Xem ngày trước
BẢN TIN TỔNG HỢP
Xem ngày kế tiếp

Ngày 04 tháng 11 năm 2014
THỜI SỰ
CHÍNH SÁCH - CHỈ ĐẠO
NHÂN SỰ
KINH TẾ
CHÍNH SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
PHÁP LUẬT
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH

THỜI SỰ
Rất nhiều kiến nghị về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong bối cảnh tình hình kinh tế có nhiều khó khăn được Chính phủ nêu trong Tờ trình về dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều tại các dự luật về thuế.
Tờ trình do Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày trước QH hôm qua, 3/11, đề nghị bổ sung một số quy định ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) cho doanh nghiệp (DN) đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; công nghiệp hỗ trợ (CNHT) và với các dự án quy mô vốn đầu tư tối thiểu 12.000 tỉ đồng, có phạm vi tác động sâu, rộng tới KT-XH.
Theo dự luật, mức thuế suất 20% sẽ được áp đối với DN hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản không thuộc địa bàn có điều kiện KT-XH khó khăn và đặc biệt khó khăn. Từ ngày 1.1.2016 sẽ áp dụng thuế suất 17%. Trong lĩnh vực CNHT, các DN đầu tư mới sản xuất sản phẩm thuộc danh mục sản phẩm CNHT ưu tiên sẽ được áp dụng thuế suất 10% trong 15 năm, miễn thuế trong 4 năm và được giảm 50% trong 9 năm tiếp theo.
Trường hợp đầu tư mở rộng sản xuất sản phẩm thuộc danh mục ưu tiên nếu đáp ứng một trong 3 tiêu chí về đầu tư mở rộng quy định tại luật Thuế TNDN 2013 thì được hưởng ưu đãi thuế (cả thuế suất và thời gian miễn, giảm) theo dự án đang hoạt động cho thời gian còn lại.
Theo Bộ trưởng Dũng, tiêu chí, nguyên tắc xác định sản phẩm CNHT được ưu đãi thuế là sản phẩm CNHT hỗ trợ cho công nghệ cao theo quy định của luật Công nghệ cao; sản phẩm CNHT cho sản xuất sản phẩm cơ khí chế tạo, linh kiện điện tử, phụ tùng, cơ khí ô tô và sản phẩm CNHT cho dệt may, da giày là sản phẩm tính đến ngày 1.1.2015 trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng chưa đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng kỹ thuật.
Để thu hút các dự án đầu tư có quy mô vốn lớn, tác động sâu, rộng, Chính phủ đề nghị áp mức thuế suất ưu đãi 10% trong 15 năm, miễn thuế trong 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo cho các DN thực hiện dự án. Đối với dự án cần đặc biệt thu hút đầu tư (sử dụng công nghệ tiên tiến trong nước chưa có hoặc lần đầu áp dụng tại VN hoặc khu vực Đông Nam Á hoặc sản xuất sản phẩm có khả năng cạnh tranh toàn cầu, doanh thu đạt trên 20.000 tỉ đồng/năm, sử dụng trên 6.000 lao động thường xuyên hoặc DN đầu tư thuộc lĩnh vực hạ tầng kinh tế kỹ thuật) được xem xét kéo dài thêm thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi 10% nhưng tối đa không quá 15 năm.
Trình bày báo cáo giám sát, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách (TCNS) Phùng Quốc Hiển đề nghị cần rà soát kỹ về phạm vi, đối tượng danh mục thuộc ngành CNHT, gắn với định hướng quy hoạch phát triển công nghiệp của VN. Ủy ban cũng đề nghị làm rõ hơn về tiêu chí công nghệ đối với các dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư tối thiểu 12.000 tỉ đồng. Theo đó, chỉ ưu đãi cho các dự án đáp ứng được tiêu chuẩn thuộc nhóm các nước công nghiệp phát triển.
Ủy ban TCNS cũng đề nghị loại bỏ tiêu chí “dự án sử dụng công nghệ tiên tiến, trong nước chưa sản xuất được hoặc công nghệ tiên tiến lần đầu áp dụng ở VN”, vì có thể sẽ dẫn đến việc thu nhận các dự án có công nghệ lạc hậu mà các nước khác có nhu cầu thay thế chuyển về đầu tư ở VN, dù đó có thể là công nghệ mà trong nước chưa sản xuất được hoặc lần đầu áp dụng tại VN.
Tại tờ trình, Chính phủ đề nghị bỏ quy định khống chế khoản chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi, hoa hồng môi giới, tiếp tân, khánh tiết, hội nghị, hỗ trợ tiếp thị, chi phí liên quan trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh.
Liên quan đến luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN), Chính phủ đề nghị bổ sung quy định miễn thuế TNCN đối với cá nhân VN là thuyền viên làm thuê cho các hãng tàu nước ngoài và tàu VN vận tải quốc tế. Việc bổ sung, theo Chính phủ là để tháo gỡ khó khăn, tạo cơ hội cho lao động VN và khuyến khích chủ tàu cung cấp dịch vụ hậu cần phục vụ cho hoạt động khai thác thủy sản góp phần đảm bảo an ninh trên biển, bảo vệ chủ quyền biển đảo...
Để khuyến khích hợp lý DN đầu tư ra nước ngoài chuyển thu nhập về VN, Chính phủ đề nghị đối với các nước đã ký hiệp định tránh đánh thuế hai lần thì thực hiện theo quy định của hiệp định; đối với các nước chưa ký hiệp định thì trường hợp thuế TNDN ở các nước mà DN đầu tư chuyển về có mức thuế suất thuế thấp hơn thì thu phần chênh lệch so với số thuế TNDN tính theo luật Thuế TNDN của VN; đối với các nước có thuế suất bằng hoặc cao hơn thì không thu thuế TNDN.
Chính phủ trình QH quy định cá nhân chuyển nhượng bất động sản nộp thuế TNCN 2% trên giá bán từng lần chuyển nhượng và cá nhân chuyển nhượng chứng khoán nộp thuế TNCN 0,1% trên giá bán chứng khoán từng lần chuyển nhượng (nội dung thể hiện tại khoản 4, 5, 8 điều 2 dự thảo luật); đề nghị xem xét bỏ thu thuế TNCN đối với cá nhân trúng thưởng trong casino.
Tuy nhiên có ý kiến trong Ủy ban TCNS cho rằng việc không thu thuế TNCN đối với người trúng thưởng trong casino là không phù hợp với nguyên tắc của luật Thuế TNCN, tạo sự bất bình đẳng với cá nhân khác có nghĩa vụ nộp thuế. Vì vậy, đề nghị giữ nguyên quy định đánh thuế TNCN đối với thu nhập từ trúng thưởng trong casino.
Để tháo gỡ khó khăn cho các DN, Chính phủ trình QH cho phép xóa nợ tiền phạt chậm nộp thuế, tiền chậm nộp thuế của các khoản nợ thuế phát sinh trước ngày 1.7.2013 của DN gặp khó khăn khách quan và đã nộp khoản nợ thuế gốc trước 31.12.2014.
Theo Bộ trưởng Dũng, DN được xóa nợ phải đáp ứng một trong các tiêu chí: DN được thanh toán bằng vốn ngân sách nhà nước (NSNN) hoặc có nguồn từ NSNN nhưng chưa được thanh toán; DN có đối tác bị phá sản hoặc phá bỏ hợp đồng; DN phải vay của các ngân hàng thương mại với lãi suất cao trên 20%/năm dẫn đến tổng tiền chậm nộp phát sinh bằng 100% số tiền thuế trở lên.
Tuy nhiên, báo cáo thẩm tra không đồng ý với quan điểm này. Theo Ủy ban TCNS, bản chất tiền phạt chậm nộp thuế là khoản tiền phạt do vi phạm hành chính về thuế, do đó việc xóa nợ sẽ tạo tiền lệ không tốt, không bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và không công bằng đối với các DN thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật. Ủy ban TCNS chỉ nhất trí xóa nợ tiền phạt chậm nộp thuế trong trường hợp DN nợ thuế do NSNN nợ DN.
Ông Phùng Quốc Hiển cũng cho biết có ý kiến cho rằng, về thời điểm xóa nợ tiền phạt chậm nộp thuế đối với các DN trước 1.7.2013 là quá rộng. Do đó, đề nghị cân nhắc, xem xét việc xóa nợ tiền phạt chậm nộp thuế trước năm 2008. (Thanh Niên 4/11) đầu trang(
Ngày 3-11, Quốc hội tập trung nghe Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Nguyễn Văn Hiện trình bày Báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự.
Đây cũng là nội dung nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các đại biểu (ĐB) do vấn đề tồn đọng thi hành án dân sự hiện đang gây bức xúc.
Về quyền yêu cầu thi hành án, ĐB Tô Văn Tám (Kon Tum) cho rằng: Hiện nay luật quy định là Cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành bản án khi có đơn yêu cầu và cơ quan thi hành án chỉ có trách nhiệm chủ động ra quyết định thi hành án trong một số trường hợp.
Đây là điều không hợp lý bởi Hiến pháp đã quy định rõ, khi bản án của tòa có hiệu lực pháp luật, các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải nghiêm chỉnh chấp hành. Nếu chỉ làm khi có yêu cầu thì chưa phù hợp với Hiến pháp, chưa thực sự chủ động bảo vệ  quyền lợi của công dân, đồng thời làm tăng thêm tình trạng tồn đọng án. Bởi vậy, đại biểu đề nghị cơ quan thi hành án có nhiệm vụ chủ động ra quyết định thi hành án trong tất cả các trường hợp trừ khi đã hết thời hiệu.
Đối với việc xác minh tài sản, thu nhập của người phải thi hành án thực tế thường không dễ dàng. Người phải thi hành án có thể cư trú ở những địa bàn khác nhau, tài sản có thể nằm ở nhiều địa phương khác nhau và cũng có thể ở nước ngoài. Mặt khác, người phải thi hành án thường có những hành vi tẩu tán tài sản, che giấu nguồn thu nhập. Vì vậy trong quá trình xác minh điều kiện thi hành án, nếu không có sự phối hợp, giúp đỡ, tạo điều kiện của cơ quan tổ chức, cá nhân, đặc biệt là của chính quyền sở tại thì sẽ rất khó khăn.
“Tôi đề nghị bổ sung trách nhiệm phối hợp, giúp đỡ, tạo điều kiện trong quá trình xác minh tài sản của chính quyền sở tại đối với cơ quan thi hành án”, ĐB Tô Văn Tám nêu ý kiến.
Đồng tình với quan điểm này, đại biểu H`Yim Kđoh (Đắk Lắk) nêu quan điểm: Vấn đề trách nhiệm xác minh thi hành án hiện nay, nếu để công dân xác minh được điều kiện của người phải thi hành án là cực kỳ khó khăn, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Trên thực tế người dân vẫn còn thói quen mua, bán trao tay, nhiều tài sản khi chuyển nhượng không qua cơ quan quản lý đăng ký chuyển nhượng, sang tên quyền sử dụng, quyền sở hữu thì việc xác minh để xác định chủ sở hữu, chủ sử dụng thực sự là rất gian nan. Đó là chưa nói đến, với những thủ tục hành chính như hiện nay, việc xác minh tài sản của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức tín dụng, thì đối với cơ quan thi hành án dân sự cũng còn khó khăn chứ chưa nói đến người dân. Do đó, trách nhiệm xác minh phải thuộc về cơ quan thi hành án. Công dân, tổ chức có thể cung cấp thông tin về tài sản nếu có.
Trong khi đó ĐB Phạm Xuân Thường (Thái Bình) lại có ý kiến đề xuất liên quan đến các đối tượng phải thi hành án là những người phạm các tội về ma túy, án dài 10, 20 năm, chung thân thậm chí đã tử hình hoặc là những người nghiện ma túy phạm tội.
Theo đại biểu, các đối tượng này hiện tại và trong tương lai đều không có khả năng thi hành án hoặc có khả năng thì cũng không tự nguyện mang nộp án phí sau khi ra tù. Số tiền án phí rất ít, cưỡng chế thi hành lại không đáng, nhưng cơ quan thi hành án vẫn phải thụ lý rồi tiến hành xác minh 1 năm 2 lần, để rồi khi đủ thời gian quy định là xét miễn, giảm.
Có trường hợp cán bộ thi hành án phải bỏ tiền của mình nộp thay cho bị cáo vừa để hoàn thành chỉ tiêu, vừa đỡ mất thời gian đi xác minh mà biết chắc là không thu được. Đây sẽ là một vòng luẩn quẩn không thể chấm dứt được nếu không có sự thay đổi căn bản về cách nhìn nhận quy định này.
Cũng theo ĐB Phạm Xuân  Thường đề nghị, nên giao lại công tác thi hành án dân sự cho tòa án như trước năm 1994. Bởi vì xét xử, thi hành án vốn là hai nội dung thống nhất của một quá trình tố tụng, công tác thi hành án được khởi động ngay từ khi thụ lý. Do vậy, tách trách nhiệm của tòa án, tức là cắt khúc tố tụng như vậy sẽ kém hiệu quả. Nếu trả lại chức năng  thi hành án dân sự cho tòa án thực hiện sẽ đơn giản hơn rất nhiều.
Ngoài ra, công tác thi hành án sẽ được bổ sung một “đội quân tinh nhuệ” khoảng 7.000 - 8.000 người là các Chánh án, Phó chánh án, Thẩm phán, Thư ký, cán bộ thi hành án hình sự từ tòa án mà nhà nước không phải tăng biên chế, không phải chi ngân sách.
Ngược lại, tòa án nhân dân cũng được bổ sung một nguồn nhân lực chất lượng cao, đó là chấp hành viên, thẩm tra viên, thư ký tòa án, mà không phải lo đào tạo, bồi dưỡng. Việc này không tăng biên chế mà còn có thể cắt giảm số người đang làm công tác thi hành án dân sự hiện nay. Ngoài ra, giao công tác thi hành án cho tòa án sẽ giảm tối đa các vụ việc án tuyên không rõ ràng. (An Ninh Thủ Đô 4/11) đầu trang(
Chiều 3/11, các đại biểu Quốc hội làm việc tại Hội trường nghe Tờ trình bốn dự án Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi); Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Luật Nghĩa vụ quân sự (sửa đổi) và Luật Thú y.
Trình bày Tờ trình về dự án Luật tổ chức Chính phủ (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình nêu rõ sau hơn 12 năm thực hiện Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001, Chính phủ đã tập trung quản lý, điều hành vĩ mô trên các mặt của đời sống kinh tế-xã hội; từng bước xóa bỏ cơ chế chủ quản của các bộ đối với doanh nghiệp; tách chức năng quản lý nhà nước với chức năng cung cấp dịch vụ công của các bộ, cơ quan ngang bộ; xây dựng nền hành chính nhà nước thống nhất, thông suốt, liên tục và hiệu lực, hiệu quả từ trung ương đến địa phương.
Chính phủ đã xây dựng và kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở; khắc phục những chồng chéo, trùng lắp trong hoạt động của bộ máy nhà nước...
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001 chưa bao quát được hết các chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ trong quá trình điều hành hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương.
Các quy định chưa phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, chưa bao quát hết các lĩnh vực quản lý nhà nước và chưa tương xứng với vị trí, vai trò của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cao nhất; chưa phân định rõ vị trí, chức năng của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là thành viên Chính phủ và là người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ.
Mối quan hệ giữa Chính phủ với chính quyền địa phương chưa được xác định cụ thể, nhất là sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đối với chính quyền địa phương; chưa thực hiện tốt nguyên tắc cơ quan cấp dưới phải phục tùng sự chỉ đạo, lãnh đạo và các quyết định của cơ quan cấp trên. Hơn nữa, Hiến pháp năm 2013 đã có nhiều quy định mới về Chính phủ và các thiết chế tổ chức quyền lực nhà nước. Vì những lý do này, việc sửa đổi Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001 là cần thiết.
Dự án luật đã thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng và cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013; kế thừa, phát triển và hoàn thiện những quy định của Luật Tổ chức Chính phủ hiện hành đã được thực tiễn kiểm nghiệm là hợp lý và có hiệu quả; luật hóa các vấn đề thực tiễn đòi hỏi trong hoạt động của Chính phủ mà chưa được pháp luật điều chỉnh.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bảo đảm tính chủ động, sáng tạo, năng động, linh hoạt để giải quyết kịp thời các vấn đề của thực tiễn cuộc sống, phù hợp với Hiến pháp năm 2013... Dự thảo Luật kết cấu gồm tám chương, 50 điều.
Cơ bản tán thành với mục tiêu, quan điểm xây dựng Luật, Ủy ban pháp luật - cơ quan thẩm tra dự án Luật đề nghị Tờ trình cần bổ sung quan điểm xây dựng một Chính phủ sáng tạo, năng động, tinh gọn về tổ chức, hiệu lực, hiệu quả về hoạt động, đủ tầm quản lý, giải quyết các nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập và hợp tác quốc tế.
Ủy ban pháp luật đề nghị dự thảo Luật cần tập trung cụ thể hóa mối quan hệ giữa Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ; phân định thẩm quyền của Bộ trưởng với tư cách là thành viên của Chính phủ và Bộ trưởng với tư cách là người đứng đầu ngành, lĩnh vực được phân công quản lý.
Xác định, phân định rõ lĩnh vực quản lý của các bộ, ngành nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo hoặc bỏ sót lĩnh vực không có cơ quan quản lý; khắc phục tình trạng đùn đẩy trách nhiệm lên Chính phủ, lên Thủ tướng; xây dựng cơ chế khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện quy định của Hiến pháp về việc người đứng đầu Chính phủ có nghĩa vụ báo cáo trước nhân dân về những vấn đề quan trọng mà Chính phủ phải giải quyết.
Tờ trình về dự án Luật Tổ chức chính quyền địa phương nêu rõ sau hơn 10 năm thực hiện Luật Tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 2003 (sau đây gọi là Luật năm 2003), hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp đã không ngừng được củng cố và hoàn thiện, cơ bản thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, qua thực tiễn hoạt động của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp trong thời gian qua và yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới cho thấy Luật năm 2003 đã bộc lộ những vấn đề cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung. Đó là quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân cơ bản giống nhau ở cả ba cấp, chưa thể hiện tính gắn kết thống nhất giữa hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân cùng cấp trong chỉnh thể chính quyền địa phương; chưa phân biệt theo đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo; chưa phân định rõ thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương; một số nhiệm vụ theo luật định, chính quyền cấp xã không có khả năng thực thi.
Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013 có nhiều điểm mới về chính quyền địa phương; định hướng của Đảng yêu cầu tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân biệt giữa chính quyền nông thôn, đô thị, hải đảo; đẩy mạnh phân cấp giữa Trung ương và địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương cần được thể chế hóa trong Luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, bảo đảm tính thống nhất, thông suốt trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương các cấp. Vì vậy việc xây dựng Luật Tổ chức chính quyền địa phương để thay thế Luật năm 2003 là cần thiết thiết.
Dự án luật được xây dựng trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa Chính phủ với chính quyền địa phương cấp tỉnh, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, chế độ làm việc và mối quan hệ công tác của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân ở các đơn vị hành chính bảo đảm gắn kết thống nhất giữa hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân cùng cấp trong chỉnh thể chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt; phân định cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền giữa tập thể ủy ban nhân dân và cá nhân Chủ tịch ủy ban nhân dân theo hướng đề cao trách nhiệm người đứng đầu...
Dự án Luật Tổ chức chính quyền địa phương điều chỉnh các vấn đề về tổ chức đơn vị hành chính; về mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính; về nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp chính quyền địa phương; về tổ chức, hoạt động của hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân và mối quan hệ giữa hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội và Nhân dân.
Dự án Luật xây dựng hai phương án: Không tổ chức hội đồng nhân dân ở quận, phường; Tổ chức hội đồng nhân dân ở tất cả các đơn vị hành chính.
Theo Tờ trình của Chính phủ, dự án Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định về tổ chức đơn vị hành chính, tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã); còn tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt do Luật đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt quy định.
Ủy ban pháp luật là cơ quan thẩm tra có quan điểm, theo quy định của Hiến pháp thì đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt cũng là một loại đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, một số vấn đề có tính nguyên tắc về đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt như điều kiện, trình tự thành lập, giải thể, mô hình tổ chức chính quyền địa phương tại các đơn vị này cần được quy định trong Luật tổ chức chính quyền địa phương để bảo đảo tính thống nhất.
Còn những nội dung đặc thù về nhiệm vụ, quyền hạn, cơ chế hoạt động cũng như các chính sách ưu đãi đối với các đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt sẽ được quy định ở văn bản khác.
Đánh giá dự thảo Luật vẫn còn nhiều quy định về các trình tự, thủ tục, về hoạt động của chính quyền địa phương, Ủy ban pháp luật cho rằng Luật tổ chức chính quyền địa phương chỉ nên tập trung quy định những vấn đề về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và những nguyên tắc hoạt động chính, còn những vấn đề về trình tự, thủ tục, cách thức hoạt động thì cần được cân nhắc kỹ và chỉ đưa vào luật những quy định thật sự cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
Những nội dung cụ thể khác liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương sẽ được quy định trong các văn bản khác. Ủy ban pháp luật đề nghị Chính phủ cần rà soát lại phạm vi điều chỉnh để bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật.
Tờ trình dự án Luật Nghĩa vụ quân sự (sửa đổi) khẳng định để đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong tình hình mới; bảo đảm cho công dân thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc theo quy định của Hiến pháp; đồng thời để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật, việc sửa đổi Luật Nghĩa vụ quân sự là cần thiết.
Dự án luật đã quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011), Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới với mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao, bảo đảm giành thắng lợi trong mọi tình huống.
Từng bước giải quyết và góp phần bảo đảm công bằng xã hội trong thực hiện nghĩa vụ quân sự; phù hợp với đặc thù quân sự, điều kiện phát triển của đất nước, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Dự án Luật đã kế thừa những nội dung còn phù hợp, sửa đổi, bổ sung những nội dung vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện; bổ sung những nội dung mới để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Làm rõ trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của tổ chức, cá nhân trong thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự, đảm bảo tính khả thi và ổn định lâu dài. Dự án Luật Nghĩa vụ quân sự (sửa đổi) có tám chương và 60 điều.
Thẩm tra dự án Luật, Ủy ban quốc phòng và an ninh đề nghị dự án Luật cần thể hiện rõ hơn theo tinh thần mới của Hiến pháp năm 2013, để phù hợp với yêu cầu kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; chính sách nghĩa vụ quân sự phải bảo đảm thực hiện phương châm vừa xây dựng lực lượng thường trực chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có số lượng hợp lý, vừa xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu.
Đổi mới chế độ chính sách đối với người thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, động viên thanh niên hăng hái phục vụ trong quân đội và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân để bảo đảm công bằng xã hội, đồng thời thực hiện yêu cầu cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho người dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, khắc phục những mặt bất cập và hạn chế hiện nay.
Theo Tờ trình của dự án Luật Thú y do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát trình bày, sau 10 năm thi hành, Pháp lệnh Thú y 2004 đã góp phần quan trọng tạo cơ sở pháp lý cho việc phòng, chống, khống chế dịch bệnh động vật; kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y; tăng cường hiệu lực nhà nước về quản lý thuốc thú y, hành nghề thú y...
Tuy nhiên, đến nay, Pháp lệnh đã bộc lộ một số hạn chế như chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động quản lý nhà nước về thú y trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Ở tầm Pháp lệnh, các quy định chỉ mang tính cụ thể trước mắt, chưa xác lập những quy định pháp luật với tầm nhìn chiến lược cho một giai đoạn phát triển mới.
Bên cạnh đó, việc thiếu các quy định đáp ứng yêu cầu thực tế trong hoạt động thú y như đẩy mạnh xã hội hóa, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính đã làm giảm hiệu lực và hiệu quả của một công cụ pháp lý quan trọng trong hoạt động thú y trong thời kỳ mới. Do vậy cần thiết phải xây dựng Luật thú y thay thế Pháp lệnh thú y 2004. Dự thảo Luật Thú y gồm có bảy Chương, 121 Điều.
Cơ bản nhất trí về sự cần thiết ban hành Luật, cơ quan thẩm tra Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đề nghị nhấn mạnh thêm việc ban hành Luật còn nhằm thể hiện rõ quan điểm đổi mới của Đảng và Nhà nước trong công tác thú y.
Đánh giá nội dung của dự thảo Luật đã cơ bản thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về công tác thú y nhưng cơ quan thẩm tra vẫn đề nghị dự thảo Luật cần được tiếp tục nghiên cứu, tiếp cận theo hướng gắn kết công tác thú y phục vụ cho phát triển chăn nuôi, lấy phòng bệnh là chính, tăng cường trách nhiệm của chủ cơ sở chăn nuôi; việc quản lý, kiểm soát dịch bệnh phải được quản lý theo chuỗi từ chăn nuôi đến bàn ăn.
Theo Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, dự thảo Luật được xây dựng trên cơ sở tổng kết và kế thừa thực tiễn trên 20 năm thi hành Pháp lệnh Thú y (được ban hành năm 1993 và sửa đổi năm 2004), đã bổ sung nhiều nội dung mới phù hợp với yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước về thú y và yêu cầu hội nhập quốc tế như quy định về giám sát dịch bệnh (Điều 17); quy định về kinh phí cho phòng, chống dịch bệnh (Điều 22, Điều 23).
Nội dung các điều khoản trong Dự thảo Luật tương đối chi tiết, rõ ràng, hạn chế tối đa các quy định giao Chính phủ hướng dẫn nên khi Luật được ban hành có thể thực thi được ngay.
Sáng 4/11 theo dự kiến chương trình, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về d ự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và d ự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật thuế. (TTXVN 3/11) đầu trang(
Ở VN, nếu từ chức, một bộ trưởng muốn xin việc ở đâu không dễ. Nghỉ hưu xin việc còn dễ, từ chức lại rất khó, bởi bối cảnh xã hội vẫn "bịt cửa" của người ta - Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội (VPQH) Nguyễn Sĩ Dũng trao đổi với báo giới bên hành lang QH ngày 3/11.
Trao đổi của ông Nguyễn Sĩ Dũng với báo chí bên hành lang QH liên quan đến đề xuất đưa quy định về từ chức vào luật Tổ chức chính phủ sửa đổi.
Theo TS Nguyễn Sĩ Dũng, từ chức là trên cơ sở danh dự, văn hóa. Một bộ trưởng của Nhật Bản có thể từ chức ngay nếu chỉ xì xèo chuyện tranh cử có vi phạm tài chính.
"Đó là hệ thống chính trị hết sức có lương tâm, chưa chắc người ta có vi phạm. Nhưng rõ ràng người ta không còn uy tín để làm và vì thế người ta từ chức. Việc đó vận hành theo đạo đức nhiều hơn theo pháp luật.
Hình thành một đạo đức như vậy cao hơn những quy định điều chỉnh của đạo đức và pháp luật. Pháp luật chỉ là tối thiểu của đạo đức, đạo đức lớn hơn rất nhiều. Anh thấy anh từ chức để nhận trách nhiệm, từ chức vì lương tâm cắn rứt, từ chức vì thấy lẽ ra làm được tốt hơn, đó là chuyện của đạo đức, không phải chuyện của pháp luật.
Mình lạm dụng pháp luật tương đối nhiều, để cửa cho đạo đức rất ít, đây là vấn đề rất lớn của vận hành thể chế. Bất cứ một thể chế nào đều chỉ có thể vận hành trên một nền tảng đạo đức tương ứng, không có nền tảng đạo đức thì không vận hành được.
Từ chức đã từng được đề cập trong luật Cán bộ, công chức nhưng đến giờ, thực tế chưa có một trường hợp nào ghi nhận. Liệu có vướng ở chỗ nào? Theo ông Dũng: “Từ chức ở VN là điều hết sức nặng nề. Nặng nề cho anh, cho vợ con, gia đình, bà con thân tộc trong khi ở phương Tây, Nhật Bản là chuyện bình thường. Ở VN, nếu từ chức, một bộ trưởng muốn xin việc ở đâu không dễ. Nghỉ hưu xin việc còn dễ, từ chức lại rất khó, bởi bối cảnh xã hội vẫn "bịt cửa" của người ta. Việc khuyến khích từ chức cũng rất ít vì có chức thì có quyền, có quyền thì có lợi.
Nếu xã hội rộng mở nhiều hơn, đánh giá của xã hội đừng khắt khe, quy chụp thì chuyện từ chức dễ hơn. Chức tước chỉ là một sự dấn thân, không phải là thành tựu gì đó vĩ đại cả.
Tổng thống Mỹ Bill Clinton hồi làm Tổng thống nhận lương 200 ngàn đô la/năm, khi không làm Tổng thống, đi diễn thuyết một buổi có thể kiếm cũng 200 ngàn đô la. Sự khuyến khích của họ rất khác. Chuyện làm quan chỉ là sự lựa chọn nếu anh có thôi thúc nội tại, đó là sự cống hiến, không thể có nhiều hơn nếu làm việc khác. Chính trị gia nào cũng bị như thế, nếu anh đã đẩy vào việc công thì phải định ngay là chấp nhận và cống hiến, hy sinh. Môi trường đó mình không có thì bảo sao từ chức dễ được.
Từ chức cũng liên quan mô hình quản trị quốc gia, bởi vì tôi chỉ có ý kiến về việc này việc kia, bây giờ tôi chịu trách nhiệm tất cả có công bằng? Nếu tôi tự quyết thì tôi tự chịu trách nhiệm, còn tôi phải xin phép tôi mới làm, bây giờ một mình chịu trách nhiệm thì không công bằng.
Báo chí cũng thế thôi, từ chức có ai nhảy vào khen không, hay là hắt hủi, làm người ta mất hết danh dự?”
Vậy đứng trên nguyên tắc hành xử, đáng ra  từ chức phải là một quyền, một cửa mở ra cho người ta để giữ danh dự, liêm sỉ ?Trả lời câu hỏi này, ông Dũng cho rằng: “Bởi vì người ta hành động theo cái lợi,  lợi người ta mới làm, không lợi bằng người ta không làm. Còn theo quy trình của sự đồng ý này, anh muốn từ chức thì vẫn từ chức được, bởi có hàng trăm ứng cử viên đang ngồi chờ đây, không vấn đề gì cả, nhưng rõ ràng phương án từ chức là phương án ít lợi hơn”. (Vietnamnet 3/11) đầu trang(
Bộ trưởng Bộ Tư Pháp, Hà Hùng Cường nói như vậy khi trao đổi bên lề hành lang Quốc hội chiều ngày 3- 11 về tình trạng “lạm phát cấp phó” mà đại biểu Quốc hội phản ánh.
“Việc đại biểu nói rằng cấp phó ở nước mình nhiều tôi nghĩ là ý kiến một chiều. Ví dụ như nước Nga người ta cũng chuyển đổi sang mô hình thị trường nhưng cấp phó của họ vẫn 6 - 7 người” - Bộ trưởng Cường dẫn chứng.
Theo ông Cường, một trong những nguyên tắc hoạt động của tất cả các cơ quan, tổ chức, chính trị xã hội của ta là nguyên tắc tập trung dân chủ, có nghĩa là phải họp hành liên miên.
“Bộ tôi có 4 Thứ trưởng chỉ cần phân công nhau đi họp thôi cũng đã chết rồi. Mà chỉ cần xin phép một cơ quan nào đó là cho cấp vụ đi họp thay thì các vị cũng không đồng tình. Nhiều khi thứ trưởng thay mặt Bộ trưởng đi báo cáo ở các cơ quan của Quốc hội, chưa nói đến là Thường vụ Quốc hội cũng đã khó khăn rồi”, ông Cường nói.
Bộ trưởng Cường dẫn chứng thêm: "Như tôi đi vắng thì vừa rồi Phó Thủ tướng Chính phủ phải báo cáo trước Thường vụ Quốc hội về Bộ Luật dân sự, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì làm sao mà giảm cấp phó được?”.
Tuy nhiên, ông Cường cũng cho rằng, cũng không thể tùy tiện trong việc bố trí nhiều hay ít cấp phó mà là phải phù hợp. Bởi  bây giờ quản lý là đa ngành, đa lĩnh vực. Lĩnh vực nào cũng đòi hỏi chuyên sâu nên phải có những người làm phó cho cấp trưởng, phụ trách những lĩnh vực chuyên sâu, giúp cấp trưởng hoàn thành nhiệm vụ.
“Cái chính là phải nhìn vào mức độ hoàn thành nhiệm vụ chính trị của bộ đó, ngành đó, cơ quan đó để đánh giá thừa hay thiếu. Còn các nước có khi chỉ có một Tổng thư ký là công chức điều hành, bất kể bộ trưởng đó là ai. Bộ máy đó hoạt động theo bộ máy, Bộ trưởng là ai thì guồng máy vẫn chạy như vậy. Chứ như Bộ Tư pháp có 4 thứ trưởng mà bố trí đi họp nhiều khi cũng không đủ”. – ông Cường bộc bạch. (Pháp luật TP.HCM 4/11) đầu trang(
Bắt đầu từ phiên khai mạc kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII đến nay, qua hơn 10 ngày, đại biểu Châu Thị Thu Nga, thuộc đoàn Đại biểu Quốc hội TP Hà Nội đã vắng mặt và không tham dự kỳ họp.
Bên lề kỳ họp Quốc hội ngày 31/10, đại hiện đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội cho biết, đại biểu Châu Thị Thu Nga đã xin vắng mặt ngay từ đầu kỳ họp và đến nay chưa tham dự buổi họp nào.
Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội Nguyễn Thị Hồng Hà cho biết, từ phiên khai mạc (ngày 20/10) đến nay, đại biểu Nga đã viết đơn xin nghỉ họp 2 lần từ đầu kỳ và đến thời điểm này vẫn chưa quay lại nghị trường.
Lý do xin vắng mặt của đại biểu Châu Thị Thu Nga là xin nghỉ để đi chữa bệnh. Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội cũng đã gửi đơn của đại biểu Nga cho Ban công tác đại biểu Quốc hội.
“Đại biểu Nga không liên hệ với trưởng và phó đoàn nhưng có liên hệ trực tiếp qua điện thoại với văn phòng đoàn đại biểu TP Hà Nội. Đoàn muốn đến thăm hỏi, nhưng chị ấy nói đang phải nằm viện trong TPHCM. Vì thế chúng tôi không thể đến thăm hỏi được và cũng chỉ biết đến thế” – Phó trưởng đoàn đại biểu TP Hà Nội cho biết.
Về nguyên tắc, việc viết đơn xin nghỉ họp là quyền của đại biểu Quốc hội. Đến thời điểm này, Ban công tác đại biểu Quốc hội cũng chưa có ý kiến gì về trưởng hợp của đại biểu Nga. Văn phòng đoàn đại biểu Quốc hội cũng chưa biết đại biểu Nga xin nghỉ họp đến bao giờ, và trong đơn cũng không đề cập đến thời gian xin nghỉ họp bao lâu.
Là đại biểu thuộc đoàn TP Hà Nội, qua theo dõi tại các kỳ họp của phóng viên, trước đây đại biểu Châu Thị Thu Nga đi tham dự khá đầy đủ các phiên họp ở hội trường cũng như các buổi họp tổ.
Là một doanh nhân đang hoạt động trong ngành xây dựng, đại biểu Châu Thị Thu Nga thường xuyên phát biểu, đóng góp nhiều ý kiến cho các dự thảo luật, đặt biệt với các luật có liên quan đến lĩnh vực doanh nghiệp doanh nhân. (Infonet 1/11) đầu trang(
Chiều 3/11, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì cuộc họp về công tác cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện.
Theo báo cáo rà soát, quản lý người nghiện của Bộ Công an cho thấy tình hình nghiện ma túy ở nước ta vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp; người nghiện ma túy đã có ở 100% các tỉnh, thành phố, gần 90% quận, huyện và khoảng 70% số xã, phường, thị trấn trong cả nước; số người người tái nghiện vẫn ở tỷ lệ cao... Toàn quốc có 10 địa phương trọng điểm về ma túy, HIV/AIDS, trong đó có 3 địa phương có số người nghiện, người nhiễm HIV/AIDS có hồ sơ quản lý cao nhất cả nước là TP.HCM, Hà Nội và tỉnh Sơn La.
Lãnh đạo Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, TAND Tối cao, Bộ Công an và nhiều Bộ, ngành trong phát biểu tại cuộc họp đều chia sẻ với những khó khăn của TP. Hà Nội, TP.HCM và một số tỉnh, thành phố khác trong công tác cai nghiện ma túy cũng như quản lý người nghiện, trong đó có những khó khăn liên quan đến thực hiện quy trình, thủ tục cai nghiện ma túy bắt buộc do có sự chưa đồng bộ, thậm chí mẫu thuẫn giữa các quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính và Luật Phòng, chống ma túy.
Phát biểu kết luận cuộc họp, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết công tác phòng, chống ma túy, cai nghiện và quản lý cai nghiện được Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền quan tâm chỉ đạo, bố trí nguồn lực và kiên trì thực hiện trong nhiều qua. Tuy nhiên qua rà soát, đánh giá, tình hình ma túy vẫn còn diễn biến phức tạp, số người nghiện gia tăng, kết quả cai nghiện hiệu quả không cao.
“Chúng ta cần tiến hành sơ kết, tổng kết công tác này, nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá nghiêm túc, nguyên nhân và trách nhiệm, trả lời cho được câu hỏi vì sao công tác này chưa hiệu quả, từ đó bổ sung những chỉ đạo, giải pháp mới, phù hợp với thực tế; đảm bảo công tác phòng chống ma túy, công tác cai nghiện và quản lý cai nghiện có hiệu quả hơn”, Thủ tướng nói.
Theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, theo Hiến pháp mới, việc hạn chế quyền công dân, quyền con người phải được quy định bởi Luật và phải được quyết định bởi Tòa án. Luật Xử lý vi phạm hành chính mới thông qua đã thể hiện tinh thần này. Tuy nhiên, khi đi vào thực tiễn cuộc sống, có một số điều, quy định giữa Luật này và các Luật liên quan còn chưa đồng bộ, thậm chí mâu thuẫn, từ đó đặt ra yêu cầu phải kiến nghị xem xét, sửa đổi, vừa đảm bảo quyền con người, quyền công dân, đồng thời phù hợp với thực tiễn, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng, xã hội.
Trên cơ sở các đề xuất, kiến nghị của TP.HCM và Hà Nội cũng như đề xuất của các Bộ, ngành, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị các Bộ, ngành hữu quan xây dựng văn bản của Chính phủ báo cáo và kiến nghị Quốc hội theo hai phương án.
Thứ nhất là cho thí điểm lập Trung tâm tiếp nhận xã hội bắt buộc để tiến hành cắt cơn nghiện, giải độc, tư vấn tâm lý cho người nghiện ma túy trong khi chờ cơ quan chức năng hoàn thiện thủ tục, lập hồ sơ và quyết định đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Hoặc theo hướng thứ hai là kiến nghị cho lùi thời gian thực hiện điều 103 và điều 131, Luật Xử lý vi phạm hành chính để sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật này. (Tiền Phong 3/11) đầu trang(
Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu Đài Loan chấm dứt ngay hành động tổ chức diễn tập bắn đạn thật ở khu vực đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Đây là câu trả lời của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình đưa ra hôm 3.11, trước câu hỏi đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Đài Loan thông báo tiến hành bắn đạn thật tại đảo Thái Bình (tức đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam) từ ngày 3 - 4.11.2014.
Ông Lê Hải Bình khẳng định Việt Nam có đầy đủ chứng cứ pháp lý và lịch sử khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Theo Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, việc Đài Loan tổ chức diễn tập bắn đạn thật ở khu vực đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam là hành động xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam đối với quần đảo này.
Hành động trên đồng thời cũng đe dọa hòa bình, ổn định, an toàn, an ninh hàng hải, gây căng thẳng và làm phức tạp tình hình ở biển Đông.
“Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu Đài Loan chấm dứt ngay hành động sai trái đó, không tái diễn các hành động tương tự”, ông Lê Hải Bình nói. (Thanh Niên 4/11) đầu trang(

CHÍNH SÁCH - CHỈ ĐẠO
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết miễn thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân đối với các khoản thu nhập từ lãi trái phiếu của Chính phủ phát hành trên thị trường quốc tế năm 2014.
Chính phủ giao Bộ Tài chính đưa vào bản cáo bạch, tài liệu cung cấp cho nhà đầu tư và giao Bộ Tư pháp cấp ý kiến pháp lý cho việc phát hành trái phiếu quốc tế của Chính phủ năm 2014. (Người Lao Động 2/11) đầu trang(
Bộ Công Thương vừa yêu cầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc Bộ phải thực hiện quy định về triển khai, tổng hợp, báo cáo công tác minh bạch tài sản, thu nhập.
Theo đó, các đơn vị có nghĩa vụ phải rà soát, lập danh sách những người có nghĩa vụ kê khai tài sản, đồng thời, bản kê khai này phải được công khai. Việc công khai được thực hiện theo nguyên tắc, trình tự, thủ tục quy định.
Thời điểm công khai được thực hiện từ sau khi hoàn thành việc kiểm tra, sao lục gửi bản kê khai đến ngày 31-3 hàng năm. Chậm nhất là ngày 15-4 hàng năm, các cơ quan, tổ chức, đơn vị phải gửi báo cáo minh bạch tài sản, thu nhập về Bộ Công Thương. (An Ninh Thủ Đô 3/11) đầu trang(
Bộ GTVT vừa có buổi làm việc với Tập đoàn Smoove của Pháp - đơn vị chuyên cung cấp các giải pháp cho xe đạp công cộng.
Đại diện của Smoove cho biết, việc một chiếc xe đạp được nhiều người cùng sử dụng trên các chặng ngắn góp phần giảm ùn tắc tại nội đô.
Thông thường, 30 phút đầu tiên người sử dụng xe được miễn phí, sau đó mới phải trả phí.
Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Hồng Trường cho biết, hiện Chính phủ đã giao cho chính quyền 5 thành phố lớn Hà Nội, TPHCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ thí điểm xe đạp công cộng. (Tiền Phong 3/11) đầu trang(

NHÂN SỰ
Thủ tướng vừa quyết định điều động ông Lê Hoài Trung, nguyên Đại sứ - Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Liên Hợp quốc, trở lại giữ chức Thứ trưởng Bộ Ngoại giao.
Trước đó, tại Quyết định 2399/QĐ-TTg ngày 29/12/2010, ông Lê Hoài Trung đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Sau đó, ông Trung được cử làm Đại sứ - Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Liên Hợp quốc. (Cổng thông tin điện tử Chính phủ 3/11) đầu trang(
Ngày 2/11, Bộ Công an tổ chức Lễ công bố và trao Quyết định của Chủ tịch nước về việc thăng cấp bậc hàm cấp Tướng Công an nhân dân năm 2014.
Tại buổi lễ, thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, Đại tướng Trần Đại Quang - Bộ trưởng Công an đã trao quyết định của Chủ tịch nước cho các cá nhân được thăng cấp bậc hàm cấp tướng.
Thay mặt các cá nhân được thăng cấp bậc hàm cấp tướng, Trung tướng Đường Minh Hưng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh I hứa sẽ tiếp tục nỗ lực phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện nâng cao năng lực, trình độ mọi mặt, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của đất nước nói chung, sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội nói riêng. (Công An Nhân Dân 3/11) đầu trang(
Thủ tướng vừa ký quyết định phê chuẩn nhân sự UBND tỉnh Ninh Bình. Qua đó ông Đinh Văn Điến đã chính thức trở thành tân Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình.
Cụ thể, tại Quyết định 1968/QĐ-TTg, Thủ tướng phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình nhiệm kỳ 2011 - 2016 đối với ông Đinh Văn Điến, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình.
Tại Quyết định 1966/QĐ-TTg, Thủ tướng phê chuẩn việc miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình nhiệm kỳ 2011- 2016 đối với ông Bùi Văn Thắng, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình để nghỉ hưu theo chế độ.
Tại Quyết định 1969/QĐ-TTg, Thủ tướng phê chuẩn kết quả bầu bổ sung chức danh Ủy viên UBND tỉnh Ninh Bình nhiệm kỳ 2011 - 2016 đối với ông Đinh Hoàng Dũng, Giám đốc Công an tỉnh Ninh Bình.
Đồng thời, tại Quyết định 1967/QĐ-TTg, Thủ tướng phê chuẩn việc miễn nhiệm chức danh Ủy viên UBND tỉnh Ninh Bình nhiệm kỳ 2011 - 2016 đối với ông Phạm Đức Hòa, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, nguyên Giám đốc Công an tỉnh Ninh Bình để nghỉ hưu theo chế độ.
Trước đó vào chiều 21/10, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Bình, HĐND tỉnh Ninh Bình tổ chức họp bất thường để bầu Phó Bí thư tỉnh ủy và Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã tiến hành bỏ phiếu kín và kết quả là 100% số người trong Ban chấp hành tham dự cuộc họp nhất trí ông Đinh Văn Điến - Ủy viên Ban Thường vụ tỉnh ủy - Phó chủ tịch UBND tỉnh giữ chức vụ Phó Bí thư tỉnh ủy Ninh Bình.
Cùng ngày, HĐND tỉnh khoá XIII đã tổ chức kỳ họp bất thường lần thứ 11 nhất trí bầu ông Đinh Văn Điến là Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình nhiệm kỳ 2011-2016.
Đồng thời, HĐND tỉnh Ninh Bình khoá XIII cũng bỏ phiếu miễn nhiệm ông Bùi Văn Thắng nguyên Phó Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình và Thiếu tướng Phạm Đức Hoà, ủy viên UBND tỉnh, Giám đốc Công an tỉnh Ninh Bình. (Infonet 2/11) đầu trang(

KINH TẾ
Cục Hàng không Việt Nam (HKVN) vừa hoàn tất công tác nghiên cứu thiết lập đường bay thẳng Hà Nội-TPHCM sử dụng không phận Lào và Campuchia.
Theo đó, cả 3 nước đã đạt được sự thống nhất về mặt kỹ thuật đế Việt Nam mở đường bay thẳng Hà Nội-TP.HCM.
Ngày 1-11, cục hàng không 3 nước cùng tiến hành hoàn thiện các thông số đường bay tại mỗi quốc gia. Đây sẽ là cặp đường bay gồm 2 đường bay một chiều song song. Tháng 2/2015, Cục HKVN sẽ báo cáo với Văn phòng ICAO (Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế) về việc mở đường bay thắng và chính thức có hiệu lực vào ngày 25-6-2015. (Người Lao Động 2/11) đầu trang(

CHÍNH SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Những ngày này, cư dân mạng xã hội đang liên tục chia sẻ cho nhau những đường link về hình ảnh 9 vị lãnh đạo cấp cao của tỉnh Quảng Ninh cùng xuất hiện trong một clip phát động chiến dịch xây dựng “Nụ cười Hạ Long”.
Trong cùng một tư thế: hai tay khum lại tạo hình trái tim và trên môi nở nụ cười, các chính trị gia của Quảng Ninh mong muốn gửi gắm đến cộng đồng một thông điệp về “Nụ cười Hạ Long”.
“Hạnh phúc và thành công cho ta nụ cười. Song, cười lên, ta có cả hạnh phúc, thành công và niềm tin”,  bà Đỗ Thị Hoàng, Phó Bí thư thường trực tỉnh ủy Quảng Ninh đã mở đầu clip này bằng một “nụ cười” hồn hậu như vậy.
Tươi tắn trong clip, bà Vũ Thị Thu Thủy, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, bộc bạch: “Quảng Ninh tự hào với truyền thống mến khách. Hãy nở nụ cười rạng rỡ với những hàng động thân thiện để chào đón du khách tới với Quảng Ninh và hẹn ngày trở lại, bằng cách tham gia chương trình Nụ Cười Hạ Long”.
Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Quảng Ninh Hà Quang Long là nhân vật thứ 10 xuất hiện trong clip. Đây cũng là vị quan chức duy nhất đại diện cho cấp sở ngành đươc “ưu tiên” góp mặt cùng 9 vị lãnh đạo tỉnh để nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của “nụ cười” trong lĩnh vực mà vị này đang phụ trách.
Ông Long nói: “Nhiệt tình tham gia chương trình “Nụ cười Hạ Long” là thiết thực góp phần mời gọi du khách tới với tỉnh Quảng Ninh, đồng thời còn là một hoạt động văn hóa để xây dựng nếp sống văn hóa mới: văn minh, thân thiện. Du lịch Quảng Ninh đón chào quý khách bằng nụ cười và trái tim”.
Trong tọa đàm “Doanh nghiệp đồng hành cùng di sản” vào chiều ngày 1.11, ông Nguyễn Văn Tuấn, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam cho rằng: hiện Tổng cục Du lịch đang chủ trương  xây dựng và định vị Hạ Long trở thành thương hiệu du lịch của Quốc gia, vì Hạ Long hội tụ đầy đủ và hoàn hảo nhất các yếu tố để trở thành thương hiệu du lịch Quốc gia.
“Nói đến Campuchia người ta nói đến Angkor Wat, nói đến Pháp là người ta nhắc đến tháp Eiffel, đến Trung Quốc nghĩ đến Vạn Lý Trường Thành thì sắp tới, nhắc đến Việt Nam, người ta sẽ nghĩ ngay đến Hạ Long”, ông Tuấn chia sẻ.
Tuy nhiên, muốn được như vậy, ngay từ bây giờ, Quảng Ninh phải bắt tay ngay vào việc xây dựng thương hiệu Hạ Long, tạo niềm tin về một Hạ Long thân thiện, hấp dẫn.
Với “Nụ cười Hạ Long”, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Đọc cho rằng: đây là sự khởi đầu trong chặng đường xây dựng thương hiệu Hạ Long và của cả Quảng Ninh.
Được biết, chương trình này đặt mục tiêu thay đổi nhận thức, hành vi, ứng xử từ chính mỗi con người, bắt đầu từ lãnh đạo cao nhất rồi lan tỏa đến bộ máy chính quyền, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp; xuống đến từng khu phố, ngõ xóm rồi từng hộ gia đình và đến từng người dân để xây dựng chuẩn mực về một vùng đất du lịch và đầu tư lý tưởng.
Ngay sau khi chương trình được chính thức phát động trong Lễ kỷ niệm 20 năm vịnh Hạ Long đón nhận danh hiệu Di sản thiên nhiên thế giới vào tối 1.11, không ít người dân Hạ Long  tỏ vẻ ngạc nhiên và thú vị trước “hình ảnh mới” của các chính trị gia tỉnh nhà.
“Từ trước tới giờ, tôi thấy quan chức luôn nghiêm trang và có vẻ khó gần, đôi khi còn tạo cho người đối diện tâm lý e dè, nể sợ. Nhưng xem clip này, tôi bắt đầu thay đổi dần quan điểm. Họ thân thiện và gũi hơn chúng tôi tưởng. Quan chức họ còn niềm nở như vậy, người dân như chúng tôi càng không có lý do gì để mà không mỉm cười. Vì nụ cười là thứ không cần bỏ tiền đầu tư và cũng không mua được bằng tiền”, chị Nguyễn Thu Thúy, 32 tuổi, phấn khởi nhận xét. (Thanh Niên 3/11) đầu trang(

PHÁP LUẬT
CQĐT Bộ Công an vừa tống đạt quyết định khởi tố bị can, khám xét và bắt tạm giam 4 tháng đối với 3 cựu cán bộ Hải quan Quảng Ninh để điều tra về hành vi Buôn lậu và Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.
Các đối tượng bị bắt gồm Phạm Văn Khương (SN 1970), trú tại phường Trần Phú, TP Móng Cái, nguyên Đội trưởng Chi cục Hải quan Cẩm Phả; Trần Mạnh Hùng (SN 1974), trú tại phường Trần Hưng Đạo, TP Móng Cái, nguyên cán bộ Chi cục Hải quan Cái Lân và Đinh Văn Long (SN 1970), trú tại phường Hà Tu, TP Hạ Long, nguyên cán bộ Chi cục Hải quan Vạn Gia.
Tháng 8-2013, CQĐT Bộ Công an đã khởi tố vụ án hình sự, đồng thời khởi tố 10 bị can về các tội danh Buôn lậu và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xảy ra tại Công ty TNHH MTV Thương mại dầu khí Đồng Tháp (Công ty Đồng Tháp). Trong số này có Nguyễn Thế Dũng, Tổng Giám đốc Công ty Đồng Tháp; Trương Hữu Có, Giám đốc Công ty CP thương mại vận tải biển Đông Á.
CQĐT xác định các bị can này đã có hành vi buôn lậu số dầu diesel trị giá hơn 8 triệu USD, gây thất thoát cho ngân sách số tiền hơn 808.000 USD. Trong quá trình mở rộng điều tra vụ án, CQĐT làm rõ Phạm Văn Khương và vợ là Đặng Thu Ngân đã tham gia đường dây buôn lậu của Nguyễn Thế Dũng.
Ngân cũng là bị can trong vụ án này, hiện đang vắng mặt ở nơi cư trú. Đinh Văn Long và Trần Mạnh Hùng chịu trách nhiệm thực hiện giám sát việc sang mạn 195 tấn dầu diesel, nhưng đã thực hiện qua loa, rồi tiến hành kẹp chì Hải quan, lập và ký biên bản niêm phong Hải quan. Ngoài ra, 2 bị can này còn giả chữ ký ở phần đại diện doanh nghiệp cho đủ thủ tục của tờ khai Hải quan. (An Ninh Thủ Đô 4/11) đầu trang(
Ngày 3-11, Cơ quan CSĐT Công an TP Tam Kỳ cho biết vừa bắt tạm giữ Bùi Thanh Toàn, nguyên là nhân viên địa chính phường An Sơn về hành vi nhận hối lộ.
Theo đơn tố cáo của người dân, trong năm 2012, Sơn đã lợi dụng quyền hạn của mình để hứa hẹn, nhận  của ông NVL và bà NTB cùng trú khối 8, phường An Sơn (TP Tam Kỳ) 28 triệu đồng để làm giấy chứng nhận đăng ký quyền sử dụng đất.
Tiến hành khám xét nơi làm việc và nơi ở của Toàn, cơ quan công an đã thu giữ một số hồ sơ, giấy tờ có liên quan để tiếp tục điều tra làm rõ. (Pháp luật TP.HCM 4/11) đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Hô hào cắt giảm thủ tục thuế đang có nguy cơ trở thành căn bệnh thành tích khi người trong cuộc dường như quên mất rằng đây là “căn bệnh”, khối u mà doanh nghiệp vốn phải gánh hàng chục năm nay nhưng chưa hề dễ dàng cắt bỏ.
Quyết tâm cắt giảm thủ tục thuế thời gian qua của ngành thuế rất quyết liệt. Nhưng cần phải nhắc lại là 7 năm nay, trải qua hàng loạt đợt cải cách mới giảm được từ 1.050 giờ xuống còn 870 giờ (gần 200 giờ). Vậy mà chỉ trong 2 tháng, nhà quản lý tuyên bố đến tháng 6.2015 sẽ giảm xuống còn 171 giờ (giảm gần 700 giờ). Mới nhìn vào phép cộng trừ cơ học này đã thấy đây là một nhiệm vụ bất khả thi.
Muốn làm được như vậy phải “lột da, đổi thịt”, phải có cải cách đột biến chứ không phải hô hào suông mà được. Giảm xuống còn 171 giờ tức đã tiệm cận tới tốp đầu các nước trong khu vực, nhưng thử nhìn sang thì thấy các quốc gia Thái Lan, Singapore… họ đang áp dụng công nghệ rất tiên tiến hiện đại, còn ở ta chủ yếu vẫn cồng kềnh giấy tờ này, ban bệ nọ.
Quốc hội (QH) tuần này họp bàn một loạt dự thảo luật thuế, trong đó dự tính ban hành riêng một luật thuế để sửa bốn luật. Trong đó, đề xuất của Chính phủ như giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (DN), cá nhân cho một số đối tượng... rất cần thiết trong điều kiện khó khăn hiện nay nhưng vấn đề cốt tử, quan trọng nhất là cải cách thủ tục hành chính thuế thì vỏn vẹn chỉ có mấy cái gạch đầu dòng như: trang bị công nghệ thông tin; không yêu cầu DN phải nộp chứng từ trong hồ sơ khai thuế, hoàn thuế nếu cơ quan quản lý đã có...
Những cái đó cần, nhưng lại chưa đủ, nếu không muốn nói quá ít và quá thiếu so với “tầm” của QH để đưa ra quyết sách căn cơ nhất về thể chế, chính sách thuế. Cái lớn nằm ở chỗ, phải làm sao hay đổi được “não trạng” ăn sâu vào tiềm thức cán bộ thuế là bề trên của DN. Phải loại bỏ được sự lạm quyền trong các giấy phép con, mà DN vốn đã quá ư sợ hãi với các cụm từ “về bổ sung thêm các giấy tờ có liên quan rồi mang lên đây”.
Quy định của pháp luật phải minh bạch, cụ thể, không để hiểu theo nhiều cách khác nhau. Giấy tờ liên quan khác là giấy gì thì biết bao nhiêu cho đủ, biết cái gì liên quan hay không liên quan. Hành nhau, gây khó dễ, nhũng nhiễu, ăn tiền ở đây mà ra.
QH phải quyết cái gì, khi mà những vấn đề cải cách thể chế vẫn còn nằm ở đâu đó chưa được đề xuất lên. Đơn cử, mỗi DN khi đi khai sinh phải gánh vài loại mã số, nào là mã số kinh doanh, mã số thuế; mã riêng ngành kinh doanh có điều kiện. Ông bán phở cũng vậy… Cải cách thì phải dồn 3 làm một, không để DN chạy hết bên thuế, lại sang bên KH-ĐT rất mất thời gian, tốn tiền vô ích.
Rồi kê khai thuế, tại sao muốn cắt giảm triệt để không bỏ quy định giảm tần suất kê khai thuế giá trị gia tăng theo quý? Nên chuyển sang kê khai theo năm, còn việc nếu cứ để vì sợ DN trốn thuế thì phải tăng cường kiểm tra, giám sát và khâu hậu kiểm lên. Hóa đơn nói cải cách, cho DN được tự in nhưng sau một thời gian triển khai không quản được lại quay ra bắt phải mua một quyển mấy liên. Mất hóa đơn lại đi truy tố, coi như mất tiền. Như vậy sao có thể gọi là thông thoáng, tạo điều kiện cho DN?
DN chây ì, trốn thuế thì bị “bêu” tên, bị khởi tố. Còn cán bộ thuế nhũng nhiễu, ăn chặn, làm thất thoát thì không thấy ai bị xử lý chỉ bị nhắc nhở, khiển trách. Sự bất bình đẳng đó là do luật còn chung chung, không quy trách nhiệm rõ ràng người thực thi, người đứng đầu.
Còn nhiều, rất nhiều những khó khăn, vướng mắc mà ngành thuế muốn cải cách, thay da đổi thịt thực sự phải tham vấn ý kiến DN, người dân. Nếu cứ hô hào, nói một chiều thì e rằng những con số hào nhoáng đưa ra chỉ để làm đẹp và báo cáo thành tích mà thôi. (Thanh Niên 4/11) đầu trang(
Đó là thực trạng mà Phó chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng - An ninh Trần Đình Nhã vừa nêu tại diễn đàn Quốc hội.
Ông Nhã nói, “chúng ta không chỉ lạm phát ngân sách mà còn có lạm phát cán bộ cấp phó”, rồi đặt câu hỏi “tại sao nước mình lại nhiều cấp phó như vậy ?”.
Ông Nhã kiến nghị : “Với 139.000 cấp phó, mỗi năm ngân sách sẽ phải chi tới mấy ngàn tỷ đồng và sẽ còn tăng vì lạm phát cấp phó chưa giảm. Quốc hội cần có nghị quyết giới hạn cấp phó hưởng ngân sách không quá 3 người, trường hợp đặc biệt xin thêm phải báo cáo Quốc hội, nếu làm được như vậy thì nền hành chính sẽ hiệu quả hơn”.
Xin lưu ý con số 139.000 cấp phó, theo ông Nhã, là tương đương với 139.000 cơ quan hành chính sự nghiệp và tổ chức hưởng lương ngân sách trên cả nước. Trên thực tế số lượng cấp phó sẽ còn nhân lên tới 2-3 thậm chí 4-5 lần, có nơi tới 7-8 cấp phó.
Theo cách tính của đại biểu Nhã, trung bình mỗi cấp phó hàng năm tốn khoảng 30 triệu đồng tiền ngân sách cho phụ cấp điện thoại, xăng xe, điện nước, công tác phí….
Với 139.000 vị đã tiêu tốn ngân sách hơn 4.000 tỷ đồng tiền phụ cấp, thực tế con số này sẽ phải nhân với dăm ba lần nữa. Còn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Đỗ Văn Đương thì nêu : “Vì sao lại có nhiều người phấn đấu lên làm lãnh đạo thế, để dân kêu quá!? Cần phải thu hút trung thần, những người tận tụy, biết lo cho dân thì đất nước mới phát triển được” .
“Trung ngôn thì nghịch nhĩ”, lời nói thẳng của các vị ĐBQH như trên bao giờ cũng khó nghe với ai đó, nhưng chắc chắn lại được đại đa số dân chúng tán đồng. Về lý thuyết, đã có trưởng thì phải có phó giúp việc cho trưởng. Nhưng nếu có quá nhiều người giúp việc thì cấp trưởng sẽ làm gì? Nếu chỉ ngồi nghe báo cáo thì rất dễ quan liêu, trong khi bộ máy lãnh đạo vừa cồng kềnh lại vừa tốn kém mà không hiệu quả.
Không chỉ tốn có mấy chục triệu tiền ngân sách phụ cấp cho mỗi vị như ông Nhã tính, còn có những thứ khác tốn hơn, ví như lương bổng, phòng ốc, sa- lông, bàn ghế, thậm chí cả người giúp việc cho các cấp phó nữa.
Và quan trọng hơn, ĐB Nhã còn chưa thể tính hết cái tốn, cái hại khôn lường cho dân cho nước nếu “một bộ phận không nhỏ” trong số 139.000 vị cấp trưởng kia trót đề bạt “nhầm” các vị cấp phó, chưa kể tình trạng bổ nhiệm ồ ạt ngay trước khi cấp trưởng về hưu như vừa từng xảy ra.
Tình trạng “lạm phát” cấp phó mà các ĐBQH nêu liệu có mối liên hệ nào tới tâm lý thích làm lãnh đạo, làm quan trong xã hội chúng ta hiện nay? “Một người làm quan, cả họ được nhờ”, quan niệm mặc định được lưu truyền trong dân chúng xưa nay hẳn lý giải cho câu hỏi nhức nhối mà ĐB Đương nêu ra - “Vì sao lại có nhiều người phấn đấu lên làm lãnh đạo thế ?”.
Chừng nào trong xã hội Việt Nam còn phổ biến tâm lý thích phấn đấu (và cả chạy chọt) lên làm lãnh đạo, chừng nào vẫn còn ít người mơ ước, phấn đấu trở thành những nhà khoa học, chuyên gia hay thợ giỏi lành nghề, chừng đó đất nước chưa thể phát triển!
Nếu có cấp trưởng giỏi ắt sẽ có cấp phó giỏi, khỏi phải lo “lạm phát” cấp phó. Khi có nhiều lãnh đạo giỏi, ắt sẽ thu hút được nhiều chuyên gia giỏi, đất nước sẽ cất cánh đi lên, đó là hồng phúc lớn cho dân tộc!. (Tiền Phong 3/11) đầu trang( ./.
Biên tập: Nguyễn Mai