Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 02 tháng 08 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Cùng với việc diện tích rừng suy giảm, với điều kiện địa hình và mùa khô khắc nghiệt kéo dài, nếu không có những biện pháp bảo vệ nguồn nước phù hợp, sử dụng khôn khéo và hiệu quả, thì Tây Nguyên sẽ đối mặt với nguy cơ thiếu nước ngày càng nghiêm trọng...
Cùng với lệnh đóng cửa rừng Tây Nguyên của Thủ tướng Chính phủ, mới đây Ban Chỉ đạo Tây Nguyên đã phối hợp với Mạng lưới sông ngòi Việt Nam, Trung tâm Con người và thiên nhiên tổ chức một hội thảo “An ninh nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế- xã hội vùng Tây Nguyên”.
Có thể nói, đây là một tín hiệu vui về sự quan tâm của Nhà nước và các cơ quan chức năng, các nhà khoa học đối với vấn đề hết sức quan trọng liên quan đến sự sống của con người đó là nguồn tài nguyên nước - một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá. Vì thế, vấn đề quan trọng bảo tồn các giá trị của rừng Tây Nguyên nhằm "tháo gỡ tận gốc" những thách thức về tài nguyên nước khi mất rừng, trước khi mọi việc trở nên muộn màng.
Trong suốt 4 thập kỷ qua, rừng Tây Nguyên đã bị suy giảm rất nghiêm trọng. Theo số liệu thống kê năm 2015, tổng diện tích rừng còn trên 2,567 triệu héc ta; trong đó rừng tự nhiên chiếm trên 2,253 triệu héc ta, rừng trồng chiếm trên 313.000ha. Các loài gỗ quý cũng suy giảm nghiêm trọng về trữ lượng và diện phân bổ.
Nhiều loại động, thực vật không còn khả năng tái sinh. Sự suy giảm tài nguyên rừng cũng là nguyên nhân chính làm cho khí hậu diễn biến bất thường như hạn hán, lũ quét, mùa khô đến sớm và kéo dài, nhiệt độ trung bình hàng năm tăng lên. Nghiêm trọng hơn, trong tương lai nếu không kịp thời giữ rừng, nguy cơ tài nguyên nước ở Tây Nguyên dần cạn kiệt là điều không thể tránh khỏi.
Rừng Tây Nguyên suy giảm có "bàn tay thảm sát" không thương tiếc của con người. Mặc dù, Nhà nước đã nghiêm cấm và tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng nhưng vì nguồn lợi khổng lồ đem lại mà lâm tặc đã lén lút phá rừng và móc ngoặc với một số ít phần tử cán bộ tha hóa, biến chất để tàn phá rừng.
Bên cạnh đó, một số dự án phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh Tây Nguyên còn có kẽ hở trong quá trình triển khai thực hiện tạo điều kiện kẻ xấu lợi dụng để phá rừng. Đó là tình trạng phát triển thủy điện ồ ạt là những dự án chuyển đổi rừng nghèo sang làm kinh tế... nhưng một số dự án đó đã bị một số tổ chức, cá nhân lợi dụng để thực hiện hành vi phá rừng làm giàu bất chính... Chính những việc làm này góp phần làm tài nguyên rừng suy giảm nghiêm trọng, bên cạnh những nguyên nhân khách quan.
Những năm gần đây, nhiều dự án thủy điện ở Tây Nguyên được khởi công xây dựng rầm rộ. Chúng ta không phủ nhận những lợi ích thiết thực từ các nhà máy thủy điện đã đem lại cho đất nước, cho xã hội. Nhưng chúng ta cũng không đồng tình với việc cho phép xây dựng thủy điện tràn lan, thiếu khoa học, bất chấp, bằng mọi giá mà chưa hề tính tới những hệ lụy của nó. Cứ mỗi một công trình thủy điện được khởi công, cùng đồng nghĩa với việc nhiều cánh rừng, đất đai nằm trong vùng dự án bị mất đi, nhiều dòng sông bị uốn dòng chảy…
Những hệ lụy do thủy điện gây ra đã dẫn đến việc rà soát và giám sát của Quốc hội vào năm 2013 và đã quyết định tạm dừng hơn 400 thủy điện trong phạm vi cả nước vì tính hiệu quả và đặc biệt là tác động đến môi trường. Riêng Tây Nguyên, các tỉnh đã phải xem xét và chấm dứt, loại bỏ ra khỏi quy hoạch 88 thủy điện, riêng tỉnh ta đã loại bỏ 21 thủy điện vì hiệu quả thấp…
Hẳn chúng ta đều biết, tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên rừng và tài nguyên sinh vật là các tài nguyên thiên nhiên lớn nhất và quan trọng nhất của Tây Nguyên. Các nguồn tài nguyên này có quan hệ mật thiết với nhau. Nước là nguồn cung cấp sự sống cho cây rừng, tạo nên sự phong phú cho đất và tính đa dạng sinh học. Rừng có tác dụng bảo tồn nguồn nước và bảo vệ đất, ví như mái nhà sinh thái cho sinh vật rừng. Mất rừng là mất tài nguyên nước.
Với độ cao về địa lý của Tây Nguyên, các lưu vực khác không thể chuyển nước lên Tây Nguyên, mà chính Tây Nguyên còn chia sẻ nước cho các vùng hạ lưu. Muốn đảm bảo cân bằng sinh thái, Tây Nguyên cần giữ lại ít nhất 60% nguồn nước tự nhiên. Do vậy, cần có một chiến lược lâu dài trong quản lý tài nguyên nước ở các khu vực sông, mà muốn làm điều đó thì phải giữ lấy rừng.
Cùng với việc diện tích rừng suy giảm, với điều kiện địa hình và mùa khô khắc nghiệt kéo dài, nếu không có những biện pháp bảo vệ nguồn nước phù hợp, sử dụng khôn khéo và hiệu quả, thì Tây Nguyên sẽ đối mặt với nguy cơ thiếu nước ngày càng nghiêm trọng. Sự gia tăng nhu cầu sử dụng nước, đặc biệt là nước tưới cho nông nghiệp và cây công nghiệp vượt quá khả năng đáp ứng nguồn nước của Tây Nguyên vào mùa khô…
Hội thảo lần này bàn về bảo vệ nguồn tài nguyên nước quý giá cần cho sự sống của con người, cũng chính là bàn về việc gìn giữ rừng ở Tây Nguyên - cái gốc của việc giữ gìn nguồn nước; là bức thông điệp phát đi cảnh báo về nguy cơ an ninh nguồn nước do mất rừng. Bức thông điệp từ hội thảo đã bàn đến những biện pháp phát triển rừng, bảo tồn tài nguyên nước cùng với hệ sinh thái, gắn kết với phát triển kinh tế- xã hội toàn vùng Tây Nguyên. Điều đó cũng nhắc nhở với chúng ta: hãy giữ lấy rừng khi chưa quá muộn. (Báo Kon Tum 1/8) đầu trang(
Những năm qua, ngoài việc tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh trật tự, xã Mường Giôn, huyện Quỳnh Nhai còn quan tâm làm tốt công tác chăm sóc, bảo vệ rừng và phát triển vốn rừng. Qua đó đã góp póp phần nâng tỷ lệ che phủ rừng toàn xã đạt trên 50% tổng diện tích rừng của xã.
Mường Giôn là một trong những xã điển hình của huyện Quỳnh Nhai trong công tác chăm sóc và bảo vệ rừng. Để có được kết quả đó, hàng năm chính quyền xã đã phối hợp với các đoàn thể, ngành chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến Nhân dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của rừng và những nguồn lợi rừng mang lại. Do đó, người dân trong xã đã nhận thức sâu sắc về lợi ích từ rừng nên rất có ý thức giữ rừng, gắn bó với rừng. Hiện nay, toàn xã có gần 19.000 ha đất tự nhiên, trong đó, diện tích đất có rừng trên 8.100 ha; rừng khoanh nuôi tái sinh 3.200 ha, rừng dự án 661 trên 550 ha.
Ông Hoàng Văn Quyền, Chủ tịch UBND xã Mường Giôn, huyện Quỳnh Nhai nói: Trong quá trình triển khai trồng rừng và phát triển rừng của xã Mường Giôn hiệu quả đem lại cho người dân trước hết là đồng bào đồng tình ủng hộ rất cao. Tập thể đã có kế hoạch triển khai và phương án bảo vệ hàng năm, đặc biệt mùa khô hanh đã xây dựng phương án bảo về rừng, có thành lập các tổ và triển khai rộng đến tận cơ sở.
Để công tác bảo vệ và phát triển rừng đạt hiệu quả, năm 2015 chính quyền xã đã thành lập HTX Mường Giôn, bên cạnh những hình thức kinh doanh khác, HTX còn có nhiệm vụ phát triển rừng, tăng độ che phủ rừng. Chỉ tính riêng 6 tháng cuối năm 2015, HTX đã trồng 675 ha, với tỷ lệ cây sống 84%, chủ yếu là cây thông, mỡ, xoan. Theo kế hoạch, từ nay đến năm 2018, HTX sẽ thực hiện dự án trồng 975 ha. Đây là một trong những mô hình HTX trồng rừng được đánh giá là lớn nhất của tỉnh, cùng với đó, đã giải quyết được việc làm cho nhiều lao động địa phương.
Ông Hà Văn Thuân, Trưởng bản Cút, xã Mường Giôn, huyện Quỳnh Nhai cho biết: Từ khi trồng rừng đến nay và bây giờ thấy rừng thế này bà con rất là phấn khởi, hộ nào cũng thế.
Hiện nay, diện tích rừng trên địa bàn xã luôn được bảo vệ, nhiều năm nay đã không có vụ cháy rừng nào xảy ra, kết quả trên đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo của xã từ 45% năm 2010, xuống còn 17% năm 2016.
Ông Hoàng Văn Quyền, Chủ tịch UBND xã Mường Giôn, huyện Quỳnh Nhai cho biết thêm: Năm 2016, hiện nay, xã đang triển khai trồng mới 490 ha, chính quyền xã rất mong các cấp, ngành quan tâm giúp đỡ xã tiếp tục triển khai trồng rừng và phát triển rừng gắn với việc phát triển KT-XH ở địa phương, nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống của nhân dân; đồng thời, bảo vệ môi trường sinh thái của xã.
Với những cách làm thiết thực, cụ thể, xã Mường Giôn được đánh giá là địa phương đứng đầu toàn huyện trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. Trong thời gian tới, xã Mường Giôn sẽ tiếp tục gắn việc phát triển kinh tế, đa dạng các mô hình với việc phát triển rừng, đây là mục tiêu chung của xã và đã được triển khai rộng rãi đến tận cơ sở để phủ xanh những diện tích đất trống đồi núi trọc còn lại. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sơn La 1/8) đầu trang(
Chiều 1-8, Sở NN&PTNT tỉnh Lâm Đồng cho biết vừa điều chuyển các ông Lê Văn Chuyên, Phạm Bá Niên (hạt trưởng và hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Bảo Lâm) về công tác tại Văn phòng Chi cục Kiểm lâm tỉnh.
Hai ông này liên quan đến vụ khai thác gỗ trái phép tại khu vực thủy điện Đồng Nai 5 (thôn 2, xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng) đã được Bộ Công an triệt phá hồi đầu tháng 7 với hàng trăm mét khối gỗ. Cụ thể, hai ông đã thiếu trách nhiệm khi để mất rừng, gây hậu quả nghiêm trọng. (Pháp Luật TP.HCM 2/8) đầu trang(
Thời gian gần đây, trên địa bàn huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, nhiều người dân vì lợi ích trước mắt đã phá rừng tự nhiên để lấn chiếm đất. Công an huyện Cam Lộ vừa tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can lần đầu tiên trên địa bàn tỉnh Quảng Trị về hành vi “Hủy hoại rừng”.
Đối tượng Nguyễn Thanh Sơn ở thôn Phú An 1, xã Cam Nghĩa, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị vừa bị công an huyện Cam Lộ khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Hủy hoại rừng”.
Lợi dụng lô đất trồng rừng của mình gần với lô số 47, thuộc tiểu khu 588 của ông Nguyễn Văn Dạn được UBND xã Cam Nghĩa giao quản lý rừng tự nhiên, phòng hộ, đối tượng Nguyễn Thanh Sơn đã phá hơn 1ha, với mục đích chiếm đất.
Địa bàn hoạt động của các đối tượng thường ở vùng sâu, vùng xa, đường xá đi lại  khó khăn, Khi bị phát hiện thì các đối tượng thường khai báo quanh co để đối phó với lực lượng chức năng.
Trung tá Trần Hữu Long - Đội phó đội cảnh sát hình sự công an huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị cho biết: "Bằng cách này, cách khác, người ta nói  là người khác vào đây phá rừng và người ta làm trước, thấy họ phá xong mà  không trồng, nên chúng tôi vào trồng. Quá trình điều tra gặp rất nhiều khó khăn".
Đã có nhiều vụ phá rừng được lực lượng chức năng phát hiện và xử lý. Tuy nhiên, để hạn chế các đối tượng phá rừng, chiếm đất, cần có sự vào cuộc đồng bộ giữa các ngành.
Đại tá Đào Trọng Tiến - Trưởng công an huyện Cam Lộ, cho biết: “Kiến nghị UBND huyện chỉ đạo các ban ngành chức năng, chính quyền các địa phương, phối hợp, phân loại đất rừng, tăng cường công tác quản lý. Các cơ quan như lâm trường Đường 9 và trung tâm nghiên cứu khoa học Bắc trung bộ, thực hiện quyết định UBND tỉnh Quảng Trị, nên khẩn trương bàn giao dứt điểm đất rừng theo quyết định để ngăn chặn và phòng ngừa hành vi lấn chiếm và xâm hại rừng.”
Có thể nói, việc giao đất, giao rừng cho người dân quản lý là một chủ trương đúng. Chính vì vậy, mỗi một người dân cần có ý thức và các ngành chức năng ở Quảng Trị cũng phải quan quyết liệt hơn trong việc bảo vệ rừng. Nếu không những cánh rừng tự nhiên, phòng hộ này sẻ dần bị xóa xổ, bởi bàn tay tàn phá của con người. (ANTV 1/8) đầu trang(
Chiều 1/8, ông Nguyễn Phú Ban (Giám đốc Sở NN&PTNT TP Đà Nẵng) cho biết, hiện lực lượng kiểm lâm TP. Đà Nẵng vẫn đang trong quá trình điều tra để xem xét việc khởi tố vụ phá rừng ở khu sinh thái Trường Mai (Tiểu khu 63, bán đảo Sơn Trà, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà).
“Hiện lực lượng kiểm lâm đang tiếp tục làm rõ vụ việc. Bên cạnh đó hiện đã cho Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm TP nghỉ việc”, ông Ban nói.
Trao đổi với PV, ông Trần Văn Lương (nguyên Chi cục trưởng chi cục kiểm lâm TP Đà Nẵng) cũng thừa nhận: “Tôi nghỉ việc rồi, giờ đang chữa bệnh”. Theo ông Lương thì ông đã được cho nghỉ việc trước niên hạn.
Trước đó, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Huỳnh Đức Thơ đã chính thức có văn bản yêu cầu giám đốc Sở NN&PTNT chỉ đạo cơ quan Kiểm lâm quyết định khởi tố vụ án hình sự, tiến hành hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án khai thác gỗ rừng trái phép tại khu vực Trường Mai cho cơ quan điều tra theo quy định để xử lý vụ án đúng quy định pháp luật.
Như chúng tôi đã đưa tin, Sở NN&PTNT TP Đà Nẵng đã có báo cáo gửi Thường trực Thành ủy Đà Nẵng về một vụ phá rừng xảy ra tại khu du lịch sinh thái Trường Mai.
Kết quả điều tra ban đầu của lực lượng kiểm lâm cho thấy ông Phạm Trường Mai (28 tuổi, trú phường Thọ Quang) là giám đốc Công ty TNHH MTV Trường Mai (ngành nghề kinh doanh: trồng rừng, chăm sóc rừng trồng; trồng cây ăn quả, hoa, cây cảnh; chăn nuôi gia súc; kinh doanh dịch vụ ăn uống và du lịch sinh thái tại bán đảo Sơn Trà) đã có hành vi khai thác gỗ trái phép trong rừng tự nhiên trong khu kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái Trường Mai.
Theo đó, khu vực khai thác gỗ thuộc tiểu khu 63, nằm trong phạm vi giao khoán của ông Phạm Hùng Mạnh theo hợp đồng khoán 110/HĐGK ngày 19/8/1998 là 18 ha do BQL Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà lập theo Nghị định 01/NĐ-CP ngày 4/1/1995 của Chính phủ.
Ông Mai đã thuê lại khu đất của ông Mạnh để làm khu du lịch sinh thái Trường Mai và có hành vi khai thác gỗ tại đây.
Theo đó, loại rừng bị khai thác là rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, rừng trên đất, sử dụng khác ngoài quy hoạch ba loại rừng thuộc trách nhiệm quản lý của UBND phường Thọ Quang.
Trong báo cáo của Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm thì tổng số cây gỗ rừng tự nhiên đã khai thác với tổng khối lượng tạm tính là trên 63 m3 thuộc nhóm gỗ V,VI và VII gồm các loại: Chò, nhội, dẻ, sồi, lim xẹt… Trong đó có hai cây có khối lượng tạm tính là 12,3 m3 nằm trong phạm vi rừng đặc dụng.
Qua kiểm tra trong nhà kho của Khu du lịch sinh thái Trường Mai có 25 hộp gỗ xẻ các loại có khối lượng trên 3m3, có hồ sơ mua bán nhưng chưa xác định được chủng loại gỗ hiện có so với hóa đơn.
Sau báo cáo trên của Chi cục Kiểm lâm thì Sở NN&PTNT TP Đà Nẵng cũng đã có báo cáo gửi UBND TP Đà Nẵng về vụ việc trên. (Người Đưa Tin/ Đời Sống Và Pháp Luật 1/8; Pháp Luật TP.HCM 2/8) đầu trang(
Một thượng tá Hải quân hơn 20 năm dốc hết sức lực, tiền bạc nhận giao khoán trồng và bảo vệ 33 ha rừng ,nhưng cùng với nhiều hộ dân khác, hiện tại ông bị “chụp” cái mũ “khai thác gỗ rừng trái phép” chỉ vì dọn hơn mười cây bị đổ do mưa bão?
Cùng đường, ông đành thay mặt các hộ dân trồng rừng gửi Đơn kêu cứu đến nhiều cơ quan báo chí khẳng định mình không phá rừng. Sự thật đằng sau câu chuyện bé cố xé ra to này là gì?
Đặc điểm của rừng Bán đảo Sơn Trà là không có các loài gỗ quý hiếm. Phần lớn cây rừng ở đây đều là các loại gỗ tạp, gỗ thông thường từ nhóm V đến nhóm VIII, nên nhiều cây gỗ có tuổi đời trên 15 năm là tự mục lõi, hoặc bị mối mọt xâm hại; Bên cạnh đó, hàng năm rừng Bán đảo Sơn Trà phải hứng chịu rất nhiều cơn bão lớn, hậu quả là rất nhiều cây bị gãy, đổ bật gốc, đặc biệt cơn bão số 11 năm 2013, hàng loạt cây lớn bị gãy, đổ ngổn ngang (ngày đó tôi đã báo cáo cán bộ kiểm lâm).
Nhiều cây bị gãy ngang thân, gãy cạnh, ngọn... khiến cho một thời gian sau cây đó cũng bị chết khô. Do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên như vậy nên rừng ở Bán đảo Sơn Trà chủ yếu là cây tầng thấp, các cây gỗ ở đây đều là gỗ tạp, không có giá trị thương mại.
Năm 1992, Trung đoàn 83 – Công binh Hải quân chọn khu vực Bãi Bắc bán đảo Sơn Trà là điểm dừng chân hành quân dã ngoại, đồng thời đây còn là điểm đợi cơ tàu chiến đấu, khi đó khu vực Bãi Bắc Sơn Trà là vùng núi hoang sơ, cây cối thưa thớt.
Vì vậy, Thượng tá Phạm Hùng Mạnh cùng đồng đội đã tiến hành trồng cây gây rừng và bảo vệ chăm sóc những cây còn lại. Những người chiến sỹ Hải quân này  ý thức được rằng, việc trồng rừng và bảo vệ rừng cũng là một trong những nhiệm vụ chính trị, chỉ có bảo vệ rừng và phát triển rừng thì mới có “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” như nhà thơ Tố Hữu ngợi ca núi rừng trong thơ của mình.
“Năm 1996, đơn vị chúng tôi chuyển quân vào Cam Ranh để đi xây dựng đảo ngoài Trường Sa. Sau đó, Ban bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Sơn Trà ra khu vực này kiểm tra, và động viên chúng tôi làm thủ tục xin nhận giao đất trồng rừng theo Nghị định 01/CP ngày 04/01/1995 của Chính phủ. Chúng tôi nhận thấy việc nhận giao khoán đất trồng rừng theo Nghị định 01/CP của Chính phủ là chủ trương đúng đắn về phát triển, bảo vệ rừng và đây là cơ hội để các gia đình chúng tôi có điều kiện phát triển kinh tế vườn rừng. Vì vậy, theo hướng dẫn của Ban BTTN Sơn Trà, chúng tôi đã làm đơn, xin xác nhận của đơn vị, rồi gửi Ban BTTN Sơn Trà để làm các thủ tục nhận giao khoán đất.
Sau đó, Ban BTTN Sơn Trà đã ký “Hợp đồng giao khoán đất để trồng rừng và phát triển kinh tế vườn” với các hộ chúng tôi, thời hạn là 50 năm. Đến nay đã, chúng tôi đã chăm sóc, bảo vệ và phát triển trồng mới được nhiều hécta rừng. Để có được hàng trăm hécta rừng tại Bán đảo Sơn Trà xanh tốt như ngày hôm nay, và được coi là lá phổi xanh của Thành phố, không thể không kể đến công lao, tiền của và không biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt, tâm huyết của các gia đình chúng tôi đã dồn vào đó.” ông Mạnh nêu rõ quá trình giao nhận khoán đất của mình trong đơn.
Mọi chuyện bắt đầu khi Chi cục kiểm lâm thành phố Đà Nẵng thực hiện ý kiến chỉ đạo của Giám đốc Sở NN và PTNT thành phố Đà Nẵng thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra tại tiểu khu 63, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà  phát hiện nhiều cây gỗ bị chặt hạ trong rừng với tổng số khối lượng ước chừng 63,4 m3 gỗ.
Qua xác minh, tổng số cây đã khai thác là 16 cây, đường kính gốc từ 15 cm đến 143 cm; trong đó có một cây bị bật gốc, ngã tự nhiên không rõ nguyên nhân và một cây có đường kính gốc chính 140 cm gồm hai thân trong đó một thân đường kính 75 cm bị gãy ngã tự nhiên không rõ nguyên nhân. Chủng loại gỗ thuộc gỗ thông thường (gỗ tạp) nhóm V, VI, VII gồm các loại: chò đen, nhội, dẻ trắng, sồi trắng, lim xẹt và lòng mang lá lớn. Báo cáo kết quả kiểm tra của Đoàn đã đánh giá vi phạm này là nghiêm trọng nên báo cáo xin ý kiến xử lý.
Làm việc cùng ông Phạm Hùng Mạnh, ông cho biết: “khi nhận giao khoán, tất cả các hợp đồng ký kết giữa ông và Ban quản lý Khu BTTN Sơn Trà, TP Đà Nẵng đều ghi rõ là giao đất, chứ không phải giao rừng. Suốt 23 năm trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng tôi chỉ ghi nhận có 25 trường hợp cây đổ do bão, mối ăn rỗng và nguyên nhân tự nhiên. Các cây này đổ đè lên phần cây trồng giá trị của hộ nhận khoán nên tất yếu phải thu dọn. Hơn nữa, vì khu đất đã ký hợp đồng liên doanh làm khu du lịch sinh thái nên một số cây có nguy cơ đổ phải dọn ngay để tránh tai nạn cho du khách thăm quan”.
Không chỉ dọn cây sắp đổ, ông Mạnh còn cho trồng thay thế vào đó hàng ngàn cây có giá trị để thay thế, tạo cảnh quan đẹp, đồng thời quy hoạch tốt để phòng chống cháy rừng. Ông Mạnh cũng cho biết thêm: “Trong quá trình bảo vệ, chăm sóc và phát triển rừng, để tạo cảnh quan sinh thái, để phòng chống cháy rừng và cũng là để an toàn cho những du khách đến tham quan vườn rừng, tránh để những cây chết khô đổ, gãy rất dễ gây tai nạn, tôi đã cho người vệ sinh, thu dọn một số cây gỗ đổ, gã, cây chết đứng. Đối với một số cây đổ, gã chắn ngang lối đi, tôi cho cắt khúc và xếp gọn ngàng cạnh đó. Đối với một số cây chết đứng có nguy cơ đổ gãy bất cứ lúc nào, tôi cho cắt hạ và cũng xếp gọn cạnh gốc.
Tất cả các khúc gỗ đều còn nguyên ở tại hiện trường, các đoàn kiểm tra cũng đã đo đếm rồi, chứ tôi chưa hề vận chuyển một khúc gỗ, thậm trí là một mẩu gỗ nhỏ nào ra khỏi rừng. Đối với những cây gỗ này các đoàn thanh tra, kiểm tra đều biết rất rõ, chúng đều là cây gỗ khô, không phải gỗ tươi và cũng không có giá trị kinh tế thương mại. Trước hiện trường như vậy, có người trong đoàn kiểm tra đã chia sẻ với tôi rằng việc này đúng là: “tình ngay lý gian”.
Một người chiến sỹ Hải quân với 37 năm công tác trong quân đội phục vụ chủ yếu tại quần đảo Trường Sa, dốc cả tiền bạc, sức lực để trồng, bảo vệ 33 ha rừng suốt 23 năm qua nay có thể bị coi là phá rừng khi dọn hơn mười cây bị đổ do mưa bão?
Dưới tán rừng này, gia đình Thượng tá Phạm Hùng Mạnh đã đầu tư trồng hơn 30 ha cây sâm cau đang đợi ngày thu hoạch; Mấy năm vừa ông cũng đã trồng hơn 3.000 cây sưa đỏ, hàng nghìn cây bầu gió nhưng sưa đỏ thì hiện đang phát triển rất tốt, còn bầu gió có lẽ do khí hậu thổ nhưỡng ở khu vực này không hợp nên phát triển chậm và không có tinh dầu. Ngoài ra ông Mạnh cùng gia đình còn trồng rất nhiều keo và nhiều loại cây ăn trái có giá trị kinh tế. Với bao nhiêu tâm huyết, tài sản như vậy, ông có cần đánh đổi tất cả vì mấy cây gỗ tạp?
Một trong những điểm mà Đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra tại tiểu khu 63, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà phát hiện là hơn 3 khối gỗ tại kho của Cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch Trường Mai.
“Theo báo cáo kết của các cơ quan chức năng, qua kiểm tra phát hiện tại kho của Công ty Trường Mai (đây là Cở sở liên kết, liên doanh với chúng tôi để trồng rừng, bảo vệ và phát triển rừng, trồng cây dược liệu, kết hợp khai thác dịch vụ vườn rừng) có cất giữ 3,6 m3 gỗ xẻ các loại và tại hiện trường rừng có 25 cây bị đổ, có đường kính từ 15 cm đến 143 cm, trong đó có 13 cây có tác động của con người (cưa, cắt), khối lượng của 13 cây này được tạm tính là 39,4 m3… Tất cả đều là gỗ tạp, thuộc nhóm V, VI, VII. Và hiện tại chưa có cơ sở chứng minh số cây rừng nói trên là bị gãy đổ, chết khô do gió bão hay do con người chặt hạ trái phép. Tuy nhiên trên cơ sở đó, Hạt kiểm lâm liên quận Sơn Trà – Ngũ Hành Sơn đã vội vàng kết luận rằng: chúng tôi có hành vi mua bán lâm sản trái phép; khai thác rừng đặc dụng trái phép vi phạm điều 12 của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004; đã gây hậu quả vượt mức tối đa xử phạt vi phạm hành chính…; gây thiệt hại có mức độ là rất nghiêm trọng…” Ông Mạnh bức xúc nêu trong Đơn
“Còn đối với số lượng gỗ hơn 3,6 m3 theo báo cáo nói là phát hiện ở trong kho của Cơ sở Trường Mai, tôi xin trình bày như sau: Số gỗ nói trên là gỗ thành phẩm (đã được chế biến đóng thành đồ dùng) bao gồm 01 bộ phản gỗ, 04 mặt bàn dài và nhiều thanh gỗ làm mặt ghế. Tất cả số sản phẩm nói trên được làm từ gỗ Quỷnh đỏ và Sao xanh. Tôi mua các sản phẩm này của Công ty TNHH TM DV Mai Phước Tiến và Công ty TNHH MTV Đại Phú Sinh về để sử dụng. Tất cả số hàng trên đều có hóa đơn chứng từ ràng và tôi đã xuất trình với đoàn kiểm tra”.
Như đã phân tích ở trên, đặc điểm của rừng Bán đảo Sơn Trà là không có các loài gỗ quý hiếm. Phần lớn cây rừng ở đây đều là các loại gỗ tạp, gỗ thông thường từ nhóm V đến nhóm VIII và rừng bán đảo Sơn Trà không có hai loại gỗ Quỷnh đỏ và Sao xanh nói trên. Như vậy, trình bày của ông Mạnh là có cơ sở, ông không khai thác rừng đặc dụng trái phép để làm đồ gia dụng.
Đối chiếu trình bày của ông Phạm Hùng Mạnh và tài liệu thu thập được, đặc biệt là Báo cáo ngày 30/8/2010 của Chi cục kiểm lâm TP Đà Nẵng thì có thể thấy Đơn kêu cứu của ông Mạnh là có cơ sở. Theo đó, Chi cục kiểm lâm TP Đà Nẵng xác nhận nguồn gốc đất do ông Mạnh quản lý là giao khoán theo nghị định 01/CP ngày 04/01/1995 của Chính phủ ban hành quy định về giao khoán sử dụng đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước.
Năm 1997, 1998 ông Phạm Hùng Mạnh có nhận khoán trồng rừng 33 ha tại Tiểu khu 55 cũ (nay là tiểu khu 63, Bán đảo Sơn Trà, TP Đà Nẵng). Thủ tục giao khoán 15 ha và 18 ha để trồng rừng và phát triển kinh tế vườn do Ban quản lý Khu BTTN Sơn Trà, TP Đà Nẵng giao năm 1997, 1998 … Các tài liệu khác đều thể hiện các hộ dân nhận khoán đất trồng rừng tại khu vực trong đó có hộ ông Phạm Văn Mạnh đều chăm sóc, bảo vệ tốt rừng suốt 23 năm qua.
“Là người trong cuộc, tôi hiểu rằng trong vụ việc này có nhiều điều không bình thường. Không phải bỗng dưng mà một số phóng viên báo, đài đặc biệt quan tâm đến vụ việc này và phản ánh nhiều nội dung không khách quan, không đúng bản chất vụ việc; làm nghiêm trọng hóa vấn đề và thổi phồng sự việc. Tôi nghi ngờ rằng đằng sau các phóng viên báo chí là một bàn tay vô hình nào đó và tất cả mọi việc họ đã và đang làm đều có động cơ và mục đích.
Do có khả năng sẽ bị oan sai, nên bằng lá đơn này chúng tôi kính đề nghị các cơ quan chức năng có thẩm quyền xem xét xác minh, làm rõ bản chất sự việc xem ở đây có việc phá rừng như báo chí phản ánh hay không, để trả lại sự trong sạch cho những con người như chúng tôi đang dồn công sức, tiền của gia đình để bảo vệ, chăm sóc lá phổi xanh của Thành phố và nay mang là kẻ phá rừng”. Ông Mạnh nêu rõ trong Đơn.
Một người chiến sỹ Hải quân với 37 năm công tác trong quân đội phục vụ chủ yếu tại quần đảo Trường Sa, dốc cả tiền bạc, sức lực để trồng, bảo vệ 33 ha rừng suốt 23 năm qua nay có thể bị coi là phá rừng khi dọn hơn mười cây bị đổ do mưa bão? Phải chăng đây là chuyện bé xé ra to hay đằng sau nó là một câu chuyện khác? (Pháp Luật + 2/8) đầu trang(
Ông Đinh Hợp, Chủ tịch UBND xã Thượng Trạch (Bố Trạch, Quảng Bình) cho rằng, cứ cạo trắng rừng vùng đệm để trồng cao su sẽ sinh ra nhiều hệ lụy...
Chẳng hạn như mất đất, sông suối khô cạn không còn nước, thậm chí khuyến khích bà con phá rừng làm rẫy...
Dự án trồng cao su của Cty TNHH Minh Trí được UBND tỉnh Quảng Bình phê duyệt với gần 170ha tại các tiểu khu 291, 295 ở vùng đệm sát với rừng của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (địa phận xã Thượng Trạch). Từ tháng 4, công ty đã thuê nhân lực phát rừng, cưa cây, đẵn gốc để triển khai trồng cây cao su.
Vùng rừng nằm sát đường này rộng trên 300ha giữa các bản Me Lỳ, Cu Tồn và Cồn Roàng của xã Thượng Trạch. Nơi đây có độ dốc lớn, trước vốn là rừng nguyên sinh, sau bị khai thác làm rẫy. Bà con dân tọc Ma Coong thường làm vài mùa rẫy rồi bỏ đất hoang, lau lách mọc. Để hoang vài năm, bà con lại phát cây làm rẫy, cứ như vậy xoay vòng.
Xen giữa rừng lau lách bụi rậm là những khoảnh rừng nguyên sinh chủ yếu là cây săng lẻ, lát hoa... đứng vững trãi qua cả trăm năm. Nhiều cây hai, ba choàng tay người lớn, cao ba, bốn chục mét. Theo ông Đinh Hợp, diện tích rừng nguyên sinh này còn khá lớn, do bà con dân tộc khi phát rẫy để lại và bảo vệ không cho người lạ vào chặt phá.
Đáng ra, với diện tích rừng nguyên sinh này, Sở NN-PTNT Quảng Bình khi làm quy hoạch cho doanh nghiệp chuyển đổi rừng sang trồng cao su phải giữ lại, bảo vệ nghiêm ngặt. Nhưng thay vì bảo vệ, cơ quan chức năng đã gật đầu cho doanh nghiệp khai thác. Một cán bộ Cty Minh Trí cho biết năm nay, họ làm sạch khoảng 35ha rừng trồng cao su.
Gỗ khai thác được chuyển về xuôi để bán. Hỏi về số lượng gỗ Cty Minh Trí khai thác đi qua trạm kiểm soát 39 (Hạt Kiểm lâm Phong Nha - Kẻ Bàng), anh Từ Minh Phương là trạm trưởng cho biết, phía công ty vận chuyển 10 xe ô tô lớn với trên 210m3 gỗ từ nhóm 1 đến nhóm 7, "trong đó, chủ yếu là gỗ săng lẻ thuộc nhóm 3".
Chưa hết, tại khu vực đóng quân của đơn vị (xã Thượng Trạch) cũng đang còn hàng chục m3 gỗ nằm ngổn ngang. Như vậy, một lượng gỗ rừng tự nhiên không hề nhỏ đã được các cơ quan chức năng tỉnh Quảng Bình hợp lý hóa cho doanh nghiệp khai thác. Trong khi đó, việc đóng cửa rừng đã được Chính phủ chỉ đạo triệt để.
Chúng tôi băng rừng trong cơn mưa đổ về xối xả do ảnh hưởng của cơn bão số 1. Đám vắt rừng nghe hơi người ngóc dậy bám theo. Tôi khom người chui qua một bụi cây rậm, vắt xanh đu mình búng trúng chiếc mũ cối đội trên đầu nghe lộp bộp.
Trong khoảnh rừng vài trăm m2 có đến 15 cây gỗ cao lớn. Có cây săng lẻ cổ thụ phải đi vòng quanh choàng ba lượt sải tay mới hết. Gần đó, một chòm ba cây cổ thụ nữa đứng thẳng hàng, vút ngọn lên trời xanh.
Chỉ tay vào một gốc cây cổ thụ, anh Tri là cán bộ vườn nói: "Tất cả những cây gỗ này đều có dấu bài ở gốc. Có nghĩa là, thời gian tới, công ty sẽ cưa cắt để lấy gỗ bán".
Theo ông Ngô Đình Hà, Giám đốc Cty Minh Trí thì để có được quyết định giao đất của UBND tỉnh, công ty đã phải chi gần 2 tỷ đồng cho việc khảo sát, thiết kế diện tích rừng chuyển đổi này.
Chỉ sau một ngày mưa là con suối Cà Ròng chảy trước trụ sở UBND xã Thượng Trạch chuyển màu đỏ ối. Ông Đinh Cu nhà ở gần suối nói: "Trước đây dù mưa dài ngày thì suối cũng không có màu đỏ rứa. Nay công ty làm sạch cây trên đất đồi nên đất đổ về làm nước suối đổi màu như vậy".
Theo lãnh đạo Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng thì việc chuyển đổi rừng vùng đệm di sản phải có sự tham gia của vườn. Tuy nhiên, vườn không hề hay biết gì. "Vườn chúng tôi chỉ được mời tham gia trong hội đồng giám sát việc vận chuyển gỗ khai thác ra khỏi rừng mà thôi", vị lãnh đạo vườn nói.
Chúng tôi đi theo con đường chạy thẳng tới các bản Cu Tồn, Cồn Roàng. Hai bên đường, bà con đã phá rừng để làm nương rẫy. Theo quan sát thì có đến hàng chục ha rừng bị chặt, đốt để trở thành rẫy mới. Có khoảng rừng cây mới chặt nằm ngổn ngang, có khoảng đã đốt cháy khói còn bốc lên ngùn ngụt.
Xa hơn một chút là khoảng đất mà trước đây là rừng đã được dọn sạch và đợi mưa xuống nhiều là bà con gieo trồng. Điều đáng nói là hiện tượng này chưa được chính quyền ngăn chặn. Anh Đinh V, một người dân ở bản Cu Tồn nói: "Bên công ty phá rừng lấy hết rẫy củ của chúng tôi rồi. Không biết làm răng cả, giờ bà con phải phát rừng làm rẫy mới thôi". (Nông Nghiệp Việt Nam 2/8) đầu trang(
Sáng 1-8, tại Bộ CHQS tỉnh Gia Lai, Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã tổ chức hội nghị sơ kết kế hoạch đấu tranh chống buôn lậu gỗ trên địa bàn biên giới các tỉnh Tây Nguyên, Bình Phước, Quảng Nam, Nghệ An, Quảng Trị và triển khai thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc đóng cửa rừng tự nhiên ở địa bàn Tây Nguyên, giai đoạn 2016-2020.
Trung tướng Lê Chiêm, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đến dự và chỉ đạo hội nghị.
Báo cáo tổng hợp và các ý kiến phát biểu tại hội nghị khẳng định, trước tình trạng khai thác, buôn lậu, vận chuyển trái phép gỗ qua biên giới rất phức tạp, Bộ đội Biên phòng đã triển khai nhiều kế hoạch nghiệp vụ nhằm đấu tranh, chống buôn lậu gỗ. Phương thức, thủ đoạn của các đối tượng buôn lậu, vận chuyển gỗ trái phép thường là móc nối với đối tượng ở ngoại biên, tập kết gỗ gần biên giới với số lượng lớn, lợi dụng điều kiện tự nhiên về địa hình, thời tiết và sơ hở trong tuần tra kiểm soát của lực lượng chức năng 2 bên biên giới để chuyển gỗ về Việt Nam.
Doanh nghiệp lợi dụng chức năng được phép kinh doanh, nhập khẩu, tận thu gỗ để hợp thức hồ sơ, quay vòng hóa đơn nhằm vận chuyển về Việt Nam. Lợi dụng xe chở khách, xe hàng qua lại nước bạn, đối tượng gia cố, chế tạo ngăn thùng xe bí mật cất giấu gỗ quý.
Bộ chỉ huy Biên phòng các tỉnh đã phối hợp với các cơ quan chức năng tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn kịp thời một số vụ vi phạm quy chế biên giới. Các đơn vị Bộ đội Biên phòng đã độc lập, chủ trì và phối hợp phát hiện, bắt giữ, xử lý 112 vụ/98 đối tượng. Tang vật tạm giữ: Hơn 2.100m3 gỗ, 19 ô tô, 6 xe máy cày độ chế, 2 máy ủi, 6 thuyền, 1 cưa máy... với trị giá tang vật khoảng 18,2 tỷ đồng.
Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Trung tướng Lê Chiêm biểu dương các lực lượng đã thực hiện có hiệu quả công tác phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép lâm sản qua biên giới. Trung tướng Lê Chiêm đánh giá kết quả mà các lực lượng đạt được là rất lớn. Nếu để mất diện tích rừng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế-xã hội các tỉnh Tây Nguyên cũng như những địa phương khác, đồng thời còn ảnh hưởng đến cả hoạt động quân sự.
Trên tinh thần hội nghị, Trung tướng Lê Chiêm đề nghị lãnh đạo các địa phương tổ chức để lực lượng Biên phòng, Kiểm lâm, Công an, Hải quan kiểm điểm việc thực hiện quy chế phối hợp trong thời gian qua. Trong đó, xem xét nghiêm túc nếu có cán bộ nào vi phạm đề nghị xử lý nghiêm; sẵn sàng thay thế cán bộ nếu cảm thấy không đảm đương được trách nhiệm.
Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng chủ động triển khai đến tất cả cán bộ, chiến sĩ, trước hết trong lãnh đạo các bộ chỉ huy biên phòng tỉnh để nghiêm túc thực hiện. Bên cạnh đó, lãnh đạo địa phương cùng với biên phòng, kiểm lâm kiểm tra, đánh giá lại diện tích rừng ở khu vực biên giới. Đồng thời, ngăn chặn việc đưa gỗ, lâm sản trái phép từ Lào, Cam-pu-chia về Việt Nam. Các lực lượng chức năng phải tăng cương phối hợp chặt chẽ để hoàn thành nhiệm vụ Chính phủ giao trong bảo vệ, phát triển rừng.
Cũng tại hội nghị, Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã trao bằng khen tặng 3 tập thể và 5 cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ. (Quân Đội Nhân Dân 1/8) đầu trang(
Tỉnh Lâm Đồng đã thành lập Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang (tên tiếng Anh là Management Board of Langbiang World Biosphere Reserve, viết tắt là Langbiang BR).
Tỉnh cũng thành lập Hội đồng tư vấn Khu dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang với 11 thành viên, trong đó có 7 thành viên là các giáo sư, tiến sỹ đến từ Mỹ, Đức, Nhật Bản, Australia.
Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Trưởng Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang, tiến sỹ Phạm S, nhấn mạnh trong quá trình hoạt động, Khu dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang ưu tiên đảm bảo hài hòa giữa con người và sinh quyển, cảnh quan thiên nhiên.
Trên cơ sở các hoạt động hoa học hợp lý, việc đầu tiên của Ban quản lý là tăng cường các hoạt động truyền thông cho nhân dân, các tổ chức, chính quyền liên quan và cả du khách. Ưu tiên thứ 2 là triển khai thực hiện các giải pháp nghiên cứu khoa học và bảo tồn đa dạng sinh học.
Ưu tiên tiếp theo là hoạt động hợp tác quốc tế. Trong hợp tác quốc tế, Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang đã chọn Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) để hỗ trợ xây dựng hệ thống quản lý, hoạt động và phát triển.
Đánh giá rất cao giá trị bảo tồn thiên nhiên và văn hóa của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang, cố vấn trưởng dự án JICA, ông Hiroshi Miyazono nhấn mạnh Chính phủ Việt Nam đã có chương trình và mục tiêu cụ thể, rõ ràng là đến năm 2020, độ che phủ rừng sẽ đạt tỷ lệ 45%.
Việt Nam không chỉ quan tâm đến rừng theo khu vực địa lý mà còn quan tâm đến duy trì bảo tồn hệ sinh thái. Khu dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang là nơi thuận lợi để thực hiện điều đó.
Khu dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang có diện tích lên tới 275.439ha, trong đó vùng lõi là 34.943ha, chủ yếu thuộc địa phần thành phố Đà Lạt và huyện Lạc Dương. Diện tích rừng thông 2 lá dẹt và rừng lùn trên vùng địa hình đối, bán bình nguyên chiếm hơn 60% tổng diện tích rừng của Khu dự trữ.
Bên trong Khu dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang có 1940 loài thực vật thuộc 825 chi và 180 họ thuộc 4 ngành; có 748 loài động vật thuộc 507 giống, 123 họ, 6 lớp.
Cả hệ thống động thực vật của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang đều có rất nhiều loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và thế giới, nhiều loài đặc hữu, có giá trị bảo tồn cao.
Ông Oda Kensei, Cố vấn trưởng hợp phần đa dạng sinh học, dự án JICA cho biết dự án Quản lý thiên nhiên bền vững của JICA đang thực hiện tại Việt Nam có 4 hợp phần; trong đó, JICA muốn hướng đến Khu dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang thực hiện hợp phần thứ 3 là bảo tồn đa dạng sinh học.
Chương trình sẽ xây dựng một hệ thống từ bộ ngành đến chính quyền cơ sở đến các yếu tố điều phối, thực thi các quy định, giám sát diễn tiến rừng.
Mục tiêu của hợp phần là Hệ thống quản lý hệ sinh thái tổng hợp và hợp tác được thiết lập để quản lý và bảo tồn Khu dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang; tạo khung thể chế cần thiết cho quản lý và vận hành Khu dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang; thỏa thuận quản lý hợp tác như là một công cụ bảo tồn các hệ sinh thái rừng tại vùng lõi và vùng đệm của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang.
Các kết quả theo dõi diễn biến rừng và giám sát đa dạng sinh học được sử dụng cho việc quản lý vùng lõi và vùng đệm của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang. Dự kiến, hợp phần này sẽ được thực hiện đến năm 2020.
Bên cạnh đó, vấn đề gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống của những tộc người bản địa còn sinh sống bên trong rừng nhưng vẫn đảm bảo sự phát triển của con người, xã hội cùng với việc bảo tồn sự đa dạng sinh học, vùng rừng đang được tỉnh Lâm Đồng và Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang chú trọng xây dựng chương trình hành động cụ thể bằng những hoạt động sản xuất nông nghiệp thân thiện, du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học-giáo dục về thiên nhiên... (Vietnam + 2/8) đầu trang(
Không có người mua - Không còn kẻ giết” là chương trình bảo tồn động vật hoang dã toàn cầu của Tổ chức Cứu trợ hoang dã (WildAid), thông qua các chiến dịch truyền thông, nhằm thay đổi nhận thức sai lầm của công chúng về việc sử dụng các sản phẩm từ động vật hoang dã, từ đó hạn chế việc săn bắn và buôn bán những sản phẩm này trên toàn cầu.
Chương trình đã nhận được sự hỗ trợ từ những nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn trên nhiều lĩnh vực: Thái tử Charles, Hoàng tử William, diễn viên Leonardo DiCaprio, Thành Long, siêu sao bóng đá David Beckham… và nhiều hãng thông tấn lớn trên thế giới.
Tại Việt Nam, với sự hợp tác của Trung tâm hành động và liên kết vì môi trường và phát triển (CHANGE) và WildAid cùng sự hỗ trợ của nhiều đối tác, chiến dịch “Chấm dứt sử dụng sừng tê” đã được khởi động vào năm 2014 và nhận được rất nhiều sự quan tâm từ cộng đồng và thu được nhiều kết quả khả quan.
Từ năm 2016, chương trình mở rộng sang dự án cứu tê tê - loài động vật có vú bị buôn lậu nhiều nhất trên thế giới, nhưng ít được chú ý. Trong suốt thập kỷ qua, số lượng tê tê hoang dã đã giảm một cách đáng báo động và đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng vì nạn buôn bán trái phép ở Việt Nam - một trong những thị trường tiêu thụ tê tê nhiều nhất thế giới.
Theo đó, lễ công bố dự án "Tê tê có còn phê?" đã được tổ chức vào ngày 29.7.2016 tại Hà Nội với các đại diện từ Chính phủ, báo chí, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội dân sự và 3 đại sứ thiện chí MC/ diễn viên Trấn Thành, Hoa hậu Phạm Hương và ca sĩ Thu Minh. (Lao Động Thủ Đô 2/8) đầu trang(
Sau hơn nửa năm hoạt động, Vinpearl Safari Phú Quốc - vườn thú bán hoang dã đầu tiên tại Việt Nam - đã thực sự trở thành "ngôi nhà thứ hai" của các loài thú quý từ khắp nơi trên thế giới và bắt đầu đón thế hệ F1.
Đặc biệt, loài hổ quý hiếm Bengal vừa liên tục cho ra đời hai cặp hổ con khoẻ mạnh. Đây là tin vui đối với các nhà chuyên gia trong ngành và những người quan tâm tới loài động vật quý hiếm này.
Tại Vinpearl Safari, loài hổ quý châu Á Bengal được các bác sỹ thú ý chăm sóc thường xuyên. Nhờ đó, ngay khi cặp hổ cái C8 và C9 có sắp tới kỳ sinh sản, các bác sỹ đã nhanh chóng nhận ra. Kế hoạch cho hổ Bengal phối giống tự nhiên đã được “lên lịch” ngay lập tức, tất cả bác sĩ và nhân viên vườn đều trong trạng thái "trực chiến" 24/24h.
Sau 102 ngày kể từ thời điểm bắt đầu phối giống, 2 cô hổ Bengal cái đã mang thai được tách ra khu riêng. Và ngày 1-6, cô hổ cái C9 đã sinh được hai chú hổ con - được các bác sĩ đặt tên là Phú và Quốc. 8 ngày sau đó, cô hổ C8 cũng sinh một cặp hổ con là Hiếu và Thảo.
Các bé hổ được chăm sóc với chế độ đặc biệt, cứ 3 giờ một lần được cho bú bằng sữa dành riêng cho thú họ mèo. Điều kỳ diệu đã xảy ra: chỉ sau ngày thứ 4 các bé hổ đã mở mắt. Đến tuần tuổi thứ 3 các bé đã bắt đầu biết quen lạ, biết đùa nghịch, biết mừng khi gặp người chăm sóc.
Không chỉ Hổ Bengal mà hàng loạt các loài động vật quý hiếm cũng đang được bác sỹ và nhân viên Vinpearl Safari Phú Quốc giúp sinh sản thành công. Trong đó phải kể tới 01 chú linh dương vằn Bongo, 04 mèo đồng cỏ Châu Phi, 01 chuột túi xám (Grey Kangaroo) - loài có kiểu sinh sản cực kỳ khó dự đoán vì sau khi giao phối thành công, con mẹ sẽ nuôi phôi non ngay trong túi bụng của mình. Ngoài ra, Thiên nga đen ngoại nhập cũng đã đẻ và trứng đang được ấp bằng máy ấp hiện đại, dự kiến nở sau 28 ngày.
Công viên chăm sóc và bảo tồn động vật Vinpearl Safari Phú Quốc hiện là môi trường sống lý tưởng của rất nhiều loài động vật quý hiếm trong khu vực và trên thế giới. (inf 1/8) đầu trang(
Sáng 1/8, thông tin từ Hạt kiểm lâm huyện Nông Cống (Thanh Hóa) cho biết, sau khi đọc được thông tin trên báo về việc một tài khoản Facebook đăng ảnh giết khỉ khoe “chiến tích”, đơn vị này đã vào cuộc điều tra, xác minh.
Lực lượng kiểm lâm xác định, nam thanh niên có tài khoản Facebook Kubin Remix đăng hình ảnh giết khỉ tên là Cao Tuấn Anh (ngụ xóm 6, xã Tân Khang, huyện Nông Cống).
Lực lượng kiểm lâm đã xuống nhà Tuấn Anh để kiểm tra nhưng trong nhà không có khỉ hay các hoạt động liên quan đến giết thịt loài động vật này.
Theo lời khai của Tuấn Anh, những hình ảnh được tung lên mạng là có thật. Những bức ảnh trên được anh chụp lại khi sang nhà vợ chơi và thấy nhà hàng xóm đang chuẩn bị giết khỉ nấu cao nên chụp lại đăng lên Facebook để “ra oai” với bạn bè.
Từ lời khai của Tuấn Anh, lực lượng kiểm lâm đã tìm đến nhà ông Lê Văn Sáu (ngụ thôn 1, xã Tân Phúc) và bắt quả tang gia đình ông Sáu đang tổ chức nấu cao khỉ.
Ông Sáu thừa nhận việc mình giết 3 cá thể khỉ để nấu cao. Số khỉ trên được ông mua lại của 1 người trong tận miền Nam. Hiện cơ quan chức năng đã niêm phong nồi cao khỉ, đồng thời đưa tang vật về hạt kiểm lâm phục vụ công tác điều tra. (Vietnamnet 1/8) đầu trang(
Từ nhiều năm nay, tình trạng buôn bán động vật hoang dã trái phép đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến đa dạng sinh học của Việt Nam. Trước thực tế đó, một số ý kiến cho rằng cần hợp pháp hóa gây nuôi thương mại để phát triển kinh tế vừa có giá trị bảo tồn.
Tuy nhiên, trong bối cảnh buôn bán "động vật sách đỏ" đang có xu hướng gia tăng, rất nhiều chuyên gia và các nhà bảo tồn cũng kiên quyết khẳng định việc gây nuôi thương mại không những không có giá trị bảo tồn, thậm chí còn kích thích nhu cầu tiêu thụ, gây khó khăn cho công tác thực thi pháp luật và là con đường dẫn tới tuyệt chủng.
Theo bà Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Trung tâm giáo dục thiên nhiên, gây nuôi thương mại và buôn bán động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm sẽ làm gia tăng nhanh chóng nguy cơ tuyệt chủng của các loài “động vật sách đỏ” trên thế giới.
“Việc đem tương lai của nhiều loài động vật hoang dã nguy cấp bậc nhất trên thế giới để đánh đổi lấy lợi nhuận của một nhóm người là việc làm vô cùng mạo hiểm,” bà Hà nhấn mạnh.
Bà Hà cũng lưu ý, công tác bảo tồn động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm sẽ không thể diễn ra song hành với hoạt động gây nuôi thương mại các loài “động vật sách đỏ.” Trong khi mục tiêu của bảo tồn là để bảo vệ nền đa dạng sinh học, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội, thì mối quan tâm hàng đầu của chủ các cơ sở gây nuôi là lợi nhuận.
“Các cơ sở gây nuôi thương mại vì vậy sẽ không đầu tư  vào cơ sở vật chất, kỹ thuật cho sinh sản để đảm bảo tránh giao phối cận huyết, lai tạp nguồn gen, những điều kiện cơ bản để tái thả động vật hoang dã về tự nhiên."
"Hơn nữa, hầu hết các cá thể động vật hoang dã được gây nuôi đã bị mất đi bản năng sinh tồn và kĩ năng cần thiết giúp chúng sống sót trong tự nhiên nếu được tái thả,” bà Hà lo lắng.
Báo cáo khảo sát hoạt động gây nuôi thương mại động vật hoang dã ở các trang trại Việt Nam được thực hiện năm 2014- 2015 của Trung tâm giáo dục thiên nhiên cũng cho thấy, tình trạng nhập lậu động vật hoang dã và lợi dụng những kẽ hở của pháp luật để buôn bán trái phép động vật hoang dã đã diễn ra rất phổ biến tại các cơ sở được cấp phép gây nuôi.
Cụ thể, kết quả nghiên cứu cho thấy 100% (26/26) cơ sở gây nuôi động vật hoang dã có quy mô lớn tại các tỉnh, thành phố trên cả nước có dấu hiệu nhập lậu động vật hoang dã ở những mức độ khác nhau. Tuy nhiên, chỉ có 55% (16/26) số người được phỏng vấn xác nhận cụ thể rằng cơ sở của mình có liên quan tới hoạt động nhập lậu động vật hoang dã.
Ngoài ra, có tới 89% (17/19) số người được hỏi cho biết có bán giấy phép vận chuyển, trong đó một số chủ cơ sở còn đề nghị bán giấy phép vận chuyển cho cán bộ khảo sát. 100% (18/18) số người được hỏi cho biết có mua động vật hoang dã không có giấy phép vận chuyển.
Trung tâm giáo dục thiên nhiên cũng đưa ra những ví dụ xác đáng cho thấy những lỗ hổng trong thực thi pháp luật quản lý hoạt động gây nuôi động vật hoang dã nguy cấp quý hiếm như vụ việc vợ của một đối tượng có hai tiền án vi phạm về buôn bán hổ ở Nghệ An đã được cấp phép nuôi hổ vì mục đích “giáo dục và bảo tồn” xảy ra gần đây.
Một ví dụ khác là việc cơ quan chức năng Tây Ninh và Quảng Bình đã cấp phép cho nhiều cơ sở gây nuôi tê tê, bất chấp thực tế rằng tê tê là loài động vật vốn không dễ sinh sản và sinh trưởng trong môi trường nuôi nhốt.
Tê tê cũng là loài nguy cấp, quý, hiếm, được bảo vệ ở mức độ cao nhất của pháp luật. Qua điều tra, chủ các cơ sở ở hai địa phương này (Tây Ninh, Quảng Bình) đã có hành vi nhập lậu các cá thể tê tê săn bắt trái phép ngoài tự nhiên.
Theo nhận định của các chuyên gia bảo tồn, việc gây nuôi thương mại không chỉ dẫn tới “con đường tuyệt chủng” của các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm, mà còn gây khó khăn lớn cho công tác thực thi pháp luật, tạo điều kiện cho các đối tượng vi phạm lợi dụng để buôn bán, kinh doanh động vật hoang dã bất hợp pháp.
Ông Khổng Trung, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị cho biết, các cán bộ thực thi pháp luật không thể phân biệt được giữa sản phẩm động vật hoang dã được gây nuôi hợp pháp từ các trang trại và các sản phẩm bị săn bắt trái phép từ tự nhiên được đem đi tiêu thụ trên thị trường.
“Chúng tôi sẽ không thể phân biệt được cao hổ và mật gấu từ tự nhiên hay do nuôi nhốt một khi đã bị đưa ra thị trường. Cách duy nhất để bảo vệ động vật hoang dã là nên nghiêm cấm mọi hình thức buôn bán các loài này để các cán bộ thực thi pháp luật làm tốt phần việc của mình,” ông Trung kiến nghị.
Bà Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Trung tâm giáo dục thiên nhiên cho rằng, trong bối cảnh gây nuôi thương mại động vật hoang dã đang ngày “vượt tầm kiểm soát,” nhu cầu tiêu thụ sản phẩm từ các loài “động vật sách đỏ” nhiều khả năng sẽ tăng lên đáng kể nếu các sản phẩm hiện đang bị cấm này được phép lưu hành trên thị trường.
Theo bà Hà, khi sản phẩm từ động vật hoang dã sẵn có trên thị trường, nhiều người vốn chưa từng có nhu cầu sử dụng có thể sẽ “thử” sử dụng các sản phẩm từ động vật hoang dã quý, hiếm. Cùng với việc nhu cầu tiêu thụ tăng lên là sự gia tăng tình trạng săn bắn động vật hoang dã trái phép ngoài tự nhiên để đáp ứng nhu cầu đó.
“Khi nhu cầu tiêu thụ tăng lên, trong một số trường hợp, động vật hoang dã có nguồn gốc từ tự nhiên còn được ưa chuộng hơn động vật hoang dã được sinh sản trong môi trường nuôi nhốt,” bà Hà nhấn mạnh.
Từ góc độ nhà khoa học, phó giáo sư tiến sỹ Lê Xuân Cảnh, nguyên Viện trưởng Viện sinh thái và Tài nguyên Sinh vật cũng cho rằng, việc gây nuôi thương mại động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm có thể mang lại lợi nhuận cho một số người, song nó lại đe dọa nghiêm trọng đa dạng sinh học đất nước.
“Ngay bây giờ, nếu muốn bảo tồn, gìn giữ đa dạng sinh học cho thế hệ tương lai, chúng ta cần chấm dứt việc gây nuôi thương mại động vật hoang dã. Chúng ta cần phải nghiêm túc bảo vệ các loài động vật hoang dã, đặc biệt là những loài có nguy cơ bị mất đi vĩnh viễn,” ông Cảnh nói.
Có chung quan điểm, bà Vũ Thị Quyên, Giám đốc Trung tâm giáo dục thiên nhiên cũng kiến nghị các cơ quan quản lý Nhà nước nghiêm cấm hoạt động gây nuôi thương mại động vật hoang dã và nghiêm cấm tuyệt đối vấn nạn buôn bán các loài động vật hoang dã.
“Mọi biện pháp nửa vời sẽ là vô nghĩa. Chúng ta phải xóa bỏ quan niệm có thể thu lợi nhuận từ các hoạt động buôn bán và tiêu thụ đa dạng sinh học của đất nước, để bảo tồn bền vững,” bà Quyên nói. (Vietnam + 1/8) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Lệ Thủy (Quảng Bình) đã phát hiện khoảng 60 đàn vượn đen má trắng siki tại khu vực rừng Động Châu - Khe Nước Trong thuộc xã Kim Thủy.
Khu vực này nằm giáp ranh giữa hai tỉnh Quảng Bình - Quảng Trị và tiếp giáp với nước bạn Lào. Tỉnh Quảng Bình và Bộ NN-PTNT đề xuất quy hoạch và thành lập Khu Bảo tồn thiên nhiên với diện tích khoảng 20.000ha.
Trong thời gian qua, Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên Việt và Liên hiệp Các hội KHKT Việt Nam kết hợp cùng các cơ quan chức năng địa phương tổ chức khảo sát động vật quý hiếm ở khu vực này. Theo đó, đoàn khảo sát đã ghi nhận có 58 đàn vượn đen má trắng siki tại 7 tiểu khu của vùng dự án Khe Nước Trong và 2 đàn ở ngoài ranh giới khu vực điều tra. Số lượng linh trưởng đang dược các nhà khoa học tiếp tục khảo sát, điều tra.
Theo ông Nguyễn Xuân Quế, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Lệ Thủy thì rừng Động Châu - Khe Nước Trong được Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế xác định là vùng đa dạng sinh học trọng điểm trong hành lang đa dạng sinh học nối giữa Việt Nam và Lào. Trong đó có nhiều loài động vật có tên trong danh sách đang bị đe dọa ở mức nguy cấp và rất nguy cấp trên toàn cầu. (Nông Nghiệp Việt Nam 1/8) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Tính đến hết năm 2015, Việt Nam có hơn 14,061 triệu ha đất rừng. Trong đó, rừng tự nhiên là hơn 10,175 triệu ha, rừng trồng là khoảng 3,886 triệu ha.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn vừa công bố hiện trạng rừng Việt Nam. Theo đó, tính đến hết năm 2015, Việt Nam có hơn 14,061 triệu ha đất rừng. Trong đó, rừng tự nhiên là hơn 10,175 triệu ha, rừng trồng là khoảng 3,886 triệu ha. Diện tích rừng để tính độ che phủ toàn quốc là hơn 13,520 triệu ha với độ che phủ đạt 40,84%.
Trong văn bản công bố cũng nêu rõ trách nhiệm quản lý, tổ chức bảo vệ và phát triển rừng. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Công Tuấn yêu cầu “Các địa phương thực hiện tổ chức rà soát, quy hoạch sử dụng rừng và đất lâm nghiệp, trong đó tập trung rà soát diện tích rừng ngoài quy hoạch. Đối với các địa phương có diện tích rừng tự nhiên giảm trong năm 2015 cần làm rõ nguyên nhân, xem xét trách nhiệm các tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định" .
Ngoài ra, Tổng cục Lâm nghiệp sẽ thiết lập dữ liệu tài nguyên rừng và hướng dẫn các địa phương, tổ chức cập nhật diễn biến của rừng. Từ đó có thể khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu rừng và đất lâm nghiệp trên phạm vi toàn quốc và từng địa phương.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần khẩn trương giao các đơn vị cơ sở, các chủ rừng thực hiện trách nhiệm quản lý và bảo vệ rừng. Cùng với đó, địa phương cần chủ động sử dụng kết quả kiểm kê rừng làm cơ sở để khởi tạo dữ liệu ban đầu và cập nhật diễn biến hằng năm. (Tin Tức 1/8) đầu trang(
Việc hỗ trợ bảo vệ rừng; khoanh nuôi tái sinh có trồng rừng bổ sung được thực hiện như sau:
Hỗ trợ bảo vệ rừng 400.000 đồng/ha/năm: Đối tượng được hỗ trợ bảo vệ rừng gồm hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn thực hiện bảo vệ diện tích rừng phòng hộ và rừng sản xuất là rừng tự nhiên được giao.
Hỗ trợ khoanh nuôi tái sinh có trồng rừng bổ sung hộ gia đình thực hiện khoanh nuôi tái sinh có trồng rừng bổ sung trên diện tích đất rừng phòng hộ và rừng sản xuất là rừng tự nhiên được giao.
Điều kiện được hỗ trợ: Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc quyết định giao đất của cấp có thẩm quyền; thực hiện bảo vệ rừng được giao theo đúng quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng đối với trường hợp nhận hỗ trợ bảo vệ rừng; thực hiện khoanh nuôi tái sinh có trồng rừng bổ sung theo đúng thiết kế, dự toán được duyệt đối với trường hợp nhận hỗ trợ khoanh nuôi tái sinh có trồng rừng bổ sung.
Cơ quan phê duyệt thiết kế, dự toán ở địa phương do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quy định; được UBND cấp xã nghiệm thu kết quả bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh có trồng rừng bổ sung.
Mức hỗ trợ cụ thể như sau: Bảo vệ rừng: 400.000 đồng/ha/năm; khoanh nuôi tái sinh có trồng rừng bổ sung: Theo thiết kế, dự toán, tối đa không quá 1.600.000 đồng/ha/năm trong 03 năm đầu và 600.000 đồng/ha/năm cho 03 năm tiếp theo. Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
Phương thức hỗ trợ: Thực hiện dựa trên kết quả bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh có trồng rừng bổ sung giữa đối tượng với UBND cấp xã. Thời hạn thực hiện theo năm, hoặc theo kế hoạch trung hạn 3 năm, hoặc 5 năm, cụ thể:
Hàng năm, UBND cấp xã cùng với kiểm lâm cơ sở có trách nhiệm nghiệm thu, đánh giá kết quả thực hiện bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh có trồng rừng bổ sung đối với từng đối tượng nhận hỗ trợ theo hướng dẫn; trường hợp bên nhận hỗ trợ bảo vệ rừng; khoanh nuôi tái sinh có trồng rừng bổ sung để xảy ra mất rừng hoặc phá rừng hoặc không thực hiện theo thiết kế được duyệt thì phải lập biên bản xác định diện tích rừng đã mất hoặc bị suy giảm, phải xác định rõ nguyên nhân và xử lý theo quy định hiện hành.
Kết quả nghiệm thu hàng năm là căn cứ để thanh toán, quyết toán kinh phí. (Nông Nghiệp Việt Nam 2/8) đầu trang(
Kon Tum có 360.104 ha rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).Việc triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
Song, nhờ việc chủ động khắc phục những tồn tại, hạn chế để rút ra kinh nghiệm tháo gỡ khó khăn của cơ quan thực thi chính sách này nên 5 năm qua, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở Kon Tum đã đạt được nhiều hiệu quả ghi nhận.
Thực tế cho thấy, việc duy trì bảo vệ các hệ sinh thái rừng thường được thực hiện bởi một nhóm nhỏ, trong khi người hưởng lợi là số đông. Do đó, chính sách chi trả DVMTR chính là cơ chế để kết nối và bảo đảm sự công bằng giữa bên hưởng lợi và bên duy trì lợi ích. Chính sách này còn tạo ra một nguồn kinh phí đáng kể cho việc bảo vệ và phát triển rừng.
Chính sách chi trả DVMTR được Chính phủ ban hành là giải pháp đẩy mạnh công tác xã hội hóa nghề rừng, tạo cơ chế, chính sách tài chính mới để bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Chính sách này được triển khai thực hiện tại Kon Tum từ năm 2011 đến nay, ngoài những thuận lợi cũng có những khó khăn nhất định. Bên cạnh đa số những đơn vị sử dụng DVMTR thực hiện nghiêm túc quy định nộp tiền DVMTR thì cũng còn một số các đơn vị chây ì, trì hoãn không kê khai, chậm nộp tiền (chủ yếu là các nhà máy thủy điện nhỏ không thuộc Tập đoàn điện lực Việt Nam), dẫn đến nợ đọng tiền DVMTR kéo dài.
“Chính sách chi trả DVMTR là chính sách mới, trong khi đội ngũ cán bộ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng ngoài lãnh đạo Quỹ và một số cán bộ được điều động, bổ nhiệm từ các Sở, ngành thì đa số nhân viên còn lại là sinh viên mới tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng được hợp đồng vào làm việc nên chưa có nhiều kinh nghiệm, lúng túng trong công tác tham mưu. Bên cạnh đó, đối tượng cung ứng DVMTR đa dạng, nhiều về số lượng nên công tác kiểm tra, nghiệm thu, chi trả mất nhiều thời gian, có lúc chậm trễ, chưa kịp thời. Từ đó, làm hạn chế hiệu quả mà chính sách này mang lại”, ông Hồ Thanh Hoàng – Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Kon Tum chia sẻ.
Thực tế, việc triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên cả nước đều gặp phải nhiều vướng mắc. Song qua quá trình thực hiện trên địa bàn tỉnh Kon Tum, một trong những tỉnh có diện tích rừng lớn nhất cả nước, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã đúc kết được nhiều bài học kinh nghiệm để triển khai đồng bộ, hiệu quả hoạt động của Quỹ gắn với chính sách chi trả DVMTR.
“Ngoài việc tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách chi trả DVMTR và tăng cường giao đất, giao rừng cho các cộng đồng dân cư thôn, làng, thì còn cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ngành với Quỹ để việc triển khai, quyết định các vấn đề liên quan được thực hiện nhanh chóng, hiệu quả. Đồng thời, đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giám sát các hoạt động liên quan đến chính sách này, đánh giá kịp thời biến động về số lượng, chất lượng rừng cung ứng là những hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR tại tỉnh”, ông Hoàng nhấn mạnh.
Cùng với đó là tăng cường các hoạt động đào tạo, tập huấn cho đội ngũ cán bộ của các Sở, ngành, đơn vị, địa phương trực tiếp thực hiện chính sách để mọi người hiểu rõ, nắm chắc hơn và thực hiện có hiệu quả hơn chính sách chi trả DVMTR. Như vậy, nhờ việc chủ động khắc phục khó khăn, đúc rút kinh nghiệm trong quá trình hoạt động, 5 năm qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum đã chủ động tháo gỡ khó khăn, phát huy được nhiều hiệu quả từ chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh. (Tài Nguyên Và Môi Trường 1/8) đầu trang(
Thời gian vừa qua, một số phương tiện thông tin đại chúng phản ánh, người dân được khoán bảo vệ rừng thông theo các chương trình, dự án 327 và 661 tại các xã Bằng Vân, Đức Vân thuộc huyện Ngân Sơn( Bắc Cạn) trên đất lâm trường. Đến khi được khai thác, quyền lợi của người dân không được đáp ứng. Vậy thực chất của vấn đề này như thế nào?
Thực hiện chương trình, dự án 327 và 661, trong những năm 1994 đến năm 2001, Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Bắc Cạn (Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn) giao khoán cho 72 hộ dân ở hai xã Bằng Vân và Đức Vân, huyện Ngân Sơn, trồng, chăm sóc, bảo vệ 125 ha thông và sa mộc trên đất lâm trường.
Trong đó, Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn đầu tư giống, phân bón, người dân trồng, chăm sóc bốn năm đầu được hưởng 2,5 triệu đồng/ ha( đối với chương trình 661); tương tự như vậy, người dân được hưởng 1,7 triệu đồng/ ha( đối với chương trình 327).
Công trồng, chăm sóc rừng trong bốn năm đầu, thực hiện theo chính sách, người dân không có ý kiến gì. Sau đó, người dân được Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn giao khoán quản lý, bảo vệ (15- 20 năm) đến khi rừng được thu hoạch. Thời gian vừa qua, rừng trồng được thu hoạch, nhiều người dân ở xã Đức Vân, Bằng Vân cho rằng: Cơ chế hưởng lợi không thoả đáng, người dân bị thiệt.
Một số phương tiện thông tin phản ánh, ông Triệu Văn Sinh ở thôn Phiêng Dượng, xã Đức Vân, được giao quản lý, bảo vệ 15 ha rừng thông, đến khi được khai thác thì chỉ nhận được số tiền công ít ỏi. Tương tự như vậy, chị Lưu Thị Nhét được giao chăm sóc, bảo vệ sáu ha thông, khi thu hoạch thì chỉ nhận được 100 nghìn đồng/ha tiền công chăm sóc, bảo vệ.
Về vấn đề này, trước khi khai thác rừng thông, Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn đã có biên bản thoả thuận cơ chế hưởng lợi với chính quyền hai xã Bằng Vân, Đức Vân và cùng với các hộ dân thống nhất cơ chế: Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn được hưởng lợi 40%, các hộ dân được hưởng lợi 60% giá trị của rừng. Do đó, việc một số phương tiện thông tin phán ánh: Việc người dân nhận được 100 nghìn đồng/ ha tiền giao khoán bảo vệ rừng là không chính xác.
Quyền Tổng Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn Nguyễn Hải Đăng khẳng định: Căn cứ Quyết định 178/2001/QĐ- TTg, ngày 12- 11- 2001 của Thủ tướng Chính phủ Về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp, tại Khoản 4, Điều 20 quy định: “Khi rừng đạt tiêu chuẩn khai thác, hộ gia đình, cá nhân nhận khoán thống nhất với bên giao khoán thời điểm và phương thức khai thác. Giá trị lâm sản khai sau khi nộp thuế được phân chia: Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán được hưởng từ 2 - 2,5 % cho mỗi năm nhận khoán bảo vệ rừng; phần còn lại nộp bên giao khoán”.
Ông Đăng cho biết thêm: “Được UBND tỉnh cho phép, chúng tôi giao khoán cho các hộ gia đình, cá nhân chăm sóc, bảo vệ rừng trồng nhằm phát huy hiệu quả đất lâm trường quốc doanh, đồng thời giải quyết việc làm, thu nhập cho người dân địa phương là hợp lý, cơ chế hưởng lợi được thoả thuận công khai, minh bạch, có sự giám sát của chính quyền địa phương nhằm bảo đảm quyền lợi của người dân”. (Nhân Dân 1/8) đầu trang(
Quá trình thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng của Chính phủ trên địa bàn, Tổng đội Thanh niên xung phong xây dựng kinh tế 2 (Tổng đội TNXP 2) đã tự thảo hợp đồng kinh tế và ký kết với người dân xã Thanh Đức, huyện Thanh Chương về việc giao khoán trồng rừng cho người dân theo tỉ lệ ăn chia 50/50 đến kỳ thu hoạch.
Điều đáng nói, từ năm 2007, toàn bộ diện tích rừng phòng hộ này đã được chuyển sang rừng sản xuất nhưng Tổng đội TNXP 2 vẫn không thông báo cho bà con nhân dân biết.
Chị Trần Thị Hiền (SN 1973), đại diện cho 17 hộ dân xóm 19/5 xã Thanh Đức, huyện Thanh Chương phản ánh: Ngày 15/5/2000, gia đình chị nhận khoán theo chương trình trồng rừng theo Dự án 661 (trồng mới 5 triệu ha rừng) của Tổng đội TNXP 2 bằng hợp đồng kinh tế số 32. Theo đó, gia đình chị nhận khoán 12 ha rừng thuộc Tiểu khu 975, thuộc rừng phòng hộ đầu nguồn, có hiệu lực trong thời gian 20 năm. Những phần việc mà chị Hiền phải thực hiện là xử lý thực bì, đào hố, trồng cây (mét) và chăm sóc.
Quyền lợi mà chị này được hưởng là phía Tổng đội TNXP 2 chi trả tiền nhân công 746.800 đồng/ha, bù thêm chi phí rào chắn 600 đồng/m và phí vận chuyển vật liệu 20.000 đồng/ha.
Đặc biệt, tại điều 7 của hợp đồng ghi rõ: “Đơn vị và hộ nhận khoán tổ chức đánh giá giá trị lâm sản theo quy định để phân bổ theo tỉ lệ: Hộ nhận khoán hưởng 50% giá trị lâm sản và Tổng đội TNXP 2 hưởng 50% giá trị còn lại”.
Năm 2013, UBND tỉnh Nghệ An có Quyết định 2953, chuyển giao đất rừng thuộc Dự án 661 vào Công ty CP Cao su Nghệ An. Ngày 11/4/2013, Công ty CP Cao su Nghệ An tiến hành chi trả tiền bồi thường, Tổng đội TNXP 2 đã tiến hành thu 50% trên tổng số tiền mà người dân được đền bù. Khi người dân thắc mắc thì được giải thích là thực hiện theo hợp đồng kinh tế đã được ký kết trước đó. Tổng số tiền mà gia đình chị Hiền bị “ăn chặn” ngay tại ngày chi trả đền bù của Công ty Cao su Nghệ An là hơn 211,3 triệu đồng.
Tương tự, gia đình ông Nguyễn Viết Hồng (SN 1957) trú tại xóm 19/5, xã Thanh Đức cho biết: Thực hiện hợp đồng với Tổng đội TNXP 2, gia đình ông nhận thầu khoán 7,5 ha, quá trình trồng cũng như chăm sóc, gia đình đã thực hiện đầy đủ các quy trình. Trong 2 năm đầu, ông Hồng được Tổng đội TNXP 2 hỗ trợ 50.000 đồng/ha tiền bảo vệ rừng, từ đó đến khi thu hoạch không có thêm bất cứ chính sách nào. Đến năm 2013, khi rừng mét chưa được thu hoạch lần nào, song khi Công ty Cao su Nghệ An đền bù số tiền 91 triệu đồng, gia đình ông Hồng đã bị Tổng đội TNXP 2 thu 45 triệu đồng, gọi là thực hiện theo các điều khoản hợp đồng đã ký kết.
Qua tìm hiểu chúng tôi được biết, có tất cả 37 hộ dân thực hiện ký kết hợp đồng giao khoán trồng rừng theo Dự án 661 với Tổng đội TNXP 2, với tổng số 275 ha rừng được trồng mới. Tuy nhiên, đến thời điểm năm 2013, khi bàn giao về cho Công ty Cao su, chỉ còn 17 hộ dân với 70 ha là vẫn giữ nguyên rừng mét, số còn lại đã được người dân chuyển đổi thành đất trồng chè, trồng keo… và tất cả các hộ dân đã thực hiện chuyển đổi này. Quá trình nhận tiền đền bù từ Công ty Cao su Nghệ An họ đã được hưởng 100% tổng số tiền đền bù.
Riêng 17 hộ dân xóm 19/5, xã Thanh Đức, do không thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng nên đã bị thu 50% tiền đền bù, tương đương với số tiền hơn 1,3 tỉ đồng. Tất cả các khoản tiền thu của các hộ dân này đều không có hóa đơn, chứng từ, không lập phiếu thu mà chỉ thể hiện bằng bản tổng hợp danh sách có đóng dấu treo của Tổng đội TNXP 2. Điều này, theo phản ánh của người dân là “bất thường” bởi trước đó, khi thu của các hộ dân bất cứ khoản thu nào, dù lớn hay nhỏ, đơn vị đều cấp phiếu thu.
Điều khiến người dân thắc mắc là từ năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 147 ban hành một số chính sách phát triển rừng giai đoạn 2007 - 2015. Trong đó nêu rõ: “Đối với diện tích rừng trồng là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đã được trồng bằng nguồn vốn của Chương trình 327 trước đây và nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước thuộc Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, nay quy hoạch là rừng sản xuất thì chủ rừng được hưởng toàn bộ sản phẩm từ rừng trồng, khi khai thác sản phẩm được tự do lưu thông và được hưởng các chính sách ưu đãi về miễn giảm thuế và tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật hiện hành”.
Để làm rõ vấn đề, chúng tôi đã tìm đến Tổng đội TNXP 2 tại xã Thanh Đức, huyện Thanh Chương nhưng chỉ có một người tự xưng là kế toán trực đơn vị. Liên hệ với ông Nguyễn Anh Định, Tổng đội trưởng Tổng đội TNXP 2 thì được ông này cho biết, sự việc đúng sai đã có kết luận của Thanh tra, hiện nay, các hộ dân đang kiện Tổng đội TNXP 2 ra TAND huyện Thanh Chương nên “sẽ giải thích sau”.
Trong khi đó, sau khi có phản ánh của nhân dân, ngày 4/12/2015, Thanh tra tỉnh đã ban hành quyết định thành lập tổ công tác liên ngành để kiểm tra, xem xét nội dung phản ánh của công dân.
Theo kết luận thanh tra, sự việc bắt đầu từ năm 2014 khi thực hiện quyết định chuyển giao của UBND tỉnh, Công ty CP Cao su Nghệ An đã tiến hành chi trả bồi thường hỗ trợ về cây cối, hoa màu, vật kiến trúc trên đất nhận khoán (khi chưa có phương án được UBND huyện Thanh Chương phê duyệt). Tổng đội TNXP 2 có thu 50% tiền đền bù, GPMB rừng mét (trồng theo Dự án 661) của 17 hộ dân là có thật và hiện số tiền này đang để tại quỹ của Tổng đội TNXP 2, chưa sử dụng.
Về số tiền này, theo lý giải của Tỉnh đoàn Nghệ An, việc thu 50% tiền đền bù rừng mét của các hộ dân là không sai, vì đây là rừng phòng hộ, do Nhà nước hỗ trợ kinh phí, Tổng đội TNXP 2 là chủ rừng. Căn cứ hợp đồng kinh tế đã ký kết với các hộ dân là khi được phép khai thác, thanh lý thì các hộ dân phải nộp 50% giá trị.
Tuy nhiên, điều khiến nhiều người quan tâm là giá trị pháp lý của bản hợp đồng kinh tế này đến đâu thì chưa được các cơ quan chức năng đề cập đến. Đây là hợp đồng phát sinh, do Tổng đội TNXP 2 tự soạn thảo và ký kết với các hộ dân, hoàn toàn không nằm trong hồ sơ thiết kế dự toán chương trình 5 triệu ha rừng mà Sở NN&PTNT Nghệ An đã phê duyệt cho dự án của Tổng đội TNXP 2.
Ngoài ra, Chi cục Lâm nghiệp Nghệ An cũng khẳng định, rừng mét trồng theo Dự án 661 của Chính phủ có nguồn gốc là rừng phòng hộ, đã được chuyển đổi sang rừng sản xuất theo Quyết định 482 ngày 2/2/2007 của UBND tỉnh Nghệ An. Đó là chưa đề cập đến việc, hợp đồng này đang đi ngược lại với các điều khoản mà Quyết định 147 của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành.
Như vậy, từ năm 2007 đã có các văn bản pháp lý của Nhà nước về chuyển đổi mục đích sử dụng của rừng đã giao khoán cho các hộ dân nhưng Tổng đội TNXP 2 đã không phổ biến đến tận người dân, bởi nếu theo Quyết định 147 thì hộ cá nhân, gia đình tham gia trồng rừng chỉ phải nộp 80 kg thóc/ha/chu kỳ. (Công An Nghệ An 2/8) đầu trang(
Trong năm 2016, huyện Chợ Đồn được giao kế hoạch là trồng 1.310ha rừng. Tuy nhiên, khi triển khai trong thực tế, toàn huyện chỉ đạt diện tích rừng trồng khoảng 800ha rừng các loại, đạt thấp so với kế hoạch.
Đồng chí Hà Sỹ Huân- Chủ tịch UBND huyện Chợ Đồn cho biết: Kết quả thực hiện trồng rừng của huyện năm nay đạt thấp là do một phần diện tích đăng ký của người dân (khoảng 250ha) sau khi thẩm định không đúng quy định (rừng ngheo kiệt), nên huyện đã loại ra.
Cùng với đó, huyện đã rà soát lại nhiều diện tích rừng đang cho thu nhập cao và ổn định từ lâm sản phụ, tiếp tục duy trì khai thác và không đưa những diện tích này vào diện trồng rừng. Tuy diện tích rừng trồng đã thiết kế chỉ đạt khoảng 800ha, đạt khá thấp so với kế hoạch của tỉnh giao, nhưng kết quả này vẫn đạt so với tổng thể nhiệm vụ phát triển rừng của nhiệm kỳ 2016 – 2021 của huyện là đạt 4.000ha rừng. Dù diện tích rừng trồng đạt thấp, nhưng huyện Chợ Đồn sẽ không phấn đầu trồng rừng bằng mọi giá.
Huyện Chợ Đồn có diện tích che phủ rừng là 78,8% (là một trong những huyện có độ che phủ rừng lớn nhất tỉnh) với hơn 21.000ha rừng hỗn giao, hơn 16.000ha rừng phục hồi sau nương rẫy. Diện tích đất trống không còn nhiều. Những diện tích đất trống có đường giao thông thuận lợi đã được người dân tiến hành trồng rừng trong những năm trước. Hiện nay, những diện tích có thể trồng được rừng nhưng không hiệu quả bởi xa dân cư, không có đường lâm nghiệp, chi phí trồng rừng lớn, việc khai thác và bán lâm sản không khả thi.
Hạt Kiểm lâm huyện Chợ Đồn thống kê, trong tổng số 350ha diện tích rừng nghèo kiệt mà người dân đã đăng ký trồng rừng, cơ quan đã đi xác minh, thẩm định có 250ha rừng không phải rừng nghèo kiệt vì khối lượng gỗ ở diện tích này vẫn còn rất lớn. Huyện đã chỉ đạo loại diện tích này ra khỏi kế hoạch trồng rừng, tránh để tình trạng nhiều hộ dân lợi dụng đưa nhiều diện tích rừng còn giàu tài nguyên vào diện tích phát triển rừng trồng, lợi dụng phá rừng để trồng rừng. Cùng với đó, huyện đã rà soát và thống kê được có khoảng 50ha rừng tre, luồng cho thu nhập cao và ổn định, tiếp tục duy trì và phát triển thêm diện tích này.
Hiện nay, huyện Chợ Đồn đã trồng được khoảng 80% diện tích rừng trồng các loại. Đối với những diện tích trồng muộn, huyện đang gấp rút chỉ đạo các địa phương vận động người dân khẩn trương hoàn thành; chỉ đạo các đơn vị cung ứng cây giống đảm bảo và đủ số lượng cho người dân.
Mặc dù không đạt kế hoạch trồng rừng được giao, nhưng huyện Chợ Đồn đang rà soát, quy hoạch và định hướng lại công tác trồng rừng, để có thể phát huy tối đa lợi ích kinh tế lâu dài của từng loại rừng. (Báo Bắc Kạn 2/8) đầu trang(
Theo kế hoạch (KH), chỉ đạo của UBND tỉnh, đến ngày 30/8 sẽ kết thúc khung thời vụ của vụ trồng rừng năm 2016. Tuy nhiên, qua tổng hợp của ngành chuyên môn, đến thời điểm này, tiến độ trồng rừng tại một số địa phương vẫn đạt rất thấp.
Do đó, hiện nay, ngành lâm nghiệp và Ban chỉ đạo Dự án trồng rừng 147 các huyện, thành phố cũng đang tích cực đôn đốc, chỉ đạo người dân tranh thủ thời tiết thuận lợi tiến hành trồng rừng trên những diện tích đã thiết kế nhằm hoàn thành công tác này theo đúng kế hoạch đề ra.
Năm 2016, huyện Ngân Sơn được giao chỉ tiêu trồng mới 870ha rừng, với cơ cấu giống chủ yếu là cây thông, cây mỡ và cây keo. Tuy nhiên đến nay, toàn huyện mới tiến hành trồng rừng mới được hơn 400ha, đạt 46% KH và cũng là một trong những địa phương đạt tỷ lệ trồng rừng thấp nhất tỉnh.
Nguyên nhân được xác định là do năm 2016, thời tiết không thuận lợi nên cây thông gieo ươm trên địa bàn phát triển chậm, đến thời điểm này, nhiều cây giống gieo ươm chưa đủ tiêu chuẩn trồng rừng. Bên cạnh đó, thời gian giữa tháng 5 cũng là đợt cao điểm bà con nông dân thu hoạch, sơ chế cây thuốc lá, một trong những cây trồng chủ lực của địa phương và bắt tay vào sản xuất vụ mùa, vì vậy lực lượng lao động chỉ tập trung cho việc thu hoạch cây trồng vụ xuân, do đó cũng làm ảnh hưởng đến tiến độ chuẩn bị hiện trường trồng rừng.
Ông Phạm Kim Hiểu – Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ngân Sơn cho biết: Hết tháng 7, huyện dự kiến xử lý thực bì xong số diện tích trồng thông còn lại và tổ chức nghiệm thu xử lý thực bì, cấp giống để người dân tiến hành trồng.
Theo kế hoạch, năm 2016, tỉnh Bắc Kạn sẽ trồng mới 7000ha rừng, song theo tổng hợp từ Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, đến ngày 29/7, toàn tỉnh chỉ trồng rừng mới được khoảng hơn 5.500ha, đạt hơn 79% so với kế hoạch đề ra và thấp hơn 3% so với cùng kỳ năm 2015. Một số địa phương có tỷ lệ trồng rừng vượt kế hoạch gồm: Huyện Chợ Mới trồng được hơn 2.100ha, đạt 123% KH; thành phố Bắc Kạn trồng được 165ha đạt 151% KH, huyện Bạch Thông đạt 112% KH, huyện Ba Bể đạt 111% KH…
Bên cạnh các địa phương trên, hiện nay cũng còn một số đơn vị tỷ lệ trồng rừng đạt rất thấp như: Huyện Ngân Sơn trồng rừng đạt 46%, huyện Chợ Đồn đạt 49%, Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Bắc Kạn đạt 36%. Ông Ngô Thế Cường – Phó Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Bắc Kạn cho biết: Nguyên nhân trồng rừng chậm là do diện tích người dân đăng ký thấp hơn so với kế hoạch tỉnh giao, như huyện Ngân Sơn, Chợ Đồn, Na Rỳ. Tại huyện Ngân Sơn, số lượng giống trồng rừng không cung ứng đủ, chỉ đạt khoảng 30%; rừng tại huyện Chợ Đồn có trữ lượng khá lớn, không nằm trong quy định được cải tạo vào khoảng 300ha.
Cùng với sự chủ động vào cuộc của chính quyền và Ban chỉ đạo Dự án trồng rừng 147 các địa phương chưa hoàn thành công tác trồng rừng. Hiện nay, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh cũng đã đề ra nhiều biện pháp cụ thể nhằm hoàn thành công tác trồng rừng theo đúng kế hoạch. Trong đó chủ yếu vẫn là tập chung chỉ đạo các địa phương đôn đốc người dân tranh thủ những ngày có mưa, đất ẩm tiến hành trồng rừng.
Cử cán bộ kỹ thuật thường xuyên kiểm tra, theo dõi, kịp thời giải quyết những vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện để đẩy nhanh tiến độ trồng rừng. Ông Ngô Thế Cường – Phó Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Bắc Kạn cho biết: Ban Quản lý dự án tỉnh, Thường trực là Chi cục Lâm nghiệp có một số giải pháp để hoàn thành kế hoạch trồng rừng trong năm 2016.
Đối với diện tích đã cấp phát cây giống, đơn vị chỉ đạo cán bộ cơ sở bám sát hiện trường, đôn đốc người dân trồng rừng khi thời tiết thuận lợi, đặc biệt là ngày mưa; Đối với diện tích đã thiết kế chưa xử lý thực bì thì chỉ đạo bà con khẩn trương xử lý thực bì, cuốc lấp hố; Đối với 75 vạn cây thông nhập từ Lạng Sơn về Ngân Sơn, đơn vị chỉ đạo tăng cường kiểm tra chất lượng cây giống và khẩn trương cung ứng giống cho bà con.
Mặc dù đến thời điểm này, công tác trồng rừng năm 2016 của tỉnh vẫn chưa được thực hiện theo đúng khung thời vụ UBND tỉnh đề ra, song với sự vào cuộc quyết liệt của ngành chuyên môn và chính quyền các cấp như hiện nay sẽ là một tín hiệu tích cực để các địa phương hoàn thành nhiệm vụ trồng rừng theo đúng kế hoạch đề ra, từng bước góp phần thực hiện thắng lợi Dự án trồng rừng 147 trên địa bàn. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 1/8) đầu trang(
Đó là đánh giá của ông Võ Văn Ten- 68 tuổi, hiện ngụ ấp Phước Hội, xã Suối Đá, huyện Dương Minh Châu. Lão nông này hiện đang sở hữu 70 ha rừng, 30 ha mì trong hồ Dầu Tiếng.
Chúng tôi đến thăm ông Ten vào lúc gia đình ông đang dựng rạp chuẩn bị làm đám cưới cho người con gái. Nhìn con cháu quây quần sum họp vui vầy, ông Ten chợt nhớ về những ngày gian khó của hơn 35 năm trước.
Ông kể, những năm đó, cuộc sống vô cùng khó khăn, hằng ngày vợ chồng ông phải vào những bãi đất bán ngập trong hồ Dầu Tiếng khai hoang, dỡ đất. “Ban đầu gia đình tôi khai khẩn được 1,2 ha, sau đó tăng dần lên 5 ha, cộng với đất mua lại của nhiều bà con khác, đến nay tôi có khoảng 100 ha đất trong hồ Dầu Tiếng” (không có giấy).
Những năm đầu, ông Ten đầu tư trồng mì xen với trồng đậu phộng trên vùng đất bán ngập này. Nhưng thấy trồng mì có nhiều rủi ro nên ông nghiên cứu tìm cách chuyển đổi cây trồng sao cho ổn định sinh kế lâu dài. Sau một thời gian tìm tòi, ông quyết định chuyển dần phần lớn đất của mình sang trồng các loại cây rừng. Ông cho biết: “Đợt đầu tôi trồng được 25 ha, 12 năm sau mới thu hoạch. Đợt thứ 2 trồng thêm 25 ha nữa, chỉ sau 8 năm thì thu hoạch. 5 năm gần đây, tôi trồng tiếp 20 ha rừng cho đợt thứ 3 và mới thu hoạch xong. Tổng cộng tôi đã trồng được khoảng 70 ha rừng trong hồ Dầu Tiếng”.
Trên diện tích 70 ha đất bán ngập này, ông Ten trồng rừng theo hai loại. Ở những nơi đất thường xuyên bị ngập, ông đầu tư trồng cây tràm nước. Loại tràm này ở Tây Ninh không có cây giống nên ông phải về miền Tây mua với giá 500 đồng/cây. Mặc dù phải tốn chi phí và lặn lội đường xa, nhưng bù lại, loại tràm nước này rất dễ trồng. Những năm đầu chưa có kinh nghiệm, ông trồng “búa xua” không có hàng lối nên tỷ lệ thất thoát khá cao, giá trị gỗ thu được không như ý.
Những năm gần đây, ông rút kinh nghiệm, trồng tràm nước theo hàng lối, mỗi cây cách nhau 2 mét và mỗi hàng cũng cách nhau 2 mét. Trồng như vậy tràm lớn nhanh, lớn đều nhau, dễ dàng trong khâu thu hoạch và vận chuyển, cũng như thuận tiện cho việc trồng lại và phòng chống cháy rừng. Cứ trồng được khoảng 5- 6 năm là ông Ten thu hoạch một lần theo kiểu cuốn chiếu chứ không thu hoạch trắng một lượt, nhằm duy trì rừng trong lòng hồ và phân khai nguồn vốn được hợp lý hơn.
Đối với những cây tràm tốt, đường kính gốc từ 20-30cm, ông bán cho những người làm gỗ gia dụng hoặc làm bao bì. Phần ngọn hoặc những cây tràm cỡ nhỏ, ông bán về miền Tây cho người dân dùng làm cọc, cừ gia cố bờ kè hay công trình xây dựng…
Cũng là người có nhiều năm trồng mì trên vùng đất bán ngập trong hồ Dầu Tiếng, nên ông Ten có cơ sở để so sánh hiệu quả của hai loại cây trồng này. “Trồng mì, bình quân mỗi năm lãi được khoảng 20 triệu đồng/ha, nếu tính 5 năm lãi được 100 triệu đồng. Trong khi đó, trồng 1 ha rừng, 5 năm sau lãi được đến 400 triệu đồng, cao gấp 4 lần so với trồng mì”- ông Ten nhẩm tính. Ngoài ra, trồng rừng còn có nhiều lợi ích khác như góp phần cân bằng môi trường sinh thái, chống xói mòn, giữ nước cho rừng đầu nguồn hồ Dầu Tiếng, làm nơi cư trú và sinh sản cho chim, cá...
Bên cạnh đó, để góp phần bảo vệ môi trường, ông Ten còn trồng xen kẽ nhiều loại cây rừng lâu năm trên những phần đất gò. Hiện tại, ông đã trồng được nhiều cây sao, dầu, gõ, sến, xà cừ, tràm bông vàng. Riêng cây tràm bông vàng, nếu để thời gian quá lâu sẽ bị bọng ruột làm mất giá trị thương phẩm, nên chỉ khoảng 8 năm là ông cho thu hoạch, sau đó trồng lại cây mới.
Các loại cây rừng lâu năm còn lại ông để luôn chứ không tính đến chuyện thu hoạch. Đến nay, một số cây rừng của ông đã được gần 20 năm tuổi, có những cây to cỡ vòng tay người lớn ôm không giáp. Ông khoe, những cây này được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tặng theo chương trình khuyến khích nông dân trồng rừng của Chính phủ.
Ngoài 70 ha rừng, 30 ha mì trồng trên vùng đất bán ngập, ông Ten còn có khoảng 50 ha đất đang trồng mía, mì, cao su bên ngoài hồ Dầu Tiếng. Gần 70 tuổi, nhưng ông Ten vẫn còn nhiều tâm huyết cho việc trồng rừng, vừa tạo nguồn thu cho gia đình, vừa góp phần bảo vệ môi trường.
Ông Hà Thanh Tùng- Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Dương Minh Châu nhận định: “Đúng là trồng rừng trên vùng đất bán ngập trong hồ Dầu Tiếng cho lợi ích kinh tế cao hơn trồng mì. Hiện tại, huyện Dương Minh Châu mới chỉ có khoảng 600 ha rừng trồng trên vùng đất bán ngập trong lòng hồ. Đây là con số quá ít so với diện tích đất bán ngập hiện có. Bà con cần nghiên cứu, chuyển đổi cơ cấu cây trồng để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất, cũng như góp phần bảo vệ môi trường”. (Báo Tây Ninh 31/7) đầu trang(
Vào những năm 1990 của thế kỷ 20, nhiều dự án trồng rừng như: phủ xanh đất trống đồi núi trọc, trồng rừng phòng hộ… được triển khai trên khu du lịch Mẫu Sơn, Lộc Bình, (Lạng Sơn).
Nhờ thế, độ che phủ của rừng đã tăng lên hơn 50%, nhưng hiện nay, nhiều khu rừng phòng hộ ở Mẫu Sơn đang đứng trước nguy cơ bị triệt hạ do tình trạng khai thác nhựa thông tràn lan.
Thời gian qua, một số hộ dân ở thôn Khuổi Tẳng, xã Mẫu Sơn (Lộc Bình, Lạng Sơn), rủ nhau vào rừng khai thác nhựa thông. Anh Triệu Trần Rào, ở Khuổi Tẳng cho biết: Một tuần gia đình khai thác được hơn 100 kg nhựa thông, giá một kg nhựa bán được 25 nghìn đồng. Do thấy được giá nhiều hộ gia đình ở trong thôn cũng đua nhau đi khai thác nhựa thông. Buổi sáng sớm, đi lên khu du lịch Mẫu Sơn, dọc hai ven đường đã thấy nhiều xe máy lên chở nhựa thông dựng ngay bên những cánh rừng thông bạt ngàn.
Nhìn những cây thông non ngay ven đường, mỗi gốc đều đeo lủng lẳng những túi nhựa bé xíu, anh Triệu Trần Rào giải thích: Đó là những túi ni-lông để hứng nhựa thông, đã hơn tháng nay, mặc dù đang vào vụ thu hoạch lúa và ngô, nhưng đám thanh niên trong bản bỏ cả ruộng vườn lên khu vực rừng Mẫu Sơn để khai thác nhựa thông, nếu cứ khai thác thế này thì vài năm nữa cây sẽ còi cọc, tàn lụi...
Phó trưởng Ban quản lý Khu du lịch Mẫu Sơn Ninh Văn Xa khẳng định: Toàn bộ khu rừng từ khu vực km12 đến km 12+500 đường lên Khu du lịch Mẫu Sơn thuộc rừng phòng hộ, rừng cảnh quan cấm khai thác dưới mọi hình thức. Nhưng từ năm 2015 đến nay, nhiều người dân đã ngang nhiên vào rừng khai thác nhựa thông, số rừng này được trồng từ những năm 1996, theo chương trình dự án 327 trồng rừng phòng hộ.
Trước thực trạng này, các cơ quan chức năng của huyện Lộc Bình đã triển khai nhiều biện pháp ngăn chặn, tuyên truyền người dân về chủ trương khoanh nuôi, bảo vệ rừng đầu nguồn, đồng thời lắng nghe những ý kiến, kiến nghị của người dân có liên quan quyền lợi người trồng rừng…
Tuy nhiên, đến nay, nhiều kiến nghị của người dân vẫn chưa được các cơ quan chức năng của huyện Lộc Bình giải quyết dứt điểm, cho nên tình trạng khai thác nhựa thông tràn lan ở khu vực rừng phòng hộ trên khu du lịch Mẫu Sơn vẫn tiếp diễn.
Chủ tịch UBND xã Mẫu Sơn Triệu Chòi Hinh cho biết: Số diện tích rừng thông được trồng do Ban quản lý dự án 327 của huyện Lộc Bình triển khai tại khu vực Mẫu Sơn, theo đó huyện giao kế hoạch trồng 91 ha cho bốn đơn vị hành chính của huyện trồng. Các đơn vị này đã thuê bà con ở thôn Khuổi Cấp (Mẫu Sơn) trồng và chăm sóc. Toàn bộ số tiền công trồng và chăm sóc ba năm đầu được thanh toán đầy đủ cho người dân. Sau khi kết thúc dự án 327, không có hỗ trợ tiền bảo vệ rừng nữa, nhưng người dân vẫn có trách nhiệm bảo vệ rừng, nay người dân đòi tiền công bảo vệ rừng thời hạn dài hơn 10 năm…
Do chưa được làm rõ về cơ chế cũng như nguồn kinh phí chi trả cho nên một số hộ dân ở khu vực này đã tự ý vào rừng khai thác dưới dạng cạo, trích lấy nhựa thông đem bán lấy tiền… Phó trưởng Công an xã Mẫu Sơn Hoàng Văn Tạ cho biết: Sở dĩ rừng phòng hộ ở khu du lịch Mẫu Sơn đang bị khai thác nhựa thông tràn lan mà chưa được ngăn chặn là vì hiện tại số rừng thông được quy hoạch nằm trong diện tích đất thuộc về Ban quản lý Khu du lịch Mẫu Sơn quản lý.
Còn số rừng trồng cây thông lại thuộc về Ban quản lý dự án trồng rừng của huyện Lộc Bình quản lý, việc bảo vệ, chăm sóc cây thông lại do bà con trực tiếp làm. Từ chỗ không thống nhất chủ sở hữu rừng thông, dẫn đến “Cha chung không ai khóc”, mặc cho rừng cứ bị tàn phá”.
Trao đổi với chúng tôi, Phó Chủ tịch HĐND huyện Lộc Bình Hứa Văn Cường cho biết: Thời gian tới, huyện phải làm rõ vụ việc và có biện pháp khẩn cấp cứu lấy rừng phòng hộ Mẫu Sơn. Không thể để người dân sống trên đất rừng mà lại nghèo đói, không được hưởng lợi từ đất rừng. Mặt khác phải tuyên truyền, vận động người dân không thể “ tham bát, bỏ mâm”, hủy hoại cả một rừng thông đã trồng hơn 20 năm nay…
Từ thực tế trên, công tác quản lý và bảo vệ rừng phòng hộ ở khu du lịch Mẫu Sơn cần được các cơ quan chức năng của tỉnh và huyện Lộc Bình có biện pháp tuyên truyền, ngăn chặn tình trạng khai thác tràn lan. Đồng thời cần có cơ chế quản lý bảo vệ, phát hiện và ngăn chặn, xử lý các hành vi khai thác nhựa và gỗ thông trái quy định, nhằm bảo đảm quá trình sinh trưởng của cây, cũng như giữ gìn an ninh trật tự, tạo tâm lý yên tâm cho người dân chăm sóc, bảo vệ rừng và được hưởng lợi từ rừng. (Nhân Dân 1/8) đầu trang(
Hôm 1/8, bên lề kỳ họp thứ 2 HĐND TP. Hà Nội khoá XV, trả lời báo chí về việc chủ động phòng tránh cơn bão số 2 - được dự báo là cơn bão mạnh sắp đổ bộ vào Việt Nam, ông Chu Phú Mỹ, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ huy PCTT thành phố cho biết: Rút kinh nghiệm từ cơn bão số 1, các Sở, ban, ngành của thành phố đã chủ động mọi biện pháp để ứng phó với cơn bão số 2
"Chúng tôi chỉ đạo các công ty bơm tiêu kiệt, đặc biệt là các bà con có trang trại, nuôi trồng thủy sản đề phòng khi xảy ra mưa lớn. Đối với công ty công viên cây xanh tiếp tục rà soát lại những cây có khả năng bị đổ khi mưa bão lớn xảy ra, phải cắt cành…" - ông Mỹ cho biết.
Cùng ngày, Ban Chỉ huy PCTT TP Hà Nội đã ra Công điện khẩn yêu cầu Ban chỉ huy PCTT và TKCN các quận, huyện, thị xã, các Sở, ngành chuẩn bị các phương án ứng phó.
Công điện nêu rõ, theo bản tin của Trung tâm dự báo Khí tượng thủy văn Trung ương hồi 10h ngày 1/8/2016, vị trí tâm bão số 2 cách Hongkong khoảng 500km về phía Đông Đông Nam. Sức gió mạnh nhất ở vùng gần tâm bão mạnh cấp 11 - 12, giật cấp 14 - 15. Do hoàn lưu bão số 2 rất rộng, tốc độ di chuyển nhanh, vì thế dự báo sáng 3/8 phía đông Bắc Bộ, bao gồm cả Hà Nội sẽ có mưa lớn.
Trung tâm khí tượng Thủy văn Trung ương nhận định, đây là cơn bão mạnh và để chủ động đối phó, xử lý kịp thời, có hiệu quả với mọi diễn biến bất lợi của cơn bão số 2, Ban Chỉ huy PCTT TP yêu cầu Ban chỉ huy PCTT và TKCN các quận, huyện, thị xã, các Sở, ngành, các Công ty: Thủy lợi, Thoát nước Hà Nội, Công viên cây xanh; Tổng Công ty Điện lực TP Hà Nội thực hiện các nhiệm vụ sau:
Theo dõi chặt chẽ diễn biến của bão số 2. Chuẩn bị đầy đủ lực lượng, vật tư, trang thiết bị, phương tiện theo phương châm 4 tại chỗ, chỉ đạo đối phó kịp thời với mọi diễn biến của mưa bão, đảm bảo an toàn công trình, tính mạng, tài sản của Nhà nước và Nhân dân, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do mưa, bão gây ra.
Tăng cường công tác kiểm tra hồ đập trên địa bàn, chỉ đạo các đơn vị quản lý hồ bố trí lực lượng thường trực, theo dõi, vận hành hồ, đặc biệt là đối với các hồ đã đầy nước; các hồ đang thi công, sẵn sàng lực lượng vật tư, phương tiện để xử lý khi có tình huống xảy ra.
Sở Giao thông Vận tải phối hợp với Công an TP hướng dẫn và đảm bảo giao thông, đặc biệt là khu vực nội đô và các điểm thường xảy ra úng ngập đã có trong phương án.
Công ty TNHH MTV Thoát nước Hà Nội sẵn sàng triển khai phương án tiêu thoát nước đô thị, các Công ty thủy lợi chủ động tiêu nước đệm, sẵn sàng thiết bị, máy móc, triển khai phương án tiêu úng ở các vùng trũng thấp và có biện pháp chống ứng ngập cho diện tích lúa mùa mới cấy.
Công ty TNHH MTV công viên cây xanh tổ chức lực lượng kịp thời giải tỏa cây đổ khi có mưa bão, hạn chế thấp nhất thiệt hại về người và tài sản; không làm ảnh hưởng đến giao thông và sinh hoạt của Nhân dân.
Bộ Tư lệnh Thủ đô, Công an TP chuẩn bị lực lượng, phương tiện sẵn sàng ứng cứu, giữ gìn trật tự trị an khi có tình huống xảy ra trên địa bàn Thành phố. Các sở, ngành theo chức năng nhiệm vụ, phương án phòng chống thiên tai đã được xây dựng sẵn sàng, chủ động đối phó với bão số 2 trên địa bàn TP.
Các đồng chí thành viên Ban chỉ huy PCTT Thành phố thực hiện các nhiệm vụ đã được phân công, chủ động kiểm tra đôn đốc các quận, huyện, thị xã để chỉ đạo các công tác phòng chống úng ngập có thể xảy ra do bão số 2, kịp thời nắm bắt tình hình, báo cáo về Thường trực Ban chỉ huy PCTT TP.
Tổ chức trực ban 24/24, theo dõi, tổng hợp và báo cáo lập thời mọi diễn biến mưa, lũ, úng ngập về Văn phòng Thường trực Ban chỉ huy PCTT TP theo quy định. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 1/8) đầu trang(
Dư luận đặt câu hỏi, liệu cán bộ địa phương có phải là “cổ đông”, có cổ phần trong các doanh nghiệp đang đầu tư trong các nhà máy sản xuất gỗ dăm trái phép ở huyện Tĩnh Gia nên việc xử lý đến nay vẫn chỉ …nằm trên giấy?
Khảo sát của phóng viên những ngày trung tuần tháng 7/2016 cho thấy, gần 10 nhà máy gỗ dăm trái phép tại huyện Tĩnh Gia vẫn ngang nhiên tồn tại, không bị cưỡng chế phá bỏ như các quyết định được ban hành trước đó.Không chỉ các nhà máy cũ tồn tại, mà ngay tại đây, nhà máy mới tiếp tục được xây dựng và chuẩn bị đi vào hoạt động như cơ sở sản xuất của công ty Ngọc Nguyên.
Đặc biệt, nằm trên địa bàn xã Tường Lâm, huyện Tĩnh Gia, nhà máy sản xuất gỗ dăm của Công ty Minh Long ngày càng bành trướng trong hoạt động sản xuất. Ông chủ của nhà máy này đã san gạt hơn 5000m2 đất rừng, xây tường bao chắc chắn và lắp thêm dây chuyền hoạt động.
“Trước đây họ (công ty Minh Long) chỉ có một dây chuyền gỗ dăm, nhưng sau khi tỉnh Thanh Hóa quyết tâm dẹp bỏ thì công ty này lại lắp thêm một dây chuyền khác, hoạt động suốt ngày đêm, thách thức và bất chấp mọi thứ”, một người dân gần nhà máy bức xúc.
Theo văn bản số 1313/TB-UBND ngày 7/7/2016, UBND huyện Tĩnh Gia, Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Minh Long 68 (công ty Minh Long) chưa được chấp thuận chủ trương đầu tư, không có giấy chứng nhận đầu tư, không có giấy phép hoạt động sản xuất,kinh doanh gỗ dăm theo quy định; sử dụng đất sai mục đích, tổ chức xây dựng công trình, hạng mục công trình trái phép.
UBND huyện Tĩnh Gia cũng đã ra “tối hậu thư” yêu cầu công ty Minh Long dừng mọi hoạt động liên quan đến thu mua nguyên liệu và sản xuất, chế biến gỗ trái phép; tự tháo dỡ nhà xưởng, dây chuyền máy móc và các phương tiện, thiết bị khác, trả nguyên hiện trạng, khôi phục lại tình trạng đất như ban đầu trước ngày 15/7/2016.
Ngày 14/7/2016, Công ty điện lực Thanh Hóa cũng có văn bản số 1264/PCTH-P12 gửi điện lực Tĩnh Gia về việc ngừng bán điện cho cơ sở sản xuất gỗ dăm trái phép của công ty Minh Long.
Tuy nhiên, các quyết định và chỉ đạo của huyện Tĩnh Gia đối với Công ty Minh Long chỉ như “nước đổ lá khoai”, không những thiếu chấp hành mà doanh nghiệp này còn ngang ngược cho lắp thêm dây chuyền mới, xây dựng tường bao, san gạt đất rừng để mở rộng quy mô sản xuất. Hàng ngày, nguyên liệu gỗ được hàng đoàn xe tải ào ào chở vào khu đất, tập kết và đưa lên dây chuyền chế biến.
Trả lời phóng viên, ông Lê Anh Cường - Đội trưởng đội kiểm tra quy tắc xây dựng huyện Tĩnh Gia cho biết, tại huyện Tĩnh Gia có 6 cơ sở sản xuất gỗ dăm trái phép. Trong đó, các xưởng đã hoạt động từ lâu là cơ sở sản xuất gỗ dăm của công ty Nghi Sơn; cơ sở sản xuất gỗ dăm của công ty Sinh Lộc Phát; cơ sở sản xuất gỗ dăm của công ty Thành Tiến; cơ sở sản xuất gỗ dăm của công ty Minh Long; cơ sở sản xuất gỗ dăm của công ty Việt Trung; cơ sở sản xuất gỗ dăm của công ty T&T và 1 xưởng mới mọc của công ty Ngọc Nguyên.
Đây là những doanh nghiệp nằm trong “danh sách đen” và đích thân Phó chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Nguyễn Đức Quyền đã ra yêu cầu xử lý, nhưng đến nay, các công trình trái phép đó vẫn ngang nhiên tồn tạn, thách thức dư luận và sự nghiêm minh trong công tác quản lý của tỉnh này.
Trong khi đó, ở cấp quản lý địa phương, lãnh đạo huyện Tĩnh Gia cũng mới chỉ dừng lại ở việc ban hành bản yêu cầu các xưởng dừng tất cả các hoạt động mua bán, sản xuất liên quan đến gỗ dăm và tự tháo dỡ xưởng xây dựng trái phép. Đồng thời huyện chỉ đạo các xã giám sát, ngăn chặn nếu các cơ sở này vẫn cố tình hoạt động… mà không có biện pháp quyết liệt, triệt để hơn.
Trước thông tin các doanh nghiệp này đang được “bảo kê” nên mới bất chấp pháp luật như vậy, ông Cường đã bác bỏ và nói rằng “chúng tôi cũng đã lên phương án cưỡng chế, tháo dỡ các xưởng gỗ dăm trái phép”.
Tuy nhiên, dù đã lên phương án cưỡng chế, nhưng ông Cường lại cho rằng “việc cưỡng chế khá nhạy cảm và phải tiến hành theo các bước. Nếu tỉnh chỉ đạo cưỡng chế tháo dỡ, huyện sẽ thực hiện ngay. Còn phương án trước mắt là cắt điện của các đơn vị này. Điện lực Thanh Hóa cũng đã có văn bản chỉ đạo điện lực Tĩnh Gia ngừng cung cấp điện cho các doanh nghiệp trên”.
Trao đổi với phóng viên, một cán bộ huyện Tĩnh Gia thừa nhận rằng “việc cưỡng chế khá nhạy cảm và khó khăn. Một doanh nghiệp ở địa phương khác đến địa phương sản xuất trái phép mà ngang nhiên như vậy thì chắc chắn phải có chỉ đạo (chỉ đạo bằng miệng).Bằng không, ngay từ khi mới bắt đầu đã bị xử lý chứ làm sao có thể hoạt động trong thời gian dài như vậy”.
Vậy những “chỉ đạo” này là của ai, cần làm rõ thông tin nhân vật nào đang “chống lưng” cho những nhà máy quy mô tàn phá đất rừng như Công ty Minh Long tiếp tục hoạt động?.Vài trò và trách nhiệm quản lý của Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia ở đây là gì, tại sao những sự việc sai phạm rõ ràng như vậy lại không được người đứng đầu huyện này giải quyết một cách triệt để?
Dư luận cũng đặt câu hỏi, liệu cán bộ địa phương có phải là “cổ đông”, có cổ phần trong các doanh nghiệp đang đầu tư và những nhà máy sản xuất gỗ dăm trái phép ở huyện Tĩnh Gia nên việc xử lý đến nay vẫn chỉ …nằm trên giấy?  (An Ninh Tiền Tệ 1/8) đầu trang(
Vấn đề khiến các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ của tỉnh Bình Dương lo ngại nhất hiện nay là doanh thu của họ giảm sút khi doanh nghiệp Trung Quốc ồ ạt đầu tư vào Việt Nam để tận dụng lợi thế ưu đãi khi Việt Nam hội nhập.
Vấn đề khiến các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ của tỉnh Bình Dương lo ngại nhất hiện nay là doanh thu của họ giảm sút khi doanh nghiệp Trung Quốc ồ ạt đầu tư vào Việt Nam để tận dụng lợi thế ưu đãi khi Việt Nam hội nhập - ông Lưu Phước Lộc - Giám đốc Công ty chế biến gỗ Mtrade, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp chế biến gỗ tỉnh Bình Dương lên tiếng tại một buổi tọa đàm của các DN ngành gỗ mới đây.
Cụ thể, ông Lộc cho biết hiện nay đang có làn sóng các doanh nghiệp gỗ của Trung Quốc đầu tư vào tỉnh Bình Dương, vấn đề ở chỗ họ đội lốt một doanh nghiệp Việt Nam, trong khi hàng hóa của họ mang sang gần như đã là thành phẩm, phần việc của họ tại Việt Nam có chăng chỉ là lắp ráp lại và phủ sơn.
“Mục đích của các doanh nghiệp Trung Quốc là họ muốn lấy C/O của Việt Nam, vì hiện nay các doanh nghiệp gỗ của Trung Quốc không được cấp C/O sang thị trường Hoa Kỳ do họ bán phá giá sang thị trường này, hơn nữa họ cũng muốn tận dụng nguồn nhân công giá rẻ của Việt Nam. Trong cạnh tranh về giá, các doanh nghiệp Trung Quốc luôn có lợi thế bởi họ luôn sản xuất với quy mô cực lớn,” ông Lưu Phước Lộc nói.
Nếu không có biện pháp cụ thể, rất có thể các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam sẽ “chết”, các doanh nghiệp Trung Quốc không đứng tên của chính họ mà lại mang danh doanh nghiệp Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu khi TPP có hiệu lực. Như vậy, TPP là con dao hai lưỡi, nếu doanh nghiệp biết tận dụng các ưu đãi do Hiệp định này mang lại sẽ thành công, nhưng với tình trạng này, doanh nghiệp Trung Quốc sẽ lấy hết lợi thế ưu đãi đó của Việt Nam.
Hiện nay Hiệp hội Doanh nghiệp chế biến gỗ tỉnh Bình Dương chưa có thống kê thiệt hại cụ thể của các doanh nghiệp, nhưng theo ông Lộc, tình trạng doanh nghiệp Việt Nam bị mất đơn hàn đang diễn ra hằng ngày, và điều đó ai cũng thấy rõ. Thị trường vẫn còn đó, nhưng miếng bánh đã không còn là của mình mà nằm trong tay người khác.
Để ngăn chặn tình trạng này, đại diện của các doanh nghiệp chế biến gỗ tỉnh Bình Dương đề xuất Bộ Công thương nên có những chính sách về C/O theo hướng rõ ràng hơn, chẳng hạn như với mẫu C/O cụ thể như bắt buộc doanh nghiệp phải tuân thủ sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam theo từng tỷ lệ: 100%, 70% và 50%. Còn đối với những sản phẩm có tỷ lệ nội địa hóa dưới 30% thì dứt khoát không cấp C/O.
“Không thể có chuyện doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam nhưng lại chỉ để lại giá trị thặng dư không đáng kể, có như vậy mới bảo vệ được cho các doanh nghiệp và người lao động Việt Nam,” ông Lưu Phước Lộc bức xúc.
Theo bà Dương Phương Thảo, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), khi TPP được thông qua, sản phẩm xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đều phải đáp ứng quy tắc nguồn gốc xuất xứ, nên các doanh nghiệp hoàn toàn có thể yên tâm. Tuy nhiên, bà Thảo khuyến nghị các doanh nghiệp có thể tập hợp nhau lại gửi kiến nghị lên Bộ Công thương và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam để từ đó có những biện pháp phòng ngừa. (Infonet 2/8) đầu trang(./.