Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 05 tháng 09 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Hơn 80 hộ dân ở xóm Ba, xã Mông Hóa, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình phát hiện nguồn nuớc sinh hoạt có màu vàng một thời gian dài làm ảnh hưởng đến đời sống của người dân, vật nuôi, cây trồng.
Chuyện bắt đầu từ cuối năm 2012. Ông Quách Đình Thưởng ở xóm Ba có đơn gửi UBND xã Mông Hóa xin đào ao nuôi cá trong rừng thuộc khu vực suối Chu. Ngay lập tức, ông Bùi Đức Lợi - Phó Chủ tịch UBND xã làm trưởng đoàn vào thị sát vị trí và đã chấp thuận cho ông Lợi được đào ao, nuôi cá theo đơn trình bày.
Vị trí đất này, theo bà Nguyễn Thị Thìn - trưởng xóm Ba thì đó là đất khai hoang phục hóa của bố vợ cho ông Thưởng sử dụng.
Sau khi xã đồng ý, xóm Ba họp lại và yêu cầu ông Thưởng khi thực hiện không được làm ảnh hưởng, phương hại đến dòng chảy của suối Chu. Vì đó là nguồn nước mạch sinh hoạt của 80 hộ dân trong xóm và cũng là nguồn nuớc tưới không thể thiếu của mấy chục ha sản xuất nông nghiệp của nhân dân.
Cùng tham gia với ông Thưởng còn có ông Phan Thế Hiển (SN 1961) trú tại thôn Víp, xã Minh Quang, huyện Ba Vì, TP Hà Nội. Quá trình đào ao, ông Thưởng đã không làm đúng như cam kết. Nhiều phương tiện máy móc công suất lớn đã cày xới, xâm lấn vào đất cộng đồng, đất rừng phòng hộ.
Ông Thưởng cho các loại xe, máy ủi, máy đào, máy đãi vàng tiến hành san ủi đường đi, thực hiện việc đãi vàng ngay trên dòng suối, tiến rất sâu vào rừng phòng hộ đầu nguồn. Nhìn cây cối đổ ngã, bật gốc, đất đá được cày xới lật lên tung tóe, dòng suối ngọt lành trong suốt ngày nào đã trở nên đục ngầu một màu vàng úa. Dòng suối kéo theo bao đất đá, lá cây, chất thải về xuôi tạo nên một lớp màng nổi trên mặt nước chảy về phía người dân và ruộng lúa của đồng bào.
Hai cái ao được đào lên. Một bờ ao nằm ngay cạnh con suối. Một bờ ao được tựa vào phía ngọn núi của rừng phòng hộ đầu nguồn. Ở đó một màu xanh của cây rừng đã được san ủi bởi máy móc hiện đại. Hai cái lán được dựng lên trong khu rừng. Một lán có cái sập bằng tre nứa đủ cho khoảng 7-10 người nằm ngủ. Một lán được dựng lên làm nơi nấu ăn và đựng đồ dùng sinh hoạt của những người đi đào vàng, làm ao.
PV phải rất vất vả để có thể tiếp cận được hiện trường bãi đào vàng này. Sau khi vượt hơn 4 km đường dốc núi khúc khuỷu, gồ ghề, PV đành giấu xe máy vào trong một lùm cây để đi bộ thêm 2km mới có thể vào tận bãi, chứng kiến tận mắt từng vị trí khai thác vàng trái phép của nhóm người này.
Tiếng máy đào, máy ủi, máy sàng lọc đãi vàng cứ gầm xé làm rung chuyển cả khu rừng xanh. Một lúc sau, nhóm người này phát hiện có người lạ đi vào khu vực khai thác vàng. Chúng chạy đến và xin được “đàm phán”. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn tính mạng cũng như những thước phim quay lại được, nhóm PV đã tìm cách thoát khỏi vòng vây.
Quá trình thị sát, còn thấy một con đuờng mới vừa được mở xuyên qua cánh rừng phòng hộ với chiều rộng khoảng 3m. Theo ông Đinh Văn Bình - công an viên xóm Ba thuộc xã Mông Hóa thì rất có thể con đường đó nối với địa bàn xã Phúc Tiến cách đó mấy cây số.
Cũng theo ông Bình, cả chính quyền xã và xóm đều không hay biết việc ai đó đã mở con đường này. “Chúng tôi cũng rất ngỡ ngàng vì không hiểu sao rừng phòng hộ luôn bị xâm hại như thế. Rừng bị tàn phá thì đã đành nhưng nguy hại hơn cả là con suối bị giày xéo như thế thì ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của hàng trăm con nguời trong thôn và hàng chục ha đất sản xuất của người dân”.
Liên quan đến sự việc này, PV đã tìm gặp ông Bùi Đúc Lợi - Phó Chủ tịch UBND xã Mông Hóa (Kỳ Sơn - Hòa Bình). Ông Lợi lảng tránh, bảo không nắm rõ. Ông cho hay, năm 2012 có nhận được đơn của ông Thưởng xin phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất nhưng sau đó xã không đồng ý.
Rõ là quan liêu và muốn chối bỏ trách nhiệm. Bởi ngày 13/12/2012, chính ông Lợi là người trực tiếp đi kiểm tra và chấp thuận cho ông Thưởng được phép đào ao nuôi cá trong khu đất khai hoang của bố vợ. Để rồi không chỉ có đào ao, ông Thưởng còn làm những việc khác như xâm hại con suối Chu, mở đường vào sâu trong rừng phòng hộ để khai thác vàng trái phép.
Những việc làm vi phạm pháp luật như thế của ông Thưởng mà lãnh đạo xã Mông Hóa phớt lờ nói là không nắm được tình hình?
Còn nhớ, cách đây không lâu, hơn 30ha rừng phòng hộ thuộc địa bàn xã Mông Hóa cũng được các quan xã phù phép chia cho nhau để đốn hạ rừng tự nhiên thay thế bằng một loại cây trồng khác.
Trong số đó có cả Phó Chủ tịch HĐND xã và Bí thư xóm Bắn, mỗi người hàng chục ha. Sự việc sau đó cũng được họp và kiểm điểm... Chỉ có điều họ vẫn còn tại vị, còn rừng phòng hộ thì bị biến dạng liên tục. (Nông Nghiệp Việt Nam 5/9, tr15) đầu trang(
Báo Tiền Phong ngày 26/11/2013 có bài “Trồng cao su nhưng lại xâm hại rừng” phản ánh những sai phạm của Công ty TNHH MTV Bình Dương -Thuộc Tổng công ty 15 (Binh đoàn 15) trong việc thuê đất rừng nghèo trồng cao su ở Gia Lai.
Đầu năm 2014, Thanh tra tỉnh Gia Lai đã có báo cáo “kết quả kiểm tra công tác quản lý bảo vệ rừng và thực hiện chuyển rừng nghèo sang trồng cao su của Binh đoàn 15”.
Mới đây, Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai đã chuyển hồ sơ vụ việc sang cơ quan điều tra của Bộ Quốc phòng xử lý theo thẩm quyền. Những vụ việc liên quan các cấp địa phương của tỉnh, UBND tỉnh cho biết chỉ đạo các ngành chức năng xử lý theo quy định.
Theo kết luận của Thanh tra tỉnh Gia Lai: “Việc chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su của Cty TNHH MTV Bình Dương và Trung đoàn 710 đã thực hiện ngoài diện tích của tỉnh giao là 958,18 ha có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Đề nghị UBND tỉnh Gia Lai giao cho cơ quan điều tra xử lý theo quy định của pháp luật”. (Tiền Phong 5/9) đầu trang(
Không hiếm những câu chuyện lâm tặc chính là cư dân bản địa hoặc người dân đốt rừng làm rẫy. Nhưng điều ngược lại đã được thực hiện ở khu bảo tồn Ngọc Sơn - Ngổ Luông như một phép màu, khi người dân thành lập Ban Quản lý lâm nghiệp để bảo vệ chính những khu rừng bao bọc quanh mình.
Nhờ thế, những cánh rừng nơi đây ngút ngàn xanh mướt, dãy Pù Luông càng thêm kỳ vĩ, còn cuộc sống người dân ổn định hơn khi biết bảo vệ, khai thác rừng hợp lý. Xã Ngọc Sơn vào thu trong cái mướt mát của những vạt ngô, vạt lúa trên những sườn đồi. Cảnh tượng thanh bình hôm nay trái ngược hẳn với sự sôi động của mấy năm về trước. Nhưng cái sôi động của những hoạt động kinh tế ấy không đi kèm với niềm vui.
Anh Bùi Văn Tường - Phó Ban tự quản Lâm nghiệp xóm Khú vẫn chưa quên những ngày tháng "sôi động” ấy: "Từ bản vào khu rừng già không xa, chỉ độ chục con dao quăng mà thôi (cách tính quãng đường của người dân miền núi). Vào rừng tiện lắm. Xưa người dân vẫn vào rừng lấy gỗ làm cửa làm nhà, xây cất chuồng trại. Nhưng cách đây khoảng chục năm, do phát hiện ra giá trị kinh tế cao, người dân ồ ạt vào rừng khai thác. Những loại gỗ quý hiếm, đặc trưng của vùng núi đá vôi như nghiến, lim, trai lý, đinh vàng, mun... vài người ôm không hết lần lượt bị đốn hạ. Các đoàn xe rầm rập vận chuyển gỗ đi tiêu thụ khắp  nơi. Người dân ý thức còn kém lắm. Cứ thấy lợi là làm mà không tính toán gì”.
Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang. Cái lợi vừa đến hôm trước, cái hại ùn ùn kéo đến hôm sau. Chính từ việc khai thác rừng quá mức mà người dân các xã Ngọc Sơn, Ngọc Lâu, Tự Do... luôn là những người phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất sau những trận lũ quét. Những con đường gập ghềnh sỏi đá hằn rõ đường đi của con nước, những máng nước bị cuốn trôi, những ngôi nhà sàn siêu vẹo vì lũ... đã khắc sâu vào tâm trí của không ít người dân trong xóm.
Ngoài việc người dân chưa có ý thức bảo vệ rừng, thì Xóm Khú được biết đến là con đường độc đạo, có thể xuyên qua vùng lõi của khu bảo tồn - nơi chứa đựng khối lượng gỗ lớn nên lâm tặc thường xuyên lai vãng tới. Già làng Quách Xuân Hon cũng đã nhiều lần bị các đối tượng trực tiếp đến hành hung, đe dọa chia sẻ: Chúng tôi là những người trực tiếp gánh chịu hậu quả từ việc khai thác rừng quá mức, nhưng giờ đây bà con đã có ý thức bảo vệ tốt hơn.
Năm 2012, Ban tự quản lâm nghiệp đã ra đời, toàn bộ 81 hộ dân người Mường trong bản đã cam kết không khai thác, vận chuyển, tiếp tay cho các đối tượng khai thác gỗ trái phép. Những điều cấm được đưa ra trong bản cam kết đã trở thành "kim chỉ nam” giúp người dân bảo vệ, giữ gìn rừng. Việc thành lập tổ tự quản xóm là một sự lạ, bởi Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông là khu rừng đặc dụng của Nhà nước do lực lượng kiểm lâm trực tiếp quản lý, bảo vệ.
Lâu nay, đây vốn là điểm nóng về khai thác và vận chuyển gỗ trái phép của tỉnh Hòa Bình. Vậy mà nay người dân địa phương lại được giao tự quản rừng cấm. Để bảo vệ rừng trước việc khai thác ồ ạt của lâm tặc, Ban quản lý lâm nghiệp xóm đã lập các chốt, tiến hành theo dõi những đối tượng lạ mặt lại vãng tới. 81 hộ dân trong xóm gần như đã trở thành 81 điểm chốt canh giữ, bảo vệ rừng. Thấy sự lạ, bà con sẽ báo cho Ban quản lý, chính quyền địa phương và kiểm lâm phụ trách địa bàn.
Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn- Ngổ Luông được giới khoa học đánh giá là khu vực tồn tại những cảnh quan tự nhiên nguyên sơ nhất tại Việt Nam. Có lẽ chưa ở đâu tại Việt Nam việc quản lý, sử dụng rừng đặc dụng lại được cởi mở như vậy đối với người dân địa phương, anh Nguyễn Bình Định, Kiểm lâm viên Hạt kiểm lâm Ngọc Sơn – Ngổ Luông cho biết: "Phải mất hơn một năm, sau sự nỗ lực vận động, giải thích với các bên liên quan và người dân tại địa phương Dự án "Sự tham gia của các tổ chức địa phương trong quản lý bảo vệ rừng đặc dụng” tại Ngọc Sơn – Ngổ Luông mới được thúc đẩy. Việc thành lập tổ chức của cộng đồng thôn, xóm tham gia quản lý bảo vệ rừng đã được thực hiện một cách đúng nghĩa và đầy đủ”.
Nói về phương án hoạt động được ban tự quản xóm, ông Bùi Bình Yên, Giám đốc Hạt trưởng hạt kiểm lâm Ngọc Sơn – Ngổ Luông cho biết: Ban tự quản đã cùng với khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông, chính quyền xã tiến hành xác định vị trí, phạm vi rừng được giao cho xóm tham gia quản lý. Việc xác định này sẽ được tiến hành dựa vào bản đồ và giao trên hiện trường thực tế. Việc giao quản lý bảo vệ rừng cũng sẽ được hình thức hóa ở dạng văn bản, trong đó xác định vị trí, diện tích, số lô khoảnh, hiện trạng rừng khi giao cho cộng đồng quản lý.
"Dù còn gặp nhiều khó khăn, vì đây là dự án thí điểm ngay chính tại địa phương có rừng đặc dụng, tuy nhiên khi đội tự quản ra đời người dân đã có thái độ tích cực hơn trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên rừng. Đây là một tín hiệu đáng mừng của miền sơn cước này”, ông Yên khẳng định. (Đại Đoàn Kết 5/9) đầu trang(
Gần đây, xe công nông phát triển một cách rầm rộ tại các xã miền núi như Hương Lâm, Hương Liên, huyện Hương Khê, chỉ riêng xã Hương Lâm đã có gần trăm chiếc.
Công nông được sử dụng trong quá trình vận chuyển lâm sản, qua đó lợi dụng để vận chuyển gỗ lậu trái phép từ rừng về xuôi. Tuy nhiên, cơ quan chức năng vẫn chưa có hình thức xử lí triệt để.
Cuối tháng 7, lãnh đạo huyện Hương Khê đã có cuộc kiểm tra tổng thể về vấn đề vận chuyển trái phép lâm sản, sử dụng trái phép phương tiện xe cơ giới, xe công nông trên địa bàn xã Hương Lâm vào hoạt động lâm sản. Sau đợt kiểm tra toàn diện vào cuối tháng 7, cho thấy tình hình khai thác, tập kết, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn vẫn xảy ra, thậm chí là rầm rộ hơn.
Trước đó, nhiều xưởng cưa, cắt xẻ, đã bị tháo dỡ, cắt điện nay lại hoạt động trở lại, tình trạng xe ô tô loại 12-16 chỗ tháo ghế ngồi xuất hiện trên địa bàn để vận chuyển gỗ trái phép nhan nhả trên các ngõ, đường làng xã Hương Lâm. Tại xã này theo tìm hiểu của PV có tới 65 chiếc xe công nông hầu hết có gắn máy tời hoạt động lâu nay trên địa bàn nhưng vẫn không ai bị cấm, cơ quan chức năng cũng không xử lý người vi phạm?
Hương Lâm là xã miền núi, "thánh địa" gỗ lậu. Gỗ đầu nguồn muốn tuồn về xuôi phải qua "ngõ" này. Việc "lâm tặc trong dân" sắm các phương tiện vận chuyển gỗ từ trên rừng về là điều thấy như ban ngày. Dân nuôi những con trâu kéo giá trị hàng chục triệu đồng, chi ra hàng chục triệu đồng nữa sắm xe công nông để thuận tiện cho việc luân chuyển lâm sản, qua đó "tiện tay" vận chuyển gỗ lậu từ rừng ra.
Tại đây, trong vườn nhà của mỗi hộ dân đều dựng "ga ra" để xe công nông. Phương tiện này nghiễm nhiên trở thành thông dụng, thay cho sức người, sức trâu trong khai thác lâm sản gia đình cũng như trái phép. Dân cho hay, với địa bàn miền núi, hiểm trở không có loại phương tiện nào công dụng hơn công nông để đi rừng. Nó có thể leo núi, vượt đèo, băng rừng, chạy bon bon trên các con đường làng mà không cần một chút sức người, sức con vật. Chỉ cần đổ dầu vào máy là nổ!
Anh Nguyễn Văn L (47 tuổi), xã Hương Lâm chia sẻ: Nghề chính của chúng tôi là đi rừng. Căn nhà tôi đang ở phải ít nhất 4 năm “gom gỗ” trên rừng về mới “xây” đủ. Gỗ khai thác trong rừng, muốn vận chuyển về xuôi, ít nhất phải qua nhiều phương tiện: sử dụng sức người, trâu kéo, xe kéo, công nông.
Ưu thế của công nông “đi rừng” rất ổn, rút ngắn thời gian, vận chuyển được nhiều, đỡ sức người. Hầu hết, người dân miền núi ưa chuộng loại phương tiện này. Biết là Nhà nước cấm, nhưng chúng tôi chỉ vận hành công nông trong khuôn viên đường làng, ngõ xóm, phục vụ cho hộ gia đình.
Hiện, cơ quan chức năng đã có văn bản yêu cầu các hộ dân tại xã Hương Lâm chấm dứt sử dụng loại hình công nông trong mọi hình thức, đặc biệt trong vận chuyển lâm sản. Nếu phát hiện cá nhân tái phạm sẽ bị xử lý nghiêm túc. Nhưng xem ra lệnh cấm vẫn chỉ là lệnh cấm thôi! (InfoNet 5/9) đầu trang(
UBND tỉnh Hà Tĩnh vừa phê duyệt quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng đến năm 2020 với tổng số vốn gần 337 tỉ đồng. Mục đích của việc bảo tồn nhằm phát triển các loài động, thực vật quý hiếm, nghiên cứu khoa học, đào tạo phát triển nguồn nhân lực…
Vùng quy hoạch khu rừng đặc dụng nằm trong ranh giới của 5 huyện, 11 xã và thị trấn, 63 tiểu khu với tổng diện tích hơn 74.500 ha thuộc hệ thống Vườn quốc gia Vũ Quang và Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ.
Dự án sẽ hỗ trợ 104 thôn vùng đệm có ảnh hưởng trực tiếp rừng đặc dụng; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên 242 ha; xây dựng 190 ha vườn thực vật; xây dựng 1.400 bộ tiêu bản về động, thực vật và côn trùng phục vụ nghiên cứu, tham quan.
Quy hoạch cũng cho xây dựng 388 ha khu du lịch nghỉ dưỡng; 50 ha trên các ốc đảo và ven hồ vùng đệm VQG Vũ Quang dùng làm khu vui chơi giải trí đặc biệt; xây dựng hệ thống nhà nghỉ homstay để khách du lịch tham quan nghỉ dưỡng.
Ngoài ra, xây dựng bộ máy rừng đặc dụng với 2 Ban giám đốc, 2 Hạt kiểm lâm; đào tạo cán bộ quản lý du lịch và hướng dẫn viên; đào tạo chuyên môn về bảo vệ, bảo tồn đa dạng sinh học…
Dự án chiếm tổng số vốn gần 337 tỉ đồng trong đó vốn vay gần 105 tỉ đồng. Dự án được chia ra 2 giai đoạn, giai đoạn 1 từ 2014-2015 chiếm 113 tỉ đồng; giai đoạn 2 từ 2016-2020 hơn 224 tỉ đồng. (Một Thế Giới 30/8) đầu trang(
4/9, PV có mặt tại hiện trường, tận mắt chứng kiến nhiều diện tích rừng thông bị sâu róm hại nặng. Nhiều ổ dịch sâu róm có mật độ dày đặc, ăn trụi lá non và lá bánh tẻ, đặc biệt, một số diện tích thông tại xã Nam Sơn bị hại nặng, trông cây như đã bị chết.
Mật độ sâu phổ biến khoảng 300 - 400 con/cây, cục bộ 1.000 con/cây. Theo thống kê, diện tích rừng thông bị sâu hại hiện đã lên tới 27ha, tập trung chủ yếu ở 2 xã Nam Sơn và Phù Linh, và đang có nguy cơ tăng nhanh.
Theo bà Trần Thị Tuyết Năm - Phó Trưởng Phòng kỹ thuật, Chi cục Bảo vệ thực vật Hà Nội, do thời tiết nóng ẩm kéo dài, sâu róm hại thông đang ở tuổi 2 - 3 phát sinh nhanh và gây hại trên diện rộng. Khảo sát thực tế cho thấy, diện tích thông bị sâu hại chủ yếu ở tuổi 5 - 6 được trồng từ 25 - 30 năm về trước (1 cấp tuổi = 5 năm). Sâu róm cũng có khả năng thích nghi và thường gây hại mạnh nhất trên nhóm cây thông Nhựa, và ít gây hại hơn trên hai nhóm thông khác là thông Caribevà thông Mã Vĩ.
Điều đáng nói là sâu róm thông rất độc. Theo kinh nghiệm của một số người dân thường xuyên đi rừng thì nếu giẫm phải hoặc bị những sợi lông của loại sâu róm này dính vào người thì rất nguy hiểm. Độc tố có trong lông sâu róm thông có thể gây ngộ độc, ngứa ngáy, phát ban. Việc chữa trị thường tốn nhiều kinh phí và trong thời gian dài, thậm chí có thể gây chết người.
Trước tình hình dịch sâu róm diễn biến phức tạp, Sở NN&PTNT Hà Nội đã chỉ đạo các đơn vị, cơ quan chuyên môn kịp thời có các biện pháp phòng trừ. Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Giám đốc Trung tâm Phát triển lâm nghiệp Hà Nội cho biết, đây là dịch sâu róm hại thông lớn nhất trên địa bàn huyện Sóc Sơn kể từ năm 2003 trở lại đây.
Ngay trong buổi sáng 4/9, Trung tâm đã phối hợp với các cơ quan chuyên môn gồm: Chi cục Kiểm lâm Hà Nội, Hạt Kiểm lâm Sóc Sơn, Chi cục Bảo vệ thực vật Hà Nội và các trạm, các đội sản xuất trên địa bàn 2 xã Nam Sơn và Phù Linh để dập dịch.
“Lực lượng đã tiến hành phun diệt trừ sâu róm lần 1 cho 27,5ha bằng thuốc trừ sâu sinh học Kuraba WP. Trong tuần tới sẽ tiếp tục phun lần 2 tại diện tích đã phun lần 1 và 18,3ha vùng phụ cận ổ dịch. Lần phun này có tác dụng diệt trừ tận gốc những tàn dư sâu bệnh (kén, trứng, sâu còn sót do không cùng trà, lứa)” – bà Nguyễn Thị Thu Hằng cho biết thêm.
Để đảm bảo an toàn sức khỏe cho người dân địa phương cũng như du khách, trước khi tiến hành phun thuốc dập dịch sâu róm, Trung tâm đã dựng bảng khuyến cáo người dân không tới gần khu vực rừng thông có dịch. Đồng thời, phối hợp với UBND các xã tuyên truyền qua hệ thống loa truyền thanh để người dân biết và chủ động phòng ngừa. Những diện tích rừng đã phun thuốc có thời gian cách ly tối thiểu là 10 ngày.
Thực tế cho thấy, việc diệt trừ sâu róm bằng phun thuốc sinh học có nhiều ưu điểm hơn nhiều so với phun thuốc nước truyền thống. Nếu như trước đây, việc phun thuốc nước khiến người dân tốn rất nhiều công sức để vận chuyển nước lên các đổi thông do để phun cho 1ha cần tới 400 - 600 lít nước, thì nay loại thuốc bột sinh học chỉ cần phối trộn với phụ gia là có thể phun trừ sâu róm hại thông rất hiệu quả.
Phương pháp này cần sử dụng máy phun thuốc chuyên dụng  nhưng loại máy này chỉ sản xuất ở Nhật Bản. Và hiện nay, Trung tâm Phát triển lâm nghiệp cũng mới chỉ được trang bị 3 máy.
Do đó, để công tác phòng trừ sâu róm hại thông đạt hiệu quả, bà Hằng kiến nghị, TP quan tâm đầu tư, cấp kinh phí thường xuyên cho công tác điều tra, dự báo, phát hiện, điều trị sâu bệnh trên cây rừng nói chung và loài thông nói riêng. (Kinh Tế & Đô Thị 5/9) đầu trang(
Huyện Na Rì có diện tích rừng tự nhiên và đất lâm nghiệp trên 74.700ha, trong đó có hơn 14.00ha rừng núi đá, là địa phương có tiềm năng và lợi thế rõ rệt về phát triển rừng, những năm qua sản lượng khai thác gỗ trung bình đạt trên 3.100m3/năm.
Để phát huy những tiềm năng đó, Đảng bộ huyện luôn chú trọng chỉ đạo thực hiện công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Để thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn, Đảng bộ huyện đã có sự chỉ đạo quyết liệt trong công tác quản lý khai thác, vận chuyển lâm sản trên địa bàn.
Đặc biệt là với các xã nằm trong Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ và các xã có nhiều lâm sản như Kim Hỷ, Ân Tình…  Từ khi có Chỉ thị số 08-CT/TU ngày 02/7/2012 của Ban Thường vụ của Tỉnh ủy về ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản, lâm sản trái phép gây hủy hoại môi trường trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn thì công tác này càng được tăng cường.
Theo đó, trong thời gian qua các ngành chức năng và chính quyền địa phương đã tổ chức 435 lượt truy quét, lập biên bản xử lý 390 vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng; thực hiện xử lý hình sự 04 vụ về hành vi vi phạm các quy định khai thác và bảo vệ rừng.
Bên cạnh đó, cấp uỷ, chính quyền và ngành chức năng của huyện đã đặc biệt chú trọng đến công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia quản lý, bảo vệ rừng. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền các văn bản pháp luật để người dân biết và hiểu được lợi ích của việc quản lý, bảo vệ rừng.
Do đó, cấp ủy các cấp và trực tiếp là Ban Dân vận đã thường xuyên có những buổi thăm nắm tình hình tại các xã có tài nguyên rừng, trực tiếp tuyên truyền đến nhân dân. Các ngành chức năng trên địa bàn huyện cũng đã tổ chức được 260 cuộc tuyên truyền nội dung của Luật Bảo vệ phát triển rừng; tăng cường công tác tuyên truyền về phòng, chống cháy rừng ở khu dân cư.
Công tác trồng rừng được cấp uỷ, chính quyền huyện quyết liệt chỉ đạo thực hiện. Mục tiêu Đại hội Đảng bộ huyện đề ra là mỗi năm sẽ trồng mới 1.700ha rừng, để thực hiện được điều đó các ngành, cấp chính quyền, địa phương đã tập trung triển khai thực hiện Dự án 147; tích cực tuyên truyền, vận động bà con tham gia trồng rừng, tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng trồng cho bà con nông dân, cung ứng đầy đủ giống trong các cụ trồng rừng.
Bởi vậy mà trong 2 năm 2011 và 2012 huyện đã thực hiện vượt chỉ tiêu kế hoạch mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện đã đề ra. Tuy vậy, bước sang năm 2013 vì nhiều lý do cả chủ quan và khách quan, diện tích trồng rừng có phần thuyên giảm, cả huyện chỉ trồng được 839ha. Khắc phục những hạn chế đó, Đảng bộ huyện đã và đang tăng cường chỉ đạo công tác trồng rừng, nỗ lực đạt kết quả cao nhất. Hiện tổng diện tích rừng trồng dự ước đến năm 2015 là hơn 7.500ha.
Xã Hảo Nghĩa có diện tích đất lâm nghiệp là hơn 1.600ha là địa phương có tiềm năng về lâm nghiệp, đặc biệt là tiềm năng về rừng trồng. Trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2010 - 2015, Đảng bộ xã đã đề ra chỉ tiêu là trồng mới 10ha rừng mỗi năm, đến nay qua 4 năm triển khai thực hiện xã đã trồng được hơn 300ha rừng, vượt chỉ tiêu đề ra.
Ông Nông Văn Tuyên- Bí thư Đảng ủy xã Hảo Nghĩa cho biết: Để thực hiện tốt công tác trồng rừng trước tiên phải tăng cường công tác chỉ đạo, tuyên truyền vận động bà con tích cực tham gia; đôn đốc bà con tiến hành tốt các khâu chuẩn bị, xử lý thực bì, trồng đúng kỹ thuật và chăm sóc giai đoạn đầu mới trồng thật tốt.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác quản lý, bảo vệ rừng và trồng rừng trên địa bàn huyện còn một số hạn chế như tình trạng khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép ở các xã có rừng giáp ranh và trong Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ vẫn diễn ra; một số cấp ủy và quần chúng nhân dân chưa thật sự quyết liệt trong việc ngăn chặn các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, còn nể nang ngại va chạm; công tác tuyên truyền, vận động của Ban phát triển rừng xã, thôn đến các chủ rừng chưa được thường xuyên…
Ông Nông Văn Lung- Bí thư Huyện ủy Na Rì cho biết: Để thực hiện tốt hơn nữa các chỉ tiêu phát triển nông - lâm nghiệp trên địa bàn mà Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII nhiệm kỳ 2010 - 2015 đã đề ra, từ nay đến cuối nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện tiếp tục đẩy mạnh công tác lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, ngành chuyên môn đẩy nhanh tiến độ thực hiện, tăng cường công tác kiểm tra, truy quét hoạt động khai thác, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm… (Báo Bắc Kạn 3/9) đầu trang(
Trong 8 tháng, Công an huyện Bạch Thông đã phối hợp với các lực lượng chức năng phá được 9 vụ án với 17 bị can vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Theo đánh giá của Công an huyện Bạch Thông, bước vào năm 2014, các loại tội phạm liên quan đến quản lý bảo vệ rừng vẫn chiếm số vụ án lớn với nhiều đối tượng tham gia.
Các xã  xảy ra nhiều vụ án về bảo vệ và phát triển rừng thường là những địa bàn vùng sâu vùng xa có trữ lượng lớn gỗ quý hiếm như: Sĩ Bình, Vũ Muộn, Cao Sơn. Do các xã trên thường có địa bàn rộng, địa hình phức tạp, giáp ranh với nhiều địa phương khác nên gây không ít khó khăn cho lực lượng chức năng trong việc ngăn chặn các hoạt động khai thác lâm sản trái phép.
Thêm vào đó, các đối tượng vi phạm Luật Quản lý và Bảo vệ rừng thường lợi dụng hoạt động vào những ngày nghỉ lễ, những lúc thời tiết bất lợi nên cũng gây không ít khó khăn cho lực lượng chức năng. (Đài PTTH Bắc Kạn 31/8) đầu trang(
Thời gian qua, cứ khoảng chập choạng tối, trên Quốc lộ 14, đoạn gần cầu 110, thuộc địa phận xã Ea H’leo, huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk, thường xuyên có những nhóm người ngang nhiên chở gỗ mới khai thác từ trong rừng ra.
Chiều tối 3/9, khi đi qua đoạn đường này, phóng viên Đài TNVN tiếp tục phát hiện 2 nhóm, mỗi nhóm 3 người, dùng xe mô-tô độ chế chở những hộp gỗ có chiều rộng 20cm, dài chừng 2m, chạy theo hướng từ cầu 110 về trung tâm xã Ea H’leo.
Khi phát hiện có người lạ bám theo chụp ảnh, một người hú lên, thông báo cho cả nhóm dừng lại quan sát, lấy điện thoại di động ra gọi. Sau đó, cả nhóm tiếp tục chở gỗ về nơi tập kết.
Những người này dùng xe mô-tô độ chế chở gỗ rất cồng kềnh, chạy với tốc độ cao vào thời điểm chập choạng tối, không có đèn, rất nguy hiểm, nhưng vẫn không thấy lực lượng chức năng xử lý. (VOV 4/9) đầu trang(
Thực hiện sự chỉ đạo của UBND tỉnh về việc kiểm tra, báo cáo nội dung Báo Hà Tĩnh đăng bài “Ai tiếp tay cho lâm tặc phá rừng phòng hộ sông Tiêm?”, 3/9, Sở NN&PTNT tổ chức đoàn kiểm tra thực địa hiện trường rừng tại tiểu khu 247, thuộc lâm phần do Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Sông Tiêm quản lý. Kết quả cho thấy, tại tiểu khu này có tình trạng rừng bị khai thác trái phép.
Cụ thể: Theo đường tuần tra biên giới dọc tuyến Rào Trình đến vị trí có tọa độ 507036, 2003354 lên dốc Hạ Độ, thuộc khoảnh 1 tiểu khu 247, xã Phú Gia thuộc rừng phòng hộ, chiều dài tuyến khoảng 8 km, tại các tọa độ 506492, 2.003.712, 506.408, 2003.783 phát hiện 4 cây gỗ tròn nhóm 5 - nhóm 8, khối lượng 1,33 m3 đã bị khai thác trái phép rải rác.
Qua dấu vết tại hiện trường (mùn cưa, thân, cành lá còn lại) cho thấy: Thời gian cây gỗ bị khai thác trái phép khoảng 15-20 ngày so với thời điểm kiểm tra. Dụng cụ khai thác gỗ bằng cưa xăng.
Tại vị trí có tọa độ 506.298, 2003.887 đã phát hiện có 18 bê gỗ, khối lượng khoảng 2 m3 có dấu vết cắt ngang bằng cưa xăng và đã bị đốt cháy một phần, không thể sử dụng được.
Qua dấu vết tại hiện trường, theo nhiều thành viên trong đoàn nhận định: 14 khúc gỗ táu đã được khai thác trước đó; 1 khúc gỗ dổi và 3 khúc gỗ de người dân tận dụng từ gỗ đã được Lâm trường Trại Trụ (nay là BQL rừng phòng hộ Sông Tiêm) khai thác những năm trước đây theo chỉ tiêu được cấp có thẩm quyền cấp phép.
Toàn bộ số gỗ trên đã được BQL rừng phòng hộ Sông Tiêm phối hợp với cơ quan chức năng phát hiện và lập biên bản. Trên cơ sở những hiện tượng xẩy ra, như: cắt phá gỗ, chặt cây rừng không thu lượm… cần được bảo vệ nguyên hiện trường và làm rõ hành vi của các đối tượng. (Báo Hà Tĩnh 4/9) đầu trang(
4/9, tại Hà Nội, Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam phối hợp với Ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng tổ chức hội thảo khoa học quốc tế nhằm hoàn thiện dự thảo hồ sơ Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang với sự tham gia đông đảo của các nhà khoa học trong nước và đại diện một số tổ chức quốc tế.
Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Phạm S, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng và ông Nguyễn Mạnh Thắng, Phó Tổng thư ký Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam cho biết Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang có vùng lõi là Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà (Lâm Đồng) là một trung tâm đa dạng sinh học của cả nước, đứng đầu danh sách ưu tiên cao về bảo tồn đa dạng sinh học cấp quốc gia.
Nhiều loài động, thực vật có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và được liệt kê vào danh mục Sách Đỏ của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế. Đây cũng là địa danh nổi tiếng trong cả nước về cảnh quan, các giá trị đa dạng sinh học và không gian văn hóa bản địa phong phú.
Một trong những điểm đáng chú ý ở đây chính là mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên được gắn kết rất chặt chẽ, hài hòa - là điều kiện cơ bản cho việc bảo tồn các giá trị văn hóa, đa dạng sinh học và phát triển kinh tế chất lượng bền vững của địa phương.
Bởi vậy, việc bảo tồn đa dạng sinh học ở khu dự trữ sinh quyển đề cử Lang Biang, có vùng lõi là Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà, có vai trò quan trọng trong bảo vệ, phòng hộ đầu nguồn, cung cấp dịch vụ môi trường, phát triển du lịch bảo vệ an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Lâm Đồng, ông Phạm S, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng nhấn mạnh.
Trình bày dự thảo hồ sơ khu dự trữ sinh quyển Lang Biang, giáo sư-tiến sỹ Nguyễn Hoàng Trí, Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Ủy ban Quốc gia Chương trình Con người và Sinh quyển Việt Nam cho rằng, giá trị của khu dự trữ sinh quyển Lang Biang là sự kết nối văn hóa với vùng Tây Nguyên và sử dụng văn hóa để bảo tồn thiên nhiên, thể hiện triết lý con người với thiên nhiên. Nó cũng chính là sự kết nối đa dạng cảnh quan sinh học với không gian văn hóa bản địa trong bảo tồn và phát triển.
Tại hội thảo, các chuyên gia, nhà khoa học trong nước, đại diện một số tổ chức quốc tế thống nhất cho rằng, để hoàn thiện hồ sơ khu dự trữ sinh quyển Lang Biang, Hội đồng tư vấn cần phải bổ sung cập nhật các số liệu mới, đảm bảo độ chính xác cao đồng thời làm rõ hơn nữa tầm quan trọng trong việc xây dựng khu dự trữ sinh quyển, nhấn mạnh thông tin thể hiện ý thức của người dân trong việc bảo vệ rừng với những mô hình dẫn chứng cụ thể.
Trong hồ sơ lần này cần phải bổ sung tính đa dạng sinh học bởi đây là một nội dung quan trong trong hệ sinh thái bền vững, bảo tồn phát triển, cả về động vật và thực vật, bên cạnh đó cần nêu bật văn hóa đặc hữu chỉ có ở nơi đây.
Các chuyên gia đề nghị cần phân tích làm rõ hơn về vấn đề sinh thái ở địa phương gắn với hoạt động của con người, đặc biệt là kinh tế xanh và phải đưa ra những sản phẩm cụ thể để chứng minh thì mới có sức thuyết phục.
Các nhà khoa học cũng cho rằng, trong quá trình hoàn thiện hồ sơ đề cử khu dự trữ sinh quyển Lang Biang cần chú ý nhấn mạnh đến vấn đề đánh giá sự hài hòa, sự tiếp cận sẵn sàng của con người gắn với bảo tồn thiên nhiên.
Các ý kiến đóng góp trong hội thảo lần này sẽ được xem xét bổ sung vào dự thảo xây dựng hồ sơ khu dự trữ sinh quyển Lang Biang.
Dự kiến, từ ngày 5-10/9, hồ sơ sẽ hoàn thiện bản tiếng Anh lần 1; từ ngày 11-19/9, hoàn chỉnh bản thảo lần cuối, cả tiếng Việt, tiếng Anh, trong đó có cả chữ ký của chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng, từ ngày 19-22/9 cơ quan chức năng sẽ chuyển hồ sơ cho UNESCO tại Jakarta (Indonesia); từ ngày 22-25/9, hồ sơ sẽ được chuyển sang UNESCO Paris (Pháp). (VietnamPlus 4/9) đầu trang(
Mới đây, ông Lê Văn Bé, Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm cho biết, UBND tỉnh vừa ra quyết định tịch thu gần 12 tấn gốc, cành nhánh gỗ hương thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIA, do không xác định được chủ sở hữu, người quản lý, sử dụng hợp pháp hoặc không có người đến nhận.
Trước đó, ngày 17/7, lực lượng kiểm lâm phát hiện, tạm giữ số gỗ trên tại khu vực dân cư gần rừng thuộc xã Ea Lâm, huyện Sông Hinh nhưng không có chủ.
Tuần qua, lực lượng kiểm lâm cũng đã phát hiện 9 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, xử lý 8 vụ, phạt tiền gần 200 triệu đồng; đồng thời tịch thu 2,1m3 gỗ xẻ, 869kg cành nhánh gỗ hương, 2.190kg quả ươi…
Theo ông Bé, hiện tình trạng khai thác quả ươi trái phép tại các khu rừng thuộc xã Sông Hinh và địa phương khác đã chấm dứt. Chi cục Kiểm lâm đang tích cực kiểm tra, xử lý việc cất giữ, vận chuyển, mua bán trái phép loại quả này trên phạm vi toàn tỉnh. (Báo Phú Yên 30/8) đầu trang(
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa xác định việc giữ vững an ninh rừng không chỉ cần sự nỗ lực riêng của ngành mà còn có sự phối hợp của cả cộng đồng.
Vì vậy, từ đầu năm đến nay, trên cơ sở kế hoạch của chi cục, hạt kiểm lâm các huyện, thị xã, thành phố đã phối hợp với các ban Đảng, MTTQ, đoàn thanh niên... tham mưu cho thường trực huyện ủy ban hành văn bản chỉ đạo và UBND ban hành kế hoạch triển khai các biện pháp bảo vệ và phòng, chống cháy rừng trên địa bàn.
Ở cấp xã, các kiểm lâm viên địa bàn đã tham mưu cho 391 đảng ủy, UBND xã triển khai những nội dung trên đến các thôn (bản), thành lập các tổ, đội tuyên truyền ở thôn (bản), xây dựng quy chế hoạt động, trực tiếp xuống cộng đồng dân cư để tổ chức tuyên truyền công tác bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR).
Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp với Ban Dân vận Tỉnh ủy, triển khai cho ban dân vận các huyện, thị xã, thành phố phối hợp với hạt kiểm lâm tổ chức tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác bảo vệ, PCCCR.
Theo đó, hàng nghìn hộ dân đã được vận động tham gia các hoạt động bảo vệ, PCCCR, sử dụng có hiệu quả tài nguyên rừng, phát triển kinh tế lâm nghiệp, xây dựng mô hình trình diễn thâm canh rừng, tự nguyện liên gia, liên kết trong bảo vệ, PCCCR. Nhân dân được vận động không khai thác, phá rừng trái phép; không sử dụng súng săn, bẫy, nỏ, cung tên săn bắt động vật rừng, không sử dụng lửa bừa bãi trong sản xuất lâm nghiệp cũng như sinh hoạt...
Cùng với đó, Chi cục Kiểm lâm tỉnh cũng triển khai đồng bộ kế hoạch phối hợp với các cơ quan chức năng để tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân về công tác bảo vệ, PCCCR. Các hạt kiểm lâm huyện cũng chủ động phối hợp với phòng tư pháp, phòng giáo dục và đào tạo, đài truyền thanh huyện để tuyên truyền các nội dung về bảo vệ, PCCCR.
Nhiều trường tiểu học và THCS ở các huyện miền núi đã đưa nội dung tuyên truyền vào các buổi chào cờ ngày thứ 2 hàng tuần. Nhiều xã phát băng đĩa trên loa truyền thanh, thôn, bản. Các đơn vị thực hiện tốt, như: Quan Hóa, Thạch Thành, Lang Chánh, Cẩm Thủy, Như Xuân, Bá Thước.
Chi cục Kiểm lâm cũng phối hợp với Ủy ban MTTQ tỉnh, chỉ đạo MTTQ các huyện, triển khai mở rộng mô hình về công tác tuyên truyền bảo vệ, PCCCR ở cộng đồng dân cư thôn (bản), lấy vai trò trung tâm là MTTQ để vận động các tổ chức thành viên cùng tham gia.
Đoàn thanh niên được coi là lực lượng nòng cốt, xung kích; vai trò vận động hội viên của hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh, hội người cao tuổi và những người tiêu biểu, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, hội viên của các tổ chức đoàn thể, cộng đồng dân cư trong việc vận động nhân dân tham gia bảo vệ, PCCCR đã phát huy hiệu quả.
Nhờ đó, ở các huyện miền núi đã triển khai hiệu quả nội dung “3 không” (không sử dụng cưa xăng, súng săn, bẫy bắt vào việc khai thác gỗ rừng tự nhiên, săn bắt động vật rừng trái phép; không lợi dụng khai thác gỗ rừng tự nhiên trái phép để làm nhà ở; không sử dụng lửa bừa bãi trong sản xuất, sinh hoạt gây cháy rừng). Gắn việc xây dựng khu dân cư “3 không” với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”; và phong trào “Kiểm lâm chung sức xây dựng nông thôn mới”.
Đến nay, các địa phương cùng ngành kiểm lâm đã xây dựng điểm mô hình khu dân cư “3 không” ở 42 thôn, bản của 22 huyện có rừng tự nhiên, nhiều nơi có phong trào quản lý cưa xăng hiệu quả. Đề án 500 của ngành về “Tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị, đề nghị của  nhân dân về công tác kiểm lâm” được triển khai rộng rãi, góp phần giữ vững an ninh rừng.
Từ công tác tuyên truyền và phối hợp, toàn tỉnh đã thành lập 1.797 tổ tuyên truyền với 12.888 người tham gia; xây dựng 1.447 quy chế hoạt động; tổ chức 1.224 hội nghị tuyên truyền theo hình thức lồng ghép với 73.289 lượt người tham gia. (Báo Thanh Hóa 5/9) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, qua tuần tra kiểm soát, lực lượng chức năng huyện Khánh Sơn đã phát hiện 24 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tạm giữ 22,16m3 gỗ xẻ hộp các loại. Qua đó, đã tiến hành xử lý 23 vụ, tịch thu 18,8m3 gỗ xẻ hộp.
Từ nay đến cuối năm, Hạt Kiểm lâm huyện Khánh Sơn tiếp tục phối hợp với các lực lượng chức năng trên địa bàn tiến hành kiểm tra, truy quét, xử lý kịp thời các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Trong đó tập trung kiểm tra các khu vực rừng: Hanít - KoRóa (xã Sơn Lâm), Suối Sóc - Côlắc (xã Sơn Bình), Tà Gụ (xã Sơn Hiệp), Hầm Đá (xã Sơn Trung), Hòn Gầm (xã Ba Cụm Nam); kiểm tra khu vực rừng giáp ranh các huyện Cam Lâm, Diên Khánh, huyện Bắc Ái (tỉnh Ninh Thuận). (Báo Khánh Hòa 4/9) đầu trang(
Cuối tháng 8, tại TP Buôn Ma Thuột, PV được một anh bạn đãi thịt rừng. Trên bàn ăn, nào chồn, thỏ rừng, lợn rừng được chế biến đủ món hấp dẫn, nhưng chủ tiệc vẫn phàn nàn rằng cả ngày nay đi hỏi các mối mua tê tê mà không có.
Thấy vậy, một người khách tên Tú nhấc điện thoại, khoảng nửa giờ sau đã có người mang tới hai con tê tê để đãi khách. Tú khoe: “Hàng cấm đó, chỉ mối thật tin tưởng họ mới dám bán”, rồi gọi điện giới thiệu cho PV một người tên Thiện có số điện thoại 0944551....
Sau một hồi “xào” điện thoại làm tin, Thiện mới cho biết cần thịt gì cũng có, nhưng đôi khi phải đợi vài ba ngày, nên muốn chắc ăn thì nên đặt trước. Thiện giải thích, thịt rừng chủ yếu được săn bắt tại Campuchia, sau đó được đưa theo đường tiểu ngạch vào Việt Nam và được cất giấu tại một số trang trại, khi nào có nhà hàng thân quen gọi, hoặc người quen đặt hàng thì được điều động đến.
PV đặt vấn đề mua một vài loại thịt thú rừng, càng hiếm càng tốt, nhưng phải chuyển xuống Đà Nẵng làm quà, Thiện dặn: “Anh cứ về Đà Nẵng đến địa chỉ quen, thích gì em sẽ điều hàng xuống cho”.
Thấy có vẻ băn khoăn, Thiện bảo: “Xe khách giường nằm từ Buôn Ma Thuột chỉ mất một đêm, sáng sớm hôm sau có mặt tại Đà Nẵng. Anh mua nhiều thì khó, nhưng nếu mua từ 5kg thịt trở xuống em sẽ đóng thùng xốp, ướp đá gửi xuống cho”.
Thiện cho biết thêm, bất kỳ con gì cũng phải làm thịt, đóng thùng đá gửi nhỏ lẻ mới dễ, để nguyên con còn sống gửi đi khó qua mặt kiểm lâm. Không chỉ tại Đắk Lắk, thịt rừng từ Gia Lai về xuôi cũng quá dễ dàng. Nhân dịp nghỉ lễ ngày 2/9, được người bạn tại TP Huế mời nhậu, món chính là thịt nai.
Bạn khoe quen một chủ xe khách tên Luôn, có số điện thoại 0984.952… chuyên chạy tuyến Pleiku (Gia Lai) đến Cửa khẩu Lệ Thanh. Mỗi khi cần thịt gì, bạn lại nhờ Luôn mua giúp từ Cửa khẩu Lệ Thanh sau đó đóng thùng xốp gửi xe khách chạy tuyến Gia Lai - Huế, sau một đêm là tới liền.
Tâm sự với PV, một chủ xe khách chạy tuyến Đắk Lắk - Huế nói: “Thực ra, gần như không bao giờ chủ xe tháo các thùng hàng của hành khách ra để kiểm tra. Cho nên, lỡ có người gửi độ 5 kg thịt thú rừng mình cũng chẳng biết. Và họ gửi lẻ tẻ như vậy, các trạm kiểm lâm trên dọc tuyến họ cũng chẳng để ý”.
Không chỉ đóng hàng gửi theo xe ô tô, theo ghi nhận của PV, cứ buổi chiều tối, rất nhiều tuyến đường từ Tây Nguyên về miền xuôi có nhiều bàn bán thịt rừng ngay bên đường. Từ Tây Nguyên về Đà Nẵng điểm bán nhiều nhất là đoạn QL14 qua huyện Nam Giang, tại TT-Huế đoạn QL49 thịt rừng được bày bán ngay ngã ba cầu Tuần giáp với QL1, cách TP Huế chưa đầy 10 km, còn tại Quảng Trị được bày bán trên QL9 qua huyện Cam Lộ.
Trước thói quen, sở thích ăn thịt thú rừng của nhiều người, ông Đỗ Quang Tùng - Giám đốc cơ quan CITES Việt Nam (Công ước về buôn bán quốc tế về các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp) cảnh báo, cần cẩn thận với các loại thú nói chung, vì virus Ebola có thể lây qua động vật, từ động vật có thể sang người. Trong khi mầm bệnh có thể lây từ nước này qua nước kia rất nhanh.
Chẳng hạn, động vật có mầm bệnh từ châu Phi nhập về từ Lào, rồi từ Lào có thể sang Việt Nam, nên nguy cơ lây nhiễm rất cao. Chính vì vậy, người dân không nên ăn uống, mua bán những sản phẩm, loại động vật hoang dã như tinh tinh, vượn, linh dương, nhím, lợn rừng... Đồng thời, các cơ sở gây nuôi, vườn thú, trại nuôi cá nhân, người nuôi động vật cũng cần sẵn sàng biện pháp phòng dịch.
Trao đổi với PV, TS. Trần Đắc Phu, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế khẳng định, hiện chưa có bằng chứng về virus Ebola lưu hành trên động vật hoang dã ở Việt Nam, tuy nhiên nguy cơ xâm nhập không loại trừ. Chính vì vậy, công tác phòng chống nhập lậu động vật hoang dã được giao cho Bộ NN&PTNT chỉ đạo triển khai.
Trong khi đó, Cục Thú y, Bộ NN&PTNT cho biết, lâu nay Việt Nam không nhập từ các nước ở châu Phi đang có dịch Ebola. Hiện cơ quan này vẫn phối hợp chặt chẽ để kiểm soát chặt việc trên, đặc biệt là nhập lậu, nếu nhập lậu, bắt buộc phải tiêu hủy. (Giao Thông 5/9) đầu trang(
Mới đây, tại Tiểu khu 423 (thuộc địa bàn xã Lộc Bắc), Hạt Kiểm lâm huyện Bảo Lâm đã thả 4 cá thể động vật hoang dã trở về với thiên nhiên, gồm 2 con rùa núi viền (trọng lượng 4kg), 1 con suốt (trọng lượng 2kg) và 1 con cầy vòi hương (trọng lượng 2kg).
Toàn bộ số động vật hoang dã này được thu giữ khi lực lượng Hạt Kiểm lâm tuần tra, bắt quả tang Trần Văn Tiến (sinh năm 1979) tạm trú tại thôn 1, xã Hòa Trung (huyện Di Linh), đang vận chuyển trái phép động vật hoang dã từ thôn 8, xã Lộc Nam ra thành phố Bảo Lộc tiêu thụ.
Đây là số động vật nằm trong danh mục nhóm IIb, đang có nguy cơ bị tuyệt chủng. (Báo Lâm Đồng 2/9) đầu trang(
Hạt kiểm lâm huyện Phú Hòa vừa phối hợp với UBND 9 xã, thị trấn tổ chức đợt tuyên truyền tại các khu dân cư về việc không mua, bán, sử dụng, tặng hay nhận quà biếu là động vật nguy cấp quý hiếm.
Lực lượng Kiểm lâm đã cấp phát trên 1.000 tờ rơi có in hình 4 loài vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng: Rùa Trung bộ, chúa tể mãng xà hay còn gọi là rắn hổ mang chúa, tê tê Java và cầy hương.
Theo Nghị định số 32/2006 của Chính phủ, các loại động vật trên thuộc loại nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm I và IIB.
Tại các buổi tuyên truyền, Hạt Kiểm lâm huyện đã đề nghị, nếu nhân dân phát hiện các hoạt động khai thác, mua bán, vận chuyển, tiêu thụ, sử dụng động vật hoang dã trái phép, hãy báo ngay cho chính quyền địa phương, cơ quan kiểm lâm sở tại hoặc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Yên. (Báo Phú Yên 31/8) đầu trang(
Thời gian gần đây, ĐBSCL bước vào mùa nước lũ thì rắn lục đuôi đỏ xuất hiện rất nhiều, liên tục cắn người phải nhập viện. Đặc biệt, loài rắn này ẩn nấp trong bụi rậm và trú ngụ trong nhà dân.
Ông Tô Thành Tâm, ở khu vực 2, phường Trà Nóc, quận Bình Thủy, TP Cần Thơ, một nạn nhân vừa bị rắn lục đuôi đỏ cắn, cho biết: Cách đây nửa tháng tôi đi ra phía sau nhà làm cỏ vườn thì bất ngờ bị một con rắn lục cắn vào tay. Rất may được gia đình đưa đi kịp thời đến bệnh viện cứu chữa, sức khỏe hiện giờ đã hồi phục tốt.
Theo thống kê của Bệnh viện Quân y 121 (TP Cần Thơ), trung bình mỗi tuần BV tiếp nhận 5- 6 trường hợp bị rắn lục đuôi đỏ cắn. Người bị rắn cắn sẽ bị giảm tiểu cầu, rối loạn đông máu, đau nhức, phù nề nặng. Nhiều trường hợp nôn ói, xuất huyết ở mũi, miệng, lỗ chân lông.
Rắn lục đuôi đỏ tuy không phải là loại rắn cực độc nhưng nếu không cứu chữa kịp thời sẽ nguy hiểm đến tính mạng. (Nông Nghiệp Việt Nam 5/9, tr12) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Đất ở núi rừng Khánh Sơn, Khánh Vĩnh, Ninh Hòa... rộng mênh mông, vậy mà người dân lại không có đất để sản xuất. Thời buổi “tấc đất tấc vàng” nên các đơn vị, doanh nghiệp, công ty, kể cả các ban quản lý rừng, thi nhau “vét” hàng ngàn hécta rừng, thậm chí tìm cách “bao chiếm” lấy luôn đất rừng của dân.
Đến nỗi, hễ bà con bổ nhát cuốc vào bất cứ ở đâu trên đại ngàn Khánh Vĩnh,... thì ngay lập tức ở đó có “người của công ty” lên tiếng đất đã... có chủ! Dù UBND tỉnh đã thực hiện cuộc “đại phẫu” bóc tách đất rừng để giao cho dân, nhưng việc chia đất vẫn đang “giẫm chân tại chỗ”!
Bà con đang trồng sắn, tỉa ngô... trên rẫy của mình thì dự án trồng rừng bủa vây, lấn chiếm, và bỗng dưng dân không còn đất để sản xuất. Người dân 3 xã Khánh Đông, Khánh Hiệp, Khánh Bình (huyện Khánh Vĩnh) góp đất trồng rừng Chương trình 327 nhưng không hưởng lợi được gì, lại còn mất đất. Dân bí bách vì thiếu đất sản xuất, đành phá rừng, phá cây trồng của công ty, nảy sinh tranh chấp, khiếu nại kéo dài,...
Đêm 14.6, sau nhiều lần gửi đơn kiến nghị chính quyền địa phương can thiệp giao lại đất sản xuất cho dân bất thành, nhiều người ở thôn Cà Thiêu, xã Khánh Hiệp (huyện Khánh Vĩnh), đã bức xúc kéo đến khu rừng K25 chặt phá toàn bộ hơn 14.000 cây keo lai giâm hom chuẩn bị trồng của Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Trầm Hương (Công ty Trầm Hương). Lão nông Cao Văn Suông (ở thôn Cà Thiêu), gương mặt khắc khổ, mắt trũng thâm quầng, tay cầm lá đơn, nói: “Bà con ở đây sản xuất ở khu rừng K25 vào những năm 1980.
Đến năm 1997, Lâm trường Bắc Sông Giang đến bao chiếm trồng rừng keo lai. Dân phản đối thì cán bộ (tên Thuần) của lâm trường này “hứa” khi thu hoạch keo rồi trả lại đất cho bà con. Sau này lâm trường này lại bàn giao khu đất trên cho Công ty Trầm Hương. Đến nay, Công ty Trầm Hương khai thác rồi tiếp tục trồng lại keo ở K25 mà không giao đất cho dân. Bà con thiếu đất sản xuất nên đành phá cây và quyết tâm đòi lại bằng được nguồn đất này”.
Nhiều hộ khác ở thôn Cà Thiêu như Cao Thị Liếp, Cao Văn Lia, Cao Ty Lê,... trước đây cũng sản xuất từ 5 - 6ha/hộ tại khu rừng K25, giờ không còn đất nên khiếu nại kéo dài. Ông Cao Minh Tuấn - Bí thư xã Khánh Hiệp - khẳng định: Cái bụng của bà con không biết nói dối đâu, đất sản xuất ở K25 là do họ khai hoang, chứ không lấn chiếm của ai.
Trong khi tỉnh, huyện lại quy hoạch vùng đất này trồng rừng rồi giao cho lâm trường nên dân không biết. Bất cập nảy sinh là, đất rẫy của bà con nhưng quyền sử dụng đất (sổ đỏ) thuộc quản lý của lâm trường (nay là Công ty Trầm Hương)! Xã đã nhiều lần đấu tranh để lấy lại đất cho dân gieo trồng ổn định cuộc sống, nhưng bất thành.
Trước thực trạng tranh chấp quyết liệt đất khu vực K25 với diện tích 46,84ha, mới đây, UBND xã Khánh Hiệp đã ký các quyết định tạm đình chỉ đối với Công ty Trầm Hương để giải quyết tranh chấp đất, rừng ở K25. Tuy nhiên, Công ty Trầm Hương vẫn trồng rừng, lại còn yêu cầu UBND xã thu hồi các quyết định nói trên; đồng thời biện bạch cho rằng đất rừng đã được giao cho đơn vị nên một số hộ dân tự phát vào lấn chiếm, biến đất không tranh chấp thành đất tranh chấp là vi phạm pháp luật! Và vụ việc hiện vẫn chưa có hồi kết!
Khánh Vĩnh là 1 trong 2 huyện nghèo nhất của tỉnh Khánh Hòa. Năm 1996, đồng bào 3 xã Khánh Đông, Khánh Hiệp, Khánh Bình bấm bụng góp 658ha diện tích rẫy để trồng rừng theo Chương trình 327. Năm 2004, chương trình này kết thúc, nhưng rừng không được trả lại dân, mà giao cho Công ty Trầm Hương tiếp tục trồng rừng. Điều này dẫn đến việc dân lâm vào cảnh thiếu đất sản xuất trầm trọng trong suốt thời gian dài, đành phải đi làm thuê, làm mướn.
Theo ông Võ Văn Thế - Phó Chủ tịch UBND xã Khánh Hiệp - toàn xã hiện có hơn 120 hộ thiếu đất sản xuất, trong đó đa số là những hộ đã góp đất để tham gia dự án trồng rừng 327. Sau khi chính quyền địa phương quyết liệt “đòi” đất, Công ty Trầm Hương đã bóc tách chỉ giao lại được 67,92ha rừng vừa khai thác thuộc khoảnh 1 tiểu khu 124a. Hiện xã đang phân chia số đất ít ỏi này cho 59 hộ dân.
Trước đây, UBND huyện Khánh Vĩnh đã đề nghị Công ty Trầm Hương giao lại 658ha rừng cho dân, huyện sẽ hoàn trả 2 tỉ đồng tiền đầu tư trồng, chăm sóc, nhưng công ty này không chấp nhận. Theo ông Nguyễn Duy Thiệu - Chủ tịch UBND xã Khánh Đông - toàn huyện có trên 291ha rừng 327, trong đó có hơn 210ha rừng trồng sản xuất vẫn chưa được giao lại cho dân.
Ông Cao Văn Bân (ở xã Khánh Đông), bức xúc nói, năm 1996, bà con góp đất vào Chương trình 327 để trồng cây keo, điều, dầu với cam kết được hỗ trợ tiền chăm sóc là 5 triệu đồng/ha trong 3 năm. Diện tích trồng keo, điều sẽ giao cho người dân thu hoạch, còn diện tích trồng cây dầu thì Nhà nước thu hoạch và chia lại cho người dân 30%.
Tuy nhiên, từ đó đến nay, dân chỉ nhận được tiền hỗ trợ 2 năm, không được hưởng quyền lợi gì từ việc thu hoạch cây keo, và diện tích đất góp trồng rừng coi như mất trắng!
Về vấn đề này, ông Nguyễn Văn Hào - Phó giám đốc Công ty Trầm Hương - giải thích rằng, công ty nhận đất Chương trình 327 theo chủ trương của tỉnh và không rõ việc thỏa thuận trước kia giữa Chương trình 327 với người dân như thế nào. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán cây trên diện tích đất 327 đều phải nộp vào ngân sách! (Lao Động 5/9, tr3) đầu trang(
Chiều 4.9, gần 100 người dân xã Hòa Tâm đã tham gia buổi đối thoại với lãnh đạo huyện Đông Hòa để giải quyết khiếu nại việc thu hồi đất lâm nghiệp của 17 hộ dân ở thôn Đồng Bé phục vụ dự án nhà máy lọc, hóa dầu Vũng Rô.
Diện tích đất lâm nghiệp của 17 hộ dân ở thôn Đồng Bé được cấp sổ đỏ từ năm 1994, sử dụng trong 50 năm, thế nhưng không được nhận tiền bồi thường đất và cây trồng khi thu hồi làm dự án, nên khiếu kiện kéo dài lên huyện và tỉnh.
Ông Nguyễn Tài – Chủ tịch UBND huyện Đông Hòa, giải thích rằng, khi tiến hành trồng rừng theo dự án 661 và 327 trên diện tích đất của 17 hộ này, ban quản lý rừng phòng hộ huyện Đông Hòa không thu hồi sổ lâm bạ. Sau khi ban này giải thể thì diện tích đất này bàn giao cho UBND xã Hòa Tâm quản lý, chứ không phải của dân.
“Dù người dân được cấp đất, nhưng trên thực tế thì họ không sử dụng trong thời gian dài. Theo Luật Đất đai năm 2013, đất lâm nghiệp không sử dụng trong 24 tháng thì Nhà nước thu hồi vô điều kiện. Vì vậy người dân không có quyền yêu cầu bồi thường” – ông Lê Văn Hoàng, Chủ tịch UBND xã Hòa Tâm, nói.
Buổi đối thoại kết thúc, nhưng vụ việc vẫn chưa giải quyết dứt điểm, vì người dân la ó và không đồng tình với cách giải quyết của chính quyền địa phương. Được biết, Dự án nhà máy lọc, hóa dầu Vũng Rô có tổng vốn đầu tư hơn 3,2 tỉ USD, công suất 8 triệu tấn/năm trên diện tích 538ha, sẽ động thổ xây dựng cảng vào ngày 9.9 tới. (Lao Động 5/9) đầu trang(
Theo Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Bình Thuận, năm 2014 toàn tỉnh phấn đấu trồng mới 2.400 ha rừng, trong đó rừng SX 2.150 ha.
Từ đầu năm đến nay đã trồng được 1.427 ha rừng SX, đạt gần 60% kế hoạch. Các đơn vị trồng rừng đã chuẩn bị hiện trường, cây giống, vật tư triển khai trồng số diện tích rừng còn lại khi thời tiết thuận lợi.
Bên cạnh đó, trong 8 tháng đầu năm các đơn vị cũng đã triển khai chăm sóc 7.630 ha rừng trồng bằng các biện pháp kỹ thuật như rong cành, phát thực bì, bón phân, dãy cỏ và khoanh nuôi tái sinh thực hiện mới 4.200 ha (dự án JICA2)... (Nông Nghiệp Việt Nam 5/9, tr17) đầu trang(
Báo CCB Việt Nam ngày 12-6 đăng bài “CCB trồng rừng có nguy cơ trắng tay”, phản ánh 28 hộ dân của các xã Cư Krông, Ea Tam thuộc huyện Krông Năng được Ban quản lý Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng (viết tắt là BQL) giao khoán 546 ha đất lâm nghiệp để trồng rừng theo Quyết định số 661/QĐ-TTg, ngày 29-7-1998 của Thủ tướng Chính phủ.
Trong số 28 hộ nhận khoán, có 12 hộ được BQL lập hồ sơ, khế ước giao khoán vào ngày 16-6-2001 với thời gian là 50 năm. Còn lại 16 hộ, có hợp đồng trồng và chăm sóc rừng. Hầu hết các hộ nhận trồng rừng được hưởng quyền lợi theo Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg, ngày 12 11-2001 của Thủ tướng Chính phủ “Về quyền hưởng lợi của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp”.
Tuy nhiên, kể từ ngày nhận khoán, các hộ dân đã đầu tư tiền của, công sức trồng được 486 ha keo xen thông sắp vào kỳ khai thác sản phẩm, trong đó phải kể đến nhóm bốn hộ CCB: Phan Khắc Văn, Ngô Văn Vực, Hà Thế Việt và Đồng Phúc Chính, thì “mạnh tay” bỏ vốn đầu tư 61 ha, mỗi héc-ta khoảng 30 triệu đồng; 3,5 tỷ đồng xây dựng 4 hồ đập thủy lợi, 5km đường nội bộ với hy vọng làm giàu từ rừng... nhưng do từ tháng 10-2008 đến nay xảy ra tranh chấp với Công ty CP trồng rừng Trường Thành (có trụ sở tại TP Buôn Mê Thuột), cây rừng đã đến tuổi khai thác mà không khai thác được, gây thiệt hại lớn về kinh tế.
Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp là do ngày 3-10-2008, UBND tỉnh Đắc Lắk ban hành Quyết định số 2572/QĐ-UBND về việc thu hồi 568,43 ha đất của BQL để giao cho Công ty CP trồng rừng Trường Thành (gọi tắt là Công ty Trường Thành) thuê thực hiện dự án trồng rừng, đã trồng lấn lên toàn bộ diện tích rừng của các hộ dân trồng trước đó. Trong khi đó, trước khi ban hành quyết định trên, tỉnh Đắc Lắk đã tổ chức đoàn liên ngành để kiểm tra thực địa.
Tại Biên bản phúc tra, ngày 7-4-2008, ông Nguyễn Thế Anh Sơn, trên cương vị Giám đốc BQL đã đề nghị: “Đối với diện tích đã giao khoán cho các hộ dân trồng rừng theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, không thể giao cho Công ty Trường Thành để lập dự án đầu tư trồng rừng!”.
Như vậy, Quyết định số 2572/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đắc Lắk đã bỏ qua kết quả điều tra hiện trạng rừng của đoàn liên ngành cũng như ý kiến của BQL, nên vô hình chung đã ban hành văn bản thu hồi trái pháp luật (không có quyết định thu đất và không đền bù cho dân) toàn bộ 486 ha rừng trồng hợp pháp của 28 hộ dân để giao cho Công ty Trường Thành.
Sau khi phát hiện rừng trồng bị UBND tỉnh giao cho Công ty Trường Thành, ngày 24-5-2012, các ông Mai Trung Đông và Võ Văn Nam đã khiếu nại đến BQL, yêu cầu giải quyết việc UBND tình Đắc Lắk cho Công ty Trường Thành thuê đất chồng lấn lên rừng của dân. Ngày 10-12-2012, BQL ban hành Quyết định số 31 /QĐ-BQL, giải quyết việc khiếu nại của ông Võ Văn Nam và Quyết định số 32/QĐ-BQL, giải quyết khiếu nại của ông Mai Trung Đông.
Không đồng tình với quyết định giải quyết khiếu nại của BQL, ông Nam và ông Đông có đơn khiếu nại lên sở Nông nghiệp phát triển nông thôn (NNPTNT) tỉnh Đắc Lắk. Tuy nhiên điều trớ trêu, sở NNPT-NT tỉnh Đắc Lắk sau đó ban hành Quyết định số 1308/QĐ-SNN và Quyết định số 1335/QĐ-SNN lại bắc đơn khiếu nại của hai ông.
Không thỏa mãn với quyết định giải quyết của Sở NNPTNT Đắc Lắk, ông Võ Văn Nam và Mai Trung Đông đã khởi kiện các quyết định hành chính của Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Đắc Lắk ra TAND tỉnh Đắc Lắk. Ngày 22-7-2014, TAND tỉnh Đắc Lắk đã mở phiên tòa xét xử vụ án “Kiện quyết định của Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Đắc Lắk”.
Theo đó, tòa nhận định, việc BQL ban hành quyết định giải quyết lần thứ nhất và Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Đắc Lắk ban hành quy định giải quyết khiếu nại của các hộ dân lần hai là trái với thẩm quyền, bởi lẽ: BQL là cơ quan trực thuộc Sở NNPTNT tỉnh Đắc Lắk, không phải là cơ quan hành chính Nhà nước nên không có thẩm quyền ban hành quyết định giải quyết khiếu nại.
Mặt khác, theo quy định tại Điều 62, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 về quy định quyền và nghĩa vụ của BQL rừng phòng hộ không có quyền hạn giải quyết khiếu nại. Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 19, Luật Khiếu nại thì “Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình”.
Chính vì vậy, TAND tỉnh Đắc Lắk đã quyết định hủy hai Quyết định số 1308/QĐ-SNN và số 1335/QĐ-SNN của Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Đắc Lắk.
Tìm hiểu trên thực tế, cũng như trên cơ sở phán quyết của TAND tỉnh Đắc Lắk trong vụ tranh chấp rừng trồng này, PV cho rằng, UBND tỉnh Đắc Lắk cần vào cuộc, khẩn trương có biện pháp khắc phục hậu quả Quyết định số 2572/QĐ-UBND, ngày 3-10 2008 của UBND tỉnh về việc thu hồi 568,43 ha đất của BQL để giao cho Công ty Trường Thành thuê thực hiện dự án trồng rừng, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho 28 hộ dân trồng rừng.
Cụ thể, UBND tỉnh Đắc Lắk cần hủy bỏ, hoặc sửa đổi Quyết định số 2572/QĐ-UBND theo hướng đưa 486ha rừng của 28 hộ dân trồng ra khỏi diện tích đất cho Công ty Trường Thành thuê, tạo điều kiện cho các hộ dân trồng, chăm sóc, hưởng lợi từ rừng theo đúng chính sách hiện hành. (Cựu Chiến Binh VN 4/9, tr13) đầu trang(
Dựa trên tiềm năng, thế mạnh của địa phương, trong những năm gần đây, thôn Nà Quân, xã Bình Trung (Chợ Đồn) luôn xác định trọng tâm trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo vẫn là sản xuất nông, lâm nghiệp.
Vì thế, cấp ủy, chính quyền thôn thường xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân trong thôn tập trung phát triển kinh tế rừng, coi đây là giải pháp nhằm nâng cao thu nhập.
Thôn Nà Quân có có tổng diện tích đất tự nhiên rộng hơn 200 héc ta, trong đó đất phục vụ cho sản xuất nông, lâm nghiệp là 180 héc ta; đất phục vụ trồng rừng trên 50 héc ta. Theo trưởng thôn Nông Văn Tiển, Nà Quân có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi để phát triển các loại giống cây lâm nghiệp như: Mỡ, keo, quế, bồ đề, xoan...
Do đó, thôn đã tranh thủ sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước thông qua các chương trình, dự án vận động nhân dân tham gia đăng ký thực hiện trồng rừng sản xuất, rừng nguyên liệu giấy… Thêm vào đó, thôn Nà Quân khá thuận lợi về giao thông đi lại, nằm cạnh tỉnh lộ 254, nên việc vận chuyển lâm sản sau khai thác đến các cơ sở chế biến và vận chuyển đi tiêu thụ đến một số địa phương huyện thuộc các tỉnh Thái Nguyên, tỉnh Tuyên Quang khá dễ dàng.
Từ những thế mạnh trên, thôn Nà Quân đã đề ra nghị quyết về phát triển kinh tế hằng năm, đã xác định phát triển kinh tế rừng là ưu tiên hàng đầu trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo trên địa bàn. Những năm trở lại đây, bà con trong thôn chú trọng thực hiện mô hình trồng rừng, coi đây là một trong những mô hình phát triển kinh tế mũi nhọn của gia đình.
Toàn thôn có 49 hộ dân thì gia đình nào cũng thực hiện trồng ít nhất cũng từ 0,5 héc ta rừng trở lên. Bên cạnh đó, người dân luôn chú trọng quan tâm đến công tác quản lý, khoanh nuôi, bảo vệ và phát triển rừng tự nhiên… Đến nay, nhiều hộ gia đình trong thôn đã có cuộc sống ổn định và vươn lên làm giàu từ chính những cánh rừng của mình.
Thăm mô hình phát triển kinh tế rừng của anh Hoàng Văn Chinh ở thôn Nà Quân, xã Bình Trung, chúng tôi cảm nhận rõ niềm vui của gia đình anh khi hàng chục héc ta đất đồi được anh phủ xanh một màu bạt ngàn cây rừng từ nhiều năm nay. Những diện tích mỡ, quế đã đến kỳ khai thác đang được gia đình anh chuẩn bị các khâu vận chuyển, tìm đầu mối tiêu thụ hợp lý… hứa hẹn sẽ cho gia đình những khoản thu nhập khá.
Theo anh Hoàng Văn Chinh, với giá thu mua như hiện nay trên thị trường, mỗi cây mỡ đường kính từ 30-40cm giá giao động trên dưới 1 triệu đồng; quế trung bình mỗi cây cho thu nhập khoảng 500.000 đồng. Như vậy, mỗi héc ta rừng mỡ, quế của gia đình trừ chi phí và công chăm sóc cũng sẽ thu về vài trăm triệu đồng.
Cùng chung niềm vui như anh Hoàng Văn Chinh, gia đình anh Hoàng Văn Ngụy cùng ở thôn Nà Quân sau nhiều năm thực hiện trồng và chăm sóc, đến nay hơn 10 héc ta rừng keo, mỡ của gia đình cũng bắt đầu cho thu hoạch từ tháng 8 năm nay.
Anh  Hoàng Văn Ngụy cho biết: "Với phương châm "lấy ngắn nuôi dài", thực hiện chăn nuôi, sản xuất nông nghiệp nhằm duy trì ổn định kinh tế gia đình hằng năm, để tập trung vào mô hình trồng rừng. Hiện nay phần lớn diện tích rừng rồng đã bắt đầu cho khai thác, từ việc bán một phần nhỏ diện tích cây rừng được khai thác, gia đình đã thu vài chục triệu đồng, dự kiến khai thác trắng diện tích để cung cấp cho các cơ sở chế biến, gia đình cũng đạt thu nhập hàng trăm triệu đồng. Số tiền dùng để mua sắm tiện nghi gia đình và tiếp tục đầu tư vào việc trồng rừng trong các vụ tiếp theo".
Việc vận động nhân dân trồng và phát triển rừng không chỉ tạo việc làm, thu nhập cho lao động địa phương mà còn tạo ra lực lượng cơ động tại chỗ để bảo vệ, chăm sóc rừng tận gốc. Nhiều năm trỏ lại đây, trên địa bàn xã đã không để xảy ra vụ cháy rừng nào. Điều đó cho thấy, công tác trồng và chăm sóc rừng trồng; công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn xã được quan tâm đúng mức, phát huy hiệu quả cao.
Trao đổi với PV về công tác trồng rừng trong những năm tiếp theo, Phó Chủ tịch UBND xã Bình Trung Hoàng Văn Hỷ cho biết: Lợi ích từ rừng mang lại cho người dân ở địa phương là rất lớn, ngoài thu nhập diện tích rừng kinh tế và các sản phẩm phụ từ rừng, đã có rất nhiều hộ dân ở các thôn trên địa bàn xã đã thoát nghèo một cách bền vững, riêng đối với thôn Nà Quân đã thoát nghèo 100%, người dân đều có mức sống từ trung bình khá trở lên…
Qua đó góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo chung của xã đến nay xuống còn hơn 10%. Trong những năm tới, địa phương sẽ tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng, bên cạnh đó phối hợp với các cơ quan chuyên môn hướng dẫn cho người dân hiểu biết và nắm chắc kỹ thuật trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng sao cho phù hợp với điều kiện của từng hộ gia đình... (Báo Bắc Kạn 4/9) đầu trang(
Sáng 4-9, tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại Đà Nẵng đã mở phiên phúc thẩm xét xử vụ án giết hại dã man 5 phu trầm  xảy ra tại vùng biên giới huyện Hướng Hóa vào tháng 3-2013. Vụ án gây rúng động dư luận bởi tính chất man rợ của nhóm giết người này.
Phiên tòa được tổ chức lưu động tại Quảng Trị. Kết thúc phiên tòa, hội đồng xét xử đã tuyên y án tử hình đối với hai bị cáo Hồ Văn Công (39 tuổi, trú thôn Tà Rùng, xã Hướng Lập) và Hồ Văn Thành (40 tuổi, trú thôn Nguồn Rào, xã Hướng Sơn) cùng huyện Hướng Hóa, Quảng Trị.
Trước đó, tại phiên xử sơ thẩm vụ án này vào tháng 5-2014, TAND tỉnh Quảng Trị đã tuyên án tử hình Hồ Văn Thành và Hồ Văn Công về các tội: giết người, cướp tài sản, bắt cóc, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng. Sau khi xử sơ thẩm, cả hai bị cáo đều có đơn xin giảm án với lý do “đã biết lỗi và thành thật trong quá trình khai báo”.
Tại phiên phúc thẩm này, khi được nói lời sau cùng, hai bị cáo Công và Thành đã cúi mặt khóc và xin tòa cho giảm án tử hình. Tuy nhiên, xét hành vi của các bị cáo đã mất hết tính người, hội đồng xét xử quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận giảm án cho các bị cáo.
Trong khi tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng cho rằng hành vi giết người của Công và Thành quá dã man, một lúc phạm vào 4 tội, quan điểm của VKS là giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Theo bản án, cuối tháng 3-2013, Công và Thành cùng một đối tượng khác là Hồ Văn Nguyên (Quốc tịch Lào) rủ nhau mang súng AK vào rừng bắt cóc nhóm người đi tìm trầm đòi tiền chuộc.
Ba đối tượng này đã bắt cóc được một nhóm phu trầm gồm 7 người tại khu vực rừng biên giới xã Hướng Lập, huyện Hướng Hóa. Sau đó, chúng trói họ lại rồi cho một người về lấy tiền chuộc.
Trong khi chờ người về lấy tiền chuộc, các bị cáo lo sợ bị lộ nên ngay trong đêm đã dùng gậy đập chết 5 người rồi đào hố chôn.
Đến nạn nhân thứ sáu thì người này chạy thoát về báo tin. Ba đối tượng này sau đó đã bị bắt. Riêng Hồ Văn Nguyên mang quốc tịch Lào nên đã được giao cho phía Lào xét xử. (Tuổi Trẻ 5/9, tr18; Nhân Dân 5/9, tr8) đầu trang(
4/9, đoàn công tác của UBND tỉnh do ông Lò Văn Tiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng đoàn, đã đến kiểm tra tình hình thực hiện công tác giao đất, giao rừng; quản lý, bảo vệ và chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định số 99 của Chính phủ trên địa bàn thị xã Mường Lay.
Theo báo cáo của UBND thị xã: Hiện nay, trên địa bàn hiện có hơn 5.300ha rừng, tỷ lệ che phủ của rừng đạt trên 47%. Đến thời điểm này, gần 100% diện tích rừng của TX. Mường Lay đã được giao cho hơn 30 tổ dân phố, bản với 888 hộ gia đình quản lý, bảo vệ.
Tổng số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng kể từ năm 2012 đến nay cho người dân là gần 2,9 tỷ đồng. Việc triển khai chi trả các chính sách cho cộng đồng dân cư tham gia bảo vệ rừng được thực hiện nghiêm túc, đúng đối tượng, nên ý thức bảo vệ rừng đã được nâng lên, tình trạng khai thác rừng trái phép, bừa bãi đã không còn xảy ra.
Thị xã Mường Lay đề nghị dừng khai thác rừng trẩu ở sườn đông, khu vực ta luy âm tuyến quốc lộ 12 nằm trên địa bàn thị xã quản lý, bởi khi khai thác toàn bộ rừng trẩu, tình trạng xói mòn, sạt lở đất, gây nguy hiểm đến tài sản, tính mạng của người dân; đồng thời đề nghị trồng bổ sung một số loại cây có khả năng giữ đất tốt trên diện tích này, ngoài ra cần tăng dày hệ thống biển báo khu vực đã chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Kết luận buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lò Văn Tiến đã đánh giá cao những nỗ lực của thị xã Mường Lay trong việc triển khai, thực hiện việc chi trả dịch vụ môi trường rừng. Ông yêu cầu thị xã cần có thêm thông tin về diện tích, số hộ đã được chi trả, nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch.
Đối với diện tích rừng trẩu của thị xã, Phó Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn và UBND thị xã nhanh chóng nghiên cứu, đánh giá đầy đủ khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường, nguy cơ sạt lở đất và cuộc sống của người dân, liên quan đến việc khai thác rừng trẩu, báo cáo UBND tỉnh xem xét, chỉ đạo. (Đài PTTH Điện Biên 4/9)  đầu trang(
Ông Nguyễn Quân Chính, TUV, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã chủ trì buổi làm việc với UBND huyện Cam Lộ về tình hình bàn giao đất rừng sản xuất cho địa phương.
Tham dự buổi làm việc có đại diện lãnh đạo các Sở: Nông nghiệp và PTNT, Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng UBND tỉnh, UBND huyện Cam Lộ và Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đường 9.
Báo cáo UBND huyện Cam Lộ cho biết, theo số liệu của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đường 9 khi được phê duyệt phương án chuyển đổi doanh nghiệp thì quỹ đất công ty quản lý, sử dụng trên địa bàn huyện Cam Lộ là 10.699 ha trong đó công ty trực tiếp sử dụng 4.066 ha (tại Cam Chính: 160 ha rừng trồng sản xuất; Cam Thành: 250 ha rừng phòng hộ; Cam Tuyền: 3.656 ha rừng sản xuất và phòng hộ).
Hiện diện tích công ty đang sử dụng đã tiến hành cấp giấy là 3.181 ha. Diện tích công ty bàn giao cho địa phương 6.481 ha, trong đó đất rừng tự nhiên 1.723 ha; đất trống đồi trọc 2.688 ha; đất nông nghiệp và đất khác 1.970 ha.
Để quản lý tốt quỹ đất lâm nghiệp được bàn giao, UBND huyện Cam Lộ kiến nghị cần rà soát diện tích các loại đất, chủ sử dụng nhất là đất rừng sản xuất mà các tổ chức, cá nhân đang sử dụng chưa được giao đất, cần phải điều tra, đo đạc thống kê được quỹ đất làm cơ sở cho địa phương lập phương án giao đất cũng như hồ sơ địa chính để quản lý ổn định, lâu dài. Thực hiện nhiệm vụ trên, huyện Cam Lộ đề nghị UBND tỉnh hỗ trợ kinh phí cho địa phương thực hiện.
Sau khi nghe ý kiến của các thành viên tham gia buổi làm việc, ông Nguyễn Quân Chính, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo, đối với các tổ chức sử dụng đất đã khai thác rừng hoặc chưa đưa đất vào sử dụng thì thực hiện bàn giao đất cho địa phương quản lý và trường hợp tổ chức sử dụng đất đã có rừng thì có phương án sau khi đến chu kỳ khai thác rừng phải bàn giao lại đất cho địa phương.
Trong việc thực hiện kế hoạch giao đất gắn với giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương cần tập trung chỉ đạo để đẩy nhanh tiến độ và đảm bảo tính chính xác; điều tra, thu thập toàn bộ hồ sơ, tài liệu có liên quan đến quỹ đất lâm nghiệp được giao; phải tiến hành điều tra, xác định vị trí, tọa độ đất được giao; quá trình thực hiện cần dựa trên nguyên tắc ưu tiên cho người dân thiếu đất có nhu cầu sản xuất...
Sau khi bàn giao, địa phương cần thông báo cho người dân có đất trên diện tích được bàn giao đến cơ quan chức năng để tiến hành bàn giao sử dụng đất theo đúng quy định. (Báo Quảng Trị 30/8) đầu trang(
Huyện Bảo Thắng hiện có 4 đơn vị được cấp phép sản xuất cây giống lâm nghiệp, với sản lượng hàng năm đạt hơn 10 triệu cây các loại, trong khi thành phố Lào Cai và các huyện khác chỉ có 1 - 2 đơn vị sản xuất.
Đơn vị sản xuất lượng cây giống lâm nghiệp lớn nhất trên địa bàn là Công ty TNHH Sản xuất giống cây trồng nông - lâm nghiệp có địa chỉ tại xã Sơn Hà với năng lực 6 - 8 triệu cây giống mỗi năm.
Ngoài cung cấp cây giống lâm nghiệp cho huyện Bảo Thắng, đơn vị này còn tham gia xuất khẩu cây giống qua thị trường Trung Quốc, bán tại một số huyện như Bảo Yên, Văn Bàn, Bắc Hà, Sa Pa và có khách hàng thường xuyên tại một số tỉnh Lai Châu, Bắc Giang, Tây Ninh, Đắk Lắk…
Tại xã Sơn Hà còn 1 doanh nghiệp khác sản xuất khoảng 2 - 4 triệu cây giống mỗi năm, Ban Quản lý rừng phòng hộ của huyện và Công ty Cổ phần lâm nghiệp Bảo Thắng sản xuất khoảng 3 - 4 triệu cây giống lâm nghiệp mỗi năm.
Cây giống lâm nghiệp chủ đạo của huyện Bảo Thắng trong thời gian gần đây là quế, mỡ, keo, sa mộc và một số cây bản địa đặc thù khác. (Báo Lào Cai 30/8) đầu trang(
Do chạy theo lợi nhuận, một số cơ sở cây giống lâm nghiệp (CGLN) chưa đủ điều kiện sản xuất kinh doanh CGLN hoặc chưa thực hiện nghiêm túc quy chế quản lý CGLN theo quy định của Bộ NN-PTNT vẫn đưa sản phẩm ồ ạt ra thị trường.
Trong khi đó, công tác quản lý của ngành chức năng và địa phương lại lỏng lẻo, bất cập. Theo Phòng NN-PTNT huyện Phù Cát, trên địa bàn hiện có 20 cơ sở, hộ gia đình sản xuất kinh doanh CGLN, chủ yếu tập trung ở 2 xã Cát Hanh và Cát Trinh. Trong số này, chỉ có 6 đơn vị, cơ sở được Sở NN-PTNT cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện.
Dọc quốc lộ 1, đoạn đi qua thôn Phú Kim, xã Cát Trinh, trên cung đường dài gần 1 km, đã có đến 10 hộ gia đình tổ chức ươm CGLN; mỗi năm họ đưa ra thị trường hàng chục vạn cây giống. Điều đáng nói ở đây là nhiều hộ sản xuất cây bằng hạt giống không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Chuyện tương tự cũng diễn ra ở xã Cát Hanh và cũng nóng không kém.
Một số hộ còn sản xuất cây giống không có trong danh mục giống cây trồng được phép sản xuất kinh doanh. Điều kỳ lạ là tình trạng tổ chức sản xuất CGLN không rõ ràng về chất lượng trên diễn ra từ nhiều năm nay, nhưng các ngành chức năng và chính quyền địa phương vẫn bình chân như vại. Hệ quả là nhiều người trồng rừng mua phải giống kém chất lượng, mất nhiều chi phí đầu tư, chăm sóc nhưng hiệu quả kinh tế đạt thấp.
Tháng 9.2012, được bạn bè giới thiệu, lại tham rẻ, anh Nguyễn Dũng, ở thôn Phú Mỹ 2, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước, mua 2.000 cây bạch đàn của một cơ sở ươm cây giống ở thôn Phú Kim về trồng. Gặp phải giống kém chất lượng, lớp chết yểu lớp kém phát triển, sau gần 2 năm chăm sóc anh Dũng coi như mất trắng.
Theo ông Võ Đình Trí, cán bộ Phòng NN-PTNT huyện Phù Cát, từ đầu năm 2014 đến nay, mặc dù chính quyền địa phương đã nhắc nhở, yêu cầu dừng sản xuất, nhưng các hộ này vẫn không chấp hành.
Để bảo vệ người trồng rừng, trong tháng 9 này, Phòng NN-PTNT huyện sẽ phối hợp với Chi cục Lâm nghiệp tỉnh tổ chức kiểm tra, hướng dẫn và chấn chỉnh các cơ sở, hộ gia đình sản xuất kinh doanh CGLN trên địa bàn huyện. Đồng thời thông báo các hộ  không đủ điều kiện sản xuất kinh doanh CGLN để mọi người biết và tránh tình trạng “tiền mất tật mang”.
Mới đây, UBND tỉnh cũng đã có văn bản chỉ đạo Sở NN-PTNT và UBND các huyện, thị xã, thành phố (trong đó có huyện Phù Cát), tăng cường công tác kiểm tra, tuyên truyền, hướng dẫn các hộ gia đình sản xuất kinh doanh CGLN thực hiện đúng các quy định của Bộ NN-PTNT. Đối với các đơn vị, hộ gia đình cố tình vi phạm, cơ quan chức năng và chính quyền địa phương cần có biện pháp kiên quyết xử lý theo quy định của pháp luật.
Ngành Nông nghiệp tỉnh cũng đề nghị chính quyền các địa phương công bố các cơ sở sản xuất CGLN kém chất lượng trên các phương tiện thông tin đại chúng để người dân biết, nhằm tránh thiệt hại cho người trồng rừng.
“Chi cục sẽ phối hợp chặt chẽ với ngành chức năng và chính quyền địa phương thường xuyên kiểm tra, xử lý các sai phạm trên lĩnh vực sản xuất kinh doanh CGLN. Đối với các đơn vị, hộ gia đình cố tình vi phạm cần có biện pháp xử lý cương quyết theo quy định của pháp luật”, ông Nguyễn Thế Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp thuộc Sở NN-PTNT nhấn mạnh. (Báo Bình Định 30/8) đầu trang(
Huyện Lâm Hà đang “khởi động” trồng mới 5.000ha rừng trên đất lâm nghiệp bị lấn chiếm thuộc 12 xã, thị trấn, phấn đấu đến năm 2020 sẽ nâng độ che phủ rừng trên toàn địa bàn huyện đạt tỷ lệ hơn 33%.
Thống kê hiện tại, trên địa bàn huyện Lâm Hà có 8.000ha đất quy hoạch lâm nghiệp không có rừng, trong đó có khoảng 3.000ha đất sình lầy, ngập nước sông suối; đất giao cho các dự án thủy điện bố trí, sắp xếp dân cư…
Còn lại 5.000ha đất bị lấn chiếm trồng cà phê và các loại hoa màu, nhưng do quanh năm thiếu nước, thiếu cây chắn gió, đất thường xuyên bị xói mòn, nên năng suất cây trồng rất thấp, ảnh hưởng đến thu nhập ổn định và bền vững cho người dân.
Để tăng cường hơn nữa công tác quản lý, bảo vệ diện tích đất lâm nghiệp, từng bước xây dựng và phát triển theo hướng xã hội hóa nghề rừng, ngày 25/7/2014, HĐND huyện Lâm Hà đã quyết nghị giao cho UBND huyện Lâm Hà tổ chức triển khai trồng rừng sản xuất theo phương án nông - lâm kết hợp từ nay đến hết năm 2019.
Ông Đỗ Văn Thủy, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo trồng mới 5.000ha rừng huyện Lâm Hà cho biết: Giai đoạn năm 2014 - 2015 sẽ trồng thí điểm khoảng 400ha rừng trên 5 xã gồm Tân Thanh, Phúc Thọ, Phú Sơn, Phi Tô và Mê Linh. Giai đoạn 2015 - 2019, trồng nhân rộng 4.600ha rừng trên 7 xã, thị trấn tiếp theo như Nam Ban, Nam Hà, Đông Thanh, Gia Lâm, Đinh Văn, Đạ Đờn và Đan Phượng.
Có 5 giống cây rừng chính được đưa về trồng ở đây là dầu rái, sao đen, muồng đen, giáng hương và mắc ca - tất cả đều phải đạt tiêu chuẩn, chất lượng theo quy chế quản lý giống cây trồng lâm nghiệp do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành. Thời điểm xuống giống trồng cây rừng vào những ngày mới mưa hoặc sau những cơn mưa khi đất còn ẩm ướt, đồng thời tuân thủ theo quy cách hàng cách hàng 9m, cây cách cây 6m, mật độ 185 cây/ha.
Cụ thể, cứ trồng xen một hàng cây rừng với 6 - 8 hàng cây cà phê chè catimor và với 3 hàng cây cà phê vối. Kết quả từng diện tích rừng sẽ được nghiệm thu khi mật độ sống của cây rừng trồng đạt trên 70%. Tổng mức đầu tư giống cho 1ha rừng trồng xen cây nông nghiệp ước tính khoảng 2 triệu đồng với cây muồng đen; 4 triệu đồng với các cây sao đen, dầu rái, giáng hương; hơn 15,7 triệu đồng với cây mắc ca.
Việc trồng mới 5.000ha rừng nói trên chỉ áp dụng cho loại đất rừng sản xuất, nguồn tiền mua cây giống trồng rừng (trừ cây giống mắc ca) được nhà nước trích ngân sách hỗ trợ 70% cho các hộ gia đình nghèo, cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số; các đối tượng còn lại phải đầu tư 100% vốn tự có của mình.
Dẫu vậy, tất cả các chủ hộ trồng rừng đều được hưởng như nhau về nguồn thu nhập từ những sản phẩm của nghề rừng bao gồm gỗ, củi thu hoạch; được ký kết hợp đồng giao, nhận đất với các đơn vị chủ rừng; được nhà nước bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp trên diện tích đất rừng trồng khi xảy ra tranh chấp.
Tuy nhiên, với quyền lợi của chủ hộ trồng rừng bao giờ cũng phải luôn luôn “đồng hành” với nghĩa vụ và các biện pháp chế tài. Theo UBND huyện Lâm Hà, yêu cầu trước hết đó là “thực hiện việc trồng rừng, chăm sóc rừng theo đúng quy trình kỹ thuật, đúng thời vụ; tự đầu tư chăm sóc, quản lý bảo vệ cây rừng phát triển tốt; không được nhổ bỏ, chặt phá…”.
Và các hình thức chế tài cũng sẽ áp dụng khá “bình đẳng”, “nếu cá nhân, hộ gia đình nào không thực hiện đầy đủ các quy định về sử dụng đất, hoặc vi phạm các điều khoản trong hợp đồng khoán như: trồng cây không đúng mật độ, thiếu trách nhiệm để cây bị chết, bị nhổ, bị chặt phá thì phải bồi hoàn mọi chi phí do nhà nước đầu tư, đồng thời phải giải tỏa, thu hồi, giao lại cho đơn vị chủ rừng quản lý hoặc giao lại cho các cá nhân, hộ gia đình khác để thực hiện việc trồng rừng theo quy định…”.
Theo nhiệm vụ được giao, Ban Chỉ đạo trồng mới 5.000ha rừng ở Lâm Hà phối hợp cùng với chính quyền cấp xã và các ngành chức năng trong huyện xây dựng và triển khai đồng bộ kế hoạch kiểm tra, giám sát hoạt động trồng rừng, chăm sóc, phòng cháy chữa cháy rừng; kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh, đồng thời nhân rộng trên “vùng nguyên liệu rừng” của 12 xã, thị trấn trên địa bàn về những kinh nghiệm, kết quả “gặt hái” được từ thực tế sản xuất nông - lâm kết hợp hàng tháng, hàng quý, hàng năm… (Báo Lâm Đồng 31/8) đầu trang(
Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Trà Tân được thành lập từ năm 2011 theo quyết định của UBND tỉnh chuyển đổi Công ty lâm nghiệp Trà Tân thành Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Trà Tân.
Nhiệm vụ chính là quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng... Thế nhưng kể từ khi thành lập đến nay, Công ty này vẫn chưa được tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) lâm nghiệp nên đã gặp rất nhiều trở ngại trong công tác quản lý, sử dụng đất.
Tiền thân của Công ty Lâm nghiệp Trà Tân là Lâm trường Trà Tân được thành lập từ năm 1994. Đến năm 2006, thực hiện Nghị định của Chính phủ về sắp xếp đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã có Quyết định phê duyệt sắp xếp đổi mới và chuyển Lâm trường Trà Tân thành Công ty Lâm nghiệp Trà Tân.
Theo đó, Công ty được quản lý, sử dụng 7.262,5 ha đất lâm nghiệp tại hai huyện Trà Bồng (4.262,5 ha) và Tây Trà (3.000 ha). Tuy nhiên, khi phối hợp với Sở Tài nguyên-Môi trường, cùng UBND 2 huyện Tây Trà, Trà Bồng và các xã liên quan tiến hành rà soát trên thực địa, có sự thống nhất từ thôn bản trở lên thì diện tích giao cho Công ty chỉ còn 6.144, 5 ha.
Trong đó Trà Bồng hơn 4094 ha và Tây Trà 2.050 ha. Từ năm 2007 đến nay, toàn bộ diện tích đất nói trên Công ty vẫn quản lý nhưng chưa được cấp GCNQSDĐ. Nguyên nhân mà Sở Tài Nguyên và Môi trường Quảng Ngãi đưa ra là, diện tích đất lâm nghiệp tại huyện Trà Bồng được giao cho Công ty tuy đã đủ hồ sơ nhưng phải chờ kết quả đo đạc, lập bản đồ địa chính đất lâm nghiệp tại huyện Tây Trà để cùng trình UBND tỉnh phê duyệt cấp GCNQSDĐ cho Công ty một lần, vì kế hoạch sử dụng đất của đơn vị triển khai cùng lúc trên địa bàn hai huyện.
Tuy nhiên diện tích đất lâm nghiệp tại huyện Tây Trà được giao cho Công ty lại phải chờ UBND tỉnh triển khai dự án đo đạc, cắm mốc ranh giới. Mãi đến tháng 3.2014, Sở Tài Nguyên và Môi trường Quảng Ngãi mới triển khai kế hoạch chuẩn bị đo đạc, cắm mốc ranh giới cho các công ty lâm nghiệp trong tỉnh. Do vậy đã đẩy Công ty rơi vào tình trạng “danh chính mà lý chưa thuận”, làm cho công ty gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại trong việc quản lý sử dụng đất lâm nghiệp.
Mặc dù chưa được cấp GCNQSDĐ, nhưng trên cơ sở diện tích đất lâm nghiệp được UBND các xã và UBND 2 huyện Trà Bồng và Tây Trà thống nhất giao, Công ty Lâm nghiệp Trà Tân đã triển khai trồng rừng sản xuất. Tuy nhiên, do nguồn vốn có hạn (sau khi chuyển đổi chỉ có hơn 2,3 tỉ đồng, đa phần là tài sản cố định) nên từ khi chuyển đổi đến nay công ty mới chỉ liên doanh, liên kết trồng được 700 ha rừng trên tổng diện tích hàng ngàn ha đất trồng rừng sản xuất được giao.
Lãnh đạo Công ty này lý giải, nguyên nhân chính là do không tiếp cận được các nguồn vốn vay tại ngân hàng. Muốn vốn ưu đãi từ Ngân hàng Phát triển để trồng rừng sản xuất thì chưa có GCNQSDĐ, trong khi vay tại các ngân hàng thương mại thì phải có tài sản thế chấp, trong khi tài sản của công ty lại “khá hẻo”.
Cũng chính từ việc chưa được cấp GCNQSDĐ và chưa được cắm mốc ranh giới, nên Công ty chưa có cơ sở pháp lý để ký hợp đồng giao khoán cho hộ gia đình, cá nhân mà chỉ hợp đồng giao khoán công việc. Điều này dẫn đến việc sử dụng đất lâm nghiệp của công ty đạt hiệu quả chưa cao, còn để lãng phí quỹ đất khá lớn.
Cũng từ nguyên nhân chưa được cấp GCNQSDĐ và chưa được cắm mốc ranh giới rõ ràng nên việc lấn chiếm đất lâm nghiệp đã giao cho công ty xảy ra liên tục trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, do chưa có cơ sở chủ quyền pháp lý về đất đai nên Công ty chỉ gởi văn bản đến chính quyền địa phương các xã đề nghị xử lý nhưng các địa phương và công ty đều không thể nào xử lý được. Điều này làm cho tình trạng người dân trong và ngoài địa phương lấn chiếm đất lâm nghiệp ngày một gia tăng phức tạp.
Không chỉ đất lâm nghiệp bị lấn chiếm mà ngay cả rừng trồng của Công ty cũng bị dân chặt phá và lấn chiếm, rồi sau đó ngang nhiên trồng lại …rừng. Nguy hại hơn nữa là mặc dù người dân địa phương đã được cấp đất lâm nghiệp để sản xuất, nhưng tình trạng “bán rừng non” cho người ngoài địa phương vẫn xảy ra nên người dân địa phương luôn cảm thấy thiếu đất, phải lấn chiếm đất của Công ty để trồng keo, rồi lại bán rừng non cứ tiếp diễn.
Theo báo cáo của Công ty, tổng diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm tại hai xã Trà Tân, Trà Bùi (Trà Bồng) đã lên tới 1.393 ha, trong đó Trà Tân 663 ha, Trà Bùi 731 ha.
Trước thực trạng trên, cần có sự vào cuộc của các cơ quan chức năng  đủ thẩm quyền để xử lý những tồn tại, nhằm chấm dứt tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp và rừng sản xuất như thời gian qua, đồng thời phát huy hiệu quả hàng ngàn ha đất lâm nghiệp vốn đang bị lãng phí một cách đáng tiếc. (Báo Quảng Ngãi 31/8) đầu trang(
Theo Chi cục Lâm nghiệp (Sở NN-PTNT), hiện trên địa bàn tỉnh có 106 cơ sở sản xuất cây giống lâm nghiệp được cấp phép đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh cây giống, gồm 28 công ty, 2 trung tâm, 5 doanh nghiệp tư nhân, 7 ban quản lý rừng phòng hộ và 64 cơ sở hộ gia đình; năng lực sản xuất đạt trên 130 triệu cây giống/năm.
Như vậy, so với thời điểm tháng 6.2013, số cơ sở cây giống lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng 14 cơ sở.
Hầu hết các cơ sở sản xuất cây giống bằng phương pháp giâm hom đối với cây keo lai; một số đơn vị sản xuất cây giống keo lai, bạch đàn từ nuôi cấy mô và sản xuất các loài cây bản địa như: phi lao, keo lá tràm, thông Caribe, sao đen, bời lời... từ hạt giống.
Từ đầu năm 2014 đến nay, các cơ sở trên đã sản xuất được hơn 90 triệu cây giống các loại, gồm keo lai, bạch đàn lai, đảm bảo cung ứng đủ cây giống cho công tác trồng rừng. (Báo Bình Định 31/8) đầu trang(
Nỗ lực cải thiện môi trường và phát huy thế mạnh từ rừng, 8 tháng đầu năm, TP Cẩm Phả đã trồng 1.416ha rừng tập trung, tăng 12,9% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị, phường, xã trên địa bàn đã trồng khoảng 85.000 cây phân tán.
Sản lượng gỗ khai thác các loại 8 tháng của thành phố đạt 43.173m3, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm 2013. (Báo Quảng Ninh 30/8) đầu trang(
Hiện nay, Ban quản lý dự án bảo vệ và phát triển rừng các huyện, thị xã và Vườn Quốc gia Ba Bể đã đôn đốc Ban quản lý dự án xã, thôn vận động người dân tham gia trồng rừng và đăng ký nhu cầu trồng rừng trong dân.
Song song với đó, các Ban quản lý dự án đã tham mưu cho UBND các huyện, thị xã giao chỉ tiêu trồng rừng năm 2015 và rà soát tổng hợp số diện tích đăng ký trồng rừng 2015 cụ thể theo từng loài cây trồng.
Dự kiến năm 2015, toàn tỉnh sẽ trồng mới khoảng 10.000 ha rừng các loại. Hiện nay, các địa phương đã đăng ký trồng được khoảng 40% diện tích. Toàn tỉnh phấn đấu sẽ vận động người dân và rà soát tổng hợp diện tích đăng ký trồng rừng xong trong tháng 9 để gieo ươm cây giống cho kịp thời vụ trồng rừng năm 2015. (Đài PTTH Bắc Kạn 30/8) đầu trang(
Xác định lâm nghiệp là một thế mạnh để phát triển kinh tế, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ X đã đề ra  mục tiêu đến năm 2015, toàn tỉnh sẽ trồng thêm được 60.000ha rừng.
Thực hiện mục tiêu này, công tác trồng rừng trong những năm 2011, 2012, 2013 đều đạt và vượt kế hoạch; trung bình mỗi năm trồng hơn 12.000ha rừng tập trung, riêng năm 2011 trồng hơn 14.500 ha, gấp 3 lần so với năm trước đó.
Nhưng năm 2014, công tác trồng rừng bắt đầu có nhiều khó khăn, bất cập, mặc dù chỉ tiêu kế hoạch đã giảm xuống còn 10.000 ha, trong đó có cả diện tích trồng rừng phân tán, nhưng vẫn không hoàn thành kế hoạch đề ra.
Để chuẩn bị cho vụ trồng rừng năm 2014, UBND tỉnh chỉ đạo các địa phương và ngành chức năng phải chủ động chuẩn bị các điều kiện nhất là việc rà soát quỹ đất ngay sau khi kết thúc vụ trồng rừng năm trước.
Thường trực Tỉnh ủy đã cho chủ trương trồng mới 12.000ha, nhưng sau các cuộc họp giao chỉ tiêu kế hoạch, hầu hết các địa phương đều báo cáo việc thực hiện chỉ tiêu này là khó khăn bởi số diện tích mà người dân đăng ký thấp hơn so với mọi năm, do vậy UBND tỉnh quyết định điều chỉnh giảm chỉ tiêu trồng rừng năm 2014 xuống còn 10.000ha. Đây là con số chốt cuối cùng không thể thấp hơn, nhằm thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đề đến năm 2015.
Có thể nói, công tác quy hoạch, kế hoạch của tỉnh ta chưa khoa học, cụ thể và chính xác. Ngành chuyên môn và các địa phương còn phụ rất lớn vào người dân.  Nếu người dân tích cực thì kế hoạch đạt cao; ngược lại, dân bắt đầu có biểu hiện thiếu mặn mà, không hăng hái đăng ký hoặc đăng ký rồi bỏ không trồng, thậm chí có hộ nhận giống rồi bỏ đấy, trồng xuống thiếu chăm sóc...thì kế hoạch trồng rừng ở các địa phương bị phá vỡ.
Thực tế diện tích đăng ký trồng rừng năm nay vẫn đạt theo kế hoạch, nhưng các địa phương không tổ chức cho nhân dân trồng hết diện tích đã dăng ký. Việc người dân tự ý bỏ diện tích trồng rừng không phải năm nay mới xảy ra ở các địa phương, ngay từ đầu vụ UBND tỉnh đã yêu cầu các địa phương phải chỉ đạo quyết liệt, cần hết sức chặt chẽ trong việc rà soát khả năng thực hiện của từng hộ gia đình, nếu không làm được thì dứt khoát không cho đăng ký.
Tuy nhiên, vụ trồng rừng năm nay, tại huyện Ba Bể có hơn 60 hộ dân tự ý bỏ không trồng rừng với diện tích 58 ha, tập trung ở các xã Khang Ninh, Quảng Khê, Hoàng Trĩ và Đồng Phúc. Ông Phạm Văn Chí-Phó Giám đốc Ban quản lý dự án bảo vệ và phát triển rừng Vườn quốc gia Ba Bể cho biết: Với việc dân bỏ diện tích 58 ha không trồng, đơn vị thừa hơn 15 vạn cây giống gây lãng phí tiền của cũng như phá vỡ kế hoạch trồng rừng của đơn vị.
Không riêng Ba Bể, nhiều địa phương khác cũng không chỉ đạo sát sao công tác trồng rừng, vì thế không hoàn thành kế hoạch. Có địa phương tự ý đưa cây trồng mới vào nhưng lại không có giống cho dân, dẫn đến không thực hiện được.
Năm 2014, cũng là năm đầu tiên  tỉnh ta đã cho phép tính cả diện tích trồng phân tán trong kế hoạch trồng  rừng mới. Đây là sự lường trước về khó khăn trong việc thiết kế trồng rừng tập trung. Có địa phương diện tích trồng rừng phân tán tăng đột biến.  Đến thời điểm hiện này diện tích trồng phân tán cả tỉnh là 2.660 ha, vượt gần 300ha so với kế hoạch ban đầu, chiếm tỷ lệ cao trong tổng diện tích rừng trồng năm nay.
Rừng phân tán được trồng ở những nơi như đất trống ven đường kể cả những vạt đồi diện tích nhỏ không đủ để thiết kế nhưng thuận tiện đường giao thông. Việc đưa chỉ tiêu trồng rừng phân tán vào cơ cấu trồng rừng của tỉnh vừa tận dụng được diện tích đất bỏ trống, vừa dễ dàng cho việc khai thác vận chuyển sau này.
Hãy khoan bàn đến hiệu quả của trồng rừng phân tán, chỉ biết rằng việc cho phép trồng rừng phân tán là một thuận lợi được tỉnh mở ra để thực hiện kế hoạch năm 2014, tuy vậy, kết quả trồng rừng năm nay vẫn không hoàn thành kế hoạch.
Ngay từ đầu năm, tỉnh đã phải điều chỉnh chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng năm 2014 từ 12.000ha xuống còn 10.000ha. Tuy nhiên công tác chuẩn bị vẫn còn nhiều lúng túng, nhất là việc cung ứng giống; bên cạnh đó sự chỉ đạo của ngành chuyên môn và các địa phương thiếu kiên quyết, dẫn đến tiến độ trồng rừng chậm.
Trồng rừng năm nay chỉ có huyện Chợ Mới, Bạch Thông và thị xã Bắc Kạn là thực hiện tốt kế hoạch và thời vụ. Chợ Mới trồng đạt 112%; Bạch Thông 107%, thị xã Bắc Kạn 122%. Các huyện còn lại đều chậm và không hoàn thành chỉ tiêu.
Tính đến thời điểm cuối tháng 8, diện tích trồng rừng toàn tỉnh đạt 9.440ha, bằng 94% kế hoạch, còn 6% tương đương 600ha chưa được trồng. Số diện tích này chủ yếu là của huyện Chợ Đồn và Ngân Sơn, Pác Nặm, Na Rì. Ngoài diện tích cây quế, thông, sa mộc triển khai trồng chậm thì diện tích trồng mỡ, keo năm nay cũng muộn so với mọi năm.
Mặc dù hết khung thời vụ cuối tháng 6, bước sang giữa tháng 7 mà diện tích trồng rừng toàn tỉnh mới đạt 70% nghĩa là vẫn còn 3.000ha chưa triển khai trồng, trong khi cùng kỳ năm 2013 toàn tỉnh trồng được 80% diện tích. Việc kéo dài thời vụ trồng rừng chỉ có lý với nơi trồng thông như huyện Ngân Sơn, còn các huyện khác đều do yếu trong khâu chỉ đạo.
Kế hoạch trồng rừng của Chợ Đồn năm 2014 là 1.737ha, trong đó 1.470ha là rừng sản xuất. Hiện tại huyện mới trồng được 1.136ha, bằng 65% kế hoạch, đây là huyện trồng đạt thấp nhất. Qua tìm hiểu được biết số diện tích này được huyện chỉ đạo trồng cây quế nhưng lại không có cây giống.
Vấn đề cung ứng giống cây cho trồng rừng năm nay không tốt có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nguyên nhân khách quan là do thời tiết đầu năm khắc nghiệt, rét đậm, rét hại kéo dài, sương muối khiến cho nhiều diện tích cây chết phải gieo lại, cây sinh trưởng chậm, có những huyện đến cuối tháng 5 cây mỡ mới đủ tiêu chuẩn xuất vườn. Tuy nhiên nguyên nhân chủ quan vẫn là chính.
Sự thay đổi cách làm từ chia nhỏ vườn ươm đến quy tụ về một mối là một trong những bất cập mà ngành Nông nghiệp & Phát triển nông thôn cần có đánh giá rút kinh nghiệm để có hướng khắc phục ngay trong trồng rừng những năm tiếp theo.
Việc cung ứng cây con của các công ty giống cũng có sự chủ quan, thiếu trách nhiệm. Ví dụ đối với cây quế, cuối năm 2013 tỉnh mới bổ sung cây quế vào cơ cấu trồng rừng để thay thế cây mỡ tại những vùng sâu ong gây hại nặng, chính vì vậy người dân các huyện Chợ Mới, Chợ Đồn đã chuyển đổi từ trồng mỡ sang trồng quế, diện tích trồng quế toàn tỉnh năm nay đã tăng lên trên 600 ha, tương đương với khoảng 1,5 triệu cây giống.
Đây là loại cây có thời gian gieo ươm dài 8 đến 10 tháng, trong khi việc chuẩn bị giống lại thiếu chủ động.  Hiện tại giống quế vẫn đang được chăm sóc tại vườn ươm của Trung tâm giống cây trồng vật nuôi, chưa đủ tiêu chuẩn xuất vườn bởi số giống này các vườn ươm chuẩn bị để phục vụ cho vụ trồng rừng năm sau.
Đúng ra, nếu có trách nhiệm cao thì nhà cung ứng giống khi thấy không thể cung ứng giống quế cho vụ trồng rừng năm nay thì phải thông báo ngay với dân để họ lựa chọn đăng ký giống khác để trồng.  Đằng này lại thiếu sự hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn, nên người dân cứ ngóng chờ cây giống, dẫn đến hậu quả hơn 300 ha đất đã được thiết kế, xử lý thực bì, cuốc hố sẵn nhưng không có cây giống để trồng, gây lãng phí công lao động của người dân.
Trong sản xuất, cung ứng giống cây trồng rừng hiện nay, một vấn đề khiến người dân thắc mắc là tại sao các vườn ươm cây giống trồng rừng ở các xã (những vườn ươm nhỏ, vệ tinh) đã được thực hiện mấy năm trước đây giờ lại bị thu hẹp lại, chủ yếu tập trung gieo ươm ở các vườn ươm chính?  Nếu như năm 2012 toàn tỉnh có 110 vườn ươm trong đó có 29 vườn ươm chính, còn lại là vườn ươm vệ tinh, năng lực sản xuất 32 triệu cây giống. Đến năm 2013 rút xuống còn 100 vườn ươm(nhưng vẫn còn vườn ươm vệ tinh).
Nhưng sang đến năm nay 2014, không còn vườn ươm vệ tinh nào hoạt động, chỉ còn 29 vườn ươm tập trung sản xuất giống. Vậy thử hỏi chỉ với 29 vườn ươm thì năng lực sản xuất giống có đủ cho diện tích 10.000ha? Hay các Ban quản lý dự án lại phải chạy đôn chạy đáo đi mua giống ở nơi khác về cung ứng cho dân? Như vậy làm sao chủ động được trong trồng rừng mỗi năm hàng vạn héc- ta, hơn nữa việc vận chuyển cây giống trong mùa hè nắng nóng ở xa về liệu có đảm bảo?
Như vậy, việc trồng rừng chậm và không hoàn thành kế hoạch có một phần do khâu cung ứng cây giống của tỉnh. Chủng loại cây giống không đáp ứng với nhu cầu đăng ký trồng trong nhân dân; công tác chỉ đạo, định hướng và cơ cấu trồng rừng cho nhân dân cũng có sự bất cập; không cung ứng được giống vẫn cho đăng ký trồng. Điều này dẫn đến lãng phí về đầu tư sản xuất giống, bởi tỉnh đã bỏ tiền cho sản xuất lượng cây giống đủ cho kế hoạch trồng rừng năm 2014, nhưng một số loại giống bị thừa, biết xuất cho ai trồng.
Chính vì thế, có ý kiến cho rằng cần khôi phục lại sản xuất cây giống trồng rừng đối với các vườn ươm vệ tinh ở các xã để người dân chủ động hơn về giống.  Đối với Bắc Kạn ngoài cây Keo, cây Thông thì các loài cây khác đều có thể ươm ở những vườm ươm vệ tinh, mà ở đó người trồng rừng có thể tự sản xuất phục vụ cho chính mình, như thế hiệu quả sẽ cao hơn, tiền hỗ trợ trồng rừng cũng đến được với người dân. (Báo Bắc Kạn 4/9) đầu trang(
Trồng rừng đang đem lại hiệu quả thiết thực, là sinh kế lâu dài của đại bộ phận người dân Bắc Kạn. Với việc áp dụng khoa học, công nghệ vào trồng rừng như hiện nay đã rút ngắn thời gian sinh trưởng, chu kỳ khai thác sẽ ngắn hơn nhưng sản lượng lại cao.
Theo quy hoạch Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2009-2015, định hướng đến năm 2020, quỹ đất lâm nghiệp bố trí cho trồng rừng là 388 nghìn héc-ta, trong đó đất cho trồng rừng sản xuất chiếm trên 268 nghìn héc-ta. Như vậy trồng rừng sẽ được thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài. Muốn vậy phải giải quyết tốt những bất cập hiện nay.
Trước hết cần đổi mới trong xây dựng kế hoạch trồng rừng từ tỉnh đến cơ sở. Hiện nay, sau khi kết thúc vụ trồng rừng UBND tỉnh ra quyết định tạm giao kế hoạch cho vụ trồng rừng năm sau để các địa phương triển khai. Trên cơ sở số diện tích kế hoạch tạm giao đó huyện triển khai đến xã, xã xuống thôn, thôn phổ biến đến các hộ dân rồi tiến hành đăng ký.
Tuy nhiên kế hoạch này còn có sự điều chỉnh bởi không phải địa phương nào cũng thực hiện được như dự kiến bởi hiện nay kế hoạch trồng rừng của tỉnh phụ thuộc lớn vào sự đăng ký của người dân,  thực tế đã phát sinh những bất cập  thiếu chủ động trong quá trình triển khai.
Ngành chức năng chuyên môn cần thực hiện tốt công tác kế hoạch để tham mưu cho UBND tỉnh một cách chính xác. Khâu này tỉnh ta đang yếu, dẫn đến kế hoạch không chặt chẽ, đồng bộ, thậm chí “vênh” giữa khâu giống và thiết kế trồng rừng. Nếu chỉ căn cứ theo số liệu dân đăng ký  trồng bao nhiêu thì thôn thống kê báo cáo lên bằng đấy thì các Ban quản lý dự án bảo vệ & Phát triển rừng các địa phương, đơn vị chưa làm hết chức năng.
Thiết nghĩ việc xây dựng kế hoạch để vừa nâng cao tính chủ động, vừa sát với thực tế, các địa phương cần rà soát lại quỹ đất quy hoạch cho trồng rừng hàng năm, xác định diện tích có khả năng trồng là bao nhiêu, sau đó giao diện tích trồng rừng cho từng xã, trồng cây gì cũng chỉ đạo cụ thể ngay; nếu xã nào vẫn còn diện tích mà dân không trồng cần đề xuất điều chỉnh giao diện tích đất đó cho các hộ khác sử dụng trên cơ sở phù hợp với quy định của Luật Đất đai.
Trên thực tế có nhiều hộ dân muốn trồng rừng nhưng không có đất, hộ có đất lại không trồng vì nhiều lý do trong đó một lý do phổ biến là thiếu nhân lực. Vậy nhà nước giao đất cho các hộ dân để nếu không khai thác sản xuất sẽ dẫn đến lãng phí, cần điều chỉnh.
Một vấn đề tiếp theo đó là sự cam kết thực hiện trồng rừng trên cơ sở đã đăng ký của người dân hiện nay chưa được chặt chẽ, thiếu tính ràng buộc nên rất khó xử lý khi họ bỏ diện tích. Do vậy ngành chuyên môn cần tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng quy định cụ thể đối với vấn đề này để gắn trách nhiệm của người dân hơn nữa. Song song với việc có quy định cụ thể các cấp chính quyền địa phương từ thôn bản phải vào cuộc, nắm bắt khả năng thực hiện của từng hộ dân, đảm bảo chắc chắn làm được mới cho đăng ký đồng thời kiểm tra giám sát thường xuyên tiến độ thực hiện.
Vấn đề tiếp theo là tổ chức lại việc sản xuất, cung ứng cây giống. Trung bình mỗi năm ngân sách đầu tư hàng chục tỷ đồng để các công ty gieo ươm, vậy mà năm nào cũng dẫn đến tình trạng cây chậm xuất vườn, thiếu chủng loại, tổng số lượng cây thì đủ nhưng khi vào vụ trồng rừng thì loại thiếu, loại thừa, làm hiệu quả trồng rừng thấp và gây lãng phí vốn đầu tư.
Hiện nay việc chuẩn bị cây giống được giao cho các Ban quản lý dự án bảo vệ & phát triển rừng các huyện lo. Các Ban quản lý dự án vừa tổ chức gieo ươm, vừa liên hệ mua giống, thậm chí sang các tỉnh khác mua và hợp thức hóa chứng từ thanh toán với đơn vị đầu mối được phép cung ứng cây giống trên địa bàn tỉnh.
Trong khi các vườn ươm vệ tinh ở các vùng đã được thành lập mấy năm trước hoàn toàn có khả năng gieo ươm cung cấp giống tại chỗ cho người dân. Qua tìm hiểu được biết, các chủ vườn ươm vệ tinh này rất khó tiếp cận với các Ban quản lý dự án để được hợp đồng gieo ươm.
Như vậy cũng có thể dễ hiểu tại sao các Ban quản lý dự án bảo vệ & phát triển rừng các huyện không hợp đồng với các vườn ươm vệ tinh mà “ôm” hết toàn bộ, tự tổ chức gieo ươm và liên hệ mua giống cây khắp nơi, vì giá cây giống ở các tỉnh lân cận như Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang khá thấp do họ có kinh nghiệm sản xuất cây giống nhiều năm cộng với nhân công giá rẻ tại địa phương.
Trồng rừng chất lượng phải có cây giống chất lượng tốt. Nếu cách cung ứng như hiện nay khó có thể đáp ứng được nhiệm vụ đặt ra, không được lòng dân. Đã đến lúc cần hạch toán, tính toán chặt chẽ khâu sản xuất, cung ứng giống. Thậm chí có  thể nghiên cứu lại cách đầu tư trồng rừng. Tại sao không thể nghiệm thu, trả tiền toàn bộ với dân để họ tự lo từ gieo ươm giống đến trồng thành rừng? Việc tập trung tiền trồng rừng vào sản xuất cây giống tại vườn ươm các công ty như hiện nay có vẻ là không hợp lý và hiệu quả cũng không cao. Nếu người dân được tham gia họ sẽ có trách nhiệm hơn.
Tỉnh cần xem xét, chấn chỉnh lại việc cung ứng giống cây trồng rừng cũng như giá giống sao cho hợp lý để vừa đảm bảo chất lượng cây giống, tránh lãng phí tiền của nhà nước, đặt lợi ích của người dân lên trên hết.
Ngày 20.8 UBND tỉnh đã ra quyết định 1391/QĐ-UBND tạm giao kế hoạch trồng rừng 2015 với tổng diện tích 8.000ha gồm 5.100ha rừng sản xuất tập trung; 2.600 ha rừng phân tán và 300ha rừng phòng hộ, đặc dụng. Vậy là một vụ trồng rừng mới lại bắt đầu. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh tế-xã hội mà Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X đề ra có sự đóng góp quan trọng của lĩnh vực nông, lâm nghiệp.
Trong đó, trồng rừng là một chỉ tiêu chủ yếu đã được nghi trong Nghị quyết Đại hộ Đảng bộ lần thứ X, phải tính toán tập trung chỉ đạo thự hiện làm sao cho hiệu quả, đem lại sự phát triển kinh tế bền vững cho tỉnh nhà. (Báo Bắc Kạn 4/9) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng