|
Ngày 15 tháng 03 năm 2013
THỜI SỰ
CHÍNH SÁCH
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
QUẢN LÝ
NHÂN SỰ
KINH TẾ
TIN TỨC
PHÁP LUẬT
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI
THỜI SỰ
“Chính quyền địa phương hiện nay quá cồng kềnh, gần như chỉ là một bản sao của chính quyền Trung ương, theo mô hình Trung ương có gì thì ở dưới có cái đó”, đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Nguyễn Sỹ Cương nhận xét tại hội nghị ĐBQH chuyên trách góp ý Hiến pháp sáng 14/3.
Một trong những vấn đề được nhiều ĐBQH quan tâm là tổ chức chính quyền nông thôn, chính quyền đô thị trong chương 9 dự thảo.
Theo Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga, do luật hiện hành chưa phân biệt sự khác nhau một cách cơ bản giữa hai mô hình này nên gần như tổ chức bộ máy và cách thức hoạt động được áp dụng chung cho tất cả các chính quyền địa phương trong cả nước.
Thực tế, bằng nhiều cách khác nhau, các tỉnh, thành phố giữ vị trí trung tâm, động lực kinh tế, chính trị đã luôn luôn đề nghị TƯ cho họ những chính sách riêng để cởi trói. Cá biệt, một số địa phương đã có những quy định vượt rào để đáp ứng yêu cầu bức bách về quản lý.
Bà Nga cho rằng, nếu Hiến pháp sửa đổi vẫn giữ nguyên các quy định cũ thì sẽ tiếp tục gây khó khăn cho sự phát triển của các địa phương này. Còn nếu lại cho mỗi nơi một cơ chế riêng như vừa qua sẽ tạo sự thiếu thống nhất trong thực hiện quy định chung của pháp luật cũng như không đảm bảo nguyên tắc nhà nước pháp quyền.
Bà Nga đề xuất Hiến pháp lần này nên có quy định mang tính nguyên tắc để phân biệt chính quyền nông thôn, chính quyền đô thị, tạo cơ sở pháp lý cho luật Tổ chức chính quyền địa phương đưa ra những nội dung nêu sự khác biệt rõ rệt của từng mô hình.
Chia sẻ với các ý kiến trên, ông Nguyễn Sỹ Cương (ĐBQH Ninh Thuận) nói thêm, thực tế cấp chính quyền địa phương hiện nay quá cồng kềnh, gần như chỉ là một bản sao của chính quyền Trung ương, theo mô hình ở Trung ương có gì thì ở dưới có cái đó. Chưa kể tình trạng bất ổn về địa giới hành chính, hết chia tách rồi lại sáp nhập.
Liên quan đến quy định nhà nước thu hồi đất vì lợi ích quốc gia và các dự án phát triển kinh tế, xã hội (điều 58), bà Lê Thị Nga bình luận, đây là một quy định quá rộng, rất dễ bị lạm dụng.
Theo bà Nga, việc nhà nước đứng ra thu hồi quyền sử dụng đất cũng phải hết sức có giới hạn và chỉ nên dừng lại ở lý do: thật sự cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng, dự án phi lợi nhuận. Luật Đất đai hiện hành nêu rõ: Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế, trong trường hợp đầu tư xây dựng khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ. Cụm từ "các dự án lớn" sau đó đã được làm rõ, bao gồm nhiều lĩnh vực như "dự án đầu tư, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, du lịch thuộc nhóm A".
Bà Nga phân tích, những quy định nói trên cùng với việc triển khai trong thực tế đã góp phần tạo ra không ít kẽ hở cho tham nhũng, tiêu cực.
"Hiến pháp hiện hành không có quy định về thu hồi tài sản nói chung và tài sản là quyền sử dụng đất nói riêng. Phải chăng tư tưởng của Hiến pháp 92 đã không hề thừa nhận việc chúng ta dùng pháp luật hành chính để điều chỉnh quyền dân sự thông qua cơ chế thu hồi", bà Nga nêu câu hỏi.
Bà Nga kiến nghị dự thảo Hiến pháp phải bỏ đi quy định "thu hồi vì lợi ích quốc gia, các dự án phát triển kinh tế - xã hội" bởi nới rộng ra như vậy sẽ dễ bị lạm dụng trong thực tế, gây thiệt thòi cho dân.
ĐBQH Nguyễn Thanh Tùng (Sóc Trăng) phân tích, không nên nhóm chung "dự án phát triển kinh tế xã hội" với "quốc phòng an ninh", nếu không sẽ lại tái diễn tình trạng trục lợi, khiếu kiện xã hội, lợi ích nhóm.
Nhiều ĐB cũng chỉ ra, bất cập trong cơ chế thu hồi đất cho các dự án phát triển kinh tế xã hội vốn đã bộc lộ suốt nhiều năm nay, với các hệ lụy như khiếu kiện tập thể, khiếu nại tố cáo kéo dài, tham nhũng... Nếu dự thảo Hiến pháp giữ nguyên quy định trên thì vô hình trung đã hiến định cho một vấn đề vốn được xem là cội nguồn của bất ổn.
"Tôi đề xuất sửa đổi điều 100 thành "Chính phủ gồm Thủ tướng, các bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang bộ" (bỏ cụm từ "các phó thủ tướng”). Cần đề cao vai trò của Thủ tướng và các bộ trưởng. Đây là nguyên tắc hiến định mà nhiều nước đã thể hiện.
Vai trò điều hành của Thủ tướng và cá nhân các bộ trưởng sẽ rõ ràng hơn, tránh tình trạng bộ trưởng chỉ biết việc của bộ ngành mình, trong khi hoạt động của Chính phủ lại cần rất nhiều sức làm việc tập thể.
Phó Thủ tướng cũng chỉ là thành viên khác trong Chính phủ. Sửa như thế để tránh hiện tượng các bộ trưởng lại tiếp tục kính chuyển lên các vị phó thủ tướng. Cũng tránh đi tình trạng cần quá nhiều phó thủ tướng để phụ trách và chuyển việc". (ĐBQH Nguyễn Sỹ Cương) đầu trang(
Được hỏi ý kiến về việc điều 18 dự thảo nghị định “Quy định các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ” cho phép người thi hành công vụ được nổ súng..., các thẩm phán và kiểm sát viên cao cấp đều cho rằng nguy hiểm và rất đáng sợ.
Theo ông Trần Đông Chu (kiểm sát viên cao cấp Viện Kiểm sát nhân dân tối cao khu vực 3 TP.HCM): “Bộ Công an đã có dự thảo tờ trình Chính phủ nói về sự cần thiết phải ban hành nghị định, trong đó khẳng định có sự gia tăng số vụ chống người thi hành công vụ trong thời gian qua. Tuy nhiên, bộ chỉ nêu số lượng mà không nói rõ các hành vi nguy hiểm có tăng theo hay không.
Chống người thi hành công vụ thì có nhiều hành vi: lao xe vào cảnh sát giao thông, hất cảnh sát giao thông lên nắp capô xe..., mức độ nguy hiểm rất khác nhau. Khi đưa ra số liệu về số vụ chống người thi hành công vụ trong vòng mười năm là 8.513 vụ, với 13.706 đối tượng vi phạm, thì có thể thấy số vụ rất nhiều nhưng tờ trình không nói rõ có bao nhiêu vụ đối tượng dùng dao, súng, hung khí nguy hiểm gây ảnh hưởng đến tính mạng và sức khỏe của lực lượng thi hành công vụ, tính chất mức độ như thế nào... Rất khó để nói rằng tình hình chống người thi hành công vụ gia tăng và nguy hiểm.
Cá nhân tôi, khi giữ quyền công tố tại Viện Kiểm sát nhân dân tối cao khu vực 3, nhận thấy số vụ chống người thi hành công vụ có gia tăng nhưng các vụ có tính chất nguy hiểm không nhiều. Ít có trường hợp phải sử dụng vũ khí để trấn áp. Một vài vụ cụ thể cảnh sát giao thông bị tấn công chẳng hạn thì lực lượng cảnh sát có quyền trấn áp. Tôi không ủng hộ việc cho phép bắn, bởi hiện nay số vụ chống người thi hành công vụ chủ yếu trong lĩnh vực đất đai và giao thông, tụ tập đông người... Tất cả những đối tượng này đều không cần thiết phải dùng tới súng để đối phó!
Hơn nữa, về các trường hợp sử dụng vũ khí thì đã có pháp lệnh 16/2011 của Quốc hội rồi. Pháp lệnh rất chặt chẽ, trong khi đó dự thảo nghị định lại không có sự rõ ràng trong điều khoản sử dụng súng và công cụ hỗ trợ như điểm 2, điều 18. Tôi nhấn mạnh ở câu “được sử dụng công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật hoặc nổ súng trực tiếp” vì công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật và súng rất khác nhau, không thể đặt vào trong cùng một tình huống”.
Cho rằng hết sức nguy hiểm, ông Phạm Công Hùng (thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại TP.HCM) nói: “Khi dự thảo nghị định để cho lực lượng chức năng được bắn có nghĩa là người thi hành công vụ đã được cho quyền phán xét tính mạng của người khác thay tòa án. Tôi cho rằng đây là một dự thảo quá nguy hiểm, nhất là cụm từ “dấu hiệu” trong khoản 2 điều 18.
Từ “dấu hiệu” đến kết luận hành vi đó có nguy hiểm hay không là cả một quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Bất kể một công dân nào từ lúc có hành vi vi phạm pháp luật đến lúc bị kết tội đều phải trải qua nhiều bước khác nhau: điều tra, xét hỏi, truy tố, xét xử, thậm chí không chỉ xét xử một lần mà còn rất nhiều lần. Thậm chí điều tra, truy tố, xét xử rồi mà vẫn còn oan sai.
Trong khi đó dự thảo cho phép lực lượng chức năng có “quyền bắn” chỉ bằng nhận định chủ quan duy ý chí? Mà bản thân người thi hành công vụ lúc đó không đủ tỉnh táo sáng suốt để phán đoán xem hành vi ấy đã đủ cấu thành tội nguy hiểm hay chưa bởi đối tượng chống đối rất dễ khiến cho người thi hành công vụ bức xúc. Như vậy, tôi cho rằng đây là những cụm từ hết sức nguy hiểm và thậm chí còn rất khủng khiếp.
Tôi nói ví dụ thế này, nếu người thi hành công vụ nhìn thấy đối tượng cầm một khẩu súng và phán xét rằng hành vi cầm súng có “dấu hiệu” nguy hiểm đến tính mạng của bản thân nên bắn nhưng nếu đó chỉ là khẩu súng nhựa thì sao? Lúc đó lỡ mạng người mất rồi sẽ tính thế nào?
Hơn nữa, pháp lệnh 16 đã quy định rất rõ ràng về việc sử dụng súng và bắn trong những trường hợp rất cụ thể. Luật càng cụ thể bao nhiêu thì việc thi hành luật càng dễ dàng bấy nhiêu. Nghị định, thông tư là để hướng dẫn thực hiện pháp lệnh tốt hơn, còn dự thảo nghị định này lại làm không đúng, thậm chí làm rối rắm hơn pháp lệnh thì thật sự không thể ban hành!”
Thẩm phán Phạm Văn Nam (phó chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên) cho hay: “Trong dự thảo Hiến pháp sửa đổi đang lấy ý kiến nhân dân có thêm điều khoản: Mọi người đều có quyền được sống! Khi mọi người đều có quyền sống thì không ai có quyền tước đi mạng sống của người khác trừ pháp luật.
Tôi chỉ nói đến quy trình xét xử một bản án tử hình đối với tội phạm, đó là sự đấu tranh rất lớn của những người cầm cân nảy mực, giữ vai trò của người đại diện pháp luật và tuyên án. Thậm chí, đã có trường hợp tòa án xử tử hình nhưng trong văn bản lại viết sai tên lót của đối tượng thì cũng phải xử lại, điều tra lại, xác minh lại, làm lại hồ sơ vụ án. Điều đó cho thấy luật pháp hết sức cẩn trọng khi quyết định liên quan đến sinh mạng con người.
Ở Điện Biên có rất nhiều án ma túy nghiêm trọng, khi buộc phải tuyên án tử hình, tước đi quyền sống của một con người, thì cả một hệ thống cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án... làm việc nghiêm túc và cẩn trọng. Vậy nên, về quyền “được bắn” của lực lượng chức năng đối với người chống người thi hành công vụ mà quy định theo ý chí chủ quan của lực lượng thi hành công vụ là vi phạm nghiêm trọng quyền con người.
Vậy nên, biện pháp tốt nhất để trấn áp những đối tượng chống người thi hành công vụ chính là biện pháp nghiệp vụ mà lực lượng chức năng phải được trang bị”. (Tuổi Trẻ 15/3) đầu trang(
CHÍNH SÁCH
Chiều 13/3, Bộ Tư pháp đã chủ trì cuộc họp với đại diện Bộ Khoa học - Công nghệ, Bộ Công Thương, Bộ Giao thông - Vận tải, Văn phòng Chính phủ, Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (vắng đại diện Bộ Công an) và một số đơn vị liên quan của Bộ Tư pháp để trao đổi, thảo luận về tính hợp pháp của thông tư 06.
Đây là thông tư đã được 4 Bộ: Bộ Khoa học - Công nghệ, Công Thương, Công an, Giao thông - Vận tải ký quy định về sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh và sử dụng mũ bảo hiểm cho người đi xe mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy. Dư luận xã hội đã thể hiện việc không đồng tình với quy định người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy, xe đạp máy phải đội mũ bảo hiểm và mũ bảo hiểm phải đáp ứng khoảng trên 10 tiêu chí như: Có tác dụng giảm chấn thương vùng đầu; có cấu tạo 3 bộ phận; kiểu dáng; đã được chứng nhận hợp quy...
Theo Bộ Tư pháp, do quản lý nhà nước từ khâu sản xuất, nhập khẩu, lưu thông, bán mũ bảo hiểm không được tốt, nên có nhiều loại mũ có hình dáng giống mũ bảo hiểm, mũ giả, mũ không đúng tiêu chuẩn, người dân rất khó phân biệt, thậm chí cũng rất khó đối với cả lực lượng cảnh sát giao thông. Do đó, quy định buộc người dân phải biết mũ thật, mũ giả và là căn cứ để xử phạt vi phạm hành chính là thiếu thuyết phục.
Tại cuộc họp của Bộ Tư pháp, đại diện các bộ cho biết thông tư số 06 đã được lãnh đạo của 4 Bộ ký, đã lấy số thông tư, ngày, tháng, năm nhưng chưa được phát hành. Sau khi có ý kiến nhiều chiều từ dư luận, các bộ ký thông tư 06 đã thống nhất dừng việc phát hành để xem xét sửa đổi cho phù hợp với quy định của pháp luật.
Chánh văn phòng Bộ Tư pháp Trần Tiến Dũng cho hay, đến thời điểm hiện tại, thông tư số 06 chưa được phát hành và do đó không thể có hiệu lực vào ngày 15/4 tới như dự kiến. (Vietnamnet 14/3) đầu trang(
Ngày 13-3, Chính phủ đã ban hành Nghị định 22/2013 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, có hiệu lực từ ngày 1-5.
Theo đó, Bộ Tư pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng và thi hành pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, kiểm soát thủ tục hành chính, phổ biến giáo dục pháp luật; quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp, bồi thường nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, thi hành án và các công tác tư pháp khác trên cả nước; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Bộ Tư pháp cũng được giao nhiệm vụ hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật; làm đại diện pháp lý cho Chính phủ trong các tranh chấp quốc tế…
Để triển khai các nhiệm vụ mới được giao, cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp tiếp tục được kiện toàn. Cụ thể, Vụ Bổ trợ tư pháp chuyển đổi thành Cục Bổ trợ tư pháp, Vụ Hành chính tư pháp chuyển đổi thành Cục Hộ tịch, Quốc tịch và chứng thực… (Pháp luật TP.HCM 15/3) đầu trang(
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Sáng 14.3, Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI) và Dự án sáng kiến cạnh tranh VN của Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID/VNCI) tổ chức công bố chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2012.
PCI năm nay không chỉ ghi nhận sự sụt giảm về điểm số nói chung, mà còn chỉ ra sự sụt giảm trong hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (DN) khu vực tư nhân, bao gồm cả tốc độ tăng trưởng, mức độ tuyển dụng lao động và nguồn vốn. Đã có tới 21% số DN điều tra báo lỗ.
Điều đáng ghi nhận đầu tiên là bảng xếp hạng của năm 2012 lần đầu tiên ghi nhận không có địa phương nào lọt vào nhóm “Rất tốt” (65 điểm). Ngay cả với vị trí dẫn đầu là Đồng Tháp cũng chỉ đạt được 63,70 điểm. Đồng Tháp năm nay lần đầu tiên vươn lên vị trí số 1. Tỉnh đứng đầu năm ngoái là Lào Cai năm nay tụt xuống vị trí thứ 3 ngay sau An Giang. Ngoài ra Long An và Bắc Ninh tiếp tục đứng trong nhóm các tỉnh có chất lượng điều hành tốt nhất trên cả nước. Ba tỉnh cuối bảng là Cao Bằng, Tuyên Quang và Điện Biên.
Một điều hết sức đáng buồn là điểm số của các tỉnh “ngôi sao” luôn dẫn đầu các năm trước như Đà Nẵng và Bình Dương thì năm nay lại giảm rõ rệt. Một số “ngôi sao” tụt hạng khác như Hà Tĩnh, Bình Phước...
“Các năm trước sự cách biệt giữa nhóm dẫn đầu và các nhóm khác rất xa, nhưng năm nay sự cách biệt đã giảm dần. Điều tích cực là các tỉnh phía sau đã có sự vượt lên, nhưng ngược lại thì có điều gì đã khiến các tỉnh “ngôi sao” không đẩy mạnh cải cách nữa” - ông Đậu Anh Tuấn - Phó trưởng ban phụ trách Ban Pháp chế (VCCI) - nói.
Đối với hai trung tâm lớn là Hà Nội và TPHCM thì lại có sự khác biệt rất rõ. TPHCM năm nay vươn lên vị trí 13 từ vị trí 20 của năm trước. Ngược lại, Hà Nội tiếp tục giảm sâu từ vị trí 36 xuống vị trí 51. “Đây là điều rất buồn cho thủ đô” - ông Tuấn chia sẻ. Dù vẫn đứng đầu về chỉ số đào tạo lao động, nhưng Hà Nội lại cán đích cuối cùng đối với chỉ số tiếp cận đất đai.
Kết quả cuộc điều tra PCI cho thấy tâm lý bi quan hơn về triển vọng kinh doanh của các DN (cả DN trong nước và ngoài nước). Theo “nhiệt kế” này thì sự lạc quan của DN đã tụt xuống mức thấp kỷ lục là 33% năm 2012 (so với 2006 là 76% trước khi Việt Nam gia nhập WTO). Năm nay chỉ có 6,5% số DN ở tỉnh có vị trí trung bình tăng quy mô đầu tư, 6,1% số DN tuyển thêm lao động và chưa tới 60% DN báo lãi.
Hằng năm, điều tra PCI đều hỏi các DN về kế hoạch kinh doanh trong hai năm tiếp theo. Năm nay, chỉ có 33% số DN FDI có kế hoạch mở rộng kinh doanh (giảm kỷ lục so với 46% vào năm 2011) trong khi chỉ có 32% số DN trong nước có dự định này (giảm so với 47% năm 2011).
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho biết, năm 2011 và 2012 là những năm khó khăn nên các DN cảm nhận về môi trường kinh doanh đi xuống là điều dễ hiểu. “Do đây là vấn đề vĩ mô nên nó ảnh hưởng tới tất cả các tỉnh, các địa phương, không trừ một một tỉnh nào kể cả những tỉnh vốn dĩ có điều kiện tốt nhất và không tỉnh nào đạt được điểm xuất sắc là 65 điểm cả. Tôi nghĩ là các DN cũng phản ánh công bằng và với số DN bị “chết” nhiều như thế thì nó cũng phản ánh rất rõ” - bà Phạm Chi Lan cho hay.
Tuy nhiên, theo chuyên gia Phạm Chi Lan, điều khiến các DN đánh giá thấp năm nay một phần là do chính quyền địa phương và còn lại là do Chính phủ. “Chính phủ phải xem lại các vấn đề của mình, thấy rõ các hạn chế của mình làm ảnh hưởng tới các địa phương. Nỗ lực riêng lẻ của các địa phương không thể khôi phục niềm tin của các DN hoặc là tạo môi trường kinh doanh tốt hơn cho các DN” - bà Lan nói.
Theo nhận định của nhóm nghiên cứu những tỉnh tốt nhất cũng không thể vươn lên được nữa cũng chứng tỏ đã đạt tới ngưỡng rồi. Cần phải thay đổi để tạo cho các tỉnh họ vượt lên. Quyền lực của địa phương cũng có mức độ, khi đến ngưỡng thì không thể vượt lên được.
“Cái chính là các chính sách vĩ mô phải tạo cho người ta tiên liệu được. Khả năng tiên liệu trở nên rất kém vì chính sách thay đổi nhiều quá mà trong điều kiện chung đang xấu nên người ta không dám tin gì cả. Đấy là cái mà chính quyền T.Ư phải củng cố. Cả chính quyền T.Ư và địa phương nên tránh gây ra những khó khăn, những cú sốc cho DN” - bà Lan nói. (Lao Động 15/3) đầu trang(
Báo cáo về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2012 (PCI 2012) vừa được công bố sáng 14/3 cho thấy có sự cải thiện về các thủ tục đăng ký kinh doanh và các quy định dễ đo lường khác song vẫn còn hàng loạt vấn đề đang cản trở hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Ông Đậu Anh Tuấn Phó trưởng ban Pháp chế Phòng Thương mại & Công nghiệp VN (VCCI), thành viên nghiên cứu PCI cho rằng, cải cách đã chậm lại ở nhiều lĩnh vực như tính minh bạch, chi phí không chính thức và đào tạo lao động.
Doanh nghiệp cho rằng, dù đã có nhiều nỗ lực nhằm tăng tính minh bạch và giảm tham nhũng nhưng doanh nghiệp vẫn cảm thấy việc tiếp cận tài liệu kế hoạch của địa phương còn nhiều khó khăn và không công bằng. Ngoài ra, chi phí không chính thức vẫn gây không ít trở ngại cho hoạt động của họ.
Báo cáo cũng cho thấy, các chỉ tiêu của chi phí không chính thức đã thay đổi theo thời gian. Các khoản “lót tay” trong đăng ký kinh doanh và hoàn tất thủ tục hành chính đã giảm cả về tần suất và giá trị. Năm 2006, 70% doanh nghiệp tham gia khảo sát cho biết chi phí không chính thức là một phần không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của họ, chiếm 13% doanh thu của doanh nghiệp. Năm nay chỉ 53% doanh nghiệp nhận định loại chi phí này là phổ biến và chỉ chiếm 6,4% doanh thu.
Theo kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), dù doanh nghiệp ghi nhận tình trạng tham nhũng nhỏ, dưới dạng tiền lót tay cán bộ cơ quan hành chính địa phương, đã có cải thiện, song tham nhũng trong đấu thầu công lại tăng lên qua các năm.
Có đến 41% doanh nghiệp trả hoa hồng cho cán bộ nhà nước để đảm bảo giành được hợp đồng, tăng rất nhiều so với mức 23% của năm 2011.
Tỷ lệ doanh nghiệp tham gia hối lộ trong mua sắm công rất khác nhau, tùy thuộc vào quy mô, mức độ tăng trưởng, mối quan hệ của doanh nghiệp, ngành nghề và mức độ tập trung của ngành. Doanh nghiệp quy mô vừa có xu hướng trả hoa hồng nhiều nhất. Doanh nghiệp tăng trưởng tốt có xu hướng đưa hối lộ nhiều hơn, nghĩa là những doanh nghiệp thực hiện hoạt động này có khả năng phát triển cao hơn trong môi trường kinh doanh khó khăn.
Tỷ lệ tham nhũng có xu hướng gia tăng khi chủ doanh nghiệp có mối quan hệ với cán bộ chính quyền. Tuy nhiên, mối quan hệ này ít phổ biến hơn đối với những doanh nghiệp mới hoạt động. Kết quả này cho thấy doanh nghiệp lâu năm có khả năng xây dựng, phát triển mối quan hệ chiếm ưu thế hơn so với kối tư nhân.
Điều tra của PCI 2012 cho thấy, các doanh nghiệp có cái nhìn bi quan hơn về các lĩnh vực: Tiếp cận đất đai; chi phí thời gian; tính năng động của chính quyền tỉnh và thiết chế pháp lý.
Chỉ 32% doanh nghiệp cho rằng cán bộ địa phương làm việc hiệu quả hơn, trong khi con số này của năm 2010 là 45%.
Ở lĩnh vực tiếp cận đất đai, dù tỉ lệ doanh nghiệp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khá cao (75%) song số doanh nghiệp nhận định nguy cơ bị thu hồi mặt bằng sản xuất lại rất cao ở mức 29%, tăng so với mức 18% của năm 2008. Nếu tính thêm nhóm doanh nghiệp nhận định rủi ro thu hồi đất là trung bình thì con số thu được thực sự đáng lo ngại. 61% doanh nghiệp nhận định tính ổn định của mặt bằng kinh doanh của họ chỉ ở mức trung bình, tỉ lệ doanh nghiệp lo ngại đã tăng gấp đôi so với năm 2008.
Tỷ lệ doanh nghiệp tin họ sẽ được bồi thường thỏa đáng mặt bằng kinh doanh bị thu hồi hiện giảm từ 41% năm 2007 xuống còn 36%.
Tương tự, tỷ lệ doanh nghiệp tin tưởng hệ thống pháp luật sẽ bảo vệ đất đai, tài sản và hợp đồng giảm từ 70% năm 2011 xuống còn 64% và doanh nghiệp ngày càng ít tin tưởng rằng nếu một cái bộ làm sai quy định, doanh nghiệp có thể khiếu nại lên cấp trên.
Chỉ số dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp cũng có sự sụt giảm. Năm 2009 có đến 52% doanh nghiệp sẵn sàng chi tiền cho các dịch vụ liên quan đến công nghệ. Năm 2012, chỉ còn 30% doanh nghiệp sẵn lòng chi trả cho dịch vụ tương tự. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu cho rằng, chỉ số này giảm có vẻ còn do tình hình kinh tế suy thoái đã buộc các doanh nghiệp phải thắt lưng buộc bụng, cắt giảm các chi tiêu xa xỉ như thuê tư vấn công nghệ mới.
Năm 2012, các địa phương tổ chức nhiều hội chợ thương mại hơn nhưng các doanh nghiệp tư nhân có vẻ không mấy mặn mà với việc chi tiền cho các hoạt động này. Điều này cũng phản ánh ít nhiều chất lượng dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp. Bởi nếu hội chợ đem lại giá trị thì nhu cầu tổ chức hội chợ sẽ tăng lên do doanh nghiệp muốn sử dụng hình thức này để tìm kiếm thêm cơ hội.
Do đó, theo nhóm nghiên cứu, sự sụt giảm trong sử dụng dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp có thể là chỉ báo cho những vấn đề lớn hơn trong nền kinh tế Việt Nam.
Một điểm thú vị trong điều tra PCI 2012 mà nhóm nghiên cứu sau khi phân tích các dữ liệu đã có được là cảm nhận rủi ro của gần 1.540 doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trước và sau sự kiện 20.8.2012 - ngày diễn ra vụ bắt giữ nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng sáng lập Ngân hàng Á Châu (ACB) Nguyễn Đức Kiên.
Theo kết quả điều tra, sau ngày 20.8.2012 cảm nhận của các DN FDI về rủi ro kinh tế vĩ mô tăng 20% so với trước ngày này. Phương pháp thống kê chỉ ra rằng đây không phải là điều tình cờ. Tỉ lệ rủi ro kinh tế đã tăng từ 20% vào ngày 20.8 lên 80% vào ngày cuối cùng của đợt điều tra vụ việc “bầu” Kiên.
Mặt khác, DN FDI cho rằng, sự kiện ngày 20.8.2012 là một tín hiệu báo trước rủi ro hợp đồng và chính sách sẽ tăng lên. Nhưng thú vị hơn là nhóm DN này lại ít quan ngại hơn trước về tham nhũng sau sự kiện này. Tuy nhiên, khi lý giải về việc này, nhóm điều tra lại cho rằng có thể là do nhà đầu tư e dè hơn khi nói về vấn đề tham nhũng. (VOV 15/3; Lao Động 15/3) đầu trang(
Chiều 14/3, dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Ban chỉ đạo Đề án tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức đã họp phiên thứ 2, quyết định việc xây dựng Đề án, trình Ban Bí thư cho ý kiến chỉ đạo về tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức.
Trong năm 2013 và 2014, mục tiêu của Đề án là tạm thời không tăng biên chế trong cơ quan Đảng, tổ chức chính trị - xã hội, trừ tổ chức thành lập mới hay bổ sung nhiệm vụ, không tăng cơ quan hành pháp từ T.Ư đến địa phương. Kiên quyết xóa bỏ bao cấp về kinh phí hoạt động đối với các tổ chức hội.
Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đồng ý thành lập một cơ quan độc lập phụ trách công tác tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ công chức. (Kinh tế & Đô thị 15/3) đầu trang(
QUẢN LÝ
Ban giám đốc Sở TN&MT Bình Thuận vừa kiểm điểm liên quan đến việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đối với 22 lô đất tại phường Xuân An, TP Phan Thiết và tham mưu cho UBND tỉnh cấp đất cho một số đối tượng không thật sự có nhu cầu bức xúc về nhà ở (5 trường hợp nhận đất xong đã bán lại cho người khác). (Tuổi Trẻ 15/3) đầu trang(
NHÂN SỰ
Chiều 13/3, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn tổ chức hội nghị thực hiện quy trình công tác cán bộ, bầu ông Hà Văn Khoát, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội đơn vị tỉnh Bắc Kạn giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Bắc Kạn nhiệm kỳ 2010 - 2015.
Trước đó, thực hiện quyết định việc điều động, phân công cán bộ của Bộ Chính trị, đồng chí Nguyễn Xuân Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, thôi giữ chức Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Bắc Kạn để giữ chức Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương. (Cổng thông tin điện tử Chính phủ 14/3) đầu trang(
KINH TẾ
Ngày 14-3 dẫn Bản tin số 1 về nợ công của Việt Nam giai đoạn 2010-2011 do Bộ Tài chính công bố cho biết tổng dư nợ công của Việt Nam trong hai năm 2010 và 2011 tương đương 56,3% GDP và 54,9% GDP.
Theo Bộ Tài chính, với mức nợ công tương đương 54,9% GDP trong năm 2011, mức nợ công hiện tại của Việt Nam là phù hợp với tiêu chuẩn an toàn về nợ theo thông lệ quốc tế.
Theo Bộ Tài chính, trong những năm tới, do nhu cầu đầu tư phát triển, nợ công dự kiến sẽ còn tiếp tục tăng nhưng mức tăng này đã được dự báo và được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 10/2011/QH13 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm năm 2011-2015; theo đó dư nợ công tới năm 2015 không quá 65% GDP.
Bản tin về nợ công của Việt Nam do Bộ Tài chính phát hành thể hiện việc công khai thông tin về nợ công theo quy định của Luật Quản lý nợ công. Đồng thời thể hiện tính minh bạch của công tác quản lý tài chính nói chung và công tác quản lý nợ nói riêng, tránh được những nguồn tin không chính xác, sai lệch về tình hình nợ công của Việt Nam. (Pháp luật TP.HCM 15/3) đầu trang(
TIN TỨC
UBND tỉnh Đồng Nai vừa tổ chức họp bàn về việc lấy ý kiến cho đề án xây dựng trung tâm hành chính - chính trị mới của tỉnh (gọi tắt là TTHC mới).
Theo Sở Xây dựng, chủ đầu tư, đề án đã xác định TTHC mới của tỉnh sẽ nằm ở khu trung tâm đô thị mới Tam Phước (TP Biên Hòa) với diện tích khoảng 340ha. Địa điểm này tiếp cận các trục giao thông như quốc lộ 51, đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, đường cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây và cảng hàng không quốc tế Long Thành. TTHC mới đặt trong khu đô thị Tam Phước đã được hội đồng nhân dân tỉnh chấp thuận chủ trương và Ban thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai kết luận chỉ đạo vào tháng 12-2008.
Cũng theo Sở Xây dựng, sở đề xuất làm TTHC mới của tỉnh Đồng Nai với diện tích 20ha cùng với khu quảng trường trung tâm 20ha nằm trong tổng thể dự án khu đô thị mới Tam Phước. Đồng thời, sở đề xuất tỉnh chọn phương án đầu tư cũng như tổ chức thi chọn ý tưởng về quy hoạch, thiết kế cho TTHC mới.
Khi tỉnh Đồng Nai có ý tưởng xây dựng TTHC mới ở xã Tam Phước (lúc đó thuộc huyện Long Thành) để dời các trụ sở hành chính hiện hữu ở TP Biên Hòa đã có nhiều ý kiến trái chiều. Đến tháng 2-2010, Chính phủ đã đồng ý cho Đồng Nai điều chỉnh địa giới hành chính TP Biên Hòa nên TP có thêm bốn xã, trong đó có xã Tam Phước. (Tuổi Trẻ 15/3) đầu trang(
PHÁP LUẬT
Sáng 14.3, Phòng CSĐT tội phạm về TTXH (PC45), Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu phối hợp với Công an H.Châu Đức và Công an xã Xà Bang thi hành lệnh khám xét nơi cư trú của bà Lê Thị Hường (37 tuổi, vợ Bí thư xã Kim Long) để truy tìm thi thể của bà Dương Thị Thủy Bình Hà (Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ, kiêm thủ quỹ UBND xã Kim Long) mất tích trước đó 11 tháng.
Tại các vị trí khai quật trong vườn nhà bà Hường, lực lượng khám xét đã tìm thấy nhiều xương đã bị bể nát, một số xương cốt bị đốt cháy vón thành cục. Cơ quan công an thu được 7 bịch ni lông xương, tro cốt, 2 cái răng... để đưa đi giám định xem có phải là của nạn nhân Dương Thị Thủy Bình Hà hay không.
Trong khi đó, sau khi bị PC45 bắt giam để điều tra về hành vi giết người do liên quan đến vụ án chém hai vợ chồng chủ nợ vào ngày 15.1, bà Hường khai nhận đã giết chết bà Hà.
Cụ thể, giữa tháng 5.2012, bà Hường gọi bà Hà đến nhà nhờ sửa đường ống nước rồi chích điện giết chết. Sau đó đưa xác nạn nhân ra vườn dùng củi cà phê đốt phi tang. Khi ông Võ Thanh Mỹ (chồng bà Hường, Bí thư xã Kim Long) đi làm về thì bà Hường dập tắt lửa. Hôm sau, đợi lúc chồng ra khỏi nhà thì tiếp tục đốt, sau đó mang tro cốt nạn nhân đổ rải rác nhiều nơi trong vườn và một gốc cây cao su của rẫy người dân gần đó.
Trong thời gian bị tạm giam, bà Hường còn khai nhận sau khi sát hại bà Hà, đã lấy vòng đeo tay bằng vàng của nạn nhân đưa đi bán với giá 14 triệu đồng. Cơ quan công an đã xác định được nơi bà Hường bán tang vật này là một tiệm vàng trên địa bàn H.Long Điền.
Ông Trần Văn Thu, Phó bí thư thường trực Huyện ủy Châu Đức, cho biết ngay trong sáng 14.3 đã gặp ông Mỹ, thông báo việc Huyện ủy đã yêu cầu ông Mỹ tạm ngưng điều hành công việc của bí thư xã. Huyện ủy cũng đã giao cho 2 phó bí thư xã Kim Long điều hành công việc. (Thanh Niên 15/3) đầu trang(
Ông Đàm Xuân Lũy, Giám đốc Sở GTVT TP.Hải Phòng, cho biết đã chỉ đạo Thanh tra sở xác minh cụ thể, làm rõ dấu hiệu sai phạm tại Đội Thanh tra giao thông số 5, nếu sai phạm sẽ xử lý nghiêm.
Đầu mối nghi vấn là việc Đội 5 xử lý vi phạm của ông Hoàng Đình Thắng, chủ xe tải nhỏ 33H-9395. Sáng 30.11.2012, ông Thắng ngồi bên phụ cùng tài xế chở 2 tấn muối trên đường Lê Thánh Tông, Q.Ngô Quyền, bị cán bộ Đội 5 lập biên bản vi phạm chở quá tải trọng thiết kế “2 tấn/1,1 tấn”.
Với mức quá tải trên 40% này, lái xe bị phạt 4 triệu đồng, tước giấy phép lái xe 60 ngày. Theo quy định, vi phạm này không thuộc thẩm quyền xử phạt của cấp đội mà thuộc thẩm quyền của Thanh tra sở. Tuy nhiên, ông Vũ Hoàng Tùng, Đội phó Đội 5, đã trực tiếp nhận 4 triệu đồng tiền phạt của ông Thắng và trả lại giấy tờ xe cho ông này ngay trong ngày 30.11, không hề có biên lai.
Trong biên bản làm việc của Thanh tra sở với ông Phạm Hồng Khang (cũng là Đội phó Đội 5, người đã ký biên bản vi phạm chở quá tải của xe 33H-9395), ông Khang thừa nhận việc ghi biên bản lỗi quá tải (2 tấn/1,1 tấn) là chưa chuẩn. Vì theo quy định, khi ghi biên bản, các số tự nhiên từ 1 đến 9 phải ghi thêm số 0 vào trước (đúng ra phải là 02 tấn) để tránh việc sửa chữa.
Ông Khang cũng thừa nhận thường xuyên viết biên bản không đúng quy định vì ông nghĩ “ai cũng có mối quan hệ nên viết biên bản như thế là để tạo điều kiện có thể linh hoạt giải quyết đối với những trường hợp thân quen”. Các trường hợp như vậy ông đều xin ý kiến Đội trưởng Đội 5 Bùi Mạnh Tuấn.
Một cán bộ Thanh tra sở phân tích: Với vi phạm của xe 33H-9395, biên bản lập ban đầu ghi lỗi quá tải “2 tấn/1,1 tấn” (mức quá tải trên 40%), sau khi nhận tiền phạt 4 triệu đồng, rất có thể thanh tra viên sẽ sửa lỗi quá tải thành “1,2 tấn/1,1 tấn” (thêm số 1 và dấu phẩy ở trước số 2) thì mức quá tải chỉ còn dưới 10%, mức phạt từ 300.000 - 500.000 đồng (mức trung bình là 400.000 đồng), đúng thẩm quyền xử phạt của thanh tra viên. Nếu có việc sửa chữa như vậy thì chỉ có 400.000 đồng được nộp vào ngân sách, còn 3,6 triệu đồng tiền chênh lệch sẽ bị "hô biến".
Ngoài ra còn nhiều biên bản vi phạm của xe chở quá tải dưới 10%, nhưng con số tải trọng thiết kế của xe ghi trong biên bản không đúng với hồ sơ kiểm định của cơ quan đăng kiểm. Nghiêm trọng hơn, chỉ trong một quyển biên bản (50 tờ) đã có tới hàng chục trường hợp có dấu hiệu bị sửa chữa, sai so với hồ sơ đăng kiểm xe. Câu hỏi đặt ra là với tổng cộng 69 quyển biên bản (trong vòng 2 năm) có bao nhiêu trường hợp bị “phù phép”? (Thanh Niên 15/3) đầu trang(
Ngày 14.3, tin từ Cơ quan CSĐT Công an Quảng Nam cho biết vừa triệu tập một số cán bộ Ban Quản lý dự án thủy điện Sông Bung 2 và Trung tâm phát triển quỹ đất H.Nam Giang, để làm rõ trách nhiệm trong vụ lập “khống” hồ sơ đền bù tại dự án thủy điện Sông Bung 2, do Tập đoàn điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư.
Theo kết quả điều tra ban đầu, từ tháng 6 đến tháng 10.2011, có 32 hộ dân ở xã La Êê và 20 hộ dân ở xã Chơ Chun được lập hồ sơ với gần 543.000 m2 diện tích đất bị ảnh hưởng, tổng giá trị bồi thường hơn 12 tỉ đồng (trong đó bồi thường, hỗ trợ trực tiếp gần 11,8 tỉ đồng).
Tuy nhiên, trên thực tế những hộ này không hề có đất nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của dự án. Sau khi 52 hộ dân nhận tiền, đến tháng 10.2012, nhiều hộ dân khác không được đền bù đã khiếu nại nên sự việc mới được phát hiện. Đến tháng 1.2013, UBND H.Nam Giang đã lập tổ công tác, rà soát vận động, thu hồi được gần 7,5 tỉ đồng chi sai quy định.
Hiện các cơ quan chức năng của Quảng Nam tiếp tục điều tra, làm rõ hành vi cấu kết giữa một số cán bộ địa phương và Ban Quản lý dự án thủy điện Sông Bung 2 trong việc lập khống hồ sơ, hợp thức hóa phương án bồi thường, trong đó có dấu hiệu thiếu minh bạch khi chi trả cho người dân (chi trả ít hơn số tiền ký nhận) để trục lợi. Riêng tại xã La Êê, có ít nhất 3 bộ hồ sơ khống do xã tự ý đưa thêm vào danh sách đền bù để lấy hơn 660 triệu đồng. (Thanh Niên 15/3) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Cũng khoảng đầu năm ngoái, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 2011 được công bố.
Quan sát kỹ bảng điểm từng tỉnh một có thể nhận thấy một điểm chung: Chỉ số “chi phí gia nhập thị trường” đều tăng điểm (trừ Gia Lai giữ nguyên), chứ không như các chỉ số khác có tăng ở tỉnh này, giảm ở tỉnh kia. Đó là lần đầu tiên có một chỉ số tăng điểm độc đáo như vậy.
PCI 2012 vừa được công bố sáng qua, lại có một chỉ số độc đáo khác: chỉ số “Thiết chế pháp lý”. Có điều chỉ số này… giảm điểm đều ở các tỉnh (trừ Phú Yên, Bạc Liêu, Bắc Giang giữ nguyên) và điểm số rất thấp so với các chỉ số khác.
PCI được thể hiện dưới dạng biểu đồ tròn, trông như một chiếc bánh có điểm lồi, điểm lõm ở từng chỉ số. Ở PCI 2012, chiếc bánh này ở hầu hết các tỉnh đều hõm sâu một góc, ngay chỉ số “Thiết chế pháp lý”. Trong bảng phân tích, nhóm nghiên cứu đánh giá về chỉ số này rằng: DN giảm tin tưởng hệ thống pháp luật sẽ bảo vệ đất đai, tài sản, hợp đồng của mình. DN ngày càng ít tin tưởng rằng một cán bộ làm sai thì mình có thể đi khiếu nại. DN ít tin tưởng và ít sử dụng tòa án để giải quyết tranh chấp hợp đồng… Nói nôm na là DN ngày càng giảm lòng tin vào công lý.
Ở PCI 2010, chỉ số “Chi phí gia nhập thị trường” từng bị giảm điểm đều ở các tỉnh (trừ Cao Bằng, Đắk Lắk, Gia Lai, Quảng Ninh là giữ nguyên). Nhưng ở PCI 2011, chỉ số này tăng đều ở các tỉnh. Liệu cuộc chuyển biến ngoạn mục này có xảy ra với chỉ số “Thiết chế pháp lý” trong PCI năm 2013 hay không?
Sẽ rất khó! Bởi lẽ ở chỉ số “Chi phí gia nhập thị trường”, các cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ cần thay đổi một nghị định, một thông tư nhằm cắt bớt thủ tục rườm rà, giảm thời gian cấp phép… là đã có thể “kích” chỉ số này lên ít nhiều (ví dụ cụ thể là tác động của Nghị định 43/2010 về đăng ký kinh doanh đến PCI 2011).
Thế nhưng để “kích” lòng tin của DN vào công lý đâu phải chỉ một ngành, một lĩnh vực. Đặc biệt, khi mà việc thực thi công lý phụ thuộc rất nhiều vào con người, vào công chức, vào cán bộ xét xử chứ không chỉ nằm ở việc sửa đổi một nghị định, một thông tư.
Cho nên có lẽ DN sẽ tiếp tục thở dài mà nhìn vết hõm trên “chiếc bánh” PCI thêm nhiều năm nữa. (Pháp luật TP.HCM 15/3) đầu trang(
Một văn bản quy phạm pháp luật thực sự phù hợp với người dân phải được xem xét kỹ càng, lắng nghe, tiếp thu ý kiến đa chiều.
Một trong những yêu cầu khi soạn thảo, xây dựng các văn bản pháp luật là lắng nghe ý kiến góp ý từ các cơ quan chức năng và người dân. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật có tính khả thi cao, giúp các cơ quan chức năng thực hiện công tác quản lý Nhà nước có hiệu lực, hiệu quả; góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân. Đó là vì từ lúc soạn thảo đến khi ban hành nó nhận được sự đồng thuận của các cơ quan chức năng, chuyên gia pháp lý và người dân.
Câu chuyện Bộ trưởng Giao thông Vận tải Đinh La Thăng quyết định không đưa quy định xử phạt xe không chính chủ vào dự thảo Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ cho thấy, trách nhiệm của người có thẩm quyền trước một vấn đề xã hội
Chỉ trong thời gian ngắn, nhiều dự thảo văn bản pháp luật của các cơ quan chức năng được đưa ra để lấy ý kiến đóng góp của nhân dân. Từ quy định xe “chính chủ”, quy định lễ tang của cán bộ công chức, đến mũ bảo hiểm kém chất lượng, rồi dự thảo Nghị định quy định các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ…
Mỗi hành vi vi phạm đều có mức xử phạt tương ứng. Điều đó cho thấy, các văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng nhiều kỳ vọng của cơ quan chức năng vào việc tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật.
Có thể khẳng định, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong một Nhà nước pháp quyền là cần thiết. Nhưng văn bản đó phải thực sự giúp cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước trong từng lĩnh vực.
Nếu không khả thi, không nhận được sự đồng thuận của các chuyên gia pháp lý và đông đảo người dân thì nó phải được cân nhắc loại bỏ. Bởi nếu như được ban hành nó sẽ ảnh hưởng không chỉ đến công tác quản lý của cơ quan chức năng mà còn làm suy giảm lòng tin của nhân dân; gây tâm lý căng thẳng trong dư luận và tạo thói quen “nhờn luật”, không tôn trọng pháp luật trong một bộ phận người dân.
Những năm gần đây, người dân quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề xã hội, đặc biệt là việc ban hành các chính sách, pháp luật liên quan đến đời sống của dân. Quy định về xử phạt xe “không chính chủ” cũng vậy. Tuy rằng, mỗi cơ quan quản lý đều có lý lẽ riêng để bảo vệ quan điểm của mình, nhưng trước phản ứng của dư luận và đặc biệt là xem xét tới tính khả thi, Bộ trưởng Giao thông Vận tải Đinh La Thăng đã quyết định không đưa quy định này vào dự thảo Nghị định.
Quyết định ấy nhận được sự đồng tình của đông đảo người dân. Bởi trước hết, nó có những bất cập, nhiều bất hợp lý. Nhưng điều quan trọng là tiếng nói của người dân đã được lắng nghe, đã được người có trách nhiệm điều chỉnh. Một văn bản quy phạm pháp luật thực sự phù hợp với thực tế, được phần lớn người dân đồng thuận đòi hỏi ngay từ khâu soạn thảo đã phải được xem xét kỹ càng, lắng nghe, tiếp thu ý kiến đa chiều từ các nhà khoa học đến những người thực thi.
Đôi khi, sự phản biện đối với một chính sách, một văn bản quy phạm pháp luật không phải lúc nào cũng đúng, nhưng từ những ý kiến đa chiều, sự phân tích hợp tình hợp lý sẽ giúp cơ quan chức năng, các nhà làm luật lựa chọn được những vấn đề cơ bản nhất, đúng đắn nhất để quyết định.
Chính sách, văn bản pháp luật khi được ban hành sẽ điều chỉnh các mối quan hệ liên quan đến cuộc sống hằng ngày, đến quyền lợi sát sườn của người dân. Nếu như nó không phù hợp, không thực hiện được, thì đương nhiên chính sách, văn bản pháp luật đó sẽ bị lãng quên, bị "chết yểu".
Hiện nay, vẫn còn tình trạng “có luật cũng như không” hoặc văn bản luật “sáng đúng, chiều sai, sáng mai lại đúng” làm cho người dân, kể cả người, cơ quan hướng dẫn loay hoay không biết phải thực hiện như thế nào. Nguyên nhân, biện pháp đã được Chính phủ, các Bộ, ngành chỉ ra nhằm thiết lập lại trật tự, nguyên tắc trong ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nâng cao chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật.
Nhưng qua câu chuyện không xử phạt xe "không chính chủ" cho thấy, lắng nghe không chỉ là một quy trình bắt buộc của việc ban hành chính sách, văn bản pháp luật, mà nó thể hiện sự dân chủ, sự tôn trọng luật pháp của người có trách nhiệm và các cơ quan thừa hành pháp luật. Bởi nếu không có sự lắng nghe và tiếp thu nghiêm túc sẽ không thể có chính sách, văn bản pháp luật hợp lòng dân, phù hợp với thực tiễn. Và như thế sẽ không thể có những quyết định xử phạt đúng quy định của pháp luật. (VOV 14/3) đầu trang(
Dưới sự chủ trì của Bộ Tư pháp, tại cuộc họp vừa tổ chức, liên bộ KHCN, Công Thương, GTVT và Công an đã quyết định dừng thực hiện Thông tư liên tịch 06/2013 về xử phạt người dân đội mũ bảo hiểm (MBH) không có tem hợp quy CR.
Thông tin đưa ra từ cuộc họp cho biết quan điểm của Bộ Tư pháp là do quản lý nhà nước từ khâu sản xuất, nhập khẩu, lưu thông, bán MBH không được tốt nên trên thị trường đang lưu hành nhiều loại mũ có hình dáng giống MBH, mũ giả, mũ không đúng tiêu chuẩn.
Đây là loại hàng hóa có tiêu chuẩn phức tạp nên người dân rất khó phân biệt, thậm chí khả năng phân biệt thật - giả cũng “đánh đố” đối với cả lực lượng CSGT. Do đó, theo Bộ Tư pháp, quy định buộc người dân phải biết mũ thật, mũ giả và việc sử dụng nhầm loại mũ không “hợp quy” (không có tem CR) bị coi là căn cứ để xử phạt vi phạm hành chính là thiếu thuyết phục.
Trước đó việc bốn bộ họp bàn, soạn thảo, ban hành thông tư liên tịch này diễn ra trong hoàn cảnh... hết sức “bí mật” nên đến khi tuyên bố sắp tới sẽ xử phạt người dân sử dụng MBH thiếu tem khiến dư luận hoàn toàn bất ngờ.
Bất ngờ vì một chính sách tác động đến 70% người tham gia giao thông (đang sử dụng mũ không có tem CR - bị coi là mũ rởm) nhưng lại không hề được công khai, lấy ý kiến đối tượng bị tác động như quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Trong khi đó chính họ lại buông lỏng quản lý suốt thời gian dài, mặc cho các loại mũ không tem bày bán công khai, người dân sử dụng trở thành rất phổ biến...
Vì thế việc lắng nghe dư luận, xác định tính khả thi của một quy phạm pháp luật để quyết định ngừng thực thi như trường hợp Thông tư 06/2013 là sự cầu thị đáng hoan nghênh từ các cơ quan quản lý nhà nước. Đáng hoan nghênh hơn nữa là hành động này diễn ra trong bối cảnh có hàng loạt các quy phạm pháp luật khác do các bộ soạn thảo bị đánh giá là kém khả thi, thậm chí có quy phạm còn bị đánh giá là đã chứa các quy định vi phạm các luật khác.
Thế nhưng đằng sau sự cầu thị là ngừng thực hiện thông tư rất cần thiết đó dư luận vẫn đòi hỏi cần có việc kiểm điểm, xử lý thỏa đáng với những cán bộ làm trái quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật khiến cơ quan nhà nước mang tiếng như thế. (Pháp luật TP.HCM 15/3) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Bộ Lao động Nga ngày 11/3 cho đăng trên trang web chính thức một danh sách những câu và đề tài được xem là “kích động” việc hối lộ.
Theo đó, từ nay các viên chức nhà nước bị cấm đặt ra những câu hỏi hoặc nói về chủ đề “nhạy cảm” này với người dân. Bộ yêu cầu các quan chức không được nói những câu đại loại như “vậy thì mình làm gì đây?” hoặc “mình có thể hiểu nhau mà” được xem là “có thể mở đầu một vụ hối lộ”.
AFP cho biết những quan chức Nga phải tránh đề cập đến các chủ đề như lương quá thấp, đăng ký vào trường điểm cho người thân, dự án du lịch… trong cuộc đối thoại với ai đó. (Tuổi Trẻ 14/3) đầu trang(./.
Biên tập: Nguyễn Mai
|
|||