|
Ngày 07 tháng 10 năm 2016
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
QUẢN LÝ
NHÂN SỰ MỚI
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
KINH TẾ
VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định1920/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và biên chế của Văn phòng Điều phối nông thôn mới các cấp.
Cụ thể, Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương đặt tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thực hiện chức năng giúp việc Ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia (Ban Chỉ đạo Trung ương) và trực tiếp giúp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phó trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về quản lý, tổ chức thực hiện và điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020.
Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương có nhiệm vụ chủ trì, xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 (Chương trình), kế hoạch công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương; chủ trì, xây dựng kế hoạch thực hiện Chương trình; kế hoạch phối hợp, kiểm tra, giám sát và hướng dẫn các cơ quan, đơn vị và địa phương tham gia thực hiện Chương trình; tham mưu xây dựng kế hoạch vốn, phân bổ vốn ngân sách và các nguồn vốn huy động khác để xây dựng nông thôn mới; theo dõi, tổng hợp, báo cáo, giám sát, đánh giá tình hình thực hiện Chương trình trong phạm vi cả nước; nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách và phối hợp hoạt động liên ngành để thực hiện có hiệu quả Chương trình.
Đồng thời, tham mưu, giúp Ban Chỉ đạo Trung ương trong việc đôn đốc các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương và các địa phương trong việc xây dựng, hoàn thiện và hướng dẫn cơ chế chính sách liên quan đến quản lý, điều hành Chương trình; kiểm tra, giám sát, đánh giá, sơ kết, tổng kết, khen thưởng trong quá trình thực hiện Chương trình.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định cụ thể cơ cấu tổ chức của Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương; biên chế công chức của Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương bố trí trong tổng biên chế công chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh thực hiện chức năng giúp Ban Chỉ đạo thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia cấp tỉnh (Ban Chỉ đạo tỉnh) quản lý và tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn.
Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch, tổ chức kiểm tra, giám sát đánh giá việc thực hiện Chương trình; tham mưu xây dựng kế hoạch vốn, phân bổ vốn ngân sách và các nguồn vốn huy động khác để xây dựng nông thôn mới trên địa bàn; tham mưu, giúp Ban Chỉ đạo tỉnh trong việc đôn đốc tiến độ triển khai nhiệm vụ của các thành viên Ban Chỉ đạo và tiến độ thực hiện Chương trình trên địa bàn tỉnh để báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo các chương trình mục tiêu quốc gia cấp tỉnh;...
Về tổ chức Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh, Chánh Văn phòng do Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiêm nhiệm, Phó Chánh Văn phòng không quá 2 người, 1 Phó Chánh văn phòng do Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn kiêm nhiệm. Tùy điều kiện thực tế, bố trí 1 Phó Chánh Văn phòng làm việc chuyên trách. Chánh Văn phòng và Phó Chánh Văn phòng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bổ nhiệm.
Một số công chức thuộc Chi cục Phát triển nông thôn và các sở, ngành liên quan làm việc chuyên trách do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bố trí trong tổng biên chế được giao; số lượng căn cứ vào đặc điểm của địa phương.
Văn phòng nông thôn mới huyện do Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc Phòng Kinh tế làm cơ quan thường trực, thực hiện chức năng giúp Ban Chỉ đạo thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia cấp huyện (Ban Chỉ đạo huyện) quản lý và tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn.
Tổ chức Văn phòng nông thôn mới huyện gồm Chánh Văn phòng và 1 Phó Chánh Văn phòng. Chánh Văn phòng do Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện kiêm nhiệm, Phó Chánh Văn phòng do Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (hoặc Phòng Kinh tế) kiêm nhiệm; Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (hoặc Phòng Kinh tế) bố trí một số công chức chuyên trách trong tổng biên chế được giao; các công chức cấp phòng của các phòng, ban liên quan cử đến, làm việc theo chế độ kiêm nhiệm.
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bố trí 1 công chức cấp xã chuyên trách về nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới theo quy định (Khoản 4, Điều 18 của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã).
Công chức cấp xã chuyên trách về xây dựng nông thôn mới có nhiệm vụ giúp Ủy ban nhân dân xã xây dựng kế hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn; kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện và tham mưu cho Ban Chỉ đạo xã về công tác nông thôn mới trên địa bàn; tổng hợp kết quả thực hiện vào hệ thống biểu mẫu theo quy định; tham mưu cho Ủy ban nhân dân xã báo cáo kết quả thực hiện theo yêu cầu cấp trên. (Chính Phủ 6/10) đầu trang(
Bộ Tài chính đang dự thảo Thông tư quy định việc quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí sự nghiệp thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020.
Theo dự thảo, đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn, kinh phí sự nghiệp được sử dụng để hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo, phương tiện vận chuyển đào tạo nghề lưu động.
Cụ thể, trung tâm giáo dục nghề nghiệp công lập cấp huyện, trường trung cấp công lập ở những huyện chưa có trung tâm giáo dục nghề nghiệp công lập thuộc các huyện 30a, huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao, huyện miền núi, biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số: Được hỗ trợ đầu tư xây dựng xưởng thực hành; thiết bị đào tạo; ôtô bán tải hoặc thuyền máy để chuyên chở thiết bị, cán bộ, giáo viên đi dạy nghề lưu động và hỗ trợ chi phí cải tạo, sửa chữa, nâng cấp xưởng thực hành, ký túc xá, nhà công vụ cho giáo viên, nhà ăn.
Trung tâm giáo dục nghề nghiệp công lập cấp huyện, trường trung cấp công lập ở những huyện chưa có trung tâm giáo dục nghề nghiệp công lập thuộc các huyện vùng trung du, đồng bằng và trung tâm dịch vụ việc làm thanh niên: Hỗ trợ đầu tư thiết bị đào tạo; ôtô bán tải hoặc thuyền máy để chuyên chở thiết bị, cán bộ, giáo viên đi dạy nghề lưu động và hỗ trợ chi phí cải tạo, sửa chữa, nâng cấp xưởng thực hành.
Đối với 09 trường trung cấp thủ công mỹ nghệ ở 09 tỉnh tập trung nhiều làng nghề truyền thống: Hỗ trợ đầu tư xây dựng mới; thiết bị đào tạo hoặc thuyền máy để chuyên chở thiết bị, cán bộ, giáo viên đi dạy nghề lưu động và chi phí cải tạo, sửa chữa, nâng cấp cơ sở vật chất.
Về mức hỗ trợ đầu tư, dự thảo nêu rõ, các bộ, ngành và địa phương căn cứ khả năng ngân sách được bố trí, quyết định mua sắm thiết bị đào tạo phù hợp cho 3 - 4 nghề phổ biến, 3 - 5 nghề đặc thù đối với từng trung tâm, trường.
Đối với cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng một số hạng mục công trình của trung tâm, trường: Được sử dụng tối đa 30% kinh phí sự nghiệp được giao của từng Bộ, ngành và địa phương để cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng một số hạng mục công trình của cơ sở đào tạo nghề.
Dự thảo nêu rõ, kinh phí sự nghiệp thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 cũng được dùng để mua túi dụng cụ cho y tế thôn, bản thuộc các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu; các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; xã nghèo thuộc huyện nghèo; xã nghèo thuộc huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao, vùng đồng bằng Sông Cửu Long.
Bên cạnh đó, cấp miễn phí đa vi chất và sản phẩm bổ sung đa vi chất cho phụ nữ mang thai và trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể thấp còi thuộc hộ gia đình nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn. Số lượng, định mức theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế phù hợp với nhu cầu và dự toán ngân sách được giao.
Đối với vệ sinh môi trường nông thôn, chi hỗ trợ các hộ nghèo, cận nghèo và gia đình chính sách xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh hộ gia đình làm mô hình để thúc đẩy các hộ dân địa phương tăng nhanh diện bao phủ nhà tiêu hợp vệ sinh hộ gia đình.
Mức chi, các hộ nghèo, gia đình chính sách được ngân sách nhà nước hỗ trợ không quá 70% giá thành nhà tiêu hợp vệ sinh mẫu; hộ cận nghèo được ngân sách nhà nước hỗ trợ không quá 35% giá thành nhà tiêu hợp vệ sinh mẫu…
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến góp ý dự thảo này trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ. (Chính Phủ 6/10) đầu trang(
QUẢN LÝ
Ngày 7/10, Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống thiên tai đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ứng phó với cơn bão số 6 (Aere). Bộ trưởng Bộ NN&PTNT, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai Nguyễn Xuân Cường chủ trì cuộc họp.
Theo ông Hoàng Đức Cường, Giám đốc Trung tâm dự báo Khí tượng Thuỷ văn Trung ương, hồi 4 giờ ngày 7/10, vị trí tâm bão số 6 ở trên khu vực Đông Bắc Biển Đông, cách quần đảo Hoàng Sa khoảng 720 km về phía Đông Đông Bắc. Sức gió mạnh nhất ở vùng gần tâm bão mạnh cấp 9 (75-90km/giờ), giật cấp 10-11.
Trong 24 giờ tới, bão di chuyển chủ yếu theo hướng Tây, mỗi giờ đi được khoảng 10 km và còn tiếp tục mạnh thêm. Đến 4 giờ ngày 8/10, vị trí tâm bão ở cách quần đảo Hoàng Sa khoảng 600 km về phía Đông Bắc. Sức gió mạnh nhất ở vùng gần tâm bão mạnh cấp 10 (90-100km/giờ), giật cấp 11-12. Vùng nguy hiểm (gió mạnh từ cấp 8 trở lên): phía Bắc Vĩ tuyến 19N và phía Đông Kinh tuyến 114E. Cấp độ rủi ro thiên tai: cấp 3.
Do ảnh hưởng của bão, vùng biển phía Đông Bắc khu vực Bắc Biển Đông có gió mạnh cấp 8-9, vùng gần tâm bão đi qua cấp 10, giật cấp 11-12. Biển động rất mạnh. Cấp độ rủi ro thiên tai: cấp 3. Trong 24 đến 48 giờ tiếp theo, bão di chuyển chậm chủ yếu theo hướng Tây và còn tiếp tục mạnh thêm.
Đến 4 giờ ngày 9/10, vị trí tâm bão ở cách quần đảo Hoàng Sa khoảng 530 km về phía Đông Bắc. Sức gió mạnh nhất ở vùng gần tâm bão mạnh cấp 10-11 (90-120km/giờ), giật cấp 12-13.Vùng nguy hiểm (gió mạnh từ cấp 8 trở lên) là phía Bắc Vĩ tuyến 18N và phía Đông Kinh tuyến 113E. Cấp độ rủi ro thiên tai cấp 3.
Trong 48 đến 72 giờ tiếp theo, bão số 6 hầu như ít di chuyển và còn tiếp tục mạnh thêm. Khả năng đi vào đất liền là thấp, khó dự đoán về hướng di chuyển tiếp theo của cơn bão này - ông Hoàng Đức Cường nhận định.
Do hoạt động của gió mùa Tây Nam, khu vực giữa và Nam Biển Đông (bao gồm cả vùng biển quần đảo Trường Sa), vùng biển từ Bình Thuận đến Cà Mau, Cà Mau đến Kiên Giang và Vịnh Thái Lan có mưa dông kèm gió giật mạnh. Sóng biển cao từ 1.5-2.5 mét. Cấp độ rủi ro thiên tai cấp 1.
Trước diễn biến phức tạp của bão số 6, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường đề nghị công tác chuẩn bị ứng phó với bão phải ở mức cao nhất, theo đúng tinh thần Công điện số 26, ngày 6/10 của Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống thiên tai.
Trung tâm dự báo Khí tượng Thuỷ văn Trung ương liên tục bám sát, đưa các thông tin về diễn biến cơn bão bằng cách tăng tần suất, có những cảnh báo kịp thời để công tác ứng phó, người dân có được tinh thần, giải pháp ứng phó một cách chủ động nhất, tránh tâm lý chủ quan.
Đối với các tỉnh, thành phố ven biển phải thường xuyên cập nhật thông tin, diễn biến của bão; theo dõi, kiểm đếm tàu thuyền đang hoạt động trên biển; thông báo cho các chủ phương tiện đang hoạt động trên biển biết vị trí và diễn biến của bão để chủ động các biện pháp phòng tránh, thoát ra hoặc không đi vào khu vực nguy hiểm. Quản lý chặt chẽ việc ra khơi của tàu thuyền, giữ thông tin liên lạc với các chủ phương tiện đang hoạt động để xử lý kịp thời các tình huống xấu có thể xảy ra.
Các Bộ, ngành thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ được giao; tăng cường công tác dự báo, cảnh báo bão, triển khai các biện pháp ứng phó với bão. Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Thông tin Duyên Hải và các cơ quan báo chí của Trung ương và địa phương cần thường xuyên cập nhật thông tin về diễn biến của bão, tăng cường thời lượng phát sóng, truyền tin đến người dân để chủ động phòng tránh.
Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống thiên tai thường xuyên theo dõi, bám sát diễn biến bão số 6. Thực hiện tốt công tác tham mưu cho Ban Chỉ đạo Trung ương phối hợp hiệu quả với các Bộ, ngành có liên quan trong công tác phòng tránh, ứng phó với bão số 6. Tổ chức trực ban nghiêm túc, sẵn sàng lực lượng, phương tiện để kịp thời ứng cứu khi có yêu cầu.
Theo Báo cáo số 388 của Cơ quan thường trực thuộc Bộ Tư lệnh Biên phòng, tính đến 6 giờ ngày 7/10, Bộ đội Biên phòng các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Khánh Hoà phối hợp với địa phương, gia đình chủ tàu, thuyền trưởng đã thông báo, kiểm đếm, hướng dẫn cho 62.637 tàu thuyền/256.992 người biết vị trí, hướng di chuyển của bão số 6 để chỉ động di chuyển phòng tránh, hoặc thoát ra khỏi khu vực nguy hiểm.
Trong đó hoạt động tại khu vực Hoàng Sa 97 tàu/895 người (Đà Nẵng 13 tàu/140 người), Quãng Ngãi 66 tàu/635 người, Bình Định 14 tàu/78 người, Khánh Hoà 4 tàu/42 người); hoạt động ven bờ và các vùng biển khác17.920 tàu/88.744 người; neo đậu bến 44.620 tàu/167.353 người. (Tin Tức 7/10) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định thành lập Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp Quảng Ngãi.
Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp Quảng Ngãi (Ban Quản lý) được thành lập trên cơ sở hợp nhất Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất đã được thành lập theo Quyết định số 72/2005/QĐ-TTg ngày 5/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ và Ban Quản lý các Khu công nghiệp Quảng Ngãi được thành lập theo Quyết định số 830/TTg ngày 7/10/1997 của Thủ tướng Chính phủ.
Ban Quản lý là cơ quan trực thuộc UBND tỉnh Quảng Ngãi, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với Khu kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; quản lý và tổ chức thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ hành chính công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư trong Khu kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật.
Ban Quản lý có tư cách pháp nhân, có tài khoản, trụ sở làm việc và con dấu hình quốc huy; kinh phí quản lý hành chính, kinh phí hoạt động sự nghiệp của Ban Quản lý và vốn đầu tư phát triển do ngân sách nhà nước cấp theo kế hoạch hàng năm; nguồn kinh phí khác theo quy định của pháp luật.
Ban Quản lý có Trưởng ban và không quá 3 Phó Trưởng ban. Trưởng ban, các Phó Trưởng ban do Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi quyết định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cho từ chức, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, nghỉ hưu và thực hiện các chế độ chính sách khác theo quy định của pháp luật.
Cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý gồm: Văn phòng; các phòng chuyên môn, nghiệp vụ; các Văn phòng đại diện; các đơn vị sự nghiệp trực thuộc. (Chính Phủ 6/10) đầu trang(
Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh thu mua, tiêu thụ lúa gạo hàng hóa.
Trước tình hình xuất khẩu gạo 9 tháng đầu năm 2016 còn gặp nhiều khó khăn, kết quả đạt thấp hơn so với cùng kỳ năm 2015, việc thu mua, tiêu thụ lúa gạo hàng hóa chậm và giá lúa gạo có xu hướng giảm, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hiệp hội Lương thực Việt Nam rà soát tình hình thu mua, tiêu thụ lúa gạo hàng hóa, đề xuất giải pháp cụ thể, tích cực nhất để thu mua lúa gạo, tập trung ở vùng đồng bằng sông Cửu Long; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 8/10/2016.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong tháng 9 năm 2016, lượng gạo xuất khẩu ước đạt 396.000 tấn với giá trị đạt 176 triệu USD. Như vậy, khối lượng xuất khẩu gạo 9 tháng ước đạt 3,76 triệu tấn, với 1,69 tỷ USD, giảm 16,4% về khối lượng và giảm 12,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015.
Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam với 35,5% thị phần. Tiếp theo là Ghana và Indonesia với thị phần lần lượt là 11% và 9,4%. Bên cạnh các thị trường gia tăng nhập khẩu gạo Việt Nam như Ghana, Indonesia, Angola, các thị trường Philippines, Malaysia, Singapore, Bờ Biển Ngà, Trung Quốc lại giảm mạnh.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, nếu không có đột phá về thị trường, xuất khẩu gạo của Việt Nam trong năm 2016 từ kế hoạch 6,5 triệu tấn sẽ giảm mạnh còn khoảng 5,7 triệu tấn theo đường chính ngạch. (Chính Phủ 6/10) đầu trang(
NHÂN SỰ MỚI
Ông Phan Văn Tâm, chuyên viên cao cấp, Vụ trưởng Vụ Địa phương - Ban Nội chính Trung ương, được tiếp nhận và bổ nhiệm giữ chức vụ chánh thanh tra VKSND Tối cao.
Ngày 4-10, ông Lê Minh Trí, Ủy viên Trung ương Đảng, Viện trưởng VKSND Tối cao đã trao Quyết định bổ nhiệm chức vụ Chánh Thanh tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trước khi được bổ nhiệm chức vụ trên, ông Tâm là Chuyên viên cao cấp, Vụ trưởng Vụ Địa phương - Ban Nội chính Trung ương giữ chức vụ Chánh Thanh tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Ông Phan Văn Tâm từng làm thư ký ông Nguyễn Bá Thanh khi còn là bí thư Thành ủy Đà Nẵng. Khi ông Nguyễn Bá Thanh làm Trưởng ban Nội chính Trung ương, ông Tâm được tín nhiệm làm thư kí và giữ chức vụ vụ trưởng Vụ Địa phương.
Nhân dịp này, Viện trưởng Trí đánh giá cao sự phấn đấu của bản thân ông Tâm trong quá trình công tác. Viện trưởng VKSND Tối cao cũng nhấn mạnh tầm quan trọng công tác Thanh tra của ngành Kiểm sát nhân dân trong giai đoạn mới, đòi hỏi tập thể lãnh đạo, công chức của đơn vị phải tiếp tục đổi mới, đoàn kết phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác chuyên môn…
Phát biểu nhận nhiệm vụ, Tân Chánh Thanh tra VKSND Tối cao hứa sẽ tiếp tục phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị, đoàn kết sáng tạo, phát huy sức mạnh toàn đơn vị, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác được giao. (Pháp Luật TP.HCM 6/10) đầu trang(
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
Dự thảo Luật Phòng chống tham nhũng (sửa đổi) đã mở rộng quy định về phòng chống tham nhũng (PCTN) trong các tổ chức, doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước đối với Cty đại chúng, ngân hàng thương mại và quỹ đầu tư.
Tuy nhiên, tại hội thảo tham vấn về thực trạng pháp luật về PCTN trong hoạt động kinh doanh ở Việt Nam do Thanh tra Chính phủ tổ chức mới đây, qui định này vẫn gây nhiều tranh cãi.
Thực tiễn những năm qua cho thấy không ít trường hợp doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài Nhà nước cũng có những hành vi mà trong khu vực Nhà nước bị Luật PCTN khẳng định là hành vi tham nhũng như nhận hối lộ, lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản...
Những hành vi này cũng gây thiệt hại không nhỏ cho các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng và xã hội. Vì vậy, dự thảo luật đã đưa ra một số biện pháp PCTN như minh bạch tài sản, thu nhập; thực hiện chế độ liêm chính; chế độ trách nhiệm người đứng đầu và duy trì chế độ thanh tra, kiểm tra và vấn đề này được đưa vào một trong các nội dung còn ý kiến khác nhau để trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Tại hội thảo tham vấn về thực trạng pháp luật về PCTN trong hoạt động kinh doanh ở Việt Nam, do Thanh tra Chính phủ và Đại sứ quán Anh vừa phối hợp tổ chức, ông Nguyễn Văn Thanh, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ cho biết, gần đây nổi lên một số vụ án tham nhũng tại các ngân hàng thương mại. Vì vậy, theo ông Thanh, các doanh nghiệp cần góp tiếng nói củng cố sự đồng thuận chung rằng không chỉ phải PCTN trong khu vực công mà phải phòng chống tham nhũng ở cả khu vực tư. Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng mà Việt Nam là thành viên cũng quy định về những hành vi tham nhũng trong khu vực tư như hành vi hối lộ trong hoạt động kinh tế, tài chính, thương mại, biển thủ tài sản trong khu vực tư. Việt Nam đã hội nhập và ký kết nhiều cam kết quốc tế bảo đảm môi trường kinh doanh minh bạch, lành mạnh nên việc PCTN ở khu vực tư là cấp bách.
Tuy nhiên, khá nhiều ý kiến đề nghị chưa nên đề cập đến công tác PCTN ở khu vực ngoài Nhà nước. Trưởng ban Pháp chế Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam Đậu Anh Tuấn e ngại trong khi công tác PCTN ở khu vực công còn nhiều hạn chế thì việc mở rộng sang cả lĩnh vực tư chưa chắc đã hiệu quả, dễ dẫn đến doanh nghiệp chịu nhiều áp lực do phải thanh kiểm tra, giám sát nhiều. Ông Nguyễn Hoàng Hải, Phó Chủ tịch Hiệp hội các nhà tài chính Việt Nam, cũng đề nghị cân nhắc kỹ khi trao thêm cho cơ quan chức năng thẩm quyền PCTN trong khu vực tư để tránh lạm quyền.
Đại diện nhóm nghiên cứu của dự án phòng chống tham nhũng trong hoạt động kinh doanh cho biết, qua lấy ý kiến của các Bộ, ngành, địa phương và ý kiến của nhân dân, có quan điểm cho rằng, tiếp cận PCTN ở khu vực ngoài Nhà nước theo dự thảo Luật PCTN sửa đổi là chưa cần thiết. Còn theo nhiều chuyên gia pháp lý, để mở rộng việc chống tham nhũng sang khu vực tư, trước hết là phải thay đổi nhận thức vì từ trước đến nay, chúng ta mới quen với chống tham nhũng ở khu vực công và vẫn chưa đem lại hiệu quả như mong muốn.
Một số kết quả nghiên cứu cho rằng tham nhũng không chỉ có trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khu vực Nhà nước mà giữa các doanh nghiệp với nhau cũng xảy ra hiện tượng này. Tuy tham nhũng trong khu vực tư không làm ảnh hưởng ngân sách quốc gia, nhưng sẽ làm tăng chi phí và giảm đáng kể lợi nhuận của doanh nghiệp, làm hình thành những thói quen kinh doanh thiếu lành mạnh, làm méo mó bản chất các quan hệ kinh tế, từ đó gây thiệt hại cho nền kinh tế nói chung.
Vì vậy, nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng, về mặt lý luận cũng như thực tiễn, việc sửa đổi Luật PCTN nói chung và mở rộng phạm vi điều chỉnh sang khu vực tư là cần thiết, khách quan và có cơ sở. Nếu Luật PCTN không đưa khu vực tư vào đối tượng điều chỉnh, kiểm soát thì việc PCTN trong khu vực công sẽ giảm đi hiệu quả đáng kể vì trong hoạt động kinh doanh, các mối quan hệ công - tư đan xen lẫn nhau.
Theo PGS.TS Đoàn Năng, trong khu vực tư có rất nhiều chủ thể khác nhau. Ở bộ phận không nhỏ các tổ chức sản xuất, kinh doanh hiện nay cơ chế quản trị và điều hành không có sự phân tách rõ ràng giữa chủ sở hữu và người quản lý, đặc biệt là về lợi ích nên ở đây có ít hoặc không có yếu tố dẫn đến nguy cơ lợi dụng chức vụ, quyền hạn của người quản lý để vụ lợi. Vì vậy, với nhóm đối tượng này, chỉ cần thực hiện tốt các quy định của các luật chuyên ngành liên quan cũng đủ để không rơi vào tình trạng tham nhũng, chưa gây bức xúc cho xã hội.
Tuy nhiên, ở nhóm các Cty đại chúng, tổ chức tín dụng, quỹ đầu tư, cơ chế quản trị và điều hành có sự phân tách rõ ràng giữa chủ sở hữu và người quản lý, đặc biệt là về lợi ích - là yếu tố dẫn đến nguy cơ lợi dụng chức vụ, quyền hạn, tham nhũng. Vì vậy, theo PGS.TS Đoàn Năng, để mở rộng việc PCTN sang khu vực tư, dự thảo Luật phải có các quy định đầy đủ và thích hợp với từng nhóm, thậm chí tiểu nhóm đối tượng trong khu vực này thì mới tạo được bước chuyển biến thực chất trong công tác PCTN. (Pháp Luật Và Xã Hội 7/10) đầu trang(
Quy hoạch đô thị của TP.HCM hiện được coi là một bức tranh xám màu, khi trên địa bàn tồn tại những dự án khu đô thị bỏ hoang 20 năm; những dự án nhà “treo” 15 năm và những dự án công viên, hơn một thập kỷ vẫn ỳ ạch đền bù giải tỏa…
Nếu nhìn về từ khoảng thời gian khoảng hơn chục năm trước, khi đó thành phố đã có những quy hoạch trọng điểm phát triển kinh tế. Đơn cử quy hoạch phát triển khu đô thị lớn nhất Đông Nam Á mang tên Khu đô thị mới Thủ Thiêm (Quận 2) từ năm 1996, nhưng đến nay, đã 20 năm trôi qua, mà dự án này vẫn chưa hoàn thành việc đền bù giải tỏa và vẫn chưa có bất kỳ hạng mục nào của dự án nào chính thức được xây dựng.
Trong khuôn viên 770 ha được quy hoạch để trở thành đô thị mới, thành tựu 20 năm triển khai của chủ đầu tư chỉ là những con đường nham nhở đầy khói bụi, trong khi đó, theo báo cáo từ UBND TP.HCM, hiện tại mỗi ngày đơn vị này phải chi trả 2,6 tỷ đồng tiền lãi ngân hàng vì vay phát triển quy hoạch dự án.
Một quy hoạch khác cũng đang biến thành một cánh đồng lúa giữa lòng Thành phố, đó là Dự án quy hoạch Phát triển bán đảo Thanh Đa (Quận Bình Thạnh) có ý tưởng quy hoạch từ năm 1992 và chính thức được quy hoạch từ năm 1998. Bán đảo này được quy hoạch với mục đích xây dựng thành khu đô thị du lịch, sinh thái Bình Quới - Thanh Đa.
Nhưng sau 17 năm được phê duyệt quy hoạch, nơi đây vẫn chỉ là những dãy chung cư cao tuổi chờ sập, đường giao thông bị hư hỏng nặng vì không được xây dựng lại và trong gần 2 thập kỷ, sau 2 lần đổi chủ đầu tư, người dân nơi đây vẫn sống trong cảnh trồng lúa, nuôi gà giữa lòng một đô thị sầm uất bậc nhất của cả nước! Lý do của sự bề bộn, hỗn độn đó là, quy hoạch thì đã hoàn tất, nhưng vẫn chưa kêu gọi được nhà đầu tư.
Dự án Công viên Sài Gòn Safari (huyện Củ Chi) còn được triển khai sớm hơn 2 dự án kể trên, từ năm 2004, nhưng tới nay vẫn chưa thể đền bù giải tỏa xong, vì không có đất làm nông nghiệp, trong khi dự án bỏ cho cỏ mọc, cùng với đó là những bất cập trong đền bù giải tỏa đã khiến người dân kéo nhau lên tận UBND TP.HCM để khiếu kiện.
Không chỉ những dự án xây dựng các khu đô thị, những dự án có tính chất cấp bách hơn nhiều để hiện đại hóa ngành giáo dục TP.HCM cũng đang trong cảnh leo lắt tại khu vực Quận 9 và Quận Thủ Đức. Theo ý đồ quy hoạch ban đầu, 2 quận cửa ngõ này sẽ được phát triển trở thành trung tâm giáo dục của Thành phố, nhưng sau hơn 10 năm quy hoạch, mới đây UBND quận 9 đã phải báo cáo lên UBND TP.HCM rằng, quận vẫn còn gần 200 ha đất thuộc dự án của một số trường đại học, trường chuyên ngành và trường cao đẳng, ký túc xá trong cảnh “treo”.
Đơn cử như Trường Đại học Kiến trúc (quy mô 40 ha), Trường Đại học Kinh tế (50 ha), Trường Đại học Luật (30 ha), Đại học Marketing (15 ha), Nhạc viện Thành phố (20 ha), Học viện Tư pháp (9 ha), Trường Đào tạo cán bộ ngành giáo dục Thành phố (5 ha), Trường Cao đẳng và đại học Nguyễn Tất Thành (14 ha)… Sở dĩ lãnh đạo Quận 9 phải “nhắc” cơ quan quản lý cấp trên như vậy là vì, các dự án trên đều có quy mô lớn, “hoang hóa” không chỉ gây lãng phí tài nguyên, mà còn ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống cư dân trong khu vực.
Ngoài ra, theo Sở Kiến trúc TP.HCM, tại huyện Củ Chi đang có hơn 20.000 hộ dân mắc kẹt trong vùng quy hoạch Khu đô thị Tây Bắc rộng 5.000 ha, Khu công nghiệp Bàu Đưng 175 ha, Khu viện trường y tế 105 ha và Khu công nghiệp hóa dược 220 ha…
Hệ thống các dự án phát triển giao thông của Thành phố hiện cũng bị điểm mặt là một trong những mảng có nhiều dự án treo nhiều nhất, với sự bất động của 4 dự án bến đậu xe ngầm (được quy hoạch từ năm 2003) là Lê Văn Tám, Trống Đồng, Hoa Lư và Tao Đàn. Được biết, ngay từ khi quy hoạch, các dự án xây bãi xe ngầm đều được chủ đầu tư “xí phần” xây dựng, nhưng qua 13 năm, duy nhất có dự án tại công viên Lê Văn Tám được chủ đầu tư là Công ty cổ phần Đầu tư phát triển không gian ngầm (IUS) động thổ… rồi bỏ đó, tới nay, Thành phố vẫn chưa có bất kỳ dự án bãi đỗ xe ngầm nào.
Thực trạng quy hoạch treo còn nặng nề hơn nếu căn cứ theo báo cáo của Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HoREA). Tính đến thời điểm hiện tại, ngoài 190 dự án bị thu hồi, hoặc hủy bỏ chủ trương đầu tư, hoặc chủ trương đầu tư đã hết hạn, trong số 1.219 dự án còn hiệu lực triển khai, có đến 405 dự án chưa khởi công và trong số 325 dự án đã khởi công, thì có tới 97 dự án đã phải tạm ngưng thi công. Tóm lại, tới thời điểm này, trên địa bàn TP.HCM có tới 41,18% tổng số dự án có... tiềm năng treo!
Những “tác động lan tỏa” được vẽ ra trong báo cáo khả thi của các dự án, chắc hẳn hoành tráng như thế nào thì có lẽ không cần phải bàn tới lúc này, nhưng ngay bây giờ, tại những dự án quy hoạch “treo” của TP.HCM, ở đâu cũng vậy, người dân lay lắt sống trong cảnh đợi chờ, nhà hư hỏng không thể xây dựng lại, đường xá sau khi bị băm nát hầu hết đều đã biến thành “những con sông nhỏ” sau mỗi trận mưa… Ao tù, nước đọng đã khiến hàng trăm, thậm chí vài trăm hộ dân đối mặt với các loại bệnh tật, mà lẽ ra, họ hoàn toàn có thể tránh được nếu sống trong một môi trường không bị ô nhiễm nặng nề như vậy.
Đánh giá về những dự án quy hoạch “treo” hiện nay của TP.HCM, ông Hoàng Minh Trí, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển TP.HCM cho rằng, khó khăn lớn nhất nhất trong thực hiện quy hoạch của TP.HCM hiện nay là việc giải phóng mặt bằng. Nhiều dự án đã giải phóng được trên 80%, thậm chí đến 98% diện tích, nhưng cả dự án vẫn bất động vì không thể thỏa thuận đền bù được phần còn lại. Thực tế tại khá nhiều dự án cho thấy, dù mức đền bù, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất đã được cải thiện, nhưng vẫn còn quá thấp so với giá thị trường, quan trọng hơn, số tiền người dân nhận được từ việc bồi thường đất bị thu hồi không đủ để tạo lập nơi ở mới.
Những năm qua, Thành phố đã chủ trương thu hồi dự án “treo” và thực tế đã ra nhiều quyết định xử lý thu hồi, hủy bỏ chủ trương đầu tư và điều chỉnh nhiều đồ án quy hoạch. Tuy nhiên, về thực chất, chủ trương đó chỉ chuyển từ dạng treo này sang dạng treo khác, chứ không xóa được tận gốc quy hoạch treo và trả lại hoàn toàn quyền lợi cho người dân.
Trong khi người dân có nhà đất trong dự án, nhưng không sản xuất được, nhà cửa không được xây, các quyền lợi khác cũng bị treo theo các dự án không biết đến khi, thì những thiệt hại này vẫn chưa được nhà đầu tư tính đến. Thực tế này, đòi hỏi Nhà nước cần phải có những chính sách buộc nhà đầu tư bảo đảm quyền lợi của người dân trong vùng dự án, không chỉ trong việc đền bù, giải tỏa, tái định cư, mà ngay cả những thiệt hại trong việc treo dự án cũng như điều chỉnh quy hoạch, nhằm tránh tình trạng lập dự án, chiếm đất mà bỏ qua sinh kế của người dân.
“Nhìn lại các dự án phát triển đô thị ‘treo’ mới thấy, hầu hết các dự án này đều có một điểm chung là ‘rất khả quan’, nhưng thiếu tính khả thi do công tác quy hoạch không gắn liền với năng lực thực tế của Thành phố”, ông Trí nói.
Còn ông Nguyễn Thanh Toàn, Phó giám đốc Sở Quy hoạch Kiến trúc TP.HCM thì cho rằng, xuất hiện dự án treo là bởi chưa xác định được nguồn lực thực hiện và chưa có cơ chế chính sách hấp dẫn thu hút nhà đầu tư. Ông Toàn nhận định, với những dự án mà ngân sách không gánh nổi, để tránh rơi vào cảnh “treo thâm niên cao”, nhất định phải có cơ chế thu hút đầu tư cởi mở.
Có thể thấy, những ý kiến của ông Trí, ông Toàn cũng không mang nhiều sự đột phá về ý tưởng, bởi trước đây cũng đã có nhiều ý kiến tương tự. Hơn thế trước nhức nhối về các dự án treo, Thành phố, quận, huyện cũng chưa bao giờ chịu ngồi yên, chỉ có điều, sau năm tháng, khi mà những dự án treo nổi cộm chưa tìm được hướng giải quyết, thì đó đây lại xuất hiện thêm những dự án… im lìm chờ khởi công! (Đầu Tư Chứng Khoán 6/10) đầu trang(
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Chiều 6-10, đoàn công tác trung ương do ông Trần Thanh Mẫn (Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam) dẫn đầu đã khảo sát, làm việc với TP Đà Nẵng về cải cách hành chính.
Ông Chế Viết Sơn (Phó Giám đốc Sở Nội vụ TP Đà Nẵng) cho hay năm 2015 đánh giá về chất lượng dịch vụ hành chính công có 98,76% người hài lòng và rất hài lòng với dịch vụ này tại TP; 96% đánh giá tốt và rất tốt cho công chức tiếp nhận và trả kết quả. Qua khảo sát thì bệnh viện khu vực tư được người dân đánh giá hài lòng cao hơn bệnh viện công 30%.
Tuy nhiên, theo ông Sơn tại TP vẫn còn tình trạng giải quyết chậm trễ hồ sơ, đặc biệt lớn liên quan đến đất đai. Nguyên nhân của sự chậm trễ được cho là do cơ chế phối hợp giữa các đơn vị trong giải quyết hồ sơ không tốt nên có thời điểm chậm trễ tới 30% hồ sơ.
Ông Sơn ví von cơ chế phối hợp của Đà Nẵng là: “Một người gánh hai thùng nước thì đi nhẹ nhàng, không rơi rớt nhưng 2-3 người gánh một thùng thì rơi rớt hết”.
Phó Giám đốc Sở Nội vụ TP Đà Nẵng Chế Viết Sơn cũng thừa nhận tỉ lệ khảo sát này vẫn chưa thực sự là chính xác 100% vì vẫn còn tâm lý người dân phải đánh giá hài lòng vì sợ các đợt sau vẫn phải đến làm thủ tục tại nơi được khảo sát.
Ông Đặng Việt Dũng (Phó Chủ tịch Đà Nẵng) thì cho rằng việc luôn dẫn đầu trong cải cách hành chính buộc chính quyền TP phải không ngừng nỗ lực.
“Đã cải tiến rồi thì chúng tôi phải cải tiến hơn nữa. Dân trí đã nâng lên, trình độ, hiểu biết và đòi hỏi của người dân cao hơn rất nhiều so với trước đây. Chính người dân đang gây ra áp lực rất lớn buộc TP cải cách hành chính tốt hơn nữa để phục vụ” - ông Dũng nói.
Kết thúc ngày làm việc tại Đà Nẵng, ông Trần Thanh Mẫn (Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam) cho biết chuyến khảo sát làm việc này là nhằm học hỏi mô hình cải cách hành chính của Đà Nẵng để nhân rộng ra cả nước.
Ông Mẫn nói đoàn hết sức ấn tượng về việc cải cách hành chính của TP. Thậm chí khi ông còn làm lãnh đạo tỉnh Cần Thơ thì cũng đã không ít lần dẫn đoàn ra Đà Nẵng học tập kinh nghiệm. (Pháp Luật TP.HCM 7/10) đầu trang(
KINH TẾ
Tính đến tháng 9/2016, số lô hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường EU bị cảnh báo về dư lượng kim loại nặng (thủy ngân và Cadmium) đã tăng gấp 2,2 lần so với cả năm 2015.
Cục quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản (Nafiqad) thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa có văn bản gửi các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu vào EU; các Trung tâm Chất lượng nông lâm thủy sản vùng; cơ quan Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản Trung Bộ, Nam Bộ về việc cảnh báo của EU về kim loại nặng đối với các lô hàng thủy sản xuất khẩu.
Theo đó, thông qua Hệ thống cảnh báo nhanh (RASFF) của Tổng vụ Sức khỏe và An toàn thực phẩm - Ủy ban Châu Âu (EC), từ tháng 01/2016 tới tháng 9/2016, Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản đã nhận được thông tin về 11 lô hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu vào EU bị cảnh báo dư lượng kim loại nặng (thủy ngân, Cadmium) vượt mức giới hạn tối đa cho phép, tăng gấp 2,2 lần so với cả năm 2015.
Số lô hàng thủy sản bị cảnh báo kim loại nặng bắt đầu tăng mạnh từ thời điểm Cơ quan thẩm quyền EU có văn bản cảnh báo số 16-814 ngày 24/5/2016 yêu cầu Cơ quan thẩm quyền các nước thành viên kiểm tra tăng cường kim loại nặng đối với thủy sản của Việt Nam xuất khẩu vào Liên minh Châu Âu.
Chính vì vậy, để tránh bị cơ quan thẩm quyền của EU tiếp tục cảnh báo các chỉ tiêu kim loại nặng, ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh của thủy sản Việt Nam và việc tìm kiếm khách hàng, xuất khẩu của doanh nghiệp Nafiqad yêu cầu các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu vào EU rà soát lại chương trình quản lý chất lượng, thiết lập và thực hiện các biện pháp tăng cường kiểm soát mối nguy kim loại nặng, trong đó, đặc biệt lưu ý đến việc kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu thủy hải sản nhập về nhà máy để chế biến.
Đối với các Trung tâm chất lượng nông lâm thủy sản vùng, Nafiqad yêu cầu tiếp tục triển khai chặt chẽ hoạt động kiểm tra, chứng nhận lô hàng thủy sản xuất khẩu, trong đó, lưu ý ưu tiên lấy mẫu thẩm tra chỉ tiêu kim loại nặng đối với các lô hàng có thành phần nguyên liệu hải sản được nuôi trồng, khai thác, đánh bắt tại vùng biển các tỉnh miền Trung. (Doanh Nghiệp Việt Nam 7/10) đầu trang(
VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
Kéo dài tuổi nghỉ hưu cũng sẽ ảnh hưởng phần nào đến việc làm cho giới trẻ, bởi tỷ lệ cử nhân chưa có việc làm năm hàng vẫn tăng cao.
Nguyễn Thị Nụ (quê Nam Định) tốt nghiệp ngành Kế toán, Đại học Công nghiệp Dệt may Hà Nội được 3 tháng. Cô đã có một việc làm bán thời gian, nhưng mong muốn của Nụ là có một vị trí chính thức trong một cơ quan. Đã tìm đến một số trung tâm giới thiệu việc làm, cũng như qua giới thiệu, Nụ cho biết thực sự rất khó khăn để có một công việc ưng ý.
Trước thông tin đề xuất tăng tuổi nghỉ hưu, Nguyễn Thị Nụ lo lắng: “Em cũng như các bạn trẻ mới ra trường cảm thấy rất áp lực. Bởi số lượng việc làm đã ít, các cơ quan Nhà nước đang có chủ trương tinh giản biên chế, trong khi tuổi nghỉ hưu kéo dài thêm. Như thế sẽ rất khó có cơ hội cho lao động trẻ”.
Không khó để nhận thấy, phần lớn lao động tìm đến những phiên giao dịch việc làm đều là những lao động trẻ tuổi. Theo báo cáo của Sở LĐTB&XH thành phố Hà Nội, đến tháng 9/2016, có đến 70% số lao động thất nghiệp hiện nay rơi vào đối tượng từ 22 đến 35 tuổi.
Thống kê của Bộ LĐTB&XH cũng cho thấy, số lượng lao động có trình độ đại học trở lên thất nghiệp là khoảng 200.000 trong quý II. Do đó, việc nâng độ tuổi nghỉ hưu sẽ khiến nhiều lao động trẻ rơi vào áp lực khi tìm kiếm việc làm.
Năm nay đã 67 tuổi nhưng cô giáo Nguyễn Liên Hương ở Hà Nội, giáo viên tiếng Hàn Quốc, vẫn “đắt hàng” với nhiều nơi mời dạy học. Cô Nguyễn Liên Hương cho biết: "Các cụ vẫn nói thầy già, con hát trẻ. Thầy càng già thì kiến thức cũng tốt hơn và truyền thụ tốt hơn. Nhưng để đảm bảo cho sức khỏe thì có thể chỉ ở mức tăng tuổi nghỉ hưu thêm chút ít, tùy theo sức người có thể làm được hay không. Nhưng với những lao động có đặc thù thì tôi nghĩ là không nên tăng".
Theo các chuyên gia, việc tăng tuổi nghỉ hưu là phù hợp với quá trình già hóa dân số cũng như xu hướng trên thế giới, nhằm tận dụng được trí tuệ, kinh nghiệm cũng như chuyên môn của người cao tuổi. Tăng tuổi nghỉ hưu là tất yếu, khi tuổi thọ bình quân của Việt Nam đã đạt 73,5. Việc chăm sóc, các chế độ dinh dưỡng của người dân đã cải thiện hơn nhiều so với những năm trước đây. Sức lao động của những người ở một số ngành nghề ở độ tuổi nghỉ hưu như hiện nay vẫn còn dồi dào.
Bà Phạm Tuyết Nhung, Phó Trưởng ban Đối ngoại – Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam cho rằng: Đối với những lao động chất xám, có trình độ, việc nghỉ hưu ở độ tuổi như hiện nay sẽ là sự lãng phí. Bởi có người phải đầu tư rất nhiều công sức, thời gian khi còn trẻ để học tập, phấn đấu. Tuy nhiên, họ cũng sẽ không thấy buồn khi nghỉ hưu, bởi lao động này có thể làm việc ở những cơ cở tư nhân bên ngoài “ăn 2 lương”.
Nhưng 1 người công nhân trong ngành may mặc, cao su, chế biến thủy sản… đi làm từ 18 tuổi, đến ngoài 30 tuổi đã mắc nhiều thứ bệnh. Nếu những người này “bị bắt” nghỉ từ 55 – 60 tuổi thì đó là điều vô lý. Cho nên, chính sách phải mềm dẻo, linh hoạt, có đặc thù mới có thể tạo được sự công bằng và tính khả thi trong tính toán tuổi nghỉ hưu.
Theo ông Nguyễn Toàn Phong, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội, đối với một số nước trong khu vực, đặc biệt những nước phát triển, tuổi nghỉ hưu có tăng lên. Cho nên việc áp dụng ở Việt Nam cần có lộ trình. Nhiều nước sử dụng lao động đã nghỉ hưu là điều rất nhân văn. Bởi lao động còn độ tuổi, sức khỏe, còn muốn được cống hiến, có ích cho đất nước thì xã hội nên có sự quan tâm.
Bên cạnh đó, cần tính đến và cân nhắc ở một số ngành nghề đặc thù, vất vả. Bởi tuổi ở những ngành nghề lao động độc hại như hầm lò, hay công trường… thì không nên tăng tuổi nghỉ hưu, mà nên cho lao động có quyền lựa chọn nghỉ đúng tuổi hay kéo dài. Chúng ta cần có mức tuổi để người lao động lựa chọn quyền được nghỉ hay tiếp tục làm việc. Nếu cứng nhắc ở một độ tuổi thì sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của người lao động.
“Đương nhiên, kéo dài tuổi nghỉ hưu cũng sẽ ảnh hưởng phần nào đến việc làm cho giới trẻ. Theo công bố tỷ lệ thất nghiệp, cử nhân, sinh viên mới ra trường chưa có việc làm hàng năm cao thì xã hội phải có lộ trình. Bản thân người lao động cần có sự chuẩn bị và các doanh nghiệp cũng cần nắm được để có những định hướng nhất định trong công tác tuyển dụng. Như thế, đòi hỏi giới trẻ phải miệt mài hơn nữa, tích lũy về kinh nghiệm nghề nghiệp và chuyên môn giỏi để có cơ hội việc làm dễ dàng hơn” – ông Nguyễn Toàn Phong khuyến nghị.
Ông Lê Hải Anh, chuyên gia Thông tin thị trường lao động, Sở LĐTB&XH Hà Nội cũng thừa nhận, việc tăng tuổi nghỉ hưu cần tính đến nhiều khía cạnh. Đối với lao động phổ thông, tăng tuổi nghỉ hưu là áp lực rất lớn đến lực lượng lao động tại các khu công nghiệp, doanh nghiệp thiên về sản xuất.
Nguyên nhân do lực lượng này tham gia thị trường lao động tương đối sớm, nếu tăng tuổi nghỉ hưu thì sức khỏe không đảm bảo duy trì cường độ làm việc cao. Tuy nhiên, lực lượng lao động chất lượng cao như khối quản lý, văn phòng, giáo dục, y tế… nếu không tận dụng được thì sẽ rất lãng phí cho xã hội.
Ông Lê Hải Anh thừa nhận: “Với tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội như hiện nay, quy mô của nền kinh tế, quy mô lực lượng lao động và cơ hội việc dẫn tăng lên. Tuy nhiên, lực lượng trẻ không thể thay thế được lao động chất lượng cao, có kinh nghiệm. Do đó sẽ gây khó khăn nhất định cho giới trẻ tham gia thị trường lao động. Cho nên cần xây dựng lộ trình hài hòa với từng vị trí, ngành nghề, lĩnh vực. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 7/10) đầu trang(
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
Mới đây UBND tỉnh Quảng Ninh và Liên minh Hợp tác xã (HTX) tỉnh tổ chức hội nghị xây dựng HTX kiểu mới gắn với Chương trình OCOP (mỗi xã, phường một sản phẩm).
Ông Ngô Tất Thắng, Phó Trưởng ban Chuyên trách Ban Điều hành OCOP Quảng Ninh cho biết: Mục tiêu của OCOP là thực hiện phát triển các hình thức kinh doanh (doanh nghiệp, HTX…) để sản xuất các sản phẩm, dịch vụ có lợi thế của mỗi địa phương từ xã, phường đến thị trấn, góp phần tái cơ cấu nền kinh tế Quảng Ninh theo hướng phát triển nội sinh và gia tăng giá trị.
Theo cơ cấu truyền thống, HTX là tổ chức thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, địa bàn nông thôn bằng các mối quan hệ của các thành viên không hạn chế về địa bàn và pháp nhân. Với cách huy động truyền thống và cũng như hiện tại, thành viên HTX là hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn xã hoặc ngoài xã phối hợp góp vốn để sản xuất, kinh doanh đồng thời phân phối lưu thông sản phẩm ra ngoài địa bàn. Chương trình OCOP vừa là chủ nhân công nghệ, vừa sở hữu nhãn hiệu hàng hóa, và tổ chức sản xuất sản phẩm OCOP theo chuỗi giá trị.
Tính đến nay, Quảng Ninh đã quy hoạch 17 vùng sản xuất hàng hóa nông nghiệp tập trung cấp tỉnh, quy hoạch sản xuất xuống từng huyện, từng xã. Nhiều dự án quy hoạch HTX trong OCOP lập các quy hoạch chi tiết, đề xuất các dự án sản xuất cụ thể và đã được phê duyệt đi vào sản xuất như: Huyện Đông Triều có HTX Chất lượng cao Hoa Phong, HTX Dược liệu xanh Đông Triều; huyện Hoành Bồ có HTX Mật ong Thống Nhất; huyện Vân Đồn có HTX Cam Vạn Yên; huyện Tiên Yên có HTX Chăn nuôi vịt Đồng Tiến…
Sau 3 năm triển khai Chương trình OCOP, tính đến 20/9/2016, toàn Quảng Ninh có 120 đơn vị tổ chức, cá nhân sản xuất tham gia chương trình OCOP. Các mô hình kinh tế đã tạo sự liên kết chặt chẽ giữa sản xuất với dịch vụ, tạo việc làm cho 1.220 lao động trực tiếp, doanh thu bán sản phẩm đạt 256 tỷ đồng…
Đại diện UBND TP Uông Bí cho biết, Uông Bí có nhiều sản phẩm được khách hàng trong và ngoài tỉnh chọn dùng như các loại thảo dược Yên Tử, rau sạch của HTX Hương Việt. Hiện tại, Uông Bí đang tiếp tục vận động thành lập thêm nhiều HTX bởi nhu cầu của nhiều nông dân ở đây đang muốn trở thành thành viên được sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm OCOP.
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam đánh giá cao kết quả tích cực mà Liên minh HTX tỉnh Quảng Ninh đã đạt được. Phó Chủ tịch Liên minh HTX cũng nhấn mạnh, cán bộ HTX, chuyên gia kỹ thuật cần sâu sát hơn nữa với cơ sở; kiên trì tích cực tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn, tham mưu kịp thời cho UBND tỉnh các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế hàng hóa; tiếp tục nhân rộng mô hình HTX kiểu mới.
Kể từ khi thực hiện Chương trình OCOP, một số sản phẩm là thế mạnh của địa phương trước đây chưa nổi tiếng, nay đã trở thành thương hiệu có giá trị. Sản phẩm được bán với giá cao hơn trước nhiều lần, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người nông dân. (Thanh Tra 7/10) đầu trang(
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Vấn đề xử lý nợ xấu bằng ngân sách nhà nước đã nóng lên trong thời gian gần đây sau khi dự thảo Đề án Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề cập tới vấn đề này.
Các tranh luận chia thành nhiều nhóm quan điểm khác nhau. Nhóm thứ nhất phản đối sử dụng tiền ngân sách để xử lý nợ xấu vì như vậy là không công bằng, dùng tiền thuế của dân nghèo để tài trợ cho người giàu gây tổn thất cho xã hội. Nhóm thứ hai đồng tình vì nếu không làm vậy thì lãi suất trong nền kinh tế vẫn cao, doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn và ngân hàng gặp khó thì ngân sách cũng bị tổn hại.
Nhóm thứ ba đồng tình với nhóm thứ hai là xử lý nợ xấu phải dùng “tiền tươi” nhưng hiện tại không phải là thời điểm cấp thiết vì còn nhiều vấn đề về y tế, giáo dục, khắc phục biến đổi khí hậu cấp thiết hơn vì nó liên quan tới đời sống người dân.
Bài viết này xin đi vào phân tích một số điểm mà cuộc tranh luận của các bên cần làm rõ.
Một lập luận quan trọng trong quan điểm của nhóm ủng hộ xử lý nợ xấu bằng ngân sách là cần phải giải quyết dứt điểm nợ xấu để hạ lãi suất cho vay xuống, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng. Nhưng sự thật thì doanh nghiệp nhỏ và vừa đã khó tiếp cận vay vốn từ lâu, ngay cả trong giai đoạn có những gói kích cầu nhiều tỉ đô la Mỹ bơm ra thị trường trong mấy năm trước (một trong những nguyên nhân hình thành nợ xấu hiện tại).
Vì vậy, không có gì đảm bảo là kéo lãi suất cho vay xuống thì đẩy được tăng trưởng hay sức cạnh tranh của nền kinh tế lên, càng không có gì đảm bảo điều đó giúp được cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trái lại, nó có thể bơm nguồn nuôi sống các xác chết biết đi vốn là những tập đoàn kinh tế khổng lồ đang thua lỗ lớn trong nền kinh tế. Ngân hàng tạo ra nợ xấu vì họ sai lầm trong quyết định cho vay trước đây. Ai đảm bảo họ sẽ không sai lầm một lần nữa?
Một số chuyên gia ngân hàng cho rằng những lập luận của nhóm quan điểm không ủng hộ dùng ngân sách xử lý nợ xấu là không hiểu về thực tế ngân hàng nhưng họ dường như cũng quên rằng họ nằm trong số những người đặt cược sai trong những canh bạc dẫn đến nợ xấu hiện nay. Tại sao người dân vẫn phải tin những người đã mắc sai lầm trước đây? Ai dám đảm bảo giải quyết nợ xấu thì các doanh nghiệp cần vốn được vay tiền và vay với lãi suất thấp hơn. Có khi nào chỉ một vài doanh nghiệp lớn, thân hữu mới có lợi hay không?
Ở một khía cạnh khác, hãy giả định là giải quyết được một phần nợ xấu thì giảm được lãi suất cho vay trong nền kinh tế trên diện rộng. Nhưng bài học giảm lãi suất và nới lỏng tiền tệ mấy năm qua ở nhiều nước cho thấy thành quả tăng trưởng không khả quan là mấy cho số đông dân chúng (tiền lương thực tăng rất chậm, thậm chí giảm trong nhiều ngành) nhưng bong bóng tài sản lại hình thành (chẳng hạn giá cổ phiếu tăng nhanh hơn thu nhập doanh nghiệp thực sự tạo ra đến 3-4 lần ở Mỹ). Bài viết của tác giả Thành Nam gần đây (Lãi suất bắt đầu hành trình giảm, TBKTSG 29-9-2016) cũng đang chỉ ra rằng thị trường cổ phiếu sẽ hưởng lợi từ kỳ vọng giảm lãi suất hiện nay.
Trong khi đó, Diễn đàn Kinh tế thế giới (World Economic Forum - WEF) vừa công bố đánh giá cho thấy dùng chính sách tiền tệ nới lỏng để kích thích kinh tế không đạt hiệu quả ở những nước nơi mà sức cạnh tranh nội tại của nền kinh tế đó quá kém. Họ nhận định rằng sức cạnh tranh nội tại mạnh là tiền đề cốt lõi để sử dụng chính sách tiền tệ nới lỏng nhằm kích thích kinh tế. Vì vậy, nói giảm lãi suất để đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam là bỏ quên tiền đề về sức cạnh tranh. Mà vốn dĩ sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta đang yếu đi nhiều, hàng hóa nước ngoài đang từng bước đánh bại hàng nội trên sân nhà.
Môi trường kinh doanh hiện tại còn nhiều hạn chế. Doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn phải cạnh tranh không bình đẳng với các công ty nước ngoài và doanh nghiệp lớn (vốn nhận được nhiều ưu đãi ngay cả với các dự án đầu tư có nhiều rủi ro với môi trường) và thường xuyên bị nhũng nhiễu bởi tham nhũng vặt. Trong bối cảnh đó, hạ lãi suất và tăng tín dụng trong lúc này nhiều khả năng chỉ có lợi cho những ai đang đầu cơ cổ phiếu, bất động sản và những doanh nghiệp đang nợ hàng ngàn tỉ đồng. Số này không biết chiếm bao nhiêu phần trăm trong nền kinh tế? Giả sử giúp họ thì GDP tăng được lên thì lợi ích đó sẽ đi vào tay ai là chính? Tăng trưởng vì một số ít như vậy thì có cần không?
Nhóm ủng hộ dùng ngân sách giải quyết nợ xấu cần trả lời rõ ràng những câu hỏi này!
Muốn xử lý nợ xấu bằng tiền của ngân sách, dù thế nào cũng phải dùng tiền của ngân sách, dù là cho vay hay cho không, và dù là dùng trực tiếp ngân sách hay vay nợ riêng cho mục đích giải quyết nợ xấu. Trong khi đó, theo Phó thủ tướng Vương Đình Huệ, cả nước cần tới 2 triệu tỉ đồng cho các dự án đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 (Việt Nam cần gần 100 tỉ đô la Mỹ cho đầu tư công, TBKTSG 29-9-2016). Đó là chưa tính những thiệt hại ngoài dự kiến do biến đổi khí hậu sẽ gây ra cho Việt Nam trong thời gian tới. Vì vậy, câu hỏi “tiền đâu” để giải quyết nợ xấu luôn luôn quan trọng.
Và, vì sao phải chi tiền để giải quyết nợ xấu nếu khoản tiền đó có thể tạo ra hạ tầng như đường cao tốc, giải quyết hạn hán, ngập mặn, tài trợ cải tổ nông nghiệp? Ai khẳng định giảm lãi suất (mà chỉ có một số ít doanh nghiệp có thể vay) có hiệu quả hơn giải quyết những nút thắt về hạ tầng hay môi trường? Tuy không có ai buộc Việt Nam phải chọn giữa nợ xấu với môi trường, nhưng trong bối cảnh ngân sách eo hẹp và nợ công cao, hiệu ứng đánh đổi nhiều khả năng sẽ xảy ra.
Cách giải quyết xung đột lợi ích này khá là đơn giản: chấp nhận tăng nợ công để tăng chi tiêu cho cả nợ xấu và chi tiêu phát triển nhằm kích thích kinh tế và đảm bảo tăng trưởng có thể mang lại lợi ích đều cho nhiều phía. Nhưng đây lại là một vấn đề mà xã hội nghi ngờ và khó mà đồng thuận, vì người dân đã mất dần niềm tin vào hiệu quả chi tiêu ngân sách trước đây của Chính phủ.
Sự khác biệt giữa các nhóm ý kiến về nợ công nằm ở chỗ người phản đối dùng ngân sách e ngại là tiền ngân sách để xử lý nợ công cuối cùng sẽ không được sử dụng hiệu quả và tạo ra bong bóng tài sản, làm giàu cho một số người, tạo ra nợ công mới hoặc sẽ gây gánh nặng ngân sách mới, trong khi nhóm ủng hộ cho rằng cứ như vậy mà không có tăng trưởng đủ thì ngân sách thất thu mà dần dần tăng trưởng thấp thì cũng sẽ gây ra nợ xấu mới.
Vấn đề nằm ở chỗ cách xử lý nợ xấu và vấn đề niềm tin, và hai vấn đề này lại liên hệ qua lại.Trước tiên, xử lý nợ xấu bao năm qua dựa trên tiền đề “nói dối lẫn nhau” của nhiều bên và điều này vẫn đang tiếp tục diễn ra. Rủi ro tiềm ẩn từ nợ xấu và các khoản lãi dự thu của ngân hàng đã được cảnh báo từ đầu năm, nhưng nó không hề được giải thích và quan tâm đúng mức.
Xử lý nợ xấu bằng ngân sách chỉ là một trong những nút thắt để giảm lãi suất. Nó còn là vấn đề về cơ chế điều hành lãi suất (xem bài của tác giả Hồ Lê: Mở đường cho mục tiêu giảm lãi suất cho vay, TBKTSG 30-9-2016) và những nút thắt trong cơ chế mà Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt nam (VAMC) đối mặt. Dùng ngân sách để xử lý nợ xấu, do đó, không thể được xem là giải pháp duy nhất mà chỉ là một trong những bước đi cần làm để giảm lãi suất. Những vấn đề này cần được làm rõ và minh bạch trong quá trình xử lý nợ xấu cũng như với những chính sách về lãi suất.
Nhìn rộng ra hơn, nợ xấu chỉ là phần chìm của tảng băng. Phần quan trọng hơn chính là nằm ở chỗ môi trường kinh doanh Việt Nam đã xấu đi nhiều trong thời gian qua và thị trường vốn phân bổ vốn lệch lạc (các vụ án kinh tế cho thấy các doanh nghiệp thua lỗ lớn cũng chính là những con nợ lớn của nhiều ngân hàng) nên nợ xấu tăng. Cải thiện môi trường kinh doanh cần nhiều thứ, trong đó cần giảm lãi suất và gia tăng cơ hội tiếp cận vốn cho mọi loại hình doanh nghiệp.
Giảm nợ xấu vừa là hệ quả vừa là một mắt xích của cải thiện môi trường kinh doanh. Ngoài ra, Việt Nam đang không may mắn khi phải đối mặt với sự tụt hậu về hạ tầng và thiệt hại do biến đổi khí hậu. Trách nhiệm có thể quy về những quyết định sai lầm trong quá khứ lẫn yếu tố khách quan, nhưng đối mặt với nó ở hiện tại vẫn đòi hỏi phải chi tiền ra để đầu tư cho tăng trưởng.
Nhưng đầu tư là có rủi ro. Muốn dân chấp nhận chia sẻ rủi ro, cho phép Chính phủ mạnh dạn chi tiền trong bối cảnh nợ công đã cao, thì đầu tiên cần lấy lại niềm tin ở họ. Phải cho thấy một đồng chi ra cũng là hợp lý, cho phép dân kiểm tra chi cái gì, chi ra sao, và đã hạn chế lãng phí, tham nhũng như thế nào. Vì vậy, muốn chi tiền xử lý nợ xấu hay chi tiêu công hiện tại, nói cho cùng, nằm ở chỗ cần cam kết lấy lại niềm tin của người dân và chỉ định rõ ai sẽ chịu trách nhiệm nếu có sai sót xảy ra. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 7/10) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Ủy ban chống tham nhũng Malaysia (MACC) đã ghi nhận một vụ tham nhũng lớn có số lượng tiền mặt kỷ lục gây chấn động mạnh nhất từ trước đến nay.
Vụ tham nhũng này có tổng trị giá 112 triệu ringgit (tương đương 28 triệu USD), liên quan đến 4 đối tượng, trong đó có giám đốc và phó giám đốc của Sở cấp nước bang Sabah, Malaysia.
Phó giám đốc MACC, ông Azam Baki, cho biết đây là vụ bắt giữ lớn nhất liên quan đến công chức. Trong quá khứ, các vụ án tham nhũng như thế này số tiền mới chỉ là 10 triệu ringgit.
Theo ông Azam, MACC đã tịch thu 45 triệu ringgit của giám đốc sở cấp nước Sabah và 7,2 triệu ringgit từ cấp phó của ông này. MACC phải mất tới 15 tiếng với 30 người mới đếm xong 52,2 triệu ringgit tiền mặt này.
"Trong buổi ra quân, MACC đột kích văn phòng và nhà của họ. Chúng tôi cũng thu giữ khoảng RM23 triệu ringgit từ tài khoản ngân hàng của hai quan chức này và các thành viên gia đình của họ," ông nói trong một buổi họp báo ngày 5/10.
Sáu két an toàn chứa 2.5 triệu ringgit cũng đã bị thu giữ. MACC cũng đóng băng tài khoản trị giá 37 triệu ringgit của công ty liên quan đến các quan chức này.
Các tang vật khác bị thu giữ trong đợt khám xét này bao gồm những chiếc xe sang trọng trị giá khoảng 3 triệu ringgit, rất nhiều đồ trang sức, đồng hồ đắt tiền, 94 túi xách cao cấp, và 127 giấy phép sử dụng đất.
Ngày 4/10, MACC đã tiến hành bắt giữ hai quan chức này vì bị nghi ngờ tham nhũng trong dự án cơ sở hạ tầng trị giá 3,3 tỷ ringgit từ năm 2010.
Ông Azam cho biết thêm theo kết quả điều tra ban đầu, MACC tin rằng các quan chức này cũng đang giữ tiền ở một quốc gia láng giềng, lực lượng cảnh sát cũng sẽ hỗ trợ MACC tiến hành điều tra vụ việc. (Vietnam + 6/10) đầu trang(
Văn phòng Tổng công tố của Uzbekistan cùng với Tòa án Tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ và An ninh Quốc gia đã được chỉ thị phát triển một dự luật về đấu tranh chống tham nhũng trong 2 tháng.
Chỉ thị trên đã được thực hiện theo Quyết định của Tổng thống lâm thời Shavkat Mirziyoyev “về tăng cường các biện pháp để bảo đảm sự phát triển nhanh chóng của kinh tế, bảo vệ sự toàn diện của sở hữu tư nhân và cải thiện chất lượng môi trường kinh doanh".
Theo đó, pháp luật phải được xây dựng hướng vào việc tăng cường sự tin tưởng của người dân và doanh nghiệp với cơ quan nhà nước, tăng sức hấp dẫn đầu tư của Uzbekistan, cũng như ngăn chặn hành vi, tội phạm tham nhũng.
Bên cạnh Luật Chống tham nhũng, Uzbekistan cũng lên kế hoạch thông qua các luật: Thủ tục hành chính, Mua sắm công và Hợp tác công - tư dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế chung đã được chấp nhận.
Việc thông qua các dự luật là để hoàn thiện khung pháp lý về phòng, chống tham nhũng, giảm các rào cản trong quá trình tương tác giữa Chính phủ với doanh nghiệp và đảm bảo công khai, minh bạch trong sử dụng các nguồn lực công. (Thanh Tra 7/10) đầu trang(./.
|
|||