|
Ngày 01 tháng 08 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Toàn tỉnh hiện có 6.167ha đất rừng, phân bố rải rác, không tập trung, tiếp giáp đất nông nghiệp và khu dân cư nên việc kiểm soát hết toàn bộ khu vực, nhất là công tác quản lý đối tượng xâm nhập vào rừng trái phép gặp nhiều khó khăn.
Tuy công tác tuyên truyền được tổ chức thường xuyên, nhưng tình trạng người dân thường xuyên xâm nhập trái phép vào rừng để chăn thả gia súc, khai thác thủy sản, lấy mật ong, bẫy chuột, săn bắt động vật rừng, lấy củi vẫn còn xảy ra. Đối với một số chủ rừng, hiện nay máy chữa cháy đã xuống cấp, công suất máy giảm, do kinh phí khó khăn nên chưa trang bị mới dẫn đến gặp khó khăn trong công tác chữa cháy nếu xảy ra cháy lớn.
Tình hình thời tiết năm 2016 diễn biến phức tạp, nắng nóng, khô hạn kéo dài, nguy cơ cháy rừng rất cao và kéo dài hơn những năm gần đây. Từ đầu năm đến nay đã xảy ra 11 vụ cháy (Vườn Quốc gia Tràm Chim 8 vụ với diện tích 292,985ha), tăng 197,262ha so với cùng kỳ năm ngoái.
Theo Ban chỉ đạo An toàn vệ sinh lao động, phòng, chống cháy nổ và Bảo vệ phòng, chống cháy rừng tỉnh, hiện nay mặc dù đã có mưa nhưng vẫn còn nguy cơ xảy ra cháy rừng.
Do vậy đề nghị Ban Chỉ huy Phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) các cấp tiếp tục duy trì công tác kiểm tra, giám sát và đôn đốc thực hiện công tác bảo vệ rừng; tiếp tục phân công trực PCCCR 24/24 tại các Ban chỉ huy PCCCR cơ sở, trạm chốt, đài quan sát để phát hiện cháy sớm và ứng phó kịp thời, không để cháy lan trên diện rộng; các đơn vị quản lý rừng tổ chức kiểm tra, rà soát các vùng trọng điểm có nguy cơ cháy cao để xây dựng phương án PCCCR giai đoạn 2017-2019... (Báo Đồng Tháp 29/7) đầu trang(
Mới đây, Sở NN-PTNT Thanh Hóa đã tổ chức hội nghị “Sơ kết chương trình phối hợp bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng vùng biên giới hai tỉnh Thanh Hóa – Hủa Phăn năm 2016”.
Phát biểu tại buổi lễ, ông Mai Hữu Phúc, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa cho biết, Thanh Hóa có 16 xã, 54 thôn thuộc địa phận 5 huyện Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hóa, Lang Chánh và Thường Xuân với 192 km đường biên giới; 149.607 ha rừng và đất lâm nghiệp giáp với 3 huyện Xốp Bâu, Viêng Xay và Sầm Tớ của tỉnh Hủa Phăn (Lào).
Đây là khu vực rừng còn giàu tài nguyên với hệ thống động thực vật đa dạng, phong phú, có nhiều loài đặc hữu, quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam và Công ước Cites nên cần được bảo vệ nghiêm ngặt.
Sau khi lắng nghe báo cáo của các đơn vị chuyên ngành, ông Khìn Thum Ma La, Phó Giám đốc Sở NLN tỉnh Hủa Phăn đánh giá cao quá trình hợp tác của 2 tỉnh trong thời gian qua.
Dù vẫn còn một số khó khăn, hạn chế nhưng với sự nỗ lực không ngừng của 2 ngành, tình hình an ninh rừng vùng biên dần đi vào ổn định, tình trạng vi phạm giảm mạnh.
Tổng kết Hội nghị, ông Lê Thế Long, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa khẳng định: “Thông qua chương trình phối hợp đôi bên, chúng ta cơ bản đã có thể kiểm soát được nguy cơ cháy rừng và ngăn chặn hiệu quả các hành vi khai thác, săn bắn động vật, thẩm lậu gỗ khu vực biên giới của 2 tỉnh.
Về nội dung tập huấn nghiệp vụ năm 2017, Sở NN-PTNT Thanh Hóa sẽ cố gắng đáp ứng đầy đủ yêu cầu của Sở NLN tỉnh Hủa Phăn nhưng chúng ta phải nghiên cứu, lựa chọn những vấn đề trọng tâm, thiết thực để cùng nhau phối hợp, triển khai để nâng cao hiệu quả hơn nữa”. (Nông Nghiệp Việt Nam 1/8) đầu trang(
Mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo kiên quyết đóng cửa rừng tự nhiên nhưng tình trạng phá rừng vẫn diễn ra nghiêm trọng mà vụ phá rừng pơ mu mới diễn ra tại Quảng Nam là minh chứng.
Vì sao lại xảy ra tình trạng “con voi chui tọt lỗ kim”? Liệu có sự bao che, dung túng của các cấp chính quyền?… là câu hỏi được dư luận đặt ra sau vụ phá rừng này.
Chỉ hai tháng sau khi tỉnh Quảng Nam công bố 725 cây pơ mu được công nhận cây di sản Việt Nam thì tại khu vực cấm trong rừng di sản được bảo vệ nghiêm ngặt tại huyện Nam Giang, Quảng Nam hàng chục cây gỗ quý pơmu bị lâm tặc ngang nhiên tàn phá không thương tiếc.
Thậm chí, “sản phẩm” của quá trình phá rừng pơmu là những phách gỗ vuông vức, xếp gọn gàng ngay sát… đồn biên phòng và trong khuôn viên Chi cục Hải quan cửa khẩu Nam Giang. Điều này đã khiến luận hết sức bất bình và đặt ra hàng loạt các câu hỏi: Lâm tặc là ai ? Tình trạng này mới xảy ra hay diễn ra từ lâu mà chính quyền không hay biết?…
Và sự thật đã dần hé lộ trong buổi làm việc mới đây của lãnh đạo tỉnh Quảng Nam với các cơ quan có liên quan. Thượng tá Nguyễn Trung, Phó phòng PC 46, CA Quảng Nam cho biết: “Toàn bộ khu vực rừng bị phá và các nơi giấu gỗ đều thuộc sự quản lý của biên phòng, mọi ra vào đều phải xin phép nên công an cho rằng, phía biên phòng không ít lần gây khó dễ trong quá trình điều tra. Đích thân tôi và trưởng phòng đã lên đó, cử trinh sát liên hệ biên phòng nhưng họ nói đây là vùng cấm, không được vào”.
Chính quyền địa phương cũng vô cùng khó khăn khi tiếp cận khu vực này. Ông A Lăng Mai – Chủ tịch UBND huyện Nam Giang bất bình: khi chính quyền đề nghị tổ chức truy quét lâm tặc thì lúc nào đồn biên phòng cũng gây khó khăn, không cho lực lượng của xã vào, cho rằng đây là vùng biên giới, vùng cấm. Và hậu quả của những lần bị ngăn cản đó là đã có hơn 44 m3 với gần 600 phách gỗ đã được tìm thấy trong vụ phá rừng này và 3 cán bộ chỉ huy biên phòng và Chi Cục trưởng Hải quan cửa khẩu Nam Giang bị đình chỉ công tác.
Nói về vụ phá rừng này, ông Đinh Văn Thu – Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam khẳng định trong báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ: vụ phá rừng, khai thác gỗ trái phép là vi phạm pháp luật đặc biệt nghiêm trọng, nằm trong địa bàn quản lý chặt chẽ, nghiêm ngặt của khu vực biên giới; tình tiết vụ việc có dấu hiệu bao che, dung túng của cá nhân, tổ chức được Nhà nước giao nhiệm vụ; gây hoài nghi, mất niềm tin trong Nhân dân và tạo dư luận xã hội không tốt.
Như vậy, lãnh đạo tỉnh Quảng Nam bước đầu đã khẳng định nguyên nhân vụ phá rừng là có sự bao che, dung túng của cá nhân, tổ chức được Nhà nước giao nhiệm vụ. Vậy làm thế nào để hạn chế tình trạng phá rừng, để chủ trương đóng của rừng đi vào thực tế.
Theo giới phân tích, để bảo vệ tuyệt đối rừng, cần có sự vào cuộc của một cách đồng bộ của các cơ quan có chức năng. “Pháp luật đã quy định phải tăng cường sự phối hợp, vào cuộc của chính quyền các cấp, cả hệ thống chính trị nhưng thực tế vụ phá rừng Quảng Nam cho thấy những lỗ hổng về quản lý nhà nước, về sự phối hợp giữ rừng giữa các cơ quan chức năng của tỉnh. Và từ trước đến nay, việc để mất rừng, có lãnh đạo tỉnh, huyện nào bị cách chức đâu?”, ông đặt câu hỏi.
“Cần nghiêm khắc xử lý, điều tra, truy tố, xét xử những tập thể, những cá nhân, những đường dây buôn lậu gỗ, các băng nhóm xã hội có liên quan đến việc phá rừng. Đồng thời xây dựng khung pháp lý bắt giam, khởi tố và truy tố với những cá nhân liên quan đến việc phá rừng vì lợi ích trước mắt. Mức giam có thể đến chung thân tùy theo vị trí, cấp bậc trong xã hội, hoàn cảnh sống, tùy theo rừng bảo tồn quốc gia hay rừng tái sinh song song với việc đưa ra các hình phạt để nghiêm cấm các nhân viên kiểm lâm nhận hối lộ của bọn đầu nậu gỗ để được khai thác rừng tự do bừa bãi”, Luật sư Phạm Văn Thanh – Đoàn Luật sư Quảng Nam kiến nghị. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 31/7) đầu trang(
Trong tháng 7, lực lượng Kiểm lâm phối hợp các ngành, đơn vị cơ sở phát hiện và lập hồ sơ xử lý vi phạm 69 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, trong đó đã xử lý 62 vụ, thu nộp ngân sách nhà nước trên 350 triệu đồng, phạt hành chính 294 triệu đồng.
Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tiếp tục được các cấp, các ngành, các địa phương đặc biệt quan tâm, nhất là việc hoàn thiện quy hoạch, thiết kế trồng rừng, chuẩn bị các loại cây giống và đất trồng rừng năm 2016. 6 tháng đầu năm, các đơn vị trên địa bàn tỉnh đã gieo ươm được 12,5 triệu cây giống các loại.
Đến thời điểm này, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tiến hành kiểm tra cấp giấy chứng nhận lô cây con cho 5/13 đơn vị, với số lượng cây đạt tiêu chuẩn trên 5,4 triệu cây. Đến nay toàn tỉnh đã trồng mới được 661,5 ha, bằng 13,4% diện tích thiết kế, dự kiến các địa phương sẽ hoàn tất trồng mới 5.000ha rừng vào trung tuần tháng 8/2016.
Song song với công tác khôi phục và phát triển rừng, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng tiếp tục được triển khai. Trong tháng 7, lực lượng Kiểm lâm đã tổ chức 30 cuộc tuyên truyền với 862 lượt người tham gia. Cũng trong tháng 7, lực lượng kiểm lâm đã phối hợp với các ngành liên, đơn vị liên quan phát hiện và lập hồ sơ xử lý vi phạm 69 vụ, trong đó, đã xử lý 62 vụ, thu nộp ngân sách nhà nước trên 350 triệu đồng, phạt hành chính 294 triệu đồng.
Đáng kể là vi phạm phá rừng làm nương rẫy 32 vụ, mua bán, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép 29 vụ, tịch thu 14,69m3 gỗ các loại, phạt hành chính126 triệu đồng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sơn La 29/7) đầu trang(
Hàng trăm héc ta rừng tự nhiên ở xã Trường Xuân, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông bị tàn phá để lấy gỗ, lấy đất sản xuất. Cơ quan chức năng biết nhưng bất lực trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Từ nguồn tin báo của người dân, phóng viên TTXVN đã đến hiện trường và tận mắt chứng kiến cảnh tượng phá rừng ở địa phận thôn 9, xã Trường Xuân, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông. Vị trí rừng bị tàn phá chỉ cách UBND xã Trường Xuân khoảng 7km về hướng Đông Bắc, đường đi vào khá thuận lợi. Ghi nhận tại hiện trường cho thấy diện tích rừng bị phá rất lớn lên tới hàng trăm ha, trải dài qua nhiều quả đồi. Những vạt rừng nguyên sinh bị tàn phá tan hoang.
Những cây gỗ lớn, có giá trị được lâm tặc xẻ phách phần nạc mang đi tiêu thụ, còn lại gốc ngọn nằm chỏng chơ. Ở nhiều chỗ mùn cưa còn mới và có nhiều phách gỗ chưa kịp lấy đi. Loại cây ít giá trị hơn thì bị các đối tượng cắt, xẻ làm trụ để trồng tiêu hoặc đốt cháy nham nhở.
Trắng trợn hơn, sau khi tận thu gỗ, các đối tượng phá rừng còn mang cả xe máy múc vào để mở đường, san lấp mặt bằng dựng nhà và múc hố trồng chuẩn bị trồng cây. Ngay trên đất rừng vừa bị phá, hàng chục nghìn trụ tiêu đã được chôn nhưng chưa kịp xuống giống.
Bên cạnh tình trạng phá rừng, hoạt động bán đất lâm nghiệp cũng diễn ra công khai. Người dẫn đường cho chúng tôi cho biết, một héc ta rừng sau khi bị đốn hạ (chưa dọn đốt) được các đối tượng rao bán với giá 180 triệu đồng. Còn một héc ta rừng đứng được bán với giá khoảng 100 triệu đồng cho những ai có nhu cầu đất sản xuất. “Vào mùa khô, rừng bị cưa hạ nằm ngổn ngang như mía. Đất rừng mà chúng rao bán như đất vườn nhà”, người dân bức xúc nói.
Ở nhiều khoảnh rừng vừa bị triệt hạ xen lẫn bên những gốc cây cổ thụ có tuổi đời hàng trăm năm là những cây sắn, cây tiêu đang nhú chồi. Theo người dân địa phương, tình trạng phá rừng ở đây diễn ra ngang nhiên, có tổ chức và kéo dài trong nhiều năm qua, gây bức xức trong dư luận. Thế nhưng chẳng thấy lực lượng chức năng tuần tra, bảo vệ hay có động thái ngăn chặn kịp thời mà để tình trạng phá rừng, xâm lấn và mua bán đất lâm nghiệp trái phép ngày càng diễn biến phức tạp hơn.
Trao đổi với phóng viên, ông Phạm Quốc Thụy, Chủ tịch UBND xã Trường Xuân, huyện Đắk Song thừa nhận có việc phá rừng trên địa bàn xã. Diện tích rừng bị phá nằm ở khoảnh 2 và 5 Tiểu khu 1676 thuộc địa bàn thôn 9, tiếp giáp với lâm phần của Công ty Lâm nghiệp Đắk N’Tao; phần lớn rừng bị phá trước khi doanh nghiệp chuyển về cho địa phương quản lý.
Mục đích phá của các đối tượng chủ yếu để lấy đất sản xuất. Ông Thụy cho biết, năm 2010, UBND tỉnh Đắk Nông có quyết định cho Công ty cổ phần kỹ nghệ gỗ MDF Long Việt (địa chỉ xã Thuận Hạnh, huyện Đắk Song) thuê diện tích đất rừng ở tiểu khu 1676 để thực hiện dự án sản xuất nông lâm nghiệp.
Thế nhưng đơn vị này quản lý, bảo vệ không nổi nên đã trả lại cho tỉnh và tỉnh giao cho địa phương quản lý. Sau khi khoanh vẽ lại, từ cuối năm 2015, UBND xã Trường Xuân đã làm hợp đồng giao khoán 60 ha rừng cho 3 hộ dân thôn 9 quản lý, bảo vệ. Tuy nhiên, hợp đồng giao khoán thực hiện năm một và chưa mang lại nhiều lợi ích nên các hộ chưa mặn mà.
Nhận thức được tình trạng phá rừng, xâm chiếm, buôn bán đất lâm nghiệp trên địa bàn diễn ra công khai, phức tạp nhưng theo lãnh đạo xã Trường Xuân việc quản lý, xử lý gặp rất nhiều khó khăn. Số đối tượng phá rừng đông, phá có tổ chức và rất manh động trong khi đó lực lượng thực thi công vụ mỏng. Nhiều lần, công an và kiểm lâm địa bàn đã giáp mặt chúng nhưng không thể làm gì. Hơn nữa chúng lợi dụng các ngày nghỉ để tổ chức phá rừng và canh tác nên khó phát hiện.
“Cách đây hơn một tháng, UBND xã đã giao cho lực lượng công an xã, kiểm lâm địa bàn phối hợp với Cảnh sát môi trường huyện tiến hành lập hồ sơ, điều tra các đối tượng phá rừng để xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có báo cáo cụ thể.”, ông Thụy cho biết thêm.
Rừng giao cho doanh nghiệp mất, giao về địa phương quản lý, bảo vệ cũng mất. Nếu không có biện pháp quyết liệt để ngăn chặn tình trạng này thì chẳng bao lâu nữa xã Trường Xuân sẽ hoàn thành "chỉ tiêu phá rừng”. (Bnews 30/7) đầu trang(
Một vụ chặt phá rừng thông với quy mô khá lớn vừa bị phát hiện tại thôn 3A, xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
Vị trí bị phá thuộc lâm phần của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Quảng Sơn quản lý. Qua dấu vết để lại tại hiện trường cho thấy, sự việc này mới diễn ra khoảng 2 - 3 ngày gần đây.
Điều đáng nói là vị trí rừng thông bị phá nằm sát Quốc lộ 28, cách trụ sở làm việc của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Quảng Sơn, UBND xã, trạm kiểm lâm địa bàn, đồn công an xã Quảng Sơn chỉ khoảng 2km. Nhưng sự việc không được lực lượng chức năng phát hiện và ngăn chặn. (Đài Truyền Hình Việt Nam 30/7) đầu trang(
Báo cáo số 295/BC-SNN.KL của Sở NN&PTNT Nghệ An ngày 28/7, xác nhận vấn đề Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống bị xẻ thịt được đăng trên báo Tiền Phong ngày 6/7 là đúng.
Báo cáo nêu rõ, sau khi báo Tiền Phong nêu về thực trạng Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống bị xẻ thịt Sở NN&PTNT Nghệ An đã chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm đi kiểm tra thực tế.
Qua kiểm tra tại vùng lõi Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống gồm: Khe Oi (huyện Quỳ Châu); Khe Hạng (huyện Tương Dương); Khe Mét (huyện Con Cuông) tổ công tác Chi cục Kiểm lâm phát hiện 175 tấm gỗ các loại để rải rác tại các gốc chặt, khe suối.
Trong đó, Khe Oi phát hiện 105 tấm, Khe Nhạp 45 tấm, Khe Mét 12 tấm, Khe Hạng 8 tấm, Khe Nga Ngần 5 tấm … Sau khi phát hiện số gỗ bị khai thác trên lực lượng Kiểm lâm Pù Huống đã đánh số thứ tự, canh phòng không cho lâm tặc vận xuất ra khỏi rừng.
Sở NN&PTNT cũng yêu cầu Chi cục Kiểm lâm phối hợp cùng các đơn vị liên quan:
Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nghiêm túc Luật phát triển, bảo vệ rừng. Rà soát các đối tượng lâm tặc thường vào rừng khai thác lâm sản trái phép để theo dõi, giáo dục, đấu tranh ngăn chặn.
Tìm biện pháp để thu hồi số lâm sản bị khai thác trái phép còn để trong rừng. Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống với các Hạt Kiểm lâm của các địa phương nằm trong khu bảo tồn để thường xuyên nắm bắt tình hình biến động tài nguyên rừng để sớm phát hiện các trường hợp vi phạm.
Kiểm điểm trách nhiệm tập thể, cá nhân có liên quan trong việc rừng bị khai thác, chặt phá trái phép.
Trước đó, ngày 06/7/2016 báo Tiền phong đăng bài “Xẻ thịt khu bảo tồn thiên nhiên”, nêu tình trạng chặt phá rừng tại KBTTN Pù Huống (thuộc xã Châu Hoàn, huyện Qùy Châu, Nghệ An). (Tiền Phong 30/7) đầu trang(
Quá trình chỉ đạo thu gom cây gãy đổ do bão có phát hiện số cây đổ nhiều hơn con số ban đầu, chỉ vì sơ suất không làm thủ tục báo cáo bổ sung mà ông Nguyễn Quang Dũng - nguyên Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ Phan Thiết đã bị khép vào tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”, dù bản thân ông thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, hoàn toàn không trục lợi cá nhân và không gây ra hậu quả thiệt hại.
Trong đơn kêu cứu gửi Báo PLVN, ông Nguyễn Quang Dũng (SN 1962) trình bày: Ngày 1/4/2012, cơn bão số 1 đổ bộ vào khu vực xã Tiến Thành (TP Phan Thiết) làm gãy đổ một số cây keo lá tràm ở khu rừng tiểu khu 245A và 245B do Ban Quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Phan Thiết quản lý. Ông Trần Minh Đức (Trạm trưởng Trạm bảo vệ rừng Tiến Thành) phát hiện có 29 cây gãy đổ nên báo cho ông Nguyễn Văn Chỉ là Trưởng phòng Kỹ thuật, sau đó ông Chỉ đã báo cho ông Dũng là Trưởng BQLRPH Phan Thiết biết.
Ngày 3/4/2012, ông Dũng ký Công văn số 63 gửi Sở NN&PTNT tỉnh Bình Thuận báo cáo tình hình và đề nghị Sở cho phép đơn vị thu gom, vận chuyển 29 cây gãy đổ trên chờ xử lý. Ngày 9/4/2012, Sở NN&PTNT Bình Thuận có Công văn 599 thống nhất kiến nghị của BQLRPH Phan Thiết, giao BQL kiểm tra thực tế và lập biên bản hiện trường, lên lý lịch cây gãy đổ, thu gom vận chuyển về nơi tập trung và lập thủ tục xuất bán nộp ngân sách theo quy định.
Thực hiện Công văn 599, khi tiến hành kiểm tra thực tế, ông Đức đã phát hiện số cây gãy đổ thực tế là 105 cây, đến ngày 12/4 phát hiện thêm có 41 cây nữa, nâng tổng số lên 146 cây. Mặc dù biết số cây gãy đổ nhiều hơn so với báo cáo ban đầu nhưng vì tính cấp thiết của tình hình khắc phục hậu quả bão và vì chủ quan, ông Dũng không làm thủ tục báo cáo Sở NN&PTNT để xin chủ trương xử lý theo quy định mà vẫn tiến hành khai thác theo kiểu “tiền trảm, hậu tấu”.
Ngày 6/9/2012 Sở NN&PTNT tỉnh Bình Thuận tổ chức kiểm tra thực địa đã phát hiện số cây thực tế khai thác nhiều hơn so với báo cáo nên đã có thông báo gửi BQLRPH Phan Thiết. Thực hiện thông báo trên, ngày 24/12/2012, BQLRPH Phan Thiết có Tờ trình số 326 xin cấp phép thu gom số cây ngã đổ do bão số 1 theo khối lượng thực tế đã khai thác là 66,162m3 gỗ và 38,82 ster củi.
Ngày 28/12/2012 Sở NN&PTNT tỉnh Bình Thuận ra Quyết định số 1743 phê duyệt và cấp phép thu gom số gây gãy đổ theo số liệu trên. Như vậy, có thể hiểu những thiếu sót về thủ tục giấy tờ đã được BQLRPH Phan Thiết bổ sung và được cơ quan chủ quản là Sở NN&PTNT Bình Thuận chấp thuận.
Đột ngột ngày 14/7/2014, Công an TP Phan Thiết đã khởi tố ông Nguyễn Quang Dũng (Trưởng BQLRPH Phan Thiết), Nguyễn Văn Chỉ (Trưởng phòng Kỹ thuật) và Huỳnh Văn Năm (Kiểm lâm viên) về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”. Mặc dù ông Dũng liên tục kêu oan nhưng tại phiên tòa sơ thẩm sau đó, TAND TP Phan Thiết tuyên cả 3 người mức án tù về tội danh trên, bản án sau đó bị cấp phúc thẩm tuyên hủy do có vi phạm về tố tụng.
Sau khi điều tra lại vụ án, ngày 2/11/2015 VKSND TP Phan Thiết đã ra Cáo trạng mới truy tố các bị cáo với nội dung và tội danh như cũ. Ông Dũng tiếp tục kêu oan và khẳng định mình không có tội, TAND TP Phan Thiết đã lên lịch xét xử vụ án nhưng do thấy không đủ căn cứ buộc tội các bị cáo nên đã trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung. Tuy nhiên kết luận điều tra bổ sung vẫn giữ nguyên quan điểm khởi tố.
Trình bày với Báo PLVN, ông Nguyễn Quang Dũng khẳng định hành vi của mình chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, bản thân ông thi hành công vụ khách quan, công tâm, tuy có chủ quan, duy ý chí nhưng không vụ lợi và chưa gây ra thiệt hại. Điều tréo ngoe là, mặc dù không đủ chứng cứ kết tội nhưng CQĐT vẫn cố tình khép tội dựa trên nguyên tắc suy đoán… có tội!
Ông Dũng trình bày: “CQĐT khép tôi vào tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” là do tôi chỉ đạo khai thác lâm sản trái phép tại khu vực rừng sản xuất (rừng được trồng bằng tiền ngân sách nhà nước). Điều này hoàn toàn thiếu căn cứ, vì thực tế tôi thi hành công vụ thu gom cây gãy đổ do bão chứ không phá rừng, tôi chỉ có sơ suất là không báo cáo bổ sung, chứ hoàn toàn không khai thác lâm sản trái phép, không trục lợi. Chưa kể, khu vực thu gom đã có quyết định đưa ra ngoài 3 loại rừng, không còn là rừng sản xuất nữa nên không phải là khách thể bị xâm hại của tội này!”.
Về vụ việc này, ngày 28/1/2016, Bộ NN&PTNT có Công văn số 787 trả lời đơn của ông Dũng nêu rõ: “Nếu BQLRPH Phan Thiết đã báo cáo số cây đổ do bão để Sở cho thu gom và chỉ thu gom những cây gãy, đổ do bão gây ra nhằm thực hiện biện pháp kỹ thuật lâm sinh, tận thu lâm sản cho Nhà nước, không nhằm mục đích lấy lâm sản tiêu thụ, sử dụng bất hợp pháp; có sai sót về thủ tục trong việc thực hiện nhiệm vụ, nhưng chưa cấu thành hành vi “khai thác rừng trái phép”.
Trường hợp BQLRPH Phan Thiết và các cá nhân, tổ chức liên quan lợi dụng việc bão làm đổ, gãy cây và văn bản chỉ đạo của Sở NN&PTNT Bình Thuận để khai thác cả những cây không bị đổ, gãy do bão, lấy gỗ sử dụng không đúng chủ trương của tỉnh thì có thể coi là hành vi “khai thác rừng trái phép”.
Bản thân Sở NN&PTNT tỉnh Bình Thuận bằng Công văn số 200 ngày 26/1/2016 trả lời yêu cầu cung cấp thông tin vụ án của TAND TP Phan Thiết cũng nêu rõ: Diện tích rừng và đất lâm nghiệp tại tiểu khu 245A và 245B tại xã Tiến Thành đã được đưa ra ngoài 3 loại rừng để chuyển mục đích sang xây dựng khu dân cư tại xã Tiến Thành và phát triển du lịch.
Ông Dũng bức xúc: “Các văn bản của Sở và Bộ NN&PTNT là cơ quan quản lý trực tiếp và Bộ chủ quản đã làm sáng tỏ bản chất sự việc, thể hiện hành vi của tôi không vi phạm các quy định về khai thác rừng, thế nhưng CQĐT vẫn cố tình buộc tội chúng tôi. Mặc dù CQĐT không có thẩm quyền xác lập các loại rừng nhưng họ đã tự trao cho mình quyền này để bảo vệ quan điểm khởi tố của mình và khép tội oan công dân. Kết luận điều tra viện dẫn rất gượng ép, thiếu cơ sở pháp lý khi cho rằng mặc dù tiểu khu 245A và 245B đã được UBND tỉnh Bình Thuận quy hoạch đưa ra ngoài 3 loại rừng nhưng chưa có quyết định thu hồi rừng, chưa có quyết định chuyển mục đích rừng thì vẫn là rừng sản xuất(!) Họ cố tình xác định đây vẫn là sản xuất để khép tội chúng tôi, dù thực tế tỉnh đã quy hoạch và có quyết định đưa diện tích này ra ngoài 3 loại rừng…”.
Bản chất sự việc thể hiện rất rõ ràng. Việc ông Dũng tổ chức thu gom cây gãy đổ do bão là thực hiện Công văn số 599 của Sở NN&PTNT tỉnh Phan Thiết, được thực hiện công khai, minh bạch và hoàn toàn không có động cơ vụ lợi, không gây ra hậu quả thiệt hại. Quá trình thực hiện có sai sót về thủ tục, nhưng như văn bản của Bộ NN&PTNT đã nhận định “chưa cấu thành hành vi khai thác rừng trái phép”. Vậy nên, việc CQĐT, VKSND TP Phan Thiết buộc tội ông Dũng “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” là không đúng bản chất sự việc, khiên cưỡng, buộc tội công dân thiếu căn cứ.
Đề nghị TAND TP Phan Thiết trong phiên tòa sơ thẩm tới đây xem xét vụ án một cách toàn diện, minh bạch, khách quan, không vì nể nang, né tránh trách nhiệm mà áp dụng sai pháp luật, làm oan người vô tội. (Pháp Luật Việt Nam 30/7) đầu trang(
Hàng chục cây thông ba lá thuộc rừng phòng hộ xung yếu tại khu vực thôn Gần Reo bị triệt hạ, khiến khoảnh rừng thông xanh tốt ngày nào nay không còn reo trong gió…
Theo ghi nhận hiện trường ngày 28/7, một khoảnh rừng thông xanh tốt tại khu vực tiểu khu 276, lâm phần nằm trên địa bàn thôn Gần Reo (xã Liên Hiệp, huyện Đức Trọng), do Doanh nghiệp tư nhân Vườn rừng Nguyễn Thành Lợi quản lý (rừng liên kết trồng với Công ty CP Tập đoàn Tân Mai) đã bị ai đó triệt hạ trắng trên một diện tích khá rộng.
Toàn bộ số thông bị cưa hạ trái phép này được các đối tượng cắt thành từng lóng gỗ, chưa kịp chuyển ra khỏi rừng, vẫn để nằm ngổn ngang ở hiện trường. Qua quan sát, số thông bị đốn hạ có đường kính gốc từ 15-40 cm, lá còn xanh, gốc cây vẫn còn tứa nhựa. Bên cạnh đó, một số lượng lớn cây thông quanh đó cũng bị ken gốc đã và đang trong chết đứng.
Vụ rừng thông bị triệt hạ trên chỉ được các chiến sĩ thuộc Đội Cảnh sát kinh tế, Công an huyện Đức Trọng sau gần một tuần mật phục, bắt quả tang được hai đối tượng sử dụng cưa máy cưa hạ thông vào trưa ngày 26/7. Tuy nhiên, lợi dụng lúc chờ tăng cường lực lượng, hai đối tượng đã nhanh chân lẩn trốn vào rừng. Qua điều tra, lực lượng chức năng xác định đối tượng Ha Sưng (SN 1985) cùng Ha Gun (SN 1989) - cả hai đều ngụ tại xã Liên Hiệp, được doanh nghiệp Nguyễn Thành Lợi thuê đốn hạ số lượng thông trên.
Chiều cùng ngày, Giám đốc Xí nghiệp nguyên liệu giấy Lâm Đồng (thuộc Công ty CP Tập đoàn Tân Mai) Thủy Ngọc Phúc, xác nhận: Diện tích rừng trồng bị “khai thác” trái phép trên là rừng phòng hộ xung yếu được trồng vào năm 2001, không được phép khai thác trắng, phải đảm bảo cây trồng sau tỉa thưa còn lại ít nhất 600 cây/ha, chưa kể việc chặt hạ trên là vi phạm hợp đồng kinh tế với xí nghiệp giấy Lâm Đồng.
Thượng tá Nguyễn Hồng Nhị - Phó Trưởng Công an huyện Đức Trọng cho biết, Công an huyện đang tiến hành củng cố hồ sơ, mở rộng điều tra vụ phá rừng xảy ra trên địa bàn. Qua kiểm tra hiện trường ban đầu, cơ quan chức năng xác định ít nhất 2.500 m2 rừng thông thuộc đối tượng rừng trồng rừng phòng hộ xung yếu đã bị phá trắng, với 67 cây bị đốn hạ, trữ lượng gỗ thiệt hại khoảng 15 m3.
Cũng theo Thượng tá Nhị, hiện Công an huyện Đức Trọng đang phối hợp với Hạt Kiểm lâm địa phương tiến hành điều tra làm rõ vụ phá rừng này. Đây là vụ việc hết sức nghiêm trọng, khi doanh nghiệp được giao quản lý trực tiếp phá rừng. (Báo Lâm Đồng 29/7) đầu trang(
Chiều ngày 29-7, ông Nguyễn Văn Sơn, Giám đốc Sở NN&PTNT Lâm Đồng đã ký quyết định điều động ông Lê Văn Chuyên, nguyên Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Bảo Lâm và L, nguyên Hạt phó Hạt kiểm lâm huyện Bảo Lâm đến nhận công tác tại văn phòng Chi Cục kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng từ ngày ký quyết định.
Việc điều động ông Lê Văn Chuyên và Phạm Bá Niên về nhận công tác tại Văn phòng Chi Cục kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng là để chờ thực hiện theo đề nghị tại cáo cáo số 88/BC-KL ngày 28-7-2016 của Chi Cục kiểm lâm và báo cáo số 02/BC-HĐKL ngày 27-7-2016 của Hội Đồng kỷ luật Sở NN&TPNT Lâm Đồng.
Trong thời gian giữ chức Hạt trưởng, Hạt phó Hạt kiểm lâm huyện Bảo Lâm, ông Lê Văn Chuyên và Phạm Bá Niên đã để xảy ra khai thác rừng trái phép trong thời gian dài tại tiểu khu 390A, 396, 397, thuộc khu vực thủy điện Đồng Nai 5, huyện Bảo Lâm.
Thống kê của các cơ quan chức năng, có 109 cây gỗ cổ thụ bị khai thác trái phép. Tổng khối lượng gỗ bị thiệt hại là trên 330m3, chủ yếu là gỗ dỗi, xuân thôn, sile và xương gà (nhóm II).
Liên quan đến vụ án này, Cơ quan công an đã khởi tố, bắt tạm giam 11 đối tượng, trong đó đối tượng cầm đầu đường dây khai thác rừng trái phép này là Lê Hồng Hà (tức Hà đen), quê Nghệ An hiện đang bỏ trốn, cơ quan công an đã phát lệnh truy nã. (Công An Nhân Dân 29/7) đầu trang(
Liên quan đến vụ phá rừng trái pháp luật tại xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang đã được Báo Điện tử Tài nguyên & Môi trường phản ánh trong thời gian vừa qua, mới đây, Cục Kiểm lâm (Tổng cục Lâm nghiệp – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đã có công văn đề nghị Công an huyện Sơn Động khẩn trương điều tra, xác minh xử lý nghiêm những vi phạm theo đúng pháp luật.
Công văn nêu rõ: Cục Kiểm lâm đã nhận được báo cáo của Chi cục Kiểm lâm Bắc Giang về kết quả kiểm tra, xử lý thông tin trên Báo Điện tử Tài nguyên & Môi trường và báo cáo của Chi cục Kiểm lâm vùng I về kết quả kiểm tra công tác quản lý bảo vệ rừng và xử lý vi phạm tại huyện Sơn Động, Bắc Giang.
Theo nội dung báo cáo, vụ phá rừng trái pháp luật tại xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động có dấu hiệu phạm tội nên Chi cục Kiểm lâm Bắc Giang đã ban hành văn bản số 213/KL-TTPC ngày 25/5/2016, chỉ đạo Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Sơn Động hoàn thiện, chuyển hồ sơ, kiến nghị Cơ quan Công an huyện Sơn Động khởi tố vụ án hình sự về tội: “Hủy hoại rừng”.
Ngày 1/6/2016, Hạt Kiểm lâm Sơn Động ban hành văn bản số 18/HKL-TTPC về việc đề nghị điều tra, xử lý vụ phá rừng trái pháp luật tại khoảnh 3, xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, kèm theo toàn bộ hồ sơ vụ vi phạm chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Động để điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Để thực hiện nghiêm Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ. Cục Kiểm lâm đề Công an huyện Sơn Động chỉ đạo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Động khẩn trương điều tra, xác minh xử lý nghiêm vụ phá rừng tại xã Tuấn Mậu theo đúng quy định của pháp luật.
Cũng liên quan quan đến vụ việc này, sau khi nhận được công văn của Báo Điện tử Tài nguyên & Môi trường, Thanh tra Bộ Công an đã chuyển đơn đến Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang để xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Trước đó, Báo Điện tử Tài nguyên & Môi trường đã đăng loạt bài phản ánh việc ông Phạm Văn Thắng – Chủ tịch UBND thị trấn Thanh Sơn (Sơn Động, Bắc Giang) là chủ rừng nhưng lại để cho con trai là Phạm Văn Cương (hiện đang làm cán bộ tư pháp thị trấn Thanh Sơn) ngang nhiên phá gần 03 hécta rừng tự nhiên được nhà nước giao để quản lý, chăm sóc bảo vệ. Vụ việc đang thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân và được các cơ quan chức năng khẩn trương vào cuộc làm rõ. (Tài Nguyên Và Môi Trường 29/7) đầu trang(
Một Thượng tá Hải quân hơn 20 năm dốc sức nhận giao khoán trồng và bảo vệ 33 ha rừng, tuy nhiên hiện nay ông bị cho là "khai thác gỗ rừng trái phép" chỉ vì dọn hơn 10 cây bị đổ do mưa bão. Ông đã làm đơn kêu cứu gửi các cơ quan báo chí.
Theo trình bày của Thượng tá Phạm Hùng Mạnh, Trung đoàn 83 - Công binh Hải quân, đại diện cho nhóm 12 hộ gia đình, nhận giao khoán 63ha đất rừng Bắc Sơn Trà, thuộc phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, Đà Nẵng, đặc điểm của rừng bán đảo Sơn Trà là không có các loài gỗ quý hiếm. Phần lớn cây rừng ở đây đều là các loại gỗ tạp, gỗ thông thường từ nhóm V đến nhóm VIII, nên nhiều cây gỗ có tuổi đời trên 15 năm là tự mục lõi, hoặc bị mối mọt xâm hại.
Bên cạnh đó, hàng năm rừng bán đảo Sơn Trà phải hứng chịu rất nhiều cơn bão lớn, hậu quả là rất nhiều cây bị gãy, đổ bật gốc, đặc biệt cơn bão số 11 năm 2013, hàng loạt cây lớn bị gãy, đổ ngổn ngang. Nhiều cây bị gãy ngang thân, gãy cạnh, ngọn... khiến cho một thời gian sau cây đó cũng bị chết khô.
Do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên như vậy nên rừng ở bán đảo Sơn Trà chủ yếu là cây tầng thấp, các cây gỗ ở đây đều là gỗ tạp, không có giá trị thương mại.
Năm 1992, Trung đoàn 83 - Công binh Hải quân chọn khu vực Bãi Bắc bán đảo Sơn Trà là điểm dừng chân hành quân dã ngoại, đồng thời đây còn là điểm đợi cơ tàu chiến đấu, khi đó khu vực bãi Bắc Sơn Trà là vùng núi hoang sơ, cây cối thưa thớt, vì vậy Thượng tá Phạm Hùng Mạnh cùng đồng đội đã tiến hành trồng cây gây rừng và bảo vệ chăm sóc những cây còn lại.
Những người chiến sỹ Hải quân này ý thức được rằng, việc trồng rừng và bảo vệ rừng cũng là một trong những nhiệm vụ chính trị của mình.
“Năm 1996, đơn vị chúng tôi chuyển quân vào Cam Ranh để đi xây dựng đảo ngoài Trường Sa. Sau đó, Ban bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Sơn Trà ra khu vực này kiểm tra và động viên chúng tôi làm thủ tục xin nhận giao đất trồng rừng theo Nghị định 01/CP ngày 04/01/1995 của Chính phủ. Chúng tôi nhận thấy việc nhận giao khoán đất trồng rừng theo Nghị định 01/CP của Chính phủ là chủ trương đúng đắn về phát triển, bảo vệ rừng và đây là cơ hội để các gia đình chúng tôi có điều kiện phát triển kinh tế vườn rừng.
Vì vậy, theo hướng dẫn của Ban BTTN Sơn Trà, chúng tôi đã làm đơn xin xác nhận của đơn vị, rồi gửi Ban BTTN Sơn Trà để làm các thủ tục nhận giao khoán đất. Sau đó, Ban BTTN Sơn Trà đã ký “Hợp đồng giao khoán đất để trồng rừng và phát triển kinh tế vườn” với các hộ chúng tôi, thời hạn là 50 năm. Đến nay chúng tôi đã chăm sóc, bảo vệ và phát triển trồng mới được nhiều hécta rừng.
Để có được hàng trăm hécta rừng tại bán đảo Sơn Trà xanh tốt như ngày hôm nay, và được coi là lá phổi xanh của thành phố, không thể không kể đến công lao, tiền của và không biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt, tâm huyết của các gia đình chúng tôi đã dồn vào đó", ông Mạnh nêu rõ quá trình giao nhận khoán đất của mình trong đơn.
Mọi chuyện bắt đầu khi Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng thực hiện ý kiến chỉ đạo của Giám đốc Sở NN-PTNT TP Đà Nẵng thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra tại tiểu khu 63, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, phát hiện nhiều cây gỗ bị chặt hạ trong rừng với tổng số khối lượng ước chừng 63,4 m3 gỗ.
Qua xác minh, tổng số cây đã khai thác là 16 cây, đường kính gốc từ 15-143cm, trong đó có một cây bị bật gốc, ngã tự nhiên không rõ nguyên nhân và một cây có đường kính gốc chính 140cm gồm hai thân trong đó một thân đường kính 75cm bị gãy ngã tự nhiên không rõ nguyên nhân.
Chủng loại gỗ thuộc gỗ thông thường (gỗ tạp) nhóm V, VI, VII gồm các loại: chò đen, nhội, dẻ trắng, sồi trắng, lim xẹt và lòng mang lá lớn. Báo cáo kết quả kiểm tra của Đoàn đã đánh giá vi phạm này là nghiêm trọng nên báo cáo xin ý kiến xử lý.
Trao đổi với chúng tôi, ông Phạm Hùng Mạnh cho biết: “Khi nhận giao khoán, tất cả các hợp đồng ký kết giữa ông và Ban quản lý Khu BTTN Sơn Trà, TP Đà Nẵng đều ghi rõ là giao đất, chứ không phải giao rừng. Suốt 23 năm trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng tôi chỉ ghi nhận có 25 trường hợp cây đổ do bão, mối ăn rỗng và nguyên nhân tự nhiên. Các cây này đổ đè lên phần cây trồng giá trị của hộ nhận khoán nên tất yếu phải thu dọn. Hơn nữa, vì khu đất đã ký hợp đồng liên doanh làm khu du lịch sinh thái nên một số cây có nguy cơ đổ phải dọn ngay để tránh tai nạn cho du khách thăm quan”.
Không chỉ dọn cây sắp đổ, ông Mạnh còn cho trồng thay thế vào đó hàng ngàn cây có giá trị, tạo cảnh quan đẹp, đồng thời quy hoạch tốt để phòng chống cháy rừng.
Ông Mạnh cũng cho biết thêm: “Trong quá trình bảo vệ, chăm sóc và phát triển rừng, để tạo cảnh quan sinh thái, để phòng chống cháy rừng và cũng là để an toàn cho những du khách đến tham quan vườn rừng, tránh để những cây chết khô đổ, gãy rất dễ gây tai nạn, tôi đã cho người vệ sinh, thu dọn một số cây gỗ đổ, ngã, cây chết đứng.
Đối với một số cây đổ, gã chắn ngang lối đi, tôi cho cắt khúc và xếp gọn ngàng cạnh đó. Đối với một số cây chết đứng có nguy cơ đổ gãy bất cứ lúc nào, tôi cho cắt hạ và cũng xếp gọn cạnh gốc. Tất cả các khúc gỗ đều còn nguyên ở tại hiện trường, các đoàn kiểm tra cũng đã đo đếm chứ tôi chưa hề vận chuyển một khúc gỗ, thậm trí là một mẩu gỗ nhỏ nào ra khỏi rừng.
Đối với những cây gỗ này các đoàn thanh tra, kiểm tra đều biết rất rõ, chúng đều là cây gỗ khô, không phải gỗ tươi và cũng không có giá trị kinh tế thương mại. Trước hiện trường như vậy, có người trong đoàn kiểm tra đã chia sẻ với tôi rằng việc này đúng là: “tình ngay lý gian”.
Một người chiến sỹ Hải quân với 37 năm công tác trong quân đội phục vụ chủ yếu tại quần đảo Trường Sa, dốc cả tiền bạc, sức lực để trồng, bảo vệ 33 ha rừng suốt 23 năm qua nay có thể bị coi là phá rừng khi dọn hơn mười cây bị đổ do mưa bão? Dưới tán rừng này, gia đình Thượng tá Phạm Hùng Mạnh đã đầu tư trồng hơn 30 ha cây sâm cau đang đợi ngày thu hoạch.
Mấy năm vừa ông cũng đã trồng hơn 3.000 cây sưa đỏ, hàng nghìn cây bầu gió nhưng sưa đỏ thì hiện đang phát triển rất tốt, còn bầu gió có lẽ do khí hậu thổ nhưỡng ở khu vực này không hợp nên phát triển chậm và không có tinh dầu. Ngoài ra ông Mạnh cùng gia đình còn trồng rất nhiều keo và nhiều loại cây ăn trái có giá trị kinh tế. Với bao nhiêu tâm huyết, tài sản như vậy, ông có cần đánh đổi tất cả vì mấy cây gỗ tạp?
Một trong những điểm mà Đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra tại tiểu khu 63, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà phát hiện là hơn 3 khối gỗ tại kho của Cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch Trường Mai.
“Theo báo cáo kết của các cơ quan chức năng, qua kiểm tra phát hiện tại kho của Công ty Trường Mai (đây là Cơ sở liên kết, liên doanh với chúng tôi để trồng rừng, bảo vệ và phát triển rừng, trồng cây dược liệu, kết hợp khai thác dịch vụ vườn rừng) có cất giữ 3,6 m3 gỗ xẻ các loại và tại hiện trường rừng có 25 cây bị đổ, có đường kính từ 15-143cm, trong đó có 13 cây có tác động của con người (cưa, cắt), khối lượng của 13 cây này được tạm tính là 39,4 m3… Tất cả đều là gỗ tạp, thuộc nhóm V, VI, VII, và hiện tại chưa có cơ sở chứng minh số cây rừng nói trên là bị gãy đổ, chết khô do gió bão hay do con người chặt hạ trái phép. Tuy nhiên trên cơ sở đó, Hạt kiểm lâm liên quận Sơn Trà – Ngũ Hành Sơn đã vội vàng kết luận rằng: chúng tôi có hành vi mua bán lâm sản trái phép; khai thác rừng đặc dụng trái phép vi phạm điều 12 của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004; đã gây hậu quả vượt mức tối đa xử phạt vi phạm hành chính…; gây thiệt hại có mức độ là rất nghiêm trọng…”, ông Mạnh bức xúc nêu trong đơn.
“Còn đối với số lượng gỗ hơn 3,6m3 theo báo cáo nói là phát hiện ở trong kho của Cơ sở Trường Mai, tôi xin trình bày như sau: Số gỗ nói trên là gỗ thành phẩm (đã được chế biến đóng thành đồ dùng) bao gồm 01 bộ phản gỗ, 04 mặt bàn dài và nhiều thanh gỗ làm mặt ghế.
Tất cả số sản phẩm nói trên được làm từ gỗ Quỷnh đỏ và Sao xanh. Tôi mua các sản phẩm này của Công ty TNHH TM DV Mai Phước Tiến và Công ty TNHH MTV Đại Phú Sinh về để sử dụng. Tất cả số hàng trên đều có hóa đơn chứng từ rõ ràng và tôi đã xuất trình với đoàn kiểm tra”.
Như đã phân tích ở trên, đặc điểm của rừng bán đảo Sơn Trà là không có các loài gỗ quý hiếm. Phần lớn cây rừng ở đây đều là các loại gỗ tạp, gỗ thông thường từ nhóm V đến nhóm VIII và rừng bán đảo Sơn Trà không có hai loại gỗ Quỷnh đỏ và Sao xanh nói trên. Như vậy, trình bày của ông Mạnh là có cơ sở, ông không khai thác rừng đặc dụng trái phép để làm đồ gia dụng.
Đối chiếu trình bày của ông Phạm Hùng Mạnh và tài liệu thu thập được, đặc biệt là Báo cáo ngày 30/8/2010 của Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng thì có thể thấy đơn kêu cứu của ông Mạnh là có cơ sở. Theo đó, Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng xác nhận nguồn gốc đất do ông Mạnh quản lý là giao khoán theo nghị định 01/CP ngày 04/01/1995 của Chính phủ ban hành quy định về giao khoán sử dụng đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước.
Năm 1997, 1998 ông Phạm Hùng Mạnh có nhận khoán trồng rừng 33 ha tại Tiểu khu 55 cũ (nay là tiểu khu 63, Bán đảo Sơn Trà, TP Đà Nẵng). Thủ tục giao khoán 15 ha và 18 ha để trồng rừng và phát triển kinh tế vườn do Ban quản lý Khu BTTN Sơn Trà, TP Đà Nẵng giao năm 1997, 1998 … Các tài liệu khác đều thể hiện các hộ dân nhận khoán đất trồng rừng tại khu vực trong đó có hộ ông Phạm Văn Mạnh đều chăm sóc, bảo vệ tốt rừng suốt 23 năm qua.
“Là người trong cuộc, tôi hiểu rằng trong vụ việc này có nhiều điều không bình thường. Do vậy, tôi kính đề nghị các cơ quan chức năng có thẩm quyền xem xét xác minh, làm rõ bản chất sự việc xem ở đây có việc phá rừng như phản ánh hay không, để trả lại sự trong sạch cho những con người như chúng tôi đang dồn công sức, tiền của gia đình để bảo vệ, chăm sóc lá phổi xanh của Thành phố và nay mang là kẻ phá rừng”, ông Mạnh nêu rõ.
Một người chiến sỹ Hải quân với 37 năm công tác trong quân đội phục vụ chủ yếu tại quần đảo Trường Sa, dốc cả tiền bạc, sức lực để trồng, bảo vệ 33 ha rừng suốt 23 năm qua nay có thể bị coi là phá rừng khi dọn hơn 10 cây bị đổ do mưa bão? (Công Lý 31/7) đầu trang(
Khi tổ công tác của Hạt Kiểm lâm Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống yêu cầu dừng xe để kiểm tra số gỗ đang vận chuyển thì bị nhóm “lâm tặc” truy sát, đánh hội đồng.
Hậu quả, đồng chí Nguyễn Chí Việt, Phó Đội trưởng Đội Cơ động PCCCR thuộc Hạt Kiểm lâm Pù Huống bị thương nặng phải đưa đi cấp cứu tại bệnh viện tuyến trên.
Theo nguồn tin từ Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống cho biết, thực hiện kế hoạch tuần tra, kiểm soát bảo vệ rừng của tỉnh, đơn vị đã trực tiếp giao cho Trạm QLBVR Diên Lãm cử các tổ công tác thường xuyên túc trực 24/24 giờ để ngăn chặn tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép ra khỏi địa bàn.
Vào khoảng 5 giờ 15 phút ngày 25/7, tại khu vực bản Nật Trên thuộc xã Châu Hoàn, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, tổ công tác gồm các đồng chí Đào Công Thắng, Nguyễn Thành Sơn, Nguyễn Chí Việt do đồng chí Trần Đức Long, Phó Trạm trưởng của Hạt Kiểm lâm Pù Huống làm Tổ trưởng đã phát hiện 1 chiếc xe ôtô nghi chở lâm sản trái phép nên yêu cầu dừng lại để kiểm tra.
Trong quá trình yêu cầu chiếc ôtô nghi vấn chở lâm sản trái phép về Trạm QLBVR Diên Lãm xử lý, tổ công tác phát hiện trên xe chứa nhiều bê gỗ trái phép đã cưa xẻ thành phẩm không có giấy tờ hợp lệ. Tuy nhiên, khi yêu cầu xe ôtô đổ gỗ xuống thì nhóm lâm tặc đã có hành vi chống đối, lái xe bỏ chạy đến khu vực bản Nật Dưới, xã Châu Hoàn trút gỗ xuống đất rồi gọi đồng bọn đến tấn công lực lượng kiểm lâm.
Hậu quả, anh Nguyễn Chí Việt, Phó Đội trưởng Đội cơ động PCCCR thuộc Hạt Kiểm lâm Pù Huống bị đánh vào đầu, lưng… ngất xỉu tại chỗ. Chưa dừng lại ở đó, nhóm lâm tặc còn đánh anh Trần Đức Long bị thương ở chân. Sau khi hành hung kiểm lâm, nhóm lâm tặc bỏ trốn khỏi hiện trường.
Trung tá Vi Xuân Thuỷ, Phó trưởng Công an huyện Quỳ Châu cho biết: Sau khi sự việc xảy ra, Công an huyện và Công an xã Diên Lãm đã kịp thời có mặt tại hiện trường để điều tra, truy bắt các đối tượng liên quan. Riêng đồng chí Nguyễn Chí Việt do bị thương nặng nên đã được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An.
Chiều cùng ngày, đối tượng cầm đầu chống đối kiểm lâm trong khi thi hành công vụ là Nguyễn Quang Tuấn trú tại bản Tóng 2, xã Châu Phong đã đến Công an huyện Quỳ Châu đầu thú.
Hiện, cơ quan CSĐT Công an huyện Quỳ Châu đang tạm giữ đối tượng Nguyễn Quang Tuấn và tiến hành triệu tập các đối tượng liên quan để mở rộng điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. (Báo Nghệ An/ Công An Nhân Dân 31/7) đầu trang(
Sự kiện cây Xích Tùng cổ thụ hơn 700 tuổi ở Yên Tử (Quảng Ninh) bị đổ sau cơn bão số 1 vừa qua một lần nữa lại gióng lên hồi chuông báo động về việc bảo tồn các cây Xích Tùng cổ tại Rừng quốc gia Yên Tử.
Cây Xích Tùng bị đổ có đường kính thân cây hơn 70cm, cao gần 30m, nằm ở vị trí đường mòn cũ từ chùa Hoa Yên sang Am Dược.
Nguyên nhân, theo ông Lê Tiến Dũng, Trưởng Ban Quản lý Di tích và Rừng quốc gia Yên Tử, thì do tuổi thọ cây cao, quá trình phát triển bị sâu bệnh, cây bị thoái hóa, rễ không còn vững chắc, vị trí cây đứng trên nền đất yếu, trong trận bão gặp gió xoáy lốc khiến cây bị quật đổ.
Di tích Yên Tử có đường Tùng nổi tiếng, với 69 cây Tùng cổ thụ xếp hàng thẳng tắp hai bên đường đi, tán cây rộng che phủ hầu khắp, khiến đường hành hương luôn râm mát; rễ cây trồi lên trên mặt đất, vươn theo các bậc đá tạo vẻ uy nghi, cổ kính và trầm mặc của núi rừng Yên Tử.
Theo nghiên cứu và thống kê của các nhà khoa học, rừng Yên Tử có 830 loài thực vật trong đó có 38 loài đã được ghi vào sách đỏ Việt Nam là Ngành dương sỉ, Ngành hạt trần và Ngành hạt kín. Các loại cây như: Gụ, Lau, Vàng Kiêng, Thông Tra, Thông Tra lá ngắn, Tùng La Hán, Giổi Xanh, Giổi Đỏ, Sến Mật, Đinh Thối, Vù Hương...
Trong đó có loài cây đã gắn bó với Đức Vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông và Thiền Phái Trúc Lâm hiện còn sót lại ở Rừng quốc gia Yên Tử là loài Xích Tùng cổ, với 237 cây còn lại có tuổi đời hơn 700 năm, phân bố tập trung ở khu vực Đường Tùng, Am Dược, Chùa Hoa Yên lên Thác Vàng, Thác Bạc; khu vực Chùa Vân Tiêu, Bảo Sái, Hòn Ngọc, Tháp Tổ...
5 năm trở lại đây, 18 cây Xích Tùng đã chết; 132 cây có thân, gốc bị mục rỗng một phần, cụt ngọn, thân nghiêng, sâu bệnh hại nặng,... Riêng đường Tùng cổ thụ có 69 cây thì 7 cây đã chết đứng, 51 cây bị mục rỗng thân, gốc và sâu bệnh hại. Bên cạnh đó thì còn có nhiều nguy cơ xâm hại rất lớn khác cho cây Tùng như bệnh xỉ mủ làm chết hoại dần phần thân gỗ, bệnh khô cành, thân do nấm.
Dự án chăm sóc, bảo tồn các cây Xích Tùng cổ tại Rừng quốc gia Yên Tử đã được TP. Uông Bí lập từ năm 2015, hiện vẫn đang chờ các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trong khi đó, nhiều “lão” Tùng bị bệnh, vẫn đang được “điều trị” bằng các liệu pháp thủ công, như: Đẽo gọt phần mối mọt ở thân cây, sau đó phun thuốc chống mối mọt, rồi sơn phủ lớp chống thấm. Thậm chí có những hốc bị mục ruỗng lớn, nhân viên Ban quản lý đắp tạm xi măng; gia cố các trụ bê tông chống đỡ cây...
Theo ông Lê Tiến Dũng, đây là những biện pháp tạm thời xuất phát từ thực tế cây Tùng cổ của Yên Tử bị xâm hại nghiêm trọng, khả năng tái sinh kém và có nguy cơ tuyệt chủng. “Việc lập dự án đầu tư chăm sóc, bảo tồn các loài cây Xích Tùng cổ tại Rừng quốc gia Yên Tử là rất cấp bách, nhằm nghiên cứu tìm ra những giải pháp hợp lý để bảo vệ, chăm sóc và kéo dài tuổi thọ của các loài cây Xích Tùng cổ hiện còn sót lại tại Rừng quốc gia Yên Tử, cũng như là bảo tồn một phần văn hóa lịch sử dân tộc” – ông Dũng nói.
Vẫn biết ngay cả những “lão” Tùng cổ thụ ở Rừng quốc gia Yên Tử cũng không tránh khỏi quy luật “Sinh – Lão – Bệnh - Tử”, nhưng hơn bao giờ hết, chứng tích lịch sử đã gắn bó với Đức Vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông và Thiền Phái Trúc Lâm này cần được quan tâm đúng mức. (Dân Việt 31/7) đầu trang(
9 giờ ngày 29-7, trong lúc TTKS trên QL40B (đoạn qua địa bàn xã Trà Tân, H. Bắc Trà My, Quảng Nam), lực lượng Hạt Kiểm lâm Bắc Trà My phát hiện xe tải BKS 76C-03672 có dấu hiệu chở gỗ "lậu".
Lực lượng yêu cầu tài xế dừng xe để kiểm tra nhưng đối tượng tăng tốc bỏ chạy rồi sau đó dừng xe, bỏ trốn. Qua kiểm tra, lực lượng kiểm lâm phát hiện trên xe chở 63 tấm gỗ (gần 15m3), được ngụy trang dưới nhiều lớp vỏ bao xi-măng. Vụ việc đang được lực lượng chức năng điều tra làm rõ. (Công An TP.Đà Nẵng 30/7) đầu trang(
Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Sơn La vừa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 5 đối tượng Bùi Văn Mừng, Mùi Văn Hữu, Mùi Văn Hòa, Hoàng Văn Diễn và Bùi Văn Nhất cùng trú tại xã Nam Phong, huyện Phù Yên về hành vi mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép.
Trước đó, tại địa bàn xã Nam Phong, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, Phòng Cảnh sát Môi trường, Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Đội Kiểm Lâm Cơ động và PCCCR số 1 đã kiểm tra và phát hiện 1 xe ôtô vận chuyển lâm sản trái phép khoảng 3,5m3 gỗ Bách xanh; gỗ nghiến và gỗ xẻ thông thường do các đối tượng trên mua bán, vận chuyển.
Toàn bộ tang vật đã được bàn giao cho Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Sơn La để giải quyết theo quy định của pháp luật. (ANTV 31/7) đầu trang(
Tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép vẫn diễn ra ở một số địa phương ở thị xã Ninh Hòa (Khánh Hòa). Mới đây, khi đi dọc tuyến Quốc lộ 26, đoạn qua địa bàn các xã: Ninh Xuân, Ninh Sim, Ninh Tây, chúng tôi bắt gặp nhiều xe máy vận chuyển gỗ lậu.
Ven Quốc lộ 26 ở khu vực núi Đeo, xã Ninh Xuân, qua quan sát, chỉ trong khoảng 15 phút, chúng tôi đếm được hơn 10 xe máy vận chuyển gỗ chạy qua, theo hướng từ Ninh Tây xuống thị xã Ninh Hòa. Đa số các xe này chở từ 1 đến 2 hộp gỗ xẻ dài hơn 2m, chạy nghênh ngang trên đường, thậm chí có xe “nài” tới 3 - 4 cây gỗ kiểu đòn tay dài hơn 4m.
Một người dân địa phương cho biết: “Cứ khoảng 14 - 15 giờ, 19 - 20 giờ và rạng sáng, xe máy vận chuyển gỗ lậu từng tốp phóng qua đây rất nhanh. Gỗ chủ yếu được đưa về từ thượng nguồn Ea Krông Rou và một số khu vực khác như: Bến Lễ (xã Ninh Tây), Ninh Tân…”.
Tại xã Ninh Tây, trong khoảng 1 giờ, chúng tôi bắt gặp hàng chục xe máy độ chế chở gỗ về xuôi. Tiếp cận một người đàn ông trạc 40 tuổi đang chở gỗ lậu, chúng tôi được người này cho biết: “Gỗ này chủ yếu là gỗ tạp, khai thác từ khu vực rừng Bến Lễ về bán cho một số người thu mua ở địa phương. Sau đó, người ta bán lại cho ai, chở đi đâu tiêu thụ thì tôi không rõ”. Cũng theo lời ông này, hoạt động “ăn gỗ” ở khu vực rừng Bến Lễ không “xôm tụ” bằng khu vực Ea Krông Rou.
Tại thôn Buôn Sim, Buôn Lác (xã Ninh Tây), chúng tôi thấy những lóng gỗ còn mới, không hề có dấu búa của kiểm lâm nằm chất đống bên hông nhà, trong vườn, dưới gầm nhà sàn. Theo lời kể của ông Y.H, người dân địa phương, ngoài việc tập kết gỗ rải rác trong nhà dân, chờ thời điểm thích hợp để chuyển đi, tại Buôn Sim có hẳn một điểm tập kết gỗ của lâm tặc.
Sau khi đưa gỗ theo đường mòn từ Ea Krông Rou xuống, các đối tượng tập kết tại bãi gỗ này. Khi chúng tôi đến, gỗ trên bãi đã được đưa đi gần hết, chỉ còn 3 lóng gỗ mới. “Cao điểm, ở bãi tập kết này có đến hàng chục lóng gỗ. Có khi người ta dùng xe máy để chở, có khi đưa hẳn ô tô vào vận chuyển mà không ai ngó ngàng gì”, ông H. nói.
Theo quan sát của chúng tôi, xe máy được các đối tượng sử dụng để vận chuyển gỗ trái phép đã được độ chế, mỗi xe có thể chở được 700 - 800kg, vượt qua dốc cao, suối sâu mà không hề hấn gì, thậm chí có xe còn lắp thêm bộ phận tời để tời gỗ.
Được biết, lượng xe máy độ chế tham gia vận chuyển gỗ trái phép ở thị xã Ninh Hòa khá nhiều, chủ yếu là của đồng bào dân tộc thiểu số sống gần rừng, không có việc làm ổn định nên vào rừng để vận chuyển gỗ thuê. Để bắt được xe máy vận chuyển gỗ không hề đơn giản, mỗi khi biết lực lượng chức năng tuần tra, kiểm soát, các đối tượng sẽ rút lui.
Ông Nguyễn Công Hà - Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Ninh Hòa cho rằng: “Các đối tượng khai thác gỗ trái phép tại khu vực thượng nguồn thủy điện Ea Krông Rou có cả người dân tỉnh Đắk Lắk và Khánh Hòa. Từ ngày có barie trên tuyến đường lên hồ thủy điện, tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ lậu trái phép đã giảm khoảng 80% so với trước. Tuy nhiên, vào rừng có nhiều đường, lực lượng quản lý bảo vệ rừng của đơn vị không được trang bị công cụ hỗ trợ nên cứ bịt chỗ này thì bùng ở chỗ khác. Muốn xử lý, kiểm soát được tình trạng này phải có các biện pháp đồng bộ, nhất là phải xử lý các địa điểm tiêu thụ, các xưởng chế biến gỗ lậu trên địa bàn”.
Được biết, để nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn thị xã, nhất là ở các “điểm nóng”, Hạt Kiểm lâm thị xã đã tập trung tuyên truyền, vận động người dân tại các địa phương tham gia bảo vệ rừng, không tiếp tay cho những đối tượng phá rừng; tăng cường phối hợp với các cấp, ngành, các tỉnh giáp ranh trong quản lý, bảo vệ rừng.
Bên cạnh đó, tăng cường hoạt động của kiểm lâm xã; hỗ trợ lực lượng cho các đơn vị chủ rừng trong kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi xâm hại rừng. Ngoài ra, hạt còn tăng cường kiểm tra hoạt động chế biến, kinh doanh lâm sản của các cơ sở, xử lý nghiêm những trường hợp buôn bán, tiêu thụ lâm sản trái phép...
Tuy tình trạng khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản trái pháp luật trên địa bàn thị xã thời gian qua ở quy mô nhỏ nhưng rất tinh vi, diễn ra ở nhiều địa phương. Trong khi đó, lực lượng quản lý, bảo vệ rừng lại mỏng; chính quyền cấp xã chưa đủ mạnh để cùng với lực lượng chức năng ngăn chặn tình trạng vi phạm ngay từ gốc; việc tự bảo vệ rừng của các đơn vị chủ rừng được Nhà nước giao chưa hiệu quả... Đây là những nguyên nhân chính khiến việc quản lý, bảo vệ rừng gặp khó khăn. (Báo Khánh Hòa 31/7) đầu trang(
Ngày 31/7, ông Vũ Thiện Thuyết, Hạt phó hạt kiểm lâm huyện Nông Cống (Thanh Hóa) cho biết, sau khi xem những hình ảnh giết khỉ của một nam thanh niên được cho là ở Thanh Hóa đăng lên facebook cùng với sự phản ánh của báo Người Đưa Tin, đơn vị đã vào cuộc xác minh sự việc.
Qua điều tra, các tấm ảnh trên được đăng tải bởi Cao Tuấn Anh (trú tại xóm 6, xã Tân Khang, huyện Nông Cống, Thanh Hóa). Ngay sau đó, Hạt kiểm lâm đã phối hợp với Công an huyện này xuống nhà của Cao Tuấn Anh để kiểm tra.
Khám xét tại nhà, lực lượng chức năng không phát hiện ra dấu vết nào cho thấy nam thanh niên có khỉ hay việc hay các hoạt động liên quan đến giết thịt loài động vật quý này.
Cao Tuấn Anh xác nhận đã đăng các hình trên, tuy nhiên nam thanh niên này không tham gia việc săn bắt hay giết thịt khỉ như nội dung đã đăng tải. Cao Tuấn Anh cho biết những hình ảnh này được chụp tại xã Tân Phúc, huyện Nông Cống (Thanh Hóa).
Theo đó, trong lúc nam thanh niên sang nhà hàng xóm là ông Lê Văn Sáu (SN 1970, trú tại thôn 1, xã Tân Phúc, huyện Nông Cống) chơi, thấy cảnh tượng đó nên đã đăng tải lên mạng facebook với mục đích khoe với bạn.
Từ lời khai của Tuấn Anh, hạt kiểm lâm Nông Cống phối hợp vơ quan công an huyện đã tìm đến gia đình ông Sáu để kiểm tra. Tại đây hạt kiểm lâm huyện đã bắt quả tang gia đình ông Sáu đang tổ chức nấu cao khỉ.
Ông Sau thừa nhận việc mình sử dụng 3 cá thể để nấu cao. Theo đó, trong một chuyến đi chơi ở miền Nam, vô tình thấy một số người bán khỉ nên mua 3 con đem về nấu cao để dùng trong gia đình.
“Hiện, chúng tôi đã niêm phong nồi cao khỉ của gia đình, đồng thời đưa tang vật về hạt kiểm lâm Nông Cống để phục vụ cho công tác điều tra”, ông Vũ Thiện Thuyết cho biết.
Như tin tức đã đưa, vào khoảng 12h40 ngày 27/7, tài khoản facebook có tên Kubin Remix đã đăng lên trang cá nhân 3 hình ảnh khoe “chiến tích” đi săn khỉ bị giết hại dã man.
Tài khoản facebook này chỉ nói vài dòng ngắn gọn “1 tuần đi săn thành công”, “đang cảm thấy tuyệt vời”. Trong comment dưới hình ảnh, tài khoản này cho biết chiến lợi phẩm này được săn bằng súng và ở quê vợ.
Những hình ảnh đưa lên cho thấy có khoảng 3 - 4 con khỉ đã trưởng thành bị giết chết với những vết máu đang còn dính trên cổ. Xác khỉ được đựng trong túi nilon.
Đến sáng ngày 28/7, facebook cá nhân Kubin Remix mới được chủ nhân tạm khóa nhưng hình ảnh về chú khỉ bị chủ nhân giết hại nhận được hàng trăm lượt chia sẻ, kèm theo đó là thái độ phẫn nộ, bức xúc.
Khỉ là loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IIB – nhóm hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại theo quy định tại Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về Danh mục động vật, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Cũng theo quy định này, mọi hành vi săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán, nuôi nhốt trái phép khỉ đều bị nghiêm cấm.
Các đối tượng vi phạm có thể bị xử phạt hành chính ở mức cao nhất lên đến 500 triệu đồng đối với cá nhân và 1 tỷ đồng đối với tổ chức.
Mới đây, vi phạm liên quan đến động vật hoang dã loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIB cũng đã được đưa vào quy định của Bộ luật Hình sự sửa đổi (có hiệu lực từ ngày 1/7/2016). Theo đó, vi phạm liên quan đến các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIB như khỉ với số lượng lớn có thể bị xử lý hình sự lên đến 12 năm tù. (Người Đưa Tin 31/7) đầu trang(
Tại Việt Nam, trong nỗ lực bảo tồn sao la - một trong những loài động vật quý hiếm và bí hiểm nhất thế giới, được mệnh danh “kỳ lân châu Á”, các chuyên gia đã sử dụng từ các phương pháp thủ công truyền thống đến công nghệ tiên tiến nhất.
Sao la là loài thú lớn cổ đại được phát hiện gần đây nhất. Từ lần đầu tiên được nhìn thấy tại Vườn quốc gia Vũ Quang (Nghệ An) vào tháng 5/1992 đến nay, loài vật này chỉ xuất hiện thêm vài lần. Năm 2006, Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) xác định tình trạng loài sao la ở mức “cực kỳ nguy cấp”.
“Số lượng cá thể sao la còn lại hiện vẫn chưa được xác định chính xác, nhưng chắc chắn là rất ít” - thạc sỹ (ThS) Lương Việt Hùng - quản lý hợp phần các khu bảo tồn sao la ở Trung Trường Sơn, dự án CarBi của Quỹ Quốc tế bảo tồn thiên nhiên (WWF) tại Việt Nam - cho biết.
Với dải phân bố hẹp như dãy Trường Sơn, môi trường gần quốc lộ, đông dân cư khiến sao la bị nạn săn trộm đe dọa. “Tuy không phải mục tiêu chính của bọn săn trộm nhưng sao la vô tình trở thành nạn nhân khi mắc bẫy dùng để bắt các loài động vật khác ở vùng Trung Trường Sơn” - TS Văn Ngọc Thịnh - Giám đốc WWF Việt Nam – khẳng định.
TS Thịnh và ThS Hùng là những người may mắn được tận mắt trông thấy sao la, nhưng kỷ niệm đó đều là nốt buồn của người làm bảo tồn. “Sao la mẹ mắc bẫy chết, chúng tôi được giao nhiệm vụ chăm sóc sao la non. Không biết sao la ăn lá gì nên chúng tôi hái rất nhiều loại lá rừng. Khi đó, sao la non chỉ ăn lá môn thục. Tuy nhiên, nó bị chết sau đó một thời gian” - TS Thịnh nhớ lại.
Sau khi loài sao la được IUCN đánh giá ở tình trạng “cực kỳ nguy cấp”, các chuyên gia bảo tồn xác định việc cấp bách nhất là trả lại hệ sinh thái tự nhiên và loại bỏ nguy cơ săn trộm. Năm 2006-2007, dự án “Hành lang xanh” ra đời nhằm đánh giá tài nguyên rừng, xây dựng cảnh quan ưu tiên bảo tồn sao la.
Năm 2011, mô hình đồng quản lý giữa WWF và Ban quản lý các khu bảo tồn sao la ra đời với các đội bảo vệ rừng có nòng cốt là dân bản địa. Tiếp đó, 4 trạm kiểm lâm, 2 trại bảo vệ rừng được thiết lập. “Hằng ngày chúng tôi tuần rừng, phá bẫy thú, đặt bẫy ảnh; mỗi đợt băng 50km đường rừng, không quản nắng, mưa” - ThS Hùng cho biết. Tháng 7/2013, bẫy ảnh đặt tại vùng núi Quảng Nam đã phát hiện một cá thể sao la.
“Mục tiêu của chúng tôi là rừng lõi khu bảo tồn sao la không còn một dây bẫy, một bóng thợ săn, không còn nạn phá rừng trái phép, khi đó mới trả lại hệ sinh thái tự nhiên cho sao la” - TS Thịnh cho biết.Trong 5 năm tuần tra bảo vệ rừng, 84.000 bẫy thú và hơn 1.000 trại bất hợp pháp đã được các đội bảo vệ rừng thu giữ và phá huỷ. Hiện tại, Khu bảo tồn quốc gia Xê sáp (Lào), Khu bảo tồn sao la Thừa Thiên - Huế, Khu bảo tồn sao la Quảng Nam và Vườn quốc gia Bạch Mã mở rộng đã tạo nên một khu vực phức hợp rừng, xác lập được “ngôi nhà chung” của sao la ở Trung Trường Sơn và Nam Lào.
Các chuyên gia dự án WWF - CarBi đang triển khai giám sát đa dạng sinh học bằng cách dùng bẫy ảnh và phân tích DNA mẫu vắt (mẫu máu mà vắt hút từ động vật khác) thu thập tại rừng lõi 2 khu bảo tồn Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam. “Đây là 2 phương pháp được chúng tôi thực hiện song song, hỗ trợ nhau để xác định quần thể sao la có đủ khả năng sinh sản trong tự nhiên không” - TS Thịnh nói.
Phương pháp phân tích DNA qua mẫu vắt được triển khai từ năm 2013. Mẫu được các đội bảo vệ rừng thu thập và lưu trữ trong ống nghiệm với hóa chất cố định DNA kèm thông tin hiện trường. WWF đã gửi mẫu sang Trung Quốc và phát hiện dấu hiệu nghi ngờ của 2 cá thể sao la ở 2 mẫu vắt. Hai mẫu này tiếp tục được gửi đi phân tích DNA tại Đại học Gottingen (Đức), Đại học Copenhagen (Đan Mạch), cho cùng kết quả.
Tuy nhiên theo TS Thịnh, vẫn chưa thể kết luận đó chính là DNA của sao la vì các loài thú có những đoạn gene tương đồng. “Sao la là loài mới phát hiện, chưa có nghiên cứu đầy đủ nên ngân hàng gene chưa có bộ gene mẫu. WWF đang tiếp tục cho thu thêm mẫu vắt. Chúng tôi đã thu được thêm 600 mẫu và đang làm thủ tục chuyển đi, dự kiến sẽ xét nghiệm ở Đại học Berlin, hy vọng sẽ khớp được đoạn gene còn lại” - TS Thịnh bày tỏ.
Trong trường hợp quần thể sao la ngoài tự nhiên không đủ khả năng tái tạo (dưới 4-6 cá thể cái, 1 cá thể đực trong một quần thể), phương pháp bảo tồn gây nuôi sinh sản sẽ được áp dụng. Theo TS Thịnh, các chuyên gia về bảo tồn sao la và về gây nuôi sinh sản, chăm sóc động vật hoang dã hàng đầu thế giới sẽ được tuyển chọn nhằm đảm bảo các cá thể sao la trong môi trường gây nuôi có cơ hội tốt nhất để tồn tại, sinh sản.
“Gây nuôi sinh sản là phương pháp bảo tồn sao la triệt để nhất. Khi triển khai, dự án sẽ được hỗ trợ bởi các vườn thú Frankfurt (Đức), San Francisco (Mỹ)” - TS Thịnh tiết lộ.
WWF vừa chọn ngày 9/7 là Ngày Quốc tế sao la, chính thức công bố dự án “Cứu sao la - đứa em cùng Đất Mẹ” - một chiến dịch cộng đồng giúp nâng cao nhận thức và sự tham gia sâu rộng của xã hội nhằm bảo tồn sao la. (Khoa Học Và Phát Triển 1/8) đầu trang(
Ngày 31.7, thông tin từ hạt kiểm lâm H.Định Quán (tỉnh Đồng Nai) đã phát hiện và xử phạt một vụ vận chuyển trái phép 75 cá thể chim hoang dã trên quốc lộ 20.
Trước đó, lúc 5h sáng 30.7, đối tượng Mai Xuân Sang, 34 tuổi, ngụ H.Định Quán đang chở 75 cá thể chim hoang dã gồm: Chào mào, khứu bạc má, cưởng, yến phụng... Hạt Kiểm lâm huyện Định Quán tiến hành lập biên bản xử phạt hành chính với đối tượng, đồng thời tịch thu tang vật, số lượng chim nói trên.
Từ đầu năm 2016, Kiểm lâm đã phát hiện thêm 3 trường hợp đối tượng vận chuyển động vật rừng trái phép, gồm: 6 cá thể chim chích chòe lửa, 1 khỉ đuổi dài với trọng lượng 7 ký và 1 cá thể kỳ đà hoa với trọng lượng 0,2 ký. (Lao Động 31/7) đầu trang(
Mới đây, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) đã tổ chức một cuộc họp báo, đề xuất các cơ quan quản lý Nhà nước nghiêm cấm gây nuôi thương mại và buôn bán động vật hoang dã (ĐVHD) nguy cấp, quý, hiếm.
Tình trạng buôn bán ĐVHD trái phép đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến đa dạng sinh học của Việt Nam. Năm 2010, cá thể tê giác Java cuối cùng của Việt Nam đã bị giết để lấy sừng. Nhiều loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm khác như hổ, voi, cá sấu, tê tê và các loài linh trưởng quý hiếm cũng đang bên bờ vực tuyệt chủng. Nhu cầu tiêu thụ ĐVHD ở Việt Nam và Trung Quốc được xem là nguyên nhân chính thúc đẩy tình trạng này.
Trong bối cảnh đó, nhiều ý kiến ủng hộ quan điểm hợp pháp hóa gây nuôi thương mại và buôn bán ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm cho rằng gây nuôi thương mại vừa là một giải pháp phát triển kinh tế vừa có giá trị bảo tồn.
Bà Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc ENV chia sẻ:“Chúng tôi cho rằng gây nuôi thương mại và buôn bán ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm sẽ gia tăng nhanh chóng nguy cơ tuyệt chủng của những loài này. Việc đem tương lai của nhiều loài ĐVHD nguy cấp bậc nhất trên thế giới để đánh đổi lấy lợi nhuận của một nhóm người là vô cùng mạo hiểm".
Bà Hà cũng giải thích quan điểm của ENV về sự cần thiết nghiêm cấm tuyệt đối mọi hình thức gây nuôi thương mại và buôn bán các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được bảo vệ theo quy định của pháp luật Việt Nam và thế giới (cụ thể là Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp) dựa trên 3 luận điểm như sau:
Hầu như không có giá trị bảo tồn: Công tác bảo tồn ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm không thể diễn ra song hành với hoạt động gây nuôi thương mại những loài này. Trong khi mục tiêu của bảo tồn là để bảo vệ nền đa dạng sinh học, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội, thì mối quan tâm hàng đầu của chủ các cơ sở gây nuôi là lợi nhuận.
Các cơ sở gây nuôi thương mại vì vậy sẽ không đầu tư vào cơ sở vật chất, kỹ thuật cho sinh sản hay có kiến thức để đảm bảo tránh giao phối cận huyết, lai tạp nguồn gen, những điều kiện cơ bản để tái thả ĐVHD về tự nhiên (nếu có). Hơn nữa, hầu hết các cá thể ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được gây nuôi đã bị mất đi bản năng sinh tồn và kĩ năng cần thiết giúp chúng sống sót trong tự nhiên nếu được tái thả.
Ảnh hưởng tới các nỗ lực thực thi pháp luật: Sự song song tồn tại của cả sản phẩm ĐVHD hợp pháp và bất hợp pháp trên thị trường gây khó khăn lớn cho công tác thực thi pháp luật, tạo điều kiện cho các đối tượng vi phạm lợi dụng để buôn bán, kinh doanh ĐVHD bất hợp pháp.
Ông Khổng Trung, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị giải thích: “Các cán bộ thực thi pháp luật không thể phân biệt được giữa sản phẩm ĐVHD được gây nuôi hợp pháp từ các trang trại và các sản phẩm bị săn bắt trái phép từ tự nhiên được đem đi tiêu thụ trên thị trường.”
Ông Trung cho biết thêm “Chúng tôi sẽ không thể phân biệt được cao hổ và mật gấu từ tự nhiên hay do nuôi nhốt một khi đã bị đưa ra thị trường. Cách duy nhất để bảo vệ ĐVHD là nên nghiêm cấm mọi hình thức buôn bán các loài này để các cán bộ thực thi pháp luật làm tốt phần việc của mình".
Kích thích nhu cầu tiêu thụ: Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm từ ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm nhiều khả năng sẽ tăng lên đáng kể nếu các sản phẩm hiện đang bị cấm này được phép lưu hành trên thị trường.
Khi sản phẩm từ ĐVHD sẵn có trên thị trường, nhiều người vốn chưa từng có nhu cầu sử dụng có thể sẽ “thử” sử dụng các sản phẩm từ ĐVHD. Cùng với việc nhu cầu tiêu thụ tang lên là sự gia tăng tình trạng săn bắn ĐVHD trái phép ngoài tự nhiên để đáp ứng nhu cầu đó.
Ngoài ra, một số loài ĐVHD hiện đã được gây nuôi thành công nhưng vẫn tiếp tục bị săn bắt ngoài tự nhiên vì chi phí đầu tư để khai thác ngoài tự nhiên rẻ hơn rất nhiều so với đầu tư gây nuôi. Trong một số trường hợp, ĐVHD có nguồn gốc từ tự nhiên còn được ưa chuộng hơn ĐVHD được sinh sản trong môi trường nuôi nhốt.
PGS. TS. Lê Xuân Cảnh, Nguyên Viện trưởng Viện sinh thái và Tài nguyên Sinh vật – một trong những cơ quan khoa học CITES Việt Nam nhận định: “Bảo tồn nền đa dạng sinh học độc đáo của đất nước luôn là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển. Để gìn giữ đa dạng sinh học cho thế hệ tương lai, chúng ta cần phải nghiêm túc bảo vệ các loài ĐVHD, đặc biệt là những loài có nguy cơ bị mất đi vĩnh viễn".
Ông Cảnh cũng nói thêm: “Việc gây nuôi ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm có thể mang lại lợi nhuận cho một số người, song nó lại đe dọa nghiêm trọng đa dạng sinh học đất nước".
Tại buổi họp báo, ENV cũng công bố kết quả cuộc khảo sát hoạt động gây nuôi thương mại ĐVHD ở các trang trại Việt Nam được thực hiện năm 2014- 2015. Kết quả khảo sát cho thấy tình trạng nhập lậu ĐVHD và lợi dụng những kẽ hở của pháp luật để buôn bán trái phép ĐVHD đã diễn ra rất phổ biến tại các cơ sở được cấp phép gây nuôi.
Một ví dụ khác là việc cơ quan chức năng Tây Ninh và Quảng Bình đã cấp phép cho nhiều cơ sở “gây nuôi” tê tê bất chấp thực tế rằng tê tê là loài động vật vốn không dễ sinh sản và sinh trưởng trong môi trường nuôi nhốt. Tê tê cũng là loài nguy cấp, quý, hiếm, được bảo vệ ở mức độ cao nhất của pháp luật. Qua điều tra, chủ các cơ sở ở hai địa phương này đã có hành vi nhập lậu các cá thể tê tê săn bắt trái phép ngoài tự nhiên.
Bà Vũ Thị Quyên, Giám đốc ENV nhận định:“Chúng ta chỉ có thể thành công trong công tác bảo vệ các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm của Việt Nam và đóng góp vào nỗ lực toàn cầu để bảo vệ các loài nguy cấp thế giới như hổ và tê giác nếu chúng ta thực sự quyết tâm".
"Mọi biện pháp nửa vời sẽ là vô nghĩa. Chúng ta phải xóa bỏ quan niệm có thể thu lợi nhuận từ các hoạt động buôn bán và tiêu thụ đa dạng sinh học đất nước. Chúng ta phải kiên định với chính sách nghiêm cấm tuyệt đối mọi hình thức gây nuôi thương mại và buôn bán các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm mà chúng ta cần bảo vệ. Tương lai của đất nước nằm trong chính quyết định của chúng ta ngày hôm nay,” bà Quyên nhấn mạnh. (An Ninh Thủ Đô 29/7) đầu trang(
Ngày 29/7, Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và Phát triển sinh vật VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đã tiếp nhận 1 cá thể Khỉ mặt đỏ quý hiếm để tiến hành chăm sóc, cứu hộ và thả về môi trường tự nhiên khi đủ điều kiện.
Cá thể Khỉ mặt đỏ nói trên được ông Phạm Văn Hược (trú tại Tiểu khu Quyết Tiến, thị trấn Nông trường Việt Trung, huyện Bố Trạch), tự nguyện giao nộp cho Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và Phát triển sinh vật VQG Phong Nha - Kẻ Bàng dưới sự chứng kiến của Trạm kiểm lâm Sông Dinh và đại diện Chính quyền địa phương. Tại thời điểm tiếp nhận, cá thể khỉ mặt đỏ có trọng lượng 10kg và đang có biểu hiện mất dần tập tính hoang dã.
Theo ông Hược, gia đình ông đã nuôi cá thể Khỉ mặt đỏ này trong suốt thời gian 6 năm. Trước sự vận động của các ban ngành chức năng ông đã tự nguyện giao nộp lại cho Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và Phát triển sinh vật để tiến hành chăm sóc, cứu hộ và thả về môi trường tự nhiên.
Khỉ mặt đỏ có tên khoa học là Macaca arctoides là loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IIB theo quy định tại Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
Hiện các bác sĩ thú y của Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đang tiến hành chăm sóc, theo dõi và phục hồi tập tính hoang dã để thả cá thể khỉ này về môi trường tự nhiên.
Trước đó vào ngày 27/7, Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật VQG Phong Nha - Kẻ Bàng cũng đã tiếp nhận 1 cá thể Khỉ đuôi lợn quý hiếm có trọng lượng 4,5 kg từ ông Phạm Đức Minh (trú thôn 9, xã Nghĩa Ninh, TP Đồng Hới) để chăm sóc, cứu hộ. (Dân Trí 29/7) đầu trang(
Một chú khỉ cái khoảng hơn 4 tháng tuổi gầy gò, ốm yếu với cơ thể đầy những vết thương, lở loét nghiêm trọng đã được nhập viên tại một phòng khám thú y tại Hà Nội vào ngày 27-7 ngay lúc mưa bão đang kéo về.
Những câu chuyện thương tâm về vật nuôi bị bạo hành không phải hiếm gặp khi ngày càng có nhiều động vật bị ngược đãi bởi chính người chủ của mình, những người nhận nuôi động vật nhưng lại đang tâm hành hạ chúng.
Và đôi lúc từ những sự vô tâm của chủ nuôi cũng dẫn đến hành vi “vô tình” bạo hành chính những con vật mà họ đang nuôi dưỡng. Mới đây, một vụ bạo hành vật nuôi đã xảy ra tại Hà Nội đã khiến nhiều người hết sức bức xúc.
Một chú khỉ cái khoảng hơn 4 tháng tuổi gầy gò, ốm yếu với cơ thể đầy những vết thương, lở loét nghiêm trọng đã được nhập viên tại một phòng khám thú y tại Hà Nội vào ngày 27-7 ngay lúc mưa bão đang kéo về.
Theo xác nhận của anh Lê.V.C, bác sỹ tại phòng khám thú y nơi chú khỉ đang được điều trị cho biết: “ chú khỉ đáng thương bị một dây chun nịt quấn quanh người, lâu ngày dẫn đến lở loét, và xuất hiện rất nhiều ký sinh trùng ăn mòn sâu vào trong vết thương”.
Ngoài ra, chú khỉ trên còn bị thùng túi má bên trái và bị mất 1 mảng môi dưới, theo phỏng đoán ban đầu của trung tâm thú y thì có thể đó là do bị chủ nuôi đánh đập khiến chú khỉ tội nghiệp rơi vào tình trạng nói trên.
Trước tình trạng trên, sức khỏe của chú khỉ gần như bị suy kiệt hoàn toàn và có những dấu hiệu bất ổn về mặt tâm lý như sợ hãi và bỏ chạy khi người lạ tới gần. Được biết, sau hơn một ngày điều trị, sức khỏe của chú khỉ không có tiến triển nhiều nhưng sẽ có thể khả quan trong những lần điều trị tới.
Theo dự kiến, lộ trình điều trị vết thương cho chú khỉ sẽ khéo dài 1 tuần hoặc có thể hơn, sau khi sức khỏe đã hồi phục hoàn toàn, chú khỉ sẽ được trả về với tự nhiên tại Vườn quốc gia Cúc Phương.
Ngoài ra, những năm gần đây, thú chơi động vật hoang dã tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng, đang có những diễn biến vô cùng phức tạp. Người chơi chỉ cần bỏ ra một số tiền nhất định là có thể sở hữu một chú rùa, khỉ, sóc hay thâm trí những loài động vật đang có tên trong sách đỏ như đại bàng, rùa gai, cáo hay báo gấm...
Tình trạng buôn bán động vật hoang dã cũng được diễn ra hết sức công khai, người mua có thế lên facebook, hoặc các diễn đàn mua bán để tìm mua mà không gặp bất cứ khó khăn gì.
Tình trạng trên đang dấy lên thực trạng lỏng lẻo trong việc quản lý và kiểm soát động vật hoang dã của các cơ quan chức năng cũng như chính quyền địa phương. Mong rằng trong tương lai, chính phủ và các cơ quan chức năng sẽ sớm có những biện phát xử lý và siết chặt tình trạng buôn bán, tàng trữ động vật hoang dã nói trên. (Công An Nhân Dân 29/7) đầu trang(
Ngày 31/7, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất cho biết đang tạm giữ một nam hành khách (42 tuổi, quốc tịch Việt Nam) để điều tra về hành vi buôn lậu và vận chuyển sản phẩm động vật hoang dã qua đường hàng không.
Theo đó, khi chuyến bay xuất phát từ sân bay Doha (Qatar) vừa hạ cánh xuống sân bay, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã chủ động phối hợp với Phòng CSĐT tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ (CA TP.HCM) và Cục cảnh sát phòng, chống tội phạm buôn lậu (Bộ Công an) tổ chức theo dõi nam hành khách này.
Bằng các biện pháp nghiệp vụ, các lực lượng chức năng đã kiểm tra và phát hiện 4 sừng tê giác châu Phi được cắt nhỏ, cất giấu tinh vi trong các hộp sữa để trong hành lý cá nhân.
Theo thông tin điều tra ban đầu, số sừng tê giác nói trên có giá trị khoảng 4,5 tỉ đồng trên thị trường tự do.
Đây là hàng hóa thuộc diện cấm nhập khẩu của Chính phủ theo danh mục các loài động thực vật hoang dã thuộc quản lý của Công ước CITES về buôn bán quốc tế các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.
Hiện cơ quan Hải quan và các lực lượng chức năng đang tiếp tục điều tra làm rõ vụ việc. (Nông Nghiệp Việt Nam 31/7) đầu trang(
Cơ quan CSĐT Công an Thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh cho biết, đơn vị vừa tiến hành khởi tố hai bị can về hành vi “vận chuyện động vật hoang dã” trên xe khách.
Danh tính các đối tượng được xác định gồm Trần Văn Năng (1981), trú tại xã Quỳnh Giang, Quỳnh Lưu, Nghệ An và Nguyễn Văn Toán (1984), trú tại Diễn Vạn, Diễn Châu, Nghệ An.
Trước đó, vào khoảng 1h30 ngày 26/7 tại khu vực phường Minh Thành, Thị xã Quảng Yên, tổ công tác thuộc Đội Tuần tra Kiểm soát Giao thông 1-18, (Phòng CSGT Đường bộ - Đường sắt, CA tỉnh Quảng Ninh), làm nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát các phương tiện.
Trong quá trình làm nhiệm vụ, các chiến sĩ CSGT đội 1-18 đã phát hiện xe khách mang BLS 14B-004.39 cháy tuyến TP Vinh-Móng Cái có dấu hiệu vi phạm nên đã dừng xe để kiểm tra.
Quá trình làm việc với chủ phương tiện, lực lượng cảnh sát giao thông Đội 1-18, phát hiện 2 vị khách trên xe có biểu hiện lúng túng. Kiểm tra hành lí của 2 vị khách này, tổ công tác phát hiện trong 2 ba lô hành lí có chứa 7 cá thể tê tê, có trọng lượng gần 40kg.
Cơ quan chức năng đã nhanh chóng làm rõ số tê tê cá thể trên là của Trần Văn Năng và Nguyễn Văn Toán.
Sau đó, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản và bàn giao đối tượng cùng tang vật về Công an Thị xã Quảng Yên để tiếp tục điều tra làm rõ.
Được biết đây không phải lần đầu tiền lực lượng CSGT đội 1-18 Công an tỉnh Quảng Ninh phát hiện các đối tượng vận chuyện động vật hoang dã trái phép. (Pháp Luật + 31/7) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Bộ Tài chính và Bộ NN-PTNT vừa ban hành Thông tư liên tịch số 93/2016/TTLT-BTC-BNNPTNT, hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí sự nghiệp thực hiện Nghị định số 75/2015/NĐ-CP về cơ chế chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020 có hiệu lực thi hành từ ngày 15/8/2016.
Đối tượng áp dụng là các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng theo quy định tại điều 2 Nghị định số 75/2015/NĐ-CP.
Nguồn kinh phí để thực hiện khoán bảo vệ rừng, hỗ trợ bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh có trồng rừng bổ sung, trợ cấp gạo trồng rừng thay thế nương rẫy quy định được bố trí hàng năm trong kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020, phần kinh phí sự nghiệp, cụ thể:
Ngân sách TƯ đảm bảo kinh phí đối với diện tích rừng thuộc Bộ, ngành quản lý.
Đối với các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách và tỉnh Quảng Ngãi thì ngân sách TƯ hỗ trợ 100% kinh phí. Đối với các địa phương có tỷ lệ điều tiết nguồn thu về TƯ dưới 50% thì ngân sách TƯ hỗ trợ 50% kinh phí, ngân sách địa phương đảm bảo 50% nhu cầu kinh phí. Các địa phương còn lại sử dụng ngân sách địa phương.
Kinh phí quản lý, kiểm tra, nghiệm thu hàng năm được tính bằng 7% trên tổng kinh phí khoán bảo vệ rừng, hỗ trợ bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh có trồng rừng bổ sung của chủ rừng thuộc sở hữu nhà nước và không trùng với các chương trình, dự án khác, được bố trí trong tổng kinh phí cấp cho các đơn vị, địa phương theo quy định.
Kinh phí lập hồ sơ khoán bảo vệ rừng, hỗ trợ bảo vệ rừng 50.000 đồng/ha; kinh phí lập hồ sơ thiết kế, dự toán khoanh nuôi tái sinh rừng có trồng bổ sung 900.000 đồng/ha.
Việc hỗ trợ kinh phí lập hồ sơ khoán bảo vệ rừng, hỗ trợ bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng có trồng bổ sung chỉ thực hiện 01 lần trước khi tiến hành khoán bảo vệ rừng, hỗ trợ bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng có trồng bổ sung.
Ngân sách TƯ đảm bảo kinh phí lập hồ sơ đối với diện tích rừng thuộc Bộ, ngành quản lý.
Ngân sách địa phương đảm bảo kinh phí lập hồ sơ đối với diện tích khoán bảo vệ rừng, hỗ trợ bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng có trồng bổ sung thuộc địa phương quản lý.
Hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số, hộ gia đình người Kinh nghèo đang sinh sống ổn định tại các xã có điều kiện KT-XH khó khăn (khu vực II và III) thuộc vùng dân tộc và miền núi theo tiêu chí do Thủ tướng Chính phủ quy định được nhận khoán bảo vệ rừng.
Cộng đồng dân cư thôn tại các xã có điều kiện KT-XH khó khăn (khu vực II và III) thuộc vùng dân tộc và miền núi theo tiêu chí do Thủ tướng Chính phủ quy định được nhận khoán bảo vệ rừng.
Mức hỗ trợ và hạn mức khoán bảo vệ rừng: Hỗ trợ khoán bảo vệ rừng: 400.000 đồng/ha/năm; diện tích rừng nhận khoán được hỗ trợ: Tối đa 30ha một hộ gia đình.
Phương thức khoán bảo vệ rừng: Thực hiện thông qua hợp đồng khoán bảo vệ rừng theo hướng dẫn của Bộ NN-PTNT tại văn bản số 4545/BNN-TCLN ngày 23/12/2013 về việc khoán bảo vệ rừng và khoanh nuôi tái sinh tự nhiên. Thời gian hợp đồng là hàng năm, hoặc theo kế hoạch trung hạn 3 năm, 5 năm.
Bên giao khoán bao gồm: BQL rừng phòng hộ, BQL rừng đặc dụng, Cty lâm nghiệp, UBND cấp xã. Bên nhận khoán bao gồm: Hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn.
Hàng năm, bên giao khoán có trách nhiệm nghiệm thu, đánh giá kết quả thực hiện hợp đồng đối với bên nhận khoán. Kết quả nghiệm thu hàng năm là căn cứ để bên giao khoán thanh toán, quyết toán kinh phí. (Nông Nghiệp Việt Nam 1/8) đầu trang(
Trước đề xuất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) về việc chuyển đổi 1,1 triệu ha rừng đặc dụng sang rừng sản xuất, nhất là giảm diện tích rừng phòng hộ ven biển, đầu nguồn, các chuyên gia đều chung quan điểm rằng, cần phải có căn cứ khoa học, thực tiễn rõ ràng.
Theo đó, phải xác định được nước ta cần bao nhiêu diện tích rừng phòng hộ và những khu vực cần giữ rừng phòng hộ đảm bảo cho công tác phòng, chống thiên tai, bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Từ đó, tiến hành rà soát đánh giá chất lượng rừng, khoanh định diện tích rừng phòng hộ để có cơ chế quản lý tốt hơn nữa. Cần đặc biệt chú ý để quản lý chặt chẽ khu vực xung yếu, không cho chuyển đổi đất đầu nguồn, đất rừng phòng hộ và phải có kế hoạch để triển khai trồng ở khu vực đó.
Theo giải trình của Bộ NN&PTNT về đề xuất chuyển đổi rừng, hiện nay, nước ta đã có 15,7 triệu ha đất được quy hoạch làm lâm nghiệp, trong đó có 14,5 triệu ha đất đã có rừng. Rừng mới chỉ đóng góp 26.500 tỷ đồng hay 3% giá trị tổng sản lượng nông, lâm nghiệp. Bên cạnh giá trị về môi trường thì rừng cũng cần phải đem lại cuộc sống tốt hơn cho những người làm nghề rừng và đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Nếu giao 1,1 triệu ha đó cho nhân dân thì vừa có rừng mà ngân sách không phải bỏ ra 15.000 tỷ đồng để trồng và bảo vệ diện tích này. Vì thế, nên chuyển một phần diện tích quy hoạch làm rừng phòng hộ, trong đó có 0,5 triệu ha có rừng nhưng nghèo kiệt và không xung yếu, có 0,6 triệu ha chưa có rừng để nhân dân làm ăn, vừa có thu nhập và rừng sản xuất nếu quản lý tốt cũng phòng hộ, khi đó vừa phòng hộ, vừa có động lực để lâm nghiệp phát triển một cách bền vững.
Chia sẻ về nội dung này, TS Nguyễn Văn Hà - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT cho biết: Thực tế ở nước ta đã và đang phân chia làm 3 loại đất rừng: Phòng hộ, đặc dụng và sản xuất. Tuy nhiên, việc phân chia như vậy cũng chỉ mang tính tương đối, bởi nếu căn cứ theo cách phân chia của thế giới thì chỉ cần có hai loại: Phòng hộ và sản xuất.
Từ trước tới nay, Việt Nam thực hiện theo quan điểm, giữ rừng như hiện trạng đang có, nhưng cũng không thực hiện được do nhu cầu phát triển kinh tế. Do đó, với việc chuyển đổi như đề xuất đã nói ở trên, TS Nguyễn Văn Hà cho rằng, quan trọng là khi chuyển đổi, phải có quy hoạch, cái nào chuyển đổi không ảnh hưởng đến tác động môi trường, vẫn giữ được nguồn nước thì cho chuyển đổi và khi chuyển đổi thì diện tích chuyển đổi phải thực sự phục vụ sản xuất cho người dân, giúp họ sinh sống.
Cũng theo TS Nguyễn Văn Hà, cần đầu tư thâm canh, tăng năng suất, có nguồn thu nhập, quay trở lại bảo vệ rừng, cũng như phải chú ý tới vai trò quan trọng là đảm bảo sinh kế ngoài rừng, trong rừng cho người dân. Ngoài sinh kế trong rừng, phải tận thu tất cả sản phẩm lâm sản ngoài gỗ, dịch vụ môi trường rừng, chứng chỉ quản lý rừng; phải lo cho người dân đời sống có thể sống ngoài rừng gắn với các ngành nghề công nghiệp hoặc bất cứ ngành nghề nào khác để tồn tại.
Tổng Cục Lâm nghiệp xác định rõ ràng việc chuyển đổi rừng gắn với quy hoạch, quản lý, khoanh vùng diện tích chuyển đổi không được ảnh hưởng nguồn nước, môi trường, nghĩa là quy hoạch khu vực được phép chuyển đổi và chủ yếu chỉ là khu vực rừng phòng hộ ít xung yếu. Đặc biệt, kiểm soát chặt chẽ, tránh việc tạo ra các kẽ hở nhằm lợi dụng vào chủ trương đúng để phá rừng.
Phân tích về việc tăng độ che phủ của rừng trong thời điểm hiện nay, TS Nguyễn Văn Hà cho biết thêm, việc triển khai giữ hay trồng mới rừng để tăng độ che phủ trong thời gian tới, cần xem xét tiến hành hiệu quả; cũng có thể luân canh sản xuất, làm sao khai thác bền vững, độ che phủ vẫn bình thường. Theo tính toán của ngành lâm nghiệp, mục tiêu đạt tới độ che phủ hiện tính ra chỉ tăng trưởng bình quân bằng 0,3%/năm. Theo Chiến lược rừng đến 2020, độ che phủ rừng chỉ còn trên dưới 42%.
Tuy nhiên, theo chuyên gia môi trường và xã hội TS Phạm Quang Tú, việc đề nghị chuyển đổi 1,1 triệu ha rừng phòng hộ sang rừng sản xuất phải xuất phát từ việc bảo vệ tốt và bảo vệ đến cùng những diện tích rừng tự nhiên hiện có. Chuyên gia Phạm Quang Tú ủng hộ toàn bộ diện tích rừng tự nhiên phải được bảo vệ và không chuyển đổi, còn nếu các diện tích còn lại thuộc diện rừng trồng thì hoàn toàn có thể chuyển đổi.
TS Phạm Quang Tú cho biết, rừng phòng hộ chủ yếu là rừng tự nhiên và một phần rừng trồng. Theo TS Tú, cần phải bảo vệ tốt và bảo vệ đến cùng những diện tích rừng tự nhiên hiện có. Rừng tự nhiên, rừng phòng hộ có giá trị về sinh thái nhiều hơn nên giữ giá trị sinh thái ấy, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần phải chuyển đổi sang phát triển bền vững và bảo vệ môi trường
TS Phạm Quang Tú cũng khuyến cáo, điều lo lắng nhất là lợi dụng chuyển từ ba loại rừng thành hai loại rừng cũng như lợi dụng chủ trương đúng để khai thác rừng tự nhiên, rừng phòng hộ. Về nguyên tắc chuyển đổi thì nhất trí, nhưng về phương án chuyển đổi thì phải thực sự chặt chẽ: Chuyển đổi ở đâu, lô khoảnh nào… phải có phương án và phê duyệt cụ thể.
Theo GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung - Viện trưởng Viện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng tự nhiên Việt Nam, việc tiến hành chuyển đổi hay không hoàn toàn phụ thuộc vào sự đa dạng từ các góc nhìn kinh tế, lâm sinh, môi trường. Điều kiện tiên quyết vẫn là ở bản chất xác định lâm nghiệp thuộc lĩnh vực nào để có những điều chỉnh chính sách kịp thời. Quan trọng hơn cả là yếu tố con người với nhận thức thế nào, tổ chức ra sao và cơ chế giám sát thực hiện minh bạch.
Cũng theo GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung, quan điểm chuyển đổi, phát triển hay giữ vững, bảo vệ rừng cũng không được cực đoan, mà cũng tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh thích hợp từng vùng, từng miền để có những điều chỉnh hợp lý, đảm bảo cả phát triển kinh tế mà vẫn giữ vững môi trường…
“Theo tôi, lâm nghiệp đến thời điểm này chính là vì mục tiêu bền vững, vì môi trường. Đã đến lúc phải cảnh báo các nhà hoạch định chính sách để có những điều chỉnh kịp thời, thực sự vì phát triển môi trường, đóng bao lâu, chuyển đổi như thế nào và giữ được bao nhiêu rừng” – GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung nhấn mạnh. (Đảng Cộng Sản Việt Nam 29/7) đầu trang(
Bộ NN&PTNT vừa công bố hiện trạng rừng Việt Nam. Theo đó, tính đến ngày 31/12/2015, diện tích rừng để tính độ che phủ toàn quốc là hơn 13,520 triệu ha (độ che phủ đạt 40,84%).
Theo công bố hiện trạng rừng mới nhất này, diện tích rừng hiện có của nước ta là gần 14,062 triệu ha. Trong đó, rừng tự nhiên là hơn 10,175 triệu ha, rừng trồng là hơn 3,886 triệu ha.
Diện tích cây lâm nghiệp đạt độ che phủ là 39,5%, còn diện tích cây lâu năm (cao su, cây đặc sản) trồng trên đất lâm nghiệp chỉ chiếm hơn 1,3%.
Đặc biệt trong văn bản công bố hiện trạng rừng, Bộ NN&PTNT đã chỉ rõ trách nhiệm của các đơn vị liên quan sau khi công bố được đưa ra.
Theo đó, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) sẽ thiết lập dữ liệu tài nguyên rừng và hướng dẫn các địa phương, tổ chức cập nhật diễn biến của rừng. Từ đó có thể khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu rừng và đất lâm nghiệp trên phạm vi toàn quốc và từng địa phương.
UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần khẩn trương giao UBND các huyện, xã, chủ rừng thực hiện trách nhiệm quản lý và bảo vệ rừng. Cùng với đó địa phương cần chủ động sử dụng kết quả kiểm kê rừng làm cơ sở để khởi tạo dữ liệu ban đầu và cập nhật diễn biến hằng năm.
Địa phương cần tổ chức rà soát, quy hoạch sử dụng rừng và đất lâm nghiệp, trong đó tập trung rà soát diện tích rừng ngoài quy hoạch. Đối với các địa phương có diện tích rừng tự nhiên giảm trong năm 2015 cần làm rõ nguyên nhân, xem xét trách nhiệm các tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định. (Chính Phủ 1/8) đầu trang(
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường (CSCTDVMT) rừng ở huyện Đạ Huoai chưa tạo sức hút và nâng cao trách nhiệm đối với các hộ tham gia nhận khoán quản lý bảo vệ rừng.
Theo số liệu thống kê, trong tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Đạ Huoai 49.529 ha, diện tích rừng, đất lâm nghiệp lên đến 31.494 ha, chiếm tỷ lệ 63%; trong đó, rừng phòng hộ 8.982 ha, rừng sản xuất 22.512 ha. Với diện tích rừng, đất rừng chiếm tỷ lệ lớn như vậy, nếu không xã hội hóa việc quản lý bảo vệ (QLBV) thì khó mà giữ được rừng.
Từ thực tiễn đó, việc Nhà nước ban hành CSCTDVMT rừng là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với tình hình thực tế của các địa phương. Do vậy, khi có chính sách mới nói trên, huyện Đạ Huoai đã kịp thời thành lập, củng cố Ban chỉ đạo (BCĐ), Ban kiểm tra, giám sát (KTGS) việc triển khai thực hiện CSCTDVMT rừng; đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật bảo vệ rừng, mục đích, ý nghĩa, nội dung của CSCTDVMT rừng để người dân nhận thức được quyền lợi, trách nhiệm khi tham gia thực hiện CSCTDVMT rừng.
Buổi đầu triển khai thực hiện, ngành lâm nghiệp phối hợp với chính quyền, các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội, các ngành chức năng trong huyện tổ chức trên 20 đợt tuyên truyền lưu động bằng xe loa, 171 buổi họp dân, với 10.109 lượt người tham gia; tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng cho 1.350 hộ gia đình; phát 8.600 tờ rơi có nội dung về QLBV rừng, về CSCTDVMT rừng...
Song song với việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, BCĐ huyện đã triển khai công tác CTDVMT rừng tại 13 đơn vị tham gia cung ứng DVMT rừng thuộc các lưu vực sông Đồng Nai và khu vực Thủy điện Hàm Thuận - Đa Mi, với tổng diện tích cung ứng DVMT rừng hàng năm là 22.837,98 ha. Theo đó, bình quân hàng năm các hộ nhận khoán QLBV rừng là 756 hộ/năm và 2 tập thể là Công an huyện và Huyện đội, với định mức giao khoán 25-30 ha/hộ, cho thu nhập bình quân hàng năm khoảng 14-15 triệu đồng/hộ.
Trong 13 đơn vị tham gia cung ứng CTDVMT rừng, 2 đơn vị được xem là chủ công, gồm Ban QLRPH Nam Huoai và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đạ Huoai. Tại Ban QLRPH Nam Huoai, hơn 5 năm qua đã tiến hành giao khoán QLBV 74.725,58 ha rừng cho 2.422 lượt hộ dân và 2 đơn vị (Công an, Huyện đội), với tổng số tiền CTDVMT rừng đến tận tay các hộ nhận khoán gần 23,470 tỷ đồng.
Cũng như vậy, tại Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đạ Huoai, trong hơn 5 năm qua đã tiến hành giao khoán QLBV 26.689,465 ha rừng cho 1.161 lượt hộ dân, với tổng số tiền CTDVMT rừng lên đến 7,992 tỷ đồng. Ngoài ra, còn có 11 đơn vị tham gia cung ứng DVMT rừng là các doanh nghiệp được giao đất, giao rừng, cũng đã tích cực trong công tác giao khoán QLBV rừng cho các hộ dân ở địa phương, đã góp phần hạn chế tối đa tình trạng phá rừng, từng bước nâng cao công tác QLBV rừng chặt chẽ, hiệu quả để phát triển tốt.
Tuy nhiên, qua hơn 5 năm thực hiện CSCTDVMT rừng trên địa bàn huyện Đạ Huoai cũng bộc lộ một số mặt tồn tại, hạn chế đó là: Mức CTDVMT rừng 200.000 đồng/ha/năm là thấp, bởi sau khi trừ chi phí các khoản thì thu nhập còn lại không đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt của người dân, nên chưa tạo sức hút và nâng cao trách nhiệm đối với các hộ tham gia nhận khoán QLBV rừng.
Công tác KTGS của một số đơn vị chủ rừng sau khi cung ứng CTDVMT rừng thiếu thường xuyên, thiếu chặt chẽ, nên chưa phát hiện, xử lý kịp thời những vụ việc phá hoại rừng. Một số hộ nhận khoán thiếu tinh thần trách nhiệm trong QLBV rừng, thậm chí còn tiếp tay cho hành vi phá hoại rừng. Áp lực về phát triển kinh tế không bền vững, về đất đai, việc làm cho lao động nông thôn, dẫn đến công tác QLBV rừng luôn gặp khó khăn, trong lúc CSCTDVMT rừng vẫn còn những bất cập, đã ảnh hưởng đến kết quả đạt được.
Trên cơ sở kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế nói trên, huyện Đạ Huoai đã rút ra được những bài học kinh nghiệm sau: Cần tăng cường sự lãnh, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương đối với công tác QLBV rừng. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao ý thức chấp hành Luật BV-PT rừng.
Ban KTGS CTDVMT rừng và ngành lâm nghiệp cần phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với chính quyền địa phương cơ sở trong việc KTGS các đơn vị chủ rừng và các hộ nhận khoán QLBV rừng. Cần tăng cường công tác KTGS việc nghiệm thu giao khoán rừng, việc CTDVMT rừng đảm bảo kịp thời, đầy đủ.
Kịp thời chấn chỉnh các sai sót trong việc giao khoán QLBV rừng, kiên quyết đưa ra khỏi danh sách những hộ nhận khoán vi phạm Luật BV-PT rừng, những hộ không tích cực QLBV rừng. Cần thường xuyên kiểm tra, theo dõi, cập nhật diện tích rừng cung ứng CTDVMT rừng, đảm bảo diện tích rừng chi trả đúng tiêu chí theo quy định. (Báo Lâm Đồng 29/7) đầu trang(
Chỉ tính riêng xã Chế Tạo năm 2015, các chủ rừng, người quản lý, BVR cũng nhận 6 tỷ đồng từ DVMTR. Đây là một nguồn thu nhập khá lớn ở một xã vùng cao đặc biệt khó khăn như Chế Tạo.
“Có thể khẳng định, sau 5 năm thực hiện, chính sách chi trả phí dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đã thực sự đi vào cuộc sống. Trách nhiệm của các đơn vị sử dụng DVMTR nâng lên; người dân, các chủ rừng đã có thêm nguồn thu nhập từ rừng, nâng cao đời sống, ý thức hơn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng (BVR)” - ông Kiều Tư Giang - Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh cho biết.
Nói như vậy bởi chưa bao giờ công tác quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng lại nhận được nhiều sự quan tâm của các cấp chính quyền và người dân như thời gian qua. Những cánh rừng xơ xác, nghèo kiệt, những đồi, núi trơ trọi thuở nào nay đã được phủ một màu xanh bạt ngàn. Nhà nhà trồng rừng, người người trồng rừng, kinh tế đồi rừng nay đã thực sự trở thành một nghề không thể thiếu với người dân nông thôn.
Qua kết quả điều tra, thống kê rừng vừa được công bố cho thấy, toàn tỉnh có 479.626 ha đất lâm nghiệp; trong đó, rừng phòng hộ 152.794 ha (bao gồm cả rừng tự nhiên, rừng trồng, đất chưa có rừng), rừng đặc dụng 36.147 ha, rừng sản xuất 290.684 ha, tỷ lệ che phủ rừng đã đạt trên 63%. Quan trọng và ý nghĩa hơn là không chỉ rừng và chất lượng rừng nâng lên mà còn giữ vững hệ sinh thái, nhất là diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn.
Đạt được kết quả đó là có sự quan tâm chỉ đạo từ tỉnh đến cơ sở cùng với những cơ chế, chính sách hỗ trợ cho sản xuất lâm nghiệp. Từ chương trình phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, đến Chương trình 327, giao khoán rừng, đất rừng cho hộ dân tự chủ sản xuất đến chương trình phát triển rừng kinh tế đã tác động mạnh đến phát triển lâm nghiệp.
Trong vòng 10 năm trở lại đây, bình quân mỗi năm, Yên Bái đầu tư hỗ trợ gần 40 tỷ đồng cho sản xuất nông - lâm nghiệp và hàng chục tỷ đồng bảo vệ, khoanh nuôi rừng. Nhờ đó, diện tích rừng cũng như chất lượng rừng phát triển theo năm tháng, năm ít cũng trồng trên 10.000 ha và liên tục 5 năm trở lại đây, mỗi năm, Yên Bái trồng không dưới 15.000 ha. Đặc biệt, từ năm 2012, người trồng rừng, BVR Yên Bái lại có thêm nguồn lực từ phí DVMTR.
Theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả DVMTR, Yên Bái có 213.113,8 ha (diện tích quy đổi 205.182,7 ha) rừng thuộc lưu vực có cung ứng DVMTR. Toàn bộ diện tích rừng này do 22 chủ rừng là tổ chức, 8 chủ rừng là các hạt kiểm lâm và trên 20 ngàn hộ gia đình cá nhân được cấp có thẩm quyền giao quản lý, BVR và được hưởng phí DVMTR.
Tính đến hết năm 2015, đã có 15 đơn vị có sử dụng DVMTR (3 đơn vị sản xuất cung cấp nước sạch, 12 đơn vị sản xuất điện) chi trả tiền phí DVMTR theo quy định. Tính riêng trong năm 2015 số tiền chi trả phí DVMTR là trên 43 tỷ đồng, góp phần cải thiện cuộc sống người làm rừng.
Ông Vũ Đình Trường - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Văn Chấn phấn khởi cho biết: "Công tác quản lý, BVR ở Văn Chấn trong những năm qua đã có nhiều tiến bộ, người dân, các tổ chức đã gắn bó với rừng hơn. Đặc biệt, trong vòng ba năm trở lại đây, nhất là từ khi triển khai thực hiện chi trả phí DVMTR đã bổ sung thêm nguồn lực tài chính để chi cho công tác BVR, góp phần duy trì công tác BVR, giảm thiểu nguy cơ xâm hại vào rừng, hạn chế cháy rừng, nâng cao thu nhập của người dân. Đồng thời, từng bước nâng cao ý thức người dân trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng - đó là lợi ích nhân đôi”.
Không riêng gì Văn Chấn mà cả huyện vùng cao Mù Cang Chải từ khi có chính sách DVMTR huyện đã trồng trên 3.000 ha rừng, diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ được quản lý, bảo vệ hiệu quả hơn, đưa độ che phủ rừng đạt 65%. Chỉ tính riêng xã Chế Tạo năm 2015, các chủ rừng, người quản lý, BVR cũng nhận 6 tỷ đồng từ DVMTR.
Đây là một nguồn thu nhập khá lớn ở một xã vùng cao đặc biệt khó khăn như Chế Tạo. Người dân đã có thêm nguồn thu mua sắm vật dụng, đồ dùng sinh hoạt và lương thực, quan trọng hơn là đã làm thay đổi ý thức người dân từ người chặt phá rừng sang quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng.
Thực hiện phí DVMTR đã góp phần thiết thực thực hiện chủ trương xã hội hóa nghề rừng, cải thiện sinh kế, ổn định đời sống, nâng cao nhận thức và trách nhiệm đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng của những người được hưởng lợi từ rừng, góp phần quan trọng nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, sử dụng và BVR cho các chủ rừng và là cơ sở để đưa lâm nghiệp trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương. (Báo Yên Bái 29/7) đầu trang(
Lâm Đồng bắt đầu triển khai quy hoạch cây mắc ca trên địa bàn với những nhiệm vụ và giải pháp phù hợp đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
Trong đó tập trung đầu tư trồng mới xen canh kết hợp với chức năng che bóng cho cây cà phê, chè; đồng thời phát triển công nghiệp chế biến gắn với cơ cấu sản phẩm đa dạng, chất lượng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lâm Đồng, đến tháng 7/2016, tổng diện tích sản xuất cây mắc ca trên địa bàn Lâm Đồng đạt gần 1.000 ha, phân bố trên 9 huyện, thành trong tỉnh. Trong đó chiếm tỷ lệ 50% diện tích mắc ca từ 4 năm tuổi trở lên - tuổi cây bước vào thu hoạch giai đoạn đầu. Ước tính tổng sản lượng đạt bình quân năm 2013 hơn 85 tấn; năm 2014 hơn 90 tấn; năm 2015 hơn 210 tấn và dự kiến con số này tiếp tục tăng trong vụ mùa mắc ca vào cuối năm 2016.
Khảo sát cho thấy, cây mắc ca bắt đầu trồng thử nghiệm ở Lâm Đồng vào năm 2006, do Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên thực hiện. Qua thời gian theo dõi, đánh giá cây mắc ca khá thích nghi với nhiều vùng sinh thái ở Lâm Đồng, Trung tâm Khuyến nông Lâm Đồng đưa vào chương trình hỗ trợ khuyến nông hàng năm.
Kết quả từ năm 2010 đến nay, Trung tâm đã tổ chức tập huấn, chuyển giao kỹ thuật trồng khoảng 90 ha mắc ca xen canh với chè, cà phê thuộc các địa bàn Đức Trọng, Đơn Dương, Lâm Hà và Di Linh. Và cũng qua các chương trình khuyến nông, một số doanh nghiệp như: Công ty TNHH Đức Anh, các vườn ươm tại Đức Trọng, Lâm Hà, Bảo Lâm... đã hợp đồng cung cấp giống, hướng dẫn cách trồng và thu mua sản phẩm mắc ca cho nông dân dưới sự giám sát của chính quyền địa phương.
Hiện các loại giống mắc ca đang trồng xen (mật độ từ 200 - 300 cây/ha) và trồng tập trung (mật độ từ 400 - 500 cây/ha) trong đất vườn của nông dân Lâm Đồng gồm: OC, 814, H2, 816, 849, 246… có nguồn gốc từ tỉnh Đắk Lắk. Ngoài ra còn nhiều giống mắc ca khác nhau từ các tỉnh miền núi phía Bắc, được nông dân Lâm Đồng trực tiếp mua về trồng trên diện tích đất của hộ gia đình.
Qua đánh giá bước đầu của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lâm Đồng, các hộ nông dân trồng mắc ca xen với cà phê đạt hiệu quả tiêu biểu như hộ ông Hòa ở xã Tân Hà, Lâm Hà trồng 600 cây mắc ca giống ghép trên diện tích 2 ha cà phê, thu hoạch quả tươi tách vỏ đạt 2 tấn vào năm 2014 và khoảng hơn 3 tấn vào năm 2015, giá bán bình quân từ 100 - 150.000 đồng/kg.
Để đưa cây mắc ca vào lộ trình sản xuất ổn định và bền vững, ngày 20/5/2016, UBND tỉnh Lâm Đồng đã chính thức phê duyệt quy hoạch phát triển đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Cụ thể, đến năm 2020, Lâm Đồng mở rộng diện tích mắc ca trồng xen từ 3.500 - 4.000 ha, trong đó có khoảng 950 ha thu hoạch, đạt tổng sản lượng khoảng 1.700 tấn hạt/năm. Đến năm 2030 sẽ đạt: 12.000 - 15.000 ha diện tích sản xuất, trong đó 4.000 ha cho thu hoạch và sản lượng 8.000 tấn hạt/năm.
Cùng với đó, tỉnh Lâm Đồng chọn các địa bàn Đơn Dương, Đức Trọng và Bảo Lộc để thu hút các doanh nghiệp đầu tư cơ sở sản xuất cung ứng giống mắc ca ghép đạt tiêu chuẩn chất lượng khoảng 600.000 cây giai đoạn 2016 - 2020 và 2 triệu cây đến giai đoạn 2021 - 2030.
Đặc biệt các cơ sở này phải sử dụng giống mắc ca H2 và 695 làm gốc ghép và 5 bộ giống làm chồi ghép, nhằm đảm bảo khả năng thụ phấn chéo gồm: Daddow, 788, A16 (bộ 1); Daddow, 344, 842 (bộ 2); 842, 741, 816 (bộ 3); 741, 508, H2 (bộ 4); 695, 842, 816 (bộ 5). Đồng thời ban hành các cơ chế khuyến khích nhà đầu xây dựng các cơ sở sơ chế, nhà máy chế biến mắc ca trên địa bàn Lâm Đồng với công suất thiết kế từ 1.000 - 3.000 tấn hạt/năm/đơn vị vào năm 2020, tăng lên tổng công suất 8.000 - 10.000 tấn hạt vào năm 2030.
Tại cuộc họp mới đây, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, Phạm S đã ghi nhận những kết quả bước đầu của các sở, ngành, địa phương và doanh nghiệp đã nỗ lực cùng nông dân triển khai thực hiện quy hoạch nói trên, chủ động xây dựng vườn giống mắc ca đầu dòng với quy mô đồng bộ, hiện đại về kỹ thuật.
Đề nghị trong thời gian tới, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức tập huấn, đào tạo nghề, khuyến cáo nông dân trồng mới 100% giống cây mắc ca ghép đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng. Hội Nông dân tỉnh tăng cường công tác tuyên truyền, vận động thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã trồng cây mắc ca liên xã, liên huyện, làm đầu mối cung cấp nguyên liệu cho nhà máy chế biến.
Riêng trong tháng 8/2016, UBND tỉnh Lâm Đồng sẽ xem xét, quyết định các kế hoạch hỗ trợ giống và thu mua, chế biến mắc ca của Công ty cổ phần Him Lam; các phương án giải ngân gói tín dụng ưu đãi phát triển cây mắc ca Lâm Đồng của Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt… (Báo Lâm Đồng 1/8) đầu trang(
Theo ông Nguyễn Lý Nguyên, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phú Yên, hiện trên địa bàn tỉnh đang triển khai dự án trồng rừng phòng hộ ven biển thuộc Chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 - 2020, với tổng mức đầu tư hơn 51,3 tỉ đồng.
Theo đó, vốn Chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu là 47 tỉ đồng, còn lại là vốn đối ứng từ ngân sách tỉnh.
Dự án trồng rừng này được triển khai trên địa bàn các huyện Tuy An, Đông Hòa, và TX Sông Cầu. Kết thúc dự án, các địa phương có trách nhiệm xây dựng phương án giao rừng, cho thuê rừng cho từng hộ gia đình quản lý, bảo vệ và hưởng lợi theo quy chế quản lý rừng hiện hành.
Đối với diện tích rừng do các Ban Quản lý rừng phòng hộ quản lý cũng được phép giao khoán cho hộ gia đình, cá nhân tại chỗ, cộng đồng thôn, buôn, kể cả rừng phòng hộ và rừng sản xuất để quản lý bảo vệ và hưởng lợi theo quy định.
Được biết, đến nay, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thẩm định được 10 hồ sơ thiết kế trồng rừng với diện tích hơn 440ha, trong đó Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Cầu hơn 286,8ha, diện tích của địa phương khác quản lý khoảng 153,2ha.
Việc trồng rừng phòng hộ ven biển để chống sa mạc hóa, cát bay, cát nhảy đã được tỉnh Phú Yên chú trọng thực hiện trong nhiều năm qua. Trong vài năm tới, những đồi cát hoang hóa tại đây sẽ tiếp tục đổi thay nhờ những giống cây được cho là có khả năng phát triển trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt như tại tỉnh Phú Yên. (Đảng Cộng Sản Việt Nam 29/7) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, huyện Lập Thạch trồng mới được trên 170 ha rừng tập trung, bằng 113% kế hoạch năm, tăng 22 ha so với cùng kỳ năm 2015; trồng thêm 121.200 cây phân tán, đạt 101% kế hoạch năm.
Cùng với trồng rừng, Lập Thạch chỉ đạo các địa phương tập trung bảo vệ, chăm sóc, phát triển diện tích rừng hiện có;tuyên truyền, phổ biến và xử lý nghiêm các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại rừng. Qua kiểm tra 6 tháng đầu năm các lực lượng chức năng đã phát hiện 4 vụ vi phạm về khai thác và phá rừng, xử phạt hành chính 12,5 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng được triển khai với nhiều phương án, tuy nhiên, do thời tiết nắng nóng kéo dài nên từ đầu năm đến nay trên địa bàn đã để xảy ra 3 vụ cháy rừng, gây thiệt hại gần 1,6 ha rừng. (Báo Vĩnh Phúc 29/7) đầu trang(
Nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng và nghiệp vụ khuyến nông cho đội ngũ cán bộ khuyến nông các cấp, Trung tâm Nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật lâm sinh (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Quảng Trị tổ chức lớp tập huấn về nghiệp vụ khuyến nông và kỹ thuật chuyên ngành cho 30 cán bộ khuyến nông và khuyến nông viên cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Trong thời gian 3 ngày các học viên đã được truyền tải những kiến thức về phương pháp khuyến nông theo lớp học hiện trường (FFS); kỹ năng thuyết trình và dẫn dắt thảo luận nhóm trong tổ chức lớp tập huấn khuyến nông; kỹ thuật trồng rừng gỗ lớn thâm canh; kỹ thuật trồng thâm canh một số loài cây mọc nhanh cung cấp gỗ lớn như keo tai tượng, keo lai, keo lá tràm, bạch đàn urô... Ngoài ra các học viên còn được tham quan, thực hành tại các mô hình lâm nghiệp tiêu biểu trong tỉnh.
Thông qua lớp tập huấn đã giúp cho các học viên nắm vững kiến thức kỹ thuật, nguyên tắc của trồng rừng thâm canh, từ đó nâng cao chất lượng rừng trồng giúp người nông dân đứng vững trong nền kinh tế hội nhập.
Lớp tập huấn cũng giúp các cán bộ công tác ở cơ sở nắm vững nguyên tắc cơ bản của quy trình trồng rừng theo tiêu chuẩn FSC để tuyên truyền vận động trong nông dân nhằm nâng cao giá trị kinh tế đối với sản phẩm rừng trồng. Thực hiện tốt mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới. (Trung Tâm Khuyến Nông Quốc Gia 29/7) đầu trang(
Tổng giám đốc Cty TNHH MTV Công viên cây xanh Hà Nội rằng việc các cây bị đổ do được trồng rất nông, phần gốc vẫn được bọc kín bằng lưới, bao tải và buộc bằng những sợi dây gai… là của đơn vị nào đó chứ không phải công ty của mình.
Liên quan đến việc nhiều cây xanh bị đổ, bật gốc… còn nguyên bọc lưới nilon, bao tải, dây chằng trong cơn bão số 1 vừa qua tại Hà Nội khiến người dân không khỏi hoài nghi về sự cẩu thả của đơn vị trồng cây xanh.
Trao đổi với PV, ông Vũ Kiên Trung - Tổng giám đốc Cty TNHH MTV Công viên cây xanh Hà Nội cho biết, đơn vị không trồng cây như vậy, càng không trồng cây để nguyên bọc.
Ông Trung nói: “Tôi có thể thẳng thắn trả lời rằng trồng cây để nguyên bầu nilon không phải công nghệ mới và sai quy trình, kỹ thuật. Đơn vị nào trồng tôi chưa rõ nhưng tôi chắc chắn anh em công nhân của công ty không bao giờ trồng cây như vậy. Hiện chúng tôi đang dốc sức dọn dẹp sau bão, đảm bảo cảnh quan thành phố”.
Ông Trung cho hay, trên địa bàn TP.Hà Nội, ngoài Cty TNHH MTV Công viên cây xanh Hà Nội còn có 15 đơn vị khác tham gia trồng, chăm sóc cây xanh.
“Sau khi cơn bão số 1 đổ bộ, Cty đã huy động 100% cán bộ công nhân thay phiên nhau làm việc suốt 24 giờ để dọn dẹp cây gãy đổ, đảm bảo giao thông cho thành phố” - ông Trung nói.
Trao đổi với PV, TS. Nguyễn Trọng Bình - Trưởng khoa Lâm học, ĐH Lâm nghiệp Hà Nội, cho rằng nguyên nhân cây mới trồng ở Hà Nội đã bật gốc do kỹ thuật không phù hợp, kèm thêm việc mưa kết hợp gió khiến nhiều câu xanh, tán lá bị gãy, thậm chí bật gốc.
“Nền đất vỉa hè ở Hà Nội chứa quá nhiều tạp chất, gạch, bê tông, cát. Nếu chỉ đào 40 – 50cm đặt cây, chèn đặt, cây sẽ rất chậm phát triển. Để cây mới trồng bám rễ chặt phải đào hố rộng, sâu, đổ thêm đất dinh dưỡng vào đó” - TS Bình cho hay.
Về việc cây trồng bật gốc lộ ra nguyên bầu, bao tải, bọc lưới nilon TS Bình nhận xét, việc bọc lưới nilon, bao dứa đảm bảo tránh tổn thương rễ cây cũng như tránh mất nước khi di chuyển nhưng khi trồng bắt buộc phải bỏ lớp bọc này nếu không cây trồng sẽ bị ảnh hưởng lớn.
“Để nguyên bọc lưới trồng, cây vẫn sống, sinh trưởng nhờ lớp đất trong bọc. Tuy nhiên, sẽ mất một thời gian rất dài để rễ cây có thể đâm ra, bám vào lớp đất trên vỉa hè, gió to sẽ bật gốc. Nguyên tắc trồng cây đô thị hay cây lâm nghiệp không được để nguyên bọc lưới, đặc biệt bao dứa bọc kín.” - TS Bình nói.
Đồng quan điểm trên, TS. Nguyễn Tiến Hiệp - Trung tâm Bảo tồn thực vật Việt Nam cho rằng, khi đánh chuyển cây trồng từ vườn ươm ra phố, bọc lưới nilon, bao tải là cần thiết để tránh cây bị mất nước, bảo vệ rễ non. Tuy nhiên, khi trồng trên phố phải rạch thành nhiều mảnh để rễ cây đâm ra…nhưng trồng mà để nguyên lưới, bao tải là “chuyện lạ”.
“Về nguyên tắc, khi trồng phải tháo bỏ nilon, bao dứa để cây phát triển. Tuy nhiên, tôi thấy một số nơi có áp dụng kỹ thuật mới. Tức là, trước khi đem ra phố trồng, người ta đào cây lên bọc một lớp lưới thoáng, loại lưới che bóng mát, rồi lại trồng xuống vườn ươm. Sau khoảng 3-4 tháng, thì lại đánh nguyên bọc đó mang đi trồng trên phố. Mặc dù, khi trồng trên phố, có thể không cần gỡ bỏ hoàn toàn bọc nilon nhưng nhất thiết phải rạch thành nhiều mảnh để rễ cây đâm ra, bám vào đất xung quanh.” - TS Hiệp cho hay.
Theo TS Hiệp, hàng loạt cây trồng mới trên đường phố Hà Nội như Nguyễn Văn Trỗi, Phạm Hùng, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Thái Học có tán thưa vẫn bật gốc là do trồng không đúng kỹ thuật. “Với những cây có đường kính lớn như những cây lát hoa mới trồng, phải đào hố sâu ít nhất 1m, đổ đất phù sa mới làm cây nhanh bén rễ, sinh trưởng tốt” - TS Hiệp nhấn mạnh. (Lao Động 30/7) đầu trang(
Rừng sản xuất đã đáp ứng khoảng 60% nguyên liệu cho ngành sản xuất, chế biến đồ gỗ. Tuy nhiên, trước nhu cầu gỗ nguyên liệu ngày càng tăng, cần có những chính sách mạnh mẽ hơn để phát triển rừng sản xuất.
Để phát triển rừng sản xuất, thời gian qua, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN - PTNT) đã tập trung vào một số giải pháp như quy hoạch phát triển rừng trồng gỗ lớn, nghiên cứu chọn tạo giống và nghiên cứu, chuyển giao khẩn trương các kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng cho địa phương.
ổng cục đã xây dựng và ban hành hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng thâm canh, chuyển hóa rừng trồng cung cấp nguyên liệu gỗ lớn. Cùng với đó là nghiên cứu xây dựng gói kỹ thuật tối ưu về chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng cung cấp gỗ lớn, trồng lại rừng sau khai thác, trồng rừng mới theo hướng thâm canh, giá thành phù hợp cho từng nhóm cây trồng ở các điều kiện…
Ông Nguyễn Văn Hà, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp cho biết, hiện người trồng rừng sản xuất cũng có thể được miễn hoặc giảm tiền thuê đất và thuế sử dụng đất đồi những diện tích trồng rừng, chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ lớn. Ngoài ra, Tổng cục Lâm nghiệp đang tiếp tục nghiên cứu, đề xuất chính sách ưu đãi, thuận tiện cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân vay vốn đầu tư trồng rừng sản xuất; xây dựng thí điểm chính sách bảo hiểm đối với rừng trồng kinh doanh gỗ lớn để người trồng rừng yên tâm đầu tư kinh doanh.
Về chế biến lâm sản, ông Hà cho rằng, để phát triển bền vững rừng sản xuất, cần quy hoạch, bố trí hợp lý các nhà máy chế biến gỗ và lâm sản. Trong đó, ưu tiên xây dựng các nhà máy chế biến gỗ ở nơi có đủ nguyên liệu để góp phần tạo việc làm, thu nhập cho người dân; khuyến khích xây dựng các cơ sở sản xuất, chế biến tổng hợp gỗ rừng trồng và lâm sản ngoài gỗ.
Cuối năm 2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định 75/2015/NĐ-CP về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2020. Theo đó, mức cho vay trồng rừng sản xuất tối đa là 15 triệu đồng/ha. Đây là chính sách tích cực để phát triển rừng sản xuất, đồng thời góp phần xóa đói giảm nghèo nâng cao chất lượng đời sống cho người dân vùng sâu, vùng xa.
Quan trọng nhất đối với người tham gia sản xuất rừng vẫn là khâu tiêu thụ. Việc thúc đẩy quản lý lưu thông hàng hóa lâm sản, bảo đảm nguồn gốc hợp pháp, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia thị trường sẽ tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và hài hòa lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng.
Cùng với việc hiện thực các cam kết quốc tế về minh bạch nguồn gốc gỗ sắp tới đây, việc phát triển thị trường xuất khẩu lâm sản chắc chắn phải phù hợp với luật pháp quốc tế. Điều này cũng đặt người sản xuất rừng vào tâm thế của những doanh nhân với thị trường rộng lớn hơn là chỉ cung cấp nguyên liệu tại chỗ.
Ở nước ta, trừ vùng miền núi Bắc Bộ, việc giao rừng cho tổ chức và hộ gia đình được tiến hành song song, còn ở các vùng khác chỉ mới giao rừng cho các tổ chức nhà nước là chính, giao rừng cho hộ gia đình rất ít, thậm chí không giao rừng tự nhiên. Tiến độ thực hiện giao rừng cho hộ gia đình trên các vùng miền, tỉnh cũng rất khác nhau: miền núi phía Bắc giao được nhiều nhất 2,068 triệu hécta, chiếm 56% tổng diện tích rừng đã giao cho hộ; vùng Bắc Trung Bộ: 800 nghìn hécta, đạt 22%; vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là 13%; các vùng còn lại diện tích rừng giao cho hộ rất hạn chế.
Theo định hướng của Chiến lược phát triển lâm nghiệp đến năm 2020, cần trồng mới 2 triệu hécta rừng để đáp ứng được nhu cầu gỗ nguyên liệu và có độ che phủ rừng toàn quốc 47%, nhu cầu vốn đầu tư hàng nghìn tỷ đồng, trong đó khoảng 60% phải khai thác vốn trong dân và các nhà đầu tư. Nhưng hiện nay, các nhà đầu tư trong và ngoài nước có ý định đầu tư vào trồng rừng sản xuất với quy mô lớn rất khó tiếp cận với đất trồng rừng.
Để đáp ứng đà tăng trưởng xuất khẩu sản phẩm gỗ của ngành chế biến, nhu cầu nhập khẩu gỗ có xu hướng tăng lên trong tương lai và giá cả cũng tăng do chi phí vận tải tăng. Đây là một bất lợi lớn nhất làm giảm sức cạnh tranh của ngành chế biến xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam.
Ông Vũ Long, Chuyên gia Viện Nghiên cứu và Phát triển lâm nghiệp nhiệt đới cho rằng, ở bất kỳ hội nghị về phát triển trồng rừng sản xuất nào, “bài ca” muôn thủa được nêu ra là thiếu vốn đầu tư và giải pháp duy nhất là đề nghị Nhà nước tăng vốn tín dụng với lãi suất thấp. Trong khi đó, những giải pháp nào để khai thác được nguồn vốn trong dân và nhà đầu tư nước ngoài thì không được bàn đến nơi đến chốn. Việc thực hiện chỉ tiêu, kế hoạch kèm theo vốn đầu tư của ngân sách gần như đã thành một nếp quen thuộc của các cơ quan quản lý lâm nghiệp.
Nhiều tổ chức kinh tế, tư nhân bỏ vốn liên kết với dân trồng rừng nguyên liệu đã gặp rất nhiều trở ngại, thậm chí thất bại, nhưng không được các cơ quan nhà nước giúp tháo gỡ khó khăn nên đã bỏ cuộc, nản lòng.
Theo ông Hoàng Đức Hải - Giám đốc Hợp tác xã Ngàn Hoa, để khắc phục tình trạng trên, các tỉnh cần phải công khai hóa đất trồng rừng sản xuất xuất được quy hoạch. Sau khi việc rà soát 3 loại rừng cấp tỉnh đã được phê duyệt, phải đóng mốc ranh giới trên thực địa (trên từng địa bàn xã), ưu tiên đóng mốc trước ở những nơi có quỹ đất trồng rừng sản xuất tập trung, có thị trường gỗ nguyên liệu; sớm thực hiện việc cho thuê đất lâm nghiệp sản xuất đối với tất cả các tổ chức kinh tế.
Thông qua việc cho thuê đất mới thực sự thu hồi được hàng trăm nghìn hécta đất không được sử dụng đang do các công ty lâm nghiệp nhà nước nắm giữ; tổ chức hội nghị khách hàng (các nhà đầu tư trồng rừng tiềm năng, trước hết nhắm đến các doanh nghiệp chế biến gỗ lớn, đang phải nhập khẩu gỗ) để thăm dò nhu cầu thuê đất lâm nghiệp và giới thiệu các dự án đầu tư lâm nghiệp của địa phương; tổ chức xây dựng các dự án lâm nghiệp để kêu gọi đầu tư. (Đại Biểu Nhân Dân 30/7) đầu trang(
Theo báo cáo của UBND TX An Khê (Gia Lai), tình hình lấn chiếm đất trồng rừng, chặt phá rừng diễn ra khá phổ biến trên địa bàn một số xã.
Không chỉ thế, nhiều đối tượng đã ngang nhiên đập phá các công trình quản lý bảo vệ rừng, sử dụng thuốc diệt cỏ, chặt phá rừng trồng, thậm chí lăng mạ, chống đối các lực lượng thực thi công vụ. Dù xảy ra trong thời gian dài, các cơ quan thẩm quyền có xử lý nhưng hiệu quả chẳng thấm vào đâu.
Trên địa bàn TX An Khê có 2 Ban quản lý rừng phòng hộ (BQL RPH) là BQL RPH Bắc An Khê và BQL RPH Ya Hội. Theo quyết định của UBND tỉnh Gia Lai, 2 BQL trên được giao quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp với tổng diện tích hơn 14.400ha. Trong đó, diện tích trên địa bàn TX An Khê mà 2 BQL này quản lý, sử dụng là hơn 2.500ha. Thế nhưng, trong những năm qua, hơn 1.700ha đất rừng dần bị “chuyển đổi” thành đất sản xuất của người dân trước sự thờ ơ đến kỳ lạ của các cơ quan chức năng.
Từ năm 2008 đến nay, hàng trăm người dân ở địa bàn các xã như Song An, Cửu An, Xuân An và P. Ngô Mây (TX An Khê) đã tìm mọi cách lấn chiếm đất rừng, canh tác trái phép trước sự bất lực của cơ quan chức năng. Diện tích rừng mà UBND tỉnh Gia Lai giao cho các BQL cứ mất dần theo từng năm. Sự bất lực trong công tác quản lý, bảo vệ thể hiện rõ khi họ không hề có những biện pháp quyết liệt để ngăn chặn và để xảy ra trong suốt một thời gian dài.
Đến thời điểm hiện nay, BQL RPH Bắc An Khê chỉ còn quản lý hơn 270ha rừng và đất rừng vì bị người dân lấn chiếm trái phép hơn 1.100ha. Qua rà soát, có hơn 370 hộ dân đã chiếm số diện tích đất trên. Còn tại BQL RPH Ya Hội, số diện tích đất rừng của ban này đang thực sự quản lý và bị người dân lấn chiếm xấp xỉ nhau. Cụ thể, ban này hiện còn quản lý diện tích đất lâm nghiệp tại TX An Khê là hơn 610ha, diện tích đất bị chiếm là hơn 680ha.
Điều đáng nói, tại BQL RPH Bắc An Khê, hơn 590ha đất lâm nghiệp bị người dân lấn chiếm từ năm 2003 đến 2010 nhưng các cơ quan chức năng đều không xác định được đối tượng(?).
UBND TX An Khê thì cho rằng, từ năm 2013, các cơ quan chức năng của UBND TX đã có những biện pháp để giải quyết. Cụ thể, năm 2013, UBND TX đã quyết định thành lập Đoàn kiểm tra việc lấn chiếm đất rừng trên địa bàn. Quá trình kiểm tra, Đoàn đã tham mưu cho UBND TX ban hành 47 quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Thế nhưng, từ thời gian lập biên bản của Đoàn đến thời gian tham mưu ra quyết định và thời gian xem xét trình ký quyết định “có sơ suất” để kéo dài dẫn đến quyết định xử phạt vi phạm hành chính... hết hạn. Thế nên, việc xử phạt không thực hiện được.
Ngay sau đó, Đoàn kiểm tra đã tiếp tục tham mưu cho UBND TX thu hồi các quyết định trên và tham mưu cho UBND TX quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Các quyết định trên đã được giao về UBND các xã Song An và Cửu An để giao đến các hộ dân lấn chiếm trái phép.
Thế nhưng, cuối năm 2013, UBND xã Cửu An lại giao ngược lại cho UBND TX 20 quyết định vì các hộ dân không nhận, 27 quyết định xử phạt vi phạm hành chính ban hành đã quá thời gian thực hiện. Còn tại xã Song An, có 5 hộ dân lấn chiếm đất rừng trái phép đã nhận quyết định nhưng không tự giác chấp hành. Đến ngày 18-6-2014, UBND TX đã giao Phòng TN-MT chủ trì phối hợp với UBND xã thông báo đến 5 hộ trên chấp hành quyết định, nếu không chấp hành sẽ tiến hành cưỡng chế theo quy định.
Tuy nhiên, qua làm việc, 5 hộ trên đã đồng ý trả lại đất sau khi được BQL RPH Ya Hội chi trả tiền hỗ trợ nhân công, cây giống trồng rừng trên đất lấn chiếm. Như vậy, đến nay UBND TX An Khê và các cơ quan chức năng chỉ xử lý như “muối bỏ bể”, bởi đây chỉ là con số nhỏ nhoi so với con số thực tế diện tích, số hộ lấn chiếm đất rừng trái phép.
Lý giải về vấn đề này, trong Báo cáo số 108/BC-UBND do ông Nguyễn Hữu Nguyên - Phó Chủ tịch UBND TX An Khê ký, cho rằng: “Do địa bàn rộng, phức tạp, nằm xen kẽ giữa nương rẫy của người dân đan xen gần rừng, có nhiều diện tích đất nông nghiệp xen kẽ của các hộ dân với diện tích đất lâm nghiệp thuộc lâm phần của 2 BQL RPH quản lý. Do đó, tình trạng chặt phá ken cây và lấn, chiếm đất trồng rừng vẫn tiếp diễn, rừng trồng được khai thác đến đâu thì các hộ dân lấn, chiếm ở đó. Đặc biệt, những năm gần đây tính chất mức độ xảy ra ở diện rộng trên địa bàn các xã. Bên cạnh đó, tinh thần trách nhiệm của chủ rừng và chính quyền cấp xã nơi có rừng chưa cao trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Sự phối hợp giải quyết của các ban, ngành, các cơ quan chức năng chưa thật sự chặt chẽ, chưa nghiêm, dẫn đến việc giải quyết chưa được dứt điểm”.
Liên quan đến việc lấn chiếm đất rừng trái phép này, đại diện Hạt Kiểm lâm TX An Khê cho biết: Hạt đã tham mưu cho UBND TX xử lý hành chính 8 vụ và xử lý hình sự 5 vụ. Đồng thời, báo cáo, tham mưu cho UBND TX cụ thể vụ việc lấn chiếm đất rừng trái phép tại 2 BQL RPH Bắc An Khê và Ya Hội để có hướng kiểm tra, xử lý dứt điểm.
Đồng thời, vừa qua UBND tỉnh Gia Lai đã có công văn chỉ đạo xác minh, làm rõ vụ lấn chiếm hơn 1.700ha đất rừng tại TX An Khê thuộc quản lý của BQL RPH Bắc An Khê và BQL RPH Ya Hội. Theo đó, Sở NN&PTNT tỉnh Gia Lai và các ngành chức năng đã thành lập đoàn kiểm tra nhằm làm rõ vụ việc.
Dự kiến, trong tuần tới đoàn kiểm tra sẽ có kết quả để báo cáo cho UBND tỉnh. Tuy nhiên, dư luận đang quan tâm sự việc sai phạm như thế nào, tính chất ra sao và trách nhiệm thuộc về ai? Đặc biệt, việc đất rừng bị lấn chiếm trải qua nhiều năm có nhiều dấu hiệu bất thường và có hay không việc làm ngơ để “chia” nhau đất rừng? (Công An TP.Đà Nẵng 30/7) đầu trang(
Mặc dù đã được UBND tỉnh Quảng Bình nhiều lần cắt đất từ các nông-lâm trường giao về cho xã để chia cho các hộ dân sản xuất, nhưng đồng bào dân tộc Vân Kiều ở xã Kim Thủy (huyện Lệ Thủy) vẫn chưa thực sự được nhận phần đất của mình nên gặp nhiều khó khăn trong sản xuất, canh tác.
Theo tìm hiểu của phóng viên NTNN/Dân Việt tại xã Kim Thủy (Lệ Thủy), mặc dù trên giấy tờ, địa phương này đã được nhiều lần giao đất nhưng hiện nay, người dân ở đây, đa số là dân tộc Vân Kiều vẫn chưa nhận được tấc đất nào, mặc dù họ đang “đói” đất để sản xuất.
Theo ông Trần Văn Mừng - Phó Bí thư Đảng ủy xã Kim Thủy, địa giới hành chính xã có 48.000ha nhưng đa phần là đất của các lâm trường, công ty và Ban quản lý rừng phòng hộ. Trên danh nghĩa, xã chỉ quản lý 4.000ha, nhưng thực chất hơn ½ diện tích bị người dân xâm canh, hậu quả của thời lâm trường để lại.
Ông Mừng cho biết: “Trong thời gian qua, theo chỉ đạo của UBND tỉnh Quảng Bình, đã có 3 đợt các lâm trường thuộc Công ty Lâm công nghiệp Long Đại cắt đất giao về cho xã để chia cho dân, nhưng đến nay vẫn chưa giao được mét vuông nào. Đợt đầu tiên cắt hơn 100ha đất ngay phía sau trụ sở xã, nhưng đất đó, các lâm trường đã cho các cán bộ dưới xuôi mượn, thuê, nhận khoán thời hạn đến 45 năm, nên họ không chịu trả lại vì chưa hết thời hạn. Đợt thứ 2, tiếp tục cắt 7ha để giao cho 3 bản gần biên giới nhưng cũng không giao được. Nguyên nhân trước đây Công ty Long Đại thiết kế trồng cao su, sau đó cắt về cho xã, nhưng diện tích này toàn là rừng già, kiểm lâm không dám ký, nên xã cũng không thể giao cho dân. Đợt thứ 3 mới đây nhất, Công ty Long Đại tiếp tục cắt về cho xã 90ha ở vùng Khe Khế, nhưng cũng không thể giao cho dân vì quá xa khu dân cư, không ai đủ sức để khai hoang, sản xuất và quản lý”.
Theo ông Mừng, xã Kim Thủy có hơn 1.000 hộ dân, hơn 4.000 nhân khẩu, trong đó có 180 hộ không có đất sản xuất, các hộ còn lại có nhưng cũng nhỏ lẻ, chưa thể nuôi sống họ ngay trên chính mảnh đất của mình.
“Theo quy định, mỗi hộ dân miền núi có 0,5ha đất là đủ định mức. Nhưng trên thực tế, nếu từng đó diện tích làm trang trại thì may ra đủ sống, mà người dân tộc ở đây có phải ai cũng có điều kiện để làm trang trại đâu. Ở địa phương này và điều kiện đất đai như vậy thì người Vân Kiều chỉ có thể trồng rừng kinh tế mà trồng rừng thì mỗi hộ (phần lớn đều đông con, có 7 - 10 thành viên), cần phải 5ha mới sống đủ. Vì vậy, người dân ở đây có rừng cũng như không có rừng, đều đi làm thuê, làm mướn thêm mới đủ sống” – ông Mừng nói.
Bà Hồ Thị Mến -người dân ở bản Đá Còi cho biết, đã sống ở bản mấy chục năm qua nhưng gia đình bà hiện nay vẫn chưa có một khoảnh đất nào để trồng rừng mưu sinh. Hàng ngày để có tiền sinh sống, các thành viên trong gia đình phải đi làm thuê, làm mướn khắp nơi và vào rừng khai thác lâm sản trái phép. “Tui nghe nói Nhà nước có chủ trương giao đất, giao rừng cho dân thì mừng lắm, nhưng chờ mãi không thấy mô cả” – bà Mến nói. (Dân Việt 31/7) đầu trang(
Ngày 31/7, tại KCN Đông Bắc Sông Cầu (Phú Yên), DN tư nhân Bảo Châu tổ chức khánh thành NM chế biến nguyên liệu dăm gỗ xuất khẩu trực tiếp sang Nhật.
Theo ông Trần Đăng Khoa, GĐ DNTN Bảo Châu, nhà máy có tổng mức đầu tư 100 tỷ đồng, được xây dựng trên diện tích 36.000m2. Hiện nay doanh nghiệp đã đầu tư vùng nguyên liệu trên 1.800 ha rừng trồng, chủ động được khoảng 50% nguyên liệu cho nhà máy chế biến dăm gỗ.
Ngoài ra, DNTN Bảo Châu còn tiến hành ký kết bao tiêu sản phẩm tại rẫy của nông dân trồng rừng tại Phú Yên và một số tỉnh lân cận, với giá cạnh tranh.
Đây là nhà máy chế biến dăm gỗ đầu tiên tại Phú Yên ký kết trực tiếp xuất khẩu dăm gỗ sang Nhật Bản và các thị trường tiềm năng khác là Mỹ, Hàn Quốc.
Trong giai đoạn 2, Bảo Châu sẽ kết nối với các đơn vị nghiên cứu chuyên ngành để tạo chuỗi sản xuất - chế biến - xuất khẩu gỗ rừng trồng đa dạng, bền vững. Đặc biệt là việc đầu tư sản xuất viên nén gỗ sinh học để nâng cao giá trị xuất khẩu của gỗ rừng trồng Việt Nam.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, việc DNTN Bảo Châu chủ động được nguồn nguyên liệu và trực tiếp ký kết xuất khẩu dăm gỗ với các đối tác Nhật, Mỹ, Hàn Quốc… sẽ mở thêm hướng mới về đầu ra của mặt hàng này, không còn quá phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc như hiện nay. (Nông Nghiệp Việt Nam 1/8) đầu trang(
Tỉnh Quảng Ngãi là một trong những địa phương sản xuất và xuất khẩudăm gỗ lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, thời gian gần đây, hàng chục doanh nghiệp (DN), nhà máy tại đây gặp rất nhiều khó khăn, thua lỗ do bị phía Trung Quốc ép giá.
Theo thống kê của Hiệp hội Dăm gỗ xuất khẩu Quảng Ngãi, năm 2007, toàn tỉnh chỉ có 3 DN sản xuất dăm gỗ nhưng đến năm 2016 tăng lên 26 DN. Nhà máy mọc lên nhiều dẫn đến tình trạng thiếu nguyên liệu sản xuất. Với 26 nhà máy, mỗi ngày cần khoảng 26.000 tấn nguyên liệu nhưng thực tế nguồn cung chỉ đáp ứng 60%.
Ông Nguyễn Nị, Chủ tịch Hiệp hội Dăm gỗ xuất khẩu Quảng Ngãi, cho biết do khan hiếm nguyên liệu nên xảy ra tranh giành thu mua giữa các DN, thậm chí nhiều DN tìm mọi cách vơ vét. Hệ quả là chất lượng dăm gỗ chế biến phục vụ xuất khẩu không bảo đảm, dẫn đến các thị trường tiềm năng như Nhật Bản, các nước châu Âu từ chối thu mua. Vì lý do này, vài năm trở lại đây, hầu hết các DN chuyển hướng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.
Tuy nhiên, theo ông Vi Nhất Trường, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại tổng hợp Kim Thành chuyên sản xuất gỗ dăm ở Quảng Ngãi, vì phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc nên DN bị ép giá, dẫn đến nghịch lý là dù thiếu nguyên liệu sản xuất nhưng giá vẫn cứ giảm. “Hiện mỗi tấn dăm gỗ xuất sang Trung Quốc chỉ còn 128 USD, trong khi năm 2015 là 135-136 USD/tấn. Giá bán thấp trong khi giá nhân công, chi phí vận chuyển tăng khiến nhiều DN điêu đứng. Một số DN phải đóng cửa, ngưng hoạt động” - ông Trường lo ngại.
Theo ông Vi Nhất Trường, để cứu ngành sản xuất dăm gỗ khỏi lao dốc như hiện tại cần phải có nhiều biện pháp như hạn chế cấp phép, nhằm ngăn chặn tình trạng tranh giành thu mua nguyên liệu; đồng thời, có biện pháp buộc DN cam kết về chất lượng sản phẩm, nguyên liệu.
“Chỉ như vậy mới có khả năng cạnh tranh với các nguồn nguyên liệu đến từ các nước khác như Thái Lan, qua đó xâm nhập trở lại thị trường Nhật Bản, châu Âu. Các DN cũng cần chuyển hướng đầu tư sang xuất khẩu đồ gỗ tinh chế như bàn, ghế chứ không xuất khẩu dăm gỗ thuần túy nữa. Chúng tôi đang làm theo cách này” - ông Trường cho biết.
Trong khi đó, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam khuyến cáo việc các DN sản xuất dăm gỗ gặp khó khăn trong thời gian qua chủ yếu do ngành sản xuất này phát triển chưa đồng bộ, mất kiểm soát, gây tình trạng cạnh tranh nguyên liệu không lành mạnh, dẫn đến chất lượng kém, qua đó tạo cơ hội cho người mua ép giá.
Theo hiệp hội, để giải quyết khó khăn, một số DN đề nghị nhà nước bỏ áp thuế xuất khẩu 2%. Tuy nhiên, quan trọng là DN phải cải thiện chất lượng sản phẩm, phải biết liên kết tăng năng lực cạnh tranh, chống ép giá.
Bài học vì lệ thuộc thị trường, thương lái Trung Quốc ở các ngành hàng khác đã không được ngành sản xuất dăm gỗ rút ra để né tránh.
Tại hội thảo “Việt Nam xuất khẩu dăm gỗ: Những thách thức mới” được tổ chức mới đây tại Hà Nội, báo cáo của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết lượng xuất khẩu dăm gỗ của cả nước trong 5 tháng đầu năm 2016 chỉ đạt 1,8 triệu tấn, bằng 61% cùng kỳ năm 2015. Dự kiến xuất khẩu dăm gỗ cả năm 2016 chỉ đạt khoảng 7 triệu tấn, tương đương 60% năm 2015.
Nguyên nhân là do thị trường chủ yếu phụ thuộc vào Trung Quốc. Ngoài ra, trong lúc thị trường tiêu thụ trên thế giới thu hẹp thì xuất khẩu dăm gỗ của Việt Nam vấp phải cạnh tranh với Thái Lan. (Người Lao Động 30/7) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Nhà chức trách Mỹ ngày 30/7 cảnh báo, đám cháy rừng nghiêm trọng xảy ra gần bờ biển Big Sur, bang California của Mỹ có thể lan rộng gấp hơn 5 lần kích thước ban đầu, đe dọa tính mạng của hàng trăm người dân.
Đám cháy có tên gọi Soberanes, bùng phát từ ngày 22/7 vừa qua, hiện đang hoành hành tại phía nam thị trấn duyên hải Carmel-by-the-Sea trải rộng gần 13.000 hecta.
Đội quản lý sự cố bang California cảnh báo, đám cháy này có thể lan ra khoảng 68.000 hecta và chi phí dập tắt đám cháy hiện nay vào khoảng 6 triệu USD/1 ngày.
Trước đó vào ngày 29/7 vừa qua, giới chức bang California thông báo, đám cháy này đã phá hủy 68 ngôi nhà, đe dọa gần 2.000 ngôi nhà khác.
Hơn 5.000 nhân viên cứu hỏa, 500 xe cứu hỏa cùng 14 máy bay trực thăng đã được huy động để dập lửa.
Nhà chức trách đã đóng cửa một loạt khu cắm trại nổi tiếng cũng như các khu vui chơi giải trí dọc theo khu vực phía bắc của bờ biển Big Sur. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 31/7) đầu trang(./.
|
|||