|
Ngày 30 tháng 12 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Thủ tướng yêu cầu các địa phương trong cả nước phải đóng cửa rừng tự nhiên kể từ năm 2014 và không cho khai thác nhằm phục hồi rừng
Phát biểu kết luận tại hội nghị trực tuyến của Chính phủ với các địa phương về nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết hiện cả nước có 10,5 triệu ha rừng tự nhiên. Trong đó có 2 triệu ha rừng đặc dụng, 4 triệu ha rừng phòng hộ (là diện tích cấm khai thác), còn lại 4,5 triệu ha rừng tự nhiên nhưng cho khai thác có kế hoạch.
Tuy vậy, trong năm 2014 sẽ kiên quyết đóng cửa rừng tự nhiên, không cho khai thác để rừng phục hồi. Việc đóng cửa rừng sẽ giảm thu khoảng hơn 200 tỉ đồng. Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành liên quan tập trung chuyển 65 công ty lâm nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực khai thác, bảo vệ rừng tự nhiên sang mô hình các đơn vị công ích sự nghiệp có thu, sắp xếp và bố trí công việc cho khoảng 3.000 lao động đang làm việc tại các công ty này.
“Việc bố trí lại 65 công ty lâm nghiệp chỉ làm giảm thu 220 tỉ đồng. Đây là số tiền không lớn và chỉ sắp xếp khoảng 3.000 lao động thì chúng ta đều có thể làm được. Như Vinashin trước đây có hơn 10.000 lao động dôi dư mà chúng ta còn sắp xếp được” - Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh.
Chiều 28-12, ông Nguyễn Đức Sơn, Giám đốc Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Con Cuông (tỉnh Nghệ An, đơn vị hiện có 60 nhân viên đang được giao quản lý và bảo vệ 8.500 ha rừng), cho rằng quyết định đóng cửa rừng toàn quốc nếu thực thi sẽ đem lại nỗi buồn rất lớn cho ngành lâm nghiệp.
Theo ông Sơn, người đã 33 năm gắn bó với ngành lâm nghiệp, nếu đóng cửa rừng không có lộ trình sẽ để lại nhiều hậu quả khó lường. Đó không chỉ là câu chuyện chuyển đổi, sắp xếp việc làm cho những lao động ở các công ty lâm nghiệp mà quan trọng hơn, đó là chuyện giữ rừng. Nếu đóng cửa rừng tự nhiên thì tới đây, cuộc chiến bảo vệ rừng sẽ cực kỳ khốc liệt. Hằng năm, tỉnh chỉ hỗ trợ tiền quản lý bảo vệ rừng phòng hộ, còn rừng tự nhiên và rừng sản xuất thì chủ rừng phải tự tìm nguồn kinh phí để bảo vệ.
Ông Sơn cũng khẳng định không có nguồn nào khác ngoài việc lấy kinh phí còn dư từ khai thác gỗ rừng tự nhiên theo kế hoạch được giao hằng năm. Vì vậy, nếu đóng cửa rừng lúc này, các công ty lâm nghiệp sẽ không có tiền để trả công thuê người bảo vệ thì rừng tự nhiên bị mất là chắc chắn. Công sức từ mấy chục năm nay bảo vệ rừng của các công ty lâm nghiệp sẽ mất đi. Điều này có nghĩa nhà nước mất nhiều hơn được.
Ông Phùng Thế Tải, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp ĐạTẻh (tỉnh Lâm Đồng), cho biết huyện ĐạTẻh đã đóng cửa rừng tự nhiên cách đây mấy năm. Tiền bảo vệ rừng do tỉnh cấp về nhưng chỉ bảo đảm được 50% kinh phí chi trả bảo vệ rừng. Do không được khai thác rừng tự nhiên nên Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp ĐạTẻh rất khó khăn về tài chính cũng như việc quản lý bảo vệ rừng.
Ông Cao Chí Công - Vụ trưởng Vụ Sử dụng rừng, Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - cho rằng việc đóng cửa rừng là nhằm quản lý và bảo vệ rừng tự nhiên trong toàn quốc, chấn chỉnh việc khai thác gỗ một cách tràn lan. Tuy nhiên, cần có lộ trình bởi nếu không sẽ rất khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ rừng.
Theo ông Cao Chí Công, những hệ lụy có thể gặp phải khi thực hiện là 3.000 lao động ở các công ty lâm nghiệp và hàng chục ngàn lao động thời vụ ở các địa phương sẽ không có việc làm. Các công ty lâm nghiệp không có nguồn thu để quản lý bảo vệ rừng; nếu không có kinh phí đầu tư của nhà nước thì 65 công ty lâm nghiệp này sẽ có nguy cơ phải giải thể. Ngoài ra, việc cấm khai thác rừng tự nhiên sẽ khiến nhiều người không muốn nhận bảo vệ rừng nữa bởi không có nguồn lợi gì nhiều.
“Việc đóng cửa rừng tự nhiên lần này là chính thức chứ không phải tạm thời. Tất cả đều phải thực thi và không có chuyện công ty này được khai thác hay công ty kia không được khai thác” - ông Cao Chí Công khẳng định. (Người Lao Động 29/12) đầu trang(
Điểm nhấn trong ngành Lâm nghiệp là việc đẩy mạnh thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Theo đó, đã có 31 tỉnh thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng. Đến hết tháng 10/2013, nguồn thu từ phí dịch vụ môi trường rừng đạt 875 tỷ đồng.
Thứ trưởng Bộ NNPTNT Hà Công Tuấn cho biết: Ngoài điểm nhấn nói trên, năm 2013, các địa phương tích cực thực hiện Chỉ thị số 1685/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ; chấn chỉnh hoạt động của lực lượng kiểm lâm. Vì vậy, các vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng giảm nhiều so với năm 2012, giảm 2.300 vụ.
Bên cạnh đó, công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng cũng có nhiều chuyển biến tích cực. Tổng diện tích rừng bị thiệt hại là 1.964 ha, giảm 39,1%, trong đó diện tích rừng bị cháy là 1.156 ha, giảm 44,7%; diện tích rừng bị chặt phá là 808 ha, giảm 28,7%.
Diện tích rừng trồng mới tập trung trong năm nay đã đạt 205.100 ha, tăng 9,7% so năm 2012; số cây lâm nghiệp trồng phân tán là 50 triệu cây, tương đương năm 2012. Tỷ lệ che phủ từ cây rừng và cây có tán như cây rừng ước đạt 41,1%. (Nông Thôn Ngày Nay 30/12; Chinhphu.vn 28/12) đầu trang(
Qua thống kê của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Điện Biên, đến nay, hầu hết rừng thuộc lưu vực sông Đà đã được chi trả dịch vụ môi trường rừng là diện tích được giao cho cộng đồng quản lý và giao cho các đơn vị trực thuộc Nhà nước quản lý từ các chương trình, dự án tăng cường lâm nghiệp cộng đồng trước đó. Diện tích rừng thuộc đối tượng chi trả có đầy đủ hồ sơ, thủ tục để Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh chi trả tiền cho người dân không nhiều.
Đến nay, mới chỉ một số bản thuộc xã Mường Pồn (huyện Điện Biên), bản Trung Dình, Huổi Toóng 2 (xã Huổi Lèng, huyện Mường Chà), TX. Mường Lay và diện tích rừng được giao cho Ban Quản lý khu Bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé được chi trả 70% tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2012.
Số tiền còn lại 30% sẽ được thanh toán cho người dân sau khi Hạt Kiểm lâm các huyện phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức kiểm tra, nghiệm thu, đánh giá chất lượng rừng vào cuối năm. Dự kiến, trước tết Nguyên đán 2014, người dân các bản nói trên sẽ được chi trả nốt 30% tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2012.
Theo ông Lò Văn Hòa, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh: Quá trình rà soát, chỉnh lý hồ sơ địa chính, đo đạc thực địa, xác định trạng thái rừng ở lưu vực các lòng hồ thủy điện tốn rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc. Về nguyên tắc, không thể giao khoán bảo vệ rừng cho cộng đồng dân cư, người dân ở nơi không có rừng. Cơ quan chức năng phải rà soát, đánh giá cụ thể các loại rừng đã quy hoạch. Khi đã giao thì phải cắm mốc thực địa, quản lý hồ sơ bài bản, giúp người dân nhận biết được ranh giới trên thực địa, biết được khoảnh rừng nào được giao để quản lý, bảo vệ cho tốt.
Bà Đinh Thị Thu Hà, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh cho biết: Việc giải ngân dịch vụ môi trường rừng đạt tỷ lệ thấp. Đến thời điểm này, toàn tỉnh mới chi trả được hơn 14 tỷ đồng cho người dân, đạt trên 15% kế hoạch. Trên thực tế, tiền đã có sẵn nhưng chưa thể chi trả cho người dân vì vướng thủ tục hồ sơ pháp lý, xác định chủ rừng, chưa giao khoán bảo vệ rừng. Hiện nay, một số đơn vị đã ký hợp đồng, cam kết chi trả ủy thác qua quỹ hàng quý.
Theo quy định, muốn chi trả dịch vụ môi trường rừng, Quỹ phải xây dựng đề án chi trả dịch vụ môi trường rừng ở lưu vực nhà máy thủy điện, ký hợp đồng với các đơn vị. Hiện nay, Quỹ đang rà soát lại lưu vực, xác định chủ rừng không phải là các ban quản lý rừng phòng hộ, không phải là tổ chức Nhà nước; xem xét quyền lợi chính quyền địa phương một số nơi chỉ thực hiện nhiệm vụ quản lý rừng, chứ không phải là chủ rừng.
Trước đây, phần lớn người dân không nhận diện tích giao khoán bảo vệ rừng. Do vậy, bây giờ muốn giao rừng phải làm lại toàn bộ hồ sơ. Nguyên nhân chậm chi trả dịch vụ môi trường rừng chủ yếu là do chưa giao khoán bảo vệ rừng được cho dân.
Nhằm giải quyết khó khăn về nguồn vốn thực hiện lập hồ sơ giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh, làm cơ sở để chi trả tiền dịch vụ môi trường cho các đối tượng này, UBND tỉnh đã có công văn đề nghị ứng từ nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng 50 tỷ đồng… (Báo Điện Biên 27/12) đầu trang(
Ngày 26/12, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh đã tổ chức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2012 và năm 2013 cho các hộ nhận khoán, bảo vệ rừng tại xã Lùng Sui, huyện Si Ma Cai.
Lùng Sui là xã đầu tiên của huyện áp dụng thí điểm chính sách giao đất, giao rừng cho cá nhân, hộ gia đình và tập thể gắn với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng. Trong đợt này, có 172 hộ và 3 nhóm hộ tại 3 thôn được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng với số tiền hơn 16 triệu đồng.
Ông Giàng Seo Xóa, thôn Nà Mổ có gần 5 ha rừng, là một trong những hộ có diện tích rừng lớn nhất xã, được nhận tiền dịch vụ môi trường giúp ông có thêm động lực để bảo vệ và tái sinh rừng tốt hơn. (Báo Lào Cai 28/12) đầu trang(
UBND tỉnh Phú Yên vừa chỉ đạo Sở NN-PTNT phối hợp Sở Công thương yêu cầu các chủ dự án thủy điện sớm hoàn thành trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng đúng theo quy định của Bộ NN-PTNT.
Hàng năm, các chủ đầu tư dự án thủy điện phải tổng hợp tình hình, báo cáo cho Bộ NN-PTNT và UBND tỉnh biết về tiến độ trồng rừng thay thế.
Để xây dựng 5 nhà máy thủy điện Sông Hinh, Sông Ba Hạ, Krông H’Năng, La Hiêng 2 và Đá Đen, theo thanh tra Bộ TN-MT, tỉnh Phú Yên mất gần 9.500ha đất; trong đó có 3.550ha rừng. Tuy nhiên, chủ đầu tư các dự án thủy điện nói trên mới chỉ trồng được từ 2% đến dưới 10% diện tích rừng phải trồng. (Báo Phú Yên 28/12) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Vườn quốc gia (VQG) Bidoup - Núi Bà phối hợp với khoa sinh học ĐH Đà Lạt tổ chức cho các em học sinh của một số trường THCS, THPT trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng tham gia lớp học thực tế giữa rừng xanh.
Thạc sĩ Lương Văn Dũng, phó khoa sinh học ĐH Đà Lạt, người nhiều lần dẫn dắt các em đi những chuyến thực tế như thế này, cho biết những buổi thực tế ở VQG Bidoup - Núi Bà đã giúp học sinh hòa nhập với thực tế một cách trực quan sinh động. Cách học này giúp các em nhớ nhanh và lâu bởi những gì các em được gặp, được xem đều rất gần gũi với cuộc sống mà bấy lâu nay các em không hề biết.
Theo đại diện VQG Bidoup - Núi Bà, chương trình này nằm trong dự án “Giáo dục môi trường” bắt đầu triển khai thực hiện thí điểm ở một số trường tại tỉnh Lâm Đồng từ tháng 11-2013. Khi tham gia chương trình học thực tế giữa rừng này các em được tài trợ hoàn toàn kinh phí đi lại, ăn uống, vé vào cổng tham quan...
“So với học sinh nhiều vùng miền khác thì Lâm Đồng có lợi thế về đa dạng sinh học rất lớn. Đặc biệt, hệ đa dạng sinh thái VQG Bidoup - Núi Bà là một tài sản vô giá cần được bảo vệ và giới thiệu đến với nhiều người. Sắp tới, chương trình này sẽ được mở rộng ra, đến với nhiều đối tượng học sinh, sinh viên” - anh Trần Nhật Tiên, cán bộ Trung tâm du lịch sinh thái và giáo dục môi trường VQG Bidoup - Núi Bà, cho hay. (Tuổi Trẻ 29/12) đầu trang(
Giữ vai trò là đơn vị chủ yếu trong việc tổ chức trồng rừng trên địa bàn thành phố Uông Bí, căn cứ vào kế hoạch, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Uông Bí đã tổ chức thực hiện tốt việc trồng mới trên diện tích đất trống đồi trọc, đất rừng sau khai thác.
Đến nay diện tích rừng trồng tăng lên đáng kể, đất trống đồi núi trọc bị thu hẹp, rừng được phục hồi, tình trạng xói mòn giảm đi rõ rệt.
Trong nhiều năm liền Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Uông Bí là đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ Nhà nước giao, các chỉ tiêu như doanh thu, tỷ suất lợi nhuận, nộp ngân sách tăng qua từng năm. Đời sống cán bộ nhân viên trong Công ty không ngừng được nâng cao. Hiện nay, với chức năng chính là quản lý bảo vệ rừng, trồng rừng, sản xuất cây giống, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Uông Bí đang quản lý khoảng hơn 6000ha rừng.
Thành tựu nổi bật nhất của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Uông Bí là công tác trồng và bảo vệ rừng. Ông Nguyễn Văn Kiên, Giám đốc Công ty chia sẻ: “Đối với diện tích rừng trồng, Công ty thực hiện khoán trực tiếp cho cán bộ nhân viên trên cơ sở gắn trách nhiệm, quyền lợi cho họ. Công ty tiến hành kiểm tra và xét bình chọn theo tháng, theo quý để có chế độ lương thưởng phù hợp. Nhờ đó, tình trạng phá rừng được hạn chế rõ rệt, năng suất rừng cũng được nâng lên”.
Để làm tốt hơn nữa công tác trồng và bảo vệ rừng, Công ty tăng cường ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Hiện nay tổng số lao động của Công ty là gần 100 người, trong đó số cán bộ có trình độ kỹ sư là 30 người. Công ty luôn quan tâm bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho đội ngũ cán bộ công nhân viên đồng thời trang bị bảo hộ lao động cho người lao động; thực hiện đúng, đầy đủ các quy định về quyền, nghĩa vụ người sử dụng lao động.
Những năm qua, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Uông Bí đều cơ bản hoàn thành tốt các chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước giao, ổn định đời sống cán bộ công nhân viên. Đặc biệt, Công ty đã tạo việc làm cho hàng trăm lao động tại địa phương, góp phần phát triển kinh tế xã hội vùng. (Vietnam Business Forum/vccinews 26/12) đầu trang(
Thời quan qua, trên tuyến đường hành hương lên cụm di tích Ngoạ Vân không có hiện tượng khai thác tài nguyên rừng và không xảy ra cháy rừng.
Đây là kết quả của việc thực hiện tốt quy chế phối kết hợp về việc quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng giữa Hạt Kiểm lâm huyện Đông Triều với UBND xã Bình Khê; xã An Sinh và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Triều.
Hai tổ công tác này đã thường xuyên kiểm tra, kiểm soát hoạt động khai thác, vận chuyển lâm sản như: Khai thác gỗ, tre, nứa và một số loài cây cảnh như phong lan, cây mai vàng; đặc biệt nghiêm cấm việc săn bắn chim, thú rừng trong khu vực ở cả hai tuyến đường hành hương lên cụm di tích Ngoạ Vân (tuyến Bình Khê thuộc khu vực thôn Tây Sơn và tuyến An Sinh thuộc khu vực thôn Trại Lốc). (Báo Quảng Ninh 29/12) đầu trang(
Trong năm nay lực lượng kiểm lâm huyện Tân Sơn đã phối hợp với lực lượng công an, quân đội, quản lý thị trường trên địa bàn, phát hiện, xử lý 9 vụ vi phạm pháp luật về rừng, bằng 19,1% so với cùng kỳ năm trước, giảm 39 vụ.
Thu nộp ngân sách 103.650.000 đồng, tịch thu tang vật gồm 0,168m3 gỗ xẻ các loại; 4,2kg động vật hoang dã. Số vụ việc vi phạm pháp luật về rừng giảm mạnh cùng với diện tích rừng trồng mới, độ che phủ của rừng ổn định ở mức cao, diện tích các loại rừng trên địa bàn được quản lý, bảo vệ tốt đã khẳng định công tác tuyên truyền, vận động cùng hoạt động tuần tra, kiểm soát thường xuyên của lực lượng kiểm lâm địa bàn đã phát huy hiệu quả tích cực, nhận thức của người dân, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao về việc bảo vệ, phát triển rừng có chuyển biến rõ rệt.
Ông Đặng Ngọc Quyền - Hạt Trưởng Hạt Kiểm lâm Tân Sơn chia sẻ: Địa bàn rộng chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa giao thông đi lại khó khăn, phức tạp, định mức khoán chi hành chính thấp, trong khi đó giá cả nguyên, nhiên vật liệu phục vụ cho hoạt động, tiêu dùng trên thị trường biến động theo chiều hướng tăng nhanh nên việc thực hiện nhiệm vụ được giao của lực lượng Kiểm lâm năm qua gặp nhiều khó khăn.
Xác định rõ chủ thể đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ, phát triển rừng là người dân địa bàn, công tác tuyên truyền, vận động đã được lực lượng Kiểm lâm đặc biệt quan tâm, chú trọng. Trong năm, Hạt Kiểm lâm Tân Sơn đã chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban ngành đoàn thể, chính quyền địa phương thực hiện tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về rừng với nhiều nội dung, hình thức phong phú như.
Hạt đã chỉ đạo các Trạm Kiểm lâm phối hợp với cấp ủy, chính quyền các cấp tổ chức được 15 buổi tập huấn với 743 lượt người tham gia, hướng dẫn kỹ thuật nghiệp vụ về công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) tập trung chủ yếu tại các xã trọng điểm như: Kim Thượng, Thạch Kiệt, Thu Cúc…; phối hợp với đài phát thanh các xã duy trì công tác tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh tới từng thôn, bản.
Nội dung chủ yếu là cảnh báo cháy rừng, hướng dẫn xử lý thực bì trồng rừng bằng phương pháp đốt, tuyên truyền các văn bản pháp luật về bảo vệ rừng, các chế độ chính sách về Lâm nghiệp… Ngoài ra Hạt Kiểm lâm còn phát tờ rơi tuyên truyền về QLBVR, PCCCR và phát triển rừng đến chủ rừng, chủ nhận khoán bảo vệ rừng, phát đĩa tuyên truyền công tác bảo vệ và phát triển rừng, tu sửa các Pano, áp phích, bảng cấp dự báo cháy rừng…
Kế hoạch trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng trong năm đã được Hạt Kiểm lâm (Ban quản lý dự án BV&PTR huyện Tân Sơn) hoàn thành với 500 ha rừng sản xuất, 79,2 ha rừng phòng hộ được trồng mới; chăm sóc 110,6 ha rừng phòng hộ năm 4; khoán bảo vệ 6.864,7 ha rừng tự nhiên. (Báo Phú Thọ 29/12) đầu trang(
Dựa trên nguyên tắc bảo vệ rừng phải dựa vào dân, dự án tăng cường lâm nghiệp cộng đồng được triển khai tại 2 huyện Mường Chà, Điện Biên đã góp phần tích cực nâng cao nhận thức quản lý, bảo vệ rừng; tạo sinh kế cho người dân vùng dự án.
Nhằm thúc đẩy các hoạt động lâm nghiệp cộng đồng, tháng 6/2012, dự án tăng cường lâm nghiệp cộng đồng pha 2 được triển khai tại các bản: Nà Nọi I, Nà Pung I (xã Nà Nhạn), Na Sang II (xã Núa Ngam), Nậm Hẹ (xã Hẹ Muông), Cò Chạy II, Mường Pồn II (xã Mường Pồn, huyện Điện Biên) và bản Trung Dình, Huổi Toóng II (xã Huổi Lèng, huyện Mường Chà).
Sau gần 2 năm triển khai thực hiện, dự án đã làm chuyển biến tích cực nhận thức của người dân trong công tác quản lý, bảo vệ rừng thông qua việc rà soát, hoàn thiện quy ước bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng; quy chế quản lý, sử dụng quỹ, họp cộng đồng... tuyên truyền chính sách pháp luật liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng.
Ông Nguyễn Đình Kỳ, Phó Giám đốc NN&PTNT, Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án tăng cường lâm nghiệp cộng đồng tỉnh, cho biết: Dự án được triển khai có tổng mức đầu tư trên 142 nghìn euro (hơn 3,5 tỷ đồng) với diện tích rừng cộng đồng quản lý tại các bản gần 4.300ha, có sự tham gia của 607 hộ. Hiệu quả đầu tiên đem lại từ dự án chính là rừng có chủ, toàn bộ diện tích rừng đã được giao cho các hộ dân theo hình thức cộng đồng quản lý.
Việc trao quyền sử dụng và quản lý rừng đã góp phần tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình thực hiện các chính sách có ảnh hưởng đến đời sống của họ. Giao rừng cho cộng đồng chính là giao quyền tự chủ cho dân, đảm bảo “dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra”. Khi trực tiếp tham gia bảo vệ rừng, người dân ý thức hơn trong việc bảo vệ và phát triển rừng cũng như kiểm tra các hoạt động của cơ quan Nhà nước trong ngành lâm nghiệp.
Ông Hạng Sáy Dua, Chủ tịch UBND xã Huổi Lèng, Tổ trưởng tổ quản lý rừng cộng đồng xã Huổi Lèng cho biết: Khi dự án được thực hiện tại 2 bản Trung Dình và Huổi Toóng II, lúc đầu các hộ dân còn tham gia dự án dè dặt. Song nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, bà con đã hoàn thiện được hương ước quản lý, bảo vệ rừng. Tổ bảo vệ rừng tại các bản thường xuyên tổ chức đi tuần tra, kiểm soát, kịp thời ngăn chặn hành vi xâm hại rừng.
Mỗi tháng, bản tổ chức tuần tra một lần, còn những người dân ra vào rừng hàng ngày để khai thác lâm sản phụ là lực lượng “giám sát” rừng. Nhờ vậy, khu rừng giao cho cộng đồng quản lý đã tránh được tình trạng “cha chung không ai khóc”, không xảy ra hiện tượng phá rừng, cháy rừng, đốt rừng làm nương như những năm trước.
Để giao rừng cho cộng đồng quản lý an toàn, hiệu quả, điều quan trọng nhất là công tác bảo vệ và phát triển rừng phải gắn với việc tạo sinh kế cho người dân. Chính vì vậy, dự án đã triển khai thực hiện các hợp phần hỗ trợ sản xuất thông qua các mô hình trồng mây nếp dưới tán rừng (mỗi bản 2ha), hiện cây sinh trưởng, phát triển tốt. Dự án đã hướng dẫn cho các hộ chăm sóc, sơ chế mây nếp nhằm tạo việc làm, nâng cao thu nhập khi sản phẩm được thu hoạch.
Bên cạnh đó, dự án còn xây bếp đun củi tiết kiệm, cấp bếp Lào cải tiến… cho các hộ gia đình vùng dự án, góp phần giảm thiểu các tác động ảnh hưởng đến các sản phẩm từ rừng. Hỗ trợ cộng đồng hoàn thiện quy ước bảo vệ và phát triển rừng; quy chế quản lý, sử dụng quỹ bảo vệ phát triển rừng cộng đồng nhằm quản lý rừng bền vững và chia sẻ lợi ích minh bạch, công bằng. Đồng thời, dự án cũng nghiên cứu, khảo sát đánh giá thị trường tiêu thụ lâm sản tại các vùng thực hiện dự án để có đề xuất cơ chế chính sách, giải pháp tiêu thụ lâm sản nhằm hỗ trợ cộng đồng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm…
Ông Hạng Sìa Lồng, Trưởng bản Trung Dình (xã Huổi Lèng) cho biết: Nhờ bảo vệ và giữ rừng tốt, nhiều hộ trong bản còn khai thác sản phẩm cánh kiến từ cây chủ, hạt dẻ trong rừng, thu nhập mỗi năm từ 10 – 15 triệu đồng/hộ, cá biệt có hộ thu khoảng 50 triệu đồng nhờ hạt dẻ và bán sản phẩm cánh kiến; cuộc sống của các gia đình nhờ thế cũng khấm khá hơn.
Còn tại bản Nậm Hẹ II (xã Hẹ Muông), dưới tán rừng đầu nguồn được bảo vệ nghiêm ngặt là cả rừng sa nhân xanh tốt. Ông Lù Văn Xiên, Trưởng bản Nậm Hẹ II, thành viên tổ quản lý rừng cộng đồng xã Hẹ Muông tâm sự: Sa nhân là loại cây dược liệu có giá trị kinh tế cao. Hàng năm, trước mùa khô, người dân trong bản tổ chức phát dọn thực bì, loại bỏ bớt tầng thảm mục, giúp cây sa nhân phát triển. Loại cây này đem lại nguồn thu không nhỏ cho bà con trong bản, trung bình mỗi vụ sa nhân đem lại nguồn thu từ 5 – 7 triệu đồng/gia đình. (Báo Điện Biên 29/12) đầu trang(
Mấy năm nay, Nguyễn Đình Hoa (trú thôn 5, xã Tiên Hiệp, Tiên Phước) được nhiều người biết đến vì đã cứu sống nhiều mạng người mắc phải một số bệnh nan y. Không biết việc cứu người của Hoa tới đâu, song có một sự thật là nhiều người xem anh là ân nhân. Còn anh, thì cho mình như người giở lần từng trang sách, theo dấu vết, chỉ dẫn của người xưa về bí ẩn của các cây thuốc trong rừng.
Hoa bảo, sự hiểu biết của con người về khoa học bao giờ cũng nhỏ bé, các công trình nghiên cứu về nấm lim xanh thì dở dang. Thực ra, dân gian đã dùng loài nấm này để chữa bệnh từ lâu rồi, nhưng thời gian gần đây mới rộ lên. “Ở xứ Tiên, một số vùng, người dân có thói quen sắc nấm làm nước uống hằng ngày. Ngay cả nước có vị đắng mà anh đang uống đây cũng từ nấm lim xanh. Nhờ nó mà từ người mắc viêm gan B, bây giờ da mình đỏ au, xét nghiệm không còn dương tính nữa” - Hoa xởi lởi.
Nhiều năm nay, khi không còn hoài nghi về thần dược nấm lim xanh, Hoa lặn lội vào các cánh rừng ở Suối Bùn (Tiên Phước), vào sâu dãy Trường Sơn qua các huyện Phước Sơn, Đông Giang, Đại Lộc; thậm chí đến tận huyện vùng cao Sơn Hà (Quảng Ngãi) để săn lùng nấm. Hễ chỗ nào có hạt giống, hay cây con, anh đều mang về trồng thử nghiệm trong vườn.
Anh Hoa cho biết, từ nhà đến khu vực rừng Suối Bùn khoảng 10km theo đường chim bay, nhưng mất hơn nửa ngày đi bộ. Hơn 5 năm trước, vụ phá rừng lim xanh lớn nhất tỉnh xảy ra ở đây nên giờ nấm bu bám gỗ mục rất nhiều. Những cây lim còn sống hiện rất thưa thớt, nếu cứ phá rừng liên tục thì không bao lâu nữa, loài cây gỗ quý hiếm được xếp vào nhóm 1 này sẽ bị cạn kiệt, sẽ không còn nấm chữa bệnh.
“Nhiều đêm ngủ trong rừng, giấc mơ đưa cây lim xanh về vườn cứ đeo đuổi. Thế là, mình khăn gói vào Sơn Hà đặt hàng mua hơn 20 nghìn cây giống về trồng, chấm dứt chuỗi ngày vất vả vận chuyển lẻ tẻ dăm ba cây con từ rừng về nhà” - anh thổ lộ.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, hiện những rừng lim trồng quy mô lớn theo kiểu gia đình như anh Nguyễn Đình Hoa rất hiếm hoi. Thổ nhưỡng, khí hậu ở vùng tây Tiên Phước và một số địa phương miền núi hoàn toàn có thể trồng được cây lim xanh. Cây lim sống ở rừng tự nhiên, thời gian qua bị tàn phá nghiêm trọng nên cần cơ chế khuyến khích người dân tham gia trồng.
Còn Viện Dược liệu (Bộ Y tế) khẳng định, nấm lim xanh sống trên gốc gỗ mục lim xanh, tên khoa học Ganoderma Lucidum Karst, có tác dụng bồi bổ cường tráng, giúp khí huyết lưu thông, làm tăng sức cho tế bào hấp thụ ôxy tốt hơn. Nó có tác dụng trị suy nhược thần kinh, chóng mặt, mất ngủ; các bệnh viêm gan, viêm khí quản mãn tính… (Theo Infonet 30/12) đầu trang(
Theo tin từ Cục Kiểm lâm, các khu vực Lộc Ninh, Bù Đăng, Phước Long, Đồng Phú tỉnh Bình Phước và Long Thành, Nhơn Trạch, Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai đã có nhiều ngày không mưa, thời tiết khô hanh kéo dài, có nguy cơ xảy ra cháy rừng.
Yêu cầu UBND các cấp và chủ rừng thuộc các địa phương kể trên thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng. (Nhân Dân 30/12) đầu trang(
UBND tỉnh Kon Tum đã ban hành nhiều giải pháp chỉ đạo, điều hành nhằm tăng cường công tác quản lý bảo về rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô 2013- 2014 này.
UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành có liên quan, UBND các huyện, thành phố và các đơn vị chủ rừng tiếp tục triển khai có hiệu quả các nội dung chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh. Đồng thời Ban chỉ huy về các vấn đề cấp bách trong BVR và PCCCR các cấp phải làm tốt chức năng tham mưu giúp chính quyền cùng cấp tổ chức thực hiện công tác QLBVR - PCCCR ở địa phương theo đúng quy chế, kế hoạch và phương án đề ra;
Thường xuyên chỉ đạo các cấp, các ngành và chủ rừng chủ động thực hiện công tác QLBVR - PCCCR trên lâm phần quản lý; đồng thời tăng cường kiểm tra việc thực hiện PCCCR của chủ rừng; phát hiện và chấn chỉnh kịp thời những thiếu sót trong quá trình tổ chức thực hiện; Thực hiện PCCCR theo phương châm "4 tại chỗ".
Chuẩn bị sẵn sàng phương tiện, dụng cụ, nhân lực ứng cứu kịp thời khi có cháy rừng xảy ra; Định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kêt, kiểm điểm rút kinh nghiệm, đề ra giải pháp, kế hoạch thực hiện cho thời gian tiếp theo. Kịp thời biểu dương khen thưởng những tập thể, cá nhân điển hình, xuất sắc trong công tác QLBVR - PCCCR; đồng thời xử lý theo quy định của pháp luật những đon vị, cá nhân thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm các quy định về QLBVR - PCCCR.
Các đơn vị chủ rừng phải khẩn trương triển khai thực hiện có hiệu quả công tác QLBVR - PCCCR trên lâm phần quản lý, rà soát lại hệ thống công trình phòng cháy như chòi canh lửa, các bảng, biển tuyên truyền, bể chứa nước ... để có kế hoạch tu sửa, đảm bảo đưa vào sử dụng có hiệu quả; Đối với khu vực rừng trồng đang trong thời kỳ xây dựng cơ bản, phải có kế hoạch phát dọn thực bì trước mùa khô, làm đường băng cản lửa, đảm bảo khi xảy ra cháy có thể ngăn cách được đám cháy, tránh không để cháy lan ra diện rộng.
Lực lượng Kiểm lâm các cấp cần chủ động phối hợp với các đơn vị liên quan tham mưu giúp Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong BVR&PCCCR các cấp triển khai thực hiện công tác QLBVR - PCCCR theo đúng phương án, kế hoạch đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Xây dựng kế hoạch và tổ chức kiểm tra; kịp thời phát hiện, uốn nắn sửa chữa những khuyết điểm thiếu sót của các đơn vị chủ rừng trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ QLBVR - PCCCR; đồng thời cương quyết xử lý những trường hợp thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm các quy định về QLBVR – PCCCR;
Chuẩn bị sẵn sàng về nhân lực, phương tiện, dụng cụ để huy động tham gia chữa cháy rừng kịp thời, hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra. Sau các vụ cháy rừng phải kịp thời kiểm tra, xác minh tìm nguyên nhân và đối tượng gây cháy, lập hồ sơ xử lý nghiêm và báo cáo theo quy định; Tham mưu cho Ban chỉ huy cùng cấp quản lý và sử dụng nguồn kinh phí được cấp cho công tác PCCCR đảm bảo hiệu quả, đúng quy định.
Bố trí người trực 24/24h tại cơ quan thường trực vào thời kỳ cao điểm dễ xảy ra cháy rừng (kể cả các ngày nghỉ), đặc biệt chú ý trong dịp Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán để theo dõi, cập nhật, tổng họp và báo cáo kịp thời với các ngành, các cấp về công tác PCCCR. Thành viên BCĐ QLBV&PTR tỉnh và BCH về các vấn đề cấp bách trong BVR và PCCCR các cấp căn cứ vào Quy chế hoạt động và nhiệm vụ được phân công, tham mưu giúp Trưởng ban thực hiện tốt công tác QLBVR - PCCCR theo lĩnh vực phụ trách.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền bằng nhiều hình thức và nội dung phong phú; tuyên truyền một cách rộng rãi trên các phương tiện truyền thông nhằm vận động nhân dân tích cực tham gia QLBVR - PCCCR; thường xuyên dự báo và thông báo kịp thời cấp dự báo cháy rừng tới từng địa phương. (Kontum.gov.vn 28/12) đầu trang(
Ngày 28/12, vụ hỏa hoạn xảy ra tại khu vực rừng phòng hộ thuộc địa bàn phường Nam Sơn, thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình. Địa điểm phát cháy là khu vực Kẽm Gió, ngọn lửa đã nhanh chóng lan rộng và bốc cháy dữ dội. Công tác dập lửa ở đây gặp rất nhiều khó khăn.
Người dân ở đây cho biết, vào khoảng thời gian trên, một số người dân đi làm đồng đã phát hiện ra đám cháy và ngay lập tức họ đã thông báo với chính quyền địa phương để tìm biện pháp dập lửa. Tuy nhiên, do thời tiết hanh khô nên ngọn lửa đã nhanh chóng bốc cháy dữ dội và lan rộng, việc dập lửa gặp rất nhiều khó khăn.
Ông Tống Quang Thìn, Bí thư thị xã Tam Điệp cho biết: "Ngay sau khi đám cháy bùng phát, chúng tôi đã huy động lực lượng Phòng cháy chữa cháy cùng với các lực lượng chức năng khác với số lượng lên đến gần 400 người tham ra dập lửa. Tuy nhiên, do điểm phát cháy nằm trên cao, địa bàn bị cô lập, không có nguồn nước nên rất khó tiếp cận để dập lửa. Trước mắt chúng tôi đã chỉ đạo tiến hành cắt băng, tạo hành lang để khoanh vùng không cho đám cháy lan rộng ra các khu vực khác."
Hiện, “chúng tôi vẫn chưa xác định được nguyên nhân và diện tích rừng bị cháy, chúng tôi đang tập chung mọi lực lượng, nỗ lực để dập lửa và ngăn không cho đám cháy lan rộng sang các khu vực khác” ông Thìn cho biết. (Thanh Tra 29/12) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 29.12, tại TP.Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Đoàn công tác T.Ư làm việc với lãnh đạo chủ chốt tỉnh. "Đất nông lâm nghiệp là nguồn lực quốc gia, Đắk Lắk cần tập trung khai thác, tránh để lãng phí" là tinh thần chỉ đạo tại cuộc làm việc.
Chủ tịch nước nhấn mạnh, cùng với phát triển kinh tế, Đắk Lắk phải đặc biệt quan tâm đến chính sách đất đai đối với bà con các dân tộc thiểu số. Đối với việc lựa chọn mô hình chuyển đổi cho nông lâm trường, Chủ tịch nước cho rằng, những vướng mắc, bất cập cần được đánh giá cụ thể, có sự tách bạch giữa quản lý rừng tự nhiên và phần rừng, đất rừng sản xuất; đồng thời đề nghị các tỉnh và Bộ NN-PTNT cần có đánh giá, phân tích để sớm trình Bộ Chính trị cho ý kiến về đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh. (Pháp Luật TPHCM 30/12; Hà Nội Mới 30/12; Sài Gòn Giải Phóng 29/12; Thanh Niên 30/12) đầu trang(
UBND tỉnh Quảng Ngãi ngày 29.12 cho biết, đã yêu cầu Sở Công thương phối hợp với các sở, ngành và UBND các huyện tăng cường kiểm tra, giám sát các công trình thủy điện đang xây dựng.
Trong đó chú trọng việc đảm bảo chất lượng công trình và đáp ứng các yêu cầu về môi trường; rà soát quy trình vận hành các hồ chứa thủy điện. Kiên quyết xử lý những nhà máy không thực hiện đúng quy trình vận hành đã được phê duyệt; trường hợp vi phạm nghiêm trọng đề nghị cơ quan chức năng có thẩm quyền xem xét, xử lý. Đồng thời, đề nghị Sở NN-PTNT tham mưu UBND tỉnh bố trí quỹ đất, kiểm tra, đôn đốc việc trồng rừng thay thế, đặc biệt là rừng đầu nguồn lưu vực sông của các công trình thủy điện.
Hiện trên địa bàn Quảng Ngãi còn 19 dự án thủy điện, với tổng công suất hơn 389 MW; đang rà soát để tiếp tục loại khỏi quy hoạch một số dự án, chỉ để lại 12 dự án, với tổng công suất khoảng 264 MW. (Thanh Niên 30/12) đầu trang(
Từ ngày 27 - 29.12, Tổng cục Lâm nghiệp tổ chức tập huấn “Nâng cao năng lực cán bộ nguồn để xây dựng và thực hiện quản lý rừng bền vững” (QLRBV).
Gần 70 học viên đến từ Sở NNPTNT, Chi cục Lâm nghiệp, Chi cục Kiểm lâm, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng ở các tỉnh phía Bắc được cung cấp những kiến thức mới và thực tiễn về QLRBV, tiêu chuẩn của QLRBV, chứng chỉ rừng, lập kế hoạch QLRBV và cấp chứng chỉ rừng.
Ông Cao Chí Công - Vụ trưởng Vụ Sử dụng rừng, Giám đốc Dự án Xây dựng chính sách quản lý rừng bền vững cho biết: "Hoạt động này góp phần thúc đẩy việc thực thi chính sách QLRBV và tăng cường việc cấp chứng chỉ rừng đối với các tổ chức, nhóm hộ sản xuất lâm nghiệp". (Nông Thôn Ngày Nay 28/12) đầu trang(
Dự án "Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng Sơn La", được triển khai từ tháng 5/2012, nhận được sự tham gia tích cực của các cộng đồng tại địa phương trong việc quản lý tài nguyên rừng bền vững, góp phần nâng cao thu nhập và giảm nghèo cho đồng bào.
Dự án “Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam” được triển khai nhằm thúc đẩy sự tham gia tích cực của các cộng đồng địa phương vào việc quản lý tài nguyên rừng tự nhiên; góp phần nâng cao thu nhập và giảm nghèo đối với những cộng đồng sống dựa vào rừng. Tỉnh Sơn La là một trong 9 tỉnh tham gia dự án, được đầu tư hơn 4,4 tỷ đồng, với sự tham gia của 640 hộ dân. Diện tích rừng cộng đồng quản lý tại các bản là hơn 3.100 ha.
Theo ông Vũ Đức Thuận, Giám đốc Ban quản lý Dự án Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng tỉnh Sơn La, rừng cộng đồng ở Sơn La được phân thành 3 loại: Rừng và đất do cộng đồng tự công nhận và quản lý theo truyền thống tự nhiên từ nhiều đời nay; rừng và đất được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng; rừng và đất rừng do các tổ chức, cơ quan nhà nước, các nông lâm trường giao khoán cho cộng đồng. Hiện nay, rừng cộng đồng được quản lý theo dòng tộc, dân tộc; theo thôn, bản và theo nhóm hộ, sở thích.
“Việc trao quyền sử dụng và quản lý rừng cho người dân sẽ tăng cường sự tham gia của người dân vào việc đưa ra các quyết định có ảnh hưởng đến đời sống của họ. Giao rừng cho cộng đồng chính là giao quyền tự chủ cho dân, đảm bảo “dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra”. Khi trực tiếp tham gia bảo vệ rừng, người dân sẽ biết nhiều hơn, có thêm một diễn đàn để thảo luận các vấn đề quan trọng đối với họ và kiểm tra các hoạt động của các cơ quan Nhà nước trong ngành lâm nghiệp, ông Vũ Đức Thuận nhấn mạnh.
Còn Đào Văn Thiệp, Phó Chủ tịch UBND xã Mường Do, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, thì cho biết: “Với đặc thù là địa bàn miền núi, có nhiều dân tộc cùng sinh sống, rừng là yếu tố quan trọng trong văn hóa đồng bào dân tộc của xã. Từ lâu, cộng đồng thôn bản đã xây dựng hương ước và tập quán quản lý rừng.
Nhiều bản của đồng bào Thái, đồng bào Mường vẫn tiếp tục bảo vệ các khu rừng nhỏ tồn tại lâu đời trên địa bàn. Họ xem đây là những khu rừng thiêng và chỉ thu lượm những cành cây đã chết về làm củi đun, chứ không chặt cây hay phát nương. Người dân bảo vệ rừng vì đó nơi trú ngự của những vị thần linh có ảnh hưởng đến đời sống của họ. Chính vì vậy, khi phát triển lâm nghiệp cộng đồng, những yếu tố này sẽ góp phần tích cực vào công tác bảo vệ rừng.
Ở các vùng xa xôi hẻo lánh, điều kiện sống của người dân còn khó khăn, rừng là nguồn cung cấp tài nguyên cho người dân địa phương, đáp ứng nhu cầu thiết yếu và tăng thêm thu nhập. Tuy nhiên, nếu người dân tự ý khai thác sẽ vi phạm pháp luật, do vậy việc tham gia dự án lâm nghiệp cộng đồng là cơ sở để người dân vừa tham gia giữ rừng và được phép khai thác rừng theo quy định, góp phần mang lại nguồn thu chính đáng.
Ông Giàng A Da, Chủ tịch UBND xã Phiêng Cằm, huyện Mai Sơn, cho biết, trước đây người dân địa phương sống bằng sản xuất nông nghiệp và hái lượm lâm sản từ rừng. Tuy nhiên, bà con chỉ biết phát rừng để mở rộng diện tích canh tác, mà không nghĩ đến hậu quả tác động vào môi trường sinh thái. Nhưng từ khi thực hiện dự án lâm nghiệp cộng đồng, rừng được giao cho dân quản lý và được khai thác theo quy định, khi có sự đồng ý của cả cộng đồng.
Ông Nguyễn Huy Tuấn, Phó Giám đốc Ban quản lý Dự án Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng tỉnh Sơn La cho biết, nhằm tạo điều kiện để người dân có thêm thu nhập, cải thiện đời sống, dự án đã hỗ trợ xây dựng mô hình cây giổi ăn quả cho 5 cộng đồng, với quy mô 5 ha, mức hỗ trợ bình quân là hơn 17 triệu đồng/ha. Hiện tại cây sinh trưởng tốt. Dự án còn hỗ trợ người dân xây dựng 42 bếp tiết kiệm củi, trị giá 2,5 triệu đồng/bếp.
Bên cạnh đó, Nhà nước đang thực hiện thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng áp dụng ở hai tỉnh Lâm Đồng và Sơn La. Thông qua chính sách này, người dân sẽ được chi trả tiền tương ứng với diện tích rừng mà họ tham gia bảo vệ với mức là 250.000 đồng/ha/năm. Đây cũng chính là một nguồn thu nhập quan trọng cho người dân. Ngoài ra, đối với diện tích rừng và đất rừng chính quyền địa phương giao, cộng đồng có thể tận dụng khi rừng chưa khép tán hoặc đất trống chưa trồng rừng để canh tác kết hợp cây nông nghiệp. (Tin Tức 27/12) đầu trang(
Cùng tuần rừng với cán bộ bảo vệ rừng (BVR) của Khu Bảo tồn Sao La TT-Huế và Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) để đi tìm dấu tích sao la thông qua việc thu mẫu máu vắt, phân tích ADN, gắn bẫy ảnh, gỡ bẫy thú rừng mới thấy hết những gian nan vất vả của những người làm công tác bảo tồn đa dạng sinh học nơi đây.
Nằm ở phía Tây Nam tỉnh TT-Huế, Khu Bảo tồn Sao La TT-Huế quản lý bảo vệ 12.153 ha rừng đặc dụng, thuộc 11 tiểu khu rừng tự nhiên nằm trên địa bàn của hai huyện A Lưới và Nam Đông, nối liền với Vườn quốc gia Bạch Mã và Khu Bảo tồn Sao La Quảng Nam.
Khu Bảo tồn Sao La TT-Huế là nơi được bao phủ bởi các sinh cảnh rừng đa dạng, với tính đặc hữu điển hình ở mức độ đa dạng cao, được xem là nơi nuôi dưỡng, là vùng sinh cảnh lớn cho sao la và các loài thú lớn khác sinh sống. Ba loài thú lớn, đặc hữu mà các nhà khoa học đã phát hiện ở khu vực này là sao la, mang lớn, mang Trường Sơn…
Anh Trần Mạnh Thành, Đội trưởng Đội BVR Khu Bảo tồn Sao La TT-Huế, cho biết, mô hình tuần tra BVR của Khu Bảo tồn Sao La TT-Huế được thành lập vào đầu năm 2011 là cách tiếp cận mới trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học rừng do Dự án Dự trữ Các Bon và bảo tồn đa dạng sinh học rừng tài trợ bởi Ngân hàng Tái thiết Đức, thực hiện trong từ năm 2011 đến 2014 thông qua WWF tại hai tỉnh TT-Huế và Quảng Nam. Hợp phần các khu bảo vệ có mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lí Khu Bảo tồn Sao La TT-Huế, phát triển quần thể sao la và các loài thú móng guốc hiện diện trong khu bảo tồn.
Anh Viêm Xuân Liêm, cán bộ BVR WWF, chia sẻ: “Với thời gian trong vòng 1 tháng thì lực lượng BVR lại có mặt và tuần tra ròng rã trong rừng từ 16 - 22 ngày. Đường đi gian nan, vất vả, địa bàn rộng lớn nhưng anh em vẫn luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của mình”.
Ông Lê Ngọc Tuấn, Giám đốc Khu bảo tồn Sao La TT-Huế, cho hay, dù địa bàn rộng lớn, địa hình phức tạp hiểm trở nên rất khó khăn trong việc tiếp cận thường xuyên các khu vực rừng sâu nhưng với sự nỗ lực quyết tâm của mình, BQL Khu Bảo tồn Sao La, Đội BVR thường xuyên phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác truyền thông nâng cao nhận thức cho công đồng người dân. Nghiêm cấm các hành vi xâm phạm tài nguyên rừng trong vùng lõm khu bảo tồn như cấm săn bắn động vật, khai thác gỗ, khai thác khoáng sản...
Sự xuất hiện của loài thú móng guốc sao la đã từng tồn tại qua các thời kỳ lịch sử phát triển của địa phương TT-Huế, với tên gọi theo tiếng Tà Ôi là Xin xor. Lần đầu tiên sao la được ghi nhận dấu vết và hình ảnh thực ở TT-Huế vào tháng 1/1998 trong trường hợp 1 con sao la đực trưởng thành, với trọng lượng 58 kg bị mắc nạn ở thôn Hộ (xã Dương Hòa, TX Hương Thủy). Trường hợp khác, cũng vào năm 1998, một số em học sinh xã A Roàng, huyện A Lưới trên đường đi thăm rẫy thì thấy đàn chó phát hiện và bao vây 1 con sao la.
Ngay sau khi nhận được tín báo, cán bộ Chi cục Kiểm lâm TT-Huế đã đến hiện trường để nghiên cứu và giải thoát. Mặc dù với quần thể rất nhỏ, việc săn bắt bừa bãi trong phạm vi sống hẹp đã đẩy loài thú này đến bờ tuyệt chủng. Hiện sao la được xem là loài “cực kỳ nguy cấp” trong "Sách đỏ" của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), và phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng rất cao trong tự nhiên.
Ông Lê Ngọc Tuấn cho biết, trước sự cấp thiết trên, một chương trình hành động và kế hoạch xây dựng khu bảo tồn sao la và bảo vệ chúng trước nguy cơ bị tuyệt chủng do săn bẫy đã được Dự án Carbi và BQL Khu Bảo tồn Sao La TT-Huế phối hợp với các địa phương có vùng sinh cảnh sao la sinh sống được triển khai mạnh mẽ và bước đầu đang mang lại những thành công nhất định.
Anh Đoàn Tuấn, Đội trưởng Đội BVR WWF cho biết, thu mẫu vắt và phân tích AND là phương pháp hiện đại đã được áp dụng để phát hiện về sự tồn tại của nhiều loại động vật quý hiếm phân bố tại các khu rừng dọc biên giới Việt - Lào đi qua địa bàn hai tỉnh TT- Huế và Quảng Nam. Theo đó, công tác chuẩn bị các vật dụng gồm 50 ống nghiệm sẽ được sử dụng để lưu giữ các mẫu vắt.
Một thành viên của mỗi nhóm sẽ tuần tra thu thập các mẫu vắt khi tuần tra theo tuyến. Việc thu thập sẽ được thực hiện trong suốt quá trình điều tra của nhóm. Việc thu mẫu vắt và phân tích AND sẽ giúp xác định được sự xuất hiện của các loài thú, đặc biệt là sao la trong khu vực thu vắt. Phương pháp này sẽ tập trung ở vùng có phân bố của thú quý và dọc tuyến của nhóm tuần tra BVR.
Anh Tuấn chia sẻ, không phải cứ vào rừng lấy mẫu vắt là được, mà phải di chuyển nhiều nơi, đi qua những vùng tiềm năng mới tìm được dấu tích sao la. Cùng với việc lấy mẫu vắt, công tác gắn, đặt bẫy ảnh để truy tìm dấu vết hiếm hoi của loài thú quý này cũng được cán bộ BVR chú trọng.
Ông Lê Ngọc Tuấn đánh giá, sao la là một loài thú hiếm, được xem là linh vật của Trường Sơn, với số lượng quần thể rất nhỏ. Sao la càng trở nên bí ẩn khi thông tin về loài thú này ngày càng ít dần, thậm chí khi các nhà khoa học sử dụng đến bẫy ảnh hiện đại vẫn rất hiếm khi tìm thấy ghi nhận được dấu vết của chúng.
Các sọc màu trắng nổi bật trên mặt và cặp sừng thon dài tạo nên vẻ đẹp riêng biệt cùng môi trường sống kín đáo ở những khu rừng ẩm ướt trong dãy Trường Sơn càng gợi nên vẻ bí ẩn của loài thú này. Vì vậy, chung tay bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học chính là bảo vệ môi trường sinh cảnh cho sao la, bảo vệ sự sống cho muôn loài và cả chúng ta. (Nông Nghiệp Việt Nam 30/12) đầu trang(
UBND tỉnh Trà Vinh vừa phê duyệt dự án trồng và bảo vệ trên 10.100 ha rừng phòng hộ tại 12 xã, thị trấn của 3 huyện Châu Thành, Cầu Ngang và Duyên Hải (giai đoạn 2014 đến sau 2020), với tổng kinh phí gần 80 tỉ đồng.
Dự án nhằm nâng cao độ che phủ rừng, phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển, tạo ra những đai rừng phòng hộ chắn sóng, chống sạt lở; bảo vệ cảnh quan các công trình xây dựng ven biển; tạo việc làm, tăng thu nhập cho người trồng rừng... (Thanh Niên 26/12) đầu trang(
Ngày 29/12, Hạt Kiểm lâm huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang đã thả hơn 5.000 con chim yến và chim én về môi trường tự nhiên tại khu vực rừng phòng hộ ven biển thuộc địa bàn ấp Giàn Gừa, xã Sơn Bình, huyện Hòn Đất.
Đây là số chim do Hạt Kiểm lâm huyện Hòn Đất phối hợp với Công an xã Sơn Bình tuần tra, kiểm soát và bắt giữ của 5 đối tượng gồm: Dương Văn Minh (sinh năm 1976), Nguyễn Thanh Tạm (sinh năm 1993), Nguyễn Văn Thừa (sinh năm 1988), Lê Ngọc Quý (sinh năm 1990) và Nguyễn Trọng Trí (sinh năm 1990) cùng ở tại xã An Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang từ tin báo của quần chúng nhân dân.
Do các đối tượng mới vi phạm lần đầu nên lực lượng chức năng chỉ tịch thu số lượng chim yến, chim én thả về môi trường tự nhiên và buộc các đối tượng làm cam kết không tái phạm việc bảo vệ động vật hoang dã.
Theo lời khai của các đối tượng, việc bẫy bắt số chim này để mang qua khu vực miếu Bà Chúa xứ, tỉnh An Giang bán cho du khách thập phương đến đây phóng sinh cầu phước.
Chim yến và chim én là những loài rất thân thiện với môi trường tự nhiên và là loài hữu ích cho nhà nông. Hiện nay, tuyến rừng phòng hộ ven biển của huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang với chiều dài gần 50km, có rất nhiều loài chim về đây sinh sống, phát triển bầy đàn. Song, do ý thức của một số hộ dân còn hạn chế nên tình trạng săn bắt, vận chuyển và mua bán trái phép loài chim hữu ích này để thu lợi bất chính thường xuyên xảy ra. (VietnamPlus.vn 29/12) đầu trang(
Sau khi xảy ra sự việc voi quật chết người ở Khu du lịch Đại Nam (Bình Dương), đại diện Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Dương cho biết, con voi này có lai lịch rõ ràng. Tuy nhiên, theo tìm hiểu của phóng viên, thông tin về lý lịch con voi lại có rất nhiều điểm bất thường.
Trên các tài liệu phóng viên thu thập được, con voi quật chết người là voi đực, khoảng tám tuổi, có tên gọi là Ka, trước đây thuộc quyền sở hữu của ông Điểu Cước (xã Phú Sơn, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước). Con voi này được ông Cước chuyển giao cho Khu du lịch Đại Nam vào năm 2007 cùng với một con voi cái, được cho là mẹ của voi Ka. Tổng giá trị hợp đồng chuyển nhượng hai con voi là 355 triệu đồng do Khu du lịch Đại Nam chi trả.
Trong đơn xin chuyển nhượng voi gửi chính quyền địa phương vào đầu năm 2007, ông Cước cho biết do hoàn cảnh khó khăn, ông không thể nuôi hai con voi nên muốn chuyển giao cho Khu du lịch Đại Nam. Trước đó, vào tháng 9-2006, ông Cước đã có đơn xin chuyển giao voi cho Khu du lịch văn hóa Đầm Sen (TP.HCM) với lý do tương tự.
Điều bất thường là vào thời điểm xin chuyển giao voi cho Khu du lịch Đầm Sen, ông Cước trình bày mình chỉ nuôi một con voi cái do ông bà để lại, chưa nói có voi con. Song chỉ sau đó bốn tháng (1-2007), ông Cước lại nói voi cái đã sinh được voi con hai tuổi, trong khi thời gian voi mang thai kéo dài đến 22 tháng.
Đặt giả thuyết vào năm 2006, con voi cái của ông Cước đã mang thai và sắp sinh thì đến đầu năm 2007 voi con cũng chỉ mới được vài tháng tuổi, khác xa thông tin voi con hai tuổi được thể hiện trong hợp đồng chuyển giao. Nếu có sự nhầm lẫn việc tính tuổi voi thì trong hợp đồng cũng phải nêu rõ voi cái đang mang thai nhưng ông Cước hoàn toàn không đề cập việc này. Đây là thông tin hết sức quan trọng, liên quan đến thủ tục pháp lý về chuyển giao động vật hoang dã.
Một vấn đề bất thường nữa là thông tin về voi cha của Ka cũng không được thể hiện trong hợp đồng chuyển giao cho Khu du lịch Đại Nam. Trên thực tế, để có voi con thì con voi cái của ông Cước phải được đưa đi phối giống với voi đực hoặc ngược lại. Việc này rất phức tạp, chi phí cao và phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về nuôi nhốt, vận chuyển động vật hoang dã…
Vậy voi Ka có phải do voi cái của ông Điểu Cước sinh ra hay không? Đây là nghi vấn cần được làm sáng tỏ để xác định nguồn gốc của con voi đã quật chết người ở Đại Nam. (Pháp Luật TPHCM 30/12) đầu trang(
Liên tục trong thời gian qua, đàn voi rừng hàng chục con kéo về khu dân cư khiến xung đột voi - người gia tăng đến mức báo động. Tuy nhiên, sự việc này cũng có tín hiệu đáng mừng là quần thể voi rừng đang phát triển cá thể đàn một cách tích cực.
Ngày 25-9, đàn voi rừng gần 30 con bất ngờ xuất hiện tại thôn 5, thị trấn Ea Súp, huyện Ea Súp kiếm thức ăn, phá hoại hoa màu của người dân. UBND huyện Ea Súp đã sơ tán 10 hộ dân đến nơi an toàn; đồng thời huy động nhân dân cùng lực lượng công an huyện, kiểm lâm, bộ đội phối hợp xua đuổi voi bằng biện pháp thủ công như đánh chiêng, trống và đốt lửa. Voi rừng vào tận khu dân cư là điều từ trước đến nay chưa từng có, vì thường các “ông tượng” chỉ kéo về các khu vực rẫy cách xa nhà dân.
Mới đây, ngày 10-12, đàn voi rừng hơn 20 con lại đột nhập khu vực thôn 6, thị trấn Ea Súp, thuộc lâm phần của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Cư Ma Lanh. Các cơ quan chức năng địa phương phối hợp với Trung tâm Bảo tồn voi Dak Lak tổ chức xua đuổi voi, nhưng phải 5 ngày sau đàn voi mới chịu trở lại rừng.
Ông Nguyễn Đình Toản, Phó Chủ tịch UBND huyện Ea Súp cho biết: trong 2 đợt voi “ghé thăm”, đã có hàng chục ha hoa màu của người dân bị tàn phá; người dân rất lo ngại vì voi lì lợm, hung dữ hơn; một số biện pháp xua đuổi trước đây đã không còn hiệu quả. Do vùng sinh cảnh của voi rừng bị hạn chế, nên voi mở rộng địa bàn tìm kiếm thức ăn, đến tận khu vực canh tác của người dân.
Theo Trung tâm bảo tồn voi: đàn voi này có cấu trúc quần thể cân đối, có cả con đực, con cái, voi trưởng thành, voi con vài tuổi. Đặc biệt, trong đàn có con voi mới sinh lần đầu tiên xuất hiện đã cho thấy voi rừng đang phát triển quần thể, là điều đáng mừng trong công tác bảo tồn voi hoang dã; đồng thời là cơ sở để hy vọng số lượng voi hoang dã sẽ tăng lên trong thời gian tới (vì lâu nay tỷ lệ voi rừng sinh con rất thấp).
Trong khi đó, từ khoảng 5 năm trở lại đây đã có 20 con voi rừng bị chết, số lượng cá thể chỉ còn lại 60 con. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này bên cạnh voi bị săn bắn giết hại còn là việc rừng bị tàn phá, chuyển giao cho các doanh nghiệp trồng cao su khiến không gian sống và kiếm ăn của voi bị thu hẹp.
Do đó, Trung tâm Bảo tồn voi và huyện Ea Súp đang tích cực tuyên truyền, vận động để người dân hiểu, không xâm hại đến đàn voi nhằm tạo môi trường tốt cho đàn voi sinh trưởng, phát triển. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là bên cạnh việc bảo vệ, khôi phục môi trường sống để voi phát triển đàn, thì cũng cần đặc biệt chú trọng công tác bảo đảm tài sản, lợi ích của người dân bằng cách hỗ trợ thiệt hại về hoa màu bị voi phá hoại; đồng thời quy hoạch bố trí khu vực đất canh tác xa vùng sinh cảnh của voi rừng.
Từ năm 2010, Dak Lak đã phê duyệt Dự án Bảo tồn voi đến năm 2015 với tổng kinh phí 61 tỷ đồng bằng ngân sách Trung ương và địa phương nhằm mục đích theo dõi, bảo vệ, chăm sóc khoảng 100 con voi hoang dã. Bên cạnh đó, tiến hành xây dựng Trung tâm Bảo tồn Voi trên diện tích rộng khoảng 200ha, trong đó 100ha để chăn thả voi, ươm trồng các loại cây làm thức ăn cho voi...
Sau 2 năm triển khai, dự án đã đạt một số kết quả đáng ghi nhận trong việc theo dõi, bảo vệ voi hoang dã và hạn chế mâu thuẫn giữa voi với người. Tuy nhiên, công tác bảo tồn voi, đặc biệt là voi hoang dã còn gặp những khó khăn do thiếu kinh phí, thực hiện, trong khi môi trường sống của voi tiếp tục bị tác động tiêu cực.
Bởi vậy, theo ông Huỳnh Trung Luân, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn voi: để tránh nguy cơ voi tuyệt chủng cần triển khai cấp bách những biện pháp bảo vệ loài động vật hoang dã này, trong đó cần tiếp tục bố trí vốn triển khai dự án, xây dựng “nhà” an toàn, bảo đảm môi trường tự nhiên cho voi; đặc biệt cần có sự chung tay của cả cộng đồng trong việc bảo tồn, phát triển đàn voi. (Báo Đắk Lắk 29/12) đầu trang(
Không chỉ hoạt động sản xuất kém hiệu quả mà trong thời gian qua, các xưởng chế biến gỗ trên địa bàn còn vi phạm khá phổ biến các quy định của Nhà nước và gây ra nhiều hệ lụy đối với môi trường. Vì thế, việc nhanh chóng có các giải pháp chấn chỉnh và quy hoạch lại tổng thể hệ thống những xưởng gỗ này là rất cần thiết.
Theo thống kê của UBND tỉnh, toàn tỉnh hiện có 54 xưởng chế biến gỗ của 45 doanh nghiệp nằm rải đều trên các huyện, thị xã. Qua thanh tra của Thanh tra tỉnh mới đây cho thấy, tình trạng yếu kém trong sản xuất, kinh doanh, sai phạm các quy định của Nhà nước ở các doanh nghiệp chế biến gỗ còn xảy ra khá phổ biến.
Trước hết là về thực hiện quy hoạch mạng lưới chế biến lâm sản, sử dụng đất đai, nhiều xưởng chế biến vẫn chưa chấp hành. Cụ thể là việc thành lập, xây dựng các xưởng chế biến gỗ trong thời gian qua còn phân tán, nhỏ lẻ, chưa tập trung vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp theo quy định.
Toàn tỉnh hiện có tới 19 xưởng chế biến nông, lâm sản thuộc diện phải di dời vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện. Vì vậy, tình trạng nhiều xưởng chế biến gỗ ở gần khu dân cư, gần rừng gây khó khăn cho việc thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng, tạo kẽ hở cho hoạt động mua bán lâm sản trái phép.
Công tác xây dựng quy hoạch còn nhiều bất cập, chưa quy định quy mô, trình độ sản xuất còn đơn giản, chủ yếu là gia công, sử dụng lao động phổ thông; chưa gắn quy hoạch xưởng vào quy hoạch phát triển rừng trồng và rừng tự nhiên.
Mặc dù vậy, nhưng công tác quản lý các cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh thời gian qua vẫn còn buông lỏng, thiếu kiểm tra, giám sát, nhất là đối với các đơn vị gần rừng nên đã để xảy ra tình trạng tiêu thụ gỗ khai thác bất hợp pháp.
Cụ thể như các Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Tín, Đắk R’măng, Nam Nung có xưởng chế biến gỗ, nhưng trên thực tế không đầu tư xây dựng xưởng, trang thiết bị chế biến gỗ, không tổ chức sản xuất mà cho các doanh nghiệp khác thuê. Còn Công ty TNHH MTV Sản xuất-Thương mại Ngọc Hoàng Đắk Nông tuy chưa được cơ quan có thẩm quyền cho chủ trương, nhưng vẫn xây dựng xưởng và đưa gỗ vào tổ chức chế biến.
Ngoài ra, việc chấp hành quy hoạch sử dụng đất, nhiều doanh nghiệp trong suốt nhiều năm qua vẫn chưa làm. Toàn tỉnh hiện có 4 doanh nghiệp được Sở Nông nghiệp-PTNT cho chủ trương thành lập xưởng chế biến gỗ tạm thời, nhưng đã hết thời hạn hoạt động.
Theo thống kê, hiện nay, tỉnh có 6 xưởng thuộc 6 doanh nghiệp không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng chưa có hợp đồng thuê đất. 12 xưởng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc nhóm đất nông nghiệp, nhưng các doanh nghiệp vẫn chưa chuyển đổi mục đích sử dụng là xưởng chế biến lâm sản thuộc nhóm đất phi nông nghiệp.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp chưa thực hiện nghiêm về cam kết bảo vệ môi trường. Qua kiểm tra 25 xưởng của 17 doanh nghiệp thì có tới 14 xưởng của doanh nghiệp không thực hiện cam kết bảo vệ môi trường, trong đó có 4 doanh nghiệp Nhà nước.
Cũng qua thanh tra 17 doanh nghiệp trên địa bàn thì các ngành chức năng phát hiện có tới 14 đơn vị không đăng ký hợp đồng và đóng bảo hiểm cho người lao động. Không những thế, trong thực hiện nghĩa vụ ngân sách nhà nước, phần lớn các doanh nghiệp chế biến lâm sản còn để xảy ra tình trạng kê khai thiếu thuế, nợ đọng thuế kéo dài và nhiều sai phạm khác.
Trong đó, có 5 doanh nghiệp có xưởng chế biến gỗ để xảy ra sai phạm với số tiền lên tới gần 1 tỷ đồng. Công ty TNHH Thái Thịnh đã đưa chi phí không hợp lý vào hạch toán số tiền gần 60 triệu đồng và đưa doanh thu của năm 2010 số tiền gần 300 triệu đồng sang hạch toán năm 2011 để được giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tư nhân Công Danh trong thời gian qua đã bán hàng không xuất hóa đơn với số tiền bán hàng chưa có thuế là hơn 374 triệu đồng. Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đắk R’măng đã chậm nộp thuế tài nguyên và một số loại thuế khác trên 100 triệu đồng.
Được biết hiện nay, UBND tỉnh đang có chủ trương tiến hành quy hoạch tổng thể về phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản đến năm 2020. Trong đó, tỉnh chỉ đạo các ngành, địa phương liên quan nhanh chóng chấn chỉnh lại việc phát triển chế biến gỗ tại các doanh nghiệp nằm trong danh sách cho phép sớm phát huy hiệu quả để có những đóng góp nhất định cho sự phát triển kinh tế của tỉnh.
Vì thế, trước sự hoạt động yếu kém, nhỏ lẻ của các doanh nghiệp trên địa bàn thì công tác quy hoạch lại và có những giải pháp hỗ trợ là rất cần thiết. Trong đó, việc sắp xếp lại hoạt động các xưởng chế biến gỗ trên địa bàn và có quy chế quản lý, cũng như trình tự, thủ tục đầu tư hoạt động cần phải nhanh chóng triển khai.
Ngoài ra, UBND tỉnh cũng chỉ đạo các ngành, địa phương liên quan thường xuyên kiểm tra, giám sát và báo cáo về việc chấp hành các quy định của Nhà nước của các xưởng chế biến lâm sản trên địa bàn tỉnh, tránh tình trạng buông lỏng quản lý như trong thời gian qua.
Đối với các doanh nghiệp không đầu tư xây dựng xưởng, không tổ chức sản xuất và không có giấy phép hoạt động cần phải đưa ra khỏi quy hoạch và chấm dứt hoạt động. Còn đối với các doanh nghiệp chưa di dời vào khu công nghiệp, cụm công nghiệp, tỉnh cũng chỉ đạo các ngành, địa phương đôn đốc, yêu cầu nhanh chóng thực hiện. (Báo Đăk Nông 27/12) đầu trang(
Ngày 25/12, đội 4 phòng Cảnh sát môi trường Công an tỉnh Nghệ An đã phát hiện, bắt giữ một số lượng lớn sản phẩm động vật và động vật hoang dã không rõ nguồn gốc được vận chuyển từ các tỉnh phía bắc vào tiêu thụ ở các tỉnh phía Nam.
Số lượng động vật hoang dã gồm 7 thùng chim trời, 470 kg chân giò lợn hun khói, 400 kg nội tạng đã bốc mùi hôi thối vận chuyển trên xe khách mang biển kiểm soát 76 M 14- 72 chạy trên Quốc lộ 1 A, tuyến Lạng Sơn – TPHCM do lái xe Lê Văn Liệu sinh năm 1972, trú tại thị trấn Sơn Tịnh, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi điều khiển.
Qua điều tra, toàn bộ động vật hoang dã và sản phẩm động vật đều không rõ nguồn gốc, không có hồ sơ thủ tục kiểm dịch. Lái xe Lê Văn Liệu khai nhận, nhận vận chuyển số hàng trên cho một chủ hàng ở Hà Nội từ các tỉnh phía Bắc vào tiêu thụ ở các tỉnh phía Nam.
Hiện vụ việc đang được Chi cục Thú y TP Vinh và phòng Công an Nghệ An điều tra làm rõ. (Đài PT - TH Nghệ An 27/12) đầu trang(
UBND tỉnh Gia Lai vừa chỉ đạo cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra diện tích đất thuộc dự án chuyển rừng nghèo sang trồng cao su của Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai ở xã Pờ Tó, huyện Ia Pa, Gia Lai.
Theo hồ sơ, năm 2008, UBND tỉnh Gia Lai giao cho Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai thuê đất để trồng cao su với gần 1.200ha ở xã Pờ Tó, huyện Ia Pa, Gia Lai, nhưng trong quá trình thực hiện dự án này, khoảng 100ha cao su bị chết và không phát triển được. Do đó, Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai giao cho Công ty cổ phần Trồng rừng Gia Lai, thuộc Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai, chuyển khoảng 100ha đất thuộc dự án này sang trồng mía mà chưa xin phép UBND tỉnh Gia Lai.
Ông Nguyễn Văn Sự, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai cho biết, lẽ ra khi chuyển một phần diện tích của dự án trồng cao su sang trồng mía, Công ty cổ phần trồng rừng Gia Lai phải xin phép UBND tỉnh mới làm nhưng trong việc này đã có phần sai sót.
Vừa qua, lãnh đạo UBND tỉnh Gia Lai đã tiến hành kiểm tra và chỉ đạo tạm dừng việc thực hiện chuyển đổi sai quy định này, chờ kết luật của cơ quan thẩm quyền, hoàn thành các thủ tục pháp lý theo quy định. (Công An Nhân Dân 28/12; Nông Nghiệp Việt Nam 27/12) đầu trang(
Hàng trăm hecta rẫy của người dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa góp vào trồng rừng theo Chương trình 327 phủ xanh đất trống đồi trọc, sau nhiều năm bỗng dưng bị cấp cho người khác
Hiện UBND tỉnh Khánh Hòa đang chỉ đạo các ngành rà soát đất rừng của Chương trình 327 để giao lại cho người dân. Trước mắt sẽ giao gần 320 ha cho 639 hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo thiếu đất sản xuất.
Bà Lý Thị Kim ( ngụ thôn Hòn Lây, xã Khánh Hiệp, huyện Khánh Vĩnh) cho biết năm 1996 gia đình bà góp hơn 5 ha đất vào Chương trình 327 để trồng cây keo, đào, dầu với cam kết được hỗ trợ tiền chăm sóc là 5 triệu đồng/ha trong 3 năm. Sau khi thu hoạch, diện tích trồng keo, đào sẽ giao cho người dân thu hoạch, còn diện tích trồng cây dầu thì nhà nước thu hoạch và chia lại cho người dân 30%. Tuy nhiên, từ đó đến nay bà Kim chỉ nhận được tiền hỗ trợ 2 năm và diện tích đất góp trồng rừng vẫn chưa được trả lại.
Ông Nie Y Don (ngụ xóm Y Bảo, xã Khánh Hiệp) cho biết: “Toàn bộ hơn 2 ha đất sản xuất của gia đình sau khi đưa vào Chương trình 327 gần như mất trắng. Tôi và vợ phải làm thuê cả chục năm nay để nuôi cha mẹ già chứ không được thu hoạch gì từ diện tích đất đã góp cho chương trình”.
Cùng tình trạng trên, ông Nguyễn Cao Quá, người bị “mất” 5,4 ha đất bức xúc: “Đất của chúng tôi nhưng chính quyền tự ý chuyển giao từ Chương trình 327 qua Lâm trường Bắc Khánh Vĩnh (nay là Công ty Lâm nghiệp Trầm Hương) quản lý. Năm 2006, chúng tôi mới biết và nhiều lần gửi đơn yêu cầu trả lại đất nhưng không ai giải quyết”.
Theo Ban Dân tộc tỉnh Khánh Hòa, ở huyện Khánh Vĩnh, từ năm 2004, có khoảng 658 ha đất của hàng trăm hộ dân bị chuyển cho Công ty Lâm nghiệp Trầm Hương sau khi Chương trình 327 chấm dứt. Cách đây mấy năm, UBND huyện Khánh Vĩnh đề nghị hoàn trả cho Công ty Lâm nghiệp Trầm Hương 2 tỉ đồng tiền doanh nghiệp này đã đầu tư trồng, chăm sóc rừng để lấy lại diện tích đất trên nhưng doanh nghiệp này ra giá... 26,32 tỉ đồng.
Theo người dân huyện Khánh Vĩnh, sau khi Công ty Lâm nghiệp Trầm Hương thu diện tích đất của dân làm rừng phòng hộ đã chia lại cho cán bộ, công nhân của công ty để trồng rừng tại xã Khánh Bình, Khánh Đông…
Ngày 13-12-2013, UBND tỉnh Khánh Hòa có văn bản chỉ đạo UBND huyện Khánh Vĩnh tổ chức thực hiện giao đất lần đầu với diện tích gần 320 ha cho 639 hộ dân nghèo, thiếu đất sản xuất. Số diện tích còn lại khoảng 955 ha huyện sẽ tiếp tục rà soát, xác minh để tiếp tục giao cho người dân.
Ông Lê Văn Hoa, Phó Chủ tịch UBND huyện Khánh Vĩnh, cho biết huyện đang lên phương án giao đất cho người dân trên tinh thần vừa bảo đảm quyền lợi cho dân vừa bảo vệ được rừng.
Tuy nhiên, việc bóc tách đất chia lại cho người dân cũng vấp nhiều ý kiến khác nhau. Ông Nguyễn Trung - trưởng thôn Hòn Lây, UBND xã Khánh Hiệp - cho biết việc cấp trên yêu cầu thôn lập danh sách người nghèo để chia đất khiến nhiều người có đất giao cho Chương trình 327 trước đây nhưng không phải hộ nghèo phản đối. “Những hộ dân mất đất đòi phải lấy lại hết số diện tích đất của họ đã góp cho Chương trình 327, nếu có chia cho người nghèo thì chỉ chấp nhận nhường từ 20%-30% diện tích” - ông Trung nói.
Ông Trần Minh Thuận, Chủ tịch UBND xã Khánh Bình, băn khoăn: Cần xem xét hoàn cảnh những hộ nghèo vì rất nhiều hộ nghèo trước kia có đất nhưng đã bán hết thì không nên chia thêm nữa. Ngoài ra, số diện tích đất giao cho công nhân Công ty Lâm nghiệp Trầm Hương sử dụng là rất lớn. Họ đã đầu tư khá nhiều công sức, nếu thu hồi thì không công bằng với họ.
Ông Nguyễn Văn Hào, Phó Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Trầm Hương, cho biết đơn vị này và chính quyền đã họp bàn nhiều lần, các bên thống nhất những diện tích nào bóc tách được thì đã bóc tách cho người dân. Trong năm 2013, công ty đã bóc tách khoảng 283 ha từ diện tích đất của Chương trình 327 giao lại cho địa phương để chia lại cho người dân. Số diện tích đất của Chương trình 327 còn lại khoảng mấy trăm ha đang được xác minh chủ sở hữu. (Người Lao Động 28/12) đầu trang(
Thực hiện chính sách giao đất giao rừng nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vùng rừng. Thế nhưng, ngần ấy năm, mục tiêu ấy vẫn chưa thể đạt được, thực tế đời sống người dân nhận khoán đất rừng vẫn còn khó khăn.
Kết quả của hành trình hơn 20 năm ấy minh chứng một điều là chỉ giao khoán đất, giao rừng là chưa đủ. Để giúp họ cải thiện cuộc sống, từng bước phát triển kinh tế cần phải tác động thêm bằng nhiều giải pháp đồng bộ, toàn diện.
Vùng đất U Minh được thiên nhiên ban tặng nhiều tiềm năng, lợi thế, nếu được đầu tư khai thác một cách đồng bộ, hiệu quả, nơi đây sẽ là “miền đất hứa”.
Tiềm năng kinh tế đa dạng và phong phú là một thế mạnh của vùng đất U Minh. Trong đó, thương hiệu mật ong U Minh Hạ vừa được Bộ KH&CN công nhận, là một điều kiện tốt, người dân có thể khai thác để nâng cao mức sống.
PGS-TS Lê Văn Bé, Trường Đại học Cần Thơ, khẳng định, đây thật sự là một thế mạnh không phải nơi đâu cũng có. Nếu phát huy được lợi thế này, chắc chắn đời sống người dân vùng rừng sẽ được cải thiện đáng kể.
Điều kiện đất đai rộng lớn cũng là một lợi thế của người dân U Minh. Theo ông Trần Thanh Hoàng, Trưởng Phòng Kỹ thuật Sở NN&PTNT, để giúp người dân phát huy thế mạnh của tự nhiên, cải thiện cuộc sống, cần khuyến khích phát triển các loại rau, cây ăn trái có giá trị bằng cách cải tạo vườn tạp, trồng trên bờ liếp, bờ bao khuôn hộ trong lâm phần rừng tràm. Thực hiện cải tạo vườn tạp phát triển cây ăn trái gắn với phát triển du lịch sinh thái vườn - rừng.
Đối với cây tràm, được xem là chủ đạo trên vùng đất U Minh, nhưng thời gian qua đem lại lợi ích rất thấp cho người dân. Ông Hoàng cho rằng, cần có định hướng phát triển cho từng loại rừng khác nhau. Đối với rừng phòng hộ, rừng đặc dụng cần được bảo vệ nghiêm ngặt, từng bước tái tạo cảnh quan thiên nhiên, đa dạng sinh học…
Còn đối với rừng sản xuất, cần có phương án điều chế, sản xuất kinh doanh. Thí điểm và từng bước chuyển đổi phần diện tích rừng tràm nghèo kiệt, kém hiệu quả sang các loại cây lâm nghiệp khác gắn với đầu tư chế biến lâm sản có giá trị cao (bàn, ghế, tủ).
Để phát triển kinh tế xã hội đối với các xã thuộc khu vực rừng tràm đòi hỏi phải tổ chức, bố trí lại sản xuất, điều chỉnh sắp xếp lại dân cư. Phải có mô hình đầu tư cụ thể tách lúa ra khỏi rừng và đầu tư hệ thống thuỷ lợi đồng bộ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Trên cơ sở tổ chức lại sản xuất cho phù hợp, thì việc bố trí dân cư, điều chuyển các hộ dân cư ở phân tán, rải rác để hình thành các tuyến dân cư tập trung là việc cần làm tiếp theo. Từ đó đầu tư hạ tầng như điện, đường, trường, trạm, nước sạch và các thiết chế văn hoá.
Đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các dự án phát triển du lịch sinh thái, nhằm thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụ và các đặc sản dưới tán rừng tràm. Đây được xem là nhóm giải pháp thiết thực để phát huy thế mạnh sẵn có của vùng đất rừng U Minh Hạ.
Theo đánh giá của GS-TS Lê Quang Trí, U Minh là vùng đất phèn gồm phèn tiềm tàng và phèn hoạt động. Chính việc lên liếp trồng rừng, đào hệ thống đê bao, kinh mương nhằm giữ nước và phục vụ công tác phòng chống cháy rừng trong mùa khô đã làm xáo trộn các tầng đất. Trong đó, không loại trừ việc đưa tầng phèn tiềm tàng thành phèn hoạt động. Đất phèn và ngập úng làm cho sản xuất nông nghiệp không hiệu quả là nguyên nhân chính dẫn đến đời sống người dân khó khăn kéo dài trong những năm qua.
Để canh tác hiệu quả trên vùng đất phèn, việc kê đất, làm mương phèn trong đầu mùa mưa là cần thiết. Đồng thời chọn cây trồng thích hợp với đất phèn như: giống lúa chịu phèn, khóm, mía, khoai mì, điều... Một mô hình khá hiệu quả để sản xuất trên vùng đất phèn là nuôi cá kết hợp nuôi heo để góp phần cải tạo chất lượng nước bằng phân chuồng. Lên liếp theo kỹ thuật cuốn chiếu để đưa lớp phèn xuống dưới, tăng độ dầy của đất canh tác.
Về định hướng phát triển lâu dài cho vùng rừng tràm U Minh, ông Trần Phú Cường, Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học - kỹ thuật nhận định, để thực hiện được mục tiêu ổn định tình hình rừng, ổn định sản xuất, ổn định đời sống nhân dân vùng rừng, cần có chương trình dự án đầu tư nâng cấp hạ tầng ở các địa phương vùng rừng nhằm thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn vùng rừng với các vùng khác.
Đầu tư các trạm bơm ở các trục kinh đầu mối để tiêu úng, xổ phèn. Sớm sửa đổi lại chính sách giao khoán đất rừng, nên cấp sổ đỏ phần đất nông nghiệp để họ có điều kiện thuận lợi hơn tiếp cận với một số nguồn vốn vay phát triển sản xuất. Cần mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu giống cây lâm nghiệp ở khu vực được quy hoạch rừng sản xuất.
GS-TS Võ Thị Gương, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ, cho rằng, đối với vùng đất U Minh, việc đa dạng mô hình canh tác với các loại cây trồng có triển vọng là vấn đề cần thiết. Một số mô hình được đánh giá rất triển vọng như 1 lúa - 1 màu, 2 lúa - 1 màu, chuyên màu.
Đối với việc canh tác lúa trên lâm phần rừng tràm, ông Phạm Văn Mịch, Giám đốc Trung tâm Giống nông nghiệp tỉnh cũng nhận định, Nhà nước cần đầu tư thêm hệ thống kinh mương cấp 2, cấp 3 và hệ thống thuỷ nông nội đồng để tháo úng, rửa phèn và sử dụng các giống lúa phù hợp để nâng cao năng suất và hiệu quả canh tác.
Vấn đề có tính quan trọng và cơ bản nhất là Nhà nước cần có cơ chế, chính sách, đầu tư đồng bộ. Lời giải hợp lý nhất cho vấn đề trên đó chính là việc tổ chức lại sản xuất, bố trí, sắp xếp lại dân cư nhằm phát huy hết tiềm năng và thế mạnh của vùng rừng. (Báo Cà Mau 28/12) đầu trang(
Dù đã được cắm móc phân định ranh giới rõ ràng nhưng thời gian qua, tình trạng lấn chiếm, xâm canh đất rừng trái phép tại địa bàn xã Ngư Hóa, huyện Tuyên Hóa vẫn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến công tác quản lý, bảo vệ rừng và an ninh trật tự ở địa phương.
Tình trạng lấn chiếm, xâm canh đất rừng tại xã Ngư Hóa diễn ra trong nhiều năm liền do người dân xã Kỳ Lạc (huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh) và người dân xã Quảng Hợp (huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình) đến xâm lấn, trồng rừng kinh tế trên địa bàn xã Ngư Hóa quản lý.
Mặc dù UBND xã Ngư Hóa đã tăng cường công tác tuần tra, xử lý các trường hợp vi phạm, kể cả áp dụng biện pháp cưỡng chế nhưng do địa điểm cách xa trung tâm xã, địa hình phức tạp nên tình trạng xâm canh trái phép vẫn chưa được chấm dứt; đối tượng vi phạm là người dân địa phương khác nên việc xử lý hành chính cũng hết sức khó khăn.
Tính đến nay, tổng diện tích rừng bị xâm lấn trên 120ha, chủ yếu tại địa bàn giáp ranh với xã Kỳ Lạc (huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh) và xã Quảng Hợp (huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình).
Để ngăn chặn tình trạng trên, vừa qua Thường vụ Huyện ủy, UBND huyện Tuyên Hóa đã đến kiểm tra thực tế và chỉ đạo xã Ngư Hóa triển khai các biện pháp quyết liệt, ngăn chặn tình trạng xâm canh đất rừng và khai thác gỗ trái phép.
Bên cạnh công tác tuần tra, bảo vệ và xử lý các trường hợp vi phạm, Huyện ủy, UBND huyện Tuyên Hóa cũng đã chỉ đạo cho xã Ngư Hóa và các đơn vị chức năng tiến hành lập quy hoạch, xây dựng phương án giao đất, giao rừng cho các tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng nhằm khai thác thế mạnh về đất rừng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. (Đài PT - TH Quảng Bình 28/12) đầu trang(
Theo báo cáo của Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Trị, trong năm 2013 các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh đã bắt giữ hơn 1.200 kg động vật hoang dã.
Nguồn gốc động vật hoang dã chủ yếu từ Lào, các đối tượng trung chuyển qua địa bàn Quảng Trị để đưa về phía Bắc tiêu thụ.
Đối với những động vật sức khỏe tốt hoặc yếu, không có khả năng lây lan dịch bệnh đều được tiến hành các biện pháp chăm sóc và thả trở về môi trường tự nhiên.
Bên cạnh đó, hoạt động gây nuôi sinh sản, sinh trưởng cũng được kiểm tra, giám sát chặt chẽ nhằm hạn chế việc lợi dụng để buôn bán trái phép động vật hoang dã, góp phần tích cực vào việc bảo vệ động vật rừng khỏi nguy cơ tuyệt chủng, góp phần tăng tính đa dạng sinh học ở những khu rừng tự nhiên trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
Trong năm 2013, lực lượng chức năng tỉnh đã kiểm tra xác nhận nhập 2.824 cá thể với trọng lượng 2.221 kg; xuất bán 6.074 cá thể với trọng lượng 8.102 kg. (Chinhphu.vn 28/12) đầu trang(
Vô số những vỏ chai, lọ nước khoáng, kèm theo những túi ni lông đủ loại to, nhỏ nổi lềnh bềnh trên dòng nước đỏ thẫm của các con kênh, rạch ngoằn ngoèo trong rừng U Minh Hạ, thuộc xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Từ trên Đài quan sát có độ cao hơn 20m so với mặt đất, được xây dựng cách cổng chính vào của vườn quốc gia U Minh Hạ khoảng 500 m, nhìn xuống tứ phía chỉ thấy bạt ngàn màu xanh của cây rừng, xen lẫn những con rạch nhỏ xíu ngang dọc trong rừng, như những sợi chỉ màu trắng trải dài hút tầm mắt.
Tuy nhiên, khi ngồi trên những chiếc thuyền nhỏ lao vút trên dòng kênh mới thấy được, rất nhiều vỏ chai lọ, túi ni lông vứt nổi lềnh bềnh, xen lẫn những đám lục bình dày đặc trên mặt kênh, rạch. Khi mới lên thuyền, người chủ thuyền phải nổ máy rất nhiều lần nhưng không được, lúc sau người chủ thuyền này mới nhấc cái chân vịt của thuyền lên để kiểm tra, thì thấy bọc ni lông to bám, quấn chặt vào chiếc bánh lái chân vịt.
Theo anh chủ thuyền, rác thải này do chính những du khách và người dân nơi đây khi đến tham quan rừng U Minh Hạ đã thiếu ý thức vứt rác xuống kênh, rạch. (Theo Infonet 27/12) đầu trang(
Những lá đơn gửi tới cơ quan báo chí “tố” ông Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm hyện Diễn Châu (Nghệ An) - Nguyễn An Ninh sách nhiễu, gây phiền hà; vòi vĩnh tiền bồi dưỡng... một cách trắng trợn.
Một trong những lá đơn của doanh nghiệp có dấu đỏ gửi cơ quan chức năng tố cáo ông Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Diễn Châu sách nhiễu trong công việc.
“Dư luận nhân dân cán bộ vô cùng bất bình vì sự thiếu công tâm, thiếu công bằng, thiếu nhân tâm và những nhiều quan liêu của Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Nguyễn An Ninh...” - Đó là nội dung của một trong nhiều lá đơn mà chủ các doanh nghiệp gửi Ban Thanh tra Chi cục Kiểm lâm Nghệ An, khiếu kiện, tố cáo ông Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Diễn Châu Nguyễn An Ninh.
Ông Nguyễn An Ninh mới chuyển về công tác tại Hạt Kiểm lâm Diễn Châu vào tháng 9 năm 2012. Trong một thời gian ngắn giữ chức vụ này, ông Ninh đã để lại dư luận không tốt. Đặc biệt, trong giới kinh doanh, buôn bán lâm sản trên địa bàn cũng bị ông Ninh “sách nhiễu”, gây phiền hà… và đã làm bất bình trong dư luận người dân nơi đây.
Ông Ninh đã có nhiều việc làm gây nên bức xúc và sự phản kháng của các doanh nghiệp kinh doanh gỗ cũng như các hộ dân tham gia kinh doanh trong lĩnh vực này.
Cụ thể, trong thời gian gần đây đã có hai doanh nghiệp đã đứng đơn tố cáo ông Hạt trưởng Kiểm lâm Diễn Châu Nguyễn An Ninh; là Công ty TNHH Kinh doanh XNK Lâm sản Tám Oanh (xã Diễn Thịnh) và Công ty Trình Độ (xã Diễn Xuân).
Ngoài ra còn có 6 cá nhân ở xã Diễn Mỹ hoạt động trong nghề kinh doanh lâm sản viết đơn tố cáo ông Ninh. Đó là ông Phạm Anh D.; H.T.; Hoàng Như Nh,; Đinh Thị L.; Đinh Thị H.; Nguyễn Thị S.. Tất cả những đơn từ này đều tố cáo ông Ninh sách nhiễu, gây phiền hà; vòi vĩnh tiền bồi dưỡng một cách trắng trợn...
“Lần đầu tiên ra ký xác nhận là tôi tự nguyện đưa tiền bồi dưỡng. Lần hai lần ba cũng thế, cứ mỗi lần ký là đưa 1 triệu đến 1,5 triệu đồng nhưng sau đó tôi đưa cho kế toàn đi ký thì anh Ninh Hạt trưởng đòi cộng tổng khối lượng lại với mục đích đòi thêm tiền. Khi cộng lại khối lượng, anh Ninh nói là khối lượng thế này mà ít tiền thế à?
Trong khi đó, phong bì tôi đã bỏ 2 đến 2,5 triệu đồng...lần nào ra ký chúng tôi đều có tiền bồi dưỡng, khi đưa phong bì cho anh Ninh, anh Ninh đã bóc trươc mặt chúng tôi và chê ít tiền...” - đó là đoạn trích trong đơn của bà Hoàng Thị Oanh người đại diện cho Công ty TNHH KD XNK Lâm sản Tám Oanh viết.
Cũng trong đơn thư của Doanh nghiệp Tám Oanh tố ông Nguyễn An Ninh những ngày nghỉ hoặc về nhà ở Vinh, mỗi khi ký giấy tờ ông này đều “ép” doanh nghiệp phải vào tận nhà để gặp thì mới “xử lý”. “Khi ra Hạt (cơ quan - PV) không thấy anh Ninh và điện thoại cho anh ấy thì anh bảo đã về nhà (nhà ở TP Vinh) nên đưa vào trong Vinh để anh ký. Tronng khi đó ở Hạt vẫn còn có Hạt phó nhưng anh Ninh không cho ký và yêu cầu phải là anh ký mới được. Còn khi đưa ít tiền thì anh Ninh bảo hôm sau đưa cho đủ…”, nội dung đơn của doanh nghiệp Tám Oanh.
Sau khi nhận được đơn tố cáo của các cá nhân, đơn vị, Chi cục Kiểm lâm Nghệ An đã tiến hành thành lập đoàn thanh, kiểm tra những nội dung trong đơn tố cáo. Sau một thời gian làm việc, vừa qua, Chi cục Kiểm lâm đã có kết luận thanh tra với nhiều nội dung tố cáo đúng sự thật.
Thứ nhất, việc ông Ninh gây ách nhiễu, gây khó khăn cho các doanh nghiệp là có. Thứ hai, tiến hành truy thu 12,8 triệu đồng tiền “bồi dưỡng” mà ông Ninh đã nhận của các cá nhân, doanh nghiệp trên địa bàn nộp vào kho bạc Nhà nước (ngày 18/12, ông Nguyễn An Ninh đã mang số tiền này nộp vào kho bạc Nhà nước huyện Diễn Châu).
Thứ ba, việc ông Ninh tự ý phô tô, in ấn biên bản kiểm tra nội bộ không thuộc vào quản lý nhà nước (chi cục đã thu giữ về 4 quyển). Ngoài ra, còn có nội dung dù về nhà dưới Vinh nhưng vẫn yêu cầu doanh nghiệp đến để xác nhận giấy tờ liên quan đến lâm sản (14 lần, trong đó, 8 lần ở nhà ông Ninh tại số 15, đường Nguyễn Thái Học, TP Vinh; 6 lần ở cơ quan, 01 lần do Hạt phó xác nhận).
Còn nội dung trong đơn tố cáo của Công ty TNHH KD XNK lâm sản Tám Oanh về việc ông Ninh yêu cầu phải đưa 50 nghìn đồng/1m3 gỗ và 2 triệu - 2,5 triệu/lần chưa có cơ sở xác minh.
Căn cứ vào kết luận thanh tra, vào ngày 20/12, Chi cục Kiểm lâm đã tiến hành họp kiểm điểm đối với ông Nguyễn An Ninh tại trụ sở Hạt Kiểm lâm Diễn Châu. Trong số 11 phiếu thì có 04 phiếu buộc thôi việc, 01 phiếu cách chức, 1 phiếu giáng chức, 04 phiếu cảnh cáo, 01 phiếu hạ bậc lương.
Ngày 26/12, một cán bộ Chi cục Kiểm lâm Nghệ An cho biết, hiện Chi cục đã thành lập đoàn kiểm tra và sẽ có hướng xử lý đối với ông Ninh. Còn kỷ luật, xử lý mức độ như thế nào thì sẽ có Hội đồng đánh giá. (Dân Trí 27/12) đầu trang(
Thời gian qua, người dân xã Hương Trạch (Hương Khê) rất hoang mang trước việc một số kẻ xấu phá hoại hàng loạt cây gió trầm, cây lim nhiều năm tuổi, gây thiệt hại hàng trăm triệu đồng. Song, đến nay, cơ quan chức năng ở địa phương vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân phá hoại để có biện pháp xử lý.
Ông Nguyễn Văn Thiện, xóm trưởng xóm Chu Lễ, xã Hương Trạch có khoảng 0,4 ha trồng cây keo, dó trầm và một số cây lưu niên như: mít, bưởi… trồng xen kẽ tại bờ sông Ngàn Sâu thuộc địa phận xóm Chu Lễ, xã Hương Trạch; các loại cây đang trong độ phát triển tốt. Khoảng tháng 6/2013, gia đình ông đã bị kẻ xấu chặt phá khoảng 80 cây dó trầm từ 1 – 5 năm tuổi.
Vào ngày 22/12/2013, vườn cây 6 ha của gia đình ông Phạm Huy Hoàng trú tại xóm Tân Thành, xã Hương Trạch (Hương Khê) cũng bị một số kẻ xấu chặt phá gần 40 cây lim vừa trồng hơn 2 năm tuổi. Ông Hoàng bức xúc: “Gia đình tôi kinh tế khó khăn, phấn đấu khoanh nuôi trồng rừng để phát triển kinh tế. Cố gắng tìm tòi, học hỏi, tôi đã đầu tư mua cây giống về trồng vừa để nâng cao thu nhập cũng như bảo vệ môi trường sinh thái, chống xói mòn đất… nhưng đã bị kẻ xấu phá hoại”.
Theo ông Hoàng, trên địa bàn xóm Tân Thành và xóm Chu Lễ còn có gia đình ông Phạm Dương Thiên, Nguyễn Bính... bị kẻ xấu chặt phá cây cối.
Ông Trần Xuân Lý - Chủ tịch UBND xã Hương Trạch cho biết: “Chúng tôi có nhận được đơn của ông Hoàng phản ánh; công an xã, công an địa bàn cũng đã xác minh hiện trường cây bị chặt phá của gia đình Nguyễn Văn Thiện. Tuy nhiên, sự việc xác định đối tượng là rất khó, có thể là do mâu thuẫn của một số con em đi chăn thả trâu vào khu vực đó…
Chúng tôi đang chỉ đạo phía công an phối hợp cùng các hộ gia đình điều tra; riêng hộ ông Phạm Huy Hoàng, do có sự tranh chấp về đất rừng nên hồ sơ đã chuyển đến Toà án nhân dân huyện Hương Khê để giải quyết". (Báo Hà Tĩnh 28/12) đầu trang(
Ngày 27-12, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Yên cho biết, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên đã ký quyết định tịch thu toàn bộ 189 khúc gỗ hương (tương đương 3,457m3) thuộc nhóm IIA, cùng chiếc xe ô tô tải hiệu Hyundai, mang biển kiểm soát 86T-0805 là phương tiện vận chuyển số gỗ trên.
Đây là tang vật được lực lượng chức năng phát hiện và lập biên bản, ra quyết định tạm giữ vi phạm hành chính vào ngày 18-10-2013. Lái xe đã bỏ trốn khỏi hiện trường và đến nay không có người nhận là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe cùng số gỗ quý hiếm trên. (Quân Đội Nhân Dân 28/12) đầu trang(
Loài Dalbergia cochinchinensis (gỗ trắc) là loại gỗ quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng cao, nằm trong danh mục sách đỏ cần bảo tồn. Thế nhưng vì mờ mắt trước lợi nhuận khủng từ loài gỗ này, một số doanh nghiệp đã “lách luật” bằng cách nhập gỗ trắc từ Campuchia và Lào với “tên làng” Dalbergia cambodiana, Dalbergia Oliveri... để né các quy định của CITES.
Tại Việt Nam, gỗ trắc còn có tên khác là cẩm lai Nam bộ. Loài thực vật này khi nhỏ thì chịu bóng, lớn lên ưa sáng và chỉ mọc ở những nơi có độ cao không quá 500m. Trắc phân bổ ở những khu rừng thường xanh nửa rụng lá tại Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam. Đây là loại cây gỗ lớn, cao 25m, đường kính có thể lên đến một mét, gốc thường có bạnh vè, vỏ nhẵn, màu xám nâu, nhiều xơ, vết đẽo dày màu vàng nhạt sau đỏ nâu. Cây trắc nhiều cành, cành non mảnh nhẵn, lốm đốm nốt sần. Lá kép lông chim một lần mọc cách, dài 15 - 25cm. Hoa lưỡng tính, đỉnh xẻ năm thùy.
Gỗ trắc dùng để đóng bàn, ghế, tủ... với độ bền cao, không mối mọt, thấm nước, mục nát hay nứt nẻ. Đặc biệt, bàn ghế từ gỗ trắc luôn có mùi thơm thoang thoảng, sử dụng càng lâu thì gỗ càng lên nước, tạo nên màu sáng bóng trông rất đẹp mắt.
Không như những loại gỗ khác tính bằng mét khối thì loài gỗ trắc này thời gian gần đây được tính bằng kílôgam. Có thời điểm, giá trị gỗ trắc lên đến vài trăm triệu đồng/kg. Hiện tại, loại gỗ này nằm trong Sách đỏ Việt Nam, thuộc nhóm IIA của Danh mục các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, cấm khai thác với mục đích thương mại. Tại Hội nghị các nước thành viên Công ước về buôn bán quốc tế, muốn buôn bán loại gỗ này phải được sự cho phép của cơ quan quản lý CITES, các nước xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu.
Để thu được lợi nhuận khủng từ loài cây quý hiếm này, nhiều doanh nghiệp đã “lách luật” bằng cách lợi dụng kẽ hở trong việc tên khoa học của cây gỗ trắc này trong danh mục của CITES và các quy định hiện hành không ghi rõ các tên khoa học đồng nghĩa (có nhiều tên khác nhau nhưng vẫn cùng một loài cây) để ghi tên bản địa của cây gỗ trắc vào hồ sơ xuất, nhập khẩu nhằm qua mặt cơ quan chức năng.
Điển hình, ngày 7-12-2013 Phòng CSMT Công an Hà Tĩnh kiểm tra và tạm giữ container BS: 37C-076.14 chở khoảng 40m3 gỗ trắc (giá trị hơn 40 tỷ đồng) do nghi ngờ có gian lận thủ tục thông quan tại cửa khẩu Lao Bảo (Quảng Trị). Lô hàng này nhập khẩu từ Lào, được Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Lao Bảo kiểm tra và cho thông quan ngày 6-12.
Theo hồ sơ thông quan, số gỗ trên thuộc sở hữu của Công ty TNHH Sơn Đại Hiệp (Nghệ An) hơn 46m3 trắc lai. Trong đó, trắc lai xẻ (Dalbergia Oliveri Sawntimber) là 10,265m3, trắc lai tròn (Dalbergia Oliveri LogsWoods) 11,114m3 và trắc lai tận dụng gốc, cành, ngọn (Dalbergia Oliveri root, branch, top) là 25,3m3.
Sau khi bắt giữ, cơ quan chức năng Hà Tĩnh đã lấy mẫu gửi đến cơ quan giám định của Bộ NN&PTNT, kết quả số gỗ thuộc chủng loại trắc bồng (Dalbergia cochinchinensis), thuộc nhóm IIA quý hiếm. Tuy nhiên, Hải quan Lao Bảo một mực khẳng định đây là loại trắc lai, được kiểm nghiệm từ Đại học quốc gia Hà Nội, loại trắc này không cần giấy phép CITES nên mới cho thông quan.
Trước đó, chiều 10-8-2013, Đồn biên phòng cảng cửa khẩu Năm Căn (thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng Cà Mau) phát hiện ba ghe chở hơn 100 tấn gỗ trắc có nguồn gốc từ Campuchia nhập trái phép vào Việt Nam. 20 ngày sau đó, lô hàng được hoàn trả vì “hàng hóa, giấy tờ không bị tịch thu, không phát hiện vi phạm”.
Theo thông tin của phóng viên, một số doanh nghiệp kinh doanh gỗ từ Campuchia về Việt Nam đã ma mãnh dùng “tên làng” của gỗ trắc tại nước sở tại là Dalbergia cambodiana để thông quan qua các cửa khẩu dễ dàng như gỗ thông thường mà không cần giấy phép CITES.
Trước tình trạng trên, căn cứ vào nội dung Hội nghị các nước thành viên CITES lần thứ 16 thông qua đề xuất về việc bổ sung gỗ trắc, tên khoa học là Dalbergia cochinchinensis hoặc tên khoa học đồng nghĩa là Dalbergia cambodiana Pierre vào phụ lục II của CITES, ngày 11-11-2013, Bộ NN&PTNT gửi công văn số 231 đến Tổng cục Hải quan có ghi: “Tại Hội nghị CITES lần thứ 16 đã thông qua danh mục các loài động vật, thực vật phụ lục của CITES, trong đó có bổ sung gỗ trắc, tên khoa học Dalbergia cochinchinensis, tên đồng nghĩa Dalbergia cambodiana vào phụ lục II”, có hiệu lực từ ngày 25-10-2013” nhằm bảo tồn, kiểm soát và ngăn chặn tình trạng gian lận thương mại trong quá trình xuất, nhập khẩu gỗ trắc.
Tuy nhiên, ngày 18-12-2013 Tổng cục Hải quan vẫn có công văn về Cục Hải quan tỉnh Tây Ninh và các tỉnh, thành khác với nội dung: “Đối chiếu với tên khoa học của các loại gỗ trắc do doanh nghiệp khai báo, nếu không trùng với tên khoa học của các loại gỗ nêu tại phụ lục II Thông tư số 40/2013/TT-BNN&PTNT thì không yêu cầu doanh nghiệp xuất trình giấy phép CITES khi làm thủ tục hải quan đối với các lô hàng gỗ trắc nhập khẩu từ Lào cũng như các nước khác”.
Văn bản này chẳng khác nào “lối thoát hiểm” giúp các doanh nghiệp tha hồ nhập khẩu gỗ trắc từ Lào và Campuchia với tên gọi “bản xứ” để né CITES. Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng cần phải đối chiếu cả tên khoa học lẫn tên bản địa của gỗ trắc khi thông quan, để ngăn chặn tối đa hành động gian lận “có điều kiện” của các doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo thực hiện đúng các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên. (Công an TPHCM 28/12) đầu trang(
Từ ngày 10 - 27/12, Hạt kiểm lâm Hương Khê đã bắt giữ 7 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, thu giữ hơn 7,66 m3 gỗ các loại; tạm giữ 3 xe bò lốp, 3 xe máy, 1 xe ô tô; xử phạt hành chính 15 triệu đồng.
Đặc biệt trong đó là vào đêm 13 rạng sáng 14/12, Hạt kiểm lâm Hương Khê bắt giữ 1 xe máy kéo xe lôi chở 1,875 m3 gỗ xẻ tròn từ nhóm N4 – N6 trên đường Hồ Chí Minh đi qua địa phận xóm 6, xã Phúc Đồng (Hương Khê).
Trong lúc thi hành công vụ, hai đối tượng Lê Khắc Mại (SN 1978) trú tại xóm Phú Hồ, xã Phú Gia và Trần Đức Tý (SN 1984), trú tại khối 10 - thị trấn Hương Khê đã dùng dao chống trả lực lượng kiểm lâm. Hậu quả của vụ việc trên là anh Đặng Tất Đạt bị thương, phải đi cấp cứu.
Hạt Kiểm lâm Hương Khê đã xây dựng hồ sơ chuyển đến cơ quan CSĐT Công an huyện Hương Khê điều tra làm rõ. (Báo Hà Tĩnh 28/12) đầu trang(
Chiều 29.12 ông Nguyễn Bốn (51 tuổi, cán bộ Hạt Kiểm lâm H.Đạ Huoai, Lâm Đồng) vẫn đang điều trị tại Bệnh viện 2 Lâm Đồng do bị đánh rách mí mắt, dập sống mũi và bầm tím nhiều phần trên cơ thể.
Ngày 28.12, ông Bốn cùng ông Hà, cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Huoai, tuần tra tại khu vực rừng phòng hộ giáp ranh 2 xã Hà Lâm và Phước Lộc thì gặp một nhóm 7 - 8 thanh niên đi xe máy độ (không biển số) có nhiều dấu hiệu khả nghi. Ông Bốn tới nhắc nhở, bất ngờ cả nhóm xông vào dùng gậy tấn công khiến ông Bốn bị thương nặng. Ông Hà may mắn chạy thoát và chỉ bị thương nhẹ. (Thanh Niên 30/12) đầu trang(
Ngày 29/12, Hạt Kiểm lâm Phong Nha - Kẻ Bàng (thuộc Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng) cho biết đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự vận chuyển trái phép một cá thể voọc Chà vá chân nâu.
Trước đó, lực lượng KL ở trạm 39 (hạt Kiểm lâm Phong Nha - Kẻ Bàng) trong lúc làm nhiệm vụ đã phát hiện xe ô tô mang biển số 73L - 00244 do Mai Hoài Nam (sinh năm 1987, là lái xe cho Công ty CP xây dựng Trường Xuân) điều khiển vận chuyển một cá thể voọc Chà vá chân nâu quý hiếm. Cá thể voọc này có trọng lượng 7 kg và đã chết.
Theo ông Lê Thanh Tịnh- Giám đốc Vườn Quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng cho biết, cá thể voọc Chà vá chân nâu nói trên thuộc nhóm IB (gồm những loài động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao, nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) thuộc danh mục động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
“Đây là vụ án đầu tiên được khởi tố kể từ khi Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được thành lập. Hiện, Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đang tiến hành hoàn tất các thủ tục để chuyển hồ sơ vụ án đến cơ quan CSĐT Công an huyện Bố Trạch xử lý theo thẩm quyền” - ông Lê Thanh Tình cho biết thêm. (Nông Nghiệp Việt Nam 30/12) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Báo cáo công bố ngày 27/12 của Bộ Môi trường và Tài nguyên (SMARNA) Mexico cho biết nước này là quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) có diện tích rừng bị phát hủy tăng nhanh nhất trong vòng 10 năm qua.
Từ năm 2005 tới nay, trung bình mỗi năm diện tích rừng của Mexico bị thu hẹp 155.000 hécta. Quốc gia Bắc Trung Mỹ này xếp thứ 21 trên thế giới về diện tích rừng bị mất, chiếm gần 29% tổng diện tích rừng hiện có.
Đây cũng là nguyên nhân chính làm giảm tới 30% sản lượng gỗ, từ 8,1 triệu mét khối năm 2000 xuống còn 5,7 triệu mét khối vào năm 2011, đồng thời là mối đe dọa lớn nhất hiện nay đối với môi trường sống của 2.606 loài động vật và hàng nghìn thực vật quý hiếm.
SMARNA cho rằng nguyên nhân chính của hiện trạng trên là do ý thức của người dân Mexico còn thấp, mức đầu tư của chính phủ nước này chưa thỏa đáng, chỉ chiếm 0,1% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tương đương 1 triệu USD/năm, và thiếu một chiến lược dài hạn với những quy định cụ thể trong công tác này.
Có tới 56% khu bảo tồn tự nhiên ở Mexico hoạt động dưới dạng tự phát, trong khi 25% tổng số khu bảo tồn vẫn chưa được phân định xong, dẫn tới trách nhiệm quản lý không rõ ràng.
Trước tình hình đó, SMARNA nhấn mạnh Mexico phải nhanh chóng tiến hành nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao kiến thức về đa dạng sinh học trên lãnh thổ quốc gia, đồng thời lồng ghép những kiến thức khoa học này vào quá trình hoạch định chính sách công về bảo vệ và sử dụng nguồn đa dạng sinh học một cách hiệu quả, có trách nhiệm, hướng tới phát triển bền vững.
Hiện Mexico là một trong bốn quốc gia trên thế giới có sự đa dạng sinh học nhất với 26.000 loài thực vật, 282 loài động vật lưỡng cư, 707 loài bò sát và 439 loài động vật có vú. (VietnamPlus.vn 28/12) đầu trang(
Một vườn thú Indonesia được mệnh danh "sở thú chết chóc", là nơi ngược đãi độc vật bậc nhất thế giới với những chú voi bị xiềng xích, lạc đà bị bỏ đói trơ xương, hổ ăn thịt tẩm formaldehyde...
Richard Shears- một phóng viên của tờ Daily Mail - đã đến vườn thú Surabaya (Đông Java, Indonessia) và ghi lại được những hình ảnh hết sức đau lòng của động vật hoang dã ở đây.
Sở thú Surabaya này được mở của vào năm 1926 dưới thời cai trị thuộc địa Hà Lan và từ đó đến nay chưa đề được nâng cấp, cải thiện. Thay vào đó, lượng động vật được chuyển đến đây ngày một nhiều.
Bộ Lâm nghiệp của Indonesia cũng đã kêu gọi nên chuyển các loài động vật đến vườn thú khác nhưng không nơi nào nhận vì ở chỗ họ cũng đã có nhiều và họ sợ những con vật ở đây mang mầm bệnh đến nơi của họ.
Agus Supangkat - một phát ngôn viên của sở thú - nhấn mạnh các điều kiện đã được cải thiện trong năm qua nhưng vẫn còn nhiều vấn đề bất cập. Jakarta Globe báo cáo từ ngày 15-7 đến 15-9 năm nay, đã có 43 loài động vật đã bị chết ở sở thú này.
Daily Mail nói rằng 3.000 động vật ở đây sẽ còn bị chết nhiều nữa nếu không có những giải pháp kịp thời. (Người Lao Động 27/12) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||