|
Ngày 02 tháng 11 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu các địa phương tăng cường công tác kiểm tra và xử lý nghiêm đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng, khai thác rừng trái pháp luật.
Đồng thời, các tỉnh, thành phố phải huy động các lực lượng thường xuyên phát hiện và phòng cháy chữa cháy rừng kịp thời hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra; kiểm tra, giám sát việc trồng rừng thay thế đối với các dự án khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất có rừng sang xây dựng công trình thủy điện, khai thác khoáng sản và các công trình xây dựng khác, xử lý nghiêm đối với các sai phạm theo quy định.
Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoàn chỉnh lại Đề án quản lý khai thác rừng sản xuất là rừng tự nhiên, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 11/2012.
Trong đề án này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần phân tích làm rõ ưu nhược điểm, tác động đến kinh tế, xã hội của từng phương án, gồm: Phương án 1: Tạm dừng khai thác gỗ rừng sản xuất là rừng tự nhiên trên địa bàn cả nước; Phương án 2: Đối với vùng Tây Nguyên cho phép Công ty Lâm nghiệp Đắk Tô, tỉnh Kon Tum (đã được cấp Chứng chỉ gỗ có kiểm soát và sẽ cấp Chứng chỉ rừng FSC quốc tế vào năm 2013) được khai thác sản lượng ổn định 8.000 m3/năm; đối với các địa phương còn lại, cho phép các công ty khai thác theo phương án điều chế rừng hoặc phương án quản lý rừng bền vững được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn dự thảo Thông tư hướng dẫn trồng rừng thay thế đối với các dự án khi chuyển mục đích sử dụng đất có rừng sang xây dựng công trình thủy điện, khai thác khoáng sản và các công trình xây dựng khác.
Việc trồng rừng thay thế phải quy định chặt chẽ theo hướng: Phải có phương án trồng rừng được duyệt bảo đảm tính khả thi thì mới được khởi công công trình; đối với những tỉnh không còn đất trồng rừng thay thế thì phải nộp số tiền theo dự án trồng rừng thay thế được duyệt về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng trung ương để Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bố trí cho tỉnh còn quỹ đất trồng rừng thay thế thực hiện.
Đối với dự án đã chuyển mục đích sử dụng rừng từ khi Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 3/3/2006 của Chính phủ có hiệu lực mà đến nay chưa trồng rừng thay thế thì yêu cầu chủ đầu tư phải trồng lại rừng nếu địa phương đó còn quỹ đất, nếu không còn quỹ đất thì phải nộp tiền theo hướng xử lý nêu trên.
Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ liên quan tiến hành lập đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra tình hình thực hiện dự án trồng rừng thay thế tại các địa phương.
Được biết, tính đến nay chúng ta đã khoán bảo vệ rừng được hơn 1.966.000 ha, đạt 98% kế hoạch, ước thực hiện năm 2012 là 2.000.000 ha, đạt 100% kế hoạch; khoanh nuôi tái sinh 211.337 ha; trồng rừng tập trung 137.000 ha; trồng 35.760.000 cây phân tán đạt 72% kế hoạch, ước thực hiện năm 2012 trồng 50.000.000 cây, đạt 100% kế hoạch... (Chinhphu.vn 2/11)đầu trang(
Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Hà Công Tuấn vừa chủ trì hội nghị triển khai vận hành quỹ bảo vệ & phát triển rừng và chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) năm 2012, triển khai nhiệm vụ 2013 tại Đăk Nông.
Sau 2 năm thí điểm thành công chi trả DVMTR tại Lâm Đồng và Sơn La, Chính phủ đã ban hành Nghị định 09/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 về thực hiện chi trả DVMTR trên phạm vi cả nước. Đến nay chính sách này đã đi vào cuộc sống.
Theo Tổng cục Lâm nghiệp, cả nước đã có 22/35 tỉnh thành thành lập và vận hành quỹ BV&PTR cấp tỉnh. Ngay sau khi được thành lập, Ban điều hành các quỹ đã tích cực triển khai ký kết hợp đồng uỷ thác chi trả DVMTR, đến hết tháng 9/2012 các quỹ tỉnh đã ký được 88 hợp đồng, trong đó thuỷ điện 56 hợp đồng, nước sạch 11 và du lịch 21 hợp đồng. Các tỉnh ký được hợp đồng uỷ thác chi trả DVMTR nhiều nhất là Lâm Đồng với 40 hợp đồng, Lào Cai 19 hợp đồng, Quảng Nam 7, Đăk Nông 6, Kon Tum 5...
Theo đánh giá của Tổng cục Lâm nghiệp, tiềm năng nguồn thu DVMTR của nước ta rất lớn, chỉ tính riêng thu từ thuỷ điện nếu thu hết có thể đạt trên 900 tỷ đ/năm. Trong 9 tháng đầu năm 2012 tổng thu của quỹ DVMTR đã đạt 596 tỷ đồng. Trong đó nguồn thu do quỹ Trung ương điều phối được 446,7 tỷ, nguồn thu của các tỉnh đạt 149,6 tỷ. Đây là nguồn thu có ý nghĩa to lớn để chi trả cho chủ rừng cũng như người dân tham gia bảo vệ rừng trong điều kiện ngân sách Nhà nước cấp cho ngành lâm nghiệp còn rất hạn chế (1.200 tỷ đ/năm).
Ông Cẩm Văn Chính, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La cho biết, từ các nhà máy thủy điện, mỗi năm tỉnh Sơn La thu được khoảng 100 tỷ đồng từ DVMTR. Những năm trước, chưa có nguồn thu từ DVMTR, ngân sách địa phương chỉ đáp ứng được khoảng 30% kinh phí cho công tác bảo vệ rừng. Nay nhờ có nguồn thu từ DVMTR nên đã đáp ứng được. Trước đây tỉnh chỉ chi trả BVR được 100.000 đ/ha/năm thì nay đã tăng lên 153.000 đ.
Đánh giá hiệu quả mang lại từ DVMTR, ông Phạm S, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết: Sau khi rà soát thì tỉnh có 380.000 ha rừng được áp dụng thu phí DVMTR. Mỗi năm thu được 120 tỷ đồng từ các nhà máy thủy điện, cơ sở kinh doanh du lịch.
Đây là nguồn kinh phí rất quan trọng để các đơn vị lâm nghiệp làm công tác BVR, bởi nhiều năm qua Lâm Đồng không còn chỉ tiêu khai thác rừng tự nhiên. Nhiều đơn vị được chi trả DVMTR rất cao như khu vực rừng Đại Ninh, mỗi ha người giữ rừng được trả tới 500.000 đ/năm…
Tuy nhiên, việc thu phí DVMTR mới triển khai nên còn nhiều vướng mắc cần phải tháo gỡ. Ông Phạm S cho biết: Đối với các NM thủy điện thuộc Tập đoàn Điện lực VN (EVN) việc thu phí DVMTR do quỹ DVMTR của Trung ương đảm nhận, sau đó quỹ trung ương lại chuyển về địa phương để trả cho các chủ rừng.
Song lại chưa xác định được lưu vực giữ các tỉnh nên việc chi trả còn nhiều lúng túng. Không chỉ riêng Lâm Đồng mà hiện tất cả quỹ DVMTR tại các địa phương đều có tiền nhưng không chi trả được cho chủ rừng vì thiếu thông tư hướng dẫn.
Kết luận hội nghị, Thứ trưởng Hà Công Tuấn đánh giá kết quả thu phí DVMTR của địa phương thời gian qua là rất tích cực nhằm tạo nguồn vốn bền vững cho việc đầu tư phát triển ngành lâm nghiệp. Tuy nhiên công tác giải ngân của các quỹ rất chậm, quỹ Trung ương giải ngân được 80%, còn địa phương chỉ 20%. Nếu không giải ngân nhanh được sẽ có lỗi với hàng vạn hộ dân đang tham gia BVR; có thể trong thời gian tới các NM thủy điện sẽ chậm chi trả tiền DVMTR. (Nông Nghiệp Việt Nam 1/110)đầu trang(
Triển khai chủ trương thí điểm cổ phần hoá (CPH) vườn cây, rừng trồng, đàn gia súc gắn với CPH cơ sở chế biến theo Nghị quyết số 28/NQ-TW, Ngày 16/6/2003 của Bộ Chính trị, Nghị định số: 170/2004/NĐ-CP ngày 22/9/2004 và Nghị định số: 200/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về xắp xếp, đổi mới nông lâm trường quốc doanh quốc doanh, đến nay trên phạm vi cả nước có 26 nông lâm trường (công ty) thực hiện CPH vườn cây, rừng trồng gắn với CPH cơ sở chế biến, nếu tính cả các công ty đã CPH trước đó thì cả nước có 32 đơn vị (công ty nông, lâm nghiệp hoặc nông, lâm trường quốc doanh), thuộc các ngành nghề khác nhau của Trung ương và địa phương.
Trong đó, phân theo ngành nghề sản xuất kinh doanh có: 12 đơn vị trồng và chế biến chè; 4 đơn vị trồng, chế biến cao su; 7 đơn vị chăn nuôi; 6 đơn vị trồng, chế rau quả và cây hàng năm; 2 đơn vị trồng rừng và chế biến lâm sản; 1 đơn vị giống nông, lâm nghiệp và 1 đơn vị nuôi trồng thuỷ sản và theo phân cấp quản lý có 9 đơn vị thuộc địa phương quản lý và 23 đơn vị thuộc Trung ương quản lý.
Theo kết quả khảo sát và báo cáo của 32 đơn vị đã thực hiện CPH, tuy còn có sự khác nhau về thời điểm triển khai, ngành nghề sản xuất kinh doanh nhưng kết quả đạt được đã khẳng định chủ trương thí điểm CPH vườn cây, rừng trồng, đàn gia súc gắn với CPH cơ sở chế biến, để tổng kết rút ra bài học và nhân rộng là đúng đắn, thể hiện bước đi thận trọng, phù hợp với đặc thù sản xuất kinh doanh của công ty nông, lâm nghiệp (NLTQD) là CPH nông lâm trường quốc doanh phải gắn liền với việc quản lý sử dụng đất. Kết quả đạt được từ các nông lâm trường đã thực hiện CPH là duy trì sản xuất và phát triển, năng suất cây trồng, vật nuôi đều tăng qua các năm, vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp được bảo toàn và phát triển; hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng, quản trị doanh nghiệp từng bước thay đổi, lao động việc làm và thu nhập tăng.
Về hiệu quả sản xuất kinh doanh so với trước khi CPH, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có lãi tăng, đơn vị thua lỗ giảm. Nay có 24 đơn vị có lãi (trước CPH có 16 đơn vị), một số đơn vị khắc phục được lỗ trước đó, thậm trí có đơn vị đã chuyển từ đơn vị phải phá sản thành kinh doanh có lãi như Cty CP chè Chiềng Ve (Sơn La).
Doanh thu của các đơn vị năm sau cao hơn năm trước, có nhiều đơn vị tăng gấp 2 - 3 lần, trong đó có 6 doanh nghiệp doanh thu tăng từ 3 - 5 lần (Cty Cao su Đồng Phú, Hoà Bình; Chè Than Uyên; Chè Hà Tĩnh; Chè Lâm Đồng; XNK Đồng Giao...) và có 7 doanh nghiệp doanh thu tăng từ 2 - 3 lần (Cty Cao su Phước Hoà, Tây Ninh, Cty CP Chiềng Sung, Bò sữa Mộc Châu, Chè Quân Chu, Chè Nghĩa Lộ, XNK Bắc Giang…).
Về việc làm và thu nhập bình quân người lao động, nhiều đơn vị thu nhập của người lao động tăng gấp 2 - 3 lần so với trước khi CPH, như nhiều Cty Cao su trước 4,8 triệu/người /tháng, sau CPH là 10,4 triệu/người /tháng. Chè Lâm Đồng trước 1,6 triệu đông/người/tháng thì năm 2011 thu nhập bình quân là 3,57 triệu đồng người/tháng. Người lao động được bố trí việc làm phù hợp hơn, ngành nghề được mở rộng, bảo đảm thu nhập ngày càng tăng, đời sống được quan tâm hơn, nhiều đơn vị đã tổ chức đào tạo lại tay nghề cho người lao động để phù hợp với công việc mới.
Nhiều đơn vị đã duy trì phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và tăng thêm nguồn vốn và vốn điều lệ để đầu tư cho sản xuất kinh doanh và phát triển. Cty Cao su Tây Ninh, Đồng Phú, Phước Hòa (Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam) thông qua CPH đã thu được hơn 3.000 tỷ đồng từ bán bớt phần vốn nhà nước và thặng dư bán cổ phần. Có 6 Cty (3 Cty cao su, 2 Cty chè, 1 Cty bò sữa) vẫn nắm giữ phần vốn nhà nước trên 51%, các đơn vị còn lại đã thực hiện thoái dần vốn nhà nước, một số công ty đã thoái hết phần vốn nhà nước theo quy định tại Quyết định số 14/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phân loại danh mục DNNN.
Tại thời điểm CPH, do nhiều lần đổi mới, sắp xếp, chuyển đổi và sau khi tiến hành rà soát lại quỹ đất đã được giao trước đây, đơn vị chỉ giữ lại diện tích cần cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, quản lý sử dụng có hiệu quả, nên bình quân một đơn vị quản lý 2.668 ha (giảm so với khi thành lập gàn 1.000 ha, chủ yếu bàn giao về cho địa phương) đơn vị có diện tích lớn nhất là 23.760 ha, đơn vị có diện tích nhỏ nhất là 209 ha. Diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khoảng 58,65% so với tổng số; diện tích đã ký hợp đồng thuê đất với địa phuơng khoảng 13% so với tổng số.
Cũng tại thời điểm này việc quản lý sử dụng đất đang tồn tại các hình thức như giao khoán đất ổn định lâu dài cho người lao động theo Nghị định 01/CP ngày 04/01/1995 của Chính phủ, đơn vị quản lý đất đai, quy trình kỹ thuật, sản phẩm, dịch vụ vật tư, kỹ thuật cho người nhận khoán, người nhận giao khoán tự chủ sản xuất bán sản phẩm và thanh toán các khoản dịch vụ, quản lý phí cho đơn vị, toàn bộ sản phẩm vượt khoán được hưởng. Tổng diện tích đang áp dụng hình thức này khoảng 23.762 ha. Cũng thực hiện giao khoán đất cho người lao động nhưng đơn vị không quản lý được đất đai, quy trình kỹ thuật, sản phẩm dẫn đến tình trạng khoán trắng (thực chất là phát canh thu tô) đối với 15.538,5 ha.
Sau khi CPH, các đơn vị tiếp tục rà soát lại đất đai, đẩy nhanh tiến độ cắm mốc, cấp giấy CNQSD đất và chuyển sang thuê đất. Đến cuối năm 2011, diện tích bình quân một Cty còn quản lý sử dụng là 2.276,36 ha, (giảm gần 400 ha so với thời điểm bắt đầu CPH, chủ yếu tiếp tục bàn giao về cho địa phương). Diện tích được cấp giấy CNQSD đất đạt 65,5%, diện tích ký hợp đồng thuê đất với các địa phương đạt 65,2%.
Đồng thời với việc CPH, nhiều đơn vị đã tích cực và có nhiều giải pháp để quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả đất đai được xác định giữ lại. Nhưng do tồn tại và hiện trạng quản lý sử dụng đất, nhất là hình thức giao khoán đất cho người lao động của các đơn vị trong thời kỳ trước đó, nên việc quản lý, sử dụng đất ở các đơn vị vẫn đang hình thành các hình thức quản lý, sử dụng sau: Có quản lý, sử dụng, đất đai gắn với quản lý vườn cây đồng cỏ đang tiến hành đo đạc xin cấp giấy CNQSD đất, để chuyển sang thuê đất, đồng thời rà soát lại các hợp đồng giao khoán đối với diện tích nhận khoán theo Nghị định 01/CP để điều chỉnh hợp đồng khoán theo Nghị định 135/NĐ-CP (có 16 đơn vị đơn vị thuộc nhóm này); chỉ quản lý một phần nhỏ diện tích đất đai sau CPH phần đất dự kiến hoặc đã bàn giao lại cho địa phương là diện tích đất đã giao khoán cho người lao động, không quản lý được (có 3 đơn vị thuộc nhóm này); không quản lý đất đai, vườn cây, rừng trồng.
Với cách làm thận trọng, bước đi phù hợp và kết quả đạt được nêu trên đã khẳng định chủ trương thí điểm CPH vườn cây, rừng trồng, đàn gia súc gắn với CPH cơ sở chế biến là hoàn toàn đúng cần tổng kết cho mở rộng. Tuy nhiên đất đai trong các Cty nông, lâm nghiệp (nông lâm trường) là tài sản đặc biệt và quan trọng, gắn liền với tài sản trên đất (vườn cây, rừng trồng) quy hoạch phát triển ngành, kinh tế xã hội của địa phương, nên nhà nước phải thống nhất quản lý cho Cty cổ phần thuê để quản lý sử dụng theo quy hoạch kế hoạch của địa phương, của ngành và Cty được cấp giấy CNQSD đất.
Cty cổ phần có trách nhiệm tổ chức sản xuất, giao khoán đất cho người lao động bảo đảm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Đối với diện tích đất của công ty đang có tranh chấp, lấn chiếm phải phối hợp với chính quyền địa phương giải quyết dứt điểm theo hướng tiếp nhận thành công nhân của Cty hoặc thực hiện giao khoán đất, vườn cây với Cty để giải quyết việc làm thu nhập.
Các công ty phải khẩn trương hoàn thành việc cắm mốc, xác định ranh giới ngoài thực địa, cấp giấy CNQSD đất và ký hợp đồng thê đất. Rà soát, bổ sung hoàn thiện việc giao khoán đất, vườn cây, rừng trồng tại các công ty nông, lâm nghiệp. Đối với diện tích đất khi Cty thực hiện CPH, không gắn CPH vườn cây, rừng trồng với CPH cơ sở chế biến đã giao khoán cho người nhận khoán nhưng không quản lý điều hành được thì chuyển giao về cho địa phương quán lý theo trình tự thủ tục quy định của pháp luật về đất đai. Nếu người nhận giao khoán đất là nông dân trên địa bàn của Cty thì được xem xét để giao đất (trong hạn mức) và cấp giấy CNQSD đất; đối với người nhận giao khoán đất không phải là nông dân thì chuyển sang thuê đất và cấp giấy CNQSD đất.
Đối với diện tích đất Cty giao khoán đất theo Nghị định số 01/CP ngày 4/1/1995 nhưng chỉ thu phí quản lý, khấu hao vườn cây (khoán trắng) thì phải làm thu tục chuyển giao đất về cho chính quyền địa phương quản lý sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch của địa phương. Người nhận khoán nếu là nông dân sống trên địa bàn thì được giao đất, cấp giấy CNQSD đất; đối tượng còn lại phải chuyển sang thuê đất. (Nông Nghiệp Việt Nam 1/11)đầu trang(
Tại hội thảo về “Quản lý và sử dụng đất đai các cộng đồng dân tộc thiểu số vùng núi” diễn ra hôm qua tại Hà Nội, đại diện nhiều tỉnh vùng cao than trời về tình trạng đồng bào thiếu đất sản xuất trầm trọng. Nguyên nhân, xuất phát từ xung đột quyền lợi với lâm trường quốc doanh và hệ lụy từ phát triển thủy điện.
Từ khi chuyển đến khu tái định cư mới để nhường đất cho một dự án thủy điện, mỗi gia đình ở xã Hơ Moong, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum, được cấp 400 m đất thổ cư, 1-1,2 ha đất sản xuất và 600-1.000 m2 đất lúa nước.
Ông Nguyễn Văn Nhiệm, Chủ tịch UBND Xã Hơ Moong, cho hay, trước kia đất thổ cư của dân rộng vài ngàn mét vuông, cũng có khi đến cả ha.
Nay mỗi nhà được 400 m, nhiều gia đình không biết bố trí vườn tược, chuồng lợn, chuồng gà, chuồng trâu ra sao nên bảo nhau ở rừng mà chật như ở phố.
Diện tích đất thổ cư hiện nay cũng không đảm bảo được không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng của một xã miền cao có tới 91% hộ dân là đồng bào dân tộc Bana và Jarai.
Một địa phương khác là xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, Quảng Bình cũng trong tình trạng thiếu đất sản xuất trầm trọng.
Theo ông Nguyễn Tiến Dũng, Phó Chủ tịch UBND xã Trường Sơn, 96,4% diện tích đất lâm nghiệp của xã do các lâm trường quốc doanh và ban quản lý rừng phòng hộ quản lý.
Thành thử, trung bình mỗi hộ dân chỉ có 0,88 ha. Với đất trồng lúa, bình quân mỗi hộ cũng chỉ đạt 0,4 ha. Nhiều địa phương khác cũng trong tình trạng tương tự.
Ông Lù Văn Que, Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTW MTTQ VN, kể tôi đi nhiều nơi, về nhiều với đồng bào dân tộc thì thấy nhiều đồng bào có năng lực trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ rừng nhưng lại không được giao rừng. Có đồng bào hỏi tôi vì sao không có đất rừng để thoát nghèo.
Ông Phan Đình Nhã, Viện Tư vấn&Phát triển (CODE) đổ lỗi tình trạng trên cho việc giao đất rừng chủ yếu cho các tổ chức.
Đến năm 2011, 7,24 triệu ha, chiếm 47,1% đất lâm nghiệp, được giao cho các tổ chức trong khi các gia đình cá nhân chỉ được giao quản lý 28,7% đất lâm nghiệp.
Việc giao quyền sử dụng rừng và đất rừng quá lớn cho các tổ chức đã thu hẹp không gian sinh tồn, không gian văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc vùng cao.
Theo ông Lù Văn Que, không thể để tình trạng vài cán bộ lâm trường sử dụng mấy chục ngàn ha đất lâm nghiệp trong khi mỗi hộ dân có chưa đến một ha đất. (Tiền Phong 2/11)đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) vừa phát hành một phim với sự tham gia của năm nhân vật nổi tiếng tại Việt Nam, nhằm khuyến khích công chúng không tiêu thụ động vật hoang dã.
Các nhân vật gồm có siêu mẫu Vũ Nguyễn Hà Anh, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân Dũng, Giám đốc Điều hành Thái Hà Book - tiến sỹ Nguyễn Mạnh Hùng, huấn luyện viên vật cổ truyền Mẫn Bá Xuân và nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Vũ Mão.
Hà Anh cho biết: "Tôi rất vui được góp tiếng nói nhỏ bé của mình để bảo vệ động vật hoang dã đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Cộng đồng hãy dừng lại bởi việc sử dụng động vật hoang dã không khiến chúng ta khỏe mạnh hơn, thông minh hơn, thành công hơn, nổi tiếng hơn, hay có tiếng nói tốt hơn trong xã hội."
Hiện nay, rất nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm của Việt Nam đã bị đẩy đến bên bờ tuyệt chủng do nạn săn bắt và buôn bán động vật hoang dã trái phép. Nền kinh tế phát triển giúp nâng cao đời sống của người dân, nhưng đồng thời cũng khiến cho nhu cầu tiêu thụ động vật hoang dã như những món ăn hay các thuốc bổ có tác dụng “tăng cường sức khỏe” cũng tăng lên.
“Đoạn phim mới này nhằm xóa bỏ những quan niệm sai lầm về tác dụng của các sản phẩm động vật hoang dã,” ông Trần Việt Hưng – Phó Giám đốc của ENV cho biết. “Với sự ủng hộ và tham gia từ những người được công chúng mến mộ, thông điệp của đoạn phim được thể hiện rất rõ ràng rằng sử dụng động vật hoang dã không khiến bạn khỏe hơn hay thành công hơn từ bất cứ khía cạnh nào.”
Phim sẽ được phát sóng trên các kênh truyền hình trung ương cũng như địa phương trong hai tháng cuối năm nay. (Vov.vn 1/11; VietnamPlus.vn 1/11)đầu trang(
Huyện Đồng Hỷ hiện có trên 24.000 ha đất lâm nghiệp, trong đó diện tích có rừng là hơn 23.000 ha, diện tích rừng dễ cháy gần 18.500 ha. Hiện nay, thời tiết đang bắt đầu bước vào mùa hanh khô nên nguy cơ xảy ra cháy rừng là rất lớn. Để đối phó với “giặc lửa”, các ngành chức năng của huyện đã chủ động tổ chức tuyên truyền và có kế hoạch về phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) đến các xã, thị trấn trên địa bàn.
Ông Đỗ Đức Thịnh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Hỷ cho biết: Huyện có 18 xã, thị trấn thì diện tích rừng tập trung chủ yếu ở các xã: Hợp Tiến, Văn Lăng, Khe Mo, Cây Thị…Để hạn chế tối đa những thiệt hại từ cháy rừng, ngay đầu mùa khô, huyện đã xây dựng phương án bảo vệ, PCCCR với phương châm: Phòng là chính, chữa cháy phải kịp thời, khẩn trương và có hiệu quả. Xác định từng vùng xung yếu và khó khăn riêng biệt của từng khu vực để có hướng chỉ đạo sát, đúng. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng kết hợp với các cuộc họp dân để triển khai lồng ghép thông báo nguy cơ cháy rừng, quy chế bảo vệ PCCCR đến cộng đồng dân cư và các chủ rừng.
Giữ vai trò là lực lượng nòng cốt trong công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR, Hạt Kiểm lâm huyện hiện có 27 cán bộ, trong đó có 14 cán bộ đã được bố trí, phân công chia thành 3 trạm kiểm lâm phụ trách địa bàn. Toàn huyện thành lập 20 ban quản lý bảo vệ và PCCCR với 187 thành viên, 225 tổ quần chúng bảo vệ rừng với gần 1.200 người. Mỗi xã, thị trấn đều có một Trung đội dân quân tự vệ gồm 30 người được huy động thường xuyên tuần tra canh gác PCCCR.
Với nhiệm vụ bám rừng, bám dân và bám chính quyền cơ sở, lực lượng này thường xuyên tuần tra, kiểm tra, kiểm soát các khu vực có nguy cơ xảy ra cháy. Phát hiện và xử lý nghiêm các vụ phá rừng, làm nương rẫy, vận chuyển lâm sản trái phép nên đã hạn chế được tối đa các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Từ đầu năm đến nay, huyện đã tổ chức được 14 lớp tập huấn, tuyên truyền phổ biến pháp luật về công tác chăm sóc, bảo vệ rừng cho gần 1.000 lượt người; Hạt Kiểm lâm huyện đã phát hiện và xử lý 38 vụ buôn bán, vận chuyển gỗ trái phép (giảm 65% so với cùng kỳ năm 2011), thu nộp ngân sách nhà nước gần 60 triệu đồng; toàn huyện không để xảy ra vụ cháy nào.
Kinh nghiệm của những năm trước đây cho thấy, một trong những yếu tố quyết định cho sự thành công của công tác PCCCR, đó là phương châm 4 tại chỗ (lực lượng tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ). Khi xuất hiện các điểm cháy, lực lượng này đã có mặt ứng cứu kịp thời và nhanh chóng dập tắt các đám cháy, không để lây lan ra diện rộng. Năm nay, do lượng mưa ít nên mùa hanh khô được dự đoán là sẽ kéo dài và đó là điều kiện thuận lợi cho hiện tượng cháy rừng xảy ra.
Do đó việc tăng cường PCCCR, đặc biệt là chủ động trong các tình huống cháy xảy ra được Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Hỷ quan tâm hàng đầu bằng cách luôn cử người thường trực ở các Trạm để tuyên truyền cảnh báo cháy rừng, đồng thời nhận thông tin ở cơ sở báo về khi có cháy rừng xảy ra, qua đó chỉ đạo các cán bộ ở dưới địa bàn để có biện pháp huy động lực lượng cứu chữa kịp thời.
Đối với các xã vùng cao, có diện tích rừng lớn như: Văn Lăng; Tân Long; Quang Sơn... là khu vực tập trung nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, thường xuyên đốt nương, làm rẫy nên thường có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao hơn các nơi khác. Lực lượng kiểm lâm của huyện đã phối hợp với cơ sở tuyên truyền, vận động người dân không phát rừng, làm nương rẫy bừa bãi, hướng dẫn kỹ thuật đốt nương, tạo đường băng cản lửa cho người dân và nghiêm cấm đốt vào những ngày nắng nóng, có gió... (Báo Thái Nguyên 1/11)đầu trang(
30/10, thành phố Lào Cai đã tổ chức diễn tập phòng chống cháy rừng - bảo vệ rừng năm 2012 tại phường Thống Nhất.
Cuộc diễn tập được chia thành 2 giai đoạn. Giai đoạn 1 tổ chức diễn tập phần cơ chế chuẩn bị phòng cháy, chữa cháy rừng. Ban Chỉ huy PCCCR phường Thống Nhất tổ chức quán triệt nhiệm vụ; nghiên cứu, đánh giá khí hậu thời tiết, tình hình cháy rừng; thực hành điều chỉnh kế hoạch phòng chống cháy rừng – bảo vệ rừng và triển khai một số công việc cần làm ngay cho các ban, ngành, đoàn thể; tổ chức hiệp đồng phòng cháy chữa cháy rừng, khắc phục hậu quả cháy rừng.
Giai đoạn 2 thực hành chữa cháy rừng với tình huống giả định đưa ra là vào lúc 10 giờ sáng ngày 30/10, tại lô 10A, Tiểu khu 204T, tổ 6 phường Thống Nhất, do người dân đốt nương bất cẩn để lửa cháy lan vào rừng sản xuất do hộ gia đình quản lý. Sau khi phát hiện đám cháy, chủ rừng và một số hộ dân lân cận đã tiến hành dập lửa và chữa cháy bằng phương tiện sẵn có. Tuy nhiên do lực lượng ít, thời tiết khô hanh, gió thổi mạnh nên đám cháy đã lan sang các khu vực bên cạnh.
Trước tình hình này, UBND phường Thống Nhất đã sử dụng lực lượng cơ động tại chỗ, như: dân quân tự vệ, công an, thành viên tổ bảo vệ rừng phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể và bà con nhân dân ở các tổ dân phố trong khu vực sử dụng các vật liệu, phương tiện tại chỗ để chữa cháy rừng, ngăn chặn đám cháy lây lan, đồng thời cấp cứu người bị nạn do cháy rừng. Sau gần một giờ tích cực chữa cháy, các lực lượng đã khống chế và dập tắt hoàn toàn đám cháy, đảm bảo an toàn tuyệt đối về người.
Kết quả diễn tập phòng chống cháy rừng – bảo vệ rừng ở phường Thống Nhất đạt loại khá. Thông qua cuộc diễn tập đã kịp thời bổ sung hoàn chỉnh kế hoạch phòng chống cháy rừng ở phường Thống Nhất, đồng thời đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong công tác chỉ huy, chỉ đạo, huy động lực lượng, phương tiện khi có cháy rừng xảy ra. (Theo Laocai.gov.vn 2/11)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 1/11, UBND tỉnh Hà Tĩnh tổ chức cuộc họp báo cáo quy hoạch phát triển chế biến lâm sản trên địa bàn giai đoạn 2012-2020, định hướng đến năm 2030.
Hiện nay, toàn tỉnh Hà Tĩnh có 509 cơ sở chế biến gỗ, trong đó có đến 314 (chiếm 62%) cơ sở chưa có giấy phép kinh doanh; các cơ sở chủ yếu chế biến nhỏ lẻ, quy mô hộ gia đình, phát triển tự phát và phân bố tập trung ở các huyện có diện tích rừng lớn như Hương Khê, Hương Sơn, Vũ Quang, Kỳ Anh…Bình quân tổng công suất chế biến trên 620 nghìn m3/năm; giá trị SX đạt hơn 2 nghìn tỷ đồng.
Việc thiêu thụ, phát triển, quản lý chế biến lâm sản thiếu chặt chẽ và tự phát như trên đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình quản lý, bảo vệ rừng, thậm chí dẫn đến nhiều vụ phá rừng nghiêm trọng. Để đẩy mạnh phát triển chế biến lâm sản thành mũi nhọn kinh kế của ngành, tỉnh Hà Tĩnh đề ra phương án từ nay đến 2020 giảm cơ sở chế biến gỗ xuống 296 cơ sở, thu hút khoảng trên 6.300 lao động với mức thu nhập 5-6 triệu đồng/tháng.
Điều kiện để các cơ sở, nhà máy chế biến lâm sản hoạt động: Đặt cách ranh giới rừng tự nhiên tối thiểu 3km; có giấy phép kinh doanh; đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định; an toàn vệ sinh môi trường; có phương án SX kinh doanh phù hợp với công suất thiết kế. Tiến tới tháo dỡ các cơ sở cưa xẻ không đảm bảo điều kiện kinh doanh; chấm dứt việc xuất khẩu dăm gỗ thô vào năm 2015. Đồng thời, quản lý chặt chẽ các cơ sở chế biến ván bóc, ván ép; làng nghề mộc gia dụng; cơ sở chế biến tổng hợp…nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng lợi nhuận kinh tế; chấm dứt tình trạng chế biến, tiêu thụ lâm sản trái phép.
Được biết, từ nay đến 2020 Hà Tĩnh phấn đấu đưa giá trị SX, chế biến lâm sản đạt trên 4 nghìn tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 12,5%/năm. Đến 2030 phát triển ngành chế biến lâm sản trên địa bàn theo hướng bền vững, thân thiện môi trường. (Nông Nghiệp Việt Nam 1/11)đầu trang(
Bộ NN&PTNT vừa báo cáo Thủ tướng Chính phủ về chuyển mục đích sử dụng rừng sang xây dựng thủy điện.
Từ năm 2006 đến nay, cả nước đã có 160 dự án thuộc 29 tỉnh, thành phố đã chuyển mục đích sử dụng từ đất rừng sang cho thủy điện với diện tích 19.792ha, trong đó rừng đặc dụng là 3.060ha, rừng phòng hộ 4.411ha, rừng sản xuất 12.321ha.
Riêng Tây Nguyên có 50 dự án với diện tích 8.162ha; Tây Bắc có 21 dự án, diện tích 2.794ha; khu vực Đông Bắc 40 dự án, diện tích 1.204ha; vùng Bắc Trung bộ 23 dự án, diện tích 4.532ha; Nam Trung bộ 17 dự án, diện tích 2.143ha; Đông Nam bộ 7 dự án, diện tích 953ha và vùng Tây Nam bộ 2 dự án, diện tích 5ha. (Hà Nội Mới 2/11)đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh trồng được 935 ha rừng tập trung; trong đó trồng rừng phòng hộ đặc dụng 175 ha và hỗ trợ trồng rừng sản xuất theo kế hoạch của tỉnh 760 ha và trồng được 03 triệu cây phân tán, tăng 150.000 cây so với cùng kỳ.
Các đơn vị nhận chăm sóc được 7.150 ha rừng trồng. Trong đó: rừng nguyên liệu giấy được chăm sóc 100 ha, diện tích rừng được chăm sóc theo kế hoạch của tỉnh 1.390 ha, diện tích rừng của các hộ cá thể 5.200 ha, tư nhân 210 ha, vốn đầu tư nước ngoài 250 ha. Diện tích rừng trồng được chăm sóc giảm so cùng kỳ là do năm nay hỗ trợ trồng rừng sản xuất cho các hộ cá thể giảm nên tổng diện tích rừng chăm sóc giảm.
Ngoài trồng và chăm sóc rừng, từ đầu năm đến nay gỗ và lâm sản được khai thác khoảng 16.350,7 m3, giảm 33,0 %. Trong đó: Khai thác chính 2.047,8m3, gỗ cành ngọn 120,9m3; Khai thác tận dụng gỗ rừng tự nhiên trên diện tích chuyển đổi trồng cao su, diện tích chuyển sang trồng rừng sản xuất 10.728,8m3 gỗ chính phẩm và 1.574,1m3 gỗ cành ngọn và gỗ nhỏ; Nhân dân tự khai thác làm nhà, đóng dụng cụ sinh hoạt và dùng vào các mục đích khác ước đạt 2.000 m3. Các lâm sản khác được khai thác như song mây ước đạt 41 tấn; tre, lồ ô đạt 120.000 cây; lượng củi khai thác 180.000 ster...
Nhìn chung, các lâm sản được khai thác từ rừng có xu hướng giảm dần do lượng lâm sản ở rừng giảm, một mặt do việc quản lý hoạt động khai thác, vận chuyển lâm sản của các đơn vị ngày càng hiệu quả nên đã hạn chế việc khai thác bừa bãi các sản phẩm từ rừng. (Theo Kontum.gov.vn 1/11)đầu trang(
Ngày 30.10, Ban Quản lý Dự án Phát triển ngành Lâm nghiệp tỉnh thuộc Sở NN-PTNT đã tổ chức Hội nghị sơ kết thực hiện Dự án trồng rừng WB3 do Ngân hàng Thế giới hỗ trợ vốn vay trên địa bàn toàn tỉnh.
Qua 8 năm triển khai, toàn tỉnh đã trồng được 13.229 ha rừng với 7.522 hộ tham gia trồng, số tiền giải ngân cho vay trồng rừng trên 110,68 tỉ đồng. Riêng trong 9 tháng đầu năm nay, các địa phương trong tỉnh đã trồng được 1.417 ha/2.000 ha kế hoạch trồng rừng năm 2012. Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh cũng đã tổ chức giải ngân cho vay ưu đãi trên 11,133 tỉ đồng cho người dân xử lý thực bì, mua cây con giống trồng rừng. (Nông Thôn Ngày Nay 1/11)đầu trang(
Bế chú voọc vừa tròn 2 tháng tuổi trên tay, Tilo Nadler-“ông bố” của những loài linh trưởng quý hiếm ở rừng quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình, chia sẻ: “Nếu không được bảo tồn, nguồn gen quý hiếm này đã bị ‘sát thủ thú rừng’ sát hại, lấy thịt, nấu cao...”
Với Tilo, 20 năm gần gũi với linh trưởng không phải để mang chúng về đất nước, càng không vì lấy thịt, bán buôn. Ngược lại, ông luôn xem chúng như thể những “đứa con” thân yêu của mình.
Không chỉ vậy, ông còn là người đầu tiên làm hồi sinh những loài linh trưởng tại Việt Nam mà thế giới từng cho rằng chúng sẽ tuyệt chủng. Rồi chính ông đã lăn lộn đi khắp thế giới xin kinh phí, để lập nên Trung tâm cứu hộ thú linh trưởng Cúc Phương (gồm voọc, khỉ và cu li).
Tilo Nadler năm nay đã ngoài 70 tuổi, song trông ông vẫn còn rất nhanh nhẹn, vạm vỡ, phong trần với vẻ gì đó rất “bụi bặm”.
Năm 1991, theo sự phân công của Trung tâm Zoologische Gesellschaft Franrfurt (Đức), Tilo đến Việt Nam tiến hành dự án nghiên cứu loài voọc mông trắng đã được báo cáo là tuyệt chủng ngoài tự nhiên, hiện chỉ có ở Việt Nam.
Sau gần một năm trời ròng rã tìm kiếm không có kết quả, tưởng chừng gã râu hùm sẽ bỏ cuộc, quay trở về nước. Nhưng, trước tiếng gọi văng vẳng của voọc, sự hấp dẫn của núi rừng Cúc Phương, đặc biệt là tình yêu với cô hướng dẫn viên du lịch người Việt, Tilo đã quyết định ở lại với núi rừng Cúc Phương và tiếp túc cuộc tìm kiếm nguồn gen quý hiếm.
Chị Nguyễn Thị Thu Hiền (vợ Tilo-PV) chia sẻ: “Sau một thời gian dài tìm kiếm, cuối cùng chúng tôi cũng ghi lại được hình ảnh con voọc mông trắng. Nhưng kèm theo đó là cảnh người ta nhốt voọc vào lồng, đem ra chợ cho người ta chọc tiết, ngã giá trên từng khúc thịt còn đỏ tươi. Thật tội nghiệp."
Tuy nhiên, sau phát hiện kịp thời của ông Tilo, các nhà khoa học quốc tế đã vào cuộc nghiên cứu. Hội Động vật Franrfurt ngay sau đó đã nhanh chóng đầu tư kinh phí và chuyên gia giúp Tilo đứng ra thành lập Trung tâm cứu hộ linh trưởng nguy cấp, quý hiếm tại Vườn quốc gia Cúc Phương (năm 1993).
Thu Hiền nhớ lại: “Thời điểm bấy giờ, nhiều người cho rằng việc làm của chúng tôi là điên khùng và không ít người nghi ngờ thiện chí bảo tồn loài voọc. Bởi họ sợ anh Tilo râu hùm, mắt xanh, mũi nhọn sẽ ủ mưu bắt hết voọc, khỉ của Việt Nam để mang về rừng Tây.”
Nhưng, gặp nhau ở tình yêu lớn lao dành cho linh trưởng, người dân bản địa cũng dần thấu hiểu tấm lòng của Tilo. Đó là ‘vị cứu tinh,” sẵn sàng chiến đấu một mất một còn với những kẻ săn bắn, để bảo vệ “đàn con,” của mình.
Thu Hiền kể rằng thời gian đầu mới đến Việt Nam, hễ ở đâu có tin báo vượn, voọc, khỉ, cu li bị xâm hại, Tilo lại lên đường. Có lần ông còn tự lái ôtô suốt từ sáng đến tối, vào tận Quảng Nam, chỉ để cứu một con chà vá bị thương.
Dọc đường, bị kiểm lâm kiểm tra, Tilo bế chú vọc trọng lượng 2kg, tanh tưởi máu mủ đau thương vì trúng bẫy trên tay, trong khi bản thân mình đứng dãi nắng nhưng vẫn không quên bẻ cành lá tươi xòe thành cái lọng xanh che cho “đứa con” tội nghiệp.
Với những hành động trên, từ nhiều năm nay Tilo luôn được xem là “thủ lĩnh” của 15 loài linh trưởng quý hiếm, nhất là 4 loài đặc hữu chỉ có ở Việt Nam, hiện đang chung sống tại Trung tâm Cứu hộ linh trưởng nguy cấp (Vườn quốc gia Cúc Phương).
Tuy nhiên, theo Thu Hiền thì phần lớn các loài linh trưởng ở đây đều đã và đang là nạn nhân của những vụ săn bắn, mua bán trái phép động vật hoang dã, đặc biệt nhiều linh trưởng khi được chuyển đến trong tình trạng sức khỏe rất yếu và mang trên mình nhiều thương tích.
Chính vì vậy, việc phục hồi các vết thương và giúp linh trưởng tái hòa nhập với môi trường tự nhiên là việc làm hết sức khó khăn.
Thu Hiền chia sẻ: “Mặc dù mục tiêu của chương trình chăm sóc là tái hòa nhập thú linh trưởng vào tự nhiên, nhưng với hiện trạng săn bắn, buôn bán động vật hoang dã đáng báo động như hiện nay thì chúng tôi vẫn cảm thấy rất lo lắng và bất an khi thả những nguồn gen vô cùng quý hiếm này về với tự nhiên."
Cũng như nỗi lo của vợ, nhưng điều mà Tilo trăn trở nhất có lẽ là kẽ hở của pháp luật, sự "vô cảm" của một số cán bộ kiểm lâm.
Ông cho hay: “Tôi rất muốn đưa ‘đàn con’ của tôi trở về với thiên nhiên, nhưng liệu nó có thể tồn tại được ở rừng bao lâu? Trong khi kẽ hở pháp luật còn rất lớn, tình trạng săn bắn thú rừng ngày càng tinh vi. Chưa kể, một số cán bộ kiểm lâm còn 'vô cảm' hay không làm tốt chức trách?”
Thở dài sau phút trải lòng, Tilo ngậm ngùi nhìn những “đứa con” đang giàn giụa nước mắt rồi hướng cái nhìn xa xăm về phía rừng xanh. (VietnamPlus.vn 2/11)đầu trang(
Sau gần nửa năm nằm “chết gí” trong kho bãi vì tắc đầu ra, hiện gỗ dăm tồn đọng của các nhà máy ở khu vực miền Trung đã được “phóng thích”. Khi đầu ra đã khai thông, gỗ dăm được thu mua mạnh trở lại và giá của nó cũng dần nhích lên.
Theo tính toán của ngành lâm nghiệp các địa phương trên địa bàn miền Trung, từ tháng 5 đến giữa tháng 9/2012, lượng gỗ dăm trong khu vực này bị tồn đọng khoảng 500.000 tấn khô (tương đương 1 triệu tấn tươi). Trong đó, riêng tại Bình Định bị “ứ” khoảng 200.000 tấn khô. Tại Quảng Ngãi, cũng chừng ấy gỗ dăm khô lâm cảnh “phơi mưa phơi nắng” suốt gần nửa năm trời.
Ông Nguyễn An Điềm, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định, giải thích nguyên nhân: “Từ quý 1 đến giữa quí 2 năm 2012, đầu ra của gỗ dăm XK ổn định. Từ đầu quí 3 trở về sau, khi cơn bão số 5 “ghé thăm” các địa phương thuộc miền Nam Trung Quốc, nhiều diện tích rừng trồng ở khu vực này bị ngã đổ. Vì vậy, Trung Quốc lập tức tạm dừng NK gỗ dăm để tận thu gỗ rừng trồng nội địa, nhằm giải quyết hậu quả cơn bão số 5 để lại. Theo đó, các nhà máy ở phía Nam Trung Quốc cắt hạn ngạch NK gỗ dăm. Gỗ dăm XK của Việt Nam lập tức lâm cảnh khốn đốn vì Trung Quốc là thị trường lớn tiêu thụ mặt hàng này”.
Khi gỗ dăm bị ứ đọng kéo dài, lập tức giá của nó cũng tuột dốc thảm hại. Từ 134 - 136 USD/tấn khô tuột dần xuống chỉ còn dưới 120 USD/tấn khô. Trong thời điểm này, nhiều DN không “gồng” nổi khoản lãi vay phải trả ngân hàng nên “bấm bụng” bán giá rẻ để giải quyết nợ nần. Ông Lê Văn Hồng, Tổng giám đốc PISICO Bình Định, cho biết: “Gỗ dăm thường tập kết thành đống ở ngoài trời. Đây là gỗ rừng trồng nên không thể chịu nổi nằm dài ngày ngoài mưa, nắng. Nếu DN nào có đủ “nội lực”, không cần phải bán tháo hàng để gỡ công nợ thì cũng không dám “găm” hàng vì sợ chúng mất chất lượng, đến khi bán được thì cũng không ai dám mua”. “Với giá bán dưới 120 USD/tấn gỗ dăm khô, các DN phải chấp nhận lỗ 7 - 8 USD/tấn. Trong thời điểm ế hàng, có khoảng 50% nhà máy băm dăm và DN kinh doanh gỗ dăm trong khu vực miền Trung phải chấp nhận bán tháo hàng để gỡ vốn”.
Trong thời điểm thị trường Trung Quốc “đóng cửa” đối với mặt hàng gỗ dăm, một số nhà máy ở phía Nam Trung Quốc còn duy trì thu mua thì ép giá “sát đất”, khiến nhiều DN chế biến gỗ dăm ở miền Trung không cam lòng, liền mở đường tìm kiếm thị trường mới. Nhờ đó, hiện nay mặt hàng gỗ dăm của các DN ở miền Trung đã có thêm nhiều bạn hàng mới ở Hàn Quốc và các tỉnh thuộc phía Bắc Trung Quốc. Từ giữa tháng 9 đến nay, lượng gỗ dăm tồn kho ở các tỉnh miền Trung cơ bản đã được tiêu thụ hết. Giá gỗ dăm cũng nhích dần lên từ dưới 120 USD/tấn khô, nay tăng 122 - 123 USD/tấn.
Theo đó, hiện nay nhiều nhà máy chế biến gỗ băm dăm trong khu vực đã triển khai đẩy mạnh việc thu mua gỗ rừng trồng. “Nước lên, thuyền lên”, gỗ dăm tăng giá, gỗ rừng trồng cũng bán được giá cao hơn. Nếu như cách đây 5 tháng, giá gỗ rừng trồng chỉ được thu mua chưa đến 900.000 đ/khối (tươi) thì nay đã tăng đến hơn 1 triệu đ/khối. Giá gỗ tăng, cửa rừng cũng được mở trở lại. Nếu như vào thời điểm gỗ rừng trồng mất giá, mặc dù đang trong thời tiết nắng ráo rất thuận lợi, nhưng người trồng rừng vẫn không khai thác. Bây giờ, mặc dù đang giữa mùa mưa bão nhưng người trồng rừng vẫn tiến hành khai thác những cánh rừng đến tuổi. “Trong thời gian giáp Tết Nguyên đán, chắc chắn hoạt động khai thác sẽ rầm rộ hơn, bởi lúc này thời tiết khô ráo thuận lợi cho thu hoạch, vả lại đây là thời điểm cần tiền tiêu Tết nên các chủ rừng sẽ khai thác mạnh.
Theo dự kiến, trong cuối quý 4 này giá gỗ dăm XK sẽ tăng đến 125 - 127 USD/tấn khô. Theo đó, giá gỗ rừng trồng cũng tăng theo, nên chắc chắn sản lượng khai thác tại các địa phương sẽ tăng mạnh. Hiện nay, năng suất bình quân của gỗ rừng trồng trong khu vực miền Trung là 80 tấn/ha, những diện tích thâm canh năng suất có thể đạt đến 100 tấn/ha”, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và lâm sản Bình Định, ông Nguyễn An Điềm, cho biết như vậy. Ông Võ Văn Cường, GĐ Cty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn, cho biết thêm: “Hiện Nhà máy chế biến dăm gỗ XK của công ty đang thu mua gỗ rừng trồng với giá từ 1.030.000 - 1.050.000 đ/tấn tươi. Với giá này, người trồng rừng sẽ có lãi ròng khoảng 10 triệu đồng/ha”.
Theo khuyến cáo của Bộ NN-PTNT, để các nhà máy chế biến gỗ dăm phát triển bền vững, ổn định, nhiều địa phương trong khu vực miền Trung đã có chủ trương từng bước hạn chế XK dăm khô. Nhiều DN trong khu vực đã chuyển hướng đầu tư chế biến sản phẩm mới từ nguyên liệu gỗ rừng trồng như SX viên gỗ nén để làm nhiên liệu, hoặc làm mùn cưa để “hóa giải” hóa chất tồn dư trong đất nhằm cải tạo đất SXNN. (Nông Nghiệp Việt Nam 1/11)đầu trang(
Sau 2 năm triển khai Dự án nuôi khảo nghiệm lợn rừng sinh sản do bà Trần Thị Hoa, thôn Kim Thành, xã Quang Kim, huyện Bát Xát (Lào Cai) làm chủ nhiệm, đã thành công với quy mô nuôi 4 con lợn đực giống trọng lượng 50 - 60 kg/con; 10 con lợn nái rừng Việt Nam lai nái rừng Thái Lan, trọng lượng 35 - 45 kg/con và 5 con nái giống lợn Mường Khương (Lào Cai) trọng lượng 40 - 45 kg/con thuần chủng để lai tạo.
Bà Hoa đã bán ra thị trường 700 kg lợn hơi với giá 200.000 đồng/kg; cung ứng cho người dân trong vùng được 110 con lợn giống đảm bảo chất lượng với giá từ 200.000 - 300.000 đồng/kg, con giống được người chăn nuôi đánh giá cao. Thu nhập từ dự án đạt gần 500 triệu đồng, trừ các chi phí còn lãi 80 triệu đồng. Bên cạnh đó, dự án còn đánh giá được tính thích nghi của lợn rừng theo từng chỉ tiêu cụ thể: tỷ lệ sống, tỷ lệ chết, tỷ lệ nhiễm bệnh, các chỉ tiêu về sinh sản, ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu...
Bà Hoa cho biết: Giống lợn được lai tạo không kén chọn thức ăn; cám gạo, bột sắn, bột ngô hoặc ngô hạt, thóc nghiền… chiếm khoảng 30% trong khẩu phần ăn, còn lại 70% là thức ăn thô, xanh, như cây chuối, bí đỏ. Qua quá trình khảo nghiệm mô hình cho thấy, quy trình kỹ thuật nuôi lợn rừng sinh sản không đòi hỏi kỹ thuật cao, không tốn kém thức ăn, ít bị bệnh, lợi nhuận thu được cao, thị trường tiềm năng. Việc lai tạo cũng đơn giản, chỉ cần lai lợn rừng bố thuần chủng với lợn nái địa phương thuần chủng là tạo ra con lai có chất lượng tốt, khả năng chống chịu bệnh cao, phục vụ nhu cầu con giống tại chỗ cho người chăn nuôi, hạn chế nhập con giống không rõ nguồn gốc, dễ phát sinh lây lan dịch bệnh và thiếu chủ động trong chăn nuôi.
Theo đánh giá của Hội đồng nghiệm thu, nuôi lợn rừng sinh sản là cơ hội góp phần cho người dân vùng cao xóa đói, giảm nghèo, nâng cao kinh tế gia đình. Việc nuôi được giống lợn rừng lai còn có tác dụng gìn giữ nguồn gen các giống lợn bản địa đang đứng trước tình trạng bị thoái hóa, hạn chế săn, bắt lợn rừng tự nhiên. Dự án được UBND tỉnh đánh giá cao và khuyến khích người dân tham gia nhân rộng trong các huyện vùng cao trong toàn tỉnh trong chương trình chuyển đổi vật nuôi cây trồng hướng tới nền nông nghiệp hàng hóa giá trị ngày càng cao.
Còn tại Cà Mau, hàng trăm cư dân ở vùng biển tỉnh Cà Mau có cuộc sống khấm khá, thu nhập cao từ mô hình nuôi thủy sản dưới tán rừng phòng hộ. Cư dân nuôi 1-2 vụ thủy sản/năm, chủ yếu là nuôi ốc len, sò huyết, vọp... cho thu nhập 50 triệu đến 300 triệu đồng/năm; chưa kể thu hoạch ba khía, cá kèo được sản sinh từ tự nhiên. Mỗi hộ dân được giao bình quân 3 ha đất rừng phòng hộ để nuôi thủy sản, phần lớn đều thả nuôi ốc len, vì thu hoạch đạt sản lượng rất cao từ 12-15 tấn/ha, thương lái đến tận nơi thu mua ốc len 55.000-65.000 đồng/kg; thời điểm thị trường khan hiếm, giá bán ốc len sẽ tăng cao hơn.
Ông Võ Trường Giang, Phó Chủ tịch UBND huyện Phú Tân cho biết: Huyện có 170 ha diện tích rừng phòng hộ giao cho dân nuôi thủy sản. Trong 3 năm qua, mô hình mang lại hiệu quả không chỉ về mặt kinh tế, góp phần giải quyết việc làm, ổn định đời sống cho cư dân vùng biển mà còn tích cực gìn giữ bảo vệ rừng, giảm số vụ chặt phá cây rừng trái phép. Huyện Phú Tân đã báo cáo hiệu quả mô hình này đến các ngành chức năng của tỉnh để tiếp tục nhân rộng.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau đang thực hiện thí điểm mô hình giao đất rừng phòng hộ cho dân nuôi thủy sản kết hợp với việc bảo vệ rừng. Hiện nay, tỉnh có diện tích nuôi thủy sản dưới tán rừng phòng hộ là gần 300 ha, tập trung ở các huyện Phú Tân, Trần Văn Thời và Ngọc Hiển. (Tin Tức 1/11)đầu trang(
Có những vựa thu mua ứng trước tiền cho thợ săn vào rừng tận diệt thú bán cho mình. Có đường dây còn xây cả hầm bí mật cất giấu thú rừng để qua mắt cơ quan chức năng.
Thú rừng đang bị tàn sát ở nhiều tỉnh thành, là đặc sản trên bàn nhậu trong nhà hàng, quán ăn. Điều đáng nói, nhiều loài thú quý hiếm được buôn bán công khai và ngang nhiên tồn tại trong một thời gian dài.
Phóng viên Tuổi Trẻ điều tra và phát hiện nhiều tay buôn bán thú rừng xây cả hầm bí mật cùng các kho chứa hàng ở các khu hẻo lánh để cất giấu thú rừng.
Theo điều tra của chúng tôi, một trong những lò thịt rừng hoạt động đình đám ở TP.HCM hiện nay là của ông Dương (trạc 40 tuổi). Ông Dương thuê mảnh đất trống có cổng rào rộng khoảng 100m2 trên hương lộ 3 (P.Bình Hưng Hòa, Q.Bình Tân) với giá 2 triệu đồng/tháng. Ở đây chứa đủ loại thú rừng, đáp ứng nhu cầu khách hàng ngày đêm tấp nập ra vào. Để tiếp thị, ông Dương còn ngang nhiên đưa cả thú rừng ra lề đường treo bán. Bên trên bàn, những con thú bị thắt cổ treo lủng lẳng cùng những thùng nhựa đựng rắn, lồng sắt nhốt heo rừng, chồn hương và vạc con nằm la liệt dưới đất.
17g ngày 17-10, có hai thanh niên vào mua thú, ông Dương nói thẳng: “Hàng rừng chỗ tôi gì cũng sẵn. Hiện đang có một số chồn hương, cheo và gấu chó con 6kg. Mua đây cũng được hoặc cứ điện thoại đặt hàng sẽ có người giao ngay. Độc như hổ, gấu con chỉ cần ít bữa là hàng về”. Nói xong, ông Dương nghe điện thoại rồi lấy xe máy chạy đi và xách hai con cheo đông lạnh về. Ông ta cho biết cheo đang hút hàng nên hôm nay bán hết chín con sống rồi.
Tùy vào tình trạng sống chết, sức khỏe của thú rừng mà ông Dương chia làm bốn loại: nằm (tức bị thương nặng), ngáp (bị thương nhẹ), đứng (khỏe mạnh) và hàng đông lạnh. Hàng đứng có giá cao nhất và được nhiều người chọn mua. Theo đó, giá dơi ngựa 450.000 đồng/con, chồn đèn 300.000 đồng/kg, chồn mướp 700.000 đồng/kg, chồn hương 900.000 đồng/kg, hổ mang chúa 1,8 triệu đồng/kg... Ông Dương nói: “Ở khu vực này tôi là vựa lớn, nhiều người cũng mua nhưng bị hốt hết rồi. Ông Tèo là một đầu nậu cung cấp thịt rừng trên đường này cũng bị bắt và đóng tiền phạt. Bọn nó không quen biết gì nên bị bắt hoài”.
Theo điều tra, ông Dương còn có một số mặt hàng thú rừng cực quý nhốt tại lò bí mật tận quận Tân Phú nhằm đề phòng lò thịt rừng ở hương lộ 3 bị kiểm tra đột xuất. Tại lò này đang có gấu chó rừng nặng 6kg, giá 23 triệu đồng/con. “Con này mới “tách sữa” nên vừa có thể làm kiểng vừa có giá trị ngâm rượu làm thuốc và nhất là mồi nhậu. Bộ lòng gấu nếu xào nấu đúng cách thì nhậu bao nhiêu cho đủ” - ông Dương cười nói.
Ông Dương quê ở huyện Cư M’Gar, Đắk Lắk, có thâm niên hơn chục năm buôn bán hàng động vật hoang dã tại TP.HCM. Nguồn hàng của ông ta khá phong phú, trong đó phần lớn có nguồn gốc từ mạn rừng Tây nguyên (chủ yếu Đắk Lắk), hàng do các tay săn thú đem từ khu rừng biên giới Campuchia về. Một số mặt hàng chim rừng cũng được ông Dương gom từ các thợ săn miền Tây mang lên.
Khi trở lại lần hai vào trưa 21-10, chúng tôi tiếp tục chứng kiến khách hàng tấp nập vào mua thịt rừng tại lò của ông Dương. Hàng chục con chồn hương, vạc, dúi, heo rừng được nhốt trong lồng sắt. Hôm nay, ông Dương tập kết thêm hai con mèo rừng, một con 4kg, một con 2kg với giá 450.000 đồng/kg. Sâu bên trong là các lồng sắt đựng vạc cũng như các thùng xốp đựng thịt rừng đông lạnh. Vừa ngồi xuống buôn chuyện, chúng tôi gặp ngay một thanh niên sà đến, bắt ba con vạc non với giá 200.000 đồng/con. Khách hàng của ông Dương ngoài vãng lai còn có khách ruột ở TP.HCM và cả Hà Nội. “Tui mới đóng thùng hàng mười con vạc và chồn gửi ra Hà Nội” - ông ta khoe.
Cuối tháng 10, chúng tôi ngược về Bình Phước để tiếp cận điểm mua thú rừng của ông Bình, một đầu nậu bán thú rừng lớn ở thị xã Đồng Xoài. Nơi tập kết hàng cũng là nhà ông Bình nằm ngay đường Nguyễn Huệ, P.Tân Thiện, thị xã Đồng Xoài. Những lồng thú được ông Bình bày đầy trên sàn sau nhà. Không những thế, ông Bình còn cho xây dựng cả một hầm bí mật để trữ các loài động vật rừng quý hiếm.
Cẩn trọng hơn, ông Bình còn bố trí ít nhất bốn camera quan sát: một được đặt trước hiên nhà, ba cái còn lại đặt xung quanh khu nhốt thú. Một hàng dài các lồng thú rừng được xếp lớp này nối lớp kia, bao quanh cả khu nhà rộng hơn 70m2. Những thùng sắt với hàng chục con dúi đang bị nhốt lúc nhúc kêu chin chít. Những con cheo hiền lành co rúm trong lồng sắt và có cả một con cheo bị đứt lìa chân, máu chảy thành vệt. “Nó mới bị đánh bẫy ngoài rừng mang về, chân còn nguyên máu” - người làm của ông Bình giải thích.
Được treo giữa nhà, phía trên hồ nuôi cá trê là lồng nhốt khỉ. Kế đó là những lồng nhốt chồn hương, chồn mướp. Ở góc nhà là gần mười bao rắn hổ mang đất, mang bành, rắn ráo trâu, hổ hành, hổ mang chúa... phun phè phè khi thấy người đến. Phía gần trong cùng là những lồng kỳ đà với hơn chục con. Có con kỳ đà nặng đến 5-6kg với cái mồm há hốc, lưỡi đỏ au thụt thè liên hồi. Phía sau cùng của nơi chứa thú có một cánh cổng lưới sắt B40 đóng kín dẫn ra sau để đi xuống hầm bí mật, nơi chứa những loại thú đặc biệt. Vờ tìm chỗ rửa mặt, chúng tôi đi ra, cầm cánh cổng lưới sắt toan mở thì một thanh niên mặt lầm lì chạy tới giữ chặt cánh cổng: “Anh đi đâu, không được xuống đó”.
Khi chúng tôi đến, có ba khách hàng đang mua thú rừng của ông Bình. Bà Hoa, vợ ông Bình, cùng ba thanh niên là người làm giới thiệu các loại thú rừng. Một thanh niên mặc áo sơmi trắng cho biết: “Đang kiếm vài con dúi về nhậu chơi”. Sau một hồi chọn lựa, người thanh niên lấy bốn con dúi rừng cân nặng 5,3kg. Riêng hai người đàn ông còn lại sau một hồi săm soi đã quyết định mua một con cheo nặng hơn 1kg với giá 320.000 đồng/kg.
Con cheo được người làm của ông Bình bắt ra khỏi lồng. Nó co rúm người trong bàn tay to bè của người thanh niên đang tiến về góc nhà. Rồi anh ta cầm con dao sắc nhọn cứa ngang cổ họng con vật. Con cheo mềm oặt, máu chảy ra từ cuống họng cùng hàng nước mắt rịn ra hai bên má. Người thanh niên xách con thú xuống cuối hành lang, bật vòi bình gas để khò đốt trụi lông. Và chỉ chưa đầy năm phút, lớp da con cheo lộ ra rám lửa vàng ươm, rướm mỡ. Anh ta đắc chí: “Quá thơm, con này nhậu bá cháy”.
Tại lò ông Bình có khá nhiều tủ lạnh loại lớn. Một tủ lạnh loại nằm để trên nhà dành chứa các loại thú rừng nhỏ như cheo, mễn, cúi, cầy, kỳ đà, rắn... đã làm sẵn. Còn loại tủ đứng chỉ dành làm lạnh thú nhỏ còn nguyên trạng để bịch nilông cùng các tảng thịt đã xẻ từ 1-3kg của thú lớn như nai, sơn dương, heo rừng... Riêng các loại đùi, đầu thú lớn thì ông Bình cho đàn em mang ướp riêng trong một tủ tại hầm bí mật nằm sâu phía sau nhà.
Sáng 25-10, chúng tôi trở lại lò ông Bình và bắt gặp nhiều xe của các tay săn thú dựng ngổn ngang trước cửa nhà. 9g40, một thanh niên đi xe Wave khệ nệ bê một thùng xốp lớn buộc vào xe chạy theo đường Nguyễn Huệ, sau đó quẹo trái lên đường Phú Riềng Đỏ. Tới hẻm 326, ấp 3, đường Phú Riềng Đỏ, P.Tân Xuân thì dừng lại giao khoảng 2kg thịt rừng cho một thanh niên khác. Tiếp đó, xe chạy về hướng ấp Tân Long, huyện Phú Giáo rồi đi tắt qua đập nước sông Bé vòng ra ngã ba Bến Trám, giao với quốc lộ 14C thì dừng lại. Tại đây, thanh niên này đưa số thịt thú rừng nặng hàng chục ký lên một ôtô 24 chỗ chờ sẵn để chở hàng về TP.HCM tiêu thụ.
9g ngày 25-10, hai người đàn ông đi ôtô bảy chỗ vào lò ông Bình, khệ nệ khiêng thùng xốp đựng thú để vào sau xe. Sau đó xe này chạy ra quốc lộ 14C rồi hướng về TP.HCM. Khoảng 16g40, một ôtô Ford sang trọng đỗ xịch trước nhà ông Bình. Hai người đàn ông và một phụ nữ xuống xe cầm túi đi vào. Sau khi đảo một vòng qua dãy lồng sắt nhốt các loại thú, một trong hai người đàn ông hỏi: “Còn đùi nai hay đùi heo rừng không?”.
Bà Hoa vồn vã: “Anh muốn lấy mấy đùi cũng có”. Chừng 10 phút sau, người làm của ông Bình xuống hầm bí mật vác lên hai đùi heo rừng loại lớn, một đùi nai khoảng 30kg, thả bịch xuống nền gạch bông nhớp nháp. Người phụ nữ trong nhóm tới các lồng sắt lựa thêm một số dúi, cheo, gà rừng còn sống và thịt cầy hương, mễn đã chết để trong tủ lạnh. Khách lựa xong, bà Hoa gom thú lên nhà trên tỉ mỉ cân từng loại rồi tính giá, lấy tiền. Chủ hàng cho biết thường tới tận lò thú rừng của ông Bình lấy hàng về bán tại quán thịt rừng của gia đình ở Lái Thiêu (Bình Dương).
16g50 cùng ngày, có hai thanh niên đi xe Dream mang bao lưới đựng một con chồn bị thương vào bán. Tiếp đó khoảng 20 phút, một người đàn ông đi xe tay ga mang 2kg thịt heo rừng, được chặt thành miếng tươi rói từ lò đi ra. Bà Hoa tay vừa đếm tiền vừa nói: “Tại đây từ 7g sáng tới 22g khuya mới “chốt lò” ngừng mua bán”. (Tuổi Trẻ 1/11)đầu trang(
Các đầu nậu mua bán cả gấu rừng, cọp con và học thuộc luật để biết mua bán loài nào bị phạt hành chính, loài nào bị xử lý hình sự.
“Hàng rừng mà đi “chính ngạch” là bị bắt giữ liền, tụi tui đi đường ruộng không hà. Loại này hở ra là bị tóm, đi tù như chơi” - một đầu nậu “có số má” trong thế giới thịt thú rừng không ngần ngại bày tỏ...
Ở khu vực biên giới Tây Ninh, Bình Phước có không ít đầu nậu thú rừng quy mô lớn. Từ đây, “hàng” được ngụy trang và vận chuyển về các lò thu mua trước khi ra với “thượng đế”.
Trưa 20-10, PV đi Tây Ninh để đến khu vực cửa khẩu Xa Mát (giáp biên giới Campuchia). Lúc này, một thợ săn rắn đánh hàng từ Campuchia về cho biết: “Dạo này công an quần nên phải rút vào hoạt động kín”. Theo chân một tay săn ở mạn biên giới Tây Ninh - Campuchia, chúng tôi đến nhà ông Bằng trên đường Nguyễn Văn Linh (thuộc thị trấn Tân Biên, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh).
Ông Bằng cho hay: “Mới thâu một rắn hổ chúa nửa ký bán giá 400.000 đồng. Rắn này chủ yếu ở rừng Campuchia do thợ săn đánh về, cỡ nào cũng có”. Ông Bằng dẫn chúng tôi ra phía sau nhà chất hàng chục cái lồng sắt đựng rắn long thừa và lôi ra túi lưới đựng rắn hổ mang chúa. Ông Bằng mở một lớp túi lưới ra, con rắn chúa đang cuộn mình bỗng cựa quậy, ngóc đầu lên, mang bè rộng, khè phì phì.
Ngày 25-10, PB tiếp cận điểm tập kết thú rừng của ông Chợt, một tay buôn động vật hoang dã ngụ ở đường Trung Mỹ Tây 2A (P.Trung Mỹ Tây, Q.12, TP.HCM). Ông Chợt cho biết hàng rừng tuy khan hiếm nhưng đối với khách quen thì thứ gì cũng có. Chỉ cần chốt giá cả hợp lý thì chỉ trong ngày giao hàng đến tận nơi. Hàng ông Chợt cung cấp khá phong phú: rắn chúa giá 1,8 triệu đồng/kg, chồn hương 1,3 triệu đồng/kg, gấu con sống hay chết đều có hàng nhưng giá khá cao.
Trước đó vào tháng 5-2012, ông Chợt đã mang một gấu rừng đông lạnh từ nơi ở đến quán cà phê gần ngã tư Trung Chánh (Hóc Môn) chào bán cho ông Phương, một đại gia may mặc ở quận 12. Theo điều tra, ông Chợt thường xuyên áp tải hàng rừng bằng xe Wave. Ông Chợt ôm một túi cói lớn đựng gấu rừng bước vào quán cà phê. Vừa gặp ông Phương, ông Chợt nói thẳng: “Loại này hở ra là bị tóm, đi tù như chơi”.
Ông Chợt lôi ra một con gấu con đông lạnh đang trong tư thế cuộn tròn, hai mắt nhắm nghiền. Ông vạch từng bộ phận của gấu con, rồi ra giá: “20 triệu đồng, chưa kể chi phí mua cồn, bình (loại 30 lít) và rượu. Cả thảy 21 triệu đồng”. Chỉ cần qua công đoạn mổ ruột dùng cồn rửa, ngâm trong ba ngày, sau đó tạo hình gấu con ngâm với rượu ngon trong tư thế gấu ngồi “chào đón” gia chủ. “Vết bị đạn bắn nằm bên trong bụng, khi rã đông sẽ nhìn rõ. Nhưng anh chỉ cần nhìn bàn chân bụ bẫm với móng sắc nhọn như vầy thì không thể là gấu nuôi nhốt được. Không chỉ có gấu rừng mà ngay cả cọp con còn sống hay chết đều có hàng” - ông Chợt khẳng định.
Theo tìm hiểu, ông Chợt có một lực lượng “săn hàng” khá đông ở mạn rừng bên lãnh thổ Campuchia. “Đa số gấu nhỏ được bắt sống nguyên con, còn loại gấu lớn thì bắn chết rồi mổ lấy mật và chặt tay tại chỗ” - ông Chợt cho hay. Loại thú rừng này sẽ được ông Chợt lén lút chuyển qua biên giới về Việt Nam. “Hàng rừng mà đi “chính ngạch” là bị bắt giữ liền, tụi tui đi đường ruộng không hà. Thú rừng ngày càng khan hiếm, trong đó gấu còn sống hiện đang được giới buôn đẩy lên cao, giá một cặp gấu con nặng 10kg/con không dưới 100 triệu đồng nhưng không đủ hàng cung cấp. Rất nhiều đại gia đặt tiền cọc để săn hàng thú rừng tươi sống và chỉ hai, ba ngày là tôi giao hàng cho họ” - ông Chợt vô tư kể.
Ngày 20-10, PV chạy xe máy gần 100km từ thị xã Đồng Xoài đến chợ Đắc Ơ (huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước, giáp ranh biên giới Campuchia).
Điểm thu mua thú rừng do bà Thương làm chủ nằm bên hông trái của chợ Đắc Ơ. Trước cửa nhà bà Thương có cả một bảng hiệu to đùng “Thương Hoài: thu mua nấm linh chi, sản vật rừng”. Bà Thương thường bắc ghế ngồi ngay trước hiên nhà. Khi được chúng tôi nói có người quen giới thiệu, bà Thương gọi người làm: “Xem chú này mua gì bán cho chú ấy”.
Men theo đường ximăng hẹp, chúng tôi ra phía sân sau nhà bà Thương với diện tích rộng khoảng 100m2. Rất nhiều thú rừng được cất giấu nơi đây. Lúc này có một người đàn ông nhìn dáng vẻ sang trọng đang mua hàng. Bà Hiện, một người làm của bà Thương, cầm chặt bao đựng chồn đập liên tiếp xuống nền nhà. Con chồn phụt máu chết ngay tại chỗ. Ngay sau đó người phụ nữ xách con chồn đến bên bình gas, bật lửa vào ống khò và đốt trụi lông để làm thịt.
Theo tìm hiểu, khu vực này có đến sáu điểm thu mua thú rừng. Để có hàng, bà Thương phải ứng tiền trước cho những tay săn bắt thú rừng để họ mua bẫy, đồ dùng, gạo nước... đi rừng. “Cứ mỗi nhóm đi rừng tôi ứng 1-3 triệu đồng. Có như thế khi có thú ngon họ mới để dành bán cho mình”. Thế nhưng cũng theo bà Thương, chỉ cần mua được một con thú quý hiếm đem từ rừng ra là sống khỏe bởi tiền lời luôn gấp đôi so với giá gốc.
Ngày 22-10, PV tiếp cận điểm thu mua thú rừng của bà Mai (gần ngã ba Tứ Quý, thôn 2, xã Lộc An, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng, cách TP Bảo Lộc 9km). Người dân sinh sống tại ngã ba Tứ Quý cho biết: quán Tường Vi của bà Mai nổi tiếng với các món nhậu thú rừng “độc”. 17g ngày 24-10, tại quán Tường Vi có ba ôtô cùng nhiều xe máy trờ tới quán thưởng thức đặc sản núi rừng. Chúng tôi quan sát thực đơn các thực khách gọi chỉ toàn các món heo rừng, cheo, dúi, nhím, rắn, gà rừng... với đầy đủ các món.
Ông Hùng, một thợ săn tại vùng rừng xã Lộc Bắc, cho biết ở Lâm Đồng vựa thu mua của bà Mai và Lập “thẹo” (đều ở xã Lộc An) là hai mối thu mua lớn nhất vùng. Các loại thú từ lớn tới bé đều được tay chân của hai “trùm” này mua trực tiếp của thợ săn về tiêu thụ. Theo điều tra, quán Tường Vi chỉ chứa một lượng nhỏ thú rừng như cheo, nai, nhím, chồn hương... được ướp sẵn trong ba tủ lạnh vừa đủ cho khách ăn nhậu trong ngày. Để tránh bị phát hiện, phòng khi bị bắt, bà Mai còn có hẳn một nhà riêng chuyên chứa thú rừng còn sống với số lượng lớn.
Khi được hỏi, người làm của bà Mai lôi trong tủ lạnh ra một con cheo nặng 1,2kg nói vừa mới giết còn tươi nguyên giá 400.000 đồng/kg. Trong tủ lạnh chứa đầy cheo, nhím, heo rừng... đã làm sẵn. Có khách hỏi mua thú sống ăn cho tươi, bà Mai giãi bày: “Chị bị bắt và kiểm tra hai lần rồi nên đề phòng, không dám để thú sống tại quán nữa...”.
Ngày 23-10, PV đến thị trấn Đạ Tẻh (thuộc huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng), điểm thu mua thú rừng lớn nhất khu vực này là ông Mãn, nằm trên đường 30-4. Đầu giờ chiều, hai đối tượng đi chiếc xe Wave màu đỏ đến nhập thú rừng. Tuy nhiên, điểm bán thú rừng của ông Mãn không cho người lạ mặt ra phía sau khu nhốt thú. Khách muốn mua loại nào ông Mãn và vợ sẽ vào trong nhà lấy ra cho khách coi. Ông Mãn cho biết: “Thích mua loại nào cứ nói, đây có chồn hương, cheo, kỳ đà... tất cả đều là đồ rừng. Đối với thịt heo, điểm của tôi không bán heo nuôi mà chỉ bán heo rừng”.
Theo điều tra, ở khu vực thị trấn Đạ Tẻh có khoảng chục điểm chuyên buôn bán thú rừng. Loại thú rừng này được săn bắt từ vườn quốc gia Cát Tiên. Sau khi bẫy được thú, các tay thợ săn thường mang ra điểm thu mua của ông Mãn bán.
Cách nhà ông Mãn khoảng 40m là điểm thu mua thú rừng của bà Năm. Chiều 23-10, PV tìm cách tiếp cận điểm buôn bán thú rừng của bà Năm. Lúc này bà Năm đang bán lại lô thú rừng cho một đối tượng chuyên buôn bán thú rừng dạo. Theo tìm hiểu, điểm thu mua thú rừng của bà Năm lớn không thua kém điểm của ông Mãn. Bà Năm còn mở cả quán nhậu Cây Dừa để tiêu thụ thú rừng.
Bà Năm cho hay: “Tôi phải tự mua sách về học thuộc loại thú nào thì có thể bị phạt hành chính, loại nào bị hình sự. Khi có mấy con nằm trong sách đỏ là tôi tìm khách nhậu đại gia bán ngay, không tàng trữ trong nhà”. (Tuổi Trẻ 2/11)đầu trang(
Chiều 1-11, ông Nguyễn Đình Cương, chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP.HCM, cho biết đang phối hợp cùng các cơ quan chức năng xác minh một số đối tượng liên quan trong phóng sự điều tra “Tận diệt thú rừng” .
Trước đó sáng cùng ngày, Chi cục Kiểm lâm TP.HCM đã phối hợp cùng các cơ quan chức năng thành lập đoàn liên ngành ập vào lò thú rừng trên hương lộ 3 (P.Bình Hưng Hòa, Q.Bình Tân) và lập biên bản bắt giữ một số thịt heo rừng, một con nhím, hai con kỳ tôm và rắn.
Cũng liên quan đến phóng sự điều tra của Tuổi Trẻ, cuối ngày 1-11, chủ tịch UBND thị xã Đồng Xoài (Bình Phước) Trần Văn Chung đã ký công văn hỏa tốc chỉ đạo trưởng công an thị xã, Đội quản lý thị trường số 6, trưởng phòng tài chính kế hoạch thị xã thẩm tra, xác minh, kiểm tra thông tin báo phản ánh về điểm mua bán thịt rừng của ông Bình ở đường Nguyễn Huệ, P.Tân Thiện, đồng thời có biện pháp xử lý nghiêm tình trạng mua bán thịt rừng trái phép trên địa bàn và báo cáo kết quả về UBND thị xã chậm nhất ngày 6/11. (Tuổi Trẻ 2/11)đầu trang(
Ngày 31.10, ông Võ Đình Chinh - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Kbang - cho biết: Từ đầu năm đến nay, kiểm lâm huyện đã bắt giữ gần 100 khối gỗ các loại cùng nhiều phương tiện của lâm tặc chuyên chở gỗ lậu. (Lao Động 1/11)đầu trang(
Gần đây, rừng phòng hộ khu vực đèo Măng Đen, H.Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum liên tục bị lâm tặc tàn phá.
Lợi dụng ban đêm hoặc ngày nghỉ, khi lực lượng bảo vệ rừng không tuần tra, lâm tặc lén lút vào rừng dùng cưa máy để đốn trộm gỗ. Đây là khu vực rừng phòng hộ xung yếu, có chức năng điều hòa nguồn nước đổ ra sông Đăk Bla và bảo vệ QL24 đoạn đi qua đèo. (Thanh Niên 1/11)đầu trang(
1-11, ông Trần Kiều Hưng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Cửa Cạn, cho biết ông đã nhận được quyết định đình chỉ chức vụ ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy và phó bí thư Thường trực Đảng ủy xã Cửa Cạn.
Lý do mà Ban Thường vụ Huyện ủy Phú Quốc ra quyết định với ông là căn cứ vào quyết định khởi tố bị can của công an đối với ông trước đó.
Ông Hưng bị khởi tố về hành vi chặt phá hơn 4.000 m2 đất rừng tại khu vực ấp 3, xã Cửa Cạn. Thời gian qua, trên địa bàn huyện Phú Quốc còn diễn ra nhiều vụ chặt phá cây rừng. Lãnh đạo UBND tỉnh Kiên Giang từng chỉ đạo kiểm tra... (Pháp Luật TPHCM 2/11; Sài Gòn Giải Phóng 2/11)đầu trang(
Ngày 31/10, TAND tỉnh Quảng Trị mở phiên tòa sơ thẩm xét xử Nguyễn Thị Lan Anh, 39 tuổi, quê quán Quảng Bình, nguyên Giám đốc Công ty cổ phần Thái Bảo (gọi tắt là Công ty Thái Bảo, trụ sở 253 Lê Duẩn, TP Đông Hà, Quảng Trị), về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
Theo hồ sơ điều tra, Công ty Thái Bảo hoạt động kinh doanh các lĩnh vực thương mại tổng hợp, xây dựng và xuất nhập khẩu; vay vốn tại nhiều tổ chức tín dụng và cá nhân. Trong đó, vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Công thương Việt Nam - Chi nhánh Quảng Trị tính đến ngày 19/7/2011 trên 39 tỉ đồng.
Đáng chú ý, tài sản cố định do Công ty Thái Bảo thế chấp tại ngân hàng chỉ 5,7 tỉ đồng, còn lại thế chấp bằng tài sản lưu động là gỗ có nguồn gốc nhập khẩu từ Lào. Trong quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng, Chi nhánh Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam tại Quảng Trị đồng ý cho Công ty Thái Bảo bán số gỗ thế chấp trên để ngân hàng thu hồi nợ và đã bán hơn 830m3 gỗ với số tiền gần 10 tỉ đồng, trả nợ ngân hàng này. Số gỗ còn lại là gần 2.000m3, được đảm bảo cho hơn 33 tỉ đồng còn nợ Chi nhánh Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam tại Quảng Trị, cất giữ tại 3 kho ở Quảng Trị; phía Ngân hàng quản lý các bộ hồ sơ gỗ nhập khẩu gốc trên để đảm bảo tài sản không bị thất thoát.
Tuy nhiên, do trước khi thế chấp gỗ để vay tiền, Cao Xuân Thiện (Chủ tịch HĐQT Công ty Thái Bảo, chồng của Nguyễn Thị Lan Anh) và Nguyễn Thị Lan Anh đã photo hồ sơ nhập khẩu gỗ với mục đích làm thủ tục xuất bán gỗ tồn kho. Sau này, hoạt động kinh doanh của công ty không đáp ứng được vốn nên Nguyễn Thị Lan Anh và chồng đã nảy sinh ý đồ bán số gỗ đã thế chấp tại ngân hàng. Thiện và Lan Anh sai nhân viên mang hồ sơ gỗ nhập khẩu đã photo trình Hạt Kiểm lâm huyện Triệu Phong và Đội Kiểm lâm cơ động thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị xin xác nhận việc nhập kho, xuất kho để bán cho các đối tượng có nhu cầu mua gỗ.
Ngày 18/7/2011, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Quảng Trị kiểm tra tài sản thế chấp tại kho hàng của Công ty Thái Bảo mới phát hiện phần lớn các lô gỗ thế chấp không còn trong kho, Thiện và Lan Anh bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Ngày 1/8/2011, cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Trị ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lan Anh và Thiện về hành vi "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Bị can Lan Anh sau đó ra đầu thú tại Công an Quảng Trị, còn Thiện hiện vẫn đang bỏ trốn. Sau đầu thú, Lan Anh và gia đình đã khắc phục hậu quả, nhưng số tiền còn nợ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Quảng Trị đến nay vẫn còn hơn 25 tỉ đồng.
Tại phiên tòa, ông Lê Văn Khiển, đại diện VKSND Quảng Trị đề nghị mức án đối với bị cáo Nguyễn Thị Lan Anh là từ 13 đến 15 năm tù. Song, sau khi xem xét các tình tiết giảm nhẹ, TAND tỉnh Quảng Trị đã tuyên phạt bị cáo Lan Anh 12 năm tù.
Đáng chú ý, tại phiên tòa, đại diện VKSND tỉnh Quảng Trị xác định: "Một số cán bộ thuộc đội Kiểm lâm cơ động - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị và Hạt Kiểm lâm huyện Triệu Phong đã có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ tiếp tay cho việc thực hiện hành vi bán tài sản (gỗ) đã thế chấp tại ngân hàng (Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Quảng Trị). Hiện tại, kết quả điều tra chưa đủ cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự đối với vai trò giúp sức của một số cán bộ kiểm lâm trên. Vì vậy, cơ quan CSĐT Công an Quảng Trị đang tiếp tục điều tra làm rõ"...(Công An Nhân Dân 2/11)đầu trang(
Việt Nam (VN) có đường biên giới dài và nối liền với những nước có sự đa dạng sinh học. Bà Naomi Doak, Trưởng đại diện Tổ chức Mạng lưới giám sát buôn bán động thực vật hoang dã trái phép (TRAFFIC) Đông Nam Á, nhận định: Điều đó, khiến việc chống buôn bán động vật hoang dã sẽ khó khăn hơn và tình hình nghiêm trọng hơn, dù VN là nước tiêu thụ hay trung chuyển.
Bà Naomi Doak cho biết: Một số nước đã trải qua giai đoạn tăng trưởng kinh tế rất nhanh và vẫn đang điều chỉnh để phù hợp với thành tựu đó. Nhưng một khi đạt mức thu nhập cao, họ không muốn "nhả ra" và cũng không muốn bị người khác nhìn thấy là mình đang mất đi những thành tựu đạt được.
Điều đó đúng cả ở cấp độ quốc gia và cá nhân. Điều đó cũng giải thích tại sao nhu cầu sừng tê giác vẫn gia tăng, bất chấp nhiều nỗ lực chống lại nạn săn trộm tê giác. Giới săn trộm ngày càng tinh vi, trang thiết bị ngày càng hiện đại, còn việc thực thi pháp luật vẫn đang phải đuổi theo họ.
Trong khi đó, các chính phủ vừa phải vật lộn với nhiều vấn đề do khủng hoảng kinh tế đặt ra, vừa phải chi tiền cho y tế, giáo dục, nên những vấn đề như trấn áp tội phạm trong lĩnh vực động thực vật hoang dã sẽ là một trong những mục đầu tiên cắt giảm ngân sách.
Với tôi, việc xác định Việt Nam là nước tiêu thụ hay trung chuyển là chi tiết quan trọng, giúp chúng ta cách giải quyết vấn đề, nhưng đó chỉ là một chi tiết.
Cuộc khủng hoảng liên quan tới tê giác, hổ hay một số loài đặc trưng của Việt Nam đang bị đe dọa đã vượt ra khỏi vấn đề trung chuyển hay tiêu thụ, điều đó liên quan tới trách nhiệm của mọi công dân.
Trước thực trạng đó, bà Naomi Doak khuyến nghị: Tăng cường thực thi luật pháp, một trong những lời khuyên mà tất cả các quốc gia đều có thể áp dụng, song các nước không có đủ nguồn lực.
Vì vậy, hợp tác ở cấp độ quốc gia, quốc tế, hợp tác với các tổ chức phi chính phủ trong việc xây dựng năng lực là rất cần thiết.
Ở đây, công chúng đóng vai trò quan trọng: Thông báo những vụ việc họ biết, hỗ trợ thực thi chính sách, xử lý nhu cầu với các loài động vật hoang dã.
Đây không phải là chuyện Chính phủ VN hay bất cứ chính phủ nào khác có thể tự giải quyết một mình. (Doanh Nhân Sài Gòn 2/11)đầu trang(
Chiều 31.10, tại gươl thôn A Đền xã Ma Cooih (Đông Giang), Công an huyện đã đưa ra kiểm điểm trước toàn dân đối với 27 đối tượng có hành vi hủy hoại rừng phòng hộ thủy điện A Vương.
Theo đó, vào tháng 5.2012, 27 đối tượng là người Cơ Tu trú tại hai khu tái định cư Pachepalanh và Cutchơrun (xã Ma Cooih) đã tự ý vào rừng phòng hộ thủy điện A Vương để phát rừng làm nương rẫy, với tổng diện tích rừng thiệt hại là 13,6ha. Trong đó có 21 hộ đã vi phạm điểm B, khoản 3, điều 189 Bộ luật Hình sự về hành vi “hủy hoại rừng”, với mức xử phạt từ 7 - 15 năm tù giam; 6 đối tượng còn lại vi phạm pháp luật hành chính theo quy định tại điều 17 Nghị định số 99 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực lâm sản, với mức phạt từ 20 - 30 triệu đồng và buộc các đối tượng trồng lại rừng do hành vi phá rừng trái phép.
Tuy nhiên, 27 đối tượng đều có nhân thân tốt, gia đình nghèo, gia đình chính sách, chưa có tiền án tiền sự, trình độ nhận thức pháp luật kém, vi phạm lần đầu. Mục đích vi phạm của các đối tượng chủ yếu là để làm rẫy, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, không phải lấy gỗ... Ngoài ra, việc người dân phá rừng còn do các cơ quan chức năng chưa bố trí đủ đất sản xuất nông nghiệp cho dân khi thực hiện tái định cư thủy điện A Vương; các cơ quan chủ rừng, kiểm lâm địa bàn thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, ngăn chặn các vụ phá rừng làm rẫy của người dân ngay từ đầu...
Từ những căn cứ nêu trên, các cấp ngành liên quan của huyện và tỉnh thống nhất chủ trương không xử lý hình sự cũng như xử lý hành chính đối với các đối tượng, chuyển sang xử lý bằng hình thức tổ chức kiểm điểm trước toàn thể nhân dân, yêu cầu 27 đối tượng ký cam kết không tái phạm.
Dịp này, lãnh đạo huyện Đông Giang cũng đã đề ra những giải pháp để giúp người dân ổn định cuộc sống, trong đó có bố trí đất sản xuất, quy hoạch cây trồng con vật nuôi, chính sách hỗ trợ thỏa đáng cho người dân hai khu tái định cư. (Báo Quảng Nam 2/11)đầu trang(
Gần đây, các tiểu khu 519, 520, 521, 522 thuộc rừng phòng hộ khu vực đèo Măng Đen, huyện Kon Rẫy liên tục bị người dân tàn phá. Vào thời điểm cuối tháng 10/2012, ghi nhận tại hiện trường cho thấy, cây rừng bị cưa hạ ngổn ngang, đốt cháy nham nhở.
Ông Nguyễn Văn Thanh, Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ Kon Rẫy bức xúc, lợi dụng ban đêm hoặc ngày nghỉ, khi lực lượng bảo vệ rừng không tuần tra, các đối tượng "lâm tặc" lén lút vào rừng dùng cưa máy cắt cây. Ban Quản lý rừng phòng hộ Kon Rẫy phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Kon Rẫy đã phát hiện và xử lý 12 vụ phá 6,351ha rừng làm rẫy trái phép; xử phạt hành chính 8 vụ, với số tiền 185 triệu đồng; khởi tố 4 vụ.
Rừng Măng Đen là khu vực rừng phòng hộ xung yếu, có chức năng điều hòa nguồn nước đổ ra sông Đắk Bla và bảo vệ quốc lộ 24, đoạn đi qua đèo Măng Đen. Do đất rừng phòng hộ khu vực đèo rất tốt, còn nguyên sơ nên người dân phá rừng trơ trụi để làm rẫy, trồng bắp, mì... Các ngành chức năng tỉnh Kon Tum cần xử lý nghiêm các đối tượng phá rừng, đồng thời tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân tại chỗ về công tác quản lý và bảo vệ rừng, tránh tình trạng rừng phòng hộ đèo Măng Đen "biến mất" trong nay mai. (Thanh Tra 2/11)đầu trang(
Việc khai thác, chế biến lâm sản ngoài gỗ (lâm sản phụ) tuy không bị pháp luật cấm nhưng nếu khai thác quá mức sẽ gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng, xói mòn đất.
Những ngày nông nhàn, người dân xã Phong Minh (Lục Ngạn, Bắc Giang) thường rủ nhau vào rừng khai thác lâm sản ngoài gỗ về sơ chế và bán cho cơ sở thu mua. Mùa nào thức nấy, hễ thương lái đặt hàng loại nào, bà con đều lên rừng tìm bằng được, kể cả những loại cây không ai biết rõ mục đích thu mua để làm gì.
Hỏi về chuyện thu mua gốc sim rộ lên trong thời gian qua, chị Lĩnh và những người dân thôn Cả cho biết, ở Phong Minh vốn không có nhiều cây sim nhưng khi có tin thương lái thu mua gốc sim, bà con kéo nhau đi đào. Hiện nay trên núi không còn sim nữa, thương lái cũng đã đi địa bàn khác thu mua. Hết sim, người dân quay sang khai thác chè rừng. Nghe nói chè rừng có tác dụng chữa bệnh, được mua với giá cao (khoảng 8.000 đồng/kg tươi) nên bà con lại đổ xô đi "săn". Khai thác hết cây to, người dân chuyển sang đánh cả gốc cây con, người thì bán ngay khi ra khỏi rừng, người mang về trồng làm giống nên giờ đây đi cả ngày chưa chắc đã kiếm được mấy lá chè rừng.
Trao đổi với bà Nguyễn Thị Kho, Chủ tịch UBND xã Phong Minh, được biết xã có gần 1.300 ha rừng các loại. Do đã giao rừng về các hộ dân và pháp luật không cấm việc khai thác lâm sản phụ nên xã rất khó quản lý. Thời gian gần đây, thương lái đến đặt điểm thu mua cây thừng mực, bổ máu, xấu hổ, gốc sim... và đặc biệt là hoa chè rừng (giá rất cao từ 800 nghìn đến hơn 1 triệu đồng/kg hoa chè rừng) nên người dân ồ ạt đi khai thác. Một số loài cây trước đây có nhiều, nay gần như không còn tìm thấy trên rừng tự nhiên. Để ngăn chặn, UBND xã Phong Minh thường xuyên phối hợp với lực lượng kiểm lâm, công an kiểm tra, phát hiện và xử lý các trường hợp vi phạm. Từ đầu năm đến nay, UBND xã xử phạt hành chính một vụ với mức 2 triệu đồng và nhắc nhở một trường hợp khác do thu mua, vận chuyển lâm sản phụ không đầy đủ giấy tờ.
Ông Vi Văn Hùng, cán bộ pháp chế Hạt Kiểm lâm Lục Ngạn cho biết, tình trạng khai thác lâm sản phụ quá mức gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cân bằng hệ sinh thái rừng. Hầu hết những lâm sản phụ được khai thác nhiều trong thời gian qua là các loài cây bụi, có tác dụng giữ đất, chống rửa trôi, hình thành thảm thực vật phong phú dưới tán rừng. Nếu tiếp tục bị khai thác theo kiểu đánh cả gốc, "tận diệt" như thời gian qua, chẳng mấy chốc lớp đất dinh dưỡng trên bề mặt sẽ bị cuốn trôi, cây rừng theo đó cũng không tồn tại được.
Với chức năng, nhiệm vụ được giao, lực lượng kiểm lâm huyện phối hợp chặt chẽ với chính quyền các xã, thị trấn tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức bảo vệ rừng. Tham mưu với chính quyền các cấp xử lý các trường hợp vi phạm, tuy nhiên do vướng về "khung" pháp lý, các quy định của pháp luật hiện nay chưa cấm việc khai thác, chế biến và vận chuyển lâm sản phụ, nên khó ngăn cấm tình trạng này.
Được biết, rên địa bàn tỉnh hiện nay, việc khai thác lâm sản phụ diễn ra khá phổ biến - Ông Hà Minh Quý, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm (Sở NN&PTNT) cho biết, vì lợi ích trước mắt, nhiều người dân ở các xã miền núi tự ý khai thác, sơ chế và vận chuyển các loại lâm sản phụ. Nhưng khó khăn lớn nhất hiện nay của lực lượng kiểm lâm là thiếu các quy định, chế tài điều chỉnh vấn đề này, dẫn đến phá vỡ cân bằng sinh thái rừng, về lâu dài sẽ ảnh hưởng không tốt cho rừng và đất lâm nghiệp.
Do hầu hết diện tích rừng và đất lâm nghiệp hiện nay đã được giao về các hộ dân nên trách nhiệm bảo vệ, quản lý và khai thác lâm sản ngoài gỗ trước hết phải do các chủ rừng. Vì vậy, Chi cục Kiểm lâm thường xuyên tổ chức các đợt tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao ý thức bảo vệ rừng cho nhân dân trong đó tập trung vào đối tượng là các chủ rừng. (Báo Bắc Giang 31/10)đầu trang(
Ngày 31/10, Phòng Cảnh sát PCTP về môi trường, Công an tỉnh Đồng Tháp cho biết, vừa phối hợp với Chi cục kiểm lâm tỉnh Đồng Tháp kiểm tra, phát hiện một cơ sở nuôi chứa động vật hoang dã không có có trong thủ tục đăng ký gây nuôi do ngành chức năng cấp phép tại ấp An Lạc (xã An Bình, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp).
Tại thời điểm kiểm tra, Đoàn phát hiện tại cơ sở này có nuôi, chứa số lượng động vật hoang dã, gồm: 123 kg rắn ráo thường (rắn lãi), 78 kg rắn sọc dưa (hổ ngựa), 22 kg rắn ri cá và 48 con chim cu. Đối tượng Nguyễn Trung Dũng, chủ cơ sở thừa nhận: 23 kg rắn ráo và 48 con chim cu không có trong thủ tục đăng ký gây nuôi được cấp phép.
Đoàn kiểm tra đã lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, xử lý theo quy định. (Công An Nhân Dân 1/11)đầu trang(
Thời gian qua, tình hình khai thác, vận chuyển và buôn bán lâm sản trái phép vẫn đang diễn biến rất phức tạp trên địa bàn huyện Ninh Sơn. Với quyết tâm cao, huyện Ninh Sơn đã và đang tập trung quyết liệt, triển khai đồng loạt các biện pháp phòng, chống phá rừng tại địa phương.
Để thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống phá rừng, ngay từ đầu năm 2012 huyện đã chủ động xây dựng kế hoạch, huy động các ban, ngành liên quan cùng phối hợp với lực lượng Kiểm lâm triển khai tích cực và thường xuyên tổ chức truy quét dọc các tuyến đường trọng yếu; các vùng giáp ranh, trọng điểm; kiểm tra liên ngành các cơ sở kinh doanh, chế biển lâm sản; lập danh sách các đối tượng sử dụng xe “độ chế” vận chuyển lâm sản trên địa bàn huyện tiến hành ký cam kết và xử lý nghiêm nếu vi phạm...
Theo báo cáo của Hạt Kiểm lâm Ninh Sơn, từ đầu năm đến nay đơn vị đã phát hiện, xử lý và tham mưu cho UBND huyện xử lý hành chính trên 290 vụ vi phạm lâm luật, tăng hơn 100 vụ so với năm trước; tịch thu gần 100 m³ gỗ các loại, trong đó có hơn 22 m³ gỗ nhóm I, thu giữ hơn 70 xe mô-tô, xe máy độ chế…thu nộp ngân sách trên 1,1 tỷ đồng. (Báo Ninh Thuận 2/11)đầu trang(
Nhiều người dân ở huyện Krông Năng (Đắk Lắk) đang đổ xô vào các khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng khai thác một loại gỗ trước đây chưa từng được biết đến.
Kể cả kiểm lâm cũng không biết đó là gỗ gì, chỉ biết nó rất quý do đặc tính... tự thay đổi màu sắc. Cũng do vậy, loại cây “kỳ diệu” này đang bị khai thác bức tử, có nguy cơ tuyệt diệt trước khi cơ quan quản lý và các nhà khoa học kịp am tường về nó.
Ông T - chủ DNTN D.Th - ở thôn Tam Phong, xã Ea Tam là người đang sở hữu 4 tác phẩm mỹ nghệ được làm từ cây “đổi màu”, thuộc loại... to hết cỡ. Đó là cặp lục bình có đường kính 40cm, cao 1,2m; một tượng phật Di Lặc và một tượng phật Quan Thế Âm Bồ Tát với kích thước tương tự. Cả bốn tác phẩm đều có vân gỗ đẹp như gỗ thủy tùng, mịn như gỗ trắc, đặc biệt là có nhiều màu sắc khác nhau.
Đúng như ông T đã nói trước, trên chiếc lục bình có chỗ màu trắng, chỗ màu xanh đậm, màu hồng, màu tím... Chiếc còn lại thì chỉ có màu nâu đậm và màu đen sẫm, được giải thích là do để trong bóng tối lâu ngày. Chỉ cần đem ra chỗ sáng vài ngày, tự khắc nó đổi qua những màu khác, như cái lục bình thứ nhất.
Ông T cho biết, cách đây khoảng 2 tháng, có người đem bốn khúc gỗ đến nài nỉ ông mua với giá 8,5 triệu đồng để tiện lục bình, ông sợ nứt nên chê. Một tuần sau ông nghĩ mình... nhiều tiền, nứt thì bỏ, mấy triệu bạc có gì mà tiếc. Vậy là ông mua, rồi thuê thợ giỏi tay nghề chế tác ra “hàng độc”, để khách đến nhà thèm chơi. Sau này ông T mới biết, bốn khúc gỗ “đổi màu” của ông thuộc loại to nhất, được nhiều lâm tặc trong vùng xác nhận. “Vừa rồi có người trả cặp lục bình 30 triệu, tôi chỉ cho xem, bao nhiêu tiền cũng không bán” - ông T sung sướng nói.
Theo giới thiệu của một người quen, tôi đến xưởng gỗ của ông Dũng ở xã Cư K’lông - nơi có thể mua được các món đồ gỗ tự đổi màu. Ông Dũng cho biết: “Khi mới chế tác, các món đồ này cũng như gỗ thường, để khoảng một tuần thì chuyển sang màu xanh gốm, xanh ngọc, màu hồng tùy theo ánh sáng tương tác... Bởi vậy nếu muốn thay đổi màu sắc, chỉ cần thay đổi vị trí là được”.
Nhưng giá bán khá đắt, một chiếc lục bình bằng lọ hoa 2 triệu đồng, bằng ly bia 3 triệu, loại đường kính một gang tay trở lên thì giá cả tùy thuộc vào... sự thèm muốn của người mua. “Hàng đẹp, màu sắc biến hóa kỳ diệu, nhưng chúng tôi cần loại to hơn” - tôi gợi ý. Ông Dũng dẫn tôi đến một quán càphê gần UBND xã Cư K’lông, lấy ra một cặp lục bình cao 1m, đường kính gần 40cm nhưng nói có người mua rồi. Còn một chiếc nữa, lại có ông Trưởng phòng Tài nguyên - Môi trường huyện dặn rồi. “Dẫn chú đi xem cho biết thôi, nếu muốn lấy thì tuần sau chú quay lại” - ông Dũng nói.
Ông Nguyễn Văn Thắng - Chủ tịch UBND xã Cư K’lông - cho biết: “Xưởng mộc của ông Dũng chưa được cấp phép, kiểm lâm huyện mới về tịch thu hơn một mét khối gỗ “đổi màu” loại to, nhưng gỗ nhỏ thì vẫn còn nhiều”. Cũng theo ông Thắng, rừng ở xã Cư K’lông không có cây “đổi màu”, nhưng người dân đang tàng trữ khá nhiều, nghe đâu bên rừng Ea Sô đưa về.
Từ một nguồn tin ở Cư K’lông, chúng tôi quay lại xã Ea Tam tìm quán càphê C.C.T.E và được ông chủ quán cho xem 9 khúc gỗ “đổi màu” chưa chế tác, mỗi khúc có đường kính 25cm, dài khoảng 1,5m. Do chỗ quen giới thiệu, tôi được ông chủ quán đồng ý “để lại” 2 khúc, mỗi khúc 1,4 triệu đồng chứ không bán hết. Với giá này, mỗi khối gỗ “đổi màu” mua tận gốc khoảng 40 triệu đồng, còn vận chuyển đi nơi khác thì... vô giá.
Ông chủ này cho biết: “Cách đây khoảng hai tháng, một số người trong xã đi rừng phát hiện cây đổi màu, sau đó dân các xã khác cũng đổ xô đi khai thác. Bây giờ hết rồi, có tiền chưa chắc mua được”. Hỏi khu rừng đó ở đâu, ông nói: “Cái đó là bí mật của những người trong nghề, dù còn gỗ hay không cũng không tiết lộ”. Thấy tôi thất vọng, nguồn tin nói chịu khó đi xa, đến xã Ea Tóh hỏi anh L.Gấu. Anh L.Gấu nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi nói bằng giọng Nghệ: “Bọn anh chỉ bán đòn tay, xà gồ”. Nhờ chỉ giúp người bán gỗ này, anh cũng ngắn gọn: “Không biết, có thấy ai mua bán gì đâu”. Về, nguồn tin trách tôi không khéo hỏi, anh L.Gấu là đầu mối gỗ “đổi màu” lớn nhất ở huyện này.
Ông Nguyễn Văn Kiểm - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Krông Năng - cho biết, hiện cơ quan chức năng cũng chưa biết gỗ “đổi màu” là cây gì. Do không thấy có trong nhóm gỗ quý hiếm nên chỉ bắt, phạt như gỗ tạp (nhóm V). Trong tháng 9 và tháng 10, Hạt Kiểm lâm đã phát hiện 10 trường hợp vận chuyển, mua bán, tàng trữ gỗ “đổi màu” và tịch thu toàn bộ tang vật, phạt mỗi trường hợp 6,5 triệu đồng. Vụ lớn nhất là phát hiện 1,195m3 trên đất của ông Dũng làm gỗ ở xã Cư K’lông, nhưng ông này không nhận nên xử lý giống như gỗ vô chủ.
Trước đây hạt có cho người vi phạm mua lại tang vật theo giá gỗ tạp do UBND tỉnh quy định, khoảng 1,9 triệu đồng/m3, sau đó sợ bị lợi dụng nên không cho mua lại nữa. Về xuất xứ của cây này, ông Kiểm cho rằng người dân huyện Krông Năng khai thác trái phép từ Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô thuộc địa bàn huyện Ea Kar, vận chuyển về huyện qua lâm phần Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng. Vì vậy ban này có trách nhiệm do để gỗ lậu đi qua.
“Trong báo cáo gửi Chi cục Kiểm lâm tỉnh ngày 30.10, tôi cũng nói tình trạng vận chuyển gỗ “đổi màu” từ Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô về huyện Krông Năng là có. Chúng tôi cũng đã nhiều lần làm việc, có ý kiến với Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng để ngăn chặn gỗ lậu đi qua, nhưng hoạt động của các trạm bảo vệ rừng thuộc ban này rất kém” - ông Kiểm nói.
Tại huyện Ea Kar, lãnh đạo Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô cho biết qua nắm tình hình bên huyện Krông Năng, lực lượng kiểm lâm Ea Sô ghi nhận có vận chuyển, tàng trữ, mua bán gỗ “đổi màu”. Trong rừng đặc dụng Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, chỗ có gỗ “đổi màu” được xác định là tiểu khu 6xx. Tiểu khu này do Trạm kiểm lâm số 3 quản lý, từ trạm không có đường vào, kiểm lâm phải leo núi 6 tiếng đồng hồ nên rất khó bảo vệ. Mặt khác, khu vực này giáp với lâm phần Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng, hai bên lại tương đồng về hệ sinh thái nên chưa thể khẳng định lâm tặc khai thác cây “đổi màu” trong rừng của bên nào.
Theo một kiểm lâm viên Ea Sô, ngoài tên gọi “đổi màu” hoặc “kỳ đà” để chỉ tính chất thay đổi màu sắc, cây này còn được gọi với nhiều tên khác theo đặc điểm bên ngoài như trắc tía, cẩm tía, bách xanh... Kiểm lâm viên này cũng cho biết đã nhìn thấy cây “đổi màu” ở tiểu khu 6xx, cây to nhất có đường kính khoảng 40cm. Ông Lê Đắc Ý - Giám đốc Ban quản lý dự án Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô – nhận định: “Về mặt nguyên tắc, khi chưa biết đó là cây gì thì không thể nói là gỗ tạp, nhóm V hay nhóm VI được. Chúng tôi chưa khẳng định cây này quý hay không, nhưng nó rất hiếm vì chỉ vùng rừng giáp ranh huyện Ea Kar với huyện Krông Năng mới có. Khả năng đổi màu của nó cũng là thật, có thể do cảm ứng nhiệt hay cảm ứng ánh sáng gì đó”.
Ông Ý cũng thông tin, sau khi có tình trạng khai thác gỗ “đổi màu”, lãnh đạo Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô đã cử một tổ kiểm lâm đến tiểu khu 6xx để khảo sát, tổ chức bảo vệ. Tổ công tác này cũng được giao nhiệm vụ lấy mẫu gửi Trường Đại học Tây Nguyên để xác định đó là cây gì. Nhưng theo ông Ý, muốn giám định phải có đủ mẫu vật của hoa, lá, quả, cành nên không thể tiến hành một lần được. Đó là chưa kể khả năng giám định của Trường Đại học Tây Nguyên, nếu không được thì phải gửi đến các viện khoa học.
Còn ông Dũng - chủ xưởng gỗ “đổi màu” ở xã Cư K’lông - thì nói dân làm gỗ mới tìm được một khu vực khoảng 0,5ha trong rừng đặc dụng Ea Sô có cây này, mật độ tương đối dày, nhưng bây giờ cái rễ cũng không còn. Ông này bán gỗ, có thể nói quá lên để bán được giá cao. Hy vọng cây “đổi màu” trong rừng đặc dụng Ea Sô và rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng vẫn chưa tuyệt diệt.
Thạc sĩ Nguyễn Đức Định - giảng viên thực vật học, khoa Nông lâm Trường Đại học Tây Nguyên - nói: Thực tế cho thấy, khi thị trường có nhu cầu cao về một loại gỗ rừng, loài cây đó sẽ có nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên như chuyện xảy ra với cây thủy tùng, cây kơ nia. Trước hiện tượng khai thác cây “đổi màu”, cơ quan chức năng và các nhà khoa học cần có đánh giá đầy đủ về nó, bao gồm việc xác định loài, giá trị, vùng phân bổ, mật độ cây... Nếu cây “đổi màu” là loài thực vật quý, hiếm thì cần phải có phương án bảo tồn lâu dài. Giả thiết đây là gỗ tạp thì việc khai thác tận diệt cũng sẽ ảnh hưởng đến đa dạng sinh học. (Lao Động 2/11)đầu trang(
Thú chơi của đại gia Việt không dừng lại ở việc nuôi chó dữ mà còn thể hiện ở việc sở hữu nhiều động vật hoang dã quý hiếm.
Thời gian gần đây, dân nuôi chó cảnh có máu mặt ở Hà Nội, TP.HCM đua nhau săn lùng giống chó dữ làm vật nuôi và phòng thân. Nhiều đại gia khác còn đầu tư khoản tiền lớn để nuôi hổ, gấu để khẳng định đẳng cấp. Vấn đề đáng lo ngại là hiện nay khung pháp lý về vấn đề này chưa thực sự chặt chẽ. Một số đối tượng đã manh nha lợi dụng những kẽ hở về pháp lý để phục vụ cho những mục đích cá nhân đen tối. Bên cạnh đó, những thú dữ nuôi tại gia này luôn tiềm ẩn nguy cơ xổng chuồng gây hại.
Hải Đồng, một dân chơi chó cảnh lâu năm ở đất Hà thành vừa đưa chúng tôi đi thăm những con chó mới tậu về đang nhốt trong lồng sắt ở góc vườn vừa kể: Hiện nay những người thích chơi chó cảnh chuộng nhất ngao Tây Tạng và Pitbull. Đây là những con chó hung dữ, rất đắt tiền - có khi lên tới hàng trăm triệu đồng.
Đồng cho biết, hiện trên toàn quốc có chừng 300 con chó ngao Tây Tạng và hơn 350 con Pit Bull, chủ yếu tập trung ở miền Bắc. Đáng nói nhất phải kể đến giống chó Pit Bull - giống chó được mệnh danh là "sát thủ máu lạnh". Pit Bull nổi tiếng bởi khả năng chiến đấu "giáp lá cà", kiên cường, không chịu đầu hàng, là dũng sĩ của những loài chó, được xếp ngang hàng với cả chó sói xám, linh cẩu, khỉ đột lưng bạc, trâu rừng châu Phi, sư tử... Giống chó Pit Bull được nhiều dân chơi chó săn lùng và đặt biệt danh là chó chiến binh. Điều đáng nói, khi đã lâm trận, loài chó này còn "cuồng" hơn cả chó điên.
Phạm Huy Hoàng (Quảng Ninh), một du học sinh từng học chuyên ngành điện tử và công nghiệp tại Hàn Quốc, cũng là một tay chơi chó ngao có hạng. Huy Hoàng cho biết đã nhân giống thành công hai lứa chó ngao Tây Tạng. Một trong những nguồn cung cấp chó cho trang trại của Huy Hoàng chính là các chợ chó ở Trung Quốc (Nam Ninh, Quảng Châu, Bắc Kinh).
Kể về một con chó ngao từng nuôi, Huy Hoàng tâm sự: "Khi bán ở Trung Quốc, người ta đã nói nó là một con chó ngao rất hung dữ. Khi chuyển về Việt Nam, người ta trừng phạt nó bằng cách cho nằm trong chiếc cũi có chiều cao thấp hơn chiều cao của thân hình để nó không thể đứng lên được". Sau ba tháng thì Huy Hoàng thuần phục được nó và chuyển nó cho một người chủ mới. Từ ngày sang với chủ mới, con chó ngao lại tỏ ra hung dữ. "Nó tấn công nhiều người lắm rồi. Tiền lo viện phí thuốc thang cho người bị cắn nhiều hơn cả tiền mua chó" - người chủ mới than thở.
Một thực tế cho thấy, chó Pit Bull hiện nay đang được nhiều người nuôi dưỡng, huấn luyện sai cách, có thể sẵn sàng tấn công một người nào đó đến chết. Theo anh Tuấn Hùng, một người đam mê huấn luyện những giống chó dữ ở phường Đức Giang, quận Long Biên (Hà Nội), chủ nhân của những con chó Pit Bull phần lớn là dân chơi có máu mặt, bởi họ muốn coi Pit Bull như một thứ vũ khí để phòng thân. Sự nguy hiểm và ham mồi của giống chó này thể hiện ở chỗ: Đã ngoạm vật gì thì chỉ khi vật đó bị đứt lìa nó mới nhả ra và chuyển sang ngoạm vào chỗ khác. Vết thương để lại sẽ rất sâu và rộng, vì hàm răng của chúng rất dài, sắc nhọn, khi bị cắn, nhẹ có thể mang tật, nặng có thể mất mạng.
Thú chơi của đại gia Việt còn thể hiện ở việc sở hữu nhiều động vật hoang dã quý hiếm. Điển hình là một số đại gia ở miền Trung. Còn nhớ, vụ đại gia Trầm Bê mất sừng tê giác gây xôn xao dư luận. Để sở hữu hai con tê giác nuôi trong trang trại, đại gia Lê Thanh Thản phải bỏ ra số tiền mua mỗi con là 500 tỷ đồng (?). Chuồng nuôi 2 chú tê giác được ngăn cách bằng một bức tường xây ngang người với các ống kim loại phi 100 bao quanh tựa như võ đài, phía trên được rào kín bằng lưới thép B40.
Ngoài 2 con tê giác trên vị đại gia này còn sở hữu rất nhiều động vật hoang dã từ châu Phi như 01 cặp ngựa vằn, 01 cặp ngựa bạch và vài chục con hươu, linh dương, hai con đà điểu. Đặc biệt ông còn sở hữu hai con hổ vằn và 01 con gấu. Vì là loài thú dữ và hoang dã, nên khu chuồng này được làm kiên cố hơn. Dự kiến trong thời gian tới đại gia này sẽ tậu thêm hai con hổ bạch nữa.
Còn vị đại gia ở quận 12, TP.HCM tự tậu cho mình một hồ nuôi cá sấu ở trước nhà, với mục đích thư giãn đầu óc khi nhìn những con cá sấu đớp mồi. Phía sau vườn nhà của đại gia này còn có một khu chuồng nhốt 2 con trăn, 6 con rắn độc, 3 con gấu cùng 1 con tinh tinh. Tổng trị giá cho bộ "sưu tập" thú mini của đại gia địa ốc này ước tính lên đến hàng trăm triệu đồng.
Sở hữu những con thú "độc" phải đi kèm theo rất nhiều chi phí, chỉ riêng chuyện thức ăn hàng ngày cung cấp cho bầy thú "cưng" thôi cũng ăn đứt vài triệu đồng là chuyện bình thường. Ngoài ra cùng với đàn thú dữ là lực lượng người giúp việc hùng hậu chuyên lo chăm sóc cho bầy thú cưng.
Nhiều nhà chức trách vẫn chưa đồng tình quan điểm việc cho sở hữu những loài động vật hoang dã, sự bất đồng quan điểm này khiến người dân có nhu cầu nuôi luôn lo sợ có vi phạm pháp luật hay không.
Theo quan điểm của ông Đỗ Quang Tùng, phó giám đốc CITES Việt Nam (thuộc cục Kiểm lâm, bộ NN&PTNT): "Nếu nuôi nhốt động vật hoang dã với mục đích để trưng bày thì không sao". Ông Tùng lý giải: “Việc nhập về 2 con tê giác của đại gia Nghệ An là không trái Công ước Cites, tức là được nhập và được buôn bán quốc tế”.
Ngược lại, bà Nguyễn Phương Dung, phó giám đốc Trung tâm giáo dục Thiên nhiên (ENV) lại cho rằng: Không nên nuôi động vật hoang dã ở các cơ sở tư nhân. Việc nuôi dưỡng này nên dành cho các cơ sở của các cơ quan quản lý Nhà nước. Nếu các cơ sở tư nhân muốn nuôi cần có sự giám sát của Nhà nước để đảm bảo đúng tôn chỉ, mục đích đã được cấp giấy phép.
Việc 2 con tê giác được một tư nhân nuôi là chuyện bình thường, điều quan trọng là mục đích của người nuôi. Nếu họ có ý định nuôi vì sự bảo tồn và phát triển đa dạng của sinh học thì thực sự là điều rất đáng quý và cần phải trân trọng. Tuy nhiên, không ít người đã lợi dụng điều đó để nuôi động vật hoang dã với mục đích thương mại.
Bên cạnh đó, việc sở hữu động vật quý hiếm là sở thích của nhiều đại gia, nhưng nó cũng đi kèm nhiều rắc rối, thậm chí còn ảnh hưởng đến tính mạng người khác. Mới đây một cơ sở nuôi gấu tại xã Hiệp An, thị xã Thủ Dầu Một - Bình Dương bị sổng chuồng, trong lúc vây bắt, gấu bất ngờ tấn công làm ông Lộc - chủ nuôi gấu và 1 bác sĩ thú y bị thương nặng. (Người Đưa Tin 2/11)đầu trang(
Chiều 1-11, ông Dương Thành Trung, bí thư Thành ủy Bạc Liêu (tỉnh Bạc Liêu), cho biết đã chỉ đạo các ngành làm việc ngay với các quán giải khát trồng cây xanh không đúng quy định.
Theo đó, các lực lượng chức năng sẽ nhắc nhở, yêu cầu các chủ quán cam kết di dời hoặc tự chặt các cây trồng sai. Sau ngày 11-11, TP sẽ xử phạt nghiêm các hộ không chấp hành. Quyết định chấn chỉnh trên được đưa ra sau buổi họp giao ban giữa Sở Xây dựng Bạc Liêu và Thành ủy, UBND TP Bạc Liêu vừa qua.
Theo báo cáo của các đội trật tự đô thị, nhiều quán giải khát trên các tuyến đường ở nội ô TP Bạc Liêu đã tự ý trồng cây xanh trên vỉa hè, không theo chủng loại và quy hoạch của TP như quán cà phê Nét Việt (đường Trần Huỳnh), quán cà phê Sông Hậu (đường Nguyễn Thái Học), các quán trên đường Nguyễn Tất Thành, Trần Phú... (Tuổi Trẻ 2/11)đầu trang(
Các anh Đặng Xuân Khương và Nguyễn Ngọc Trai (cùng trú thôn Phương Lang, xã Hải Ba, huyện Hải Lăng) vừa bắt được một con chim lạ ở khu vực bãi cát của thôn.
Qua đo đạc, con chim có chiều dài khoảng 80cm, sải cánh rộng trên 1m, mỏ nhọn quắm, đôi chân có màu vàng cao khoảng 20cm, lông toàn thân có màu nâu nhạt lốm đốm trắng và có trọng lượng khoảng trên 2kg.
Theo người dân, họ chưa bao giờ thấy loại chim như vậy tại địa phương. (Nông Thôn Ngày Nay 2/11)đầu trang(
Bộ NN&PTNT đang lấy ý kiến về thông tư quy định điều kiện nuôi chim yến trước khi trình Thủ tướng phê duyệt.
Theo đó, yến là đối tượng nuôi phải được đăng ký kinh doanh hoặc khai báo với UBND cấp xã sở tại.
Hơn nữa, nhà yến chỉ được xây dựng tại vùng ngoại thành, ngoại thị, vùng nông thôn, vùng có mật độ dân cư thấp, vùng nội thị còn hoạt động sản xuất nông nghiệp, vùng ven biển và hải đảo và phải phù hợp với quy hoạch của địa phương.
Những nhà yến đã xây dựng xong và đang trong quá trình sử dụng nhưng ở trong nội ô có mật độ dân cư cao có thể bị di dời. (Tuổi Trẻ 2/11)đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Nepal ngày 1/11 treo thưởng cho ai có thể bắt được con báo đã giết hơn một chục người trong một năm vừa qua ở vùng miền tây xa xôi của đất nước.
Khoản tiền thưởng 25.000 rupee (300 USD), tương đương với mức lương trung bình vài tháng ở Nepal, sẽ thuộc về ai có thể giao nộp con vật đó, còn sống hay đã chết, sau khi hơn 100 cảnh sát và binh sỹ quân đội không thể nào bắt hoặc giết nổi con báo.
“Ban đầu, chúng tôi muốn bắt sống nó. Nhưng những nhân viên công lực trở lại từ cuộc tìm kiếm nói hàng nghìn dân làng đã bị con báo làm cho kinh hoàng”, Hariraj Bista, một quan chức chính quyền địa phương ở quận Baitadi, nói.
Người dân không dám đi khỏi nhà sau khi trời tối ở vùng săn mồi của con báo trên hai bờ con sông Mahakali river, theo lờu Bista. “Vì vậy, chúng tôi đã treo thưởng để khuyến khích các thợ săn địa phương bắt hoặc giết nó”, ông nói thêm.
Vùng núi cư dân thưa thớt nơi các vụ tấn công diễn ra cũng là khu vực rừng rậm che phủ, ngăn cách khoảng vài chục ngôi làng với nhau. Hầu hết các con báo ở Nepal sống ở khu vực đồng bằng hạ xích đạo Terai ở miền nam và các vùng đồi núi có rừng che phủ, hiếm khi tiếp xúc với con người. (VietnamPlus.vn 2/11) đầu trang(
Các nhà sinh vật học vừa phát hiện một số loài nhện lông mới có màu sắc sặc sỡ sống trên cây tại khu rừng mưa nhiệt đới Đại Tây Dương, Brazil.
Trong đó có một số loài nhện cổ đại bí hiểm từng được cho đã tuyệt chủng từ lâu.
Tiến sĩ Rogério Bertani - một chuyên gia về nhện lông tại Viện Butantan ở Sao Paulo, Brazil - cho biết: “Theo thống kê, các nhà sinh vật học tìm thấy chín loài nhện lông mới, trong đó có bốn loài được xem đã bị tuyệt chủng”.
Những loài nhện lông sống trên cây xuất hiện ở một số vùng nhiệt đới ở châu Á, châu Phi, Nam và Trung Mỹ và Caribe. Phần mình chúng nhẹ nên có thể di chuyển linh hoạt, thân mỏng và chân dài. Đầu mỗi chân thường phình ra giúp dễ dàng di chuyển trên các bề mặt khác nhau như cành cây, lá cây.
Loài nhện lông này được xem là loài nhện lông sống trên cây nhỏ nhất thế giới và rất cổ. Hiện các nhà sinh vật học cố gắng bảo tồn loài nhện quý khi môi trường sống của chúng bị đe dọa trầm trọng bởi hoạt động sống của con người. (Tuổi Trẻ 2/11)đầu trang(
Các nhà khoa học đã phát hiện một loài rắn biển mới, không phải từ ngoài biển mà từ mẫu vật đang lưu giữ trong bảo tàng ở Copenhagen, Đan Mạch.
Các nhà nghiên cứu từ Học viện Hoàng gia Đan Mạch tiến hành kiểm tra các lọ formol ngâm tiêu bản rắn. Từ đó đã tìm thấy 2 mẫu rắn biển ghi cùng tên ngâm trong 2 lọ khác nhau. Hai mẫu này có lẽ được thu thập từ những năm 1800.
Nhà nghiên cứu John Elmberg từ Đại học Kristianstad cho biết chúng không cùng thuộc về một nhóm. Sau khi so sánh với các loài rắn biển trong nhiều bảo tàng ở châu Âu, các nhà khoa học kết luận đó là một loài rắn biển mới, đặc biệt là lớp cấu trúc da khác lạ.
Tại Brazil, giới khoa học cũng đã tìm thấy 9 loài nhện cây mới ở miền trung và miền đông nước này, theo hãng tin UPI.
Loài nhện Arboreal có môi trường sống ở một số vùng nhiệt đới tại châu Á, châu Phi, Nam Mỹ, Trung Mỹ và Caribbean. Nhìn chung thì loài nhện này có cơ thể mỏng hơn và chân dài hơn so với loài nhện sống dưới đất. Cấu trúc cơ thể như vậy giúp chúng thích nghi với môi trường sống trên cây rừng.
Rogerio Bertani, chuyên gia về nhện ở Sao Paulo, Brazil đã cho đăng tải báo cáo về phát hiện này trên tạp chí Zookeys. Ông cho biết khu vực này trước đây có 7 loài nhện cây, và 9 loài mới phát hiện nâng số lượng lên 16. (Thanh Niên 2/11)đầu trang(
Theo Livescience ngày 31/10, một nhà khoa học đã phát hiện chín loài nhện lông mới có màu sắc sặc sỡ và sống trên cây ở Brazil, trong đó có bốn loài thuộc một giống nhện cổ đại bí hiểm từng được cho là đã bị tuyệt chủng.
Những phát hiện này chứng tỏ chúng ta vẫn còn hiểu biết quá ít về hệ động vật ở khu rừng mưa bên bờ Đại Tây Dương của Brazil, một môi trường sống đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi hoạt động xâm lấn của con người.
Tiến sỹ Rogério Bertani, một chuyên gia về nhện lông tại Viện Butantan ở Sao Paulo, Brazil, người thực hiện nghiên cứu trên, khẳng định "nay chúng ta đã có 16 loài thay vì 7 loài được biết đến trước đó trong khu vực này."
Những loài nhện lông sống trên cây xuất hiện ở một số vùng nhiệt đới ở châu Á, châu Phi, Nam và Trung Mỹ và Caribe (trong đó Amazon là môi trường sống chủ yếu cùa những loài này). Chúng thường có mình nhẹ, thân mỏng và chân dài hơn những loài nhện lông khác giúp chúng thích nghi tốt hơn với môi trường sống.
Tiết diện lớn ở đầu mỗi chân giúp chúng dễ dàng di chuyển trên các bề mặt khác nhau như cành cây và lá cây, trong khi cơ thể nhẹ khiến chúng lanh lẹ hơn.
Nghiên cứu của tiến sỹ Bertani được đăng trên tạp chí Zookeys, trong đó ông khẳng định đây là những loài nhện sống trên cây nhỏ nhất trên thế giới và quá trình nghiên cứu chúng cho thấy giống nhện này rất cổ, do đó chúng có thể được coi là những sinh vật cổ còn sót lại của một đơn vị phân loại lớn hơn trước đây.
Nhà nghiên cứu này nhấn mạnh tất cả các loài mới phát hiện nói trên chủ yếu sinh sống ở những khu vực nơi chúng được tìm thấy và đang bị đe dọa bởi các hoạt động của con người. (VietnamPlus.vn 2/11)đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa
|
|||