm thiên tai; Tuyên truyền về phòng ngừa và ứng phó với thảm họa và các tác động của BĐKH; Tập huấn và cung cấp trang thiết bị cho đội ứng phó cộng đồng; Diễn tập phòng chống và ứng phó với thảm họa thiên tai tại các địa bàn trọng điểm; Khảo sát và nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm tại một số địa bàn; Tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ Hội về quản lý dự án
Trong năm qua, tỉnh đã tổ chức 3 lớp tập huấn về quản lý RR thiên tai và BĐKH cho cán bộ chủ chốt của xã Hà Phong, Hà Sơn (huyện Hà Trung) và xã Hải Lộc (huyện Hậu Lộc); 2 lớp về sơ cấp cứu ban đầu và cứu hộ cứu nạn cho Đội ứng phó nhanh của xã Nga Tân (huyện Nga Sơn) và Đa Lộc (huyện Hậu Lộc); tổ chức kiểm tra, giám sát tại 10/11 xã đã thực hiện VCA năm 2011 và 2012, gồm các xã: Nga Lĩnh, Nga Thắng, Nga Điền (huyện Nga Sơn), Hà Lâm, Hà Toại (huyện Hà Trung), Hoằng Châu, Hoằng Phong (huyện Hoằng Hóa) Hoằng Anh (TP. Thanh Hóa); Quảng Đại và Quảng Lợi (huyện Quảng Xương); tổ chức cấp 25 áo phao, 25 áo mưa, 25 mũ bảo hộ và 5 loa pin cầm tay cho 5 đội bảo vệ rừng thuộc các xã: Nga Tân, Nga Thuỷ, Hải Lộc, Đa Lộc, Hoằng Châu, cấp 18 loa pin cầm tay và 18 loa nén phóng thanh hỗ trợ cho công tác cảnh báo sớm tại 3 xã: Nga Tân, Nga Thuỷ và Đa Lộc; tổ chức thành công hội nghị xây dựng kế hoạch tuyên truyền hoạt động Hội và tuyên truyền dự án RNM&GTRRTH, năm 2013, với sự tham gia của nhiều ban, ngành cấp tỉnh và các cơ quan thông tin đại chúng của địa phương.
Tổ chức hoạt động diễn tập phòng ngừa ứng phó thảm họa cấp xã/thôn tại xã Hoằng Châu và xã Nga Tân. Tổ chức đánh giá VCA tại xã Hải Lộc và Hà Phong; tổ chức triển khai 2 Tiểu dự án giảm nhẹ RR thiên tai: Nâng cấp hệ thống truyền thanh tại xã Nga Lĩnh và làm 350m đường cứu hộ/dân sinh tại xã Nga Thắng; Cử 2 cán bộ tham gia khoá tập huấn về lập kế hoạch, giảm sá và lượng giá, báo cáo (PMER) tại Ninh Bình; Các hoạt động quản lý, hành chính của Dự án được thực hiện đảm bảo đúng tiến độ theo kế hoạch.
Năm 2013, tổng số người hưởng lợi thông qua các Dự án, trên địa bàn Thanh Hóa là 28.079 người. Trong đó có 15.579 người được hưởng lợi trực tiếp và 12.500 người được hưởng lợi gián tiếp.
Trong quá trình thực hiện dự án, thời gian qua, Hội CTĐ tỉnh Thanh Hóa đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra giám sát của của T.Ư Hội CTĐ Việt Nam và Hiệp Hội CTĐ-TLLĐ Quốc tế đã hỗ trợ kỹ thuật nâng cao năng lực về lập kế hoạch, thực hiện và báo cáo; kinh phí chuyển cho các hoạt động được thực hiện đảm bảo đúng tiến độ.
Bên cạnh đó, các hoạt động của Dự án đã nhận được sự hỗ trợ và quan tâm chỉ đạo sát sao của UBND các cấp, các ban ngành cấp tỉnh, huyện và các xã thực hiện Dự án ở trong tất cả các hoạt động;  Đài PT-TH tỉnh cũng như các Đài Truyền thanh các huyện đã tích cực tuyên truyền về các hoạt động của Dự án.
Đặc biệt, để có kết quả tốt đẹp như hôm nay, phải kể đến sự năng động, nhiệt tình, cố gắng tập trung cao độ của đội ngũ cán bộ Hội từ tỉnh đến cơ sở, sự tham gia tích cực trong mọi hoạt động của bà con tại các địa phương triển khai Dự án. Không chỉ bà con thuộc dối tượng được hưởng lợi, mà hầu như mọi người trong cộng đồng đều rất tích cực hưởng ứng, tham gia bằng sức lực, vật chất, bằng sự động viên, chia sẻ về tinh thần. (Nhân Đạo & Đời Sống 28/8, tr6) đầu trang(
Sau 3 năm triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đến cộng đồng dân cư và cá nhân trên địa bàn đã mang lại những kết quả tích cực: Nhiều diện tích rừng được quy chủ, bảo vệ tốt; người dân có thêm thu nhập và đặc biệt là nhận thức về quản lý, bảo vệ rừng được nâng cao...
Ông Bùi Văn Vân, Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh cho biết: “Theo quy trình tiến hành chi trả DVMTR, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng là đơn vị cấp 3 làm nhiệm vụ giữ tiền và chi trả tiền cho chủ rừng khi đã đủ điều kiện. Theo đó, chúng tôi căn cứ vào quyết định quy chủ rừng của UBND tỉnh đối với rừng thuộc tổ chức cộng đồng; của UBND huyện, thị đối với rừng thuộc cá nhân và dựa vào kết quả nghiệm thu về diện tích, trạng thái, trữ lượng rừng của cơ quan kiểm lâm để tiến hành chi trả. Như vậy khi một trong hai khâu này triển khai chậm sẽ kéo theo tiến độ chi trả của quỹ cũng chậm”.
Để chính sách chi trả DVMTR triển khai thuận lợi, trước hết phải làm cho người dân hiểu về chính sách chi trả DVMTR do đó công tác tuyên truyền, vận động là yếu tố quan trọng. Sau đó, khi đi vào thực tiễn kiểm tra, rà soát, hoàn thành thủ tục để giao đất, giao rừng thì việc chọn đơn vị tư vấn có năng lực chuyên môn tốt đóng vai trò quyết định tới tiến độ và hiệu quả công việc.
Nếu chính quyền các huyện chọn đơn vị tư vấn có năng lực chuyên môn tốt thì tiến độ triển khai sẽ nhanh, đạt hiệu quả cao và ngược lại. Điển hình như, huyện Nậm Pồ - huyện mới được chia tách từ huyện Mường Nhé còn nhiều khó khăn nhưng đã hoàn thành giao đất, giao rừng sớm nhất tỉnh.
Có được điều này, chính quyền huyện Nậm Pồ đã chỉ đạo sát sao các phòng chuyên môn vừa tích cực phối hợp với chính quyền các xã làm tốt công tác tuyên truyền về chính sách chi trả DVMTR vừa hỗ trợ đơn vị tư vấn về mặt chuyên môn. Cùng với đó, các cơ quan chức năng phải có biện pháp giải quyết tranh chấp về địa giới hành chính giữa các bản trên cùng một xã, các xã trên cùng một huyện, giữa 2 huyện với nhau.
Một trong những yếu tố quan trọng khác là, chính quyền các địa phương chỉ đạo cơ quan chuyên môn khi kiểm tra, rà soát để giao đất giao rừng nên lắng nghe ý kiến phản hồi của người dân để triển khai có hiệu quả và chất lượng. (Báo Điện Biên Phủ 29/8) đầu trang(
28/8, đoàn công tác do bà Đinh Thị Kim Tuyến-Phó Trưởng ban Pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh làm trưởng đoàn đã tiến hành giám sát công tác xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động quản lý, khai thác, vận chuyển, sản xuất và chế biến lâm sản trên địa bàn huyện Na Rì.
Theo báo cáo của Hạt Kiểm lâm huyện Na Rì, từ năm 2013 đến nay Hạt Kiểm lâm Na Rì đã tham mưu cho chính quyền địa phương ban hành 3 quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và quản lý lâm sản thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND huyện đối với 3 đối tượng vi phạm; chuyển hồ sơ vụ việc vi phạm do vượt thẩm quyền lên Chi cục Kiểm lâm tỉnh để xử lý theo thẩm quyền 11 vụ; tham mưu cho huyện ban hành quyết định thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành, kiểm tra các hoạt động khai thác, chế biến lâm sản và khai thác khoáng sản trên địa bàn.
Qua kiểm tra các cơ sở nhìn chung trong quá trình kinh doanh, chế biến lâm sản đã nghiêm túc chấp hành các quy định của nhà nước.
Bên cạnh đó, Hạt Kiểm lâm huyện Na Rì đã tích cực chỉ đạo các trạm kiểm lâm trực thuộc, cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn phối hợp với ngành chức năng, chính quyền địa phương và kiểm lâm các huyện giáp ranh tổ chức tuần tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng.
Qua đó, từ năm 2013 đến nay lực lượng kiểm lâm huyện đã phát hiện, lập biên bản xử lý 182 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng; trong đó thu giữ 3 ô tô, 46 xe máy, 15 cưa máy và tịch thu 115,8m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách Nhà nước hơn 1,2 tỷ đồng.
Với những kết quả đã đạt được, trong quá trình thực hiện công tác Hạt Kiểm lâm huyện Na Rì còn gặp những khó khăn, vướng mắc như: Việc tổ chức triển khai ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên liên quan đến công tác xử lý vi phạm còn hạn chế; nhiều đối tượng vi phạm chưa chấp hành nộp tiền phạt; lực lượng kiểm lâm huyện không có đủ kinh phí trông coi, bảo quản và thu hồi tang vật vi phạm; một số cấp ủy, chính quyền xã chưa chủ động đấu tranh, ngăn chặn và xử lý các đối tượng vi phạm lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng; cơ sở vật chất tại các trạm kiểm lâm còn khó khăn, biên chế còn thiếu…
Cũng trong ngày làm việc, đoàn giám sát đã tiến hành kiểm tra thực tế tình hình hoạt động của 2 cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn huyện. Những ý kiến, kiến nghị của Hạt Kiểm lâm huyện, các cơ sở chế biến gỗ nêu lên tại buổi làm việc đã được đoàn giám sát tổng hợp để chuyển cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết. (Báo Bắc Kạn 29/8) đầu trang(
Đó là thông tin được ông Phan Chí Dũng - Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nhẹ, Bộ Công Thương - nhấn mạnh tại hội thảo “Kinh tế Việt Nam năm 2014 và triển vọng kinh doanh ngành đồ gỗ”, do VCCI, Hawa, VPBank tổ chức tại TP HCM.
Ông Phan Chí Dũng cho biết năm 2013 tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam tăng 5,42%, chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 5,9%. Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục bất ổn, sản xuất trong nước vẫn còn gặp nhiều khó khăn, mức tăng trưởng trên đã thể hiện sự nỗ lực của các doanh nghiệp. Mặt khác, đã khẳng định tính đúng đắn, kịp thời, hiệu quả của  các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp nhằm thúc đẩy kinh tế của nhà nước, của Chính phủ và các bộ, ngành.
Theo báo cáo, kim ngạch xuất khẩu gỗ trong năm 2013 đạt 5,7 tỉ USD, tăng 19% so với năm trước, nếu cộng chung với đồ gỗ mỹ nghệ, đồ gỗ mây tre thì kim ngạch đạt khoảng 6 tỉ USD. Dự kiến năm 2014 kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ sẽ đạt 6,5 tỉ USD, hàng thủ công mỹ nghệ khoảng 2 tỉ USD. Tiêu thụ đồ gỗ, nội thất trong nước  5 năm qua với doanh thu  thường xuyên đạt mức 2,5 tỉ USD. Đây là ngành có nhiều tiềm năng, mở ra nhiều cơ hội cho sự phát triển  chế biến đồ gỗ trong nước.
Được biết thị trường hàng thủ công mỹ nghệ thế giới tiêu thụ 100 tỉ USD/năm, nhu cầu nội địa ngày càng tăng. Trung bình một hộ mua sắm 6 triệu đồng/năm, cho thấy thị trường nội địa khá hấp dẫn cho ngành đồ gỗ.
Tuy ngành đồ gỗ có phát triển mạnh nhưng lợi nhuận và giá trị gia tăng của sản phẩm chưa cao. Do chi phí đầu vào trong nước tăng mạnh, nguyên liệu cho sản xuất đồ gỗ dành cho xuất khẩu chủ yếu là nhập khẩu, giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu thấp. Trên 80% thị phần đồ gỗ, nội thất trong nước đang thuộc về các công ty đa quốc gia, công ty có vốn đầu tư nước ngoài.
Hiện Việt Nam có trên 1.000 làng nghề chế biến gỗ, với hàng ngàn hộ gia đình lao động làm nghề. Do đó, việc đẩy mạnh và nâng cao thị phần để tránh thua trên sân nhà là cấp bách của các cơ quan quản lý và doanh nghiệp.
Theo các chuyên gia, chi phí sản xuất trong nước còn cao nên sức cạnh tranh sản phẩm đồ gỗ Việt Nam còn yếu. Đơn cử chi phí trung bình để sản xuất một cái ghế tựa bằng gỗ ở Việt Nam là 17,5 USD, ở Trung Quốc chỉ 13,53 USD. Trung bình một công nhân sản xuất trong ngày ở Trung Quốc là 4,5 cái ghế nhưng Việt Nam chỉ 1,9 cái.
Theo ông Dũng,  ngành gỗ không khó về thị trường mà cái khó ở chỗ doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, sản xuất với quy mô gia đình, vốn ít nên dễ nhạy cảm với sự thay đổi của thị trường. Chi phí đầu vào trong sản xuất tăng nhanh, lãi suất ngân hàng, tiếp cận vốn còn khó khăn. Nguyên liệu sản xuất còn phải nhập khẩu, giá thành cao. Công tác xúc tiến thương mại, thiết kế sản phẩm còn nhiều hạn chế, mẫu mã đơn điệu.
Nhà nước cần hỗ trợ quy hoạch phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ, có chính sách phát triển nguồn nguyên liệu; tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn vay để đầu tư thiết bị công nghệ cao, đầu tư mẫu, nhà xưởng. (Người Lao Động 1/9) đầu trang(
Theo ước tính của Bộ NN&PTNT, giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ tháng 8 đạt 488 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu 8 tháng đầu năm đạt 3,87 tỷ USD, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm 2013.
Xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ 7 tháng đầu năm sang hầu hết các thị trường chính đều tăng, ngoại trừ thị trường Trung Quốc giảm 8,61%; Hoa Kỳ và Nhật Bản có mức tăng trưởng lần lượt là 14,6% và 23,27% so với cùng kỳ năm 2013. Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản - 3 thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam 7 tháng đầu năm 2014 – chiếm 66,18% tổng giá trị xuất khẩu. (Hải Quan 28/8, tr8) đầu trang(
Theo Cục Thống kê Đồng Nai, xuất khẩu các sản phẩm từ gỗ trong tháng Tám ước đạt gần 88,3 triệu USD, tăng 11,2 triệu USD so với tháng Bảy.
Tính chung 8 tháng đầu năm nay, xuất khẩu các sản phẩm từ gỗ của tỉnh đạt gần 602 triệu USD, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2013.
Ông Lê Văn Dành, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh cho biết hiện xuất khẩu các sản phẩm từ gỗ là một trong ba nhóm mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn nhất của Đồng Nai, chỉ sau giày dép và dệt may.
Các công ty sản xuất các sản phẩm từ gỗ trong tỉnh đều khẳng định khác với năm trước, từ đầu năm đến nay, họ liên tục nhận được các đơn đặt hàng lớn từ những đối tác nước ngoài. Nhiều công ty đến thời điểm này đã nhận được đơn đặt hàng đến hết quý I năm 2015.
Các thị trường lớn về sản phẩm gỗ của Đồng Nai là Hoa Kỳ, Canada, Anh, Hàn Quốc, Nhật Bản... đều tăng nhu cầu nhập khẩu. Ngoài ra, một số thị trường mới thuộc châu Mỹ Latinh, châu Phi cũng sang tìm hiểu và đặt hàng.
Theo Hawa (Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ), thời gian gần đây, nhiều nhà nhập khẩu sản phẩm từ gỗ lớn trên thế giới đã đến Việt Nam đặt hàng chứ không chọn Trung Quốc như trước. Việt Nam cũng đang có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc thu hút các nhà đầu tư đến liên kết sản xuất sản phẩm từ gỗ.
Ưu thế của Việt Nam là kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát trong mức kiểm soát, tăng trưởng tín dụng hợp lý, lực lượng lao động khá dồi dào...
Ông Bùi Quang Hội, Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bùi Chấn Hưng (thành phố Biên Hòa) cho biết khách hàng truyền thống của công ty là Nhật Bản, Australia, châu Âu và gần đây có thêm một số khách hàng từ Hoa Kỳ. Các đơn hàng công ty nhận được từ đầu năm đến nay tăng gấp hai lần so với năm trước.
Nhiều khách hàng của công ty cho biết họ đã chuyển những đơn hàng lớn từ Trung Quốc, Thái Lan về Việt Nam để được hưởng các ưu đãi về thuế quan trong xuất nhập khẩu và hiện nay máy móc, quy trình sản xuất các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam tương đối cao.
Theo Sở Công Thương, sở dĩ có sự dịch chuyển những đơn hàng lớn sản xuất các sản phẩm từ gỗ ở các nước lân cận vào Việt Nam, trong đó có Đồng Nai là để được hưởng các ưu đãi về thuế.
Thời gian qua, Việt Nam đã ký nhiều hiệp định thương mại với nhiều nước và theo lộ trình thuế xuất nhập khẩu các mặt hàng giảm dần về 0%. Trong đó, mặt hàng gỗ đang hưởng nhiều ưu đãi về thuế quan khi xuất khẩu. Đây chính là yếu tố hấp dẫn và thu hút nhiều nhà đầu tư vào Việt Nam.
Ông Lê Văn Dành cho biết, để tạo diều kiện cho ngành sản xuất gỗ, mới đây, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Phan Thị Mỹ Thanh đã đồng ý với chủ trương của Hiệp hội sản xuất chế biến gỗ trong tỉnh trong việc tự đầu tư hạ tầng một cụm công nghiệp chuyên ngành gỗ để tạo điều kiện mặt bằng cho các hội viên sản xuất.
Toàn tỉnh hiện có hơn 600 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đồ gỗ và hàng thủ công mỹ nghệ với tổng doanh thu năm 2013 đạt 2 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu gần 1,5 tỷ USD, chiếm 27% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành gỗ cả nước. (VietnamPlus 1/9) đầu trang(
1.9, tổ công tác Trạm CSGT Hải Lăng (thuộc Phòng CSGT, Công an tỉnh Quảng Trị) phát hiện xe đầu kéo mang BKS 37C-097.57 do tài xế Trần Văn Giáp (40 tuổi, trú tại xã Thành Sơn, H.Anh Sơn, Nghệ An) điều khiển kéo theo rơ moóc chở 96 tấn gỗ tròn; xe đầu kéo mang BKS 37H-9669 do Trần Đăng Hiếu (26 tuổi, trú tại xã Tràng Sơn, H.Đô Lương, Nghệ An) điều khiển chở 83 tấn gỗ tròn chạy theo hướng bắc - nam.
Qua kiểm tra, cả 2 xe đầu kéo đều vượt quá tải trọng cho phép hơn 50%. CSGT đã lập biên bản vi phạm đối với các lái xe về lỗi chở hàng vượt quá tải trọng, buộc hạ tải theo đúng quy định.
Cả 2 chiếc xe này chở gỗ cho một công ty từ H.Đô Lương (Nghệ An) vào TP.Huế (Thừa Thiên-Huế) tiêu thụ. Đến thời điểm bị tạm giữ, 2 xe đã đi qua quãng đường dài hơn 300 km. (Thanh Niên 2/9, tr2) đầu trang(
Vài năm gần đây, một số cá nhân, doanh nghiệp huyện Chiêm Hóa đã đầu tư máy móc chế gỗ trên địa bàn, vừa có sản phẩm cung cấp cho thị trường, vừa tạo việc làm cho lao động nông thôn lại kích thích kinh tế rừng phát triển.
Trong tổng số 128.000 ha đất tự nhiên toàn huyện Chiêm Hóa thì diện tích đất lâm nghiệp chiếm trên 105.000 ha, trong đó rừng sản xuất 69.000 ha, hàng năm cung cấp hàng triệu m3 gỗ... đây chính là nguồn nguyên liệu quan trọng để phục vụ cho nghề chế biến gỗ trên địa bàn.
Từ năm 2010, ở các xã có nhiều diện tích rừng trồng như: Hà Lang, Trung Hà, Tân An, Xuân Quang... đã xuất hiện những xưởng sơ chế gỗ bóc và 2 năm trở lại đây, nghề chế biến gỗ đã mở rộng ra hầu hết tất cả các xã, thị trấn trên địa bàn huyện. Nghề chế biến gỗ ở Chiêm Hóa hiện nay không chỉ dừng lại ở các xưởng sơ chế gỗ bóc mà còn có các xưởng sơ chế gỗ băm dăm phục vụ cho sản xuất bột giấy của nhà máy giấy An Hòa và các xưởng mộc có quy mô lớn.
Hiện nay trên địa bàn huyện có 50 cơ sở chế biến gỗ của các doanh nghiệp, cá nhân, hợp tác xã; trong đó có 14 doanh nghiệp, 4 hợp tác xã và 32 cơ sở sản xuất, kinh doanh của các hộ cá thể. Việc đầu tư xây dựng các xưởng sản xuất, chế biến gỗ rừng trồng đang tạo ra những cơ hội mới, tăng việc làm, tăng thu nhập cho không ít lao động nông thôn và đóng góp cho ngân sách địa phương, tăng giá trị kinh tế cho cây gỗ rừng trồng.
Để các cơ sở chế biến gỗ hoạt động theo đúng các quy định của nhà nước, Phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện thường xuyên phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành kiểm tra, rà soát, đánh giá tình hình hoạt động của các cơ sở chế biến lâm sản, yêu cầu các chủ cơ sở chế biến lâm sản thực hiện đầy đủ các quy định về an toàn lao động cũng như cam kết bảo vệ môi trường.
Sản phẩm gỗ bóc của các xưởng này được các doanh nghiệp ở Hà Nội, Hải Phòng về tận nơi thu mua để tạo thành ván ép xuất khẩu hay tạo ván gỗ dăm công nghiệp; những phụ phẩm được bà con tận dụng làm chất đốt phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày.
Xưởng chế biến gỗ băm dăm của HTX Dịch vụ Thương mại Việt Bắc, xã Minh Quang luôn có 20 lao động đáp ứng kịp thời các đơn đặt hàng. Anh Ma Công Viền, chủ nhiệm HTX cho biết: Nhận thấy nhu cầu thu mua sản phẩm gỗ băm dăm của nhà máy chế biến bột giấy An Hòa là rất lớn nên năm 2013, HTX đã đầu tư gần 5 tỷ đồng để đầu tư máy móc, dây chuyền sản xuất.
Hiện tại mỗi ngày xưởng sơ chế được trên 10 tấn gỗ băm dăm bán cho nhà máy giấy, tạo việc làm thường xuyên cho 20 lao động với mức thu nhập bình quân từ 3,5 đến 4 triệu đồng/người/tháng.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, nghề chế biến gỗ ở Chiêm Hóa cũng gặp không ít khó khăn về tình trạng thiếu nguồn nguyên liệu cũng như mặt bằng để mở rộng quy mô nhà xưởng. Cùng với đó, việc có quá nhiều xưởng chế biến gỗ trong cùng một địa phương, mỗi ngày tiêu thụ hàng trăm m3 gỗ thì nguyên liệu tại chỗ không đủ cung cấp.
Ngoài ra, nhiều chủ các cơ sở sản xuất muốn mở rộng quy mô nhưng không có quỹ đất hoặc vốn vay ưu đãi nên nhiều xưởng sản xuất vẫn chỉ ở quy mô nhỏ lẻ. Bên cạnh đó, tại mỗi xưởng chế biến, lượng mùn cưa và gỗ vụn không được che chắn gây bụi khi trời nắng, trời mưa thì lắng đọng trôi theo dòng nước gây ảnh hưởng đến môi trường.
Ngoài ra việc chiếm dụng đường giao thông làm nơi phơi sản phẩm, cũng gây nguy hiểm cho các phương tiện tham gia giao thông. Vì vậy, để nghề sản xuất chế biến gỗ ở Chiêm Hóa phát triển bền vững rất cần có sự quan tâm và đầu tư phù hợp cho việc xử lý môi trường tại các xưởng chế biến. Các địa phương có biện pháp, kế hoạch thật cụ thể giữa trồng rừng, bảo vệ rừng và khai thác rừng. (Báo Tuyên Quang 29/8) đầu trang(
Không báo cáo tình hình hoạt động của doanh nghiệp và việc thực hiện góp vốn của các cổ đông sáng lập, một thành viên của tập đoàn Rừng Toàn Cầu là Cty Cổ phần Phát triển bền vững Bình Minh, địa chỉ 68 Phan Đình Phùng (phường Xương Huân, thành phố Nha Trang) có thể bị rút giấy phép.
Ngày 19/5/2014, Phòng Đăng ký kinh doanh, Sở KH&ĐT tỉnh đã thông báo nội dung vi phạm như trên của Cty Phát triển bền vững Bình Minh.
26/8, Phòng Đăng ký kinh doanh tiếp tục có thông báo về vi phạm của Cty Phát triển bền vững Bình Minh, yêu cầu trong vòng 10 ngày, kể từ ngày 26/8, ông Hoàng Quốc Minh, Chủ tịch HĐQT, người đại diện theo pháp luật của Cty Phát triển bền vững Bình Minh phải đến trụ sở Phòng Đăng ký kinh doanh để giải trình. (Tiền Phong 30/8, tr11) đầu trang(
Khi hỏi đến chuyện vào rừng khai thác dầu rái, Trung – người mà PV quen biết qua một đồng nghiệp – nhún vai nói “ớn tới cổ”. Trung cho biết từ nhỏ đã quá cơ cực với những ngày nằm rừng khai thác dầu rái, nhưng cũng nhờ nghề này mà anh và những đứa trẻ cùng xóm mới có thêm “chút mắm muối”, sách vở để đến trường và đi học xa…
Phan Quang Trung (thôn Mậu Long 2, xã Quế Ninh, Nông Sơn) đợi PV đến nhà mới sửa soạn bộ đồ nghề đi rừng đã gắn bó với mình từ nhỏ. Đôi thùng gánh dày cộm lớp dầu rái sần sùi bám quanh, chiếc vá múc đen xỉn, cả những dụng cụ “nằm rừng” như võng, tấm che mưa… cũng cũ mèm vì lâu ngày không dùng tới.
Đồ đạc đã chuẩn bị xong nhưng Trung phải chờ thêm một “bạn rừng” nữa là Đào Hữu Sắc (người ở cùng thôn). Anh Sắc người thấp nhỏ nhưng lộ vẻ chắc chắn của một sơn tràng thứ thiệt, hiện anh vẫn gắn bó với nghề khai thác dầu rái và nay đã đến kỳ vào rừng.
Chuyến đi có vẻ rất tươm tất vì anh đã chuẩn bị thêm một số thực phẩm tươi sống để đãi khách. Anh Sắc nói: “Mấy anh em đi rừng không quen, tôi phải chuẩn bị chu đáo để tụi mình no đủ và không gặp phải rắc rối. Thằng Trung đã lâu quá rồi không vào rừng, chừ cũng như dân thành phố, không chịu cực khổ được nữa…”.
Thường mỗi đợt đi rừng của anh Sắc là 3 ngày. Khu rừng dầu rái của anh không xa nhưng “quy trình” khai thác là vậy, phải lội quanh cả khu rừng, đi đến từng cây “nhặt” từng vá dầu... nên phải nằm rừng vài ngày liền để đỡ tốn thời gian. Tỏ vẻ e ngại thì được anh trấn an rằng “mình thì ở lại mấy ngày, Trung sẽ đưa anh em ra khỏi rừng nếu cần, rừng rú bây giờ không còn nguy hiểm như xưa nữa…”.
Vì vậy PV yên tâm theo sau bước chân với bờ vai nhấp nhô của anh, vượt qua những dốc đá, len lỏi xuyên qua bụi rậm. Rừng về chiều hoang lạnh, chim muông kêu nghe như lạc lõng trên những tàn cây âm u. Trên đường đi, ngang qua một chiếc am nhỏ nằm hiu quạnh bên bờ suối reo. Trung kể, đó là chỗ hương khói cho một người cùng làng và là bà con của anh, người này bị tai nạn trong một chuyến đi rừng.
Trung cho biết chỗ tập kết quen thuộc này là trung tâm của khu rừng dầu rái khe Cầu. Anh kể, ngày xưa trong số các nhóm thợ rừng về đây, anh là người nhỏ tuổi nhất. Rừng hồi đó “bí hiểm” và đáng sợ hơn nhiều. Từ nhà vào đây phải đi bộ mất một buổi đường, qua nhiều suối sâu, dốc dài, đối diện với nhiều hiểm nguy. Anh theo cha mình cùng những tốp thợ rừng vào đây với mớ đồ lỉnh kỉnh trên vai.
Sau khi lập lán trại, công việc đầu tiên của anh là tìm củi nhóm lửa nấu nước và chuẩn bị thổi cơm cho một nhóm thợ rừng. Có lúc cả ngày Trung chỉ thui thủi trong lán trại một mình vì mọi người phải tản ra, đi đến những gốc dầu rái dọn dẹp, khai thác. Khu rừng dầu rái của gia đình anh có khoảng 500 cây, từ nơi lập lán trại, phải xuyên rừng thêm vài giờ nữa mới đến được.
Mỗi chuyến đi phải mất cả tuần, khi về lại nặng nhọc mang vác, cõng gùi dầu rái và dụng cụ. “Nhà đông anh em nhưng mình là con trai lớn, phải phụ cha vào rừng lấy dầu. Ngày xưa dầu có giá lắm. Việc khai thác dầu nặng nhọc nhưng là kế mưu sinh chính của làng mình. Nghề lấy dầu đã giúp nhiều gia đình ngày xưa ở vùng đất heo hút, cách trở này thoát khỏi cảnh đói cơm lạt muối…” – Trung nói.
Việc đầu tiên của một thợ dầu trước khi khai thác là tìm những cây lồ ô khô, bó chặt tạo thành chiếc thẻ (đuốc) để hơ vào nơi gốc cây dầu đã được vạt sẵn. Anh Sắc loay hoay chỉ một hồi là có chiếc thẻ đỏ rực và đi đến những cây dầu gần nhất. Quanh đây, cây dầu rái rải rác trên những triền núi, chen giữa đám bụi rậm. Nhiều cây dầu có tuổi hơn 50 năm, vươn thẳng tắp soi bóng xuống suối, trên thân nhựa đang rỉ ra ở “vết thương” tươi màu gỗ.
Anh Sắc cho biết, phải hơ vào bề mặt lớp vạt này để lớp dầu cũ tan chảy, cây sẽ lại tiết ra lớp dầu mới. Một cây dầu khai thác nhiều năm, vết chém ăn sâu vào nửa thân cây, rất dễ bị ngã đổ khi gặp bão lớn. Gia đình anh Sắc hiện sở hữu khoảng 200 cây dầu rái nằm trên khoảng 4ha rừng, anh nói đó là rừng dầu của ông bà để lại, khai thác từ nhiều đời rồi.
“Thà mất 4 thùng dầu rái còn hơn mất cô gái xóm dừa”, câu nói dí dỏm này vẫn tồn tại ở nhiều vùng ven biển, không chỉ cho thấy sự “quyết tâm” của một chàng trai đang yêu mà còn xem dầu rái là sản vật có giá trị cao. Cách đây chừng hơn 10 năm, dầu rái là mặt hàng đắt đỏ ở nhiều vùng quê ven biển. Ngư dân không thể thiếu dầu rái để trét lên bề mặt nan tre, ván gỗ của tàu thuyền để chống thấm nước.
Những năm gần đây nhu cầu sử dụng dầu rái giảm bởi được thay thế bằng các chất liệu khác như sơn chống nước, vì vậy giá dầu cũng giảm dần. Anh Sắc cho biết, giá 1 thùng dầu rái (20kg) hiện khoảng 500 nghìn đồng, bằng với giá trước đây mặc dù đồng tiền bây giờ “nhỏ” hơn.
Để khai thác được 20kg dầu, anh Sắc phải mất 3 ngày lội rừng, đi bằng hết 200 gốc dầu để múc từng vá nhỏ. Công việc rất vất vả nhưng anh nói đã quen rồi và đây là nghề của cha ông để lại mà con cháu cần phải kế thừa, ghi nhớ để không phụ công người đã nhọc nhằn trồng và giữ rừng.
Hiện xã Quế Ninh có khoảng 40 hộ dân làm nghề khai thác dầu rái. Ông Nguyễn Vân (thôn Mậu Long 2, xã Quế Ninh), người thu mua dầu rái duy nhất của địa phương hiện nay cho biết, cây dầu rái được khai thác quanh năm, chỉ trừ 3 tháng (từ tháng 3 đến tháng 6 hàng năm vì lúc này cây dầu rụng và thay lá).
Trước đây, vào mùa khai thác dầu, mỗi ngày ông thu mua vài chục thùng, thương lái đến tận nơi đưa đi tiêu thụ. Hiện nhu cầu dầu rái không cao, giá rẻ nên người dân cũng ít khai thác, ông phải gom dầu trong nhiều ngày để đưa đi tiêu thụ ở các cơ sở đóng sửa tàu thuyền tại Hội An, Duy Xuyên, Núi Thành…
Ông Vân đang đong thùng dầu của anh Sắc vừa mang ra khỏi rừng với vẻ cẩn thận và cho biết mình cũng là dân khai thác dầu, những thăng trầm của nghề này đã thấu hiểu. (Báo Quảng Nam 29/8) đầu trang(
Năm qua, thuận Châu đã trồng 1.045 ha rừng các loại vượt 139% kế hoạch (trong đó 650 ha rừng phòng hộ), góp phần nâng tỷ lệ độ che phủ của rừng lên 45%. Theo kế hoạch trồng rừng năm 2011, Thuận Châu trồng mới 1.075 ha, bao gồm: 525 ha rừng.
Năm qua, thuận Châu đã trồng 1.045 ha rừng các loại vượt 139% kế hoạch (trong đó 650 ha rừng phòng hộ), góp phần nâng tỷ lệ độ che phủ của rừng lên 45%.
Theo kế hoạch trồng rừng năm 2011, Thuận Châu trồng mới 1.075 ha, bao gồm: 525 ha rừng phòng hộ tại các xã Chiềng Bôm, Nậm Lầu, Co Mạ; 550 ha rừng sản xuất tập trung tại các xã Long Hẹ, É Tòng. Huyện đã chuẩn bị các loại giống, gồm: 1 triệu cây sơn tra, 500 nghìn cây thông, 100 nghìn cây bạch đàn, tếch, keo lai, sấu...
Ông Nguyễn Xuân Trường, Phó Giám đốc Ban quản lý Dự án 661 cho biết: Hiện Ban quản lý Dự án đang khẩn trương thiết kế khu trồng rừng, phân công cán bộ hiện trường phối hợp với cán bộ khuyến lâm cơ sở tuyên truyền các hộ dân trong vùng quy hoạch đăng ký diện tích trồng. Đồng thời, chuẩn bị đủ giống cho vụ trồng rừng; ngoài ra tổ chức các buổi tập huấn kỹ thuật cho bà con trồng rừng hiệu quả.
Điều thuận lợi là quy trình kỹ thuật trồng về cơ bản như năm trước nên bà con đã chủ động việc phát dọn thực bì và đào hố. Đến nay, đối với dự án 661 và Dự án Phát triển lâm nghiệp đã đo đạc xong 550 ha diện tích rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Diện tích đo xong đến đâu, các hộ dân tiến hành đào hố đến đó để chuẩn bị trồng. Ban quản lý Dự án 661 đã chuẩn bị hơn 1 triệu cây giống đang sinh trưởng và phát triển tốt, Ban quản lý Dự án sẽ cung cấp cây giống đến tận các xã. Dự kiến bắt đầu trồng từ đầu tháng 6 và hoàn thành vào ngày 30-7.
Ông Thào Dũng Mua, Chủ tịch UBND xã Long Hẹ (Thuận Châu) cho biết: Năm nay, xã trồng mới 12 ha tại bản Nông Cốc và bản Co Nhừ. UBND xã đã phối hợp với Ban quản lý Dự án 661, tuyên truyền bà con hiểu được tác dụng của việc trồng rừng. Hiện xã đã khoanh vùng và đo đạc xong 10 ha, bà con đang phát dọn thực bì, đào hố và dự tính đến đầu tháng 6 sẽ trồng.
Đến thời điểm này, công tác chuẩn bị cho mùa trồng rừng mới ở Thuận Châu từ địa bàn, cây giống, lực lượng, cơ chế chính sách đã hoàn tất, chỉ chờ khi có mưa là xuống cây giống. Với cách chỉ đạo quyết liệt, sự nhập cuộc của các cấp, các ngành và người dân, mùa trồng rừng năm 2011 của huyện Thuận Châu chắc chắn sẽ hoàn thành tốt kế hoạch. (Sở Nông Nghiệp Sơn La 28/8) đầu trang(
Dự án “Ứng dụng khoa học công nghệ mới vào trồng và thâm canh cây keo” được triển khai thực hiện năm 2010, tại 6 thôn: Đồng Đài, Đồng Măng, Đèo Khế, Thôn Trầm, Khuôn Rèm, Đồng Diễn, xã Hợp Thành (Sơn Dương), với sự tham gia của 38 hộ dân, trên diện tích 105 ha keo lai.
Theo tính toán, việc trồng keo theo mô hình mới này, hiệu quả kinh tế đạt 180 m3/ha/10 năm, tăng 40% so với trồng theo mô hình truyền thống.
Theo ông Nguyễn Văn Minh, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp (Sở Nông nghiệp và PTNT) các dự án, đề tài khoa học trong trồng rừng như: Dự án “Ứng dụng khoa học công nghệ vào trồng và thâm canh cây keo”; “Sử dụng giống chè Shan đưa vào trồng rừng phòng hộ”; đề tài “Xác định tuổi khai thác hợp lý của cây keo lai làm nguyên liệu giấy”; “Trồng rừng thâm canh bằng giống keo hạt cung cấp nguyên liệu gỗ xẻ”... đều hướng tới mục tiêu “năng suất, chất lượng, hiệu quả” trong sản xuất lâm nghiệp.
Một số đề tài nghiên cứu có giá trị thiết thực, như: Trồng khảo nghiệm giống bạch đàn đỏ, giống lát Mexico; xác định tuổi khai thác hợp lý của cây keo lai làm nguyên liệu giấy; đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và hiệu quả kinh tế của cây tre luồng; mô hình trồng rừng bằng chè Shan tuyết tại huyện vùng cao Nà Hang; áp dụng khoa học và công nghệ trồng rừng lấy gỗ chế biến gia dụng và xây dựng từ giống keo nhập ngoại...
Thông qua các đề tài khoa học đã xác định chỉ tiêu sinh trưởng, khả năng cho năng suất, tính thích ứng, tính kháng chịu sâu bệnh làm cơ sở bổ sung vào bộ giống cây lâm nghiệp trên địa bàn; góp phần nâng cao giá trị sử dụng đất lâm nghiệp trong những năm qua.
Ngoài thực hiện các dự án, đề tài khoa học trong trồng rừng, tỉnh còn triển khai xây dựng các mô hình nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp như trồng mây nếp dưới tán rừng; trồng tre Bát độ; sử dụng nơi đất thấp trồng chè và cây ăn quả; kỹ thuật trồng và khai thác rừng bảo đảm bền vững môi trường.
Xác định việc sản xuất giống cây lâm nghiệp trên địa bàn là yếu tố quan trọng cho kinh tế rừng phát triển, các đơn vị chức năng trên địa bàn các huyện, thành phố đã tiến hành kiểm tra và cấp giấy chứng nhận cho các vườn ươm đủ điều kiện sản xuất kinh doanh cây giống.
Theo thống kê, hiện toàn tỉnh có 22 vườn ươm cây giống có chứng nhận đủ tiêu chuẩn sản xuất giống, đảm bảo giống tốt đáp ứng nhu cầu trồng rừng. Thời gian tới, tỉnh sẽ tiếp tục xây dựng 1 trung tâm giống và 1 vườn ươm, đảm bảo cung cấp đủ cây giống có nguồn gốc và chất lượng phục vụ cho nhu cầu trồng rừng hàng năm của tỉnh.
Tại Nghị quyết 18 của HĐND tỉnh ngày 13-12-2012 về quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh giai đoạn 2011 - 2020 đã xác định rõ, tỉnh tiếp tục thiết lập hệ thống quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững diện tích đất lâm nghiệp.
Đẩy mạnh phát triển các vùng nguyên liệu thâm canh tập trung theo hướng sản xuất hàng hoá, đảm bảo cung cấp nguyên liệu ổn định cho Nhà máy Bột giấy và Giấy An Hòa và các nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh.
Mỗi năm hoàn thành trồng mới từ 13.000 - 15.000 ha rừng; đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý, đồng thời áp dụng các giải pháp lâm sinh hữu hiệu nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng, rút ngắn chu kỳ kinh doanh, nâng cao giá trị thu nhập trên đất sản xuất lâm nghiệp.
Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất lâm nghiệp sẽ góp phần tăng năng suất, chất lượng và rút ngắn thời gian sinh trưởng của rừng trồng; tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho người làm nghề rừng; đồng thời hoàn thành mục tiêu thu hút khoảng 90.000 lao động tham gia sản xuất lâm nghiệp. (Báo Tuyên Quang 29/8) đầu trang(
Xã Đồng Rui (huyện Tiên Yên) có tới hơn 2.700ha rừng ngập mặn (RNM), chiếm 56,6% diện tích đất tự nhiên của xã. RNM đã trở thành bức tường xanh che chắn cho hàng trăm ha nông nghiệp của người dân và mang lại thu nhập ổn định cho 2/3 người dân trong xã từ nghề khai thác hải sản.
Dẫn PV đi thăm khu vực RNM ở thôn Hạ, ông Nguyễn Quốc Trưởng, Bí thư Đảng uỷ xã cho biết: “Trước những năm 2000, do chưa nhận thức được tầm quan trọng của RNM nên có thời gian, việc quản lý cũng như công tác bảo vệ RNM ở Đồng Rui còn bị buông lỏng. Nhiều ha RNM đã bị người dân và doanh nghiệp biến thành các ô đầm nuôi trồng thuỷ hải sản.
Đáng tiếc hơn cả là những ô đầm này đã bị người dân đưa hoá chất vào để xử lý, tẩy rửa và cải tạo đầm khiến cho toàn bộ diện tích nuôi trồng không phát huy được hiệu quả mà còn làm ảnh hưởng đến những diện tích RNM khác. Khi không còn bức tường xanh chắn sóng, nhiều diện tích nuôi trồng thuỷ sản cũng bị vỡ do thuỷ triều dâng, làm cho hàng trăm ha đất nông nghiệp bị nhiễm mặn.
Điển hình như năm 1992-1994, có tới 1.500ha RNM và đất nông nghiệp đã bị tàn phá với cách thức trên. Những năm ấy, nhiều hộ dân đã rơi vào tình trạng khốn đốn, nhiều gia đình lâm vào cảnh nợ nần, tái nghèo, vợ chồng con cái lang bạt đi làm thêm ở các địa phương khác... Nhưng từ năm 2000 đến nay thì khác, người dân Đồng Rui giờ giữ từng m2 đất RNM như giữ chính mảnh đất của mình”.
Từ bài học về việc tàn phá RNM, chính quyền và người dân xã Đồng Rui đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền và tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức phi chính phủ, trong nước để tìm cách hồi sinh những cánh RNM.
Thông qua các dự án như: Dự án KVT Hà Lan; Dự án trồng rừng của Nhật Bản; Dự án của Công ty CP Phát triển tài nguyên Quảng Ninh... hơn 1.000ha đầm nuôi trồng thuỷ sản đã được khôi phục để trồng RNM. Mới đây nhất, xã cũng cải tạo, phục hồi được 90ha đất thu hồi từ dự án treo của Công ty CP Thiên Thành, nâng tổng số diện tích RNM tự nhiên và được phục hồi lên 2.500/ 2.700ha.
Từ việc bảo vệ tốt RNM mà từ năm 2010 đến nay, trung bình mỗi năm xã Đồng Rui thu hoạch được 370-400 tấn hải sản các loại, trong đó có đến hơn 70-80% là khai thác tự nhiên, đa phần là khai thác từ RNM. Năm 2013, tổng giá trị sản lượng kinh tế thuỷ sản chiếm 60% tỷ trọng kinh tế của Đồng Rui và quay trở lại thành ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm, tổng sản lượng thuỷ sản của xã đạt trên 205 tấn, trong đó khai thác lên tới 198 tấn, nuôi trồng là 7 tấn.
Chị Vũ Thị Én, Chi Hội trưởng Hội Phụ nữ thôn 4, cho biết: “Cùng với việc bảo vệ diện tích đất nông nghiệp không bị nhiễm mặn, hiệu quả kinh tế rõ rệt từ việc cải tạo, khôi phục, trồng mới RNM là nhiều loài thuỷ hải sản có giá trị kinh tế cao như: Ốc đĩa, cua biển… tới nay đã được phục hồi gần như hoàn toàn.
Hiện có khoảng 60-70% người dân Đồng Rui gắn bó với RNM. Người lớn thì tranh thủ lúc nông nhàn, nhiều chị em phụ nữ đi bắt hải sản quanh năm. Vào mùa hè hoặc sau buổi học, nhiều trẻ em cũng tranh thủ ra phụ giúp bố mẹ, có gia đình cả 4 người đều đi bãi.
Trung bình một ngày, chúng tôi có thể kiếm được 150.000 - 200.000 đồng từ việc đánh bắt dưới tán RNM. Phần lớn hộ dân đã tự xoá nghèo từ việc biết phát huy tiềm năng của RNM và nay trên địa bàn xã có tới 70-80% hộ dân có nhà cao tầng, thu nhập ổn định từ 3-4 triệu đồng/tháng”.
Trao đổi với PV, Bí thư Đảng uỷ xã cho biết thêm, trên cơ sở những hiệu quả kinh tế của RNM với địa phương, hiện nay Đồng Rui đang tiếp tục cải tạo, khôi phục những diện tích RNM còn lại.
Tuy nhiên, trên địa bàn xã hiện vẫn còn khoảng 200ha RNM thuộc các dự án nuôi trồng thuỷ sản nhưng đã bị bỏ hoang nhiều năm liền, không chấp hành nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, xã rất mong cơ quan chức năng sớm có phương án thu hồi những diện tích này để cải tạo và khôi phục lại diện tích rừng ngập mặn của địa phương.
Bên cạnh đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương quản lý, bảo vệ, phát triển rừng bền vững, nâng cao đời sống cộng đồng, Đồng Rui cũng rất cần được các cấp, ngành quan tâm đến việc thành lập khu bảo tồn sinh thái RNM, bảo tồn thiên nhiên tại địa phương... (Báo Quảng Ninh 28/8) đầu trang(
Tỉnh Cà Mau bắt đầu bước vào vụ trồng rừng mới, sau khi khai thác diện tích lứa tràm đã đến tuổi, với giá bán cao. Chính yếu tố này, tạo điều kiện thuận lợi để địa phương hoàn thành chỉ tiêu trồng rừng mới.
Năm 2014, tỉnh Cà Mau trồng rừng mới và trồng rừng sau khai thác với diện tích 1.500 ha, trong đó, có 1.300ha rừng tràm, số diện tích còn lại trồng keo lai. Rút kinh nghiệm từ những năm trước, bắt đầu từ tháng 8 này các công ty lâm nghiệp bước vào cao điểm trồng rừng thay gì tháng 7, nhằm tránh thời tiết nắng nóng cục bộ và để cây tràm giống được sinh trưởng tốt, trồng được hiệu quả hơn.
Chính vì vậy, ngay thời điểm này hầu hết những hộ dân sống trên lâm phần rừng tràm đang tích cực trồng rừng với tỉ lệ sống đạt rất cao. Song, do công tác trồng rừng phần lớn được thực hiện bằng phương pháp thủ công nên vào cao điểm như hiện nay thì nguồn nhân công phục vụ công tác này đang trở nên khan hiếm. (VTV9 29/8) đầu trang(
Sau 4 năm triển khai thực hiện Quyết định số 65 của UBND tỉnh về việc giao rừng trồng gắn với giao đất lâm nghiệp thuộc Chương trình 327, Dự án 661, huyện Yên Sơn đã đạt những kết quả tốt. Tình trạng lấn chiếm, phát rừng làm nương được hạn chế; công tác quản lý, bảo vệ rừng được thuận lợi và hiệu quả hơn.
Từ giữa năm 2011, UBND huyện Yên Sơn đã thành lập tổ thẩm định phương án giao rừng trồng gắn với giao đất lâm nghiệp thuộc Chương trình 327 và 661 quy hoạch thành rừng sản xuất thay tổ công tác cấp huyện trước đó.
Tổ gồm cán bộ thuộc các đơn vị: Hạt Kiểm lâm; các phòng: Tài nguyên - Môi trường; Tài chính - Kế hoạch; Nông nghiệp - PTNT đã khắc phục được một số khó khăn như công tác lập phương án giao đất, giao rừng, xác minh và đánh giá trữ lượng gỗ; giải quyết dứt điểm tranh chấp đất giữa các hộ dân, giữa hộ dân và Công ty Lâm nghiệp, giải quyết việc trồng lấn thuộc các chương trình khác như 672, dự án RIDP… đến nay huyện đã giao được 2.638 ha, trong đó đã cấp giấy chứng nhận QSDĐ được 1.824 ha cho 1.334 hộ ở 26 xã.
Tân Tiến là xã thực hiện thí điểm việc giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp của huyện, đã rà soát diện tích sau khi quy hoạch lại trên địa bàn 13 thôn có tổng số gần 380 ha đất lâm nghiệp, trong đó có 231,8 ha đất có rừng. Xã đã giao 326,62 ha, trong đó cấp được 299 giấy chứng nhận QSDĐ cho 178 hộ với diện tích 200 ha. Toàn bộ diện tích rừng 327 và 661 giao cho các hộ dân đã khai thác và trồng mới.
Tại xóm 11, có gần 30 ha rừng Dự án 327 và Chương trình 661 quy hoạch lại thành rừng sản xuất, nhiều nhất xã; ông Ma Xuân Nhị là người bảo vệ và chăm sóc rừng 327 từ năm 2006, cho biết hiệu quả kinh tế rừng đem lại khá lớn nên khi có chủ trương của Nhà nước, tỉnh giao rừng gắn với đất lâm nghiệp cho hộ dân ông đã nhận 5 ha rừng 327. Sau khi khai thác ông đã tiến hành trồng rừng ngay, đến nay 5 ha rừng của ông đã khép tán, hứa hẹn nguồn thu trong nay mai.
Ông Đỗ Duy Nam, là một trong số 20 hộ của thôn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, với 5,1 ha rừng Chương trình 327, Dự án 661 đã quy hoạch là rừng sản xuất. Đối với những người nông dân gắn với rừng từ lâu như ông Nam thì đây thực sự là một niềm vui lớn, tạo niềm tin vững chắc để ông yên tâm theo đuổi giấc mơ phát triển kinh tế rừng.
Sau hơn 3 năm thực hiện các quy trình trồng, chăm sóc, bảo vệ, đến nay, hơn 5 ha rừng keo tai tượng của gia đình ông Nam sinh trưởng, phát triển tốt, nhiều cây đã cao tới 10 m và có đường kính từ 50 đến 80 cm, hứa hẹn sẽ mang lại nguồn thu lớn trong vài năm tới…
Xã Trung Trực cũng có 200 ha rừng từ Dự án 327 và Chương trình 661 đã được rà soát và giao về tay nhân dân, người dân đã tự nguyện hoàn trả vốn đầu tư ban đầu của dự án để được khai thác và trồng mới.
Giao rừng gắn với giao đất nông nghiệp đã tạo điều kiện cho người dân phát triển kinh tế từ đất rừng; người dân yên tâm sản xuất, tập trung phát triển kinh tế rừng. Trong xã sẽ hình thành nên những nghề mới, như: Sản xuất, chế biến đồ gỗ, đồ gỗ gia dụng... Chắc chắn kinh tế địa phương sẽ có những chuyển biến tích cực. (Báo Tuyên Quang 30/8) đầu trang(
Theo Chi cục Lâm nghiệp (Sở Nông nghiệp và PTNT), đến giữa tháng 8, toàn tỉnh đã trồng được 13.865 ha rừng, đạt 100,5% kế hoạch năm 2014, cao hơn so với cùng kỳ năm 2013 là 909,1 ha. Trong đó trồng rừng tập trung 13.303 ha; trồng cây phân tán 562,4 ha.
Theo đó, huyện Lâm Bình trồng được 960,8 ha, so kế hoạch đạt 100,5%; Sơn Dương trồng trên 2.000 ha, đạt 101%; thành phố Tuyên Quang trồng trên 177 ha, đạt 107%; Hàm Yên trồng trên 2.200 ha, đạt trên 100,1%; Yên Sơn trồng trên 4.100 ha, đạt 100,1%; Chiêm Hóa trồng 3.070 ha, đạt trên 101,2% và Nà Hang trồng 1.340 ha, đạt gần 99% kế hoạch.
Thời tiết năm nay diễn biến khá phức tạp, mùa mưa đến sớm hơn và kéo dài gây khó khăn cho việc khai thác, làm chậm tiến độ giải phóng đất để trồng rừng kịp thời vụ. Diện tích đất trống hiện còn để trồng rừng chủ yếu nằm ở các xã vùng sâu, vùng xa, diện tích nhỏ lẻ, manh mún, đi lại khó khăn, chi phí cao...
Rút kinh nghiệm từ các năm trước, UBND tỉnh đã sớm giao chỉ tiêu kế hoạch vốn sản xuất lâm nghiệp và ban hành suất đầu tư trồng rừng phòng hộ, mức hỗ trợ trồng rừng sản xuất năm 2014 ngay từ đầu quý IV của năm trước.
Các địa phương, đơn vị đã chủ động trong công tác giao kế hoạch, bố trí lực lượng, chuẩn bị tốt các điều kiện sản xuất tại các xã, đội sản xuất ngay từ đầu năm. Trong quá trình triển khai, Chi cục Lâm nghiệp (Sở Nông nghiệp và PTNT) đã phối hợp với các cơ quan liên quan tăng cường chỉ đạo và đôn đốc đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, chủ động nguồn giống, quản lý chất lượng cây giống, đề xuất giải quyết khó khăn tại cơ sở, đặc biệt là việc lập hồ sơ xử lý các trường hợp sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích theo quy định. Các công ty lâm nghiệp có phương án huy động nguồn vốn, đẩy mạnh liên doanh, liên kết trồng rừng để hoàn thành kế hoạch được giao.
Năm nay, công tác chuẩn bị cây giống được thực hiện tốt. Ngay từ đầu năm, các công ty, đơn vị, hộ tư nhân được giao nhiệm vụ này đã có phương án bảo đảm đủ nguồn giống phục vụ cho kế hoạch trồng rừng.
Tại Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Chiêm Hóa đã hoàn thành gieo ươm được trên 1,1 triệu cây keo giống nhập ngoại, bảo đảm đủ nguồn giống phục vụ cho kế hoạch trồng rừng. Công ty đã tích cực phối hợp với các xã, thị trấn trên địa bàn làm tốt công tác tuyên truyền vận động các hộ trồng rừng liên doanh tổ chức phát dọn thực bì để đưa cây vào trồng đúng tiến độ và khung thời vụ tốt nhất.
Bên cạnh việc đầu tư quỹ đất, vật tư phân bón, cây giống, Công ty đã tập trung hướng dẫn chuyển giao khoa học kỹ thuật tới người trồng rừng. Năm 2014, huyện Chiêm Hóa có gần 1.000 gia đình tham gia trồng trên 3.000 ha rừng liên doanh với Công ty.
Tại huyện Nà Hang, ngay từ đầu vụ, Hạt Kiểm lâm huyện và Ban Quản lý rừng đặc dụng Nà Hang đã chuẩn bị được gần 1,6 triệu cây giống gồm mỡ, lát, xoan, sơn... tương đương diện tích trồng 1.355 ha. Tại huyện Hàm Yên, các công ty lâm nghiệp trên địa bàn cũng đã chủ động sản xuất được gần 4 triệu cây giống các loại...
Từ nay đến cuối năm, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh tiếp tục tập trung đôn đốc, hướng dẫn các địa phương giải quyết dứt điểm các vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ, phấn đấu hoàn thành công tác giao rừng trồng, gắn với giao đất lâm nghiệp thuộc Chương trình 327 và Dự án 661 đã quy hoạch thành rừng sản xuất trên địa bàn các huyện.
Cùng với đó, chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện kế hoạch khai thác gỗ rừng trồng tại các hộ gia đình năm 2014 để cung ứng cho các cơ sở chế biến, đồng thời bổ sung quỹ đất phục vụ công tác trồng rừng năm 2015.  (Báo Tuyên Quang 30/8)  đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Liu Li – một cô gái 24 tuổi ở Trung Quốc hiện đang làm một công việc rất đặc biệt, đó là chăm sóc động vật hoang dã ở một công viên thuộc Thanh Hải, Tây Tạng.
Sau khi tốt nghiệp cao đẳng, cô gái 9x này xin vào làm ở công viên động vật hoang dã và hiện đang chăm sóc cho 10 con sư tử và 1 con hổ. Công việc hàng ngày của Liu Li là cho sư tử ăn, kiểm tra sức khỏe cho chúng và chơi với những con sư tử con.
Công việc này đòi hỏi ở cô gái còn rất trẻ tình yêu động vật và sự dũng cảm. Trên cánh tay Liu Li đầy những vết sẹo do những con vật hung dữ này cào, cắn. (VietnamNet 30/8) đầu trang(
Các bức tranh do một con voi Ấn Độ thực hiện đang được rao bán tại một phòng trưng bày ở thủ đô Delhi nhằm gây quỹ bảo vệ loài động vật đang bị đe dọa này. Theo BBC ngày 29-8, các bức tranh này có giá từ 165-400 USD.
Họa sĩ Alpana Ahuja cho biết bà đã dùng chuối và các thực phẩm khác để dụ con voi cái Phoolkali “sáng tạo” ra các tác phẩm nghệ thuật. Việc “sáng tác” rất đơn giản: Phoolkali chấm chân mình vào nước sơn rồi ấn lên bức vẽ, để lại những dấu chân khổng lồ đầy màu sắc.
Chia sẻ với hãng tin AFP, Ahuja nói bà luôn cố gắng để cho Phoolkali ở trong tâm trạng tốt khi sáng tác. Số tiền thu được từ bán tranh sẽ được dùng để bảo tồn loài voi, theo Babita Gupta - giám đốc nghệ thuật của phòng tranh ArtSpice ở Delhi. Dự án này diễn ra đồng thời với lễ hội kéo dài 10 ngày chào mừng thần Ganesh của người Hindu ra đời, bắt đầu từ hôm 29-8.
"Trong nền văn hóa của chúng tôi, voi được tôn vinh cũng như thần Ganesha, nhưng loài động vật đại diện cho vị thần này đang bị ngược đãi", Geeta Seshamani thuộc tổ chức bảo vệ động vật hoang dã SOS nói. Đây là tổ chức phối hợp với ArtSpice tổ chức triển lãm tranh để gây quỹ cho voi.
Voi Phoolkali năm nay 50 tuổi, bị mù một mắt. Nó bị các đời chủ khác nhau ngược đãi và được giải cứu hồi năm 2012. Các chuyên gia của SOS cho biết phải mất 1,5 năm ở khu bảo tồn nó mới tin vào con người. (Tuổi Trẻ 29/8) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng