|
Ngày 31 tháng 10 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Ngày 30/10, tại Hà Nội, Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam phối hợp cùng Tổ chức Forest Trends (Mỹ) tổ chức Hội thảo “Làng nghề gỗ Việt Nam hướng tới sử dụng gỗ theo mục tiêu quản lý rừng bền vững.”
Hội thảo này nhằm đánh giá về tính hình sử dụng nguyên liệu gỗ đảm bảo tính hợp pháp của gỗ trong bối cảnh thực thi các Chương trình Thực thi luật Lâm nghiệp, Quản trị rừng và Thương mại Lâm sản (FLEGT) và Giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng (REDD+) tại Việt Nam.
Việt Nam hiện có khoảng trên 300 làng nghề chế biến gỗ, với khoảng gần 50% tập trung ở tại vùng đồng bằng sông Hồng. Hàng năm các làng nghề sử dụng khoảng 350.000 đến 400.000m3 gỗ, nhưng 80% lượng nguyên liệu là nhập khẩu.
Tuy nhiên, các hộ sản xuất trong các làng nghề mua nguyên liệu đầu vào thông qua trung gian và khi mua họ thường không quan tâm đến tính hợp pháp của nguồn gốc gỗ. Đối với nguồn gỗ trong nước, các làng nghề cũng sử dụng lượng lớn gỗ từ rừng tự nhiên để cung cấp cho thị trường. Tại các làng nghề Đồng Kỵ, Vạn Điểm, La Xuyên sử dụng chủ yếu các loại gỗ quý hiếm như hương, trắc, mun, gụ... có nguồn gốc nhập khẩu; còn các làng nghề như Liên Hà, Hữu Bằng sử dụng chính là các loại gỗ rừng tự nhiên và rừng trồng như sồi, xoan đào, keo, bạch đàn...
Chính phủ Việt Nam đang đàm phán với EU về Hiệp định đối tác tự nguyện (VPA) trong khuôn khổ Chương trình Thực thi luật Lâm nghiệp, Quản trị rừng và Thương mại Lâm sản (FLEGT).
Một trong những nội dung quan trọng của Hiệp định là việc thiết lập Hệ thống đảm bảo tính hợp pháp của gỗ (TLAS). Việt Nam đang tiến hành thiết kế Hệ thống TLAS nhằm đảm bảo tính hợp pháp của nguồn nguyên liệu gỗ được sử dụng trong chuỗi cung.
Một sản phẩm gỗ được coi là hợp pháp nếu các công đoạn của quá trình sản xuất sản phẩm tuân thủ tất cả các quy định của Nhà nước có liên quan. Đây sẽ là vấn đề lớn của làng nghề gỗ hiện nay bởi vì vấn để môi trường, an toàn lao động và sử dụng lao động tại làng nghề đang thực sự có vấn đề. Do vậy, mặc dù các làng nghề không có hoặc có rất ít sản phẩm xuất khẩu sang EU nhưng việc thiết lập Hệ thống TLAS sẽ vẫn tác động trực tiếp đến làng nghề.
Theo ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, trong các năm tới, việc Việt Nam thực hiện FLEGT và REDD+ nhằm đưa ra các chế tài quản lý nguồn nguyên liệu đầu vào hợp pháp để sản xuất sản phẩm gỗ xuất khẩu sẽ tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh, sự pháp triển của các làng nghề gỗ trong tương lai. (VietnamPlus.vn 31/10)đầu trang(
Ngày 30/10, tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường Bùi Cách Tuyến đã chính thức công bố Báo cáo Quốc gia về Đa dạng sinh học năm 2011 của Việt Nam.
Đại diện Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương, Cơ quan phát triển Liên hợp quốc...và đông đảo phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí đã tham dự buổi lễ công bố.
Báo cáo Quốc gia về Đa dạng sinh học năm 2011 gồm 4 chương Tổng quan về hiện trạng đa dạng sinh học; Những nguyên nhân cơ bản làm suy giảm đa dạng sinh học; Hệ thống thể chế, chính sách và nguồn lực cho bảo tồn đa dạng sinh học; Xu hướng biến động của đa dạng sinh học và định hướng trong 5 năm tới.
Tiến sỹ Phạm Anh Cường, Cục trưởng Cục Bảo tồn đa dạng sinh học-Tổng cục Môi trường cho biết: Báo cáo này được xây dựng trên nền tảng các thông tin, tư liệu do các bộ, ngành, địa phương và các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ có uy tín tại Việt Nam cung cấp, với sự tham gia của các nhà quản lý, nhà khoa học chuyên ngành hàng đầu của Việt Nam về đa dạng sinh học.
Với những thông tin có độ tin cậy cao, Báo cáo sẽ là cuốn cẩm nang hỗ trợ các cơ quan Trung ương và địa phương trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch, chương trình bảo tồn đa dạng sinh học sẽ tích hợp với các vấn đề bảo vệ môi trường khác và ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của đất nước, đồng thời là tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo và phục vụ cộng đồng.
Trong buổi công bố Báo cáo Quốc gia về Đa dạng sinh học năm 2011, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã tổ chức Hội thảo góp ý vào dự thảo Chiến lược Quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Đây là nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xây dựng, dự kiến sau khi tiếp thu những ý kiến đóng góp, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục hoàn thiện để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào quý I năm 2013.
Theo nhận xét của Thứ trưởng Bùi Cách Tuyến: Việt Nam được ghi nhận là một trong những nước có đa dạng sinh học cao nhất thế giới, cho đến nay nước ta đã có một khung pháp lý tương đối đầy đủ liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học.
Đặc biệt là Luật Đa dạng sinh học được Quốc hội thông qua năm 2008 đã mở ra một bước ngoặc đối với công tác này, tạo cơ sở pháp lý để các cộng đồng địa phương tham gia bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, thông qua các cơ chế mới về đồng quản lý và chia sẻ lợi ích.
Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp, trong những năm gần đây đa dạng sinh học của nước ta tiếp tục suy giảm về số lượng và suy thoái về chất lượng với tốc độ cao. Vì vậy, các đại biểu tham dự Hội thảo đều cho rằng, việc xây dựng Chiến lược Quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 là rất cần thiết, bởi nó là bộ phận không tách rời khỏi Chiến lược Quốc gia về phát triển kinh tế-xã hội, nhằm bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên đa dạng sinh học, tạo cơ sở cho phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh xã hội, kinh tế và môi trường liên tục biến động như hiện nay. (VietnamPlus.vn 30/10; Chinhphu.vn 30/10)đầu trang(
Ban Pháp chế HĐND huyện đã giám sát công tác xử lý vi phạm hành chính trên lĩnh vực quản lý lâm sản, quản lý bảo vệ rừng tại cơ quan Hạt Kiểm lâm huyện.
8 tháng đầu năm, trên địa bàn huyện xảy ra 30 vụ vi phạm hành chính các loại. Trong đó có 2 vụ phá rừng trái pháp luật không có đối tượng với tổng diện tích rừng thiệt hại 3,42ha; vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép 28 vụ. Tổng số vụ vi phạm đã thụ lý 38 vụ…
Qua số liệu cho thấy, công tác quản lý bảo vệ rừng chưa đạt hiệu quả, có giải pháp hữu hiệu để hạn chế tình trạng mất rừng như hiện nay; trách nhiệm của chủ rừng và trưởng ban chỉ đạo bảo vệ rừng chưa cao; công tác xử lý vi phạm chưa kịp thời và triệt để…
Đoàn đề nghị đơn vị cần làm tốt công tác tham mưu cho huyện và tỉnh, chú trọng hiệu quả của đề án 661 về trồng rừng, nhất là Ban quản lý rừng phòng hộ Bù Đăng; tăng cường phối hợp trong quản lý bảo vệ rừng và xem đây là một trong những nhiệm vụ chính trị của ngành; xử lý nghiêm khắc đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm, đồng thời nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ công chức trong thi hành công vụ… (Đại Biểu Nhân Dân 31/10)đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Những ngày cuối tháng 10 này, về Ba Tơ chúng tôi thấy được không khí thật sôi nổi để chào mừng kỷ niệm 40 năm ngày huyện Ba Tơ hoàn toàn giải phóng (30/10/1972- 30/10/2012). Ba Tơ là một huyện được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang sớm nhất tỉnh (năm 1972) và năm 2006 huyện được phong tặng danh hiệu Anh hùng trong thời kỳ đổi mới. Đến thời điểm này, đây là huyện duy nhất của tỉnh Quảng Ngãi 2 lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng.
Những năm gần đây, Ba Tơ luôn là huyện đi đầu trong các phong trào phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội so với 5 huyện miền núi của tỉnh. Làm việc với lãnh đạo huyện, chúng tôi ghi nhận sự phát triển kinh tế của huyện trên nhiều lĩnh vực; trong đó, sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành việc thực hiện Nghị quyết của Huyện ủy về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã đạt được kết quả cao, góp phần cho nhân dân thoát nghèo nhanh và bền vững.
Huyện ủy Ba Tơ đã xác định phải tập trung chăm sóc, bảo vệ rừng hiện có, đẩy mạnh trồng rừng để làm giàu, tăng cường công tác khoanh nuôi, quản lý và khai thác tốt tiềm năng của rừng, ổn định môi trường sinh thái bền vững. Bảo vệ tốt rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, phát triển rừng sản xuất.
Chánh Văn phòng huyện ủy Ba Tơ Nguyễn Văn Thường cho biết: Huyện Ba Tơ hiện có 97.278 ha đất rừng, chiếm gần 8 6% diện tích tự nhiên. Trong đó, rừng phòng hộ có hơn 37.400 ha, rừng sản xuất gần 60.000 ha. Huyện có số dân khoảng 52.000 người đang sinh sống tại 20 xã, thị trấn, trong đó có 85% dân số là dân tộc H'rê.
Trước đây, người dân huyện miền núi Ba Tơ không biết chọn cây gì làm cây trồng chủ lực cho phù hợp với đất trống, đồi trọc, nên đất bị bỏ hoang nhiều. Nhưng trong 6 năm trở lại đây, huyện xác định trồng rừng nguyên liệu là một trong các điều kiện để phát triển kinh tế bền vững và xoá đói giảm nghèo, góp phần không nhỏ trong việc bảo vệ môi trường sinh thái. Bình quân mỗi năm huyện trồng gần 6.600 ha rừng keo nguyên liệu, đến nay diện tích rừng sản xuất trên địa bàn huyện đạt gần 60.000 ha, nâng độ che phủ của rừng lên trên 66,4% tổng diện tích.
Hàng năm, để chuẩn bị cho vụ trồng rừng đạt hiệu quả, các đơn vị ươm cây giống có chất lượng gieo ươm từ 2,5- 3 triệu cây con giống, chủ yếu là giống keo lai giâm hom. Loại cây này cho tỷ lệ sống cao, sản lượng gỗ đạt cao nên nông dân rất ưa chuộng. Nhận thức được hiệu quả kinh tế của trồng rừng, nhiều hộ gia đình đã nhận khoán đất của Lâm trường để trồng và chăm sóc, tạo thêm thu nhập.
Ông Huỳnh Hoàng, Phó Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Ba Tơ cho biết: Hiện công ty đang quản lý 6.752 ha rừng, trong đó riêng rừng sản xuất, rừng trồng gần 2.600 ha trên địa bàn 9 xã, thị trấn. Mỗi năm, công ty trồng 450 ha và khai thác trên 400 ha rừng chu kỳ 7 năm, năng suất gỗ rừng trồng đạt từ 120- 130 m3/ha. Công ty ký hợp đồng với người dân địa phương với mức năng suất 80 m3/ha, đạt trên 80 m3/ha dân sẽ được hưởng.
Phương thức đầu tư là: công ty lo từ giống, phát dọn, đào hố đến trồng cây; dân lo chăm sóc, bảo vệ, tổng đầu tư cho dân trồng, chăm sóc đến khi thu hoạch trả cho dân khoảng 10 triệu đồng/ha rừng sản xuất. Sau 7 năm từ trồng đến thu hoạch, trừ chi phí mỗi hộ dân nhận khoán rừng cũng có lãi từ 20 đến 25 triệu đồng/ha. Nhờ phát triển rừng, hàng năm đã có 12 ngàn đến 13 ngàn lao động tại địa phương được tạo việc làm. Nhờ trồng keo nguyên liệu, nhiều hộ gia đình ở Ba Tơ đã vươn lên thoát nghèo, có cuộc sống khá giả.
Trước đây cuộc sống của gia đình ông Phạm Văn Khải xã Ba Cung, huyện Ba Tơ rất khó khăn, gia đình chỉ có 2 sào ruộng, cùng 3 ha đất rẫy, chỉ biết trồng sắn và lúa rẫy. Dù đã cố gắng, gia đình ông vẫn không xoay sở đủ tiền cho 3 đứa con ăn học. Thấy được hiệu quả của trồng keo nguyên liệu, gia đình ông đã nhận thêm đất rừng của công ty Lâm nghiệp đề trồng và chăm sóc. Hiện, gia đình ông sở hữu 6 ha rừng keo nguyên liệu, trừ chi phí đầu tư, mỗi năm gia đình ông thu từ 30 đến 40 triệu đồng.
Ông Phạm Văn Khải Tơ chia sẻ: Trước đây đồng bào chúng tôi chỉ biết trồng lúa, trồng mì không có hiệu quả. Từ khi Nhà nước cho vay vốn phát triển trồng rừng keo nguyên liệu, chúng tôi đã có tiền để nuôi các con học hành tử tế, cuộc sống gia đình ngày càng sung túc.
Hoặc ở xã Ba Lế, năm nay có 18 hộ khai thác rừng trồng bán 23,5 ha rừng trồng thu về gần hơn 1 tỷ đồng. Hiện nay, mỗi hộ gia đình ở huyện miền núi Ba Tơ sở hữu từ 1- 2 ha keo nguyên liệu và có hàng trăm hộ đã trồng trên 5 ha. Đây cũng là điều kiện để những gia đình kinh tế khó khăn có cơ hội vươn lên phát triển kinh tế và thoát nghèo bền vững.
Ông Phạm Quang Long, Chủ tịch Hội Nông dân huyện khẳng định: Trong những năm gần đây, với nhiều biện pháp, chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp, phong trào thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi đã phát triển sâu rộng trên địa bàn huyện, nhất là phong trào trồng rừng nguyên liệu cuốn hút hàng ngàn nông dân hăng hái tham gia.
Hàng ngàn hộ nông dân đã vươn lên xóa đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng, góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các hộ gia đình đã đổi mới cách nghĩ, cách làm, khai thác tiềm năng, thế mạnh vốn có của địa phương để làm giàu. Số hộ sản xuất kinh doanh giỏi trên địa bàn huyện tăng lên theo hàng năm. Đến nay, toàn huyện có gần 1.700 hộ sản xuất kinh doanh giỏi các cấp, góp phần đưa tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới hiện nay xuống dưới 40%, riêng thị trấn Ba Tơ giảm còn 20%.
Thực hiện Nghị quyết của Huyện ủy, thời gian tới, các cấp ủy Đảng, chính quyền các xã, thị trấn, các ngành tiếp tục quan tâm đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; tiếp tục xây dựng các mô hình sản xuất điển hình, đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ giúp nhau trong sản xuất và tạo mọi điều kiện để người dân có điều kiện phát triển kinh tế gia đình để từng bước vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng từ kinh tế rừng. (Đảng Cộng Sản VN 30/10)đầu trang(
Huyện Hàm Thuận Bắc vừa tổ chức sơ kết tình hình thực hiện Chỉ thị 1685 của Thủ tướng về công tác quản lí, bảo vệ rừng 9 tháng đầu năm.
Trong 9 tháng đầu năm 2012 với sự chỉ đạo quyết liệt, thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ và biện pháp bảo vệ rừng theo tinh thần Chỉ thị 1685 của Thủ tướng Chính phủ, công tác quản lí bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc đã có những chuyển biến tiến bộ, cơ bản kiểm soát được tình hình và không để bùng phát thành điểm nóng.
9 tháng, 90 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng bị phát hiện, giảm 66% về số vụ lẫn tính chất, mức độ vi phạm so với cùng kì. Qua điều tra xử lí, Hạt kiểm lâm huyện đã tịch thu 11 phương tiện, trên 138m3 gỗ các loại, phạt hành chính và bán tang vật tịch thu nộp ngân sách gần 500 triệu đồng. Việc xử lí kịp thời, nghiêm minh các vụ việc đã góp phần chấn chỉnh ý thức chấp hành pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng của nhân dân…
Thời gian tới, huyện Hàm Thuận Bắc tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo vệ rừng theo tinh thần Chỉ thị 1685. Theo đó, các ngành, các cấp, các địa phương và đơn vị chủ rừng trong huyện sẽ liên tục triển khai các phương án kiểm tra truy quét bảo vệ rừng ở vùng giáp ranh; đồng thời tiến hành rà soát, xác định các trọng điểm phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp và khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép để kịp thời có biện pháp xử lí. (Đài PT-TH Bình Thuận 30/10) đầu trang(
Vừa qua, UBND huyện Lạc Thủy đã tổ chức Hội nghị đánh giá công tác phòng cháy chữa cháy rừng năm 2011 – 2012 và triển khai công tác PCCCR năm 2012 – 2013.
Theo đánh giá của hội nghị, kết quả nổi bật trong thực hiện công tác PCCCR năm 2011 – 2012 là không để xảy ra vụ cháy rừng nào trên toàn địa bàn huyện. Hiện, Lạc Thủy có tổng diện tích rừng tự nhiên là 9.786,3 ha, độ che phủ rừng trên 57%, cao nhất trong tỉnh. Xác định rõ công tác PCCCR là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, trong những năm gần đây và đặc biệt là trong hai năm 2011 – 2012, Ban Chỉ huy những vấn đề cấp bách về BVR - PCCCR đã tăng cường nhiều hoạt động, công tác PCCCR được thực hiện theo phương châm 4 tại chỗ: lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ, chỉ huy tại chỗ.
Từ tháng 10/2011 đến hết tháng 9/2012, huyện đã tổ chức tuyên truyền cho trên 32.000 lượt người về công tác bảo vệ phát triển rừng, PCCCR. Ngoài ra, còn phối hợp với Đài TT-TH huyện xây dựng các băng đĩa tuyên truyền phát cho các xã, thôn để thường xuyên phát trên đài FM. Hiện, huyện Lạc Thủy có 15/15 xã, thị trấn được phân công cán bộ kiểm lâm phụ trách, 14/15 xã, thị trấn được bố trí hợp đồng bảo vệ rừng, PCCCR. Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng luôn được chú trọng.
Triển khai công tác PCCCR năm 2012 – 2013, huyện Lạc Thủy xác định rõ các nội dung: Thực hiện quy chế phối hợp giữa các lực lượng kiểm lâm, công an, quân sự trong công tác bảo vệ rừng và PCCCR; xây dựng quy ước thôn, bản về quản lý bảo vệ rừng; xây dựng các bảng nội quy bảo vệ rừng và PCCCR, biển cấm lửa và biển báo hiệu cấp dự báo cháy rừng.
Đặc biệt, huyện Lạc Thủy đặt mục tiêu phấn đấu trước, trong và sau mùa cháy 2012 – 2013 không để xảy ra vụ cháy rừng nào, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do hỏa hoạn cháy rừng gây ra, từ đó bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng bền vững. (Báo Hòa Bình 31/10)đầu trang(
Phần lớn diện tích rừng của xã Tỏa Tình, huyện Tuần Giáo đều nằm xen kẽ ở các khu dân cư. Bằng nhiều giải pháp cụ thể nhằm phát huy có hiệu quả vai trò của cộng đồng đối với công tác phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ rừng nên đã không còn tình trạng người dân chặt, phá rừng để mở rộng diện tích sản xuất.
Sống dựa vào rừng và phát triển kinh tế từ nghề rừng là hai quan niệm hoàn toàn khác nhau. Từ nhận định đó, ngay từ đầu vụ khô hanh hàng năm, cấp ủy, chính quyền xã Tỏa Tình đã chủ động phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện Tuần Giáo tổ chức tuyên truyền Luật bảo vệ rừng đến đông đảo người dân; kiện toàn và củng cố các tổ, đội phòng cháy chữa cháy rừng tại các bản trên địa bàn toàn xã.
Đồng thời, củng cố và kiện toàn các tổ, đội phòng cháy, chữa cháy rừng cơ động với nòng cốt là lực lượng dân quân và đoàn viên, thanh niên tại mỗi bản, sẵn sàng ứng phó khi có tình huống xấu xảy ra. Xã cũng chủ động giao rừng tới từng nhóm hộ để khoanh nuôi, bảo vệ, để người dân thực sự là những chủ của rừng. Qua nhiều năm triển khai nghiêm túc, việc thực hiện ở từng bản trong xã đã đi vào nề nếp.
Nhằm tạo điều kiện để người dân nâng cao thu nhập với định hướng phát triển kinh tế từ nghề rừng tại địa phương, xã Tỏa Tình đã tăng cường phối hợp với phòng chức năng của huyện Tuần Giáo, mời các cán bộ có chuyên môn hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc và chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng địa phương. Do đó, nhiều hộ gia đình ở xã Tỏa Tình đã biết lựa chọn các loại giống cây trồng có giá trị kinh tế cao như: Tập đoàn ngô lai, sơn tra và cà phê vào trồng trên diện tích đất trống, đồi trọc.
Bên cạnh đó, xã còn phát triển trồng cây thảo quả, xa nhân dưới tán rừng. Nhờ vậy mà cuộc sống đã từng bước đi vào ổn định, thu nhập cũng dần được nâng cao. Nhận thấy hiệu quả của việc phát triển kinh tế từ rừng nên công tác phòng chống cháy rừng và bảo vệ rừng được người dân trong xã thực hiện nghiêm túc.
Xã Tỏa Tình hiện còn trên 1.600ha đất có rừng. Trong đó, diện tích rừng tự nhiên hơn 1.300ha, diện tích rừng trồng gần 300ha. Tỷ lệ che phủ rừng đạt gần 50%. Tình trạng phá rừng làm nương, khai thác, buôn bán trái phép các mặt hàng lâm sản không xảy ra. Ý thức bảo vệ và phát triển vốn rừng của người dân trên địa bàn được nâng cao. Công tác bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng không chỉ thực hiện trọng tâm vào mùa khô hanh mà được coi là việc làm thường xuyên; đồng thời được người dân thống nhất đưa vào các quy ước, hương ước của từng bản làm quy phạm để mọi người cùng thực hiện theo. Cho nên diện tích rừng ở Tỏa Tình được giữ vững.
Diện tích đất trống, đồi trọc trên địa bàn xã Tỏa Tình đang dần được thay thế bằng các loại cây ăn quả và cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao. Nhờ thay đổi tư duy sản xuất, thu nhập các khoản từ việc phát triển kinh tế đồi rừng của nhiều gia đình trong xã đạt hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Tỏa Tình đã và đang là một điểm sáng trong công tác quản lý, chăm sóc, bảo vệ và phát triển vốn rừng của huyện Tuần Giáo. (Báo Điện Biên 31/10)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo dự thảo chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học (ĐDSH) đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Bộ Tài nguyên Môi trường công bố hôm qua (30/10) tại Hà Nội, ĐDSH là nền tảng đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Theo dự thảo này, đến năm 2020, mọi thành phần trong xã hội tham gia bảo tồn và sử dụng bền vững ĐDSH; giảm đáng kể những nguy cơ trực tiếp đối với ĐDSH; thiết lập hệ thống khu bảo tồn đáp ứng nhu cầu bảo tồn các loài, hệ sinh thái với diện tích ít nhất bằng 10% diện tích lãnh thổ trên cạn và 0,24% diện tích vùng biển…
Để thực hiện được những mục tiêu trên, dự thảo chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã đề ra các nhóm nhiệm vụ cụ thể, trong đó có xây dựng và thực thi hiệu quả thể chế quản lí thống nhất về bảo tồn ĐDSH; tăng cường năng lực quản lí nhà nước ở các cấp, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực; giảm tốc độ mất rừng tự nhiên, vùng đất ngập nước nội địa, rừng ngập mặn; kiểm soát hiệu quả nạn buôn bán, tiêu thụ trái phép động thực vật hoang dã…
Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có ĐDSH cao trên thế giới với nhiều kiểu hệ sinh thái, các loài sinh vật và nguồn gen phong phú. Tuy nhiên, những năm gần đây, ĐDSH tại nước ta đang bị suy giảm nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân trong đó có hoạt động phát triển kinh tế của con người. (Tin Tức 31/10)đầu trang(
Đồi mồi (rùa biển), loài sinh vật có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng trên phạm vi toàn cầu vừa xuất hiện tại Cù lao Chàm - TP Hội An (Quảng Nam).
Bà Phạm Thị Kim Phương - BQL Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm cho biết: Trong khi đánh bắt thủy sản tại vùng biển thôn Bãi Bìm Cù Lao Chàm, 2 ngư dân Đinh Hồng và Phan Thọ đã phát hiện một cá thể Đồi mồi nặng khoảng 5kg vướng vào lưới, sau đó đã bàn giao cho Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm gắn thẻ và thả về môi trường tự nhiên. (Tiền Phong 31/10)đầu trang(
Các cá thể voọc được Trung tâm Cứu hộ linh trưởng nguy cấp cứu hộ sẽ được chuyển về Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long (Ninh Bình).
Ông Tilo Nadler, Trưởng đại diện Hội Động vật học Frankfurt cho biết, ngày 2/11, Trung tâm Cứu hộ linh trưởng nguy cấp (EPRC) sẽ thả một số cá thể voọc về Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long.
Hoạt động này nằm trong khuôn khổ dự án “Tái hòa nhập voọc mông trắng tại Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long”. Đây là các cá thể voọc được EPRC cứu hộ, chăm sóc và huấn luyện tái hòa nhập vào tự nhiên trong thời gian qua.
Hiện nay, số voọc này đã được vận chuyển và dựng chuồng nhốt tạm tại địa điểm thả ở xã Gia Hòa thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long ở huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. (Công An Nhân Dân 30/10)đầu trang(
Quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, hướng người dân làm giàu từ rừng nguyên liệu là một hướng đi đúng của huyện miền núi Ba Tơ (Quảng Ngãi).
Những năm gần đây, Ba Tơ luôn đi đầu trong các phong trào phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội so với 5 huyện miền núi khác của tỉnh. Làm việc với lãnh đạo huyện, chúng tôi ghi nhận sự phát triển kinh tế của huyện trên nhiều lĩnh vực; trong đó, sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành việc thực hiện Nghị quyết của huyện ủy về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã đạt được kết quả cao, góp phần giúp người dân thoát nghèo nhanh và bền vững.
Huyện ủy Ba Tơ đã xác định phải tập trung chăm sóc, bảo vệ rừng hiện có, đẩy mạnh trồng rừng để làm giàu, tăng cường công tác khoanh nuôi, quản lý và khai thác tốt tiềm năng của rừng, ổn định môi trường sinh thái bền vững, bảo vệ tốt rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, phát triển rừng sản xuất.
Chánh Văn phòng Huyện ủy Ba Tơ, Nguyễn Văn Thường cho biết: Huyện Ba Tơ hiện có 97.278 ha đất rừng, chiếm gần 86% diện tích tự nhiên, trong đó, rừng phòng hộ có hơn 37.400 ha, rừng sản xuất gần 60.000 ha. Huyện có số dân khoảng 52.000 người đang sinh sống tại 20 xã, thị trấn, trong đó có 85% dân số là dân tộc H'rê.
Cuối tháng 12/2006, Huyện ủy Ba Tơ (Quảng Ngãi) đã ban hành Nghị quyết số 03 về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện giai đoạn 2006 - 2010". Giữa tháng 10/2011, Huyện ủy tổ chức hội nghị đánh giá việc thực hiện Nghị quyết số 03, tiếp tục đề ra nhiệm vụ và giải pháp đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2015.
Trước đây, người dân huyện miền núi Ba Tơ không biết chọn cây trồng chủ lực cho phù hợp với đất trống, đồi trọc, nên đất bị bỏ hoang nhiều. Sáu năm trở lại đây, huyện xác định trồng rừng nguyên liệu là một trong các điều kiện để phát triển kinh tế bền vững và xóa đói giảm nghèo, góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ môi trường sinh thái.
Bình quân mỗi năm huyện trồng gần 6.600 ha rừng keo nguyên liệu, đến nay diện tích rừng sản xuất trên địa bàn huyện đạt gần 60.000 ha, nâng độ che phủ của rừng lên trên 66,4% tổng diện tích. Hàng năm, để chuẩn bị cho vụ trồng rừng đạt hiệu quả, các đơn vị ươm cây giống có chất lượng gieo ươm từ 2,5 - 3 triệu cây con giống, chủ yếu là giống keo lai giâm hom. Loại cây này cho tỷ lệ sống cao, sản lượng gỗ đạt cao nên nông dân rất ưa chuộng.
Nhận thức được hiệu quả kinh tế của trồng rừng, nhiều hộ gia đình đã nhận khoán đất của lâm trường để trồng và chăm sóc, tạo thêm thu nhập. Ông Huỳnh Hoàng, Phó Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Ba Tơ cho biết: Công ty lo từ giống, phát dọn, đào hố đến trồng cây; dân do chăm sóc, bảo vệ, tổng đầu tư cho dân trồng, chăm sóc đến khi thu hoạch trả cho dân khoảng 10 triệu đồng/ha rừng sản xuất. Sau 7 năm từ trồng đến thu hoạch, trừ chi phí mỗi hộ dân nhận khoán rừng cũng có lãi từ 20 đến 25 triệu đồng/ha. Nhờ phát triển rừng, hàng năm đã có 12.000 đến 13.000 lao động tại địa phương được tạo việc làm. Nhờ trồng keo nguyên liệu, nhiều hộ gia đình ở Ba Tơ đã vươn lên thoát nghèo, có cuộc sống khá giả.
Đến thăm gia đình ông Phạm Văn Khải, xã Ba Cung, huyện Ba Tơ, chúng tôi được ông cho biết, trước đây cuộc sống của gia đình ông rất khó khăn, gia đình chỉ có 2 sào ruộng, 3 ha đất rẫy, chỉ biết trồng sắn và lúa rẫy. Dù đã cố gắng, gia đình ông vẫn không lo đủ tiền cho 3 đứa con ăn học. Thấy được hiệu quả của trồng keo nguyên liệu, gia đình ông đã nhận thêm đất rừng để trồng và chăm sóc.
Hiện, gia đình ông sở hữu 6 ha rừng keo nguyên liệu, trừ chi phí đầu tư, mỗi năm gia đình ông thu từ 30 - 40 triệu đồng. Ông Phạm Văn Khải chia sẻ: "Trước đây đồng bào chúng tôi chỉ biết trồng lúa, trồng mì chỉ đủ ăn, từ khi Nhà nước cho vay vốn phát triển trồng rừng keo nguyên liệu, chúng tôi đã có tiền để nuôi các con học hành tử tế, cuộc sống gia đình ngày càng sung túc.
Hoặc ở xã Ba Lế, năm nay có 18 hộ khai thác rừng trồng bán 23,5 ha rừng trồng, thu về gần hơn 1 tỷ đồng. Hiện nay, mỗi hộ gia đình ở huyện miền núi Ba Tơ sở hữu từ 1 - 2 ha keo nguyên liệu và có hàng trăm hộ đã trồng trên 5 ha. Đây cũng là điều kiện để những gia đình kinh tế khó khăn có cơ hội vươn lên phát triển kinh tế và thoát nghèo bền vững”.
Ông Phạm Quang Long, Chủ tịch Hội Nông dân huyện khẳng định: Trong những năm gần đây, với nhiều biện pháp, chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp, phong trào thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi đã phát triển sâu rộng trên địa bàn huyện, nhất là phong trào trồng rừng nguyên liệu cuốn hút hàng ngàn nông dân hăng hái tham gia vươn lên xóa đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng, góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Các hộ gia đình đã đổi mới cách nghĩ, cách làm, khai thác tiềm năng, thế mạnh vốn có của địa phương để làm giàu. Số hộ sản xuất kinh doanh giỏi trên địa bàn huyện tăng lên theo hàng năm. Đến nay, toàn huyện có gần 1.700 hộ sản xuất kinh doanh giỏi các cấp, góp phần đưa tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới hiện nay xuống dưới 40%, riêng thị trấn Ba Tơ giảm còn 20%.
Thực hiện Nghị quyết của huyện ủy, thời gian tới, các cấp ủy Đảng, chính quyền các xã, thị trấn, các ngành tiếp tục quan tâm đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; tiếp tục xây dựng các mô hình sản xuất điển hình, đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ giúp nhau trong sản xuất và tạo mọi điều kiện để người dân có điều kiện phát triển kinh tế gia đình để từng bước vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng từ kinh tế rừng. (Tin Tức 30/10)đầu trang(
10 năm trở lại đây, người dân sinh sống ven đầm Thị Nại, nhất là những hộ nuôi tôm, đã thật sự nhận ra tác hại của việc tàn phá rừng ngập mặn (RNM). Ðược sự giúp đỡ của địa phương và ngành chức năng, người dân nơi đây đã từng bước trồng lại RNM, nuôi tôm thân thiện với môi trường, hướng đến nuôi trồng thủy sản bền vững.
Đầm Thị Nại rộng 5.060 ha, thuộc địa bàn TP Quy Nhơn và các huyện: Tuy Phước, Phù Cát. Trước đây, đầm Thị Nại có đến 1.000 ha RNM và trên 200 ha thảm cỏ biển, là nơi sinh sống của nhiều giống loài thủy hải sản có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, đầu những năm 90 của thế kỷ trước, phong trào nuôi tôm tự phát đã phát triển rầm rộ, là nguyên nhân khiến RNM đầm Thị Nại bị tàn phá, thay vào đó là những ao hồ nuôi trồng thủy sản. Sau một thời gian nuôi tôm ồ ạt, môi trường nước bị ô nhiễm, dẫn đến hệ sinh thái vùng đầm bị suy kiệt, dịch bệnh tôm ngày càng lan rộng, việc nuôi tôm thất bại nặng nề.
Năm 2004, Dự án “Phục hồi sinh thái và khai thác, sử dụng hợp lý nguồn lợi vùng Cồn Chim - đầm Thị Nại” được triển khai, với mục tiêu phục hồi hệ sinh thái, bảo tồn nguồn lợi ở khu vực Cồn Chim và bảo đảm việc khai thác hợp lý để duy trì nguồn lợi thủy sản trong đầm, tái tạo nguồn lợi thủy sản, xử lý ô nhiễm và tạo cảnh quan môi trường cho toàn khu vực đầm. Ban quản lý Khu sinh thái Cồn Chim - đầm Thị Nại phối hợp với người dân bắt tay trồng lại RNM. Đến nay, diện tích RNM trồng tập trung đã được 50 ha, phủ xanh khu sinh thái Cồn Chim. Dưới tán rừng, hệ sinh thái biển, thảm cỏ biển dần hồi phục, nguồn lợi thủy sản được tái tạo, nhiều loài chim, cò đã bay về trú ngụ, sinh sống ở đây.
Qua hiệu quả thực tế của việc phục hồi RNM, nhiều hộ dân sinh sống ven đầm đã tích cực tham gia trồng RNM phân tán trên các ao, hồ nuôi thủy sản với diện tích trồng đến nay được hàng trăm ha. Ông Phạm Quang Ân, Phó Phòng NN-PTNT huyện Tuy Phước, cho biết: “Thấy được lợi ích của RNM, người dân đã tích cực trồng rừng, riêng trong năm 2012 này, được sự hỗ trợ giống đước của huyện, bà con đã trồng phân tán dọc theo bờ bao ao, hồ nuôi thủy sản với diện tích gần 200 ha. Đây là năm có diện tích trồng RNM nhiều nhất”.
Công tác trồng RNM phân tán trên các ao, hồ nuôi tôm được huyện Tuy Phước triển khai năm 2005. Huyện đã tổ chức nhiều lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật trồng và chăm sóc RNM cho hàng ngàn lượt hộ nông dân ở 4 xã ven đầm, gồm: Phước Thuận, Phước Sơn, Phước Hòa và Phước Thắng. Trong 2 năm 2005-2006, tổ chức ACTMANG của Nhật đã hỗ trợ 10 tấn giống đước trồng trên diện tích 5 ha, đến nay đã đơm hoa kết trái, chống xói lở bảo vệ cho các ao, hồ nuôi trồng thủy sản, phù hợp với việc nuôi tôm thân thiện môi trường.
Ngoài ra, hàng năm huyện đều trích ngân sách mua giống đước cấp miễn phí cho người dân ven đầm trồng RNM phân tán. Nhờ vậy, đến nay đã có trên 500 ha ao, hồ nuôi thủy sản được trồng RNM phân tán, dưới tán rừng bà con nuôi tôm xen các loài thủy sản khác mang lại thu nhập khá.
Ông Nguyễn Ngọc Hải, Thôn phó thôn Vinh Quang 2, xã Phước Sơn, thổ lộ: Trước đây, vùng đất Cồn Chim của thôn Vinh Quang 2 chúng tôi là RNM, cũng do hám lợi, nhiều người thi nhau phá rừng đắp hồ nuôi tôm, chỉ trúng được vài năm đầu, sau đó tôm dịch bệnh liên miên, bà con nợ nần chồng chất. May mà được cơ quan nhà nước cung cấp giống, hướng dẫn kỹ thuật trồng RNM để phục hồi môi trường sinh thái. Đến nay 102 ha ao nuôi thủy sản đã phủ xanh RNM trồng phân tán. Nuôi đa dạng thủy sản dưới tán RNM khỏi lo dịch bệnh, bà con phấn khởi lắm. RNM còn chắn được sóng gió, giữ đất, nên “lợi đơn, lợi kép”…
Được biết, trong “Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu” (SP-RCC), tỉnh ta tham gia một dự án nâng cấp hệ thống đê và trồng rừng ngập mặn để ứng phó với biến đổi khí hậu vùng đầm Thị Nại. Dự án sẽ nâng cấp 24,8 km đê và công trình trên đê ở những đoạn xung yếu có nhiệm vụ bảo vệ phần lớn đất sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp và nơi tập trung đông dân cư; trồng mới và khôi phục 350 ha rừng ngập mặn, trong đó rừng trồng tập trung 170 ha, trồng phân tán 65 ha và khôi phục bảo vệ 75 ha rừng hiện có. Chương trình này sẽ góp phần phủ xanh RNM trên đầm Thị Nại.
Bên cạnh đó, theo quy hoạch trồng RNM giai đoạn 2010-2020 đã được UBND tỉnh phê duyệt, huyện Tuy Phước sẽ trồng 149,6 ha RNM (xã Phước Sơn 76,4 ha, xã Phước Thuận 73,2 ha) với các giống đước, mắm trắng, bần trắng… với nguồn vốn đầu tư trồng RNM hơn 8 tỉ đồng. (Báo Bình Định 31/10) đầu trang(
Nhân chuyến công tác cùng với Hạt Kiểm lâm Hòa Vang về kiểm tra bảo vệ rừng, tôi được anh Lê Đình Thám, Hạt phó Hạt Kiểm lâm Hòa Vang giới thiệu một người trồng rừng khá nổi tiếng trên địa bàn là anh Huỳnh Tam.
PV tới thăm mô hình trồng rừng kinh tế của gia đình anh ở xã Hòa Khương. Theo lời anh kể, trước đây là cán bộ của Xí nghiệp Liên hiệp Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng Nam-Đà Nẵng (cũ), vì thế anh có nhiều thuận lợi trong việc triển khai trồng và chăm sóc rừng. Với những kiến thức đã được học và tích lũy qua công việc, anh nhận đất giao khoán để trồng rừng khi Nhà nước có chủ trương cho dân nhận đất trồng rừng.
Ban đầu gia đình anh được nhận vài hec-ta đất đồi và bỏ hoang, vì vậy phải tập trung đầu tư cải tạo để trồng rừng bằng cây bạch đàn và keo. Không ngại khó khăn, vất vả, hằng ngày anh cùng vợ cần mẫn đào từng hố đất, ươm từng mầm xanh. Qua thời gian, thấy trồng rừng đem lại hiệu quả, anh lại nhận thêm nhiều hec-ta đất rừng nữa để trồng keo, bạch đàn. Đến nay, cùng với những người trong “hội” trồng rừng, anh nhận quản lý và trồng hơn 350ha rừng. Hơn 10 năm trở lại đây, thu nhập từ rừng trồng của gia đình anh đạt trên 500 triệu đồng/năm, khá ổn định. Từ nguồn thu đó, cuộc sống khó khăn trước đây lùi dần, gia đình anh đã xây được nhà cửa khang trang với đầy đủ tiện nghi sinh hoạt và cả ô-tô.
Anh cho biết bằng kinh nghiệm trồng rừng của mình, anh chọn lựa các loại giống cây phù hợp với chất đất nơi đây. Mỗi cánh rừng, mỗi quả đồi, anh đều quy hoạch chi tiết. Anh làm đường giao thông liên khoảnh, liên lô để thuận lợi cho việc chăm sóc, bảo vệ và vận chuyển. Ban đầu anh trồng với mật độ dày, sau đó tỉa cây bán dần, vừa tận dụng quỹ đất, vừa tạo nguồn thu trước mắt. Khi tỉa đến mật độ thích hợp, anh dừng lại và chăm sóc cây thành cây lấy gỗ, không bán cây làm nguyên liệu giấy như nhiều hộ khác đang làm. Với cách làm này, rừng của anh luôn đạt hiệu quả kinh tế cao.
Khác với nhiều rừng trồng trên địa bàn, thu nhập từ rừng của anh thường gấp rưỡi, thậm chí gấp đôi, dù cùng diện tích, cùng chăm sóc như nhau. Và bí quyết để có được điều này, đó là chất lượng cây giống. Để có giống cây tốt, anh phải vào tận TP. Hồ Chí Minh và Tam Kỳ mua cây giống. Ngoài việc được đào tạo bài bản về ngành lâm nghiệp, anh còn tích cực, chủ động phối hợp với phòng nông nghiệp, trạm khuyến nông và các công ty lâm nghiệp cung ứng cây giống, phân bón, tập huấn khoa học kỹ thuật trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng. Do làm đúng kỹ thuật, nên rừng của anh phát triển nhanh và đều. Mặt khác, do tự túc được vốn đầu tư nên anh có nhiều phương án cho việc trồng mới cũng như khai thác rừng sao cho hiệu quả nhất.
Trên con đường mới mở dẫn vào vùng đồi rừng trồng của gia đình anh, hai bên đường là những hàng keo lai thẳng tắp cao lớn đang đến mùa thu hoạch. Chỉ tay vào gốc keo lai to hơn bắp chân người, anh bảo rừng keo này mỗi ha sẽ cho 200 tấn gỗ, tính ra mỗi ha sẽ cho thu nhập khoảng 85 triệu đồng. Ngoài ra, để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất, anh còn tính toán cặn kẽ các khoản chi phí khác như mở đường, phân bón, công chăm sóc... Chỉ riêng việc mở đường vào khai thác, anh chấp nhận mở đường xa hơn nhưng phải bảo đảm được xe vào tận nơi, không phải vận chuyển cách quãng. Cách làm này đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn.
Đất không phụ công người, đến nay anh đã có hàng chục héc-ta rừng trồng. Giờ đây về Hòa Vang hỏi anh Huỳnh Tam trồng rừng thì ai cũng biết. Mặc dù đã có của ăn của để nhưng anh vẫn miệt mài trên con đường làm giàu từ rừng… (Báo Đà Nẵng 31/10)đầu trang(
Đó là thông tin đáng chú ý tại hội thảo góp ý cho dự thảo chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học do Bộ TN&MT tổ chức ngày 30-10.
Theo bộ này, việc xây dựng các hồ chứa thủy điện làm mất đi các khu rừng tự nhiên, phân cắt dòng sông, ngăn cản đường di cư của cá, dẫn tới sự suy thoái các sinh cảnh tự nhiên. Điều này còn gây tác hại nghiêm trọng và lâu dài tới sự sống của các loài động vật hoang dã.
Mặt khác, nhiều hồ chứa thủy điện khi đi vào hoạt động đã không vận hành đúng quy trình về chế độ xả lũ, đảm bảo dòng chảy môi trường... gây thiệt hại về người, kinh tế, làm ảnh hưởng đến các hệ sinh thái vùng hạ lưu.
Chiều 30-10, UBND tỉnh Quảng Nam làm việc với chủ đầu tư các dự án thủy điện Đăk Mi 2 (98 MW), Đăk Mi 3 (54 MW) và Tr’ Hy (30 MW). Đây là ba thủy điện trên hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn, chiếm dụng tới 188 ha đất với tổng vốn đầu tư 4.500 tỉ đồng. Thế nhưng cả ba đều chậm trễ triển khai quá lâu. Các chủ đầu tư giải thích do kinh tế gặp nhiều khó khăn nên các ngân hàng rút vốn đầu tư, địa hình cách trở khiến việc giải phóng mặt bằng, làm đường gặp nhiều khó khăn.
Ông Đinh Văn Thu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, yêu cầu các chủ đầu tư nếu muốn tiếp tục triển khai công trình thì phải xin điều chỉnh giấy phép vì cả ba thủy điện đã hết thời hạn. Chủ đầu tư phải tiếp tục ký quỹ, cam kết bồi thường, hỗ trợ cho người dân vùng dự án. (Pháp Luật TPHCM 31/10)đầu trang(
Những ngày qua, người dân nhiều xã thuộc huyện Phú Vang, Thừa Thiên-Huế đổ xô vào những cánh rừng tự nhiên trên rú cát ven đầm phá Tam Giang (thuộc xã Phú Xuân) để đào tìm lấy rễ cây mật nhân (tên dân gian là lộc bệnh). Loại cây này được đồn thổi là một loại “thần dược” trị bá bệnh, có giá trị kinh tế cao khi bán cho thương lái.
Ngày 29-10, chúng tôi đã về xã Phú Xuân (Phú Vang), có hai thôn Quảng Xuyên và Ba Lăng, nơi có diện tích rú cát tự nhiên khoảng 25ha được cho là “điểm nóng” về khai thác cây dược liệu này.
Địa điểm đầu tiên chúng tôi đến là vùng rú cát thuộc thôn Ba Lăng. Cùng lực lượng chức năng kiểm tra sơ bộ chỉ trên phạm vi khoảng một hecta rú cát do cộng đồng thôn Ba Lăng và UBND xã Phú Xuân quản lý, nơi đây xuất hiện hàng trăm điểm đào bới tìm củ một loại cây thân gỗ mà dân địa phương quen gọi là lộc bệnh (tên phổ biến là mật nhân).
Theo quan sát, cây mật nhân thường mọc chung cùng bụi với những cây khác nên để đào được cây này phải mất thêm những cây bên canh vì rễ cây mật nhân ăn rất sâu vào cát. Phần cây và ngọn còn vất vương vãi ở trên rú cát sau khi phần gốc rễ đã được lấy đi. Thời điểm chúng tôi vào cánh rừng thôn Ba Lăng, nơi có hàng trăm gốc mật nhân bị xới nát vào giữa buổi sáng, nhiều hố vẫn còn dấu đất mới đào chứng tỏ các nhóm đào trộm vừa kịp tháo chạy do bị đánh động. Tại vùng rú cát thuộc các thôn Ba Lăng, Quảng Xuyên, theo ghi nhận của chúng tôi, đã có hàng trăm điểm đào bới cây mật nhân.
Ông Phan Đăng Phóng, Trưởng thôn Ba Lăng, cho biết: Việc người dân vào khu vực rú cát đào bới cây mật nhân xuất hiện ồ ạt cả tháng nay. Nhưng khi có tin báo, lực lượng an ninh thôn và chính quyền xã đã lập tổ công tác tiến hành đẩy đuổi và chỉ mới phát hiện, tịch thu phương tiện và đẩy đuổi hai trường hợp vi phạm trú tại thị trấn Phú Đa (huyện Phú Vang).
Ông Phóng cũng cho biết thêm, tình trạng đào bới cây mật nhân gây ảnh hưởng đến trật tự xóm làng. Do lực lượng của thôn mỏng, nạn đào trộm xảy ra chủ yếu vào giữa trưa và ban đêm; người lạ thoắt ẩn, thoắt hiện giữa rừng rú rậm rạp nên rất khó truy bắt, xử lý.
Theo ông Phóng, trước đây chủ yếu người ngoài địa bàn về đào bới cây mật nhân. Nhưng khi một số người trong xã thấy và nghe sự đồn thổi về công dụng của cây “thần dược” này đã có rất nhiều người trong thôn đổ xô đi đào bới. Ông Phóng nhẩm tính, toàn thôn Ba Lăng có có hơn 320 hộ thì quá phần nửa số đó đi đào cây mật nhân rồi, dù chưa biết mang về để làm gì. Nghe đâu nó có nhiều công dụng chữa bệnh lắm. Người ta đồn rằng, mỗi cân củ thái lát phơi khô có giá từ 300 đến 500 nghìn đồng. Nói vậy, nhưng tới giờ vẫn chưa thấy ai hỏi mua, mà người dân cứ phơi khô dự trữ.
Theo chân ông Phan Đăng Phóng, trưởng thôn Ba Lăng ghé vào một số nhà ở khu vực Ba Lăng, nhà nào chúng tôi cũng thấy trước sân phơi từng đống rễ củ mật nhân to tướng.
Tại nhà ông Phan Huấn, thấy nắng lên, vợ ông tranh thủ đưa 2 bao mật nhân đã được cắt lát ra sân phơi. Khi được hỏi, bà này cho biết, nghe thiên hạ đồn đại rễ cây mật nhân này là “thần dược” chữa bách bệnh nên cũng huy động người trong nhà đi đào. Bà này còn cho biết, chẳng lẽ thuốc quý mà để người lạ về đào hết, mình ở ngay trên vựa đó phải có một ít để dự trữ chứ.
Khi chúng tôi hỏi phương thức, liều lượng sử dụng, cách bào chế mật nhân để làm thuốc, nhiều người dân Phú Xuân đều ú ớ mập mờ. Một số người cho biết, đã thử sắc uống để chữa tiểu đường, huyết áp, mỡ máu nhưng không thấy tác dụng. Một số người khác thì phơi khô, sao vàng, hạ thổ sau đó ngâm rượu uống. Họ còn lý giải rằng, nếu là “thần dược” cứ uống không trị bệnh này cũng trị bệnh khác. Cứ đào, phơi khô cất đó ắt sẽ còn phải sử dụng nhiều.
Phó Chủ tịch UBND xã Phú Xuân Nguyễn Văn Dũng cho biết, trước tình trạng trên, UBND xã đã lập 2 đoàn kiểm tra thường xuyên xuống địa bàn các thôn Ba Lăng, Quảng Xuyên một mặt tuyên truyền cho dân hiểu, không tự ý đào bới cây mật nhân, một mặt tuần tra, đẩy đuổi người đào trộm. Tuy nhiên, các tốp đào trộm chủ yếu hoạt động ban đêm, nên chưa thể ngăn chặn, xử lý triệt để. Nói rồi, ông Dũng chỉ cho chúng tôi thấng một cây mật nhân to cỡ bắp chân vừa được lực lượng xã thu giữ.
Ông Trần Xuân Tam, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Phú Vang cho biết, diện tích rừng rú cát ở Phú Xuân đã được giao cho UBND xã và cộng đồng thôn quản lý. Trước mắt, Kiểm lâm huyện phối hợp vói xã tổ chức lực lượng ngăn chặn người dân vào rừng khai thác trái phép cây mật nhân. Đồng thời, nghiêm cấm mọi tổ chức vào rừng đào bới, khai thác, vận chuyển trái phép cây mật nhân trên địa bàn xã Phú Xuân.
Theo ghi nhận của chúng tôi, đến thời điểm này, những cây mật nhân lớn gần như đã biến mất trên vùng rú cát xã Phú Xuân, chỉ còn lại những cây nhỏ mà người dân không khai thác. Việc tác dụng của cây mật nhân như thế nào, công dụng chữa bệnh ra sao cũng cần sự vào cuộc của các cơ quan chức năng. Đặc biệt, sớm có những hướng dẫn cần thiết cho người dân cách thức sử dụng, nếu không hậu quả sẽ khôn lường. (Người Lao Động 30/10)đầu trang(
Tình trạng chặt phá rừng, khai thác, tận thu cây rừng, đến việc lấn chiếm đất rừng để canh tác, đang diễn một cách công khai, đáng báo động tại khu bào tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bưởu
Theo sự hướng dẫn của những người dân địa phương, chúng tôi đi sâu vào bên trong khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bưởu của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Mới chỉ 30 phút đi bộ men theo đường mòn WB2, giáp ranh với khu bảo tồn và công ty lâm nghiệp một thành viên Xuyên Mộc, chúng tôi đã thấy rất rõ càng vào sâu bên trong, cây rừng càng thưa thớt đi nhiều, thậm chí có những khoảng trống hoắc không có một cây xanh nào. Theo những người dân địa phương ở đây, đã có hơn 10 héc ta rừng quanh đây đã bị dọn sạch sẽ, chỉ sót lại các cây gỗ có đường kính từ 20 - 40cm.
Ông Nguyễn Hữu Hóa, trưởng ấp khu 1, xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc cho biết: “Tình trạng phá rừng nghiêm trọng diễn ra tại đây từ tháng 3, tháng 4 năm 2011. Ban đầu người dân phá từ từ, sau đó nếu thấy không có động tĩnh gì sẽ phá lớn hơn”.
Nhìn nhận ở góc độ quản lý, có thể biện minh rằng, càng vào sâu bên trong, công tác quản lý sẽ gặp nhiều khó khăn, chính bởi vậy mà rừng sẽ càng bị “rút ruột”?
Tuy nhiên thực tế lại không phải vậy. Tại khu vực Mả Phụng, chỉ cách trạm kiểm soát bảo vệ rừng số 7 của khu bảo tồn khoảng 500 - 600m, tình trạng chặt phá rừng vẫn diễn ra. Hàng trăm cây găng biển, sến dầu loan, dầu nước có đường kính từ 20 - 30cm đã bị đốn ngã. Nhiều cây Cám có đường kính hơn 2 người ôm, thân gỗ dài hơn 10m nằm ở sâu bên trong, cũng trong tình trạng tương tự. Vết chặt phá, vết cưa cũ mới chồng chất. Để hạ được từng ấy cây, dọn từng ấy diện tích rừng, chắc chắn sẽ phải mất thời gian không ngắn, vậy mà lực lượng bảo vệ rừng cũng không hề hay biết.
Rừng nguyên sinh bị chặt phá gần như công khai như vậy quả là điều khó tưởng tượng. Một ngày theo chân người dân địa phương vào rừng, dù ở vòng ngoài hay vào sâu bên trong, chỗ nào chúng tôi cũng thấy cây rừng bị chặt phá nham nhở.
Không chỉ có tình trạng khai thác rừng một cách ngang nhiên, mà việc lấn chiếm đất rừng tại khu vực này cũng đang diễn ra rất công khai. Điển hình là một khu được coi là “vườn” không biết từ bao giờ của một cán bộ thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bưởu được mọc lên ngay giữa đất rừng, ngay trên mảnh đất rừng bị lấn chiếm với diện tích ước khoảng 2 héc ta, nằm sát ngay trong rừng nguyên sinh.
Trước tình trạng trên, ông Nguyễn Hữu Hóa, trưởng ấp khu 1, búc xúc nói: “Tôi nghĩ các cơ quan chức năng cần phải xử lý sớm chứ nếu không thì chỉ đến mùa mưa sang năm, những diện tích rừng ở đây sẽ hoàn toàn biến mất, và sẽ trở thành đất canh tác”.
Về phía các cơ quan chức năng của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, đến thời điểm này vẫn chưa thể xác định được chính xác bao nhiêu héc ta rừng nguyên sinh tại khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu đã bị mất. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan quản lý, phát triển, bảo vệ rừng hiện cũng chỉ mới triển khai một số giải pháp nhằm hạn chế, ngăn chặn tình trạng chặt cây, canh tác trong khu vực rừng nguyên sinh.
Ông Hà Văn Nghĩa, Phó giám đốc Sở Nông Nghiệp và Phát Triển nông thôn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cho biết: “Về phía Sở, chúng tôi sẽ tăng cường lực lượng kiểm lâm cơ động xuống huyện Xuyên Mộc để hỗ trợ khu bảo tồn và hạt kiểm lâm huyện, thực thi các biện pháp bảo vệ rừng tốt hơn”.
Tăng cường lực lượng kiểm lâm, trên thực tế chỉ là giải pháp tình thế, bởi nếu không kèm theo những giải pháp đồng bộ và quyết liệt từ tuyên truyền, nâng cao nhận thức đến các mức xử lý vi phạm trong công tác bảo vệ rừng đối với các cấp quản lý cơ sở, và người dân các địa phương có rừng, chẳng bao lâu nữa khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bữu sẽ không còn giá trị.
Rừng mất đi hậu quả mà chúng ta phải gánh chịu, không chỉ đơn giản là mất đi một cảnh quan du lịch đặc sắc, mà còn phải đón nhận nhiều tác động to lớn chưa thể lường hết được về hiểm họa môi trường và biến đổi khí hậu. (VTV 30/10)đầu trang(
Qua chuyến thực tế tại vườn quốc gia Vũ Quang, việc người dân địa phương phản ánh về tình hình hoạt động của lâm tặc, rừng bị tàn phá hết sức nghiêm trọng và việc kiểm lâm “bắt tay” với lâm tặc tàn phá rừng là có cơ sở.
Để rõ hơn thực trạng này, chúng tôi đã trực tiếp “phục kích” ở trên một cung đường mà lâu nay dường như nó đã trở thành cung đường vận chuyển gỗ lậu “huyết mạch” của lâm tặc.
Không kể ngày hay đêm, lâm tặc vẫn ngang nhiên vận chuyển gỗ lậu từ bãi tập kết nơi bìa rừng, rồi chạy dọc theo đường HCM, sau đó đi theo hướng tuyến Quốc lộ 15A về xuôi. Có hai cách vận chuyển mà chúng tôi bắt gặp đó là việc chuyển gỗ lậu bằng xe gắn máy và bằng ô tô khách loại 16 chỗ ngồi.
Vào buổi trưa trên cung đường này, thường xuất hiện nhiều xe gắn máy phóng bạt mạng, phía sau chở tới cả chục phiến gỗ các loại. “Đi gỗ lậu như đi hội” – lời nhận xét này của người dân địa phương cõ lẽ chẳng ngoa chút nào, bởi tận mắt chúng tôi thấy xe chở gỗ chạy từng đoàn, chạy liên tục ngày và đêm. Theo ghi nhận, lợi dụng buổi trưa vắng người qua lại, hoặc vào ban đêm từ 23g trở đi, lâm tặc thường sử dụng xe gắn máy để chuyển gỗ từ bãi tập kết nơi bìa rừng về xuôi.
Những phiến gỗ được xẻ vuông vức, được một số tài xế xe khách đưa vào dưới gầm ghế ngồi của khách và rồi “ung dung” tuồn về xuôi. Thường thì kiểu vận chuyển bằng xe khách như vậy mỗi chuyến nhiều nhất cũng chỉ vài phiến gỗ dày 30cm, và dài khoảng gần 1,5m.
Tất nhiên, trên “cung đường gỗ lậu” này đều có trạm kiểm tra, kiểm soát của lực lượng Kiểm lâm, gồm: Trạm kiểm lâm trực thuộc vườn quốc gia Vũ Quang, cả những trạm kiểm lâm thuộc Hạt Kiểm lâm Hương Khê, vậy mà gỗ lậu vẫn vượt qua được chốt của các đơn vị này.
Các cơ quan quản lý trực tiếp là lực lượng kiểm lâm đã nói gì về việc này? Họ chỉ biết biện luận và cố gắng đùn đẩy trách nhiệm, với nhiều lý do như: Địa hình khó quản lý, bọn lâm tặc quá lì lợm, ranh xảo, lực lượng quá mỏng… Dù lực lượng chức năng có ra sức biện luận thì việc ai làm sai? làm sai chỗ nào? Sẽ không che mắt được người dân.
Nghị quyết Trung ương IV đã và đang đi sát với thực tế trong tổ chức công tác cán bộ hiện tại, qua vụ việc này cũng là lúc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Tĩnh cần phải xem lại đội ngũ cán bộ, và tình hình hoạt động trong công tác quản lý bảo về rừng trong khoảng thời gian qua.
Để chống lại nạn phá rừng như hiện tại, đề nghị phía cơ quan chức năng tỉnh Hà Tĩnh cần thắt chặt hơn nữa trong công tác quản lý và bảo vệ rừng. Đừng để “máu rừng” cứ chảy mãi như vậy. (Pháp Luật&Xã Hội 30/10)đầu trang(
Mặc dù các dự án thủy điện (TĐ) dày đặc ở Quảng Nam lấy mất cả chục ngàn hécta đất rừng, nhưng việc trồng rừng thay thế thì chẳng thấm vào đâu. Hầu hết các chủ đầu tư TĐ đều lần lữa, không thực hiện trồng rừng thay thế hoặc dây dưa không chịu chi trả kinh phí để các địa phương, đơn vị tổ chức trồng rừng thay thế.
Theo UBND tỉnh Quảng Nam, tổng diện tích đất rừng dự kiến thu hồi để đầu tư các công trình TĐ là 11.384ha, trong đó diện tích đã thu hồi đến nay là 7.047,68ha. So với tổng diện tích đất rừng và đất khác của các huyện miền núi đã thu hồi để triển khai các dự án kinh tế - xã hội, thì diện tích dự kiến thu hồi để thực hiện các công trình TĐ chiếm đến 34,6%.
Cụ thể, 10 công trình TĐ theo quy hoạch bậc thang sông Vu Gia-Thu Bồn chiếm 8.717ha, 34 công trình TĐ vừa và nhỏ chiếm 2.666ha. Cạnh đó, hơn 282ha rừng phải nhường chỗ cho hành lang đường điện các dự án TĐ. Thêm nữa, 14 chủ đầu tư các dự án TĐ đang trình UBND tỉnh phê duyệt cấp thêm 2.156,45ha đất rừng sử dụng cho mục đích thủy điện.
Chủ trương chung của tỉnh là yêu cầu các chủ đầu tư phải trồng lại diện tích rừng tương đương với diện tích rừng và đất rừng mà dự án chiếm dụng. Đến nay, mới chỉ có một số ít các chủ đầu tư TĐ được UBND tỉnh phê duyệt phương án trồng rừng thay thế gồm: A Vương, Sông Côn 2, Sông Bung 4, Tà Vi, Sông Bung 5, Đăk Mi 4, Tr’Hy.
Tuy nhiên, các chủ đầu tư TĐ cũng chỉ mới trồng và khoanh nuôi tái sinh được tổng cộng gần 300ha rừng. Một con số quá nhỏ nhoi so với diện tích đất rừng bị mất, phải được chủ đầu tư TĐ trồng rừng thay thế. Hầu hết các chủ đầu tư TĐ đều lần lữa, không lập phương án trồng rừng thay thế, hoặc có phương án rồi nhưng không trồng, cũng không chuyển kinh phí cho các địa phương đơn vị tổ chức trồng. Cụ thể, như Cty CP TĐ Geruco Sông Côn 2, mặc dù đã có phương án trồng rừng thay thế được phê duyệt từ đầu năm 2011, nhưng mãi đến nay vẫn không chịu chi trả kinh phí hơn 3,3 tỉ đồng để BQL rừng phòng hộ Sông Côn thực hiện trồng thay thế 70ha rừng.
Thực tế cho thấy, các chủ đầu tư TĐ chỉ chăm chăm vào việc xây dựng công trình và thu lợi nhuận, mà vô trách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ trồng rừng thay thế, chưa kể đến những hệ lụy gây ra trong công tác tái định cư, bồi hoàn đất sản xuất cho dân... Chưa nói đến việc, tính đa dạng sinh học trong rừng trồng không cao, khi trồng thông thường chỉ trồng 1 loại cây, không tạo thành các quần thể sinh thái, chưa thể là nơi ở lý tưởng cho các loài động vật di cư. Do vậy, dù các chủ đầu tư có trồng rừng thay thế theo kiểu “một đổi một” thì vẫn không thể giữ được giá trị rừng, vẫn không thể nào “thay thế” được.
Trong cuộc họp mới đây của tỉnh để rà soát, loại bỏ TĐ, lãnh đạo các huyện Nam Trà My, Đông Giang, Nam Giang... đều phản ánh tình trạng chủ đầu tư TĐ không cấp đất sản xuất cho dân tái định cư, khiến họ phải phá hàng trăm hécta rừng lấy đất sản xuất, hoặc TĐ thi công mở đường cho lâm tặc phá rừng, khai thác vàng...
Như TĐ Sông Tranh 2 đầy tai tiếng tại huyện Bắc Trà My, chủ đầu tư còn đưa hơn 400 hộ dân tại xã Trà Bui bị ảnh hưởng bởi dự án vào tái định cư ngay trong khu vực rừng nguyên sinh phòng hộ tại thôn 4, xã Trà Bui, mà không cấp đất sản xuất, khiến trong 5 năm qua đã có trên 105 lượt hộ dân ở đây phải chặt phá 70ha rừng già, phòng hộ để làm rẫy, gây tổn thất 400m3 gỗ, phần lớn số hộ trên đều bị xử lý cảnh cáo, buộc trồng lại rừng, có 2 trường hợp bị khởi tố, phạt tù.
Bộ NNPTNT cho biết: Khi chưa có phương án trồng rừng thay thế thì chưa chấp thuận đầu tư dự án TĐ. Các dự án đầu tư TĐ đều phải bố trí vốn để trồng rừng, nếu không tự quản lý được thì ủy thác cho Quỹ Bảo vệ phát triển rừng của tỉnh hoặc Quỹ Bảo vệ phát triển rừng Việt Nam thực hiện. Yêu cầu trồng rừng thay thế diện tích rừng đã mất thuộc trách nhiệm của UBND cấp tỉnh, và phải tuân theo nguyên tắc rừng bị mất bao nhiêu thì phải trồng bù lại bấy nhiêu... (Lao Động 31/10)đầu trang(
Trao đổi với Lao Động chiều 30.10, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Bình Định Hồ Quốc Dũng cho biết, đã yêu cầu Cty CP An Trường An chấm dứt hoạt động khai thác titan, thực hiện hoàn thổ, giao trả mặt bằng và trồng rừng phục hồi môi trường trên vùng đất 9,96ha được cấp phép tại thôn Hòa Hội Nam, xã Mỹ Thành, huyện Phù Mỹ.
Giấy phép khai thác cấp cho An Trường An năm 2009, hết hiệu lực từ 17.2.2012 là một lý do song nguyên nhân lớn hơn để dự án không được gia hạn là những sai phạm có hệ thống của chủ đầu tư trong việc sử dụng hóa đơn chứng từ, khai thác nước ngầm, quyết định quy mô sản lượng... Theo giấy phép, công suất khai thác của An Trường An là 9.072 tấn/năm và sản phẩm phải được chế biến để đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, song trên thực tế, doanh nghiệp như đã “tận thu” tới 24.460 tấn trong năm 2011, toàn bộ đều xuất bán thô.
Theo ông Hồ Quốc Dũng, UBND tỉnh cũng bác bỏ đề nghị của An Trường An về việc được “tuyển mót lại phần đáy các bãi quặng đã khai thác trước đây nhằm tận thu và giảm thiểu phần thiệt hại mà Cty đang gánh chịu khi phải tháo dỡ hàng trăm tấn máy móc, thiết bị, công trình điện... ra khỏi khu vực khai thác”. Thời điểm để chủ mỏ hoàn trả đầy đủ mặt bằng là cuối tháng 12.2012.
Như Lao Động ngày 19.10 đã phản ánh (bài “Lật tẩy thủ đoạn gây thất thoát tài nguyên”), khiếu kiện kéo dài đã nảy sinh sau khi Cty CP An Trường An bị UBND tỉnh Bình Định tịch thu 434 tấn quặng titan. Trong khi vụ việc đang được điều tra, An Trường An lại tự bộc lộ sai phạm của mình qua việc khai báo nhiều số liệu mâu thuẫn, thiếu trung thực với cơ quan chức năng. (Lao Động 31/10)đầu trang(
Bị truy đuổi, Phương giằng tay lái của tài xế, lao xe đâm chết một binh nhất. Vượt biên sang Lào, doanh nhân có tiếng ở xứ Nghệ này trốn truy nã dưới vỏ bọc ông chủ thành đạt.
Trần Ngọc Phương được biết đến là lái buôn đường dài có tiếng ở huyện Diễn Châu, Nghệ An. Hơn 30 tuổi, Phương đã xây dựng được cơ ngơi bề thế, có ôtô chở hàng, lập hệ thống phân phối lâm đặc sản từ Lào về Hà Nội tiêu thụ.
Ngày 29/11/2000, Phương cùng hai người nữa đi theo xe hàng chở gần 2 khối gỗ quý ra Hà Nội. Để qua mặt cơ quan chức năng, Phương yêu cầu tài xế xẻ gỗ thành từng mảnh, vờ làm làm ván lót thùng xe để vận chuyển heo đi bán.
Nửa đêm, xe chạy đến thành phố Thanh Hóa thì gặp đội kiểm tra liên ngành kiểm tra. Tài xế vội đánh thức Phương dậy, nói: "Anh ơi, hôm nay có kiểm lâm". Phương tỉnh ngủ, bảo "mặc kệ, cứ chạy đi”.
Phớt lờ hiệu lệnh, chiếc xe tải tăng tốc, lao đi trông đêm tối. Phía sau, đoàn xe của đội liên ngành cũng được lệnh đuổi theo. Sau hơn 20 km, lực lượng truy đuổi tiếp cận được ôtô tải. Phương miễn cưỡng xuống xe trình bày lý do rồi xin xỏ nhưng không thành.
Thấy lực lượng liên ngành gồm kiểm lâm, quân sự, cảnh sát quyết liệt yêu cầu đưa xe về chi cục kiểm lâm để làm việc, Phương tức tối. Sau một tràng chửi tục, Phương nhảy lên xe, đẩy tài xế sang một bên, trực tiếp cầm tay lái phóng bỏ chạy.
Lực lượng liên ngành tiếp tục được lệnh truy đuổi. Đến trạm thu phí Tào Xuyên, môtô của binh nhất Vũ Văn Quang chở theo cán bộ kiểm lâm Nguyễn Văn Vậy áp sát và vượt lên chặn đầu xe của Phương. Như con thú say mồi, Phương lao thẳng vào xe môtô khiến anh Quang tử vong tại chỗ, anh Vậy bị thương nặng.
Gây tai nạn xong, Phương tiếp tục tháo chạy trong đêm. Lực lượng kiểm lâm của các huyện trên quốc lộ 1A được lệnh tăng cường, chặn xe tải của Phương nhưng đều bất thành. Đến địa phận giáp ranh giữa tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình, lực lượng liên ngành nhận được lệnh bắn thủng lốp xe tải. Phương xuống xe, bỏ trốn vào khu vực rừng núi. 3 người ngồi trên xe tải đến cảnh sát đầu thú.
Vụ án "Giết người” và “Chống người thi hành công vụ được cơ quan điều tra hình sự Quân khu 4 khởi tố và điều tra nhưng hung thủ chính là Phương lại bặt vô âm tín. Suốt 12 năm, không truy bắt được hung thủ, thời hạn điều tra cũng hết, vụ án được tạm đình chỉ điều tra.
Mặc dù vậy, những chiến sĩ của Phòng cảnh sát truy nã tội phạm Công an Nghệ An vẫn âm thầm lần mò theo từng dấu vết nhỏ nhất của tên tội phạm nguy hiểm. Trong những chuyến công tác tại nước bạn Lào, các trinh sát chú ý đến ông chủ doanh nghiệp khai thác lâm sản nói giọng Nghệ đặc sệt ở Bản Na, huyện UthâmPhon, tỉnh XavaNaKhet. Đầu tháng 10, chuyên án vây bắt Phương được thành lập với sự tham gia của cảnh sát và cơ quan điều tra hình sự quân khu 4.
Giữa tháng 10, một tổ công tác được lệnh sang Lào, bí mật nắm tình hình và bám sát ông chủ doanh nghiệp lâm sản. Vào buổi trưa cuối tháng 10, khi ông chủ Phương đang chỉ huy đám công nhân vào rừng khai thác gỗ thì bị bắt. Tra tay vào còng số 8, Phương bảo không hiểu vì sao lại bị bắt. Vợ con của Phương ở Lào và đám công nhân nghĩ rằng cảnh sát đã bắt nhầm người. Đến khi cảnh sát đọc lệnh bắt và nói rõ tội trạng 12 năm trước, Phương mới thôi "ngờ ngác".
Hiện ban chuyên án đã bàn giao Trần Ngọc Phương cho Phòng điều tra hình sự Quân khu 4. Vụ án giết người, chống người thi hành công vụ bị phục hồi điều tra. (Dân Trí 30/10)đầu trang(
Báo Thanh tra ngày 27/6/2012 có bài “Rừng Kim Hỷ “khóc” vì vàng”, phản ánh tình trạng khai thác vàng xâm hại Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Kim Hỷ (huyện Na Rỳ, Bắc Kạn) diễn ra ngày càng phức tạp, trở thành thách thức lớn đối với chính quyền địa phương trong việc giữ gìn tài nguyên, môi trường và an ninh trật tự địa bàn.
Sau khi Báo phát hành, cấp ủy, chính quyền cùng các ban, ngành chức năng từ tỉnh đến thôn, xã ở Bắc Kạn đã quyết liệt “ra tay” xử lý tình trạng khai thác vàng trái phép trên địa bàn toàn tỉnh nói chung và ở KBTTN Kim Hỷ nói riêng.
Ngày 2/7/2012, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Kạn đã ban hành Chỉ thị số 08-CT/TU về ngăn chặn, xử lý các hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản, lâm sản trái phép gây nguy hại môi trường trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
Sau đó, ngày 16/7/2012, ban hành tiếp Quyết định số 955-QĐ/TU thành lập ban chỉ đạo thực hiện Chỉ thị số 08-CT/TU ở cấp tỉnh do Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy làm Trưởng ban.
Theo đó, Sở Tài nguyên - Môi trường chủ trì, phối hợp với UBND các huyện trên địa bàn cùng các ban, ngành chức năng kiểm tra, tổ chức lực lượng đủ mạnh, tập trung ra quân chốt chặn, rà soát, truy quét “vàng tặc” tại các khu vực trọng điểm của KBTTN Kim Hỷ.
Kết quả, chỉ trong một thời gian ngắn, các lực lượng chức năng đã tổ chức truy quét tại 13 lũng với hàng chục mỏ khai thác, dỡ bỏ, tịch thu và thiêu hủy hoàn toàn 88 lán, trại, tiêu hủy 101 máy nổ, máy khoan, máy phát điện các loại, 23.200m ống dẫn nước và 780 lít dầu; tổ chức 3 chốt chặn liên ngành thường trực 24/24 giờ tại các nút giao thông chính dẫn vào khu bảo tồn, nhằm ngăn chặn, xử lý nghiêm minh các hành vi vận chuyển, tiếp tế lương thực, thực phẩm, xăng dầu và các thiết bị phục vụ khai thác lâm sản, khoáng sản trái phép.
Đến thời điểm hiện tại, khi chúng tôi trở lại KBTTN Kim Hỷ, về cơ bản, các đối tượng khai thác đã di dời khỏi địa bàn, chỉ còn lại một số đối tượng nghiện hút, lẩn trốn trong rừng sâu, trong hang đá để hoạt động khai thác lén lút với quy mô rất nhỏ. Do địa bàn rộng, hiểm trở, các đối tượng này di chuyển bằng các đường ngang, ngõ tắt nên việc truy quét, đẩy đuổi rất khó khăn.
Về Kim Hỷ trong những ngày này, “vàng tặc” đã vắng bóng. Những nơi trước đây là lán trại hay nhà chứa máy móc để phục vụ khai thác vàng trái phép, nay chỉ còn vết tích là những đống tro tàn… Tuy nhiên, để sự bình yên nơi đây được bền vững, Bắc Kạn cần duy trì “dài hơi”, quyết liệt và đồng bộ hơn nữa kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 08-CT/TU Tỉnh ủy. Đồng thời, mỗi người dân cần nâng cao trách nhiệm quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản và sự trong lành của môi trường. (Thanh Tra 30/10) đầu trang(
Ngày 29/10, Công an huyện Cát Tiên cho biết vừa có kết luận về vụ sát hại một cá thể bò tót tại vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Tiên thuộc thôn Phước Sơn, xã Phước Cát 2, huyện Cát Tiên.
Theo điều tra, sáng 5/10, chị Phạm Thị Thắm (22 tuổi), ở thôn Phước Sơn, đi thăm rẫy thì phát hiện có 1 con thú rừng đi xuống suối Chín Lưỡng thuộc khu vực vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Tiên nằm trên đất của ông Đoàn Ngọc Nam thuộc thôn Phước Sơn uống nước nên đã điện thoại cho chồng là anh Bùi Thành Tín (26 tuổi).
Lúc này tại nhà anh Tín còn có 3 người đang ngồi chơi là Nguyễn Văn Hoài (17 tuổi), Đoàn Ngọc Chính (24 tuổi) và Lê Hải Cường (19 tuổi), trú cùng thôn Phước Sơn, khi hay tin đã cùng anh Tín chạy ra xem. Biết chuyện, một số người cùng ở thôn Phước Sơn cũng chạy ra cùng vây đánh con bò tót sau đó xẻ thịt chia nhau.
Cơ quan Công an cũng xác định, có tổng cộng 21 người cùng ở thôn Phước Sơn liên quan đến việc sát hại con bò tót với vai trò cụ thể. Người trực tiếp chém vào đầu con bò tót là Bùi Thành Tín và Bùi Thành Lượng (28 tuổi) là 2 anh em ruột; những người tham gia xẻ thịt con bò tót là Hoài, Trần Văn Ngọc (44 tuổi), Bùi Thành Hiếu (33 tuổi), Diệp Duy Thắng (22 tuổi) và Nguyễn Văn Lực (36 tuổi).
Số còn lại tham gia chở thịt đi bán và Nguyễn Văn Phóng (37 tuổi) chở chiếc đầu bò tót đi bán cho ông Huỳnh Văn Thuận (39 tuổi) ở thôn Cát Lâm 2, xã Phước Cát 1 với giá 3,5 triệu đồng. Theo lời khai của các đối tượng thì đầu và thịt con bò tót họ bán được 19.000.000 đồng.
Sau khi củng cố toàn bộ lời khai của những người liên quan, đánh giá mức độ nghiêm trọng của vụ việc, ngày 12/10, Công an huyện Cát Tiên đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố 5 bị can gồm: Phóng, Hoài, Tín, Lượng và Ngọc về tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Các đối tượng Tín, Lượng đã bị bắt tạm giam, số còn lại cho tại ngoại và cấm đi khỏi nơi cư trú. (Công An Nhân Dân 31/10)đầu trang(
30-10, TAND tỉnh Bình Phước đã mở phiên tòa xét xử và tuyên phạt 14 năm tù đối với Nguyễn Bá Linh (SN 1957, ngụ tỉnh Hà Tĩnh), Giám đốc Công ty TNHH Việt Lào (số 2, đường Nguyễn Du, TP Hà Tĩnh) về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Theo cáo trạng, từ năm 2008, lợi dụng sự phê duyệt của UBND tỉnh Bình Phước đối với các dự án thuê rừng, trồng rừng, nuôi hươu sao, dù chưa được cấp quyết định chính thức, Nguyễn Bá Linh đã làm hợp đồng liên doanh, chuyển nhượng… hàng chục hécta đất với một số cá nhân, chiếm đoạt 2,4 tỷ đồng.
Ngày 30-10, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông đã quyết định khởi tố vụ án, bắt tạm giam Nguyễn Duy Phương (SN 1950), trú tại phường Nghĩa Tân, thị xã Gia Nghĩa, nguyên Giám đốc Công ty TNHH Phương Lâm (trụ sở tại xã Trường Xuân, huyện Đắk Song) để điều tra làm rõ về hành vi lừa đảo, bán đất rừng, chiếm đoạt tài sản. (Sài Gòn Giải Phóng 31/10)đầu trang(
Theo báo cáo về đa dạng sinh học do Bộ Tài nguyên - Môi trường công bố ngày 30.10, việc khai thác trái phép các loài sinh vật hoang dã đã đẩy nhiều loài động vật của nước ta đến nạn tuyệt chủng trong tự nhiên và gây sức ép nghiêm trọng lên các quần thể khác.
Ước tính ở VN hiện chỉ còn dưới 50 con hổ ngoài tự nhiên và đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng vì chúng sống trong các khu rừng bị chia cắt và xuống cấp, khả năng thích nghi thấp, quần thể nhỏ, dẫn tới hiện tượng cận huyết thống.
Tại nhiều tỉnh phía bắc, tình trạng khai thác theo cách tận diệt các cây thuốc quý như củ bình vôi trắng, củ bình vôi vàng, giảo cổ lam, hoàng tinh vàng, huyết đằng, cỏ nhung... để xuất lậu sang Trung Quốc là khá phổ biến. (Thanh Niên 31/10)đầu trang(
Nhiều ngày trời ăn dầm nằm dề trốn chui trốn lủi trong rừng sâu, , tốp lính bị hao hụt nhiều nhưng rất cố gắng giữ gìn, bảo vệ cặp ngà voi nguyên vẹn để mang về tại nhà riêng cho thiếu tá Thọ như lệnh đã ban.
Giết người, giết voi xong, trung đội lính cộng hòa tiếp tục hành quân nhưng hai ngày sau đó thì bất ngờ lọt vào vòng vây của bộ đội ta. Trung đội cộng hòa bị đánh tan tành, bị cắt đứt đội hình và cô lập trên đồi cao.
Rơi vào thế bị động, viên sĩ quan chỉ huy đang giữ cặp ngà voi hấp tấp điện về sở chỉ huy xin quân viện trợ để giải cứu trung đội. Thiếu tá Thọ sợ cặp ngà voi quý bị bom đạn phá hủy trong quá trình chiến đấu nên chỉ âm thầm điều động một tiểu đoàn bộ binh lên núi yểm trợ. Sau một ngày giao tranh ác liệt với quân đội Cách mạng, tiểu đoàn chi viện của thiếu tá Thọ cũng không thể giành thế chủ động để mở đường máu xuống núi.
Nhiều ngày trời ăn dầm nằm dề trốn chui trốn lủi trong rừng sâu, trận chiến đã khiến chúng phải đổi nhiều sinh mạng. Tốp lính bị hao hụt nhiều nhưng rất cố gắng giữ gìn, bảo vệ cặp ngà voi nguyên vẹn để mang về tại nhà riêng cho thiếu tá Thọ như lệnh đã ban. Liên tiếp những ngày sau đó, trung đội lính cộng hòa tiếp tục bị bao vây truy kích.
Cuộc giao tranh diễn ra ác liệt, nhiều người bỏ mạng. Sau khi thoát khỏi vòng vây về tới Huế, trung đội lính cộng hòa chưa còn đến một nửa. Những tên lính còn sống sót vẫn còn in hằn trên từng nét mặt nỗi hốt hoảng về trận đối đầu với bộ đội Cụ Hồ trong rừng. Cùng với đó là nỗi lo sợ và sự ám ảnh tội lỗi về vụ thảm sát những người dân vô tội chỉ vì cặp ngà voi.
Năm 1972, một lần nữa đơn vị của thiếu tá Thọ lại bị bộ đội Cách mạng bao vây truy kích quyết liệt trên vùng núi Thừa Thiên - Huế. Tính mạng của thiếu tá Thọ gặp nguy cấp. Biết thiếu tá Thọ không thể thoát được vòng vây, cấp trên quyết định thăng quân hàm từ thiếu tá lên trung tá cho chỉ huy Thọ. Quân hàm và quyết định thăng chức được để vào chai thả từ trực thăng xuống căn cứ. Đây xem như là một lời khen thưởng cho những chiến công và cố gắng cuối cùng của viên thiếu tá sắp "về trời".
Nhận được tin cháu vợ gặp lâm nguy, Nguyễn Văn Thiệu nóng lòng điện ngay cho Tư lệnh quân khu 1, vùng 1 phải đưa ra chiến lược cứu Thọ bằng mọi giá. Lệnh cứu Thọ được ban ra một cách nhanh chóng. Ngay lập tức, một trực thăng đặc biệt được điều động xuyên rừng đưa Thọ và một số sĩ quan khác rời trận địa. May mắn thoát chết, trung tá Thọ hoảng sợ muốn rời khỏi vùng hỏa tuyến và muốn tránh xa cặp ngà voi nhuốm máu đã mang đến cho ông ta bao nhiêu là tai họa.
Người ta kể lại, trong thời gian cất giữ cặp ngà voi, trung tá Thọ đã gặp phải không ít rủi ro, thậm chí suýt bỏ mạng trong rừng sâu. Ông ta hoảng sợ khi nghĩ đến những oan hồn mà mình đã ra lệnh giết để chiếm ngà voi và xác của nhiều quân lính phải chiến đấu đến cùng để bảo vệ ngà voi đã nằm lại nơi rừng thiêng. Những day dứt, hoảng loạn về tâm lý đeo bám trong suốt cuộc chiến, khiến trung tá Thọ luôn sống trong sợ hãi, ông ta tìm mọi cách để được rời khỏi chiến trường ác liệt ấy.
Năm 1973, Nguyễn Văn Thiệu chiếu cố cho trung tá Thọ được rời khỏi vùng chiếm đóng tại Thừa Thiên - Huế về làm Tiểu khu phó Định Tường, là quê vợ của Thiệu. Ngày ra đi, trung tá Thọ gói ghém cặp ngà voi cẩn thận với ý định tặng lại cho ông chú Thiệu của mình vì ơn cứu mạng. Mặt khác, y cũng muốn rời khỏi báu vật đã thấm quá nhiều máu của những người vô tội và không ít lần mang lại tai họa.
Đi cùng trung tá Thọ trong chuyến bay rời mặt trận là cặp ngà voi cùng một sĩ quan chỉ huy cuộc tàn sát 20 thổ dân năm đó, trung úy Nguyễn Q.V. Từ phi trường Phú Bài đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất, viên sĩ quan đưa thẳng cặp ngà voi vào Dinh Độc Lập giao cho Tổng thống chế độ Sài Gòn cũ Thiệu. Năm ấy, ông ta chỉ mới 22 tuổi, thuộc hàng sĩ quan trẻ nhất.
Cuộc thảm sát đẫm máu trong rừng sâu ở hạ Lào vì cặp ngà voi được ỉm đi suốt mấy mươi năm chiến tranh và cả sau cuộc chiến. Số phận những thổ dân vô tội bị sát hại ngày đó vẫn mãi nằm lại trong rừng sâu.
Sau hơn 40 năm, cỏ cây xanh tốt phủ dần lên những hố bom của chiến tranh và lòng người cũng dịu lại sau những đau thương giờ chỉ còn là quá khứ. Nhưng dường như trên gương mặt góc cạnh của trung úy Nguyễn Q.V, viên sĩ quan chỉ huy năm đó, nay đã là ông lão ngoài 60 vẫn hằn rõ nhiều vết sẹo lớn bé mà qua năm tháng vẫn không lành lặn. Trên khuôn mặt hốc hác, nhăn nheo của ông hiện lên sự ân hận dường như không bao giờ nguôi. Ông chỉ mong có dịp tìm về khu rừng có những bà mẹ, những em bé vô tội đang nằm để thắp một nén nhang xin tạ tội. (Người Đưa Tin 30/10) đầu trang(
Bình Dương là tỉnh đứng đầu cả nước về xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ. Toàn tỉnh hiện có 537 doanh nghiệp (DN) thuộc ngành gỗ.
Trong 9 tháng đầu năm 2012, kim ngạch xuất khẩu (KNXK) ngành gỗ ước đạt 1.003 triệu USD, tăng 9,7% so với cùng kỳ, chiếm 13,3% tổng KNXK của tỉnh và chiếm 32,3% tổng KNXK ngành gỗ cả nước. Mặc dùcó những thuận lợi nhất định, nhưng nhiều DN gỗ vẫn đang loay hoay với bài toán đầu vào và chi phí sản xuất...
Từ đầu năm đến nay, các DN gỗ tuy ký được đơn hàng với đơn giá có tăng, nhưng do chi phí đầu vào tăng và lãi vay ngân hàng còn cao, khiến nhiều DN chế biến gỗ rơi vào tình trạng không có lãi. Khó khăn lớn nhất của các DN gỗ là nguồn nguyên liệu. Hiện ngành gỗ phải nhập đến 80% nguyên liệu từ nước ngoài, chủ yếu là từ Campuchia và Lào, trong khi nguồn gỗ nguyên liệu tại các nước này đang cạn kiệt dần. Còn nguồn gỗ xẻ nhập từ Malaysia và Indonesia hiện đang tạm đóng cửa.
Do vậy, giá nhiều loại gỗ đã tăng bình quân 5 - 7%, đặc biệt gỗ cứng tăng tới 30 - 40%. Mua được nguyên liệu đã khó, việc kê khai nguồn gốc gỗ nhập và xuất còn khó hơn. Nguồn gỗ nguyên liệu khi được nhập về phải có bảng kê rõ ràng, sau khi làm ra thành phẩm xuất đi cũng phải có bảng kê phù hợp với số lượng gỗ nhập về. Từ khi Thông tư 01 của Bộ NN-PTNT, về kiểm tra nguồn gốc lâm sản ra đời, DN lại càng khó khăn hơn trong việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu trong nước, cũng như nhập khẩu. Nhiều DN thiếu nguyên liệu để sản xuất và tốn nhiều công sức trong quá trình kê khai theo Thông tư 01 đành trễ hợp đồng!
Ngoài ra, các DN ngành gỗ còn đối mặt với các khó khăn về quy mô sản xuất, trình độ công nghệ còn lạc hậu và bán hàng qua trung gian (chiếm 90% lượng sản phẩm). Nguyên nhân là do đa số các DN trong ngành gỗ đều là DN vừa và nhỏ, yếu về năng lực quản lý, thiếu vốn để đầu tư công nghệ chế biến gỗ hiện đại…
Trước tình hình khó khăn chung của các DN ngành gỗ, ông Huỳnh Quang Thanh, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ Bình Dương (BIFA), cho biết: “Chúng tôi đang chờ các giải pháp tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ thị trường từ phía Nhà nước, đặc biệt là giải pháp tháo gỡ khó khăn về vốn. Hầu hết các DN gỗ đang mong chờ Nhà nước có chính sách hỗ trợ về vốn, nhất là được tiếp cận các nguồn ngoại tệ với lãi suất thấp”. Ông Thanh cũng đề nghị ngành ngân hàng nên giải quyết cho DN gỗ vay tín chấp căn cứ vào các hợp đồng đã có điều khoản thanh toán, không nên chỉ căn cứ vào các hợp đồng đã mở L/C hoặc D/P.
Hiện tại, các DN gỗ có nhiều khách hàng đến từ Mỹ, nên rất cần sự hỗ trợ của các ngành chức năng về thông tin thị trường và hỗ trợ về chuyên môn để tránh các vụ kiện chống bán phá giá có thể xảy ra tại thị trường này. Theo ông Huỳnh Quang Thanh, trong giai đoạn kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn như hiện nay, các DN gỗ Việt Nam có thể tận dụng thời cơ để đầu tư máy móc hiện đại với chi phí rất thấp. Nhiều DN gỗ của các nước Đức, Ý đang chào bán máy móc chế biến gỗ với giá chỉ bằng 1/10 giá gốc. Do vậy, đề nghị phía ngân hàng Nhà nước sớm xây dựng phương án hỗ trợ vốn để các DN gỗ Việt Nam có thể vay vốn đầu tư mua sắm máy móc nhằm mục tiêu phát triển bền vững. (Báo Bình Dương 31/10)đầu trang(
30/10, tại xã Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai) đã xảy ra một vụ cháy lớn làm 22 người bị thương nặng. Nơi xảy ra vụ cháy là DNTN Đức Tâm, chuyên chế biến gỗ xuất khẩu.
Lúc xảy ra vụ cháy đang là giờ công nhân làm việc, hàng chục công nhân tháo chạy tán loạn ra khỏi nhà máy. Có 22 người bị bỏng nặng được đưa đi cấp cứu.
Trong đó 18 ca nặng độ 2, độ 3, với mức bỏng từ 40% trở lên được Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất khẩn cấp chuyển lên Bệnh viện Chợ Rẫy (TPHCM).
Sau hơn 2 giờ chữa cháy, đám cháy được khống chế. Nguyên nhân ban đầu được xác định có thể vụ cháy xuất phát từ lò sấy gỗ. (Tiền Phong 31/10; Pháp Luật TPHCM 31/10; Thanh Niên 31/10; Tuổi Trẻ 31/10) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa
|
|||