|
Ngày 09 tháng 09 năm 2016
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
QUẢN LÝ
NHÂN SỰ MỚI
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
KINH TẾ
PHÁP LUẬT
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 123/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ.
Theo đó, Bộ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về một hoặc một số ngành, lĩnh vực và dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc.
Bộ trưởng là thành viên Chính phủ và là người đứng đầu Bộ, lãnh đạo công tác của Bộ; chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân công; tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực được giao trong phạm vi toàn quốc.
Bộ trưởng làm việc theo chế độ thủ trưởng và Quy chế làm việc của Chính phủ, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ.
Thứ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ (sau đây gọi chung là Thứ trưởng) giúp Bộ trưởng thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ cụ thể do Bộ trưởng phân công và chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công. Thứ trưởng không kiêm người đứng đầu tổ chức, đơn vị thuộc Bộ, trừ trường hợp đặc biệt.
Khi Bộ trưởng vắng mặt, một Thứ trưởng được Bộ trưởng ủy nhiệm thay Bộ trưởng điều hành và giải quyết công việc của Bộ. Số lượng Thứ trưởng thực hiện theo quy định của Luật tổ chức Chính phủ.
Việc tổ chức và hoạt động của Bộ thực hiện theo nguyên tắc phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Bộ, Bộ trưởng; đề cao trách nhiệm của Bộ trưởng trong mọi hoạt động của Bộ; tổ chức bộ máy của Bộ theo hướng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; chỉ thành lập tổ chức mới khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật; phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc Bộ bảo đảm không chồng chéo hoặc bỏ sót nhiệm vụ; công khai, minh bạch và hiện đại hóa hoạt động của Bộ.
Nghị định dành Chương II với 11 Điều quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ về: Pháp luật; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; hợp tác quốc tế; cải cách hành chính; quản lý nhà nước các dịch vụ sự nghiệp công thuộc ngành, lĩnh vực; doanh nghiệp, hợp tác xã và các loại hình kinh tế tập thể, tư nhân khác; hội, tổ chức phi Chính phủ; tổ chức bộ máy, biên chế công chức và số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập; về cán bộ, công chức, viên chức; kiểm tra, thanh tra; quản lý tài chính, tài sản.
Cụ thể, Bộ có nhiệm vụ trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội; dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Chính phủ và các nghị quyết, dự án, đề án theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Bên cạnh đó, trình Chính phủ có ý kiến về các dự án luật, pháp lệnh do các cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội liên quan đến ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ; trình Chính phủ quyết định các biện pháp để tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Về cải cách hành chính, Bộ trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định việc phân cấp nhiệm vụ quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cho chính quyền địa phương; quyết định phân cấp hoặc ủy quyền cho chính quyền địa phương thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của Bộ; quyết định và tổ chức thực hiện kế hoạch cải cách hành chính, công khai thủ tục hành chính thuộc ngành, lĩnh vực; quyết định phân cấp hoặc ủy quyền cho các cơ quan, đơn vị trực thuộc thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của Bộ; cải cách tổ chức bộ máy của Bộ bảo đảm tinh gọn, hợp lý, giảm đầu mối, bao quát đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ theo phân công của Chính phủ.
Về quản lý nhà nước các dịch vụ sự nghiệp công thuộc ngành, lĩnh vực, Bộ trình Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách về cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công; thực hiện xã hội hóa các hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công; cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực quản lý; trình Thủ tướng Chính phủ quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực; danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý.
Bộ cũng có nhiệm vụ trình Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ và các chương trình, chiến lược định hướng phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã, các loại hình kinh tế tập thể, tư nhân khác thuộc các thành phần kinh tế trong ngành, lĩnh vực. Kiểm tra việc thực hiện các quy định đối với ngành, nghề kinh doanh, dịch vụ có điều kiện theo quy định của pháp luật và xử lý vi phạm thuộc thẩm quyền.
Về tổ chức bộ máy, biên chế công chức và số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập, Bộ có nhiệm vụ trình Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Bộ và của cơ quan thuộc Chính phủ được phân công quản lý; trình Chính phủ quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể tổng cục và tổ chức tương đương (sau đây gọi chung là tổng cục), vụ, cục và tương đương thuộc Bộ...
Cơ cấu tổ chức của Bộ gồm: Vụ; Văn phòng; Thanh tra; Cục (nếu có); Tổng cục (nếu có); đơn vị sự nghiệp công lập.
Các đơn vị sự nghiệp công lập được quy định tại Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng Bộ, gồm: Các đơn vị nghiên cứu chiến lược, chính sách về ngành, lĩnh vực; Báo, tạp chí; Trung tâm Thông tin; Trường hoặc Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; Học viện thuộc Bộ.
Số lượng cấp phó của người đứng đầu văn phòng, thanh tra, vụ, cục, tổng cục, đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo quy định của Luật tổ chức Chính phủ.
Nghị định nêu rõ, không tổ chức phòng trong vụ. Riêng trường hợp vụ có nhiều mảng công tác hoặc khối lượng công việc lớn, Bộ trình Chính phủ quyết định số lượng phòng trong vụ tại Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ. (Chính Phủ 8/9) đầu trang(
Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản7469/VPCP-KTTH truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc đảm bảo an ninh, an toàn, bảo mật trong hoạt động thanh toán.
Trong thời gian qua, có xảy ra một vài sự cố rủi ro, gian lận trong hoạt động thanh toán. Để hạn chế thấp nhất rủi ro, đảm bảo an ninh, an toàn, bảo mật trong hoạt động thanh toán nói chung, thanh toán thẻ, thanh toán điện tử cũng như đảm bảo quyền lợi của khách hàng và ngân hàng, Thủ tướng Chính phủ giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, trước ngày 15/10/2016 ban hành qui định các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, trung gian thanh toán cần ghi rõ trong các hợp đồng cung ứng dịch vụ nội dung cụ thể về trách nhiệm trong việc tiếp nhận thông tin từ khách hàng, thời gian xử lý, phương án đền bù đối với các trường hợp phát sinh rủi ro, sự cố trong hoạt động thanh toán.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tăng cường công tác chỉ đạo, thanh tra, kiểm tra đảm bảo việc chấp hành các qui định của pháp luật về hoạt động thanh toán.
Đồng thời có biện pháp khuyến khích, yêu cầu các ngân hàng đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo an toàn, an ninh các dịch vụ thanh toán; tuyên truyền sâu rộng, hướng dẫn cụ thể cho người dân về cách sử dụng các dịch vụ thanh toán an toàn, hạn chế rủi ro và phòng tránh tội phạm.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công an chủ trì phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đấu tranh, xử lý nghiêm, kịp thời theo qui định của pháp luật các hành vi vi phạm trong hoạt động thanh toán ảnh hưởng đến an toàn, an ninh của hệ thống thanh toán quốc gia và uy tín của hệ thống ngân hàng. (Chính Phủ 8/9) đầu trang(
Theo Nghị định 122/2015/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động theo hợp đồng lao động (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016) thì 08 trường hợp sau đây được trả lương cao hơn ít nhất 7% mức lương tối thiểu vùng.
Theo đó, trường hợp đầu tiên, căn cứ theo quy định tại Nghị định 90/CP ngày 24/11/1993, người đã được cấp chứng chỉ nghề, bằng nghề, bằng trung học chuyên nghiệp, bằng trung học nghề, bằng cao đẳng, chứng chỉ đại học đại cuong, bằng đại học, bằng cử nhân, bằng cao học hoặc bằng thạc sỹ, bằng tiến sỹ.
Thứ hai, theo quy định tại Luật Giáo dục 1998 và Luật Giáo dục 2005, người đã được cấp bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, bằng tốt nghiệp đào tạo nghề, bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng tốt nghiệp đại học, bằng thạc sỹ, bằng tiến sỹ, văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghệ nghiệp, văn bằng giáo dục đại học và văn bằng, chứng chỉ giáo dục thường xuyên.
Thứ ba, theo quy định tại Luật Dạy nghề 2006, người đã được cấp chứng chỉ theo chương trình dạy nghề thường xuyên, chứng chỉ sơ cấp nghề, bằng tốt nghiệp trung cấp nghề, bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc đã hoàn thành chương trình học nghề theo hợp đồng học nghề.
Thứ tư, theo quy định của Luật Việc làm 2013, người đã được cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
Thứ năm, theo quy định tại Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014, người đã được cấp văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng; đào tạo thường xuyên và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác.
Thứ sáu, theo quy định tại Luật Giáo dục đại học 2012, người đã được cấp bằng tốt nghiệp trình độ đào tạo của giáo dục đại học.
Trường hợp thứ 7, người đã được cấp văn bằng, chứng chỉ của cơ sở đào tạo nước ngoài.
Trường họp thứ 8, người đã được doanh nghiệp đào tạo nghề hoặc tự học nghề và được doanh nghiệp kiểm tra, bố trí làm công việc đòi hỏi phải qua đào tạo nghề. (VnMedia 9/9)đầu trang(
QUẢN LÝ
“Quy trình do con người tạo ra, nếu anh sử dụng không đúng thì chắc chắn sẽ gây ra phản cảm”.
Đó là khẳng định của ông Nguyễn Tấn Tuân - Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Khánh Hòa trước việc ông Võ Thành Long, Cục trưởng Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bổ nhiệm nhân sự cho hàng loạt người nhà tại Cục thuế tỉnh, Chi cục thuế TP Vũng Tàu và huyện Côn Đảo.
Theo ông Tuân, hiện nay trong công tác cán bộ đào tạo, luân chuyển, bổ nhiệm nhiều lãnh đạo và các tỉnh, thành khẳng định đúng quy trình, không hề sai. Tuy nhiên vấn đề cần nhìn nhận ở đây là đạo đức của người tạo ra quy trình đó.
“Nếu cán bộ không công tâm thì sẽ đưa vợ, chồng, anh, em, người thân cất nhắc, bổ nhiệm ở các vị trí. Anh sử dụng quyền lực của mình để tạo ra quy trình bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ. Và tất cả những cái này đều không sai theo quy định của pháp luật nhưng ở khía cạnh đạo đức cán bộ thì phải xem lại”, ông Tuân nói.
Liên hệ trực tiếp với địa phương mình, ông Tuân cho biết ở Khánh Hòa, công tác cán bộ được làm rất kỹ. Riêng trường hợp con em của các lãnh đạo cũ cũng hạn hữu, chỉ 1 vài trường hợp cán bộ xuất chúng thì mới được xem xét đào tạo, đề bạt.
“Thường thì thời điểm này, sinh viên ra trường về các sở, ngành đoàn thể làm việc. Qua quá trình làm việc sẽ chọn cán bộ xuất sắc đưa đi học cao cấp chính trị rồi mới đưa vào quy hoạch cấp phó, cấp trưởng. Cứ dần dần như vậy. Khi ai đó đã vào tỉnh ủy viên rồi thì sẽ tính đến khả năng luân chuyển về các sở, ngành, địa phương. Sau 3 năm công tác ở đó, có trường hợp 6 năm cán bộ trở về sẽ tiếp tục được đào tạo, xin ý kiến các cấp.
Cán bộ phải trải qua quá trình đào tạo, cống hiến và rèn luyện thường xuyên như vậy chứ không thể tùy tiện đề bạt, cất nhắc được”, ông Tuân nhấn mạnh.
Cùng đưa ra ý kiến, bà Bùi Thị Khá, nguyên ĐBQH tỉnh Trà Vinh cho rằng thủ tướng chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã từng tuyên bố mạnh mẽ “Thi tuyển người tài chứ không phải tìm người nhà”. Chính vì vậy, theo bà Khá đối với việc bổ nhiệm các cán bộ, công chức, viên chức phải chú trọng đến việc công bằng, công khai, minh bạch để tìm ra được những người thật sự ưu tú, tránh tiêu cực kiểu “gia đình trị”.
Cho nên muốn làm được cái đó thì trong quy hoạch đề bạt thì phải công khai, minh bạch dân chủ. Nếu không làm đúng quy trình thì không cho bổ nhiệm.
“Chuyện ở Vũng Tàu như vậy thì phải tìm hiểu xem việc bổ nhiệm đó đã thật sự công khai, dân chủ chưa, có dấu hiệu tiêu cực, ưu tiên người nhà hay không.
Đâu chỉ có mình ông Cục trưởng cục thuế quyết định được đâu, còn về bên Đảng, cơ quan cấp trên, lãnh đạo cấp trên. Chúng tôi phải xem xét lại việc này. Nếu cán bộ nào không đúng quy trình bổ nhiệm thì sẽ xử lý theo quy định của pháp luật, theo luật công chức, viên chức, điều lên Đảng”, bà Khá nhấn mạnh.
Để giải quyết vấn đề này, nguyên ĐBQH tỉnh Trà Vinh cho rằng, dư luận và báo chí cần phải vào cuộc mạnh mẽ hơn nữa, đặc biệt cần đề cao tinh thần tố giác sai phạm để đưa những trường hợp bao che, dung túng trong bổ nhiệm cán bộ ra trước ánh sáng.
“Nếu không công khai minh bạch, quần chúng và các cán bộ không dám tố cáo thì đâu cũng sẽ ở đấy thôi. Sai phạm sẽ trầm trọng hơn. Thủ tướng chính phủ và 1 số lãnh đạo hiện nay rất quan tâm đến việc này. Chúng ta phải làm mạnh mẽ đến cùng”, bà Khá nói.
Nhìn nhận ở góc độ khác, ông Nguyễn Ngọc Bảo – nguyên ĐBQH tỉnh Vĩnh Phúc cho rằng việc bổ nhiệm cán bộ ở cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và những nghi ngại từ dư luận cần phải tách riêng rạch ròi, không thể đưa ra những nhận định chung chung khi chưa có bằng chứng cụ thể.
“Về nguyên tắc bổ nhiệm công chức, viên chức thì phải theo ngạch, có cả 1 quy trình của Bộ nội vụ. Ở đây xét nhiều đến trình độ, khả năng chuyên môn, thời gian công tác, năng lực lãnh đạo. Nếu cứ vin vào bổ nhiệm cán bộ có chút quan hệ và nói rằng sai trái thì cũng không hẳn đúng. Nó phải rõ việc ra, khuất tất ở đâu, không đúng quy trình ở mức độ nào”, ông Bảo khẳng định.
Vì vậy, trước những nghi ngại từ người dân, ông Bảo đề nghị các cơ quan chức năng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phải rà soát lại quá trình bổ nhiệm cán bộ tại Cục thuế tỉnh.
“Phải kiểm tra từng trường hợp cụ thể một. Việc bổ nhiệm đó có đúng quy trình hay không, có chính xác hay không? Nếu sai phạm phải xử lý nghiêm người đứng đầu và những người liên quan”, ông Bảo nói thêm. (Đất Việt 8/9)đầu trang(
Ngày 7/9, tại buổi làm việc với Bí thư thành ủy Đà Nẵng, ông Trần Văn Sơn – Giám đốc Sở KH-ĐT TP Đà Nẵng cho biết, tại đơn vị đã có nhiều trường hợp là cán bộ thuộc đề án Nguồn nhân lực chất lượng cao (đề án 922) ra đi sau 5-7 năm làm việc vì không được vào biên chế.
Theo cán bộ của Sở KH-ĐT, trước năm 2014, đối với cán bộ thuộc diện thu hút nhân tài được TP quan tâm. Hàng năm TP có gặp mặt để lắng nghe tâm tư và đề nghị có những đề xuất cho TP. Thêm nữa, các cán bộ thuộc đề án 922 được cho thi biên chế theo dạng ưu đãi. Ngoài ra, còn được hỗ trợ tiền lương 1 triệu đồng. Nhưng từ năm 2014 đến nay thì mọi khoản hỗ trợ thì bị cắt hết nên họ rất hụt hẫng.
Ông Nguyễn Xuân Anh, Bí thư thành ủy Đà Nẵng cho biết: việc hỗ trợ vật chất không quan trọng bằng việc lãnh đạo quan tâm cho các cán bộ 922 thăng tiến, bổ nhiệm, đề bạt. Do đó đề nghị, các Sở ban ngành nghiên cứu có chính sách mới giữ chân nhân tài không riêng gì ở Sở KH – ĐT. (Tiền Phong 9/9)đầu trang(
NHÂN SỰ MỚI
UBND tỉnh vừa có Quyết định phân công bổ sung nhiệm vụ đối với Phó Chủ tịch UBND tỉnh và thay đổi lĩnh vực phụ trách đối với Ủy viên UBND tỉnh Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2016 – 2021.
Cụ thể, phân công bổ sung nhiệm vụ đối với Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đặng Văn Minh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Bí thư Ban Cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh làm nhiệm vụ Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh.
Giúp Chủ tịch UBND tỉnh theo dõi, chỉ đạo các lĩnh vực công tác (bổ sung): Tiếp nhận và xử lý bước đầu trường hợp công dân tụ tập trước trụ sở Ủy ban nhân dân tỉnh, trụ sở Tỉnh ủy và các trường hợp tụ tập đông người trái phép, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự; giao nhiệm vụ cho các cơ quan chức năng thụ lý đơn và quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu đối với những nội dung thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND tỉnh; Trực tiếp theo dõi và chỉ đạo các sở, ngành, cơ quan, đơn vị (bổ sung): Tư pháp, Thi hành án dân sự.
Thay đổi lĩnh vực phụ trách đối với ông Đoàn Dụng, Giám đốc Sở Nội vụ, Ủy viên UBND tỉnh: Phụ trách Nội vụ.
Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 8/9/2016. (Báo Quảng Ngãi 8/9) đầu trang(
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
9/8, trong buổi đối thoại giữa Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh và hơn 30 hộ dân khu 6 phường Bạch Đằng, TP Hạ Long thuộc diện giải tỏa nhường đất cho dự án của Công ty My Way, những hình ảnh khó tin đã xuất hiện bên cạnh nỗi khổ rơi nước mắt của nhân dân.
Trong khi cả nghìn người dân quanh quẩn với việc tìm nhà để thuê với số tiền 2 triệu đồng một tháng theo hỗ trợ, thì Chủ tịch Phạm Hồng Hà xác nhận ông đang sở hữu biệt thự tráng lệ.
Như báo chí đã đưa tin, hơn 200 hộ dân ở khu tập thể 3 tầng (phường Bạch Đằng, TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh) bày tỏ sự không đồng thuận với chính sách hỗ trợ, bồi thường, bố trí tái định cư để triển khai Dự án hỗn hợp chung cư, văn phòng, trung tâm thương mại và nhà ở kết hợp phố mua sắm tại khu 6, phường Bạch Đằng (TP Hạ Long).
Để tìm ra tiếng nói chung, giải quyết dứt điểm các vấn đề còn tồn đọng, ngày 9/8, ông Nguyễn Văn Đọc – Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Ninh cùng ông Phạm Hồng Hà – Chủ tịch UBND Thành phố Hạ Long đã trực tiếp đối thoại với 30 hộ dân đại diện cho các hộ thuộc diện đền bù, giải phóng mặt bằng để phục vụ dự án.
Tại buổi đối thoại, rất nhiều người dân đã đứng lên mạnh mẽ phê phán, phản ứng gay gắt trước quyết định cắt điện nước đột ngột của ông Phạm Hồng Hà – Chủ tịch UBND TP Hạ Long. Cùng với đó là quyết định thu hồi cưỡng chế, giải phóng mặt bằng gấp gáp khi chưa có sự đồng thuận thỏa đáng, đã đẩy gần 1000 con người khu 6 Bạch Đằng lâm cảnh “màn trời chiếu đất”.
Trong khi Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Đọc cố gắng trấn an, thuyết phục người dân bằng lý lẽ và tình cảm để tìm ra hướng giải quyết thỏa đáng, thì ông Phạm Hồng Hà liên tục sử dụng điện thoại Mobiado nhắn tin gọi điện đi khắp nơi. Trong khi người dân đứng lên kêu hỏi với số tiền 2 triệu/tháng hỗ trợ thuê nhà , 4- 5 nhân khẩu biết tìm đâu chốn dung thân, thì ông Phạm Hồng Hà im lặng, khỏa cánh tay đeo chiếc đồng hồ màu vàng bóng loáng “lạnh lùng” im lặng trước những thắc mắc của người dân.
Khi mà những người dân thành phố Hạ Long bị ảnh hưởng bởi dự án My Way đang hoang mang với số phận của mình, thì sự xa hoa biểu hiện rõ nét trong buổi đối thoại với dân của ông Phạm Hồng Hà thể hiện điều gì đó “bất nhẫn’!
Cũng trong buổi đối thoại với người dân khu 6 Bạch Đằng ngày 9/8/2016, ông Phạm Hồng Hà xác nhận căn biệt thự rộng 470 m2 trên đường bao biển cột 5 phường Hồng Hà (TP Hạ Long) là ngôi nhà riêng đầu tiên mới được khánh thành.
Phóng viên đã tận mục sở thị căn biệt thự xa hoa, tuyệt đẹp mặt tiền ngắm Vịnh Hạ Long của ông Hà. Căn biệt thư với diện tích rộng 470m2 được xây dựng theo kiến trúc phương Tây với nhiều họa tiết trang trí cầu kỳ. Trước cửa nhà là cây Xanh cổ, theo đánh giá của giới chơi cây, đây là cây Xanh cổ có giá trị tiền tỷ. Theo giới buôn bán bất động sản tại Hạ Long, giá trị mỗi mét vuông đất tại đây có giá không dưới 70 triệu đồng/m2, quy đổi ra diện tích nhà ông Hà đang sở hữu có giá không dưới 30 tỷ đồng.
Căn biệt thự nổi bật hơn hẳn so với những biệt thự xung quanh bởi vẻ đẹp đẽ, lộng lẫy, công phu. Nhiều người dân trầm trồ ngưỡng mộ mức độ giàu có, sành điệu biết chơi và chăm chút kỹ lưỡng của chủ nhân khu biệt thự này. Cũng theo ông Hà, mọi tài sản của ông kể trên đều có trong lý lịch kê khai tài sản.
Người dân cho đến lúc này, vẫn không thể hiểu nổi Chủ tịch Phạm Hồng Hà kiếm đầu ra mà nhiều tiền để nhà to, cửa đẹp và xài đồ xa hoa như thế. Không thể quên nổi hình ảnh một người dân gạt nước mặt nói với Chủ tịch Phạm Hồng Hà trong buổi đối thoại: “Chủ tịch ở biệt thự to mà chúng tôi sống khổ thế này ông biết không? Ông làm gì mà giàu như thế?”. (Nhà Báo & Công Luận 8/9)đầu trang(
Báo cáo của Chính phủ cho thấy, năm 2016, có 18 người thiếu trách nhiệm để xảy ra hành vi tham nhũng bị xử lý, trong đó có 5 người bị xử lý hình sự, con số này giảm hơn 155% so với cùng kỳ năm 2015.
Con số này không thuyết phục được Thường trực Ủy ban Tư pháp. Đại diện Thường trực Ủy ban Tư pháp, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Mạnh Cường đề nghị Chính phủ báo cáo cụ thể các trường hợp người đứng đầu bị xử lý trách nhiệm để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý.
"Cụ thể với 5 trường hợp bị xử lý thì phải nói rõ họ bị xử lý vì tội gì? Là vì tham nhũng hành do thiếu trách nhiệm mà để xảy ra tham nhũng"?, ông Cường nói.
Trong khi đó, Phó viện trưởng VKSND Tối cao Nguyễn Hải Phong cho rằng, việc giao cho Thủ trưởng tự kiểm tra chính quân của ngành mình là một “điểm nghẽn” trong công tác PCTN.
“Muốn chống tham nhũng thì bàn tay phải sạch, tay bẩn thì không chống tham nhũng được. Phải để người ta yên tâm, tức là không muốn tham nhũng”, ông Phong nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, Ủy ban Tư pháp cũng cho biết, qua khảo sát tỷ lệ cho hưởng án treo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc xử dưới khung luật định đối với các vụ án tham nhũng tại địa phương còn cao.
Ủy ban tư pháp nhận định: Thực tế cho thấy tham nhũng được phát hiện và xử lý chủ yếu là các vụ án tham nhũng nhỏ ở cấp xã, phường, thị trấn hoặc những vụ án tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng, còn ở cấp tỉnh, cấp huyện, các bộ, ngành thì việc phát hiện và xử lý tham nhũng được ít. Đề nghị Chính phủ, các ngành cần đánh giá rõ hơn về nguyên nhân của tình trạng này.
Giải trình tại phiên họp, Tổng thanh tra Chính phủ Phan Văn Sáu cho rằng vẫn còn có biểu hiện chưa coi trọng việc xem xét trách nhiệm người đứng đầu, Tổng Thanh tra Phan Văn Sáu cho biết, đây cũng là hạn chế mà Chính phủ đã nghiêm túc chỉ ra khi tổng kết 10 năm thực hiện Luật PCTN.
Theo Tổng Thanh tra, nguyên nhân là do còn có sự bao che, thiếu kiên quyết, nể nang, né tránh trong xử lý. “Nếu tích cực kiểm tra, phát hiện tham nhũng trong nội bộ, thì có thể phải đối mặt với việc bị xử lý trách nhiệm hoặc ảnh hưởng đến uy tín, thành tích của bản thân và đơn vị”, ông Sáu nói và cho biết, tới đây, Chính phủ sẽ có những đề xuất sửa đổi Luật PCTN để khắc phục những hạn chế trên.
Trước đó, dư luận đặt nhiều dấu hỏi khi tại nhiều bộ, ngành, địa phương tổng kết thực hiện phòng chống tham nhũng đều không phát hiện sai phạm.
Tại Bộ Lao động, báo cáo tổng kết từ năm 2006 đến 2015, đơn vị này đã tổ chức 42 cuộc thanh tra hành chính đối với đơn vị và 3 cuộc kiểm tra trách nhiệm đối với thủ trưởng nhưng chưa phát hiện vụ việc có dấu hiệu tham nhũng.
Tại báo cáo tổng kết 10 năm qua, Bộ Công Thương, Bộ Ngoại Giao đều không phát hiện trường hợp tham nhũng nào.
Tương tự, Quảng Nam 10 năm "không phát hiện cán bộ nhận quà". Cụ thể, tại hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện luật phòng chống tham nhũng giai đoạn 2006-2015, UBND tỉnh Quảng Nam cho biết 10 năm qua "chưa phát hiện cán bộ nào vi phạm quy định về tặng, nhận và nộp lại quà".
Tương tự, Khánh Hòa không phát hiện công chức vi phạm quy định về nhận, nộp lại quà tặng và vi phạm về quy định kê khai tài sản, thu nhập suốt 10 năm.
Riêng trong năm 2015, báo cáo của UBND TP gửi HĐND TP Hà Nội khẳng định, “qua kiểm tra nội bộ chưa phát hiện trường hợp nào có dấu hiệu tội phạm tham nhũng”. Còn TP.HCM trong 9 tháng đầu năm 2015, qua công tác thanh tra chưa phát hiện trường hợp tham nhũng. Ngoài ra, qua kiểm tra xử lý nội bộ, cũng không phát hiện trường hợp tham nhũng nào. (Đất Việt 9/9)đầu trang(
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Tại hội nghị trực tuyến sơ kết công tác cải cách hành chính (CCHC) nhà nước giai đoạn 2011-2015 và triển khai kế hoạch CCHC giai đoạn 2016-2020 vừa qua, Bộ Nội vụ đã công bố chỉ số CCHC năm 2015 (PAR INDEX 2015) của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Theo đó, Quảng Ngãi đứng vị trí thứ 60/63 tỉnh, thành cả nước với 77,22/100 điểm. Vậy đâu là nguyên nhân?
Việc Quảng Ngãi nằm ở vị trí thứ 60 về chỉ số CCHC là điều không lấy gì làm vui, đòi hỏi những người có trách nhiệm, mỗi CB,CC trong các cơ quan hành chính nhà nước phải suy nghĩ. Dù chỉ số xếp hạng chỉ là tương đối, nhưng với kết quả đó cho thấy công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác CCHC từ tỉnh đến cơ sở chưa thật sự hiệu quả. Điều đáng nói nữa là, so với năm 2014 thì chỉ số này tỉnh ta tụt 6 bậc, từ vị trí 54 xuống 60/63 tỉnh, thành.
Phương pháp chấm điểm để xếp loại chỉ số CCHC được tổng hợp từ hai nguồn, gồm: Kết quả tự chấm điểm của địa phương (có thẩm định của Hội đồng Thẩm định Trung ương), với tối đa là 62 điểm và điều tra xã hội học, tức ý kiến về sự hài lòng của người dân, tối đa là 38 điểm. Như vậy, việc tỉnh ta đứng ở vị trí cuối là do mức độ hài lòng của người dân về TTHC là rất thấp.
Được biết, chỉ số CCHC được xác định trên 8 lĩnh vực, gồm: Công tác chỉ đạo điều hành CCHC; xây dựng và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật (QPPL); cải cách TTHC; cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CB,CCVC; đổi mới cơ chế tài chính đối với cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập; hiện đại hóa nền hành chính; thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông.
Chỉ số CCHC là một công cụ hữu ích trong quản lý Chương trình tổng thể CCHC, giúp đánh giá chính xác, khách quan công tác chỉ đạo, điều hành, triển khai thực hiện CCHC cũng như phản ánh những kết quả đạt được trong CCHC hằng năm của các bộ, ngành, địa phương. Việc xác định chỉ số CCHC từng bước tạo ra sự công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan hành chính, nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, địa phương, cán bộ đối với công tác CCHC. Đồng thời, huy động sự tham gia đánh giá của người dân, tổ chức đối với công tác CCHC của ngành, địa phương.
Từ năm 2012, chỉ số CCHC được thực hiện và công bố hằng năm. Mong rằng, từ xếp hạng chỉ số CCHC vừa được công bố, tỉnh ta sẽ có giải pháp mạnh mẽ trong việc cải thiện vị trí trong những năm tiếp theo theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc là “xây dựng chính quyền liêm chính, kiến tạo, phục vụ”. Các cấp, các ngành từ trung ương đến tỉnh, huyện, xã phải thật sự phục vụ nhân dân bằng những hành động cụ thể, để mang lại niềm tin cho nhân dân qua CCHC, nhất là CCTTHC. (Báo Quảng Ngãi 8/9) đầu trang(
KINH TẾ
Năm 2016 là năm quốc gia khởi nghiệp nên doanh nghiệp khởi nghiệp được nhìn nhận như một yếu tố tích cực tác động đến sự phát triển kinh tế-xã hội. Nhưng với mô hình kinh doanh của các doanh nghiệp khởi nghiệp, việc thành công dường như “đếm trên đầu ngón tay”.
Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Văn Tùng cho biết: Mặc dù khái niệm “khởi nghiệp” hay “startup” không còn mới ở Việt Nam, nhưng yếu tố để doanh nghiệp khởi nghiệp hình thành và phát triển phải bắt đầu từ ý tưởng sáng tạo, có tinh thần dám nghĩ dám làm. Bên cạnh đó phải có vốn, nguồn nhân lực và hành lang pháp lý để hỗ trợ doanh nghiệp.
Thực tế doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam có thành công nhưng cũng không ít thất bại, cứ 100 doanh nghiệp khởi nghiệp chỉ cần 5 đến 6 doanh nghiệp thành công, có doanh thu lớn đóng góp vào sự phát triển kinh tế-xã hội, tham gia được vào chuỗi cung ứng toàn cầu thì có thể nói là thành công. Những doanh nghiệp khởi nghiệp thành công này sẽ quay trở lại để hỗ trợ cho những doanh nghiệp khởi nghiệp, dự án khởi nghiệp, từ đó hỗ trợ nhau cùng phát triển sẽ giúp Việt Nam có lực lượng doanh nghiệp mạnh, phát triển bền vững.
Hiện nay đã có hành lang pháp lý cho doanh nghiệp khởi nghiệp, nhưng trước thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn về vốn, yếu về nhân lực và thiếu hành lang pháp lý… Nên các doanh nghiệp khởi nghiệp tuy có ý tưởng sáng tạo tốt nhưng chưa thu hút sự quan tâm của các quỹ đầu tư mạo hiểm và các nhà đầu tư tư nhân, cũng như vướng mắc trong chính sách nhận nguồn đầu tư nước ngoài…Bởi vậy, Việt Nam tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách để hỗ trợ tối đa cho doanh nghiệp khởi nghiệp.
Tiến sĩ Tạ Doãn Trịnh, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và công nghệ cho biết: Huy động vốn tư nhân để kinh doanh là một hình thức phổ biến trên thế giới nhưng lại rất mới ở Việt Nam, trong khi việc sử dụng vốn của Nhà nước cho các quỹ đầu tư mạo hiểm quá “khó khăn”.
Vì vậy Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng “Chính sách khuyến khích tư nhân thành lập hoặc liên kết với Nhà nước để thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm phát triển công nghệ mới, công nghệ cao”, để hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp, các startup có dự án, muốn khởi nghiệp nhưng thiếu vốn và cũng không huy động được vốn để triển khai dự án.
Để phát huy tiềm năng của cộng đồng khởi nghiệp, ngày 18/5/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 844 về việc phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”. Mục tiêu của Đề án là tạo lập môi trường thuận lợi để thúc đẩy, hỗ trợ quá trình hình thành và phát triển loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới. Đảm bảo đến năm 2025, cả nước sẽ có khoảng 2.000 dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, có 600 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được hỗ trợ phát triển, trong đó khoảng 100 doanh nghiệp gọi vốn thành công từ các nhà đầu tư mạo hiểm.
Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng đang hoàn thiện phương án thuế mới đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp để gỡ vướng cho các doanh nghiệp khởi nghiệp. Tiêu chí xác định doanh nghiệp khởi nghiệp sẽ là doanh nghiệp thành lập mới hoạt động dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới để tạo ra hàng hóa, dịch vụ có tính sáng tạo và ứng dụng thực tế trong các lĩnh vực của đời sống. Bên cạnh đó, còn phải đáp ứng tiêu chí về tổng doanh thu không vượt quá 20 tỷ đồng/năm. Đây được đánh giá là một trong những điểm thiết thực để hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp.
Bà Phạm Thị Thu Hằng, Tổng Thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng: Thực tế khởi nghiệp ở Việt Nam thất bại tương đối cao so với thế giới, do đó cần phải thay đổi tư duy hỗ trợ, thúc đẩy khởi nghiệp cũng như tạo ra nguồn vốn đầu tư cho khởi nghiệp. Thất bại là tình trạng chung của nhiều startup ở Việt Nam, việc thất bại sẽ kéo theo những mất mát về niềm tin, ý chí, tiền bạc, công sức…
Trước khi khởi nghiệp các startup cũng cần làm việc tại các doanh nghiệp hay tập đoàn để có thời gian trải nghiệm, hiểu thêm thị trường, thực tế kinh doanh để có kinh nghiệm cần thiết áp dụng cho quá trình khởi nghiệp. Đây cũng là những kinh nghiệm quý báu để các startup tiếp tục bước đi trên con đường khởi nghiệp. Đặc biệt, các starup phải không ngừng tìm tòi, sáng tạo, học hỏi, không ngại khó khăn và không lùi bước để khởi nghiệp thành công. (Đảng Cộng Sản VN 8/9) đầu trang(
Xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế biển toàn diện trên cơ sở khoa học tiên tiến, với sự tham gia và phối hợp giữa các bên có liên quan ở tầm quốc gia cũng như khu vực, không chỉ chú trọng khai thác tiềm năng hiện có mà cần coi trọng việc bảo tồn để khai thác tốt hơn tiềm năng trong tương lai.
Mặt khác, nên cộng hưởng đa ngành khoa học, liên vùng kinh tế để giải quyết các vấn đề liên quan đến biển nhằm phát triển kinh tế biển thật sự bền vững, lâu dài đang là vấn đề đặt ra hiện nay.
Cả nước đã có 9 cảng biển và 15 khu kinh tế ven biển được thành lập với tổng diện tích mặt đất và mặt nước lên đến 662.249 ha, thu hút khoảng 700 dự án do nước ngoài và trong nước đầu tư, với tổng số vốn gần 33 tỷ USD và 330.000 tỷ đồng.
Số dân cư sống ở các vùng ven biển tăng lên rất nhanh, bao gồm hàng triệu người làm nghề vận tải biển, đánh bắt cá, nuôi trồng thủy sản, dịch vụ đóng sửa tàu thuyền, chế biến thủy sản, dầu khí, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, du lịch… Nhiều thị trấn, thị tứ, khu nghỉ dưỡng đã hình thành dọc theo chiều dài ven biển của đất nước.
Nhưng những kết quả trên mới chỉ là bước đầu, bởi Chiến lược phát triển kinh tế biển chưa được quán triệt trong cả hệ thống chính trị, cộng đồng các doanh nghiệp và nông ngư dân. Việc phát triển kinh tế biển trong thời gian qua chưa quan tâm đầy đủ đến đào tạo nhân lực, chưa lồng ghép các chương trình phòng ngừa, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền an ninh biển đảo.
Nhiều địa phương, các ngành, các cấp, các doanh nghiệp, cư dân ven biển còn thờ ơ với tác động của biến đổi khí hậu đến sự phát triển kinh tế biển bền vững, chưa nhận thức đầy đủ ngành kinh tế biển là ngành đầu tiên chịu sự thiệt hại nặng nề do biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Một trong những nguyên nhân chủ yếu vẫn là cơ chế, chính sách chưa đủ thông thoáng.
Cơ chế, chính sách đối với kinh tế biển không có gì đặc thù đáng kể so với khung chính sách chung, đều trong khuôn khổ các luật quốc gia như Luật Đầu tư, Thương mại, Hải quan...Nhưng kinh tế biển mang tính đặc thù nên cần có một cơ chế, chính sách đặc thù, khác biệt với cơ chế, chính sách chung hiện hành.
Các chính sách mang tính địa phương lại cần lưu ý những quy định, chính sách phù hợp cho kinh tế biển phát triển. Trong đó cần có chính sách phát triển khoa học, chính sách bảo tồn các di sản thiên nhiên và văn hóa, chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu… Ngoài ra, hoàn chỉnh hệ thống các tiêu chuẩn về môi trường, nâng các tiêu chuẩn này lên mức ngang với tiêu chuẩn của các nước phát triển.
Nước ta hiện có hơn 300 khu công nghiệp có cơ cấu sản xuất tương đối giống nhau, 15 khu kinh tế không có sự khác biệt nhiều nên chưa hình thành được kinh tế vùng-yếu tố cấu thành nên nền kinh tế quốc dân có năng lực cạnh tranh cao.
Do đó, cần xây dựng quy hoạch phát triển không gian biển toàn diện trên cơ sở khoa học tiên tiến với sự tham gia và phối hợp giữa các bên có liên quan ở tầm quốc gia cũng như khu vực. Không chỉ chú trọng khai thác tiềm năng hiện có mà cần coi trọng việc bảo tồn để khai thác tốt hơn tiềm năng trong tương lai.
Để nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu vì biển thì phải khai thác thế mạnh ở tất cả các tỉnh ven biển từ Móng Cái đến Cà Mau, đồng thời phát huy tốt nhất lợi thế và khắc phục nhược điểm của từng vùng kinh tế, từng địa phương để tránh lãng phí nguồn lực.
Theo báo cáo của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, nghiên cứu khoa học về biển đã ghi nhận nhiều thành tựu mới, đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp phát triển kinh tế cũng như quản lý tài nguyên môi trường biển như mở rộng, bổ sung, điều tra khái quát tài nguyên môi trường ở nước ta; hoàn thiện điều tra khái quát vùng biển ven bờ và bước đầu mở rộng ra vùng biển xa bờ. Song để phát triển kinh tế biển được bền vững, rất cần sự cộng hưởng đa ngành khoa học, liên vùng kinh tế để giải quyết các vấn đề liên quan đến biển.
Kết quả nghiên cứu về khoa học và công nghệ biển giai đoạn gần đây cho thấy, so với thời gian trước, giai đoạn này đã có nhiều chuyển biến, đổi mới nhiều về tư duy và phạm vi nghiên cứu. Cụ thể trong lĩnh vực khí tượng, thủy văn và động lực học biển, lĩnh vực này đã xây dựng được quy trình công nghệ dự báo hạn ngắn bảo đảm an toàn cho các hoạt động kinh tế, quốc phòng trên biển; ứng dụng và hoàn thiện quy trình công nghệ dự báo ngư trường phục vụ khai thác hải sản xa bờ; dự báo các quá trình thủy thạch động lực ở vùng biển ven bờ, đánh giá biến động của mực nước biển dâng do biến đổi khí hậu.
Trong lĩnh vực địa chất và địa vật lý biển cũng đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Các công trình nghiên cứu về các bồn trầm tích Đệ Tam đã khái quát hoá một cách khoa học, logic về lịch sử địa chất để từ đó phục vụ đắc lực cho tìm kiếm thăm dò dầu khí. Đặc biệt, đề tài “Nghiên cứu cấu trúc địa chất và đánh giá tiềm năng dầu khí các khu vực Trường Sa và Tư Chính – Vũng Mây” năm 2008 – 2010 lần đầu tiên đã xác định được những đặc điểm cơ bản về cấu trúc, kiến tạo, địa chất dầu khí bồn trầm tích của các khu vực này.
Các hoạt động điều tra về đa dạng sinh học biển cũng được chú trọng, mở rộng nghiên cứu sinh vật biển ra vùng xa bờ, vùng nước sâu. Ngoài việc đánh giá tiềm năng nguồn lợi truyền thống, còn có các hoạt động nghiên cứu, phát hiện, triển khai công nghệ khai thác tiềm năng các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng, dược liệu, nguyên liệu công nghiệp từ sinh vật biển.
Riêng lĩnh vực nghiên cứu năng lượng, kỹ thuật công trình và công nghệ biển có ý nghĩa rất quan trọng để thực hiện mục tiêu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển. Nhiều công trình nghiên cứu các trạm phát điện tổng hợp gồm điện mặt trời và điện gió đã được nghiên cứu và áp dụng tại Cù Lao Chàm; tính toán khai thác năng lượng gió cho một số vùng biển, hải đảo Quan Lạn, Cô Tô...
Nước ta cũng đạt được nhiều thành tựu về công nghệ dự báo biển, công nghệ khai thác tài nguyên biển cùng với công nghệ tách chiết các hợp chất thiên nhiên trên biển phục vụ kinh tế-xã hội. Đã có số liệu đánh giá tương đối hoàn chỉnh tiềm năng nguồn lợi hải sản, khoáng sản, dầu khí trên toàn vùng biển nước ta, bao gồm cả vùng biển gần bờ và xa bờ.
Xuất bản được bộ chuyên khảo “Biển Đông” gồm 4 tập và bộ “Atlas biển Việt Nam và kế cận” gồm 60 tờ bản đồ tỷ lệ 1:1.000.000 – 2.000.000, tuyển 8 tập các kết quả chủ yếu của Chương trình khoa học và công nghệ biển, được coi như kết quả hoạt động điều tra khảo sát khái quát vùng biển đầu tiên của nước ta từ trước đến nay.
Đồng thời đánh giá đầy đủ hơn đa dạng sinh học biển và tiềm năng tài nguyên thiên nhiên biển Việt Nam; mở rộng và nâng cao nghiên cứu phục vụ xây dựng công trình và quản lý biển; phát triển được lực lượng, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, xây dựng cơ sở hạ tầng, quan hệ quốc tế được mở rộng…
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, Việt Nam còn thiếu một chiến lược tổng quát về khoáng sản năng lượng biển, chưa xây dựng được một bản đồ về tiềm năng khoáng sản năng lượng cho toàn vùng biển một cách chính xác. Chiến lược thăm dò, khai thác dầu khí chưa thật sự rõ ràng, còn phụ thuộc nhiều vào các công ty nước ngoài.
Nghiên cứu sinh vật, sinh thái vùng biển sâu và đảo xa bờ còn chậm và lúng túng, thậm chí bất lực trước yêu cầu ngăn chặn sự suy thoái nguồn lợi, các hệ sinh thái. Không những vậy, việc ô nhiễm dầu do các hoạt động đánh bắt thủy hải sản trên biển bằng các máy móc, thiết bị cũ kỹ, lạc hậu cũng rất đáng cảnh báo.
Theo thống kê, cứ trên 100 vụ tràn dầu do tai nạn tàu thì có đến 50% là do hoạt động trên gây ra. Nghiên cứu khoa học biển cũng có nhiều đặc thù khác với những nghiên cưu trên đất liền, nhưng không phải đó là lý do để đầu tư nghiên cứu một cách lãng phí. Tại các cuộc họp liên quan đến khoa học và công nghệ biển, rất nhiều các nhà khoa học đã phải thừa nhận tình trạng này.
Thạc sĩ Vũ Ánh Tuyết, Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đề xuất việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ biển để phát triển kinh tế biển bền vững, không chỉ dừng lại ở ngành khoa học và công nghệ biển mà đòi hỏi sự cộng hưởng đa ngành khoa học, liên vùng kinh tế để giải quyết các vấn đề liên quan đến biển, quốc phòng-an ninh trên biển.
Chính vì vậy, công tác nghiên cứu khoa học trong thời gian tới phải mang tính hệ thống và kế thừa rất cao, cần đặt ra kế hoạch tổng thể, xác định nhiệm vụ trọng tâm, hoạch định quy mô, phạm vi cho từng giai đoạn thực hiện bởi hiện nay chúng ta chưa có khả năng, phương tiện và điều kiện để làm một cách tổng thể.
Về dữ liệu biển nên làm định kỳ 5 năm một lần thật bài bản. Điều tra cơ bản phải làm đúng điểm, đúng phương tiện và lặp lại 5 năm 1 lần thì mới có sự so sánh chuẩn và cho ra dữ liệu đúng. Còn các nghiên cứu khác chỉ mang tính chất bổ sung. Phải có bộ dữ liệu chuẩn thì mới có thể “tự tin” khi bảo vệ chủ quyền của chính mình.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, hợp tác quốc tế trong nghiên cứu biển là rất cần thiết, trước tiên là giúp các nhà khoa học Việt Nam nhanh chóng tiếp cận được với các tiến bộ khoa học kỹ thuật của thế giới, học hỏi được kinh nghiệm và kỹ năng tổ chức các công việc nghiên cứu trên biển, thu nhận các tư liệu, thông tin quan trọng do các đối tác nước ngoài cung cấp thông qua hợp tác.
Hơn nữa hợp tác quốc tế cũng đồng thời góp phần làm lành mạnh các mối quan hệ phức tạp và căng thẳng trên Biển Đông, giúp Việt Nam tỏ rõ thiện chí của mình trong quá trình hội nhập toàn cầu, góp phần hiện thực hóa các qui định, thỏa thuận và luật pháp quốc tế về biển.
Theo Thạc sĩ Nguyễn Thị Phương, Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, cần phải thực hiện ngay một số nhóm giải pháp phát triển bền vững kinh tế biển. Trước hết là tiếp tục nâng cao nhận thức cộng đồng, đặc biệt là cộng đồng cư dân ven biển về chiến lược phát triển kinh tế biển gắn với phòng ngừa, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền biển, đảo, vì đây là ba mặt của một vấn đề có quan hệ mật thiết với nhau.
Xây dựng đề án tái cơ cấu ngành kinh tế biển, cơ chế, chính sách nhằm phát huy quyền chủ động của các ngành, các cấp, địa phương và vùng lãnh thổ, có sự quản lý, tập trung của trung ương, tạo nên bước đột phá về tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại, theo chiều rộng và chiều sâu.
Bổ sung và hoàn chỉnh quy hoạch phát triển ngành theo nội dung mới, gắn phát triển kinh tế biển với phòng ngừa thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền biển, đảo trên tất cả các lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng tuyến đảo, hệ thống cảng biển, đô thị ven biển, các ngành dầu khí, đóng tàu, giao thông, du lịch, khai thác nuôi trồng thủy hải sản…
Đồng thời thúc đẩy liên kết hợp tác giữa các ngành, các địa phương và vùng lãnh thổ, hiện đại hoá doanh nghiệp, hợp tác xã, xây dựng thương hiệu biển quốc gia, thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài và đầu tư tư nhân vào phát triển kinh tế biển.
Khẩn trương xây dựng chiến lược thích ứng cho sinh kế ven biển, bảo vệ môi trường sinh thái, xác định và tiếp cận cho từng lĩnh vực như: Vận tải biển, đánh bắt cá, nuôi trồng thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi… có sự tham gia của đại diện cơ quan ở địa phương, các chuyên gia kỹ thuật, tổ chức quần chúng, hộ gia đình, lập bản đồ về mối hiểm nguy, kế hoạch lưu giữ nước ngọt, áp dụng cách tiếp cận vùng để quản lý tài nguyên thiên nhiên ven biển dựa trên cộng đồng.
Huy động cộng đồng tham gia vào việc kiên cố hoá đê điều, khôi phục và phát triển rừng phòng hộ ven biển tạo hành lang bảo vệ đê biển, ngăn ngừa nước biển dâng và nước mặn lấn sâu vào đồng ruộng. Tổ chức các tổ đoàn kết, hợp tác xã vận tải trên biển, đánh bắt cá, nuôi trồng thủy hải sản… để có điều kiện hỗ trợ nhau trong sản xuất ứng phó với bão tố, sóng thần.
Mở rộng hợp tác quốc tế trong các hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo và chuyển giao công nghệ, thu hút các nguồn vốn ODA, nguồn vốn đầu tư trực tiếp của các nước. Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nghiên cứu quản lý các ngành kinh tế biển và cộng đồng cư dân ven biển không những có trình độ chuyên môn, mà còn có kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền biển đảo, phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 80%.
Đề nghị Chính phủ giao cho các ngành liên quan đưa nội dung giáo dục về kinh tế biển, biến đổi khí hậu, bảo vệ chủ quyền biển đảo và chương trình giảng dạy ở các cấp học phổ thông, trung cấp, cao đẳng, đại học thuộc hệ chính quy và không chính quy. (Tin Tức 7/9)đầu trang(
PHÁP LUẬT
UBKT Trung ương vừa quyết định thi hành kỷ luật ông Dương Anh Điền (nguyên Bí thư Thành ủy, nguyên Chủ tịch UBND TP Hải Phòng), ông Lê Khắc Nam (Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP Hải Phòng) bằng hình thức cảnh cáo; ông Đào Duy Linh (Giám đốc Sở văn hóa TP Hải Phòng) bằng hình thức khiển trách.
Quyết định này được đưa ra tại kỳ họp thứ VI của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, từ ngày 6/9 đến ngày 8/9.
Trước đó, ngày 11/7, UBKT Trung ương đã thông báo các cá nhân trên có khuyết điểm, vi phạm quy định số 51 của Ban Bí thư khóa X, vi phạm quy chế làm việc của Thành ủy nhiệm kỳ 2010-2015, quy chế làm việc của Ban Cán sự đảng UBND thành phố nhiệm kỳ 2011-2016 trong việc phê duyệt đầu tư Dự án nhạc nước tại Hải Phòng, dẫn đến dự án nhạc nước còn dở dang, gây dư luận xấu.
Tại kỳ họp thứ VI, sau khi xem xét báo cáo đề nghị thi hành kỷ luật đối với ông Dương Anh Điền, ông Lê Khắc Nam và ông Đoàn Duy Linh, UBKT Trung ương nhận thấy những khuyết điểm, vi phạm của các cá nhân này đã gây hậu quả nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước và cá nhân các ông.
Theo UBKT Trung ương, trong quá trình kiểm điểm, các cá nhân này đã nghiêm túc, tự giác nhận rõ thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm của mình và tự nhận hình thức kỷ luật.
Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ vi phạm, căn cứ Quy định số 181 của Bộ Chính trị, UBKT Trung ương quyết định thi hành kỷ luật ông Dương Anh Điền, ông Lê Khắc Nam bằng hình thức cảnh cáo; ông Đào Duy Linh bằng hình thức khiển trách. (VnExpress 8/9) đầu trang(
Bộ Giao thông Vận tải vừa có văn bản phê bình lãnh đạo Tổng công ty Đường sắt Việt Nam về những thiếu sót trong chủ trương mua 160 toa xe hàng đã qua sử dụng của Trung Quốc.
Văn bản nêu rõ, Ban Cán sự Đảng Bộ Giao thông Vận tải đã họp và có Nghị quyết về các vấn đề liên quan đến chủ trương đầu tư, nhập khẩu toa xe hàng đã qua sử dụng tại Tổng công ty Đường sắt Việt Nam. Căn cứ Nghị quyết của Ban Cán sự, Bộ Giao thông Vận tải nghiêm khắc phê bình Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam do có thiếu sót trong quá trình chỉ đạo việc xem xét nhập khẩu toa xe hàng đã qua sử dụng, trong ứng xử, trả lời cơ quan báo chí và báo cáo Bộ Giao thông Vận tải.
Bên cạnh đó, Bộ Giao thông Vận tải yêu cầu Hội đồng thành viên, Ban điều hành Tổng công ty Đường sắt Việt Nam nghiêm túc tổ chức kiểm điểm lại, với tinh thần thực sự cầu thị, nhìn nhận rõ những thiếu sót, khuyết điểm, xác định rõ trách nhiệm của tập thể và từng cá nhân để rút ra bài học sâu sắc. Khẩn trương thực hiện các chỉ đạo của Ban Cán sự đảng Bộ Giao thông Vận tải trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty trong thời gian tới.
Liên quan đến kết luận chỉ ra một loại các sai phạm về việc chấp hành quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại Tổng công ty Đường sắt Việt Nam và một số đơn vị thành viên của Thanh tra Chính phủ, Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Nguyễn Ngọc Đông cho biết, kết luận của Thanh tra Chính phủ thực hiện trong một quá trình thời gian dài và đã được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo. Quan điểm của Bộ Giao thông Vận tải là thực hiện nghiêm túc các kết luận của thanh tra.
Vì vậy, Bộ Giao thông Vận tải đã chỉ đạo với các Cục, Vụ và Tổng công ty Đường sắt Việt Nam nghiêm túc thực hiện các kết luận này với rất nhiều nội dung trong đó có cả xử lý tài chính, trách nhiệm của cá nhân, tập thể và đánh giá tổng thể tái cơ cấu cũng như là rà soát lại các cơ sở vật chất đất đai.
Thời gian Bộ Giao thông Vận tải yêu cầu các đơn vị rà soát, báo cáo và xử lý trước ngày 5/10/2016. (Vietnam+ 8/9) đầu trang(
8/9, tại trụ sở Trung ương Đảng, Ban Bí thư đã họp dưới sự chủ trì của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để xem xét thi hành kỷ luật đồng chí Trịnh Xuân Thanh, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang nhiệm kỳ 2011-2016. Sau khi xem xét Báo cáo của Ủy ban Kiểm tra Trung ương (số 33-BC/UBKTTW, ngày 7/9/2016), Ban Bí thư đã kết luận 3 nội dung.
Thứ nhất, trong thời gian từ năm 2007-2013, trên các cương vị là Phó Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám đốc, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty cổ phần xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC), mặc dù đã có kiến nghị, cảnh báo của các cơ quan thanh tra, kiểm toán về tình hình thua lỗ và tiềm ẩn thua lỗ, nhưng đồng chí Trịnh Xuân Thanh cùng với Ban Thường vụ Đảng ủy, Hội đồng quản trị, Ban Tổng Giám đốc, ban Kiểm soát Tổng Công ty đã thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý điều hành, thiếu kiểm tra, giám sát, làm trái các quy định của pháp luật về quản lý kinh tế, để xảy ra nhiều sai phạm và thua lỗ 3.298,27 tỉ đồng (giai đoạn 2011-2013), nhiều tổ chức, cá nhân trong Tổng Công ty bị kỷ luật và xử lý hình sự.
Những vi phạm, thua lỗ trên là rất nghiêm trọng, gây dư luận xấu, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Với cương vị là người đứng đầu, đồng chí Trịnh Xuân Thanh phải chịu trách nhiệm chính về những khuyết điểm, vi phạm nêu trên. Mặc dù vậy, trong kiểm điểm, đồng chí Trịnh Xuân Thanh chưa nghiêm túc, thiếu trung thực, chưa thành khẩn tự giác nhận trách nhiệm, khuyết điểm vi phạm của mình.
Thứ hai, khi thuyên chuyển vào Hậu Giang công tác, với cương vị là Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, nhưng đồng chí dùng biển số xe công gắn vào xe ô tô tư nhân để sử dụng là trái quy định của pháp luật, đã gây phản cảm và tạo dư luận xấu, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Việc làm đó của đồng chí là thiếu gương mẫu, vi phạm quy định của Ban Bí thư Trung ương Đảng về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp".
Thứ ba, đồng chí Trịnh Xuân Thanh là người chịu trách nhiệm chính về các khuyết điểm, vi phạm và thua lỗ ở Tổng Công ty cổ phần xây lắp dầu khí Việt Nam, lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ và cho thôi các chức vụ Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty; đồng chí không đủ điều kiện, tiêu chuẩn để được đề bạt, bổ nhiệm, quy hoạch các chức vụ cao hơn và không thuộc diện cán bộ luân chuyển theo Thông báo kết luận số 146-TB/TW, ngày 04/10/2013 của Bộ Chính trị khóa XI. Nhưng đồng chí vẫn đề nghị và để các cơ quan chức năng làm quy trình tiếp nhận, bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo ở Bộ Công Thương và tỉnh Hậu Giang là thể hiện sự thiếu trung thực, thiếu trách nhiệm và thiếu gương mẫu.
Những khuyết điểm, vi phạm của đồng chí Trịnh Xuân Thanh rất nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước và cá nhân đồng chí. Trong quá trình kiểm điểm, đồng chí Trịnh Xuân Thanh chưa nghiêm túc, thiếu trung thực; chưa thành khẩn, tự giác nhận các vi phạm, khuyết điểm.
Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ vi phạm, căn cứ Quy định số 181-QĐ/TW, ngày 30/3/2013 của Bộ Chính trị khóa XI về xử lý đảng viên vi phạm, Ban Bí thư đã nhất trí rất cao (biểu quyết 100% bằng phiếu kín) quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với đồng chí Trịnh Xuân Thanh.
Ngày 8/9, Văn phòng Tỉnh ủy Hậu Giang có văn bản thông báo một số nội dung liên quan đến đồng chí Trịnh Xuân Thanh, Tỉnh ủy viên, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang.
Văn bản cho biết, ngày 8/9/2016, Văn phòng Tỉnh ủy Hậu Giang đã nhận được văn bản của đồng chí Trịnh Xuân Thanh gửi cho Thường trực Tỉnh ủy (văn bản được photo gửi qua đường bưu điện).
Trong văn bản này, đồng chí Trịnh Xuân Thanh giải trình một số vấn đề liên quan đến bản thân đồng chí do Đoàn kiểm tra của Ủy ban Trung ương đặt ra, đồng thời có nguyện vọng xin ra khỏi Đảng.
Thường trực Tỉnh ủy Hậu Giang đã có công văn triệu tập đồng chí Trịnh Xuân Thanh để báo cáo những vấn đề nêu trên.
Ngày 9/9, Chánh văn phòng Tỉnh ủy Hậu Giang Lê Công Lý cho Vietnamnet.vn biết, đã gửi thư triệu tập đến tận nhà của đồng chí Trịnh Xuân Thanh. Theo đó, thứ ba tuần sau (13/9) đồng chí Trịnh Xuân Thanh phải có mặt tại Hậu Giang theo thư triệu tập của Tỉnh ủy để giải quyết những có liên quan.
Liên quan đến vụ việc, từ ngày 6-8/9, tại Hà Nội, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã họp kỳ thứ VI. Tại kỳ họp này, sau khi xem xét Báo cáo đề nghị thi hành kỷ luật đối với đồng chí Trịnh Xuân Thanh, Ủy ban Kiểm tra Trung ương nhận thấy: Những khuyết điểm, vi phạm của đồng chí Trịnh Xuân Thanh rất nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước và cá nhân đồng chí Thanh.
Trong quá trình kiểm điểm, đồng chí Trịnh Xuân Thanh chưa nghiêm túc, thiếu trung thực; chưa thành khẩn, tự giác nhận vi phạm, khuyết điểm.
Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ vi phạm, căn cứ Quy định số 181-QĐ/TW, ngày 30/3/2013 của Bộ Chính trị về xử lý đảng viên vi phạm, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị Ban Bí thư thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ khỏi Đảng đối với đồng chí Trịnh Xuân Thanh.
Trước đó, trả lời báo chí về vụ việc của đồng chí Trịnh Xuân Thanh tại Họp báo Chính phủ thường kỳ 8/2016, Người Phát ngôn Chính phủ nêu rõ: Về vụ việc này, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo Bộ Công an, Thanh tra Chính phủ, Bộ Nội vụ theo chức năng và nhiệm vụ được giao chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành và các cơ quan liên quan điều tra làm rõ các vi phạm dẫn đến thua lỗ gần 3300 tỷ đồng (giai đoạn 2011-2013) tại Tổng Công ty cổ phần xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC).
Đồng thời, thanh tra việc chấp hành chính sách pháp luật trong hoạt động sản xuất kinh doanh của PVC giai đoạn 2008-2013, trọng tâm là việc đầu tư, thực hiện các dự án.
Về việc luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm đồng chí Trịnh Xuân Thanh, hiện nay, Thủ tướng đã giao Bộ Công an, Thanh tra Chính phủ, Bộ Nội vụ làm rõ việc này. Bộ Nội vụ được Thủ tướng giao rà soát toàn bộ quy trình để báo cáo. Công việc đang được tiến hành, đến nay chưa có báo cáo chính thức lên Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, các cơ quan kiểm tra của Đảng, cơ quan bảo vệ pháp luật đã vào cuộc đồng bộ. Theo Người Phát ngôn của Chính phủ, sự chỉ đạo của Tổng Bí thư nói lên quyết tâm chính trị rất cao của người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam là kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm trong đề bạt, bổ nhiệm, thuyên chuyển cán bộ, lợi dụng trong sử dụng tài sản, tiền của của nhân dân, Nhà nước. Đây là quyết tâm chính trị rất cao, là chuyển động của cả hệ thống theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, trong đó có cơ quan lập pháp, hành pháp… Chính phủ cũng giao các Bộ tiếp tục rà, xem lại tất cả các dự án.
Sau này có thông tin chính thức, báo cáo chính thức từ Bộ Nội vụ và các cơ quan liên quan, Văn phòng Chính phủ sẽ thông báo các cơ quan liên quan. (Chính Phủ 9/9) đầu trang(
Sáng 9/9, Cục Điều tra (VKSND Tối cao) tiến hành tống đạt quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam và khám xét chỗ ở về hành vi nhận hối lộ đối với Lê Ngọc Phổ, kiểm sát viên VKSND TP. Nha Trang.
Theo nguồn tin riêng của báo Người Đưa Tin, sáng 9/9, Phòng 1 (Cục Điều tra, VKSND Tối cao) tiến hành tống đạt quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam và khám xét chỗ ở về hành vi nhận hối lộ đối với Lê Ngọc Phổ, kiểm sát viên VKSND TP.Nha Trang (Khánh Hòa).
Theo thông tin điều tra ban đầu, chiều 7/7/2016, ông Lê Ngọc Phổ là kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy đã có hành vi nhận tiền của đối tượng trong vụ án này.
Quá trình khám xét chỗ ở của kiểm sát viên Lê Ngọc Phổ (tại thôn Phước Trung, xã Phước Đồng, TP.Nha Trang), cơ quan điều tra đã thu giữ một số giấy tờ quan trọng liên quan đến vụ án này.
Theo người dân địa phương, kiểm sát viên Lê Ngọc Phổ mới mua nhà chuyển về địa phương sinh sống cách đây chưa lâu. Đời sống cá nhân của ông Phổ khá kín tiếng với xung quanh. (Người Đưa Tin 9/9)đầu trang(./.
|
|||