Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 01 tháng 11 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Bộ NN&PTNT cho biết, từ năm 2006 đến nay, cả nước đã có 160 dự án thuộc 29 tỉnh, thành thực hiện việc chuyển đổi rừng sang xây dựng thủy điện với diện tích gần 20.000ha. Tuy nhiên, mới chỉ có 8/29 tỉnh, thành trồng lại rừng sau chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang làm thủy điện với diện tích 735ha, chiếm 3,7% tổng diện tích đã chuyển đổi.
Để bảo vệ diện tích rừng tự nhiên, Bộ NN&PTNT kiến nghị Thủ tướng Chính phủ trong thời gian tới hạn chế thấp nhất việc chuyển đổi rừng tự nhiên sang làm thủy điện. Đặc biệt, khi phê duyệt dự án đầu tư phải đồng thời phê duyệt phương án trồng rừng thay thế. Mọi trường hợp không có phương án trồng rừng thay thế được duyệt thì kiên quyết không được khởi công dự án. (An Ninh Thủ Đô 1/11; Thanh Niên 1/11)đầu trang(
Tình trạng "chảy máu” rừng, khiến tài nguyên rừng rơi vào nguy cơ cạn kiệt từ lâu đã được cảnh báo, thậm chí Chính phủ đang xem xét đến khả năng tạm đóng cửa rừng trên phạm vi toàn quốc. Nhưng bên cạnh tác động tiêu cục đó, phải nhắc tới những dự án phát triển rừng cộng đồng đã phần nào hạn chế được tình trạng trên.
Đại Đoàn Kết đã có cuộc trao đổi với ông Đinh Văn Dực, Chủ tịch MTTQ tỉnh Hòa Bình về vấn đề này.
Được biết toàn tỉnh Hòa Bình có 204 xã có rừng, vậy công tác bảo vệ rừng được triển khai như thế nào? Trả lời câu hỏi này, ông Dực cho hay: Xác định việc mất rừng do các nguyên nhân khác nhau đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên rừng và các công trình công cộng nên trong các năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở đã tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, đôn đốc các chủ rừng xây dựng phương án bảo vệ.
204 xã có rừng đã xây dựng được bản quy ước bảo vệ rừng và kiện toàn lại các phương án, quy chế phối hợp, trong đó có 204 phương án phòng cháy, chữa cháy rừng cấp xã, phường, 11 phương án cấp huyện, thành phố... 890 xóm có tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng.
Còn đối với rừng cộng đồng thì đó là một dạng quản lý đã có từ lâu đời ở địa phương. Hiện phương thức quản lý rừng cộng đồng đang được quan tâm trở lại, xuất phát từ thực tế diện tích đất rừng được giao đến từng hộ gia đình từ đó các hộ gia đình được cấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc thành lập các nhóm hộ sử dụng rừng cùng tham gia vào quản lý và bảo vệ rừng được xem là chìa khóa cho sự phát triển rừng bền vững.
Khái niệm rừng "cộng đồng” có bị hiểu với việc "cha chung không ai khóc”? Về vấn đề này, theo ông Dực, từ trước đến nay, khái niệm "cộng đồng” với nhiều cách hiểu khác nhau đã phần nào phản ánh qua thái độ e dè của người dân khi được đề nghị sự tham gia của họ. Tuy nhiên những lo ngại về việc "cha chung không ai khóc” sẽ không bị áp đặt ở đây nữa khi rừng được gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế, thậm chí là tín ngưỡng của những cộng đồng dân cư sống dựa vào rừng và nếu nó được thực hiện phù hợp với khuôn khổ chính sách pháp lý hiện hành được đề ra thì mô hình này sẽ mang một sắc thái hoàn toàn khác và chúng ta nên tận dụng, phát huy.
Tỉnh Hòa Bình đang có những dự án nhằm phát triển, nhân rộng mô hình rừng cộng đồng. Điển hình như các dự án thuộc Ban Quản lý các dự án Lâm nghiệp, có sự hỗ trợ đầu tư của các tổ chức bảo tồn trên thế giới. Như ở Khu bảo tồn Hang Kia - Pà Cò nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Hòa Bình, có tổng diện tích rừng tự nhiên khoảng 7.091ha. Từ năm 1994, rừng đã được Ban quản lý Khu bảo tồn giao khoán cho các hộ gia đình ở đây quản lý, bảo vệ với chỉ tiêu 50.000 đồng/ha/năm. Hình thức này được người dân và chính quyền đánh giá là đã góp phần quản lý bảo vệ rừng tốt hơn. Điều đáng quý là dù không có bất cứ hương ước, quy định nào nói về nhiệm vụ bảo vệ rừng nhưng người dân địa phương đều ý thức được vai trò quan trọng của nó.
Ông Dực cũng cho biết: Thành công trong việc thực hiện dự án đã khá rõ nét. Những lợi ích từ rừng mang lại cho người dân cũng ngày một lớn. Việc này đồng nghĩa với sự nhiệt tình, xông xáo của những người dân khi tham gia phương thức quản lý như: Mạnh dạn nhận khoán bảo vệ, phát triển rừng khoanh nuôi, rừng tái sinh và trồng mới rừng của các tổ chức Nhà nước... Thậm chí, ở mặt nào đó phương thức quản lý này còn tốt hơn việc quản lý của chính quyền. Điều này cũng dễ hiểu khi lợi ích mà rừng mang lại sẽ đến tận tay người dân, tới cộng đồng dân cư với tư cách như một chủ rừng. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những mặt khó khăn nhất định.
Cũng như hầu hết các dự án khác trong cả nước khi triển khai quản lý chưa có một mô hình chuẩn nào để đánh giá tiêu chí để thực hiện. Phần lớn rừng cộng đồng hiện nay cũng chỉ mang tính chất thăm dò với mức độ đầu tư dè chừng, chính vì thế để nhìn nhận, đánh giá vai trò của cộng đồng đối với tính hiệu quả của công tác quản lý, phát triển rừng quả thật không dễ dàng.
Bên cạnh đó, đối tượng rừng giao chủ yếu là rừng phòng hộ nghèo, ít tài nguyên nên việc hài hòa giữa mục tiêu bảo vệ và phát triển bền vững với lợi ích sử dụng rừng của người dân luôn là bài toán khó. Những câu hỏi như: Có nên khuyến khích phát triển rừng cộng đồng hay không? Khuôn khổ pháp lý nhằm khuyến khích cộng đồng tham gia bảo vệ và phát triển rừng cần được xác lập như thế nào? Nên duy trì diện tích rừng bao nhiêu là vừa? Rừng cộng đồng được giao là loại rừng nào để tối ưu hóa lợi ích vẫn luôn là những câu hỏi đối với các nhà quản lý và câu trả lời cho những vấn đề đó hiện vẫn còn bỏ ngỏ.
Không có cách nào khác để dự án đi vào cuộc sống thì MTTQ và các ban, ngành liên quan phải tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng đồng thời phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân. Ngoài ra những chính sách ưu đãi với những người trực tiếp được giao khoán, bảo vệ rừng, giữ rừng cũng phải được quan tâm, chú trọng đầu tư để người dân có thể sống được bằng rừng. (Đại Đoàn Kết 31/10)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Nhằm quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên rừng và thực hiện có hiệu quả chức năng phòng hộ, giảm nhẹ thiên tai, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, tỉnh Tuyên Quang quyết định đầu tư gần 2.700 tỷ đồng để quy hoạch, bảo vệ và phát triển rừng từ nay đến năm 2015.
Trong đó, vốn Ngân sách Nhà nước đầu tư gần 140 tỷ đồng, còn lại là từ các nguồn vốn khác.
Theo đó, vốn phân bổ quy hoạch, bảo vệ rừng là trên 22 tỷ đồng; vốn phát triển rừng gần 2.000 tỷ đồng; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng hơn 2 tỷ đồng; chi phí quản lý, tư vấn là hơn 200 tỷ đồng; các chi phí khác gần 10 tỷ đồng...
Tỉnh Tuyên Quang sẽ trồng mới gần 80.000ha rừng các loại; trong đó, có trên 3.000ha rừng phòng hộ, gần 27.000ha rừng sản xuất và gần 2.000ha rừng đặc dụng; trồng lại rừng sau khai thác trên 46.000ha và trồng cây phân tán là gần 2.000ha. Tỉnh đưa ra kế hoạch, trung bình mỗi năm sẽ thực hiện trồng mới hơn 6.000ha rừng; diện tích sản lượng khai thác gỗ từ rừng sản xuất là 46.000 ha.
Bà Nguyễn Thị Định, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tuyên Quang cho biết để phát huy lợi thế đất lâm nghiệp, tỉnh rà soát quỹ đất trồng rừng, bố trí từng loại cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng. Tỉnh điều chỉnh và đánh giá tình hình sử dụng đất đai, tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp theo ranh giới ba loại rừng (rừng phòng hộ, rừng sản xuất, vùng đặc dụng) mới rà soát để làm cơ sở cho lập quy hoạch, kế hoạch và có các giải pháp bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng có hiệu quả.
Mặt khác, tỉnh có những cơ chế chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia trồng rừng, hỗ trợ gạo cho những hộ chuyển đổi đất nương rẫy kém hiệu quả sang trồng rừng.
Quá trình rà soát phải gắn với việc quy hoạch xây dựng nông thôn mới và việc chuyển đổi một số diện tích đất rừng phòng hộ sang rừng sản xuất phải hợp lý, giữ vững an ninh môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học. Đặc biệt, phải đảm bảo diện tích đất sản xuất cho nhân dân.
Hiện nay, độ che phủ rừng của tỉnh đạt trên 64% và Tuyên Quang trở thành một trong những tỉnh có độ che phủ rừng cao nhất cả nước. Tỉnh phấn đấu nâng độ che phủ rừng lên 67% vào năm 2015 và duy trì bền vững. (VietnamPlus.vn 1/11; Kinh tế Việt Nam&Thế Giới 1/11)đầu trang(
Những năm qua, mặc dù nguồn nhân lực mỏng, địa bàn rộng, tình trạng khai thác gỗ trái phép diễn biến phức tạp nhưng Chi cục Kiểm lâm Điện Biên luôn cố gắng phát huy tốt vai trò của mình để làm tốt nhiệm vụ.
Điện Biên là địa phương có diện tích đất rừng tự nhiên khá rộng với 376.727ha. Tuy nhiên, do địa hình bị chia cắt, giao thông không thuận tiện, gây khó khăn cho lực lượng kiểm lâm trong tuần tra, đấu tranh với lâm tặc. Đó là chưa kể tập quán du canh, du cư, phá rừng làm nương rẫy của bà con vẫn khá phổ biến khiến diện tích rừng trên địa bàn có xu hướng bị thu hẹp.
Dựa vào tình hình thực tế trên, hàng năm Chi cục Kiểm lâm Điện Biên đã tích cực tham mưu, giúp UBND cấp xã tổ chức hội nghị đánh giá tổng kết công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) và đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho các năm tiếp theo. Tích cực chỉ đạo công chức kiểm lâm trên địa bàn cập nhật diễn biến tài nguyên rừng; phối hợp với các cơ quan chức năng hướng dẫn, giám sát các chủ rừng trong việc bảo vệ và phát triển rừng, gây nuôi động vật hoang dã; hướng dẫn cộng đồng dân cư thôn bản xây dựng và thực hiện quy ước bảo vệ rừng. Đến nay, 100% số thôn, bản có rừng trên địa bàn tỉnh đều tham gia thực hiện quy ước.
Nhằm thực hiện tốt Quyết định số 83/2007/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và PTNT về nhiệm vụ công chức kiểm lâm địa bàn cấp xã, 5 năm qua, Chi cục đã tổ chức học tập, tuyên truyền với 140.000 lượt người tham gia và ký cam kết bảo vệ rừng thôn bản, huy động 17.840 lượt người cùng chữa cháy rừng. Củng cố và thành lập 1.971 tổ, đội PCCCR ở các xã, phường, thị trấn với 15.650 thành viên, mỗi tổ 8-12 người.
Đặc biệt, công tác tập huấn PCCCR tại các thôn, bản được Chi cục quan tâm chỉ đạo thường xuyên. Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã tổ chức được 163 lớp, với 4.337 người tham gia; 30 cuộc diễn tập, trong đó cấp huyện có 5 cuộc, cấp xã 25 cuộc theo phương châm 4 tại chỗ.
Trong 5 năm qua, Chi cục Kiểm lâm Điện Biên đã phối hợp với lực lượng an ninh, dân quân tự vệ ngăn chặn kịp thời trên 500 vụ vi phạm, lập biên bản 2.610 vụ vi phạm về quản lý bảo vệ rừng. Đến hết tháng 10/2012, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện 440 vụ vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng.
Ông Nguyễn Duy Chinh, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Điện Biên cho biết: “Đứng trước những khó khăn, diễn biến phức tạp của tình hình khai thác, vận chuyển gỗ trái phép như hiện nay, Chi cục đã tăng cường phối hợp với các ngành, đoàn thể, quần chúng nhân dân, đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác quản lý và phát triển rừng; tổ chức nâng cao trình độ chuyên môn cho công chức kiểm lâm. Chỉ đạo các hạt kiểm lâm và kiểm lâm viên tham mưu giúp UBND xã kiện toàn và củng cố ban chỉ huy các cấp về những vấn đề cấp bách trong công tác PCCCR theo phương châm 4 tại chỗ, phù hợp với từng địa phương.
Để công tác bảo vệ rừng được tốt hơn và kiểm lâm địa bàn hoạt động hiệu quả, Chi cục đã xây dựng đề án nâng cao năng lực kiểm lâm địa bàn giai đoạn 2012 – 2017 (đang chờ UBND tỉnh phê duyệt). Bên cạnh đó, theo ông Chinh, các bộ, ban ngành và địa phương cần quan tâm cấp kinh phí mua sắm các dụng cụ chữa cháy và tổ chức hội nghị PCCCR ở cơ sở. Đặc biệt, Bộ Nông nghiệp và PTNT nên quan tâm chỉ đạo hỗ trợ cấp kinh phí triển khai thực hiện các đề án, dự án chuyên ngành trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Điện Biên, góp phần nâng cao độ che phủ rừng, giúp người dân gắn bó và ổn định nhờ nghề rừng. (Kinh Tế Nông Thôn 31/10)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Hôm qua (31-10), nhóm Yêu quý Bảo vệ Cát Tiên có văn bản kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Thủ tướng và các cơ quan liên quan dừng triển khai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A.
Nhóm cũng đề nghị sớm có cơ chế, chính sách phù hợp để quản lý và phát triển bền vững phức hợp Vườn quốc gia Cát Tiên.
Nhóm Yêu quý Bảo vệ Cát Tiên có đội ngũ cố vấn là các chuyên gia hàng đầu về môi trường, địa chất… như GS-TS Nguyễn Trường Tiến - Chủ tịch Hội Cơ học Địa chất Việt Nam; GS-TSKH Lê Huy Bá - Trưởng khoa Môi trường ĐH Nguyễn Tất Thành, TP.HCM; GS-TS Nguyễn Thế Hùng - Trưởng bộ môn Kỹ thuật thủy lợi ĐH Bách khoa Đà Nẵng; PGS-TS Hà Đình Đức - thành viên của các tổ chức quốc tế bảo vệ các loài động, thực vật quý hiếm… Đại diện nhóm, ông Nguyễn Huỳnh Thuật, cán bộ Vườn quốc gia Cát Tiên, cho rằng kiến nghị trên nhằm giữ an toàn vườn Cát Tiên, một địa danh hiếm có đã được công nhận, trao tặng nhiều danh hiệu cao quý như di tích quốc gia đặc biệt, khu Ramsar, khu dự trữ sinh quyển thế giới.
Theo nhóm, cả hai dự án trên đều chưa được Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư theo nghị quyết của Quốc hội. Các dự án này cũng vi phạm các cam kết và công ước quốc tế liên quan mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia, như Công ước Ramsar, Công ước Đa dạng sinh học, Công ước Bảo vệ di sản… Mặt khác, hai dự án trên có thể đe dọa an ninh nước sạch, an toàn của hàng triệu người vùng hạ lưu sông Đồng Nai, dồn ép nhiều loài quý hiếm và đặc hữu đến bờ tuyệt chủng.
Nhóm cho rằng vườn Cát Tiên đã được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, đang hoàn tất hồ sơ đề cử di sản thiên nhiên thế giới, với hai dự án xâm phạm vùng lõi vườn thì khả năng hồ sơ bị loại sẽ rất cao. Tổng công suất hai dự án thủy điện trên chỉ chiếm hơn 0,3% tổng công suất các nhà máy điện quy hoạch tới năm 2020, chiếm 0,061% tổng công suất các nhà máy điện quy hoạch tới năm 2030; tức lượng điện hai dự án tạo ra rất nhỏ, có thể thay thế bằng các dự án khác bền vững hơn. Nhóm cũng đề xuất xem xét, ưu tiên cho chủ đầu tư các vị trí khác làm thủy điện và đền bù những thiệt hại (nếu có) không do lỗi của chủ đầu tư. (Pháp Luật TPHCM 1/11)đầu trang(
Ngày 30.10, ông Nguyễn Huỳnh Thuật, cán bộ vườn Quốc gia Cát Tiên đã nhận được văn bản số 1496 do ông Đào Việt Trung, chủ nhiệm văn phòng Chủ tịch nước ký ngày 22.10.2012 đề nghị các đơn vị có liên quan xem xét lại việc kỷ luật một cán bộ vì đã viết thư cho Chủ tịch nước.
Công văn này cùng gửi đến bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn có kèm theo công văn số 322 của báo Người Lao Động ngày 10.10.2012, các tài liệu và thư gửi Chủ tịch nước của ông Nguyễn Huỳnh Thuật. Các tài liệu kèm theo cho thấy, ông Nguyễn Huỳnh Thuật bị cơ quan chủ quản kiểm điểm và đề nghị hình thức kỷ luật vì đã viết thư cho Chủ tịch nước vượt cấp.
Công văn do Chủ tịch nước chỉ đạo nêu rõ: bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn “chỉ đạo, kiểm tra, xem xét giải quyết theo thẩm quyền trả lời ông Nguyễn Huỳnh Thuật và báo Người Lao Động. Đồng thời kiểm tra, xem xét và báo cáo Chủ tịch nước về việc kiểm điểm và đề nghị hình thức kỷ luật đối với ông Nguyễn Huỳnh Thuật có tuân thủ các quy định pháp luật”.
Công văn 1496 đồng thời được gửi cho uỷ ban Khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội, bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, bộ Tài nguyên và môi trường, bộ Khoa học và công nghệ và bộ Công thương để phối hợp xem xét. Trước đó, ngày 8.10.2012, phát biểu trên báo Sài Gòn Tiếp Thị, ông Nguyễn Huỳnh Thuật, cán bộ vườn Quốc gia Cát Tiên đã khẳng định chấp nhận đánh đổi (có thể bị đuổi việc) để cứu lấy rừng Cát Tiên bằng việc gửi tâm thư đến Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.
Ông Thuật cho rằng, mình thực hiện điều này dựa trên “lương tâm, trách nhiệm và sự tự do cao nhất của một công dân Việt Nam theo Hiến pháp nước nhà”. (Sài Gòn Tiếp Thị 31/10)đầu trang(
Trong 9 tháng năm 2012, Sở TNMT đã tham mưu cho UBND tỉnh ra quyết định thu hồi đất và cho 43 tổ chức thuê đất với tổng diện tích trên 1.994 ha; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 20 tổ chức, diện tích gần 226,5 ha; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp với tổng số giấy chứng nhận 103.624/151.082 giấy, đạt tỷ lệ 68,5%.
Ngoài ra, tỉnh ta cũng đã phê duyệt kết quả thăm dò khoáng sản cho 6 doanh nghiệp; cấp 4 giấy phép khai thác khoáng sản; 10 giấy phép về tài nguyên nước; thẩm định 20 dự án báo cáo đánh giá tác động môi trường và dự án cải tạo, phục hồi môi trường. (Báo Hòa Bình 1/11)đầu trang(
Ngày 30-10, UBND huyện Bắc Trà My, Quảng Nam cho biết, huyện đang làm thủ tục giao 832ha đất từ rừng phòng hộ chuyển sang đất sản xuất cho khoảng 410 hộ dân vùng tái định cư thuỷ điện Sông Tranh 2. Trung bình mỗi hộ được cấp khoảng 2 – 3ha đất để làm nương rẫy sản xuất sinh sống.
Ông Đoàn Tất Chẩn, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh nói: "Việc "hy sinh” đất rừng phòng hộ khá lớn này để cấp đất sản xuất cho dân chỉ là giải pháp tạm thời. Do tập tục đồng bào thay đổi rẫy sản xuất liên tục, mặt khác do động đất gây hư hỏng nặng nhà xây nên người dân đổ xô đi cưa hạ gỗ dựng nhà sàn, lều để ở nên rừng phòng hộ đầu nguồn Sông Tranh đang bị xâm hại nghiêm trọng”. (Đại Đoàn Kết 31/10)đầu trang(
Năm 2012, huyện Kim Bôi đặt kế hoạch trồng mới 800 ha rừng. Đến hết tháng 10, toàn huyện đã trồng mới 1.673,2 ha rừng, vượt mức kế hoạch 209%. Diện tích rừng được trồng chủ yếu là rừng kinh tế, do người dân tự đầu tư kinh phí để trồng.
Một số xã có diện tích trồng rừng lớn là: Sơn Thuỷ 190 ha, Nuông Dăm 150 ha, Kim Sơn 140 ha, Thượng Bì 147 ha, Bình Sơn 70 ha, Đông Bắc 75 ha, Cuối Hạ 65 ha... Huyện cũng tập trung chỉ đạo các xã khai thác rừng trồng đến kỳ thu hoạch với diện tích 1.374,9 ha, sản lượng gỗ đạt 40-50 m3/ha, bình quân thu nhập đạt 60-70 triệu đồng/ha. Các xã chủ động khai thác đến đâu, trồng mới luôn đến đó.
Đạt được kết quả trên là do huyện đã chủ động khắc phục khó khăn do thiếu vốn bằng tuyên truyền, vận động nhân dân tự đầu tư kinh phí trồng rừng. Đồng thời một số dự án đã tích cực huy động nguồn vốn đầu tư trồng rừng trên diện tích lâm nghiệp được giao. (Báo Hòa Bình 31/10) đầu trang(
10 năm trở lại đây, người dân sinh sống ven đầm Thị Nại, nhất là những hộ nuôi tôm, đã thật sự nhận ra tác hại của việc tàn phá rừng ngập mặn (RNM). Ðược sự giúp đỡ của địa phương và ngành chức năng, người dân nơi đây đã từng bước trồng lại RNM, nuôi tôm thân thiện với môi trường, hướng đến nuôi trồng thủy sản bền vững.
Đầm Thị Nại rộng 5.060 ha, thuộc địa bàn TP Quy Nhơn và các huyện: Tuy Phước, Phù Cát. Trước đây, đầm Thị Nại có đến 1.000 ha RNM và trên 200 ha thảm cỏ biển, là nơi sinh sống của nhiều giống loài thủy hải sản có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, đầu những năm 90 của thế kỷ trước, phong trào nuôi tôm tự phát đã phát triển rầm rộ, là nguyên nhân khiến RNM đầm Thị Nại bị tàn phá, thay vào đó là những ao hồ nuôi trồng thủy sản. Sau một thời gian nuôi tôm ồ ạt, môi trường nước bị ô nhiễm, dẫn đến hệ sinh thái vùng đầm bị suy kiệt, dịch bệnh tôm ngày càng lan rộng, việc nuôi tôm thất bại nặng nề.
ăm 2004, Dự án “Phục hồi sinh thái và khai thác, sử dụng hợp lý nguồn lợi vùng Cồn Chim - đầm Thị Nại” được triển khai, với mục tiêu phục hồi hệ sinh thái, bảo tồn nguồn lợi ở khu vực Cồn Chim và bảo đảm việc khai thác hợp lý để duy trì nguồn lợi thủy sản trong đầm, tái tạo nguồn lợi thủy sản, xử lý ô nhiễm và tạo cảnh quan môi trường cho toàn khu vực đầm. Ban quản lý Khu sinh thái Cồn Chim - đầm Thị Nại phối hợp với người dân bắt tay trồng lại RNM. Đến nay, diện tích RNM trồng tập trung đã được 50 ha, phủ xanh khu sinh thái Cồn Chim. Dưới tán rừng, hệ sinh thái biển, thảm cỏ biển dần hồi phục, nguồn lợi thủy sản được tái tạo, nhiều loài chim, cò đã bay về trú ngụ, sinh sống ở đây.
Qua hiệu quả thực tế của việc phục hồi RNM, nhiều hộ dân sinh sống ven đầm đã tích cực tham gia trồng RNM phân tán trên các ao, hồ nuôi thủy sản với diện tích trồng đến nay được hàng trăm ha. Ông Phạm Quang Ân, Phó Phòng NN-PTNT huyện Tuy Phước, cho biết: “Thấy được lợi ích của RNM, người dân đã tích cực trồng rừng, riêng trong năm 2012 này, được sự hỗ trợ giống đước của huyện, bà con đã trồng phân tán dọc theo bờ bao ao, hồ nuôi thủy sản với diện tích gần 200 ha. Đây là năm có diện tích trồng RNM nhiều nhất”.
Công tác trồng RNM phân tán trên các ao, hồ nuôi tôm được huyện Tuy Phước triển khai năm 2005. Huyện đã tổ chức nhiều lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật trồng và chăm sóc RNM cho hàng ngàn lượt hộ nông dân ở 4 xã ven đầm, gồm: Phước Thuận, Phước Sơn, Phước Hòa và Phước Thắng. Trong 2 năm 2005-2006, tổ chức ACTMANG của Nhật đã hỗ trợ 10 tấn giống đước trồng trên diện tích 5 ha, đến nay đã đơm hoa kết trái, chống xói lở bảo vệ cho các ao, hồ nuôi trồng thủy sản, phù hợp với việc nuôi tôm thân thiện môi trường.
Ngoài ra, hàng năm huyện đều trích ngân sách mua giống đước cấp miễn phí cho người dân ven đầm trồng RNM phân tán. Nhờ vậy, đến nay đã có trên 500 ha ao, hồ nuôi thủy sản được trồng RNM phân tán, dưới tán rừng bà con nuôi tôm xen các loài thủy sản khác mang lại thu nhập khá.
Ông Nguyễn Ngọc Hải, Thôn phó thôn Vinh Quang 2, xã Phước Sơn, thổ lộ: Trước đây, vùng đất Cồn Chim của thôn Vinh Quang 2 chúng tôi là RNM, cũng do hám lợi, nhiều người thi nhau phá rừng đắp hồ nuôi tôm, chỉ trúng được vài năm đầu, sau đó tôm dịch bệnh liên miên, bà con nợ nần chồng chất. May mà được cơ quan nhà nước cung cấp giống, hướng dẫn kỹ thuật trồng RNM để phục hồi môi trường sinh thái. Đến nay 102 ha ao nuôi thủy sản đã phủ xanh RNM trồng phân tán. Nuôi đa dạng thủy sản dưới tán RNM khỏi lo dịch bệnh, bà con phấn khởi lắm. RNM còn chắn được sóng gió, giữ đất, nên “lợi đơn, lợi kép”…
Được biết, trong “Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu” (SP-RCC), tỉnh ta tham gia một dự án nâng cấp hệ thống đê và trồng rừng ngập mặn để ứng phó với biến đổi khí hậu vùng đầm Thị Nại. Dự án sẽ nâng cấp 24,8 km đê và công trình trên đê ở những đoạn xung yếu có nhiệm vụ bảo vệ phần lớn đất sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp và nơi tập trung đông dân cư; trồng mới và khôi phục 350 ha rừng ngập mặn, trong đó rừng trồng tập trung 170 ha, trồng phân tán 65 ha và khôi phục bảo vệ 75 ha rừng hiện có. Chương trình này sẽ góp phần phủ xanh RNM trên đầm Thị Nại.
Bên cạnh đó, theo quy hoạch trồng RNM giai đoạn 2010-2020 đã được UBND tỉnh phê duyệt, huyện Tuy Phước sẽ trồng 149,6 ha RNM (xã Phước Sơn 76,4 ha, xã Phước Thuận 73,2 ha) với các giống đước, mắm trắng, bần trắng… với nguồn vốn đầu tư trồng RNM hơn 8 tỉ đồng. (Báo Bình Định 1/11)đầu trang(
Theo kế hoạch, từ năm 2012 đến tháng 3-2015, Dự án phát triển ngành lâm nghiệp WB3 tỉnh Thanh Hóa triển khai trồng 6.000 ha rừng sản xuất.
Mục tiêu Dự án trồng rừng sản xuất WB3 tại Thanh Hóa chủ yếu là rừng nguyên liệu công nghiệp đạt năng suất cao trên diện tích đất lâm nghiệp có điều kiện lập địa thích hợp, gần thị trường tiêu thụ nguyên liệu, gần đường giao thông nhằm tăng khả năng sản xuất gỗ bền vững; xây dựng cơ chế hấp dẫn để các gia đình nghèo tham gia trồng rừng qua đó tạo nguồn thu nhập và việc làm bền vững...
Tham gia dự án có 3.219 hộ trên địa bàn 189 thôn của 35 xã thuộc 6 huyện: Thạch Thành, Hà Trung, Ngọc Lặc, Như Thanh, Triệu Sơn, Tĩnh Gia. Từ đầu năm 2012, Ban quản lý phát triển ngành lâm nghiệp WB3 cấp tỉnh và các huyện đã tập trung chỉ đạo thiết kế kỹ thuật các công trình lâm sinh; chuẩn bị tốt hiện trường trồng rừng; tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng,v.v... tạo điều kiện cho các hộ triển khai trồng mới rừng trong vụ xuân và vụ thu. Đến ngày 22-10-2012, các hộ tham gia dự án thuộc 6 huyện nêu trên đã trồng được 761,5 ha rừng sản xuất. (Báo Thanh Hoá 31/10)đầu trang(
Năm 2012, huyện Ngân Sơn được giao trồng mới 1.400 ha rừng theo Quyết định 147/2007/QĐ-TTg ngày 10/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007 - 1015, kết quả đã thực hiện được 1.086 ha, trong đó diện tích trồng mỡ là hơn 450 ha, diện tích trồng thông là hơn 630 ha.
Đến nay, toàn bộ diện tích rừng trồng mới tại các xã, thị trấn đã được nghiệm thu xong đợt 1, tỷ lệ cây sống đạt trên 90%, đây là cơ sở để thực hiện việc hỗ trợ cho người trồng rừng và triển khai kế hoạch trồng rừng năm 2013.
Ông Nguyễn Xuân Hải - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện cho biết: Tính đến cuối tháng 10 huyện đã nghiệm thu xong diện tích rừng trồng theo Quyết định 147/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tỷ lệ cây con sống đạt trên 90%. Để đạt được kết quả đó, ngay từ khi bắt đầu triển khai công tác trồng rừng của năm 2012, người dân đã có sự chủ động trong việc đăng ký diện tích trồng rừng, huyện đã chủ động được về cây giống.
Tuy nhiên, công tác trồng rừng năm 2012 cũng gặp nhiều khó khăn do địa bàn rộng, diện tích rừng trồng mới nằm ở các thôn bản vùng cao, vùng sâu, vùng xa; một số diện tích thiết kế trùng với các dự án trồng cây nguyên liệu trước đây của Công ty Lâm nghiệp chưa có kế hoạch khai thác, nhưng trên thực tế diện tích này đã không còn rừng dẫn tới tiến độ trồng và diện tích thực hiện còn thấp so với kế hoạch.
Ngay khi bắt đầu vụ trồng rừng 2012, Ban Quản lý trồng rừng theo Quyết định 147 của huyện đã có công văn chỉ đạo các xã, thị trấn, Ban phát triển rừng các xã tuyên truyền, vận động người dân tích cực tham gia trồng rừng, cán bộ kiểm lâm địa bàn bám sát cơ sở trực tiếp hướng dẫn bà con về kỹ thuật. Một số xã như Thượng Quan, Hương Nê, Thuần Mang... người dân đã chủ động về thời gian tiến hành trồng rừng theo từng thôn nên việc trồng rừng được tiến hành đúng thời gian, cơ bản đạt diện tích thiết kế. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số hộ chưa thực hiện đủ diện tích theo đăng ký gây ảnh hưởng chung đến kế hoạch trồng rừng.
Hạt Kiểm lâm huyện đã tăng cường cán bộ kỹ thuật xuống cơ sở phối hợp cùng kiểm lâm địa bàn, cán bộ nông, lâm các xã, thị trấn để hướng dẫn kỹ thuật, theo dõi tiến độ trồng rừng của người dân, có những chỉ đạo kịp thời từ khâu thiết kế, kỹ thuật đến tiến độ trồng. Vụ trồng rừng vừa qua, huyện Ngân Sơn đã thành lập được 5 vườn ươm cây giống tại thị trấn Nà Phặc và các xã: Đức Vân, Vân Tùng, Lãng Ngâm, Thượng Quan. Các vườn ươm này đã cung cấp hơn 2 vạn cây giống cho các hộ tham gia trồng rừng, góp phần bảo đảm việc chủ động được về cây giống cho vụ trồng rừng.
Tại thời điểm này, huyện Ngân Sơn đã thực hiện xong công tác nghiệm thu đợt 1, đây là cơ sở để thống kê toàn bộ diện tích nhằm hỗ trợ kinh phí cho các hộ tham gia trồng rừng, đồng thời đánh giá, rút kinh nghiệm vụ trồng rừng vừa qua, tìm những nguyên nhân gây ảnh hưởng đến kế hoạch, tiến độ nhằm chuẩn bị tốt mọi điều kiện cho vụ trồng rừng 2013 đạt kết quả cao.
Với tiềm năng, thế mạnh sẵn có và hiệu quả kinh tế từ việc trồng rừng mang lại cho người dân đã được chứng minh trong thực tế cộng với sự hỗ trợ, vào cuộc của các cấp, ngành chức năng sẽ là những thuận lợi cơ bản để Ngân Sơn thực hiện thắng lợi kế hoạch của vụ trồng rừng trong năm 2013. Ngân Sơn có diện tích rừng thông chiếm tỷ lệ lớn trong tổng diện tích rừng của huyện, trong đó một số đã đến thời kỳ khai thác nên rất cần trồng bổ sung, vì vậy huyện đang đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tiếp tục tham gia công tác trồng rừng theo Quyết định 147 và các chương trình, dự án trồng rừng khác trên địa bàn huyện. Phấn đấu tới năm 2015 toàn huyện sẽ trồng mới được 9.000 ha rừng theo kế hoạch của tỉnh giao. (Báo Bắc Kạn 1/11)đầu trang(
Thực hiện Quyết định số 482/QĐ-UBND của UBND tỉnh Nghệ An, năm 2008, huyện Quỳ Châu tổ chức bàn giao 6 tiểu khu với 16.398ha rừng phòng hộ sang rừng sản xuất cho 10 xã quản lý. Năm 2012, UBND tỉnh quyết định thu hồi bổ sung 500ha tại các xã Diên Lãm, Châu Bình và Châu Phong từ Ban quản lý rừng phòng hộ, chuyển cho UBND huyện Quỳ Châu. Tuy nhiên, đến nay huyện vẫn chưa giao rừng cho các hộ dân quản lý, dẫn đến nhiều bất cập trong công tác bảo vệ rừng.
Xã Châu Bình có tổng diện tích tự nhiên 13.000ha, 2.458 hộ (9.760 khẩu), tỷ lệ hộ nghèo khá cao, chiếm trên 62%. Nguyên nhân chủ yếu là do người dân thiếu đất sản xuất. Trước thực tế đó, năm 2008, Quỳ Châu đã thu hồi hơn 990ha rừng phòng hộ tại Châu Bình chia cho các hộ chưa có đất sản xuất. Sau 4 năm thu hồi, huyện vẫn chưa giao đất cho người dân trong xã.
Bản Độ 3 có 50ha rừng phòng hộ, nay được giao về cho xã quản lý. Do chưa có kinh phí đo đạc và rà soát nên người dân vẫn chưa được huyện bàn giao sử dụng diện tích đất rừng này. Ông Cầm Bá Vĩnh ở bản Độ 3 cho biết, mặc dù sống gần rừng nhưng gia đình ông và một số hộ không có đất sản xuất. Cuộc sống của gia đình chỉ phụ thuộc vào diện tích ruộng ven khe suối nên thiếu đói quanh năm.
Theo thống kê, Quỳ Châu đã chuyển giao 16.943,81ha rừng phòng hộ sang rừng sản xuất cho các xã. Trong đó, Châu Bình 1.103ha, Châu Hạnh 4.938ha, Châu Thuận 2.436ha, Châu Phong 2.497ha.... Tuy nhiên, đến thời điểm này, số diện tích trên vẫn do các địa phương quản lý, lực lượng kiểm lâm mỏng nên việc quản lý và bảo vệ rừng không hiệu quả.
Lý giải về vấn đề này, ông Trần Bảo Linh, Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Quỳ Châu cho biết: Để từng bước bảo đảm sự ổn định trong quản lý nhà nước về đất đai, thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh, huyện đã tiến hành kiểm tra, rà soát một số diện tích đất rừng phòng hộ giao cho các địa phương quản lý, sử dụng, đến nay công việc đã hoàn tất.
Tuy nhiên, do nguồn kinh phí tư vấn, đo đạc hạn chế nên rất khó khăn trong việc giao đất rừng đến từng hộ dân. Theo ước tính, để đo đạc, tư vấn và làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cần khoảng 17 tỷ đồng. Với điều kiện kinh tế còn nghèo như Quỳ Châu, chưa kể diện tích rừng quá lớn, việc giao đất rừng sản xuất cho người dân không thể thực hiện trong một sớm, một chiều.
Quỳ Châu hiện có 8.382 hộ đang cần được giao đất rừng để sản xuất. Việc chuyển giao một phần rừng phòng hộ sang rừng sản xuất giao cho dân quản lý, sử dụng sẽ góp phần tích cực giúp huyện từng bước hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, nhất là chỉ tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo. Đây là điều kiện để phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai, tài nguyên, nhân lực ở địa phương. Do đó, Quỳ Châu rất cần cơ chế tạo nguồn kinh phí đo đạc, tư vấn và rà soát đất đai giao về cho địa phương, tiến hành quy hoạch đất rừng và giao cho từng hộ dân. (Kinh Tế Nông Thôn 1/11)đầu trang(
Rừng phi lao hàng chục năm tuổi giờ đây chỉ còn lại những gốc cây đen trũi, những mảng rừng xanh đan xen với những công trình bê tông dang dở.
Vẫn biết, rừng phi lao đóng vai trò quan trọng trong việc chắn gió, chống “sa mạc hóa” của cát biển. Đâu đó người ta vẫn có những dự án trồng rừng chắn cát bảo vệ môi trường. Thế mà ở Quảng Bình, rừng mẹ Nghèng hàng chục năm tuổi đang bị “bức tư” vì… đô thị hóa.
Năm 1958, Lâm trường nam Quảng Bình ra đời với nhiệm vụ chính là trồng rừng phủ xanh đồi cát trắng. Những đồi cát trắng xóa một màu chạy dọc theo bờ biển, hàng năm lại lấn thêm vào đất liền hàng chục mét. Mẹ Nghèng khi ấy chỉ là o Nghèng mới gần 30 tuổi, được bầu làm đội trưởng trồng cây của HTX, có nhiệm vụ phối hợp với Lâm trường để trồng cây trên những đồi cát đó.
“Chang chang cồn cát, nắng trưa Quảng Bình”, câu ca xưa đã nói đến cái gay gắt của nắng trên đồi cát khi nhắc đến xứ Quảng. Trồng cây sống trên những đồi cát trắng, khô cằn quả thực là một điều rất khó. Những ngày đầu mới nhận cây giống từ lâm trường về, đội của mẹ Nghèng cứ trồng được vài ngày là chết do nắng nóng, gió lay bật gốc. Mẹ cùng hàng chục người phụ nữ ngày ngày rong ruổi trên đồi cát, cứ cây nào chết lại trồng cây khác, rồi thay phiên nhau gánh nước lên tưới để cây sinh sôi, nảy mầm cho Quảng Bình ngày càng xanh hơn.
Cứ như vậy, “điệp khúc cây này chết đi trồng cây khác”, trời không phụ công người. Một cây sống, hai cây sống rồi cả một rừng cây phi lao xanh ngát đã phủ kín, che khuất màu trắng lóa mắt của những đồi cát biển.
Rồi chiến tranh, rừng phi lao của mẹ trồng mười năm trước bây giờ như những cánh tay lực lưỡng che chở cho dân làng, trở thành nơi ẩn náu của bộ đội ta. Và trong những năm tháng ấy, Quảng Bình trở thành “chảo lửa” ở miền Trung nhưng mẹ Nghèng cùng những người phụ nữ xứ Quảng vẫn bám trụ trên những quả đồi cát trùng điệp để trồng, chăm sóc rừng phi lao xanh mướt. Họ đào hầm ngay trên những quả đồi trắng xóa ấy, khi máy bay địch bắn phá thì họ xuống hầm tránh bom đạn, rồi lại chạy lên tiếp tục phủ kín đồi cát khi máy bay đã đi qua.
Qua thời gian dài, đội trồng cây của mẹ đã trồng được hơn 200 ha rừng chắn cát, chạy dài trên diện tích hơn 3km đường bờ biển. Từ đó đến nay đã hơn 50 năm, rừng phi lao xanh ngát ấy vẫn vươn mình che chắn cho những ngôi làng ven biển qua những cơn giông bão, đã làm giảm đi không ít diện tích xâm lấn của cát biển. Vào ngày 24-6-1999, mẹ Nghèng nhận được thư và quà chúc mừng của Chủ tịch nước Trần Đức Lương khen ngợi vì đã có thành tích trong công tác trồng cây gây rừng, bảo vệ môi trường. Mẹ cũng đã nhận được nhiều giấy khen, giấy chứng nhận, huy chương “Vì sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng” của Đảng và Nhà nước trao tặng. Năm 2002, mẹ Nghèng trút hơi thở cuối cùng, để lại cho đời một nguồn tài nguyên quý giá mà không phải ai cũng hiểu hết giá trị của nó. Cảm tạ công ơn đó của mẹ, người ta đã đặt tên cho rừng chắn cát kia là “Rừng mẹ Nghèng” – đúng theo cái tên của người đã có công phủ kín những quả đồi trắng.
Vậy mà, bây giơ, vì “đô thị hóa”, 200 ha rừng phi lao chắn cát do mẹ trồng đang mất dần để mở rộng TP, xây dựng nhà hàng, khách sạn. Liệu rằng, điều này có đáng quan ngại, đáng lo lắng cho sự xâm lấn của cát biển, lo lắng khi mùa mưa bão hàng năm vùi dập miền Trung?. Rừng bị tàn phá như vậy thì môi trường sống có được đảm bảo khi mà trên cả thế giới vẫn đang lo ngại về tình trạng biến đổi khí hậu?
Bây giờ, rừng mẹ Nghèng từ đoạn giáp ranh với phường Hải Thành (vùng biển Nhật Lệ) đến giáp xã Nhân Trạch, với chiều dài hơn 3km, chỉ còn một dải hẹp ven bờ biển (nằm ở phía đông đường du lịch Đồng Hới - Nhân Trạch) là được giữ lại nguyên sơ như hồi mẹ còn sống. Còn rừng phía Tây đường du lịch gần như đã được cắt cho xây dựng đô thị. Những vùng được san bằng trên nền đất rừng được quy hoạch, cắm mốc để xây dựng, mở rộng TP Đồng Hới.
Rừng phi lao hàng chục năm tuổi giờ đây chỉ còn lại những gốc cây đen trũi, những mảng rừng xanh đan xen với những công trình bê tông dang dở. Được biết, đến thời điểm hiện tại có khoảng 20 dự án được quy hoạch xây dựng trên diện tích rừng mẹ Nghèng. Trong đó, khu tái định cư cho dự án sân bay Đồng Hới gồm 100 hộ dân và nhiều khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng mọc dần lên từ năm 2003 đến nay đã thành một khu phố sầm uất. Toàn bộ diện tích rừng mẹ Nghèng, nay chỉ còn khoảng 118ha. Liệu cách quy hoạch và cải tổ ở tỉnh Quảng Bình như thế đã hợp lý chưa? (Pháp Luật&Xã Hội 31/10)đầu trang(
Cty cao su Quảng Nam phá hàng trăm héc ta rừng kiểu “tiền trảm hậu tấu”. Chủ trương đã ra, cứ thế mà “trảm” rừng! Hơn 630 ha rừng kéo dài từ thôn Tứ Dũ đến Cấm La (Quế Lâm), nhiều chỗ cây cao su đã mọc quá đầu người thay cho những héc ta rừng sản xuất, rừng đặc dụng trước kia.
Theo tìm hiểu, được biết tháng 8-2009, UBND tỉnh Quảng Nam có chủ trương để Cty cao su Quảng Nam trồng cao su tại huyện Nông Sơn. Công văn số 2731 của UBND tỉnh đồng ý về mặt chủ trương cho Cty Cao su thuê hơn 1.300 ha rừng sản xuất tại 2 xã Phước Ninh và Quế Lâm.
Thời hạn cho thuê đất là 50 năm. Theo đó, Cty Cao su phải có trách nhiệm ký hợp đồng thuê đất với Sở TN-MT tỉnh, lập báo cáo đánh giá tác động môi trường trình cơ quan chức năng phê duyệt theo quy định.
Tuy nhiên, đến thời điểm này, Cty cao su chỉ mới hoàn tất thủ tục đề nghị và được tỉnh giao 152 ha đất để thực hiện các khu vườn ươm cây giống. Thực tế, vườn ươm giống chỉ chiếm 3,48ha nhưng Cty Cao su đã chặt phá tới 630 ha rừng, giải phóng mặt bằng để trồng cao su, xây nhà cửa, làm đường.
Như vậy, ngoài 152ha được giao đất đúng quy định, Cty san ủi trái phép thêm gần 500ha rừng mặc dù trong tay chỉ mới có văn bản chủ trương. Trong khi theo anh Phạm Sinh (thôn Tứ Dũ): Người của Cty cao su về họp dân, nói rằng họ đã có sổ đỏ của rừng, buộc dân phải nhường đất!
Thông tin từ đoàn giám sát của HĐND huyện Nông Sơn, tại thời điểm này, với tổng diện tích 630ha rừng bị tàn phá, Cty cao su Quảng Nam vẫn chưa có kết quả thẩm định phê duyệt đánh giá tác động môi trường của cơ quan chuyên môn và thủ tục đề nghị cấp có thẩm quyền thu hồi đất, cho thuê đất để thực hiện dự án…
Thông báo số 13/TB-ĐGS của HĐND huyện Nông Sơn kết luận đây là việc làm trái quy định. Chưa hết, ngay trong diện tích 152ha đã có quyết định cho thuê đất để trồng cao su, người dân 3 thôn Cấm La, Tứ Dũ và Phước Hội không đồng tình vì 54ha của dân là vùng rừng nguyên sinh trồng cây dầu rái đã hàng trăm năm nay.
Theo đánh giá của các chuyên gia nông nghiệp, ở miền Tây Quảng Nam, cây dầu rái mới chính là cây thoát nghèo của bà con miền núi.
Quá trình tranh chấp, người dân thua cuộc nên đã chán nản lên khu vực rừng nguyên sinh dầu rái còn lại đốn hạ. Lý lẽ của dân là: trước sau gì Cty cao su cũng chặt phá. Ngoài ra, quá trình san ủi mặt bằng triển khai dự án trồng cao su cũng gây ra tình trạng bồi lấp kênh mương, ruộng đất sản xuất của nhân dân, một số công trình hồ đập trên địa bàn hư hỏng.
Phóng viên nhiều lần liên hệ với Hạt kiểm lâm huyện Nông Sơn nhưng lãnh đạo Hạt luôn cáo bận. Cuối cùng kiểm lâm viên Nguyễn Dũng, người đo đạc hiện trạng rừng, ra tiếp.
Ông Dũng khẳng định làm hết chức trách, không phát hiện điều gì khuất tất, và “toàn bộ đều là rừng sản xuất”.
Tuy nhiên, khi chúng tôi đặt câu hỏi: Nếu là rừng sản xuất, vậy tại sao bản án của toà huyện Nông Sơn phạt anh Mai Ty Phô (Phước Hội) lại ghi là “chặt phá là rừng đặc dụng” nằm ngay trong lòng diện tích 630ha rừng bị Cty cao su phá? Lẽ nào chỉ có 0,6ha rừng “đặc dụng” bị lẫn trong “rừng sản xuất”? Ông Dũng nói việc đó không rõ lắm, chỉ có cấp cao hơn mới trả lời được.
Còn Chủ tịch UBND xã Quế Lâm Lê Đức Thịnh cho biết không nắm rõ về thủ tục, chỉ biết huyện, tỉnh có chủ trương thì phải chấp hành. Ông Mai Văn Tám - Phó Chủ tịch huyện Nông Sơn (phụ trách vấn đề đất rừng) thừa nhận đây chính là vấn đề làm đau đầu lãnh đạo huyện thời gian vừa qua.
“Về mặt chính quyền, chúng tôi đã làm hết sức. Riêng tôi có không dưới 10 cuộc họp với Cty Cao su, yêu cầu họ khẩn trương hoàn thiện thủ tục theo đúng quy định, không hiểu vì lý do gì mà 3 năm qua vẫn chưa được”.
Việc “tiền trảm hậu tấu” của Cty cao su bắt đầu từ năm 2009, từ khi có chủ trương cho thuê 1.310ha rừng, trồng được 630ha thì bị HĐND huyện đề nghị phải dừng hẳn.
Mặc dù vậy, đến ngày 17-12-2010, UBND tỉnh Quảng Nam tiếp tục thống nhất chủ trương cho Cty cao su tiếp tục mở rộng thêm 3.000ha (ngoài diện tích 1.310ha) đi qua thôn Nà Lau.
Đây là toàn bộ khu vực rừng nguyên sinh, nằm trong diện tích từng được cơ quan chuyên môn đề nghị đưa vào khu bảo tồn voi.
Tuy nhiên, ông Tám vẫn khẳng định: “Toàn bộ đều là rừng sản xuất”. Khi PV cho biết đã đi thực tế ở Nà Lau và soi kỹ tiểu khu trên bản đồ, ông Tám lúng túng: để xem lại, đôi khi cũng dính rừng đặc dụng, phòng hộ. Người dân đi rừng ở Nà Lau cho hay, quanh khu vực này, hiện còn khoảng 7 con voi cái, thỉnh thoảng họ vẫn gặp.
Ông Mai Văn Tám cho biết huyện không biết cách xử lý như thế nào, đành phải chuyển hồ sơ lên tỉnh, chờ chỉ đạo. Vậy là quả bóng trách nhiệm đã được đá từ huyện lên tỉnh - nơi ra nhiều văn bản, chủ trương cho thuê đất, chuyển đổi rừng trái khoáy. (Tiền Phong 31/10)đầu trang(
Ngày 31-10, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa cho biết: vừa ra quyết định khởi tố vụ án, bắt tạm giam Nguyễn Duy Phương, SN 1950, trú tại tổ 4, phường Nghĩa Tân, thị xã Gia Nghĩa, nguyên Giám đốc Công ty TNHH Phương Lâm, xã Trường Xuân, huyện Ðác Song để điều tra làm rõ về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Theo điều tra ban đầu, mặc dù đất tại các Tiểu khu 1689, 1707, xã Trường Xuân, huyện Đác Song thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Trường Xuân quản lý, nhưng thời gian qua Phương đã tìm gặp một số người dân trong và ngoài tỉnh tung tin rằng mình có đất tại các tiểu khu trên, muốn bán, sang nhượng lại để làm việc khác.
Tin lời Phương, bà Nguyễn Thị Nhị, SN 1953, trú tại xã Mỹ Hưng A, huyện Lấp Vò, tỉnh Ðồng Tháp đang có nhu cầu mua đất trồng rừng và cây công nghiệp nên đã ký hợp đồng mua 150 ha đất rừng của Phương với giá 18 triệu đồng/ha, trong đó bà Nhị đặt cọc trước với số tiền 10 triệu đồng, sau khi hoàn thành thủ tục chuyển nhượng sẽ giao hết số tiền còn lại. Tuy nhiên, trong qúa trình liên hệ với các ngành chức năng để làm thủ tục, bà Nhị đã phát hiện thực tế toàn bộ diện tích đất trên không phải là của Phương mà là của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Trường Xuân nên đã làm đơn tố cáo gửi đến cơ quan chức năng.
Ngay sau khi nhận được đơn tố cáo của bà Nhị, Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thị xã Gia Nghĩa đã khởi tố vụ án, bắt tạm giam Nguyễn Duy Phương.
Vụ việc đang được Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thị xã Gia Nghĩa tiếp tục điều tra làm rõ. (Nhân Dân 31/10)đầu trang(
Xung đột người - voi đã kéo dài hàng chục năm nay, nhưng nay, sự xung đột đã lên đến đỉnh điểm khi đàn voi rừng nổi giận liên tục phá hoại mùa màng; đã có những người dân vô tội phải bỏ mạng oan uổng. Điển hình là vụ voi quật chết người ngày 27/10 vừa qua.
Đã 4 ngày trôi qua nhưng các anh Cao Xuân Chiên, Cao Xuân Đồng ở xã Ea Lê, huyện Ea Súp (Đắc Lắc) – những người may mắn chạy thoát thân vẫn chưa hoàn hồn khi kể lại sự việc đụng độ với đàn voi rừng vào đêm 27/10.
Hai anh may mắn tránh được những cú quật của voi nhưng anh Cao Quang Cảnh (SN 1970, công an viên xã Ea Lê) thì đã vĩnh viễn ra đi, để lại người vợ và 2 đứa con thơ.
Anh Cao Xuân Chiên - người trong nhóm đi đào mai và cũng là em ruột anh Cảnh ngồi trước di ảnh của anh trai, thất thần kể về buổi tối kinh hoàng hôm đó.
Đó là vào chiều thứ 7, tranh thủ ngày nghỉ cuối tuần 3 anh Cảnh, Chiên và Đồng đèo nhau trên 2 xe máy chạy vào khu rừng thuộc xã Ya T’mốt đào gốc mai rừng về làm cảnh chuẩn bị tết.
Do lần đầu đi đào mai, lại không thông thạo đường nên các anh bị lạc trong rừng, phải đến 20 giờ mới tìm ra được đường chính.
Lúc này trời đã tối không còn thấy mặt người. Anh Cảnh một mình một xe chạy trước, 2 anh Chiên, Đồng đèo nhau trên một xe máy chạy theo sau. Đi được một đoạn thì bất ngờ nghe tiếng voi rống, 3 anh nổi da gà, tóc tai dựng ngược.
Anh Cảnh chạy trước, do đêm tối nên khi phát hiện ra đàn voi rừng thì chúng đã ở ngay trước mặt.
Anh Cảnh vứt xe máy bỏ chạy, nhưng gặp trời tối, cây rừng rậm rạp, không thể chạy nhanh, nên chẳng mấy chốc đàn voi bắt kịp, lao vào tấn công.
Phát hiện thấy anh Cảnh bị đàn voi cả chục con rượt đuổi, 2 anh Chiên, Đồng chỉ biết vứt xe máy bỏ chạy thục mạng mà không dám ngoái đầu lại. Đàn voi chỉ tập trung tấn công anh Cảnh nhờ vậy mà các anh chạy thoát.
Tuy nhiên, 2 anh đã bị lạc đường, mãi đến gần mờ sáng ngày hôm sau (28/10) mới tìm được về đến nhà và báo hung tin cho gia đình cùng chính quyền địa phương, sau đó dẫn người trở lại tìm xác anh Cảnh.
Đến nơi, mọi người chứng kiến một cảnh tượng đau lòng, anh Cảnh đã bị đàn voi rừng quật chết, khắp cơ thể đầy những vết thâm tím, xương cốt gãy vụn, cơ thể mềm như cọng bún.
Đàn voi chỉ tập trung quật chết anh Cảnh, sau đó bỏ đi mà không hề phá hoại hay dẫm nát chiếc xe máy vứt lăn lóc cạnh đó! Sau khi sự việc xảy ra, gia đình, chính quyền địa phương đã lo mai táng và động viên gia đình vượt qua nỗi đau.
Ông Đặng Phú Bình – Bí thư Đảng ủy, kiêm Chủ tịch xã cho biết: Gia đình nạn nhân khá khó khăn. Anh Cảnh có vợ và hai người con, trong đó có một cháu mới 12 tuổi. Đứa con lớn đã 19 tuổi, do kinh tế khó khăn nên phải xuống Sài Gòn làm thêm, hôm nghe hung tin cháu vội vàng bắt xe đò trở về trong đêm đưa tang cha.
Như vậy, vụ voi rừng quật chết người tại xã Ea Lê tối 27/10, là vụ thứ hai trong năm nay tại Đắk Lắk xảy ra tình trạng voi rừng nổi giận quật chết người.
Trước đó, vào ngày 13/3, tại xã Ea H’leo (huyện Ea H’leo, Đắk Lắk), anh Trần Văn Tư (SN 1975, trú thôn 2A, xã Ea H’leo) trên đường đi làm rẫy về đã bị một con voi rừng lao vào quật chết tại chỗ.
Trước nguy cơ tuyệt cũng của đàn voi, vào năm 2005, tỉnh Đắk Lắk đã phê duyệt Dự án bảo tồn đàn voi hoang dã Đắk Lắk với mức độ bảo tồn là “khẩn trương”, vậy nhưng đã qua nửa chặng đường, dự án này vẫn chỉ là những con số trên giấy tờ.
Mới đây, Thủ tướng đã phải chỉ đạo tỉnh này khẩn trương bổ sung dự án, nâng tầm bảo tồn lên cấp quốc gia với mức “khẩn cấp”!
Theo thống kê của Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk, tại tỉnh này hiện có khoảng 10 đàn voi rừng với trên 100 cá thể đang sống dọc theo các khu rừng thuộc Vườn Quốc gia Yok Đôn, các huyện Buôn Đôn, Ea Súp, Ea H’leo và vùng rừng giáp ranh với Campuchia.
Hiện nay, rừng ở tỉnh này đang ở mức báo động do tình trạng khai thác rừng trái phép và nhiều diện tích rừng tự nhiên được tỉnh này thu hồi rồi giao cho các dự án trồng rừng, trồng cao su khiến cho môi trường sống của đàn voi rừng ngày càng bị thu hẹp, thức ăn ngày một khan hiếm.
Để có môi trường sống, có thức ăn, đàn voi rừng đã thường xuyên về các khu vực dân cư sinh sống tìm thức ăn, phá hoại mùa màng.
Ông Huỳnh Trung Luân – Giám đốc Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk cho biết: mỗi năm, người dân sống dọc các vùng rừng có voi sinh sống phải chịu thiệt hại khoảng 40-50 ha hoa màu các loại do voi về phá. Tuy nhiên, đó vẫn chưa phải là những con số thống kê chính xác.
Cũng theo ông Luân, trong vụ việc đàn voi rừng quật chết người dân ở xã Ea Lê, huyện Ea Súp tối 27/10, đây là đàn voi có 2 con voi trưởng thành bị thợ săn sát hại vào hồi tháng 8/2012 vừa qua và 1 con voi đực trưởng thành (cũng thuộc đàn này) bị giết vào tháng 3/2012, vì thế mà đàn voi trở nên hoảng loạn và rất hung dữ.
Thực trạng đàn voi là vậy, nhưng chính quyền địa phương nơi đây vẫn chưa có một phương án nào hiệu quả để bảo vệ đàn voi cũng như bảo vệ người dân; cơ quan có trách nhiệm chỉ biết khuyến cáo người dân nên tránh đi vào rừng ban đêm, nếu voi có về phá hoại mùa màng thì tuyệt đối không được làm tổn hại đến đàn voi, chỉ nên áp dụng các biện pháp xua đuổi truyền thống như pha đèn, đốt lửa hay gây tiếng ồn để xua đuổi…
“Hiện nay đàn voi rừng Đắk Lắk đã quá dạn con người. Nếu có xua đuổi, chúng cũng chỉ bỏ đi rồi sau đó lập tức quay trở lại, đó là vì chúng quá thiếu thốn thức ăn, bức bách về môi trường sống” – ông Luân nhận định.
Tính mạng người dân là quan trọng, bảo vệ đàn voi rừng Đắk Lắk khỏi nguy cơ tuyệt chủng cũng là việc làm cấp thiết.
Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo, yêu cầu tỉnh Đắk Lắk tiếp tục bổ sung Dự án để trình Thủ tướng phê duyệt; tín hiệu là khả quan nhưng chờ đến khi Dự án đi vào hoạt động trơn tru, liệu rồi không biết có thêm người dân vô tội nào bị mất mạng oan nữa hay không!? (Vietnamnet 1/11)đầu trang(
Theo Thông tư số 47 của Bộ NN-PTNT từ ngày 9-11-2012, cho phép khai thác 160 loài thú rừng để phục vụ thương mại. Lý do để ban hành thông tư này là nhằm thiết lập quy định pháp lý để đưa việc khai thác từ tự nhiên vào khuôn khổ, đồng thời lấp khoảng trống chế tài xử lý các vi phạm đang diễn ra. Tuy nhiên, nhiều nhà động vật học cho rằng, thông tư có thể sẽ gây ra nhiều hệ lụy và gây khó khăn trong việc bảo vệ động vật hoang dã.
Thực tế hiện nay, dù Thông tư 47 chưa có hiệu lực, nhưng việc săn bắt, tận diệt thú rừng đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Bên cạnh việc chứng tỏ đẳng cấp của các đại gia lắm tiền nhiều của, những đồn thổi về tác dụng bồi bổ, chữa bệnh thần kỳ đã dẫn đến tình trạng nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm (trong đó có cả những loài trong sách đỏ) đang bị tận diệt để làm đồ trang trí, ngâm rượu, nấu cao hoặc đưa lên bàn tiệc.
Ở nhiều tỉnh miền Trung, trước đây loài voọc ít ai để ý, gần đây người ta đồn rằng voọc là thuốc quý để chữa bệnh và nếu ăn sống một vài bộ phận thì càng bổ hơn, vì vậy người ta đã đổ xô đi bẫy voọc. Có người, mỗi ngày đặt đến 300 – 500 bẫy. Có đàn voọc hàng chục con đều bị dính bẫy. Cùng với voọc, loài gấu cũng bị săn lùng ráo riết để lấy tay, lấy mật và hậu quả là hiện nay gấu hoang dã không còn bao nhiêu.
Đối với loài voi, năm 2006, Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch “Hành động khẩn trương để bảo tồn đàn voi ở Việt Nam” cho ba tỉnh: Nghệ An, Đồng Nai, Đắk Lắk. Không biết kế hoạch được thực hiện khẩn trương như thế nào, nhưng đến nay số lượng voi ở các tỉnh này giảm đáng kể. Đắk Lắk, năm 1980 đàn voi nhà có 502 con, đến năm 2007 còn 64 con và tháng 9-2012 còn 51 con. Còn voi rừng ước tính có 10 đàn, khoảng 110 con, chỉ trong 3 năm đã phát hiện có 14 con bị giết hại.
Điển hình cho sự tận diệt thú rừng phải kể đến khu vực vườn quốc gia Yok Đôn, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk. Ở đây các loài động vật hoang dã ngày đêm bị xẻ thịt. Nhiều loài, nhất là động vật quý hiếm, đang có nguy cơ tuyệt chủng do bị săn bắt vô tội vạ để làm đồ trang trí, trang sức, các món nhậu.
Trong lúc chưa được phép khai thác, nhưng các loài động vật hoang dã đang bị tận diệt và nhiều loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Nếu Thông tư 47 của Bộ NN-PTNT về việc cho phép khai thác 160 loài thú rừng để phục vụ thương mại có hiệu lực mà không có biện pháp quản lý chặt chẽ thì tương lai không xa, rừng Việt Nam sẽ không còn các loài thú thông thường, đừng nói chi các loài quý hiếm có trong sách đỏ. (Sài Gòn Giải Phóng 1/11)đầu trang(
Gần đây, các cơ quan chức năng liên tục phát hiện các vụ vận chuyển xác cọp. Trước đó đã liên tục xảy ra các vụ sát hại voi. Mới hồi đầu tháng 10, một con bò tót tại Vườn quốc gia Cát Tiên bị giết xẻ thịt. Đó đều là những động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao. Hồi tháng 9, tại xã Ea Lâm, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên, một cá sấu xiêm được coi là con cuối cùng ở nước ta đã chết do bị bẫy bằng dây thép siết vào cổ.
Trên thế giới hiện chỉ còn khoảng 100 con cá sấu xiêm, đây là loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Năm ngoái, tại Vườn quốc gia Cát Tiên, con tê giác một sừng tại Việt Nam cũng đã bị giết. Cách nay vài tháng, con voọc chà vá chân xám (thuộc nhóm 1B là động vật rừng quý hiếm) đang mang thai cũng bị hành hạ dã man trước khi bị giết hại.
Không thể để những loài động vật quý hiếm cứ dần dần chết dưới tay những kẻ săn trộm. Động vật quý hiếm là nguồn tài sản thiên nhiên vô giá, cần phải bảo vệ nghiêm ngặt để có thể duy trì, thoát khỏi hiểm họa bị tuyệt chủng. Hiện nay ở nước ta và một số nước trong khu vực đang có một xu hướng tiêu dùng rất đáng lên án: tìm mua những động vật quý hiếm để chế biến thành những món ăn, bài thuốc, được đồn đại rất công hiệu nên nhiều người sẵn sàng mua giá đắt. Thế nên nhiều động vật quý hiếm bị đưa vào tầm ngắm. Vì đồng tiền, những tay săn trộm táng tận lương tâm đã bất chấp pháp luật, ráo riết săn lùng và sát hại động vật quý hiếm.
Đã có rất nhiều đối tượng giết hại, mua bán và vận chuyển trái phép động vật quý hiếm bị bắt và phạt tù. Thế nhưng vẫn chưa đủ tác dụng răn đe. Do vậy, cần xử phạt nghiêm đối với kẻ săn trộm cũng như người tiêu thụ động vật quý hiếm, đồng thời các lực lượng chức năng cần phải thường xuyên tuần tra ngăn chặn đối với hành vi săn trộm trong khu bảo tồn, vườn quốc gia. Cũng cần quan tâm tuyên truyền trong cộng đồng, nâng cao ý thức bảo vệ động vật quý hiếm. (Sài Gòn Giải Phóng 1/11)đầu trang(
31-10, ông Lê Văn Hải, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Cà Mau cho biết: Theo số liệu cung cấp của Công ty Quốc Việt và qua việc xác minh tin báo của nhân dân, đến nay số cá sấu sổng chuồng đã được thu hồi, không còn đe dọa dân cư.
Chiều cùng ngày, ông Ngô Văn Nga, Tổng giám đốc Công ty Quốc Việt, cho biết: Công ty vừa xây dựng xong đoạn tường rào mới rất kiên cố, dài hơn 35m, thay thế cho đoạn tường đã sập, đảm bảo việc nuôi nhốt cá sấu.
Công ty cũng chi 10 triệu đồng bồi thường cho ông Nguyễn Văn Trạng bị thiệt hại cá nuôi khi truy bắt cá sấu sổng chuồng và vừa cử người gặp gỡ Ban Giám hiệu Trường Tiểu học Kim Đồng để thống nhất hướng bồi thường cá nuôi, đảm bảo tập thể giáo viên trường này không thiệt thòi. (Sài Gòn Giải Phóng 1/11)đầu trang(
Chiều 31-10, ông Nguyễn Minh Trí, Chủ tịch UBND xã Tam Giang, huyện Năm Căn (Cà Mau), cho biết:
Công an xã này đã trực tiếp nhìn thấy một con cá sấu nổi đầu trên kênh Chủ Điềm (xã Tam Giang), cách nơi cá sấu của trang trại Quốc Việt sổng chuồng khoảng 50 km. Do kênh rộng, địa hình phức tạp nên chính quyền địa phương không thể bắt được con cá sấu trên.
Theo xác nhận của ông Trí, con cá này nặng không dưới 50 kg. Chính quyền xã đã cảnh báo để người dân cảnh giác. Trước đó, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau và chủ trang trại cá sấu Quốc Việt cho biết đã bắt hết 100/100 con cá sấu sổng chuồng vào ngày 11-10. (Pháp Luật TPHCM 1/11)đầu trang(
Trước tình cảnh các doanh nghiệp (DN) chế biến gỗ rơi vào khó khăn vì vừa thiếu vốn, vừa thiếu nguyên liệu trầm trọng, Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.Hồ Chí Minh (HAWA) đã tổ chức buổi gặp với các DN thuộc Hội Kỹ thuật gỗ nhiệt đới quốc tế (ATIBT) để tìm kiếm nguồn nguyên liệu từ các quốc gia châu Á, châu Phi.
Ông Huỳnh Quang Thanh, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ Bình Dương, đồng thời là Giám đốc Công ty đồ gỗ Hiệp Long cho biết, trước đây, giá gỗ cao su, gỗ tràm chỉ khoảng 4 triệu đồng/m3 thì nay tăng lên 6 triệu đồng/m3, khiến các DN chế biến gặp nhiều khó khăn trong việc tìm mua nguyên liệu, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế đang khó khăn như hiện nay.
Được biết, sức tiêu thụ của thị trường nội thất toàn cầu đạt khoảng 298 tỷ USD/năm, trong khi Việt Nam mới chiếm 1,4% thị phần. Bên cạnh việc khó thu mua nguyên liệu, ngành chế biến gỗ nước ta vẫn tồn tại nhiều thách thức như phát triển tự phát, không theo quy hoạch. Đồng thời, khó khăn về nguồn cung gỗ hợp pháp từ nước ngoài, hạn chế về năng suất lao động, thiết kế, kỹ năng marketing… cũng đang là những vấn đề mà các DN sản xuất kinh doanh gỗ của Việt Nam phải đau đầu đối phó.
Ông Trần Quốc Mạnh, Phó chủ tịch HAWA chia sẻ: “Giá gỗ nguyên liệu tăng cao, kể cả gỗ nguyên liệu nhập khẩu, khiến các DN xuất khẩu đồ gỗ gặp muôn vàn khó khăn, thậm chí một số DN phá sản vì không vay được tiền ngân hàng để duy trì sản xuất cũng như trả nợ các đơn hàng đã ký”.
Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT, một trong những tồn tại lớn nhất của ngành gỗ Việt Nam hiện nay là thiếu nguyên liệu trầm trọng. Hàng năm, các DN phải nhập khẩu tới hơn 80% nguyên liệu gỗ (khoảng 4-4,5 triệu mét khối), chiếm khoảng 60% giá thành sản phẩm. Năm 2011, số tiền mà Việt Nam nhập khẩu gỗ nguyên liệu lên đến 1,3 tỉ USD, năm 2012 con số này sẽ tăng lên 1,5 tỉ USD.
Đặc biệt, do phụ thuộc vào nguồn gỗ nhập khẩu để sản xuất những mặt hàng có giá trị cao đã làm ngành công nghiệp chế biến gỗ phát triển thiếu bền vững, tính cạnh tranh thấp. Ông Nguyễn Mạnh Dũng, Cục trưởng Cục Chế biến, thương mại nông - lâm sản và nghề muối khẳng định: “Chúng ta đang xuất khẩu nguyên liệu thô quá nhiều. Hơn nữa, thiếu nguyên liệu gỗ một phần do chưa gắn kết chặt chẽ giữa công ty lâm nghiệp với DN chế biến gỗ. Sự thiếu gắn kết này một mặt khiến cho hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên rừng chưa cao, giá trị gia tăng của lâm sản chưa được như mong muốn; mặt khác làm hạn chế sự cạnh tranh công bằng giữa các cơ sở chế biến, kinh doanh gỗ”.
Có một nghịch lý là, hàng năm, một số lượng lớn dăm gỗ tươi vẫn được xuất khẩu. Chính vì thế, ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch Thường trực HAWA cũng như các DN ngành gỗ mong muốn buổi gặp gỡ với các DN đến từ ATIBT sẽ đem đến nhiều cơ hội cho ngành chế biến gỗ Việt Nam.
Hiện, cả nước có trên 3.000 DN chế biến gỗ. Nếu tính trên mức độ sử dụng lao động thì có đến 46% DN có quy mô siêu nhỏ; 49% quy mô nhỏ; 1,7% quy mô vừa; 2,5% quy mô lớn. Nếu xét về vốn đầu tư, có đến 93% DN ở quy mô nhỏ và siêu nhỏ. (Kinh Tế Nông Thôn 31/10)đầu trang(
Quy định mới đây bắt buộc các DN nhập khẩu gỗ phải trực tiếp ra Cục Bảo vệ thực vật (BVTV) - Bộ NN- PTNT xin Giấy phép mới được kiểm dịch và nhập khẩu lô hàng đã gây ra phản ứng mạnh mẽ từ phía các DN.
Không có một điều khoản hay quy định cụ thể nào yêu cầu DN phải được Cục BVTV, Bộ NN - PTNT cấp giấy phép kiểm dịch thì các đơn vị chức năng tại cửa khẩu mới tiến hành kiểm dịch cho các lô hàng NK của DN.
Ông Trần Phát Đạt - Giám đốc Cty xuất nhập khẩu gỗ Quỳnh Nga phản ánh, những ngày qua các DN nhập khẩu gỗ ở Hà Tĩnh nói riêng và một số tỉnh thuộc khu vực từ Nghệ An đến Quảng Bình nói chung, không khỏi bức xúc trước thực trạng gỗ được DN NK về đến cửa khẩu thì bị ách lại nếu không có giấy xin phép kiểm dịch từ Cục BVTV.
Để được thông quan chỉ có cách duy nhất là DN phải "vã mồ hôi" chạy tới Hà Nội để đến Cục BVTV xin được giấy xin phép kiểm dịch thực vật thì Hải quan mới làm thủ tục kiểm dịch cho thông quan.
Việc Cục BVTV “đẻ” ra một "giấy phép con" yêu cầu các DN nhập khẩu gỗ phải ra Cục BVTV xin giấy phép kiểm dịch không những làm mất thời gian mà còn tạọ phiền nhiễu cho DN - ông Đạt bức xúc nói.
Cũng theo phản ánh của một DN kinh doanh gỗ trên địa bàn các tỉnh miền Trung, đầu tháng 10/2012 DN ông có nhập khẩu một lô gỗ về tới cửa khẩu Cha Lo (Quảng Bình) ngay lập tức bị cán bộ kiểm dịch thực vật thông báo phải có giấy xin phép được kiểm dịch thì mới được phép kiểm dịch để thông quan. Vì vậy, theo chủ DN này lô hàng đã bị ách lại khiến DN ông tốn không biết bao nhiêu chi phí đi lại xin giấy phép đó là chưa kể tới việc sản xuất của Cty bị ngưng trệ. Trong khi đó, theo Nghị định 02/2010/NĐ-CP của Chính phủ về khuyến nông và hai Thông tư 39 - 40/2012/TT-BNNPTNT đều không quy định mặt hàng gỗ nhập khẩu phải phân tích nguy cơ dịch hại và cũng không có một quy định nào bắt buộc DN phải xin giấy phép mới được kiểm dịch.
Các DN cho rằng, việc tăng cường kiểm dịch thực vật nhằm ngăn chặn một số sản phẩm có sử dụng chất BVTV vượt quá mức cho phép làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân cũng như thông qua việc XNK để phá hoại nền kinh tế VN là việc làm cần thiết nhưng không thể vì thế để làm khó DN.
Mặc dù Cục BVTV cho rằng căn cứ pháp luật để ra “giấy phép” này là Thông tư 39-40/2012/TT-BNNPTNT nhưng yêu cầu DN phải ra tận Hà Nội (cách các tỉnh miền Trung 300 - 400 km) để xin giấy kiểm dịch thì rất vô lý - một DN bức xúc.
Có một điều đáng nói là khi DN rất thắc mắc về những quy định “tréo ngoe” mà Cục BVTV đưa ra thì bản thân nhân viên tại các Trạm kiểm dịch thực vật mà cụ thể là Cửa khẩu Cha Lo (Quảng Bình) thuộc Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng 6, cũng không thể giải thích được thắc mắc của các DN.
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Tiến Kỳ - Chi cục trưởng Chi cục kiểm dịch thực vật vùng 6 cho biết, sau khi Cục BVTV - Bộ NN - PTNT có quy định yêu cầu các DN nhập khẩu gỗ phải ra Hà Nội xin cấp giấy phép kiểm dịch thực vật nhập khẩu mới được thông quan, ông cũng nhận được rất nhiều phản ánh của các DN. Và theo thừa nhận của ông Kỳ, các loại gỗ nhập khẩu truyền thống lâu nay DN vẫn kinh doanh do đã nhập khẩu vào VN từ nhiều nay nên không thuộc đối tượng phải phân tích nguy cơ dịch hại trước khi nhập khẩu. Theo ông Kỳ, căn cứ để các trạm kiểm dịch thực vật yêu cầu DN phải có giấy phép là quy định tại Văn bản số 1900 ngày 5/10/2012 "về việc hướng dẫn thực hiện thông tư số 39 và Công văn số 1829/BVTV-KD". Theo đó, đối với các vật thể nêu tại Khoản 5, Điều 1 của Thông tư 39 (gỗ nhập khẩu) thì chỉ yêu cầu giấy phép kiểm dịch đối với những lô hàng có vận đơn.
Tuy nhiên, nói về quy định trên, ông Trần Phát Đạt - với tư cách Chủ tịch Hội DN gỗ huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) cho rằng, nếu gỗ nhập khẩu không phải phân tích nguy cơ dịch hại trước khi nhập khẩu thì không phải thuộc đối tượng chịu điều chỉnh của Thông tư 39 do Bộ NN- PTNT ban hành và cũng không thể yêu cầu ra Cục xin giấy phép.
Giải thích thắc mắc trên ông Kỳ cho biết, đối với DN nhập khẩu gỗ, quy định mới này là để phòng ngừa việc các DN nhập khẩu sai chủng loại gỗ.
Thế nhưng, khi chúng tôi đặt vấn đề, nếu chỉ để biết DN có nhập khẩu đúng chủng loại hàng hoá hay không thì phải kiểm tra, kiểm dịch trực tiếp tại cửa khẩu, trong khi đó, Cục BVTV nằm ở Hà Nội thì biết được loại gỗ gì, dịch hại ra sao qua giấy tờ thì ông Kỳ không có những giải thích thuyết phục. Ông Kỳ cũng khẳng định đây là quy định của Cục và Trạm kiểm dịch cũng chỉ biết thực hiện. Ông Kỳ cũng thừa nhận: “quy định này không chỉ gây khó khăn cho DN mà còn gây khó khăn cho chúng tôi”.
Ông Vũ Trọng Bình - Phó Viện trưởng Viện chiến lược chính sách nông nghiệp thẳng thắn: để kiểm được dịch trước hết phải tăng cường kiểm dịch tại cửa khẩu, bằng trình độ nghiệp vụ của con người và máy móc hiện đại chứ không phải là việc hướng dẫn DN đi xin giấy phép kiểm dịch. Với cách làm trên thì chẳng khác nào "viết kết quả trước khám bệnh sau", dẫn đến tình trạng bệnh một đường thuốc một nẻo.
Nói về giấy phép mới này, ông Đạt kiến nghị: "Quy định mới này của Cục BVTV không có căn cứ, áp dụng sai nội dung Thông tư 39 của Bộ NN-PTNT, còn giấy phép kiểm dịch thực vật nhập khẩu thì không rõ ràng. Chúng tôi đề nghị Bộ NN-PTNT và Cục kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) xem lại quy định của Cục BVTV".
Có lẽ, bản thân các DN đã quá “kiệt sức” khi hàng trăm cái khó đổ xuống đầu họ và họ cần hơn lúc nào hết sự sẻ chia thật sự chứ không phải là những quy định phi lí gây khó như trên. Và quan trọng hơn trong lúc này, các DN kinh doanh gỗ đang mong chờ từ phía cơ quan quản lý (Cục BVTV) một lời giải thích xác đáng. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 1/11)đầu trang(
Người dân đang “đào tận gốc, trốc tận rễ” loài cây này về làm sản phẩm mỹ nghệ. Cơ quan chức năng cho đây là loài cây lạ, chưa được định danh khoa học.
Khoảng ba tháng nay, người dân xã Ea Tam và Cư Klông (huyện Krông Năng) kháo nhau về vẻ đẹp và sự quý hiếm của cây đổi màu. Theo đó, sản phẩm mỹ nghệ làm từ cây này sẽ đổi màu theo ánh sáng và nhiệt độ. Khi mới thành phẩm, gỗ này có màu trắng xám nhạt, nếu để lâu sẽ chuyển sang màu xanh bích đậm. Thớ gỗ cây này rất mịn như gỗ trắc và có hoa văn đẹp như thủy tùng.
Tại một cơ sở tiện gỗ ở xã Cư Klông, một bức tượng Di Lặc cao chừng 60 cm, đường kính 40 cm có giá 4 triệu đồng. Một cặp lục bình có giá khoảng 2 triệu đồng. Ông Th. (xã Ea Tam) cho biết ông có hai tượng Phật và cặp lục bình cao 1,3-1,5 m, đường kính 35-50 cm. Ông Th. khoe đây là bốn sản phẩm từ gỗ đổi màu to nhất huyện Krông Năng. “Cách đây hai tháng, tôi mua bốn khúc gỗ đổi màu giá 9 triệu đồng, cộng với tiền gia công hơn chục triệu nữa. Gần đây, nhiều người trả giá cặp lục bình đến 30 triệu đồng nhưng tôi không bán” - ông Th. nói.
Ông Nguyễn Văn Thắng, Chủ tịch UBND xã Cư Klông, xác nhận: “Thời gian gần đây, người dân trong xã rộ lên phong trào xài đồ mỹ nghệ từ gỗ đổi màu”. Vì sự mới lạ và khác biệt của loại gỗ này mà người dân khắp nơi đổ về vùng rừng có gỗ đổi màu để khai thác. Trong hai tháng 9 và 10-2012, Hạt Kiểm lâm huyện Krông Năng liên tục bắt các vụ khai thác, vận chuyển, cất giữ gỗ đổi màu, đã phạt hành chính mỗi đối tượng 6,5 triệu đồng/vụ.
Ông Nguyễn Văn Kiểm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Krông Năng, cho biết: “Gỗ đổi màu là tên do người dân tự đặt” và cho biết chưa xác định được danh tính khoa học của loài cây này. Hiện tại, Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô (huyện Ea Kar) cử người lấy mẫu của loài cây này để gửi ĐH Tây Nguyên xác định tên họ loài, giá trị…, đồng thời phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Krông Năng và Ban Quản lý rừng phòng hộ Krông Năng tìm cách bảo vệ loài cây này. (Pháp Luật TPHCM 1/11)đầu trang(
30-10, liên quan đến vụ hàng chục đối tượng có hành vi cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ…, làm anh Phạm Văn Nông (41 tuổi), Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Suối Ràng bị thương phải nhập viện cấp cứu, người nhà của các đối tượng gây án đã đến Bệnh viện đa khoa Thống Nhất để thăm hỏi và có lời xin lỗi đối với anh Nông.
Tại bệnh viện, 5 gia đình có con tham gia trong vụ đánh anh Nông bị thương đã thành thật xin lỗi về hành vi sai trái của con em họ đối với anh Nông và lực lượng cán bộ Trạm kiểm lâm Suối Ràng. Qua đó, những người dân này cũng xin hứa sẽ cố gắng giáo dục con em họ không vi phạm pháp luật trong việc bảo vệ rừng, cũng như chống đối lực lượng chức năng khi đang làm nhiệm vụ. (Báo Đồng Nai 1/11)đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Bây giờ lên Tây Nguyên, ghé TP.Buôn Ma Thuột, ta sẽ chứng kiến cảnh lạ. Đó là toàn bộ cây sưa ở đây đã bị những lồng sắt kiên cố khoanh gốc để chống "sưa tặc" cưa trộm gỗ sưa.
- Vụ này vẫn gọi là "chiến dịch khoác áo giáp cho cây sưa". Nghe cứ kêu côm cốp như đang đánh nhau.
- Chẳng phải đánh nhau, nhưng là "phòng ngự từ xa". Cứ hình dung mỗi cây sưa có một chiếc lồng sắt dạng khối vuông được hàn kết dính ôm trọn gốc (mỗi cạnh 80cm, cao khoảng 2m, đóng xuống đất sâu 0,6m, tất cả nặng khoảng 200kg).
- Có "áo giáp" rồi, việc bảo vệ cây sưa bây giờ nhàn nhỉ?
- Trái lại thì có. Dù đã có thêm khung sắt bảo vệ nhưng cơ quan quản lý đô thị vẫn bố trí nhân viên đi tuần tra y như trước, nói cách khác, "như chưa hề có cuộc giam sưa".
- Vì sao thế? Cây sưa đã có lồng bảo vệ rồi mà?
- Có lẽ họ duy trì tuần tra là để bảo vệ… những chiếc lồng. Mỗi chiếc "áo giáp" đến 200kg sắt hơ hớ giữa đường thế kia thì không khéo… chưa mất sưa đã mất lồng.
- Cây xanh làm đẹp cho phố, nay bị "nhốt" có khác gì của nợ trời ơi ở đâu tha về. Bỏ thì thương vương thì tội, thật khổ cho nhau quá! (Nông Thôn Ngày Nay 31/10) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa