|
Ngày 31 tháng 12 năm 2013
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Sau gần một ngày nổ lực dập lửa, đến 9 giờ ngày 29/12, đám cháy tại khu vực rừng phòng hộ Kẽm Gió (thuộc địa bàn Phường Nam Sơn, thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình) đã được dập tắt.
Như đã đưa tin, ngày 28/12, một đám cháy đã bùng phát tại khu vực rừng phòng hộ Kẽm Gió thuộc địa bàn Phường Nam Sơn, thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
Ông Tống Quang Thìn - Bí thư Thị ủy Tam Điệp cho biết, do điểm phát cháy nằm trên cao, địa bàn bị cô lập, không có nguồn nước nên rất khó tiếp cận để dập lửa. Sau gần 1 ngày, với sự nỗ lực dập lửa và triển khai các biện pháp cắt băng, tạo hành lang khoanh vùng, ngăn không cho đám cháy lan rộng, đến 9 giờ ngày 29/12, lực lượng phòng cháy, chữa cháy cùng các lực lượng chức năng khác đã khống chế và dập tắt hoàn toàn đám cháy. Theo ước tính ban đầu, có khoảng gần 2ha rừng phòng hộ bị thiêu rụi.
"Tuy nhiên, do thời tiết hanh khô, cộng với gió thổi mạnh, để đề phòng ngọn lửa bùng phát trở lại, chúng tôi đã bố trí lực lượng túc trực, tiếp tục theo dõi tình hình để kịp thời ứng phó”, ông Thìn cho biết.
Hiện tại, nguyên nhân dẫn đến cháy rừng vẫn chưa được xác định. (Thanh Tra 30/12) đầu trang(
Quản lý rừng cộng đồng là hình thức bảo vệ rừng, trong đó cộng đồng dân cư được Nhà nước giao quyền sử dụng dài hạn nguồn tài nguyên rừng để quản lý, bảo vệ, chăm sóc và sử dụng lâu dài, bền vững; làm giàu tài nguyên rừng bằng các biện pháp lâm sinh; vừa góp phần tăng độ che phủ của rừng, vừa tạo ra nguồn thu nhập, đảm bảo các lợi ích xã hội và sự phát triển của cộng đồng.
Bản Cổ Tràng, xã miền núi biên giới Trường Sơn, huyện Quảng Ninh có 67 hộ với 280 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Vân Kiều. Từ bao đời nay, đồng bào dân tộc Vân Kiều ở Cổ Tràng có cuộc sống chủ yếu dựa vào rừng, chặt, đốt, cốt, trỉa. Mặc dù đến nay, có một số hộ gia đình đã biết trồng lúa nước và phát triển kinh tế gia đình, nhưng đời sống vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn.
Những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự đầu tư của các chương trình dự án, bản Cổ Tràng được xây dựng cơ sở vật chất, hỗ trợ thực hiện các mô hình phát triển kinh tế. Vì vậy, cuộc sống của người dân nơi đây đã có sự chuyển biến rõ nét, nhất là trên lĩnh vực quản lý, chăm sóc và bảo về rừng. Bằng việc triển khai thực hiện mô hình quản lý bảo vệ rừng cộng đồng, bà con dân bản Cổ Tràng được UBND huyện Quảng Ninh ra quyết định cấp gần 210ha rừng tự nhiên có trữ lượng 32.600m3 gỗ để quản lý, chăm sóc, bảo vệ theo mô hình rừng cộng đồng.
Khu rừng tự nhiên của bản Cổ Tràng, giáp ranh với thung lũng Sắt thuộc vùng biên giới Trường Sơn. Những cánh rừng ở đây còn khá nguyên sinh với nhiều cây gỗ to, tán rộng có trữ lượng khá lớn. Để quản lý, bảo vệ rừng cộng đồng, bản Cổ Tràng đã thành lập Ban quản lý rừng cộng đồng gồm 7 thành viên do trưởng bản làm trưởng ban. Ban quản lý rừng cộng đồng hoạt động theo hương ước, các thành viên có nhiệm vụ cùng với các tổ chức đoàn thể địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cho nhân dân về quản lý bảo vệ rừng...
Chị Hồ Thị Giáo, bản Cổ Tràng, xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh phấn khởi nói: “Trước đây đồng bào dân tộc Vân Kiều sống theo tập tục du canh du cư, chặt phá rừng làm nương rẫy; bây giờ được Đảng và Nhà nước quan tâm giao rừng cộng đồng cho bà con dân bản, chúng tôi rất phấn khởi, vận động bà con không phá rừng; tích cực chăm sóc, bảo vệ rừng nhằm tăng thu nhập cho cộng đồng và gia đình”.
Song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế văn hóa, xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh khu vực biên giới, giờ đây, bảo vệ rừng cũng là một nhiệm vụ hàng đầu, là cơ sở quan trọng để góp phần nâng cao cuộc sống của bà con dân tộc Vân Kiều ở địa phương. Các hộ gia đình trong cộng đồng được giao rừng tự nhiên ý thức được đó là tài sản của mình, do cộng đồng làm chủ và hưởng lợi.
Từ ý thức đó cùng với sự ràng buộc của hương ước và việc tổ chức lực lượng tuần tra, kiểm soát, bảo vệ rừng nên bước đầu công tác quản lý, bảo vệ rừng đã thu được hiệu quả tốt. Đặc biệt, bản Cổ Tràng đã chấm dứt hiện tượng người dân vào rừng khai thác gỗ, săn bắt động vật trái phép.
Ông Nguyễn Văn Sỹ, Chủ tịch UBND xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh cho biết: “Việc giao rừng cộng đồng cho bản Cổ Tràng là một việc làm rất có ý nghĩa. Bởi, nó giúp cho người dân ở đây có kế sinh nhai lâu dài; mặt khác, quản lý rừng cộng đồng sẽ giảm được việc các đối tượng lâm tặc vào rừng phá hoại, người dân có thể chủ động trong công tác bảo vệ, quản lý rừng ngay tại nơi cư trú của mình, cũng như tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho người dân”. (Đài PT - TH Quảng Bình 30/12) đầu trang(
Cho đến nay, trên địa bàn tỉnh Yên Bái đã có gần 15.000ha rừng và đất lâm nghiệp được giao cho cộng đồng dân cư thôn, bản quản lý và sử dụng. Từ khi giao cho cộng đồng thôn, bản quản lý, rừng không những được bảo vệ tốt mà còn góp phần nâng cao thu nhập cho người dân.
Xã Lâm Giang, huyện Văn Yên có diện tích đất lâm nghiệp chiếm 70% diện tích đất tự nhiên của địa phương, rừng ở đây chạy dọc theo dãy núi Con Voi từ An Bình đến xã Lang Thíp. Phía bên kia dãy núi là huyện Bảo Yên (Lào Cai) và Lục Yên (Yên Bái). Địa bàn trải dài, tiếp giáp với nhiều xã nên công tác bảo vệ rừng gặp rất nhiều khó khăn. Từ khi thực hiện Dự án Quản lý rừng cộng đồng, tình trạng khai thác, xâm chiếm đất rừng đã giảm rõ rệt.
Ông Đặng Văn Bộ - Phó chủ tịch UBND xã Lâm Giang cho biết: "Năm 2007, cộng đồng thôn 9, xã Lâm Giang được giao quản lý và phát triển 670ha rừng. Từ khi giao rừng cho cộng đồng, rừng đã được quản lý bảo vệ tốt hơn, không còn xảy ra tình trạng khai thác, xâm chiếm rừng trái phép".
Ông Đặng Văn Thất - Trưởng thôn 9 cho biết: "Sau khi rừng giao cho cộng đồng thôn 9 quản lý, Ban quản lý dự án xã và cộng đồng thôn 9 thường xuyên tuyên truyền cho bà con trong thôn hiểu rõ trách nhiệm bảo vệ rừng và việc hưởng lợi từ việc giao rừng cho cộng đồng; đồng thời tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát. Nhờ đó, người dân đã nhận thức được giá trị, lợi ích của rừng mang lại, ý thức bảo vệ rừng được nâng cao, không ai dám phát rừng làm nương rẫy nữa".
Dự án "Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng Việt Nam" được triển khai từ tháng 6/2012. Đây là sự tiếp nối của "Chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng" được thực hiện từ năm 2006, kết thúc năm 2009. Dự án được triển khai tại tại 8 thôn, có 726 hộ, 3.292 nhân khẩu của 6 xã: Lâm Giang, An Bình (Văn Yên); Tân Phượng, Lâm Thượng, Phan Thanh, An Phú (Lục Yên).
Theo báo cáo của Ban Quản lý Dự án "Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng" tỉnh thì đến nay toàn tỉnh có trên 15.000ha rừng được giao cho cộng đồng thôn bản quản lý. Sau khi giao rừng, các cộng đồng thôn đã xây dựng được kế hoạch quản lý, bảo vệ rừng cộng đồng, xây dựng quy ước quản lý bảo vệ rừng thôn bản, xây dựng quỹ bảo vệ và phát triển rừng.
Từ khi rừng được giao cho dân cư thôn, bản quản lý, các thôn, bản đã có ý thức hơn rất nhiều, cộng đồng dân cư thôn bản đã coi rừng là của họ, từ đó chủ động đề xuất và đưa ra các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng chặt chẽ hơn, tình trạng khai thác lâm sản trái phép, số vụ vi phạm lâm luật giảm đáng kể, các hộ tham gia quản lý rừng cộng đồng có thu nhập ngày một cao. Thôn Nậm Chắn, xã Lâm Thượng, huyện Lục Yên là một thí dụ. Toàn thôn có 111 hộ dân với 498 nhân khẩu, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 47,7%.
Trước đây, rừng chỉ được giao cho một vài nhóm hộ quản lý trong khi diện tích lớn, đi lại khó khăn nên không thể kiểm soát hết diện tích được giao, dẫn đến "chảy máu" rừng. Năm 2006, rừng được giao cho cộng đồng thôn quản lý với diện tích trên 993ha, rừng đã có cơ hội được bảo vệ.
Đặc biệt, để tăng thu nhập cho người dân, năm 2012, Ban quản lý dự án tỉnh đã phối hợp với Ban quản lý rừng xã Lâm Thượng và cộng đồng thôn Nậm Chắn triển khai mô hình trồng xen 40ha cây mây nếp dưới tán rừng. Tham gia mô hình này, các hộ dân được hỗ trợ hoàn toàn giống, phân bón, kỹ thuật trồng. Đến nay, mây sinh trưởng và phát triển tốt, góp phần tăng thu nhập ổn định và bền vững cho cộng đồng dân cư sống dựa vào rừng trong tương lai gần.
Tại Hội nghị tổng kết Dự án "Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam" tại Yên Bái diễn ra mới đây, các đại biểu đều cho rằng mô hình quản lý rừng cộng đồng đang được quản lý, bảo vệ tốt, góp phần tăng thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, mô hình này vẫn còn những khó khăn nhất định. Đó là, rừng tự nhiên giao cộng đồng đa phần là rừng nghèo và quá nghèo, để hưởng lợi được từ gỗ rừng phải chờ đợi một thời gian dài, đến nay đã gần mười năm, các cộng đồng được giao rừng vẫn chưa thể hưởng lợi.
Do đó, để rừng cộng đồng phát huy hết hiệu quả, cần công nhận cộng đồng là một pháp nhân; có chính sách hưởng lợi rõ ràng; có chính sách hỗ trợ cộng đồng xây dựng mô hình tăng thu nhập từ rừng như: trồng cây dưới tán rừng, trồng cây lâm sản ngoài gỗ như: mây nếp, ba kích; xây dựng các mô hình nông lâm kết hợp trong diện tích rừng được giao để cộng đồng được hưởng lợi trên mảnh đất ấy, dưới tán rừng ấy, góp phần nâng cao đời sống cho đồng bào. (Báo Yên Bái 30/12) đầu trang(
Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Pù Luông cùng với Vườn Quốc gia (VQG) Cúc Phương, Khu BTTN Ngọc Sơn của tỉnh Hòa Bình tạo thành liên khu sinh cảnh đá vôi Pù Luông - Cúc Phương - một khu vực đại diện điển hình quan trọng mang tính toàn cầu về hệ sinh thái (HST) rừng trên núi đá vôi có diện tích rộng lớn và có giá trị đa dạng sinh học (ĐDSH) cao còn lại duy nhất trên vùng đất thấp miền Bắc Việt Nam, được các nhà khoa học trong nước và quốc tế xác định là khu vực ưu tiên cho việc bảo tồn tính ĐDSH của HST rừng trên núi đá vôi.
Quy hoạch rừng đặc dụng Khu BTTN Pù Luông đến năm 2020 với mục tiêu quản lý, bảo vệ, bảo tồn và phát triển bền vững Khu BTTN Pù Luông gắn với việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn nguồn gen, bảo vệ cảnh quan và môi trường; làm cơ sở cho việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng rừng đặc dụng; huy động sự tham gia rộng rãi của cộng đồng, các tổ chức trong và ngoài nước vào hoạt động bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng Khu BTTN Pù Luông.
Trong đó, tổng diện tích Khu BTTN Pù Luông quy hoạch đến năm 2020 là 17.171,53 ha, nằm trên địa giới hành chính các xã: Lũng Cao, Cổ Lũng, Thành Lâm, Thành Sơn, Lâm Xa (huyện Bá Thước) và các xã Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Phú Nghiêm, Hồi Xuân (huyện Quan Hóa).
Đồng thời chú trọng đến quy hoạch phát triển du lịch sinh thái, quy hoạch phát triển vùng đệm, cơ sở hạ tầng, đào tạo phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường, đầu tư các chương trình, dự án ưu tiên: Đẩy mạnh tiến độ thực hiện quy hoạch phát triển du lịch sinh thái đến năm 2020, khai thác hiệu quả các tuyến, điểm du lịch, loại hình du lịch gắn với danh thắng, các địa điểm du lịch sinh thái trong khu bảo tồn. Tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ cho cán bộ và tuyên truyền đến nhân dân trong vùng về ý thức bảo vệ rừng.
Tập trung xây dựng, sửa chữa, nâng cấp kết cấu hạ tầng; tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong thiết lập hệ thống ô nghiên cứu theo dõi diễn thế các HST rừng trên núi đá vôi, đá bazan, điều tra cơ bản về các nhóm động vật, thực vật, thực hiện các dự án, đề tài điều tra nghiên cứu cơ bản về tài nguyên sinh vật.
Đầu tư, hỗ trợ phát triển sản xuất tại vùng đệm cho 48 thôn theo Quyết định số 24/2012 về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 - 2020, tuyên truyền, giáo dục chính sách pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn HST tự nhiên và ĐDSH; tổ chức hoạt động sử dụng bền vững và chia sẻ lợi ích tài nguyên của khu rừng đặc dụng; hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp; hỗ trợ xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng. Tổng vốn đầu tư dự kiến 353.205 triệu đồng, trong đó giai đoạn 2013-2015 là 115.800 triệu đồng và giai đoạn 2016-2020 là 237.405 triệu đồng.
Để bảo đảm mục tiêu quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng Khu BTTN Pù Luông ổn định, bền vững theo quy hoạch, cần tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm các quy định về bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao nhận thức về bảo tồn ĐDSH. Bảo vệ an toàn diện tích rừng hiện có; tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra để chủ động ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Tập trung chỉ đạo thực hiện hiệu quả các chương trình giám sát chú trọng vào các nội dung như tiến độ các hoạt động của dự án, tiến độ đầu tư vốn, hiệu quả các hoạt động và hiệu quả đầu tư, các hoạt động tác động đến môi trường sinh thái, nguồn gen quý hiếm, du lịch, xã hội nhân văn. Tạo cơ chế hấp dẫn để thu hút và khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài nước cùng tham gia đầu tư cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng.
Khai thác, huy động tổng hợp các nguồn vốn ngân sách địa phương, vốn Trung ương hỗ trợ có mục tiêu; lồng ghép các chương trình, dự án đầu tư, vốn tự có và huy động khác. Triển khai kịp thời, đồng bộ, hiệu quả các cơ chế, chính sách về bảo tồn, đất đai, đầu tư phát triển rừng đặc dụng, thuế và chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường, áp dụng công nghệ GIS, thiết bị điện tử phục vụ nhu cầu nghiên cứu theo dõi, cập nhật diễn biến rừng và ĐDSH.
Tiếp cận các đề án quốc gia, quốc tế về bảo tồn và phát triển loài; tăng cường đầu tư trang thiết bị hiện đại, áp dụng khoa học - kỹ thuật tiên tiến phục vụ công tác nghiên cứu bảo tồn, bảo vệ môi trường. Chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, có chính sách thu hút chuyên gia, tổ chức các lớp bồi dưỡng ngắn hạn để phổ biến kiến thức, kỹ năng bảo tồn cho cán bộ và nhân dân trong vùng; có kế hoạch cử cán bộ đi đào tạo sau đại học, học ngoại ngữ, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu của khu bảo tồn... (Báo Thanh Hóa 30/12) đầu trang(
Quốc lộ 7A đoạn qua địa phận xã Tam Đình (Tương Dương) có rừng săng lẻ rộng khoảng 70 ha, từ lâu đã trở thành điểm đến hấp dẫn của du khách khi đi qua đây. Khu rừng này là kho “vàng xanh”, nằm trong Khu dự trữ sinh quyển có vành đai xanh lớn nhất Đông Nam Á đã được Unesco công nhận.
Ít ai biết rằng, để có được như ngày hôm nay, hơn 30 năm trước, nguyên Bí thư Huyện ủy Tương Dương Vi Chính Nghĩa đã xung phong vào rừng dựng lán đối phó với lâm tặc. Ông Nghĩa hiện đang sống trong ngôi nhà đơn sơ dưới gốc cây săng lẻ cổ thụ, thuộc bản Thịnh Quang, xã Tam Đình.
Ông Vi Chính Nghĩa năm nay đã bước sang tuổi 89, song vẫn rất tinh anh và minh mẫn. Từ nhiều năm nay, ông cùng vợ là bà Lương Thị Sâm (70 tuổi), sống trong căn nhà tranh tre đơn sơ giữa rừng săng lẻ. “Từ tháng 3/2008 đến nay, rừng đã yên, người thì tuổi già, mắt kém nên tôi đã trao việc giữ rừng lại cho người khác. Anh Vi Văn Tuấn, một người trẻ tuổi, tâm huyết với rừng đã được già “chọn mặt gửi vàng” để tiếp tục công cuộc giữ rừng”, ông Nghĩa mở đầu câu chuyện về tình yêu với rừng của mình.
Chuyện ông Nghĩa bén duyên với rừng săng lẻ, bắt đầu từ năm 1964, khi Lâm trường Tương Dương có chủ trương xin tỉnh khai thác cây săng lẻ trên địa bàn để phục vụ cho ngành lâm nghiệp. Lúc ấy, ông Vi Chính Nghĩa đang làm Bí thư Huyện ủy Tương Dương, biết được chủ trương này thì lo lắm. Bởi là người con của núi rừng, từ ấu thơ đã tắm mình trong không khí yên bình của khu rừng trăm năm tuổi này, nên hơn ai hết, ông Nghĩa yêu quý nó như chính máu thịt của mình vậy.
Do đó, khi biết khu rừng này sẽ bị triệt hạ trong nay mai, ông đã đích thân họp bàn với Ban Thường vụ đề nghị giữ lại khoảnh rừng rộng gần 100 ha này và được sự đồng ý nhất trí cao. Ngay sau đó, ông Nghĩa đạp xe 13 cây số đến Hợp tác xã Quang Thịnh trên địa bàn xã Tam Đình để truyền đạt ý tưởng và rất may được phía Lâm trường đồng ý. Vậy là rừng được giữ. Nhưng khó khăn ở chỗ, rừng không bị triệt phá ồ ạt, nhưng lại không có ai bảo vệ, nên lâm tặc cứ thế thi nhau vào lén lút đốn hạ. Thương địa đàng xanh chảy máu, Bí thư Huyện ủy Vi Chính Nghĩa lại một mình đích thân vào đại ngàn chống lại lâm tặc.
Năm 1966, ông được điều về giữ chức Phó Ban Dân tộc tỉnh Nghệ An, việc giữ rừng săng lẻ có một khoảng thời gian dài bị bỏ ngỏ. Đến đầu năm 1980, khi Hợp tác xã Quang Thịnh tan rã, việc quản lý rừng được bàn giao về cho Lâm trường Tương Dương quản lý, nhiệm vụ trông coi có phần lỏng lẻo nên lâm tặc đã ồ ạt vào khai thác gỗ trái phép, buộc đơn vị này phải bàn giao lại cho Hạt Kiểm lâm quản lý.
Đến năm 1992, khi vừa nghỉ hưu cũng là lúc ông Vi Chính Nghĩa nhận được đề nghị của Hạt này về việc nhờ ông giữ rừng giúp, với mức lương 2 triệu đồng mỗi năm. “Lương bổng đối với tôi không quan trọng, nhưng mình đã có công giữ rừng đến như vậy, với lại không nỡ nhìn địa đàng xanh bị tận diệt và chảy máu từng ngày, tôi đã nhận lời làm ông già giữ rừng săng lẻ, mặc dù khi ấy tôi còn chưa biết mình sẽ phải làm thế nào để bảo toàn gần 100 ha rừng tuyệt mỹ này”, ông Nghĩa chia sẻ.
Sau khi nhận nhiệm vụ giữ rừng săng lẻ, ông Vi Chính Nghĩa bắt đầu tự mình lên kế hoạch bảo vệ rừng, bằng cách vào sống chung với nó. Điều này cũng đồng nghĩa với việc phải từ bỏ nhà cửa, bản làng để vào dựng lán trại ngay trong rừng. Quyết định ấy đã vấp phải sự phản đối của vợ và các con ông.
“Ông ấy làm Bí thư Huyện ủy 2 khóa liên tiếp, lại làm đến chức cán bộ dưới tỉnh nhưng khi về hưu chẳng có gì cho vợ con ngoài chiếc radio và mấy tấm Bằng khen không quy đổi được bằng tiền. Đã vậy còn nằng nặc vào lãnh địa của lâm tặc sinh sống thì lo lắm”, bà Sâm, vợ ông cho biết. Nói vậy thôi, nhưng rồi chính vợ con lại là những cộng sự đắc lực nhất của ông Nghĩa trong những ngày đầu giữ rừng săng lẻ. Khi đó, ông đã 40 năm tuổi Đảng và gần 60 năm tuổi đời.
Nguyên Bí thư Huyện ủy Tương Dương Vi Chính Nghĩa cho biết, để bảo vệ rừng, ông đã “phân loại” những người phá rừng thành hai nhóm, nhóm những người dân bản địa phá rừng theo cách thủ công và nhóm vãng lai từ các nơi khác đến, được thuê mướn hoặc tổ chức phá có quy mô, phương tiện và máy móc. Với người dân, ông trực tiếp gặp gỡ từng người, giải thích cho họ hiểu tác hại của việc chặt phá rừng đầu nguồn. Mưa dầm thấm lâu, dần dà người dân hiểu ra và chia sẻ với tâm huyết của vị cán bộ già nghỉ hưu, từ chỗ không còn phá rừng, họ sát cánh cùng ông để đẩy đuổi lâm tặc.
Với những kẻ phá rừng có quy mô, già Nghĩa đến tận sào huyệt của chúng để làm công tác tư tưởng, vận động. Lúc bấy giờ, rừng săng lẻ đã bị chúng tự phân lãnh thổ, có nhiều nhóm khác nhau khai thác nên rất khó khăn trong việc đối phó, bằng chứng là lực lượng kiểm lâm đã bất lực. Đã có không ít lần, già buộc phải tuyên chiến lại với chúng, vết tích của những lần đụng độ này là những vết sẹo lằn ngang trên cơ thể già vẫn đang in hằn.
Với tinh thần cương quyết như thế, trong khoảng gần 2 năm sau khi nhận nhiệm vụ giữ rừng, ông Vi Chính Nghĩa đã đẩy đuổi toàn bộ trên chục nhóm lâm tặc, buộc chúng phải rời khỏi khu rừng săng lẻ, lục tục kéo về xuôi trong sự tâm phục khẩu phục ý chí và nghị lực của một già làng.
Năm 2008, thấy sức khỏe mình yếu dần, ông quyết định bàn giao việc trông coi rừng. Ghi nhớ công lao của ông, năm 2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tặng Huân chương Lao động hạng Nhì. (Công An Nghệ An 30/12) đầu trang(
Từ lâu cây sộp cổ thụ có tuổi đời trên 400 năm tại tổ 2, thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh (tỉnh Khánh Hòa) được biết đến như là một “nhà dự báo” thời tiết đại tài của ngư dân.
Theo những bậc cao niên trong vùng, mỗi khi trời sắp mưa, những chùm rễ của cây sộp sẽ tự động chuyển sang màu trắng. Khi thấy dấu hiệu này, ngư dân trong vùng sẽ cho tàu thuyền nằm bờ nhằm hạn chế tai nạn xảy ra.
Ông Nguyễn Hồng Sơn, Trưởng ban quản lý khu di tích cây Sộp Vạn Giã, nơi chăm sóc cây sộp cho biết: “Khả năng dự báo thời tiết khi trời sắp mưa của cây được người trong vùng khẳng định từ lâu nay rồi. Còn về độ tuổi của cây, dùng phương pháp siêu tra, suy sâu tức là hỏi từ những ông cố, ông sơ trong vùng thì biết rằng cây đã có từ cách đây 400 năm”. (Tri Thức Trẻ 30/12) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Thông tin mới nhất từ Bộ NN&PTNT cho biết, đã có 31 tỉnh thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng. Đến hết tháng 10/2013, nguồn thu từ phí dịch vụ môi trường rừng đạt 875 tỷ đồng.
Tình trạng phê duyệt dự án thủy điện bừa bãi, không có phương án trồng rừng thay thế là nguyên nhân khiến hơn 20.000ha rừng bị chuyển đổi làm thủy điện nhưng chỉ có 735ha, bằng 3,7% rừng được trồng lại (theo báo cáo của Bộ NN&PTNT).
Theo Bộ NN&PTNT, có 16/27 tỉnh chưa chỉ đạo trồng rừng, chưa thu tiền hoặc phê duyệt phương án trồng rừng nhưng vẫn cho xây dựng thủy điện gồm: Điện Biên, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thanh Hóa, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắc, Đắk Nông, Bình Phước và Bình Thuận.
Lý do dự án rừng bị mất không được trồng hoàn lại theo giải thích là địa phương thiếu quỹ đất và quỹ chưa có tiền.
Ông Phạm Hồng Lượng, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Tài chính, Tổng cục Lâm nghiệp cho biết, "tới nay chưa có một doanh nghiệp nào nộp tiền về quỹ".
Trong khi đó, ông Lê Tuấn Phong, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Năng lượng khẳng định: "Việc tại sao 20.000ha rừng chuyển đổi lại chỉ trồng được 1.000ha rừng là trách nhiệm của Bộ NN&PTNT. Làm thế nào để tiền về quỹ là trách nhiệm của Bộ NN. Tại sao lại đẩy sang Bộ Công thương?", ông Phong đặt câu hỏi.
Việc Quỹ phát triển rừng tồn tại nhưng lại không đem lại hiệu quả trong việc trồng bồi hoàn rừng sau chuyển đổi, đã từng được ông Tô Xuân Phúc - Tổ chức Forest Trends (Hoa Kỳ) ví von "quỹ chỉ như cái rổ nhận tiền".
Câu chuyện đùn đẩy trách nhiệm sau đó đã được các bộ ngồi lại và cùng làm "đẹp" các con số. Tuy nhiên, tới nay tiền vẫn chưa về quỹ và rừng vẫn chưa được trồng lại.
Thông tin mới nhất từ Bộ NN&PTNT cho biết, đã có 31 tỉnh thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, cùng quỹ của Bộ liệu diện tích rừng có được trồng lại hay cũng chỉ thành lập để cho vui?
Từ chủ trương chuyển đổi rừng trồng cao su cũng như lấy đất làm thủy điện khiến rừng đang bị tàn phá thảm hại.
Theo Ban chỉ đạo Tây Nguyên, bình quân mỗi năm Tây Nguyên mất gần 26.000ha rừng, trong đó mất rừng do chuyển đổi trồng cao su chiếm tới 46,7%.
Theo quy hoạch trồng cây cao su toàn quốc được Chính phủ phê duyệt, ngoài các diện tích đã có từ trước thì từ năm 2009-2020 Tây Nguyên sẽ được trồng thêm 100.000ha nhưng hết năm 2012 các địa phương đã ồ ạt quy hoạch chuyển đổi rừng trồng cao su lên tới hơn 164.000ha (vượt hơn 64.000ha).
Năm 2009 toàn tỉnh Gia Lai có khoảng 70.000ha cao su. Ngoài diện tích này, cuối năm 2009 tỉnh Gia Lai tiếp tục có quy hoạch chuyển thêm 61.000ha đất rừng qua trồng cao su, tính đến nay diện tích cao su toàn tỉnh đã lên tới gần 100.000ha.
Tại Đắk Lắk, sau hơn 5 năm trồng thí điểm cao su, hàng ngàn hécta đất rừng của các dự án bị tàn phá, lấn chiếm, xâm canh. Theo thống kê của UBND tỉnh Đắk Lắk thì hiện nay trên địa bàn tỉnh có 73 dự án chuyển đổi rừng, đất lâm nghiệp sang trồng cao su và cải tạo, quản lý bảo vệ, trồng rừng với tổng diện tích trên 70.027ha, trong đó có 37 dự án trồng cao su với diện tích 26.328ha. Sau gần năm năm triển khai thực hiện, đến nay các doanh nghiệp chỉ mới trồng được hơn 7.235ha cao su.
Trong khi đó, việc tận thu gỗ trên diện tích rừng được phép chuyển đổi thì các doanh nghiệp đã triển khai nhanh chóng, với trên 44.000m3 gỗ các loại (trên diện tích 7.343ha rừng chuyển đổi).
Tính tổng cả nước diện tích cao su hiện nay là 910.000ha vượt hơn 100.000ha so với quy hoạch của Thủ tướng 800.000ha tới năm 2015. Cùng với cao su, dự án thủy điện cũng góp mặt tàn phá hơn 50.00ha rừng.
Kết quả rà soát triển khai các dự án thủy điện trong cả nước vừa được Ủy ban Khoa học Công nghệ - Môi trường của Quốc hội, Bộ Công Thương thực hiện đã đưa ra con số giật mình đó là: Từ năm 2006 đến nay có hơn 50.000 ha đất rừng các loại được chuyển đổi mục đích sử dụng để xây dựng thủy điện.
Thế nhưng vào cuối năm 2012, Bộ NN&PTNT từng báo cáo Thủ tướng về việc chuyển đổi rừng để thực hiện các dự án thủy điện giai đoạn 2006-2012 chỉ có hơn 20.000 ha rừng bị chuyển đổi mục đích sử dụng để xây dựng 160 dự án thủy điện. Trong số này diện tích rừng trồng bù lại chỉ được 735 ha, bằng 3,7% diện tích rừng đã bị mất.
Con số này chỉ bằng một nửa số thực. Bởi kết quả rà soát mới đây của Bộ Công thương cho thấy thực tế tỉ lệ diện tích rừng trồng bù còn thấp hơn rất nhiều.
Theo Bộ Công thương, từ khi thực hiện Nghị định 23/2006/NĐ-CP về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, đến nay có đến 50.930 ha rừng các loại đã bị chuyển đổi mục đích sử dụng cho các dự án thủy điện. Trong khi đó, rất ít chủ đầu tư thủy điện có phương án trồng rừng thay thế. Hậu quả, diện tích rừng trồng thay thế chỉ được hơn 1.000 ha, bằng 2% diện tích rừng đã chuyển đổi.
Theo GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung, con số thống kê công bố về diện tích rừng chuyển đổi sang làm thủy điện là những số thống kê được trong thiết kế, hồ sơ dự án, còn phần rừng mất đi sau đó thì không ai thống kê được.
GS Lung chỉ rõ, mỗi nhà máy thủy điện chiếm bao nhiêu rừng, nhưng đấy là cái mình thấy bằng mắt, trong kế hoạch, văn bản dự án có, còn những cái xảy ra sau đấy thì không ai thống kê. (Đất Việt 31/12) đầu trang(
Thứ trưởng Bộ NN&PTNT cho biết, diện tích cao su vượt quá 100.000ha không vượt quy hoạch của địa phương.
Về việc Đà Nẵng ra tay xử lý "chuyện kỳ quặc", xuất phát từ việc Sở Xây dựng cắt 5ha rừng phòng hộ quốc gia để lập dự án. Đà Nẵng đã ra quyết định thu hồi và xử phạt 50 triệu đồng, Thứ trưởng Hà Công Tuấn cho biết: Sở NN&PTNT là cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương, tham mưu cho UBND thành phố thực hiện các chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn, dù có thể việc phối hợp giữa các ngành ở địa phương chưa chặt chẽ trong việc khảo sát, phê duyệt dự án có liên quan đến chuyển mục đích rừng, tuy vậy Sở NN&PTNT vẫn có trách nhiệm kiểm tra các dự án có tác động đến rừng đảm bảo việc thực thi đúng pháp luật.
Bộ NN&PTNT chưa nhận được báo cáo đầy đủ về vấn đề này, qua thông tin của quý báo, tôi hoan nghênh địa phương đã tích cực chỉ đạo việc rà soát, giải quyết, xử lý kịp thời vấn đề quản lý, chuyển mục đích sử dụng rừng trên địa bàn.
Trước Đà Nẵng cũng đã có Đăk Lăk, Gia Lai đều có hành động tích cực, yêu cầu công an điều tra, đối với việc trồng rừng thay thế, thu hồi dự án trồng sai. Trong khi đa số các địa phương đều tích cực xử lý vấn đề này, Bộ NN&PTNT đã đặt tới vấn đề điều tra và xử lý 100.000 ha rừng cao su vượt kế hoạch như việc Bộ trưởng đã thừa nhận chưa? Dự tính của Bộ như thế nào?
Trả lời câu hỏi này, Thứ trưởng Hà Công Tuấn cho hay: Không phải đến nay Bộ NN&PTNT mới chỉ đạo giải quyết những vi phạm quy định của Nhà nước về bảo vệ rừng, công tác này là việc làm rất thường xuyên và kiên quyết của Bộ. Chẳng hạn, kiểm tra chỉ đạo các địa phương, trong đó có các tỉnh Đăk Lăk, Gia Lai, Đăk Nông… giải quyết nhiều trọng điểm xâm hại rừng; phối hợp với các Bộ, ngành kiểm tra trên diện rộng về chuyển đổi rừng trồng cao su.
Để chấn chỉnh tình hình, Bộ NN&PTNT đã trình Thủ tướng Chính phủ một số biện pháp chỉ đạo và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 về Tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ.
Tại Chỉ thị này, Thủ tướng yêu cầu “tạm dừng cho phép khảo sát, phê duyệt các dự án mới đầu tư phát triển sản xuất nông lâm nghiệp trên đất lâm nghiệp có rừng tự nhiên” để rà soát, đánh giá, đương nhiên những chủ dự án có sai phạm đã và tiếp tục xử lý nghiêm túc theo quy định của pháp luật.
Theo Thứ trưởng Hà Công Tuấn: Quy hoạch phát triển cao su quốc gia được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đến năm 2015 là 800.000ha; theo báo cáo của các địa phương đến năm 2012 diện tích rừng trồng cao su đã có khoảng trên 900.000ha.
Tuy nhiên, theo quy hoạch của các địa phương, thì diện tích cao su đã có về cơ bản là không vượt quy hoạch của địa phương. Tôi được biết, quy hoạch cụ thể của các địa phương được xác lập trên cơ sở các yếu tố kinh tế-xã hội, điều kiện đất đai trên địa bàn.
Theo quy định của pháp luật thì Quy hoạch có nhiều cấp, trong đó quy hoạch cấp quốc gia có tính định hướng chiến lược cả nước, quy hoạch chi tiết trên từng địa bàn là rất quan trọng, và còn các quy định về quá trình xây dựng, phê duyệt từng dự án.
Về cơ bản, việc phát triển trồng mới cao su phải đảm bảo: về đặc tính sinh thái ”đất nào cây ấy”; sử dụng đất đai có hiệu quả nhất; chỉ được chuyển đổi rừng theo các tiêu chí chặt chẽ do Bộ NN&PTNT quy định. Quan điểm của Bộ là dứt khoát không được phá rừng trái pháp luật lấy đất trồng cao su.
Vậy 20.000ha rừng chuyển mục đích làm thủy điện nhưng tới nay mới trồng lại được hơn 1.000ha. Bộ NN&PTNT đã có kế hoạch trồng lại như thế nào? Và trách nhiệm của Bộ ra sao? Thứ trưởng Hà Công Tuấn: Từ năm 2001 đến nay, diện tích rừng mất đi do các nguyên nhân trên 334.000ha, trong đó diện tích rừng chuyển mục đích làm thủy điện gần 20.000ha. Nhìn chung, các dự án được phê duyệt đã chuyển mục đích sử dụng rừng trong những năm qua đều chưa thực hiện trồng rừng thay thế một cách trực tiếp, mới có một số dự án thủy điện trồng được khoảng 1.600 ha.
Như tôi đã trao đổi trên đây, ngày 6/5/2013, Bộ NN&PTNT ban hành Thông tư số 24/2013/TT-BNNPTNT, về việc Quy định về trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác.
Theo đó, các tổ chức, cá nhân được phép chuyển mục đích sử dụng rừng phải có phương án trồng rừng thay thế với diện tích ít nhất bằng diện tích rừng được chuyển đổi. Trường hợp tỉnh có rừng chuyển đổi không còn hoặc thiếu quỹ đất để trồng rừng thay thế thì phải bố trí trồng rừng thay thế ở tỉnh khác.
Bộ NN&PTNT đã ban hành Chỉ thị chỉ đạo riêng về vấn đề này; tiếp tục kế hoạch hóa tới từng địa phương, tăng cường kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện đúng quy định của Nhà nước.
Thứ trưởng Tuấn cho hay: Bộ NN&PTNT chưa nhận được bất cứ văn bản nào từ UBND các địa phương báo cáo là thiếu quỹ đất để bố trí trồng rừng thay thế. Theo kiểm kê đất lâm nghiệp của các địa phương, Bộ chưa thấy địa phương nào vì thiếu đất mà không thể trồng rừng thay thế. (Đất Việt 30/12) đầu trang(
Trong khi Bộ NN&PTNT khẳng không được phá rừng trồng cao su trái luật, đồng thời bộ này đã báo cáo với Thủ tướng Chính phủ sẽ dừng không cho khai thác diện tích cao su vượt quá quy hoạch, thì địa phương khẳng định “có tiền là trồng không cần dựa vào quy hoạch nào hết”.
Ông Mùa A Sơn - Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên cho biết, Điện Biên là một tỉnh nghèo, nếu không trồng cao su thì không biết trồng cây gì. “Chỉ cần có tiền là làm, cho tiền bao nhiêu chúng tôi làm bấy nhiêu, không cần dựa vào quy hoạch nào hay chỉ đạo nào hết”, ông Sơn nói.
Theo ông Sơn, những dự án cao su này là do Ban chấp hành tỉnh ủy Điện Biên phê duyệt dựa trên điều kiện của địa phương.
Cao su là cây mang lại giá trị kinh tế cao. Theo quy hoạch của Thủ tướng, đến năm 2020 cả nước sẽ có 800.000 ha cao su nhưng đến hết năm 2012, tổng diện tích cao su cả nước đã là 915.000 ha, vượt hơn 100.000 ha (13%).
Cao su đã và đang được quy hoạch trồng tại 7 tỉnh miền núi phía Bắc với tổng diện tích đến năm 2015 và 2020 gồm: Ba tỉnh Tây Bắc (Sơn La, Điện Biên, Lai Châu) nằm trong quy hoạch theo Quyết định 750, quy hoạch đến năm 2015 phát triển 57.500 ha. Trong đó Sơn La là 20.000 ha, Điện Biên 17.500 ha, Lai Châu 20.000 ha.
Bốn tỉnh vùng Đông Bắc (Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Phú Thọ) chưa nằm trong quy hoạch theo Quyết định 750, quy hoạch của các tỉnh này đến 2015 phát triển khoảng 20.000 ha. Như vậy, đã vượt quá mục tiêu chỉ đạo của Chính phủ đến năm 2020 là 7.500 ha.
Trả lời vấn đề này, ông Sơn cho biết, “địa phương có điều kiện bao nhiêu thì làm bấy nhiêu, với một tỉnh nghèo như Điện Biên thì không trồng cao su thì biết làm gì”.
Trong khi đó, tại các tỉnh Bắc Trung bộ, những năm qua một số tỉnh đã trồng vượt quy hoạch với số lượng 80.470ha. Nguyên nhân là do cao su tiểu điền phát triển vượt kiểm soát của địa phương, nhất là giai đoạn từ 2009-2011 khi giá cao su đạt mức cao kỷ lục (120 triệu đồng/tấn).
Việc đưa nhiều vùng đất không phù hợp với cây cao su vào trồng cao su đã tạo nên những hệ lụy. Tại Bắc Trung bộ, sau hai cơn bão số 10 và 11, toàn vùng có hơn 10.000ha cao su bị gãy đổ hoàn toàn không thể phục hồi.
Ông Cao Khoa, Chủ tịch tỉnh Quảng Ngãi, cho biết, diện tích cao su ở Quảng Ngãi hiện nay không có nhiều mà chỉ đang trong giai đoạn làm thí điểm, chứ chưa cho triển khai.
Theo ông Khoa, phải thận trọng, vì nếu cây cao su không chịu được gió bão, quật cây gãy đổ thì sẽ gây thiệt hại cho người dân. Khi thực hiện quy hoạch Quảng Ngãi phải thuê chuyên gia tư vấn, trồng thử rồi mới lập quy hoạch.
“Quy hoạch này là do địa phương phê duyệt không cần thông qua Bộ. Tất nhiên, quy hoạch nào cũng phải dựa trên quy hoạch chung của quốc gia”, ông Khoa cho biết thêm.
Trong chất vấn chiều 19/11, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát cho biết: Theo Quyết định số 750/2009 của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch phát triển cao su ở Việt Nam, đến năm 2015 dự kiến nước ta sẽ có 800.000 ha nhưng đến ngày hôm nay nước ta đã có 910.000 ha.
Như vậy đã có hơn 100.000 ha được trồng vượt so với quy hoạch. Bộ trưởng thừa nhận con số này không hoàn toàn là trồng trên đất rừng hay do kết quả của việc phá rừng mà có rất nhiều diện tích trồng trên đất lâm nghiệp không có rừng và các loại đất nông nghiệp khác.
Bộ trưởng cho biết, tình trạng phá rừng trồng cao su trái phép đã được Bộ báo cáo với Thủ tướng và khẳng định không còn việc khai thác rừng tự nhiên để trồng cao su nữa.
Bộ trưởng cũng thừa nhận chịu trách nhiệm trong công tác quản lý, tuy nhiên chính quyền địa phương cũng phải liên đới.
Mới đây, Đà Nẵng đã ra tay xử lý "chuyện kỳ quặc", xuất phát từ việc Sở Xây dựng cắt 5ha rừng phòng hộ quốc gia để lập dự án. Đà Nẵng đã ra quyết định thu hồi và xử phạt 50 triệu đồng. Đồng thời cũng truy trách nhiệm cơ quan quản lý trực tiếp là Sở NN&PTNT, mặc dù đơn vị này trả lời không biết gì.
Trước Đà Nẵng cũng đã có Đăk Lăk, Gia Lai đều có hành động tích cực, yêu cầu công an điều tra, đối với việc trồng rừng thay thế, thu hồi dự án trồng sai.
Ông Ngô Ngọc Sinh - Phó chánh văn phòng tỉnh Gia Lai cho biết, chưa thể kết luận diện tích cao su vượt quy hoạch là do địa phương hay Bộ NN&PTNT phê duyệt vì cơ quan chức năng đang tiến hành điều tra.
Trả lời báo Đất Việt mới đây, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn cũng cho biết, quy hoạch cao su tới năm 2015 của Thủ tướng chỉ là quy hoạch chung. Diện tích cao su hiện tại vẫn chưa vượt quy hoạch của địa phương.
“Tôi được biết, quy hoạch cụ thể của các địa phương được xác lập trên cơ sở các yếu tố kinh tế-xã hội, điều kiện đất đai trên địa bàn”. (Đất Việt 31/12) đầu trang(
Ngày 30/12, tại Hà Nội, Cục Bảo tồn đa dạng sinh học, thuộc Tổng cục Môi trường, Bộ TN&MT đã tổ chức Tổng kết công tác năm 2103 và phương hướng hoạt động năm 2014.
Theo báo cáo tổng kết của Cục trưởng Cục Bảo tồn đa dạng Phạm Anh Cường cho biết, năm 2103, với sự quyết tâm của tất cả các cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, Cục Bảo tồn đa dạng sinh học đã hoàn thành tốt Chương trình công tác năm 2013 với những kết quả rõ rét về mọi mặc công tác, lượng hóa các công việc được giao như: Công tác xây dựng văn bản trình lên Thủ tướng và Chính phủ và các văn bản liên Bộ và Bộ TN&MT.
Tiếp tục thực hiện vai trò đầu mối trong hoạt động hợp tác quốc tế, công tác Quy hoạch bảo tồn và sử dụng bền vững các hệ sinh thái và đa dạng sinh học, công tác bảo tồn loài, an toàn sinh học và bảo tồn nguồn gen, công tác điều tra cơ bản. Bên cạnh đó, công tác điều tra cơ bản, quản lý cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học; phổ biến, tuyên truyền giáo dục và đào tạo pháp luật đa dạng sinh học nói chung và Luật Đa dạng sinh học nói riêng được tăng cường.
Phát biểu kết luận tại lễ tổng kết, Thứ trưởng Bùi Cách Tuyến nhấn mạnh, trong thời gian tời Cục Bảo tồn đa dạng sinh học cần tranh thủ sự ủng hộ mạnh mẽ của bạn bè quốc tế trong lĩnh vực đa dạng sinh học. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh việc phối hợp với Bộ Tài chính để thúc đẩy việc ban hành thông tư về cơ chế tài chính triển khai Luật Đa dạng sinh học ở Trung ương và địa phương.
Tăng cường phối hợp với Bộ NN&PTNT trong việc hài hòa, giải quyết các chồng chéo của các Luật và chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác văn thư lưu trữ, chuyển văn bản, xây dựng phần mềm quản lý, theo dõi văn thư; xây dựng cơ chế tăng cường trao đổi, chia sẻ thông tin giữa các đơn vị trong và ngoài Cục, bảo đảm sự phối hợp đồng bộ, có hiệu quả. (Tài Nguyên&Môi Trường 31/12) đầu trang(
Theo Bộ NN&PTNT, giá trị xuất khẩu (XK) gỗ và các sản phẩm gỗ trong tháng 12 đạt 479 triệu USD, đưa giá trị XK năm 2013 đạt trên 5,37 tỷ USD, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm 2012.
Trong 11 tháng đầu năm, ngoại trừ thị trường Đức giảm 16,54% và thị trường Pháp giảm 3,24% so với cùng kỳ năm 2012, XK gỗ và các sản phẩm gỗ sang các thị trường tiêu thụ lớn hầu hết đều tăng trưởng mạnh. Thị trường Hoa Kỳ tăng 10,26%, Trung Quốc tăng 34,64%, Nhật Bản tăng 20,97%, Hàn Quốc tăng 45,23%... so với cùng kỳ năm ngoái.
Ước giá trị nhập khẩu (NK) gỗ tháng 12 đạt 249 triệu USD, đưa tổng kim ngạch NK gỗ cả năm 2013 đạt 1,68 tỷ USD, tăng 23,5% so với năm 2012. Trong đó, NK gỗ từ thị trường Lào chiếm tỷ trọng 25,5%, Hoa Kỳ chiếm 13,7% và Trung Quốc chiếm 12,5% tổng kim ngạch NK mặt hàng này.
Ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) cho biết: Một trong những khúc mắc khá lớn của ngành chế biến gỗ hiện nay chính là nguồn nguyên liệu. Mặc dù kim ngạch XK gỗ cũng như các sản phẩm gỗ của Việt Nam tăng nhanh nhưng nguồn nguyên liệu lại phụ thuộc quá nhiều vào NK.
Cụ thể, do nguồn cung gỗ nguyên liệu trong nước không đáp ứng về số lượng, chất lượng, chủng loại cho công nghiệp chế biến sản phẩm gỗ đồ mộc XK, nên các DN chế biến gỗ đã phải NK gỗ xẻ, gỗ tròn, các loại ván nhân tạo không ngừng tăng lên trong giai đoạn 2007-2012, với tốc độ tăng bình quân 12,1%/năm. Năm 2012, NK gỗ và sản phẩm gỗ đạt kim ngạch 1,5 tỷ USD, tăng 10,1% so với năm 2011.
Về lâu dài, để tháo gỡ khó khăn cho ngành chế biến gỗ, ông Nguyễn Bá Ngãi khẳng định, theo Đề án Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, định hướng thời gian tới của ngành là sẽ tập trung xây dựng các vùng cung cấp nguyên liệu tập trung gắn với các trung tâm chế biến gỗ và đồ gỗ; quản lý bền vững và có hiệu quả tổng diện tích rừng sản xuất được quy hoạch là 8,4 triệu ha; thực hiện các biện pháp trồng rừng và khai thác hiệu quả để hình thành rừng gỗ lớn thay thế NK... (Hải Quan 30/12) đầu trang(
Huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Ngãi đang xây dựng Đề án giao rừng tự nhiên cho hộ gia đình, cá nhân đến năm 2015, định hướng 2020.
Theo đó, mục tiêu từ nay đến năm 2020, huyện Cam Lộ sẽ hoàn thành về cơ bản việc giao trên 1.100 ha rừng tự nhiên cho 368 hộ gia đình, cá nhân quản lý bảo vệ. Việc giao rừng đảm bảo theo quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được phê duyệt; cùng với giao rừng là tiến hành giao đất lâm nghiệp.
Trong quá trình giao rừng tự nhiên cho hộ gia đình quản lý, bảo vệ sẽ tiến hành trồng thử nghiệm gần 100 ha cây mây nếp dưới tán rừng tự nhiên cho 160 hộ gia đình thuộc địa bàn 3 xã Cam Thành, Cam Chính, Cam Nghĩa để bảo vệ và phát triển vốn rừng tự nhiên, chống suy thoái tài nguyên rừng, thực hiện xã hội hoá nghề rừng trên cơ sở tổ chức, quản lý, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên rừng.
Qua đó, nhằm phát góp phần triển kinh tế - xã hội, ổn định cuộc sống của người dân sống ở trong rừng và ven rừng; huy động sức mạnh của cộng đồng tham gia bảo vệ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng. (Sở KH&CN Quảng Trị 30/12) đầu trang(
Bằng chính sách kêu gọi và thu hút các nguồn lực từ cộng đồng, tỉnh Thanh Hóa bước đầu đạt được những thành công trong nỗ lực phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ.
Theo đó, nhằm phát huy lợi thế vị trí địa lý của tỉnh và tiềm năng, thế mạnh của rừng, trong những năm qua, ngành Lâm nghiệp Thanh Hoá đã tham mưu UBND tỉnh ban hành nhiều cơ chế, chính sách về thu hút và kêu gọi các nguồn vốn đầu tư trong nước, quốc tế vào phát triển lâm nghiệp, điển hình như Dự án phát triển ngành lâm nghiệp (WB3), Trồng rừng tại các tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An (Kfw4), Quỹ Hỗ trợ thiên tai miền Trung, dự án Care... trong đó có những dự án đã đầu tư trồng mới từ 5.000-10.OOOha rừng, góp phần tích cực trong việc bảo vệ, bảo tồn và phát triển rừng bền vững.
Năm 2012, Thanh Hoá tiếp tục được Bộ NN&PTNT lựa chọn là một trong những tỉnh tham gia thực hiện dự án “Phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ” gọi tắt là dự án JICA2; vô'n vay ODA của Chính phủ Nhật Bản. Dự án JICA2 Thanh Hoá do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm chủ đầu tư và đơn vị thực hiện là Ban Quản lý dự án JICA2 tỉnh.
Ông Lê Văn Đốc, Phó Giám đôc Sở NN&PTNT tỉnh Thanh Hóa phụ trách lâm nghiệp kiêm Giám đốc dự án cho biết: Mục tiêu chung của dự án là Quản lý và bảo vệ bền vững rừng phòng hộ, phục hồi và bảo tồn đa dạng sinh học, xoá đói giảm nghèo ở khu vực miền núi. Thời gian thực hiện trong 10 năm (2012- 2021) và triển khai trên địa bàn 11 xã thuộc 6 huyện gồm Hà Trung, Thạch Thành, Thường Xuân, Như Xuân, Như Thanh, Tĩnh Gia. Các Ban Quản lý rừng phòng hộ trên địa bàn 6 huyện cũng tham gia triển khai các hoạt động của dự án.
Tỉnh nỗ lực sẽ trồng mới 1.520ha; nâng cấp rừng trồng hiện có 1.050ha; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên 650ha; bảo vệ rừng 6.000ha; nâng cao độ che phủ của rừng nhằm chống xói mòn, điều hoà nguồn nước, cải thiện điều kiện sinh thái; kiểm soát phòng chống cháy rừng, đảm bảo sản xuất và đời sống của nhân dân trên địa bàn; tăng cường năng lực cho chính quyền địa phương và chủ rừng phòng hộ; cải thiện kinh tế cho người dân trong vùng dự án; phát triển kinh tế cơ sở hạ tầng, ổn định sản xuất, góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo tại các địa phương.
Dự án phục hồi và quản lý rừng bền vững có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội địa phương cả trước mắt và lâu dài, nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững, làm tăng độ che phủ rừng và nâng cao chất lượng rừng phòng hộ góp phần vào mục tiêu của Chiến lược phát triển lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Đồng thời, dự án nhằm cải thiện và tảng cường chức năng của rừng phòng hộ đầu nguồn góp phần ổn định các dòng sông ở hạ nguồn, giảm lũ quét, sạt lở đâ't, giảm thiểu các vụ cháy rừng, bảo vệ cơ sở hạ tầng xã hội và nhà cửa của nhân dân do mưa lũ gây ra.
Đến nay, sau gần 1 năm chính thức dự án đi vào hoạt động, Ban Quản lý dự án đã chỉ đạo, thực hiện hoàn thành cơ bản việc xây dựng, thẩm định, trình duyệt các kế hoạch hoạt động cho cả giai đoạn 2012- 2021, như: Kế hoạch tổng thể, kế hoạch đấu thầu tổng thể và một sô' nhiệm vụ kế hoạch thực hiện trong năm, như: Rà phá bom mìn đã hoàn thành trên 70% kế hoạch; các trang thiết bị, máy móc thực hiện các công việc của dự án đã được trang bị tương đôi đầy.
Công tác đào tạo, tập huấn đã lựa chọn và bố trí được hơn 200 lượt cán bộ tham gia 10 khoá đào tạo, tập huấn về nghiệp vụ thực hiện dự án và nâng cao năng lực cho cán bộ chính quyền do Ban Quản lý dự án JICA2 Trung ương tể chức. Đôi tượng tham dự chủ yếu là cán bộ trong Ban Quản lý dự án tỉnh, cán bộ các huyện, xã, Ban Quản lý rừng phòng hộ trong vùng dự án và cán bộ các ngành, dơn vị có liên quan.
Sau mỗi khoá học được đánh giá có hiệu quả, cán bộ tham dự đào tạo nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc đặc biệt đối với cán bộ chính quyền vùng dự án nhận thức rõ hơn vai trò trách nhiệm của mình trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ; chỉ đạo, giám sát các nhà thầu tư vấn hoàn thành sớm công tác quy hoạch sử dụng đất, khảo sát thiết kế cơ sở hạ tầng lâm sinh, sinh kế.
Đến thời điểm này, các khâu chuẩn bị cho kế hoạch 2014 như vườn ươm, cây giông, hiện trường cơ bản đã hoàn thành. Trước mắt trong vụ xuân 2014 Ban Quản lý dự án sẽ tổ chức ra quân chỉ đạo trồng mới 560ha, nâng cấp 210ha... tạo đà hoàn thành sớm mục tiêu, kế hoạch dự án cho những năm tiếp theo, đáp ứng sự mong đợi mục tiêu cải thiện môi trường và đời sông nhân dân. (Dân Tộc&Phát Triển 27/12) đầu trang(
Nhằm từng bước thay đổi nhận thức của người dân trong công tác trồng rừng Trung tâm Khuyến nông- Khuyến lâm tỉnh Bắc Kạn đã triển khai Dự án “trồng rừng cây nguyên liệu thâm canh keo tai tượng” qui mô 113 ha với sự tham gia của 70 hộ dân.
Các hộ tham gia được hỗ trợ giống, phân bón, tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn cách trồng, chăm sóc, bón phân. Sau 2 năm triển khai cho thấy cây trồng sinh trưởng và phát triển khá tốt với tỷ lệ cây sống đạt trên 87%; chiều cao cây đạt từ 2,5 đến 2,7 mét; đường kính gốc 3 đến 4cm.
Kết quả bước đầu cho thấy với chu kỳ trồng rừng keo thâm canh sẽ rút ngắn được thời gian so với trồng keo quảng canh và sản lượng gỗ đạt được cao hơn. Cây keo tai tượng là loại cây không kén đất, khả năng tái tạo dinh dưỡng cho đất lớn, thân gỗ làm giấy hoặc chế biến đồ gỗ chắc bền hơn so với giống keo nội. Do đó, việc trồng rừng kinh tế gắn với thâm canh cây keo tai tượng sẽ là mô hình không những đem lại hiệu quả kinh tế mà còn thay đổi tư duy sản xuất của người dân.
Việc trồng rừng kinh tế gắn với thâm canh nhằm thay đổi tập quán trồng rừng của người dân từ trồng rừng dựa vào điều kiện tự nhiên sang sản xuất thâm canh, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, cải tạo bền vững và rút ngắn chu kỳ sản xuất.
Vì vậy để việc trồng rừng thâm canh được nhiều người dân lựa chọn thì phải tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người trồng rừng. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học và kỹ thuật thâm canh tiên tiến trong sản xuất giống cây lâm nghiệp. Đi kèm với đó là phải thực hiện các chính sách hỗ trợ về giống, phân bón và tập huấn kỹ thuật để người dân ứng dụng vào sản xuất. (Báo Bắc Kạn 30/12) đầu trang(
Nhờ khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai trong phát triển kinh tế rừng, đến nay hầu hết diện tích đất trống đồi núi trọc trên địa bàn huyện Yên Thành đã được phủ kín, tỷ lệ độ che phủ rừng đạt 38,43%.
Việc trồng rừng tập trung tại các địa bàn có diện tích gò đồi lớn như: Thịnh Thành, Kim Thành, Đồng Thành, Tiến Thành, Quang Thành, Tây Thành và Minh Thành được đẩy mạnh, riêng trong năm 2013 các xã trên đã trồng mới 1.000 ha rừng sản xuất, đạt 125% kế hoạch.
Bên cạnh đó các cơ quan chức năng cũng đã thực hiện tốt các dự án trồng rừng của Chính phủ ở 6 xã vùng cao; tiến hành giao đất, khoanh nuôi bảo vệ rừng phòng hộ tự nhiên ở Kim Thành, Xuân Thành và Đồng Thành. Phong trào trồng cây phân tán, cây bóng mát cũng được các địa phương, cơ quan, trường học trên địa bàn huyện hết sức quan tâm.
Trong năm qua, toàn huyện cũng đã trồng được 565 ngàn cây phân tán và khai thác gần 20.000m3 gỗ rừng trồng, gần 100 tấn nhựa thông, đưa tổng thu nhập từ sản phẩm rừng toàn huyện đạt gần 20 tỷ đồng. (Đài PT - TH Nghệ An 31/12) đầu trang(
Những đợt rét đậm, rét hại kéo dài sẽ gây ra ảnh hưởng không nhỏ cho sự sinh trưởng phát triển của cây giống trồng rừng. Do đó, để đảm bảo cho những vườn ươm không bị thiệt hại do thời tiết giá rét gây ra, người ươm cây giống rất cần có những biện pháp tích cực nhằm bảo vệ tốt nhất cho các vườn ươm, không để ảnh hưởng đến chất lượng cây giống trồng rừng năm 2014.
Trong những ngày thời tiết xuống thấp như vừa qua, hàng loạt bạt ni lông trắng đã được Xí nghiệp giống và thiết kế lâm nghiệp Nông Thịnh, huyện Chợ Mới sử dụng để che chắn cho những luống keo lai đang thời kỳ phát triển của mình.
Các cán bộ ở đây cho biết: Chăm những cây giống này cũng không khác gì bà con chăm mạ khi giá lạnh, công nhân phải che kín thi trời lạnh, mỗi khi có nắng lên lại phải mở 2 đầu, hoặc tháo toàn bộ ni lông ra để cho cây có thể hấp thụ ánh nắng mặt trời, đồng thời tưới nước đều đặn mỗi ngày.
Là đơn vị gieo ươm cây giống trồng rừng lớn nhất trên địa bàn tỉnh ta hiện nay, Xí nghiệp năm nay đã chuẩn bị đến 4 triệu cây giống cho vụ trồng rừng năm 2014 phục vụ cho các đơn vị, địa phương. Hiện tại, ngoài các loại cây keo lai cấy hom đã trổ lá, còn cây mỡ, trám, lát đều đang trong giai đoạn ươm bầu tra hạt, nên các công việc như phủ rơm, tưới nước rửa sương, che chắn sương muối, gió rét đều được đơn vị quan tâm thực hiện.
Anh Vũ Đình Vinh – Phó Giám đốc phụ trách Xí nghiệp giống và thiết kế lâm nghiệp Nông Thịnh cho biết: Đối với cây mỡ chúng tôi tổng hợp các biện pháp là chính. Ví dụ hàng sáng 7-8h, chúng tôi tiến hành rửa sương với mầm đã mọc, cây chưa mọc thì tưới đều đủ ẩm, hơn nữa dùng phủ rơm rạ giữ ấm. Còn với keo thì chúng tôi cũng tưới rửa sương, còn cây non cũng che chắn để cây có thể phát triển tốt nhất.
Ông Phạm Ngọc Kiên – Phó Chi Cục trưởng Chi cục Lâm Nghiệp tỉnh Bắc Kạn cho biết: Để chống rét cho vườn ươm, Ngành lâm nghiệp đã tham mưu sở NN&PTNT ra văn bản chỉ đạo các đơn vị, địa phương về một số biện pháp chống rét tích cực, kịp thời báo cáo tình hình với ngành chức năng nếu có hiện tượng lạ xảy ra để đảm bảo cây giống phát triển tốt.
Năm 2014, dự kiến toàn tỉnh có khoảng 100 vườn ươm cây giống lớn nhỏ, một số địa phương, đơn vị mới tổ chức tự gieo ươm nên việc thiếu kinh nghiệm trong chăm sóc cũng sẽ là một điều đáng lo ngại trong khi thời tiết được dự báo vẫn còn diễn biến hết sức phức tạp trong thời gian tới. (Đài PT - TH Bắc Kạn 30/12) đầu trang(
Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Ngọc Túc vừa kí quyết định tặng thưởng Giấy khen cho 1 tập thể và 8 cá nhân thuộc Cục Hải quan Hải Phòng có thành tích xuất sắc trong phát hiện, bắt giữ sản phẩm động vật hoang dã tháng 10-2013.
Các tập thể, cá nhân được khen thưởng gồm: Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng (HQCKC) Hải Phòng KV III và các cá nhân: Ông Nguyễn Kiên Giang- Chi cục trưởng Chi cục HQCKC Hải Phòng KV III; ông Nguyễn Duy Ngọc- Phó Chi cục trưởng Chi cục HQCKC Hải Phòng KV III; ông Bùi Văn Hải- Đội trưởng Đội giám sát tàu và kho bãi, Chi cục HQCKC Hải Phòng KV III; ông Bùi Khắc Hải- Công chức Đội Kiểm soát Hải quan; ông Nguyễn Chí Thành- Công chức Đội Kiểm soát Hải quan; ông Nguyễn Văn Bình- Công chức Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ; ông Trần Đình Đức- Trưởng phòng Quảng lí rủi ro; ông Nguyễn Quế Lâm- Phó Đội trưởng Đội máy soi, Phòng Quản lí rủi ro.
Như đã đưa tin, trong tháng 10-2013, Cục Hải quan Hải Phòng liên tiếp phát hiện, bắt giữ nhiều vụ vận chuyển trái phép sản phẩm động vật hoang dã là ngà voi và mai đồi mồi. Đây là những mặt hàng nằm trong danh mục cấm buôn bán theo Công ước CITES (Công ước quốc tế về buôn bán các loại động thực vật hoang dã nguy cấp).
Ngày 3-10, Chi cục HQCKC Hải Phòng KV III phối hợp với Đội Kiểm soát Hải quan, Trung tâm máy soi container (Phòng Quản lí rủi ro) kiểm tra lô hàng TNTX được khai báo là “Vỏ ốc biển đã qua sơ chế” của Chi nhánh Công ty TNHH một thành viên thương mại dịch vụ và XNK Hải Phòng tại Quảng Ninh, phát hiện hơn 2,1 tấn ngà voi và 146 kg mai đồi mồi được cất giấu trong các bao chứa vỏ ốc.
Tiếp đó, ngày 18-10-2013 tại cảng Nam Hải - Hải Phòng, hơn 2,4 tấn ngà voi được ngụy trang, cất giấu trong các bao chứa vỏ ốc biển nhập khẩu được Đội Kiểm soát Hải quan và Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường - Công an Hải Phòng phối hợp bắt giữ.
Cũng trong tháng 10-2013, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ phối hợp với Đội Kiểm tra hàng hóa bằng máy soi container (Phòng Quản lí rủi ro) kiểm tra, phát hiện và bắt giữ 21 chiếc ngà voi trong lô hàng NK của Công ty TNHH XNK Quảng Đạt. (Hải Quan 31/12) đầu trang(
Thành phố Yên Bái không phải là địa phương có phong trào trồng rừng lớn của tỉnh nhưng những vườn ươm cây giống lại có từ rất lâu, cung cấp chủ yếu lượng cây giống đáp ứng nhu cầu trồng rừng mới của các hộ dân trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
Hiện nay, thành phố có nhiều điểm ươm cây giống song tập trung chủ yếu tại khu vực phường Minh Tân. Tham gia làm cây giống, không chỉ người già, trẻ em, người không có việc làm ổn định mà còn cả cán bộ công chức Nhà nước tranh thủ thời gian rảnh rỗi để làm nhằm tăng thu nhập cho gia đình.
Chị Nguyễn Thị Phương, ở tổ 57, phường Minh Tân hiện công tác tại Bảo Việt Yên Bái song đã gắn bó với nghề ươm cây giống cách đây hơn 20 năm. Nhận thấy phong trào trồng rừng trên địa bàn tỉnh đang phát triển mạnh, trong khi nguồn cung ứng cây giống lại còn quá ít, nên người dân trồng rừng đều phải mua giống về từ các tỉnh khác gia đình chị đã quyết định ươm thử.
Lúc đầu, chị làm với quy mô nhỏ chỉ vài nghìn cây/năm, song nhận thấy nhu cầu cây giống phục vụ cho việc trồng rừng mới ngày càng tăng, chị nâng lên vài trăm nghìn cây/năm và đến nay gia đình chị đã duy trì từ 2 - 2,5 triệu cây/năm.
Theo thị trường, keo, mỡ, quế giống có giá từ 300 - 350 đồng/cây, sau khi trừ chi phí mua vật tư, thuê nhân công lao động, mỗi năm gia đình chị có thu nhập trên 300 triệu đồng từ làm cây giống. Cũng ở tổ 57, phường Minh Tân còn có vườn ươm cây giống của gia đình chị Trần Thị Tuyết. Trước đây, hai vợ chồng chị Tuyết đều công tác tại Sở NN&PTNT.
Năm 1992, sau khi nghỉ chế độ 176, với kinh nghiệm của một người làm trong ngành nông nghiệp, chị Tuyết đã đầu tư ngay làm vườn ươm cây giống với quy mô hàng nghìn cây/năm. Có cơ hội phát triển, chị Tuyết đã thuê thêm đất để mở rộng vườn ươm gia đình lên quy mô hàng triệu cây/năm.
Mỗi năm, gia đình chị xuất bán ra thị trường từ 2,5 - 3 triệu cây giống, trừ chi phí lãi hàng trăm triệu đồng. Ngôi nhà xây khang trang trị giá trên 700 triệu đồng là minh chứng rõ nhất cho những thành quả lao động của anh chị tích cóp từ làm cây giống trong suốt những năm qua. Không chỉ giúp phát triển kinh tế gia đình mà hơn hết, số cây giống này sẽ phát triển thành rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc.
Không chỉ có gia đình chị Phương, chị Tuyết mà ở khu vực phố Tân Nghĩa, Tân Trung, phường Minh Tân đã có khoảng chục hộ có vườn ươm cây giống cung cấp trên địa bàn tỉnh và các tỉnh lân cận như Lào Cai, Lai Châu và Tuyên Quang. Nghề ươm cây giống không chỉ mang lại thu nhập lớn cho các hộ gia đình ấy mà còn tạo được việc làm cho nhiều lao động địa phương với mức thu nhập từ 3 - 5 triệu đồng/ người/ tháng.
Vào mỗi vụ trồng rừng, những người dân ở khu vực này lại tất bật làm đất, làm bầu, ươm cây. Nhờ nghề ươm cây giống mà nhiều ngôi nhà mới khang trang đã mọc lên. Cùng với đó sẽ có các cánh rừng ở nhiều nơi sẽ được phủ xanh. Không chỉ vậy, những vườn ươm trong phố còn làm đẹp thêm không gian đô thị, tạo ra bầu không khí trong lành, góp phần vào việc xây dựng thành phố Yên Bái trở thành thành phố sinh thái trong tương lai. (Báo Yên Bái 31/12) đầu trang(
Sếu đầu đỏ là 1 trong 5 yếu tố giúp Vườn Quốc gia Tràm Chim vượt qua nhiều “đối thủ” để trở thành khu ramsar thứ 2.000 thế giới. Tuy nhiên, 20 năm nay, lượng sếu đến Tràm Chim từ 1.100 con đã giảm xuống chỉ còn khoảng 100 con/năm, thậm chí có năm không về
Vườn Quốc gia (VQG) Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp được xem là quê hương thứ hai của sếu đầu đỏ. Tuy nhiên, ở đây ngày càng xuất hiện nhiều mối đe dọa đối với loài chim mang biểu tượng linh thiêng này.
Theo ông Nguyễn Hoài Bão, giảng viên Khoa Sinh học Trường ĐH Khoa học Tự nhiên TP HCM, sếu đầu đỏ sinh sản ở Campuchia, tháng 8-12 hằng năm bay sang Việt Nam kiếm ăn. Chúng chỉ sống ở vùng đất ngập nước, ngủ cũng phải có nước xăm xắp chân. Vì thế, các đồng cỏ năng rộng lớn của VQG Tràm Chim chính là nơi sinh sống lý tưởng, sếu có thể tìm thức ăn là củ năng kim, cỏ, ếch, nhái, cá, ốc…
Sếu đầu đỏ đã trở thành biểu tượng của Tràm Chim và là một trong những yếu tố đặc trưng giúp VQG này trở thành ramsar (khu đất ngập nước) thứ 2.000 thế giới vào cuối năm 2012. Vậy nhưng, từ sau năm 2000, sếu về Tràm Chim chưa năm nào đạt đến con số 200 con. So sánh với thời điểm trước năm 1990 (khoảng 1.000-1.100 con/năm) sẽ thấy số lượng sếu trong 20 năm qua suy giảm nghiêm trọng. Theo Ban Quản lý VQG Tràm Chim, số lượng sếu về đây hiện chỉ trên dưới 100 con.
Ông Bảo cho rằng khác với nhiều loài quý hiếm, sếu đầu đỏ không thuộc đối tượng bị săn bắt trộm. Nguyên nhân khiến đàn sếu về Việt Nam suy giảm là do bị thu hẹp sinh cảnh sống. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng các vùng đất ngập nước của Tràm Chim thành đất nông nghiệp thời gian qua đã thu hẹp vùng đất sống của sếu.
Bên cạnh đó, để phòng chống cháy rừng tràm, chính quyền địa phương đã phát triển quá nhiều hệ thống kênh đào, nhiều vùng đất ngập nước trở nên ngập úng quanh năm. Chính chế độ thủy văn không phù hợp đã thay đổi hệ sinh vật, nhất là cỏ năng kim bị chết hoặc không cho củ để sếu ăn. Sự biến động quần thể sếu ở Tràm Chim cho thấy chiều hướng đi đến tuyệt chủng loài chim này.
Ông Nguyễn Văn Hùng, Giám đốc VQG Tràm Chim, cho biết khu vực này còn bị một số loài ngoại lai nguy hại, nhất là cây mai dương, xâm lấn. Loài cây này đang hủy hoại dần những đồng cỏ năng kim, làm mất thức ăn và bãi ngủ của sếu. Ngoài ra, biến đổi khí hậu cùng với việc xây dựng các đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mê Kông đã làm thay đổi chế độ thủy văn của Tràm Chim. Trong khi đó, chế độ thủy văn chính là yếu tố quyết định sự “tồn vong” của một vùng đất ngập nước.
Ngoài VQG Tràm Chim, khu vực đồng cỏ Phú Mỹ ở Kiên Giang cũng là nơi kiếm ăn của sếu đầu đỏ. Tuy nhiên, theo TS Vũ Ngọc Long, Viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam, nguy cơ thu hẹp sinh cảnh sống của sếu ở khu vực này không khác gì VQG Tràm Chim.
Năm 2002, Hội Sếu quốc tế đã tài trợ khoảng 500.000 USD để thực hiện dự án “Khai thác bền vững đồng cỏ bàng kết hợp bảo tồn nghề thủ công địa phương”. Bên cạnh việc bảo tồn đồng cỏ bàng tự nhiên lớn nhất còn lại của vùng ĐBSCL và bảo vệ sinh cảnh cho sếu đầu đỏ, dự án còn quan tâm đào tạo nghề, tạo việc làm cho người dân địa phương để cùng bảo tồn, phát triển đồng cỏ vững chắc.
“Theo một cán bộ Ban Quản lý đồng cỏ bàng Phú Mỹ, đây là khu vực duy nhất ở ĐBSCL bảo vệ được 1.200 ha đồng cỏ và rừng tràm tự nhiên, phục hồi 60 ha và trồng mới 20 ha cỏ năng, khôi phục hệ sinh thái bền vững để thu hút sếu đầu đỏ trở về” - TS Long cho biết. Tuy nhiên, theo quan sát của TS Long, giữa màu xanh của đồng cỏ năng đã xen lẫn màu vàng của lúa vì nhiều người dân đã canh tác đến đây. Dẫu vậy, lúa chết cháy và không có hạt vì thiếu nước, không phù hợp thổ nhưỡng.
Tại khu vực này, nhiều người còn đang đào đất để nuôi tôm. Các nhà bảo tồn không khỏi lo lắng về sự thu hẹp và biến mất của đồng cỏ bàng trong “cuộc chiến” giành đất giữa người và sếu đầu đỏ nếu không có sự can thiệp của chính quyền địa phương bằng một quy hoạch rõ ràng giữa vùng đất sản xuất với bảo tồn. (Người Lao Động 31/12) đầu trang(
Trong năm 2013, các địa phương tích cực thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ; chấn chỉnh hoạt động của lực lượng kiểm lâm. Vì vậy, các vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng giảm 2.300 vụ so với năm 2012.
Công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng cũng có nhiều chuyển biến tích cực. Tổng diện tích rừng bị thiệt hại là 1.964 ha, giảm 39,1% so với năm trước. Diện tích rừng trồng mới đạt 205.100ha, tăng 9,7% so năm 2012. (Đại Biểu Nhân Dân 30/12) đầu trang(
Chiếm tỷ trọng khá lớn trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, ngành gỗ đã góp phần vào kim ngạch xuất khẩu chung của toàn tỉnh Đắk Lắk; đồng thời giải quyết việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, sự phát triển của ngành công nghiệp này hiện đang đối mặt với nhiều thách thức do nguồn nguyên liệu thiếu ổn định và thiếu sản phẩm tinh chế.
Theo Sở NN&PTNT, nhu cầu về gỗ xẻ và đồ gỗ gia dụng của người dân trên địa bàn tỉnh ta sẽ tăng cao vào giai đoạn 2010-2020. Nếu các năm 2006-2010, yêu cầu gỗ xẻ bình quân 48.000m3/năm; đồ gỗ 12.400m3/năm, thì đến giai đoạn 2011-2020 sẽ tăng lên con số 80.000m3, và sau 2020 mức bình quân có thể tăng lên 180.000m3/năm.
Theo kế hoạch đề ra trong chiến lược lâm nghiệp tỉnh giai đoạn 2006-2020 có thể cung cấp khoảng 50.000 m3/năm. Tuy nhiên, hiện nay nguồn nguyên liệu tự nhiên ngày càng giảm dần, nên nguyên liệu chủ yếu sẽ là từ rừng trồng và nhập khẩu. Bình quân mỗi năm Đắk Lắk trồng mới khoảng 4.000 ha rừng, nhưng do thiếu sự gắn kết giữa các đơn vị, cá nhân trồng rừng với doanh nghiệp, cơ sở chế biến gỗ nên hiệu quả kinh tế mang lại không như mong muốn, người dân không mặn mà với trồng rừng; và trồng rừng kinh tế chỉ tập trung ở một số công ty lâm nghiệp (trong khi các công ty này lại thiếu và yếu về tiềm lực tài chính).
Do vậy, hình thức liên kết với người dân, một trong những phương thức được đánh giá là hiệu quả, khai thác được quỹ đất và sức lao động trong dân giờ đã không phát huy được do hiệu quả kinh tế không cạnh tranh được với các cây trồng ngắn ngày. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng như người dân gần như không thể tiếp cận vốn vay của các tổ chức tín dụng cho trồng và chăm sóc rừng…
Theo ý kiến của các doanh nghiệp trồng rừng: để phát triển được rừng trồng, đáp ứng nhu cầu chế biến lâm sản thì tỉnh cần có chính sách hỗ trợ về đất đai, cơ chế tín dụng; đẩy mạnh công tác quy hoạch đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu tập trung gắn với việc xây dựng nhà máy, phân xưởng… Có như vậy mới khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia trồng rừng phát triển vùng nguyên liệu ổn định.
Chiếm 25-30% giá trị sản xuất công nghiệp chế biến toàn tỉnh và 50-60% giá trị chế biến nông, lâm sản, với kim ngạch xuất khẩu đạt 6 đến 7,5 triệu USD… thế nhưng sự phát triển của ngành chế biến lâm sản trên địa bàn tỉnh ta đang thiếu tính bền vững.
Có thể dễ dàng nhận thấy điều đó qua mạng lưới chế biến lâm sản chủ yếu chỉ là cơ sở chế biến nhỏ và siêu nhỏ, nhất là ở các khu vực làng nghề, người lao động hầu như không được đào tạo cơ bản nên khả năng làm chủ công nghệ, thiết bị sản xuất không cao; đặc biệt, số công nhân kỹ thuật và công nhân lao động trực tiếp được đào tạo ở các nghề đòi hỏi trình độ chuyên môn sâu về chế biến gỗ không nhiều. Đây cũng chính là nguyên nhân tại sao các doanh nghiệp tỉnh ta chưa tạo ra được những sản phẩm cao cấp để cạnh tranh với sản phẩm của các doanh nghiêp trong nước, chứ chưa nói đến các doanh nghiệp nước ngoài.
Theo kết quả kiểm tra của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, toàn tỉnh hiện có 110 cơ sở chế biến gỗ và lâm sản nằm rải rác tại các cụm, điểm công nghiệp và địa bàn các huyện, thành phố Buôn Ma Thuột, với quy mô sản xuất nhỏ, công suất từ 1.000-3.000m3/năm. Việc ngành công nghiệp này chưa được tổ chức sản xuất hoàn chỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã làm cho năng lực chế biến thấp, các doanh nghiệp và cơ sở chế biến chưa chú trọng đầu tư máy móc hiện đại, quy trình công nghệ còn lạc hậu; trong khi sản phẩm gỗ xẻ là chủ yếu và được tiêu thụ ngoài tỉnh nên hiệu quả kinh tế không cao.
Để khắc phục tình trạng này, tỉnh chủ trương không khuyến khích mở rộng các cơ sở chế biến sử dụng nguồn nguyên liệu từ rừng tự nhiên, mà khuyến khích các đơn vị đầu tư thay đổi máy móc, dây chuyền công nghệ để chế biến gỗ từ rừng trồng hoặc liên kết gia công với các đơn vị sản xuất đồ mộc.
Thời gian qua, để từng bước lành mạnh hóa hoạt động chế biến lâm sản, tỉnh đã tổ chức sắp xếp lại mạng lưới các cơ sở chế biến này theo tiêu chí: không gần rừng, không gây ô nhiễm môi trường, không gần khu dân cư và có sự phân bố hợp lý trên địa bàn các huyện và thành phố; các cơ sở nằm rải rác cần được tập trung vào các khu cụm công nghiệp chế biến theo quy hoạch của chính quyền từng địa phương. Đây là những giải pháp để chấn chỉnh lại hoạt động của mạng lưới chế biến lâm sản phát triển tự phát, tồn tại nhiều năm nay ở tỉnh Đắk Lắk .(Báo Đắk Lắk 30/12) đầu trang(
Tòa tuyên phạt 2 bị cáo mỗi người 3 năm tù (1 người được hưởng án treo) về tội “Huỷ hoại rừng”. Tuy nhiên, theo trình bày của 2 bị cáo, biên bản khám nghiệm hiện trường đã không căn cứ vào các cột mốc rừng có thật mà lấy các cột mốc không có trên hiện trường để xác định tội danh của họ…
Theo hồ sơ, khoảng năm 1987, ông Huỳnh Văn Mật cho con ruột là bà Huỳnh Thị Bích Phượng thửa đất thuộc ấp 3 xã Cửa Cạn, bà Phượng trồng 500 bụi tiêu và tràm bông vàng. Năm 2010 bà Phượng và chồng là ông Trần Kiều Hưng làm đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) với diện tích 17.440m2 của thửa đất trên. Sau đó, UBND huyện Phú Quốc cấp GCNQSDĐ cho vợ chồng ông Hưng với diện tích 6.750,5m2.
Khoảng tháng 9.2011 bà Phượng và ông Hưng thuê người phát dọn đất, thì vào ngày 2.11.2011, Trạm Kiểm Lâm xã Cửa Cạn đến lập biên bản đình chỉ, cho rằng, phần đất mà vợ chồng ông Hưng phát dọn đã nằm ngoài diện tích mà họ được cấp GCNQSDĐ trước đó. Sau đó, ông Hưng, bà Phượng không chấp hành mà tiếp tục thuê người vào thửa đất gom đốt các cây rừng đã chặt phá trồng mì và dừa.
Ngày 25.5.2012, ngành chức năng huyện Phú Quốc, kết hợp với chính quyền xã Cửa Cạn tiến hành kiểm tra thực địa, toạ độ, vị trí ranh giới tại hiện trường và xác định, diện tích 4.042m2 mà vợ chồng ông Hưng phát dọn nằm trong ranh giới Vườn Quốc gia Phú Quốc (tại tiểu khu 81 phân khu phục hồi sinh thái).
Ngày 8.3.2013, Viện KSND huyện Phú Quốc ra cáo trạng số 24/KSDT-TA truy tố ôngTrần Kiều Hưng và bà Huỳnh Thị Bích Phượng về tội “Huỷ hoại rừng”. Ngày 16.5.2013 TAND huyện Phú Quốc đưa vụ án ra xét xử và tuyên phạt bị cáo Trần Kiều Hưng 3 năm tù giam, bị cáo Huỳnh Thị Bích Phượng 3 năm tù, cho hưởng án treo về tội “Huỷ hoại rừng”.
Ông Hưng, bà Phượng đã kháng cáo cho rằng, phần diện tích họ phát dọn không nằm trong ranh Vườn Quốc gia Phú Quốc, nên họ không phạm tội “Huỷ hoại rừng”. Ngoài ra, biên bản khám nghiệm hiện trường đã căn cứ vào các cột mốc 111 và 109 để xác định vợ chồng ông Hưng về tội “Huỷ hoại rừng” là oan sai, vì trên thực tế, diện tích đất vợ chồng ông Hưng phát dọn hoàn toàn không có các cột mốc nêu trên, mà chỉ có các cột mốc mang số 103-104-105.
Theo tìm hiểu của PV, hiện tại, cột mốc 104 nằm trên phần đất của vợ chồng ông Hưng, còn cột mốc 105 thuộc phần đất liền kề do ông Đào Hữu Phước sử dụng, còn cột mốc 103 nằm trên thửa đất của ông La Quốc Chiến.
Sau khi vụ việc xảy ra, các thành viên trong ban lãnh đạo ấp 3 cùng bà con xã Cửa Cạn đã làm tờ trình, xác nhận vị trí các cột mốc 103-104-105 đúng như trên, gửi đến TAND tỉnh Kiên Giang với mong muốn xác minh lại hiện trường, vì điều này có liên quan đến việc quyết định tội danh của một con người.
Ông Lý Văn Tuôl – nguyên Bí thư chi bộ ấp 3, xã Cửa Cạn cho biết, biên bản khám nghiệm hiện trường đã không căn cứ vào các cột mốc rừng có thật mà lấy các cột mốc không có trên hiện trường để xác định ông Hưng, bà Phượng phá rừng là không khách quan. Nếu biên bản này không đúng mà ngành chức năng theo đó để truy tố vợ chồng ông Hưng, và toà lại dựa vào đây để tuyên án thì khó tránh khỏi oan sai. (Lao Động 30/12) đầu trang(
Báo Tài nguyên & Môi trường đã phản ánh về việc hàng loạt doanh nghiệp kinh doanh lâm sản trên địa bàn huyện Diễn Châu đồng loạt “tố” ông Nguyễn An Ninh – Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Diễn Châu vì những biểu hiện tiêu cực của vị này trong khi thi hành công vụ. Ngày 30/12, các cơ quan chức năng tỉnh Nghệ An sẽ đưa ra hình thức xử lý kỷ luật đối với vị Hạt trưởng này.
Ông Nguyễn An Ninh mới chuyển về công tác tại Hạt kiểm lâm Diễn Châu vào tháng 9 năm 2012 (trước đó là Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Nghi Lộc). Dù thời gian chưa lâu nhưng từ ngày ông Ninh về nhận nhiệm vụ Hạt trưởng Hạt kiểm lâm tại huyện này đã gây dư luận không tốt trong giới kinh doanh lâm sản cũng như gây nhiều bất bình trong dư luận người dân. Ông Ninh đã có nhiều việc làm gây nên bức xúc và sự phản kháng của các doanh nghiệp kinh doanh gỗ cũng như các hộ dân tham gia kinh doanh trong lĩnh vực này có thể coi là điều dễ hiểu.
Cụ thể, vừa qua đã có hai doanh nghiệp đứng đơn tố cáo (có đóng dấu Công ty) ông Hạt trưởng Nguyễn An Ninh. Đó là, Công ty TNHH Kinh doanh XNK Lâm sản Tám Oanh (xã Diễn Thịnh) và Công ty Trình Độ (xã Diễn Xuân).
Ngoài ra còn có 06 cá nhân ở xã Diễn Mỹ hoạt động trong nghề kinh doanh lâm sản viết đơn tố cáo ông Ninh. Đó là ông Phạm Anh Dũng; Hoàn Tùng; Hoàng Như Nhiêm; Đinh Thị Lan; Đinh Thị Hoa; Nguyễn Thị Sáu. Tất cả những đơn từ này đều tố cáo ông Hạt trưởng Hạt kiểm lâm hyện Diễn Châu – Nguyễn An Ninh sách nhiều, gây phiền hà; vòi vĩnh tiền bồi dưỡng một cách trắng trợn...
Sau khi có kết luận của thanh tra Chi cục kiểm lâm Nghệ An về những sai phạm của ông Ninh. Ngày 20/12, Chi cục kiểm lâm Nghệ An đã tiến hành họp kiểm điểm trách nhiệm Hạt trưởng kiểm lâm Diễn Châu và các cá nhân liên quan để xẩy ra sai phạm theo nội dung kết luận đơn thư tố cáo của công dân và kết luận kiểm tra xác nhận lâm sản tại Hạt kiểm lâm Diễn Châu dưới sự chủ trì của ông Trần Ngọc Chính – Phó Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Nghệ An.
Qua đó, ông Chính kết luận về lỗi phạm và trách nhiệm các cá nhân liên quan, trong đó nêu rõ những vi phạm cụ thể của ông Nguyễn An Ninh – Hạt trưởng như sau: “Thứ nhất, nhận tiền bồi dưỡng trái quy định. Thứ hai, ký xác nhận lâm sản tại nhà riêng mà pháp luật không cho phép. Thứ ba, gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp trong việc xác nhận lâm sản có nguồn gốc hợp pháp.
Thứ tư, không hoàn thành nhiệm vụ, để xẩy ra nhiều vụ mua bán, kinh doanh lâm sản trên địa bàn quản lý. Thứ năm, Xác nhận nhiều bộ hồ sơ lâm sản vận chuyển cho các doanh nghiệp trái với thông tư 01 – BN&PTNT. Thứ sáu, Tự ý in ấn mẫu biểu biên bản kiểm tra trái quy định của ngành.
Như vậy là Hạt trưởng, người đứng đầu đơn vị đã để xảy ra nhiều sai phạm khá nghiêm trọng mà không có biện pháp ngăn chặn” – Biên bản cuộc họp nêu rõ. Qua biểu quyết kiến nghị hình thức kỷ luật tại cuộc họp, trong số 11 phiếu thì có 04 phiếu buộc thôi việc, 01 phiếu cách chức, 1 phiếu giáng chức, 04 phiếu cảnh cáo, 01 phiếu hạ bậc lương.
Sau đó, ngày 24/12, Chi bộ Hạt kiểm lâm Diễn Châu tiếp tục tiến hành họp bất thường để đưa ra hình thức kỷ luật về mặt đảng đối với ông Nguyễn An Ninh - Hạt trưởng, kiêm Bí thư chi bộ Hạt kiểm lâm Diễn Châu. Trong tổng số 09 phiếu biểu quyết thì có 09/09 phiếu đồng ý kỷ luật (bằng 100%), 0 phiếu không kỷ luật (bằng 0%). Trong đó, 03 phiếu biểu quyết hình thức kỷ luật là khai trừ khỏi đảng; 02 phiếu cách chức; 03 phiếu cảnh cáo; 01 phiếu khiển trách.
Trao đổi với PV, ông Lê Sỹ Chiến - Phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy Diễn Châu, cho biết: “Thông tin liên quan đến chỗ anh Ninh chúng tôi đã nắm được. Vừa qua, trong cuộc họp Chi bộ Hạt kiểm lâm Diễn Châu tôi cũng có sang tham dự. Quan điểm của Ủy ban Kiểm tra là xử lý theo đúng sai phạm, sai phạm đến đâu sẽ xử lý đến đó!”.
Ông Hồ Ngọc Sỹ - Giám đốc Sở NN&PTNT Nghệ An, khẳng định: “Sự việc đơn thư tố cáo cán bộ Hạt kiểm lâm Diễn Châu tôi đã nắm được. Hiện đang chỉ đạo xử lý!”.
Sáng ngày 28/12, liên hệ qua điện thoại, ông Đinh Viết Hồng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, nói: “Đây là việc thuộc thẩm quyền xử lý của Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn. Theo tôi được biết, ngày 30/12 tới đây Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn sẽ họp và đưa ra hình thức xử lý kỷ luật đối với ông Nguyễn An Ninh”. (Tài Nguyên&Môi Trường 29/12) đầu trang(
Mấy ngày qua, Báo Nông Thôn Ngày Nay liên tiếp nhận được kiến nghị của người dân bản Ta Có xã Chà Nơ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên về việc cán bộ kiểm lâm trên địa bàn thực hiện thu gỗ của dân trái pháp luật.
Ông Thùng Văn Quý - nguyên Trưởng bản Ta Có cho biết: Ngày 13.12, nhiều cán bộ kiểm lâm huyện đã kéo nhau về bản, định thu hồi gỗ của dân. Đây là số gỗ dân lấy về chuẩn bị làm nhà ở theo kiểu nhà sàn dân tộc Thái. Bà con đã kéo nhau ra đấu tranh lại với cán bộ kiểm lâm nên họ tạm rút, nhưng vẫn chưa thôi ý định thu gỗ của dân. Điều đáng nói là "việc thu hồi gỗ này diễn ra như... ăn cướp. Năm ngoái họ cũng thu 4 cái cột của dân trong khi chủ nhà đi vắng và chẳng có biên bản, giấy tờ gì" - ông Quý phản ánh.
Trao đổi với Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Nậm Pồ - ông Lê Văn Mão, được biết: Vụ việc thu hồi gỗ ngày 13.12 và dẫn tới đông người kéo ra cản trở kiểm lâm thu hồi gỗ ở bản Ta Có là có thật. Bản thân ông Mão cũng mới chuyển từ Mường Nhé về đây làm Hạt trưởng nên cũng chưa nắm được sâu sát tình hình những gì diễn ra trước thời điểm đó.
Đối với số gỗ hiện đang có tại bản Ta Có, theo ông Mão "đều là gỗ khai thác sai quy định, trong đó có 1 hộ dân thật sự chưa có nhà ở vững chãi, thuộc diện hộ nghèo cần làm lại nhà ở, còn 1 hộ khác cũng khai thác gỗ nhưng không thuộc diện nghèo phải làm lại nhà. Bởi vậy, Hạt Kiểm lâm đang tham mưu với UBND huyện, xin ý kiến về cách giải quyết nhưng quan điểm là cái nào sai sẽ phải xử lý triệt để, kiểm lâm sai đâu cũng phải sửa tới đó.
Hiện nay, tỉnh Điện Biên vẫn đang thực hiện chính sách hỗ trợ người dân làm nhà theo Quyết định 167 của Chính phủ nên tình trạng khai thác rừng để làm nhà vẫn diễn ra. Dù luật đã quy định chặt chẽ về đối tượng được hưởng chính sách, cách thức làm thủ tục xin khai thác gỗ để làm nhà nhưng do hiểu biết của người dân có hạn nên vi phạm vẫn xảy ra.
Lực lượng kiểm lâm cần có sự phối hợp với chính quyền cơ sở, chủ động trong tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn người dân thực thi, giảm thiểu khai thác lâm sản trái pháp luật chỉ vì không hiểu luật; gây bức xúc trong nhân dân. (Nông Thôn Ngày Nay 30/12) đầu trang(
Về vụ hủy hoại rừng phòng hộ ven biển lần đầu tiên xảy ra trên địa bàn huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng vào tháng 4/2013, huyện Tiên Lãng đang khẩn trương đưa vụ việc ra xử lý theo đúng pháp luật và khắc phục diện tích rừng đã bị phá.
Đến nay, đối tượng có hành vi phá rừng ngập mặn đã san gạt bờ vùng đào đắp, hoàn trả lại mặt bằng và trồng lại toàn bộ diện tích 5ha rừng đã phá với gần 1.000 cây bần. Hiện, cây đang lên xanh tốt.
Trước đó, tháng 4/2013, ông Nguyễn Văn Toán trú tại thôn Trung Hưng, xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng đã chỉ đạo Nguyễn Trọng Tuyên (sinh năm 1979, cũng trú tại thôn Trung Hưng, xã Đông Hưng) thuê máy xúc phá rừng, đào đắp bờ vùng để chăn nuôi gia cầm và nuôi trồng thủy sản tại khu đất bồi bãi ven biển thuộc địa bàn xã Đông Hưng, cách đê biển khoảng 1.000m.
Ngày 18/4, Phòng NN&PTNT, Phòng TN&MT huyện Tiên Lãng, Hạt quản lý đê điều, Đồn biên phòng Vinh Quang, xã Đông Hưng đã kiểm tra và xác định, gia đình ông Nguyễn Văn Toán đã hoàn thiện bờ bao khoanh vùng nuôi trồng thủy sản với kích thước mặt rộng 1m, chân rộng 4m, cao 1,2m, chiều dài song song với đê biển 244m, chiều rộng 127m; diện tích vùng được quây là 30.988m2; diện tích rừng bị chặt phá do đào đắp bờ gây ra là 6.300m2. Diện tích cây bị phá là loại cây được trồng từ những năm 1980.
Đoàn kiểm tra đã lập biên bản tại hiện trường và yêu cầu ông Toán dừng ngay việc phá hoại rừng và có biện pháp khôi phục lại hiện trạng ban đầu. Việc làm trên của ông Toán đã vi phạm pháp luật .
Huyện Tiên Lãng đã yêu cầu ông Toán phải tự san lấp lại bờ bao vùng đã đắp và khôi phục lại diện tích rừng đã chặt phá để trả lại hiện trạng ban đầu; đồng thời, yêu cầu Chủ tịch xã Đông Hưng phải xử lý dứt điểm các vi phạm, nếu không sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước huyện và pháp luật.
Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện Tiên Lãng cũng đã ra quyết định khởi tố 3 bị can, trong đó tạm giam 1 bị can với thời gian 4 tháng. Ngày 1/12, cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện Tiên Lãng đã chuyển hồ sơ sang Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng tiếp tục xử lý vụ việc theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyên Văn Tùng, Chủ tịch huyện Tiên Lãng cho biết, huyện Tiên Lãng là địa phương có diện tích đất bãi bồi ven biển và diện tích rừng phòng hộ bảo vệ đê biển lớn, do đó công tác quản lý gặp nhiều khó khăn. Để xảy ra vụ việc vừa qua, trách nhiệm trước hết thuộc về địa phương và các cơ quan chức năng như: Hạt kiểm lâm-Chi cục Kiểm lâm Hải Phòng, Đồn Biên phòng Vinh Quang, xã Đông Hưng...
Huyện Tiên Lãng nghiêm túc kiểm điểm và chỉ đạo các cơ quan liên quan kiểm điểm rút kinh nghiệm; đồng thời giao nhiệm vụ cho các cơ quan này tăng cường công tác tuyên truyền tới người dân về tầm quan trọng của rừng phòng hộ ven biển; thường xuyên kiểm tra, phát hiện hành vi hủy hoại rừng, kiên quyết xử lý nghiêm theo pháp luật. (VietnamPlus.vn 31/12) đầu trang(
Công an huyện Phúc Thọ, Hà Nội vừa phát hiện, xử lý vụ nuôi nhốt, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Cụ thể, trong quá trình kiểm tra hành chính nhà hàng Vinh Thủy (ở cụm 4, thị trấn Phúc Thọ, huyện Phúc Thọ, Hà Nội) lực lượng Công an phát hiện tại đây đang nuôi nhốt một cá thể mèo rừng (thuộc nhóm IB, nghiêm cấm khai thác sử dụng về mục đích thương mại).
Ông Khuất Công Vinh, chủ nhà hàng Vinh Thủy khai nhận mua con mèo rừng trên với giá tiền 750.000 đồng của một người không rõ tên tuổi. Ông đã nhốt mèo rừng vào lồng sắt “trưng bày” trước cửa hàng với mục đích nếu gặp khách có nhu cầu mua lại với giá cao sẽ giết mổ để bán.
Hiện Công an huyện Phúc Thọ đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Khuất Công Vinh về hành vi nuôi nhốt, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. (Công An Nhân Dân 30/12; An Ninh Thủ Đô 31/12) đầu trang(
Sáng 30-12, TAND huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm lưu động đối với nhóm lâm tặc gồm các đối tượng Phạm Văn Lúi, 33 tuổi, Phạm Văn Máy, 21 tuổi, Phạm Văn Uôi, 25 tuổi, đều ở thôn Mang Krúi, xã Ba Lế, huyện huyện Ba Tơ về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
Vào tháng 4-2012 các đối tượng trên rủ nhau đi khai thác gỗ keo của rừng phòng hộ Ba Tơ. Nhóm lâm tặc trên thuê nhiều người dùng cưa máy hạ gỗ rừng và thuê ô tô chở đi tiêu thụ. Sau khi bán gỗ, 3 đối tượng trên lấy tiền chia đều. Tiếp tục trong lúc khai thác gỗ phòng hộ và vận chuyển đi tiêu thụ thì bị Hạt Kiểm Lâm huyện Ba Tơ phát hiện bắt giữ.
Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt bị cáo Phạm Văn Lúi 12 tháng tù giam, Phạm Văn Máy và Phạm Văn Uôi đều 10 tháng tù giam. (An Ninh Thủ Đô 31/12; Công An Nhân Dân 30/12) đầu trang(
Các cơ quan chức năng đã tiến hành kiểm tra, cân đo lại container chở theo 46m3 gỗ trắc nhập khẩu đang bị tạm giữ tại Công an Hà Tĩnh do nghi vấn gian lận thủ tục thông quan tại Cửa khẩu Lao Bảo - Quảng Trị.
Liên quan đến lô gỗ trắc có số lượng lên tới 46m3 của Cty TNHH S.Đ.H. (Nghệ An) đang bị tạm giữ tại Hà Tĩnh, chiều ngày 30/12, các cơ quan, bao gồm Phòng Cảnh sát môi trường, Viện kiểm sát và Chi cục kiểm lâm đã tiến hành kiểm tra, cân đo lại toàn bộ số gỗ.
Một cán bộ trong đoàn kiểm tra thông tin, việc kiểm tra lại số gỗ được lập hồ sơ chi tiết, bao gồm kích thước, khối lượng của từng lóng/phiến gỗ. Sau khi có số liệu thực tế, cơ quan chức năng sẽ đối chiều với hồ sơ thông quan của doanh nghiệp, từ đó có hướng xử lý phù hợp.
Như đã phản ánh, ngày 7/12, Phòng CSMT CA tỉnh đã kiểm tra và tạm giữ Container mang BKS 37C-076.14 chở theo khoảng 46m3 gỗ trắc (trị giá trên thị trường khoảng 40 tỷ đồng) nghi có gian lận thủ tục thông quan.
Lô gỗ trắc này đã được Hải quan cửa khẩu Lao Bảo, Quảng Trị cho thông quan vào ngày 6/12, sau khi có kết quả giám định là trắc Lai, đúng chủng loại với hồ sơ thông quan.
Tuy nhiên, kết quả giám định do CA Hà Tĩnh gửi đi lại cho kết quả xe gỗ trên thuộc chủng loại trắc bồng, thuộc nhóm quý hiếm, phải có giấy phép Cites khi nhập khẩu.
Trả lời về những nghi vấn hải quan tiếp tay cho doanh nghiệp gian lận thủ tục thông quan, lãnh đạo Hải quan Quảng Trị cũng như hải quan cửa khẩu Lao Bảo đều cho rằng, cơ quan này làm đúng quy trình.
Tuy nhiên, khi PV đưa ra những nghi vấn cụ thể, như việc DN chủ động xin giám định, trực tiếp mang và cầm kết quả giám định về rất không khách quan, lãnh đạo cơ quan Hải quan Quảng Trị giải thích rất mâu thuẫn.
Hiện vẫn chưa có thông tin về hướng xử lý tiếp theo đối với lô gỗ trắc này. (Vietnamnet.vn 31/12) đầu trang(
Việc một con cá mập dài hơn 2m vừa được phát hiện tại biển Nha Trang khiến người dân và du khách không khỏi lo ngại. Tuy nhiên, các chuyên gia hải dương học cho rằng đây là loài cá nhám đuôi dài, chỉ săn các loại cá nhỏ.
Chiều 26-12, tại bãi tắm trước công viên Phù Đổng (TP Nha Trang), nhiều người đã phát hiện một con cá mập dạt vào. Khi đưa lên bờ, con cá còn sống với nhiều vết thương. Con cá mập này dài hơn 2 m, đường kính lớn nhất vòng bụng 60-70 cm, ước trọng lượng 170-180 kg. Thấy vậy, nhiều du khách nước ngoài giành lấy con cá và thả xuống biển.
Việc cá mập xuất hiện ở Nha Trang khiến người dân tỏ ra lo sợ. Anh Bùi Anh Tuấn, một người dân địa phương, cho rằng cá mập đã xuất hiện và lảng vảng gần biển Nha Trang nên cần cảnh báo cho mọi người. Anh Nguyễn Đức Việt, một du khách, cũng e ngại: “Ở Quy Nhơn, cá mập đã tấn công người trọng thương, không ngờ Nha Trang cũng xuất hiện loại cá này. Chính quyền cần có biện pháp để bảo vệ sự an toàn cho người dân và du khách”.
Tuy nhiên, các chuyên gia Viện Hải dương học Nha Trang cho biết loài cá xuất hiện ở Nha Trang vừa rồi là cá nhám đuôi dài, họ cá mập, tên khoa học là Common Thiesher Shark Alopias Sp. Loại cá này thường tập trung ở khu vực cách bờ 60-90 km và sống ở nhiều vùng biển của nước ta. Loài cá này có miệng nhỏ, thường săn các đàn cá nhỏ như cơm, trích. Đây là loài cá được Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới xếp vào mức độ nguy cấp, cần được bảo vệ.
Theo TS Võ Sĩ Tuấn, Viện phó Viện Hải dương học Nha Trang, sở dĩ con cá trên trôi dạt vào bờ là do bị thương và gần chết. Loài cá này khác với 3 loài cá mập tấn công người ở biển Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
“Cá mập có hàng trăm loài nhưng rất ít loài làm hại đến con người. Do đó, người dân hoàn toàn yên tâm khi tắm biển tại Nha Trang” - ông Tuấn khẳng định.
TS Tuấn cho rằng trước đây, ở TP Quy Nhơn có vài trường hợp bị cá mập tấn công là vì khu vực biển này lắp đặt nhiều chà cá, bẫy lồng, chà tôm hùm, rạn nhân tạo…, thu hút các loài cá mập vào kiếm ăn. Khi vào bãi tắm đông người, nhiệt độ cao, nước đục nên loại cá này có thể ngẫu nhiên cắn vào chân, tay khách tắm biển vì tưởng nhầm con mồi. Trong khi đó, tại TP Nha Trang, khu vực nuôi lồng bè đều cách xa các bãi tắm. (Người Lao Động 30/12) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Ước tính có khoảng 5.000 gấu bắc cực con sẽ chào đời nhân dịp năm mới, theo số liệu của Quỹ Động vật hoang dã Thế giới (WWF).
RIA-Novosti dẫn thông báo của WWF cho hay số lượng gấu trắng tại bắc cực sẽ tăng mạnh trong dịp đầu năm 2014.
Mỗi năm, cứ vào ngày 29.12, WWF sẽ tổ chức ngày sinh nhật của gấu bắc cực, đánh dấu thời điểm giữa tháng 12 và tháng 1 khi gấu con chào đời. Đây là thông lệ do WWF đặt ra từ năm 2007.
Dự kiến sẽ có từ 5.000 - 6.000 gấu đang sinh sống tại vùng bắc cực thuộc Nga, trong khi trên toàn thế giới có khoảng 20.000 đến 25.000 gấu trắng. (Thanh Niên 31/12) đầu trang(
Liên Hợp Quốc đã ra quyết định công bố ngày 3/3 là Ngày Thế giới Động vật hoang dã để nâng cao nhận thức của con người về thực vật, động vật hoang dã trên thế giới.
Tại kỳ họp 68 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, các đại biểu nhất trí chọn ngày ngày 3 tháng 3 hằng năm, ngày thông qua Công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã (CITES), là ngày Động vật hoang dã Thế giới.
Đại hội đồng tái khẳng định giá trị nội tại của động vật hoang dã và những đóng góp khác nhau, bao gồm của cả sinh thái, di truyền,xã hội, kinh tế, khoa học, giáo dục, văn hóa, giải trí và thẩm mỹ trong sự phát triển bền vững và nâng cao sức khỏe con người. Đại hội đồng cũng đã yêu cầu Ban Thư ký CITES phối hợp với các tổ chức có liên quan của Liên Hợp Quốcphổ biến và tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả mọi người đều thực hiện tốt Ngày Động vật hoang dã.
Tổng thư kí Công ước CITES, ông John E. Scanlon, vui mừng phát biểu: "Ngày Thế giới Động vật hoang dã là một cơ hội lý tưởng để nhắc nhở con người nhớ đến sự đa dạng của động vật hoang dã và tình trạng tồi tệ hiện nay, nâng cao nhận thức cũng như đồng tâm đẩy mạnh cuộc chiến chống tội phạm buôn bán trái phép động vật hoang dã, đã, đang và sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và xã hội toàn cầu".
Với 179 quốc gia thành viên, Công ước CITES vẫn là một công cụ mạnh mẽ nhất trên thế giới để bảo tồn đa dạng sinh học thông qua các quy định thương mại động, thực vật hoang dã của hơn 35.000 loài. Công ước đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn cấm việc buôn bán trái phép các loài quý hiếm, bảo vệ môi trường sống tự nhiên cũng như đảm bảo lợi ích sinh kế cho người dân địa phương trong suốt 40 năm qua. (Tài Nguyên&Môi Trường 31/12) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||